TRĂNG BUÔNG 2

bia_trangbuong

6

Đang cắm cúi đọc sách Hy ngước lên khi nghe tiếng tằng hắng. Quỳnh đang đứng trước mặt với nụ cười im lặng và ánh mắt nhiều mỏi mệt và buồn rầu.

– Hy khỏe không?

– Dạ khỏe. Còn anh?

Thấy lớp băng trắng quấn nơi cổ tay bên trái của anh nàng hấp tấp lên tiếng.

– Anh sao vậy?

Quỳnh cười.

– Bị thương chút chút…

Đặt cái túi vải lên bàn anh cười nói nhanh.

– Anh có món quà tặng cho Hy…

Thấy cô bé còn ngần ngừ chưa chịu lấy anh tiếp nhanh.

– Anh phải đi bây giờ…

Nói xong Quỳnh đẩy chiếc túi vải tới gần hơn rồi quay lưng bước thật nhanh. Ra tới cửa anh hơi quay người lại nói lớn.

– Anh xin lỗi không nói chuyện được lâu… Mai mốt trở lại anh chở em đi chơi núi…

– Dạ…

Dạ tiếng nhỏ Hy im lặng nhìn theo bóng ông lính thủy cho tới khi không còn thấy nữa. ” Không biết ảnh tặng mình cái gì? ”. Nàng tự hỏi thầm trong lúc chăm chú nhìn cái túi vải. Lần đầu tiên nàng được con trai tặng quà. Điều này khiến cho nàng hồi hộp, sung sướng và kích thích. Cuối cùng nàng run tay mở cái túi vải ra. Cầm quyển Vòng Tay Học Trò lên nàng mỉm cười. Đây là quyển tiểu thuyết được đám bạn trong lớp bàn tán nhiều song nàng chưa có dịp đọc. Hiếu có một quyển và nói sẽ cho nàng mượn sau khi đọc xong. Lật trang đầu của quyển tiểu thuyết nàng thấy bức thư dày hai trang giấy học trò. Mặt đỏ bừng, tim đập mạnh vì xúc động nàng mân mê lá thư đầu tiên của một người con trai đã gởi cho mình. Mắt nàng như nhòa đi trước dòng chữ. ”Hy mến… Khi đặt chân lên thành phố Biên Hòa, anh không nghĩ là đời sống của mình sẽ có một đổi thay nho nhỏ. Khi ngồi trong quán ăn bên kia đường đối diện với tiệm tạp hóa, nhìn bóng em thấp thoáng, anh không nghĩ là mình có may mắn được gặp Hy, quen Hy và cuối cùng cảm thấy mến Hy nhiều hơn nữa. Ba tháng qua, giọng cười của Hy, tiếng nói của Hy, khuôn mặt hồn nhiên, đôi mắt ngây thơ, tia nhìn e ấp của Hy đã theo anh đi hoài trên sông nước Đồng Nai tới những địa danh xa không xa nhưng lạ thật lạ. Đêm đêm ngồi ôm gối nhìn vầng trăng buông xuống thứ ánh sáng bàng bạc mông lung, anh nghĩ về Hy rồi nỗi nhớ bùng ra làm thành cơn buồn bã không thể nói thành lời. Hy còn nhỏ quá. Hy đang là cô học trò 16, chưa mất hết thơ ngây và hồn nhiên; trong lúc anh là lính, không có tương lai và những gì sẽ xảy ra ngày mai anh không biết trước được. Mình quen biết nhau ba tháng, gặp gỡ mấy lần mà cũng không nói được nhiều. Tuy nhiên điều đó cũng không cản được anh càng ngày càng thấy gần gụi Hy nhiều hơn… Hy cười im lặng. Nàng không biết nói gì hơn ngoài sự xúc động khi đọc những dòng chữ của Quỳnh viết cho mình. Nàng sung sướng vì biết anh chú ý tới mình. Thật ra nàng cũng thích anh, mến anh, xem anh như là anh trai hoặc bạn trai lớn tuổi của mình. Dù sung sướng, vui mừng mỗi khi gặp lại Quỳnh, nàng cũng chưa yêu anh. Đang lần mò, chập chững bước đi vào thế giới huyền ảo của tình cảm, dù háo hức song nàng cũng e dè và lo sợ sẽ bị đau đớn và sầu khổ vì chưa có kinh nghiệm. Nó là một sự trải qua để nhận biết. Gấp lá thư chưa đọc hết vào cuốn Vòng Tay Học Trò, nàng cầm lấy món quà nhỏ được gói cẩn thận. Khi mở lớp giấy bọc nên ngoài ra nàng thấy nửa cái bánh trung thu thập cẩm. Mùi thơm của bánh thật quyến rũ. Màu đỏ của trứng gà nhìn thật hấp dẫn làm nàng muốn chảy nước miếng. Cầm tờ giấy gấp làm tư lên nàng đọc nho nhỏ ” Bánh trung thu xẻ làm đôi… Nửa dành em đó, nửa anh ăn rồi…”. Bật cười hắc hắc nàng nói lớn như có Quỳnh đang đứng trước mặt ” Hy tính để dành miếng bánh làm kỷ niệm nhưng mà nửa anh ăn rồi nên Hy ăn luôn cho có đôi...”. Nửa cái bánh trung thu thật ngon. Lòng đỏ của hột vịt muối thật bùi và mằn mặn hòa với cái bùi bùi của hột dưa và vị ngọt của đường thật đậm đà. Vừa nhai Hy vừa nghĩ lần sau mình phải đòi ảnh cho nguyên một cái ăn mới đã thèm.

Quỳnh ngập ngừng, do dự trước cửa nhà của Hy khá lâu. Cuối cùng anh lẩm bẩm ” Chết ai đâu mà sợ…” Nói xong anh gõ cửa. Có lẽ đã thấy anh từ xa hoặc đã trông ngóng và chờ đợi nên Hy bước ra liền. Quỳnh nhìn thấy mặt cô bé hơi tái xanh vì hồi hộp và lo âu.

– Anh Quỳnh…

Hy kêu tiếng nhỏ. Quỳnh mỉm cười.

– Hy sợ hả?

Hy trả lời bằng cái gật đầu. Đôi môi của nàng mím lại như cố không để cho tiếng nói thoát ra. Cuối cùng nàng chỉ nói được bốn tiếng ” Mời anh vào nhà…”

Quỳnh cười bước vào nhà. Đúng như lời Hy nói. Nhà nàng nghèo. Dù không nghèo lắm nhưng cũng nghèo. Đồ đạc bày khắp nơi. Nhìn thấy bàn thờ anh biết nàng theo đạo Phật. Ba má của Hy bước ra chào hỏi rồi bỏ vào trong. Mấy đứa em trai thập thò nơi cửa. Lần đầu tiên chị hai có bạn trai nên chúng tò mò muốn biết mặt mũi. Hai đứa ngồi nơi phòng khách nói chuyện. Cũng không có chuyện gì ngoài chuyện trường học và gia đình. Qua lời nói, bây giờ Quỳnh mới biết ba Hy người Việt còn má là người Hẹ.

– Vậy em là xẩm lai?

Quỳnh hỏi với giọng âu yếm pha chút giễu cợt. Hy cười e ấp.

– Dạ… Anh còn muốn làm quen với cô em gái của anh hông?

Liếc nhanh vào nhà trong nơi chỗ ba má của Hy đang ngồi uống trà, Quỳnh cười đùa.

– Vẫn muốn… Chắc anh có duyên với cô xẩm lai…

Quỳnh chưa kịp nói nàng tiếp nhanh.

– Chỉ sợ ba má em không chịu. Em còn nhỏ… còn đi học…

Đúng ra Quỳnh muốn nói một câu bóng bẩy như ” Thương em… trăm năm anh cũng đợi, ngàn năm anh cũng chờ ” nhưng biết Hy còn nhỏ có thể chưa hiểu được nên chỉ cười lên tiếng.

– Hiện giờ thì anh coi em như cô em gái… và anh nghĩ anh đợi được…

– Bao lâu…?

Hy bật cười ròn tan vì câu hỏi của mình, nhất là nhìn nét mặt ngượng ngùng của Quỳnh.

– Em nói giỡn… Anh sùng hả…

Quỳnh lắc đầu cười. Hy liếc nhanh vào nhà bếp. Nàng biết ba má và các em nhỏ đang lắng nghe mình với Quỳnh nói chuyện. Điều đó khiến cho nàng cảm thấy không được thoải mái. Ngay cả Quỳnh cũng biết điều đó. Giơ tay xem đồng hồ anh nói nhỏ với Hy.

– Hy vào thưa với ba má anh xin phép đi về…

– Mình đi vào nhà trong…

Hai đứa đi vào nhà bếp. Cúi đầu chào ông bà, Quỳnh nhỏ nhẹ thưa.

– Dạ cháu xin chào hai bác… Cháu phải đi… Nếu hai bác cho phép cháu sẽ trở lại thăm…

Ba của Hy cười nói một câu vắn tắt.

– Cậu thích thời cứ lại nhà chơi… Tôi cũng muốn con Hy có bạn trai nhưng nó còn đi học nên…

Hiểu ý Quỳnh cười thưa.

– Dạ cám ơn bác… Cháu biết nên chỉ xin hai bác cho phép thỉnh thoảng tới thăm Hy tại nhà…

Đang im lặng má Hy chợt lên tiếng hỏi.

– Cậu bao nhiêu tuổi. Gia đình ở đâu vậy?

– Dạ cháu 23 tuổi. Nhà ba má cháu ở Sài Gòn…

Thấy má của mình hơi cau mày song cũng không hỏi gì thêm, Hy nháy mắt với Quỳnh. Hiểu ý anh nói câu từ giã cùng ba má nàng rồi đi ra cửa. Hy theo sau lưng.

– Em nói với anh mà… Ba má em khó lắm…

Hy thì thầm và Quỳnh cười vui như không có gì phật lòng.

– Anh biết… Ổng bả có con gái đầu lòng nên phải giữ gìn. Từ từ ba má của em sẽ hiểu…

Dừng lại nơi sân Quỳnh cười nhìn Hy.

– Em mặc áo màu vàng đẹp lắm… Thôi anh về… Chắc hai ba tuần nữa anh mới gặp em…

Hy dừng xe đạp khi lên tới giữa cầu. Nhìn xuống dòng sông nước trong xanh nàng thấy một chiếc tàu đang chạy. Hình ảnh chiếc tàu làm nàng nhớ tới Quỳnh. Giờ này anh ở đâu hả anh? Anh đang làm gì? Anh có nhớ tới con bé này không anh? Anh có biết trên đường đi học nhìn tàu chạy trên sông Hy nhớ anh? Hơn tháng rồi Hy không thấy anh và hầu như quên mất mặt mũi của anh. Biết bao lần anh hứa sẽ chở Hy đi chơi núi mà lần nào gặp nhau anh cũng không giữ được lời hứa. Thật ra thì Hy biết không phải lỗi của anh. Anh là lính, giờ giấc không định, còn em ba má khó khăn do đó mình ít có thời giờ cho nhau. Thôi đành vậy. Làm thân con gái trong thời buổi chiến tranh phải chịu nhiều thiệt thòi. Hy chỉ cầu mong anh đi và anh trở về, để Hy còn được nhìn thấy anh, nghe anh nói anh cười. Hy rưng rưng nước mắt khi nghĩ có một ngày Quỳnh đi luôn không bao giờ trở lại thăm mình nữa. Dù còn đi học, dù không có anh em trong quân ngũ song bạn học của nàng cũng có người thân đi lính bị chết trận. Dù còn ngây thơ và hồn nhiên, ngày ngày nàng cũng đọc những lời cáo phó đăng trên báo hoặc lời chia buồn đại ý như đã hy sinh vì tổ quốc và anh dũng chết nơi chiến trường.

Đang ngồi trong lớp Hy được giấy mời xuống văn phòng của ông tổng giám thị. Vừa đi nàng vừa thắc mắc và lo âu không biết chuyện gì. Nàng không phải là đứa học trò xấu hay bê bối. Nàng không đi trễ, trốn học, phá phách. Nàng siêng năng, chăm chỉ và nghe lời thầy cô. Vậy thì không có lý do gì để bị gọi xuống văn phòng tổng giám thị trong lúc đang học. Gặp thầy giám thị mới biết có người nhà tới thăm. Khi bước vào phòng nàng ngạc nhiên và xúc động khi thấy Quỳnh đang đứng chờ.

– Anh Quỳnh đi đâu vậy?

Quỳnh mỉm cười. Tuy mỉm cười song trong trí anh lại nghĩ ” Cô bé này kỳ ghê… Mình tới đây gặp mà cô bé lại hỏi đi đâu…”

– Anh tới thăm Hy…

Quay sang thầy giám thị đang đứng Quỳnh lễ phép hỏi.

– Thưa thầy… Tôi xin phép cho em Hy nghỉ học hôm nay được không thầy?

Nhìn bộ quân phục mà Quỳnh đang mặc thầy giám thị biết anh là lính vì vậy ông ta cũng nể nang nên dễ dãi cười gật đầu.

– Được chứ… Ông là thân nhân thời cứ ký tên lãnh trò Hy là được…

Dù thắc mắc song Hy im lặng để mặc cho ông lính của mình muốn làm gì thời làm. Liếc thấy Quỳnh viết năm chữ ” anh bà con chú bác ” vào khung thân nhân của học trò nàng nghĩ thầm ” Ai bà con với anh hồi nào đâu. Đúng là thấy người ta sang bắt quàng làm họ…” Nàng phải đưa tay lên bụm miệng mình để ngăn không cho tiếng cười phát ra. Ký tên vào tờ giấy, ngõ lời cám ơn ông giám thị xong Quỳnh nói nhỏ với Hy.

– Mình đi Hy…

Hai người đi ra cửa. Quỳnh nói nhanh.

– Anh đi với em lên lớp cho em lấy tập vở…

Hy liếc nhanh ông lính.

– Vậy là em nghỉ học hôm nay hả?

– Ừ… Anh chở Hy đi chơi rồi tới hết giờ học anh chở Hy về đây…

Cả lớp lao xao khi thấy Hy trở lại với một thanh niên mặc quân phục. Riêng Hiếu vì được nghe Hy kể nên biết đó là bạn trai của Hy. Nó cười nói nhỏ với bạn.

– Nhớ kể cho tao nghe hổng thôi tao mét má mày…

Hy gật đầu chào xin phép cô giáo xong hối hả theo Quỳnh ra khỏi cửa trường.

– Xe của anh hả?

Hy hỏi khi thấy Quỳnh mở khóa chiếc xe Honda.

– Anh mượn của một người quen ở dưới tàu. Nhà nó ở gần sân banh…

– Mình đi đâu hả anh?

Hy hỏi nhỏ.

– Em biết chùa Ông…

– Dạ biết… Má Hy dẫn Hy đi hoài…

– Anh chở Hy tới chùa Ông chơi… Chùa này gần trường học…

Không hỏi nữa Hy im lặng ngồi lên yên xe với tâm trạng hồi hộp, lo âu và mắc cỡ. Nàng lo có người quen thấy rồi về học lại với ba má thời nàng sẽ bị la mắng và có thể bị đòn nữa. Nàng hồi hộp và run rẩy tới độ nghe được tim mình đập thình thịch. Lần đầu tiên ngồi chung xe với Quỳnh nàng đâm ra e thẹn tới độ chỉ biết nắm chặt yên xe cho khỏi té chứ không dám vòng tay ôm ngang hông anh. Nàng chưa dạn dĩ tới độ làm cử chỉ thân mật như nhiều cô gái khác. Có lẽ hiểu được nên Quỳnh cười trấn an.

– Anh chạy chậm và em nắm chặt cho khỏi té…

– Dạ…

Hy chỉ dạ tiếng nhỏ. Bình thường nàng là một cô gái vui vẻ, liến thoắng và cười nói tía lia, song ngồi sau lưng Quỳnh nàng không hiểu tại sao đầu óc mình trống rỗng, chữ nghĩa bay mất tiêu. ” Mình đang đi chơi với bạn trai…” Nàng chỉ nghĩ được một câu đó thôi. Điều đó là một sung sướng và hãnh diện xen lẫn với nhiều dao động và thay đổi trong tâm hồn. Quỳnh lái xe chậm trên con đường tráng nhựa từ trường tới chùa Ông. Hai đứa cùng im lặng. ” Anh cũng run chứ hổng phải mình đâu… Lính gì nhát hít…”. Không nhịn được Hy bật cười vì ý nghĩ của mình. Nghe tiếng cười trong treo ở sau lưng Quỳnh hỏi.

– Hy cười gì vậy?

Hy lúng túng vì câu hỏi của Quỳnh. Cuối cùng nàng ấp úng.

– Dạ… dạ… em cười em…

Đang lái xe Quỳnh liếc nhanh ra sau lưng. Anh thấy cô bé mặt ửng hồng, tay níu chặt lấy yên xe và đôi môi hơi mím lại như cố giấu đi nụ cười e ấp. Có lẽ biết Quỳnh nhìn mình nên nàng vờ quay mặt sang hướng khác. Xe ngừng bên vệ đường ngay trước cửa chùa. Gởi xe xong hai đứa thong thả đi ra phía bờ sông. Mặt nước xanh gờn gợn sóng. Gió mát thổi tà áo dài trắng của nàng bay bay.

– Sông đẹp hả anh?

Hy thì thầm. Không nghe Quỳnh trả lời nàng hơi ngạc nhiên quay sang nhìn. Nàng thấy khuôn mặt của người lính thủy buồn bã lạ thường. Hình như có chút nước mắt ứa ra từ đôi mắt đăm chiêu.

– Sông đẹp nhưng…

Quỳnh chỉ nói có ba tiếng rồi móc túi lấy ra gói thuốc. Mân mê gói thuốc lá giây lát, anh lấy một điếu đưa lên miệng ngậm rồi bật chiếc zippo. Ngọn lửa bùng lên thành màu xanh vì bị gió lùa. Khói thuốc tan thật nhanh trong gió song Hy cũng ngửi được mùi thơm nồng. Hít hơi dài, nhả khói ra từ từ Quỳnh cất giọng trầm. Hy nghe giọng nói của anh hơi nghèn nghẹn.

– Sông đẹp lắm… Anh nghĩ bất cứ con sông nào cũng đẹp theo dáng vẻ riêng của nó. Mưa rơi trên sông cũng đẹp. Chiều trên sông cũng đẹp. Nhưng trăng trên dòng sông mới là cái đẹp tuyệt vời nhất. Khi đất nước thanh bình anh sẽ lái tàu đưa em ngắm trăng trên dòng sông Đồng Nai. Lúc đó em mới thưởng thức được cái vẻ mông lung, huyền ảo, mơ hồ và mộng mị của ánh trăng buông trên dòng sông…

– Anh nhớ nha…

Hy cười. Quỳnh gật đầu bước trên con đường mòn chạy dọc theo bờ sông. Gió từ mặt nước lùa vào thổi tà áo dài của Hy quyện vào chân anh. Tà áo em bay giữ chân đời anh… Quỳnh mỉm cười vì ý nghĩ hiện ra trong trí của mình. Anh liếc nhanh khuôn mặt trái soan của Hy. Có hai dòng máu chảy trong người cho nên nàng đẹp khác lạ. Dáng cao và mảnh mai. Đôi mắt to đen láy. Cái cổ cao trắng ngần. Bờ ngực của cô gái dậy thì vun cao. Mũi thẳng và cao. Tất cả hòa hợp hình thành một vẻ thanh tú và ưa nhìn. Người ta bảo đôi mắt là cửa sổ của linh hồn. Điều đó Quỳnh không biết có đúng không. Nhưng anh biết ở Hy đôi mắt là tiếng nói của nàng. Ngoài ra nó còn cho anh biết Hy có thể chất khỏe mạnh. Tinh anh của nàng hiện lên lên ở đôi mắt sáng long lanh kỳ diệu mà mỗi lần nhìn vào anh cảm thấy bị cuốn hút. Biết Quỳnh đang chiếu tướng mình nên Hy im lặng nhìn ra sông để che giấu cảm xúc. Trong lòng nàng đang có những cảm giác rẩy run, hồi hộp, sung sướng và e thẹn. Nàng cảm thấy hơi thở của mình đứt quãng, nặng nhọc và nổi gai ốc vì sợ. Nàng sợ bị Quỳnh nắm tay. Nếu ảnh nắm tay thì mình phải làm gì? Để yên hay rút lại? Cuối cùng nàng thở ra nhè nhẹ khi thấy Quỳnh bước đi.

– Mình có vào chùa không anh?

Hy lên tiếng như để có chuyện nói. Hít hơi thuốc rồi búng tàn thuốc rơi xuống nước Quỳnh quay lại cười.

– Chùa nào?

– Chùa Ông…

– Em biết sự tích chùa Ông?

Hy lắc đầu cười phô hai hàm răng trắng bóng và đều đặn.

– Hông… Anh biết hông mà hỏi người ta…

Nghe Hy vặn lại mình Quỳnh cười hắc hắc nhìn vào mặt nàng. Mặt cô học trò nóng bừng vì tia nhìn âu yếm của anh lính thủy.

– Dân chúng quen miệng gọi chùa Ông nhưng đúng ra thời phải gọi là miếu…

– Tại sao phải gọi là miếu?

– Chùa là nơi để thờ Phật trong khi miếu để thờ các vị thánh thần. Bởi vậy tên đúng nhất để gọi chùa Ông là Miếu Quan Thánh Đế mà người được thờ chính là Quan Vân Trường, một danh tướng thời tam quốc… Em biết truyện Tam Quốc không?

Do dự giây lát Hy mới trả lời.

– Có nghe ba má nói…

Nhìn Quỳnh nàng cười hỏi lại.

– Anh có đọc hông hay là anh hù em…

Hy cười hăng hắc sau khi hỏi. Đốt điếu thuốc Quỳnh gật đầu lia lịa.

– Anh đọc rồi… Đọc hồi mới có 9, 10 tuổi và bây giờ cũng còn đọc…

– Em muốn đọc…

Quỳnh gật đầu.

– Để mai mốt anh đưa truyện Tam Quốc cho em đọc. Anh sẽ cho em gia tài của anh. Đó là những quyển sách mà anh đã mua bằng tiền dành dụm của anh từ hồi nhỏ cho tới bây giờ…

– Nhiều hông?

Sau khi hỏi Hy bước tới một bước. Anh lính thủy nghe được mùi hương thân thể của cô bạn gái quyện vào mũi của mình và đọng lại trong đó thành nỗi rung động dịu dàng và xuyến xao thật nhẹ.

– Nhiều lắm…

Giọng nói của Quỳnh mơ hồ. Anh hầu như bị choáng ngợp khi nhìn vào đôi mắt long lanh, còn nguyên nét ngây thơ và hồn nhiên đang ánh lên chút tình cảm của Hy. Dù chưa hẳn là tình yêu song đủ nói lên sự cảm mến mà nàng dành cho mình. Từ cảm mến chuyển sang thương yêu chắc không xa.

– Mấy giờ rồi anh. Em phải đi về…

Hy hỏi và Quỳnh nhìn đồng hồ chỉ 11 giờ 10.

– Lẹ quá… Anh chở Hy về trường…

Chiếc xe gắn máy phóng đi nhanh. Cũng như lần trước Hy im lặng không nói suốt đoạn đường từ chùa Ông trở lại trường.

7

Chiếc xe đò Biên Hòa-Sài Gòn ngừng lại nơi Ngã Ba Hàng Xanh. Bước xuống đất, đốt điếu thuốc anh đứng nhìn quang cảnh nhộn nhịp của xa cảng, giao điểm của xa lộ Biên Hòa và con đường nối liền Thị Nghè-Bà Chiểu. Mùi xăng nhớt lẫn trong không khí bụi bặm làm cho anh phải khịt khịt mũi. Tiếng xe gắn máy, xe hơi nổ ầm ỉ. Tiếng người nói chuyện lao xao. Chiếc xe buýt thưa người ngồi đậu lại. Quỳnh chậm chạp bước lên. Ngồi im nơi băng ghế cuối cùng anh lơ đểnh ngắm phong cảnh hai bên đường. Nhà cửa cũ kỹ. Mái ngói rêu móc. Bức tường gạch của viện dưỡng lão dơ dáy đầy những chữ viết nguệch ngoạc. Xe dừng rồi lại chạy. Bao lâu rồi mình mới trở lại Sài Gòn? Quỳnh băn khoăn. Chắc hơn nửa năm. Hình bóng lãng đãng trong trí nhớ. Kỹ niệm hổn độn, chồng đống và trộn lẫn với nhau khiến cho anh mỗi lần muốn hồi tưởng phải tìm kiếm và ráp nối lại mới có thể thấy được. Xe ngừng lại nơi trạm có năm ba người đứng chờ. Chiếc buýt uể oải lăn bánh bỏ lại Quỳnh đứng im nhìn ngôi nhà thờ đối diện với mình bên kia đường. Cây thánh giá màu trắng trên nóc đã ngã sang màu trắng ngà. Mấy bực tam cấp bằng xi măng nứt nẻ, có chỗ rong rêu bám vào. Đi ngang qua căn nhà, anh giơ tay lên chào một người đàn bà đang đứng ngó mong ra đường. Đó là vợ của một người anh bà con đã chết trận từ lâu lắm, có lẽ hồi Quỳnh còn ở trung học đệ nhất cấp. Vào nhà xác để nhìn mặt ông ta lần cuối, anh hiểu được nỗi khổ đau của những người có chồng con đã hy sinh vì tổ quốc qua tiếng khóc nghẹn ngào và bi ai của họ. Hy sinh vì tổ quốc, anh dũng đền nợ nước. Mấy tiếng đó nghe xa vời quá. Người lính nằm xuống thì được xưng tụng anh hùng. Chỉ riêng vợ con họ còn sống thời gian truân và vất vả suốt đời. Mười hai tháng lương trong thời buổi vật giá leo thang so sánh còn ít hơn giá tiền chiếc nhẫn hột xoàn của một bà tướng hay chếnh tứ sắc của phu nhân một ông bộ trưởng. Sinh mạng của người lính Việt Nam rẻ mạt cũng như thân phận bọt bèo của vợ con họ trong nhiệm vụ thiêng liêng được hô hào bởi hai thế lực đối nghịch.

– Ê Quỳnh…

Đang thọc hai tay vào túi quần và trầm tư nghĩ ngợi, nghe tiếng người gọi tên mình Quỳnh ngước đầu lên dáo dác nhìn. Trong chiếc quán cóc bên con hẻm nhỏ có bàn tay vẩy vẩy. Bước tới gần anh nhận ra Châu, thằng bạn thân cùng lớp 11 với mình đang ngồi nhâm nhi xị đế.

– Mày về thăm nhà?

Châu lên tiếng. Quỳnh hơi ngạc nhiên khi thấy nó mặc quân phục rằn ri.

– Mày đi lính hồi nào vậy?

– Gần một năm rồi… Tao sẽ lên Kontum…

Rót đầy chung rượu đế đẩy sang cho bạn Châu hỏi nhỏ.

– Mày nhớ thằng Cương?

Quỳnh trả lời bằng cái gật đầu. Đốt điếu thuốc Châu lên tiếng.

– Nó chết rồi…

Quỳnh thở dài khi nhớ tới thằng bạn thân cùng lớp. Trong trí anh hiện lên hình ảnh một thằng con trai nhà giàu, thông minh, hào sảng, vui vẻ, rất được con gái thích. Đậu tú tài xong ba má nó tính cho nó đi du học nước ngoài. Thế mà nó lại tình nguyện đi lính dù đang học khoa học. Ra võ bị Đà Lạt nó chọn nhảy dù. Lần gặp nhau cuối cùng nó nói với Quỳnh là đi nhảy dù mới bảnh. Bảnh thì cũng bảnh mà lên bàn thờ cũng sớm hơn.

– Uống đi mày…

Châu lên tiếng nhắc. Quỳnh cười đưa chung đế lên ực một cái. Mùi rượu cay nồng làm chảy nước mắt. Bóc miếng khô mực, chấm vào dĩa tương đầy ớt đỏ tươi anh bỏ vào miệng nhai xiệu xạo. Chị chủ quán cười bắt chuyện với Quỳnh.

– Em về thăm nhà hả?

Dù quen mặt song phải khá lâu Quỳnh mới nhớ ra tên của chị là Thoa.

– Dạ… Em về thăm nhà… Anh Bá ở đâu hả chị?

– Ảnh ở Ban Mê Thuột…

Uống vài chung rượu đế xong Quỳnh từ giã Châu. Hai thằng bạn bắt tay nhau, không có lời chúc lành vì biết chẳng đứa nào cần cũng như nhớ tới lời chúc lành của bạn. Chết hoặc sống đều tùy thuộc vào những gì mà người ta không biết hoặc không thể đoán định trước.

Quỳnh đứng tần ngần trước cổng vào nhà của mình. Vẫn không có gì thay đổi. Ao nước đầy rau muống. Cây cầu ván nhỏ. Con đường trải đá. Hàng so đũa lá xanh xanh. Cây dừa xiêm mà bà ngoại đem từ quê lên giờ đã có trái xum xê. Cây chùm ruột già cỗi. Chùm trái vàng ươm. Mấy chậu mai tứ quí. Nhà tôn vách ván cũ kỹ. Có tiếng gâu gâu rồi con chó già vẩy đuôi chạy ra mừng cậu tiểu chủ trở về thăm nhà. Má anh rơi nước mắt. Trong tất cả năm người con trai và gái, anh được bà thương nhất. Có lẽ vì giống và hợp tính với bà. Sau khi bị bán thân bất toại bà trông già nua và hom hem. Còn đâu một tiểu thư từng trẻ đẹp và giàu sang. Dĩ vãng như trôi mất theo bụi thời gian còn trơ lại một nét mặt buồn bã, âu sầu vì thương nhớ hai đứa con trai vắng nhà. Quỳnh nói đôi lời thăm hỏi ba của mình. Ở giữa tình cảm cha với con vẫn còn có một khoảng cách mà anh biết không bao giờ có thể nối liền được. Hai mươi lăm năm không thấy nhau là hố sâu để ngăn cách tình cha con. Tuy nhiên hai người, dù không nói ra đều cố gắng giữ hòa khí để cho tình cảm không đi tới chỗ tồi tệ hơn. Bất đồng về quan điểm chính trị, tuổi tác, nền văn hóa đã được hấp thụ cộng thêm tính tình khác biệt; những điều đó tạo thành một bức tường chia ngăn cha con với nhau. Anh kính trọng ba của mình nhưng cảm thấy không thể gần gụi và thương mến ông được. Tình thương không thể có nếu thiếu sự cảm thông, đùm bọc, che chở và xẻ chia với nhau. Ba anh đã không có những điều đó với con cái của ông.

Bữa cơm gia đình chỉ có ba người diễn ra trong im lặng ngoại trừ câu chuyện trời mưa trời nắng. Quỳnh có vài điều muốn nói với má nhưng vì có mặt ba nên anh đành im lặng chờ dịp khác. Anh muốn khoe với má về Hy vì biết bà sẽ vui vẻ bàn tán khi được con trai kể cho nghe chuyện tình cảm. Bà biết tính mơ mộng, lãng mạn của con. Ăn cơm xong, nhân lúc không có mặt ba, Quỳnh nhét vào túi áo của má nguyên cả tháng lương vừa lãnh. Anh biết số tiền của mình không có bao nhiêu song cũng đủ cho bà xài vặt và mua quà bánh cho cháu nội ngoại.

– Con làm gì vậy?

Đang cặm cụi lục trong đống sách cũ, nghe tiếng má hỏi Quỳnh ngước lên nhìn rồi cười trả lời.

– Dạ con tìm sách cũ mang lên cho Hy…

– Cô bé bao nhiêu tuổi?

– Dạ 16…

Quỳnh thấy được thoáng ngạc nhiên trong mắt đấng sinh thành. Lát sau bà cười đùa.

– Tình cảm không phân biệt tuổi tác hả…

Cầm lấy quyển Chân Trời Tím của Văn Quang, Quỳnh cười nói lại.

– Dạ… Cảm thông không phân biệt tuổi tác như con với má…

Quỳnh cảm thấy lòng ấm áp khi nghe má mình bật ra tiếng cười. Lâu lắm rồi anh mới nghe được giọng cười tươi vui của bà vì thỉnh thoảng anh mới trở về nhà hai ba ngày rồi lại vội vả đi. Khoảng thời gian ngắn ngủi đó anh lại mãi vui chơi với bạn bè nên bỏ quên với người mẹ già của mình. Với lại anh nghĩ khi có chồng bên cạnh thời bà sẽ không cần tới sự săn sóc của con cái nữa. Nhắc chiếc ghế mời bà ngồi xong Quỳnh bật ra câu hỏi. Khi hỏi rồi anh mới biết là không nên hỏi. Tuy nhiên đó cũng chính là thắc mắc mà anh muốn biết.

– Má hạnh phúc với ba…?

Quỳnh thấy được nét băn khoăn của má mình. Có thể bà không biết cái ý của anh hoặc chữ mà anh dùng. Có thể lớp tuổi của bà tiếng ”hạnh phúc” được hiểu theo một nghĩa khác. Cuối cùng bà thở dài. Giọng nói của bà chậm và đều đặn.

– Mình không thể thay đổi những gì đã xảy ra cho nên mình phải chấp nhận và chịu đựng…

Hình như không muốn bàn luận thêm về đề tài trên nên bà cười hỏi.

– Bé Hy…

Hiểu ý má Quỳnh kê khai lý lịch một cách vắn tắt.

– 16 tuổi, học lớp 10, nhà nghèo, cha Việt mẹ Tàu, không sắc nước hương trời nhưng duyên dáng, thông minh và nhạy cảm. Thích đọc sách…

– Có vợ xẩm lai con tha hồ xực phàn…

Quỳnh cười hắc hắc vì câu nói đùa của má mình. Liếc nhanh ra sân trước nơi chỗ ba đang ngồi hóng gió anh nói một câu thoạt nghe như giỡn song anh biết nó rất thật với mình.

