Tản Mạn Về Hoa

Hoa Bưởi

Hoa-buoi-Huong-tuoi-tho-toi

Hương Thầm – Phan Thị Thanh Nhàn

Cửa sổ hai nhà cuối phố
Không hiểu vì sao không khép bao giờ
Ðôi bạn ngày xưa học cùng một lớp
Cây bưởi sau nhà ngan ngát hương đưa
Giấu một chùm hoa trong chiếc khăn tay
Cô gái ngập ngừng sang nhà hàng xóm
Bên ấy có người ngày mai ra trận
Họ ngồi im không biết nói năng chi
Mắt chợt tìm nhau rồi lại quay đi
Nào ai đã một lần dám nói ?
Hoa bưởi thơm cho lòng bối rối
Anh không dám xin
cô gái chẳng dám trao
Chỉ mùi hương đầm ấm thanh tao
Không giấu được cứ bay dịu nhẹ
Cô gái như chùm hoa lặng lẽ
Nhờ hương thơm nói hộ tình yêu
(Anh vô tình anh chẳng biết điều
Tôi đã đến với anh rồi đấỵ..)
Rồi theo từng hơi thở của anh
Hương thơm ấy thấm sâu vào lồng ngực
Anh lên đường hương sẽ theo đi khắp
Họ chia tay
vẫn chẳng nói điều gì
Mà hương thầm thơm mãi bước người đi…

Hương thầm-Thơ Phan Thị Thanh Nhàn- nhạc vũ hoàng-hát Bảo yến

Hoa Bưởi – Nguyên Sa

Em đi ngang đó, gần đường
Sao không ghé lại nói còn hay không
Nhớ ngày cây bưởi đâm bông
Mùi thơm hoa bưởi ngàn năm vẫn còn…
Tôi thích thơ Nguyên Sa. Ví dụ như hai câu:

Nhớ ngày cây bưởi đâm bông

Mùi thơm hoa bưởi ngàn năm vẫn còn…

Có mùi hương mà chỉ ngửi một lần ta sẽ nhớ hoài… Có người, chỉ gặp trong thoáng chốc, trong 1 sát na, song để lại trong ta nỗi ngậm ngùi thật lâu, thật dai dẳng… Có thứ tình cảm đến rồi đi nhưng còn lưu giữ trong góc cạnh tâm hồn thật sâu lắng và trầm lặng hoài hoài…

Trèo lên cây bưởi hái hoa,
Bước xuống vườn cà, hái nụ tầm xuân.
Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc,
Em lấy chồng anh tiếc lắm thay!..
(Ca dao)

Gặp một bài viết nói về bài ca dao nụ tầm xuân với giai thoại khá lý thú tôi đăng lên đây.

Một cô bạn học ngày xưa với nhà tôi gởi cho nhà tôi bài viết sau đây.  Thấy câu chuyện cũng hay, tôi chuyển tiếp đến các bạn:

Trèo Lên Cây Bưởi…
(Trích trong cuốn“Những điều nên biết” của Nguyễn Văn Thái)

1
“Trèo lên cây bưởi hái hoa,
Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân.
Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc,
Em có chồng anh tiếc lắm thay!

2
“Ba đồng một mớ trầu cay,
Sao anh chẳng hỏi những ngày còn không?
Bây giờ em đã có chồng,
Như chim vào lồng như cá cắn câu.
Cá cắn câu biết đâu mà gỡ,
Chim vào lồng biết thuở nào ra?

3
“Có lòng xin tạ ơn lòng,
Đừng đi lại nữa mà chồng em ghen!”

Chùm thơ này đã có trong dân gian từ lâu; nhiều người tưởng rằng nó là chỉ một bài ca dao thuần túy; mà đã là ca dao thì không biết ai là tác giả. Gọi nó là chùm thơ vì đây không phải là một bài mà là ba bài hợp lại, gieo theo thể liên vận, gắn với “Giai thoại Đào Duy Từ”.

