Mùa Thu Đã Già

9.

Đưa tay nhận phong thư không cũ lắm song lại nhầu nát mà dượng năm trao cho, Lựu chưa kịp nói lời cám ơn thì dì năm đã lên tiếng.

– Con có quen thằng Nhẫn thì cũng đừng có quên học nghe con…

– Dạ… dạ… Lâu lâu ảnh mới viết cho con có một phong thư hà dì năm…

– Ừ… vậy thì được… Quen nhau thương nhau thì cũng phải lo chuyện trăm năm… Hai đứa bây mà thành vợ chồng thì dì cũng mừng…

Đỏ mặt, Lựu dạ dạ tiếng nhỏ rồi bước nhanh vào gian phòng nhỏ có hai cái giường, một dành cho cô và một dành cho Hà, con gái út của dì năm nhỏ hơn cô một tuổi và đang học lớp đệ tam. Hai chị em bà con sàng sàng tuổi nhau lại học cùng trường nên thân nhau lắm, tới độ Lựu đã kể cho cô em bà con nghe về chuyện tình của mình với ông lính tên Nhẫn. Bước vào phòng thấy Hà đang ngồi đọc sách, Lựu đưa phong thư lên khoe. Hà ré lên tiếng nhỏ.

– Chị cho em đọc ké nghen…

Cười hắc hắc Lựu lắc đầu.

– Hổng được đâu… Kỳ lắm… Anh Nhẫn viết tầm bậy tầm bạ…

Nói như vậy song Lựu biết khó mà từ chối con nhỏ em đang tuổi lớn rất tò mò muốn biết về chuyện tình yêu trai gái. Vì thế cô cười nói nhỏ.

– Để chị đọc xong coi có cái gì hông đã…

Ngồi xuống chiếc ghế quen thuộc của mình nơi bàn học có khung cửa sổ nhìn ra vườn cây ăn trái, Lựu chậm chạp xé phong thư của người lính tên Nhẫn mà cô hoàn toàn không biết đang ở đâu và làm gì. Trái với điều cô nghĩ, lá thư dài hai trang giấy học trò, nét chữ rất tháo và có nhiều chữ viết tắt hay đôi khi tối nghĩa khiến cho cô phải đọc thật chậm và ngẫm nghĩ hồi lâu mới biết được cái ý ẩn trong chữ.

– Đồng Xoài, ngày tháng năm hổng nhớ, hổng cần biết luôn…

Lựu ré lên cười hắc hắc khi đọc câu đầu tiên. Nghe Lựu ré lên cười, Hà tò mò bước tới lẫm nhẫm đọc xong rồi cũng ré lên cười.

– Anh này viết thư ngộ quá… hay quá…

Mỉm cười Lựu im lặng đọc lá thư của người lính đang ở địa danh lạ hoắc lạ quơ đối với một nữ sinh như cô.

– Lựu mến. Chính ra thì anh muốn viết hai chữ ” Em yêu thương ” song nghĩ Lựu sẽ cằn nhằn là chưa gì hết mà đã gọi em yêu nên anh phải viết là Lựu mến. Hi vọng lần gặp nhau tới tình cảm của chúng mình sẽ khắng khít với nhau nhiều hơn để anh có thể gọi hai tiếng ” Em yêu thương”…

Lựu cảm thấy tim mình mơ hồ lạc nhịp và mặt nóng bừng lên. Kỹ niệm thấp thoáng. Mùi thuốc lá hăng hăng. Mùi áo lính nồng nồng. Nhiều lần ngồi bên cửa sổ ngó ra chỗ hẹn hò của đêm đó, cô cũng không thể nào diễn tả được cảm giác của mình khi làn môi nóng ấm của ông lính chạm vào môi mình. Tuy không thể diễn tả một cách chính xác nhưng cô biết cảm giác có thực và ở hoài trong tâm tưởng mình dù đã xảy ra hơn nửa năm và ông lính đã đi xa và đi lâu rồi. Phải nói lần đầu tiên được người khác hôn môi mình vì vậy cô hoàn toàn không có một trải nghiệm và hiểu biết nào. Cô chỉ mơ hồ nhớ là có cảm giác thật lạ lùng và mới mẻ khi được Nhẫn hôn lên môi lên má. Chỉ một lần thôi cũng đủ rồi, quá đủ để cho tình cảm được tích lủy mà cô dành cho anh phá vỡ cái giới hạn sau cùng để trở thành tình yêu trai gái. Cô nhớ lại buổi sáng thức dậy sớm đưa Nhẫn ra bến xe. Hai người im lặng đi bên nhau. Không lần nắm tay. Không một lời hứa trở lại của người đi. Cũng không có một lời hẹn đợi chờ của người ở lại. Chỉ là sự im lặng lắng trầm vào trong tâm tưởng bởi người đi kẻ ở đều biết mình đã thuộc về nhau thành ra lời nói không còn cần thiết nữa. Đứng bên lề đường nhìn chiếc xe đò lăn bánh, cô biết còn lâu lắm mình mới gặp lại người lính tên Nhẫn. Cô tự hỏi người đi không biết có buồn như người ở lại không?

