Mèo Xiêm Cọp Thái-1

meoxiemcopthai

Nguồn: Sachtruyen.net

I – Tử Tội Văn Bình

Như mọi lần, tác giả trân trọng nhắc lại là mặc dầu dựa vào thực tế địa lý và lịch sử và nhân vật mà cuốn truyện MÈO XIÊM CỌP THÁI chứa đựng chỉ là sản phẩm của tưởng tượng, và do đó mọi sự gần gặn hoặc trùng hợp, nếu có, với sự việc xảy ra ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên, ngoài ý muốn và trách nhiệm của người viết.

NGƯỜI THỨ TÁM.

Đó là buổi sáng thứ sáu.

Và là thứ sáu 13.

Đối với người thường thì thứ sáu 13 là ngày xấu nhất trong tháng, ngày mà vận rủi và tai họa dễ xảy ra nhiều nhất. Và đối với phạm nhân lãnh án tử hình, thứ sáu 13 là ngày lên máy chém, kê đầu trên thớt bên thùng mạt cưa, chờ con dao hình tam giác phập xuống, hoặc đút cổ vào thòng lọng, hoặc ngồi lên ghế sắt đợi luồng điện ba ngàn vôn đốt cháy da thịt, hoặc ngửi hơi ngạt xi a nuya trong phòng kín bọc thép, hoặc ra bãi trống, dựa lưng vào tường, tay bị trói vào cọc, mắt bịt kín bằng vải đen, trước tiểu đội hành quyết quỳ sẵn trên cỏ ướt sửa soạn nhả đạn …

Tử tội đang chờ thần Chết buổi sáng thứ sáu 13 ấy trong nhà giam chật hẹp, bẩn thỉu, tối tăm là Văn Bình, đại tá Tống Văn Bình, tức điệp viên xuất quỷ nhập thần Z.28 của sở Mật vụ Việt Nam.

Văn Bình ngồi bó gối trên nền xi măng sù sì, ngước mắt nhìn những tia sáng sữa loãng đầu tiên của rạng đông xuyên qua 6 chấn song sắt vào phòng. Dưới ánh bình minh lờ mờ, Văn Bình nhận thấy ra vẻ mặt mất thần của các bạn đồng tù.

Họ gồm 5 người. Cộng với chàng là 6. Hôm nay là ngày thứ sáu trong tuần. Chàng bị bắn đúng 6 giờ tối. Quả con số 6 báo hiệu những chuyện ghê sợ…

Như thường lệ, Văn Bình vẫn giữ bình tĩnh. Linh hồn và thể xác dày dạn phong sương của chàng điệp viên hào hoa đã quá quen thuộc với những đe dọa rồn rập của Tử Thần. Bên cạnh chàng, 5 tử tội Mã lai đang lâm râm cầu kinh. Họ biết lát nữa bị dẫn ra pháp trường. Cũng như chàng, họ bị quân đội Nam dương bắt về tội do thám. Thật ra, họ vô tội. Họ vắn số chẳng qua bị mắc kẹt trong cuộc tranh chấp đất đai kịch liệt giữa Nam dương và Mã lai. Nếu đáng tội và là tội chết thì chỉ có Văn Bình. Chỉ có Văn Bình là đáng bị trói vào cọc. Vì chỉ có Văn Bình mới là nhân viên gián điệp chính cống.

Phiên tòa được nhóm dưới ngọn hải đăng hoang phế, lẻ loi, trên đảo Datoek, một trong hàng trăm hòn đảo bồng bềnh trên biển Nam hải thuộc quyền kiểm soát của cộng hòa Nam dương. Chánh thẩm là một đại úy, mặt lầm lì như tảng đá tên là Sulim.

Sulim chỉ huy đồn binh trên đảo Datoek, gần Sarawak, khu vực tranh chấp dữ dội giữa Nam dương và Mã lai Á. Là quân nhân chuyên nghiệp triệt để tôn trọng lệnh trên, Sulim cho rằng người Mã lai không có lý do để tới đảo Datoek, trừ phi với mục đích do thám.

Một cơn bão biển kinh hoàng làm con tàu nhỏ của Văn Bình dạt vào bờ. Chàng dẫn 5 thủy thủ lên núi tìm kiếm lương thực và tiếp cứu thì bị bắt. Đại úy Sulim cầm đầu cuộc đuổi bắt. Sulim lại cầm đầu cuộc thẩm vấn. Và cũng chính Sulim điều khiển phiên tòa đặc biệt. Cho nên, trước khi ra vành móng ngựa, Văn Bình đã biết bị án tử hình.

Buổi xử diễn ra chớp nhoáng và cẩu thả. Sulim yêu cầu 5 thủy thủ Mã lai khai hết sự thật để được nhẹ tội. Họ đã khai hết nhưng viên đại úy chánh thẩm lại khăng khăng là họ ngoan cố. Đối với Văn Bình thì mọi việc còn giản dị hơn nữa. Họ không cần hỏi rõ tên chàng. Họ cũng không cần truy nguyên chàng là ai. Sulim chỉ hỏi một câu tiếng Anh ngắn ngủi:

-Anh lẻn lên đảo để do thám phải không?

Văn Bình lắc đầu;

-Không.

Sulim đập bàn quát tháo:

-Anh nói láo.

Một phút sau, Sulim dịu xuống. Hắn nhìn qua một vòng các bị cáo, không quan tâm tới 5 thủy thủ đầm đìa nước mắt, rồi lạnh lùng tuyên án:

-Tội gián điệp. Tội tử hình.

Một thủy thủ uất ức thét lớn:

-Oan cho tôi lắm … Chúng tôi chỉ là công dân lương thiện. Allah sẽ trừng trị những kẻ gian dối.

Allah là đấng Tối cao của đạo Hồi. Nghe nhắc đến quyền uy thiêng liêng, đại úy Sulim trên bàn xử nhảy xuống đất, quên rằng mình là quan tòa, túm lấy viên thủy thủ Mã lai phạm thượng, xô ngã vào hàng ghế bị cáo, giọng giận dữ:

-A, mày dám rủa tòa án! Cảnh bị, lôi nó ra sân, đánh cho một trận.

Bọn cảnh bị mặt mũi đen sì ùa tới, sửa soạn thi hành mệnh lệnh. Tên thủy thủ co rúm người trên đất, nước da xanh mét vì sợ hãi. Văn Bình tiến lên một bước, dùng tiếng Anh nói với Sulim:

-Ông không có quyền xử tử chúng tôi mặc dầu chúng tôi vô tội. Vì hiện nay, ông có súng trong tay. Nhưng ông không có quyền va chạm danh dự của chúng tôi.

Đại úy Sulim cười gằn:

-Té ra anh muốn đóng vai trò hiệp sĩ…Trước anh, hàng chục người đã bị tôi tra tấn và giết bỏ cũng vì bướng bỉnh. Nếu anh có tinh thần mã thượng thì hãy ra ngoài kia chịu đòn thay cho đồng chí của anh. Còn nếu anh tiếp tục hỗn xược, tôi sẽ ra lệnh hành quyết anh tức khắc.

Văn Bình cũng cười gằn theo:

-Tôi cũng là quân nhân như anh. Quân nhân ở khắp nơi đều có truyền thống thượng võ. Tôi biết là anh không dám hành quyết tôi tức khắc vì lẽ anh phải đợi sự đồng ý của Jakarta. Trước sau tôi cũng chết, nên tôi không còn sợ nữa. Tôi sẽ hạ thủ nhân viên của anh ngay tại đây nếu anh tiếp tục đối xử tàn nhẫn với bạn bè tôi.

Đại úy Sulim lặng người một giây:

-Nghĩa là anh đã thú nhận làm công tác gián điệp?

Văn Bình ưỡn ngực:

-Phải, tôi là gián điệp.

Nhờ sự can thiệp liều mạng của Văn Bình, viên thủy thủ Mã lai thoát khỏi trận đòn thừa sống thiếu chết. Nhưng nhóm tử tù lại bị Sulim báo thù bằng cách nhốt trong xà lim bê tông nhỏ bé, chỉ đủ giam một, hai phạm nhân. Về ăn thiếu thốn đã đành, cả đến nước uống cũng bị hạn chế. Mỗi ngày, tử tù chỉ được ăn một vắt cơm đầy trấu và sạn, chiêu với ngụm nước hôi tanh nồng nặc. Đêm trước, đại úy Sulim vào nhà giam, mang theo cái gáo dừa đựng đầy cà phê và gói thuốc lá. Hắn vỗ vai Văn Bình giọng đắc thắng:

-Báo tin cho các anh biết, đúng 6 giờ sáng mai, các anh sẽ bị hành quyết.

Nhóm tử tù ngồi yên, không van xin cũng không phản đối. Họ dư biết van xin hay phản đối đều vô ích. Họ chết là vì Allah nhận thấy họ không cần sống trên dương thế này nữa. Họ tiếp nhận cái chết trong tinh thần nhẫn nhục ngoan đạo.

Họ thức trắng đêm để cầu nguyện.

Văn Bình cũng thức trắng đêm. Song không phải để cầu nguyện mặc dầu chàng tin tưởng sắt đá vào sự hiện hữu của Thượng đế. Chàng thức trắng đêm vì những chuyện vừa qua luôn luôn ám ảnh tâm trí, không cho phép chàng chợp mắt.

Chung quy cũng do bệnh si tình mà ra. Đi tới đâu, chàng đều đèo bòng tới đó, và trong chuyến lênh đênh trên biển Nam hải này, chàng đã tạt qua thủ đô Phi luật tân để thăm Rôsita và mới nàng xuống miền nam săn cá dưới nước (1).

Ông Hoàng cho chàng nghỉ xả hơi một tuần nên chàng dan díu với Rôsita cũng là chuyện thông thường, không đáng trách. Nếu có, thì chỉ trách chàng si tình quá độ, si tình đến nỗi không muốn rời nàng nữa. Có lẽ vì Rôsita đẹp hơn xưa rất nhiều. Hồi hai người gặp nhau tại Manila, Rôsita đã nổi tiếng đẹp, sắc đẹp kỳ lạ làm thế giới sang trọng ăn chơi cũng như xã hội điệp báo Phi ngửa nghiêng. Sau này lấy chồng, nàng còn đẹp gấp hai, gấp ba hồi xuân nữ. Chồng nàng là triệu phú, chủ nhân một công ty hàng không phản lực, một công ty sản xuất nước ngọt, một công ty chế tạo đồ hộp, và một công ty nông lâm nghiệp …

Nhà triệu phú góa vợ bị đảo điên vì sóng mắt siêu phàm của mỹ nhân trong một dạ tiệc từ thiện. Đêm ấy, Rôsita là nhân vật được chú ý tới nhất, vì nàng nhận lời hôn mạnh thường quân nào trả giá cao nhất để mua cái cúp bằng vàng, lấy tiền cấp dưỡng cho một trung tâm nuôi trẻ mồ côi.

Cái cúp bằng vàng chỉ đáng 50 pêsô, nhưng vì có nụ hôn của Rôsita nên cuộc đấu giá kéo dài từ 10 giờ đêm đến 2 giờ sáng còn dai dẳng. Từ đầu chí cuối, nhà triệu phú làm thinh, không nhìn lên sân khấu, cũng như không tham dự cuộc ganh đua tài chính mà chỉ chúi mũi vào đĩa cánh gà chiên bơ và chai sâm banh thượng hạng.

Kém 5 phút đầy 2 giờ sáng, giá chiếc cúp đã lên tới một chục ngàn pêsô (2).

Trong cuộc chỉ còn lại hai tay đua giàu sụ. Đối phương vừa trả 10.000 thì người thứ nhì đứng dậy nói lớn:

-20.000 pêsô.

Nghĩa là hơn kém hai triệu đồng Việt Nam. Trong suốt bốn giờ đồng hồ đấu giá, giới mạnh thường quân chỉ nâng giá từ 500 đến 1.000 là tối đa, và đây là lần đầu tới 10.000 pêsô.

Thái độ bốc đồng này làm cử tọa nghẹt thở. Với giá 20.000, phần thắng chắc chắn lọt vào tay một chủ nhân ông đồn điền cà phê. Theo thủ tục, nhân viên phụ trách đấu giá long trọng nhắc lại ba lần giá tiền 20.000 pêsô.

-Kính thưa quý vị, ông chủ đồ điền cà phê đã trả 20.000. Tôi xin nhắc lại lần thứ ba và là lần cuối cùng, nếu không có vị nào trả thêm thì …

Nhà triệu phú góa vợ bất thần cắt lời:

-Thong thả… Bây giờ tôi xin tham dự.

Quan khách trong buổi dạ tiệc trọng thể kinh ngạc đến toát bồ hôi lạnh. Thì ra nhà triệu phú chờ đến màn chót mới tung đòn phép. Mọi người ngưng thở, quay về cái bàn tròn kê gần ban nhạc. Giả vờ nghễnh ngãng, nhà triệu phú gần ngũ tuần, thân hình sung sức, hỏi lại:

-Giá cuối cùng là bao nhiêu?

-Thưa, 20.000 pêsô.

-Thế à, tôi không ngờ …

Người trả 20.000 pêsô nhìn nhà triệu phú bằng cặp mắt tóe lửa thách thức:

-Ông không ngờ chiếc cúp vàng này được mua tới 20.000 pêsô phải không? Ông quên rằng đây là một vinh dự. Một vinh dự vô giá.

Nhà triệu phú cười nhạt:

-Vâng, vì đây là một vinh dự vô giá nên tôi sửng sốt. Sửng sốt và phẫn nộ.

-Phẫn nộ vì tôi trả giá quá cao?

-Không, ông lầm rồi. Tôi phẫn nộ vì ông trả giá quá ít, không xứng đáng với vật bán đấu giá.

Không khí trong phòng căng thẳng tột độ. Cuộc bán đấu giá trở thành cuộc đấu pêsô giữa hai ông giàu sụ si tình.

-Vậy ông trả thêm đi, tôi xin hầu tiếp.

-Xin ông tha lỗi. Sợ chạm tự ái của ông nên tôi không dám trả thêm. Đề nghị ông tự ý tăng vài ba giá nữa.

-Hừ, ông thủ đoạn. Bán đấu giá từ thiện không phải như mua hàng ngoài thương trường. Tôi trả thêm để ông bỏ rơi tôi ấy à!

-Ông sợ thì tôi không dám ép. Ông trả 20.000 pêsô phải không?

-Phải. Ông đã hỏi một lần rồi. Xin ông nhớ kỹ: 20.000 không phải 2.000 pêsô.

-Vậy tôi cứ đinh ninh là 200.000.

-200.000 pêsô, trời ơi! Ông đã bắt đầu điên.

-Không, tôi vẫn tỉnh. Có lẽ còn tỉnh hơn ông nữa. Ông không theo kịp đâu, ông nên nhường vinh dự ấy cho tôi.

-Ông trả bao nhiêu?

-Gấp 10 số tiền ông vừa trả.

-Nghĩa là 100.000 pêsô.

-Không, 200.000. Ông đầu hàng chưa?

Một tiếng ối vẳng lên, rồi phịch một khối thịt lăn chiêng xuống đất, cốc chén vỡ loảng xoảng. Ông chủ đồn điền cà phê bị bất tỉnh trước sự tấn công tài chánh của nhà triệu phú mạnh thường quân.

Rôsita thân hành ôm hôn và trao cúp cho nhà triệu phú đổi lấy tấm ngân phiếu 200.000 pêsô. Nàng nhận lời ăn tối trên du thuyền của nhà triệu phú. Và một tháng sau, nàng nhận luôn lời làm vợ.

Việc nàng lấy chồng sẽ chìm vào quên lãng nếu nàng không gửi khẩn điện cho Văn Bình. Nội dung nồng cháy như sau:

« Anh Văn Bình yêu dấu,

« Một nhà triệu phú Phi 48 tuổi, góa vợ, muốn kết hôn với em. Y tặng em 4 triệu pêsô làm của hồi môn, chưa kể nữ trang. Xin anh cho em biết ý kiến ngay. Em chờ anh đã lâu. Em sẵn sàng chờ thêm nữa. Nếu anh muốn, em sẽ chờ anh suốt đời. Hôn anh triệu lần.

“Rôsita của anh.”

Phúc điện từ Sàigòn được chuyển tới tay Rôsita trong vòng 12 giờ đồng hồ:

“Kính gởi cô Rôsita,

“Trân trọng báo cô biết là Văn Bình đã có con trai đầu lòng đặt tên là Văn Hoàng. Và người đàn bà bằng xương bằng thịt đã sinh ra Văn Hoàng là tôi, Quỳnh Loan.

“Tôi thành thật yêu cầu cô buông tha Văn Bình cho mẹ con tôi được nhờ. Chúc cô bước lên xe hoa với 4 triệu pêsô. Và xin trả triệu triệu cái hôn lại cho cô vì thưa cô, cô là người láo khoét. Tính trung bình cô hôn mỗi phút được một cái (người đàn bà hôn thật tình phải mất từ 3 đến 10 phút ) thì hôn cả ngày cả đêm 24 tiếng mới được 39.400 cái. Muốn hôn đủ triệu triệu cái như cô hứa thì mất khoảng 10 triệu ngày. Cuộc đời 100 năm, chỉ có 36.000 ngày, cô nhớ chưa?

Mẹ của Văn Hoàng.

Quỳnh Loan.”

Chán nản, Rôsita về nhà chồng. Nửa năm sau, nhân một chuyến đi Hoa lục về, và nhân một lời ghen tuông của Quỳnh Loan, Văn Bình mới phăng ra tự sự. Nguyên Hương đã mượn tay Quỳnh Loan để chơi chàng một vố để đời. Chàng ngậm thinh, không dám hó hé, song mặt khác đã nhờ bạn bên Phi luật tân tìm kiếm. Chàng viết thư cho Rôsita, hỏi thăm sức khỏe. Nàng trả lời đúng 24 trang giấy, chữ chi chít, và ướt nhèm nước mắt.

Chàng đinh ninh là nàng an hưởng hạnh phúc trên đống pêsô chất cao thành núi của chồng. Nhưng khi đọc xong lá thư của nàng, chàng bàng hoàng giây lâu. Đại để Rôsita nói là nàng vẫn yêu chàng bằng mối tình vô vọng, và trước khi nhận lời làm vợ nhà triệu phú nàng đã tâm sự là trót yêu chàng thắm thiết, đến chết cũng không quên. Nhà triệu phú im lặng một lát rồi nói:

-Nếu em yêu người khác thì anh sẽ dành em lại bằng được, hoặc bằng tiền bạc, bằng võ lực, bằng tình cảm… Nhưng người ấy lại là đại tá Văn Bình nên anh chịu thua. Anh không ghen đâu. Dầu sao, anh cũng gần 50, tình yêu của kẻ ngũ tuần khác hẳn tình yêu bồng bột của thanh niên 20, 30. Anh chỉ mong em đừng có hành động nào quá đáng…

-Thế nào là hoạt động quá đáng?

-Là yêu đương công khai khiến mọi người biết anh là người chồng bị vợ cắm sừng. Anh không ngăn cấm em gặp Văn Bình, nhưng khi ấy em nên báo anh biết để anh xuất ngoại hoặc em lấy du thuyền rong chơi một vài tuần lễ trên biển Nam hải. Nói thật là hơn, em không giấu nổi anh đâu vì anh có dưới quyền hàng chục nhà trinh thám tư có thể theo dõi em và bạn bè em từng giây, từng phút kín đáo…

-Em cảm thấy tàn nhẫn quá!

-Không đâu. Nhờ em nói thật, anh sẽ biết rõ em còn yêu Văn Bình đến mực độ nào để anh liệu lý chiều chuộng em, chinh phục em.

Thái độ mã thượng của người chồng triệu phú làm Rôsita kính phục. Nàng đinh ninh quên được Văn Bình để hưởng hạnh phúc bên cạnh người chồng ngũ tuần khôn ngoan và lịch sự. Song nàng chỉ quên một thời gian ngắn rồi nhớ lại da diết hơn bao giờ hết.

Văn Bình qua Phi luật tân. Hai người đáp máy bay xuống miền nam dự một cuộc thi săn cá dưới biển. Sau một tuần gần gụi thần tiên, chàng phải từ biệt Rôsita lên đường công tác. Theo lệnh, chàng phải dùng đường biển, tiến sâu về phía tây nam.

Lẽ ra, chàng phải giữ kín. Không hiểu sao chàng lại tỉ tê cho Rôsita biết. Và nàng nằng nặc đòi đi theo. Nàng đánh điện về Manila xin phép chồng. Nhà triệu phú đã đi Nam Mỹ từ nhiều ngày trước. Rôsita lấy du thuyền của gia đình, đổi tên, sơn lại để tiếp tục trên biển cả cuộc lãng du trăng mật với điệp viên Z.28.

Thủy thủ đoàn gồm toàn người Mã lai, thân tín của nàng, và quen từng tấc đất trên biển Nam hải. Du thuyền Thiên Thần ra khơi được một ngày, một đêm thì gặp bão. Đó là một trận bão lớn làm hàng trăm thuyền bè bị đắm. Du thuyền Thiên Thần nương theo miền duyên hải Sarawak, với hy vọng cập bến gần nhất để sửa chữa những hư hại, và tiếp tế nước ngọt, lương thực. Cơn bão dữ dằn đã phá vỡ phòng kho, cuốn hơn một tấn đồ hộp xuống biển.

Tàu đến gần Brunei, thủ đô Sarawak, thì trời quang mây tạnh trở lại. Văn Bình bèn ra lệnh cho thủy thủ xả hết tốc lực phóng ra khơi. Nhưng thần giông tố đã cố tình đánh lừa chàng. Một trận bão thứ hai xảy ra, hung hãn hơn trận bão thứ nhất nhiều lần. Và du thuyền Thiên Thần bị dạt vào hải đảo tiền đồn Datoek để bị bắt và lên án tử hình.

