Sát Đát Nhân 2

24

Tiếng thét Diên Hồng

     Trời tờ mờ sáng. Có lẽ khoảng giữa giờ dậu. Mười cỗ xe bốn ngựa, mỗi cỗ xe chở mười bô lão sẵn sàng lên đường. Mỗi cỗ xe sẽ được hộ tống và bảo vệ bởi hai nhân viên do thám.

Đứng quan sát đoàn xe giây lát Tam Ca Lê Ánh, lộ trưởng lộ Diễn Châu phất tay ra hiệu và đoàn xe từ từ lăn bánh rời khỏi dinh thự của vị An Phủ Sứ. Lát sau đoàn xe ra tới đường cái. Quẹo theo tay mặt đi về hướng bắc đoàn xe bắt đầu cuộc hành trình quan trọng. Từ Diễn Châu ra Thăng Long đường xa mấy trăm dặm phải vượt đèo, qua sông, băng núi với nhiều vất vả và gian nan.

     Tam Ca Lê Ánh ngồi trên cỗ xe dẫn đầu. Cạnh họ Lê là Nguyễn Đăng, một nhân viên trọng tuổi phụ trách cầm cương ngựa. Thừa biết tính chất quan trọng của chuyến đi cùng với sự yêu cầu của vị An Phủ Sứ nên Lê Ánh thân hộ tống đoàn xe về đế đô. Ngoài ra y còn tuyển lựa một số nhân viên giỏi võ và lâu năm trong nghề do thám đi theo bảo vệ các bô lão. Nếu trong thời thái bình có lẽ Lê Ánh không cần phải cẩn thận như vậy, nhưng Đại Việt đang sắp sửa có chiến chinh do đó y phải đề phòng mọi bất trắc có thể xảy ra.

     – Tam Ca… Đêm nay chúng ta ngụ ở đâu?

     Lê Ánh thứ ba do đó nhân viên dưới quyền thường gọi y bằng biệt danh Tam Ca. Liếc nhanh phong cảnh hai bên đường Lê Ánh thong thả trả lời câu hỏi của Nguyễn Đăng:

     – Đình trạm chứ ở đâu. Từ đây tới Thăng Long thiếu gì đình trạm. Quan An Phủ Sứ đã cấp báo cho các châu, phủ, huyện, làng xã từ Diễn Châu tới núi Lập Thạch…

     – Núi Lập Thạch ở đâu vậy Tam Ca?

     Quất ngọn roi da vào không khí Nguyễn Đăng cười hỏi câu trên. Lê Ánh hắng giọng:

     – Núi Lập Thạch ở huyện Chân Phúc là nơi phân chia ranh giới của Diễn Châu và Ái Châu cũng như đèo Tam Điệp là nơi phân định ranh giới của Thanh Hóa và Ninh Bình. Không ai biết tại sao và lúc nào mà giữa vùng đồng bằng của xã Đặng Điền bỗng nhiên nổi vọt lên ngọn núi đá giống như hình người ta đứng mà dân chúng gọi là ngọn Tiên Nhân và bên phải có một hồ nước nhỏ tên hồ Hải Thủy. Tương truyền thuở xa xưa có một ông thần dựng một hòn đá to lớn để vạch địa hạt cho Diễn Châu và Ái Châu rồi sau này biến thành núi Lập Thạch…

     Ngừng nói Lê Ánh quay nhìn đoàn xe ngựa đang phi nước đại trên đường thiên lý. Vầng thái dương từ từ nhô lên trên mặt biển.

     – Tam Ca… Chuyến này ra đế đô gặp Lê trưởng ban, Tam Ca nói dùm tôi một tiếng…

     Lê Ánh gật đầu:

     -Ta biết rồi… Ngươi cần lên chức chứ gì…

     Nguyễn Đăng nói trong tiếng thở dài:

     – Tôi không cần lên chức mà tôi cần lên lương. Tam Ca biết mà… Vợ tôi buôn gánh bán bưng cộng với đồng lương của tôi cũng không đủ nuôi năm đứa con. Tụi nó lớn như thổi ăn bao nhiêu cũng không no bụng…

     Lê Ánh cười ha hả:

     – Ai bảo ngươi có nhiều con làm chi nhất là con trai ăn như hùm xực hơn hổ. Ngươi không nghe ông bà mình nói ” con là nợ ” sao… Ta biết ngươi không cần lên chức mà cần lên lương song nếu không lên chức làm sao lương hướng và bổng lộc cao được…

     Trầm ngâm giây lát Lê Ánh thở dài tiếp:

     -Ta biết nhân viên người nào cũng xứng đáng được thăng chức song triều đình đã có lề luật hẳn hòi. Thôi được rồi ta sẽ năn nỉ Lê trưởng ban…

     Nguyễn Đăng cười rè:

     – Tam Ca là bà con chú bác với Lê trưởng ban cho nên nói một tiếng ổng ừ liền…

     Lê Ánh mỉm cười không nói vì đang chú tâm lắng nghe. Trong tiếng vó câu nện rầm rập trên mặt đường y nghe được tiếng vó ngựa dồn dập rồi thoáng chốc một thớt ngựa xuất hiện trên đường thiên lý vắng vẻ. Vị nhân viên do thám cao cấp nhất của Diễn Châu lộ hơi cau mày. Bằng kinh nghiệm nghề nghiệp y đánh hơi được sự việc lạ lùng có thể xảy ra cho đoàn xe chở bô lão.

     Khi thớt ngựa tới gần trăm trượng y nhận ra một hắc y kỵ sĩ ngồi ngất ngưỡng trên lưng con hồng mã cao lớn. Cước trình của ngựa nhanh vô tả. Thoáng chốc đã vượt qua mặt đoàn xe rồi sau cùng chạy song song với chiếc xe dẫn đầu. Lê Ánh liếc một cái thật nhanh. Vận vũ phục đen, đầu đội chiếc nón rộng vành che khuất mặt mày, kỵ sĩ ngồi trên ngựa ung dung và vững vàng như người ta ngồi trên đất bằng. Lê Ánh giật mình khi chạm phải ánh mắt sáng rực và sắc sảo của kỵ sĩ xa lạ. Vừa vượt qua mặt chiếc xe dẫn đầu kỵ sĩ tung người lên cao hơn trượng đoạn từ từ rơi xuống yên ngựa. Nguyễn Đăng trợn mắt khi mục kích hắc y kỵ sĩ đứng một chân trên lưng ngựa, hai tay dang ra thẳng băng và chân trái co lên ép sát vào chân phải. Lê Ánh lẩm bẩm những gì trong miệng không ai nghe rõ. Dường như muốn phô diễn thuật kỵ mã của mình, hắc y kỵ sĩ lật người nằm ngang song song với mặt đất. Liếc qua bên trái  Nguyễn Đăng thấy xếp của mình có cử chỉ đề phòng bằng cách tay mặt nắm chặt lấy cây roi tre trong lúc nét mặt lộ vẻ lo âu và băn khoăn như đã nhìn ra lai lịch của người cỡi ngựa áo đen.

Đang nằm ngang kỵ sĩ luồn xuống dưới bụng ngựa đoạn ngồi thẳng trên lưng. Con hồng mã chợt hí tiếng dài tuôn vùn vụt về phiá trước rồi mất dạng sau khúc quanh. Nhẹ thở phào Lê Ánh rời tay khỏi cây roi tre..

     – Tam Ca biết hắn là ai không?

     Nguyễn Đăng lên tiếng hỏi và Lê Ánh nhếch môi cười đáp:

     – Ta không dám cả quyết nhưng có thể là nhân viên do thám Mông Cổ…

 Ngừng lại giây lát vị lộ trưởng Diễn Châu lộ thong thả tiếp:

     – Cách đây mấy tháng khi ra Thăng Long hội họp ta được Lê trưởng ban giảng giải một cách chi tiết về quân Mông Cổ nhất là nhân viên do thám của đoàn do thám Nguyên triều. Theo lời Lê trưởng ban thời tổ tiên của Mông Cổ là giống dân Hung Nô, một sắc dân du mục trong vùng sa mạc giáp giới với miền bắc nước Tàu. Người Mông Cổ hiếu chiến, tôn trọng kỷ luật, lại có biệt tài bắn cung và cỡi ngựa. Họ có thể ăn ngủ trên lưng ngựa. Cũng vì lý do này mà kỵ binh của họ rất thiện chiến và lợi hại. Phần nhân viên do thám đa số đều xuất thân từ giới giang hồ do đó trình độ vũ thuật cao siêu vô lường. Lê trưởng ban còn nói thêm là vũ thuật của  giới vũ lâm Mông Cổ có chiêu thức kỳ bí, đường lối, lộ số quái đản và hiểm độc. Theo ta nhận xét thời gã cỡi ngua khi nảy chính phần mười là nhân viên do thám Mông Cổ…

     – Tôi không hiểu tại sao nhân viên do thám Mông Cổ lại xuất hiện ở Diễn Châu…

     Lê Ánh mỉm cười:

     – Chuyện đó cũng dễ hiểu. Trước sau gì Mông Cổ cũng xâm lăng nước ta. Theo thông báo của tổng đàn gởi cho ta hồi tháng tám, thời tên tướng của Mông Cổ là Tả Thừa Toa Đô đã chỉ huy đại đội chiến thuyền sang đánh Chiêm Thành. Nếu đánh bại nước Chiêm thời hắn sẽ dẫn quân đánh vào miền nam nước ta để biến thành thế gọng kềm yểm trợ cho đạo binh phương bắc của chúng. Trước khi xuất quân tên tướng Toa Đô phải biết rõ đường đi nước bước, địa thế núi sông và dân tình của Tân Bình trại, Nghệ An trấn và Diễn Châu lộ. Cũng vì lý do này mà nhân viên do thám Mông Cổ xuất hiện ở Diễn Châu…

     Lê Ánh vừa dứt lời, tiếng vó ngựa vọng lại mỗi lúc một rõ hơn rồi bóng ngựa xuất hiện. Tay trái kẹp thanh roi tre vào bên hông, Lê Ánh nghiêm giọng nói với nhân viên:

     – Đưa cây roi da cho ta còn ngươi giữ việc lái xe…

     Con hồng mã phóng tới như bay. Một trăm bước… Năm mươi bước… Lê Ánh gằn giọng:

     – Nhanh hơn nữa…

 Nguyễn Đăng giật mạnh cương ngựa. Bốn con chiến mã kéo cỗ xe lao vùn vụt. Hai mươi bước… Hắc y kỵ sĩ hò tiếng lớn cùng với thân hình vọt chênh chếch lên trời cao xong tà tà rơi xuống chỗ hai nhân viên do thám Đại Việt đang ngồi. Cười hực Lê Ánh rung tay. Ngọn roi da bung ra thẳng băng mà đầu roi điểm vào cổ chân địch thủ.

     Làm một nhân viên do thám mà không biết võ thời chẳng khác gì thư sinh mà mù chữ. Thân danh lộ trưởng, dĩ nhiên Lê Ánh phải thuộc hàng cao thủ hữu hạng giang hồ và điều đó được chứng tỏ qua chiêu thức vừa thi triển. Ngọn roi bằng da mềm mại song được Lê Ánh phổ kình lực vào biến thành thứ vũ khí cứng như roi, côn hay gậy thừa sức đả thương đối thủ một cách dễ dàng.

     Hò tiếng nho nhỏ hắc y kỵ sĩ xuất thủ. Từ trong ống tay áo rộng ló ra năm ngón tay mở khoằm khoằm như vuốt chim ưng chụp tới đầu roi da. Vành môi hơi nhếch thành nụ cười, Lê Ánh vặn cổ tay. Đầu roi da chuyển hướng điểm vào huyệt đạo thuộc túc dương minh vị kinh như phục thố, âm thị và lương khâu nơi đầu gối của địch thủ.

     Hắc y kỵ sĩ lâm vào tình trạng bất lợi vì đang ở trên không. Sở dĩ hắn còn chi trì được  là do ở thuật khinh thân đề khí có nghĩa là tùy thuộc vào nội lực để duy trì tình trạng lơ lửng trong không khí. Điều này khiến cho hắn vừa lo vận dụng nội lực để giữ thăng bằng vừa lo hóa giải chiêu thức của địch thủ. Dường như không còn chọn lựa nào hơn là rút lui hắc y kỵ sĩ vung tay vổ một đòn phách không chưởng để lấy đà lộn  một vòng  trông không khí rồi tà tà rôi dạt xuống lề đường. Không bỏ lỡ cơ hội Lê Ánh điểm chân xuống sàn xe. Nương đà thân hình của y vọt lên chênh chếch cùng với ngọn roi da quất tới địch thủ. Chân vừa chạm đất hắc y kỵ sĩ thoáng thấy đầu roi da chập chờn nơi ngực của mình. Giật mình hắn tức tốc hồi bộ bước dài xong đứng im nhìn theo đoàn xe lướt vùn vụt trên đường vọng lại tiếng cười đắc chí của địch thủ.

     A Bát im lặng nghe thuộc cấp kể lại cuộc đụng độ với nhân viên do thám hộ tống đoàn xe chở bô lão về Thăng Long. Nghe xong hắn cất giọng trầm trầm:

     – Binh gia thắng bại là chuyện thường. Bởi vậy phó thủ lĩnh mới bảo các ngươi nên thận trọng. Đoàn do thám An Nam và giới giang hồ Giao Chỉ có lắm nhân tài. Để ngày mai ta thử chận đường…

     Quay sang một nhân viên trẻ tuổi tên Nguyễn Ba, hắn hỏi:

     – Ngươi là dân cư ngụ ở vùng này vậy theo ý ngươi chận đoàn xe chỗ nào thuận tiện nhất?

     Nguyễn Ba đáp không do dự:

     – Núi Lập Thạch là nơi phân chia ranh giới giữa Diễn Châu và Thanh Hóa. Chỗ này địa thế vắng vẻ, hiểm trở và đường hẹp do đó đoàn xe phải đi chậm lại. Nếu đại nhân chận đường ngay Lập Thạch sẽ có nhiều thuận lợi hơn ở chỗ đồng bằng trống trải…

     – Bọn chúng có bao nhiêu người, ngươi biết không?

     Nguyễn Ba cười đáp:

     – Theo lời quân lính trong dinh tên An Phủ Sứ nói thời mỗi chiếc xe được hai nhân viên do thám hộ tống như vậy chúng phải có ít nhất là hai mươi nhân viên do thám cầm đầu bởi gã lộ trưởng có biệt danh là Tam Ca Lê Ánh. Tên Lê Ánh này giỏi võ lắm, đại nhân nên cẩn thận khi giao đấu với hắn… Gã Tam Ca Lê Ánh có ngón võ gia truyền là Hắc Hổ Quyền…

     A Bát cười gằn không nói. Ngẫm nghĩ giây lát hắn ra lệnh cho Nguyễn Ba:

     – Ngươi hướng dẫn nhân viên của ta tới núi Lập Thạch tìm chỗ kín đáo ẩn núp. Phần ta sẽ đi theo đoàn xe…

     Cơn mưa kéo dài từ đêm qua tới giờ vẫn chưa tạnh. Con đường thiên lý vắng không người đi lại. Đoàn xe chậm chạp di chuyển trên con đường lầy lội và ướt át. Đưa mắt nhìn mưa bay lất phất trong bầu không khí xám xịt, Nguyễn Đăng cằn nhằn:

     – Mưa gì mưa hoài… Lạnh quá…

     Lê Ánh cười lên tiếng:

     – Sắp tới núi Lập Thạch rồi. Ta sẽ dừng lại dưới chân núi để dùng cơm trưa…

     Nhìn thấy Lê Ánh đầu trần và mặc phong phanh chiếc áo vải, Nguyễn Đăng cười hỏi:

     – Tam Ca không lạnh à?

     Lê Ánh cười cười:

     – Không… Sở dĩ người ta lạnh là vì màn vệ khí che chở thân thể của họ yếu. Phần ta luyện nội công từ nhỏ cho nên màn vệ khí mạnh đủ để chống lại nóng lạnh, phong hàn cảm mạo và bệnh tật thông thường…

     Đưa tay chỉ tảng đá cao lớn vươn trên nền trời mưa bụi Lê Ánh nói tiếp:

     – Tới rồi…

     Nói được hai tiếng trên y đứng bật dậy chăm chú nhìn. Xa xa trong tầm mắt, y trông thấy một bóng người đứng sừng sững trên con đường thiên lý mưa giăng.

     – Ngươi dừng lại ở đây… Để ta đi trước dò đường…

     Dặn dò nhân viên xong vị lộ trưởng Diễn Châu quăng mình xuống mặt đất trơn trợt đoạn triển thuật phi hành chạy lên đỉnh núi. Hai bên đường vách đất cao ngất. Cây xanh ngút ngàn. Còn chừng mươi trượng y nhận ra người lạ mặc y phục Mông Cổ.

     – Ngươi là ai?

     Lê Ánh lên tiếng hỏi dù chín phần mười y đã đoán ra lai lịch của kẻ chận đường mình. Hất chiếc nón tơi xuống người lạ cất giọng:

     – A Bát ta là nhân viên của đoàn do thám Nguyên triều. Nếu ta không lầm ngươi là Lê Ánh, lộ trưởng Diễn Châu lộ…

     Lê Ánh hơi đổi sắc và cử chỉ này không thoát qua khỏi nhận xét tinh tế của A Bát. Cười ha hả với vẻ đắc chí gã nhân viên kỳ cựu của đoàn do thám Mông Cổ nói lớn:

     – Ha…ha… Ngươi ngạc nhiên lắm phải không. Ta còn biết nhiều lắm… Ta còn biết ngươi có biệt danh là Tam Ca, có võ gia truyền là Hắc Hổ Quyền. Ta nói cho ngươi biết hai mươi nhân viên hộ tống đoàn xe của ngươi sẽ không còn một người nào trở về thấy mặt cha mẹ, vợ con…

     Tam Ca Lê Ánh mỉm cười. Tuy không nói ra y thầm cám ơn địch thủ đã tiết lộ một điều quan trọng là nhân viên của mình đã thông đồng với địch hoặc binh lính của vị An Phủ Sứ đã làm nội ứng cho giặc. Y cũng biết là khi tiết lộ những điều đó địch thủ phải giết người diệt khẩu, do đó y cần phải sống sót để khám phá ra kẻ nào đã thông đồng với giặc.