– Có được một người vừa là mẹ vừa là bạn thời thật vui thích…

Má Quỳnh vỗ vỗ lên lưng con trai trong lúc nói một câu làm cho anh rưng rưng nước mắt.

– Có được một người vừa là con vừa là bạn thời còn sung sướng hơn nữa…

Quỳnh cười nhìn má của mình. Bước đi được vài bước bà quay đầu lại nói với đứa con trai cưng của mình.

– Nói với Hy là má có lời hỏi thăm…

Ngước trông theo dáng đi khập khiểng của bà, Quỳnh nói nhỏ.

– Dạ… Con sẽ…

Cầm quyển Khu Rừng Lau của Doãn Quốc Sỹ lên ngắm nghía Quỳnh biết Hy còn nhỏ tuổi để đọc các loại sách này nhưng cuối cùng anh tặc lưỡi.

– Cứ đưa cho cô bé đọc…

Chậm chạp anh bỏ vào túi vải một lô sách báo và tiểu thuyết của các cây viết nổi tiếng đương thời. Anh cũng không quên nhét vào cái túi trọn bộ truyện Tam Quốc như đã hứa với Hy. Đêm Sài Gòn yên lặng qua khi anh tắt đèn nằm trong bóng tối. Khuôn mặt của cô học trò có đôi mắt đen lay láy và mái tóc dài hiện ra lung linh.

Đang ngồi nơi hàng hiên ngoài sân, thấy nhỏ Hiếu xách một cái túi vải nặng Hy hơi ngạc nhiên. Khi cô bạn tới gần nàng hồi hộp vì nhận ra cái túi vải quen thuộc của Quỳnh.

– Mày đi đâu vậy?

Hy hỏi cho có lệ. Xà vào chỗ bạn đang ngồi Hiếu thì thầm.

– Anh Quỳnh ghé nhà tao trưa thứ bảy. Anh nhờ tao đưa sách cho mày…

– Vậy à…

Hy hỏi gọn hai tiếng xong rồi mới cười tiếp.

– Còn gì nữa không?

– Còn…

– Gì?

– Thư của ảnh. Mày muốn đọc hông. Nếu mày nói không tao trả lại ảnh…

Hy đấm vào lưng con bạn thân.

– Quỷ… Đưa đây…

Móc trong túi áo bà ba ra lá thư đựng có phong bì được dán cẩn thận Hiếu cười cười.

– Mày cho tao coi ké nghen…

Hy vùng vằng.

– Thôi đi… Kỳ lắm…

Hiếu nắm chặt phong thư.

– Hổng cho coi là tao hổng đưa…

– Mày coi để làm gì… Thư của người ta mà…

Hiếu cười hắc hắc.

– Để rút kinh nghiệm. Mày nói ảnh viết văn thời viết thư tình chắc phải mùi lắm… Tao muốn học…

Hiếu cười hắc hắc. Đấm nhẹ vào vai bạn Hy gật đầu.

– Quỷ… Được rồi sau khi tao coi xong…

Vừa nói Hy vừa giựt phong thư trên tay bạn. Hiếu đứng dậy nói nhanh.

– Thôi tao về…

– Ừ mày về… Mai mốt tao sẽ đem thư tới trường cho mày coi nghen…

Đợi cho Hiếu khuất bóng nàng mới đưa phong thư lên nhìn. Phong thư được dán lại song không đề tên người nhận. Hy cảm thấy hai bàn tay của mình run run và trống ngực đập nhanh hơn bình thường khi mở thư. Trên nền giấy học trò những dòng chữ hiện ra. Nét chữ gãy gọn. Hy nhận thấy ông lính thủy viết tháu và viết tắt khá nhiều. Chữ không thay vì viết đủ anh lại viết ra khôg; những thời viết thành nhữg… Hy nghĩ thầm trong trí của mình ” Viết như vầy là sai chính tả, là bị khẽ tay nghe chưa… Viết như vầy mà cũng khoe viết văn…”. Nàng bật cười hăng hắc vì ý nghĩ của mình.

– Hy mến…

Cô bé cảm thấy mặt mình nóng bừng, tim đập mạnh và hai bàn tay run lên vì e thẹn lẫn sung sướng. Lần đầu tiên nàng được một người con trai gọi bằng thứ ngôn ngữ chở chất chút tình cảm.

– Hôm qua anh về thăm nhà. Anh có nói chuyện với má anh về Hy. Bà rất vui khi được biết anh quen với Hy…

Bật cười Hy lắc lắc đầu nói như có Quỳnh đang đứng trước mặt mình.

– Chưa có gì hết mà đã đi khoe… Ông này kỳ quá…

Tuy lẩm bẩm như vậy song Hy lại thầm cám ơn Quỳnh. Điều đó chứng tỏ anh thành thực chứ không có xạo. Nàng nghĩ nếu ba má mình biết điều này chắc sẽ không ngăn cấm nàng giao du với Quỳnh.

– Anh buồn vì không gặp được Hy để nói với em tin vui này. Tuy nhiên vì không có nhiều thời giờ nên anh phải nhờ Hiếu trao thư và sách cho em. Mai mốt anh về mình sẽ nói chuyện nhiều hơn…

Hy gấp lá thư còn hơn một trang chưa đọc bỏ vào túi áo của mình. Nàng muốn để dành đọc sau khi học bài xong. Bây giờ còn phải lo nấu cơm chiều. Xách cái túi vải khá nặng chứa đầy sách báo của Quỳnh đem giấu vào dưới gầm giường của mình, nàng mong gặp lại anh lính thủy để bàn luận với anh về những cuốn tiểu thuyết mà mình đã đọc qua. Nghĩ tới đó nàng háo hức muốn biết anh đã đưa cho mình loại sách gì.

*****

Quỳnh tất tả bước vào căn nhà tiền chế dành làm bộ chỉ huy nhẹ của giang đoàn 24 xung phong. Giơ tay chào trả cái chào kính của Quỳnh, trung úy Bình cười vui vẻ lên tiếng.

– Tôi chỉ có dầu cho anh thôi. Đạn thời phải chờ tuần tới. Tiếp tế của mình bết lắm… Anh nên dặn nhân viên tiết kiệm đạn dược…

– Tôi biết thưa trung úy… Tôi bảo lính đếm từng viên thưa trung úy…

Quỳnh nói gọn một câu. Cầm lấy cái phiếu tiếp liệu anh chào Bình rồi quay ra cửa. Nửa tiếng sau hai chiến đỉnh ngược con nước đi lên thượng nguồn. Ngồi trên mui tàu Quỳnh cầm lấy ống nói.

– 9 đây 11…

– 9 nghe 11…

Giọng của Quốc rời rạc và mỏi mệt.

– Mày có bao nhiêu dầu?

– Bốn ngàn lít…

– Đạn?

– Đủ xài nếu Vẹm hổng có bắn mình nữa…

Quỳnh nhếch môi cười vì câu nói diễu của thằng bạn thân.

– Mày năn nỉ tụi Vẹm đi… Bảo mấy thằng em của mày nếu bị Vẹm bắn thời đưa lưng ra đỡ chứ đừng có bắn lại…

Quốc cười khặc khặc.

– Mày đưa lưng đỡ trước cho tụi tao bắt chước đi…

Tuấn cười hắc hắc vì câu nói diễu của Quốc. Dứt điện đàm Quỳnh lắc lắc đầu thở dài sườn sượt. Hôm qua anh bảo Kỳ chùi mấy khẩu đại liên thời nó nhăn mặt bảo hết dầu chùi súng rồi. Đạn mỗi khẩu chỉ còn ngàn viên. Với các khẩu súng điều khiển bằng điện này, ngàn viên đạn chỉ chớp mắt là hết nhẵn. Ngay cả các loại súng cá nhân như M16, M79, M60 và lựu đạn cũng dưới cấp số tồn trữ. Thấy Kỳ mặc bộ quân phục cũ rách nhiều nơi anh thắc mắc hỏi thì nó trả lời hơn năm rồi chưa được cấp phát quần áo. Anh im lặng vì biết điều đó. Chính anh cũng vậy. Lính thiếu quần áo mặc nhưng chợ trời thời có đủ thứ. Muốn có quân phục cứ ra đó mà mua. Quỳnh nhớ có một ông tướng nào đó đã nói một câu ” Một vị tướng mà còn để cho người lính dưới quyền của mình thiếu đôi giày để mang thời ông ta không làm tròn trách nhiệm của mình…”. Căn cứ vào câu nói này thời có rất nhiều ông tướng tá của quân lực đã không chu toàn trách nhiệm của mình. Quần áo thiếu thốn mà khi lãnh được thời chẳng đủ vào đâu. Giày mới chính là cái thảm hại nhất vì chỉ mang được ba tháng là bung đế liền. Ra chợ trời mua giày và quần áo còn tốt hơn của quân đội cấp phát.

Nắng tháng 9 chói chang. Không khí ngột ngạt. Chơn, người lính mới vừa được bổ xung sau khi Biên chết chưa được một tháng ló đầu lên nói với Tuấn.

– Mày để tao lái cho…

Tuấn gật đầu rời ghế lái leo lên mui ngồi kế bên thuyền trưởng. Vì tàu chưa vào vùng nguy hiểm do đó không ai mặc áo giáp và đội nón sắt kể cả Quỳnh. Tiếng phi cơ phản lực chiến đấu gầm rú trên cao tiếp theo tiếng bom nổ ì ầm vọng lại từ hướng tây. Quỳnh cười chúm chiếm khi thấy Tuấn hút thuốc lá một cách thành thạo dù chỉ mới hơn một tháng. Học cái tốt khó khăn chứ học thói hư tật xấu thời dễ dàng và nhanh chóng. Nhớ lúc vào quân trường Nha Trang anh không biết hút thuốc và uống rượu mà bây giờ thuốc lá ngày hai ba gói còn uống rượu như tàu uống dầu cặn. Anh nhớ lại thời ở Rạch Giá, theo mấy đứa bạn đi vào tiệm hút thuốc phiện thử cho biết. Anh chỉ đi một lần rồi thôi vì không thích cái không khí lù mù ánh đèn dầu phọng, tiếng dọc tẩu kêu lọc cọc, nhất là sự yên lặng của tiệm hút. Khung cảnh dơ dáy, ẩm mốc và phảng phất cái mùi hăng hắc đó không hấp dẫn được một thanh niên mới lớn như anh. Anh thích uống rượu hơn. Khi cơn say la đà anh để cho tâm hồn của mình vượt qua giới hạn thường tình đi vào thế giới của mộng mơ, tưởng tượng, trong đó có ánh mắt, nụ cười, tà áo màu chuyển động, giọng nói thánh thót, hình thành một xuyến xao dịu nhẹ nhờ âm thanh và ngôn từ của những bản tình ca.

– Quỳnh Hoa đây Biên Hùng…

Quỳnh cầm lấy ống nói.

– Quỳnh Hoa nghe Biên Hùng…

– Anh tới U Minh Hiệp Hòa gặp Ông Địa… Họ cần hai lần tango…

– Tôi nghe Biên Hùng 5/5…

Ngưng nói với trung úy Bình, Quỳnh bốc máy gọi Quốc.

– 9 đây 11…

– 9 nghe 11…

– Mình tới U Minh Hiệp Hòa để bốc mấy Ông Địa đi hai lần tango… Nghe rõ trả lời…

– 9 nghe 11 rõ…

Chiếc Alpha 9 phun khói trắng dẫn đầu. Quỳnh ra lệnh cho Chơn.

– 1500 đi…

– Hai lần tango là gì hả anh?

Quỳnh giải thích vắn tắt.

– Hai lần tango là tuần tiễu…

– Tôi nghe anh nói năm ô vuông là gì?

Quỳnh cười đốt điếu thuốc. Hít hơi dài, trải tấm bản đồ hành quân ra anh vừa chỉ vừa nói.

– Mày thấy bản đồ có đường ngang và đường dọc…

Chơn nhẹ gật đầu nhìn vào tấm bản đồ chi chít địa danh và những đường ngang dọc.

– Các đường ngang và dọc này làm thành một ô vuông. Tùy theo tỷ lệ của bản đồ, mỗi ô vuông chỉ khoảng cách nhất định như 1, 5 hoặc 10 cây số… Như tấm bản đồ mà mình dùng đây thời khoảng cách là 5 cây số. Bởi vậy khi mình nói đang ở cách U Minh Hiệp Hòa 3 ô vuông có nghĩa là mình cách 15 cây số…

Gật đầu tỏ vẻ hiểu Chơn hỏi tiếp.

– Mình đi đâu hả anh?

– Đi Uyên Hưng…

Biết thế nào Chơn cũng hỏi nên Tuấn xen vào.

– Mày chạy theo thằng 9…

Quỳnh cười nhẹ không nói gì. Có lính mới là Chơn xuống tàu nên Tuấn không còn là lính mới nữa. Là lính cũ cho nên anh cũng nên để cho nó có chút quyền hành.

– Mình chạy theo thằng 9 hả anh?

Chơn hỏi lại và Quỳnh trả lời bằng cái gật đầu.

– Hai thằng bây đứa lái tàu đứa nghe máy còn tao đi hút thuốc…

Nói xong Quỳnh leo xuống đứng nơi ụ súng 50 có Sang đang ngồi nghe nhạc.

– Tao nghe nói vợ mày có thai hả?

Sau khi đốt điếu thuốc Quỳnh lên tiếng hỏi. Vặn nhỏ cường độ âm thanh từ chiếc máy phát thanh Sang cười vui vẻ.

– Có rồi anh… Tôi hy vọng có thằng cu tí… Ba má tôi muốn có cháu nội trai để nối dõi tông đường…

Quỳnh bật cười. Tuy ngồi ở trên cao nhưng Kỳ cũng nghe được nên nói vọng xuống.

– Đường cát hay đường phèn…

Tuấn và Chơn phá ra cười khiến cho Sang xụ mặt.

– Đường gì kệ cha tao… Mắc mớ gì mày chỏ cái miệng vào…

– Tại tao nghe mày nói nối dõi tông đường nên tao thắc mắc…

Sang hừ tiếng nhỏ cười nói với Quỳnh.

– Gia đình tôi có mình tôi là con trai…

Kỳ cười ha hả chọc tiếp.

– Vậy là mày cần có con trai để nối dõi đường chôm chĩa của mày…

Không nhịn được được Quỳnh bật cười nhưng vội ngậm miệng lại khi thấy Sang trợn mắt nhìn mình. Ngoài cái danh Ông Từ, Sang còn được bạn bè ở dưới tàu đặt cho cái tên Sang Xách. Lúc giang đoàn còn ở chung với lính hải quân Mỹ, nó nổi tiếng lì lợm và phớt tỉnh Ăng Lê. Lính Mỹ giàu có nên đồ tiếp liệu để lềnh khênh ngoài trời không cần canh gác. Dò biết chuyện này nên mỗi lần đi ăn sáng về, khi đi ngang qua chỗ chứa đồ tiếp liệu là Sang hai tay xách hai thùng sơn đem về tàu. Không ai dám chôm chĩa kiểu này vì e ngại chuyện đổ bể sẽ bị mất mặt hay quê xệ. Bởi vậy nó mới nổi danh Sang Xách. Sau khi làm ăn một thời gian nó mới tiết lộ cho Quỳnh biết là mỗi thùng sơn như vậy đem về Khánh Hội bán được bốn năm chục ngàn. Nhờ đó mà nó có tiền cất nhà, mua xe Honda cho vợ đi làm.

Tàu chạy ngang qua Rạch Ông Tiếp. Nhìn núi Bửu Long vọt cao lên nền trời xanh lơ Quỳnh nhớ tới Hy. Anh đã hứa đưa cô bé đi núi chơi mà chưa thực hiện được lời hứa của mình. Tháng rồi anh không gặp được cô bé khi từ Sài Gòn trở lại Biên Hòa. Vì đã đi học nên cô bé không còn trông coi tiệm tạp hóa cho má nữa. Muốn đưa sách báo cho Hy anh phải tới nhà của Hiếu và nhờ Hiếu trao lại. Nàng khuyên anh đừng nên tới nhà nữa vì sau lần gặp nhau tại nhà nàng bị ba má rầy la, cấm không cho nàng gặp anh viện lý do nàng còn nhỏ phải lo học hành. Anh buồn nhiều vì chuyện quen biết bị cấm ngăn nhưng càng khó khăn và nhiều trắc trở anh càng muốn gần gụi và nhớ cô bé nhiều hơn.

– Anh có bồ hả?

Đang trầm ngâm suy nghĩ nghe Sang hỏi Quỳnh hơi giật mình. Thấy cử chỉ đó Sang tủm tỉm cười hỏi lại lần nữa. Giọng của nó thấp xuống như không muốn cho ai nghe.

– Anh có bồ hả?

Không trả lời Quỳnh hỏi lại.

– Sao mày biết?

Sang hiểu câu hỏi của Quỳnh như là nhìn nhận.

– Tôi để ý thấy anh có hơi đổi khác. Mọi lần tàu cặp bến là anh cặp kè với anh Quốc đi nhậu li bì. Còn bây giờ anh xé lẻ đi một mình, tất nhiên phải có cái gì lạ xảy ra. Anh thì chỉ mê rượu và con gái thôi…

Quỳnh bật lên cười một cách thích thú. Nhìn Sang anh nói trong tiếng cười.

– Mày mà cũng để ý nữa à…

Sang cười hề hề.

– Anh Quốc kiếm anh hoài hổng thấy nên đoán anh có bồ…

Quỳnh cười cười hít hơi thuốc xong búng tàn thuốc bay xuống sông.

– Tôi để ý thấy anh lôi về hai ba cây thuốc lá một lần…

– Tao mua để dành. Mua ở chợ Biên Hòa rẻ hơn ở các chỗ khác như Uyên Hưng…

Quỳnh chống chế mặc dù biết Sang không tin vào lời nói của mình. Cuối cùng anh nói nhỏ vừa đủ cho thuyền phó của mình nghe.

– Ừ… Tao có bồ…

– Đẹp không?

– Đủ để người ta thương…

Quỳnh cười sau khi trả lời.

– Cô ta làm gì?

– Còn đi học…

– Bao nhiêu tuổi?

Quỳnh nhăn mặt khi bị Sang điều tra.

– 16…

– Trời đất…

Kêu hai tiếng Sang trợn mắt nhìn Quỳnh đăm đăm.

– Anh nói thiệt anh…

– Đang học lớp 10…

– Nhà giàu hay nghèo…

Đốt điếu thuốc, hít hơi dài, nhả khói ra từ từ Quỳnh vặn.

– Mày hỏi chi vậy…

– Coi anh có tính chuyện đào mỏ hông…

Quỳnh cười hắc hắc khi nghe câu nói giễu của Sang. Nước chảy xiết cuộn thành xoáy ngay ở ngã ba. Hai chiếc tàu sắt cắm mũi ngay trước ngôi đồn có cây cột cờ cao. Lá cờ vàng ba sọc đỏ bay phất phới trong một ngày nắng ráo tháng 11.

8

Đêm thăm thẳm. Mông lung. Yên lặng. Sao mờ mờ trên cao vì bị mây che. Gió bốc lên từ mặt sông mang theo hơi nước gây gai lạnh. Thành phố Biên Hòa sáng mờ mờ về hướng đông bắc. Chiếc Alpha 11 lầm lủi xuôi con nước về ngã ba Rạch Ông Tiếp. Từ 20 giờ cho tới 2 giờ không biết nó đã tuần tiễu bao nhiêu lần khúc sông từ Uyên Hưng tới Rạch Ông Tiếp. Ủ mình trong chiếc áo ấm Quỳnh ngồi co ro trên mui tàu. Bên cạnh anh Chơn im lìm lái tàu. Nếu không có tiếng máy tàu nổ xình xịch chắc hai đứa đều chìm vào giấc ngủ. Mặt sông sáng lấp lánh như có lân tinh hiện ra trong ống kính của chiếc starlight scope. Vì thiếu ánh sáng của trăng sao nên cảnh vật trong bờ hiện ra khi mờ khi tỏ. Hàng cây dọc theo bờ sông nhô lên cao.

– Anh buồn ngủ chưa?

Chơn lên tiếng. Quỳnh nói chậm và nhỏ.

– Chưa… Tao uống cà phê lúc 9 giờ… Chắc phải bốn năm giờ tao mới ngủ được… Mày buồn ngủ cứ kêu thằng Tuấn dậy rồi đi ngủ…

Quỳnh nói như thế vì biết Chơn đã ngồi lái từ lúc 11 giờ cho tới bây giờ.

– Tôi thức với anh… Uống cà phê tôi không ngủ được…

Quỳnh cười lặng lẽ trong bóng đêm. Lại thêm một thằng giống mình. Uống cà phê vào là hai mắt mở trao tráo. Mệt, ngáp dài ngáp vắn, song chui vào giường thời lại lăn lộn, trở trăn cho tới sáng mới thiếp đi. Riết rồi quen lấy đêm làm ngày. Sống trái với trật tự thiên nhiên anh cảm thấy mình già nua, mỏi mệt và đôi khi gây ra những xáo trộn tâm tư rồi tạo thành cơn khủng hoảng ngấm ngầm. Dù cấp bậc thấp và chỉ huy có năm mười nhân viên song trách nhiệm lại nặng nề. Hai chiếc tàu phải ngày đêm tuần tiễu một khúc sông dài nhiều nguy hiểm. Ngoài ra còn phải chở lính địa phương quân đi phục kích đồng thời các cuộc hành quân hổn hợp với bộ binh đã làm anh và nhân viên mệt đừ vì làm việc liên tục lại không được nghỉ ngơi.

– 11 đây 9…

Quỳnh uể oải nhấc lấy ống nói của máy 46 khi nghe giọng nói nhừa nhựa của Quốc vang vang.

– 11 nghe 9…

– Ủa mày còn thức à?

Quốc hỏi với giọng ngạc nhiên. Quỳnh chép miệng. Anh cảm thấy thèm ly cà phê nóng và điếu thuốc lá đầy mùi thơm quyến rũ.

– Còn thức. Mày chưa ngủ?

Quốc cười hì hì.

– Ngủ đếch gì được… Sao không thấy mấy Ông Địa la lối gì hết…

Quỳnh ngáp một cái muốn trẹo quai hàm. Anh chẳng cần đưa tay lên che miệng làm gì bởi ở giữa chốn không người này chẳng ai cần anh phải có cử chỉ lịch sự.

– Chắc mấy ổng kiếm chỗ khò rồi…

Có tiếng cười khằng khặc của Quốc vang lên.

– Mốt về Biên Hòa nghỉ xả hơi tao với mày đi nhậu nghen…

Thấy Quỳnh im lặng nó cười tiếp.

– Tao bao mày…

Quỳnh nói trong tiếng cười vui vẻ.

– Ừ… 33 nghen… Tao ớn đế… Tao hết tiền rồi…

– Mày mới lãnh lương mà sao mông tại vậy…

Liếc nhanh Chơn đang ngồi bên cạnh Quỳnh nói nhỏ. Giọng của anh nửa nghiêm nửa giỡn.

– Đi chơi với bồ…

Quỳnh nghe tiếng thằng bạn thân từng chia cơm xẻ áo và sống chết với mình cười khằng khặc trong máy truyền tin.

– Thiệt hông mậy… Ai mà xâm mình vậy. Tao phải gặp mặt để coi cô gái nào gan cùng mình…

Bật thành tiếng cười Quỳnh khỏa lấp như không muốn nói chuyện tình của mình nữa.

– Thôi dẹp chuyện đó mai mốt nói sau… Tao đi hút thuốc. Mấy giờ mày mới bốc Ông Địa…

– 5 giờ… Tao cũng đi khò một chút…

Đặt trả ống nói về chỗ cũ Quỳnh nói với Chơn.

– Tao đi hút thuốc rồi tao gọi thằng Tuấn thế chỗ cho mày…

Chơn im lặng gật đầu nhìn theo Quỳnh đi ra sau lái. Nhấc bình cà phê thấy còn ấm Quỳnh rót hết vào chiếc ly bằng nhựa. Hớp ngụm nhỏ anh nhăn mặt. Cà phê có mùi khen khét và vị chua chua. Lầm bầm mấy tiếng anh ngồi lùi vào trong hầm máy rồi khom người đốt thuốc. Giơ tay xem đồng hồ anh thấy 4 giờ sáng. Mặt sông tối mờ mờ. Xa xa về hướng Đông Bắc một vừng ánh sáng hắt lên trời cho anh biết đó là thành phố Biên Hòa. Xa hơn nữa về hướng Đông Nam là Sài Gòn. Cả hai đều gần sao anh cảm thấy xa lắc xa lơ. Đôi mắt long lanh và ngây thơ của Hy hiện ra. Mái tóc dài buông lơi trên vai áo học trò trắng. Giọng cười của nàng nghe mơ hồ và hình như bị át bởi tiếng máy tàu nổ rì rầm. Uống cạn ly cà phê và hút hết điếu thuốc xong anh đánh thức Sang và Tuấn thức dậy thế chỗ cho mình và Chơn. Để nguyên quần áo và giầy vớ anh nằm vật xuống chiếc giường của mình.

Đang mơ màng Quỳnh ngồi bật dậy khi nghe tiếng súng nổ. Vừa chui ra cửa anh nghe tiếng của Ánh, thuyền phó chiếc Alpha 9 vang vang trong máy 46.

– 11 đây 9… Nó bắn… Nó bắn trúng tụi này… Nghe rõ không trả lời…

Leo lên mui Quỳnh cầm lấy ống nói.

– 9 đây Quỳnh Hoa…

Linh cảm có chuyện gì quan trọng xảy ra, Quỳnh dùng danh hiệu truyền tin của riêng mình để liên lạc.

– Quỳnh Hoa đây 9… Nó bắn trúng tàu… ngay chỗ anh Quốc ngủ…

Quỳnh lặng người giây lát xong hét vào tai của Tuấn.

– 1700… Rạch Giữa…

Tuấn đẩy mạnh cần ga. Hai máy dầu cặn rú lớn. Chiếc tàu sắt rẽ nước tiến về điểm hẹn với toán lính đi kích của địa phương quân. Súng trên chiếc Alpha 9 nổ rời rạc. Quỳnh nhận ra chỉ có tiếng đại bác 20 ly mà thôi. Đưa ống dòm lên quan sát anh thấy từng tia lửa từ trong bờ xẹt ra giữa sông. Điều này chứng tỏ địch đã dàn trận đánh lớn nhằm mục đích tiêu diệt hai chiếc tàu sắt.

– 9 đây 11…

– 9 nghe 11…

– Báo cáo tổn thất cho tôi biết…

– 1 chết và hai bị thương… Một máy tàu bất khiển dụng… Anh Quốc chết rồi anh…

Quỳnh nghe giọng nói của Ánh nghèn nghẹn và sũng nước mắt. Khi tàu tới gần hơn anh nhận ra chiếc Alpha 9 đang lềnh bềnh giữa sông. Đạn lửa của khẩu đại bác 20 ly kéo thành dây dài lê thê xói vào hàng cây đen mờ mờ trong bờ. Đại bác 20 là đạn chạm nổ thành ra sức công phá không mạnh mẽ vì vậy hủy diệt mục tiêu không có hiệu quả bằng M79. Vị trí của địch chỉ cách chỗ toán kích của địa phương quân rất gần có lẽ chừng vài trăm thước. Điều này cho anh biết địch khôn ngoan không chận đánh toán đi kích mà dàn trận chờ đánh tàu. May mà chiếc Alpha 9 chưa vào sát bờ nếu không nhân viên trên tàu sẽ bị chết hoặc bị thương nhiều hơn nữa.

Quỳnh gọi lớn. Giọng của anh nghiêm như ra lệnh

– Kỳ…

– Dạ anh gọi tôi…

– Rót M79 vào bờ…

Hiểu ý của Quỳnh, Kỳ nhanh nhẹn rời ụ súng đại bác 20 ly để ra sau lái điều khiển khẩu M79 tự động trong lúc Thành thế chỗ cho Kỳ.

– 9 đây 11…

– 9 nghe 11…

– Ngưng bắn đi. Để tôi bắn hủy diệu mục tiêu…

– 9 nghe 11…

Đợi cho chiếc Alpha 9 dứt tiếng súng Quỳnh nói với Tuấn.

– Để tao lái, mày ra sau phụ tiếp đạn cho thằng Kỳ…

Ngồi vào ghế lái Quỳnh đẩy mạnh cần ga. Chiếc Alpha 11 vọt chênh chếch vào trong bờ. Ụ súng đại liên 12 ly 7 của Sang, khẩu đại bác 20 ly trên mui và khẩu đại liên 50 đằng sau lái do Chơn xử dụng bắt đầu khai hỏa nhằm kềm cứng địch quân không cho ngóc đầu lên để bắn tàu. Khi chiến đỉnh còn cách bờ chừng ba chục thước, khẩu M79 tự động của Kỳ bắt đầu rót vào mục tiêu. Những tiếng bụp bụp nổ đều đặn rồi vài giây đồng hồ sau tiếng lựu đạn nổ ì ầm, liên miên bất tận. Ánh lửa lóe lên sáng rực trong đêm tối sắp tàn. Khoảnh đất nhỏ hẹp dọc theo bờ sông như bị nóng, bị nung chảy bởi hàng ngàn viên đạn đủ loại. Một tay lái tàu, một tay cầm ống dòm quan sát, Quỳnh thấy lửa nháng sáng rực trong hàng cây đen mờ. Địch quân không bắn trả lại phát súng nào trước hỏa lực mạnh mẽ của chiếc Alpha 11. Lát sau tiếng M79 thưa dần rồi ngưng hẳn. Mấy ụ súng khác cũng thôi tác xạ. Hai chiến đỉnh cặp vào nhau. Ứa nước mắt Quỳnh ngồi nhìn thi thể của thằng bạn thân. Quốc nằm im trên chiếc giường bố. Nét mặt thật bình thản. Hai mắt nhắm lại như ngủ. Không có thương tích gì ngoài lỗ sâu hun hút nơi ngực trái. Máu đỏ phụt ra ướt đẫm áo. Anh thở dài nhè nhẹ. Nó đã đi trước anh một bước để trở về với gia đình nơi căn nhà nhỏ trong vùng đất của thành phố Nha Trang có cái tên Rọc Rau Muống. Đưa tay vuốt mắt thằng bạn thân anh lẩm bẩm.

– Mày nói bao tao chầu 33 mà sao mày lại thất hứa…

Hộ tống chiếc Alpha 9 tới căn cứ Long Bình xong Quỳnh ra lịnh cho Tuấn lái tàu trở về Biên Hòa. Khi tới ngay ngã ba Tân Vạn, không biết nghĩ sao anh bảo Tuấn rẽ bên phải thay vì đi thẳng. Tuy hơi ngạc nhiên và thắc mắc song Tuấn vẫn làm theo lệnh. Hiểu ý người lính dưới quyền Quỳnh cười nhẹ giải thích.

– Mình đánh một vòng thăm dân cho biết sự tình…

Cười hắc hắc Tuấn hỏi.

– Có phải Cù Lao Phố không anh?

Quỳnh gật đầu. Nắng tháng chạp vàng ươm. Anh nhớ lúc còn đi học ông thầy sử địa đã dạy là miền Nam có hai mùa mưa nắng rõ rệt. Mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 cho tới cuối tháng 10. Mùa mưa nóng và ẩm ướt. Mùa khô và mát từ tháng 11 cho tới cuối tháng 4. Tuy nhiên ông thầy còn nói thêm là từ tháng 12 cho tới tháng 2 là tháng khô và mát mẻ nhất. Theo ông ta thời đây là một mùa khác của khí hậu miền Nam. Sau này khi rời khỏi ghế nhà trường, đi đây đi đó cộng thêm kinh nghiệm, anh mới nhận biết lời giải thích của ông thầy sử địa rất đúng. Ở Cà Mau khí hậu khác biệt khá nhiều với Tây Ninh, Biên Hòa. Mùa mưa ở đây tới chậm hơn và lại ngắn hơn ở Cà Mau. Mùa khô và mát vì vậy lại dài hơn. Đó là lý do anh thích nhất vì nhằm vào dịp Tết. Dường như anh ngửi được mùi bông hoa cây cỏ từ hai bên bờ sông lan tỏa theo mặt nước và cơn gió đẩy đưa. Mặt sông sáng lấp lánh. Sóng gợn lăn tăn. Khúc sông này người ta gọi là sông Cái, nhỏ hơn sông Đồng Nai, bề ngang chỉ hơn năm mươi thước, nước trong xanh và chảy chậm. Dọc theo bờ sông phía bên cù lao Phố có nhiều con rạch, mương một phần tự nhiên và một phần nhân tạo. Các con rạch và mương lớn này dẫn nước vào tận trong các vùng xa phía trong.

Ngồi trên mui hút thuốc Quỳnh trầm ngâm. Anh không muốn nói cho Tuấn biết lý do lái tàu chạy vòng quanh cù lao. Anh hy vọng và ước mong thầm kín là khi tàu chạy qua cầu Gành sẽ thấy được Hy đạp xe trở về nhà sau buổi tan trường. Tuy đó chỉ là ước muốn viễn vông nhưng chỉ có cách đó anh mới thấy được cô bé. Nhìn đồng hồ đeo tay chỉ 11 giờ Quỳnh hỏi.

– Mình chạy bao nhiêu?

Tuấn liếc nhanh đồng hồ chỉ tốc độ rồi trả lời 1300. Quỳnh nói nhỏ.