Khi ấy mới 3 giờ chiều. Sau nhiều ngày lênh đênh, Văn Bình mừng rú khi thấy giải đất xanh rì trước mặt. Rừng dừa cao vút đeo trái xum xuê làm chàng quên bẵng cơn khát dày vò. Chàng yêu cầu thuyền trưởng lái thẳng vào bờ thì hắn gạt đi:

-Theo chỗ tôi biết, đây vẫn nằm trong phần đất Nam dương. Anh em thủy thủ là người Mã lai, tôi sợ gặp chuyện không hay… Người Nam dương đa nghi và hiếu sát, thấy người Mã lai nào bén mảng tới đất họ, họ đều cho là gián điệp, và đem ra hành hình.

Văn Bình tỏ vẻ lo lắng:

-Vậy chúng ta phải làm sao đây? Trên tàu, có hai người bị thương nặng, bắt buộc phải ghé đất liền để điều trị. Thức ăn, nước uống đã hết nhẵn. Thêm vào đó là sức khỏe của… bà chủ.

Thuyền trưởng -một người Phi gốc Mã lai trạc 45, nét mặt gân guốc, sáng sủa và quả cảm- suy nghĩ một phút rồi thở dài:

-Nếu tôi tính đúng thì hòn đảo trước mặt là Datoek do quân đội Nam dương trấn đóng. Chúng ta đi lùi thì sẽ về Sarawak thuộc Mã lai, nhưng ác hại là động cơ đã hỏng, du thuyền không thể chạy ngược chiều gió và chiều nước. Chạy thẳng về phía tây thì Mã lai còn xa lắc xa lơ. Natoena là đảo gần nhất thuộc Mã lai lại còn quá xa đối với chúng ta. Nhưng nếu ghé bờ tôi lại sợ…

-Bị quân đội Nam dương bắt?

-Vâng. Họ đã bắt nhiều người Mã lai chài lưới trong những trường hợp bão biển tương tự.

-Chúng ta sẽ khai cho họ biết đây là du thuyền bị lạc vì bão. Và tôi tin là họ thông cảm.

-Thưa ông, tôi không tin. Tôi có lý do để không tin như ông vì một người em họ của tôi bị bắt và trốn thoát cách đây ba tháng kể lại là đại úy Sulim cai quản đảo Datoek này mắc bệnh đa nghi tối đa và giết người như ngóe.

-Lạ thật, họ muốn bắt ai, giết ai cũng được ư? Còn pháp luật Nam dương? Còn công pháp quốc tế?

-Pháp luật Nam dương cũng như pháp luật tại nhiều quốc gia trên thế giới chỉ là pháp luật của kẻ có súng, và là súng tốt. Còn công pháp quốc tế thì hầu như trên vùng biển cực nam này ít ai còn nhớ. Sulim được toàn quyền bắt người. Hắn chỉ cần điện về trung ương xin chỉ thị lấy lệ rồi tự do mang tù ra pháp trường.

-Nếu thế thì chúng ta cố ráng lên, Natoena.

-Khó lắm. Sở dĩ tôi nhắc đến Sulim là để thỉnh cầu ông thận trọng. Bắt buộc chúng ta phải ghé Datoek. Nhưng để phòng bị, chỉ một toán nhỏ lên bờ còn mọi người phải ở lại trên tàu, và tàu phải ở bên ngoài hải phận quốc tế kẻo bị Sulim nổi nóng bắn trọng pháo.

-Anh nói đúng. Bây giờ, anh chọn cho tôi 5 thủy thủ còn khỏe mạnh. À, nên chọn những người xung phong.

-Không được. Ông không quen phong thổ nên lên bộ bất tiện. Vả lại bà chủ lại mệt, ông nên ở lại… Tôi sinh sống trên biển Nam hải hơn 25 năm nay, am tường địa hình và thổ âm… Xin ông giao phó việc này cho tôi.

Văn Bình lắc đầu:

-Tôi không quen điều khiển tàu.

Thuyền trưởng cũng lắc đầu:

-Nhân viên của tôi sẽ giúp đỡ ông.

-Tôi là người ra lệnh, ông phải nghe tôi.

-Ông tha lỗi cho. Tôi rất kính mến ông, song tôi chỉ nhận lệnh của bà chủ. Bà chủ không muốn ông lên bộ sợ nguy hiểm đến tính mạng.

Thái độ của thuyền trưởng rất đáng khen. Vì trung thành với chủ, hắn đòi được nhận lãnh nguy hiểm. Song Văn Bình không thể nhường lại cho thuyền trưởng, nhất là sau khi tự ái bị va chạm. Chàng đành phải giải quyền bằng phương pháp mạnh.

Chàng bèn hỏi thuyền trưởng:

-Anh chơi dao giỏi nhất miền nam phải không?

Thuyền trưởng tái mặt:

-Thưa, tôi không dám đấu với ông.

-Nói ra thì anh bảo là khoe khoang, nhưng sự thật là anh chưa xứng đấu với tôi. Tài ba của anh chỉ chịu đựng nửa hiệp là mất khí giới. Vì vậy, tôi chấp anh ba thế. Anh đâm tôi ba nhát trước, rồi chúng ta sẽ giao đấu thật sự.

Thuyền trưởng từng được coi là vô địch đánh dao ở quần đảo Mindanao. Chính vì hâm mộ và tin cậy nghệ thuật đánh dao của hắn mà nhà triệu phú tung tiền ra mua chuộc, đưa về phục vụ dưới trướng. Trong đời vào sinh ra tử trên biển, hắn đã hợp tác với mọi phe, phe hải tặc ngang nhiên cướp tàu ngoài khơi, hoặc phe chính quyền, điềm chỉ cho lực lượng an ninh phục kích hải tặc, và hắn chưa hề bị ai khinh nhờn về kiếm thuật. Tuy nhiên, nhớ tới lời dặn của nhà triệu phú, hắn không dám hó hé.

Các thủy thủ nghe tiếng ồn lục tục vây quanh hai người. Thuyền trưởng đứng im, mặt đỏ gay.

Văn Bình ném hai con dao trên cái thùng gỗ, giọng ôn tồn:

-Anh đã sống trên mặt nước tất hiểu luật giang hồ. Kẻ giang hồ thà chết chứ không để bị người lạ khinh nhờn, nghĩa là anh phải giao đấu với tôi. Nhưng giao đấu xong, kẻ thua phải có tinh thần thượng võ, nghĩa là nếu anh thua tôi, anh phải ở lại.

Thuyền trưởng tủm tỉm cười:

-Ông đã dạy, tôi cũng xin vâng. Nhân tiện có anh em tụ họp đông đủ, tôi xin xác nhận là tự ông bắt tôi phải hỗn xược. Tôi sẽ cố gắng đâm trượt vào áo để lấy điểm thôi.

Rôsita đã có mặt trên boong không biết từ bao giờ. Những ngày bão biển khổ cực và thiếu thốn đã làm thân hình nàng tiều tụy. Nàng gày ốm trông thấy. Nhưng càng gày ốm nàng càng đẹp thêm. Sắc đẹp mảnh mai song rắn chắn của nàng như có phép tiên làm ánh hoàng hôn rực sáng, và tiếng động của đại dương ngưng bặt trong khoảnh khắc.

Nàng vội xen vào đám đông, ra lệnh cho thuyền trưởng:

-Không được. Yêu cầu anh trở vào cabin.

Nếu nàng chỉ nói vắn tắt có thế thì thuyền trưởng đã tuân theo răm rắp. Trên thực tế, nghe nàng nói hắn đã đặt con dao sáng loáng xuống, nhún vai như muốn phân bua rằng “bà chủ đã ra lệnh thì tôi xin cáo lui “. Nhưng nàng đã vô tình nói thêm:

-Anh nên thôi là hơn. Ông khách là tay kiếm thuật lừng lẫy, chắc chắn anh thua.

Sự chân thật của Rôsita đã đổ dầu vào ngọn lửa sắp tắt. Thuyền trưởng quay lại, xá Rôsita rồi nói:

-Thưa bà, lần đầu tiên tôi phải trái lệnh bà.

Hắn co chân nhảy lùi hai bộ, xuống tấn nghiêm trang, tay vòng lại cung kính chào Văn Bình:

-Mời ông.

Văn Bình nhếch mép:

-Anh ra đòn trước.

-Tôi không dám.

Văn Bình bèn tiến lên, hươi dao vào mặt thuyền trưởng, nhưng nửa chừng lại thu về, để phóng đòn thứ hai. Chàng đánh nhanh đến nỗi khi thuyền trưởng sửa soạn tránh đỡ thì chàng đã hồi dao. Phút biểu diễn bay bướm đầu tiên này đã chứng tỏ với thuyền trưởng tài nghệ đấu dao thượng thặng của Văn Bình vì nếu chàng nặng đòn, hắn đã lãnh ba nhát dao vào hiểm huyệt và đã táng mạng ngay từ nhát thứ nhất.

Bị trêu ngươi, thuyền trưởng gầm lên như cọp dữ rồi xấn tới, múa dao thành vòng tròn. Thế công của hắn khá bén nhọn, song thế thủ lại méo lệch, điều tối kỵ của giới kiếm thuật cao siêu. Muốn khuất phục hắn, chàng chỉ lừa hắn phóng đòn rồi nhằm kẽ hở mà tung dao sang đâm trọng thương. Nhưng Văn Bình lại giao đấu với tư cách bậc thầy truyền nghề lại cho môn đệ. Ba lần chàng chỉ đâm dứ rồi thu dao. Ba lần thuyền trưởng đâm chàng, cả 3 lần chàng không thèm đưa dao đỡ, mà chỉ đợi mũi dao gần bén da mới nghiêng người tránh.

Bọn thủy thủ đứng vây tròn đều ngây người như bị thôi miên. Riêng Rôsita chỉ mỉm miệng cười một mình. Nàng đã có nhiều dịp chứng kiến tài võ tuyệt luân của Văn Bình. Nàng yêu chàng phần nào cũng vì mến phục quyền pháp khác thường của chàng, luôn luôn nhẹ nhàng, ung dung, khoảng khoát, đánh nhau đến chết mà vẫn gây ra ấn tượng là cuộc đấu biểu diễn, đánh đỡ những miếng đòn nặng hàng trăm kí mà vẫn khiến người ngoài tưởng là nhẹ như lông hồng. Nghệ thuật của Văn Bình trội hơn nhiều võ sư quốc tế ở điểm hư hư thật thật, cương nhu phối hợp thắm thiết như vợ chồng mới cưới quấn quít lấy nhau, lúc phóng đòn nhu thì ngỡ là cương, khi cương thì tưởng là nhu, biến hóa vô cùng tận… Tình yêu của chàng cũng biến hoá vô cùng tận như võ nghệ. Mỗi lúc chàng yêu một kiểu khác, trong tình trườngVăn Bình luôn luôn mới mẻ, có lẽ còn mới mẻ hơn cặp tân nhân trong đêm động phòng hoa chúc nữa.

Đã đến lúc Văn Bình xử dụng những thế dao tuyệt kỹ để bắt thuyền trưởng thần phục. Đối phương ập tới, Văn Bình hét lớn một tiếng, phi thân cao quá đầu người, rồi ném lưỡi dao qua lan can tàu xuống biển. Chân chàng chưa chấm nền tàu thì thuyền trưởng đã quét dao vào họng chàng. Lưỡi dao gần đến nơi mà Văn Bình còn đứng nguyên vị nên ai cũng đinh ninh chàng không kịp né. Một thủy thủ la lớn:

-Chết rồi!

Rôsita nhìn cuộc đấu không chớp mắt, vẻ mặt vẫn tươi tỉnh vì nàng biết trước Văn Bình sẽ trổ tài Ninjutsu. Thật vậy, lưỡi dao chặt ngang cổ Văn Bình nhanh như dao máy nhưng không gây tiếng phập ngon lành khi xuyên qua da thịt và xương sụn mà lại kêu coong khô khan như thể chém lầm vào đá cứng. Thì ra Văn Bình đã vận chân khí lên cổ để chịu đựng lưỡi dao của thuyền trưởng. Khi ấy cổ chàng rắn ngang bê tông. Lưỡi dao chém mạnh vào bị dội ra, thuyền trưởng mất đà, loạng choạng suýt ngã. Tuy vậy hắn chưa chịu đầu hàng. Hắn lảo đảo đứng dậy, chém nhát kế tiếp vào hông trái chàng. Văn Bình phản ứng nhanh đến nỗi mọi người tưởng chàng có thuật tàng hình. Chàng đang ở trước mặt thuyền trưởng bỗng lọt ra sau lưng hắn, khiến hắn chém lộn vào khoảng không. Hắn chém thêm thì Văn Bình lại biến ra phía trước. Cứ như thế tấn tuồng mèo vờn chuột kéo dài trong mấy phút.

Văn Bình thét lên tiếng nữa, bước lên một bộ. Lưỡi dao vèo tới, chàng hất cánh tay ra kẹp vào nách. Cán dao và bàn tay thuyền trưởng bị bóp bẹp trong nách Văn Bình. Keng một tiếng, con dao rớt xuống nền tàu.

Tiếp đến tiếng kêu la của thuyền trưởng:

-Gẫy tay tôi mất, ông ơi!

Văn Bình cười:

-Bóp thêm nữa nhé?

Hắn giẩy nẫy:

-Xin ông buông tôi ra… Tôi sợ tài ông rồi. Thú thật từ mấy chục năm nay, tôi chưa hề gặp ai đáng sợ như ông.

Văn Bình buông hắn ra. Sức mạnh thân thể chàng biến thành luồng gió xô thuyền trưởng ngã bắn vào lan can tàu. Hắn nằm mọp trên đống lưới cá bằng ni lông, một lát mới lồm cồm bò dậy. Văn Bình định bắt tay hắn song hắn đã quỳ mọp trước mặt chàng rồi vái một cách cung kính:

-Từ phút này, tôi xin tôn ông làm thầy. Ông dạy gì tôi cũng xin nghe.

Chàng đỡ hắn dậy:

-Ồ, trong đời giang hồ gặp kẻ sắc nước hơn mình là chuyện thường. Nếu có thời giờ, tôi sẽ bảo ban thêm cho anh. Anh là võ sĩ giỏi song chưa học cách giao đấu với những người am tường Ninjutsu, Thần ảo công và hư quyền …

Văn Bình thắng cuộc nên được lên bộ với 5 thủy thủ Mã lai. Mục đích của chàng là cố trèo lên đỉnh núi ven biển để đốt khói làm hiệu cấp cứu, hoặc nếu có hoàn cảnh thuận tiện, liên lạc với thổ dân. Sau khi tới bờ, việc đầu tiên của chàng là sai thủy thủ hái dừa uống cho đỡ khát.

Vì trái dừa ngọt lật, Văn Bình bị bắt, trở tay không kịp. Chàng đang vắt vẻo trên thân dừa cao thì một loạt tiếng nổ vang lên. Đại úy Sulim từ sau núi hiện ra với toán cận vệ võ trang tận răng và hai xe díp trí súng trung liên.

Giá có súng trong tay Văn Bình cũng phải quy hàng, huống hồ chàng chỉ mang theo con dao để chặt … dừa.

Keng … keng … keng …

Đó là một buổi sáng thứ sáu.

Và là thứ sáu 13.

Gói thuốc lá của đại úy Sulim đã hết nhẵn từ lâu. Văn Bình đành loay hoay vấn thuốc rê với lá chuối non. Ngoài rừng dừa san sát, đảo Datoek còn có chuối, đủ loại chuối, mùi thơm sực nức, át cả mùi tanh của biển. Thuốc lá trồng trên đảo, được cắt thái vội vàng, không ủ đúng phương pháp, nên xông lên khét lẹt. Văn Bình cảm thấy cuống họng khô đắng song vẫn không rời được điếu thuốc méo mó và mỏng lét. Mùi thuốc -dầu là thuốc lá giả tạo – dường như phương thuốc kích thích chàng gia tăng trí tuệ và sức lực.

Chàng buột miệng:

-Thứ sáu 13… Ừ, mình chết quái thế nào được?

Cũng như tổng thống Mỹ Hoa thịnh đốn (3), Văn Bình chuyên gặp hên ngày thứ sáu trong tuần. Chàng oe oe chào đời tại Bắc Việt 6 giờ sáng ngày thứ sáu. Chàng xuất dương, dấn thân vào cuộc sống hồ hải khắp ngũ đại châu một ngày thứ sáu. Chàng gia nhập tổ chức điệp báo của ông Hoàng cũng trong ngày thứ sáu. Và cũng trong ngày thứ sáu, Văn Hoàng, con trai đầu lòng của chàng với Quỳn Loan, được sinh hạ…

Con số 13 đối với chàng không có gì là gở. Vả lại, quốc ấn của Hoa kỳ gồm toàn số 13 mà Hoa kỳ vẫn mỗi ngày một hùng mạnh (4).

Thứ sáu 13 là ngày thường được chọn để hành quyết tử tội, còn về phần Văn Bình thì đó lại là ngày diễm tuyệt vì chàng đã thật sự biết mùi đời một ngày thứ sáu. Hồi ấy, Văn Bình mới 18 tuổi. Tuy vậy chàng đã có bề cao và bề ngang đồ sộ, với đầy đủ ma lực quyến rũ phụ nữ. Chàng đang lang thang trên hè phố thì đụng nàng. Trông bề ngoài, đố ai dám bảo người đẹp đã có chồng, và lớn hơn cậu thanh niên khôi ngô kia một đống tuổi. Nếu mọi đàn bà đều lầm thì Văn Bình lầm cũng không phải điều lạ. Đang ưỡn ẹo, nàng đứng phắt lại ngắm chàng, còn say mê hơn đứa trẻ ngắm món quà thứ nhất trong đời mà cha mẹ vừa mua cho trong dịp lễ Giáng sinh. Rồi nàng vội vã rượt theo. Đến ngã ba, nàng bắt kịp và vượt qua, đon đả:

-Chào anh, anh đi đâu đấy? Lâu lắm em mới được gặp lại anh. Thế nào, anh ở đâu? Anh làm nghề gì?

Nàng tuôn ra một tá câu hỏi, Văn Bình nghe không kịp và dĩ nhiên là không cách nào trả lời kịp. Vì chàng há miệng toan nói thì nàng đã tấn công tới tấp:

-Anh về nhà em chơi đi?

Văn Bình không phải là phỗng đá hoặc thằng ngu nên giai nhân vừa buông lời mời là chàng nhận lời liền. Kết quả là chàng lưu lại đêm ấy với thần Vệ nữ. Nàng là hoa khôi tỉnh nhỏ được một trung tá mật thám Pháp khám phá ra, đưa qua kinh đô ánh sáng Ba lê biến chế lại khiến nàng trẻ hoài không già.

Ông chồng vắng nhà một thời gian dài nên Văn Bình tự do bù khú. Nhưng chỉ mấy ngày sau, nàng đâm chán. Nàng than thở:

-Em là người đàn bà lạ lắm. Không thích cái gì được quá một tuần. Đời anh còn dài, anh sẽ thu thập thêm nhiều kinh nghiệm. Em vốn có duyên với ngày thứ sáu 13 nên ngày thứ sáu 13 nào em cũng ngồi ở công viên từ chiều đến tối mịt đợi anh. Nếu còn yêu em, anh nhớ đến với em.

Chàng quay lại với giai nhân một thứ sáu 13 nữa, rồi vì công việc đòi hỏi chàng đi biệt. Và kỷ niệm đầu tiên xoắn sâu vào da thịt ấy còn mãi mãi trong trí nhớ. Vì vậy, trên đảo Datoek, gần tới giờ hành quyết, Văn Bình vẫn không lo sợ.

Chàng tin là vận hên sẽ cứu chàng sống.

Chợt có tiếng chân người rầm rập. Và tiếng khóa cửa rỏn rẻn. Binh sĩ của đại úy Sulim đã tới. Những tia sáng ban ngày bắt đầu tràn ngập xà lim. Văn Bình nhìn đảo qua 5 khuôn mặt hốc hác, tái mét.

Cửa mở.

Sulim đứng sừng sững trên ngưỡng cửa, vẻ mặt huênh hoang tự đắc. Bộ quân phục của hắn được ủi thẳng nếp hơn thường lệ. Bao da đeo súng cũng được đánh xi bóng loáng hơn thường lệ. Giọng nói của hắn cũng kêu sang sảng hơn thường lệ.

Hắn buông ra một câu cụt lủn:

-Giờ hành quyết đã tới.

Câu nói của đại úy Sulim như băng tuyết ào ào đổ xuống gian phòng chật hẹp, làm mạch máu tử tù đông cứng. Văn Bình nhìn những thủy thủ Mã lai co rúm người trong góc xà lim. Thật ra, nghe Sulim báo tin hành quyết, Văn Bình cũng hơi run run. Dầu sao chàng vẫn là con người với đầy đủ cảm xúc hỉ, nộ, ai, lạc. Chàng trội hơn đa số con người ở chỗ chế ngự được cảm xúc. Chàng run run trong vòng một vài giây đồng hồ rồi vẻ mặt trở lại phớt lạnh, và ngạo nghễ. Chàng cúi xuống tiếp tục quấn thuốc lá bằng lá chuối non. Đại úy Sulim cáu tiết, giật điếu thuốc nhão nhoẹt, vất ra cửa:

-Gần chết rồi, không được hút thuốc.

Văn Bình nhổ bãi nước bọt, giọng khinh bỉ:

-Các anh là người mọi rợ … Trên khắp thế giới, tử tội bao giờ cũng được trọng đãi trước giờ hành quyết.

Sulim đỏ mặt:

-Chúng tôi không thể trọng đãi bọn gián điệp ngoại quốc.

Rồi quát thuộc viên:

-Mang họ ra sân.