     Chuyển bộ tới đứng cách đối phương ba bước, A Bát nhếch môi:

     – Ta từng nghe nhân viên của đoàn do thám Thăng Long danh lừng tứ xứ. Nay gặp đây ta muốn thử tài cho biết…

     Tam Ca Lê Ánh buông gọn:

     – Xin mời…

     Liếc ngọn roi tre đối phương mang trên vai A Bát cao giọng hỏi:

     – Các hạ muốn đấu quyền hay vũ khí?

     Tam Ca Lê Ánh cười hực:

     – Ngươi thừa biết là nhân viên do thám hành sự khác với vũ sĩ giang hồ. Ta sẽ xử dụng bất cứ thủ đoạn nào để giết một tên cẩu Mông như ngươi…

     Bị đối phương mắng, A Bát giận cành hông tuy nhiên hắn đủ khôn ngoan để chế ngự sự giận dữ của mình bằng cách đứng im an thần định khí. Biết mình đụng phải kỳ phùng địch thủ, Lê Ánh đạp chảo mã tấn. Bàn tay mặt nắm lại thành quyền ép sát bên hông còn bàn tay tả mở cong cong đưa lên ngang ngực, họ Lê triển khai Hắc Hổ quyền gia truyền. Các vùng Tân Bình trại, Nghệ An trấn và Diễn Châu lộ không có nhiều môn phái nổi tiếng trong giang hồ song lại có rất nhiều người biết võ gia truyền. Khi nói tới võ gia truyền là nói tới loại vũ thuật bí hiểm, kỳ dị, quái đản ít người biết và hiếm người thấy. Tam Ca Lê Ánh là một trong số vũ sĩ có võ gia truyền. Hắc Hổ quyền của y được chính phụ thân truyền thụ. Nghe đâu cha của Lê Ánh là một thợ săn thú dữ. Trong một lần theo dấu con hổ bị thương ông ta gặp một dị nhân ẩn cư trong dãy Trường Sơn và được dị nhân này truyền thụ Hắc Hổ quyền. Từ đó cha của Lê Ánh trở thành một trong những người có võ gia truyền nổi tiếng ở Nghệ An.

Vốn là một nhân viên do thám từng trải, giàu kinh nghiệm giao tranh; A Bát sớm nhận ra đối thủ của mình quả nhiên có trình độ vũ thuật cao siêu. Không dám khinh thường hắn vội đạp bộ. Lấy chân trái làm trụ, chân phải co lên ép sát vào chân trái, hai tay dang ra thẳng băng, hai bàn tay chụm lại nhọn hoắt như mỏ chim, gã nhân viên của đoàn do thám viễn chinh Nguyên triều triển khai chiêu thức khởi đầu của Ưng trảo, tuyệt kỹ phổ thông và nổi tiếng của giới giang hồ Mông Cổ. Chiêu thức này hao hao giống như chiêu đại bàng triển xí của vũ lâm Trung Hoa hay ó núi xòe cánh của giới giang hồ Đại Việt. Nghe biết địch thủ của mình có hắc hổ quyền do đó A Bát thi triển ưng trảo bởi vì đem ưng trảo ra chọi với hổ quyền là đúng sách vở và lời chỉ dạy của sư môn rồi.

     A Bát nhích động và cái nhích động của hắn nhanh vô cùng. Hai cánh tay áo rộng no tròn kình lực kéo ập  vào. Hữu chỉ nhắm ngay  thái dương huyệt mổ tới.     Thân thể người ta có ba mươi sáu tử huyệt thời thái dương là một trong những huyệt đạo đó. Nó nằm tại chỗ lõm giữa đuôi mắt và góc ngoài cùng của mắt lùi ra phía sau khoảng một tấc. Trong vũ thuật nói chung và thuật điểm huyệt nói riêng; ” tấc ” mà có người gọi là ” thốn ” là khoảng cách rộng nhất của ngón tay cái hay chiều dài của đốt ngón tay thứ nhì của ngón giữa của bàn tay trái. Nếu bị điểm trúng thái dương huyệt người ta sẽ bị choáng váng, mắt tối lại, ù tai và có thể đưa tới tình trạng tử vong tuỳ theo nặng hay nhẹ.

     Tam Ca Lê Ánh giật mình trước chiêu thức độc hiểm của địch thủ. Dù khoảng cách còn xa song y cảm thấy kình khí bắn vào màn vệ khí của mình ran ran như ong chích. Chiêu thức nhắm vào huyệt thái dương song dưới cái nhìn của Lê Ánh, nó có thể điểm vào bất cứ bộ vị hoặc huyệt đạo nào nơi đầu, cổ, vai hay tay một cách dễ dàng và nhanh chóng. Chưa hết… Bàn tay trái của A Bát khi kéo vào nửa đường chợt khép lại thẳng băng chém dứ vào khuỷu tay địch thủ. Tay có nhiều huyệt đạo thuộc thủ tam âm và thủ tam dương kinh. Tuy không phải là tử huyệt song rất quan hệ tới sự sinh tử của một vũ sĩ bởi vì nếu hai cánh tay bị thương tích họ sẽ chết dưới những chiêu thức hoặc đòn thế của địch thủ.

     Trước sát thủ có thể lấy mạng người trong nháy mắt này Tam Ca Lê Ánh phải chiết chiêu và cách chiết chiêu của y đủ khiến cho kẻ địch giật mình kinh hãi. Ngay lúc chiêu thức còn cách mục tiêu gang tấc Lê Ánh đạp bộ. Nương theo đà chân phải của y đá vào hạ bộ, còn hữu quyền đấm vào ngực trong lúc bàn tay tả bung ra với năm ngón tay mở khoằm khoằm như vuốt cọp cào vào mặt địch thủ. Hai mươi năm làm nhân viên do thám từng chinh đông phạt bắc, so quyền đọ cước với vô số cao thủ, A Bát chưa thấy ai có lối chiết chiêu liều lĩnh và dữ dằn như muốn thí mạng. Dĩ nhiên A Bát không muốn chết nhất là chết nơi xó trời hẻo lánh hoang vu của Đại Việt. Nếu không muốn chết hắn phải chiết chiêu giải đòn trong khoảng thời gian nhanh hơn chớp mắt bởi vì chiêu thức chỉ còn cách mục tiêu gang tấc.

     Hồi bộ bước ngắn để tránh né chiêu thức của địch thủ xong A Bát bước trở lại chỗ cũ cùng lúc hai cánh tay vung lên. Bàn tay hữu chụm lại nhọn hoắt mổ lia lịa vào các huyệt đạo trước ngực trong lúc bàn tay tả khi mở thành chưởng, lúc khép lại thành triệt thủ, khi cụp lại như chỉ và có lúc mở khoằm khoằm như trảo nào vổ, bắt, chụp, cấu cào, móc vả, vặn bẻ. Hắn biến chiêu, phá thế, giải đòn, đổi thức lanh khủng khiếp. Không chịu sút Tam Ca Lê Ánh triển khai hắc hổ quyền gia truyền giao đấu với địch thủ cực kỳ ác liệt. Quyền cước của hai bên chạm nhau chan chát. Người nào nội ngoại công phu yếu hơn sẽ không chịu nổi sự tấn công sẽ lần lần lâm vào thế hạ phong. Một trăm chiêu qua mau mà song phương vẫn ở thế quân bình và cuộc giao tranh vẫn chưa kết liễu.

     Đang giao đấu Tam Ca Lê Ánh chợt nghe tiếng hú vọng lên dưới chân núi. Đó là tiếng hú của Nguyễn Đăng báo hiệu cho y biết đoàn xe đang gặp nguy hiểm và cần sự giúp đỡ của y.

     A Bát nói trong tiếng cười đắc chí:

     – Ngươi trúng kế điệu hổ ly sơn của ta rồi… Giờ này các bô lão của ngươi chắc đã chầu diêm chúa…

     Tam Ca Lê Ánh giật mình. Rẹt…Thanh roi tre dài thước rưởi vút tới huyệt thương khúc của địch thủ. Tốc độ nhanh nhẹn, lực đạo trầm trọng, thế thức biến ảo; ba tính chất này biến đường roi của Lê Ánh trở nên dữ dằn, kỳ bí và hung hiểm cực cùng nhằm mục đích bắt địch thủ phải lùi lại để y thừa cơ hội rút lui. Dường như đoán được ý định của kẻ địch nên A Bát không những không thối lui mà còn đạp bộ tiến tới. Tuy nhiên hắn ước đoán sai lầm về bản lĩnh của kẻ địch. Ngay lúc hắn vừa đạp bộ thanh roi tre của vị lộ trưởng Diễn Châu lộ đột nhiên biến thành trăm nghìn bóng ảnh chập chờn ma mị, mịt mờ giăng mắc khắp nơi. Chát… Chát… A Bát xửng vửng lùi lại xong trợn mắt nhìn đối phương biến thành cái bóng tuôn vùn vụt xuống chân núi.

     – Ngươi chạy đàng trời…

     Hét tiếng lớn A Bát bám theo địch thủ bén gót. Vừa xuống tới chân núi Lê Ánh mừng rỡ khi thấy đoàn xe mười chiếc vẫn còn đậu bên lề đường. Mấy con chiến mã ung dung gặm cỏ còn Nguyễn Đăng đang đứng trò chuyện với một ông lão lùn mập và râu tóc bạc phơ. Ông ta vận y phục bằng vải thô cũ kỹ và rách rưới giống như một thường dân cùn đinh nghèo khổ hay một kẻ ăn mày không nhà cửa. Vừa thấy Lê Ánh Nguyễn Đăng lên tiếng:

     – Tam Ca… Lão trượng đây…

     Cười hí hí, ông lão lên tiếng trước dường như muốn ngăn không cho Nguyễn Đăng nói thêm:

     – Nếu chú em trả năm lạng bạc ta sẽ bắt thằng Mông Cổ đó cho chú em…

     Nhìn theo tay chỉ của ông lão, thấy A Bát chỉ còn cách mình chừng năm mươi bước, Lê Ánh nói trong tiếng thở gấp:

     – Tôi không có sẵn tiền ở đây. Nếu tóm cổ được thằng Mông Cổ đó xong lão trượng cứ tới tổng đàn do thám gặp Vạn Lý Câu Lê Hành để lãnh tiền…

     Cười hí hí ông lão nói đùa:

     – Để nó tới gần hơn ta sẽ bẻ ống quyển cho chú em an tâm…

     Xoay người đứng cạnh Nguyễn Đăng, Lê Ánh thấy A Bát chỉ còn cách mình mươi bước. Cười hí hí ông lão lắc mình. Bịch… Bịch… Gã nhân viên kỳ cựu của đoàn do thám viễn chinh Mông Cổ hự tiếng nhỏ gục xuống đất. Quay nhìn Lê Ánh, ông lão cười nói lớn:

     – Ta sẽ gặp lại chú em…

     Dứt lời ông lão cắp lấy A Bát rồi biến thành cái bóng mờ trong màn mưa bắt đầu nặng hạt. Tam Ca Lê Ánh thở khì quay qua nói với thuộc cấp:

     – Thôi chúng ta lên đường…

     Ngồi trên xe vẩy cương cho ngựa chạy Nguyễn Đăng hỏi:

     – Ông ta là ai vậy Tam Ca?

     Lắc đầu Lê Ánh nói một hơi thật dài:

     – Ta không biết. Có lẽ là một kỳ nhân dị sĩ hay bậc trưởng thượng trong giang hồ. Tới Thăng Long gặp Lê trưởng ban may ra chúng ta mới biết ông ta là ai…

     Đang ngồi tại phòng làm việc Vạn Lý Câu Lê Hành chợt thấy người lính hầu cận hấp tấp bước vào.

     – Trình Lê trưởng ban…Có một người nói muốn gặp ngài ở ngoài cổng chánh…

     Hơi cau mày Lê Hành hắng giọng:

     – Ngươi ra mời người đó vào đây gặp ta…

     Người lính hầu cười gãi đầu:

     – Trình Lê trưởng ban… Lính canh có mời song ông ta không chịu vào…

     – Ông ta có xưng tên gì không?

     – Thưa lính canh có hỏi song ông ta không nói. Ông ta chỉ nói là việc này có liên quan tới Tam Ca Lê Ánh…

     Vừa nghe nói tới tên Tam Ca Lê Ánh, Vạn Lý Câu Lê Hành đứng dậy liền.

     – Thôi được… Để ta ra cổng gặp ông ta…

     Ra tới cổng Lê Hành thấy một ông lão lùn mập, râu tóc bạc phơ ăn mặc nghèo nàn và rách rưới. Trên vai của ông ta mang gói hành lý to và nặng. Chỉ cần nhìn mục quang sáng rực, vị trưởng ban tin tức đoàn do thám Thăng Long biết ông ta có nội lực cao thâm vô cùng. Ôm quyền thi lễ Lê Hành cười nói:

     – Tôi là Lê Hành… Hân hạnh được gặp lão tiền bối…

     Cười hí hí ông lão lên tiếng:

     – Chú em chắc không lạ gì Tam Ca Lê Ánh?

     Vị trưởng ban tin tức đáp nhanh:

     – Y là em chú bác với tôi…

     Ông lão nói trong tiếng cười hí hí:

     – Y thiếu ta năm lạng bạc và y nói cứ gặp chú em để đòi tiền…

     Lê Hành ngơ ngác không biết chuyện gì xảy ra. Ông lão buông gói hành lý rơi xuống đất xong cười hi hí:

     – Đây là tên do thám Mông Cổ mà Lê Ánh mướn ta bắt với giá năm lạng bạc…

     Dứt lời ông lão xòe bàn tay mập mạp và ngắn ngủn ra trước mặt Vạn Lý Câu Lê Hành như muốn đòi tiền công. Móc túi lấy ra nén bạc cầm trong tay song không trao cho ông lão, Lê Hành cười nhã nhặn hỏi:

     – Tiền này thuộc về công quỷ do đó tôi cần biết tên của lão tiền bối để tiện ghi vào sổ sách…

     Cười hí hí ông lão lắc mình. Lê Hành thấy thân ảnh chớp chớp cùng với sức hút khủng khiếp khiến cho nén bạc vuột khỏi tay của mình rồi sau đó ông lão biến thành cái bóng mờ bay nhảy chập chờn trên đường vọng lại câu nói:

     – Chú em nhắn với Lê Ánh ta cám ơn y nhiều…

     Vạn Lý Câu Lê Hành, nhân vật nổi danh nhất giang hồ về thuật phi hành siêu đẳng đứng ngẩn người như bận tâm suy nghĩ chuyện gì. Dù lưu lạc giang hồ hai chục năm, dù nhẵn mặt hết vũ sĩ giang hồ y vẫn không nhận ra ông lão vô danh và xa lạ là ai.

     Dân chúng tề tựu quanh cửa thành Diệu Đức chăm chú nhìn đoàn xe đậu im lìm chờ tới giờ mở cổng.

     – Xe gì vậy bác tám?

     Một phụ nữ quảy gánh lên tiếng hỏi ông lão đứng cạnh:

     – Đó là đoàn xe chở bô lão của mười hai lộ trong nước về tham dự hội nghị Diên Hồng…

     – Hội nghị Diên Hồng là gì bác tám?

     Có tiếng thở dài rồi giọng nói khàn khàn vang lên:

     – Tụi bây chắc cũng nghe nói là giặc Mông Cổ sắp sang đánh nước ta. Thượng hoàng và vua Nhân Tông còn dụ dự chưa biết nên đánh hay nên hòa cho nên mới triệu các bô lão của mười hai lộ về điện Diên Hồng để hỏi ý kiến. Nếu bá tánh đồng lòng đánh thời hai vua sẽ đánh còn nếu ý dân muốn hòa thời hai vua sẽ hòa…

     – Theo ý bác thời ta nên hoà hay nên đánh?

     – Thằng Tư mày hỏi lạ. Nước ta, dân ta đã quen tự chủ và độc lập hơn hai trăm năm nay rồi bây giờ không lẽ lại cúi đầu thần phục ngoại bang sao. Huống chi lũ giặc ở phương bắc lòng tham không đáy, ác tợ sài lang, độc hơn rắn rít; nay đòi dâng đất, mai muốn dâng người, mốt muốn thêm núi non, sông nước của ta. Thử hỏi lũ người như vậy làm sao ta có thể chịu để cho chúng đè đầu cỡi cổ được. Chỉ có những kẻ nào ươn hèn, nhút nhát, riêng nghĩ tới thân mình mới bằng lòng dâng đất dâng nước cho chúng mà thôi. Hai vua của nước ta là vua hiền thương nước thương dân chắc thế nào cũng phải đánh nhau với Mông Cổ. Đối với kẻ quen dùng bạo lực để áp chế người khác thời ta phải dùng sức mạnh để đánh lại chúng. Đó mới là thượng sách. Ta nói cho tụi bây biết là đứa nào trai tráng khỏe mạnh nên lo mài dao dũa búa để khi triều đình tuyển mộ binh lính thời ra sức giết giặc. Lũ Mông Cổ ác lắm… Chúng đi tới đâu là cây cỏ còn không sống được huống chi người…

     Thùng… thùng… thùng… Ba hồi trống nổi rền không gian báo hiệu giờ mẹo bắt đầu. Bốn cửa Tường Phù, Quảng Phúc, Diệu Đức và Đại Hưng mở toang ra. Đoàn xe từ từ di chuyển. Hai bên đường có quân Tứ Xương cầm vũ khí đứng canh gác. Ngoài ra nhân viên do thám còn trà trộn trong dân chúng để giám thị ngầm và phòng ngừa mọi bất trắc có thể xảy ra. Đi quanh co cả khắc trong đường phố của khu hoàng thành cuối cùng đoàn xe ngừng trước cửa Đoan Môn của cấm thành. Các bô lão từ từ xuống xe và đứng xếp hàng thứ tự theo tên của lộ mà họ cư ngụ. Mỗi lộ có một trăm người, thêm các trại, trấn, châu và sáu mươi mốt phường của thành Thăng Long tổng cộng lại được gần năm ngàn người. Họ đứng chật trên quãng đường dọc theo vách tường của cấm thành. Lát sau cửa đoan môn từ từ mở ra và đoàn người tuần tự đi vào dưới sự canh gác nghiêm nhặt của quân túc vệ.

Mười mấy vạn dân cư ngụ trong và ngoài thành Thăng Long hầu như đình chỉ mọi hoạt động thường ngày. Chợ búa, trà đình, tửu quán đều đông đặc người ngồi đứng. Họ tụ năm tụ bẩy xì xầm bàn tán về hội nghị Diên Hồng và nóng lòng chờ nghe kết quả cuộc trưng cầu dân ý của triều đình.