– 1600 đi không thôi trễ giờ…

Tăng vận tốc lên 1600 Tuấn nghĩ thầm trong trí: ” Anh này dị… Hồi nãy anh nói chạy chầm chậm để ngắm cảnh mà bây giờ lại bảo mình chạy lẹ… Kỳ vậy…”

– Trễ giờ gì vậy anh… Mình đâu có gấp…

Quỳnh làm thinh như không nghe câu hỏi của nhân viên. Dù xuống tàu chưa đầy năm song Tuấn cũng biết cái tật của cấp chỉ huy. Nếu có ai hỏi mà Quỳnh không muốn trả lời thời anh làm lơ, làm như không nghe câu hỏi đó. Thoạt đầu Tuấn cũng bực mình nhưng riết rồi cũng phải chấp nhận cái cố tật đó của cấp chỉ huy. Đôi khi nó tìm cách trả đũa lại như khi Quỳnh hỏi và nó làm lơ vờ như không nghe câu hỏi.

Nhìn hai bên bờ sông thấy nhà cửa san sát Quỳnh biết sắp tới gần điểm hẹn. Xa xa bóng cây cầu cao bốn nhịp bằng sắt hiện ra. Anh cảm thấy hồi hộp và xao xuyến khi tưởng tượng ra hình ảnh Hy dừng xe trên cầu nhìn xuống chiếc tàu của mình. Bóng dáng cô học trò nhỏ bé, gầy gò và lẻ loi. Tà áo dài trắng và mái tóc huyền bay bay. Trong tiếng gió thổi anh mơ hồ nghe được giọng nói dịu êm của cô bé thì thầm gọi tên mình. Tàu giảm dần tốc độ khi tới gần cầu. Không có bóng cô bé trên cầu trừ mấy chiếc xe gắn máy. Quỳnh buồn rũ người ra vì thất vọng. Chiếc tàu lầm lủi chạy qua cây cầu bốn nhịp đứng bơ vơ trong ánh nắng buổi trưa.

Chiếc Alpha 11 lềnh bềnh trên sông Đồng Nai khoảng gần ngã ba sông Rạng Đông. Thiếu mất bạn là chiếc Alpha 9 nó cũng đâm ra mỏi mệt và lẻ loi. 13 giờ. Mặt trời trễ tràng buông những tia nắng xuống mặt sông xanh ngày càng hẹp lại. Quỳnh ngồi cú rủ trên mui tàu. Trên đùi anh là quyển 2 của bộ Lục Mạch Thần Kiếm. Gió nhẹ thổi khói thuốc bay lãng đãng. Bên cạnh anh Chơn ngồi trên ghế lái đang im lặng đọc quyển 1 của bộ truyện. Ở trên tàu hàng tuần lễ nhân viên chỉ có hai cách giải trí là đọc sách báo hoặc nghe tin tức, nhạc và nghe đọc truyện từ hai đài phát thanh Sài Gòn và đài quân đội.

– Quỳnh Hoa đây Biên Hùng…

Mắt không rời quyển truyện, tay Quỳnh mò tìm ống nói.

– Quỳnh Hoa nghe Biên Hùng…

Giọng nói của trung úy Bình vang lên mà Quỳnh nhận ra chút vui vẻ và tếu.

– Cho biết tọa độ của Quỳnh Hoa?

– Trình Biên Hùng tôi đang ở cách U Minh Hiệp Hòa 5 ô vuông…

– Quỳnh Hoa biết hôm nay hăm mấy?

Quỳnh cau mày vì câu hỏi. Chưa kịp trả lời anh nghe Chơn nói nhỏ.

– Hăm ba…

Mỉm cười thích thú Quỳnh reo lớn.

– Lương hả Biên Hùng…

Tiếng của trung úy Bình cười vang vang trong máy 46.

– Anh về U Minh Hiệp Hòa đi… Tôi sẽ cho một con cá đem lên cho anh…

– Tôi nghe Biên Hùng 5/5…

Nghe được cuộc điện đàm nên không cần thuyền trưởng ra lệnh Chơn đã quay mũi tàu chạy về Uyên Hưng. 16 giờ. Chiếc Alpha 11 cặp kế bên chiếc tàu của giang đoàn 24 để lãnh lương và thư từ của gia đình. Quỳnh có vẻ buồn buồn khi năm nhân viên trên tàu đều có thư mà mình lại không có ai gởi. Như để che giấu cảm xúc anh ra lệnh cho Chơn lái tàu trở lại vùng công tác.

23 giờ. Quỳnh ngồi bất động trên mui tàu. Cảnh vật thê lương và vắng lặng. Không khí gai gai lạnh. Trăng mùng mười mênh mông buông những tia sáng bàng bạc xuống mặt sông rộng, đổ trên tóc và trên vai áo giáp. Quay qua Chơn đang ngồi lái tàu anh hỏi.

– Chừng nào Tết mày biết không?

Chơn nhẹ lắc đầu.

– Tôi không biết chắc…

Hướng về chỗ Sang đang ngồi nơi ụ súng trước mũi tàu Quỳnh hỏi lớn.

– Ê Sang. Chừng nào mới Tết?

– Anh để tôi tính coi ngày nào…

Lẩm nhẩm tính giây lát Sang mới từ từ trả lời.

– Bây giờ là mồng mười tháng chạp âm lịch. Như vậy còn 20 ngày nữa mới tới Tết. Anh định làm gì?

Trầm ngâm giây lát Quỳnh mới trả lời.

– Tao xin với trung úy Bình cho tàu của mình về Biên Hòa nghỉ hai ngày mồng 1 và mồng 2 Tết…

Vừa bước ra trước mũi Thành góp chuyện.

– Có lý nghen anh… Ba năm rồi tôi không được ăn Tết ở nhà…

Quỳnh gật đầu cười lặng lẽ trong đêm trăng.

– Tao chỉ nói vậy thôi còn được chấp thuận hay không là chuyện khác. Tết là thời gian hưu chiến nên tao hy vọng ông Bình sẽ cho mình nghỉ xả hơi…

29 Tết. 19 giờ. Tuy bây giờ không còn là mùa nước đổ nữa nhưng vì lên gần tới thượng nguồn nên nước chảy một chiều. Nước của hồ Trị An, sông Bé, sông Vũng Gấm và sông Rạng Đông cộng thêm nước của ngàn con rạch lớn nhỏ biến dòng sông Đồng Nai có sức nước chảy mạnh không kém gì sông Tiền hay sông Hậu. Muốn được trung úy Bình chấp thuận cho nghỉ hai ngày mồng 1 và 2 để ăn Tết, Quỳnh và nhân viên phải làm việc ròng rả ba tuần lễ. Tuần tiễu ngày cũng như đêm, hành quân hổn hợp với bộ binh và địa phương quẩn để giải tỏa áp lực của địch đang đè nặng lên những vùng bao quanh thành phố và phi trường Biên Hòa.

Chiếc Alpha 11 lừ đừ chạy ngược dòng nước lên ngã ba sông Rạng Đông. Trời thật xanh. Nắng vàng óng ánh. Quỳnh nghe được trong cơn gió thoang thoảng mùi gì thật mơ hồ như là mùi lá chuối mà người ta gói bánh tét, bánh chưng hòa lẫn với mùi mứt gừng, mứt bí. Dù không nói ra anh cũng biết năm nhân viên dưới quyền của mình đang âm thầm chờ nghe giọng nói của Biên Hùng vang lên trong máy 46. Chiếc máy phát thanh của Sang văng vẳng điệu nhạc xuân mà anh nhận ra bản Đồn Vắng Chiều Xuân với tiếng hát của Nhật Trường trong đó có câu ” Ðầu xuân năm đó anh ra đi. Mùa xuân này đến anh chưa về. Những hôm vừa xong phiên gác chiều. Ven rừng kín hoa mai vàng. Chợt nhớ tới sắc áo năm nào em đến thăm gác nhỏ. Mùa hoa năm đó ta chung đôi. Mùa hoa này nữa xa nhau rồi. Nhớ đêm hành quân thân ướt mềm. Băng giòng sông loang trăng đầy. Lòng muốn vớt ánh trăng thề viết tên em. Đồn anh đóng ven rừng mai. Nếu mai không nở anh đâu biết xuân về hay chưa. Chờ em một cánh thư xuân, nhớ thương gom đầy. Cho chiến sĩ vui miền xa xôi…”.

Bật chiếc zippo đốt thuốc Quỳnh hít hơi dài rồi nhả khói ra từ từ. Đưa gói thuốc Capstan xẹp lép và nhăn nhúm lên ngắm nghía anh nhớ tới Hy. Đôi mắt long lanh. Nụ cười e ấp. Mái tóc dài thả buông.

– Quỳnh Hoa… Quỳnh Hoa đây Biên Hùng…

Quỳnh chụp nhanh lấy ống nói đang ở bên cạnh mình.

– Quỳnh Hoa nghe Biên Hùng…

– Cho tôi biết tọa độ của anh đi?

– Trình Biên Hùng… Tôi đang ở cách U Minh Hiệp Hòa chừng hai ô vuông…

Giọng nói của trung úy Bình vang lên vui vẻ và thân thiện.

– Anh đem con cái anh về gặp tôi đi… Nghe rõ trả lời…

– Quỳnh Hoa nghe Biên Hùng 5/5…

Quỳnh chưa kịp bỏ ống nói xuống Tuấn đã tự động quay mũi tàu. Chiếc Alpha 11 xuôi theo con nước chạy phăng phăng về thành phố.

9

Hy ngồi im sau quày hàng để nghỉ mệt. Hôm nay là ngày ba mươi Tết nên tiệm tạp hóa của gia đình nàng bận từ khi mở cửa. Hàng xóm, láng giềng đua nhau đi mua sắm mọi thứ để chuẩn bị ăn Tết. Khách hàng ra vô nườm nượp khiến cho nàng làm không hở tay. Sau khi tiệm bớt khách má nàng để cho nàng coi tiệm còn bà lo nấu nướng cúng kiến tổ tiên và đón giao thừa.

Đang lui cui sắp xếp lại bánh kẹo bị bừa bãi Hy nghe có tiếng bước chân của ai đó đang bước vào trong quán. Tiếng tằng hắng vang lên nhỏ. Hy ngước lên nhìn. Quỳnh đang đứng nơi quầy kính.

– Chào anh… Anh khỏe không?

Hy nhỏ nhẹ lên tiếng chào. Nàng thấy nụ cười của người lính thủy có chút gì mỏi mệt cộng với đôi mắt thâm quầng của nhiều đêm mất ngủ.

– Chắc là anh hổng khỏe rồi… Nhìn mặt anh…

Hy cười chữa lại lời nói của mình. Quỳnh cười liếc nhanh một vòng quanh quán như để xem chừng má của Hy ở đâu. Hiểu ý Hy cười nói nhỏ.

– Má em đang ở nhà sau nấu cơm…

Quỳnh nhẹ gật đầu.

– Anh được về thành phố ăn Tết hai ngày mồng 1 và mồng 2…

Hy cười im lặng. Chắc nàng cũng không biết nói gì hơn. Quỳnh cũng im lặng nhìn vơ vẩn.

– Mai Hy có làm gì không?

– Dạ không… Ngày mai mồng 1 nên Hy dậy trễ… Có chuyện gì không anh?

– Anh tính rủ Hy và Hiếu đi chơi…

Đúng ra thì Quỳnh định rủ Hy đi núi Bửu Long chơi nhưng biết chắc ba má nàng sẽ không cho nàng đi một mình nên mới kèm Hiếu vào. Hiểu ý của Quỳnh nên Hy cười.

– Anh đã gặp Hiếu chưa?

Quỳnh gật đầu cười.

– Gặp rồi… Anh năn nỉ Hiếu và cô ấy bằng lòng. Lát nữa Hiếu sẽ sang nhà Hy để xin phép ba má của Hy…

Thực ra Hy cũng chưa chắc là mình sẽ đi được vì nàng biết ngày mai là ngày mồng 1 tết. Tuy nhiên không muốn làm Quỳnh buồn nên nàng cũng gắng gượng cười nói.

– Hy không dám hứa với anh nhưng nếu con Hiếu mà xin phép ba má em được thì tụi này sẽ đi…

Quỳnh cười vui.

– Anh hy vọng sẽ làm tròn lời hứa với Hy…

Ngần ngừ giây lát Quỳnh tiếp nhanh.

– Hy lấy cho anh hai cây thuốc lá đi…

Trả tiền, cầm lấy hai cây thuốc lá xong Quỳnh chào Hy rồi quay lưng đi ra cửa.

– Tối nay anh có đón giao thừa không?

Hy hỏi vói theo khi Quỳnh đi tới cửa. Quỳnh quay lại cười.

– Chắc không. Tụi này mua rượu về uống say xong ngủ… Cả tháng nay thiếu ngủ nên anh thèm ngủ…

Hy bật cười hắc hắc khi nghe Quỳnh nói thèm ngủ. Vừa đi khỏi quán được mấy bước Quỳnh vội quay trở lại. Điều đó làm cho Hy ngạc nhiên.

– Anh muốn mua vài thứ về tàu để uống rượu…

Hy cười khi nghe Quỳnh hỏi mua khô mực, tôm khô, củ kiệu và bánh mứt. Bỏ tất cả những thứ đó vào cái bọc giấy dầu cho Quỳnh xong Hy cười.

– Chúc anh đón giao thừa vui vẻ… Anh đừng có uống rượu say…

Thấy Quỳnh nhìn mình với ánh mắt dò hỏi Hy cười tiếp.

– Lỡ anh quên dẫn em và con Hiếu đi núi Bửu Long sao…

Quỳnh cười thật hiền.

– Ừ anh sẽ nhớ… Anh sẽ không uống say…

Đứng nhìn theo bóng Quỳnh mất dần Hy khẽ thở dài. Nàng cũng không hiểu lý do gì khiến cho mình lại thở dài.

Chiếc Alpha 11 cặp dọc theo cầu nổi xa cách mọi chiếc tàu khác. Ánh đèn điện từ trên cầu hắt xuống màu vàng vọt và buồn thảm. Bốn nhân viên với Quỳnh thành năm ngồi quây thành vòng tròn nơi mũi. Thành được Quỳnh cho phép về ăn tết với gia đình. Chính giữa là miếng ny lông lớn bày thức ăn và bia.

– Ê Sang… Mày không uống rượu là không được phá mồi nghen…

Kỳ lên tiếng cảnh cáo khi thấy Sang gắp lia lịa. Không màng tới câu nói của Kỳ, Sang nhìn Quỳnh đang khom người đốt thuốc.

– Tao ăn phần của tao và nửa phần của anh Quỳnh… Tao hổng có ăn phần của mày…

Sống với Quỳnh lâu nên nó biết tánh của anh. Trong lúc uống rượu Quỳnh ít khi ăn và nếu có ăn cũng rất ít. Cầm lấy miếng khô mực xé nhỏ chấm vào dĩa nước tương pha ớt đỏ lừ Quỳnh cười nói.

– Mình có thịt kho với bánh tét ăn Tết là sang rồi. Tụi bây tha hồ ăn cho đã thèm…

– Còn thiếu dưa cải anh ơi…

Chơn lên tiếng. Xì tiếng dài Sang cười nói với Quỳnh.

– Nó đòi hỏi nhiều quá hả anh. Phải cho nó ăn Tết ở Đầm Dơi hay Sông Ông Đốc nó mới biết đá biết vàng…

Cầm lấy cái ly nhựa đựng xá xị và vài cục nước đá, Sang liếc nhanh Chơn rồi cười ha hả tiếp.

– Ốm yếu như mày thời muỗi nó sẽ ăn mày trước khi mày ăn Tết… Bự con, mập mạp như thằng Thành mà bị muỗi cắn riết ốm xương bọc da…

Hớp ngụm bia Quỳnh cười cười nhìn hai lính mới là Tuấn với Chơn.

– Thằng Thành bị muỗi đòn sóc cắn thành bịnh sốt rét… Nó phải nằm bệnh viện mấy tháng mới khỏi…

Hai người lính mới ngồi im. Rót thêm bia vào ly cho mình và cho Quỳnh xong Kỳ còn hù thêm.

– Ở Đầm Dơi, Năm Căn chừng vài tháng là thằng nào cũng biết võ hết trơn…

– Võ gì vậy anh Quỳnh?

Tuấn hỏi cấp chỉ huy. Nó biết Quỳnh ít khi xạo hoặc phóng đại sự thật như Kỳ hay Sang. Hít hơi thuốc rồi nhả khói ra Quỳnh chưa kịp lên tiếng Kỳ cười ha hả.

– Võ muỗi… Sáng đập muỗi, trưa đập muỗi, chiều đập muỗi, tối ngồi luyện võ đập muỗi…

Lắc lắc đầu Quỳnh cười giải nghĩa cho hai nhân viên mới của mình.

– Muỗi ở Cà Mau nhiều vô số kể nhất là ban đêm. Ngồi hay đứng nói chuyện cũng không yên vì bị muỗi chích, cho nên mình phải quơ tay quơ chân đập muỗi. Tụi nó nói giỡn là luyện võ để đánh lại muỗi… Mày có ở Trà Cú rồi hả?

Quỳnh hỏi và Tuấn gật đầu thay cho câu trả lời.

– Trà Cú muỗi cũng nhiều nhưng không bằng Cà Mau đâu nhất là các vùng như Đầm Dơi và Năm Căn. Muỗi bay đen trời…

– Muỗi bự như con ruồi…

Kỳ xen vào và Tuấn không nhịn được phải bật lên tiếng nói.

– Xạo mày… Làm gì có muỗi bự như con ruồi…

Kỳ cười hắc hắc. Còn Sang cũng cười ha hả chêm vào một câu.

– Muỗi thời cũng sợ nhưng sợ nhất là con mòng. Nó chích đau thấu trời xanh. Tao bị nó chích đau lọt xuống sông luôn…

Quỳnh cười muốn sặc bia khi nghe Sang hù hai người lính mới.

– Mấy giờ rồi tụi bây?

Quỳnh hỏi gọn và Sang giơ tay lên.

– 23 giờ rồi anh…

Nhai miếng bánh tét cuối cùng xong Quỳnh lên tiếng.

– Tao đi ngủ… Tụi bây muốn thức đón giao thừa cứ việc…

Nói xong Quỳnh đứng lên đi ra sau lái tàu. Chơn hỏi nhỏ.

– Sao ảnh đi ngủ sớm vậy?

Sang cười thì thầm.

– Ảnh không muốn uống say… Mai ảnh có hẹn với bồ…

– Ai vậy?

– Tao có thấy mặt mũi đâu mà biết. Tao chỉ đoán chừng…

Quỳnh mỉm cười vì nghe được những lời bàn tán của nhân viên. Đánh răng rửa mặt xong anh chui vào giường. Tắt đèn anh nằm nghỉ ngợi lan man rồi thiếp dần vào giấc ngủ của đêm ba mươi tết.

Đang ngủ Quỳnh giật mình. Dường như có tiếng súng nổ dồn dập đâu đây. Nghe tiếng súng anh liên tưởng tới Tết Mậu Thân xảy ra vào năm 1968. Nằm im nghe ngóng hồi lâu anh lồm cồm ngồi dậy chui ra ngoài. Đứng nơi lái tàu anh nhìn đạn lửa bay đầy trời về hướng tây kèm theo tiếng súng nổ ran ran. Ngủ sau lái Sang cũng đã thức dậy từ lâu.

– Hình như nổ ở hướng Tân Uyên…

Sang lên tiếng. Quỳnh gật đầu đốt điếu thuốc.

– Chắc đụng ở Uyên Hưng. Không chừng…

Nói tới đó Quỳnh ngừng lại khi nghe trong máy truyền tin giọng nói của trung úy Bình vang vang.

– Quỳnh Hoa… Quỳnh Hoa đây Biên Hùng… Nghe rõ trả lời…

Đã được trung úy Bình dặn dò phải mở máy thường xuyên để tiện liên lạc trong trường hợp địch quân vi phạm hưu chiến, do đó khi nghe tiếng của ông ta gọi Quỳnh bốc máy liền.

– Quỳnh Hoa nghe Biên Hùng…

– Anh đi ngay lên U Minh Hiệp Hòa. Ông Địa đang bị địch tấn công… Nghe rõ trả lời…

– Quỳnh Hoa nghe Biên Hùng 5/5…

Một phút sau, chiếc Alpha 11 tách bến. Nhìn về hướng thành phố Biên Hòa sáng mờ mờ trong đêm Quỳnh thở dài. Chắc chắn anh không gặp Hy ngày mai rồi. Lời hứa đi chơi núi Bửu Long sẽ không thành. Anh là kẻ thất hứa. Hy sẽ buồn và giận anh.

Tàu tới ngay ngã ba Rạch Ông Tiếp, nghe tiếng súng nổ rền rền mặt sông rộng, Quỳnh ra lịnh cho nhân viên vào nhiệm sở tác chiến. Ánh sáng của hỏa châu không đủ sức soi thủng màn đêm dày đặc của đêm giao thừa rạng ngày mồng một Tết. Đạn lửa bay đầy trời. Mở máy vào tần số bạn Quỳnh nghe tiếng la ơi ới, tiếng hét ồn ào và tiếng súng nổ hổn loạn.. Anh nhận ra giọng nói chậm và trầm tĩnh của trung úy Tiên, đại đội trưởng kiêm trưởng đồn Uyên Hưng truyền lệnh cho các trung đội trưởng cố gắng cầm cự chờ tiếp viện.

– Tiên Long… Tiên Long đây Quỳnh Hoa… Nghe rõ trả lời…

Tiếng của vị đại đội trưởng địa phương quân vang lên rất sắc nét pha chút vui mừng.

– Tiên Long tôi nghe Quỳnh Hoa… Anh đang ở đâu cho biết…

– Tiên Long đây Quỳnh Hoa… Tôi đang ở cách anh chừng ô vuông…

Lẫn trong tiếng súng M16 và lựu đạn Quỳnh nghe được giọng nói của Tiên.

– Quỳnh Hoa… Quỳnh Hoa… Tôi cần anh yểm trợ hỏa lực mặt nam… nghe rõ trả lời…

– Quỳnh Hoa nghe rõ…

Không cần đợi lệnh của Quỳnh, Tuấn tăng tốc độ lên 1500 vòng. Hai máy dầu cặn phun khói đẩy mạnh con tàu rẽ dòng nước ngược chạy lên thượng nguồn.

– Tôi chạy 1500 được không anh?

Chụp lấy chiếc áo giáp mặc vào người Quỳnh nói lớn.

– 1700 đi…

Đội lên đầu chiếc nón sắt, mắt nhìn vào bản đồ anh nói tiếp với Tuấn.

– Tình hình có vẻ không ổn…

Hướng về Kỳ đang ngồi trên ụ súng đại bác 20 ly anh ra lệnh.

– Mày thủ khẩu M79 đi… Để khẩu 20 ly tao lo… Chắc mình không cần nó đâu…

Kỳ rời ụ súng đi ra sau lái tàu. Chỉ có một mình Kỳ mới có tài rót những viên lựu đạn vào đúng mục tiêu. Không có thứ vũ khí nào của giang đỉnh bắn yểm trợ cho đồn bót một cách hữu hiệu bằng loại M79 tự động này. Không đầy mấy phút nó có thể rót hàng trăm trái lựu đạn vào mục tiêu được chỉ định. Sức phá hoại của loại lựu đạn này sẽ gây thương vong nặng nề đồng thời cũng làm tê liệt sức tấn công của địch.

Nhờ ánh sáng của hỏa châu và đạn lửa xẹt lên trời, xuyên qua ống dòm Quỳnh thấy căn cứ Uyên Hưng hiện ra mập mờ với dòng nước sáng lấp lánh. Hai mặt dựa vào sông, ngôi đồn lớn này là cứ điểm quan trọng để dò xét hoặc nghe ngóng hoạt động chuyển quân của địch từ bên kia sông về Biên Hòa. Bốc máy liên lạc với Tiên Long lần nữa để xác định mục tiêu xong Quỳnh ra lịnh khai hỏa. Một khẩu đại liên 12 ly 7 và khẩu M79 tự động nơi lái, cộng thêm hai khẩu đại liên 50 trước mũi nổ cùng một lúc. Đạn lửa giăng thành màn kín mít. Đạn réo trong không khí, xói vào cây cối, mô đất và chướng ngại vật thành chuỗi âm thanh kinh dị. Tiếng bụp bụp của M79 rời khỏi nòng súng rồi lát sau tiếng ì ầm vọng vang rền rền sông nước. Dù không muốn địch cũng phải câm trước hỏa lực của chiếc Alpha 11. Xuyên qua ống kính của ống dòm, Quỳnh thấy rõ từng cụm lửa chớp tắt trong bờ rồi tiếp theo tiếng nổ ầm ầm liên miên không dứt. Không khí nơi phía Nam của căn cứ Uyên Hưng như cháy nóng vì hàng ngàn viên đạn bắn hủy diệt mục tiêu.

– Quỳnh Hoa đây Tiên Long… Cám ơn anh… Sáng mai tôi mời anh chầu cà phê…

Nghe tiếng của trung úy Tiên, Quỳnh bật cười vui vẻ.

– Nghe Tiên Long 5/5… Sau chầu cà phê còn có màn lai rai xị đế hả Tiên Long…

Nói đùa với vị đại đội trưởng địa phương quân xong Quỳnh liên lạc với Biên Hùng để báo cáo tin tức rồi ra lệnh cho Tuấn ủi tàu vào ngay căn cứ Uyên Hưng để cho nhân viên tiếp tục giấc ngủ. Riêng anh lại trằn trọc không ngủ được bèn pha cà phê ngồi uống chờ sáng. Nhìn về hướng thành phố Biên Hòa anh thở dài biết còn lâu lắm mình mới gặp lại cô bé.

 

10

Sau chầu cà phê sáng lính bỏ đi hết còn trơ lại Quỳnh với trung úy Tiên ngồi lai rai chai 33.

– Bao lâu rồi anh chưa về Sài Gòn?

– Ba tháng… Trung úy ở Sài Gòn?

Tiên gật đầu.

– Tôi ở Gò Vấp…

Rít hơi thuốc dài Quỳnh nhả khói ra từ từ. Hớp ngụm bia Tiên cười tiếp.

– Bà xã tôi thỉnh thoảng cũng lên thăm…

Quỳnh gật gật đầu cười nhìn người sĩ quan địa phương quân đang ngồi đối diện với mình qua chiếc bàn cây nhỏ và cũ. Chỉ mới ba mươi mà Tiên trông già trước tuổi. Mắt quầng thâm vì mất ngủ. Trong đôi mắt mỏi mệt đó anh thấy thấp thoáng nét lo âu và hoài nghi của thứ lính không tên tuổi. Báo chí, truyền hình, truyền thanh nhắc tới nhảy dù, thủy quân lục chiến, biệt động, biệt kích hay các sư đoàn bộ chiến mà ít khi nói tới người lính địa phương, mặc dù họ cũng chết và cũng đánh giặc như ai. Họ là những người lính bị bỏ quên.

– Chắc anh nghĩ ở đây buồn?

Quỳnh cười im lặng khi nghe Tiên hỏi. Làm sao mà vui được ở cái căn cứ nằm tại ngã ba chỉ có vài trăm dân. Cà phê hủ tiếu hai tiệm. Hớt tóc, may sửa quần áo mỗi thứ một tiệm. Riêng tiệm tạp hóa nằm lẻ loi trên khoảnh đất rộng gần hàng rào kẽm gai. Lính, trên cấp số lãnh lương thời một trăm song nếu tập họp bất thường lại không quá bảy chục. Có những người lính có tên song chẳng bao giờ có mặt. Họ là lính ma, lính kiểng hay có người gọi là lính gởi. Đó là thứ lính của ông quận, ông tỉnh, ông này ông nọ chẳng ai biết.

Búng tàn thuốc bay ra đường Tiên cười nói với Quỳnh.

– Cạn chai bia đi rồi tôi dẫn anh đi một vòng chơi…

Đưa ly bia gần cạn lên uống một hơi cạn sạch Quỳnh đùa.

– Thăm dân cho biết sự tình hả trung úy?

Tiên cười cười uống một hơi cạn ly bia.

– Chắc vậy…

Sau khi Tiên trả tiền, hai người đi dài theo con lộ đất trộn với đá đỏ. Gió từ sông bốc lên làm bay chút bụi mù màu đỏ. Những căn nhà lá lụp xụp và tối tăm. Mấy đứa con nít; đứa thì có quần không áo, đứa có áo không quần đang trố mắt nhìn Quỳnh với vẻ tò mò, kinh ngạc và lạ lùng.

– Tôi dẫn anh đi gặp một người…

Liếc nhanh Tiên, Quỳnh cười im lặng. Lát sau anh mới từ từ lên tiếng.

– Ai… Đàn ông hay đàn bà?

Tiên nói trong tiếng cười sằng sặc.

– Dĩ nhiên là đàn bà. Tôi nghĩ anh không phải pê đê…

Rút gói thuốc lá ra đưa mời Tiên xong Quỳnh bật zippo đốt cho hai người. Hít liên tiếp hai hơi dài vị trưởng đồn địa phương quân nói thật chậm.

– Cô ta tên Uyên… Đi học trên tỉnh rồi về làm cô giáo. Uyên có đứa em gái mở tiệm may… Anh bao nhiêu tuổi?

– 25…

Quỳnh trả lời thật gọn. Tiên gật đầu cười.

– Tốt… Uyên nhỏ hơn anh bốn tuổi…

– Sao anh lại giới thiệu cho tôi?

Quỳnh hỏi trong lúc nhả khói thuốc.

– Mấy ông lính ở đây cô ta không ưng anh nào hết. Tôi thời cô ta biết có vợ nên mặt mũi nào nhào vô nên coi cô ta như em út trong nhà…

Quỳnh bật cười hăng hắc.

– A… Bởi vậy anh mới tính giới thiệu cho tôi hả. Hay là anh tính kiếm người quạt lửa thế cho anh. Nói thiệt đi…

Tiên cười lớn lắc đầu.

– Không có đâu… Tôi biết anh là dân Sài Gòn… Chỉ có anh may ra mới lọt vào mắt xanh của nhỏ Uyên…

Nói dứt câu Tiên dừng lại trước căn nhà lợp tôn vách ván.

– Mình vào đây…

Bước vào trong tiệm may Quỳnh thấy một cô gái còn trẻ đang ngồi đọc báo nơi chiếc bàn tròn bày bình trà, mấy cái tách và dĩa mứt. Nghe tiếng động cô ta ngước lên cười nói với Tiên.

– Chào anh Tiên… Năm mới mà được anh xông đất là em may mắn lắm…

Tiên chưa kịp nói gì thời một giọng nói thanh thanh kèm theo tiếng cười từ phía sau tấm màn vọng ra.

– Hổng có may mắn đâu nghen Hưng. Phải thêm dấu huyền vào tên của anh thời mình mới may mắn nhiều hơn…

Quỳnh mỉm cười khi nghe giọng nói thanh thanh và tiếng cười hắc hắc. Anh liếc nhanh cô gái vừa vạch màn bước ra. Nhìn thấy người đàn ông lạ đang đứng với Tiên, cô ta hơi bối rối và thẹn thùng.

– Xin lỗi anh… Tôi tưởng có mình anh Tiên…

Quỳnh cười cười không nói gì. Hiểu ý Tiên cười giới thiệu.

– Đây là Quỳnh…

Quay sang Quỳnh, Tiên cười cười tiếp.

– Còn đây là Uyên mà tôi nói với anh…

Nhìn bộ quân phục màu xanh nước biển Uyên cười nói nhỏ.

– Anh Quỳnh chắc ở dưới tàu…

Quỳnh gật đầu.

– Cô Uyên đoán đúng… Tàu của tôi đang đậu ngoài kia…

Nhắc hai chiếc ghế đẩu Uyên cười lên tiếng. Nàng có vẻ tự nhiên và vui vẻ trước mặt hai người lính.

– Mời anh Tiên và anh Quỳnh ngồi chơi…

Vẫn đứng tại chỗ Tiên cười nói với Uyên.

– Anh Quỳnh than ở đây buồn quá nên anh dẫn ảnh lại gặp em nói chuyện cho đỡ buồn… Anh phải trở về đồn có chuyện cần…

Dứt lời Tiên bước nhanh ra cửa khiến cho Quỳnh cảm thấy không được tự nhiên lắm với hai cô gái mới gặp lần đầu.

– Dạ mời anh Quỳnh ngồi…

– Cám ơn cô Uyên…

Quỳnh ngồi xuống chiếc ghế đẩu đặt đối diện với Uyên qua chiếc bàn tròn.

– Anh Quỳnh ăn mứt và uống trà với tụi này nghen… Năm mới mà…

– Tôi tình cờ xông đất chắc không có gì phiền…

Uyên cười nhẹ. Quỳnh cảm thấy giọng cười của Uyên ấm và vui vẻ.

– Dạ không có gì phiền hết. Tôi ở dưới quê song không có tin vào chuyện xông đất…

Vừa nói nàng vừa với tay lấy bình trà rót vào cái tách đang đặt trước mặt Quỳnh.

– Anh Quỳnh chắc ở Sài Gòn?

– Nhà ba má tôi ở Thị Nghè…

Có lẽ thấy sự có mặt của mình hơi thừa nên Hưng, em của Uyên lẳng lặng rút vào nhà trong để mặc chị trò chuyện với khách.

– Tôi nghe anh Tiên nói cô Uyên có đi học ở trên tỉnh?

Không trả lời Uyên mỉm cười nhìn Quỳnh.

– Anh Tiên còn nói với anh điều gì nữa về tôi?

Quỳnh cười khẽ xoay xoay tách trà nóng.