10.

Nhịn mở cửa rất khẽ và chậm như không muốn gây tiếng động để đánh thức Nhẫn vì cô biết một người già và bệnh mới khỏi như Nhẫn có thể ngủ bất cứ lúc nào. Cô cũng không lên tiếng ” chào bác ” như mọi lần trước. Từ sáng tới chiều cô đã đi thăm viếng hết các bệnh nhân theo lịch trình định sẵn trước rồi sau đó mới ghé Nhẫn là người cuối cùng. Sở dĩ cô thay đổi giờ giấc vì muốn có nhiều thời giờ cho người bệnh đặc biệt mà khi gặp mặt lần đầu tiên cô cảm thấy quyến luyến và dễ dàng thân cận. Cảm giác này thật khó giải thích. Có lẽ bệnh nhân là đồng bào với cô? Có lẽ bệnh nhân đáng tuổi cha chú của cô? Có lẽ bệnh nhân ở vào tình cảnh đặc biệt? Có lẽ sự đơn độc của bệnh nhân khiến cho cô tội nghiệp? Dù bất cứ lý do nào thì cô biết đối với người bệnh này cô có một cảm tình khác thường. Bằng chứng là tối hôm qua cô cặm cụi nấu một bữa ăn dành cho ông ta. Cũng chẳng cao lương mỹ vị gì. Cũng chẳng cầu kỳ và sang trọng gì họa chăng chút lòng thương hại mà cô chăm chút vào thức ăn đã nấu.

Khép cửa lại, vừa đặt chân lên cầu thang, cô hơi nghiêng người lắng tai nghe tiếng nhạc văng vẳng. Điệu nhạc thật quen thuộc vì cô biết cô đã nghe điệu nhạc này nhiều lần. Khi tiếng hát cất lên cô mới à tiếng nhỏ nhận ra đó là bản nhạc Hoa Trắng Thôi Cài Trên Áo Tím của nhạc sĩ Huỳnh Anh phổ từ bài thơ cùng tên của thi sĩ Kiên Giang: ” Hoa trắng thôi cài trên áo tím… Từ ngày binh lửa ngập quê hương… Luyến thương chan chứa tình quê mẹ… Sông nước phù xa gợi ý tình… Lâu quá không về thăm xóm cũ… Để nhìn mây chiều nhẹ im trôi… Để nghe khe khẽ lời em nguyện… Đôi bóng vai kề một lối đi…”.  Sau khi đất nước đổi thay, mẹ ôm cô leo lên chiếc thuyền đánh cá vượt biển tìm tự do. Cũng ở cái xứ lạ quơ lạ quắc này, theo dòng chảy của đời lớn lên cô vẫn nghe mẹ hát hoài, ngâm nga hoài bài Hoa Trắng Thôi Cài Trên Áo Tím dù ở đây có muôn vàn hoa lá đẹp hơn, lạ hơn. Cô thường hay hỏi mẹ: ” Mẹ ơi… Hoa trắng trong bài thơ là hoa gì vậy mẹ…? ”. Hỏi xong cô thấy mẹ có vẻ buồn rầu trả lời: ” Rất tiếc mẹ không biết… Ngày xưa mẹ cũng có hỏi một người… Người này hứa sẽ đi tìm câu trả lời cho mẹ. Từ đó cho tới bây giờ người đó cũng chưa trở lại gặp mẹ để nói cho mẹ biết tên của loài hoa trắng… Mẹ nghĩ người này đã quên lời hứa hẹn… hoặc còn mải mê đi tìm tên của loài hoa trắng mà quên mất lối về…”.

Chôn chân tại đầu cầu thang, Nhịn nghe dứt bản nhạc mà sau khi nghe rồi cô thẩn thờ ứa nước mắt. Cô nghĩ tới mẹ mình, người mà cô thương yêu nhất trên đời.