Một viên thiếu úy tiến đến:

-Thưa đại úy, theo thông lệ, tử tù lớn tuổi nhất bị hành quyết trước.

Hắn quay về phía các thủy thủ Mã lai, chọn người gày gò, lún phún râu bạc, dõng dạc nói:

-Đứng lên.

Tử tội tuân ra lệnh nhưng người máy. Sự sợ hãi quá độ đã làm thân xác hắn chai sạn. Hắn trở thành bình tĩnh tuyệt đối. Theo lệnh viên thiếu úy, hắn từ từ bước ra ngoài. Văn Bình đoán chắc hắn sẽ đứng lại một phút, giã từ bè bạn lần cuối. Song hắn đi thẳng, không ngoái cổ lại. Bất giác Văn Bình nhớ đến lời nói sau cùng của các liệt sĩ bị đoạn đầu ở Yên bái dưới thời Pháp thuộc. Cũng như của lãnh tụ Nguyễn thái Học trước khi rời nhà pha Hỏa lò:

-Chào các bạn, tôi đi trước đây.

Các liệt sĩ Yên bái không thành công, song đã “thành nhân”. Hôm nay, Văn Bình chẳng những không thành công, lại không thành nhân nữa. Chàng sẽ chết trong sự tăm tối vô danh. Không ai biết chàng chết. Đồng nghiệp ở Sở chờ lâu không thấy chàng trở về sẽ kết luận là chàng đã chết. Nhưng ông Hoàng, sở Mật vụ -và nhất là chính phủ – sẽ không nói nửa lời về hoạt động của chàng. Vì điệp viên Z.28, đại tá Văn Bình, chỉ là sản phẩm của tiểu thuyết, quân đội cũng như Nội các chính phủ không bao giờ và không thể nhìn nhận là sự thật… May ra vài ba chục năm sau, người ta mới nhắc đến tên chàng. Khi ấy, chàng đã tan ra thành bụi đất…

Không khí trong lành ban mai đột nhiên chuyển động mạnh mẽ. Đoàng… đoàng… một loạt súng nổ liên tiếp. rồi sau hết là một tiếng nổ đơn độc, rời rạc. Bốn phát súng trường và phát súng thi ân vào màng tang…

Từ lúc người thủy thủ Mã lai vô tội bị lôi ra khỏi xà lim đến khi phát súng thứ nhất nổ ròn, Văn Bình đếm đúng 5 phút. Nghĩa là Sulim phải mất khoảng nửa giờ để bắn 6 tử tội, trong số có Văn Bình. Nếu có phép lạ nào hiện ra để cứu chàng khỏi chết, phép lạ này phải tới đúng lúc, trong khoảng nửa giờ ấy… Bằng không, Văn Bình sẽ trở về với đất…

Các tử tội trong xà lim vẫn không nhốn nháo. Họ chỉ đua nhau cầu kinh to hơn.

Tiếng chân người lại rầm rập.

Tiếng khóa lại rỏn rẻn.

Căn cứ theo tuổi tác, Văn Bình là người kế tiếp. Người kế tiếp ra pháp trường. Kế tiếp xuống địa ngục.

Cửa mở.

Thần Chết gọi tên Văn Bình.

Chú thích:

(1) chuyện diễm tình giữa điệp viên Việt Nam Z.28 và nữ điệp viên Phi Rôsita đã được tường thuật trong Tử chiến Ngoài khơi ( 2 cuốn, trọn bộ ) do Tân Quang, 52 Lê văn Duyệt, Chợ Đủi, Sàigòn, tổng phát hành.

(2) đại để 1 đôla Mỹ tương đương với 2 pêsô Phi luật tân, khi bộ truyện này được khởi soạn. Hiện nay ( 10 – 1968 ), 1 đôla Mỹ ăn 4,07 pêsô trên thị trường chợ đen, và 3,90 pêsô theo hối suất chính thức.

(3) trong những ngày thứ sáu: tổng thống George Washington đã chào đời, được bổ nhiệm trung tá, tư lệnh quân đội Virginia, đắc cử Tổng tư lệnh, thiết lập lữ đoàn thủy quân lục chiến Mỹ, thắng trận Princeton, thắng trận Yorktown, đắc cử Chủ tịch Quốc hội Lập hiến, thành lập bộ Chiến tranh và bộ Quốc phòng, đặt thủ đô Liên bang, đặt viên đán đầu tiên xây Bạch cung, kết thúc nhiệm kỳ Tổng thống cuối cùng, nhận nhiệm kỳ thứ hai là Tổng tư lệnh.

(4) trên đại quốc ấn Hoa kỳ, người ta thấy 13 ngôi sao, 13 đường sọc dọc, 13 mũi tên trong gót con ó, 13 đám mây, 13 chữ trong khẩu hiệu, 13 lá nguyệt quế (laurier), 13 cái lông ở cánh trái chim, 13 cái lông ở cánh phải, 13 cái lông ở đuôi, và 13 trái dâu trên cành…

II – Trên Giòng Chao Phya

Trời đã sáng rõ.

Kẻ đến lãnh Văn Bình đi hành quyết là gã trung sĩ da đen sì, bắp thịt rắn như đúc bê tông. Chàng đã quen mặt hắn. Có lẽ ngoài đại úy Sulim, chàng nhớ hắn nhiều nhất khi xuống suối vàng. Vì hắn đã lưu lại trong lòng chàng một kỷ niệm thú vị. Đêm ấy, Sulim đập bàn ghế quát tháo trong khi hỏi cung Văn Bình. Chàng vẫn tỉnh khô. Sulim bèn ra lệnh cho gã trung sĩ da đen kia:

-Chắc nó buồn ngủ. Đánh thật mạnh cho nó mở mắt ra.

Gã trung sĩ nghiến răng, chém bàn tay vào cổ Văn Bình. Rõ ràng đối phương đã dùng đòn hiểm song gã trung sĩ không biết Văn Bình có cái cổ cứng như thép nguội. Sulim ngoảnh đi chỗ khác -dường như đang mải ngắm thân hình tròn trịa của người đàn bà nào đó nổi bóng trên cửa sổ căn nhà đối diện- nên không nhìn thấy nét mặt đau đớn vô biên của gã trung sĩ sốt sắng. Gã đánh vào cổ Văn Bình mà tay gã lại kêu rào rạo, khớp xương bị gẫy. Tuy vậy, gã nín thinh không thốt nửa lời. Lòng tự ái của con nhà võ không cho phép gã hé răng trước mặt Sulim. Nhưng sau khi Sulim ra ngoài, giao Văn Bình cho gã thẩm vấn, gã tiến đến trước mặt chàng, ve vẩy bàn tay bị thương, giọng thiết tha:

-Anh giúp tôi với … Võ anh rất giỏi mà tôi không biết.

Văn Bình dùng thuật hồi sinh Kuatsu nắn bóp cho gã. Trong chớp mắt, bàn tay gã trở lại lành lặn như cũ. Gã phục xuống nền nhà lạy chàng, lí nhí cám ơn rồi gã chẳng hỏi cung gì nữa. Trước khi chia tay, gã biếu Văn Bình một gói thuốc lá. Rồi gã biến dạng.

Sáng nay, bỗng dưng gã trung sĩ đen sì lại xuất hiện. Thấy chàng, gã đứng lại, giọng rầu rầu:

-Phiền ông đứng dậy, theo tôi ra ngoài.

Văn Bình hỏi:

-Anh đem tôi đi bắn?

-Vâng. Đại úy Sulim cắt cử tôi bắn phát thi ân. Lẽ ra, bổn phận của tôi không phải là giải tù, nhưng vì tôi có tình với anh. Mối tình của con nhà võ …

-Anh có cách nào cứu tôi không?

-Nếu tôi là sĩ quan chỉ huy, tôi đã nhắm mắt cho anh bỏ trốn ra biển, nhưng tôi chỉ là trung sĩ quèn. Xuống suối vàng, anh đừng oán tôi nhé … Tôi phải thi hành nhiệm vụ mặc dầu tôi không tin là anh có tội. Tôi sẽ dặn tiểu đội bắn thật trúng, và riêng tôi, tôi sẽ bắn phát thi ân ngay lập tức.

Mặt trời buổi sáng từ hướng đông chiếu tới làm Văn Bình chói mắt. Hướng đông là quê hương của Rôsita. Hướng đông cũng là nơi du thuyền Thiên Thần buông neo chở chàng, chờ mãi mà chàng không quay lại. Giờ này Rôsita và toàn thể thủy thủ ở đâu, và đang làm gì?

Chỉ còn vài ba phút đồng hồ nữa, Văn Bình phải quyết định dứt khoát. Chàng có thể quật ngã gã trung sĩ trong chớp mắt tuy chàng bị còng tay và xiềng chân kiên cố. Nhưng bên cạnh gã trung sĩ còn cả tiểu đội võ trang đến tận răng nữa. Chàng không có hy vọng chạy trốn vì chàng mới ra đến nửa sân thì hàng chục khẩu tiểu liên đã nhả đạn đồng loạt. Dẫu chàng thoát được đến bức tường thì cũng còn nhiều vọng gác và nhất là hai ổ đại liên.

Nghĩa là là lát nữa đây, chàng phải chết.

Giữa sân rộng là cột cờ cao lêu nghêu. Lá cờ Nam dương hai sọc đỏ và trắng nằm ngang kêu phần phật trước gió. Tuy trời nắng, gió vẫn thổi dữ. Bức tường gạch quét vôi xám sừng sững cách Văn Bình hai trăm thước ngăn chận tầm mắt thèm khát phóng khoáng. Sau tường là rừng rậm và biển cả.

Gã trung sĩ đi trước, Văn Bình đi giữa, hai bên có 4 binh lính kèm sát. Toàn thể bước theo nhịp quân hành, hùng dũng và trịnh trọng, tạo ra cảm tưởng đây là một pha trong cuộc duyệt binh chứ không phải là hành quyết tử tội.

Cả bọn qua kỳ đài, rẽ sang trái rồi đứng lại sau tiếng hô “nghiêm” sang sảng của gã trung sĩ. Một cây cọc gỗ được trồng sâu trên mặt đất. Trên cọc còn lòng thòng hai sợi giây thừng ướt máu tươi. Máu tươi cũng bắn tung tóe xuống mặt sân. Bức tường phía sau mang đầy vết đạn lỗ chỗ, có những vết bằng quả cam. Bên trái, Văn Bình thấy một xác người nằm còng queo, vuông vải dù trắng che phủ từ đầu xuống chân. Đó là thi thể của người thủy thủ Mã lai già vừa bị hành hình.

Tuy tử tội vừa gục ngã, ruồi nhặng đã bay vo ve chung quanh. Trên đầu, Văn Bình nghe rõ tiếng quạ kêu quang quác. Có lẽ chúng vừa đánh hơi thấy bữa tiệc thịt người thịnh soạn đang được sửa soạn bên dưới.

Đại úy Sulim thản nhiên nhìn Văn Bình và toán lính hành quyết. Trên khuôn mặt sạm nắng của hắn, Văn Bình đọc thấy vẻ kiêu căng xen lẫn thỏa mãn. Nếu được tự do, chàng đã nhảy tới tặng hắn cái tát nổ đom đóm mắt. Dường như hắn lấy làm khoái trá khi được chứng kiến cái cảnh tử tù do hắn bắt giam, xử án, lần lượt trở thành đống xác chết máu me nhầy nhụa …

Cả bọn quay về phía đại úy Sulim. Gã trung sĩ đứng nghiêm, giơ tay chào rồi nói với Sulim bằng thổ ngữ. Chắc gã đang xin chỉ thị của thượng cấp. Sulim lạnh lùng chào trả rồi từ từ rút trong túi ra một tờ giấy trắng đánh máy. Hắn đằng hắng một tiếng rồi dõng dạc đọc, vừa đọc vừa ngẩng đầu nhìn Văn Bình. Văn Bình nghe lõm bõm là tòa án quân sự họp tại đảo Datoek kết tội chàng làm gián điệp cho Mã lai, và án tử hình được được chính phủ trung ương chuẩn y. Sulim đọc xong, gấp tư miếng giấy, bỏ lại vào túi. Gã trung sĩ da đen tiến tới, mở khóa còng và xiềng cho Văn Bình, đoạn dẫn lại cây cọc.

Không hiểu sao thời gian khi ấy lại trôi nhanh lạ lùng. Khoảng cách từ chỗ chàng đứng đến cây cọc hành quyết không hiểu sao lại ngắn rụt lại như thể được phép thần thông thu ngắn, khiến chàng càng bước nhanh tới sự chết. Nhiều phen, thần Chết đã lởn vởn bên chàng. Nhưng chưa lần nào chàng cảm thấy thần Chết đến quá gần gũi như lần này. Vì sau khi bị bịt mắt, trói cứng vào cọc, toán lính nâng súng lên ngang mày, gã trung sĩ hô lệnh thì không pháp thuật nào trên dương thế có thể đưa chàng trở lại kiếp người.

Văn Bình quay lại đối diện với toán hành quyết. Gương mặt điềm đạm cố hữu của chàng vẫn bình tĩnh hơn bao giờ hết. Mọi việc sớm muộn sẽ đến hồi chung cuộc. Sau nhiều năm vùng vẫy, giờ đây đến lúc chàng gục ngã. Bốn người lính đã quỳ xuống. Gã trung sĩ đi vòng ra sau lưng Văn Bình sửa soạn bịt mắt và trói chàng vào cọc. Tuy đứng xa, đại úy Sulim vẫn không bỏ sót chi tiết nào của cuộc xử bắn. Văn Bình thấy rõ nụ cười sung sướng trên miệng hắn.

Chàng nghe tiếng thì thầm của gã trung sĩ:

-Chào anh nhé!

Rồi tiếng hô chắc nịch:

-Sửa soạn!

Nhưng trùm lên tiếng nói bên tai của gã trung sĩ và tiếng hô dõng dạc, Văn Bình vừa nghe một tiếng kêu lớn từ phía sau vẳng tới:

-Văn Bình, nằm xuống!

Bốn khẩu súng cùng khạc lửa ra một lượt song Văn Bình đã phản ứng trước đó một phần vi phân giây đồng hồ. Chàng vận nội công, phối hợp với Ninjutsu, giật đứt giây trói và bổ nhào xuống đất. Cả bốn viên đạn đều bắn vào cọc, cách mặt đất thước rưỡi. Nếu chàng còn đứng nguyên vị, ngực chàng đã vỡ nát. Thân chàng vừa chạm đất thì băng vải đen cũng được chàng gỡ tung khỏi mắt. Súng máy nổ liên hồi như pháo Tết. Chàng thấy bốn người lính trước mặt bị đốn ngã như sung rụng. Đại úy Sulim đã kịp thời nằm rạp xuống để tránh loạt đạn đầu tiên. Hiện hắn đang giơ súng lục nhằm Văn Bình bóp cò song một loạt đạn đã cắm chặt hắn xuống đất. Hắn ngã sóng soài chết ngay, tay còn nắm chặt khẩu súng đầy đạn vô ích.

Thoát chết, Văn Bình nhổm dậy. Chàng quên bẵng gã trung sĩ hảo tâm đang chờ bên cọc để bắn phát súng cuối cùng. Do phản ứng tự nhiên của người quân nhân chuyên nghiệp, gã đã cuộn tròn người để tránh đạn. Gã có thiện cảm với Văn Bình nhưng khi cần lựa chọn tối hậu, gã đã dứt khoát về phe đại úy Sulim. Văn Bình chỉ cách gã trung sĩ một xải tay. Chàng đứng chưa vững thi gã đã nhoài tới, ôm ghì chân chàng, vận toàn lực để giật ngã. Gã biết tài nghệ siêu quần của Văn Bình nên không dám nương tay. Bị tấn công đột ngột, Văn Bình ngã khuỵu. Song trong chớp mắt, chàng đã nhìn thấy đối phương. Chàng lộn người lên thật lẹ làng, và bổ vào đầu gã trung sĩ. Lưỡi dao mà gã trung sĩ vừa rút ra khỏi thắt lưng, đâm thẳng vào mặt Văn Bình đã bị gạt bắn sang bên. Yếu tố bất thần không còn nữa, gã trung sĩ không hy vọng cầm cự được thêm. Văn Bình đã giáng atêmi giữa yết hầu đối phương. Gã trung sĩ kêu ằng ặc được một tiếng rồi nằm thẳng đơ.

Tiếng nói quen thuộc lại vẳng tới. Giờ đây Văn Bình đã biết. Đó là tiếng nói thân mật của Rôsita, núp trên cành cây cao, lá mọc xum xuê phía sau bức tường. Thì ra Rôsita đã tìm cách cứu chàng. Thần may mắn đã cứu chàng vì nếu Rôsita can thiệp chậm một phút nữa là chàng đã thành người thiên cổ.

Chàng nhìn lên bức tường để nhận định địa thế. Bề cao hơn 4 thước, phía trên lại có một lớp kẽm gai cuộn tròn, cao gần 1 thước nữa. Vị chi là 5 thước. Văn Bình thấy một thủy thủ Mã lai hiện ra giữa đống cành lá rậm rì. Hắn cầm trong tay một cuộn giây thừng ni lông. Nhanh nhẹn, hắn quăng một đầu giây xuống sân cho Văn Bình, kèm theo lời dặn:

-Mau lên, bọn chúng sắp tới đông lắm.

Văn Bình nhảy lên, định bám lấy sợi giây nhưng chàng chỉ táp vào khoảng không vì đạn tiểu liên nổ ròn, gã thủy thủ bị thương ngã lộn từ đỉnh cây xuống đất. Ổ súng ở vọng gác bên trái đã bắt đầu tham chiến. Xa xa, về hướng nhà giam cũng có tiếng súng nổ chát chúa. Có lẽ nhân viên của Rôsita đã lọt vào khu nhà giam, hạ sát lính gác để giải thoát bốn tử tội Mã lai còn lại.

Tacata … Tacata …

Khẩu đại liên quét một vòng tròn trên sân rộng. Nếu xạ thủ được tự do nhả đạn, đoàn tiếp cứu sẽ phải bỏ thây ngoài hàng rào.

Đoàng… Đoàng…

Hai phát súng nổ liên tiếp. Liền khi đó, khẩu đại liên câm họng. Bắn nhanh và chính xác như vậy chắc phải là Rôsita. Mừng rỡ, Văn Bình chạy vụt tới chân tường nhưng chàng lại phải nằm xuống lần nữa vì từ cuối sân một tên lính vừa nhắm chàng bắn ria. Tài bắn của hắn cũng không đến nỗi kém vì nếu chàng không thay đổi vị trí liên tục thì đã ăn đạn.

Nhờ núp sau mô đất cao, Văn Bình có thể an toàn trong vài ba phút. Liếc chung quanh, chàng nhận thấy nhiều đống gạch cát ngổn ngang. Có lẽ đại úy Sulim đang xây công sự phòng thủ. Mắt chàng tóe tia sáng hân hoan vì chàng vừa khám phá ra nhiều thanh sắt tròn nằm lẫn lộn trong đống cát. Loại sắt này được dùng để đúc bê tông. Đối với chàng, nó có thể biến thành cây sào tiện lợi giúp chàng vượt qua bức tường ác độc. Văn Bình vốn không có biệt tài nhảy cao nhưng chàng lại luyện tập nhảy sào đúng phương pháp. Muốn nhảy qua bức tường, chàng phải có sào tre, hoặc sào ni lông, hoặc sào thủy tinh ép vừa cứng vừa mềm, chứ không thể xử dụng cây sắt thẳng đơ. Nhưng chàng không có thời giờ suy hơn tính thiệt nữa.

Chàng ép mình sát đất, bò lại đống cát, từ từ rút một cây sắt. Khẩu tiểu liên vẫn gầm thét bên tai chàng. Vụ một cái, chàng đứng thẳng lên, ôm cây sào chạy thật nhanh để lấy trớn. Rồi chàng nhún người, vận dụng nghệ thuật Ninjutsu cho thân thể nhẹ bỗng và vọt lên cao. Hai chân chàng vướng vào kẽm gai song nhờ trớn còn mạnh, chàng tuột được sang bên kia bức tường.

Hú vía…

Một loạt đạn bắn theo hàng ngang nhưng không trúng người chàng. Chàng kêu to:

-Rôsita!

Rôsita từ trên cây nhảy xuống. Nàng mặc đồ chẽn đen, trông gọn ghẽ và hùng dũng như nữ hiệp sĩ cứu khổn phò nguy trong tiểu thuyết kiếm thuật Trung hoa.

Rôsita nắm tay chàng:

-Chạy đi anh.

Khi ấy, Văn Bình mới biết là đã phá kỷ lục nhảy sào thế vận 1963 (1) với một dụng cụ thô sơ. Chàng không hiểu sức mạnh nào đã giúp chàng khắc phục được những khó khăn lớn lao khó khăn như vậy. Chàng mỉm cười nhìn Rôsita. Vì nàng… vì nàng mà Văn Bình vô tình trở thành vô địch nhảy sào.

Rôsita ra hiệu cho toán thủy thủ chạy thật nhanh trên con đường mòn ngoằn ngèo, gập ghềnh và đầy gai góc. Bốn tử tù Mã lai được cứu thoát cũng nhập bọn sau khi Văn Bình vào rừng được hai, ba phút. Rôsita bảo Văn Bình:

-Trong đồn còn gần 50 binh lính nữa, nhưng em cho là không đáng sợ vì sĩ quan chỉ huy đã bị giết. Tuy nhiên, chúng mình rời đảo Datoek này càng sớm càng tốt vì bọn sống sót có thể điện về thủ đô Jakarta, họ cho phi cơ săn đuổi thì nguy lắm.

Văn Bình hỏi:

-Du thuyền đậu ở đâu?

Rôsita đáp:

-Cách đồn binh độ nửa giờ xuyên rừng.