Truyện kể rằng: “Năm Đinh Mão (1627), chúa Trịnh Đàng Ngoài muốn bắt họ Nguyễn ở Đàng Trong phải thần phục, bèn cử đoàn sứ giả mang sắc vua Lê vào phong cho Sãi Vương (chúa Nguyễn Phúc Nguyên) và đòi Sãi Vương phải cho con vào chầu, đồng thời phải nộp 30 con voi cùng 30 chiếc thuyền làm lễ vật cống nạp nhà Minh. Chúa Sãi không chịu, nhưng bề ngoài chưa biết xử trí ra sao, bèn hội họp triều thần hỏi mưu kế. Lộc Khê hầu Đào Duy Từ khuyên chúa Sãi bước đầu cứ nhận sắc phong, rồi sau sẽ tìm kế đối phó.

Ba năm sau, thấy thời cơ thuận lợi, bấy giờ Lộc Khê hầu mới bàn với Sãi Vương, sai thợ làm một chiếc mâm đồng có hai đáy, bỏ sắc vua Lê phong kèm với một tờ giấy có 4 câu chữ Hán vào giữa, rồi hàn kín lại. Trên mâm cho bày nhiều lễ vật hậu hĩnh, rồi cử Lại Văn Khuông làm sứ giả mang ra Thăng Long (Hà Nội này nay), tạ ơn vua Lê và chúa Trịnh.

Nhờ có chuẩn bị trước, khi ra kinh đô yết kiến chúa Trịnh, Lại Văn Khuông ứng đối rất trôi chảy. Chúa Trịnh hậu đãi, cho phép Khuông cùng phái đoàn sứ giả đi thăm kinh thành, để chờ Chúa dạy bảo. Trên đường đi, Khuông lén mở cẩm nang của Đào Duy Từ trao cho từ trước. Đọc xong, Khuông cùng cả phái đoàn lẻn trốn về Nam. Thấy phái đoàn sứ giả đột ngột trốn về, chúa Trịnh sinh nghi, bèn cho người đập vỡ mâm lễ, lại thấy tờ sắc phong khi trước, và 1 tờ giấy viết bốn câu thơ chữ Hán sau:

“Mâu nhi vô dịch
Mịch phi kiến tích
Ái lạc tâm trường
Lực lai tương địch.”
Cả triều đình không ai hiểu ý nghĩa bài thơ, cuối cùng Trịnh Tráng phải cho mời một nhà nho thông thái uyên bác tới giải nghĩa. Đọc xong, nhà nho giải thích rằng:


Mâu nhi vô dịch nghĩa là chữ Mâu không có dấu phẩy là chữ ;
Mịch phi kiến tích nghĩa là chữ Mịch bỏ bớt chữ Kiến còn lại là chữ Bất;
Ái lạc tâm trường nghĩa là chữ Ái để mất (lạc) chữ Tâm thì thành chữ Thụ; và
Lực lai tương địch nghĩa là chữ Lực đối địch (tương địch) với chữ Lai là chữ Sắc.

Vậy, gộp cả bốn chữ mới lại thành câu: “DƯ BẤT THỤ SẮC,” nghĩa là “Ta không nhận sắc phong.”

Nghe xong, Trịnh Tráng vội thét lính đuổi bắt Lại Văn Khuông, nhưng lúc đó Khuông cùng cả phái đoàn đã cao chạy xa bay rồi.

Trịnh Tráng muốn ra quân đánh chúa Nguyễn nhưng gặp lúc Cao Bằng và Hải Dương đều có giặc giã nổi lên, đành phải hoãn lại.

Trịnh Tráng cho người dò la biết được việc Sãi Vương không nhận sắc phong đều do một tay Lộc Khê Đào Duy Từ bày đặt ra cả. Chúa Trịnh tính kế làm sao để lôi kéo Lộc Khê bỏ chúa Nguyễn (Đàng Trong) về với triều đình vua Lê và chúa Trịnh (Đàng Ngoài).

Chúa Trịnh lập mưu, sai người mang nhiều vàng bạc bí mật vào biếu Đào Duy Từ, kèm một bức thư riêng với bốn câu thơ:

1

“Trèo lên cây bưởi hái hoa,
Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân.
Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc,
Em có chồng anh tiếc lắm thay!”.

Lời thơ nói đến chuyện anh (chúa Trịnh) và em (Đào Duy Từ) thuở nhỏ, trèo cây hái hoa bưởi, bước xuống vườn cà hái nụ hoa tầm xuân. Ý thơ trong như ngọc, là lời nhắn nghĩa tình, nhắc ông rằng tổ tiên, quê quán vốn ở Đàng Ngoài. Nếu trở về sẽ được triều đình trọng dụng còn nếu không thì ngầm ý đe dọa.