– Không có gì nhiều… Chỉ nói cô Uyên trẻ hơn tôi bốn tuổi. Cô Uyên học trung học trên tỉnh rồi về dạy học và mở tiệm may… Điều đó khiến cho tôi tò mò…

– Tò mò…

Uyên lập lại. Thong thả gật đầu Quỳnh hớp ngụm nước trà xong nhìn cô gái đang ngồi đối diện với mình. Mái tóc huyền bóng mượt buông hờ xuống tới lưng. Khuôn mặt trái soan. Mũi cao thẳng. Hai cánh mũi phập phồng. Mắt đen dài. Da trắng mịn song nhìn kỹ sẽ thấy có tàn nhang ở hai bên má. Miệng nhỏ. Môi hồng tự nhiên. Cũng giống như các cô gái quê, Uyên không dùng son phấn, song Quỳnh lại ngửi được mùi nước hoa thoang thoảng mà mới đầu anh tưởng là mùi nước trà.

Cầm tách trà lên Quỳnh kín đáo nhận xét căn nhà của Uyên được chia làm hai phần ngăn cách nhau bằng tấm màn. Nửa đầu biến thành tiệm may với hai cái máy may và chiếc bàn tròn thật lớn đặt trong góc. Chắc nó được dùng để cắt đo quần áo vì anh thấy bề bộn vải. Dọc theo vách có rất nhiều móc áo được máng vào giá áo đóng bằng cây. Sát vách gần ở cửa là chiếc bàn hình chữ nhật bày những bộ quần áo đã may xong được xếp ngay ngắn và thẳng hàng. Quần áo thường dân cũng có mà quân phục cũng có.

– Chắc cô Uyên nhận sửa quần áo lính?

Liếc nhanh ông lính thủy Uyên cười mỉm.

– Dạ có… Tôi may và sửa quần áo cho mấy ông lính trong đồn hoài… Anh Quỳnh cứ đem quần áo lên đây tôi sửa dùm cho…

Ngừng lại nhìn Quỳnh giây lát Uyên cười nói nửa đùa nửa thực.

– Mùng một anh Quỳnh xông đất nhà tôi chắc nhiều may mắn lắm nên tôi sẽ sửa quần áo cho anh không lấy tiền…

Thấy Quỳnh mở miệng Uyên giơ tay lên ngăn không cho anh nói.

– Đó là sự cám ơn của tôi và cũng là quà tri ngộ…

Uyên bật cười thánh thót. Quỳnh cũng cười lớn vì lối dùng chữ cổ xưa của cô gái hai mươi mốt tuổi. Trai gái trẻ tuổi bây giờ không còn dùng những chữ, những từ nặng âm hưởng thời xa xưa mà cô giáo làng đã thốt lên.

– Nếu cô Uyên đã nói thế thời tôi xin đa tạ…

Uyên chúm chiếm cười vì câu nói của Quỳnh. Câu nói của anh cũng mang nhiều âm hưởng cổ xưa tương tự như câu nói của nàng.

– Dạ không có chi… Anh Quỳnh uống thêm nước trà nghen…

Như đã quen với lính nhiều Uyên cười tiếp.

– Anh Quỳnh muốn hút thuốc cứ tự nhiên…

Nhìn ra ngoài cửa Quỳnh thấy mấy đứa con nít đang đùa giỡn la hét om xòm. Nắng chiều ngày mồng một tết dọi trên nóc nhà tôn. Không gian im vắng và đìu hiu.

– Tôi đợi được… Tôi không muốn cô Uyên ngửi mùi thuốc lá của tôi…

Ngừng lại hớp ngụm nhỏ nước trà Quỳnh nhìn Uyên.

– Tôi sợ cô Uyên ghiền thuốc lá…

Uyên bật cười hăng hắc vì câu nói đùa của người lính thủy. Hơi cúi mặt nhìn xuống đất nàng nói chậm và nhỏ.

– Ghiền thuốc lá cũng không có hại bằng ghiền anh Quỳnh…

Nói tới đó nàng ngừng lại đoạn bật cười ròn rã. Quỳnh cũng cười lớn vì câu nói nửa thực nửa giỡn của Uyên. Anh không tưởng một cô giáo làng như Uyên lại đủ bạo dạn để thốt ra câu nói đó. Có thể nàng nói giỡn mà cũng có thể nàng nói thật. Nhưng câu nói có tác dụng mạnh mẽ khiến cho hai người phải cười để che giấu cảm giác cũng như ý nghĩ của mình. Uống một hơi cạn tách trà Quỳnh đứng dậy.

– Xin lỗi cô Uyên tôi phải đi… Khi nào trở lại đây tôi sẽ đem quần áo lên…

Uyên cũng đứng lên. Hai người bước ra cửa.

– Anh Quỳnh đi bình an. Chừng nào anh Quỳnh trở lại đây?

Quỳnh nhè nhẹ lắc đầu.

– Tôi không biết… Tôi cũng không hứa. Tuy nhiên nếu có dịp tôi sẽ trở lại…

Uyên đứng im nhìn theo bóng người lính thủy đi dọc theo dãy nhà lá lụp xụp.

– Alpha 11 đây 9…

Đang ngồi trên mui tàu Quỳnh chậm chạp nhấc lấy ống nói khi nghe giọng của Ánh, thuyền phó Alpha 9.

– 11 nghe 9… Anh đang ở đâu?

– Bravo Hotel… Tôi sẽ bắt tay anh chiều nay…

– Tình trạng máy móc?

– Đã sửa chữa xong… Tôi mang cho anh thêm đồ chơi…

– Tôi đón anh ở U Minh Hiệp Hòa…

Quỳnh chấm dứt điện đàm bằng câu nói trên. Anh cố nại ra lý do để trở lại Uyên Hưng. Tình hình càng ngày càng thêm tồi tệ. Áp lực của địch đè nặng lên vùng trách nhiệm khiến cho anh không còn dịp nào trở lại thành phố Biên Hòa. Anh được lịnh ở tại vùng công tác. Mọi tiếp tế như thực phẩm, đạn dược, xăng dầu, lương bổng đều được tàu đưa lên. Địa điểm gần nhất mà anh có thể về được là Uyên Hưng. Nó là vùng tạm nghỉ của anh và nhân viên. Dù không phải phố thị như Biên Hòa, Uyên Hưng vẫn có hàng quán cà phê, mì, hủ tiếu, thuốc lá và người. Khuôn mặt của Hy hiện ra lung linh trong nắng chiều dọi xuống mặt nước trong xanh thành màu vàng ươm. Quỳnh thở dài hắt hiu. Anh nhớ cô bé thật nhiều. Đêm ngồi im trong bóng tối, tưởng tượng tới khuôn mặt, nụ cười, giọng nói của cô bé anh cảm thấy buồn bã. Anh biết mình là lính mà lính thời không ở yên một chỗ, không trụ lại một nơi. Cũng vì vậy mà anh không nghĩ tới chuyện lập gia đình. Hoặc có nghĩ cũng chỉ để ngậm ngùi.

– Mình đi đâu hả anh?

Tuấn hỏi nhỏ. Quỳnh nói gọn.

– Uyên Hưng… Đón chiếc Alpha 9 và thằng Thành luôn…

Đang ngồi nơi ụ súng 50 trước mũi Sang nói lớn.

– Coi bộ anh kết Uyên Hưng rồi hả?

Quỳnh cười cười quẹt diêm đốt thuốc.

– Tao muốn về Biên Hòa mà không về được…

Hít liên tiếp ba hơi thuốc xong Quỳnh từ từ nói trong lúc nhả khói ra.

– Từ nay Uyên Hưng sẽ là chỗ nghĩ của mình…

– Nó có đường về Sài Gòn không anh?

Tuấn hỏi. Quỳnh lắc lắc đầu.

– Tao nghĩ có nhưng an ninh thời tao không bảo đảm. Mày đi lạng quạng Vẹm nó lượm mày…

Tuấn thở dài còn Sang làm thinh. Chiếc tàu sắt của họ trở nên biệt lập dù chỉ cách thành phố Biên Hòa mươi ô vuông. Búng tàn thuốc xuống nước Quỳnh hỏi Sang.

– Mình ăn gì chiều nay?

– Mì gói…

Thấy Quỳnh định mở miệng nó nói nhanh như muốn chận lại.

– Anh chê mì gói thì tôi có gói mì cho anh…

Tuấn bật cười sằng sặc. Quỳnh chép miệng.

– Mày thử ném vài trái MK3 coi có cá không?

Vặn nhỏ máy phát thanh xuống thấp Sang vừa lắc đầu vừa thở dài.

– Tôi với thằng Kỳ thử rồi. Chẳng có con nào ra hồn… Chỉ có mấy con cá mắc dịch gì lớn bằng ngón tay. Về Uyên Hưng đi chợ may ra…

– Mình còn gạo?

– Ba thùng gạo xấy…

Quỳnh làm thinh không hỏi nữa. Sáng gạo xấy với thịt ba lát. Trưa thịt heo kho với gạo xấy. Chiều gạo xấy và thịt ba lát kho với nước mắm mặn chát. Ăn hoài những thứ đó ớn tận cổ. Anh thèm thức ăn tươi chứ không phải đồ hộp quân tiếp vụ, thứ đồ hộp kém cả lượng và phẩm. Cực chẳng đã mới phải bấm bụng ăn vì hai lý do là đói và không phải tốn tiền mua.

– Mày chạy bao nhiêu vậy?

Quỳnh hỏi Tuấn.

– Ngàn rưởi…

– Như vậy được rồi… Nhanh quá coi chừng hư máy…

– Tối nay mình ngáo ở Uyên Hưng hả anh?

Sang hỏi và Quỳnh hỏi lại.

– Mấy giờ rồi?

– 4 giờ…

– Để tao xin với Biên Hùng…

Không đợi ra lệnh Tuấn đưa ống nói cho thuyền trưởng của mình.

– Biên Hùng đây Quỳnh Hoa…

Quỳnh nghe giọng nói chậm rãi và trầm của trung úy Bình vang lên.

– Biên Hùng nghe Quỳnh Hoa… Anh đã bắt tay với thằng em của anh chưa. Nghe rõ trả lời?

– Trình Biên Hùng. Tôi về U Minh Hiệp Hòa đón em út. Xin Biên Hùng cho tôi nghỉ một đêm…

Trung úy Bình im lặng giây lát mới lên tiếng.

– Yêu cầu của anh được chấp thuận. Sáng mai anh với thằng 9 lên Vũng Gấm…

– Tôi nghe Biên Hùng 5/ 5…

Nghe không sót tiếng nào cuộc nói chuyện Tuấn cười thích chí đốt liền điếu thuốc. Bập bập mấy cái cho thuốc cháy đều nó cười nói.

– Về Uyên Hưng chiều nay mình nhậu đi anh Quỳnh…

Sang xen vào.

– Mày mà nhậu… Mới uống nửa chai 33 đã sỉn rồi…

Tuấn đỏ mặt song cố chữa thẹn bằng câu nói.

– Tại thằng Thành nó pha thêm đế vào nên tôi mới sỉn. Nó bảo pha thêm đế uống mới phê…

Quỳnh cười hắc hắc.

– Mày có cho chó ăn chè chưa?

Bật tiếng cười lớn Sang xen vào trước khi Tuấn trả lời câu hỏi của Quỳnh.

– Nó cho hà bá ăn chè… Nửa đêm tôi nghe tiếng khọt khẹt mới biết nó cắm đầu xuống sông mửa ra mật xanh mật vàng…

Tuấn cười gượng làm thinh vì biết càng đỡ đòn nhiều chừng nào càng bị chọc quê nhiều chừng đó. Cách hay nhất là ngậm miệng lại coi như chuyện mình sỉn và cho hà bá ăn chè không có gì quan trọng. Đất say đất cũng lăn quay… Trời say mặt cũng đỏ gay ai cười mà.

– Tới Uyên Hưng rồi…

Tuấn lên tiếng. Từ sau lái bước ra đứng dựa vào cột radar Chơn cười hỏi.

– Mình ngáo ở đây đêm nay hả anh?

Quỳnh ậm ừ giây lát mới trả lời câu hỏi của Chơn.

– Ừ… Mình có 24 giờ phép…

Tàu từ từ chạy qua dãy nhà của dân chúng nằm sát bờ sông. Quỳnh cầm lấy chiếc ống dòm lên quan sát, hy vọng thấy được bóng dáng của người nào đó nhưng chỉ có sông nước đìu hiu. Tàu cắm mũi ngay trước cổng ngôi đồn địa phương quân. Nhường cho nhân viên đi ra chợ ăn tối trước, còn lại một mình trên tàu Quỳnh ngồi sau lái nhìn về hướng Biên Hòa. Chừng bảy tám ô vuông đường sông mà anh nghe như cách xa vô cùng. Khoảng hai mươi cây số đường chim bay mà trăm ngàn cách trở. Chiến tranh đã đẩy anh ra xa điều mà anh ao ước. Từ lúc anh sinh ra chiến tranh đã có mặt. Hai mươi bảy năm nó vẫn còn đó. Không những không tàn tạ mà chiến tranh còn lan rộng hơn. Dấu vết đạn bom đầy khắp nơi. U Minh. Năm Căn. Cà Mau. Cần Thơ. Châu Đốc. Mỹ Tho. Long An. Nha Trang. Đà Nẳng. Huế. Kontum. Pleiku. Tất cả mọi miền. Ngay cả Sài Gòn, miền đất được xem bình yên nhất vẫn có bóng dáng của chiến tranh. Bây giờ Hy đang làm gì? Câu hỏi bật ra trong trí não nhiều đêm ngủ không yên đâm lười biếng suy nghĩ thành ra không có câu trả lời. Anh mường tượng tới đôi mắt ngây thơ, giọng cười hồn nhiên và tiếng nói thanh tao của cô học trò. 16 tuổi. Cô bé vẫn chưa biết gì. Tâm hồn còn trong trắng như trang giấy mới.

– Alpha 11 đây 9… Nghe rõ trả lời…

Quỳnh chậm rãi đứng lên đi về phòng lái. Leo lên mui anh nhấc lấy ống nói của máy 46.

– 11 nghe 9…

– Tôi còn cách chỗ anh chừng ô vuông… Sẽ bắt tay với anh đúng 16 giờ…

– Tôi đợi anh…

Bỏ máy xuống Quỳnh đốt điếu thuốc. Hít liên tiếp mấy hơi anh im lặng nhìn phong cảnh của làng Uyên Hưng vào buổi xế chiều. Ngôi đồn địa phương quân nằm trơ vơ. Hàng rào kẽm gai bao bọc mấy lớp. Hầm núp. Lô cốt. Giao thông hào. Hố cá nhân. Cột cờ cao. Lá cờ vàng ba sọc đỏ rủ xuống vì thiếu gió. Đối diện với cổng chánh ngôi đồn là khu nhà lá của dân chúng nằm cách hàng rào kẽm gai chừng năm ba chục mét. Cổng phụ hay là cổng sau nằm cạnh bờ sông. Nhờ hai mặt dựa vào con sông rộng nên ngôi đồn vẫn giữ vững vị trí mặc dù địch quân nhiều lần tấn công với quân số gấp ba bốn lần quân số trong đồn. Tiếng chim kêu lạc lõng vào buổi chiều gần tắt nắng nghe thật buồn. Nó làm cho anh nhớ nhà. Cũng như Biên Hòa, Sài Gòn bây giờ thật xa dù chỉ cách mấy chục cây số. Cứ mỗi lần nhớ nhung hoặc nghĩ tới Sài Gòn anh cảm thấy xa thêm một chút, lạ thêm một chút. Kỷ niệm còn đó. Người vẫn ở đó mà nghe như lạ lùng. Mỗi khi về nhà anh tránh không đi qua nhà của T. M. Anh sợ gặp lại người con gái đã đi lấy chồng đó. Anh sợ vết thương của mình lại vỡ. Bảy năm rồi. Có còn gì nữa đâu mà nhớ. Kỷ niệm nhạt nhòa. Hình bóng phai mờ. Nhưng sao giọng nói, nụ cười, bàn tay mềm, ấm êm vẫn hiện về trong giấc ngủ nửa tỉnh nửa say rượu. Ánh mắt long lanh của cô láng giềng chao đảo trong bóng đêm mông lung được soi sáng bằng đầu thuốc lá cháy đỏ rực. Trong trí não của Quỳnh vẫn còn y nguyên hình ảnh của đêm nào thật xa xưa. Đêm đã khuya. Anh với TM vẫn còn thức. Tiếng cười nhỏ vì sợ đánh thức ba má. ” Sao TM nhéo đau quá? ”. ” Người ta thương người ta mới nhéo đau…” ” Để chi vậy? ” ” Để nhớ, nhớ hoài…”. Bảy năm xa nhau anh vẫn còn nhớ cái nhéo tay rướm máu của cô láng giềng và anh sẽ nhớ cho tới hết cuộc đời.

11

Búng tàn thuốc xuống sông Quỳnh nhìn nhân viên của mình đang đi trên con đường đất dẫn về tàu. Rời chỗ ngồi anh chui vào giường của mình, lục lấy hai bộ quân phục lãnh cách đây ba tháng anh bỏ vào cái túi nhỏ. Mặc quần áo tươm tất, nhét vào lưng quần khẩu Colt 45, khoác thêm chiếc áo lạnh mỏng xong anh chui trở ra đứng nơi mũi tàu.

– Anh đi một mình hả?

Sang hỏi sau khi bước lên tàu. Quỳnh gật đầu.

– Ừ… Thằng 9 sắp tới… Mày nhớ chia phiên gác…

Quỳnh nhảy xuống đất. Đứng im như suy nghĩ điều gì anh lẩm bẩm mấy tiếng rồi bước nhanh trên con đường đất dẫn ra khu nhà lá. Lát sau anh dừng lại trước tiệm may của Uyên. Ngần ngừ giây lát anh chắt lưỡi một tiếng đoạn bước vào.

– Dạ chào anh Quỳnh…

Uyên lên tiếng trước. Có lẽ nàng đã thấy Quỳnh từ xa, trước khi anh bước vào tiệm may của mình.

– Chào cô Uyên… Cô mạnh chứ…

– Cám ơn anh tôi cũng bình thường. Anh đem quần áo lên cho tôi sửa đó hả. Hổm rày tôi mong…

Nói tới đó Uyên ngưng bặt. Dường như nàng muốn bày tỏ điều gì nhưng kịp thời ngăn lại không nói hết câu. Quỳnh cười nhẹ.

– Tôi không quên đâu song bận quá thành ra không có về Uyên Hưng được. Hôm nay được nghỉ một ngày nên mang hai bộ quần áo nhờ cô Uyên sửa dùm…

– Hổng có lấy tiền nghen…

Uyên cười nói đùa. Quỳnh cũng đùa trả lại.

– Như vậy chắc tôi phải trở lại đây hoài…

– Để làm gì anh Quỳnh?

– Để phụ cô Uyên…

Bật lên tiếng cười vui vẻ Uyên nhìn người lính thủy và bắt gặp anh ta cũng đang nhìn mình. Hai người nhìn nhau rồi lặng lẽ quay chỗ khác. Uyên cúi đầu vào chiếc máy may. Chân đạp chầm chậm nàng mỉm cười vu vơ. Ông lính thủy mới quen này không giống mấy người lính ở đây. Được ba má cho đi học ngoài tỉnh, đậu bằng trung học đệ nhất cấp rồi sau đó trở về quê thành cô giáo làng, song nàng vẫn chịu ảnh hưởng khá nhiều của văn minh thị thành. Huống chi dù quê mùa song Uyên Hưng chỉ cách thành phố hơn hai mươi cây số thôi do đó nàng thường xuyên đi Biên Hòa để viếng thăm bạn bè và bà con nội ngoại đang sống ở tỉnh. Gặp Quỳnh, nàng như tìm được một người đồng điệu. Nói chuyện với anh thật dễ dàng vì anh hiểu được điều nàng muốn nói.

– Anh Quỳnh biết đo quần áo?

Đang nhìn ra đường Quỳnh mỉm cười quay lại khi nghe Uyên hỏi trong lúc chân vẫn đạp đều đều.

– Hông…

– Anh Quỳnh biết cắt?

– Hông…

– Anh Quỳnh biết may?

– Cũng hông luôn…

– Anh Quỳnh biết quét nhà?

Nhìn sàn nhà bằng đất đầy vải vụn Quỳnh cười cười.

– Quét thời cũng được mà chắc không sạch lắm…

– Vậy anh Quỳnh phụ cái gì?

Cười chúm chiếm Uyên hỏi. Quỳnh trả lời trong lúc nhìn chăm chú vào hai bàn tay của Uyên.

– Tôi nói chuyện cho cô Uyên nghe… Tôi ngắm hai bàn tay của cô Uyên…

Cô giáo làng bật cười hắc hắc như che giấu sự thẹn thùng và luống cuống của mình.

– Cô Uyên chắc mắc cỡ về câu nói của tôi…

Uyên ngước lên nhìn Quỳnh đang ngồi trên chiếc ghế đẩu đặt chênh chếch với mình.

– Dạ không đâu… Tôi nghe hoài những câu nói như vậy…

Quỳnh tủm tỉm cười.

– Nếu nghe hoài tại sao tay cô Quyên lại run…

– Dạ đâu có…

Quỳnh nhìn vào mắt người đối diện lúc đó cũng đang ngước lên nhìn mình.

– Đường chỉ của cô Uyên không thẳng kìa… Nó chứng tỏ cô run tay…

Cười một mình Uyên thầm phục nhận xét của Quỳnh. Dù cố gắng che đậy nàng vẫn không giấu được cảm xúc của mình vì vậy mà hai bàn tay của nàng run rẩy khiến cho đường may bị lệch đi.

– Người ta bảo lính lẻo mép lắm mà anh Quỳnh lẻo mép số một…

Quỳnh bật cười khi nghe câu nói đó. Uyên ngừng đạp có lẽ vì biết không nên may trong lúc trò chuyện với Quỳnh.

– Tôi hiếm khi lẻo mép trừ trường hợp đặc biệt… Thôi tôi về để cho cô Uyên may…

Thấy Quỳnh dợm đứng lên, Uyên nói nhanh như cố tình lưu khách.

– Tuần tới hè rồi nên tôi không có bận. Từ từ may cũng được. Anh Quỳnh cứ tự nhiên ngồi nói chuyện cho vui…

Quỳnh ngồi xuống chỗ cũ. Với tay lấy bộ quân phục của Quỳnh vừa mang tới nàng đưa lên ngắm nghía đoạn cười nói.

– Tôi quên chưa đo…

Nói xong nàng cầm lấy cây thước dây rồi tiến tới chỗ Quỳnh ngồi. Hiểu ý anh đứng lên cho cô thợ may lấy ni tấc của mình. Uyên có vẻ không được tự nhiên lắm khi dùng cây thước dây đo kích thước. Nàng cảm thấy rung động và xao xuyến nảy ra khi đụng chạm vào người của ông khách đặc biệt. Ngay cả Quỳnh cũng vậy. Anh cảm thấy chút dao động và kích thích khi bàn tay mềm mại đụng vào thân thể. Anh ngửi được mùi hương dịu dàng trên mái tóc đen dài.

– Cô Uyên…

Giọng của Quỳnh không được bình thường. Uyên nhận ra điều đó.

– Dạ… Anh Quỳnh…

Uyên cười ngước đầu lên đúng lúc Quỳnh cũng cúi xuống. Hai khuôn mặt thật gần. Hai người đều nghe được hơi thở rộn ràng của chính họ và của người kia. Hơi lùi ra xa một chút Uyên nói nhỏ.

– Xong rồi anh Quỳnh…

Thầm thở tiếng nhẹ Quỳnh cầm lấy chiếc mũ lưỡi trai.

– Tôi ra quán ăn cơm chiều… Có thể tôi sẽ trở lại sáng mai…

Uyên gật đầu im lặng nhìn Quỳnh bước nhanh ra cửa. Nắng chiều dọi xuống chỗ nàng đứng thành vệt dài màu vàng nhạt trên nền đất đen đũi đầy vãy rồng sần sùi và gồ ghề.

*****

22 giờ. Đêm thăm thẳm, mông lung. Làng Uyên Hưng chìm trong yên lặng. Nhà nhà đều tắt đèn ngủ yên trừ một vài căn còn thắp le lói. Một chiếc xuồng ba lá lặng lẽ cặp vào bờ rồi hai người bước lên. Cả hai mặc bà ba đen. Người đi trước tay không, còn người đi sau mang khẩu AK47. Đi dài theo bờ sông tới một căn nhà có ánh đèn hắt ra họ dừng lại rồi người đi đầu xô cửa bước vào. Đang ngồi may, nghe tiếng cửa mở Uyên quay lại. Thấy người đi đầu nàng nói nhỏ.

– Anh Thức…

Người đàn ông được Uyên gọi tên là Thức lên tiếng.

– Anh về thăm Uyên… Em mạnh hông?

Bước tới đứng đối diện với Thức, Uyên nói chậm và nhỏ.

– Em mạnh…

Nói xong hai tiếng nàng nhìn sang thanh niên lạ mặt đi với Thức. Đưa tay chỉ thanh niên Thức cười nói với Uyên.

– Đó là đồng chí Biết… Tiểu đội trưởng của anh…

– Chào anh…

Uyên gật đầu chào Biết.

– Hai bác mạnh hả Uyên?

– Dạ ba má em mạnh…

Đưa tay ra nắm lấy tay của Uyên, Thức nói với giọng nghiêm và trang trọng.

– Tình hình lúc này gay cấn lắm mà thắng lợi đang nghiêng về phía của chúng ta. Dù được đảng và mặt trận giao phó cho nhiều việc quan trọng phải thi hành ngay nhưng anh cũng ráng về thăm em…

Uyên im lặng như chờ nghe Thức nói tiếp.

– Anh được thăng chức tiểu đoàn trưởng, chỉ huy tiểu đoàn 317 hoạt động trong quận Tân Uyên. Gần nhà nên anh sẽ về thăm em thường hơn. Hôm nay anh về đây gặp em là để nói với em một chuyện quan trọng. Anh tính hỏi ý em có bằng lòng làm vợ anh?

Uyên làm thinh. Dường như lời nói của Thức đưa ra hơi đột ngột làm cho nàng chưa có sẵn câu trả lời. Hoặc, dường như có điều gì làm cho nàng băn khoăn và do dự chưa chịu trả lời câu hỏi của Thức. Nàng với Thức quen nhau từ nhỏ. Học cùng lớp với nhau ở trường tiểu học. Khi lớn lên hai đứa đều được ba má cho ra tỉnh học. Tuy nhiên sau khi học xong năm đệ ngũ của trường trung học Ngô Quyền, Thức nghỉ ngang xương. Từ đó nàng ít khi gặp mặt Thức. Mãi sau này nàng mới biết anh đã bí mật gia nhập mặt trận.

– Dạ…

Uyên ngập ngừng. Thức hơi cau mày khi thấy thái độ của Uyên. Nàng không có vẻ gì vui mừng, hân hoan khi anh đề cập tới chuyện cưới hỏi. Hình như chuyện đó không còn quan trọng với nàng hoặc chờ đợi lâu quá nên nàng đã có ý trung nhân khác.

– Uyên không muốn…?

– Em muốn chứ… Tuy nhiên em thấy lúc này chưa tiện…

Ngừng lại giây lát Uyên nhìn Thức rồi tiếp tục câu nói dở dang.

– Như anh nói thời tình hình sắp tới hồi kết thúc mà phần thắng sẽ về với chúng ta. Vì vậy mà em muốn đợi tới lúc đó…

Thức buồn trong lòng của mình vì lời khước từ khéo léo của Uyên, song anh cố gắng không để lộ ra bên ngoài cho nàng biết. Uyên, theo anh nghĩ, không có vẻ gì hân hoan, mừng rỡ về đề nghị của anh. Chẳng bù thời gian trước đây, mỗi lần hai người gặp nhau, nàng hay nói bóng gió xa xôi về chuyện đám cưới.

– Uyên tính như vậy cũng được nhưng…

Nhìn Thức, Uyên cười vui vẻ.

– Em muốn có thời giờ làm việc và để dành tiền. Khi có con cái mình sẽ có chút vốn làm ăn… Vả lại anh đang mang trọng trách trong người nên em không muốn anh vướng bận chuyện vợ con…

Thức gật đầu. Anh biết tính của Uyên. Ngoài cái vẻ hiền lành và nhu mì, bên trong nàng là người rất cương quyết. Khó mà lay chuyển được ý định của nàng.

– Được rồi… Em tính như vậy thời anh cũng chìu em mà ráng đợi chừng hai ba năm nữa… Bây giờ anh phải đi…

Thức cùng người lính bảo vệ khuất dạng trong bóng đêm. Uyên đứng tần ngần nhìn theo. Không biết nghĩ gì nàng lại thở dài.

Ngẩng đầu lên nhìn khi nghe tiếng tằng hắng, Uyên thấy Quỳnh thong thả bước tới bàn máy may của mình. Quân phục màu xanh nước biển, giày da đen hơi cũ, nón lưỡi trai trên đầu, ông lính thủy có nét là lạ, dễ thân thiện và có cảm tình.

– Tôi không có thiếu quần áo đâu mà cô Uyên phải làm gấp…

Quỳnh lên tiếng khi thấy Uyên đang sửa chiếc áo sơ mi của mình. Ngưng đạp Uyên cười.

– Tôi tưởng anh Quỳnh cần gấp nên đêm qua ráng thức tới 10 giờ để may…

Quỳnh nhẹ lắc đầu trong lúc ngồi xuống chiếc ghế đối diện với bàn máy may.

– Tôi còn trở lại đây mà…

Uyên cười cúi đầu xuống thấp hơn như để tránh cái nhìn của người đối diện. Giọng của nàng vang nhỏ và rời rạc như tiếng thì thầm.

– Thế ư… Tôi tưởng…

Quỳnh mỉm cười lên tiếng. Giọng nói của anh êm dịu.

– Tôi hứa với cô Uyên tôi sẽ trở lại. Tôi có lý do để trở lại…

– Lý do gì vậy anh Quỳnh?

Hỏi xong Uyên ngước lên thấy Quỳnh đang nhìn mình chăm chú nàng lại cúi đầu xuống và chúm chiếm cười.

– Tôi nghĩ là cô Uyên biết…

– Hông… Tôi hổng biết…

Uyên nói bằng giọng thân quen pha chút đùa giỡn khiến cho Quỳnh bật cười.

– Người ta thường nói phụ nữ có cái nhạy cảm về chuyện đó hơn đàn ông…

Bật lên tiếng cười ngắn Uyên vặn.

– Chuyện đó là chuyện gì hả anh Quỳnh?

– Chuyện đó là chuyện đó đó…

Quỳnh cười lớn vì câu trả lời của mình. Riêng Uyên cũng cười sặc sụa vì hiểu ông lính thủy muốn nói gì. Từ đó hai người nói chuyện vui vẻ và thân mật như quen nhau lâu rồi. Họ kể cho nhau nghe về tuổi thơ, lúc còn học trung học rồi lan man sang chuyện dạy học của Uyên và đời lính của Quỳnh. Họ sớm nhận ra là họ có thể ngồi nói với nhau cả ngày cũng như dễ dàng bày tỏ ý tưởng của mình vì người đối thoại biết lắng nghe và biết nói chuyện. Dù môi trường sống có khác nhau, dù tuổi tác có đôi chút chênh lệch, dù có những điểm tương đồng và dị biệt; nhưng họ cảm thấy một hứng thú, phấn khởi và thích thú khi được ngồi bên nhau. Họ cảm thấy thật thoải mái bày tỏ cảm nghĩ của mình vì người đối thoại hiểu và tiếp nhận một cách dễ dàng.

– Cô Uyên có đi Sài Gòn?

– Dạ có nhưng lâu lắm rồi anh Quỳnh…

– Khi nào đi phép tôi mời cô Uyên về Sài Gòn cho biết…

– Dạ… Có anh Quỳnh dẫn đường thời Uyên mới dám đi. Đi một mình sợ lạc…

Nói xong Uyên cười hắc hắc. Nhìn Quỳnh, nàng hỏi một câu.

– Mà chừng nào anh Quỳnh đi phép…?

Có lẽ đọc được ý nghĩ của ông lính nên nàng cười tiếp.

– Anh Quỳnh muốn hút thuốc cứ tự nhiên nghen. Tôi không có cấm anh đâu…

Quỳnh gật đầu cười tỏ dấu cám ơn. Thong thả rút gói thuốc lấy ra một điếu đưa lên miệng ngậm rồi mới quẹt diêm đốt. Bập bập mấy lần cho thuốc cháy đều anh hít hơi thật dài, ém hơi kỹ rồi từ từ nhả khói ra. Chắc không muốn cho chủ nhà ngửi khói thuốc nên anh quay mặt chỗ khác khi nhả khói ra.

– Đơn vị của tôi không phải ở Biên Hòa mà ở tại Bến Lức. Tôi chỉ biệt phái lên vùng này vì tình hình có vẻ sắp đụng lớn. Khi nào yên yên một chút tôi sẽ được đi phép… Hai ba ngày thôi nhưng tôi nghĩ cũng đủ…

Uyên gật đầu tỏ vẻ hiểu. Cười cười nàng tiếp tục hỏi như muốn biết những ý nghĩ chứa trong đầu của người đối thoại.

– Về Sài Gòn rồi Uyên ở đâu?

– Ở nhà tôi… Ba má tôi rất ” cưng ” bạn bè của con cái… Nhất là má tôi. Bà rất mừng khi tôi có bạn gái…

– Dạ… Anh Quỳnh chắc đã đưa nhiều cô bạn gái về gặp má của anh rồi hả?

Uyên cười thánh thót sau khi hỏi. Nàng đặt ra nhiều câu hỏi, phải nói nàng cố ý dùng câu hỏi để điều tra, khai thác những gì Quỳnh chưa nói ra.

– Có một lần thôi… Cách đây hơn năm tôi quen một cô ở Cần Thơ. Tôi có đưa cô ta về nhà gặp ba má nhưng…

Quỳnh ngừng lại để hít hơi thuốc mà cũng để tìm lời nói ra.