Mưa đổ xuống ào ào, không báo trước. Rôsita nép vào người Văn Bình, miệng rú lên một tiếng nho nhỏ. Chàng vội ôm chặt lấy nàng, nhưng không phải để đặt vào môi nàng một cái hôn đắm đuối như thường lệ, mặc dầu từ lúc trốn khỏi pháp trường đến giờ, chàng chưa tình tự thân mật với nàng. Thật ra, Văn Bình cũng muốn hôn Rôsita cho bõ nhớ nhung, thèm muốn, nhưng cảm hứng nồng cháy của chàng đã nguội ngay vì nàng thét to:

-Anh ơi, em sợ lắm!

Đang bước rảo, Văn Bình dừng lại. Trên lối đi lầy lội chỉ còn hai người. Toán thủy thủ đi trước độ trăm thước. Cuối con đường xuyên rừng về hướng tây là bờ biển. Tuy trời còn mưa, Văn Bình vẫn nghe được âm thanh rì rầm của biển, âm thanh chứa đầy lạ lùng mà chàng say mê từ thuở hoa niên…

Văn Bình vội hỏi:

-Em sợ gì?

Chàng rút ngay khẩu súng lục ra cầm tay, sửa soạn nhả đạn. Nàng đang ưu tư bỗng phá lên cười:

-Anh lấy súng ra làm gì?

Văn Bình ngạc nhiên:

-Vì nghe em kêu cứu, anh tưởng… họ đã rượt tới nơi.

-Vâng, em kêu cứu, nhưng không phải vì binh lính Nam dương đuổi kịp. Trời mưa thế này họ không dám vào rừng đâu. Vả lại, họ như rắn mất đầu, chẳng làm gì được nên chuyện. Em kêu cứu vì… thôi, em hết sợ rồi.

-Lạ quá, em không phải là người yếu bóng vía, nhiều lần đối phương dí súng vào lưng mà em không sợ. Anh hỏi lý do thì em trả lời đã hết sợ. Em sợ gì, cứ nói cho cho anh biết.

-Anh sẽ cười em.

-Trời ơi, cứ dài dòng mất thời giờ quá.

-Anh đừng cười em nhé, anh hứa đi. Anh long trọng cam kết là không cười em, em mới nói.

-Ừ, thì hứa.

-Em sợ con vắt.

-Vắt đỉa ấy à?

-Vâng.

Văn Bình phá lên cười. Bất cứ ai đi rừng đều biết con vắt, một giống đỉa nhỏ, sinh sản hàng vạn, hàng triệu con. Hễ trời mưa là từ trên cây rụng xuống, từ dưới đất trồi lên. Hễ gặp người đi qua là chúng ùa ra, bám chặt lấy hút máu không nhả. Kẻ đi rừng dùng con dao bén cạo một lượt như cạo râu, hoặc đốt cháy từng con. Nhiều con bị chém đứt đôi hoặc lửa thiêu sèo sèo mà vẫn bám cứng da thịt để hút máu.

Văn Bình không lạ gì Rôsita. Nàng là nữ điệp viên xuất sắc của Phản gián Phi luật tân trước ngày lên xe hoa về nhà chồng. Bình sinh, nàng không biết sợ. Võ nghệ cừ khôi, mưu chước tuyệt vời, nàng đã chinh phục được cảm tình đặc biệt của Văn Bình. Nàng không sợ súng đạn, nàng không sợ chết vậy mà nàng sợ con vắt nhỏ lăn tăn. Đàn bà là như thế đó…

Rôsita vùng vằng:

-Anh cười em … Té ra anh thất hứa!

Văn Bình vội kéo nàng vào lòng:

-Xin lỗi em.

Cả hai người cùng cười. Dưới cơn mưa lác đác, Văn Bình ghì chặt thân thể căng cứng, tràn trề căng cứng, tràn trề sinh lực của nàng, nhìn nàng mắt trong mắt, tay trong tay giây lâu, để sửa soạn cảm xúc mê ly rồi mới từ từ cúi xuống dính môi chàng vào môi nàng. Dường như môi Văn Bình có chất keo đặc biệt, đã sát vào thì lâu lắm mới chịu rời ra. Một số chuyên viên điện ảnh nhận định rằng Văn Bình có sức hôn mãnh liệt hơn cả tài tử màn bạc đẹp trai số một Rudolph Valentino (2) nữa.

Rôsita khoác tay Văn Bình lội nước bì bõm, tiến ra bờ biển. Nàng mang ủng da, cao quá đầu gối nên không bị vắt bám vào. Trong khi ấy, tay chân Văn Bình đều đầy vắt, nhưng chúng chỉ nhảy lên rồi té xuống cả chùm như trái chín rụng. Rôsita reo lên:

-Ô kìa, em chưa thấy ai như anh!

Văn Bình giải thích:

-Muốn đuổi vắt không khó, chỉ cần vận công cho da thịt nóng bỏng, giống vắt kỵ nóng, nhất là nhiệt lượng thân thể. Vắt ở đây còn là vắt nhỏ và hiền, ở rừng rậm Đông Dương, nó còn to hơn và dữ hơn nhiều. Em thử rờ cánh tay anh thì biết.

Rôsita đụng làn da của Văn Bình rồi rụt lại:

-Kỳ khôi ghê! Da anh có điện.

Văn Bình tủm tỉm cười:

-Đó là do vận công mà có. Phép vận công cổ truyền của võ Tàu và Nhật, đặc điểm của nó là rút nhân điện trên óc truyền ra ngoài bì phu, ai chạm vào là bị giật, như chạm vào điện nhà vậy.

-Tại sao hồi nãy em không bị giật?

-Hồi nãy, em làm gì?

-Đùa mãi. Hồi nãy, anh hôn em.

-À, anh quên. Để anh giảng theo khoa học cho em hiểu. Em đã theo lớp huấn luyện điệp báo chắc còn nhớ những nguyên tắc căn bản về việc chống lại tra tấn bằng điện. Bị quay điện, muốn khỏi bị giật thì phải ngăn cách dòng điện bằng một vật dẫn điện, như ngậm cái cúc áo hoặc một dúm thuốc lá trong miệng. Hồi nãy hôn em, anh cũng đang vận công để chống bọn vắt, song em không bị giật vì lẽ anh là dương điện, còn em là âm điện.

-Nói xạo!

-Sự thật là như thế. Anh học được điều này trong bộ Thần ảo công do một hòa thượng già người Thái, thuộc giòng vua chúa, truyền lại cho anh trong những ngày thí phát quy y tại một ngôi chùa cổ ở gần thị trấn Vạn tượng (3).

-Vận công lên, toàn thân anh đều có điện nhưng điện này sẽ hoá giải tức khắc nếu chạm da thịt đàn bà, nhất đàn bà mình yêu. Đó là một bí mật ghê gớm, bí mật mà anh phải giữ riêng trong lòng, sống để dạ, chết đem đi, không được tiết lộ cho bất cứ ai.

-Nhưng anh vừa tiết lộ với em!

-Nghĩa là anh giúp em nắm được yếu điểm của anh. Sở dĩ anh có vũ dũng đặc biệt là do Thần ảo công. Nếu địch tìm cách phá được Thần ảo công thì anh trở thành võ sĩ thông thường, dễ bị đánh bại. Muốn phá Thần ảo công thì phải dùng nữ võ sĩ để đấu với anh, hoặc …

-Thôi, anh đừng dậy thêm nữa vì biết đâu một ngày kia, em sẽ giết anh.

-Em giết anh lúc nào mà chẳng được.

-Bây giờ thì không, nhưng anh coi chừng … em đã bỏ chồng để theo anh, nếu em bắt được anh theo người khác thì em sẽ không tha.

-Lại ghen!

-Đàn bà không ghen thì không còn là đàn bà nữa.

-Nhưng nếu đàn ông không hào hoa mã thượng thì không còn là đàn ông nữa.

-Hào hoa mã thượng không có nghĩa là bạ ai cũng yêu, bạ ai cũng hứa hẹn đủ điều. Em chẳng lạ gì tính hảo ngọt bất trị của anh. Vì vậy, em đã bằng lòng cho anh được tự do, nhưng chỉ tự do đến mực độ nào đó mà thôi …

-Hẳn em đã rõ anh đã có con. Con anh là Văn Hoàng.

-Em biết rồi. Cô Quỳnh Loan đã gửi điện mắng nhiếc em. Song anh chỉ có con mà chưa có vợ.

Hai người đã ra đến bờ biển.

Trời vẫn sám xịt. Mặt trời duyên dáng đã biến đâu mất. Nước biển không trong xanh mà đục ngầu, từa tựa như nước sông Hồng những ngày nước lũ đầy gỗ mục, lá chết, và phù sa màu nâu bẩn thỉu. Dọc bờ biển, bãi cát chạy dài tưởng như không bao giờ hết, với rừng dừa, rừng kè lùn màu xanh xẫm.

Du thuyền Thiên Thần nằm khuất sau một mỏm đá lớn, chạy từ bờ ra xa, rồi vòng lại theo hình cánh cung, tạo ra một cái hồ tròn, tứ bề là vách đá. Bên trên, du thuyền được ngụy trang bằng cành lá um tùm. Thủy thủ đoàn đang hối hả vứt cành lá ngụy trang xuống biển. Mưa rừng đã tạnh hẳn. Bốn tử tù Mã lai chờ Văn Bình trên boong. Thấy chàng, họ ùa tới ôm chầm lấy chàng. Thuyền trưởng cung kính chào Văn Bình, và biếu chàng con dao Mã lai hắn đang giắt nơi lưng:

-Thưa ông, con dao quắm này là của gia bảo, tôi dùng nó từ ngày còn xưng hùng trên mặt biển ở Mindanao. Ông là người đầu tiên trong đời mà tôi khâm phục về võ nghệ. Dao này được chế bằng thép riêng, nấu ở lò đúc thép bên Tàu, trong tỉnh Sơn tây, tỉnh nổi tiếng về thép làm kiếm. Lưỡi nó mỏng và mềm, có thể bẻ cong được, nhưng khi lâm trận nó lại cứng kinh khủng, chém sắt cũng đứt. Đặc biệt khi khua lên nó phát ra tiếng vi vu như tiếng gió biển.

Văn Bình vỗ vai thuyền trưởng:

-Trân trọng cám ơn. Tôi xin luôn luôn đeo nó bên mình làm bùa hộ mệnh.

Du thuyền từ từ rời mỏm đá, len qua cái eo nhỏ ra khơi. Tiếng động cơ diesel êm ru, không hổ danh là du thuyền tối tân nhất Phi luật tân.

Văn Bình nằm dài trên ghế da êm ái trong ca bin. Ngồi bên, Rôsita trịnh trọng khui huýt ky rót vào ly. Đột nhiên Văn Bình nhỏm dậy, hỏi:

-Anh sơ ý quá, quên bẵng. Tại sao em biết anh bị kẹt trong đồn binh mà đến cứu?

Rôsita đưa ly rượu trong vắt tận tay chàng, rồi nhoẻn miệng cười tươi:

-Tối hôm ấy, chờ mãi không thấy anh về, em vội cho người lên bộ tìm kiếm. Thủy thủ đi suốt ngày, và trở về tàu tay không. Rạng đông, em đích thân chỉ huy một toán thủy thủ gan dạ và giỏi võ nghệ, trèo qua núi và băng rừng đến phía sau hải đảo thì gặp đồn binh. Đảo Datoek nhỏ xíu nhưng vì lạ đường nên em mất một ngày mới tới được đồn binh của đại úy Sulim. Đoán phỏng là anh bị bắt, em không dám ra mặt, mà chỉ mai phục bên ngoài. Trên đảo không có dân cư, chỉ có binh lính nên đợi thêm một đêm nữa mới thấy một hạ sĩ một mình đi qua chỗ núp. Em ra lệnh chặn bắt lại thì hắn khai là anh đã bị đưa ra tòa xử và bị tuyên án tử hình. Để bảo vệ bí mật, em phải giết hắn. Trong rừng rậm Nam dương có rất nhiều cọp beo và rắn rết nguy hiểm, kẻ đi một mình mất mạng là thường, nên đại úy Sulim không sai người tìm kiếm. Suốt mấy ngày đêm liên tiếp, em chỉ ở cách trại giam 300 thước, dùng viễn kính quan sát bên trong.

Chiều qua, em thấy binh lính chôn cọc ngoài sân, quang cảnh đồn binh có vẻ rộn rịp, em đoán là anh sắp bị đem bắn. Em muốn đột kích vào đồn song vì thiếu súng lớn, lại không triệt hạ được hai khẩu đại liên trên vòng rào nên băn khoăn mãi chưa nghĩ ra kế. Quá nửa đêm, hai tên lính dại dột ra khỏi đồn, em lừa bắt sống, và chúng đã khai rõ chi tiết về vụ hành hình. Em chia nhóm thủy thủ thành hai toán, toán đánh bọc hậu nhà giam sau khi nổ súng và toán xung kích qua cổng, vào sân trại. Một thủy thủ trèo lên ngọn cây cao nhất từ sáng tinh sương chờ khi nào Sulim giải tù ra thì nhất tề ra hiệu tấn công. Chẳng may hắn bị rắn bay (4) cắn chết ngay trên cây.

Khi nghe loạt súng đầu tiên, em hoảng hốt chạy tới gọi thì biết hắn đã cứng đơ như khúc gỗ. Em phải thân chinh trèo lên cây xả súng bắn vào. Chậm độ một vài phút nữa là em đã mất anh.

-Anh hiện nợ em cái ơn cứu tử.

-Lại khách sáo nữa! Nếu không cứu được anh thì chắc chắn giờ này em đã nằm dưới biển. Nói vậy để anh biết rõ mối tình của em đối với anh.

Văn Bình hôn thật lâu vào đôi môi mở hé của nàng. Nàng buông chàng ra, tát vào má, giọng đe dọa:

-Anh nhớ đấy! Đừng tưởng anh lăng nhăng với người khác mà em không biết. Em sẽ đi sát bên anh.

Văn Bình cười:

-Em đánh anh đau quá!

-Mũi dao của em đâm vào da thịt anh còn đau hơn nhiều.

Văn Bình vội đứng dậy vì có tiếng gõ cửa rồi cửa ca bin hé mở. Thuyền trưởng hiện ra với mảnh giấy tờ trong tay. Hắn nói với Rôsita:

-Thưa bà, tôi vừa nhận được phúc điện.

Thuyền trưởng trao tấm giấy đánh máy cho Rôsita rồi bước ra ngoài, khép cửa lại. Hắn vừa gửi bức điện cách đây một giờ. Bức điện này là của Văn Bình. Thuyền trưởng không hiểu được nội dung vì nó được viết bằng mật mã đặc biệt. Hắn cũng không biết bức điện được gửi cho ai. Duy Văn Bình và Rôsita là biết bức mật điện được gửi cho phân cuộc CIA tại Tân gia ba. Nội dung như sau:

“Của Z.28

Yêu cầu chuyển ngay cho Ủy ban Phối hợp tại Sàigòn.

Nội dung: du thuyền Thiên Thần bị bão, giạt vào bờ biển Nam dương nên công tác thiếu sự liên tục. Xin điện cho biết hiện Bồng Lai ở đâu.”

Và đây là bản phúc điện:

“Của Ủy ban Phối hợp

Gửi thẳng cho Z.28.

Bồng Lai vừa cặp bến Tân gia ba để lấy xăng nhớt. Yêu cầu tiếp tục bám sát trong khuôn khổ kế hoạch Trường Huệ.

Chúc may mắn.”

Ủy ban Phối hợp là một ủy ban gồm đại diện tình báo Nam Việt và CIA được thành lập để soạn thảo và tiến hành những kế hoạch tình báo liên quan đến hai quốc gia Việt-Mỹ.

Còn Bồng Lai, và kế hoạch Trường Huệ?

Hai tuần trước; Văn Bình xô cửa vào văn phòng ông tổng giám đốc tại bin đinh mang tên Công ty Điện tử trên đại lộ Nguyễn Huệ gần bờ sông Sàigòn. Ngoài đường trời nóng đến nỗi Văn Bình ngạt thở. Giàu kinh nghiệm, chàng không dám mặc ni lông, vậy mà cái sơ mi bằng lụa dệt tay Ý đại lợi chuyên hút khí nóng, trị giá năm ngàn bạc, của chàng vẫn dính cứng da thịt vì bồ hôi tuôn ra như tắm.

Không khí lạnh buốt trong phòng ông Hoàng làm Văn Bình bàng hoàng. Ông tổng giám đốc không phải là người mê máy lạnh. Sở dĩ phòng ông được gắn máy lạnh là để đảm bảo an toàn, khỏi phải trổ cửa sổ, mặt khác để mọi cuộc trò chuyện kín đáo. Vì luống tuổi, không chịu được khí hậu quá lạnh nên ông Hoàng đã sai gắn một bộ phận đặc biệt trong phòng, kèm theo cái hàn thử biểu. Bộ phận này tự động điều chỉnh cho khí hậu không bao giờ lạnh dưới 20 độ.

Vậy mà hôm ấy hàn thử biểu lại chỉ đúng 6 độ. Vâng, đúng 6 độ nghĩa là lạnh hơn tiết đại hàn ngoài Bắc những mùa đông cực lạnh.

Văn Bình dụi mắt nhìn hàn thử biểu lần nữa. Mắt chàng còn tốt nguyên, chưa phải đeo kiếng, nhìn xa rõ như hải đăng. Ở gần thì ban đêm xâu chỉ vào lỗ kim nhỏ xíu cũng như ban ngày ngoài nắng. Đúng, chàng không quáng gà. Đúng là hàn thử biểu đã tuột xuống 6 độ.

Và ông Hoàng cũng không mặc com lê cũ kỹ, bạc màu và sờn chỉ như thường lệ. Trái lại, ông choàng áo bờ lu trắng tinh như y sĩ, và đang đứng ở góc trước cái bàn nhỏ trên đặt một dãy chậu sứ tráng men xanh trồng hoa huệ.

Văn Bình vào đã lâu mà ông Hoàng không để ý. Chàng đằng hắng đến lần thứ ba ông Hoàng mới quay lại. Ông xoa tay và nói:

-À, anh!

Văn Bình ngồi xuống ghế bọc da đỏ êm ái, vẻ mặt ngạc nhiên vi không thấy trên bàn chai huýt ky chưa khui, cái ly pha lê chùi rửa sạch sẽ và bịch thuốc Salem ông để dành riêng cho chàng. Chắc phải có chuyện tối quan trọng ông Hoàng mới quên bẵng cái điều mà từ nhiều năm nay ông luôn luôn nhớ. Tuy vậy, nếu có chuyện tối quan trọng ông cần chàng tới bàn bạc thì tại sao ông lại bâng khuâng trước mấy bông huệ vô tri?

Ông Hoàng chỉ bông huệ ở đầu bàn, lớn nhất và đẹp nhất;

– Anh biết hoa gì không?

Đứa trẻ lên 6, mới cắp sách vào lớp bét tiểu học cũng không thể không biết đó là huệ. Ngày rằm và ngày mồng một, nó phải thấy mẹ nó cắm huệ lên bàn thờ Phật. Tín đồ công giáo cũng dâng huệ trên bàn thờ Chúa. Vậy mà ông tổng giám đốc lại mang câu hỏi ấu trĩ con nít ra hỏi Văn Bình. Bực mình, chàng định xỏ ông một vố. Chàng bèn giả vờ quan tâm, tiến lại gần cái bàn nhỏ, đứng ngắm hồi lâu rồi ngẩng đầu lên, ra dáng thất hy vọng thành thật:

-Thưa ông, tôi chưa hề thấy giống hoa này bao giờ.

Ông Hoàng phá lên cười:

-Đáng khen lắm. Đáng khen lắm. Tôi đã hỏi nhiều người, ai cũng cho là hoa huệ, học thức uyên bác như Triệu Dung mà cũng một mực khăng khăng là hoa huệ. Duy có anh là nói không biết. Thật vậy, biết thì thưa thốt, không biết thì dựa cột mà nghe…

Ông Hoàng trịnh trọng bưng một chậu hoa lên bàn buya rô bên đống hồ sơ bìa đỏ, đề chữ “Tối mật –an ninh quốc ngoại “ rồi mân mê cánh huệ với dáng điệu đam mê. Văn Bình sững người nhìn ông tổng giám đốc. Người ta bảo là ông già, bà cả thường lẩn thẩn, nhiều khi điên tàng hoặc phát biểu ngây ngô. Ông Hoàng không còn trẻ nữa, không khéo thần kinh bị công việc quá nặng nề làm lệch lạc rồi cũng nên. Phải là kẻ mất trí khôn mới dám nói chậu hoa trước mặt không phải là hoa huệ. Chàng đinh ninh lỡm được ông Hoàng, ngờ đâu lại được khen là nói thật.

Vẻ mặt nghiêm trang, ông Hoàng mở cuốn sách dầy ở góc bàn ra coi. Nhìn thấy trang nào cũng in các loại cây. Văn Bình biết đó là cuốn thảo mộc bách khoa. Trong quá khứ, nhiều lần ông Hoàng đã cải trang làm trại chủ trồng hoa. Để đóng đúng vai trò, ông đã dành nhiều thời giờ nghiền ngẫm bộ sách thảo mộc bách khoa này.

Giở được mấy trang, ông Hoàng đẩy cuốc sách về phía Văn Bình:

-Giống hoa này là Amaryllis, trông như hoa huệ mà không phải hoa huệ. Nó quý hơn cả kim khí quý và đá quý nữa kia.

Văn Bình hỏi:

-Thưa, chắc nó có tác dụng cải lão hoàn đồng hoặc hồi sinh bệnh nhân hấp hối?

-Không, không phải như vậy. Nó quý ở chổ nở hoa quanh năm, mùa nào cũng nở hoa, và nở hoa hàng chục năm liên tiếp. Trên thế giới, người ta đã tìm thấy một giống Amaryllis trổ hoa luôn trong 40 năm liền (5).