– Bác ơi…

Nhịn gọi nhỏ. Không có tiếng trả lời. Lên tới đầu cầu thang cô mới biết Nhẫn đang ngủ ngồi trên ghế. Không muốn đánh thức Nhẫn dậy cô đi thẳng vào nhà bếp. Mọi thứ đều ngăn nắp và trật tự. Phải nói là chủ nhà có rất ít dụng cụ dùng trong bếp. Nồi cơm điện. Microwave. Một cái chảo. Một cái nồi. Máy làm cà phê. Toaster. Chén, tô, dĩa, đũa; mỗi thứ vài cái. Tất cả đều nằm im trong ngăn. Lò nấu bằng điện sạch trơn. Điều này chứng tỏ chủ nhân ít khi nấu nướng và hầu như không có khách. Mở cửa tủ lạnh để bỏ thức ăn mà mình mang tới Nhịn lắc đầu thở dài nhè nhẹ. Một bình nước lạnh mua ở tiệm, một bình nước cam, táo với mấy cái ly giấy. Mấy ly mì ăn liền nằm trơ vơ trong góc. Tò mò Nhịn mở ngăn freezer ra. Chẳng có gì hết ngoại trừ mấy hộp pizza và bánh bông lan đã quá hạn mấy tháng rồi. Đang bỏ thức ăn vào, nghe tiếng ho khan vang lên, Nhịn bước ra nhìn. Cô thấy một khuôn mặt xanh xao, dã dượi, âu sầu. Ánh mắt ngác ngơ làm cho cô mũi lòng. Đó là ánh mắt của một người tị nạn sống thui thủi một mình, không một người thân thiết ở gần.

– Cháu Nhịn hả?

Nhẫn lên tiếng với giọng khàn khàn

– Dạ… Bác mạnh hông bác?

– Bác mạnh chút chút… cám ơn cháu…

Đóng cửa tủ lạnh lại, Nhịn bước ra khỏi nhà bếp. Nhấc lấy túi dụng cụ của mình cô ngồi xuống ghế đối diện với Nhẫn và bắt đầu hành nghề. Mọi việc được cô làm một cách chậm rãi và cẩn thận. Trong lúc làm việc cô nói với Nhẫn bằng giọng ân cần.

– Cháu đo huyết áp của bác hôm nay thì thấy nó có sụt giảm đôi chút. Đó là dấu hiệu tốt. Bác chịu khó uống thuốc đều đặn và nghỉ ngơi thì bệnh của bác sẽ thuyên giảm. Cháu biết bác sống một mình nên buồn rầu và chán nản thành ra…

Dứt lời Nhịn nhìn Nhẫn với ánh mắt thật dịu dàng và câu nói thốt ra cũng bùi ngùi.

– Bác cũng cở tuổi ba của cháu. Cách đây ba năm ba cháu cũng mất vì bị stroke như bác. Cháu sợ…

Nhẫn mỉm cười. Khi vui thì người ta cười. Riêng Nhẫn lại khác. Ngay cả cười cũng vẫn là nụ cười gượng gạo hay nụ cười buồn. Dường như với Nhẫn ở đâu cũng buồn. Buồn từ ánh mắt nhìn. Buồn từ nụ cười gượng. Buồn phả ra từ khuôn mặt. Buồn ở những bước đi lặng lẽ, âm thầm, thiếu sinh khí.

– Bác…

Nhịn gọi nhỏ và Nhẫn nhìn cô.

– Bác đói bụng chưa bác…

Nhẫn chần chờ chưa trả lời cô nói tiếp với giọng như van nài kèm thúc bách.

– Bác ăn cơm nghen bác. Hồi sáng này cháu nấu cơm với canh chua với cá kho mang lên để cho bác với cháu ăn chung cho vui. Cháu đã đi thăm hết bệnh nhân của cháu rồi mới ghé bác. Từ sáng tới giờ cháu đâu có ăn gì đói bụng muốn xỉu luôn. Cháu dọn ra bác với cháu ăn chung nghen bác…

Nhẫn vui vẻ ưng thuận vì không muốn làm buồn lòng Nhịn. Qua những lần thăm bệnh cô dần dần tạo được sự cảm mến và tín nhiệm nơi anh.

– Cháu có cần bác giúp gì không?

– Dạ cần bác giúp cháu ăn hết thức ăn mà cháu mang tới…

Nói xong Nhịn cười hắc hắc khiến cho Nhẫn cũng bật cười. Hai người ngồi đối diện nhau qua cái bàn nhỏ hai chỗ ngồi đặt trong nhà bếp. Tự nhiên như ở nhà mình Nhịn bắt đầu hâm cơm, canh và cá kho. Trong lúc chờ cô bày chén đũa muỗng và cái chén nhỏ dành đựng nước mắm sống mà người ta hay ăn với canh chua.

– Bác có nước mắm hông bác?

Nhẫn nhẹ gật đầu chỉ vào ngăn tủ cạnh bên tủ lạnh. Mở tủ ra Nhịn thấy hai chai nước mắm. Một chai lớn và một chai nhỏ. Cô chưa bao giờ thấy chai nước mắm nhỏ như vậy.

– Bác có chai nước mắm ngộ quá… Cháu chưa bao giờ thấy bán ở tiệm…

Cầm chai nước mắm lên ngắm nghía cô lẩm nhẫm đọc: ” Nước mắm nhỉ Phú Quốc ”. Cô hơi mỉm cười khi thấy ba chữ ” Thương tặng anh ”. Đọc xong cô mới nghĩ ra đây là chai nước mắm đặc biệt mà một cô gái nào đó đã tặng cho Nhẫn. Cô chưa kịp hỏi, Nhẫn đã lên tiếng trước.