Từ trong cấm thành vọng vang câu nói rền rền như sấm nổ lưng chưng trời:

– Giặc Mông Cổ xâm phạm nước non vậy ta nên hòa hay nên chiến?

Câu trả lời của năm ngàn bô lão đại diện cho bá tánh trong nước nổi lên đồng vọng không gian:

     – Chiến… Quyết chiến…

     Câu hỏi được lập lại lần nữa:

     – Giặc Mông Cổ xâm phạm nước non vậy ta nên hòa hay nên chiến?

     – Chiến… Quyết chiến…

     Tiếng thét vọng thấu trời xanh, chuyển rung rừng núi như tượng trưng cho ý chí quyết chiến và quyết thắng của bá tánh. Nó là lời cảnh cáo cho bất cứ kẻ nào xâm phạm tới nền độc lập và tự chủ của Đại Việt.

25

Trấn Nam Vương

     Ba người đứng trên ngọn đồi cao của vùng rừng núi thuộc châu Lộc Bình. Người đứng chính giữa còn trẻ niên kỷ khoảng chừng ba mươi ngoài, mặc binh phục và mang lủng lẳng bên hông thanh trường kiếm. Hắn không ai khác hơn là Trấn Nam Vương Thoát Hoan, vị tướng tổng chỉ huy binh đội Mông Cổ sang đánh Đại Việt. Đứng cạnh Thoát Hoan là một vị tướng già tóc bạc phơ song thần thái uy nghi và lẫm liệt. Nhân vật đó chính là A Lý Hải Nha, viên đại tướng lừng danh của Mông Cổ đồng thời là vị cố vấn cho Thoát Hoan. Người đứng bên trái vị hoàng tử của Nguyên triều là một lão già cao gầy, mặc thường phục và niên kỷ cũng gần sáu mươi. Lão già đó tên Hữu Đại Khan, thủ lĩnh đoàn do thám viễn chinh Mông Cổ, cánh tay trái của Thoát Hoan trong công cuộc xâm lăng vào Đại Việt.

     – Hai khanh nghĩ như thế nào?

     Thoát Hoan lên tiếng hỏi sau khi quan sát địa thế hiểm trở của vùng Lộc Châu. A Lý Hải Nha mỉm cười nhìn Hữu Đại Khan:

     – Mời hữu thủ lĩnh góp ý trước. Tôi cần biết rõ địch tình hầu nương theo đó mà phác họa một kế hoạch hành binh…

     Khẽ gật gù Hữu Đại Khan cất giọng trầm trầm:

– Theo báo cáo mới nhất của các tổ do thám nằm sâu trong lòng địch thời quân Giao Chỉ đã trấn đóng các vị trí hiểm yếu của vùng Khâu Ôn và Khâu Cấp Lãnh. Từ Lạng Giang đến Thăng Long chúng đóng giữ các cửa ải quan trọng như Khả Ly, Vĩnh Châu, Nội Bàng, Thiết Lược và Chi Lăng. Đây là một chuỗi tuyến phòng ngự mặt bắc của quân Giao Chỉ nhằm  bảo vệ vùng đồng bằng phía nam và kinh thành Thăng Long của chúng…

     Ngừng lại nhìn Thoát Hoan và A Lý Hải Nha giây lát, Hữu Đại Khan cao giọng tiếp:

     – Nhân viên do thám của ta còn khám phá ra Hưng Đạo Vương là tướng chỉ huy đạo quân tiền phong này…

     Thoát Hoan chợt lên tiếng hỏi:

     – Hữu thủ lĩnh biết gì về các tên tướng chỉ huy binh đội An Nam?

     – Trình điện hạ… Với sự hợp tác của vài vị hoàng thân quốc thích của Trần triều, nhân viên do thám của ta biết khá nhiều về nội tình của địch bao gồm các lãnh vực như địa thế, phong thổ, khí hậu, dân tình và binh đội. Hạ thần xin nói sơ qua về các tên tướng chỉ huy binh đội Giao Chỉ. Trần triều hiện nay có sáu vị tướng giỏi mà binh sĩ phong tặng cho danh hiệu Lục Hổ Tướng. Đó là Trần Quốc Tuấn, Trần Quang Khải, Trần Nhật Duật, Phạm Ngũ Lão, Trần Bình Trọng và Trần Khánh Dư. Riêng Trần Quốc Tuấn là một viên tướng mưu lược, giỏi điều binh và được lòng sĩ tốt. Có thể nói hắn là viên tướng giỏi nhất của Trần triều…

     A Lý Hải Nha trầm ngâm không nói. Thái độ của lão nhuốm nhiều ưu tư và lo nghĩ. Thoát Hoan và Hữu Đại Khan cũng im lặng dường như cả hai không muốn làm kinh động giây phút suy tư của vị lão tướng suốt đời xông pha trận mạc.

     Giọng nói của A Lý Hải Nha vang lên trầm đều:

     – Trình điện hạ… Quan Tả Thừa Toa Đô có trình bày và thảo luận một cách chi tiết với hạ thần về sự thất bại của binh đội ta khi đánh nước Chiêm Thành ba năm trước đây… Địa thế của nước Chiêm cũng tương tự như Giao Chỉ. Hai nước này đều có rừng rậm núi cao và sông sâu. Nhờ quen thuộc địa hình địa vật cho nên địch có thể trú ẩn, né tránh hoặc tấn công một cách thuận lợi. Lấy khỏe đánh mệt, nhắm đánh thắng thời đánh bằng không thời chờ đợi. Cách đó đơn giản song vô cùng hiệu nghiệm khi địch thông thạo địa thế. Biết người biết ta trăm trận trăm thắng. Trần Quốc Tuấn sẽ không trực diện giao tranh bởi vì hắn biết không thể đối địch với lực lượng tinh nhuệ, hùng hậu và đông đảo của quân ta. Do đó hắn phải triệt để khai thác sở trường của mình là nương tựa vào địa thế hiểm trở của sông núi và nhất là kéo dài cuộc chiến. Ta đây tuy tinh binh năm mươi vạn song phải sang đất người, lạ đường đi nước bước, không được sự ủng hộ của dân chúng, không hợp phong thổ và khí hậu, vả lại ta phải vận tải lương thực theo đường thủy vừa khó khăn và nguy hiểm vì nếu địch đánh cướp lương thảo thời ta chỉ còn cách rút quân về. Ngoài ra vấn đề tâm lý cũng rất quan trọng. Địch ở vào cái thế phải đánh, mà đánh là phải thắng vì đó là cái thế sống còn, lẽ sinh tồn của cả một dân tộc. Trong lúc ta đánh không được thời rút lui chờ đợi dịp khác cho nên quân tướng ta thiếu cái ý quyết đánh và quyết thắng…

     Thoát Hoan chợt hắng giọng ngắt lời A Lý Hải Nha:

     – Quan Bình Chương đã biết rõ sở trường, sở đoản của ta và địch vậy có cách gì không?

     Khẽ gật gù mỉm cười A Lý Hải Nha thong thả lên tiếng:

     – Binh pháp xưa nay thường đề cập tới ba yếu tố quan trọng nếu không muốn nói là tất thắng trong bất cứ cuộc chiến tranh nào. Đó là thời, thế và cơ…

     Cười tiếng ngắn gọn Hữu Đại Khan xen vào bằng câu hỏi:

     – Theo ý của quan Bình Chương ta có được bao nhiêu yếu tố tất thắng trong cuộc tiến đánh Giao Chỉ?

     – Một… Đó là thời… Quân ta đang ở thời hưng thịnh nhất…

     A Lý Hải Nha nói gọn. Thoáng cau mày Thoát Hoan cười nói đùa:

     – Một thời ít quá…

     A Lý Hải Nha  gật gù:

     – Thưa điện hạ, lão thần biết điều đó. Địa thế của xứ Giao Chỉ gây trở ngại khá nhiều cho kỹ thuật điều binh của quân ta. Tuy nhiên ta có thể đem một vài yếu tố như kinh nghiệm chiến trường, kỷ luật nghiêm minh và súng thần công mới mẻ để bù đắp vào chỗ bất lợi về địa thế. Ta phải áp dụng cách đánh mau đánh mạnh để thắng địch bởi vì ở lâu sang tới mùa hè nóng nực không có lợi. Giao Chỉ là xứ sơn lam chướng khí dẫy đầy do đó khi mùa nóng tới quân ta dễ sinh bệnh tật và mệt mỏi…

     Hữu Đại Khan góp lời phụ họa cho A Lý Hải Nha:

     – Quân ta quen chinh chiến cho nên không ngại gian nan vất vả còn phần quân địch trăm năm nay không từng đánh nhau nên quân chuyên lo việc đồng áng và tướng thời vui thú thê nhi thành ra bê trễ, biếng nhác việc binh. Nếu ta biết khai thác sở trường dùng đại pháo mở đường để đánh mau đánh mạnh thời đánh tan địch không khó khăn lắm…

     A Lý Hải Nha im lìm phóng mắt nhìn cảnh núi non mờ mờ. Phía bên trái của lão là ngọn núi đất Khau Khuyên, chỗ phân giới giữa châu Lộc Bình và châu Tiên Yên thuộc Quảng Yên. Trước mặt là rặng núi cao và đồi thấp như núi Lộc Mã cách Khâu Ôn mươi dặm, núi Tượng, núi Pha Trang, Kháo Sơn, Mã Yên Sơn. Núi thời cao chớn chở mà rừng thời hoang vu ngút ngàn. Rừng thiêng nước độc. Sơn lam chướng khí dẫy đầy. Vị lão tướng trải thân trăm trận cho tới lúc tuổi già xế bóng mới đặt chân tới vùng hiểm địa vào dễ mà khó ra. Gần ba trăm năm nay kể từ khi Giao Chỉ trở thành một nước tự chủ và hùng cường, quân bắc không bao giờ đắc thắng ở Giao Chỉ. Sách sử của hai triều Nam Hán và Tống đã ghi như thế.

     Giọng nói trầm khàn của A Lý Hải Nha vang vang trong cơn gió lạnh của một ngày mùa đông:

     – Ngày mai hai mươi mốt tháng chạp, hạ thần sẽ sai Vạn Hộ Bột La Đáp Nhĩ và Chiêu Thảo A Thâm chỉ huy năm vạn quân từ Khâu Ôn tiến xuống, còn Khiết Tiết Tản Đáp Nhi Đãi và Vạn Hộ Lý Băng Hiến cũng men theo đường Khâu Cấp Lãnh tấn binh. Trong lúc đó đại quân của ta sẽ cùng với hai cánh quân trên đồng lượt tấn công vào các ải Khả Ly, Vĩnh Châu, Nội Bàng, Thiết Lược và Chi Lăng. Đại quân của ta chia làm sáu đạo với kỵ binh và đại pháo đi kèm công kích ải Nội Bàng, nơi đóng quân của Trần Quốc Tuấn. Dù không bắt được hắn, ta cũng khiến cho quân tướng Giao Chỉ phải mất tinh thần trong giai đoạn đầu của cuộc giao tranh…

*****

     Bất Bình Thời Cuộc và Đa Cùn Kiếm đứng im trên con đường đất nối liền Lộc Châu thuộc trấn Lạng Giang với châu Tiên Yên thuộc Quảng Yên. Nơi họ đứng cách Lộc Châu chừng hai mươi dặm. Xa xa về bên phải sông Kỳ Cùng uốn khúc giữa vùng đồi núi. Con đường vắng ngắt không người đi lại. Trời mùa đông lạnh buốt xương. Gió bấc thổi vù vù khiến cho người ta càng cảm thấy lạnh hơn. Hôm nay là ngày hai mươi  tháng chạp năm giáp thân. Còn ba ngày nữa dân chúng sẽ làm lễ đưa ông táo về trời xong chuẩn bị đón mừng năm mới. Tuy nhiên bá tánh của riêng trấn Lạng Giang và có thể luôn cả nước Đại Việt chắc sẽ không được đón xuân trong bình yên vui vẻ vì quân Mông Cổ sau khi đánh chiếm Lộc Châu chắc sẽ tiến đánh các cửa ải của quân Đại Việt.

     Đứng nhìn con đường ngoằn ngoèo uốn lượn Bất Bình Thời Cuộc hắng giọng hỏi Đa Cùn Kiếm:

     – Ngươi tính sao?

 Trầm ngâm giây lát Đa Cùn Kiếm cười thốt:

     – Chúng ta cần phải bắt liên lạc với Mai Côn Vũ Bạch. Với chức lộ trưởng của Lạng Giang y chắc thông thạo tin tức…

     Thong thả gật đầu Bất Bình Thời Cuộc gật gù:

     – Ta cũng biết điều này song Vũ Bạch đã mất liên lạc với tổng đàn mấy ngày rồi. Có lẽ nhân viên do thám thuộc Lạng Giang kể cả Vũ Bạch đã bị đoàn do thám Mông Cổ tiêu diệt…

     Ngập ngừng hồi lâu Bất Bình Thời Cuộc chầm chậm tiếp lời:

     – Vùng này núi cao chớn chở, rừng hoang ngút ngàn, hang động nhiều vô số kể cho nên rất khó tìm…

     Đa Cùn Kiếm hỏi gọn:

     – Sinh ở phương nam nên địa thế Lạng Giang ta không biết. Ngươi biết rành vùng này không?

     Bất Bình Thời Cuộc nhẹ lắc đầu:

     – Nói biết chút ít thời ta biết, còn biết rành thời ta không biết. Ngay cả dân bản xứ còn không thông thạo huống chi người xứ khác. Lạng Giang trấn rộng lớn vô cùng. Đông giáp châu Tiên Yên thuộc Quảng Yên, phía tây giáp Thái Nguyên, phía nam giáp Bắc Giang còn phía bắc liền với châu Bằng Tường phủ Trùng Khánh thuộc Quảng Tây của Tàu. Lạng Giang có Lộc Châu, Khâu Ôn, Khâu Cấp Lãnh, Châu Văn, Châu Yên Lan, Châu Thất Nguyên và phủ Trùng Khánh…

     Đa Cùn Kiếm lắc đầu mỉm cười khi nghe Bất Bình Thời Cuộc kể ra những cái tên kỳ cục và lạ hoắc. Giọng nói trầm trầm của Bất Bình Thời Cuộc bay tan loãng trong gió mưa mỗi lúc một nhiều và mạnh hơn:

     – Ngươi biết không xứ ta núi rừng nhiều hơn đồng bằng. Nội Lạng Giang đã có tới mười tám ngọn núi mà ngọn nào ngọn nấy cao ngất trời như núi Công Mẫu ở phía tây bắc Lộc Châu liền với biên địa của Tàu. Núi Lộc Dương cách Lộc Châu mười mấy dặm về hướng tây. Núi Lộc Mã, núi Đại Tượng, núi Pha Trang, núi Tam Thanh, núi Nhị Thanh…

     Bất Bình Thời Cuộc kể một hơi tên các ngọn núi khiến cho Đa Cùn Kiếm cười lớn nói:

     – Thôi đủ rồi… Nghệ An ta cũng nhiều núi lắm. Bây giờ ta đi bên trái, ngươi đi bên phải xem có gì lạ không?

     Bất Bình Thời Cuộc gật gù cười:

     – Ta đoán chắc phải có điều gì lạ xảy ra.Từ đây cách Lộc Châu chừng hai mươi dặm cho nên quân do thám Mông Cổ phải hoạt động mạnh lắm… Ta…

     Đa Cùn Kiếm chợt lên tiếng ngắt lời Bất Bình Thời Cuộc:

     – Có người tới…

     Mặc dù tiếng gió bấc thổi vù vù hai cao thủ giang hồ vẫn nghe được tiếng vó ngựa nện trên mặt đường. Qua làn mưa bụi giăng giăng họ trông thấy bóng ngựa hiện ra trên đỉnh đồi.

     – Đi…

     Miệng la nhỏ Bất Bình Thời Cuộc lạng mình vào gốc cây bên vệ đường còn Đa Cùn Kiếm tạt bộ núp sau một mô đất cao. Hai nhân viên do thám im lìm chờ đợi sự xuất hiện của kỵ mã mà họ đoán là quân do thám Mông Cổ. Tuy nhiên họ chờ hoài cũng không thấy bóng ngựa xuất hiện. Lát sau Bất Bình Thời Cuộc ra dấu cho Đa Cùn Kiếm từ từ đi ngược lên hướng bắc. Khoảng chừng hai ba trăm bước, Đa Cùn Kiếm ngừng lại khi thấy con đường mòn. Dấu chân ngựa in  trên con đường đất đỏ dẫn sâu vào khu rừng rậm. Sỏ dĩ họ không thấy con ngựa xuất hiện vì kỵ mã đã rẽ vào con đường mòn.

     Đa Cùn Kiếm thì thầm:

     – Ta đi trước còn ngươi theo sau trông chừng…

     Khẽ gật đầu Bất Bình Thời Cuộc nói nhỏ:

     – Ngươi cẩn thận…

     Men theo con đường mòn vài trăm bước Đa Cùn Kiếm trông thấy một ngôi nhà nhỏ nằm khuất dưới tàng cây cổ thụ rườm rà. Con ngựa đứng im bên hông nhà.

     – Nguơi nghĩ là Mông Cổ?

     Bất Bình Thời Cuộc thấp giọng hỏi Đa Cùn Kiếm. Tay kiếm trẻ tuổi của miền nam Đại Việt gật đầu:

     – Hiện thời chỉ có quân Mông Cổ mới dám cỡi ngựa đi khơi khơi trong vùng này. Ngươi nhìn con ngựa xem. Ta thấy hình như nó khác lạ hơn giống ngựa của nước mình…

     Bất Bình Thời Cuộc thì thầm:

     – Chúng ta tới gần hơn…

     Rất thận trọng hai nhân viên của đoàn do thám Thăng Long sử thuật xà hình bò trên mặt đất tiến gần tới ngôi nhà. Nấp bên hông cả hai nghe được tiếng xí xô xí xào của thứ ngôn ngữ lạ tai. Điều này chứng tỏ những người trong nhà là nhân viên do thám Mông Cổ.

     Có tiếng kêu kèn kẹt của cách cửa sắp mở ra. Bất Bình Thời Cuộc và Đa Cùn Kiếm trông thấy ba người lạ hoắc. Cả ba mặc y phục bằng da thú, đầu đội nón xùm xụp, mang giày da và đeo vũ khí tuỳ thân. Đứng nói chuyện giây lát một người leo lên ngựa.