Sau những phút bần thần, Văn Bình lặng người đi khi nghe ông Hoàng nói. 40 năm trổ bông liên tiếp… Lần đầu chàng mới được biết tới loại hoa kỳ dị như vậy.

Thì ông tổng giám đốc đã nói tiếp:

-Ông Sì mít vừa gởi bằng máy bay sang cho tôi 4 chậu. Tôi đang tìm cách trồng nó ở nước nhà. Bao nhiêu chuyên viên thảo mộc cố gắng gây giống mà đều thất bại. Nhưng tôi đã khám phá ra bí quyết. Đó là trồng nó trong lồng kính, với sức lạnh không quá 6 độ bách phân.

Chợt nhớ ra, ông Hoàng vội lấy cặp kiếng trắng dày cộm đeo vào mắt:

-À, tôi vừa thăm cháu. Lớn lên, nó càng giống anh như tạc. Tại sao anh chưa tới thăm cháu?

Chết rồi, ông Hoàng lại xía vào đời tư của chàng. Chàng nhớ con, muốn đến ôm nó vào lòng nhưng lại sợ gặp Quỳnh Loan, sợ phải nghe nàng giảng luân lý hàng giờ. Vì vậy, chàng tìm cách đình hoãn và lẩn tránh. Chàng bèn đáp nước đôi:

-Vâng, tôi sẽ đến.

Ông Hoàng cắt điếu xì gà Havan rồi nói:

-Từ nãy đến giờ tôi đã làm mất của anh hơn nửa giờ đồng hồ quý báu, anh đừng giận lão già lẩm cẩm này nhé. Sở dĩ tôi nhắc đến cháu là vì nó liên quan phần nào đến giống hoa Amaryllis, và hoa Amaryllis lại liên quan phần nào đến công tác tôi sắp giao cho anh hôm nay. Thật vậy, cháu Văn Hoàng đã gián tiếp giúp tôi tìm ra phương pháp trồng Amaryllis. Chắc anh không lạ gì cái thú nằm trong phòng gắn máy lạnh của nó. Tuy còn nhỏ xíu, nó đã dư nội hỏa để ở trần trong một khí hậu mà người lớn phải mặc đồ lót len, ba đờ suy lông thú và uống rượu mạnh mới khỏi bị sưng phổi. Nội hỏa của nó là do di truyền, anh giỏi nội công nên con anh trở thành mình đồng, da sắt. Vì vậy, phòng ngủ của nó ít khi lạnh trên 13, 14 độ. Mấy chậu hoa do ông Sì mít biếu lần lượt khô héo. Tình cờ, tôi tới thăm cháu, mang chậu hoa đi theo, và ở gần một giờ chơi đùa với nó. Khi ra về, tôi nhận thấy nụ hoa tươi tốt trở lại.

Văn Bình nói đùa:

-Tôi đề nghị ông đặt tên ở nhà cho nó là Amaryllis.

Một lần nữa, Văn Bình lại “lỡ tàu“. Chàng nói kiểu nghịch ngợm nhưng ông tổng giám đốc vẫn cho là đóng góp ý kiến nghiêm chỉnh:

-Cũng gần như thế. Để ghi nhớ dịp may hãn hữu này, tôi đặt công tác sắp tới do anh có nhiệm vụ tiến hành là công tác Amaryllis, dịch tiếng Việt là Trường Huệ, trường là dài, nghĩa là “hoa huệ sống lâu “. Một lý do khác khiến tôi gắn bó với chữ Amaryllis là vì Dixon rất đam mê loại hoa này.

-Thưa, Dixon là ai?

-Là nhân vật chính trong tấn tuồng đang diễn. Y trạc ngũ tuần, không vợ con chính thức, nhưng khá nhiều bạn gái và con rơi. Mã ngoài của y được phụ nữ ưa thích. Người Mỹ nổi tiếng là cao to, y lại cao to hơn đa số người Mỹ khác. Y hội đủ điều kiện vật chất để thành công trên tình trường, ngoài bộ vó khôi ngô, y lại có ngôn ngữ lịch thiệp, lưu loát, ngọt ngào.

-Dĩ nhiên là có nhiều tiền?

-Chữ nhiều sợ chưa đúng lắm. Người ta chưa ước lượng được sản nghiệp riêng của y là bao nhiêu nhưng ít ra cũng từ chục triệu đô la trở lên. Đó mới là tiền mặt do y cất giữ trong nhà hoặc trong ngân hàng. Nếu cộng thêm của chìm, và các kho chứa võ khí của y rải rác trên khắp thế giới thi tiền bạc không biết cơ man nào mà kể.

-Y là trùm gián điệp địch?

-Không. Nếu Dixon là trùm gián điệp GRU, Smerch, hoặc Tình báo Sở thì công việc của ta sẽ dễ hơn nhiều. Ta chỉ cần thu thập bằng cớ cụ thể rồi lôi y ra tòa lãnh án. Hoặc giản dị hơn, ta sẽ hạ sát và quăng xác y xuống biển. Đằng này y lại là công dân lương thiện, ít ra là lương thiện ngoài mặt. Người ta biết y dính líu vào nhiều vụ động trời, nhưng vì thiếu bằng cớ nên đành bó tay. Dầu khui được bằng cớ hiển nhiên, cũng vị tất bỏ tù được y vì nhờ thế lực của đồng đô la y thuê cả một sư đoàn luật sư, y còn có cả trăm đàn em sẵn sàng nhận tội thay y, và khi cần y lại mua chuộc được quan tòa nữa. Luật pháp Mỹ khá tự do, bắt người đã khó, nhốt người còn khó gấp chục lần. Do đó Dixon vẫn tiếp tục nhởn nhơ phá hoại hòa bình thế giới.

-Phá hoại hòa bình thế giới, nghĩa là y buôn võ khí lậu?

-Phải. Dixon là lái buôn võ khí quan trọng vào bậc nhất hoàn vũ. Y nhập cuộc từ sau thế chiến thứ hai, thoạt đầu mua lại một lô võ khí hỏng cho chữa lại đem bán, rồi đến mua võ khí thặng dư, hay lỗi thời cung cấp cho các nước nhỏ. Y điều khiển một công ty khổng lồ mang tên là Công ty Võ khí Thế giới, trụ sở chính đặt tại Nữu ước, với 12 phân cuộc ở mọi thủ đô lớn trên thế giới. Kho chứa của y cũng rất nhiều, phần đông đều tọa lạc bên ngoài lãnh thổ Hoa kỳ. Chính vì vậy mà cơ quan an ninh Hoa kỳ phải ngậm bồ hòn làm ngọt. Nhưng bây giờ thì họ không thể làm thinh được nữa.

-Chắc Dixon bán súng đạn cho phiến quân cộng sản ở Nam Việt?

-Ồ, đó là chỉ là một tội trạng quá nhẹ. Tội trạng nặng nhất của y là bán lậu hỏa tiễn.

-Hỏa tiễn có đầu đạn nguyên tử?

-Phải.

-Kể cũng hơi lạ vì hỏa tiễn nguyên tử không phải là vật dễ chế tạo, mua ở đâu cũng có.

-Đây là hỏa tiễn cỡ nhỏ, tầm bắn từ 10 đến 30 cây số, thuộc loại hỏa tiễn chiến thuật, do Hoa kỳ và Nga sô sản xuất trong nhưng năm đầu tiên của kỹ nghệ chế tạo võ khí hạt nhân. Những võ khí hạt nhân tối tân và xa tầm lần lượt được chế tạo, Nga Mỹ phải cất giữ võ khí cũ vào kho. Không hiểu sao Dixon lại vớ được những hỏa tiễn loại này.

-Do Nga sô bí mật cung cấp …

-Cũng có thể Dixon ăn cắp trong các kho chứa của Hoa kỳ ở trong xứ và hải ngoại. Như anh đã biết khối Minh ước Bắc Đại tây dương và khối Minh ước Liên phòng Đông Nam Á đều có kho chứa riêng. Theo tin tức chính xác, Dixon đang chở một số hỏa tiễn nguyên tử trên một chiếc tàu lởn vởn ngoài khơi Đông Nam Á, hiện sắp ghé Phi luật tân.

-Ông muốn tôi chặn bắt tàu của Dixon lại?

-Tốt nhất là theo dõi y xem y đổ bộ võ khí lên quốc gia nào, rồi khi đó hãy ra tay. Chuyến đi này, Dixon giả dạng là du lịch. Thủy thủ đoàn gồm toàn bọn anh chị quốc tế, trung thành tuyệt đối với Dixon.

-Thưa, đã có lần nào CIA cho người đột nhập lên tàu của Dixon chưa?

-Có. Một vài lần. Họ đều thất bại vì không nhân viên nào trở về.

-Bị giết?

-Không biết.

-Tại sao họ không yêu cầu công an liên bang FBI xin trát tòa để khám xét?

-Rất khó vì Dixon giao du toàn với những nhân vật cao cấp. Họ là tay tổ trong đảng cầm quyền. Do đó, CIA phải nhờ đến ta.

-Có chắc là Dixon chở hỏa tiễn trên tàu không, thưa ông?

-Chắc, vì CIA gài được một thủy thủ trên tàu. Mật báo viên này sắp cung cấp đầy đủ chi tiết thì mất tích. Thành ra mọi việc phải quay lại con số dê rô. Cho dẫu CIA nắm được chi tiết cũng chẳng làm được gì vì tàu của Dixon luôn luôn ở trên hải phận quốc tế.

-Ông vừa nói là y sắp ghé Phi luật tân!

-Lệ thường, y vào bờ bằng ca nô. Như tôi đã cắt nghĩa ở trên, Dixon khôn như ranh, ăn vụng chùi mép rất giỏi. Y chỉ mắc một sở đoản: đàn bà. Hiện y đang mê một thiếu phụ da trắng tuyệt đẹp, tên là Akita. Nàng cùng đi sang Viễn đông với y.

-Hừ, ông cấm tôi chơi bời mà lại muốn tôi tán tỉnh nhân tình của Dixon. Thôi, tôi không dám.

-Vào địa vị anh, tôi sẽ không từ chối. Ủy ban Phối hợp đã nhóm họp nhiều kỳ, ông Sí mít đặc biệt nhắc đến tên anh. Đây là vấn đề uy tín của Sở. Lại là vấn đề an ninh của nước nhà nữa. Vì nếu Dixon bán hỏa tiễn cho cộng quân hoạt động trên bán đảo Đông dương thì cán cân quyền lực sẽ thay đổi trong khoảnh khắc… Tôi đã chuẩn bị giấy tờ cho anh qua Mani. Anh chờ sẵn ở đó, khi Dixon rời bến thì thuê tàu rượt theo.

-Tàu của ai?

-Tùy anh lo liệu. Phân cuộc CIA ở Mani đã neo trong vịnh một khoái đĩnh chữa lại thành du thuyền, với thủy thủ đoàn người Nam Mỹ. Anh sẽ liên lạc với họ để thảo luận thể thức. Và anh có toàn quyền định đoạt.

Văn Bình đã xử dụng quyền này bằng cách mượn du thuyền của Rôsita. Và chàng bám sát tàu Bồng Lai của Dixon. Cho đến khi trận bão xảy ra. Du thuyền Thiên Thần dạt vào đảo Datoek.

Tờ mờ sáng hôm sau, Văn Bình nhận được bức điện mới của Ủy ban Phối hợp:

“Của Ủy ban Phối hợp

gởi thẳng cho Z.28.

Bồng Lai vừa rời Tân gia ba. Yêu cầu chạy thẳng tới Kota Bharu.”

Kota Bharu là một thương cảng nhỏ hơn của Tân gia ba và ở phía bắc Tân gia ba gần 500 cây số. Du thuyền Thiên Thần ghé vào bờ, đổ nhiên liệu.

Đêm ấy, một bức điện khác được gởi tới:

“của Ủy ban Phối hợp

gởi thẳng cho Z.28.

Bồng Lai đang tiến tới Vọng các. “

Vọng các với giòng sông Chao Phya chứa đầy kỷ niệm là một trong nhiều nơi trên trái đất mà Văn Bình không khi nào quên được. Chàng vui mừng như đứa trẻ được mẹ về chợ cho quà.

Sáu ngày sau, du thuyền Thiên Thần vượt thêm một ngàn cây số đường biển để tới thủ đô Thái lan huyền bí.

Chú thích:

(1) năm 1963, John Thomas Pennel (Hoa kỳ) đã nhảy được 5m20. Văn Bình phải là võ sĩ cừ khôi mới đạt được thành tích vượt tường 5m này, vì muốn nhảy cao như vậy phải chạy 40m để lấy trớn và phải có sào tốt bằng thủy tinh ép hoặc bằng nhôm đặc biệt. Tưởng nên biết rằng võ sĩ nhảy sào không bị gãy xương khi đáp xuống vì có một lớp vỏ bó ni lông khá dày, được trải trên một khoảnh vuông mỗi cạnh 5m, trong khi ấy Văn Bình nhảy từ 5m cao xuống đất cứng. Đó là nhờ công phu Ninjutsu và Thần ảo công.

(2) hồi sinh thời, tài tử Mỹ Rudolph Valentino đã khét tiếng về nghệ thuật hôn lâu, hôn mạnh, và gây nhiều hoan lạc, khoái cảm cho nữ diễn viên màn ảnh. Có lần Rudolph làm mạnh đến nỗi một nữ diễn viên bị gãy ngay… hai cái xương sườn. Từ khi Rudolph mệnh một, hầu hết vụ hôn trên màn ảnh đều giả tạo. Với tài nghệ vượt Rudolph Valentino, Văn Bình quả là đàn ông nguy hiểm, các bà các cô nên… tránh

xa.

(3) xin đọc « Vạn tượng khói lửa » để theo dõi hoạt động của Z.28 ở Lào. Còn về bộ sách Thần ảo công thì đọc « Tia sáng giết người » ( 2 cuốn trọn bộ ), cũng của Người Thứ Tám, Tân Quang, 54 Lê văn Duyệt, tổng phát hành.

(4) danh từ khoa học gọi giống rắn bay này là chrysopefea ornata. Nó sinh sống trong rừng rậm đảo Java ( Nam dương ) và Mã lai Á. Các nhà sinh vật nhiều lần mang rắn bay về xứ lạnh để nuôi song lần nào nó cũng chết. Giống rắn này mình dẹp, chuyên sống trên cây và cuộn tròn lại. Nó băng mình từ cây này sang cây khác chứ không bò xuống đất rồi trèo lên. Khi di chuyển, nó tung người dài ra, dài như giải lụa. Nọc độc nó rất nguy hiểm, hễ nó cắn ai là chết. Rất nhiều người Nam dương và Mã lai đi rừng đã mất mạng vì bị rắn bay cắn.

(5) hiện bà Elfreda Wulff, ngụ tại Omaha ( Hoa kỳ ), trồng được thứ Amaryllis này. Cây hoa của bà trổ bông trong 40 năm và vẫn tiếp tục trổ bông. Trông nó như hoa huệ của ta, duy khác ở điểm hoa nó thường chĩa xuống chứ ít khi đâm lên. Nó có mùi thơm rất quyến rũ.

III – Bồng Lai Tiên Cảnh

Trong những tập sách nhỏ tặng cho du khách, Thái Lan thường được mô tả là « xứ sở của Nụ cười ». Văn Bình nhớ đất Thái Lan hơn ai hết vì lần nào đến nơi chàng cũng tìm thấy những nụ cười mỹ nhân. Nói chung, phụ nữ Thái không đẹp, song một khi đã đẹp thì đẹp lạ lùng. Phụ nữ Thái lại không quá khó khăn đối với nam giới, có lẽ vì chịu ảnh hưởng của địa hình và phong thổ.

Thật vậy, thủ đô Vọng các nằm trên bờ sông Chao Phya ngày đêm tấp nập người qua lại nên lòng phụ nữ bản xứ cũng lênh láng tình yêu như giòng nước chảy hoài không bao giờ ngừng. Những ai đã hò hẹn với mỹ nhân Thái tất phải nhìn nhận rằng họ không có đường cong đồ sộ, song thân hình nhỏ nhắn của họ lại chắc nịch và ngọt ngào, cũng chắc nịch và ngọt ngào như trái soài và trái sầu riêng địa phương. Soài Thái không lớn bằng soài nơi khác ở Đông Nam Á nhưng lại thơm ngon dị thường. Còn sầu riêng thì tròn trịa, ăn vào đủ vị ngọt, béo, bùi, mùi hương độc đáo phảng phất cả ngày chưa hết.

Du thuyền Thiên Thần từ từ ngược giòng sông Chao Phya. Chiều sắp buông xuống. Rôsita dựa lan can, tóc bay lòa xòa trước gió, nhìn về phía thành phố. Vọng các gồm hơn triệu rưỡi dân, được chia làm hai khu: khu cổ xưa với những đường phố chật hẹp, đông đúc, và khu tân tạo với những đại lộ rộng rãi, và bin đinh kiến trúc theo lối tây phương. Vượt lên trên những mái nhà nhấp nhô như dợn sóng là nóc chùa, hàng trăm, hàng ngàn nóc chùa hình tròn nhọn hoắt. Ánh nắng chiều quét một lớp sơn vàng lên cảnh phố phường tấp nập và mái chùa trang nghiêm, tạo cho du khách một niềm lâng lâng vô tả. Dọc sông Chao Phya, hàng chục sông đào tóe ra. Những sông này cắt ngang, xẻ dọc thành phố thành nhiều hình kỷ hà ngộ nghĩnh. Thuyền bè chạy hàng đoàn chở đầy mễ cốc và trái cây. Những con đò nhỏ dừng lại dọc đường, ghé vào dãy nhà cất bên sông, rồi lại từ từ trôi. Một bầy thiếu nữ xõa tóc, da ngăm ngăm, ngụp nước đến ngực trồi lên vẫy các thủy thủ trên du thuyền Thiên Thần, vừa cười như nắc nẻ.

Rôsita reo lên một tiếng nhỏ khi Văn Bình từ ca bin bên dưới trèo lên boong. Nghệ thuật cải trang đã biến chàng thành con người khác. Tóc chàng rẽ giữa ngay ngắn chứ không rẽ lệch bay bướm và phồng cao như thường lệ khiến khuôn mặt dài tưởng như ngắn lại. Cặp mắt sáng quắc được thu bớt hào quang, tròng mắt màu xanh biến sang màu nâu nhờ một loại kiếng riêng, nhỏ bằng đầu ngón tay, bỏ gọn trong mắt như kiếng công-tắc của người cận hoặc viễn thị.

Văn Bình xuống đò để vào thành phố. Một con đò nhỏ trượt theo Văn Bình, sàn đò gần mấp mé mặt nước, bên trên là một cô gái tóc dài bóp kèn inh ỏi. Cô gái líu lo nói với chàng. Chàng chỉ hiểu lõm bõm là nàng mời chàng mua « kao neo », xôi nếp ăn với gà quay. Bên phải Văn Bình, một con đò nhỏ khác cũng vừa tới, lắc chuông leng keng. Đó là đò bán cà rem.

Đặc điểm của Vọng các là chợ họp trên sông. Những đêm trăng thanh gió mát, sông Chao Phya cũng rộn rịp như sông Hương, khách có thể ngủ đò, nghe hát tìm hoa, và ăn uống trên mặt nước, chỉ khác một điều là gió sông Hương dịu dàng hơn, giòng sông Hương trong trẻo hơn, và người đẹp sông Hương có làn da sáng sủa hơn.

Lên bờ, Văn Bình kêu tắc xi đến lữ quán Rama. Trong quá khứ, mỗi lần đến Vọng các chàng đều lấy phòng tại Erawan, khách sạn quan trọng bậc nhất, mặc dầu hơn xưa và chỉ cao 5 tầng vì khách sạn này tọa lạc ở trung tâm Thái Hotel, khách sạn tối tân, hoàn toàn điều hòa khí hậu, ở gần sứ quán Nam Việt. Nhưng chưa bao giờ chàng ghé Rama. Tòa nhà đồ sộ 10 tầng đứng sừng sững ở góc đại lộ Silom và Surisak của khách sạn Rama là một kho kỷ niệm đầm ấm và cay đắng đối với con bướm đào hoa Z.28. Trước đây, chàng không ghé Rama, tuy đó là lữ quán thượng lưu vào bậc nhất nhì thành phố, mới được hoàn thành năm 1961, là vì lý do tình cảm. Đến đâu, Văn Bình cũng lưu lại dấu tích xác thịt đến đó, riêng tại Rama dấu tích này đã hằn sâu đến nỗi nhiều năm đã qua rồi mà chàng vẫn không quên.

Năm ấy, lữ quán Rama vừa được khánh thành, Văn Bình đi lang thang trên đường Silom, một đại lộ dài lê thê nằm dọc theo một khlong nhỏ từ sông Chao Phya đến Khlong Hualamphong, phố xá vắng tanh vì đã quá nửa đêm thì gặp một người đàn bà Thái. Chàng đang say mê với khói thuốc Salem thì nghe tiếng gọi sau lưng. Chàng dừng lại thấy một thiếu phụ trạc 24, 25 phục sức theo kiểu Tây phương, xiêm áo gồm một mảnh, khuôn mặt khá đoan trang, nếu không kể cái miệng khác thường với đôi môi dày, hơi cong và những nếp răn quyến rũ ở mép. Nàng nói với chàng bằng tiếng Thái. Chàng lắc đầu không hiểu thì nàng tuôn ra một tràng tiếng Anh. Cách nói trơn tru của nàng chứng tỏ nàng có học lực trung học, nếu không là đại học. Phụ nữ Thái thường rụt rè như phụ nữ Á đông khác, rất ít khi gạ gẫm đàn ông, ngoại trừ phụ nữ đã đầu quân vào lực lượng lầu xanh. Vậy mà nàng bắt đầu bằng một câu làm Văn Bình bật ngửa:

-Tôi đi chơi với anh được không?