– Tôi thời không ở yên chỗ nào hết thành ra không có gặp nhau. Thỉnh thoảng mới có thư từ thăm hỏi. Cô Uyên chắc biết câu ” xa mặt cách lòng ”…

Quỳnh im lặng và Uyên cũng không hỏi gì thêm. Lát sau nàng đứng lên cười nói.

– Xin lỗi anh Quỳnh. Tự nãy giờ để anh nói chuyện khô cả cổ mà hổng mời anh uống nước. Tôi làm cho anh ly trà đá chanh đường nghen. Ngon lắm…

Quỳnh bật cười gật đầu. Uyên đứng lên đi vào trong. Ông lính lặng lẽ nhìn theo dáng đi của cô giáo làng kiêm thợ may. Mái tóc đen dài gần chấm lưng. Áo bà ba trắng. Quần đen. Hình ảnh đó anh thấy hoài trong đời lính ngược xuôi trên sông nước của miền đông, miền tây. Nó như in sâu trong trí não thành thân quen và gần gụi như tay chân mắt mũi của mình. Dù văn minh thành thị có dần dà xâm nhập vào đời sống của dân quê song nét đặc thù vẫn còn đó như một biểu tượng sống động và trung thực nhất của đất nước. Uyên trở ra với hai ly nước trà đá, một cho nàng và một cho Quỳnh. Nàng cầm ly nước đưa ra và Quỳnh cũng giơ tay đỡ lấy. Vô tình hai bàn tay của hai người chạm nhau. Như có luồng điện nhẹ nhưng cũng đủ làm run tay. Hớp ngụm nhỏ Quỳnh tặc lưỡi.

– Ngon…

Uyên cười tiếng ngắn.

– Thấy chưa… Tôi không có nói xạo đâu…

Dụi tắt điếu thuốc vào cái gạt tàn thuốc lá đặt trên bàn Quỳnh nói một câu.

– Chỉ tiếc là khi nào nhớ trà đá của cô Uyên thời tôi không có để uống…

– Thời anh Quỳnh trở lại đây…

– Như vậy chắc tôi ghiền trà đá chanh đường của cô Uyên… Lúc đó chắc tôi phải xin làm thợ may cho cô Uyên để được uống trà đá…

Uyên cười hắc hắc. Hai má nàng hồng lên và mắt long lanh vì hiểu được ý của Quỳnh.

– Anh Quỳnh đâu cần làm thợ may mới được uống trà đá…

– Vậy tôi cần làm gì?

Uyên lắc đầu quầy quậy.

– Hổng biết… Tôi hổng biết…

Hớp thêm ngụm trà đá Quỳnh cười.

– Tôi thời tôi biết tôi cần làm gì?

Uyên ngước lên trong khi chân vẫn đạp đều đều.

– Anh cần gì?

Quỳnh lắc đầu mấy lượt.

– Hổng nói… Tôi biết mà tôi hổng nói…

Uyên bật cười ròn rã khi nghe Quỳnh ăn miếng trả miếng.

– Tôi nghĩ không sai chút nào… Anh lẻo mép một cây…

– Lẻo hay dẻo?

Uyên phải đưa tay bụm miệng để không cho nước trà trong miệng phun ra.

– Cả hai thứ… Sợ anh Quỳnh luôn…

Đưa ly nước trà lên ngắm nghía Quỳnh cười nói với Uyên.

– Uống trà đá của cô Uyên ngon quá làm tôi nhớ tới một câu chuyện huyền hoặc về trà. Tôi xin kể cho cô Uyên nghe để cám ơn…

Uyên ngước lên với nụ cười chờ đợi và khuyến khích. Trong không khí im vắng của buổi trưa, nàng nghe giọng nói trầm, hơi khàn vì thuốc lá của ông lính thủy vang lên êm êm như gió sông lùa hàng cây so đũa phía sau nhà.

– 11 giờ sáng. Tiếng kẻng vang keng keng báo hiệu giờ tan học. Mặc dù là thứ năm song đối với đám học trò thì đây là ngày cuối của một tuần. Ở cái làng xa xôi và hẻo lánh của tỉnh Bảo Lộc này thời Điện được tự quyền quyết định ngày giờ học, chương trình học cũng như mọi thứ lặt vặt khác. Chẳng có ai, sếp lớn, sếp nhỏ thèm quan tâm tới lớp học lèo tèo hai chục đứa học trò dân thiểu số. Anh muốn dạy cái gì cũng được. Anh muốn nói gì mặc ý, miễn là anh đừng đá động tới phe bên này hoặc phe bên kia. Anh là thầy giáo đúng nghĩa của nó. Chính Điện cũng biết lớp học của mình tuy không nằm trong vùng giải phóng song lại là vùng xôi đậu. Người của mặt trận có thể đón bắt anh trên đường đi về hoặc vào tận lớp học để mời anh thăm mật khu của họ và có thể anh không bao giờ trở lại. Điều đó chưa xảy ra nhưng không có nghĩa không xảy ra. Điện biết song anh không ngại vì nhiều lý do. Thứ nhất anh nghĩ mình là thầy giáo, chỉ dạy cho đám học trò người Thượng biết đọc, viết, làm toán và vệ sinh hằng ngày để chúng đừng mắc phải những chứng bịnh truyền nhiễm thông thường như thổ tả, dịch tả, lao phổi, cảm cúm, sốt rét… Lý do thứ nhì chính đáng hơn là cả hai phe quốc cộng đều cố lấy lòng đám người Thượng đang sống trong vùng nên họ sẽ để yên cho anh. Thêm vào đó anh thích đời sống hoang dã và mộc mạc ở đây. Bởi vậy khi ra trường sư phạm anh không do dự chọn vùng đất mà không có ai muốn tới.

Sau khi được thầy giáo dặn dò phải làm gì cũng như phải trở lại sau ba ngày cuối tuần, đám học trò biến thật nhanh vào rừng cây xanh ngút ngàn. Không cần phải có la bàn, bản đồ chúng thuộc đường như thuộc những gì có trong lòng bàn tay của mình. Cũng nhờ chúng mà Điện biết hết những con đường mòn, lối tắt, đường ngang. Anh biết làm bẫy bắt hoang thú, biết tìm nước uống và biết đường trở về nhà mỗi khi đi lạc.

Điện dắt chiếc xe đạp cũ của mình ra. Anh đã chuẩn bị cho chuyến đi tìm hoa lan của mình một cách chu đáo và đầy đủ. Xe đạp là phương tiện di chuyển tiện nhất trong rừng. Nhờ nó anh có thể đi xa hơn. Từ nhỏ anh đã mê thích hoa lá cây cỏ. Về đây không lâu anh lại có cái đam mê lớn là chơi lan. Ngôi trường nhỏ được chia làm hai căn; một là lớp học, một là nhà thầy giáo được anh treo đầy những chậu hoa lan đa số anh không biết tên. Không như những người chơi lan khác, anh không cần biết tên của nhánh hoa mà mình tìm được. Để làm gì? Không cần thiết với một kẻ say mê cái đẹp tự nhiên của hoa. Anh đâu có muốn buôn bán, làm giàu hay kiếm chút đỉnh danh vọng. Đôi khi gặp một nhánh lan xa lạ đong đưa trên cành cây anh cũng không muốn lấy đem về mà để mặc cho nó sống thong dong với núi rừng. Anh chỉ làm dấu để thỉnh thoảng trở lại ngắm cánh hoa khoe dáng sắc huy hoàng trong khu rừng đủ màu sắc. Ba ngày cắm trại trong rừng. Điện lẩm bẩm với mình khi chiếc xe đạp lượn cua thật gắt. Rừng cây lỗ chỗ ánh nắng. Gió rì rào. Tiếng chim hót trên đầu. Con đường mòn bắt đầu đổi hướng chạy song song với con suối đầy nước trong. Bây giờ là tháng 5. Mùa mưa đã về nên không còn tiếng suối chảy róc rách mà âm thanh rào rào của nước xói vào các tảng đá giữa dòng. Điện dừng xe nơi khoảng trống có nhiều ánh nắng và gần con suối nhất. Đó là nơi anh sẽ căng chiếc lều nhỏ để ở. Từ chỗ này anh sẽ lội bộ đi tìm lan. Lần này ở sâu và ở lâu trong rừng anh hy vọng mình sẽ tìm được một cây lan lạ để làm quà cho người bạn dạy học ngoài tỉnh lỵ. Căng lều xong ngồi nghỉ mệt giây lát, Điện đeo ba lô lên vai và bước nhanh vào rừng. Mùi hương của hoa lá cỏ cây trộn với nhau tạo thành mùi hương lạ lùng quyện trong không khí khiến cho anh cảm thấy người lâng lâng sảng khoái. Chim hót, khỉ khọt khẹc, sóc chạy trên củi khô thành tiếng reo vui. Điện để mặc cho chân mình đi. Có gì đâu mà sợ lạc bước. Có gì đâu mà lo quên mất lối về. Cuộc đời đằng sau lưng có gì đâu mà luyến lưu. Thị thành có gì đâu mà tiếc nuối. Thực là đây. Ánh mắt trời xuyên qua lá cây rừng thành triệu triệu bóng nắng lung linh nhảy múa. Hương rừng hoang dã mà dịu dàng và đằm thắm như cô con gái Thượng đang tắm suối của buổi chiều lang thang trong rừng. Cái đẹp của cô gái thật trần trụi, thật mộc mạc. Tuy nhiên cũng chính cái thực của nó đủ sức làm ông thầy giáo phải ngẩn ngơ, bồi hồi dù cô gái đã bỏ đi từ lâu…

Uyên ngừng may. Nàng ngồi im trên ghế. Hai bàn tay đặt trên bàn máy may. Tuy đầu hơi cúi xuống nhưng thỉnh thoảng nàng lại ngước lên len lén quan sát người đang kể chuyện cổ tích cho mình nghe. Trầm mặc. U hoài. Buồn rủ. Khuôn mặt nhiều nét gãy. Ánh mắt u uẩn, mất hút vào khoảng trống nhỏ hẹp. Quỳnh như một pho tượng trong các đền đài, dinh thự xa xưa còn sót lại. Lời nói mạch lạc. Ngôn từ xúc tích và bóng bẩy. ” Anh ấy kể chuyện như là người trong cuộc…” Uyên nghĩ thầm và cười với mình. Nếu Quỳnh kể chuyện trong lúc ban đêm, có ánh trăng mông lung, huyền hoặc, nàng sẽ nghĩ là câu chuyện có thật và mình là người trong cuộc. ” Tại sao ảnh lại cho nhân vật là thầy giáo… Có gì liên hệ giữa mình với nhân vật…

– Điện giật mình thức giấc vì tiếng hổ gầm xa xa. Tiếng gầm của vị chúa tể sơn lâm lùa qua thung vắng theo gió lan dài trong rừng cây thành thứ âm thanh ma mị làm muông thú xôn xao. Tiếng gầm dứt từ lâu mà âm hưởng như còn đồng vọng khiến cho Điện không tài nào ngủ tiếp. Tung mền ngồi dậy anh giơ tay xem đồng hồ. 1 giờ sáng. Khẽ lắc đầu anh vạch lều ló đầu ra quan sát. Trăng mười một mông lung buông xuống khu rừng già màu huyền hoặc và bí hiểm. Chút sương mù lãng đãng giăng giăng biến thân cây thành những hình thù kỳ hoặc mường tượng như người khổng lồ đang xuôi tay đứng trơ vơ. Điện hít hít mũi. Thoảng đưa trong gió nằng nặng hơi sương anh ngửi được mùi hương như có như không, lúc nồng nàn lúc dịu dàng, chợt mất đi rồi chợt hiện lên. Mùi hương lạ tương tự nụ cười e ấp của cô học trò Thượng vừa tới tuổi cập kê, lần đầu tiên bở ngỡ bước vào lớp học bắt gặp cái nhìn chăm chú của thầy giáo.

– Mùi gì lạ quá… Hay là hoa lan… Chắc có nhánh lan lạ gần đây…

Điện lẩm bẩm. Đam mê cộng thêm tò mò khiến cho anh vội vả mặc thêm chiếc áo ấm, đốt đuốc tẩm nhựa thông rồi vạch lều bước ra. Trăng bàng bạc khắp nơi. Gió nhè nhẹ. Mùi hương thoảng đưa xa mà gần, gần mà xa. Đạp lên cỏ cây ươn ướt sương khuya, Điện lần theo mùi hương đi như trong cơn mơ. Tới khoảng giữa rừng anh dừng lại. Đom đóm lập lòe. Mùi hương dừng lại ở đây. Mùi hương thật lạ lùng, không giống bất cứ mùi hương nào mà anh đã được ngửi qua. Hít thở mùi hương nhiều anh có cảm giác lâng lâng, thân thể nhẹ tênh, hai chân rời khỏi mặt đất rồi sau đó là sự sảng khoái làm tiêu tan hết nhọc mệt vì ngày hôm qua lặn lội đi tìm lan trong rừng. Ngay cả cơn buồn ngủ cũng biến mất. Bước vài bước mênh mang Điện dừng lại trước một cây cao vượt khỏi đầu của mình. Xuyên qua ánh trăng bàng bạc anh thấy thân cây cằn cỗi và khẳng khiu. Lá cây màu xanh nhạt lẫn lộn với cánh hoa nhỏ màu trắng. Bây giờ anh mới biết hương thơm mà mình ngửi được từ xa phát ra từ cái cây này. Tuy nhiên mặc dù có trăng song trong rừng chỉ sáng mờ mờ do đó khó cho anh nhận diện cái cây có mùi hương lạ lùng là cây gì. Đứng im hồi lâu anh quay trở lại lều tiếp tục giấc ngủ. Tới trưa khi trở lại quan sát kỹ lưỡng anh mới biết đó là cây trà. Có lẽ nó đã sống lâu lắm rồi vì thân cây khá lớn, nhìn có vẻ già nua và cằn cổi. Cây trà này không có nhiều lá và hoa cũng ít nhưng lại lớn hơn hoa của cây trà ở các vườn trà mà người ta trồng. Đếm đi đếm lại mấy lần Điện mới đếm đúng cây trà có 99 hoa và 99 cái lá. ” Thật kỳ cục… Tại sao lại có đúng 99 lá và 99 hoa…”. Từ lúc gặp cây trà già cổi này Điện hầu như quên mất chuyện đi tìm lan của mình. Anh quanh quẩn bên nó, mân mê từng cái lá. Anh nâng niu từng cánh hoa với thái độ gượng nhẹ và trìu mến. Anh dí mũi của mình sát vào nó để hít thở mùi hương ngào ngạt. Dường như anh bị mùi hương của nó quyến rũ và cầm giữ khiến cho anh không thể bỏ đi đâu được nữa. Thấy cây trà trơ gốc lòi rể ra anh hì hục dùng cái xuổng nhỏ xới đất chung quanh vun gốc cao lên rồi xuống suối múc nước tưới ướt đẫm. Tới xế chiều anh dời chiếc lều bên con suối về cạnh gốc cây cổ trà…

Quỳnh ngừng kể để hớp ngụm trà đá và đốt điếu thuốc lá. Uyên ngước lên.

– Anh Quỳnh kể chuyện nghe mê luôn… Nếu bây giờ trời mưa lất phất chắc tôi sẽ tưởng tới chuyện trong Liêu Trai Chí Dị của Bồ Tùng Linh…

Quỳnh cười khẽ, hít liên tiếp hai hơi thuốc xong kể tiếp câu chuyện.

– Sương mù giăng giăng. Khí lạnh bốc mờ mờ. Trăng thượng tuần khi mờ khi tỏ, dọi xuống khu rừng màu trắng đục. Hương hoa trà thoang thoảng. Qua ánh lửa chập chờn Điện cảm thấy như thân cây trà lay động. Đột nhiên anh trố mắt nhìn đăm đăm. Cây cổ trà rung động mạnh rồi một người con gái bước ra. Mùi hương sực nức khoảnh không gian nhỏ hẹp đang bừng sáng vì dáng sắc của nàng. Điện rùng mình. Hai lòng bàn tay anh ướt đẫm mồ hôi. Áo trắng phất phới bay. Gót sen hồng nhẹ tênh. Nàng bước từng bước thướt tha tới đứng trước mặt Điện. Nụ cười mê hoặc. Ánh mắt mời mọc. Thân ngọc vóc ngà của nàng lồ lộ đường cong qua chiếc áo mỏng mây trời làm dấy động trong lòng ông thầy giáo đã lâu xa người những khát khao vô hạn.

– Cô là ai?

Điện ú ớ hỏi. Giọng của anh lạc đi. Cô gái lặng nhìn anh. Ánh mắt của nàng thăm thẳm tự tình.

– Thiếp là cội cổ trà mà chàng đã gặp. Nhờ sống lâu, hấp thụ khí linh thiêng của đất trời nên thiếp có phép mầu. Tuy nhiên phải đợi tới khi gặp chàng thời thiếp mới đủ phép huyền nhiệm để biến thành người. Đêm nay thiếp về đây là để cám ơn chàng đã bón phân tưới nước…

– Nàng là nữ thần của trà ư?

– Chính thiếp. Mấy ngàn năm tu luyện thiếp chỉ chờ được hạnh ngộ cùng chàng… Chàng là cơ duyên của thiếp…

Thần nữ bước tới. Bàn tay trắng muốt đưa ra. Tuy nó mong manh như mây trời song đủ sức nâng kẻ trần tục như Điện đứng thẳng dậy. Bây giờ anh mới thấy được vẻ đẹp siêu thoát của thần nữ. Mùi hương của nàng sực nức. Áo nàng bay bay. Gò ngực phập phồng. Bàn tay mềm ấm thiết tha. Hơi thở thơm đầy dụ hoặc.

– Đêm sắp tàn rồi chàng ơi…

Giọng thần nữ nũng nịu. Điện mỉm cười nắm tay thần nữ. Hạnh ngộ mấy ngàn năm đâu phải ai cũng có được. Phải có duyên. Một thần và một tục ngồi cạnh nhau. Đầu này cuối mắt chan chứa tình tự yêu thương. Lửa tàn dần nhường cho bóng trăng huyền hoặc. Khi trăng bị mây che khuất Điện run người khi môi thần nữ vờn trên mặt mình. Anh lịm dần vào cơn mê đắm vô cùng.

Khi ánh mặt trời dọi vào mặt Điện chợt mở mắt. Thần nữ không còn nữa mà hương tình còn đọng trên mắt môi, lẫn khuất trong chiếc lều nhỏ hẹp. Điện đoán mình nằm mơ song suy đi nghĩ lại anh biết chuyện đêm qua không phải là giấc mơ. Cảm giác còn đó. Mùi hương son phấn, da thịt còn đây. Giọng nói ngọt mềm của nàng văng vẳng bên tai. Ái ân cuồng nhiệt đắm say làm mỏi đường gân sớ thịt. Tất cả cho anh biết đó là sự thực. Nhưng làm gì có chuyện hoang đường như vậy. Cội cổ trà thọ mấy ngàn năm để chờ đợi cơ duyên…

Sắm nắm bước ra khỏi lều Điện nhìn quanh quất như tìm kiếm hình bóng thần nữ. Khu rừng già hoang vắng không bóng người. Gió lùa rì rào. Bóng nắng lung linh lay động trền nền đất ẩm mục. Cội trà khẳng khiu vẫn còn đó. Hoa với lá rung động như bàn tay thần nữ. Mùi hương sực nức khiến cho Điện ngẩn ngơ. Suốt ngày Điện quanh quẩn bên cội trà chờ đêm xuống mong gặp lại thần nữ. Khi vầng trăng thượng tuần vừa ló lên khỏi ngọn cây, thần nữ từ từ trong thân cây trà bước ra. Bước chân nàng uyển chuyển. Vóc thân nàng lả lơi mời mọc. Mắt nàng ướt át hơn cơn mưa rừng tháng tám. Hơi thở nàng ấm áp làm tan đi sương núi lạnh căm. Vòng tay ân tình của nàng quấn quanh cổ dìu Điện vào cơn mê đắm tuyệt vời. Chiều chủ nhật anh bùi ngùi từ giã cây trà thân yêu để trở về đời sống thực của mình. Anh đi mà tâm hồn như để lại cho thần nữ. Hằng đêm anh nằm mơ thấy nàng hiện về trong giấc ngủ đầy mộng mị. Trưa thứ năm anh lại đạp xe vào rừng để sống với cội trà. Điện không hề hé răng cho bất cứ ai biết về mối duyên hạnh ngộ giữa mình với thần trà. Thời gian cứ như thế trôi đi cho tới một hôm. Anh nhận được điện tín mẹ già bị bệnh sắp chết. Từ Bảo Lộc về Châu Đốc đi về gần nửa tháng. Khi đặt chân xuống tỉnh lỵ Điện nghe bước chân mình xôn xao. Trong cơn gió rừng rì rào anh như nghe được tiếng gọi của thần nữ. Bỏ hết mọi chuyện anh đạp xe vào rừng để gặp cội trà. Khi tới nơi anh chết quỵ vì đớn đau. Cây cối ngã đổ khắp nơi. Cây cổ trà thân yêu của anh không còn nữa. Dấu vết đạn bom hằn sâu. Gốc cây trà bị bứng lên thành hố sâu thăm thẳm. Anh cảm thấy đau buốt vì nhánh cây bị chém đứt thành trăm mảnh. Thần nữ đã chết. Nàng đã ra đi vĩnh viễn. Điện thất thểu trở lại trường học. Đám học trò cho anh biết trong lúc anh vắng mặt, vùng rừng núi bao la này đã có một trận đánh lớn giữa hai phe quốc cộng. Có thể phe này hay phe kia, hoặc cả hai phe đã giết chết cội trà ngàn năm, đã hủy diệt thần nữ của anh. Thời gian sau không thấy Điện dạy học người ta mới đi tìm. Họ thấy anh nằm chết rũ xương bên cạnh những cành trà khô mục…

Uyên không thể không thở dài khi Quỳnh dứt câu chuyện. Uống ngụm nước trà nàng cười nhìn người kể.

– Chuyện tình đẹp mà buồn quá…

Uống cạn ly nước trà đá chanh đường, giơ tay lên xem đồng hồ Quỳnh lên tiếng.

– Đã tới giờ tôi phải đi… Lần sau trở lại…

Thấy Quỳnh đứng lên Uyên cũng đứng dậy. Hai người bước ra cửa. Đứng tựa vào vách Uyên nói nhỏ.

– Anh Quỳnh đi bình an… Tôi mong anh trở lại để kể chuyện nữa nghen…

Quỳnh gật đầu cười bước đi. Anh đi chậm vì biết có người đang tựa cửa nhìn theo mình và chờ mình trở lại.

12

Xóm Đèn. Xã Tân Mỹ. Quận Tân Uyên. Sáu người ngồi vây quanh chiếc bàn tròn. Thức lên tiếng trước nhất để bắt đầu buổi họp hành quân.

– Tôi nhận được chỉ thị từ trung đoàn hộ tống việc tiếp tế và tải súng đạn về Biên Hòa để chuẩn bị cho cuộc tổng công kích sắp tới. Nội trong một tuần chúng ta phải hoàn tất… Đồng chí Huân có ý kiến gì không?

Người được Thức gọi tên Huân chính là bí thư huyện.

– Tôi đã chuẩn bị đầy đủ ghe thuyền để tải súng đạn về thành phố. Tuy nhiên ta gặp phải vấn đề khó giải quyết…

– Vấn đề gì?

Huân hơi bối rối khi bị Thức vặn hỏi.

– Thưa đồng chí tiểu đoàn trưởng. Muốn di chuyển một số súng đạn lớn và nặng ta phải dùng thuyền để chở. Mà đi thuyền ta đụng phải sự kiểm soát của tàu địch…

– Chúng có bao nhiêu chiếc tàu?

– Thưa hai…

– Hai?

Thức lập lại và Huân gật đầu.

– Dạ hai…

– Hai mà chúng làm khó dễ ta được à…

Huân hơi nhếch môi cười khi nghe câu hỏi của Thức.

– Đồng chí tiểu đoàn trưởng mới đổi về đây nên chưa biết rõ tình hình. Địch chỉ có hai chiếc thôi song tầm hoạt động của chúng rất rộng cũng như rất hữu hiệu. Đây là loại tàu sắt tối tân của tụi Mỹ Ngụy. Nó chạy nhanh và bắn dữ lắm. Cách đây không lâu nó đã bắn tan đại đội chủ lực miền khi tụi này đánh cái đồn ở Uyên Hưng. Nó bắn thứ gì tôi không biết mà nổ rền trời đất. Phe ta bị thương và chết nhiều lần lắm khi đụng với hai chiếc tàu này…

Thức cau mày suy nghĩ. Huân rụt rè góp ý kiến.

– Muốn tải súng đạn về Biên Hòa bằng ghe thuyền ta phải đánh chìm hai chiếc tàu sắt của địch trước…

– Đồng chí đã thử chưa?

Huân lắc đầu.

– Muốn đặt mìn ta phải dùng người nhái hay đội đặc công. Ở huyện không có…

Thức gật đầu im lìm rồi lát sau mới lên tiếng.

– Tôi sẽ trình lên trung đoàn. Trong lúc chờ đợi chỉ thị của thượng cấp tôi sẽ chỉ huy cuộc phục kích hai chiếc tàu địch trước… Nếu thành công thời ta không cần phải dùng toán đặc công…

Trải lên mặt bàn tấm bản đồ hành quân Thức nói với Hiến, tiểu đoàn phó và ba đại đội trưởng của mình là Tịnh, Nhu, Mạnh,

– Ngôi đồn của tụi lính địa phương đóng ngay giao điểm của hai con lộ. Một từ Thủ Dầu Một về và một từ huyện Phú Giáo về. Mặt bắc này trống trải và bằng phẳng. Còn mặt nam là sông. Hai mặt này không tiện cho ta dàn quân tấn công. Hai mặt đông và tây có nhà dân chúng vì vậy ta có thể nương vào đó để tiến sát tới hàng rào kẽm gai…

– Đồng chí định công đồn?

Huân lên tiếng hỏi. Thức lắc đầu cười lạt.

– Tôi không có ý định công đồn mà chỉ dùng cách công đồn để đả viện. Nếu ta giả vờ đánh đồn Uyên Hừng thời thế nào chúng cũng phải gọi hai chiếc tàu sắt tiếp cứu. Tôi cho trung đội 1 của đại đội 1 đánh mặt bắc, đại đội 1 đánh mặt đông, đại đội 2 đánh ép vào hướng nam, trong lúc hai đại đội 3 và 4 dàn trận sát bờ sông để bắn tàu…

Dù không đồng ý song Hiến khôn ngoan không đưa ra ý kiến nào để làm phật lòng thượng cấp của mình. Anh biết tính tình độc đoán của Thức. Ngay cả bốn đại đội trưởng cũng theo gương không bàn cãi gì thêm mà sốt sắng thi hành lệnh.

Uyên ngạc nhiên khi thấy Thức xô cửa sau bước vào nhà của mình ngay khi trời vừa xụp tối. Nàng còn thắc mắc hơn khi thấy mấy người lính mang súng đứng đầy trong nhà. Có lẽ đoán được sự ngạc nhiên, thắc mắc và lo âu của Uyên nên Thức cho biết anh chỉ ghé thăm nàng giây lát mà thôi.

– Có chuyện gì quan trọng không anh Thức. Uyên không nghĩ anh…

Biết khó mà giấu diếm được nên Thức vội lên tiếng giải thích chuyện công đồn đả viện của mình. Anh không ngại nói ra kế hoạch điều binh để đánh chìm hai chiếc tàu sắt   cho Uyên nghe vì nghĩ nàng theo phe mình. Vả lại chừng nửa giờ là cuộc công đồn sẽ bắt đầu do đó dù Uyên có biết cũng chẳng hại gì. Khi Thức đi rồi Uyên ngồi thừ ra trước bàn máy may. Nàng lo sợ cho Quỳnh. Sau mấy lần gặp mặt, trò chuyện nàng cảm thấy mến ông lính thủy hiền lành và vui vẻ. Nàng không muốn anh chết. Dù biết mình sớm muộn gì cũng sẽ trở thành vợ của Thức song nàng lại cảm thấy mình càng lúc càng thân thiết với Quỳnh hơn. Anh hay kể chuyện để giải trí trong lúc nàng ngồi may. Anh chọc cho nàng cười để quên nhọc mệt. Anh không có làm điều gì hại cho nàng hay những người khác. Sinh ra trong thời buổi chiến tranh nếu không ở bên này anh cũng phải theo bên kia. Cũng như nàng dù không thích cũng phải theo mặt trận vì ở trong vùng sôi đậu không theo cũng không được. Dù không yêu Thức nàng cũng phải chấp nhận làm vợ anh vì không chấp nhận cũng không được. Từ khi quen biết Quỳnh, nàng cảm thấy tình cảm của mình dần dần đổi hướng đi. Có những khi nhàn rỗi nàng nghĩ tới Quỳnh và thầm kín mơ ước được sống chung với anh. Nàng chưa tỏ lộ điều này cho anh biết vì nghĩ còn quá sớm. Nàng cũng biết Quỳnh có nhiều cảm tình với mình. Bằng chứng là anh ghé nhà nàng thường hơn, ở lại chơi lâu hơn. Anh chịu khó trò chuyện với ba má nàng để tìm hiểu và lấy lòng của ông bà. Hưng, em gái nàng rất mến Quỳnh. Nó thường gọi đùa Quỳnh là anh hai. Bây giờ biết Thức dàn cả tiểu đoàn để phục kích hai chiếc tàu của Quỳnh, Uyên như ngồi trên đống lửa. Nàng sợ hãi, lo âu song không làm gì được mà chỉ biết tắt đèn nằm khóc chờ tin dữ.

2 giờ sáng. Chiếc Alpha 11 giang hành trên khúc sông từ sông Rạng Đông tới Uyên Hưng và cách Uyên Hưng chừng ô vuông. Quỳnh ngồi ngủ gà ngủ gật trên mui tàu. Chơn ngồi lái bên cạnh.

– Mày buồn ngủ thời gọi thằng Tuấn…

Quỳnh cất giọng nhừa nhựa vì mỏi mệt và buồn ngủ. Chơn lên tiếng trong lúc nhìn vào mặt đồng hồ của hai máy tàu. Vòng quay chỉ 1000.

– Ba giờ tôi đi ngủ. Còn hơi sớm…

Quỳnh cười lặng lẽ. Đối với người lính lấy đêm làm ngày thời 2 giờ sáng còn sớm chán. Áo chưa ẩm hơi sương. Mắt chưa xụp và miệng chưa ngáp vắn ngáp dài thời còn sớm chưa tới lúc khò.

– Alpha 11 đây 9…

Quỳnh uể oải bốc máy cũng như uể oải trả lời ngắn và gọn.

– 11 nghe 9… Có chuyện gì?

Giọng của Ánh, thuyền trưởng tạm thời của chiếc Alpha 9 vang lên.

– Hổng có chuyện gì hết trơn… Chỉ gọi anh nói chuyện cho đỡ buồn ngủ… Mai mình đi bờ hả anh?

– Ừ… Cho mày và nhân viên lên bờ chơi…

– Ở đâu hả anh?

– Uyên Hưng…

Quỳnh bật cười khi nghe tiếng Ánh càu nhàu trong máy.

– Uyên Hưng hoài chán bỏ xừ. Chỉ có hai cái bàn bàn bi da cũ còn hơn trái đất…

Đang nghe Ánh nói Quỳnh chợt quay nhìn về hướng Uyên Hưng. Súng nổ ran ran và mỗi lúc nhiều hơn. Đạn lửa bay đầy trời.

– 9 đây 11…

– 9 nghe 11…

– Anh chuẩn bị zoulou về U Minh Hiệp Hòa đi… Tôi đợi anh ở đó…

– 9 nghe 11 5/5…

Quăng ống nói máy 46 xuống mui Quỳnh nói lớn.

– Về Uyên Hưng… Mày tăng 1700 đi…

Hướng về Sang đang nằm ngủ nơi ụ súng 12 ly 7 anh gọi lớn.

– Sang… Gọi tụi nó dậy… Vẹm đánh đồn của Ông Địa…

Tuấn ngồi vào tay lái thế chỗ cho Chơn. Nó sẽ cùng với Kỳ ra sau lái lãnh khẩu M79 tự động, còn Thành sẽ thế cho Kỳ bắn khẩu đại bác 20 ly trên mui. Chỉ cần mười phút sau Quỳnh đã thấy ngôi đồn địa phương quân hiện ra trong ống dòm. Súng nổ dồn dập mà nhiều nhất là súng của địch. Đạn lửa bay vút trong bầu trời nhiều sao của đêm cuối tháng.

– Quỳnh Hoa đây Tiên Long… Nghe rõ trả lời…

Quỳnh bóp nhẹ ống nói.

– Quỳnh Hoa nghe Tiên Long…

Giọng của trung úy Tiên vang chậm và chắc.

– Tôi bị tụi nó dũa… Hai mặt bắc và nam nhẹ. Hai mặt đông tây nặng hơn…

– Tiên Long giữ được không?

– Tôi nghĩ là tôi giữ được. Nếu chịu không nổi tôi sẽ nhờ Quỳnh Hoa gãi lưng tụi nó dùm tôi…

Quỳnh bật cười hắc hắc.