– Một người quen đã tặng cho bác chai nước mắm đó. Nó đặc biệt lắm… Bốn mươi ba năm rồi mà màu nước mắm vẫn không đổi…

Nhẫn ngừng lời. Nhịn nghe như có tiếng thở dài rất khẽ đủ cho cô phải quay đầu lại nhìn. Nụ cười buồn hắt hiu và giọng nói cất lên nghèn nghẹn.

– Màu nước mắm không đổi mà lòng người lại đổi thay…

Nhịn cố giấu tiếng thở dài của mình. Cô hiểu được nỗi đau nhức của người thốt lên câu đó. Nói xong như muốn khỏa lấp lời vừa thốt ra, Nhẫn vội ngồi xuống chiếc ghế quen thuộc của mình, hít hít mũi, anh cười lên tiếng khi Nhịn đặt tô canh chua lên bàn.

– Thơm quá… Lâu rồi bác mới được ngửi mùi thơm của canh chua nấu với rau ngò om…

– Vậy thì bác phải ăn cho nhiều nghen bác… Còn dư cháu để trong tủ lạnh cho bác ăn ngày mai…

Có lẽ vui vì có người cùng ăn thêm thức ăn ngon nên Nhẫn ăn hơn hai chén cơm. Trong lúc ăn hai người, một già một trẻ nói chuyện rất tương đắc. Họ nhắc lại quá khứ, kỹ niệm cũ lúc còn ở Việt Nam nhiều hơn là nói về quãng thời gian gần đây.

Nhìn Nhẫn như đắn đo giây lát rồi Nhịn mới lên tiếng.

– Mấy anh chị con của bác có biết bác bị bịnh chưa bác?

Hỏi xong cô thấy Nhẫn có vẻ không được tự nhiên lắm. Im lìm khá lâu anh thở dài cất giọng trầm và khàn.

– Bác không có con cái gì hết…

Nghe câu trả lời, nhìn nét mặt già nua, mỏi mệt và khắc khổ, Nhịn cảm thấy có chút xót xa cho hoàn cảnh đơn chiếc của Nhẫn. Không nhịn được cô buột miệng hỏi tiếp.

– Bác gái mất lâu chưa bác?

Nhịn thấy ánh mắt của người đang ngồi đối diện với mình thật xa vắng.

– Bác không có vợ…

Câu trả lời có bốn tiếng thôi song cũng đủ cho Nhịn tưởng tượng ra quãng đời đăng đẳng dài của người sống một mình những ba mươi chín năm trên xứ lạ quê người. Đi. Ăn. Ngủ. Làm việc. Tất cả chỉ một mình. Tất cả là sự quạnh hiu, cô tịch, đơn lẻ. Chắc vì vậy mà bác ấy ít nói. Có ai đâu mà nói. Cô nghĩ thầm như vậy.

Giọng của Nhẫn mơ hồ vọng lên trong ngôi nhà im vắng.

– Ngày xưa, lâu lắm rồi bác có yêu thương một người… Sau đó vì hoàn cảnh hai người phải xa nhau. Bẵng đi thời gian mấy năm bác biết tin người này đã có chồng…

Nhẫn ngưng nói. Dù lời kể của anh vắn tắt song Nhịn cũng đoán ra Nhẫn thất vọng vì người mình yêu thương đã có chồng nên ở vậy luôn.

– Thực ra thì bác cũng tính lập gia đình song không tìm được người nào mà mình có thể yêu thương…

Nhịn hiểu lời của người đối thoại. Có một ít người với cá tính đặc biệt, yêu lần đầu mà tan vỡ họ sẽ sống mãi với tình yêu đó. Có thể mối tình đầu quá lớn và hình ảnh người yêu chưa phai mờ vì vậy mà họ không thể yêu thương ai được. Nhẫn nằm trong trường hợp đó.

– Bác ở một mình chắc buồn hả bác?

Nhịn cười hỏi. Nhè nhẹ gật đầu, Nhẫn nhìn ra khung cửa sổ nhà bếp. Có con chim sâu nhỏ bằng ngón tay ở đâu bay tới đậu trên thân cây thông chết khô lá.

– Lúc đầu cũng buồn nhưng riết rồi cũng quen dần đi… Hai bà chị của bác ở bên Dallas rủ bác về bên đó ở gần hai bả mà bác hổng chịu đi. Bác thích ở vùng đồi núi này. Phong cảnh đẹp, khí hậu mát mẻ và dân tình cũng tốt… Với lại ở đâu quen đó…

– Dạ cháu cũng thích lắm… Có bốn mùa rõ rệt… Hôm nào bác mạnh lại rồi cháu chở bác lên nhà cháu chơi…

– Nhà cháu ở đâu?

– Dạ ở Cleveland…

– Vậy là cháu đi làm cũng hơi xa hả?