Dưới ánh đèn đường, Văn Bình giương đôi mắt sáng quắc nhìn nàng. Không, nàng không phải là gái điếm. Gái điếm không thể nào có cái dáng điệu quý phái ấy. Và nhất là cái mùi thơm da thịt đặc biệt ấy. Chàng đoán nàng bị chồng phụ bạc nên bỏ đi hoang một đêm cho bõ hờn. Chàng bèn hỏi:

-Đi đâu?

Nàng nhún vai:

-Đi đâu cũng được. Xuống âm phủ thì càng tốt.

Nàng tiến đến bên chàng, ôm tay chàng và ngả đầu vào vai chàng. Miệng nàng sặc mùi rượu. Có lẽ cơn say đã làm nàng mất lương tri. Chàng bèn đề nghị:

-Cô ở đâu để tôi đưa về?

Nàng trợn mắt:

-Tôi ở dưới âm phủ.

-Cô điên rồi, cô cần vào bệnh viện một thời gian. Tôi là người có giáo dục, tôi không thể lợi dụng lúc tinh thần cô bấn loạn để nài ép xác thịt.

Nàng cười khanh khách:

-Nài ép hả? Ai mà nài ép được tôi? Hồi tôi đi học, cậu sinh viên nào lớ rớ đến người tôi là bị đo ván tức khắc. Anh biết không, tôi là võ sĩ nhu đạo đai đen đệ nhất đẳng, đàn ông đối với tôi chỉ là muỗi tép, tôi mời anh đấy. Anh là đồ ngu, hàng trăm hàng ngàn người ở xứ Thái thèm tôi đến rệu nước miếng, tôi chỉ giơ một ngón tay là họ sẵn sàng nhảy vào đống lửa để mong ôm tôi một giây đồng hồ … trong khi đó anh lại hờ hững, lạnh lùng.

-Vì cô đang say rượu. Người say thường không kiểm soát được phản ứng của mình. Cô đi với tôi đêm nay, sáng mai tỉnh rượu cô sẽ hối hận.

-Ồ, tôi không thể nào hối hận được nữa.

-Tại sao?

-Vì đêm nay, tôi ân ái với anh, sáng mai trở về nhà, tôi sẽ uống thuốc độc.

-Trời ơi, tôi sắp trở thành kẻ sát nhân.

-Nếu anh đuổi tôi, tôi sẽ cặp kè với người khác. Tôi đã rắp tâm đòi ngủ với người đàn ông thứ nhất tôi gặp trên đường Silom sau khi tôi đậu xe. Và tôi gặp anh. Tôi sẵn sàng ngủ với bất cứ ai, dầu là què cụt, câm điếc, già trẻ … Trời đã run rủi cho tôi gặp một thanh niên đẹp trai, lịch sự và khỏe mạnh.

-Cô say lắm rồi. Xe hơi của cô đậu ở đâu để tôi đưa cô về?

-Tôi không về. Khóa công tắc tôi đã vứt xuống cống rãnh trên đường Surisak.

-Không sao. Tôi có thể cho máy chạy không cần chìa khóa công tắc.

-Cám ơn anh. Nhưng anh định đưa tôi về đâu?

-Về nhà cô.

-Tôi không có nhà.

-Vậy đêm qua, cô ngủ ở đâu?

-Ngủ nhờ.

-Mấy đêm trước?

-Ngủ với chồng.

-Ồ, cô có chồng thì dễ dàng quá! Tôi sẽ lái xe đưa cô về với chồng cô. Tôi tin chắc là chồng cô đang chờ cô đỏ mắt, tưởng như có thể chết được.

-Anh nói đúng.

-Ông ấy hiện chờ cô ở đâu?

-Ngoài nghĩa trang.

-Trời ơi, chồng cô đã chết rồi ư?

-Chết rồi, chết thật rồi.

-Tôi thành thật xin lỗi cô.

-Chồng tôi chết trên đại lộ Silom, xế cửa khách sạn Rama cách đây hai hôm. Tôi yêu chàng nên không thiết sống nữa.

-Cô yêu chồng, tại sao không thủ tiết với chồng mà lại dại dột hiến thân cho thiên hạ?

-Tôi cũng không hiểu tại sao nữa. Tôi cảm thấy nhớ con đường Silom, nhớ khách sạn Rama một cách ghê gớm. Cách đây 2 năm, tôi gặp chàng một buổi tối trăng non le lói cũng như đêm nay trên đường Silom. Chúng tôi yêu nhau sau tiếng sét ái tình cực mạnh. Chàng rủ tôi vào khách sạn Rama. Đến khi làm lễ thành hôn, chàng cũng kéo tôi vào khách sạn Rama.

-Cô có con không?

-Có. Con trai. Nó mới được 8 tháng.

-Vậy cô phải về với nó.

-Nó bị bên nội bắt rồi. Tôi phải sống một mình buồn quá nên nảy ý định đi hoang. Bây giờ anh đưa tôi vào Rama đi.

-Không được.

-Nếu anh từ chối, tôi cũng ngủ với người khác. Tôi sẽ bắt bồ với thằng trùm du đãng ở đầu đường.

Văn Bình thở dài, đau đớn. Nàng đã du chàng vào tình trạng tiến thoái lưỡng nan. Lang thang nơi đất khách quê người, bắt được bò lạc là điều hãn hữu, không ai có thể bỏ lỡ cơ hội ngàn vàng. Nhưng Văn Bình lại là người đàn ông tự trọng. Chàng không muốn lợi dụng cơn sầu muộn của nàng để thỏa mãn dục vọng, nhưng chàng cũng không thể thẳng tay cự tuyệt vì như nàng hăm dọa, nếu chàng từ chối, nàng sẽ ngủ với bất cứ người đàn ông nàng gặp trên đại lộ Silom.

Sau một hồi suy nghĩ, Văn Bình phải đưa nàng vào đại lữ quán Rama. Vào phòng, chưa kịp đóng cửa, nàng đã cởi bỏ áo ngoài. Nàng có tấm thân cân đối ăn nhịp với khuôn mặt đều đặn, gợi cảm, và đôi chân thon dài, đặc điểm hiếm có trong giới phụ nữ Thái lan. Chàng bắt đầu có thiện cảm với nàng, song lương tâm chính trực thúc giục chàng có thái độ nghiêm chỉnh. Chàng bèn hoãn binh:

-Cô uống rượu nhé?

Nàng cởi hết khuy áo, để lộ cái nịt ngực bằng lụa Thái lan sặc sỡ. Nàng đẹp thật! Nếu được bầu bạn một đêm với nàng, Văn Bình sẽ hoàn toàn vừa ý. Nàng ném áo ngoài xuống đất, dẫm chân lên trên, giọng khinh bạc:

-Rượu hả? Em vốn mê rượu. Hồi chồng còn sống, chàng vẫn thi đua uống rượu với em, và lần nào chàng cũng thua đậm.

-Cô uống bao nhiêu thì say?

-Ồ, muốn say thì say. Nếu không thích say thì uống cả vò cũng chẳng đi tới đâu.

Nghe nàng nói, Văn Bình bán tín bán nghi. Trên trái đất, số tài tử Lưu linh có tài chế ngự được men rượu không lấy gì làm đông đảo. Chàng thuộc vào hạng người uống rượu như hũ chìm, và sau nhiều năm luân lạc, chàng chưa gặp kẻ đồng bệnh tương liên. Chàng có cảm tưởng là nàng mất trí nói bừa. Song đến khi bồi mang rượu lên, chàng mới thấy nàng nói đúng. Về tửu lượng, nàng suýt soát chàng. Mỗi lần uống, nàng làm cả ly đầy ắp, và chỉ nốc một hơi. Trong loáng mắt, nàng khiệng luôn một chai Vat 69, và sửa soạn khui chai mới. Càng uống, nàng càng tỉnh ra, miệng cười của nàng càng tăng vẻ quyến rũ. Trong thâm tâm, Văn Bình muốn nàng uống rượu để say mèm, và nhân khi nàng mê man chàng sẽ lục ví tìm căn cước rồi đưa nàng về với gia đình, nhưng kế hoạch ấy của chàng hoàn toàn bị thất bại, Văn Bình đành phải áp dụng kế hoạch khác.

Đến nửa đêm, nàng đã uống tới chai huýt ky thứ tư. Từ bao năm nay, chàng chưa bao giờ gặp một người đàn bà nào thanh toán đến chai thứ ba. Chai thứ tư đã là một kỷ lục thế vận … Nếu tiếp tục uống, nàng dư sức thù tiếp chàng đến sáng. Uống rượu vào, nàng càng cảm thấy toàn thân nóng ran, và không cần giữ gìn và cũng có lẽ để khiêu khích chàng nữa, nàng từ từ cởi bỏ quần áo. Đến chai thứ năm thì nàng đã ném xuống đất mảnh vải cuối cùng bằng ni lông hồng. Trên mình nàng chẳng còn gì cả ngoại trừ những đường cong thiên nhiên. Bình thường, Văn Bình phải ôm ghì nàng, bồng lên nệm mút, nhưng đêm ấy Văn Bình lại rụt rè, sợ sệt, y như cậu thiếu niên vừa bước vào đời.

Sau khi hoàn toàn khỏa thân, nàng đứng dậy múa nhảy trong phòng rồi nói:

-Em đẹp không anh?

Chàng ừ hử:

-Đẹp.

-Ừ, chồng em cũng khen em đẹp như vậy. Nhưng chàng lại quá dở, đến chai thứ ba đã sùi bọt mép, nằm lăn ra, ngáy như sấm. Anh khá đấy, anh đã theo em đến chai thứ tư, nhưng trông mã anh, em đoán là chỉ đến chai thứ năm là anh chổng kềnh thẳng cẳng …

Đúng ra, chai thứ năm chứ chai thứ mười cũng chỉ là cỏ rác đối với chàng. Song chàng không thể kéo dài tấn kịch cuồng loạn này thêm phút nào nữa cho nên chàng nhận lời vào lữ quán Rama, và nhận lời uống rượu với nàng với hy vọng mượn thần Lưu linh quật ngã. Trái lại, nàng không ngã …

Chàng bắt gặp nàng bỏ một viên thuốc vào rượu. Chàng căn vặn thì nàng thở dài:

-Thuốc trợ lực. Em không muốn ngủ nên phải uống strychnine trộn với nitroglycérine.

Nghe nói, Văn Bình tái mặt. Hai hóa chất này trộn với nhau sẽ làm tim đập chậm lại, sức lực gia tăng. Một số lực sĩ thế vận đã dùng nó. Nhiều thanh niên nam nữ cũng dùng nó trong … phòng the. Tuy nhiên, sự lạm dụng cũng như lạm dụng éphédrine, bensédrine và novococaine thường làm phương hại đến bộ máy thần kinh. Chàng bèn giằng lấy ly rượu, đổ xuống đất. Cô gái òa lên khóc như đứa trẻ. Chàng kéo nàng vào lòng nhưng không phải vuốt ve và ân ái như nàng chờ đợi mà để điểm atémi vào một huyệt đạo gần vú. Chàng rút ngón tay ra thì nàng bắt đầu mê man.

Nàng ngủ luôn đến sáng. Văn Bình ngồi bên, chong đèn uống rượu một mình. Khi tỉnh dậy, nàng hoàn toàn đổi khác. Cơn động cỡn hồi khuya đã tan biến, nàng trở lại cô gái chính chuyên, yêu đứa con trai duy nhất, và yêu người chồng vừa chết. Thấy chàng ngồi bên giường, nàng khóc nức nở. Nàng thuật lại là chồng nàng thiệt mạng trong một cuộc thanh toán ái tình. Chàng chết vì yêu cô gái giữ két của lữ quán Rama. Cô gái này được tên trùm du đãng trong khu Silom-Surisak coi là của riêng. Chồng nàng bị đâm loạn xạ gần hai chục mũi dao vào mặt, ngực và bụng, tắt thở trên giường ở bệnh viện sau khi xin vợ tha lỗi. Sở dĩ gã chồng yêu đương vụng trộm vì là người vợ sợ chửa đẻ không cho hắn ăn nằm. Nàng giữ gìn thân thể cân đối, và không muốn thêm con nên chồng nàng thành người thiên cổ. Vì vậy, nàng hối hận. Nàng định ân ái liều lĩnh một đêm rồi quyên sinh. May thay nàng gặp Văn Bình.

Chàng đưa nàng về nhà. Nàng sống với con trong một căn gác nên thơ, nhiều xuống giòng sông Chao Phya. Nàng mời chàng ở lại đêm song chàng từ chối. Nàng thở dài nói:

-Đêm qua là em điên cuồng. Nhưng đêm nay em hoàn toàn sáng suốt. Em mời anh ở lại vì em yêu anh. Yêu anh thật sự. Anh ở lại với em đi, rồi sáng mai anh lên đường.

Văn Bình vẫn lắc đầu. Nàng hỏi tên chàng thì chàng tiếp tục lắc đầu. Nàng bèn hôn nhẹ vào môi chàng:

-Tên em là Si Thoeng. Em sẽ không bao giờ tái giá nữa. Chừng nào qua Vọng các, anh đến thăm em nhé. Em sẽ tiếp tục chờ anh, dầu là cả tháng, cả năm, dầu là chờ đến răng long đầu bạc.

Văn Bình cười và bỏ đi. Trong đời, chàng đã nghe nhiều người đẹp long trọng thề thốt chờ đợi cả tháng, cả năm, cho đến răng long đầu bạc nhưng chỉ một thời gian sau là vội vã ôm cầm sang thuyền khác. Nàng yêu chàng. Chẳng qua vì chồng chết, tâm thần bấn loạn, cõi lòng trống trải cần vỗ về, mơn trớn. Chàng không ngờ sự thật lại xảy ra khác hẳn. Lần này chàng ghé Rama vì từ nơi đò cập bến tới khách sạn chỉ có một quãng đường ngắn. Chàng ở Rama để tiện liên lạc với du thuyền Thiên Thần, và nhất là để dòm chừng du thuyền Bồng Lai đang buông neo gần đấy. Chàng cũng muốn đến Rama để sống lại kỷ niệm ngày xưa. Chàng không ngờ định mạng trớ trêu đã xui khiến Si Thoeng, cô gái chết chồng đa sầu, đa cảm, lại là phụ tá quản lý khách sạn Rama.

Sau khi làm thủ tục lấy phòng, Văn Bình sắp cầm chìa khóa thì nhân viên tiếp tân hỏi:

-Thưa bác sĩ, còn hành lý?

Văn Bình mạo tên một bác sĩ y khoa Nam dương vừa đáp phi cơ từ Tân gia ba đến trường bay Donmuong. Chàng bèn lắc đầu:

-Hành lý của tôi bị thất lạc, tìm chưa thấy. May mà tôi còn giữ được cái túi nhỏ này.

Văn Bình giơ cho hắn thấy cái túi vải của công ty hàng không quốc tế Phong lan Hoàng gia Thái ( Royal Orchid Service ). Mục đích của chàng là cắt đứt mọi câu hỏi tò mò kế tiếp. Chàng không ngờ hắn là công dân Thái giàu tự ái quốc gia, nghe du khách phàn nàn mất đồ thì tỏ vẻ bực bội:

-Vậy thì bậy thật! Ông đến bằng phi cơ Phong lan phải không? Từ trước đến nay, hãng hàng không Thái chưa bao giờ làm lạc hoặc mất hành lý của quý khách. Vụ này không thể tha thứ được. Chúng tôi sẽ liên lạc ngay với ông giám đốc yêu cầu giải quyết cấp tốc vì thưa ông, chúng tôi …

Văn Bình hoảng hồn:

-Không sao, họ đã cam kết là đồ tôi không mất, chỉ thất lạc thôi.

Nhân viên tiếp tân vẫn khăng khăng:

-Thất lạc cũng không được … Ông là người độ lượng sẵn sàng bỏ qua mọi sự lỡ lầm nhưng người Thái chúng tôi phải bảo vệ và phát triển uy tín quốc gia. Nay ông bị thất lạc một cái va li, đến mai nhân viên hàng không lại cẩu thả để mất một kiện hàng hóa đắt tiền thì sao? Xin ông để mặc tôi. Tôi với ông giám đốc là chỗ thân tình …

Văn Bình xua tay:

-Ông nên im lặng thì hơn. Tôi không thích gây chuyện.

-Thưa ông, đó là một cách cải tiến lề lối làm việc, đâu phải là gây chuyện.

Văn Bình nhăn mặt, tiến ra thang máy.

Và chàng gặp cô gái một đêm ngày xưa, có cái tên hiền dịu là Si Thoeng.

Thấy chàng, nàng kêu lớn:

-Anh.

Văn Bình dừng lại, quay sang bên và nhận ra nàng. Đào được mỏ vàng, sắp sửa thành tỉ phú chàng cũng chỉ mừng đến thế là cùng. Nhưng chàng chỉ mừng xẹt qua như làn chớp đêm mưa. Chớp xẹt qua, trời tối om, cơn mưa lại trút xuống tầm tã … Sự hiện diện của Si Thoeng làm chàng lo ngại. Chắc chắn nàng sẽ dính cứng lấy chàng. Thật là gay go vì chàng còn Rôsita một bên, mà Rôsita thì cũng là quán quân về ghen. Hai giai nhân ghen nhau tất thủ đô Vọng các phải tóe lửa.

Si Thoeng liến thoắng:

-Em vừa nghĩ đến anh thì gặp anh liền. Gớm, lâu quá, 4 năm rồi anh nhỉ? Anh lấy phòng phải không?

Nàng hỏi luôn một thôi, chàng đáp không xuể, đành cười. Nàng nói tiếp:

-Bây giờ em làm ở đây. Phụ tá quản lý, oai chưa? Bây giờ để em đưa anh lên phòng.

Cầm chìa khóa phòng của Văn Bình, nàng nhăn mặt:

-Anh ở phòng này sao được?

Chàng định nói “được lắm” nhưng nàng đã nhanh nhẩu gọi nhân viên tiếp tân lại:

-Ông khách này là bạn của tôi. Trên lầu nhì còn nhiều phòng đôi sang trọng, chọn cho ông khách cái tốt nhất. Tiền nong bao nhiêu để tôi thanh toán.

Nhân viên tiếp tân đáp:

-Thưa bà, bác sĩ đã trả trước một tuần rồi. Tôi không lấy, nói là theo thông lệ, khi nào quý khách trả phòng mới thanh toán nhưng bác sĩ nhất định không chịu.

Si Thoeng lẩm bẩm:

-Bác sĩ… bác sĩ?

Nhân viên tiếp tân giải thích:

-Vâng, ông bạn của bà là bác sĩ.

Chẳng nói chẳng rằng, Si Thoeng bấm nút cho cửa thang máy khép lại. Lên đến lầu hai, nàng mới đủng đỉnh nói:

-Anh làm nghề thầy thuốc từ khi nào?

Văn Bình toát bồ hôi:

-Nhân viên của em nghe lầm.

-Hừ, hắn có thể nghe lầm nhưng anh không thể ký lầm được. Em vừa coi sổ vãng lai thì thấy anh ký tên là bác sĩ y khoa, công dân Nam dương.

-Phải.

-Đừng chống chế nữa. Tại sao anh lấy tên giả và nghề nghiệp giả?

-Khổ quá!

-Bốn năm trước, anh tâm sự với em là Văn Bình, đại tá Văn Bình, anh còn nhớ không?

Văn Bình lạnh toát châu thân. Bốn năm trước, trong phút dại gái, chàng cho nàng biết tên thật. Chàng cũng tưởng là cá nước chim trời, kẻ Thái người Việt, không còn hy vọng tái ngộ nữa. Ngờ đâu (Văn Bình vẫn không ngờ một cách ngu xuẩn như vậy ) quả đất lại nhỏ bé khiến cho chàng gặp lại nàng và nàng còn nhớ rõ danh tính và nghề nghiệp của chàng.

Vào phòng, chàng ngồi phịch xuống ghế, giọng trách móc:

-Anh còn nhớ, nhớ lắm… Tuy nhiên, anh phải giấu tên thật vì một lý do mà em đã đoán biết. Em làm ở đây lâu chưa?

Nàng đờ người một phút rồi đáp:

-Lâu rồi. Sau đêm gặp anh, em trở lại yêu đời như cũ. Rồi em lấy chồng. Chồng em có nhiều cổ phần trong công ty khách sạn Rama.

-Gái có chồng như gông đeo cổ, chúng mình nên xa nhau là hơn.

-Ồ, anh định trốn em ư? Em lấy chồng nhưng không lập hôn thú, nghĩa là hiện giờ vẫn tự do như hồi ở một mình, chồng em còn có vợ cả, và hàng tá vợ bé khác nữa. Anh ở đây với em.

-Chuyến này công việc của anh quá bộn bề.

-Em sẽ giúp anh một tay. À, anh vẫn sống độc thân như xưa chứ?

Chàng định đáp “có gia đình rồi “ song trước luồng mắt soi mói như đâm thấu tâm can của nàng chàng đành thú thật:

-Chưa lập gia đình nhưng cũng chưa hẳn là độc thân.

Nàng cười ý nhị:

-Không sao. Em quen với kiếp chồng chung rồi.

Hai người dựa vào thành cửa sổ, nhìn xuống sóng nước chảy đục lờ. Trên đường Silom, một chiếc xe hơi Hoa kỳ vừa đậu trước khách sạn, bồi túa ra mở cửa. Từ trên xe bước xuống một cặp vợ chồng Mỹ. Người đàn ông trạc bốn mươi, cao lớn, khôi ngô, cường tráng. Hắn mặc bộ com lê mỡ gà bằng lụa dệt tay Thái lan, ở mép túi áo lòi ra một bông hoa thật nhỏ, trông như hoa huệ. Văn Bình bàng hoàng trong giây phút. Bông hoa này là hoa Amaryllis, loại huệ trổ hoa hàng chục năm tục gọi là “trường huệ”. Và gã đàn ông bô trai kia giống hệt với bức hình chàng đã xem trong văn phòng ông tổng giám đốc. Hắn là Dixon, tỉ phú kiêm trùm buôn lậu súng đạn quốc tế. Thiếu phụ đi bên hắn mặc toàn màu hồng. Nàng có một vẻ đẹp lạ lùng. Không cần nhìn lâu, Văn Bình cũng biết thiếu phụ là Akita. Lời nói của ông Hoàng vụt trở lại bên tai Văn Bình.