– Nghe Tiên Long rõ. Khi nào cần gãi Tiên Long cho tôi biết…

Đứng trên bờ quan sát Thức thấy chiếc tàu sắt lềnh bềnh trên sông. Không biết vì lý do gì mà nó chưa chịu vào sát bờ. Từ chỗ lính của anh dàn súng ra tới chỗ chiếc tàu sắt đang trôi khá xa, ở ngoài tầm bắn của B40 hoặc 57 không giật. Muốn bắn chìm hoặc gây thiệt hại nặng anh phải dụ nó vào gần bờ hơn nữa. Có thể lính trong đồn còn giữ vững vị trí do đó họ không cần sự yểm trợ hỏa lực của tàu. Anh phải đánh mạnh và đánh nhanh mới gây áp lực cho lính trong đồn để họ gọi tiếp viện. Có như vậy anh mới bắn chìm tàu sắt được. Suy nghĩ cặn kẽ anh truyền lệnh cho hai đại đội 1 và 2 xử dụng ưu tiên hỏa lực để đánh vào hai mặt đông tây của đồn. Bộc phá, lựu đạn, B40 nổ ầm ầm làm vỡ nát hàng rào kẽm gai và công sự phòng thủ trong đồn. Lính mặt trận la hét tràn vào. Lính trong đồn lùi dần dần vào tới vòng phòng thủ cuối cùng. Thức mỉm cười đắc ý khi nghe tin báo. Bỏ ống dòm anh thấy không phải một mà hai chiếc tàu sắt đen xì lù lù chậm chạp tiến vào bờ. Hai đại đội 3 và 4 im lặng chờ đợi.

– Quỳnh Hoa đây Tiên Long… Nghe rõ trả lời…

– Quỳnh Hoa nghe Tiên Long…

Giọng của trung úy Tiên vang vang trong máy không được bình thường.

– Địch đã vào đồn. Yêu cầu tác xạ…

Quỳnh cau mày lập lại.

– Bắn hủy diệt mục tiêu… Tiên Long nghe rõ…

– Tụi này xuống hầm… Quỳnh Hoa hãy bắn lên đầu tôi…

Tiếng nói của Tiên tắt nghẹn. Quỳnh hét vào ống nói.

– 9 đây 11…

– 9 nghe 11…

– Khi nào tôi bắn anh hãy bắn hủy diệt đồn. Đừng bắn vào nhà dân… nghe rõ trả lời…

– 9 nghe 11 5/5…

Tay cầm ống liên hợp của máy truyền tin Thức hồi hộp chờ đợi hai chiếc tàu sắt vào đúng tầm súng của mình. 70 thước… 60… 50… Rồi anh thấy rõ toàn thể chiếc tàu sắt. Tuy nhiên 50 thước vẫn còn xa cho B40. Muốn bắn gục hai cục sắt khổng lồ anh phải kiên nhẫn chờ nó vào gần bờ hơn. Đang căng thẳng chờ anh chợt nghe tiếng bụp bụp vang vang rồi lát sau hàng trăm âm thanh xé không gian cùng với tiếng nổ của lựu đạn. Ầm… Ầm… Ầm… Từng chuổi âm thanh ì ầm. Trận mưa lựu đạn rơi xuống. Chỗ này ba trái. Chỗ kia năm quả. Chỗ nọ chục viên biến trận địa thành cơn địa chấn cuồng nộ. Thức cứng người khi thấy thân thể của đồng đội bay tung lên không. Tiếng la hét đau đớn vang khắp nơi. Chưa hết. Đứng sổng lưng anh thấy ánh lửa chớp tắt ngoài sông rồi âm thanh của đạn xé gió, rú thành chuỗi kinh dị. Đạn lửa đan thành dây dài đỏ rực trong đêm tối.

– Bắn…

Thức hét. Anh cố gắng hét thật lớn hy vọng tiếng hét của mình sẽ át tiếng súng địch để cho lính nghe được. Tuy nhiên anh chậm hơn kẻ địch một giây đồng hồ. Một giây đồng hồ ngắn ngủi này khiến cho tình thế vô phương cứu chữa. Một khi súng trên tàu đã nổ thời địch quân không thể ngóc đầu lên để bắn. Nhào xuống nước để tránh, Thức nghe đạn réo trên đầu, đạn ghim vào đất bựt bựt. Toàn thể binh lính tiểu đoàn 317 của mặt trận mọp đầu trước hỏa lực khủng khiếp của hai chiếc tàu. Vài người lính gan dạ đứng dậy phản pháo định đều gục chết trước khi bóp cò. Mọp đầu sau mô đất cạnh bờ sông Thức lẩm bẩm: ” Đạn đâu mà nó bắn hoài…”. Thật lâu tiếng súng rời rạc rồi không còn nghe nữa. Dùng ống dòm quan sát không thấy bóng tàu Thức ra lịnh rút lui. Nương bóng đêm, lính của tiểu đoàn 317 góp nhặt xác đồng đội xong chém vè thật nhanh.

Trời sáng rõ. Trung úy Tiên và Quỳnh đứng nơi bờ sông ngay chỗ chiếc Alpha 11 ủi bãi. Nhìn lính thu dọn chiến trường Tiên cười nói với Quỳnh.

– Tôi nợ anh và anh em dưới tàu chầu cà phê nghen…

Rút gói thuốc đưa mời Tiên trước rồi Quỳnh mới lấy một điếu đưa lên ngậm. Anh cười nói trong lúc quẹt diêm đốt cho Tiên.

– Tôi cho anh khất tới kỳ lãnh lương. Bây giờ để tôi bao anh một chầu trước…

Cười khà khà Tiên bước đi trước. Vừa ngồi xuống ghế trong quán cà phê của chú năm Tiên hỏi liền.

– Sao cô Uyên tới đâu rồi…

Quỳnh cười cười.

– Anh đã được cô Uyên báo cáo rồi thời hỏi tôi làm chi…

Hít hơi thuốc nhả khói ra từ từ Tiên gật gù.

– Tôi mến con bé. Tuy có chuyện hơi phức tạp song…

– Chuyện gì phức tạp hả anh?

Giọng của Tiên thấp xuống như chỉ muốn mình Quỳnh nghe được.

– Cô ta có quen một người tên Thức. Thằng này là tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 317 chủ lực miền của mặt trận…

– Sao anh biết?

– Tình báo nhân dân mà… Nhỏ Uyên quen với thằng Thức hồi còn bé. Hai đứa học trường tỉnh rồi thằng Thức bỏ học theo mặt trận. Nó là thằng đêm hôm qua chỉ huy đánh đồn và bắn tàu đó…

Quỳnh nhìn Tiên đăm đăm. Đưa ly cà phê lên hớp ngụm nhỏ anh mới bật ra câu hỏi.

– Như vậy mà sao anh còn giới thiệu Uyên cho tôi?

Tiên cười hà hà.

– Có nhiều lý do. Đầu tiên là tôi thấy nhỏ Uyên hợp với anh. Thà để nó quen anh còn hơn quen với thằng Thức. Để nó làm vợ thằng Thức là hoa lài cắm bãi cứt trâu. Nhỏ Uyên dù sao cũng có học chút chút lại xinh xắn và hiền lành. Người như thế mà lấy lính của mặt trận là bỉ mặt quốc gia mình…

Thấy Quỳnh trợn mắt nhìn mình quên cả thuốc lá cháy tận tay Tiên cười khặc khặc tiếp.

– Tôi biết nhỏ Uyên gặp anh là nó chịu đèn anh liền… Hà… Hà… Tôi muốn chơi thằng Thức một vố để trả thù nó dũa tôi hoài…

Lời tiết lộ của Tiên làm cho Quỳnh phải bật lên tiếng cười.

– Mà anh thấy tôi nói đúng hông. Nhỏ Uyên hiền hậu…

Quỳnh gật đầu hớp cà phê.

– Đúng… Cô Uyên hiền lành vui vẻ. Uyên sửa quần áo cho tôi không lấy tiền. Uyên nói chuyện nghe được lắm.

– Anh có cần tôi nói dô không. Tôi mà nói với ba má nó là ổng bả ưng anh liền…

Quỳnh lắc đầu lia lịa.

– Thôi cám ơn anh… Chuyện tình cảm của tôi để tôi lo. Anh biết thằng Thức quen với cô Uyên mà sao anh không gài bắt nó…

Tiên cười cười.

– Bắt nó không có lợi… Mình bắt thằng này thời có thằng khác thế chỗ liền. Nhiều khi thằng mới lại giỏi hơn thằng cũ thời đâm ra mình bị kẹt…

Nói xong Tiên đứng lên.

– Tôi về đồn. Anh đi thăm nhỏ Uyên hả… Anh làm ơn cuổm nhỏ Uyên khỏi tay thằng Thức là tôi mần con heo quay cho đám cưới của anh…

Dứt câu Tiên cười hà hà bước đi để Quỳnh đứng nhìn theo bóng của ông đại đội trưởng chậm chạp bước trên con đường dẫn vào đồn. Ngẫm nghĩ giây lát anh đi tới tiệm may của Uyên.

– Cô Uyên sao vậy. Bộ tối hôm qua súng bắn nhiều quá làm cô mất ngủ hả?

Quỳnh cười hỏi khi thấy Uyên ngồi tư lự nơi bàn máy may. Thấy Quỳnh xuất hiện mà không có chút thương tích nào hết nàng cười tươi tắn trả lời.

– Dạ súng bắn nhiều quá nên tôi sợ…

– Cô Uyên sợ gì?

– Dạ sợ chết…

Quỳnh mỉm cười. Từ khi được Tiên thố lộ chuyện riêng tư của Uyên anh cảm thấy tội nghiệp và mến nàng nhiều hơn. Bởi vậy anh mới hỏi để thăm dò mức độ tình cảm của nàng dành cho mình.

– Sợ ai chết hả?

– Dạ…

– Cô Uyên sợ ai chết?

Quỳnh thấy được nét băn khoăn và lúng túng của Uyên khi nghe mình hỏi.

– Cô Uyên có sợ tôi chết không?

– Dạ có… Ai chết tôi cũng sợ hết…

Ngập ngừng giây lát Uyên mới nói tiếp.

– Tôi sợ anh Quỳnh chết…

Quỳnh nhẹ cầm lấy bàn tay của Uyên đặt trên mặt bàn máy may. Cô gái để yên không rụt lại.

– Cám ơn cô Uyên…

Uyên mỉm cười khi Quỳnh thôi không nắm tay mình nữa.

– Tôi nghĩ là tôi còn mắc nợ cô Uyên nhiều lắm nên tôi ráng mà sống… Đừng có sợ nữa…

Uyên rưng rưng nước mắt. Tuy Quỳnh nói xa xôi song nàng hiểu được tình cảm mà anh dành cho mình.

– Hôm nay có trà đá chanh đường không cô Uyên. Tôi bắt đầu ghiền trà đá rồi…

Uyên bật cười vì câu nói đùa của Quỳnh.

– Lúc nào cũng có cho anh. Hôm nay anh kể chuyện gì. Nữ thần cà phê hay nữ thần cây bằng lăng…

Quỳnh bật cười tiếng ngắn. Anh nhìn vơ vẩn ra đường trong lúc ngồi chờ Uyên đi pha trà đá. Lúc nàng từ nhà trong bước ra anh mới nhận thấy nàng đã thay áo mới. Chiếc áo bà ba màu mỡ gà được may rất khéo ôm lấy thân thể gọn gàng và cân đối của một cô gái chưa chồng.

– Tôi không kể cho cô Uyên nghe chuyện cổ tích nữa mà kể chuyện chiến tranh…

Trong lúc hai người uống trà Quỳnh từ từ kể lại trận đánh hôm qua. Anh làm như không biết Thức là ai, có quen biết với Uyên nên thản nhiên cười nói. Kín đáo nhận xét anh thấy nàng có thái độ buồn vui lẫn lộn, khi thờ thẩn, khi lo âu, lúc khẩn trương. Dường như tâm tình của nàng không ổn định vì sự biến chuyển tình cảm xảy ra trong những lúc gần đây. Tuy tội nghiệp cho nàng song anh không nói gì. Anh muốn nàng được tự do chọn lựa. Tình yêu không thể là sự xin xỏ hay ép uổng người khác và chính mình nữa.

Đang ngồi nói chuyện với Uyên, Quỳnh ngừng lại khi thấy có người lạ bước vào. Uyên cũng hơi có vẻ lúng túng khi thấy người này. Liếc nhanh Quỳnh, nàng vội bước ra cửa đón khách.

– Dạ chào anh Huân…

– Chào cô Uyên… Cô mạnh hông?

– Dạ cám ơn anh tôi mạnh. Anh muốn may quần áo?

Huân cười lắc đầu trong lúc ánh mắt liếc nhanh về chỗ ngồi của Quỳnh.

– Tôi đi ngang đây nên tạt vào thăm cô Uyên. Anh Thức nhờ tôi trao thư cho cô Uyên…

Không ai thấy được bàn tay đang cầm ly trà đá của Quỳnh run run khi nghe nói tới tên Thức.

– Dạ cám ơn anh. Anh Thức còn dặn gì không anh?

– Ảnh chỉ dặn tôi ngày mai trở lại lấy thư hồi âm của cô Uyên…

– Dạ… Chiều mai anh trở lại tôi sẽ có thư cho anh Thức…

Chào Uyên xong Huân gật đầu chào Quỳnh đoạn bước nhanh ra đường. Ông lính thủy nhìn theo cho tới khi bóng của người đàn ông tên Huân mất trong dãy nhà lá.

– Anh Quỳnh có chuyện gì buồn?

Uyên hỏi khi thấy nét mặt đăm chiêu của Quỳnh.

– Anh Huân bà con với tôi…

Uyên lên tiếng thanh minh. Nàng nghĩ là Quỳnh không được vui khi thấy nàng trò chuyện với Huân. Hớp ngụm trà đá Quỳnh cười gật đầu lãng sang chuyện khác.

– Cô Uyên học trường nào ngoài tỉnh?

– Dạ trường Ngô Quyền.

– Trường đó là trường công phải không?

– Dạ phải…

– Tôi nghe nói phải thi đậu mới được học trường công?

– Dạ phải…

Trả lời xong Uyên nói nhanh trước khi Quỳnh đặt thêm câu hỏi nữa.

– Anh làm gì mà hỏi nhiều vậy. Bộ anh là lính kín hả?

Hỏi xong Uyên bật cười làm cho câu hỏi của nàng thành ra câu hỏi đùa giỡn. Vả lại nàng bỏ luôn tiếng Quỳnh xa lạ do đó câu hỏi đượm nhiều thân tình hơn.

– Tôi là lính mà. Tôi có lý do để hỏi…

– Lý do gì?

Uyên vặn trong lúc nhìn vào mặt người đối thoại đang ngồi cách mình không xa.

– Lý do đặc biệt…

Quỳnh vòng vo chưa chịu trả lời câu hỏi. Uyên nói nhanh.

– Đặc biệt gì? Tình cảm. Quân sự. Xã hội. Chính trị?

– Sao Uyên hỏi nhiều vậy. Bộ Uyên là công an à?

Bị Quỳnh trả đũa Uyên bật cười hắc hắc. Nàng nhận ra Quỳnh đã gọi mình bằng tên chứ không còn tiếng ” cô ” xa lạ và kiểu cách nữa. Tuy không nói ra nàng thầm cám ơn điều đó. Nàng biết mình có cảm tình với anh. Tuy nhiên nàng không hoặc chưa dám tỏ lộ. Nàng đang lưỡng lự và phân vân. Dù sao nàng đã quen biết với Thức lâu lắm rồi. Dù tình cảm không tiến xa song Thức vẫn thường xuyên lui tới. Vả lại nàng cũng biết bỏ Thức để chọn Quỳnh nàng sẽ gặp nhiều rắc rối. Thức sẽ không để yên cho nàng thương người khác. Anh sẽ dùng quyền lực của mặt trận, luôn cả mưu mô và thủ đoạn thâm hiểm để giết chết tình địch. Đó là điều mà Uyên không muốn.

Nhìn vào đồng hồ thấy 10 giờ Quỳnh uống một hơi cạn ly trà đá xong đứng dậy.

– Tôi phải đi…

Uyên hỏi nhanh trong lúc Quỳnh đứng lên.

– Chừng nào anh trở lại?

Quỳnh mỉm cười vì tiếng anh của Uyên. Nó có chút quan hoài và âu yếm.

– Không biết… Nhưng tôi sẽ trở lại… Uyên chờ nghen…

– Dạ… Uyên chờ anh trở lại kể chuyện cổ tích…

Hai người song song ra cửa rồi dừng lại ở đó như không muốn rời xa nhau. Lát sau, đội lên đầu chiếc nón lưỡi trai, Quỳnh quay nhìn vào mặt Uyên.

– Mai mốt tôi trở lại…

– Dạ anh đi bình an…

Khẽ gật đầu Quỳnh bước nhanh. Anh nghe loáng thoáng câu nói ở đằng sau lưng của mình.

– Cầu trời phật phù hộ anh…

Tiên hơi ngạc nhiên khi thấy Quỳnh vào đồn kiếm mình. Vị trưởng đồn còn ngạc nhiên hơn khi nghe câu hỏi.

– Anh có biết ai tên Huân?

Hơi nhíu mày Tiên lên tiếng.

– Tôi không quen ai tên Huân nhưng…

Quỳnh từ từ kể lại chuyện một người đàn ông tên Huân ghé tiệm may gặp Uyên. Tiên chắt lưỡi hít hà.

– Hắn là bí thư huyện. Uổng thật. Tóm được hắn là tôi mang ba mai liền…

Quỳnh cười cười đưa điếu thuốc ra mời Tiên.

– Hắn nói sẽ trở lại lấy thư của Uyên gởi cho Thức chiều mai…

Tiên cười gục gặt đầu.

– Được rồi… Để tôi đi bắt tay nó…

Trước khi quay lưng đi về tàu Quỳnh nói nhỏ với Tiên.

– Anh ráng săn sóc Uyên dùm tôi nghen…

Hiểu ý của Quỳnh, Tiên cười cười.

– Anh đừng lo… Tôi sẽ không để cho thằng Thức ăn hiếp nhỏ Uyên đâu. Mất ăn cái đầu con heo quay uổng lắm…

Quỳnh cười khà vì câu nói của Tiên. Trên đường trở về tàu anh suy nghĩ miên man. 11 giờ. Hai chiếc tàu sắt tách bến ngược con nước chảy xiết lên ngã ba sông Rạng Đông.

13

Thức và Hiến bước chậm trên con lộ đất dọc theo bờ sông Đồng Nai. Đây là khúc sông nằm trong xã Thường Tân thuộc quận Tân Uyên. Từ Uyên Hưng lên tới chỗ hai người đang đi chừng mười cây số. Bề ngang của mặt sông không rộng lắm chừng bảy tám chục thước thôi. Sau khi uốn một vòng cong thật lớn tại Uyên Hưng, dòng sông Đồng Nai không có nhiều khúc quanh. Đó là một bất lợi cho anh trong việc dàn quân phục kích hai chiếc tàu sắt. Bù lại bờ sông cao hơn mặt nước do đó các khẩu súng máy có thể bắn trực xạ cũng như xạ thủ không phải đứng thẳng người để nhắm bắn vào mục tiêu. Thường thường ở trên cao bắn xuống dễ dàng và chính xác hơn là ở dưới thấp bắn lên.

– Đồng chí nghĩ sao?

Thức hỏi Hiến. Người tiểu đoàn phó trầm ngâm giây lát mới góp lời.

– Đồng chí tính phục kích tàu địch ở khúc sông này tôi thấy có lý hơn. Mình ở trên cao mà địch ở dưới thấp nên mình có cái thế hơn chúng. Ít ra mình không lo chúng bắn trúng mình…

Thức mỉm cười gật gù. Liếc nhanh thượng cấp Hiến từ từ tiếp.

– Mặt sông dù hẹp song cũng còn rộng. Nếu tàu địch chạy giữa dòng thời chúng nằm trong tầm bắn của B40. Nhưng nếu chúng chạy sát bờ bên kia thời hơi xa cho súng của ta…

Thức nhíu mày suy nghĩ. Sau trận đụng độ vừa qua anh mới thu lượm được chút ít hiểu biết về hỏa lực hùng hậu của hai chiếc tàu sắt. Đồng thời sự bại trận cũng làm cho anh bớt đi tính kiêu căng và độc đoán. Bởi vậy anh ta mới mời Hiến đi với mình quan sát địa thế. Hơn mười lăm năm quân vụ, Hiến là người có kinh nghiệm chiến trận nhất của tiểu đoàn.

– Muốn bắn gục hai chiếc tàu sắt ta phải dàn quân theo cách khác. Tôi đề nghị như vầy. Ta dàn một đại đội phía bên phải giả vờ phục kích địch. Đại đội này bắn thật rát cố dồn ép tàu địch về bên bờ chỗ chúng ta đang đứng, nơi ta trí súng nặng như B40 và 57 không giật. Như vậy ta mới có cơ hội để bắn…

Thức đồng ý vì anh ta cũng nghĩ như vậy.

– Tôi để đồng chí toàn quyền bố trí. Mình đánh ban đêm hả?

Hiến lắc đầu cười. Giọng nói của người tiểu đoàn phó tiểu đoàn 317 vang chắc nịch.

– Đánh ban ngày. Phải đánh vào ngay lúc địch nghĩ rằng ta không đánh thời chúng mới không có phòng bị. Từ nào tới giờ ta phục kích tàu toàn ban đêm do đó ban ngày chúng sẽ lơ là…

Thức im lìm nhìn dòng sông. Mặt nước trong lấp lánh sáng dưới ánh mặt trời chói chang của mùa hè. Mấy nhánh cây mục trôi lang thang. Bố trí quân để đánh địch là một chuyện. Địch có lọt vào vòng phục kích của mình không lại là chuyện khác vì nó tùy thuộc vào nhiều yếu tố khó mà đoán định nhất là yếu tố tâm lý hay nói một cách khác là phản ứng của địch khi bị tấn công. Anh không có đủ tin tức để phỏng đoán. Kẻ chỉ huy hai chiếc tàu sắt tên gì? Thuộc thành phần nào? Học thức ra sao? Kinh nghiệm chiến trận nhiều hay ít? Địch xử dụng thứ vũ khí nào? Sức phá hoại của nó mạnh yếu? Anh hoàn toàn mù mờ về những điều đó.

14 giờ. Nối đuôi nhau và cách nhau chừng năm chục thước, hai chiếc Alpha 11 và 9 xuôi con nước từ ngã ba sông Rạng Đông về Uyên Hưng. Chiếc 11 chạy trước. Quỳnh ngồi trên mui. Nón sắt trên đầu. Áo giáp làm người nóng hừng hực. Mồ hôi thấm ướt lưng. Mồ hôi chảy thành dòng trên mặt. Trời lặng yên không chút gió.

– Nóng quá…

Tuấn càu nhàu. Quỳnh cười nhẹ.

– Mới chảy mỡ có chút mà mày đã la…

Dứt câu anh rút gói thuốc lá trong túi ra đưa mời Tuấn. Nó lắc đầu.

– Nóng gần chết mà hút cháy phổi anh…

Cười khằng khặc Quỳnh rút một điếu đưa lên môi rồi quẹt diêm. Mùi diêm sinh khét nghẹt khiến cho Tuấn phải quay mặt chỗ khác.

– Chừng nào mình mới được nghỉ hả anh?

– Mốt mới tới phiên của mình… Lần này tao cho thằng 9 đi trước…

– Sao kỳ vậy?

– Tại vì nó ít người hơn mình. Nó có năm mà mình sáu. Nó mệt nhiều hơn mình…

Tuấn làm thinh. Nó biết tính công bằng của thuyền trưởng. Không nói gì thêm Quỳnh đưa ống dòm lên quan sát bờ sông bên trái của mình. Thân cây khô chết vì thuốc khai quang đứng trơ vơ. Vài mô đất nhô cao cỏ mọc xanh rì. Bờ đất bên trái thấp hơn bờ bên phải. Nó chỉ cao hơn mặt nước chút ít thôi. Đang rê ống dòm Quỳnh hơi cau mày. Trong bờ có cái gì lấp lánh sáng. Chỉ có hai thứ mới phản chiếu ánh mặt trời là kim loại và mặt kính. Trong bờ đất kia làm gì có dân chúng. Như vậy chỉ có ánh kim khí. Súng… Quỳnh lẩm bẩm. Chiếc ống dòm của anh dừng lại khá lâu nơi chỗ phát ra ánh sáng rồi sau đó mới di động đi chỗ khác.

– 9 đây 11…

– 9 nghe 11…

– Anh đi sát bờ bên trái và cho nhân viên chuẩn bị…

– Nó sắp bắn mình hả anh?

Ánh hấp tấp hỏi. Quỳnh trả lời gọn.

– Chưa biết nhưng tao nghi ngờ…

– Tôi sẽ làm theo lời anh dặn…

Bỏ ống nói xuống Quỳnh nói lớn với Sang.

– Nhiệm sở tác chiến…

Sang bấm kèn cho Thành ở trên mui và Kỳ với Chơn đằng sau lái biết để chuẩn bị nổ súng khi có lệnh. Quay sang Tuấn, Quỳnh nói nhỏ.

– Đi gần bờ bên trái…

Tạch… tạch… tạch… Cắc bùm… AK, trung liên nồi nổ rền. Đạn xé không khí vút qua đầu khiến cho Quỳnh phải vội vàng nằm dài trên mui để tránh còn Tuấn phải rút xuống phòng lái.

– Bắn…

Quỳnh hét trong máy 46. Ụ súng 50 hai nòng của Sang nổ trước nhất. Tiếp theo là ụ đại bác 20 ly trên mui và khẩu 12 ly 7 ở đằng sau cùng lúc khai hỏa. Khác những lần bị phục kích, lần này súng trong bờ lại bắn ra dồn dập và dữ dội. Đạn AK ghim vào giáp chống B40 nghe bừn bựt. Đạn réo thành chuỗi âm thanh kinh dị.

– Thẳng vào bờ…

Quỳnh hét vào tai Tuấn. Bàn tay bóp chặt ống nói anh la lớn.

– 9 đây 11… Theo tôi… Thẳng vào bờ…

Hai chiến đỉnh cùng lúc quay thẳng mũi vào bờ đất đang có ánh lửa chớp. Với tư thế này chỉ còn có hai ụ súng 12 ly 7 trước mũi tác xạ thôi. Âm thanh vang lên mường tượng như tiếng rống của hoang thú. Đạn lửa kéo thành dây dài mờ mờ trong ánh nắng chiều. Khi còn cách bờ chừng hai chục thước Quỳnh hét trong máy 46.

– 9 đây 11… hàng ngang…

Tuấn làm theo lệnh của thuyền trưởng. Máy bên trái lùi, máy phải tiến, tay lái quay nhanh về bên phải, chiếc tàu sắt chầm chậm dàn thành hàng ngang song song với bờ đất. Bốn ụ súng nổ cùng lượt. Đại liên 50 bắn gục kẻ nào ló đầu lên hay dứng dậy. Đại bác 20 ly kềm cứng địch không cho bắn trả. M79 tự động rót vào hầm hố. Không có âm thanh nào khác hơn ngoài tiếng súng nổ liên tục của hai chiếc tàu sắt.

Đứng bên này bờ sông, qua ống kính của ống dòm, Thức và Hiến lặng nhìn bảy chục người lính vũ trang đầy đủ của mình nằm chết dí dưới hỏa lực khủng khiếp của địch. Thây người bay tung lên trời cùng với súng ống vỡ vụn. Anh dàn trận phục kích đúng nhưng chỉ có một điều sai là không ước tính được phản ứng của địch. Thay vì dạt về bờ bên phải để tránh, hai chiếc tàu sắt cắm mũi vào ngay chỗ phục kích rồi dùng ưu tiên hỏa lực bắn hủy diệt mục tiêu mà địch quân đang ẩn núp. Yếu tố tâm lý này không được ghi trong sách vở, binh thư hay những gì anh đã học. Nó là kinh nghiệm chiến trận, thứ kinh nghiệm phải trả bằng máu mới có được.

Đang ngồi nhìn vào bản đồ Thức ngước lên khi thấy Huân bước vào. Nhìn cánh tay băng bột của Huân anh cười nhẹ.

– Đồng chí khỏe chứ. Tôi mong được gặp đồng chí…

– Cám ơn đồng chí… Nhờ ơn bác và đảng nên tôi thoát chết trong cuộc phục kích của địch. Tôi chỉ bị gãy tay thôi. Tôi đọc báo cáo…

Thức giơ tay lên như ngăn không cho Huân nói tiếp.

– Hôm trước tôi có nhờ đồng chí…

Hiểu ý Huân ứng tiếng liền.

– Tôi có đưa thư của đồng chí tận tay cô Uyên nhưng chưa kịp trở lại lấy thơ thì bị tụi nó phục kích…

Hơi chồm người qua phía chỗ Thức ngồi, Huân thấp giọng.

– Tôi thấy có thằng lính thủy trong tiệm may của cô Uyên…

Thức cau mày song nín lặng không nói gì hết. Huân lại lên tiếng.

– Hai người nói chuyện có vẻ vui lắm. Cho lính điều tra tôi mới biết thằng đó tên Quỳnh. Nó là thằng chỉ huy hai chiếc tàu sắt…

Huân hơi nhếch môi cười khi thấy lửa giận hiện ra trong mắt của người đối diện.

– Đồng chí còn biết thêm gì nữa?

– Thằng Quỳnh lên nhà cô Uyên chơi hoài. Có khi nó ở cả buổi…

Thức lặng thinh như đang suy nghĩ chuyện gì khiến cho Huân cũng im lìm. Lát sau Thức mới lên tiếng.

– Đồng chí Hiến muốn gặp đồng chí để biết thêm tin tức. Tôi liên lạc với trung đoàn và sẽ gặp lại đồng chí…

Huân bỏ ra cửa. Còn lại một mình trong căn nhà lá Thức mới tỏ lộ sự giận dữ của mình. Cái tin Uyên quen biết với người khác khiến cho anh ta tức bực. Nếu nàng quen biết với ai trong làng chắc anh ta cũng không giận bằng quen biết với thằng lính ngụy. Bây giờ anh mới suy ra lý do Uyên từ chối lời cầu hôn của mình. Hóa ra nàng đã có Quỳnh. Hình dung tới cảnh Uyên ngồi cười đùa vui vẻ với người khác, mà người này lại là kẻ địch của mình; Thức giận nổ đom đóm mắt. Bây giờ anh có thêm một lý do nữa cũng quan trọng không kém lệnh của thượng cấp để bắn chìm hai chiếc tàu sắt. Giết chết Quỳnh, tình địch của mình. Thức nghiến răng. Nếu Uyên không là của anh thời nàng cũng không là của ai hết. Nếu không là vợ anh thời nàng cũng không được phép lấy thằng lính ngụy. Như vậy là phản lại nhân dân, là phản cách mạng. Kẻ nào phản lại nhân dân và cách mạng , kẻ đó phải bị thanh trừng. Thức bước nhanh ra khỏi căn nhà lá sau khi đã dứt khoát tư tưởng và lập trường.

– Quỳnh Hoa… Quỳnh Hoa đây Biên Hùng… nghe rõ trả lời…

Đang nuốt mì gói Quỳnh cầm lấy ống nói khi nghe giọng của trung úy Bình vang trong máy 46.

– Quỳnh Hoa nghe Biên Hùng…

– Tiếp liệu cho anh tới U Minh Hiệp Hòa trưa mai. Tôi cho anh nhiều hơn anh yêu cầu…

– Cám ơn Biên Hùng…

– Hổm rày anh có đụng nữa không?

Quỳnh cười hà hà.

– Nó mới bị tôi dũa tả tơi một trận nên chắc im được vài ngày…

Quỳnh nghe giọng cười vui vẻ của trung úy Bình.

– Tình báo tiểu khu cho tôi biết anh đã bắn banh càng một đại đội của tiểu đoàn 317… À quên… Tôi có lương cho anh nữa. Mai anh tha hồ nhậu…

Quỳnh cười hắc hắc trước khi dứt điện đàm với Biên Hùng. Được tin sẽ về Uyên Hưng lãnh tiếp tế và lương, nhân viên của hai tàu đều vui mừng. Ít nhất họ được ngủ yên một đêm.

Nhét khẩu Colt45 vào lưng quân, khoác thêm cái áo bên ngoài để che, Quỳnh nói với Sang.

– Mày coi chừng tàu để tao đi uống cà phê…

Sang cười cười.

– Anh đi uống trà đá phải hông…

Liếc nhanh đồng hồ Sang tiếp nhanh.

– Anh đừng ở trễ quá nghen. Coi chừng mấy thằng du kích nó rình anh đó…

– Mày đừng lo… Tao sẽ về sớm…

Nói xong Quỳnh nhảy lên bờ. Tay chạm vào khẩu súng của mình anh cảm thấy yên tâm. Khom người đốt điếu thuốc anh rảo bước thật nhanh. Giơ tay chào người lính gác cổng anh bước ra khỏi hàng rào kẽm gai. Trung úy Tiên đã nói cho anh biết lúc này địch hoạt động mạnh lắm. Đi chơi trong làng ban ngày cũng phải mang súng theo, còn ban đêm thời tuyệt đối không nên. Anh biết điều đó nhưng thấy trời còn sớm nhất là mùa hè mặt trời lặn trễ do đó mới đi lên gặp Uyên.

– Anh Quỳnh mới về…

Uyên lên tiếng ngay khi Quỳnh tới cửa. Dường như nàng đã trông ngóng và chờ đợi anh.

– Vừa mới về tới. Ăn cơm xong lên đây liền…

– Cám ơn anh. Uyên cũng… Quần áo của anh may xong rồi…

Ngồi vào chiếc ghế đối diện với bàn máy may Quỳnh cười nhẹ.

– Uyên mạnh. Sao tôi thấy Uyên có vẻ buồn…

– Dạ đâu có buồn… Chỉ tại hai ngày nay bị cảm. Bây giờ cũng chưa khỏi…

– Cảm ai vậy?

Quỳnh hỏi. Uyên liếc xéo ông lính thủy một cái rồi cười hắc hắc.