– Dạ… Hai vợ chồng cháu đều đi làm hơi xa song tụi cháu thích ở một nơi không hẳn quê mùa lắm mà cũng không thành thị lắm. Ba đứa con của cháu cũng thích ở nhà có đất rộng, có ao nuôi cá, có đất nuôi gà, ngựa…

Nhịn nói một hơi. Cô kể cho Nhẫn nghe về gia cảnh của mình. Cô là chị hai, có em trai thứ ba và cô em gái út. Ba cô chết nên mẹ cô ở với đứa con gái út bên San Diego.

Ăn cơm xong, hai người, một già một trẻ kéo nhau ra phòng khách vừa ăn bánh ngọt uống nước trà nói chuyện tiếp cho tới hơn bốn giờ Nhịn mới chịu ra về. Ngồi trên chiếc ghế quen thuộc, Nhẫn nhìn theo Nhịn đi từng bước ra xe. Dáng đi của cô làm cho anh nhớ tới một người.

11.

Lựu thong thả ra khỏi lớp học. Mới đây mà cô đã ở Sài Gòn hơn hai tháng rồi. Sau khi học xong lớp 11 của trường trung học Rạch Giá, nhờ có cậu tư là giám thị của trường nữ trung học Lê Văn Duyệt Gia Định nên cô đã được nhận vào học lớp 12 để chuẩn bị thi lấy bằng tú tài toàn phần. Cô buồn vì phải xa đám bạn cũ song bù lại cô cũng bắt đầu quen với bạn mới. Điều khiến cho cô buồn nhất chính là nỗi nhớ nhung một người ở xa mà hình ảnh vẫn còn ở mãi trong lòng cô. Nhẫn. Sau đêm hôm đó, ông lính của cô đi biền biệt. Mỗi lá thư Nhẫn gởi về đều mang địa danh mới, xa lắc xa lơ. Nào Hớn Quản. Bù Đăng. An Lộc. Lộc Ninh. Tây Ninh… Nếu không có những lời nhớ thương, yêu mến mà anh nhắc lại của đêm kỹ niệm ở nhà dì năm, anh đã thành một kẻ lạ hoắc trong đời sống của cô. Người đi xa biền biệt sơn khê đồi núi mà ngày về cũng không biết. Trong lá thư mới nhất đề ngày 1 tháng 7 năm 1974, Nhẫn có nói anh đang ở Đồng Xoài; cái tên mà cô đem ra hỏi ai cũng lắc đầu tội nghiệp cho cô. Anh Bi, con trai lớn của cậu tư đang tùng sự tại bộ tổng tham mưu thì tỏ vẻ lo âu khi biết người yêu của cô em bà con là lính biệt động đang ở tuyến đầu đất nước mà sự sống chết mù mờ không biết trước được. Riêng Lựu, lo thì lo, sợ thì sợ; song yêu thì cứ yêu và còn thầm kiêu hãnh vì có người yêu đang làm lính đánh giặc. Đêm đêm sau giờ học bài, dưới ánh đèn điện lờ mờ trong mùng, cô cặm cụi viết thư tình cho Nhẫn, như là món quà tinh thần rất cần cho anh, để cho anh có niềm tin vững chắc mà sống sót trong cuộc chiến càng ngày càng có nhiều bất lợi cho phe quốc gia. Cô bỏ chút thời giờ đọc tin chiến sự trên báo, nghe trên đài phát thanh theo dõi về những trận đánh giữa hai phe. Càng nghe cô càng thêm lo âu cho số phận của người lính chiến mà cô đã yêu thương. Cô cầu mong anh trở lại, nhìn thấy nhau cho thỏa niềm nhung nhớ.

Lựu đạp thắng cho xe dừng lại vì chiếc ô tô buýt chạy đằng trước đậu vào trạm. Đợi cho chiếc xe buýt chạy đi cô mới từ từ rồ ga cho xe vọt tới. Bóng người lính mặc quân phục rằn ri lọt vào mắt cô. Người lính đi bộ có dáng người thật quen. Hổng lẽ Nhẫn. Lựu cảm thấy tim mình đập mạnh khi thoáng nghĩ tới tên của ông lính. Cũng đôi bốt đờ sô cũ. Cũng cái kiểu đội bê rê nghiêng nghiêng ngạo đời. Cũng dáng đi lừng khừng lượm bạc cắc. Cô mỉm cười vì ý nghĩ của mình. Ngang qua chỗ người lính đang bước cô liếc một cái thật nhanh. Tim của cô như ngừng đập.

– Nhẫn… anh Nhẫn… Anh ơi…

Lựu bật kêu mừng rỡ. Nhẫn ngước lên nhìn. Nụ cười của ông lính rạng rỡ còn hơn mặt trời ở trên cao kia.

– Lựu… Lựu… Em đi đâu vậy?

Ngừng xe lại, nhìn đăm đăm người lính đang đứng trước mặt mình, Lựu líu lo.