     Tiếng nói nhỏ rức của Bất Bình Thời Cuộc rót vào tai Đa Cùn Kiếm:

     – Ta theo hắn còn ngươi ở lại đây…

     Bất Bình Thời Cuộc biến mất trong rừng cây mịt mùng. Nhìn hai tên do thám Mông Cổ xí xô xí xào Đa Cùn Kiếm ước ao mình hiểu được kẻ địch nói điều gì.

     Băng mình đuổi theo tên do thám cỡi ngựa ra tới ngã ba con đường nối liền Lộc Châu với Tiên Yên, Bất Bình Thời Cuộc thấy kẻ địch quẹo mặt xuôi về hướng nam tức đi về miệt Tiên Yên. Y lẳng lặng theo sau một quãng xa xa vừa đủ để không bị bại lộ hành tung mà cũng không bị mất dấu vết kẻ địch. Vừa chạy y vừa suy tính và sau cùng ước đoán là đoàn do thám Mông Cổ đã cài đặt những toán do thám trong vùng Lạng Giang, Bắc Giang để thu thập tin tức trước khi tiến đánh các cửa ải của quân Đại Việt. Đi chừng mươi dặm đường tên quân thám mã lại rẽ vào con đường mòn bên tay phải xong nhảy xuống ngựa. Bất Bình Thời Cuộc thấy hắn buộc ngựa vào gốc cây rồi men theo đường mòn đi sâu vào khu rừng càng lúc càng thêm rậm rạp và thiếu ánh sáng.

     Vì sợ mất dấu nên Bất Bình Thời Cuộc cẩn thận theo sát kẻ địch chừng mươi bước. Tên quân thám mã Mông Cổ dừng lại nơi khoảng trống dưới gốc cây thông cao ngất. Hắn lấy ra cái còi thổi lên hai tiếng ngắn và một tiếng dài. Lát sau Bất Bình Thời Cuộc thấy một bóng người thấp thoáng trong rừng cây. Y hơi giật mình khi nhận ra thuật phi hành siêu đẳng của kẻ sắp tới. Hắn lướt tả lượn hữu, xẹt qua đảo lại trong khu rừng cây dày đặc và giây leo chằng chịt giống như con khỉ chuyền cành. Mục kích bộ pháp khinh linh phiêu hốt này Bất Bình Thời Cuộc đoán kẻ lạ phải thuộc hàng cao thủ nhất đẳng của giới vũ lâm Mông Cổ đồng thời là nhân viên có chức phận cao trong đoàn do thám viễn chinh Mông Cổ. Khi kẻ lạ tới gần y tức tốc bế hơi vận khí để cho kẻ địch không khám phá ra tông tích của mình. Nói rằng bế hơi chứ thật ra đây là qui tức công hay thở chậm như rùa. Bằng phương pháp luyện nội lực, hơi thở của các vũ sĩ giang hồ khác hẵn với người không luyện võ. Bình thường chúng ta thở từ mười lăm lần cho tới hai chục lần trong một phút đồng hồ. Với cách luyện nội công này một vũ sĩ giang hồ có thể đạt tới tình trạng chỉ thở có bốn hay năm lần trong một phút đồng hồ. Sở dĩ có sự khác biệt lớn lao như vậy là vì hơi thở của họ sâu, nhẹ, đều và dài mà trong giới giang hồ gọi là thâm, tế, quân, trường. Tính chất thâm tế quân trường có chỗ hiệu nghiệm là tăng sự ngơi nghỉ của phổi, nhịp tim đập chậm khiến cho trái tim không làm việc nhiều giúp cho sự lão hóa của hai cơ quan thành chậm lại. Tim là bộ phận quan trọng nhất của con người. Nó chỉ cần ngưng đập năm bảy phút là sinh mạng của chúng ta khó bảo toàn.

     Bất Bình Thời Cuộc chăm chú nhìn hai tên Mông Cổ nói chuyện. Tên quân thám mã lấy trong người ra một viên sáp màu đỏ trao cho kẻ lạ mới tới rồi leo lên ngựa. Bây giờ Bất Bình Thời Cuộc mới biết tên quân thám mã này có nhiệm vụ mang tin tức từ tổng đàn tới các nhân viên hoặc trạm tin tức hoạt động bên ngoài. Ngần ngừ giây lát y quyết định theo dõi kẻ lạ mới xuất hiện mà y đoán phải có chức phận cao trong đoàn do thám. Tên do thám ngắm nghía viên sáp đỏ giây lát xong bóp vỡ viên sáp rồi lấy ra mảnh giấy trắng. Không biết tờ giấy chứa đựng tin tức gì song chắc phải quan trọng bởi vì kẻ lạ đứng im trầm ngâm như bận tâm suy nghĩ chuyện gì. Bất Bình Thời Cuộc không biết mình nên động thủ giết chết kẻ địch để chiếm đoạt mảnh giấy truyền tin hay là âm thầm theo dõi hắn hấu phăng lần ra các trạm lượm tin để tiêu diệt. Do đó y kiên nhẫn chờ đợi. Muốn trở thành một vũ sĩ giang hồ người ta phải có tính nhẫn nại bởi vì vũ thuật là một công trình luyện tập lâu dài, khó khăn và cực nhọc. Nếu không có tính kiên nhẫn người ta sẽ bỏ cuộc một cách dễ dàng.

     – Ai?

 Bất Bình Thời Cuộc giật mình khi bị lộ hành tung. Chưa kịp phản ứng y thoáng thấy bóng người chớp chớp cùng với luồng quyền phong nóng hổi lốc tới với lực đạo cực kỳ trầm trọng và cương mãnh. Nhếch môi cười gằn, y dịch bộ sang tả một bước cùng với ống tay áo rộng thùng thình phất tới người địch thủ. Từ trong ống tay áo ló ra năm ngón tay mở khoằm khoằm như vuốt chim chụp vào huyệt chương môn xong đổi thành triệt thủ chém tới khuỷu tay đoạn biến ra chưởng vổ tới ngực rồi cụp lại thành chỉ điểm vào huyệt thương khúc nơi ngực.

     – Giỏi…

     Lồng trong tiếng nói tên do thám Mông Cổ vung tay giải đòn. Chát… chát… Tay quyền của hai bên chạm nhau rôm rốp. Đình thủ song phương chiếu tướng với nhau rất lâu.

     – Ngươi là nhân viên của đoàn do thám Giao Chỉ?

     Bất Bình Thời Cuộc cau mặt khi nghe câu hỏi hách dịch nhất là hai tiếng ” Giao Chỉ ” của kẻ thù. Y thầm kinh ngạc về trình độ vũ thuật cao siêu và giọng nói tiếng nôm rất sõi của tên Mông Cổ đang đứng trước mặt mình.

     – Bất Bình Thời Cuộc ta là nhân viên của đoàn do thám Đại Việt. Ngươi tên gì?

     Tên do thám bật cười hô hố:

     – Áo Bang Phiên ta là phó trưởng ban tin tức của đoàn do thám thiên triều. Ngươi biết điều nên buông vũ khí đầu hàng bằng không vó ngựa Mông Cổ lướt qua thời người vật cỏ cây đều bị giết sạch…

     Bất Bình Thời Cuộc nhếch môi cười lạnh trước lời hăm dọa của vị phó trưởng ban tin tức đoàn do thám Mông Cổ.

     – Ta nghe thiên hạ đồn quân Mông Cổ ác tợ sài lang và độc hơn rắt rít; tuy nhiên các ngươi dẫn xác tới nước ta thời Đại Việt sẽ là mồ chôn của các ngươi đấy…

     Áo Bang Phiên cất giọng cười vọng vang khu rừng hoang vắng:

     – Hà… hà… hà… Ngươi đúng là kẻ ếch ngồi đáy giếng cho nên mới không biết quân ta năm mươi vạn, chiến tướng ngàn viên, đại pháo mấy trăm cỗ thời sá gì xứ Giao Chỉ nhỏ bé của ngươi. Vài ngày nữa quân ta chia binh tiến đánh các đồn ải thời lũ ngươi chỉ còn nước chạy vắt giò lên cổ…

     Bất Bình Thời Cuộc vừa mừng vừa lo khi nghe kẻ địch vô tình tiết lộ tin tức quan trọng. Bằng mọi cách y phải đem tin này thông báo cho quan tiết chế Trần Quốc Tuấn để phòng bị và tìm cách chống trả. Muốn làm được chuyện này trước nhất y phải bước qua xác chết của Áo Bang Phiên, tên phó trưởng ban tin tức của đoàn do thám Mông Cổ. Phần họ Áo biết mình hớ hênh và cao hứng nên đã tiết lộ bí mật quân sự quan trọng. Do đó hắn nhất quyết phải hạ sát địch thủ để bảo toàn bí mật.

     Tăng… Âm thanh của kiếm rút ra khỏi vỏ báo hiệu Bất Bình Thời Cuộc động thủ. Được giới giang hồ trong nước liệt vào hàng kiếm thủ nổi tiếng y đánh ra một chiêu kiếm thần tốc, biến hóa và hung hiểm vì biết địch thủ có bản lĩnh cao thâm không kém mình. Âm thanh của kiếm rút ra khỏi vỏ vừa bật lên thời mũi kiếm đã cận kề huyệt nhũ căn gang tấc. Áo Bang Phiên không đời nào để cho mũi kiếm đâm vào yếu huyệt của mình do đó hắn phải giải chiêu bằng cách đạp bộ chênh chếch sang tả một bước cùng lúc lưỡi kiếm tà tà đâm vào ngay khuỷu tay cầm vũ khí của địch thủ. Lối giải chiêu của hắn khiến cho Bất Bình Thời Cuộc kinh ngạc. Kình lực đủ, thủ pháp nhanh nhẹn và sự nhận huyệt chính xác biến chiêu thức của Áo Bang Phiên trở nên độc hại vô cùng. Dưới cái nhìn của một tay kiếm giàu kinh nghiệm và kiến thức quảng bác như Bất Bình Thời Cuộc, thời mũi kiếm tuy đâm vào huyệt thiên tỉnh nơi khuỷu tay song toàn thể các huyệt đạo thuộc sáu chính kinh nơi tay đều nằm trong vòng phong toả của chiêu thức. Không suy nghĩ y bước sang trái một bước. Bằng cách đạp bộ như thế y bước về phía trái tức phía kém phòng bị nhất của địch thủ. Cùng với cái đạp bộ mũi kiếm đổi hướng đâm vào hông. Tay kiếm nổi danh của giới giang hồ Đại Việt đã phối hợp bộ, thủ pháp và kiếm pháp để vừa hóa giải chiêu thức đòng thời tấn công địch thủ.

     – Giao Chỉ quả có nhân tài….

     Vị phó trưởng ban tin tức của đoàn do thám Mông Cổ phải lên tiếng khen khi chứng kiến trình độ vũ thuật cao siêu của Bất Bình Thời Cuộc. Hơn hai mươi năm trong nghề do thám từng đụng chạm với nhiều cao thủ lừng danh, hắn chưa thấy ai có lối giải chiêu hay cách trả đòn hoặc phá thế dữ dằn như đối thủ ngày hôm nay.

     – Ta cho ngươi kiến thức kiếm thuật của giới giang hồ Đại Việt…

     Lồng trong tiếng nói Bất Bình Thời Cuộc rung tay. Rẹt… rẹt… Thanh kiếm đen tuyền chợt biến thành nghìn trùng đỉnh núi khi tắt khi nổi, lúc biến lúc hiện, chập chờn bay nhảy mịt mờ giăng mắc khắp nơi. Mặc dù nổi danh giang hồ bằng kiếm thuật song Bất Bình Thời Cuộc ít khi có dịp trổ tài vì vậy hiếm người biết rõ ràng về Ngũ Đại Sơn kiếm pháp của y. Ẩn cư trong miệt rừng núi tây bắc hoang vu và hiểm trở, sư phụ của Bất Bình Thời Cuộc sau hơn hai mươi năm miệt mài khổ luyện mới sáng tạo ra một pho kiếm tân kỳ và đặc dị. Án theo ngũ hành, ông ta lấy tên năm ngọn núi nổi tiếng nhất của nước ta là Công Mẫu, Thần Phù, Tam Đảo, Tản Viên và Hồng Lĩnh để đặt tên cho pho kiếm pháp của mình. Ngũ Đại Sơn kiếm pháp có hai mươi lăm chiêu, một trăm hai mươi lăm thế và sáu trăm hai mươi lăm thức cho nên phức tạp, biến hóa và tinh xảo vô cùng. Muốn luyện Ngũ Đại Sơn kiếm pháp người ta phải thông minh, kiên nhẫn và có trí nhớ dai. Nhờ hội đủ ba yếu tố này nên Bất Bình Thời Cuộc mới luyện tập được song y cũng phải mất hơn mười lăm năm mới lĩnh hội được sở đắc của sư phụ. Y vừa thi triển tuyệt kỹ của sư môn ra được vài chiêu thời Áo Bang Phiên lộ vẻ lúng túng thấy rõ. Hắn cảm thấy hàng ngàn hàng vạn hình ba góc nhọn như đỉnh núi nổi lên trùng trùng điệp điệp làm thành bức màn trùm phủ thân thể đồng thời từ trong bức màn núi non đó mũi kiếm xẹt tới các huyệt đạo của mình. Hãi hùng trước kiếm thuật khủng khiếp này hắn tức tốc triển khai tuyệt kỹ sư môn giao đấu cực kỳ ác liệt với địch thủ. Vừa công kích đối phương Bất Bình Thời Cuộc thầm lo lắng cho Đa Cùn Kiếm. Y không biết rằng Đa Cùn Kiếm cũng lâm vào tình cảnh  tương tự như mình và có lẽ còn ngặt nghèo và khốn khó hơn.

     Đa Cùn Kiếm đứng im. Đối với y đứng im trong trạng thái hoàn toàn bất động không phải là chuyện lạ lùng. Kể từ khi bắt đầu luyện võ, dưới sự chỉ dạy nghiêm khắc của sư phụ, mỗi ngày y phải tập đứng tấn và đứng bất động như thân cây hàng giờ. Đứng bất động để luyện nội công, tập tánh nhẫn nại và sức chịu đựng trong những hoàn cảnh gian truân và ngặt nghèo nhất. Bây giờ đứng im để canh chừng kẻ địch y mới nghiệm ra sự thực dụng của tư thế đứng bất động mà mình đã luyện tập và thầm cám ơn sự chỉ dạy của sư phụ. Y chợt mở mắt khi nghe có tiếng động khẽ cùng với tiếng gừ nho nhỏ sau lưng. Chó… Ý tưởng hiện nhanh trong trí não Đa Cùn Kiếm quay phắt người đối diện với con thú dữ. Y từng nghe sư phụ kể chuyện người ta nuôi chó để giữ nhà. Nhân viên do thám còn đi xa hơn nữa trong việc huấn luyện chó để phát hiện và vây bắt gian phi. Họ nuôi và huấn luyện loại chó sói, chó săn to lớn, mạnh khoẻ và hung dữ. Khi bắt gặp gian phi loại chó này không bao giờ sủa để báo động mà chỉ âm thầm tấn công để sát hại gian phi. Mục quang sáng rực của Đa Cùn Kiếm nhìn đăm đăm vào đôi mắt xanh lè và hai hàm răng nhọn hoắt của con chó sói. Không một cử động báo trước cả khối thịt nặng gần hai trăm cân lao tới với tốc độ nhanh nhẹn và trầm trọng giống như một đòn đánh hung hãn của một cao thủ nhất đẳng giang hồ. Đối với Đa Cùn Kiếm, hạ sát con chó không khó song hạ sát mà không gây tiếng động để kẻ địch trong nhà phát hiện tông tích của mình mới chính là điều khó khăn. Muốn hạ sát con chó sói một cách êm thắm y phải đánh ngay vào tử huyệt để gây thương vong một cách dễ dàng và nhanh chóng. Ngay lúc cái đầu của con chó sói chờn vờn trước mặt mình, Đa Cùn Kiếm trổ liền sát thủ. Bàn tay trái vổ ra một đòn phách không quyền vào ngay miệng trong lúc bàn tay hữu cụp lại thành chỉ đâm vào ngực trái của con chó. Bằng thói quen và có lẽ bằng sự huấn luyện nó há miệng ra như muốn cắn bàn tay của đối thủ. Nghiến răng Đa Cùn Kiếm biến chiêu. Bàn tay trái của y khép lại trong thế triệt thủ chém vút vào đầu còn bàn hữu đổi chỉ thành chưởng vổ vào ngực con chó sói. Dù được huấn luyện thuần thục, dù khoẻ mạnh và hung dữ, con chó sói cũng không phải là đối thủ của một vũ sĩ gaing hồ có hơn hai mươi năm khổ luyện vũ thuật. Hai đòn, một thuộc loại ngạnh công bá đạo, một thuộc nội gia chân lực đánh ngay vào tử huyệt dồn con chó sói vào chỗ chết không tránh được. Bựt… Bịch… Như có tiếng xương vỡ vụn. Con vật dội ngược về sau ba bước. Đa Cùn Kiếm ra đòn chính xác và kình lực đủ tuy nhiên y lại ước tính sai lầm về sức chịu đựng của con chó sói. Đây là loài thú rừng cho nên thể chất khỏe mạnh, xương cốt cứng rắn hơn do đó dù trúng hai ngón đòn tối độc của một cao thủ hữu hạng giang hồ mà nó vẫn còn sức tru thành tiếng báo hiệu cho chủ nhân. Có tiếng cửa mở sầm cùng với ba bóng người xẹt ra. Chân đạp trung bình tấn, tả thủ co lên che kín môn hộ, bàn tay hữu nắm chặt chuôi kiếm chỉa mũi thẳng băng lên trời, tay kiếm hung nhất miền nam Đại Việt bình tịnh nhìn ba địch thủ vây kín lấy mình với ánh mắt bốc hàn quang lạnh ngắt. Song phương ghìm nhau trong rừng cây lổ chổ ánh nắng. Đa Cùn Kiếm dịch bộ. Lưỡi kiếm phản chiếu ánh nắng mặt trời thành tia sáng vàng hực chiếu đúng vào ngay mắt của tên do thám Mông Cổ đứng bên tả. Bị ánh kiếm làm chóa mắt khiến cho hắn phải nhắm lại xong mở ra liền. Tuy nhiên trong quãng thời gian của một sát na này một sự kiện đã xảy ra và đó cũng chính là chỗ diệu dụng và độc hiểm của chiêu thức Nhất Kiếm Vọng Dương trong kiếm pháp đặc dị của Đa Cùn Kiếm. Đưa thanh kiếm lên cao đón ánh mặt trời xong di chuyển lưỡi kiếm đúng giác độ nào đó khiến cho đối phương bị chói mắt phải nhắm lại. Chỉ cần một sát na thôi mũi kiếm nhọn hoắt của y đã đâm vào nhũ căn huyệt. Tên do thám Mông Cổ nấc tiếng nhỏ ngã vật ra đất nằm im không cục cựa. Bàng hoàng trước cái chết đột ngột của đồng bạn, hai tên còn lại giận dữ vung vũ khí tấn công. Nạt tiếng trầm trầm Đa Cùn Kiếm rung tay. Rẹt… Rẹt… Kiếm chỉa mũi xuống y bình thản nhìn hai địch thủ lần lượt đi vào cái chết.