– Hổng biết… mà chắc hổng phải cảm anh Quỳnh đâu…

– Thiệt hả…

– Thiệt…

– Uyên không cảm tôi thời tôi cảm Uyên…

Quỳnh cười hì hì sau khi nói. Ngưng đạp bàn máy may Uyên ngước lên. Nàng thấy một đôi mắt đang nhìn mình chăm chú.

– Bữa nay có trà đá chanh đường uống không Uyên?

– Dạ có… Biết anh thế nào cũng lên nên pha sẵn cho anh…

– Sao Uyên biết tôi sẽ lên?

– Nghe tiếng máy nổ Uyên chạy ra coi mới thấy tàu của anh. Phải chiếc tàu có vẽ cờ vàng ba sọc đỏ trên cái cục gì tròn vo trước mũi tàu hông?

Quỳnh bật lên tiếng cười ngắn khi nghe Uyên gọi dàn radar bằng cái cục gì tròn tròn. Quẹt diêm đốt thuốc anh nhìn theo dáng đi thướt tha của nàng vào nhà sau lấy nước trà cho mình. Càng nói chuyện, càng quen biết nhiều, anh mới khám phá ra cô giáo làng của mình rất hiếu thảo với cha mẹ, siêng năng, hiền hậu, thật thà và hay giúp đỡ người khác. Tiên nói cho Quỳnh biết là đa số lính trong đồn đem quần áo ra sửa, Uyên chỉ lấy phân nửa giá hoặc đôi khi không lấy tiền. Bởi vậy lính tráng và gia đình của họ ai ai cũng quí mến nàng, ngay cả khi biết nàng có liên hệ với mặt trận. Nói đúng ra thời nhiều người trong làng cũng có liên hệ hoặc liên lạc với mặt trận. Sống trong vùng mà sáng quốc gia, tối vẹm thời dân chúng phải tùy thuận, nắng chiều nào che chiều đó.

– Pha cho anh ly trà đá đặc biệt đó nghen. Trà Bảo Lộc đó… Uyên mới đi ra tỉnh về hôm kia. Mua bịch trà bự để dành pha trà cho anh… Có thêm kẹo đậu phọng nữa…

Vừa cười nói Uyên vừa nhìn Quỳnh với ánh mắt long lanh. Ông lính thủy im lặng uống trà như để thưởng thức mùi vị.

– Ngon… Mai mốt Uyên phải pha trà ngày ba cử nghen… Ghiền nặng rồi…

Cô gái bật cười hăng hắc.

– Chừng nào anh Quỳnh đi?

– Mai… Tôi về đây lãnh lương để trả tiền sửa quần áo cho Uyên…

– Hổng lấy đâu… Uyên đã nói trước rồi mà…

Thấy Quỳnh mở miệng định nói nàng nói tiếp trong tiếng cười hắc hắc.

– Anh để dành tiền mai mốt cưới vợ…

Quỳnh bật cười.

– Uyên chắc biết bài ca dao: ” Hôm qua tát nước đầu đình? ”

Ửng hồng đôi má Uyên cười nói nhỏ.

– Biết…

– Uyên có chịu như vậy thời tôi mới không trả tiền…

Lắc đầu quầy quậy Uyên cười nói lảng sang chuyện khác.

– Anh Quỳnh lãnh lương một tháng bao nhiêu?

– Hỏi chi vậy?

– Coi có đủ nuôi người ta không mà đòi… Anh Quỳnh hút thuốc còn hơn khói tàu thời tiền đâu nuôi vợ con…

– Bỏ hút thuốc…

– Xạo… hổng tin đâu…

Uyên cười hắc hắc. Thấy Quỳnh liếc đồng hồ nàng hỏi.

– Còn sớm mà… Với lại từ đây tới cổng đồn có mấy bước. Anh chạy cái vù là tới đồn…

Gật đầu Quỳnh quẹt diêm đốt thuốc. Hít hơi dài, quay mặt ra cửa nhả khói xong anh mới lên tiếng.

– Ủa cô Hưng đi đâu rồi?

– Con Hưng với ba má ra tỉnh chơi mai mới về… Lúc này cũng hơi bớt người đặt may quần áo… Anh Quỳnh kể cho Uyên nghe chuyện gì đây…

Quỳnh cười cười hớp ngụm trà nóng chanh đường trong lúc Uyên từ từ xếp quần áo lại cho ngay ngắn.

– Uyên thích bông hoa?

– Dạ thích ngắm chứ hổng có thích trồng…

Trả lời xong Uyên cười thánh thót. Hít hơi thuốc dài Quỳnh gật gù.

– Tôi kể cho Uyên nghe một truyện về hoa lan…

Cúi đầu nhìn xuống bàn máy may, mắt lim dim, Uyên nghe giọng nói trầm, buồn của Quỳnh cất lên trong ngôi nhà im vắng…

– Mấy mươi năm về trước, du khách ở vùng Thanh Hóa thường khi đi qua chỗ bến đò Ái Sơn, về hữu ngạn con sông Mã, nhận thấy ở vệ đường tay mặt một khoảnh vườn độ bốn năm sào, xung quanh trồng toàn một thứ tre đằng ngà.

Đáng chú ý nhất là cái cổng kiến trúc theo lối cổng bên Phù Tang hải đảo. Nếu khách biết chữ Hán và đọc được chữ thảo Bát hiền đại chủ đời Thanh, thời khách nhận thấy ba chữ tên biệt thự viết phỏng theo lối chữ Tăng Quốc Phiên. Trên cái nền bằng gỗ lim sơn màu ” cấn rượu “, ba chữ thếp vàng ” Túy Lan Trang ” như hoạt động trên miếng bạch thạch cẩn vào gỗ đỏ.

Chủ nhân ” Túy Lan Trang “, một vị hưu quan, từ ngày được nộp lại triều đình chiếc ấn vàng, lui về chỗ huê viên, thường để hết thời giờ vào việc vun trồng, chăm chút một thứ lan rất quý, tìm tận ở Yên Tử sơn, hồi còn tại chức nơi tỉnh Đông ngoài Bắc. Hoa xưa kia, quen cái khí hậu nơi đỉnh núi cao; nhất đán hoa về nơi đồng bằng, hoa không khỏi một phen rầu rĩ với ngày nắng hạ, đêm sương thu chỗ xứ lạ mà lá úa giò gầy. Sớm, chiều hai buổi thăm hoa, chủ nhân lan viên chỉ lo hoa kia chẳng ở mãi với mình, mà cái công ngàn dặm chọn đất lành bọc cỏ quý quảy về quê hương sẽ lấy chi đền chuộc lại. Sau một hồi tàn tạ giữa lan viên, hoa lại bắt đầu cười với gió xuân về. Thoảng mùi lan đượm, ngắm lá lan xanh rờn trên mấy hàng chậu sứ túy lan lớp đất phủ lần vỏ sò cùng hòn cuội trắng, chủ nhân như sống một cảnh đời mới. Rồi lan kia như cảm tình người tri kỷ, ngày một thêm hoa và chả mấy chốc chủ nhân phải lùi lầu trang về một mé huê viên, nhường nơi đất tốt cho cỏ quý nẩy ngọn thêm cành.

Chủ nhân lấy luôn tên giống lan đặt làm tên biệt thự, ngụ cái ý yêu hoa và tỏ cho khách qua đường biết vườn nhà đầy cỏ lạ.

Nhớ đến lời sư cụ chùa Quỳnh Lâm vùng tỉnh Đông dặn lại sau khi cho giống lan, mỗi bận xuân về, sớm sớm, chủ nhân lại phải cho cả vườn Túy lan say với hơi rượu thời cái vương giả hương ấy mới còn ở với người thế gian. Ngày xuân phải bón lan bằng hương rượu, chủ nhân rất lấy làm sung sướng được gần vùng cất rượu ngon có tiếng ở châu Thang là làng Vĩnh Trị. Ái Sơn đối ngạn Vĩnh Trị và đứng ở Túy Lan Trang trông rõ đê làng Vĩnh Trị. Những buổi sớm mùa xuân, mặt nước con sông Mã phẳng lặng như tờ, lại lăn tăn làn sóng nhỏ do mái chèo đập làn nước của một chiếc thuyền nan bơi từ bến ái Sơn sang bến làng Vĩnh Trị. Bọn người sinh nhai chỗ duyên giang, dậy sớm đứng trên mạn thuyền để thở cái không khí trong sạch bình minh vui cười bảo nhau:

Lại thuyền cô chiêu Tần bên Túy Lan Trang qua Vĩnh Trị lấy rượu cho hoa!

Phải, cô chiêu Tần, con gái ông chủ vườn Túy Lan Trang đi lấy rượu về bón huê đấy!

Quan án Trần, vì thích chơi hoa, phải giảm những sự chi dùng trong nhà để có đủ tiền đặt thứ ” rượu khê ” cho hoa lan, trị giá hai quan một vò bên làng Vĩnh. Mà mỗi sớm, chèo thuyền đi lấy rượu theo lời cha dặn, cô chiêu Tần đã diễn ra trên dòng nước sông Mã một cái cảnh tượng giống như trong tranh thủy mặc của người Tàu. Một người con gái mà cái dáng điệu dịu dàng đã in theo khuôn nhịp chốn đài trang, tóc búi cánh phượng, áo mặc rộng tay màu thiên thanh, chân đi dép cỏ mà lại thực hành một cái ý nghĩ chan chứa màu thơ – ngày xuân cảnh sớm, bơi thuyền lấy rượu cho hoa – đủ làm cho lãng tử được thấy cái đẹp ấy phải đưa mình vào mộng…

Quỳnh ngừng lại đúng lúc Uyên ngước lên. Hai người lặng nhìn nhau giây lát rồi sau đó Uyên đứng dậy.

– Anh Quỳnh chờ Uyên đi gài cửa sau lại. Uyên ở nhà một mình sợ ma…

Quỳnh cười gật đầu.

– Người hổng sợ mà lại sợ ma…

Uyên đi mang theo tiếng cười. Vài phút sau nàng trở ra trên tay cầm dĩa kẹo đậu phọng. Hai người vừa ăn kẹo vừa cười đùa vui vẻ. Nuốt miếng kẹo, uống ngụm nước trà cho thông cổ Quỳnh cất giọng trầm khàn kể tiếp câu chuyện.

– Vươn mình trên con ngựa bạch tuấn, cậu ấm Hai ghì cương, xuống yên, buộc ngựa vào gốc thùy dương, rồi đi tản bộ đến một cái quán dựng trên đê. Ngồi trên bệ đắp bằng đất sét, cậu ấm Hai như chờ đợi một người và muốn giết thời giờ, luôn tay phe phẩy cái roi ngựa làm bằng cành liễu khô bẻ ở cổng huyện Đông Sơn là nơi người cha ngồi chức Huyện úy. Cậu ấm Hai ngồi chờ cô chiêu Tần đi lấy rượu về. Ngồi đợi người yêu lâu quá sức đợi và khi cúi mặt nhìn nền mặt đất chực chỗ quán nước, cành liễu khô đập luôn luôn vào đôi má chiếc giày tàu bằng nhung đen đế gai xe tám sợi, không đủ cho người quên hết những ý nghĩ về thời gian một khắc một chầy, cậu ấm Hai lại cất mình lên ngựa cho khuây khỏa nỗi lòng khi vắng bạn. Con bạch tuấn được lỏng cương vế, cũng uể oải lê bốn vó trên đường. Vó câu một bước lại dừng, con bạch tuấn còn mê man những đám cỏ non của ngày xuân phủ kín mặt đê dài. Rồi vẳng tiếng hát nơi đầu sông đưa lại. Cậu ấm Hai nhận thấy được tiếng người quen, gò đôi cương nâng cao đầu ngựa trắng; lỏng tay buông tay khấu, lần bước dặm đê, ngựa đã từ từ đi xuống nơi dốc chỗ bến đò. Cậu ấm Hai, cô chiêu Tần cùng nhau thi lễ: người xuống ngựa, khách dừng chèo, nơi giang đầu lại có cái cảnh tượng như hệt cảnh tả trong bài thơ của Bạch Lạc Thiên.

– Xin lỗi công tử đã dầy công chờ tiện nữ. Dưới Nguyệt viên vào đám, đặt nhiều rượu ở bên Vĩnh Trị, nên hôm nay qua lấy rượu cho lan phải đợi lâu. Vậy công tử sang bản trang từ bao giờ?

– Án từ nơi huyện đã xong nên bữa nay gia nghiêm muốn qua Túy Lan Trang xem hoa nở. Gốc trầm Quảng Nam buộc ở đầu ngựa này sẽ dùng để đốt lên trong khi lệnh nghiêm và gia nghiêm cho phép tiểu sinh ngồi trì hồ.

– Quan Lệnh doãn cho công tử mang trầm qua Túy Lan Trang như mỗi lần hội diện cùng gia nghiêm, thời bên bàn rượu, trước những giò lan nở, tiện nữ lại một phen được nghe lại tiếng đàn thập lục của công tử…

Quan Lệnh doãn huyện Đông Sơn là bạn thân và là khách quý của quan án Trần bên Túy Lan Trang. Ngày còn làm kẻ thư sinh, hai ông già ấy, đã cùng thi một trường, thụ giáo một thày và xuất thân cùng một hội. Sóng nước bể hoạn, tuy không làm chìm đắm nổi khách công danh trong khoảng mấy chục năm trời, nhưng cũng đã làm cho hai người đòi phen tơ tưởng lúc xa nhau. Hoạn hải từ ngày thuyền buộc bến, quan án Trần về ở Túy Lan Trang, cho là một cái diễm phúc được vui tuổi già gần người cố hữu. Rồi muốn cho cái tình thân ấy được thân hơn một bực nữa, đôi bạn già ngỏ ý cho nhau rõ rằng sẽ đi lại với nhau bằng cái tình thông gia gây nên bởi cuộc phối hợp nay mai của hai trẻ. Đều là người hiểu rõ cái lẽ sự vật trên thế gian, hai ông già không chịu uốn mình theo lề thói giả dối và thực hành cái luân lý khổ khắc với đôi trẻ thơ. Cho nên còn ở cái thời kỳ vị hôn phu và vị hôn thê mà cậu ấm Hai cùng cô chiêu Tần thường được gặp nhau và trò chuyện. Nếu cuộc đời cứ theo cái nhịp êm đềm mà đưa đôi già, đôi trẻ ấy đi với ngày lụn tháng qua, thời chân hạnh phúc của con người ta, tạo hóa có lẽ dành riêng cho nhà họ Trần và nhà quan Lệnh doãn Đông Sơn. Lạc thú hai gia đình ấy ví có thời mé lầu Túy Lan Trang bày chi thiên lệ sử; khách tài tình phỏng ngàn năm không để giận thời giống lan kia, còn cợt mãi gió xuân về! Nếu hầu hết những hạnh phúc đều giống nhau ở chỗ ấm cúng, êm đềm, đầy đủ thời mỗi nghịch cảnh lại có bộ mặt riêng tùy theo cái đau đớn của người trong cuộc…

Uyên ngồi im nhìn ra cửa. Hàng cây trứng cá trở thành xanh đậm vì ánh mặt trời đã tắt. Tiếng trẻ con đùa giỡn không còn nữa. Không khí nhuốm chút quạnh hiu và buồn bã. Quỳnh ngưng kể chuyện vì bận ngắm khuôn mặt của cô gái đang ngồi đối diện. Hàng mi cong cong. Chiếc mũi thẳng. Hai gò má hơi cao. Miệng nhỏ hình trái tim. Đôi môi hồng tự nhiên. Chiếc áo bà ba trắng cổ hình trái tim. Mái tóc dài đen xỏa xuống lưng. Hai màu tương phản tạo nên hình tượng sống động nhờ ánh mắt long lanh sáng lên trong căn nhà sắp tối.

– Trời đã tối… Anh Quỳnh nên đi về… Rủi có gì…

Liếc nhanh ra ngoài đường thấy trời tôi tối, Quỳnh giơ tay xem đồng hồ thấy cây kim giờ chỉ số 8 còn cây kim phút chỉ số 12, Quỳnh nhẹ cười.

– Mới có 8 giờ. Sắp tới lúc lâm ly và gay cấn rồi… Để tôi kể hết cho Uyên nghe…

Uyên gật đầu cầm ly nước trà lên uống ngụm nhỏ. Tằng hắng Quỳnh cất giọng.

– Năm Ất Dậu, đời vua Đồng Khánh…

Cạch… Cạch… Cạch… Vừa kể tới đó Quỳnh chợt ngưng lại. Uyên quay đầu nhìn về phía nhà sau khi nghe tiếng gõ cửa vang lên. Tiếng gõ cửa mạnh hơn và gấp gáp hơn. Uyên nhìn Quỳnh và thấy anh cũng đang nhìn mình.

– Uyên ơi… Mở cửa… mở cửa… Anh đây… Thức đây Uyên ơi…

Uyên thấy Quỳnh có cử chỉ khác lạ khi nghe người ở ngoài kia xưng tên Thức. Bàn tay của anh tự động bỏ vào trong áo khoác đồng thời nét mặt có vẻ căng thẳng và hơi thoáng lo âu.

– Uyên ơi mở cửa… Anh Thức đây Uyên ơi…

Uyên đứng bật dậy. Bước qua chỗ Quỳnh đang ngồi nàng thì thầm vào tai anh.

– Anh vào phòng của Uyên đi… Lẹ lên…

Thấy Quỳnh hơi ngần ngừ nàng nắm tay anh lôi tuột vào phòng rồi chỉ xuống chiếc giường trống bề bộn mền gối. Hiểu ý Quỳnh nằm xuống kéo mền trùm kín. Uyên bước ra. Nằm im Quỳnh vừa hồi hộp và lo âu. Anh nghe tiếng cửa mở, tiếng nói chuyện lao xao xen lẫn tiếng cười nho nhỏ. Thật lâu mới có tiếng mở cửa rồi sau đó im lặng. Tiếng chân bước nhẹ vào phòng.

– Anh Quỳnh…

– Tôi đây…

Quỳnh kéo mền xuống. Trong bóng tối mờ mờ anh thấy bóng người đang đứng cạnh giường ngay chỗ mình đang nằm. Uyên nhìn người lính đang nằm trên chiếc giường ngủ của mình. Nàng có thái độ lo âu, băn khoăn và do dự như bị du vào tình cảnh khó giải quyết. Tiếng của Quỳnh thì thầm cất lên trong bóng tối mờ mờ.

– Họ đi rồi hả Uyên?

– Dạ đi rồi…

– Anh về tàu…

Quỳnh nói trong lúc ngồi dậy. Uyên kêu nhỏ với chút hốt hoảng.

– Không được đâu anh ơi… Anh đi ra lúc này là họ bắt anh liền… Với lại cổng đồn đã đóng rồi…

Quỳnh cười trong bóng tối.

– Không sao đâu… Lính trong đồn họ biết mặt anh…

Do dự giây lát Uyên mới thì thầm.

– Uyên nghĩ… Chắc anh phải ở lại đây đêm nay… Uyên…

Hiểu ý Quỳnh lên tiếng.

– Anh ở lại đây cũng không tiện cho Uyên…

– Uyên biết nhưng anh đi về giờ này nguy hiểm lắm…

Không đợi Quỳnh hỏi, Uyên từ từ nói cho anh biết là lính của mặt trận đã bí mật về làng dò xét tình hình. Dường như họ muốn làm việc gì đó rất quan trọng mà nàng không biết.

– Thức là ai vậy Uyên?

Quỳnh hỏi một câu mà anh đã biết câu trả lời. Tuy nhiên anh vẫn hỏi vì muốn biết Uyên có thành thật với mình không.

– Dạ…

Uyên ngập ngừng. Quỳnh nghe được tiếng thở dài của nàng.

– Dạ… Thức là bạn của Uyên lúc hai đứa còn đi học trường tỉnh. Đang học năm đệ tam Thức bỏ học tham gia mặt trận. Anh ta thương Uyên và muốn lấy Uyên làm vợ…

– Uyên bằng lòng?

Uyên thở dài. Quỳnh nghe tiếng thở dài của nàng thật buồn.

– Lúc đầu Uyên cũng bằng lòng nhưng từ khi…

Quỳnh nghe tiếng nói của Uyên vang lặng lẽ trong bóng tối.

– Khi gặp anh thời Uyên thấy mến anh nhiều hơn…

Quỳnh đưa tay ra nắm lấy tay Uyên bóp nhè nhẹ. Nàng cũng để yên không rụt tay lại. Có tiếng muỗi vo ve và gió rì rào cành cây so đũa bên ngoài cửa sổ.

– Anh phải ở lại đây cho tới sáng. Anh đi về là bị họ bắt liền…

– Uyên dám chứa anh hả?

Quỳnh cười khẽ sau khi hỏi. Uyên cũng cười thành tiếng nhỏ.

– Hổng dám chứa cũng phải chứa… Mai mốt chắc Uyên không dám đòi anh kể chuyện cổ tích cho Uyên nghe nữa…

Ngừng lại giây lát nàng tiếp bằng giọng nghiêm nghị.

– Để cho họ bắt anh là Uyên sẽ ân hận suốt đời…

Quỳnh xiết chặt bàn tay của cô gái. Hai người im lặng thật lâu Uyên mới lên tiếng.

– Anh ngủ bên giường của Uyên đi. Còn Uyên ngủ giường của ba má… Anh kể tiếp chuyện Túy Lan Trang để ru Uyên ngủ đi anh Quỳnh…

Nằm trên giường, mũi ngửi được mùi hương thoang thoảng, Quỳnh cảm thấy tâm hồn thật thanh thản và bình yên. Giọng nói của anh cất lên nhẹ như tiếng thì thầm.

– Vùng Hoan Ái phải qua cơn binh lửa gây nên bởi loạn Văn Thân. Cũng có người lấy danh nghĩa mà dúng tay vào công cuộc phá hoại; nhưng vứt đâu cho hết những kẻ lợi dụng thời cuộc, làm cho thỏa thích lòng dục trong lúc giao thời trắng đen không tỏ rõ. Cái thời loạn! Mà thời loạn thời trai thời loạn chứ sao? Cô chiêu Tần sống vào buổi non sông mờ cát bụi, đã đành trông ngóng cái thời bình. Cậu ấm Hai gặp lúc loạn ly, không những không có thủ đoạn của kẻ làm trai thời loạn, mà còn tỏ cho người thời ấy biết rằng một kẻ thư sinh chỉ có cái tâm hồn lãng mạn là một người chọn lầm thế kỷ. Chọc trời khuấy nước, trong khi người ta ham chuộng cái sức khỏe mà chỉ biết có ngón đàn, hiểu có hồn hoa, thời ở tâm người tài tử, buồn, tủi, cực đến dường nào! Trước những cái tin máu, xương thành sông núi, trăm họ bị làm cỏ, hai trái tim thơ ngây, của cô chiêu Tần và cậu ấm Hai, đều đập chung một điệu hãi hùng. Riêng về phần quan án Trần, thời thân già đã không lấy làm quan tâm đến vóc xương khô, còn những lo cho hoa, làm sao ngăn nổi gót chân đám người ô hợp nếu một mai chúng tràn đến.

Quan Lệnh doãn Đông Sơn lo việc tuần tiễu quân nghịch cũng thưa đi lại trên quan án Trần. Nơi Túy Lan Trang, hoa thường vẫn nở, người thường vẫn không chểnh mảng việc vun xới cho hoa mà chỗ lan viên lần lần như đã thấy cảnh điêu tàn. Không phải tại người, không phải tự hoa; chỉ tại cái không khí nặng nề của thời loạn phảng phất trên chỗ hoa viên.

Một đêm kia, về quãng cuối năm Bính Tuất, mưa tuôn rả rích, gió thổi vù vù, một cái đêm đông đầy những sự bí mật tối đen.

Cô chiêu Tần, kinh động mở mắt dậy. Mé lầu trang lửa đỏ ngất trời. Tiếng người đi lại nhộn nhịp. Tiếng người quát tháo dữ dội. Họ nhét giẻ vào miệng cô chiêu Tần, rồi vực đi. Chỗ bến đò Ái Sơn, bốn chiếc thuyền từ từ dời bến. Đứng trên mui thuyền có tiếng người con gái gào khóc, một người vạm vỡ mặc quần áo đen, quấn khăn đầu rìu, tay cầm một cây ” hồng ” đốt bằng giẻ tẩm dầu, soi sáng quắc mặt nước con sông.

Bên Túy Lan Trang, lửa vẫn đỏ ngọn mà tịnh không ai cứu hỏa. Tre và gỗ chỗ lầu trang thi nhau mà cháy trước những ngọn lửa xanh lè liếm quanh loài thảo mộc. Lúc mà ngọn lửa đám cháy không soi rõ những đám lan xanh rờn trên chậu sứ, thời canh đã sang tư. Đêm tăm tối buông một bức màn bí mật, lạnh lẽo lên trên chỗ hoa viên tàn tạ. Chỗ đầu sông, đàn đóm lập lòe nơi bến nước, gió đêm vi vút bãi lau già!

Sớm hôm sau, các người ở vùng đấy, ngồi triết lý suông, giữa hai ngụm nước chè tươi nơi quán:

– Quan án Trần cũng vì bị kinh động, cảm xúc mạnh quá mà chết. Cô chiêu Tần, thuyền cướp mang đi. Cái biệt thự kia bị cháy ra tro. Cho hay sống vào thời loạn, cái phú quý và cái sắc đẹp cũng nhiều khi là cái mầm vạ lớn.

Từ khi lan vắng chủ, từ khi hoa không người nâng giấc, giống cỏ quý kia cũng quyết tạ theo tri kỷ, thề không ở lại với thế gian. Vả chăng người giai nhân đã đi, cái hào hoa cũng tận. Cái thuật cất ” rượu khê ” bên làng Vĩnh Trị, cũng không ai truyền lại cho ai nữa, để lại một mối tiếc cho ” làng men ” mỗi khi nhắc tới cái phong vị hồi cận đại.

Sau cái đêm dữ dội ấy, cây cỏ nơi Túy Lan Trang đều một loạt ủ rũ như để tang cho người thiên cổ. Tơ liễu khóc mưa, tóc tùng reo gió, bóng tre lìa bụi, đều ngậm một cái tình buồn trước cái hương trời lăn lóc khoảnh vườn hoang. Lan đã biết tạ chủ, thời cỏ cây kia há kém ai!

Để lại bên sông một khoảnh đất cao hơn mặt ruộng, đứng xa trông như một cái gò phát bằng ngọn, ngày nay, Túy Lan Trang chỉ còn là một chỗ đi về của đám mục đồng. Tụi trẻ kia không biết kính trọng cái âm phần của giống Túy lan khi yên giấc sau lúc tạ chủ, cho trâu bò giẫm nát cả mồ hoa!

Thiên ” thảm sử Túy Lan Trang ” cũng đi theo với thời gian và bị xóa nhòa trong trí nhớ người đồng thời. Ngày nay du khách đi qua vùng Ái Sơn đất Thanh Hóa, nghe thấy những danh từ ” Gò Lan Tạ ” và ” Quán Cậu Hai ” phải hỏi mãi mới ra nghĩa cũ. Gò Lan Tạ là nền tảng Túy Lan Trang và là cái nơi vùi hoa lan; Quán Cậu Hai là nơi cậu ấm Hai nghỉ ngựa trước khi gặp người ngọc chỗ lầu trang, vẫn hết sức giơ cái thân tàn chịu lấy cái gió mưa nơi đầu bến. Gò, quán kia đã ghi vào trong tâm trí khách chơi hoa một cái kỷ niệm buồn rầu. Vườn xuân lan tạ chủ; đàn đóm lập lòe nơi bến nước mà gió đêm vi vút bãi lau già…

14

– Hù…

Đang lom khom sắp xếp lại mấy cây thuốc lá và bánh kẹo trong hộc tủ kính, Hy giật mình khi nghe tiếng hù thật lớn bên tai của mình. Ngước lên nàng cười hắc hắc nói với người đã hù mình.

– Anh không hù Hy được đâu… Hy thấy anh mà làm bộ đó…

– Xạo không nè…

Hy cười hắc hắc.

– Thiệt mà… Hy thấy anh từ ngoài đường…

Quỳnh gật đầu im lặng. Mới xa nhau chừng ba tháng mà anh thấy cô bé lớn hẵn ra và trông có vẻ chững chạc hơn.

– Anh mới về hả?

– Mới về hồi xế chiều và sáng mai lại đi…

Hy im lặng quan sát Quỳnh. Ông lính thủy của nàng khác lạ nhiều hơn so với ngày mới gặp nhau. Da mặt xạm đen vì nắng mưa sương gió. Ánh mắt quầng thâm của nhiều đêm mất ngủ. Khuôn mặt hốc hác. Bộ quân phục cũ. Nụ cười không còn tươi vui như xưa. Giọng nói khàn. Chút ưu tư thấp thoáng trong ánh mắt mỏi mệt.

– Anh mạnh không?

Quỳnh gật đầu.

– Mạnh… có điều mệt… Còn Hy?

– Dạ em vẫn bình thường…

– Anh có cái này cho Hy…

Quỳnh đặt lên mặt bàn kính hai cuốn sách còn mới tinh.

– Anh về Sài Gòn hả?

Quỳnh lắc lắc đầu.

– Anh nhờ một nhân viên dưới tàu mua dùm. Anh không có về nhà…

– Vậy chứ ba tháng nay anh ở đâu?

Quỳnh mỉm cười vì câu lục vấn và nhất là nét mặt hờn mát của Hy.

– Ở Uyên Hưng… Cũng không xa lắm mà không về thăm Hy được. Có giận, có buồn anh không?

– Hông…

Hy trả lời gọn. Điều đó chứng tỏ cô bé có chút buồn phiền hay giận hờn.

– Anh xin lỗi… Tình hình chiến trận lúc này sôi động lắm nên anh không có giờ nghỉ…

Quỳnh giải thích dù biết Hy không hiểu hoặc không tin những gì mình nói. Anh cũng không hy vọng cô học trò thông cảm cho mình.

– Hy không giận anh đâu. Buồn chút chút thời có. Hy biết anh là lính mà… Buồn đem mấy quyển sách anh cho đọc đi đọc lại…

Nhìn Quỳnh, cô bé cười tiếp.

– Anh hơi ốm và đen thui…

Quỳnh cười cười nhìn quanh quất tiệm tạp hóa.

– Tại anh dang nắng suốt ngày. Ăn ngủ thất thường ốm đi… Anh thấy Hy lớn lên… Mai mốt chắc cao bằng anh rồi…

Hy cười chúm chiếm. Nàng có vẻ thẹn thùng lẫn sung sướng vì được Quỳnh khen mình đã không còn con nít nữa.

– Hôm nay thứ mấy hả Hy?

– Dạ thứ bảy… Hổng có đi học nên Hy coi tiệm cho má…

Quỳnh gật gật đầu. Cúi nhìn vào mặt kính giây lát anh mới chìa ra miếng giấy khổ tập học trò.

– Đây là những thứ anh cần mua… Hy lựa dùm anh rồi bỏ vào cái túi quân trang này…

Quỳnh đưa cái túi quân trang ra. Hy cười hắc hắc.

– Anh ăn gì mà nhiều vậy…

– Mua để dành mà… Lâu lắm anh mới được ra tỉnh…

Hy cầm miếng giấy đi dần về phía dãy kệ dọc theo vách. Quỳnh im lặng nhìn theo. Anh nhận thấy cô bé gầy đi một chút nhờ vậy mà thoạt nhìn cao hơn. Mái tóc đen dài bóng mượt xỏa xuống lưng chừng trên chiếc áo bà ba trắng ngắn tay. Chiều xuống chậm, hắt chút ánh nắng vàng vọt vào tận cửa, song cũng không làm sáng thêm bên trong vốn bị che khuất bởi mấy chiếc kệ bày đầy các thức ăn khô và bánh mứt.

Hy trở lại. Hai tay ôm năm bịch lạp xưởng đặt lên mặt bàn kính rồi bước tới gần cửa lấy thùng mì gói. Cứ mỗi lần lấy được một món nàng lại trở lại chỗ Quỳnh đứng, cười với anh, đặt món hàng lên rồi đi lấy món khác. Trong lúc đi lấy hàng nàng liếng thoắng hỏi chuyện.

– Anh Quỳnh đi lính lâu chưa?

– 7 năm…

– Anh thích đi lính không?

Hít hơi thuốc thật dài Quỳnh cười cười.

– Không thích cũng phải thích…

– Đi lính hải quân chắc khỏe hơn lính bộ binh hả anh?

– Tại sao?

Hy cười hắc hắc quay đầu lại nhìn Quỳnh đang tựa người vào tủ kính.

– Khỏi đi bộ… đi bộ mệt và dơ…

Quỳnh bật cười tiếng ngắn khi nghĩ tới câu ” cu dính dầu đầu dính mỡ ” của Tuấn. Tuy nhiên anh không tiện nói ra với cô bé còn ngây thơ như Hy.

– Anh Quỳnh thích ăn kẹo đậu phộng không?

– Thích… Hy có à?

– Dạ có… Hy bao anh phong kẹo nghen…

Quỳnh lắc đầu rút điếu thuốc lá. Quẹt diêm đốt thuốc xong anh mới trả lời.

– Không… Anh mua thời anh ăn còn Hy bao thời anh không ăn…

Bật cười Hy kêu lên với giọng nhõng nhẽo của cô em gái nói với anh trai.

– Sao anh kỳ vậy… Người ta bao mà lại không chịu…

Hít hơi thuốc Quỳnh cười nói trong lúc nhả khói ra từ từ.

– Hy còn đi học mà làm gì có tiền. Đừng lấy tiền của má… Bị đòn đó…

Hy ré lên cười hăng hắc. Tay cầm phong kẹo đậu phọng đi trở lại chỗ quầy hàng, cô bé cất giọng nói nghiêm trang của người lớn. Nghe giọng nói tập làm người lớn cũng như nét mặt bà cụ non của cô bé, Quỳnh muốn bật cười song cố dằn vì sợ cô bé sẽ giận dỗi.