– Dạ… Em đi học dìa… Anh đi đâu dậy?

Có lẽ quá vui mừng nên Nhẫn đưa tay ra nắm tay Lựu vẫn còn cầm tay lái.

– Anh mới xuống xe buýt để về nhà má của anh…

Thấy xe cộ càng lúc càng đông đúc không tiện đậu xe trên đường, Nhẫn dắt xe của Lựu lên đậu trên lề  để hai đứa đứng nói chuyện.

– Em đi học về… Nhà cậu tư của em ở trong hẻm này nè anh. Còn nhà má anh ở đâu?

Nhẫn chỉ vào cái đường hẻm phía bên kia đường. Lựu kể vắn tắt cho Nhẫn biết mình đã lên Sài Gòn học lớp 12 ở trường nữ trung học Lê Văn Duyệt Gia Định. Nghe xong Nhẫn cười hắc hắc.

– May quá… Anh tính về nhà thăm má anh rồi ngày mốt anh sẽ xuống Rạch Giá thăm em. Bây giờ gặp em rồi thì anh khỏi đi. Mình có nhiều thời giờ với nhau hơn…

Nói xong Nhẫn thấy mắt Lựu long lanh. Cười âu yếm cô hỏi nhỏ.

– Anh tính đi thăm Lựu hả. Thiệt hả anh?

– Thiệt chứ… Anh nhớ Lựu muốn chết luôn… Kỳ này anh được nghỉ phép lâu nên tính đi xuống Rạch Giá gặp em rồi mình đi Phú Quốc thăm ba má em…

Rưng rưng nước mắt, Lựu nhìn Nhẫn với tia nhìn thật âu yếm và trìu mến.

– Em cũng nhớ anh nhiều lắm. Nhớ anh và lo cho anh nữa… Đọc báo thấy đánh nhau dữ lắm em lo sợ cho anh… Bây giờ thấy anh, em mừng lắm…

Như hiểu được tâm tình của Lựu, Nhẫn cười nhẹ nhàng lên tiếng.

– Anh theo em về nhà cậu tư của em cho biết nhà nghen… Anh sẽ xin phép cậu mợ em cho em qua nhà má anh cho biết…

Ngồi lên yên xe chiếc Honda đàn bà của Lựu, Nhẫn quay lại cười đùa một câu mà khi nghe xong cô mắc cỡ đỏ hồng đôi má.

– Má anh muốn coi mặt con dâu tương lai của bả… Em chịu hông?

Tiếng của Lựu nhỏ như tiếng thì thầm.

– Dạ chịu… Anh nói thiệt hả anh?

Nhẫn cười gật đầu lia lịa.

– Má anh muốn có cháu nội cho vui cửa vui nhà. Anh có kể cho má về chuyện anh quen với em. Bả biểu khi nào gặp em thì đưa em tới gặp. Má anh nói em xấu đẹp gì bả cũng ưng miễn là em thương anh là được rồi… Mà em có thương anh thiệt hông?

Lựu trả lời câu hỏi bằng cách xiết chặt vòng tay của mình cùng với tiếng thì thầm.

– Em hổng thương anh mà em nhớ anh muốn chết luôn vậy đó… Em viết thư cho anh mỗi ngày…

Xe quẹo vào ngôi nhà ngói cũ có sân trước khá rộng. Cậu tư của Lựu cũng là cựu quân nhân đã giải ngũ vì tàn phế do đó ông rất vui vẻ khi gặp Nhẫn. Sau một hồi hàn huyên này nọ, ông cho phép Lựu qua nhà Nhẫn để gặp mặt má và hai chị của Nhẫn.

 

12.

Xô nhẹ cửa bước vào Nhịn nhận ra ngay trong nhà của Nhẫn rất im lặng. Lên hết cầu thang, nhìn qua bên trái cô biết thiếu vắng một điều. Đáng lẽ trên chiếc ghế da quen thuộc phải có người ngồi mà giờ đây trống trơn. Hình tượng gầy gò và co ro với chiếc áo len cũ không có. Cô nhẹ đi dài theo hành lang. Phòng tắm nhỏ nằm bên trái, còn phòng ngủ nhỏ đối diện với phòng tắm. Trong góc có một phòng ngủ lớn cửa mở he hé cho cô thấy Nhẫn đang nằm ngủ. Không muốn đánh thức chủ nhà dậy cô trở ra phòng khách ngồi đợi. Nhà của một người già độc thân như Nhẫn ngăn nắp và sạch sẽ. Chỉ có điều rất im vắng và hiu quạnh. Dường như ngôi nhà hai phòng ngủ này thiếu chút sinh khí, thiếu tiếng cười nói và hơi người làm cho không khí ấm cúng hơn. Ngồi xuống chiếc ghế đặt bên cạnh ghế da cũ Nhẫn hay ngồi cô nhìn quanh quất. Trên mặt bàn kính bày cuốn sách gấp lại có đánh dấu trang cô nghĩ Nhẫn đang đọc dở. Cô nhận ra đó là cuốn Hương Rừng Cà Mau mà cô đã có dịp đọc qua. Không có chuyện gì làm trong lúc chờ chủ nhà thức dậy, cô cầm quyển sách lên đọc. Trên trang sách ngã màu ngà ngà, cô thấy dòng chữ nắn nót hiện ra. ” Thương tặng anh Hương Rừng Cà Mau để anh nhớ em và nhớ Rạch Giá...”. Chỉ vậy thôi. Người viết không có ký tên để cho cô có thể đoán ra là ai.