     – Kiếm thuật tuyệt diệu…

     Ánh mắt của Đa Cùn Kiếm chiếu rừng rực vào một một người từ trong nhà thong thả bước ra khoảng trống. Bước chân nhẹ mà nhanh, nhặt khoan đều đặn cộng thêm vũ phục bằng luạ đen, phủ ngoài chiếc áo choàng cũng màu đen, chân quấn xà cạp cũng màu đen, chuôi kiếm đen tuyền ló lên khỏi vai; người lạ toát ra khí thế thầm bí và ngạo mạn.

     – Ngươi là ai?

     Người lạ hỏi bằng tiếng nôm dù cách phát âm không đúng lắm.

     – Đa Cùn Kiếm… Còn ngươi?

     Người lạ nhếch môi:

     – Ta là Áo Bất Bằng, phó trưởng ban ám sát của đoàn do thám thiên triều…

     Chiếc áo choàng đen phất lên vần vụ. Đa Cùn Kiếm giật mình khi thấy mũi kiếm đen ngời chập chờn nơi ngực của mình. Là tay kiếm lừng danh y nhận ra thủ thuật phóng kiếm thần tốc của địch thủ. Không chậm trễ y dịch bộ đồng thời gặt mạnh cổ tay khiến thanh kiếm chém vào vũ khí của Áo Bất Bằng. Vị phó trưởng ban ám sát cười nhạt khi thấy cách giải chiêu của đối thủ. Trước khi theo đoàn quân xâm lăng Đại Việt, hắn đã bỏ khá nhiều thời giờ tìm hiểu về vũ học của nước láng giềng nhỏ bé. Hắn đã được phe hắc đạo của giới vũ lâm Tàu nói về vũ học đặc dị và khởi sắc của giới giang hồ Đại Việt. Hôm nay chạm trán nhân viên của đoàn do thám Thăng Long, hắn mới nhận ra lời đồn đại không sai sự thực. Cách giải chiêu của đối thủ tầm thường, giản dị song hiệu nghiệm vô cùng. Chém vào vũ khí là cách giải chiêu hay nhất. Cười gằn Áo Bất Bằng định biến chiêu. Tuy nhiên trước đó một sát na, Đa Cùn Kiếm đã biến chiêu. Còn cách vũ khí của đối phương gang tấc lưỡi kiếm chợt đổi chiều róc xuống bàn tay cầm kiếm. Vị phó trưởng ban ám sát danh lừng tứ xứ lạnh toát sống lưng trước biến chiêu quái dị, thần tốc và hung hiểm cực cùng. Lạng quạng là bàn tay cầm kiếm và có thể cả cánh tay sẽ bị phế liền. Áo Bất Bằng phải phối hợp thân, bộ và thủ pháp để giải biến chiêu của địch thủ. Chân trái đạp bộ chênh chếch nửa bước, tay mặt kéo chuôi kiếm lên cao xong hắn vặn mạnh cổ tay khiến cho thanh kiếm chém vút vào cổ họng kẻ địch.

     – Tuyệt…

     Miệng lớn tiếng khen Đa Cùn Kiếm rung tay khiến mũi kiếm đột ngột đổi hướng đâm ngay vào hông địch thủ. Áo Bất Bằng kinh hãi trước biến chiêu hiểm độc vì mũi kiếm đâm vào huyệt chương môn của mình. Hai tay hắn đưa lên cao thời bên hông chính là chỗ trống trải, không được che chở và bảo vệ. Tuy nhiên Đa Cùn Kiếm biến chiêu tài tình và độc hiểm thời cách giải đòn của Áo Bất Bằng cũng ngoạn mục và quái dị không kém. Y đạp bộ chênh chếch về bên trái để tránh bị đâm vào hông trong lúc mũi kiếm chuyển hướng chém xuống vai kẻ địch. Đa Cùn Kiếm cười hực. Tay kiếm hung nhất miền nam Đại Việt đạp bộ một bước thật dài ra sau lưng địch thủ. Đây là một vị trí  thuận tiện cho sự tấn công vào vô số huyệt đạo trọng yếu thuộc đốc mạch. Chân chưa chạm đất Đa Cùn Kiếm rung cổ tay. Mũi kiếm lấp lánh tinh quang bay nhảy chập chờn nơi các yếu huyệt như linh đài, thần đạo, đào đao, đại trùy và á môn. Thoáng thấy đối phương bỏ bộ Áo Bất Bằng hiểu chuyện gì xảy ra. Không còn cách phá thế nào hay hơn hắn nhảy một bước thật dài để tránh đòn độc đồng thời nhằm ý định bước ra sau lưng của kẻ địch. Với phương cách người này tấn công thời người kia triệt chiêu hai đối thủ quấn nhau như bóng với hình khai mở cuộc tử đấu mà kết quả không ai có thể đo lường được.

 

 

 

26

Ngược lên mạn bắc

     Sát Ác Nhân Chủ Tiệm chủ tọa buổi họp khẩn cấp và đặc biệt để đối phó với tình hình chiến trận của Lạng Giang lộ. Quanh chiếc bàn dài đặt tại phòng họp của tổng đàn do thám người ta thấy có sự hiện diện của hai vị phó thủ lĩnh là Lê Mạnh Chiến và Trần Gia Mạnh, kế đó là ba vị trưởng ban tin tức, ám sát và nội gián. Dĩ nhiên buỗi họp quan trọng này không thể thiếu sự tham dự của Hà Phương. Nhìn mọi người, Sát Ác Nhân Chủ Tiệm hắng giọng:

     – Chư vị đều nghe tin Thoát Hoan đã chiếm Lộc Châu. Đây là tin tức sau cùng mà lộ Lạng Giang đã báo cáo cho tổng đàn. Sau đó Mai Côn Vũ Bạch và toàn thể nhân viên của y hoàn toàn mất liên lạc với tổng đàn. Tôi đã phái Bất Bình Thời Cuộc và Đa Cùn Kiếm lên Lạng Giang để dò xét song cũng không nghe tin tức của họ. Có lẽ họ cũng lâm vào hoàn cảnh giống như Vũ Bạch…

     Sát Ác Nhân Chủ Tiệm ngừng nói nhìn mọi người. Hiểu ý thủ lĩnh, Vạn Lý Câu Lê Hành, trưởng ban tin tức hắng giọng:

     – Trình thủ lĩnh… Theo ý của tôi,  Mai Côn Vũ Bạch và nhân viên có thể bị nhân viên do thám địch sát hại, hoặc bị bắt hay bị truy lùng gắt gao cho nên tạm thời không thể liên lạc với tổng đàn…

     Nhẹ lắc đầu, Hà Phương xen vào câu chuyện:

     – Tôi đồng ý với Lê trưởng ban song có một điều hơi vô lý là cho dù bị truy lùng gắt gao phải ngừng hoạt động, Vũ Bạch vẫn có thể dùng chim bồ câu đưa tin về tổng đàn…

     Độc Kiếm Nguyễn Dị, trưởng ban ám sát phụ họa:

     – Hà cô nương nói có lý. Theo ý của tôi thời Vũ Bạch và nhân viên chắc đã bị giặc hạ sát hay bị bắt sống. Tôi muốn nói là lộ Lạng Giang hoàn toàn bị giặc tiêu diệt…

     Hà Phương cười nhẹ:

     – Tôi cũng cùng ý nghĩ như Nguyễn trưởng ban…

     – Như vậy Hà muội có ý kiến gì không?

     Sát Ác Nhân Chủ Tiệm lên tiếng hỏi. Hà Phương trả lời trong lúc trải lên bàn tấm bản đồ vùng Lạng Giang. Mọi người đều chăm chú nhìn theo ngón tay xinh xắn của Hà Phương:

     – Đây là Lộc Châu, nơi đóng quân của Thoát Hoan. Nếu muốn tấn công Thăng Long hắn phải vượt qua hàng rào phòng ngự của quân ta do quan tiết chế Trần Quốc Tuấn chỉ huy. Hàng rào phòng ngự này gồm có các ải Khả Ly, Vĩnh Châu, Nội Bàng, Thiết Lược và Chi Lăng…

     Ngừng nói nhìn mọi người xong Hà Phương tiếp nhanh:

     – Lộc Châu nằm trên con đường nối liền châu Tiên Yên với Khâu Ôn. Theo ước đoán của tôi, Thoát Hoan có hai trục để tiến quân. Thứ nhất là Khâu Ôn và thứ nhì là Khâu Cấp Lãnh. Vì mất liên lạc với Vũ Bạch, tôi không dám quyết đoán Thoát Hoan sẽ tiến quân theo trục nào. Có thể hắn sẽ theo trục Khâu Ôn; có thể hắn sẽ theo trục Khâu Cấp Lãnh hoặc có thể hắn sẽ tiến quân theo cả hai trục đó… Cho dù tiến quân theo trục nào, đường nào; mục tiêu của Thoát Hoan vẫn là các cửa ải quan trọng của quân ta nhất là Nội Bàng, nơi đóng quân của quan tiết chế Trần Quốc Tuấn. Tôi đề nghị Sát huynh cho một vài nhân viên lên Lạng Giang tìm cách bắt liên lạc với Mai Côn Vũ Bạch nếu y còn sống, hoặc dò tìm tin của Bất Bình Thời Cuộc và Đa Cùn Kiếm nếu họ chưa bị bắt…

     Nét mặt ai ai cũng đều lộ vẻ lo âu và nghiêm trọng khi nghe Hà Phương nói câu sau cùng. Nhìn một vòng Hà Phương cười nói tiếp như để trấn an mọi người.

     – Tôi nói như vậy song tình hình có thể không bi đát lắm…

     Gượng cười Sát Ác Nhân Chủ Tiệm lên tiếng:

     – Ai tình nguyện theo tôi lên Lạng Giang?

Hà Phương liếc nhìn Sát Ác Nhân Chủ Tiệm khi nghe y lên tiếng. Bản tâm của nàng là phái Vạn Lý Câu Lê Hành chỉ huy vài nhân viên của ban tin tức lên Lạng Giang chứ không có ý để cho vị thủ lĩnh của mình đi. Tuy nhiên nếu y mở miệng tình nguyện đi thời nàng không thể cản ngăn được mặc dù lo âu cho tính mạng của y.

– Tôi… thưa thủ lãnh…

     Vạn Lý Câu Lê Hành lên tiếng trước nhất.

     – Lãnh tôi hân hạnh được tháp tùng thủ lĩnh…

     Lãnh Tâm Diện góp lời. Độc Kiếm Nguyễn Dị cười cười bông đùa:

     – Còn gì hứng khởi hơn khi chạm mặt kẻ thù…

     Hà Phương cười nói:

     – Thôi đủ rồi… Ba vị đi hết rồi lấy ai chỉ huy nhân viên ở đây…

     Lãnh Tâm Diện cười ha hả đùa:

     – Mấy ngàn nhân viên do thám ở tổng đàn không đủ một mình cô nương quán xuyến thời cần gì tới bọn tôi…

     Kéo ghế đứng lên Sát Ác Nhân Chủ Tiệm nói với ba nhân viên tháp tùng theo mình:

     – Chư vị có nửa khắc để sửa soạn hành lý…

*****

     Sát Ác Nhân Chủ Tiệm, Lãnh Tâm Diện, Độc Kiếm Nguyễn Dị và Vạn Lý Câu Lê Hành đứng nhìn con đường thiên lý. Vầng kim ô từ từ khuất sau rừng cây. Nơi chỗ họ đứng là ngã ba. Rẽ tay phải họ sẽ theo con đường lên Khâu Cấp Lãnh và châu Tiên Yên. Rẽ trái họ sẽ đi lên Khâu Ôn. Bóng tối đổ ập xuống.

     Giọng nói của Vạn Lý Câu Lê Hành vang lên chầm chậm trong bầu không khí tịch mịch và hoang vu:

     – Trình thủ lĩnh… Chúng ta có hai chọn lựa là theo đường thiên lý lên Chi Lăng rồi lên Khâu Ôn hoặc rẽ phải để về Khâu Cấp Lãnh…

     Trầm ngâm giây lát Sát Ác Nhân Chủ Tiệm lên tiếng:

     – Tôi nghĩ chúng ta nên chia làm hai toán. Tôi và Lê trưởng ban đi Khâu Ôn còn Lãnh trưởng ban và Nguyễn trưởng ban đi Khâu Cấp Lãnh. Đi như vậy ta có nhiều hy vọng biết thêm tin tức về Vũ Bạch và quân Mông Cổ bởi vì theo lời Hà Phương đoán thời đó là hai đường tiến quân của chúng…

     Lãnh Tâm Diện hắng giọng:

     – Tôi đồng ý với thủ lĩnh. Phải tìm ra Vũ Bạch, Bất Bình Thời Cuộc và Đa Cùn Kiếm ta mới biết một cách chính xác về tình hình của địch…

     Gật đầu vị thủ lĩnh đoàn do thám dặn dò:

     – Nhị vị cẩn thận… Tôi không muốn mất hai nhân viên tài giỏi như nhị vị…

     Tiếng cười của Độc Kiếm Nguyễn Dị tan loãng trong cơn gió lạnh mùa đông:

     – Đa tạ cho sự quan hoài của thủ lĩnh. Nếu đánh không lại chúng tôi sẽ chạy. Tuy không phải là kẻ tham sinh húy tử song nhân viên do thám cũng biết khi nào cần chết và đáng chết…

     – Đi…

     Miệng buông tiếng đi thân hình của vị thủ lĩnh đoàn do thám Thăng Long tựa cái bóng mờ bay nhảy trên đường thiên lý. Chạy song song với Sát Ác Nhân Chủ Tiệm trên con đường đất đỏ mờ mờ tối, Vạn Lý Câu Lê Hành thầm kinh ngạc về thuật phi hành của vị thủ lĩnh trẻ tuổi. Dường như muốn thử tài y âm thầm vận dụng thuật phi hành chạy như giông gió. Tuy nhiên dù chạy nhanh cỡ nào y vẫn thấy vị thủ lĩnh trẻ tuổi tài cao của mình bước song song với dáng vẻ ung dung và bình thản.

     – Lê trưởng ban có điều gì bận tâm?

     Ngần ngừ giây lát Lê Hành hắng giọng:

     – Trình thủ lĩnh… Tôi lo cho tính mạng của Vũ Bạch và nhân viên thuộc lộ Lạng Giang… Không dấu chi thủ lĩnh Vũ Bạch là em ruột của tiện nội…

     Sát Ác Nhân Chủ Tiệm cười nhẹ:

     – Hóa ra là thế…

     Vạn Lý Câu Lê Hành khe khẽ thở dài:

     – Lúc còn lưu lạc giang hồ tôi kết nghĩa đệ huynh với Vũ Bạch rồi sau đó thành hôn với chị ruột của y. Cha mẹ mất sớm hai chị em đùm bọc với nhau vì vậy tiện nội rất thương yêu và lo lắng cho Vũ Bạch…

     – Tôi hiểu…

     Sát Ác Nhân Chủ Tiệm buông gọn hai tiếng trên rồi thong thả tiếp:

     – Tôi còn nghe nói Tam Ca Lê Ánh là bà con chú bác với Lê trưởng ban…

     Liếc nhanh vị thủ lĩnh của mình Lê Hành cười gượng im lặng không nói. Đoán nhân viên hiểu lầm về lời nói của mình, Sát Ác Nhân Chủ Tiệm lên tiếng phân trần:

     – Tôi chỉ nói như thế chứ không có ý gì khác. Chuyện anh em trong gia đình làm việc với nhau không có gì lạ lùng và đáng chê trách. Tôi chỉ muốn nói là nghe giang hồ đồn Lê Ánh có võ gia truyền. Hắc Hổ quyền của y có những ngón đòn quái dị và bí hiểm vô cùng…

     Nghe thủ lĩnh biện bạch, Lê Hành nở nụ cười tươi tắn lên tiếng:

     – Thủ lĩnh nói đúng. Hắc Hổ quyền là một tuyệt kỹ nổi tiếng ở Nghệ An nhưng cũng không thể so sánh với các pho quyền trong giang hồ như Tam Sơn quyền của Thái Nguyên trang, Lạc Quyền của Lạc Việt phái…

     Hai người vừa nói chuyện vừa chạy cho nên cước trình có hơi chậm lại. Con đường thiên lý tối mờ trong làn mưa giăng. Gió lạnh thổi phần phật tạt vào mặt hai người rát rạt. Lê Hành nói lớn:

     – Chúng ta sẽ tới Chi Lăng lúc bình minh. Hy vọng ta có thể biết tin tức một cách chi tiết hơn…

     Vận sức xuống chân bước nhanh Lê Hành tiếp:

     – Ban tin tức có một tổ do thám ở Chi Lăng do Nhu Đao Nguyễn Băng làm tổ trưởng. Tuy dưới quyền của Vũ Bạch song Nguyễn Băng là một nhân viên thâm niên, nhiều kinh nghiệm và hành sự chu đáo. Chúng ta sẽ biết chi tiết về vùng Lạng Giang khi gặp Nguyễn Băng…

     Sát Ác Nhân Chủ Tiệm gật đầu tỏ vẻ hiểu. Mặc dù là thủ lĩnh song y lại không biết nhiều về cách tổ chức cũng như các hoạt động của đoàn do thám trong khi Vạn Lý Câu Lê Hành đã ở trong nghề gần hai mươi năm. Với chức vụ trưởng ban tin tức y chỉ huy một nhân số đông đảo nhất của đoàn do thám so với các ban khác như truy tầm hay ám sát.

     – Lê trưởng ban chắc ngược xuôi trên con đường nầy nhiều lần?