Ông Hoàng cắt đầu điếu xì gà Havan, chậm rãi châm lửa rồi nói với điệp viên Z.28:

-Trong quá khứ, anh từng đối phó với nhiều kẻ thù nguy hiểm, tuy nhiên theo tôi Dixon có thể được coi là nguy hiểm nhất. Hắn có một mình mà cơ quan an ninh Hoa kỳ phải thất điên bát đảo. Hắn rất đa mưu, trước khi bắt tay vào việc thường nghiên cứu kỹ lưỡng, và không hề phạm khuyết điểm. Về võ nghệ, Dixon không đến nỗi xoàng. Hắn là một tay cừ khôi về môn vật Hy La (1), hàng trăm võ sĩ đã bị hắn quật ngã như chơi. Sở dĩ hắn có sức khỏe khác thường là nhờ tập rượt những môn thể thao nguy hiểm như trèo núi, trượt tuyết, đua xe hơi.

-Thưa, ông vừa nói là Dixon rất say mê nữ sắc?

-Phải, hắn có cái tật mê gái lạ lùng. Chúng ta hy vọng đánh bại Dixon keo này bằng cách khai thác sở đoản hảo ngọt. Đàn bà đối với hắn cũng cần thiết như cơm nước, không có thì chết. Sáng, trưa, chiều -chứ chưa nói đêm nữa – bất cứ lúc nào Dixon cũng phải có đàn bà một bên.

-Chắc hắn có cả tam cung lục viện?

-Không. Hắn chỉ mê một người đàn bà nào đó trong một thời gian ngắn mà thôi. Khi yêu thì hắn không xa được một phút nhưng đến khi chán ngấy thì hắn vứt bỏ như lưỡi dao cạo cũ.

-Hắn yêu Akita đã lâu chưa, thưa ông?

-Dường như được chẵn 1 năm.

-Trước kia, hắn yêu mỗi người đàn bà trung bình được bao lâu?

-Độ 2, 3 tháng là cùng.

-Dixon gắn bó cả năm trường với Akita nên tôi đoán chắc nàng phải đẹp lắm.

-Dĩ nhiên. Tôi chưa bao giờ được gặp Akita bằng xương bằng thịt, nhưng căn cứ vào hình chụp, và báo cáo, tôi nhận thấy nàng thuộc vào đẳng cấp siêu mỹ nhân. Nàng sẽ giúp anh được nhiều nếu anh biết khai thác. Tuy nhiên, việc lợi dụng này là con dao hai lưỡi, sơ ý nó có thể làm anh đứt tay chảy máu. Vì vậy, anh cần gia tăng thận trọng để khỏi bị Akita lôi kéo …

Nghe ông tổng giám đốc giảng luân lý, điệp viên Z.28 bắt chân chữ ngũ, phì phèo thuốc lá Salem, mỉm miệng cười mà không đáp. Ông Hoàng có quyền không tin, nhưng chàng, chàng đoan quyết là không thể nào sa ngã. Hôm nay, đứng trên lầu nhìn qua cửa sổ xuống đường Silom, Văn Bình mới nhận thấy ông Hoàng là nhà tiên tri lỗi lạc vì Akita thuộc loại người có nhan sắc hớp hồn đàn ông như hồ ly tinh trong truyện Liêu trai.

Đứng sau chàng, Si Thoeng hích cùi tay vào lưng chàng, giọng dấm dẳn:

-Mê hả?

Chàng giật mình:

-Mê ai?

Nàng cười:

-Tượng đá cũng phải mê người đàn bà mới xuống xe Hoa kỳ, huống hồ là anh. Anh đừng sợ, em không ghen đâu, vả lại em chưa có quyền để ghen. Nàng đẹp lắm, phải không?

Văn Bình đành gật đầu:

-Phải.

-Nhưng nàng là trái cấm, rớ vào thì mất mạng. Hiện nàng là của gia bảo của một tỉ phú. Người đàn ông mặc com lê màu mỡ gà đang đưa tay cho nàng nắm lấy, anh thấy không?

-Thấy. Mỹ nhân là bông hoa trong vườn bách thảo, cấm thiên hạ nhìn ngắm sao được?

-Dĩ nhiên. Trên thực tế lại có kẻ dám bẻ trộm hoa nữa kìa. Nhưng đó là đối với người khác, còn đối với nhà triệu phú Dixon thì xin anh chớ ti toe.

-Giàu có không hẳn là lý do cấm thiên hạ chiêm ngưỡng sắc đẹp của vợ mình.

-Theo em, đó lại là lý do chính. Hắn có nhiều tiền, ai lơ mơ chạm đến người yêu của hắn là bị gãy răng bể mặt ngay. Anh biết không, ngày cũng như đêm 4 vệ sĩ võ giỏi, bắn giỏi luôn luôn theo sát nàng như bóng với hình.

-Nàng là Akita?

-Phải. Anh ráng nhớ tên để viết thơ tỏ tình. Báo tin trước để anh mừng: nàng là nhân tình, chưa phải vợ chính thức của Dixon. Nhưng anh Văn Bình ơi, em khuyên anh nên giữ gìn tấm thân ngàn vàng của anh. Năm ngoái, một chàng võ sĩ vô địch dám tán tỉnh cô gái xấu hơn Akita nhiều, đã bị Dixon cho húp cháo gần 3 tháng trong bệnh viện.

-Năm ngoái, Dixon cũng tới Vọng các?

-Hắn tới đây mỗi năm. Dường như mỗi năm, hắn mỗi du lịch qua Viễn đông. Tuy nhiên, mỗi năm hắn mỗi thay đổi người đẹp.

-Lạ nhỉ? Rama không phải là đệ nhất khách sạn, tại sao Dixon lại tới? Erawan, hoặc Oriental còn sang hơn nhiều.

-Thoạt đầu, em cũng băn khoăn như anh. Sau này em mới tìm ra nguyên nhân. Thứ nhất vì Dixon là người có phần hùn nhiều nhất trong công ty Rama. Thứ hai vì hắn thích mua hạt soàn để tặng người đẹp. Xế cửa lữ quán có tiệm kim hoàn Rama nên hắn chỉ cần đi mấy bước là có thể mua sắm dễ dàng. Thứ ba vì du thuyền của hắn đậu gần đây. Anh mà thấy du thuyền Bồng lai thì sẽ lé mắt vì kinh ngạc. Nó không thua du thuyền bậc nhất thế giới của nhà tỉ phú Onassi là bao.

-Em đã lên thăm chưa?

-Nếu chưa thì em nói làm gì? Bên trong, tiện nghi nào cũng có đầy đủ, có cả máy lọc nước biển thành nước ngọt, máy biến tia sáng mặt trời thành hơi đốt, bàn ghế thì đóng bằng một lại gỗ thơm khác thường của rừng Nam Mỹ.

-Dixon làm nghề gì?

-Chả biết. Nghe người ta nói là hắn buôn súng. Tay tổ buôn súng.

-Tay tổ buôn súng đến Thái lan mà nhà chức trách để yên được ư?

-Cái đó, xin anh hỏi họ, em không muốn dính tới. Vả lại, Thái là quốc gia trung lập, sứ quán sô viết treo cờ đỏ búa liềm rực rỡ trong khi tàu bay Mỹ cất cánh từ các căn cứ Thái để tham chiến ở Việt Nam thì một Dixon, chứ mười Dixon buôn võ khí đến đây nữa cũng là chuyện thường. Nếu không tin, anh hãy đi vòng ra sau đường Silom, song song với lữ quán Rama là đường Sathorn, anh sẽ thấy cờ cộng sản Nga đề huề với cờ của các sứ quán Á căn đình, Diến điện, Đan mạch, Ấn độ, Phần lan, Do thái, Ý đại lợi, Ai lao, Mã lai, Thụy điển, Tân tây lan…

-Em nhớ ghê!

-Chuyện! Ngày nào em cũng bách bộ dọc đường Sathorn nên không nhớ sao được.

-Nhà em ở đâu?

-Cuối đường Sathorn.

-Em ở với …

-Không … hắn có nhà sang hơn, và hắn bị vợ cả giữ riệt nên thỉnh thoảng mới đến. Nói cho đúng, em cũng muốn hắn ít đến. Em yêu tiền rừng bạc biển của hắn hơn là yêu hắn. Hoàn cảnh biến đổi con người mà …

Si Thoeng thở dài, 1 giọt lệ lăn trên gò má:

-Anh còn nhớ đêm ấy nữa không? Riêng em, suốt đời em vẫn nhớ. Sáng sớm, em mời anh về căn gác của em nhìn xuống sông Chao Phya. Em giữ anh ở lại, anh cứ nằng nặc ra đi.

-À, hồi đó cháu trai mới được 8 tháng, anh không được gặp nó, nhưng nhìn hình ảnh thì giống em như đúc. Chắc bây giờ nó nghịch lắm?

Nghe chàng nó, nàng òa khóc và ôm chầm lấy chàng. Văn Bình se lòng, đau đớn. Chàng biết là nói hớ. Có lẽ định mạnh dữ dằn đã bắt nàng sống xa con. Hồi đó, nàng tâm sự là đứa con của nàng ở với bên nội. nhưng hiện thời …

Qua nước mắt, Si Thoeng tỉ tê:

-Anh ơi …, anh ơi …, con em chết rồi!

Văn Bình ghì chặt lấy nàng, giọng an ủi:

-Nó mang bạo bệnh phải không? Tội nghiệp. thôi, chẳng qua con người ai cũng có số.

-Nếu con em chết bệnh thì em cũng đành chịu. Đằng này, nó lại không chết bệnh. Người ta giết nó …

-Giết nó … giết 1 hài nhi 8 tháng! Ai giết?

-Thằng trùm du đãng khu Silom. Tự tay hắn đâm chồng em nát bấy thân thể, và cũng tự tay hắn ném con em xuống sông Chao Phya.

-Tại sao?

-Hắn thề giết cả nhà em, nhưng chưa giết em vì để em đau khổ. Hắn nói rằng em mất chồng, mất con còn khổ hơn là bị giết. Nhưng hắn lầm. Em lấy chồng, dầu chỉ lấy lẽ, và chồng em chưa xứng với em 1 li. Em mầy mò vào trong lữ quán Rama nơi con nhân tình của thằng trùm du đãng giữ két khi trước. Để báo thù. Để rình rập cơ hội báo thù.

-Tại sao em không trình báo với nhà chức trách?

-Vô ích, anh ạ. Thứ nhất, không có bằng cớ. Chồng em nằm chết trên lề đường từ đêm đến gần sáng, cảnh sát mới biết. Con em đang nô đùa trước nhà thì 1 chiếc xe hơi đen ập tới, mang đi biệt tích. Không ai nhớ rõ số xe. Một tuần sau thì xác cháu nổi lềnh bềnh trên sông.

-Có thể nào hung thủ là người khác chăng?

-Không thể được. Vì lần nào tên trùm du đãng cũng sai đàn em đến tận nhà báo tin cho em. Hắn còn gặp mặt em nữa. Em đã nhờ luật sư đưa nội vụ ra tòa, nhưng luật sư khuyên em nên bỏ qua, nếu không sẽ bị phạt về tội cáo gian.

-Nhân tình của tên trùm du đãng còn làm việc tại lữ quán nữa không?

-Em vừa đuổi tuần trước.

-Nghĩa là em cố tình khiêu khích hắn?

-Phải. Khiêu khích để hắn giết em. Chết là hết chuyện. Em sẽ rảnh nợ. Nhưng hắn khôn lắm. Hắn chưa giết em vội. Hắn bắn tin là đang cho người tìm kiếm mẹ em.

-Để giết?

-Vâng, để giết. Hắn giết người như ngóe. Có nhìn thấy người chết, ngửi mùi máu tanh tưởi, hắn mới uống rượu và ăn cơm được. Em đã đề phòng trước, nhờ người đưa mẹ em lên miền đông bắc. Tuy nhiên, em có cảm tưởng là sớm muộn hắn cũng sẽ khám phá ra nơi mẹ em ẩn náu. Và hắn sẽ xuống tay tàn nhẫn. Vì vậy, em phải xuống tay trước. Em sẽ giết hắn …

-Em yếu đuối, lại thân cô, thế cô …

-Gần năm nay, em đã học đánh dao, bắn súng. Em hy vọng giết được hắn. Vì hắn vốn khinh thường em, cho em là hạng đàn bà chân yếu, tay mềm, giết con ruồi cũng không xong.

Văn Bình lặng thinh giây lâu. Dưới đường, Dixon và Akita đã cùng đám cận vệ đi khuất vào lề. có lẽ cả bọn đang ở trong thang máy. Ruột gan Văn Bình rối bời. Chàng đang kẹt vụ “Trường Huệ” thì bị kéo vào vụ báo thù. Si Thoeng không nhờ chàng song chàng không thể khoanh tay nhìn nàng gục ngã. Vì chắc chắn là nàng mất mạng trong cuộc đấu dao hoặc đấu súng với tên trùm du đãng.

Chàng quay lại nhìn Si Thoeng. Nàng cũng đang nhìn chàng, trìu mến và van lơn. Nàng kiễng chân hôn vào môi Văn Bình rồi tiếp tục khóc. Chàng vuốt ve bờ vai tròn trịa của nàng:

-Bao giờ em gặp hắn?

-Đêm nay.

-Tại đâu?

-Em hẹn hắn đến khách sạn.

-Hắn dám đến không?

-Ồ, tuần nào hắn cũng đến ăn. Hắn thuê phòng thường trực. Ăn uống cũng biên bông.

-Rồi quỵt?

-Không. Hắn trả tiền đàng hoàng. Hắn thưởng tiền cho bồi còn hậu hĩ hơn khách thượng lưu nữa. Trông bề ngoài, hắn chững chạc, không có 1 chút nào là du đãng. Nhưng mọi người trong khu vực đều biết hắn. Lữ quán, rạp hát, tiệm ăn, cửa hàng, … đều phải nộp thuế cho hắn hàng tuần, hoặc hàng tháng. Thuế của hắn gọi là thuế bảo an, nặng gấp chục lần thuế chỗ hoặc thuế môn bài. Ai cũng phải cắn răng đóng đủ, không dám hó hé vì hó hé thì cửa tiệm sẽ ăn lựu đạn, hoặc vợ con mất cái tai … Thôi thì đủ thủ đoạn, đủ cực hình.

-Công an không có tai, có mắt ư?

-Em đã nói hồi nãy rồi, muốn bỏ tù hắn phải có chứng cớ, mà từ xưa đến nay chưa ai tìm ra chứng cớ. Dường như 1, 2 lần gì đó, có người gan dạ trưng bằng cớ nhưng đến ngày ra tòa thì lại bị tai nạn xe hơi hoặc chết đuối. Rốt cuộc ai cũng phải ngậm miệng.

-Bây giờ em có thể nói lớn được rồi. Anh sẽ giúp em.

Si Thoeng lùi lại, rồi quỳ xuống, lạy xì xụp:

-Thưa anh, anh là ân nhân của em. Đối với người tình thì em cư xử bằng ân ái mặn nồng. Nhưng đối với ân nhân, em phải quỳ lạy cho đúng truyền thống dân Thái.

Văn Bình đỡ nàng lên, mắng yêu:

-Em làm anh ngượng quá!

Nàng nghiêm mặt:

-Xin anh tha lỗi. Em phải tôn trọng đạo lý theo lời cha mẹ răn dạy. Vì ngày xưa, cha em là đại quan trong triều.

Qua cửa sổ, Văn Bình nhìn thấy nền trời da cam óng ánh. Hoàng hôn trên đất Thái dường như đến chậm hơn, so với các quốc gia khác ở Đông nam Á, quang cảnh lại sáng rực 1 màu vàng huy hoàng. Có lẽ do hàng trăm, hàng ngàn tháp chùa nhọn hoắt, rướn lên cao, thu nhặt ánh nắng mặt trời để đến khi trời sắp tối thì tỏa ánh sáng chói lòa. Chàng nhìn đồng hồ tay:

-Anh đi 1 lát.

Thiếu phụ đáp:

-Em sẽ đợi anh. À, anh lấy xe em mà đi cho tiện. Em có cái Mazda 800 đậu gần tiệm kim hoàn.

Chàng hôn phớt lên tóc nàng rồi mở cửa phòng ra thang máy. Chàng rờ túi, hơi bực mình vì gói Salem đã lép kẹp. Đời người thường éo le và xỏ xiên như thế. Khi không thích khói thuốc thì gói Salem nằm ép ở đáy túi, bị nhàu nát. Đến khi thèm hút thì 1 mẩu nhỏ cũng không có. Thang máy mở ra, Văn Bình sửa soạn bước vào nhưng bỗng khựng người vì từ thang máy bước ra 1 bóng dáng quen thuộc, cao lêu nghêu. Bóng dáng quen thuộc này chính là “chàng sếu vườn” Lê Diệp, cận vệ thân tín của ông Hoàng, và cũng là bạn nối khố của Văn Bình.

Thấy chàng, Lê Diệp chỉ nháy con mắt chứ không chào hỏi vồn vã mặc dù ở trên đất xứ người. Chắc chàng sợ lộ, vì trong thang máy còn có 2, 3 người lạ nữa. Văn Bình đang ngần ngừ thì Lê Diệp vòng ra cầu thang xi măng. Văn Bình lẳng lặng theo bạn. Lê Diệp bước đi 1 quãng. Gió chiều từ dưới sông Chao Phya thổi lên mát rợi làm Văn Bình khỏe khoắn.

Lê Diệp trèo lên taxi đậu cách lữ quán gần 100 nước, và để cửa mở. Văn Bình ngồi bên. Hai người không nói với nhau nửa lời. Lê Diệp chăm chú nhìn kiếng chiếu hậu. Taxi chạy bên trái đường, len lỏi giữa 1 rừng xe đạp, xe gắn máy Nhật, xe “xảm lồ” 3 bánh, xe hơi chở khách sơn vàng bóp kèn inh ỏi, và đủ loại xe nhà, xe chở hàng, cam nhông nghênh ngang giữa lộ. Tai nạn có thể xảy ra vào bất cứ lúc nào vì ai cũng phóng nhanh, và khinh thường luật lệ lưu thông. Tuy nhiên, Văn Bình nhận thấy tình hình cũng chưa đến nỗi nghẹt thở như ở Sàigòn, 1 thủ đô mà xe hơi đông hơn kiến cỏ, song xe gắn máy hippy mới thật sự là vua.

Tài xế đậu lại ở công viên Phramane, gần đại hoàng cung. Dưới ánh chiều, mái tròn đỏ ối của cung vương miện (2), và tháp chuông vao vòi vọi của chùa thiêng Wat Phra Keo, tục gọi là chùa Phật Ngọc Bích (3) vươn lên uy nghi lộng lẫy. Mỗi lần đến Vọng các, Văn Bình đều ra công viên Phramane để coi đua diều. Diều Thái hoàn toàn khác với diều Việt. Vả lại, trên thế giới không còn có những cuộc đua diều như ở Thái. Vì đua diều là môn thể thao quốc gia, phải là người Thái mới biết làm diều đúng cách, và biết thưởng thức cái thú đua diều độc đáo (4)

Diều cũng có nam và nữ. Diều nam gọi là Chula, mang hình ngôi sao. Thuở xưa, diều nam cao hơn 3 thước, nhưng hiện nay (có lẽ vì chế độ nam nữ bình quyền bành trướng ) bề cao chỉ đến 2 thước là cùng. Diều nữ gọi là Pakuao. Đúng với luật thiên nhiên, diều nữ chỉ lớn bằng nửa diều nam, hình vuông, các góc đối diện được dãn dài ra, và đặc biệt là có cái đuôi dài lê thê, dài gấp 7 lần rưỡi bề cao.

Cuộc đua diều tượng trưng cho cuộc đua tình muôn thuở giữa giống đực và giống cái. Từ cổ chí kim, hàng trăm vĩ nhân và danh tướng bị khổ lụy vì quá gần gũi đàn bà, để đàn bà xen vào đời. Đấu diều cũng vậy. Diều nam xớ rớ để diều nữ tới sát là bị diều nữ húc rách rơi xuống đất. Đàn bà ngồi chiếu trên, đàn ông ngồi chiếu dưới, thì trong gia đình cũng như ngoài xã hội ( tác giả thành thật xin lỗi các bà, các cô ) chắc chắn mọi việc sẽ hư hỏng. Trong cuộc giao đấu, nếu chú diều đực khờ khạo để nàng diều cái bay lượn trên đầu thì chắc chắn chú sẽ thảm hại, vì giây nhuyễn tiên của nàng sẽ quấn chặt lấy người chú, và chú sẽ thua. Trên không rộng rãi, rực rỡ ánh vàng sắp tắt, nhiều diều-nàng và diều-chàng đang vờn nhau, thách đố nhau, sửa soạn giao hoan hoặc loại bỏ nhau trước hàng chục ngàn cặp mắt say sưa của người người Thái tụ tập ở công viên.

Lê Diệp xuống xe, kéo Văn Bình lại gần hàng rào sơn trắng, ngăn khu vực thả diều.

Văn Bình hỏi bạn:

-Anh đến đây bao giờ?

Lê Diệp đáp:

-Hôm qua. Sợ không kịp, tôi phải đáp phi cơ quân sự. Ủy ban Phối hợp muốn chúng ta hoạt động 1 mình, chứ không huy động nhân viên CIA địa phương.