Đang ngắm nghía trang sách, nghe có tiếng ho rồi tiếng tằng hắng, Nhịn gấp quyển truyện ngắn của Sơn Nam lại rồi trả về chỗ cũ.

– Ủa cháu… Cháu tới hồi nào vậy?

– Dạ cháu cũng mới vừa tới. Biết bác ngủ nên cháu ngồi chờ bác thức dậy…

Tới ngồi vào chiếc ghế của mình, Nhẫn cười nhìn Nhịn và giọng nói nhẹ nhàng vang lên.

– Bác hơi mệt nên nằm nhắm mắt một chút… Mai mốt khi nào cháu tới cứ kêu bác dậy… Thời giờ của cháu rất ít nên quí giá hơn… Bác thì ngủ lúc nào cũng được…

– Dạ… hổng sao đâu bác… Bữa nay cháu chỉ có thăm bệnh mình bác thôi nên cũng rảnh…

Nói xong Nhịn soạn dụng cụ ra để làm công việc quen thuộc của mình. Trong lúc bỏ mấy viên thuốc vào trong cái hộp thuốc cho Nhẫn, cô nhìn quyển Hương Rừng Cà Mau rồi ngước lên cười hỏi Nhẫn.

– Dạ bác đang đọc quyển này hả bác?

Nhìn quyển truyện ngắn cũ Nhẫn gật đầu nhè nhẹ đoạn lên tiếng. Nhịn cảm thấy giọng nói thoáng chút ngậm ngùi.

– Bác mang nó từ Việt Nam qua đây. Sách cũ rồi, rách đứt mấy trang nhưng vì của người quen tặng nên bác không nỡ bỏ đi. Giữ gìn nó coi như giữ chút tình với người tặng cho mình…

– Dạ của người ta tặng cho mình thì rất quí…

Nhịn nói xuôi theo. Gật gật đầu Nhẫn nhìn ra khung cửa sổ.

– Cháu đọc quyển này chưa. Nếu cháu thích thì lấy về đọc xong trả lại bác. Thú thật với cháu quyển sách chẳng đáng gì nhưng đối với bác nó rất quí…

– Dạ… Cháu xin phép mượn đọc xong sẽ trả lại bác…

– Tuy cái tựa là Hương Rừng Cà Mau song cũng có phần nào liên quan tới Rạch Giá…

Bỏ hết dụng cụ và quyển truyện ngắn vào trong cái túi xách của mình, Nhịn cười đứng lên.

– Dạ chào bác… Hôm nay cháu phải về nhà sớm có chuyện cần… Cháu sẽ gặp lại bác tuần tới…