Người ta đồn rằng Đào Duy Từ đã xây mộ cho cha mẹ tại Bình Định để tránh bị Đàng Ngoài khống chế theo cách làm của Gia Cát Lượng đón mẹ của Khương Duy vào Hán Trung thuở xưa. Vì thế Đào Duy Từ không sợ hãi chúa Trịnh trả thù; và ông đã trả lại quà tặng và viết bài thơ phúc đáp chúa Trịnh như sau:

2

“Ba đồng một mớ trầu cay,
Sao anh chẳng hỏi những ngày còn không?
Bây giờ em đã có chồng,
Như chim vào lồng như cá cắn câu.
Cá cắn câu biết đâu mà gỡ,
Chim vào lồng biết thuở nào ra?”
Chúa Trịnh đọc thơ biết khó lòng lôi kéo được họ Đào, nhưng thấy bài thơ chưa có câu kết, ý còn bỏ ngỏ, nên vẫn nuôi hy vọng, bèn cho người đem lễ vật nhiều hơn, và mang theo lá thư của chúa Trịnh vào gặp Đào Duy Từ lần nữa.

Lần này, ông mới viết nốt hai câu kết gửi ra, để trả lời dứt khoát việc mời mọc của chúa Trịnh. Hai câu đó như sau:

3

“Có lòng xin tạ ơn lòng,
Đừng đi lại nữa mà chồng (*) em ghen!”
(*) Chồng, có ý nói là chúa Nguyễn.

Từ đấy Đào Duy Từ ở lại giúp chúa Nguyễn ổn định và phát triển vùng đất miền trong, mở mang bờ cõi đất nước ta cho đến lúc qua đời…”
(Nguồn: My Opera/Danh nhân story)

Vài điều nói thêm về Đào Duy Từ 

Đào Duy Từ (1572- 1634) sinh tại tỉnh Thanh Hóa. Ông rất thông minh nhưng ông không đươc dự thi vì cha ông làm nghề ca hát. Ông giận chúa Trịnh đối xử bất công cho nên ông bỏ vào Nam (dưới sự cai trị của chúa Nguyễn)

Đào Duy Từ vào Nam, sống bằng nghề chăn trâu thuê cho một nhà giàu ở Bình Định. Chủ nhà là người ham mê văn học, đã phát hiện ra Đào Duy Từ là người có tài, nên đã tiến cử Đào Duy Từ cho quan Khám lý Trần Đức Hòa. Vì mến tài của Đào Duy Từ, Trần Đức Hòa đã gả con gái cho, đồng thời tiến cử Đào Duy Từ cho Chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên. Sau cuộc gặp gỡ với Đào Duy Từ, Chúa Sãi đã phong cho ông làm Nha Úy Nội Tán.

Trong chín năm, từ 1625 đến 1634, Đào Duy Từ đã giúp chúa Nguyễn xây dựng và mở mang bờ cõi về phương nam vì ông có tài cả về chính trị, kinh tế, quân sự, và văn chương thơ phú nữa.

Trong cuộc chiến Trịnh – Nguyễn, ông đã xây một chiến lũy để ngăn ngừa quân Trịnh. Chiến lũy này chạy từ cửa sông Nhật Lệ đến núi Đâu Mâu, Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình. Người dân gọi chiến lũy này là Lũy Thầy (tức là lũy do Thầy Đào Duy Từ xây dựng).

Nguyễn Đăng Khôi- Hội quán Trần Lục

Bưởi ơi… Bưởi ngọt hơn đường…

Biên Hòa đất rộng người thưa,
Có nhiều quà quý rất vừa lòng ta”

Biên Hòa đúng như tiếng thiên hạ đồn, là dải đất bao la phủ một màu da xanh rờn của những vườn trái cây nổi tiếng được mọi người ưa chuộng. Cũng như các nơi khác ở miền Nam, Biên Hòa có thơm (dứa), dừa, dưa hấu, dưa gang, cam, quýt, mãng cầu (na), vũ sữa, sa-bô-chê, nhãn, chôm chôm, lê-ki-ma, sầu riêng, măng cụt, xoài, đào, mận, lý… nhưng đặc biệt nhất là bưởi.