     Sát Ác Nhân Chủ Tiệm  lên tiếng hỏi và Lê Hành đáp không do dự:

     – Ban tin tức của tôi có hai vùng hoạt động quan trọng nhất là miệt bắc và phương nam. Ở phương nam ta có Diễn Châu lộ, Nghệ An trấn và Tân Bình trại còn mạn bắc ta có Lạng Giang lộ và Bắc Giang lộ. Vì lý do đó tôi mới đề bạt Vũ Bạch làm lộ trưởng của Lạng Giang. Vùng biên thùy Hoa Việt này là cửa ngõ của Đại Việt ta. Bất cứ cuộc xâm lăng nào từ Tàu cũng đều khởi đầu từ Lạng Giang lộ. Tôi đặt Lê Ánh chỉ huy Diễn Châu lộ vì miền nam của ta thường hay bị Chiêm Thành quấy phá…

     Sát Ác Nhân Chủ Tiệm cười gật gù thốt:

     – Tôi đồng ý với Lê trưởng ban. Cắt cử hai người thân vào chức vụ quan trọng như vậy thời dễ dàng và tiện lợi hơn. Ít nhất họ cũng là người mà mình biết và tin cậy…

     Liếc nhanh vị thủ lĩnh của mình, Lê Hành nói gọn:

     – Đa tạ thủ lĩnh…

     Quay nhìn con đường thiên lý sáng mờ mờ sau lưng, Sát Ác Nhân Chủ Tiệm hỏi Lê Hành:

     – Chúng ta còn cách Chi Lăng bao xa?

     Nhẩm tính giây lát vị trưởng ban tin tức của đoàn do thám Thăng Long trả lời:

     – Chi Lăng cách đế đô hơn hai trăm dặm còn Chi Lăng lại cách Lạng Sơn hơn trăm dặm, như vậy từ Thăng Long tới Lạng Sơn có thể hơn ba trăm dặm. Hồi chiều ta ở Bắc Giang mà bây giờ gần nửa đêm cho nên tôi đoán ta đang ở nửa đường của Bắc Giang và Chi Lăng tức còn cách Chi Lăng gần trăm dặm đường…

     Ngừng lại một lát Lê Hành cười tiếp:

     – Nếu chịu khó chạy nhanh chúng ta sẽ tới Chi Lăng khoảng hừng đông..

     Sát Ác Nhân Chủ Tiệm cười cười:

     – Mời Lê trưởng ban đi trước…

     Lê Hành nghiêng mình buông câu khách sáo.

     – Cung kính không bằng tuân mạng…

     Lồng trong câu nói thân hình của y như cái bóng mờ bay nhảy trên đường cái quan. Chạy non nửa dặm Lê Hành chợt dừng lại khi thấy hai người đứng xếp hàng ngang chận đường mình. Hai người lạ mặc vũ phục đen và kiếm mang bên hông. Người đứng bên phải tuổi gần bốn mươi trong lúc người đứng bên trái trẻ tuổi hơn.

     – Hai vị là ai?

     Lê Hành hỏi gọn. Gã thanh niên trẻ tuổi nhếch môi cười nhạt đoạn hắng giọng:

     – Ta là Hữu Tiểu Kha. Hai ngươi biết điều nên bó tay chịu trói để khỏi nhọc sức bản công tử ta…

     Sát Ác Nhân Chủ Tiệm làm thinh không xen vào câu chuyện. Vì không biết tiếng Mông Cổ do đó y để mặc cho nhân viên đối đáp. Nghe kẻ địch trẻ tuổi khoác lác Lê Hành cười gằn:

     – Nhóc con tài cán bao nhiêu mà lớn lối…

     Hữu Tiểu Kha buông chuỗi cười rộ:

     – Ngươi đúng là ếch ngồi đáy giếng cho nên mới không biết nội tổ của ta chính là thủ lĩnh đoàn do thám thiên triều…

     Một ý nghĩ thoáng nhanh trong trí não, Sát Ác Nhân Chủ Tiệm nói nhỏ với Lê Hành:

     – Lê trưởng ban… Ta bắt thằng nhóc con này để đổi mạng với Vũ Bạch…

     Vị trưởng ban tin tức đoàn do thám Thăng Long cười ha hả:

     – Thủ lĩnh có ý kiến hay tuyệt. Để tôi kềm thằng bộ hạ của hắn cho thủ lĩnh rảnh tay…

     Lồng trong tiếng nói Lê Hành tấn công gã đàn ông trung niên mà y đoán phải là thủ hạ thân tín của Hữu Tiểu Kha; cháu nội của Hữu Đại Khan, thủ lĩnh đoàn do thám viễn chinh Mông Cổ. Hiểu ý thủ lĩnh của mình muốn bắt sống kẻ địch để làm con tin trao đổi, do đó Lê Hành triển hết tuyệt kỹ bình sinh dồn dập xuất chiêu không cho địch thủ có thời giờ tiếp cứu chủ nhân. Y ra đòn, xuất chiêu, biến thế và hóa thức thần tốc, hung hiểm và ảo diệu cố tình dồn ép kẻ địch phải thủ nhiều hơn công. Trước tình thế đó tên Mông Cổ cố gắng tìm cách hóa giải chiêu thức của Lê Hành. Nhất thời hắn không bị đánh bại song không đủ sức tấn công kẻ địch.

     Nạt tiếng nho nhỏ Sát Ác Nhân Chủ Tiệm đạp bộ một bước thật dài. Nói là đạp bộ chứ thật ra y nhảy xổ vào sát kẻ địch. Hai cánh tay áo rộng thùng thình bắt từ ngoài kéo ập vào hai bên hông của Hữu Tiểu Kha. Không biết vô tình hay cố ý mà y xử một chiêu thoạt nhìn dữ dằn và hung hiểm song lộ ra nhiều sơ hở vì môn hộ hoàn toàn bị bỏ trống. Vốn thuộc dòng danh gia vũ học Hữu Tiểu Kha tất nhiên thấy rõ sơ hở này. Ngay lúc hai bàn tay của Sát Ác Nhân Chủ Tiệm vừa đi được nửa đường hắn đạp bộ một bước ngắn cùng với hai bàn tay máy động. Bàn tay tả mở khoằm khoằm chụp nhầu vào ngực. Đây chính là một chiêu trong Bạch Hổ trảo, tuyệt kỹ nổi tiếng của giới giang hồ Mông Cổ. Ngay lúc bàn tay tả chờn vờn nơi mục tiêu, bàn tay hữu khép thành triệt thủ đâm ngay vào huyệt đản trung của Sát Ác Nhân Chủ Tiệm. Hắn xuất hai chiêu hàm chứa kình lực hùng hậu và cương mãnh cực độ. Điều này chứng tỏ Hữu Tiểu Kha phải được danh sư chỉ dạy và trình độ vũ thuật cao siêu. Hắn chỉ thiếu một điều là kinh nghiệm giao tranh để không nhận ra cái bẩy mà địch thủ giăng ra. Từ nhỏ tới lớn sống trong sự cưng chiều của cha mẹ và nhất là nội tổ, do đó hắn được mọi người nể nang và không dám làm phật lòng. Mỗi khi thử tài với Hữu Tiểu Kha, các cao thủ của đoàn do thám đều kín đáo chịu thua vì họ không muốn bị phiền phức. Từ đó hắn đâm ra kiêu ngạo, tự nghĩ vũ thuật của mình cao siêu không có ai địch lại. Tính kiêu ngạo khiến cho hắn quên rằng mình đang giao tranh với kẻ thù địch, mà người đó lại chính là thủ lĩnh của một đoàn do thám, đệ nhất cao thủ của giới giang hồ Đại Việt.

     Thoáng thấy địch thủ xuất chiêu, Sát Ác Nhân Chủ Tiệm biến đòn liền. Chân tả trong thế tảo đường cước đá quét một đường vào ngay đầu gối, còn bàn tay tả khép thành triệt thủ chém xuống vân môn huyệt trong lúc bàn tay hữu mở thành chưởng vổ vào huyệt chương môn. Chưa hết. Y còn khom người dùng đầu húc ngay vào ngực địch thủ. Bản lãnh sút kém, kinh nghiệm giang hồ không có nhiều và tính tự kiêu khiến cho Hữu Tiểu Kha vô phương hóa giải thế đòn thần tốc và quái dị của kẻ địch. Bịch… Hự… Hữu Tiểu Kha gục trong tay của Sát Ác Nhân Chủ Tiệm.

     – Công tử…

     Tên thủ hạ thân tín của Hữu Tiểu Kha bật la thảng thốt khi thấy tiểu chủ bị kẻ địch bắt sống.

     – Dừng tay…

     Tiếng hét uy nghi trầm lạnh của vị thủ lĩnh đoàn do thám Thăng Long vang lên khiến cho Lê Hành và tên do thám Mông Cổ phải đình thủ.

     – Ngươi tên gì?

     Sát Ác Nhân Chủ Tiệm hỏi và tên do thám đáp gọn:

     – A Xích…

     Giọng nói của Sát Ác Nhân Chủ Tiệm vang lên chầm chậm. Từng tiếng một rót vào tai A Xích:

     – Ta là Sát Ác Nhân Chủ Tiệm, thủ lĩnh đoàn do thám Thăng Long. Các hạ về trình với bề trên của các hạ là ta muốn thương lượng…

     Ngừng lại vị chủ tiệm liếc nhanh Lê Hành ra hiệu ngầm xong hắng giọng tiếp:

     – Ta muốn đổi mạng các nhân viên đang bị giam giữ bằng tính mạng của tên này…

     Bàn tay án hờ nơi linh đài huyệt của Hữu Tiểu Kha, vị thủ lĩnh đoàn do thám trầm giọng nói trong lúc nháy mắt ra hiệu cho Lê Hành. Y nhè nhẹ gật đầu như hiểu ý thủ lĩnh bảo mình theo dấu của kẻ địch.

     – Ta đợi tin của các hạ ở ải Chi Lăng… Trễ nhất là trưa mai… Đi…

     Sát Ác Nhân Chủ Tiệm phất tay. A Xích cảm thấy luồng kình phong cuồn cuộn lốc tới khiến cho hắn phải lùi lại một bước mới đứng vững. Ngần ngừ nhìn tiểu chủ nằm gục trong tay kẻ địch giây lát hắn lẳng lặng bỏ đi. Nhìn theo bóng Lê Hành mất hút trong rừng cây mông lung Sát Ác Nhân Chủ Tiệm xốc lấy Hữu Tiểu Kha đoạn nhắm hướng ải Chi Lăng chạy nhanh. Tiếng gà rừng eo óc gáy.

     Trái với dự đoán của A Xích, Hữu Đại Khan im lặng và bình tịnh nghe thủ hạ thân tín tường thuật đầu đuôi câu chuyện. Trầm ngâm giây lát lão quay sang hỏi Áo Bạch Văn, vị tân trưởng ban tin tức của mình:

     – Chúng ta bắt được bao nhiêu nhân viên do thám địch?

     Áo Bạch Văn đáp nhanh:

     – Trình thủ lĩnh… Kể luôn cả tên Vũ Bạch là mười một người…

     Gật gù mỉm cười, Hữu Đại Khan quay sang nói với A Xích:

     – Ngươi tới ải Chi Lăng gặp tên Sát Ác Nhân Chủ Tiệm báo tin là ta chấp thuận đòi hỏi của hắn. Hôm nay là ngày hai mươi cho nên đúng ngọ ngày mai ta sẽ gặp hắn ở Quỉ Môn Quan…

*****

     Hai tay gấp lại thành hình thước thợ, bàn tay phải nắm chặt lấy chuôi kiếm, bàn tay trái đặt hờ lên bàn tay phải, lưỡi kiếm xanh lè chỉa thẳng băng lên trời; Đa Cùn Kiếm trụ bộ triển công phu trầm tịnh. Dù không thấy, dù không nhìn y cũng nghe được tiếng hô hấp ba địch thủ đang đứng hai bên hông và trước mặt của mình. Áo Bất Bằng và hai thuộc hạ sống sót đang chia thành thế chân vạc bao vây chặt chẽ kẻ địch.

     – Hà… hà… hà… Ta biết ngươi không phải là phường tham sinh húy tử nhưng ngươi nên biết rỏ ” thức thời vụ mới là tuấn kiệt “. Đầu hàng thiên triều thời sống mà chống thời chết…

     Liếc nhanh hai thủ hạ làm hiệu xong tên phó trưởng ban ám sát đoàn do thám Mông Cổ nói trong tiếng cười hô hố:

     – Quân binh của thiên triều đã phân làm hai đạo tiến đánh các cửa ải của quân Giao Chỉ. Vài ngày nữa thôi là vùng Lạng Giang này cây cỏ cũng không sống được huống chi người…

     Đa Cùn Kiếm vừa mừng vừa lo khi nghe kẻ địch nói câu trên. Y phải đem tin tức quan trọng này báo cho tổng đàn hay quan tiết chế họ Trần biết để tìm cách chống trả. Chạy… Lần đâu tiên trong đời tay kiếm hung nhất và cao ngạo nhất miền nam Đại Việt phải nghĩ cách chuồn. Y không còn là một vũ sĩ giang hồ mà là một nhân viên do thám phải tạm thời gạt bỏ sĩ diện và tự ái để chu toàn nhiệm vụ của mình.

     Bàn tay mặt của Đa Cùn Kiếm chợt nhích động. Hai lưỡi liễu diệp phi kiếm xẹt ra tợ ánh chớp.

     – Ám khí…

     Áo Bất Bằng hét lớn như báo hiệu cho thủ hạ biết. Chậm mất rồi. Bị trúng ám khí vào yết hầu sâu lút cán hai tên do thám Mông Cổ chệnh choạng lùi lại mấy bước rồi sau cùng ngã vật ra đất nằm im lìm. Miệng la hai tiếng ” ám khí ” Áo Bất Bằng thoáng thấy ánh kim khí chớp chớp và mũi kiếm chập chờn nơi ngực của mình. Động tác buông kiếm ném ám khí xong bắt lấy chuôi kiếm rồi đâm vào ngực địch thủ của Đa Cùn Kiếm thần tốc cực độ khiến cho Áo Bất Bằng kinh hãi tức tốc hồi bộ một bước dài để né tránh. Chân chưa chạm đất hắn lại nghe tiếng rít của ám khí cùng với lưỡi đoản kiếm vút tới yết hầu. Vị phó trưởng ban ám sát đoàn do thám Mông Cổ phải tạt bộ tránh đòn. Ngay lúc hắn tạt bộ thân ảnh của Đa Cùn Kiếm bắn ngược về sau rồi chỉ bằng vài bước nhảy y mất hút trong rừng hoang mịt mùng lác đác mưa rơi.

     Đứng nhìn theo bóng kẻ địch mất dạng Áo Bất Bằng cười gằn lẩm bẩm:

     – Đoàn do thám của ta đã bủa thiên la địa võng rồi… Ngươi có lên trời cũng không thoát…

     Vừa ra tới đường lớn nối liền Lộc Châu với Tiên Yên, Đa Cùn Kiếm chợt khựng lại. Y cảm thấy mặt đất chỗ mình đang đứng rung chuyển cùng với tiếng ì ầm như có thiên binh vạn mã đang di chuyển. Lát sau không cần vận dụng thính lực y cũng nghe được tiếng vó ngựa nện trên mặt đường rồi một đoàn nhân mã hiện ra. Cờ xí rợp trời. Giáo gươm, đao thương, kiếm kích sáng lấp lánh. Khi đoàn quân tới gần y trông thấy một viên đại tướng nhung y khôi giáp rỡ ràng, ngồi trên lưng con chiến mã cao lớn. Đạo kỵ quân đông không đếm được. Nhìn chiến phục Đa Cùn Kiếm biết đó là quân Mông Cổ. Như vậy thời lời tiết lộ của Áo Bất Bằng quả đúng sự thực. Từ Lộc Châu địch quân đã chia hai đường để tiến đánh quân Đại Việt. Thứ nhất ngược lên Khâu Ôn rồi theo đường thiên lý tấn công Chi Lăng. Thứ nhì theo con đường nói liền Lộc Châu với Tiên Yên rồi rẽ về huyện Na Ngạn thuộc lộ Bắc Giang. Nếu đúng như lời y ước đoán thời đây chính là đạo quân thứ nhì. Nép mình sau thân cây cổ thụ Đa Cùn Kiếm im lặng quan sát đoàn quân chậm chạp di chuyển trên con đường lầy lội và trơn trợt. Ngước trông lên bầu trời xám xịt của vùng Lạng Giang, y cầu trời cho mưa rơi nhiều hơn, lớn hơn bởi vì ngựa sẽ di chuyển khó khăn và chậm chạp khi gặp đường lầy lội, ướt át và trơn trợt.

     Khoảnh đất trống vương vãi máu bầm. Thây người nằm rải rác. Kiếm chĩa mũi xuống đất Bất Bình Thời Cuộc đứng im. Bộ vũ phục của y lấm tấm máu. Máu của y cũng có mà máu của kẻ thù cũng có. Cuộc hỗn đấu kéo dài không biết bao lâu song đủ làm cho tay kiếm nổi danh của giới giang hồ Đại Việt phải lâm vào tình trạng khốn khó. Hạ sát hay đả thương được hàng chục nhân viên do thám địch nhưng y cũng phải trả giá khá đắt. Vai trái của y bị trúng một đao khá nặng và máu vẫn ri rỉ chảy. Chỉ cần dăm ba phút để rắc bồ hoàng lên vết thương giúp cho máu ngưng chảy song y không có chút thời giờ quí báu đó. Ngoài ra y còn bị Áo Bang Phiên đánh trúng một chưởng vào ngực khiến cho việc vận dụng nội lực trở nên khó khăn. Tên phó trưởng ban tin tức của đoàn do thám Mông Cổ đang đứng im an thần định khí. Hắn cần phải hồi phục sức lực để thanh toán kẻ thù.

     Đùng… Âm thanh nổ rền vang khu rừng hoang. Áo Bang Phiên và Bất Bình Thời Cuộc đồng ngước nhìn chùm ánh sáng đỏ rực treo lơ lửng trên nền trời xám xịt. Đối với họ Áo đó là pháo lệnh báo tin khẩn cấp từ tổng đàn tới các nhân viên. Hắn hiểu tính chất quan trọng và khẩn cấp này. Không chậm trể hắn đạp bộ nửa bước. Mũi kiếm nhọn hoắt chiếu đúng huyệt cự khuyết vút tới nhanh hơn sao xẹt. Đây là một huyệt đạo quan trọng thuộc nhâm mạch do đó bất cứ vũ sĩ nào cũng không dám để bị đâm trúng. Áo Bang Phiên thi triển chiêu kiếm thần tốc và hung hiểm nhằm hai mục đích. Thứ nhất là dồn ép kẻ địch vào thế thủ để thừa cơ hạ sát. Thứ nhì nếu không hạ sát được hắn sẽ nhân đó mà chuồn.