– Sợ Hy còn có nhiều tiền hơn anh…

– Xạo… Tiền đâu mà có…

– Để dành… Gói kẹo đậu phộng có mấy đồng mà…

Nói xong Hy xé giấy bẻ miếng kẹo làm đôi rồi ấn vào tay Quỳnh.

– Anh ăn đi… Hổng ăn Hy giận hổng chơi với anh nữa…

Cầm lấy miếng kẹo Quỳnh đưa lên miệng cắn một cái. Nhai nhai anh gật gù.

– Ngon… Hy lấy cho anh mấy bịch đi. Thức khuya mà có kẹo này nhai đỡ buồn ngủ. Với lại ăn kẹo để…

Quỳnh bỏ lững câu nói của mình. Ý của anh muốn nói ” để nhớ Hy ” nhưng nghĩ sao lại thôi. Hít hơi thuốc, nhả khói ra xong anh mới hỏi.

– Hy còn cái gì ngon nữa không?

– Còn… Hy lấy cái này bảo đảm anh sẽ thích…

– Cái gì?

– Hột vịt muối…

Quỳnh hít hà trong lúc nhai kẹo.

– Ừ… Hột vịt muối ăn với cháo trắng buổi sáng thời hết sẩy… Hy lấy cho anh nhiều nhiều đi…

– Anh muốn bao nhiêu?

Quỳnh đưa năm ngón tay lên. Hiểu ý Hy đi lấy năm chục hột vịt muối, bỏ vào cái bọc bằng giấy cẩn thận rồi mới bỏ vào túi quân trang. Dụi tàn thuốc vào cái gạt tàn Quỳnh nói nhỏ.

– Anh phải đi…

Hy gật đầu. Nhấc túi quân trang lên Quỳnh cười.

– Không biết bao giờ anh trở lại. Hy ráng chờ nghen… Khi nào về anh sẽ chở Hy đi núi chơi…

Ngừng lại anh nhìn vào mặt cô bé đang đứng sau chiếc quầy kiến. Hy thấy ánh mắt buồn của người lính thủy.

– Anh vẫn nhớ lời hứa đưa Hy đi chơi núi Bửu Long…

Khẽ gật đầu Hy đứng im nhìn theo Quỳnh đi ra cửa. Nàng cảm thấy mắt mình cay cay khi nghĩ chắc còn lâu lắm mới gặp lại anh. Mân mê hai cuốn sách còn mới tinh trong tay nàng lật trang đầu tiên của quyển Mùa Hè Đỏ Lửa.

20 giờ. Trăng mùng 8 buông từng giọt dài ánh sáng xuống mặt sông rộng, gặp hơi nước bốc lên làm thành làn sương mù mỏng manh bay lờ lửng trong khoảng không gian im vắng. Gió man mát. Hai chiếc tàu cặp nhau buông neo trên sông cách ngã ba Uyên Hưng chừng hai ô vuông. Mười một nhân viên của hai chiến đỉnh lớp ngồi phệt trên sàn tàu, lớp ngồi nơi ụ súng còn lớp đứng hoặc ngồi vào chỗ nào mà họ kiếm được nơi mũi của chiếc Alpha 11. Tiếng cười khặc khặc, hăng hắc lẫn với giọng nói khào khào và tiếng sè sè của máy 46 tạo thành âm thanh hổn độn. Được nghỉ xả hơi tại vùng công tác do đó Quỳnh bàn với Ánh bỏ neo để ăn uống và vui chơi một đêm. Thức ăn, uống cũng đạm bạc và giản dị. Mì gói làm chuẩn. Cộng thêm cháo trắng với hột vịt muối và thêm món đặc biệt là lạp xưởng ăn với gạo xấy.

– Mình nhậu với cái gì hả anh?

Tuấn hỏi Quỳnh sau khi ăn xong tô cơm lạp xưởng. Cười khặc khặc Chơn lên tiếng trước khi thuyền trưởng trả lời.

– Mày uống nước trà cũng sỉn mà hở chút đòi nhậu. Mình chỉ uống nước trà ăn kẹo…

– Kẹo gì?

Tuấn hỏi gọn. Quỳnh lên tiếng.

– Kẹo đậu phọng chứ kẹo gì?

Tuấn cười hắc hắc.

– Tôi chỉ sợ ăn kẹo đồng của Vẹm chứ kẹo đậu phộng thời bao nhiêu cũng được…

Từ trong phòng lái bước ra nghe Tuấn nói, Kỳ kê tủ đứng liền.

– Mỗi người chỉ có một miếng… Mày muốn ăn nhiều thời kiếm kẹo đồng của vẹm mà ăn…

Chơn cười ha hả khi thấy nét mặt tiu nghỉu của Tuấn.

– Chừng nào mình mới hết biệt phái hả anh?

Ánh hỏi Quỳnh. Đưa gói thuốc ra mời Ánh, Quỳnh cười cười.

– Chắc tới tết Congo mình mới về lại đơn vị. À tao có tin vui cho mày…

– Tin gì. Nghỉ phép hả?

Hít liên tiếp hai hơi thuốc Quỳnh chậm chạp lắc đầu.

– Hổng phải đi phép. Mày được lên chức thuyền trưởng…

Ánh thở dài sườn sượt sau khi đốt điếu thuốc.

– Lên lương thời tôi mới mừng chứ lên chức thuyền trưởng tôi hổng ham chút nào. Cực như chó mà có thêm cắc bạc nào đâu…

Sang cười hì hì xen vào.

– Bảnh nghen mậy… Mai mốt mày có hy vọng đội kết như anh Quỳnh…

Đưa tay lên chào Ánh, Kỳ chêm vào một câu nói giỡn.

– Dạ em chào thuyền trưởng… Thuyền trưởng cho em đi ba ngày phép đặc biệt vì vợ em có bầu sắp sanh…

– Xạo mày… Mày chữa vợ mà vợ có chữa hồi nào… Thằng ba trợn như mày ai mà dám lấy…

Sang phang một câu dài sọc. Nó với Kỳ cùng khóa song lại không ưa nhau nên có dịp là tìm cách xỏ xiên, đá giò lái với nhau không nương tay.

– Kệ tao… Tao là thằng ba trợn còn hơn chôm chĩa như mày…

Nghe hai nhân viên hục hặc với nhau Quỳnh vội lên tiếng.

– Thôi đi… Tụi bây làm mất vui… Muốn gì để mai mốt nói…

Bị cấp chỉ huy xì nẹt, Kỳ với Sang tuy ấm ức song không nói gì thêm. Ánh liếc Quỳnh thật nhanh rồi im lặng uống trà. Tuy ngoài miệng chê chức thuyền trưởng song trong bụng nó lại khoái chí. Làm thuyền trưởng cực vì trách nhiệm nhiều hơn nhưng bù lại cũng có cái sướng như được ưu tiên đề nghị thăng chức. Mang cấp bậc hạ sĩ nhất hơn hai năm rồi nên nó có nhiều hi vọng được lên trung sĩ. Hạ sĩ quan oai hơn vì mang lon đội kết chứ không phải đội cái bánh tiêu trên đầu như lính. Thuyền trưởng cộng thêm trung sĩ, nó được phép mang súng cá nhân để đi o gái. Nghĩ tới ánh mắt thán phục và ngưỡng mộ của con bồ khi thấy mình mang súng lục, Ánh mỉm cười khoái trá.

– Anh Quỳnh?

Đang đứng tiểu nơi mũi tàu Chơn gọi lớn. Hơi cau mày Quỳnh lên tiếng gọn.

– Gì?

– Có khúc cây thật lớn trôi tới tàu của mình…

– Ừ…

Vẫn ngồi yên tại chỗ Quỳnh nói gọn một tiếng trong lúc nghiêng đầu đốt điếu thuốc.

– Ngộ ghê anh… Tôi thấy khúc cây đang trôi thẳng rồi tự nhiên nó lại quẹo qua bên trái…

Ý nghĩ bùng nổ trong trí Quỳnh bật la thảng thốt.

– Người nhái… Đặc công… Lựu đạn… Lựu đạn… MK3 tụi bây ơi…

Nhân viên hai chiếc tàu náo loạn hẵn lên. Quỳnh nhảy lên mui ngay chỗ mình thường ngồi trước nhất. Chụp lấy khẩu M16 anh nhảy trở lại chỗ cũ. Nhắm vào thân cây đang trôi tới gần Quỳnh miết cò hết nguyên băng đạn hai chục viên. Cùng lúc đó với tay vào ụ súng của mình Sang chụp lấy trái lựu đạn MK3. Chiếc khóa an toàn bung ra. Trái lựu đạn hơi chuyên dùng để chống lại người nhái của địch bay đi trong ánh trăng bàng bạc. Ầm… Chiếc tàu rung chuyển mạnh. Tiếp theo là hàng chục trái lựu đạn rơi xuống nước. Lựu đạn nổ ầm ầm. Nhiều trái nổ gần làm nước bắn tứ tung.

– Tuấn… máy tàu… Bắn… Bắn vào cây…

Quỳnh la lớn. Hiểu ý Tuấn chui tọt vào phòng lái. Máy tàu nổ ròn tan. Nhào lên mui Quỳnh hét vào tai của Tuấn.

– Lùi… Lùi…

Tuấn kéo cần ga về số lui. Chiếc tàu sắt chậm chạp lùi lại vì còn vướng neo. Đúng ra thì phải tiến để kéo neo lên song vì tình thế đặc biệt nên Quỳnh phải cho tàu lùi lại. Chân vịt quay ngược chiều sẽ tống nước ra đằng trước mũi đẩy không cho người nhái địch lặn lại gần tàu. Bên kia Ánh cũng ra lệnh cho nhân viên làm giống như Quỳnh. Tiếng súng đại liên 12 ly 7 nổ rền trời. Cả hai ụ súng ở trước mũi của hai chiếc tàu đều nhắm bắn vào khúc cây trôi chỉ còn cách tàu hai ba chục thước. Ầm… Ầm… Hai cột nước khổng lồ vọt lên trời, cùng lúc Quỳnh cảm thấy chiếc tàu sắt nặng mấy chục tấn như được sức lực vô hình nhấc bổng khỏi mặt nước làm cho anh lao đao muốn ngã. Nước rơi xuống như mưa. Dường như neo bị trốc nên hai chiếc tàu lùi lại thật nhanh. Quỳnh nghe trống ngực đập thình thịch và bàn tay run bần bật. Anh và toàn thể nhân viên đã thoát chết trong gang tấc nhờ vào may mắn. Nếu Chơn không thấy và anh không phản ứng kịp lúc, hai chiếc tàu sắt sẽ bị trúng mìn của đặc công địch và anh có cơ đi thăm hà bá.

Ngồi im trên chiếc ghế đóng sơ sài bằng cây trong căn nhà lá nằm dưới tàng cây rườm rà, Thức có thái độ trầm tư và buồn bực vì nhiều chuyện xảy ra không đúng như sự suy tính và mong muốn của anh ta. Hôm qua lính báo cáo đã vớt được xác của toán đặc công. Không những thất bại trong việc đặt mìn đánh chìm hai chiếc tàu địch, toán đặc công thủy gồm bốn người nhái còn bị chết chìm. Muốn thanh trừng tình địch của riêng mình đồng thời thi hành được công tác của cấp trên giao phó anh ta phải tìm cách khác. Phục kích bắn tàu một lần không có kết quả, người nhái đặt mìn thất bại; Thức không biết mình còn cách gì mới lạ và hiệu quả hơn. Anh ta nghĩ tới cách cho lính ám sát Quỳnh hoặc tìm cách bắn sẻ. Nhưng suy nghĩ kỹ anh ta biết cho dù có giết chết Quỳnh, nhiệm vụ của anh ta chưa hoàn thành vì địch sẽ có người thay thế để chỉ huy hai chiếc tàu. Giết Quỳnh chỉ để thỏa mãn sự ganh ghét, giành giựt lại Uyên chứ không kiểm soát được thủy lộ sông Đồng Nai hầu chuyên chở vũ khí vào khu vực lân cận thành phố. Mình phải làm gì? Thức lẩm bẩm năm bẩy lần trong trí của mình câu hỏi khó trả lời. Cuối cùng anh ta đốt điếu Ruby, hít liên tiếp hai hơi, nhả khói ra từ từ rồi ngồi im suy nghĩ. Sau khi điếu thuốc tàn, đội lên đầu chiếc nón anh ta bước ra cửa vừa đúng lúc Hiến, tiểu đoàn phó bước vào.

– Tôi với đồng chí đi quan sát con sông lần nữa. Mình phải nghiên cứu kỹ để tìm ra chỗ phục kích tàu địch. Tôi nghĩ lần trước mình bị thất bại vì chưa nghiên cứu kỹ con sông và đường đi của hai chiếc tàu địch…

Giơ tay đón điếu thuốc của Thức mời, Hiến cười nhẹ lên tiếng.

– Tôi đồng ý với đồng chí về nhận xét trên. Mấy hôm nay tôi đi nghiên cứu địa hình của dòng sông Đồng Nai và tìm ra một chỗ phục kích lý tưởng. Tôi tính vào gặp đồng chí…

Mừng rỡ Thức với Hiến dẫn theo tiểu đội hộ tống đi dài theo bờ sông tới một khúc quanh, Hiến mới nói với cấp chỉ huy của mình.

– Từ Uyên Hưng chạy lên tới hồ Trị An, con sông Đồng Nai không có uốn khúc nhiều nữa…

Đưa tay chỉ vào một khúc quanh Hiến cười tiếp.

– Ngay tại Xóm Đèn này dòng sông uốn khúc khá gắt. Vì thế mà một bên bồi và một bên lở. Bờ của chúng ta đứng là bờ bị nước xói mòn nên sâu hơn bờ bên kia. Tôi để ý thấy tàu địch thường chạy gần bờ bên này hơn vì bờ bên kia được bồi nên lấn ra xa. Sợ bị mắc cạn nên chúng phải chạy sát bờ bên chỗ ta đang đứng đây. Nếu chúng ta phục kích ngay tại chỗ này thì thế nào cũng bắn được chúng… Ngoài ra vì bờ bên kia đất bồi ra xa nên tôi nghĩ tàu của chúng sẽ không cắm mũi thẳng vào ổ phục kích của ta như chúng đã làm lần trước…

Đưa mắt quan sát địa thế một cách cẩn thận Thức thấy nhận xét của Hiến rất đúng. Nguyên hàng cây ngay tại chỗ anh ta đứng bị nước soi mòn nên gốc cây trơ rể ra. Có nhiều cây ngã nằm dài gần đụng mặt nước. Bờ bên kia thì được bồi nên bùn sình lan ra gần nửa dòng sông.

– Mình cũng dàn trận theo lối cũ nhưng lần nay tăng cường thêm hai khẩu trung liên và một ổ B40 để buộc chúng phải dạt sát về bờ bên này…

Thức gật gù đồng ý. Đứng bàn luận giây lát anh ta cùng với lính trở về chỗ đóng quân sửa soạn cuộc phục kích hai chiếc tàu sắt.

*****

Quỳnh ngồi cạnh Uyên chứ không còn ngồi đối diện nữa. Sau lần bị bắt buộc ngủ lại nhà của Uyên một đêm, tình cảm giữa anh với nàng chuyển sang hướng đi mới. Hiểu được tình thân Uyên dành cho mình, anh đâm ra mến nàng nhiều hơn. Dù chưa có đả động gì chuyện yêu đương nhưng cả hai trở nên thân mật hơn chút chút.

– Chừng nào anh đi?

Uyên hỏi nhỏ. Nàng biết Quỳnh không thể ở mãi bên cạnh nàng, do đó mỗi lần gặp nhau nàng đều băn khoăn về chuyện anh bỏ đi và không bao giờ trở lại. Giơ tay lên nhìn vào đồng hồ Quỳnh cười.

– Chút nữa…

Cười âu yếm Uyên gắt nhỏ.

– Anh thì cái gì cũng chút nữa. Hỏi chừng nào anh đi, chút nữa. Chừng nào anh trở lại, chút nữa. Chừng nào mình gặp lại, chút nữa… Riết rồi Uyên hổng biết chút nữa của anh bao lâu…

Quỳnh cười cúi xuống tính hôn vào má nàng. Cười hăng hắc Uyên quay mặt nhìn vào nhà sau như cố ý né tránh cử chỉ âu yếm của ông lính thủy.

– Anh coi chừng ba má thấy…

– Ba má Uyên thấy có sao đâu… Ổng bả cho phép anh mà…

– Xạo à nghen… Ổng bả nói hồi nào sao Uyên hổng nghe…

– Ổng bả biết Uyên mắc cỡ nên đâu có nói trước mặt Uyên…

Lắc lắc mái tóc huyền mượt mà và óng ả, Uyên nhẹ nắm lấy bàn tay chai cứng của Quỳnh. Ông lính thủy ngửi được mùi hương thật dịu dàng, thoảng chút không phải dầu thơm, mà như mùi bông so đũa và mùi phù sa của nước sông Đồng Nai hòa trộn với mùi hương của nàng thiếu nữ thanh tân làm thành một mùi hương đặc biệt làm anh rung động và ngất ngây. Cảm giác rung động và ngây ngất này thoáng qua nhanh song âm hưởng còn đọng lại hoài trong tâm tưởng. Làn da mềm, man mát của Uyên xoa nhè nhẹ trên lưng bàn tay gây ra chút xuyến xao và khát khao.

– Em thơm quá…

Uyên bật cười vì câu nói của người lính thủy. Quỳnh cũng cười hắc hắc như che dấu cảm giác ngượng ngùng của mình. Anh cũng không hiểu tại sao mình lại nói ra ba tiếng đó. Riêng Uyên thầm hiểu được ý nghĩ thầm kín của anh. Vì vậy nàng quay nhìn Quỳnh cười nói đùa.

– Thôi đi đừng có xạo… Hổng tin đâu…

Cười hì hì Quỳnh nhìn chiếc mũi có một vết tàn nhang nơi chót mũi của cô gái.

– Lính mà em… Lính mà hổng xạo thời đâu phải là lính…

Nói tới đó Quỳnh ngừng lại khi thấy bóng Sang đang giơ tay vẩy mình. Đứng dậy, khom người hôn nhẹ lên mái tóc của Uyên anh thì thầm.

– Anh phải đi…

Uyên cũng đứng dậy. Hai người chậm bước ra cửa. Ngập ngừng nơi bậc cửa giây lát Quỳnh mới bước nhanh đi về phía hàng rào kẽm gai. Uyên đứng im nhìn theo. Nàng không nói được lời nào trừ nước mắt ứa ra nơi khóe mặt. Bây giờ nàng mới thấm thía được nỗi buồn đau thầm kín của những người đàn bà có người thân yêu đi lính xa.

*****

Mùng 10. 23 giờ. Trăng thượng tuần mênh mông. Ánh trăng sáng mông lung như tấm vải mỏng buông xuống dòng sông lấp lánh nước thành màu trắng bạc. Chiếc Alpha 11 uể oải xuôi theo chiều nước chảy từ ngã ba sông Rạng Đông về Uyên Hưng. Tuấn nhìn vào mặt đồng hồ tốc độ chỉ 800. Quỳnh ngồi im trên mui. Đầu anh gục xuống không biết vì buồn ngủ hay vì sức nặng của chiếc nón sắt. Máy 46 kêu xè xè hòa trộn với tiếng máy tàu nghe hoài hủy thành ra buồn chán và mệt nhọc nhưng vẫn phải nghe. Cam chịu. Không có danh từ nào đủ nghĩa hơn để diễn tả tâm trạng của anh trong lúc này. Biết đi lính khổ mà phải đi. Đi rồi thời cam chịu. Ban đầu với máu nóng của tuổi trẻ, còn than van, bất mãn, chống đối, hay từ chối; song theo với thời gian, trưởng thành nhờ nắng mưa, sương gió, khói súng nên chấp nhận và chịu đựng. Đi qua những vùng thôn quê hẻo lánh xa xôi, những làng mạc nằm trong khu giải phóng; anh mới nhận thức ra rằng mình còn may mắn hơn triệu triệu người khác. Ánh mắt đăm chiêu của một ông lão đã kinh qua thời chiến tranh đằng đẵng từ thế chiến thứ hai, kháng chiến chống Pháp rồi cuộc nội chiến đẫm máu giữa quốc gia và cộng sản. Ông lão giấu kín đi nỗi buồn đau của mình vì đứa con đầu lòng theo cộng sản, thời đứa con út lại đi lính quốc gia. Lằn ranh quốc cộng thật mơ hồ, thật khó phân định, khiến cho ông ta lao đao không biết theo ai bỏ ai. Rốt cuộc rồi ông cũng phải cam chịu số phần kỳ quái của mình. Ban ngày cười nói với quốc gia, rồi khi bóng tối chụp xuống lại đốt đèn thắp đuốc ngồi khề khà chén trà, chung rượu với thằng du kích, anh bộ đội lén lút trở về làng để thu thuế, để nhận tiếp tế và cũng để phô trương quyền lực của mình bằng khẩu AK. Đừng nói chi ở làng mạc xa xôi, ngay tại thủ đô Sài Gòn, vẫn có những ông thầy tu, ông thứ trưởng, sĩ quan cấp úy, cấp tá, ăn cơm quốc gia thờ ma cộng sản. Những kẻ nằm vùng đó đang tìm cách phá hoại, làm tê liệt ý chí phấn đấu của người lính như Quỳnh. Biết họ là ai mà cũng phải cam chịu, để cho họ sống phè phởn trên xương máu của người chết, trên mồ hôi và nước mắt của những người sống như anh.

– Anh ngủ hả?

Quỳnh hơi cựa mình khi nghe Tuấn hỏi.

– Tao chỉ nhắm mắt để đó…

Tuấn cười hắc hắc vì câu trả lời của thuyền trưởng. Quỳnh có nhiều câu trả lời thật buồn cười và cũng dị lắm. Có lần thấy Quỳnh gục đầu nhắm mắt nó hỏi ngủ hả thời Quỳnh trả lời là không có ngủ mà chỉ một mắt nhắm một mắt mở. Quỳnh còn giải thích thêm về cách ngủ một mắt. Đó là cách để an dưỡng tâm hồn của mình bởi vì không thể lo âu hoài về một điều mình không thể biết trước được. Cứ chấp nhận và cam chịu, thời tâm hồn mình sẽ bình yên để thức mà vẫn ngủ. Mới đầu Tuấn không tin về lời giải thích mơ hồ và có vẻ như ngụy biện của Quỳnh; nhưng sau này nó biết điều đó có thật. Sống hoài trong tình trạng phập phồng, lo âu, nó bắt đầu có thái độ chấp nhận và cam chịu rồi cuối cùng tự an ủi mình bằng câu ” Trời kêu ai nấy dạ…”.

– Tao đi hút thuốc rồi kêu thằng Chơn thế cho mày…

Nói xong Quỳnh rời chỗ ngồi. Ra sau lái anh đánh thức Chơn. Rửa mặt cho tỉnh táo, uống ly nước lạnh Chơn vào phòng lái. Được Chơn thay thế Tuấn leo lên mui ngồi vào vị trí của Quỳnh thường ngồi. Nó tính chờ khi nào thuyền trưởng trở lại mới ra sau lái hút thuốc và đi ngủ. Không biết làm gì nó cầm chiếc ống dòm lên quan sát trong bờ.

– Bum… Bum…

Đang ngồi sau lái nghe hai tiếng bum bum Quỳnh nhìn vào trong bờ bên trái của mình. Anh thấy hai cột lửa đỏ rực từ trong bờ xẹt ra.

– B40…

Không suy nghĩ Quỳnh nhào tới chỗ khẩu đại liên 50 ở cách mình mấy bước. Ầm… Ầm… Ánh lửa nháng sáng rực. Quỳnh cảm thấy đau buốt nơi chân phải của mình cùng lúc một sức lực vô hình đẩy anh ngã bật ra sàn tàu. Chiếc nón sắt nện mạnh vào vách sắt làm cho anh choáng váng gần như ngất xủi. Trong tiếng đạn nổ anh nghe mơ hồ tiếng la hoảng hốt của Kỳ.

– Nó bắn trúng tàu… Anh Quỳnh…

Súng của địch nổ rền. Đạn réo trong không gian. Đạn ghim vào những tấm giáp chống B40 nghe bựt bựt. Đạn đập vào vách tàu bằng sắt bật thành âm thanh chát chát. Bây giờ súng trên tàu mới bắt đầu khai hỏa. Những viên đại bác 20 ly chạm nổ của Kỳ nháng lên từng cụm ánh sáng trong rừng cây, còn đạn 12 ly 7 của Sang vẽ thành đường tên lửa. Thành đều đặn rót M79 vào trong bờ để không cho địch bắn nữa. Chiếc Alpha 9 cũng bắt đầu nổ súng. Tuy nhiên súng của địch từ trong bờ vẫn bắn ra mỗi lúc một ác liệt và dữ dội như thách thức hỏa lực hùng hậu của hai chiến đỉnh.

Gượng chống tay ngồi dậy Quỳnh cảm thấy một bên chân của mình hầu như không cử động được. Tuy nhiên anh biết mình phải có mặt nơi chỗ ngồi để liên lạc và chỉ huy nhân viên của hai chiếc tàu.

– Anh đi được không?

Ngưng bóp cò Thành hỏi lớn. Quỳnh gật đầu. Đưa tay ra để cho Thành kéo mình đứng dậy, gắng gượng vịn vào lan can bên phải anh lần từng bước ra trước mũi.

Đứng trong hầm chỉ huy được đào sơ sài ngày hôm qua sát bờ sông, Thức cau mày tỏ vẻ tức bực. Không biết vì lý do gì mà toán phục kích ở bờ bên kia lại nổ súng sớm hơn thay vì phải đợi cho hai chiếc tàu lọt vào vòng phục kích mới khai hỏa để bắt buộc địch phải dạt về bờ bên phải. Đằng này vì nổ súng sớm hơn nên khi tàu dạt về bờ này thì nó vẫn ở ngoài tầm bắn của B40. Tuy nhiên sau đó anh lại gật gù mỉm cười thích thú khi thấy hai chiếc tàu xếp hàng dọc tiến vào ổ phục kích của mình.

Bảy mươi thước… Thức nín thở khi thấy chiếc tàu đi đầu chậm chạp tiến tới chỗ mình đứng. Sáu mươi. Năm mươi… Súng trên tàu nổ rền. Thức cảm thấy ơn ớn lạnh nơi sống lưng khi nghe tiếng đạn ghim vào đất và lựu đạn nổ ầm ầm làm đất cát bay rào rào, đập vào mặt anh rát rạt. Bốn mươi thước. Dưới ánh trăng sáng mờ bóng chiếc tàu sắt đen sừng sửng như một quái vật khổng lồ đầy đe dọa.

– Bắn…

Tiếng hét vỡ lồng ngực của vị tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 317 của mặt trận nổ ra. Gần hai trăm người lính cùng lúc bóp cò. AK47. B40. 57 không giật. Đại liên. Thượng liên. Trung liên. Súng phóng lựu. Tất cả đều nhắm vào hai chiếc tàu sắt. Lửa đạn kéo thành dây. Tiếng nổ ì ầm. Đạn réo trong không khí, chạm vào vách tàu, nổ ra với toàn thể sức công phá. Không khí nóng hừng hực nhưng cũng không nóng bằng lửa thù hận ở trong lòng của Thức. Xuyên qua ống dòm anh ta thấy chiếc tàu vẫn lầm lì và ngạo nghễ tiến tới gần hơn cùng với ánh lửa lóe sáng và chớp tắt. Đạn ghim vào đất, đạn xuyên qua hầm hố. Lựu đạn nổ trên đầu. Tiếng la hoảng hốt. Tiếng hét đau đớn. Tiếng kêu tắt nghẹn của người chết ở bên cạnh khiến cho Thức như mê đi không để ý ngoài chuyện ra lệnh cho lính xử dụng tối đa hỏa lực nhắm bắn vào hai chiếc tàu sắt vẫn lầm lì tiến tới gần chỗ anh đang đứng.

Trong ánh sáng bàng bạc của đêm trăng Quỳnh thoáng thấy ánh lửa nháng lên từng cụm từ trong bờ bên phải. Một ý nghĩ lóe lên trong trí anh. Mình bị địch dàn trận phục kích cả hai bên. Không hiểu bằng sức lực nào, anh lùi lại thật nhanh về sau lái tàu rồi men theo hông trái của tàu để chạy tới trước mũi. Ầm… Ầm… Tiếng nổ lùng bùng lỗ tai. Tiếng nổ chát chúa làm rung chuyển khối sắt nặng mấy chục tấn. Đạn réo trong không khí. Đạn ghim vào những tấm ny lông treo dọc bên hông tàu. Súng của hai phe thi nhau nổ rền. B40, 12 ly 8, 57 không giật, thượng liên, trung liên nồi, AK47 nổ cùng lúc với 12 ly 7, đại liên 50, đại liên M60, đại bác 20 ly tự hủy và M79 tự động.

Nhào lên trên mui, ngay chỗ ngồi của mình Quỳnh cứng người khi thấy Tuấn nằm ngửa mặt lên trời. Ánh trăng sáng dọi lên khuôn mặt mất máu thành trắng bệch. Hai mắt nó mở trừng trừng. Lòng đen bị ánh trăng dọi vào thành hai hố sâu thăm thẳm. Bàn tay của nó vẫn còn nắm ống nói của máy 46.

– 9 đây 11…

– 9 nghe 11…

– Bắn hỏa tiển… hỏa tiển… nghe rõ trả lời…

– 9 nghe 11 rõ…

Ầm… Âm thanh vang chát chúa. Quỳnh cảm thấy có vật gì sắc bén đâm ngay vào cổ của mình làm đau buốt não bộ. Không kêu được tiếng nào anh ngã vật ra bên cạnh cái xác bất động của Tuấn. Thấy thuyền trưởng trúng đạn Sang nổi điên, xử dụng tới hỏa lực mạnh mẽ nhất của tàu. Đó là hai dàn hỏa tiển được gắn hai bên hông ụ súng đại liên ở trước mũi. Ầm… Như tám mũi tên lửa khổng lồ, tám trái hỏa tiển rời khỏi dàn phóng xẹt thẳng vào bờ.

Đang dùng ống dòm quan sát Thức thoáng thấy mũi tên lửa khổng lồ từ ngoài sông xẹt vào ngay chỗ hầm chỉ huy của mình. Ầm… Hàng chục thân người bay tung. Máu, thịt, xương văng tứ tung. Súng nổ rền thật lâu mới từ từ dịu lại rồi sau đó mới ngưng hẵn.

Ngồi trên mui tàu Sang nhìn Quỳnh đang nằm ngửa mặt lên trời. Ánh trăng sáng dọi xuống khuôn mặt mất máu của anh thành trắng bệch. Máu từ vết thương nơi cổ ứa ra thắm đỏ băng cá nhân được Thành băng bó tạm. Quỳnh chợt mở mắt ra. Ánh mắt lạc thần nhìn nhưng không thấy và không biết được gì. Sang ứa nước mắt. Giờ đã điểm. Ba mươi giây. Một phút đồng hồ ngắn ngủi. Quỳnh chợt nắm lấy tay người thuyền phó đồng thời là đồng đội đã sống chết với mình mấy năm qua. Bàn tay của kẻ hấp hối lành lạnh và ẩm sương đêm khiến cho Sang rùng mình. Ánh mắt của Quỳnh sáng lên một vẻ gì kỳ lạ mà anh không hiểu được. Trối trăn. Gởi gấm. Nhắn nhủ. Hay lời vĩnh biệt của một người sẽ bỏ cuộc chơi súng đạn để đi vào chốn vô cùng. Ánh trăng trắng bạc buông xuống mặt sông rộng lấp lánh chút màu đỏ của máu từ thân người chết chảy ra. Sương mù giăng giăng mờ cảnh vật hai bên bờ.

15

Uyên ngước đầu lên nhìn Tiên bước vào với dáng điệu ngập ngừng và không được tự nhiên lắm. Nhìn khuôn mặt thoáng buồn của Tiên, nàng linh cảm một điều gì không lành. Dừng lại trước chiếc bàn máy may Tiên cười nhẹ.

– Uyên khỏe không em?

– Dạ… Em mạnh…

Tần ngần như muốn nói mà ngại ngùng điều gì xong cuối cùng Tiên cũng lên tiếng.

– Hổm rày em có gặp Quỳnh?

– Dạ không… Ảnh đi lâu rồi mà chưa trở lại…

Giọng nói của Uyên nhuốm chút nghẹn ngào. Tiên cố giấu kín tiếng thở dài. Nhìn Uyên, anh nói nhỏ.

– Anh nghĩ Quỳnh sẽ không trở lại gặp em…

Uyên ngước nhìn Tiên. Nàng hiểu anh muốn ám chỉ điều gì. Quỳnh là lính và đối với người lính chỉ có một điều xảy ra khiến cho anh không trở lại để gặp nàng như anh đã hứa. Nghĩ tới điều đó Uyên ứa nước mắt. Nàng ngồi im nhìn Tiên bước ra cửa. Bên ngoài nắng đã tắt. Không gian vắng lặng. Gió lùa hàng cây so đũa sau nhà sát bờ sông thành âm thanh mơ hồ như tiếng cười của Quỳnh. Trong không khí ẩm hơi nước sông nàng như ngửi được mùi hăng hăng của thuốc lá. Bây giờ nàng mới biết mình nhớ nhung mùi thuốc lá thân quen của một người đã đi xa thật xa. Xa tới độ người đó không thể trở lại để gặp nàng dù người đó đã hứa. Tuy nhiên nàng không trách vì biết người lính ít khi giữ tròn lời hứa hẹn.

chu sa lan

10-2010

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s