Nói đến bưởi, người ta thường có thành kiến về một loại trái cây nhìn ngoài da láng bóng mà trong ruột chua lè:
“Ăn chi của đắng the the,
Nuốt vào khỏi cổ, răng nhe hàng giờ”
Nếu gặp một chị bán bưởi Biên Hòa mà anh chàng nào giở giọng trêu đùa châm chọc trên đây, sẽ bị trả đũa lại tức khắc:
“Biên Hòa bưởi chẳng đắng, the!
Ăn vào ngọt lịm như chè đậu xanh”
Chắc có bạn hỏi: bưởi gì mà ngon vậy? Thưa rằng, dòng họ hiếm có đó là bưởi Thanh. Cái tên chung thì như thế, còn đi sâu phân biệt ngôi thứ thì nó cũng có vế có vai.
Thứ nhất bưởi Thanh Long, thứ hai Thanh Trà, thứ ba Thanh Dây và thứ tư là bưởi ổi. Tuy mùi vị có khác nhau nhưng loại nào cũng liệt vào hạng quý. Nhân dân Biên Hòa thường ví sự ngon lành của bưởi bằng câu “tứ tuyệt”, tức là: nhiều nhất, ngon nhất, quý nhất, danh tiếng nhất. Bạn thử tưởng tượng khung cảnh gia đình trong ngày Tết, trên bàn thờ có chục bưởi, trái thì vỏ vàng óng ả, trái thì ngả màu rám nâu như trái hồng khô, đặt lên trên chuối sứ, chuối cau, quýt, cam… trông thật là vui mắt:
“Có bưởi vui cửa vui nhà,
Không bưởi như thiếu cành hoa mai vàng”
Bưởi Thanh Long nhiều nước, hột nhỏ, màu ngà ngà, ngọt thanh. Bưởi Thanh Trà, bưởi dây ruột trong trắng, ngọt đậm như đường phèn. Đặc biệt bưởi ổi phảng phất mùi thơm dìu dịu! Thông thường muốn thưởng thức đúng mức hương vị loài bưởi này người ta không ăn nó khi vừa hái trên cây xuống mà để cho bưởi thật khô, chừng nào vỏ teo lại, lúc đó bưởi càng ngon và trở thành món quà quý đặc biệt. Nhất là trong những bữa tiệc hay ngày giỗ, ngày Tết, bưởi ổi để khô đóng một vai trò rất quan trọng. Không có gì phong nhã lịch sự cho bằng khi ăn bữa cơm xong mời khách dùng bưởi tráng miệng để làm tan hơi men rượu đang nồng. Người ta thường hay nói “miếng trầu là đầu câu chuyện”, nhưng ở đây quả bưởi cũng đóng vai trò “đầu mối” quen thân. Sau khi mời nhau thấm giọng mùi vị ngọt ngào của múi bưởi, câu chuyện dần dần chuyển sang thân thiết đậm đà. Và từ đó dẫn đến trăm nghìn lời hứa kết nghĩa quen thân.
Bởi vậy một ngày nào đó, có dịp đến Biên Hòa các bạn đừng nên vội tìm những thứ trái cây lạ như sầu riêng, măng cụt, chôm chôm, mà bạn nên nhanh tay tìm mau vài quả bưởi ổi khô kẻo hết.
Trong nước, bưởi Biên Hòa là món quà quý như vậy, còn đối với khách nước ngoài, tên tuổi nó cũng lừng vang. Họ đến đây cũng trái ăn, trái xách, trái mang về và không ngớt lời khen.
Cũng cần giới thiệu cặn kẽ thêm với bạn một điều này: Nói chung, theo ven sông Đồng Nai, nơi nào bưởi cũng nhiều, cũng ngon nhưng phải tìm đến chính gốc quê “ngụ” của nó ở Tân Triều, quận Châu Thành mới thưởng thức đầy đủ màu sắc và hương vị của bưởi Biên Hòa. Chính ở đây mới đúng lời ca ngợi của nhân dân là vườn bưởi ngon “tứ tuyệt”: Nhiều nhất, ngon nhất, quý nhất và danh tiếng nhất!

Trang 9

hvln