     Bất Bình Thời Cuộc bất động, hoàn toàn bất động dù mũi kiếm đã đi hơn nửa đường. Dưới nhãn quan của một kiếm thủ lỗi lạc như y, mũi kiếm có thể đâm vào bất cứ yếu huyệt của nhâm mạch của thủ thái âm phế kinh, túc dương minh vị kinh, túc thái âm tì kinh, túc thiếu âm thận kinh hoặc thủ quyết tâm bào kinh. Ngay lúc kiếm của địch thủ còn cách mục tiêu gang tấc Bất Bình Thời Cuộc mới triệt chiêu. Lưỡi kiếm từ dưới đất bật lên vớt vào khuỷu tay cầm kiếm của kẻ địch. Y ra tay sau mà lại tới trước vì khoảng cách gần hơn và nhất là tốc độ nhanh hơn. Tên phó trưởng ban tin tức đoàn do thám Mông Cổ phải giải chiêu nếu không cánh tay của hắn sẽ bị tiện đứt trước khi đâm trúng địch thủ. Nạt tiếng nho nhỏ Áo Bang Phiên dịch bộ sang tả. Bất Bình Thời Cuộc chuyển bộ sang hữu dường như y biết trước ý định của đối phương cho nên chuyển bộ để chận đường. Bằng cách thay đổi bộ pháp hai đối thủ chạm mặt  nhau cách chừng một bước. Từ trong ống tay áo của Áo Bang Phiên xẹt ra ánh kim khí xanh lè. Bất Bình Thời Cuộc phản ứng nhanh không kém. Mũi kiếm nhọn hoắt của y đâm ngay vào nhũ căn huyệt địch thủ. Song phương đồng hồi bộ bước dài. Cúi nhìn thanh đoản kiếm ghim sâu vào vai mình, Bất Bình Thời Cuộc chăm chú nhìn Áo Bang Phiên lảo đảo lùi lại rồi sau đó mất dạng trong rừng hoang. Không màng tới vết thương đang phun máu y băng mình chạy trở ra đường lớn. Cũng như Đa Cùn Kiếm y khựng lại khi gặp đoàn kỵ quân rầm rộ di chuyển. Nấp sau thân cây y im lìm quan sát đoàn người ngựa chậm chạp đi trong trời mưa rơi lác đác. Bóp vỡ hoàn thuốc màu đỏ rắc lên vết thương đẫm máu xong băng bó lại cẩn thận, y kiên nhẫn chờ đợi để bám sát theo đạo kỵ quân Mông Cổ.

27

Chạm mặt kẻ tử thù

     Quỉ Môn Quan nằm ở phía nam Khâu Ôn hay Châu Ôn thuộc địa phận xã Chi Lăng. Đó là một đường ải nhỏ hẹp, hai bên vách núi dựng đứng với những tảng đá có hình đầu ma đầu quỉ trông rất rùng rợn và huyền bí.

     Đại diện của hai đoàn do thám Thăng Long và Mông Cổ đứng dàn hàng ngang trên con đường nhỏ hẹp. Mỗi bên ước độ vài người mang vũ khí.

     – Hữu Đại Khan, thủ lĩnh đoàn do thám thiên triều. Ai là người mà lão phu hân hạnh được hầu tiếp đây…

     Sát Ác Nhân Chủ Tiệm liếc nhanh Lê Hành và Nhu Đao Nguyễn Băng cùng với hai nhân viên do thám tháp tùng. Ánh mắt của y chợt sáng lên nhưng tắt nhanh khi nghe câu nói hách dịch và ngạo mạn của kẻ thù. Câu trả lời của y cũng không thiếu ngạo nghễ:

     – Sát Ác Nhân Chủ Tiệm, thủ lĩnh đoàn do thám Đại Việt. Hân hạnh được gặp các hạ…

     Như muốn thử tài y ngầm phổ kình lực vào tiếng nói làm thành thứ vũ khí vô hình tấn công kẻ địch. Hữu Đại Khan cảm thấy tiếng nói của vị thủ lĩnh đoàn do thám Đại Việt như từng nhát búa tạ nện vào màn khí công hộ thể của mình khiến cho lòng ngực đau ran ran. Hơi kinh ngạc lão chăm chú quan sát đối thủ đang đứng trước mặt. Vũ phục bằng vải thô, chân mang giày rơm, chuôi kiếm nhô lên khỏi vai, thân hình khôi vĩ và ánh mắt rừng rực tinh quang; ngần thứ đó tạo cho thanh niên trẻ tuổi một phong cách uy nghi khiến cho người người phải nể trọng. Đúng là phong cách của một kẻ chỉ huy.

     Giọng nói của vị thủ lĩnh đoàn do thám Nguyên triều hơi dịu xuống:

     – Lão phu muốn thấy mặt cháu nhỏ…

     – Tôi cũng thế…

     Sát Ác Nhân Chủ Tiệm buông gọn ba tiếng. Hai vị thủ lĩnh đồng ra hiệu cho nhân viên. Lê Hành láy mắt cho Nhu Đao Nguyễn Băng. Họ Nguyễn vẩy tay. Hai nhân viên do thám kèm Hữu Tiểu Kha từ trong hốc núi bước ra. Phía bên kia một toán người im lặng bước ra. Lê Hành mừng thầm khi thấy trong toán người đó có Mai Côn Vũ Bạch. Cuộc trao đổi tù nhân diễn ra trong vòng trật tự dường như cả đôi bên đều không muốn có rắc rối xảy ra.

     Hữu Đại Khan cất giọng trầm khàn:

     – Nghe đồn giới giang hồ Đại Việt có lắm nhân tài cho nên lão phu rất hân hạnh được thưởng lãm công phu…

     Sát Ác Nhân Chủ Tiệm hiểu ý kẻ thù. Không dài giòng cũng không khách sáo, vị thủ lĩnh đoàn do thám Thăng Long ôm quyền thi lễ trong khi xoạc bộ:

     – Xin mời…

     Hơi nghiêng mình thi lễ trước khi ra tay Hữu Đại Khan vổ liền một chưởng. Sát Ác Nhân Chủ Tiệm giật mình không phải vì sợ hãi mà vì kinh ngạc. Y sớm thức ngộ mình chạm đúng một đối thủ cực kỳ lợi hại. Lão thủ lĩnh đoàn do thám Mông Cổ phát chưởng dễ dàng và tự nhiên như là phản ứng thành thuộc của một vũ sĩ mà vũ thuật đã nhập tâm hay đúng hơn tâm ý hành tương thông và tương hợp. Không dám khinh thường vị thủ lĩnh đoàn do thám Đại Việt phất tay. Chát… Chưởng lực của hai nhân vật đại diện cho hai đoàn do thám chạm nhau nổ lớn hơn đại pháo.

     Sát Ác Nhân Chủ Tiệm đạp bộ nửa bước. Bàn tay nắm lại thành quyền đấm dứ vào ngực đối phương. Hữu Đại Khan chớp mắt vì kinh dị. Vị đệ nhất cao thủ của giới giang hồ Mông Cổ khám phá ra đối thủ trẻ tuổi của mình quả nhiên là kỳ tài trong lãnh vực vũ thuật. Chiêu quyền tầm thường quá, giản dị quá, thô sơ quá cho nên hầu như không có sơ hở. Nó tương tự như chiêu quyền của một võ sinh mới bắt đầu luyện võ, không thuộc bài và quên mất thiệu. Xuyên qua kinh nghiệm giao tranh và kiến thức vũ học, Hữu Đại Khan thấu triệt rằng bất cứ chiêu thức nào cũng đều có sơ hở, chỉ có điều người ta không nhìn ra mà thôi. Không nhìn ra sơ hở dĩ nhiên lão không biết cách hóa giải. Tuy nhiên không biết cách hóa giải lão cũng phải hóa giải bởi vì trong một cuộc tử đấu không giải chiêu là chết.

     Cánh tay áo rộng thùng thình của vị thủ lĩnh đoàn do thám lừng danh phất lên. Từ trong ống tay áo ló ra năm ngón tay khẳng khiu mở khoằm khoằm tựa vuốt chim ưng chụp tới nắm tay của đối thủ. Xuất một chiêu bất thành dạng thức, không đường lối và lộ số; Sát Ác Nhân Chủ Tiệm kinh ngạc khi thấy đối phương hoàn thủ một chiêu cũng giản dị, cũng tầm thường, cũng thô sơ song khắc chế với chiêu thức của mình. Nếu không triệt chiêu bàn tay của y sẽ bị trảo công chụp trúng. Lấy chỉ phá trảo. Đó là cách thức Sát Ác Nhân Chủ Tiệm đem ra đối kháng với đòn ưng trảo của địch thủ. Đang từ quyền y biến thành chỉ công với ngón trỏ điểm ngay vào lòng bàn tay của Hữu Đại Khan. Đây là khu vực có hai huyệt đạo lao cung và thiếu phủ. Lao cung huyệt thuộc thủ quyết tâm bào kinh nằm trên đường giữa hai xương ngón tay thứ ba và thứ tư. Thiếu phủ huyệt ở trên đường giữa hai xương ngón tay thứ tư và thứ năm thuộc thủ thiếu âm tâm kinh.

     – Giỏi…

     Lão thủ lĩnh đoàn do thám Mông Cổ giải chiêu trước khi lời nói ra khỏi miệng bởi vì chậm một sát na thôi đối phương sẽ điểm trúng huyệt đạo trong lòng bàn tay của lão. Hữu Đại Khan giải chiêu vô cùng giản dị bằng cách cụp năm ngón tay lại che kín huyệt lao cung và thiếu phủ xong tiện đà đấm ngay vào chỉ công của đối thủ. Thoáng thấy năm ngón tay của Hữu Đại Khan cụp lại Sát Ác Nhân Chủ Tiệm biến chiêu liền. Đang từ chỉ y đổi thành triệt thủ với bàn tay khép lại thẳng băng và cứng hơn sắt tôi chém sả vào chiêu quyền kẻ địch. Chát… Kình lực của đôi bên chạm nhau chát chúa khiến cho song phương phải hồi bộ nửa bước mới lấy lại thăng bằng.

     Chân đạp tấn chảo mã Hữu Đại Khan nhếch môi cười nhạt:

     – Các hạ quả nhiên danh truyền không dối…

     – Đa tạ… Ta mời các hạ một chiêu nữa…

     Tiếng cuối vừa buông Sát Ác Nhân Chủ Tiệm dịch bộ sang phải nửa bước cùng với bàn tay phất nhẹ tới ngực kẻ địch. Đòn đánh này thoạt trông tương tự như đòn lập chưởng thuộc thủ hình pháp của phái Thiếu Lâm nhưng nhận xét kỹ lại khác xa. Đòn lập chưởng của Thiếu Lâm phái là bốn ngón tay khép lại, duỗi thẳng ra; ngón tay cái co lại hướng vào ngón trỏ. Chưởng dựng đứng và chưởng tâm hướng về trước. Công dụng của lập chưởng là dùng để đẩy song cũng có thể biến thành chém hay chặt. Trong lúc chiêu thức của vị thủ lĩnh đoàn do thám Thăng Long đánh bằng lưng bàn tay và thuần lấy nội gia chân lực làm chuẩn.

     Đối phương vừa phất tay Hữu Đại Khan cảm thấy luồng kình khí ập tới ngực của mình khiến cho lão phải tức tốc vung tay giải đòn. Bùng… Âm thanh nổ dòn hơn pháo đại. Âm thanh chưa dứt vị thủ lĩnh đoàn do thám Mông Cổ thoáng thấy hình bóng cao lớn của địch thủ chờn vờn trước mặt mình cùng với bóng tay chân dậy mịt mờ. Lần đầu tiên trong đời lão mới đụng phải một đối thủ có công phu hay tuyệt kỹ quái đản và hiểm độc cực cùng. Không những đánh bằng chuởng chỉ, trảo quyền, cước mà luôn cả gối và chỏ nữa. Trước khi sang Đại Việt, Hữu Đại Khan đã bỏ nhiều thời giờ nghiên cứu về vũ thuật Trung Hoa cho nên lão biết phái Thiếu Lâm cũng có những đòn đánh bằng cùi chỏ hoặc đầu gối. Tuy nhiên điều khiến cho lão kinh dị là đối thủ trẻ tuổi lại hòa hợp một cách vô cùng tuyệt diệu giữa thân, thủ và bộ pháp để thi triển những chiêu thức bao hàm hàng chục thế thức nhằm đánh vào các huyệt đạo hay bộ vị trọng yếu trên khắp thân thể của mình. Không dám khinh thường cũng không dám chần chờ Hữu Đại Khan tức tốc triển khai công phu bí truyền của bản phái ngăn đón những chiêu thức của địch thủ. Quyền cước chỉ chưởng của hai bên chạm nhau chan chát xen lẫn trong tiếng hò hét cùng với cát bụi bốc mờ mờ và hình bóng quay cuồng đảo lộn.

     Đùng… Tiếng đại pháo nổ lưng chừng trời rồi chùm ánh sáng đỏ rực hiện ra trong bầu trời xám xịt lất phất mưa bay.

     – Thủ lĩnh…

     Vạn Lý Câu Lê Hành hò lớn hai tiếng ” thủ lĩnh ” khi nghe thấy pháo lệnh truyền tin của địch quân. Bằng linh tính và kinh nghiệm của một kẻ lâu năm trong nghề do thám, y đoán tất phải có chuyện lạ xảy ra và chuyện lạ này chắc chắn phải là điều bất lợi cho phe nhà. Nghe tiếng pháo nổ cùng với tiếng kêu của Lê Hành; Sát Ác Nhân Chủ Tiệm xoay mình một vòng thật nhanh cùng lúc hai bàn tay một đẩy và một dẫn. Hữu Đại Khan cảm thấy một hấp lực khủng khiếp cuốn lấy thân thể khiến cho lão phải vận tấn giữ thăng bằng.

     – Xin tái kiến…

     Thân hình của vị thủ lĩnh đoàn do thám Thăng Long bắn ngược về sau ba bước. Hữu Đại Khan bật cười ha hả:

     – Các hạ biết thời đã chậm rồi… Giờ này nguyên soái của ta đã phân binh hai ngã đánh các cửa ải Khả Ly, Vĩnh Châu, Nội Bàng, Thiết Lược và Chi Lăng…

     Sát Ác Nhân Chủ Tiệm và Vạn Lý Câu Lê Hành động dung khi nghe đối phương tiết lộ những lời trên. Họ chưa có hành động gì khác lạ Hữu Đại Khan cười nói tiếp với giọng tự đắc:

     – Đoàn do thám của các hạ đã bị ta lừa rồi. Một khắc nữa thôi ải Nội Bàng, nơi đóng quân của tên Trần Quốc Tuấn sẽ bị sáu đạo binh cùng lúc tấn công. Các hạ mau về lo lượm xác quân nhà đi… ha… ha… ha…

     Sát Ác Nhân Chủ Tiệm vẩy tay ra lệnh cho thủ hạ rút lui trong lúc y từ từ cản đường nhưng Hữu Đại Khan chỉ đứng yên nhìn theo. Đợi cho kẻ địch khuất bóng lão cùng thủ hạ từ từ biến mất trong rừng cây mịt mùng.

*****

     – Ta rất mừng khi gặp lại ngươi…

Bất Bình Thời Cuộc nói với Đa Cùn Kiếm bằng một giọng không được bình thường lắm. Tay kiếm hung nhất miền nam nhận ra điều đó xuyên qua nụ cười gượng gạo và nét mặt hơi tái xanh của bạn.

     – Ngươi bị thương nặng?

     Đa Cùn Kiếm hỏi và Bất Bình Thời Cuộc gật đầu thay cho câu trả lời rồi sau đó mới từ từ lên tiếng:

     – Ta bị mất máu khá nhiều…

     Nhìn theo bóng người ngựa khuất trong màn mưa Đa Cùn Kiếm hắng giọng:

     – Ta cần thông báo cho quan tiết chế hay bất cứ vị bộ tướng nào của ông ta về tin tụi Mông Cổ sẽ tấn công. Chúng sẽ chia binh mấy đạo cùng lúc đánh các ải Vĩnh châu, Thiết Lược, Chi Lăng và Nội Bàng…

     – Ta biết…

     Bất Bình Thời Cuộc nói gọn. Quay nhìn bạn, Đa Cùn Kiếm hỏi:

     – Ngươi cũng nghe tin đó?

     Bất Bình Thời Cuộc cười gượng:

     – Ta chỉ nghe tên phó trưởng ban tin tức của chúng nói sẽ phân binh hai đạo đánh quân ta…

     Trầm ngâm giây lát Đa Cùn Kiếm hắng giọng:

     – Ngươi cần dưỡng thương nên lãnh phần tới Nội Bàng để báo tin còn ta sẽ theo dò xét đạo quân thiết kỵ để xem chúng đi đâu và làm gì…

     Nhẹ gật đầu Bất Bình Thời Cuộc nói nhỏ:

     – Ngươi cẩn thận… Ta sẽ dùng đường tắt tới ải Nội Bàng trước…

     – Khoan…

     Vừa định cất bước nghe bạn lên tiếng Bất Bình Thời Cuộc hỏi nhanh:

     – Ngươi có chuyện gì?

     Đa Cùn Kiếm nói không do dự:

     – Ta sinh trưởng ở miền nam cho nên vùng Lạng Giang này ta không biết đường lối. Ta muốn hỏi ngươi ải Nội Bàng ở đâu?

     Bất Bình Thời Cuộc lên tiếng:

     – Ải Nội Bàng thuộc thôn Bình Nội huyện Na Ngạn mà có người còn gọi là Chũ nằm dọc theo sông Trú Hữu. Theo ta đoán thời đạo quân thiết kỵ của giặc sẽ men theo con đường này tới Chũ để đánh vào Nội Bàng là nơi đóng quân của quan Tiết Chế…

     Nhìn theo bóng của bạn khuất trong rừng cây Đa Cùn Kiếm ngước trông lên bầu trời xám xịt. Ngẫm nghĩ giây lát y tháo hành lý lấy lương khô ra dùng bữa cơm chiều. Thức ăn của một vũ sĩ giang hồ kiêm nhân viên do thám lỡ độ đường rất đạm bạc. Nó là một vắt cơm trộn với muối và một miếng cá khô dài khoảng gang tay. Còn nước uống rất dễ tìm. Chỉ cần bẻ  vài lá cây rừng lớn hơn bàn tay là y có thể hứng được nước mưa.