Nhẫn tiễn khách ra cửa. Nhìn theo dáng đi của Nhịn, anh nhẹ thở dài. Khép cửa và khóa cẩn thận, anh trở lại chỗ ngồi quen thuộc của mình. Khoảng trời xanh hiện ra qua khung cửa sổ. Khoảng trời hẹp đó thay đổi mỗi ngày song anh lại thấy quen thuộc vì đã nhìn ngắm nhiều lần. Đối với một người già bệnh hoạn như anh, chuyện ngồi im một chỗ hầu như không tránh được bởi vì đi ra ngoài hay ở trong nhà cũng không có bao nhiêu khác biệt. Đi đâu bây giờ. Nhiều lần ở trong nhà chán, anh thay quần áo, cầm lấy chìa khóa xe, bước xuống sáu bực thang, cầm lấy cái nắm cửa rồi tự hỏi: ” Đi đâu bây giờ…? Đi đâu cũng phố cũng nhà… Cũng là đất lạ cũng là người ta…”. Khi người ta đi thì phải có địa điểm và mục đích. Cũng như sống thì phải có cái ham muốn sống, một mục đích để sống. Anh hoàn toàn không. Dĩ nhiên anh cũng không muốn chết, nhưng sống mà thiếu ý nghĩa thì sống để làm gì chứ? Càng sống lâu anh càng thấy đời sống của mình mất dần đi ý nghĩa. Nó tương tự như mình cầm cái dao bào gọt đi củ cà rốt. Tới lúc nào đó củ cà rốt sẽ biến mất. Đã bao lần, trước khi bị stroke, ngồi im trên cái ghế da cũ mèm, nhìn ra khoảng trời xanh anh tự hỏi mình sống để làm gì? Cho bản thân mình ư? Cái thân xác nặng không quá 130 cân này đang bắt đầu ung thối thì tại sao không đem chôn nó đi cho rảnh nợ. Sống cho ai? Vợ không. Con không. Cha mẹ cũng không. Còn đất nước và dân tộc. Nhiều lần cứ nghĩ tới bốn tiếng ” đất nước-dân tộc ” anh lại mỉm cười chua chát cho rằng mình quá lý tưởng hay khờ ngạo. Khối cha thằng lãnh tụ đã nhân danh bốn tiếng này để mưu cầu lợi ích cá nhân. Rất nhiều thằng điếm chính trị, đĩ cách mạng đã lợi dụng bốn tiếng trên để ngồi lên đầu lên cổ, phè phỡn ăn nhậu cho đã cái miệng thúi tha và cái lòng bồ tát chứa đầy gươm đao giết người. Anh mà nói ra bốn tiếng này chỉ lãnh thêm búa rìu dư luận thôi. Lý do nào để cho mình tiếp tục sống? Chẳng có lý do, nguyên nhân, tại bị gì hết. Anh sống bởi gì chẳng thể chết hay đúng hơn chưa tới giờ để chết. Nói cách khác, ông trời đã quẳng anh vào cuộc đời này ổng chưa cho phép anh chết. Ổng thương hay ghét anh thì chưa biết song ổng vẫn còn muốn làm tình làm tội anh, vẫn muốn anh sống dở chết dở. Không duy linh duy vật gì hết, cũng không thuộc tôn giáo nào hết do đó anh cũng không cần phải được cứu rỗi, giải thoát, chẳng muốn lên thiên đàng hay niết bàn. Đủ rồi… Mệt quá rồi… Nhẫn cựa mình để đánh thức mình trong cơn lim dim ngủ của ý thức. Gió lất lây chòm cây phong của nhà bên kia đường. Cũng là phong mà màu lá cây đổi chẳng giống nhau và cũng chẳng cùng lượt nhau. Có cây lá vàng trên ngọn trước. Có cây vàng ở dưới trước. Có cây lá đổi màu vàng đậm ở chính giữa và ở trong rồi lan dần ra ngoài. Mùa thu không phải chỉ có cây phong mới đổi màu lá mà hầu như cây nào cũng đổi màu và rụng lá trừ cây thông và vài loại cây đặc biệt khác. Tùy theo vùng, mùa thu tới sớm hay trễ hơn song cùng có chung vài đặc điểm như thời tiết đi từ nóng sang mát rồi lạnh, cây đổi màu và lá rụng. Ba tính chất đặc biệt đó tạo thành nét quyến rũ và lãng mạn trong văn chương, âm nhạc và tình yêu. Nhẫn nhớ lại những năm đầu ở xứ Mỹ, cứ vào độ thu về trong hai ngày cuối tuần, anh thường ngồi im trên ghế đá công viên ngắm lá vàng rơi. Anh mê âm thanh của lá bị cơn gió thu lành lạnh cuộn đi trên cỏ và trên đường. Không có thứ âm thanh nào quyến rũ hơn được cũng như không có nỗi buồn nào hơn khi co ro trong chiếc áo không đủ ấm, gió cuối mùa thu lướt qua đủ khiến anh cảm thấy buồn bơ vơ, lạc lõng của một kẻ xa xứ trong mùa thu hiu quạnh. Đã bao lần rồi, đã bao nhiêu năm rồi; cứ mỗi năm thu về, tuy không còn háo hức như lúc đầu, anh đón thu về trong sự câm lặng buồn rầu và u uất. Từ đó thu vẫn quyến rũ song pha thêm dáng ngậm ngùi. Mình với thu ai già hơn? Nhẫn tự hỏi và mỉm cười lắc đầu vì câu hỏi khó trả lời của mình. Già ở đây ngoài tuổi tác lại còn  thêm cỗi cằn và tạ tàn. Thu tới. thu đi. thu lại tới. thu lại đi. Riêng anh chỉ một lần tới một lần đi. Anh là cái gì bất khứ hồi. Anh nhớ lại lúc ở một thành phố nhỏ thuộc tiểu bang Illinois. Ngôi nhà cũ, xập xệ nằm lọt vào khu rừng thưa cạnh bên đường rầy xe lửa. Ngày ngày cứ khoảng 6 giờ chiều, anh hay ngồi trước hàng hiên chờ chuyến xe lửa chạy qua. Chiếc xe lửa dài lê thê mấy trăm toa, hú còi u u, ì ầm chạy qua, lượn vòng cung theo khu rừng rồi mất dạng. Anh tự hỏi chuyến xe lửa có trở lại không. Nó có như mình một lần đi là một lần vĩnh biệt. Một lần đi thời gian sẽ xóa lối quay về.

Trang 4

Advertisements