     Ăn xong bữa cơm chiều đạm bạc trong rừng sâu, Đa Cùn Kiếm bắt đầu hành động. Mang gói hành lý nhỏ vào vai bên trái y lần ra đường lớn. Trời xâm xẩm tối. Gió bấc thổi mạnh khiến cho y rùng mình cảm thấy lạnh hơn lúc ban ngày. Con đường nối  huyện Yên Bác của Lạng Giang và huyện Na Ngạn thuộc Bắc Giang vắng tanh không người đi lại. Dân chúng được lệnh của triều đình tản cư về miền xuôi từ lâu rồi. Lúc nhanh lúc chậm, khi biến khi hiện tựa bóng ma Đa Cùn Kiếm cố gắng tìm kiếm dấu vết của đạo kỵ quân Mông Cổ trước khi tìm đường về ải Nội Bàng. Xuyên qua lời chỉ dẫn của Bất Bình Thời Cuộc, y biết chỗ đóng quân của Hưng Đạo Vương nằm trong huyện Na Ngạn mà người trong vùng thường gọi là Chũ. Dĩ nhiên nơi đặt đại bản doanh của quan tiết chế sẽ có quân binh đông đảo khiến cho y dễ dàng phát hiện. Chạy một mạch hơn hai chục dặm Đa Cùn Kiếm dừng lại khi thấy xa xa hiện lên mấy nóc nhà. Y im lìm nhìn dòng sông nằm bên tay trái của mình. Dĩ nhiên y không biết đó chính là dòng sông phát nguyên từ huyện Yên Bác chảy xuống gặp nguồn sông Trú Hữu của huyện Na Ngạn. Tại ngã ba này nếu đi thẳng y sẽ đi lên xã Chi Lăng còn rẽ trái y sẽ về huyện Na Ngạn. Đa Cùn Kiếm lắc lắc đầu thở dài. Trước mặt y là núi, sau lưng cũng là núi, phải trái đều có núi. Có đỉnh núi xa xa giống như mỏ diều hâu. Có núi mờ mờ như hình con voi nằm phục xuống. Địa thế vùng này núi non hiểm trở và rừng hoang ngút ngàn. Đúng là đất một người trốn ngàn người tìm không ra. Ngẫm nghĩ hồi lâu Đa Cùn Kiếm rẽ trái vào con đường đất khá rộng. Đang lững thững bước y chợt tạt bộ nấp vào gốc cây bên đường khi thấy bóng người xuất hiện. Khi hai người lạ tới gần y nhận ra họ là Lãnh Tâm Diện và Độc Kiếm Nguyễn Dị. Mừng rỡ Đa Cùn Kiếm bước ra đón.

     – Ta mừng khi gặp nhị vị…

     Đa Cùn Kiếm lên tiếng. Lãnh Tâm Diện hỏi nhanh:

     – Đa thế huynh có gặp Bất Bình Thời Cuộc?

     Đa Cùn Kiếm cười thốt:

     -Y đã tìm đường tới Nội Bàng…

     Lãnh Tâm Diện liếc nhanh Độc Kiếm Nguyễn Dị xong lên tiếng:

     – Hồi chiều hai chúng tôi ở Nội Bàng…

     – Có lẽ lúc đó y chưa tới. Y bị thương khá nặng vả lại chúng tôi dọ được tin quân Mông Cổ sẽ chia quân tấn công quân ta…

     Nhìn hai vị trưởng ban tin tức và nội gián của đoàn do thám Thăng Long, Đa Cùn Kiếm tiếp nhanh:

     – Tôi và Bất Bình Thời Cuộc theo dõi đạo quân này từ con đường nối liền Lộc Châu với Tiên Yên nhưng tới ngã ba…

     Nói tới đó y hơi ngập ngừng dường như không biết địa thế của vùng này. Lãnh Tâm Diện cười cười đỡ lời cho Đa Cùn Kiếm:

     – Đó là ngã ba Đình Lập. Nếu thẳng đường người ta sẽ về Tiên Yên còn rẽ phải sẽ về huyện Na Ngạn…

     Cười thành tiếng vui vẻ Đa Cùn Kiếm thốt:

     – Lãnh trưởng ban nói đúng đó. Tôi theo dấu đạo kỵ quân này chừng mươi dặm rồi ngừng lại dùng cơm chiều sau đó mới tìm đường về Nội Bàng…

     – Đa thế huynh biết đạo quân này đi đâu?

     Độc Kiếm Nguyễn Dị hỏi và Đa Cùn Kiếm lắc đầu cười:

     – Tôi không biết…

     Lãnh Tâm Diện nhìn Nguyễn Dị. Trong trí não của hai vị trưởng ban nội gián và ám sát nổi lên nhiều nghi vấn. Trầm ngâm giây lát Lãnh Tâm Diện nói với Đa Cùn Kiếm:

     – Đa thế huynh nhọc sức nhiều rồi nên tôi đề nghị thế huynh thẳng đường tới Nội Bàng để nghỉ ngơi qua đêm. Việc tìm kiếm chỗ đóng quân của đạo thiết kỵ sẽ do tôi đảm trách…

     Đa Cùn Kiếm ưng thuận. Chỉ con đường đất Lãnh Tâm Diện nói:

     – Huynh cứ theo con đường này chừng vài dặm sẽ gặp quân ta…

 Đứng nhìn theo cho tới khi Đa Cùn Kiếm khuất dạng, Lãnh Tâm Diện quay hỏi Nguyễn Dị:

     – Nguyễn huynh tính sao?

     Nhìn bao quát toàn vùng núi rừng mờ mờ trong bóng đêm Nguyễn Dị hắng giọng:

     – Bắc Giang lộ có hơn bốn chục ngọn núi thời huyện Na Ngạn chiếm tới chín cho nên ta khó mà biết giặc ẩn nấp ở đâu…

     Lãnh Tâm Diện cười trong bóng tối:

     – Bọn Mông Cổ tới từ huyện Yên Bác của Lạng Giang tức là tới từ hướng đông của huyện Na Ngạn. Hai ngọn núi Thái Họa và Mỏ Diều liền nhau nằm ở hướng đông cho nên tôi đoán chúng phải đóng quân nghỉ ngơi ở hai ngọn núi này…

     Nguyễn Dị gật gù cười:

     – Lãnh huynh có lý… Ta tới Mỏ Diều trước nếu không thấy sẽ tới Thái Họa…

     Dứt lời Nguyễn Dị cùng Lãnh Tâm Diện  nhắm hướng núi Mỏ Diều chạy tới. Ngọn núi này ở phía đông huyện Na Ngạn thuộc xã Kỳ Công. Thông thạo địa thế nên hai người toàn dùng đường mòn và nẻo tắt; do đó chỉ hơn một khắc họ đi vào khu rừng thưa dưới chân núi Mỏ Diều. Nhờ vào kinh nghiệm bản thân họ tìm ra chỗ đóng trại của đạo kỵ binh Mông Cổ không khó khăn lắm. Thấy đèn lửa khi mờ khi tỏ khắp nơi trong khu rừng mênh mông cả hai đoán đạo kỵ binh đông vô cùng có hơn một vạn người đúng như lời Đa Cùn Kiếm nói.

     – Chúng ta tới gần hơn…

     Nguyễn Dị thì thầm. Lãnh Tâm Diện gật đầu đồng ý. Biết nếu để bị bại lộ hành tung họ sẽ khó khăn lắm mới chạy thoát cho nên hai vị trưởng ban của đoàn do thám Thăng Long đồng thi triển thuật xà hình bò chậm chạp và êm ái tới gần chỗ đóng trại của quân Mông Cổ. Nấp sau thân cây to lớn họ chăm chú quan sát bóng người khi ẩn khi hiện mờ mờ trong bóng đêm thâm u. Nghe tiếng thở phì phò và tiếng quẩy đuôi của ngựa họ biết mình tới rất gần doanh trại của địch quân.

     Lãnh Tâm Diện thấp giọng:

     – Lui…

     Hai vị trưởng ban của đoàn do thám Thăng Long từ từ rút lui. Vừa được vài chục bước Lãnh Tâm Diện giật mình khi nghe giọng nói phát ra từ sau lưng của mình.

     – Hai ngươi vào thời dễ song khó ra lắm…

     Với thính lực cực tinh vị trưởng ban nội gián thoáng nghe gió lộng ập tới hậu tâm của mình. Không suy nghĩ y dịch bộ sang tả để tránh đòn nhưng lại thầm kinh ngạc vì vẫn nghe kình phong lốc vào hông bên phải của mình. Cười gằn Lãnh Tâm Diện vung tay phải giải đòn. Bụp… Chưởng lực của đôi bên chạm nhau nổ thành tiếng nho nhỏ song đủ vang động khu rừng im vắng. Từ trong bóng tối một người xuất hiện. Kẻ lạ mặc vũ phục đen, chân quân xà cạp và bên hông lủng lẳng thanh trường kiếm. Xuyên qua y phục kẻ lạ trông giống người Hán hơn là Mông Cổ.

     Nguyễn Dị đột nhiên lên tiếng:

     – Tôi đi trước… Lãnh huynh cẩn thận…

     Lãnh Tâm Diện gật đầu:

     – Nguyễn huynh tự nhiên… Tôi sẽ gặp huynh sau…

     Độc Kiếm Nguyễn Dị lạng mình vào bóng tối bỏ lại Lãnh Tâm Diện đối phó cùng kẻ địch. Đối với giới giang hồ hành vi bỏ bạn để thoát thân của Nguyễn Dị sẽ bị người ta chê bai và đàm tiếu song đối với một nhân viên do thám thời đó lại là chuyện thường hay xảy ra. Sở dĩ Nguyễn Dị hành động như thế vì hai lý do.Thứ nhất là đối với một nhân viên do thám nhiệm vụ quan trọng hơn hết. Đôi khi nhiệm vụ còn quan trọng hơn tính mạng của chính họ và bằng hữu. Cũng vì vậy mà y phải đào thoát để báo cáo tin tức quan trọng cho quân nhà đang đóng tại ải Nội Bàng. Thứ nhì là mỗi nhân viên do thám đều phải có khả năng tự giải quyết mọi khó khăn mà không cần nhờ vả người khác. Huống chi nhân vật ở đây lại là một nhân viên mang cấp bậc trưởng ban, một kẻ có thừa khả năng chạy trốn hay đào tẩu trong bất cứ hoàn cảnh nguy hiểm nào.

     – Ngươi là ai?

     Giọng nói trầm lạnh của Lãnh Tâm Diện cất lên. Kẻ lạ nhếch môi:

     – Hồ Doanh ta là đệ nhị phó trưởng ban ám sát của đoàn do thám thiên triều…

     Dù trong lòng hơi kinh ngạc song nét mặt không thay đổi, Lãnh Tâm Diện lên tiếng hỏi:

     – Ngươi là người Hán?

     – Đúng…

     Hồ Doanh buông gọn một tiếng. Giọng nói của vị trưởng ban nội gián đoàn do thám Thăng Long đanh lại đầy vẻ mỉa mai:

     – Là người Hán mà ngươi lại muối mặt làm chó săn cho kẻ thù của dân tộc. Ngươi không lấy thế làm nhục ư. Ngươi không màng tới tiếng kêu la than khóc của đồng bào đang ngậm hờn dưới ách nô lệ của Mông Cổ…

     Bị Lãnh Tâm Diện sỉ vả Hồ Doanh tái mặt vì giận dữ. Ánh mắt sáng lên vẻ hằn học hắn sẳng giọng:

     – Chuyện của ta làm ngươi không biết được…

     Lãnh Tâm Diện cười gằn:

     – Gần hai trăm năm nay giới giang hồ Đại Việt và vũ lâm Trung Hoa chưa từng có xích mích hay đụng chạm. Hôm nay ta sẽ vì tình đồng đạo giang hồ ra tay trừ khử một tên phản quốc…

     Tiếng cuối vừa buông Lãnh Tâm Diện đạp bộ kèm theo hai cánh tay dấy động. Khoảng cách đôi bên chừng ba bước huống chi Lãnh Tâm Diện lại đạp bộ bước dài cho nên đôi bên cách nhau không đầy tầm tay. Có lẽ vì muốn tốc chiến tốc thắng vả lại khoảng cách thật gần do đó vị trưởng ban nội gián đoàn do thám Thăng Long thi triển cầm nã thủ pháp với ý định chế ngự đối phương trong vài chiêu ngắn ngủi. Cầm nã thủ pháp mà y thi triển đây chính là các chiêu thức, thế đòn bắt nguồn từ một công phu lâu đời nhất của làng võ Việt. Vật… Có người cho vật là một môn thể thao. Có người xem vật có liên quan tới vũ thuật. Tựu trung vật hay vũ thuật cũng cùng mục đích là sử dụng sức lực cá nhân vào các chiêu thức hay đòn thế để chế ngự đối thủ. Vật xuất hiện từ thời nào không ai biết đích xác, có lẽ từ thượng cổ thời đại song sử sách còn ghi chép về các tay vật nổi tiếng mà dân chúng thường gọi là đô vật như Lý Ông Trọng, Cao Lỗ thời An Vương Dương Thục Phán hay Đô Dương, Đô Chinh thời Hai Bà Trưng hoặc Phùng Hưng tức Bố Cái Đại Vương. Tuy nhiên nhiều vũ sĩ giang đã đem các đòn thế của môn vật pha trộn với cầm nã thủ pháp thành ra những ngón đòn kỳ bí quái đản và hiểm độc có thể gây thương vong hay giết chết đối thủ một cách dễ dàng.

     Lãnh Tâm Diện thi triển cầm nã thủ với những chiêu thức, thế đòn mang nặng tính chất như bẻ vặn, móc chụp, vổ hất, xô đẩy, cào cấu khắp các yếu huyệt của địch thủ. Dĩ nhiên Hồ Doanh không thể nào biết được mình chạm trán với một kẻ kế thừa của Ngọc Mạo Trang. Trừ dân địa phương và các vũ sĩ lưu lạc giang hồ, ít người biết tới gia trang biệt lập nơi vùng rừng núi hoang vu này. Ngọc Mạo Trang nằm dưới chân núi Ngọc Mạo về phía tây của huyện Để Định, châu Tuyên Quang thuộc Quốc Oai lộ. Trên một khoảnh đất bằng phẳng cây cỏ tốt tươi rộng chừng hai ngàn mẫu bỗng nổi lên một ngọn núi như hình cái nón. Phía trước núi có cái hồ lớn tên Ngọc Mạo rộng chừng một mẫu mà nước hồ trong xanh quanh năm suốt tháng. Giang hồ đồn sau khi vua Đinh Tiên Hoàng băng có một gia đình người kinh với nhân số vài chục người tới lập điền trang nơi núi Ngọc Mạo. Giỏi võ, khéo giao thiệp công thêm tiền bạc cho nên chỉ trong thời gian ngắn họ được các sắc dân thiểu số trong vùng kính phục và mến mộ. Ngọc Mạo trang sinh sống bằng nghề nuôi ngựa, tìm kiếm vàng, sâm nhung hay hà thủ ô và các dược thảo quí giá rồi đem sang Mông Tự bán cho các lái buôn Trung Hoa.

     Khoảng đời vua Lý Nhân Tông, nhân vật của Ngọc Mạo trang mới bắt đầu nhập giang hồ. Họ đã làm cho các đồng đạo thán phục qua thứ công phu kỳ bí và quái đản khôn lường. Mãi sau này giới giang hồ Đại Việt mới biết đó là Hoàng Hạc trảo, một loại cầm nã thủ pháp của Ngọc Mạo trang. Theo lời tiết lộ của vài nhân vật thuộc gia trang này thời Hoàng Hạc trảo là một sáng tạo của vị trang chủ đời thứ ba của Ngọc Mạo trang. Số là ven hồ nước Ngọc Mạo có một cây gỗ lim cao chót vót sống hơn nghìn năm. Đó là nơi cư ngụ của loài hoàng hạc. Loại hạc vàng này thường hay ấu đả với nhau. Quan sát chúng đánh nhau vị trang chủ này đã bắt chước các động tác của loài hoàng hạc để tạo ra hoàng hạc công phu với ba tuyệt kỹ: chưởng, chỉ và trảo. Chỉ công dùng để đả huyệt. Còn chưởng rập theo cách vổ cánh và trảo dựa vào các chụp bấu bằng chân của loài hạc vàng. Lãnh Tâm Diện chính là kẻ kế truyền của Ngọc Mạo trang do đó y mới học hết chân truyền của gia phụ.

     Rốp… Rốp… Hồ Doanh tà tà lạng mình ra khỏi vòng đấu. Nét mặt hắn xanh dờn có lẽ vì bị nội thương. Trợn mắt nhìn đối thủ giây lát hắn đặt tay vào chuôi kiếm. Phằng… Âm thanh lãnh lót của kiếm rút ra khỏi vỏ vừa bật lên Lãnh Tâm Diện thấy tia sáng vàng hực vút tới ngực của mình nhanh tợ sao sa. Ngay lúc đó một bóng đỏ lạng mình vào đấu trường. Xoẹt tiếng vang khẽ cùng với tiếng nấc lên của người chết bất đắc kỳ tử.

     – Quân Mông Cổ sắp sửa động binh… Còn chờ gì nữa mà Lãnh trưởng ban chưa chịu chạy…

     Bóng đỏ biến mất trong bóng đêm vọng lại câu nói trên. Nhìn đăm đăm vết đỏ không chảy máu nơi mi tâm của Hồ Doanh, Lãnh Tâm Diện lẩm bẩm:

     – Vô Lưu Huyết…

     Vị trưởng ban nội gián của đoàn do thám Thăng Long băng mình chạy khi nghe tiếng kèn thúc quân vang lanh lãnh. Nhắm hướng ải Nội Bàng y hy vọng mình tới kịp để báo hung tin.

 

Hết quyển 2

Xin xem tiếp quyển 3

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

2 thoughts on “Sát Đát Nhân 2

  1. Tác giả ơi, các bộ MỸ NHÂN KIẾM, TIẾNG SÓNG BẠCH ĐẰNG, BÚT KIẾM THẦN THI vẫn chưa viết à?

Comments are closed.