-Sợ lộ?

-Phải, vì sợ lộ. Dixon giao du rất rộng, đồng tiền của hắn đã mua chuộc được nhiều người có địa vị. Ngay cả trong CIA, trú xứ Vọng các, hắn cũng gài được mật báo viên.

-Tại sao anh biết tôi lấy phòng ở Rama?

-Du thuyền Bồng lai đến trước anh nửa ngày. Tôi đoán anh phải neo tàu gần du thuyền Bồng lai để tiện theo dõi nên thuê 1 căn phòng ở lầu 5 gần đấy, quan sát sông Chao Phya bằng ống nhòm. Tôi thấy tàu của anh cặp bến, và anh dùng đò lên thành phố, và tôi theo anh đến khách sạn. Tuy nhiên, sợ anh bị theo, và tôi cũng bị theo nên sau khi đến Rama, tôi xuống xe, đi bộ ngược chiều 1 lát rồi mới trở lại.

-Hiện anh ở đâu?

-Tại tư thất ông đại sứ. Ngoài mặt, tôi là 1 nhà báo từ Sàigòn sang, thu thập tin tức và tài liệu để viết phóng sự điều tra về hoạt động của kiều bào ở đông bắc nên sự hiện diện của tôi không bị ai để ý.

Bỗng dưng Lê Diệp thở dài nhè nhẹ:

-Cẩn thận như vậy rồi cũng vô ích mà thôi.

Văn Bình trố mắt:

-Sao? Anh nói sao?

Lê Diệp nhìn lên cao, không đáp. Nhìn theo bạn, Văn Bình cảm thấy đau nhói nơi tim. Trước mặt 2 người, 1 con diều-nữ ẻo lả đang lừa bắt con diều-nam khổng lồ. Bên dưới, công chúng hò reo khích lệ, như thể diều giấy vô tri nghe được tiếng người. Trong nháy mắt, diều-nam bị kẹt cứng và thất trận. Tiếng hò reo lớn vụt lên rồi lắng xuống. Văn Bình bàng hoàng như vừa thoát khỏi cơn mơ rùng rợn. Chàng chợt hiểu thái độ im lặng cố ý của Lê Diệp. Hồi chàng lên đường, chàng hỏi ông Hoàng về vấn đề cộng sự viên thì ông đáp chàng phải hoạt động 1 mình. Đùng 1 cái, ông Hoàng gửi chàng sếu vườn tới với những câu nói úp mở, không giấu được sự lo lắng. Chàng bèn nắm tay Lê Diệp, giọng cương quyết:

-Ông tổng giám đốc cử anh sang Vọng các để lật ngược tình thế vì tôi bị lộ rồi phải không?

Lê Diệp vẫn không đáp. Con diều-nam đã hoàn toàn thảm bại. Và con diều-nam thứ nhì đang lượn tròn ở đàng xa dưới ngọn gió nồm nam mát rợi cũng sắp sửa bị rơi vào cạm bẫy giai nhân. Đàn bà … chung quy cũng vì đàn bà cả. Văn Bình thường gặp khó khăn vì đàn bà. Không lẽ chuyến này chàng bại lộ vì Rôsita, cựu nữ điệp viên Phi luật tân quyền biến, giỏi giang, và thận trọng? Chàng bèn hỏi bạn:

-Tôi bị lộ vì cùng đi với Rôsita?

Chàng hỏi như vậy là để Lê Diệp trả lời. Thật ra trong thâm tâm chàng không hề cho rằng vì Rôsita mà chàng bị đối phương nhận diện. Nhưng Lê Diệp lại gật đầu, và đáp chậm rãi:

-Phải. Anh bị lộ vì nàng.

Văn Bình đắng họng như vừa nuốt mật gấu. Chàng phải nắm chặt bàn tay để khỏi run. Lê Diệp từ từ nói tiếp:

-Vì chồng Rôsita hiện có mặt ở đây. Hắn là cánh tay phải của trùm buôn súng Dixon.

Văn Bình bàng hoàng, toàn thân lạnh ngắt. Chết rồi, chuyến vượt biển theo du thuyền Bồng lai không phải là cuộc hành trình hạnh phúc, mà là chuyến đi về cõi … bồng lai tiên cảnh. Lê Diệp lên tiếng để phá tan bầu không khí khẩn trương:

-Thôi, chúng mình về đi.

Văn Bình lắc đầu, giọng ngao ngán:

-Ông Hoàng lừa tôi.

Lê Diệp tỏ vẻ sửng sốt:

-Ông Hoàng lừa anh ở điểm nào?

-Lừa tôi … chờ cho tôi nhúng tràm mới nói rằng chồng của Rôsita là yếu nhân của địch.

-Hừ, anh đừng nghi oan cho ông già. Tôi có thể bảm đảm với anh rằng ông già chẳng biết gì hết. Đến khi biết rõ, ông già thừ người ra, ngồi chết lặng mấy phút trong ghế bành, rồi bấm chuông gọi tôi. May sao khi ấy tôi đang ở phòng ngoài với Nguyên Hương. Ông già tin anh, đinh ninh là anh chỉ du hí qua quýt như mọi lần, chứ không thể ngờ được anh kéo luôn Rôsita cùng đi.

-Nàng thuộc thành phần tin cậy.

-Điều đó, tôi hoàn toàn đồng ý với anh. Nhưng khốn nỗi anh lại mượn du thuyền của chồng nàng.

-Vì nàng cho biết là hắn đi Mỹ. Có thể nào nàng …

-Anh tự mâu thuẫn rồi. Vừa nói rằng Rôsita là thành phần tin cậy, anh lại nghi ngờ nàng ngay. Không, nàng không thể can dự vào vụ này. Tôi cho rằng đây chỉ là kết quả của sự tình cờ, 1 sự tình cờ kinh khủng.

-Tình cờ mà ông Hoàng khám phá ra?

-Phải, hoàn toàn vì tình cờ. Du thuyền Bồng lai cập bến ở Tân gia ba, Dixon dẫn 1 số người lên bộ ăn uống phè phỡn như thường lệ. Đặc phái viên CIA lén chụp được nhiều bức hình gởi bằng vô tuyến cho Ủy ban Phối hợp. Và Ủy ban phăng ra chồng của Rôsita ở trong đám bạn bè yến tiệc của Dixon trên du thuyền Bồng lai.

-Vậy thì nguy rồi. Du thuyền Thiên Thần chỉ bỏ neo cách tàu Bồng lai 1 quãng. Sớm muộn, Rôsita sẽ bị chồng bắt gặp.

Văn Bình đứng bật dậy. Lê Diệp hỏi:

-Anh về tàu phải không?

Văn Bình gật đầu, giọng buồn bã:

-Không khéo chậm mất.

Trời đã bắt đầu tối. Những con diều cuối cùng đã biến mất trên không phận công viên hoàng cung Phramane. Giác quan thứ sáu như hồi chuông báo động réo vang trong óc Văn Bình. Chàng lẩm bẩm “chậm mất, chậm mất”.

Mà có lẽ chậm thật!

Vì trong khi ấy, bão tố đang diễn ra trên du thuyền Thiên Thần buông neo dọc sông Chao Phya.

Chú thích:

(1) đô vật Hy La ( lutte gréco – romaine ) do một võ sư Pháp, Exbrayat, đặt ra vào giữa thế kỷ 19, dựa vào các môn vật Ai cập, Hy lạp, Thổ nhĩ kỳ. Môn vật Hy La được ghi thi đấu trong thế vận hội, và cũng chia thành nhiều loại nặng nhẹ như quyền Anh.

(2) Dusit Throne Hall.

(3) Temple of the Emerald Buddha.

(4) bạn có dự cuộc đua diều thì mới cảm thấy cái rí rỏm của người Thái, cũng rí rỏm như môn thể thao “gối tình” của Nhật (đã được tả trong Gián điệp Hoa Quỳnh, đã xuất bản ).

IV – Đêm Dài Nhất Ở Vọng Các

Ngồi trước cabin, Rôsita bâng khuâng ngắm suối tóc dài đen mượt xõa xuống dưới ngực, tủm tỉm cười 1 mình. Nàng tự biết mình đẹp. Thời gian trôi qua vẫn không làm nàng già đi, trái lại, từ ngày lấy chồng nàng bỗng trẻ lại, nhan sắc kiều diễm của nàng trở thành trái chín mọng nước, lủng lẳng trên cây 1 ngày nóng bức, làm mọi người đàn ông đi qua phải rệu nước miếng. Tuy ngày nào cũng tắm nắng trên boong tàu, da thịt nàng vẫn trắng muốt. Có lẽ vì nàng lai Tây ban nha. Gái lai thường đẹp. Lai Tây ban nha lại đẹp hơn lai giống khác. Vì người Tây ban nha có làn da trắng, sống mũi cao, cặp mắt đa tình nhất trời tây rất hợp với bờ vai tròn, đôi chân dài, và tâm hồn luôn luôn mơ mộng của người Phi luật tân.

Trước khi mặc áo, Rôsita cởi ra, ngắm trong gương lần nữa. Nàng vẫn có thói quen ngắm gương như vậy trước khi mở cửa phòng ra ngoài. Thói quen này, nàng có từ thời con gái, thời nàng còn là điều dưỡng viên tại bệnh viện Trung ương Mani, và là nữ điệp viên đắc lực của Sở Phản gián. Cũng như hồi còn con gái, trong người nàng thích mặc bikini màu trắng. Nàng nhớ buổi đầu tiên gặp Văn Bình, nàng cũng ngồi ngắm gương, kiêu hãnh trước sắc đẹp cân đối trời cho, và nàng cũng mặc bikini màu trắng. Buổi đầu tiên, xiết chặt chàng vào cơ thể nàng, mạch máu và các đường gân nàng đều chạy rần rật. Nhưng rồi chàng lại chạy theo người đàn bà khác. Luz (1).

Nàng đinh ninh quên được chàng, ngờ đâu nàng thấy càng xa càng nhớ.

Để rồi định mạng lại run rủi cho 2 người tái ngộ.

Rôsita vuôn vai đứng dậy. Nàng mặc áo dài trắng, may theo kiểu Phi, vai vuông, viền đăng ten. Cái áo này là 1 kỳ công của kỹ nghệ thời trang Phi, vì gấu nó thật cao như mini-jupe, và cổ áo được khoét sâu gần như ngực không mặc áo. Nhờ gấu áo thật cao, nàng đã có thể triển lãm được cặp giò thuôn thuôn, không chút mỡ thừa, không 1 vết tàn nhang hoặc thẹo nhỏ. Cổ chữ V rộng kinh khủng trên áo đã giúp nàng biểu diễn bộ ngực núi lửa, bộ ngực có thể đốt cháy rừng rậm băng tuyết Tây bá lợi á.

Rôsita nhìn đồng hồ tay.

Nàng dặn Văn Bình trở về du thuyền trước khi tối để đưa nàng lên thành phố. Nàng biết chàng có nhiều công việc, và là công việc tối mật, tối hệ, liên quan đến vận mạng hàng triệu người, song chàng vẫn dành thời giờ giải trí. Đêm thứ nhất này ở Vọng các, chàng đã dành riêng cho nàng. Đúng hơn, cho thần Tình ái. Chàng sẽ đưa nàng vào các hộp đêm, 2 người sẽ ăn món Mễ tây cơ tại Nipa Hut, tiệm ăn Mễ tây cơ ngon tuyệt trần, và độc đáo nhất trong khu Bangkapi: hai người sẽ ôm nhau nhảy dưới ánh đèn mờ như ánh trăng của khiêu vũ trường ngàn một đêm lẻ Alađin ở đường Patpong. Gần sáng, nàng mới chịu về khách sạn. Nàng sẽ ngủ luôn 1 giấc dài đến trưa mai. Rồi nàng sẽ sửa soạn, tận hưởng đêm thần tiên thứ hai trên đất Thái. Vì cả đêm thứ hai cũng được Văn Bình hứa dành riêng cho nàng. Và chàng sẽ đưa nàng tới tiệm ăn nổi Kinaree Nava, tiệm ăn nổi duy nhất của thủ đô Vọng các, trong công viên Lumpini. Thực đơn Tàu và Thái ở đó, theo lời Văn Bình, sẽ không làm nàng chán. Nàng không thể chán vì sàn nhảy ở đó được trình bày rất đẹp. Nàng lại được thưởng thức âm nhạc kích động của 1 dàn nhạc nổi tiếng Phi luật tân … dàn nhạc quê hương.

Rôsita lại nhìn đồng hồ rồi lẩm bẩm:

-Quái lạ! Tối rồi mà anh ấy vẫn chưa về!

Nàng bấm chuông gọi thuyền trưởng. Đúng 1 phút sau, thuyền trưởng đã tới cửa cabin. Dường như đoán được ý nghĩ của nữ chủ nhân, thuyền tưởng nói ngay:

-Thưa bà, tôi đã cho mở đèn sáng để ông Văn Bình nhận ra tàu dễ dàng. Vả lại, trời đang còn sáng. Độ nửa giờ nữa mới tối.

Rôsita hỏi, giọng lo lắng:

-Có thể lạc đường được không, ông Davak?

Thuyền trưởng Davak mỉm cười:

-Thưa bà, người quê mùa chưa đến đất Thái lần nào như tôi cũng khó thể lạc đường, huống hồ ông Văn Bình. Tôi nghe nói ông Văn Bình ghé Vọng các lần này là lần thứ mấy chục. Ông ấy quen Vọng các còn hơn bà quen Mani nữa.

-Không hiểu sao tôi nóng ruột lắm, ông à!

-Thưa bà, phụ nữ bao giờ cũng vậy. Trong khi chờ ai, phụ nữ vẫn nóng ruột.

-Không phải thế. Tôi có … giác quan thứ sáu khá chính xác. Tôi linh tính là Văn Bình gặp chuyện nguy hiểm. Tôi sợ lắm. Dầu ông là nhân viên của chồng tôi, ông vẫn …

-Thưa bà, tôi đã nhận ông Văn Bình làm ân nhân và thầy võ. Dân giang hồ chúng tôi rất trọng tình sư đệ. Tôi có bổn phận phải giúp đỡ bà dẫu rằng mai kia về quê hương, tôi chắc chắn sẽ mất việc. Nếu bà muốn, tôi xin lên bờ để tìm ông.

Mắt Rôsita vụt sáng:

-Phải đấy, ông lấy canô đi tìm thử coi.

Thuyền trưởng cúi chào rồi lên boong. Còn lại 1 mình trong cabin trống trải, Rôsita ngồi phịch xuống cút sét, mân mê vạt áo dài trắng, cái áo dài nàng mặc cho chàng chiêm ngưỡng, cái áo dài mà chàng khen đẹp, tôn cao đường cong cân đối của nàng. Nàng nhớ chàng lạ lùng. Nhớ chàng quay quất tưởng như có thể chết được. Rồi như đứa trẻ nhớ mẹ, nàng ôm mặt khóc sùi sụt. Khóc được 1 lát, sực nghĩ ra nàng đứng dậy, mắt ráo hoảnh, miệng mím lại trong sự tức giận:

-Thôi phải rồi … Văn Bình không về vì còn bận thăm viếng người yêu cũ. Hừ, đi tới đâu, con bướm cũng la cà hút nhị. Mình không thể tha thứ được. Văn Bình … Văn Bình … anh là người đàn ông phụ bạc. Em phải giết chết người đàn bà dám yêu Văn Bình của em.

Rồi nàng thét lớn:

-Văn Bình, trời ơi! Em yêu anh đứt ruột, anh biết không?

Một tiếng nói cụt lủn, vẳng lên sau lưng:

-Biết.

Rôsita hoảng hồn quay lại. Tuy đang xúc cảm tột độ, nàng vẫn còn đủ trí sáng suốt để biết rằng người lạ không phải là Văn Bình. Người đàn ông vừa cất 1 tiếng cộc lốc, cũng không phải là kẻ xa lạ đối với nàng. Nàng đã nghe giọng nói ngọt ngào mà cương quyết, dịu dàng mà dấm dẳn đặc biệt này hằng ngày, hồi nàng còn sống trong lầu son gác tía ở Mani, trong sự nuông chiều độc nhất vô nhị của người chồng ngũ tuần tỉ phú và hào hoa phong nhã. Giọng nói ấy là của chồng nàng. Người chồng đại doanh gia mà Rôsita đinh ninh là đang tối mắt tối mũi về công chuyện làm ăn tại Tây bán cầu. Nàng buột miệng:

-Anh Pelam! Trời ơi!

Pelam là tên chồng nàng. Đúng ra phải gọi là Pelambangkitô, 1 cái tên dài giằng dặc, như những con số dê rô phía sau tấm séc mà người đàn ông gần 50 tuổi ấy đã ký tặng nàng làm của hồi môn. Pelam, phải, người đứng trước mặt nàng, trên ngưỡng cửa cabin du thuyền Thiên thần, đang neo trên giòng sông Chao Phya của đất Thái xa xôi đích thị là Pelam.

Vẻ mã thượng thường ngày của Pelam biến đâu mất. Khuôn mặt bầu bĩnh của hắn toát ra sự lạnh lùng ghê gớm, sự lạnh lùng có thể biến ngoại vật thành tảng băng. Chạm phải nhỡn tuyến của chồng, Rôsita run rẩy. Nàng run không phải vì sợ. Dầu là phụ nữ, nàng ít khi biết sợ. Nàng run mà không hiểu tại sao lại run. Trời chiều trên sông Chao Phya chưa tan hết hơi nắng ban trưa, gió biển mát rợi từ phía nam thổi tới chỉ làm giảm được phần nào sức nóng oi ả. Vậy mà Rôsita lại có cảm giác là du thuyền Thiên thần đang đi ở Bắc cực.

Pelam từ từ bước lại phía vợ, hôn nhẹ lên trán. Hắn thường hôn nhẹ lên trán mỗi buổi sáng nàng tỉnh giấc, hoặc mỗi buổi chiều nàng về phòng riêng. Năm khi mười họa, hắn mới hôn môi nàng. Tuy vậy, mỗi khi hắn ôm nàng vào lòng, thân thể hắn đã tỏa ra những luồng điện nồng cháy chỉ ở thanh niên 25 tuổi mới có. Cái hôn trên trán hôm nay cũng lạnh ngắt. Rôsita rùng mình. Pelam dìu nàng xuống cút sét:

-Em mệt ư?

Rôsita không đáp mà chỉ trân trân nhìn chồng. Xưa nay, hắn không bao giờ có thái độ kỳ quặc như thế. Nàng định hỏi chồng « Pelam, tại sao anh nói với em là anh qua Nam Mỹ mà lại có mặt ở Vọng các? Pelam, tại sao anh lại biết em neo thuyền ở đây mà đến gặp? Pelam, tại sao anh lại nhìn em bằng cặp mắt quái gở? Pelam, …? Pelam, …? ». Song nàng chẳng nói gì hết.

Pelam lẳng lặng ngồi xuống 1 bên. Như thường lệ, hắn hút xì gà Havan, xì gà của hắn thuộc loại đặc biệt, hút thơm kinh khủng, song nàng không ưa. Nàng bảo mùi xì gà làm hôi miệng. Hắn muốn vào phòng, hoặc muốn gặp nàng thì phải đánh răng, xúc miệng cẩn thận, và ném điếu xì gà ngoài cửa. Hắn mê xì gà không kém mê đàn bà tuyệt sắc, nhưng đã sẵn sàng tuân theo đòi hỏi của nàng. Vậy mà hôm nay Pelam vẫn nghênh ngang rón điếu xì gà lớn bằng thỏi xúc xích trong tay. Và dường nhưng để trêu ngươi, hắn còn nâng xì gà lên môi, trịnh trọng rít 1 hơi dài, thở khói khắp cabin như ống khói xe hỏa. Hút xong, hắn đặt bàn tay lên vai nàng, giọng êm ái ( 1 sự êm ái đầy chết chóc ):

-Người yêu của mình chưa về ư?

Rõ ràng là Pelam châm ngòi tấn công. Nhưng Rôsita đã lấy lại bình tĩnh. Có lẽ là vì Pelam dại dột, nhắc đến tên Văn Bình. Nàng yêu chàng, yêu chàng say sưa, yêu chàng hơn cả yêu chính bản thân nàng nữa nên lời nói của Pelam không làm nàng nao núng. Trái lại, nàng lại tăng thêm vẻ lì lợm. Nàng ngước nhìn chồng, giọng ráo hoảnh:

-Trước khi lên đường, em đã gọi điện thoại về xin phép anh, nhưng anh đi vắng.

-Phải, khi ấy tôi đi vắng.

-Vả lại, trước ngày về làm vợ anh, em đã giao điều kiện. Anh cũng đã thỏa thuận.

-Phải, mình đã tâm tình với anh là không bỏ được Văn Bình. Và anh nói là anh không cấm đoán em, miễn hồ em kín đáo. Muốn hẹn hò với người yêu, em nên xuống du thuyền, đi khỏi Mani.

-Vâng, em đã nghe lời anh. Em đã đi khỏi Mani. Tại sao anh lại giận em?

Pelam phá lên cười. Tiếng cười rùng rợn như tiếng cười của lão phù thủy vừa trị ếm được con ma độc địa. Rôsita tỏ vẻ khó chịu:

-Tại sao anh cười?

Pelam khoát tay:

-Anh cười vì thấy em ngu quá. Em quá ngu. Trên đời, không có thằng đàn ông nào lại nhắm mắt cho vợ đi ngủ với người khác, dẫu thằng đàn ông này đã gần 50 như anh, không còn đủ bản lãnh và sức lực để thỏa mãn đòi hỏi của cô vợ trẻ sung mãn và tham lam …

-Em rất ghét đàn ông nói tục.

-Dĩ nhiên, vì lòng em, tay chân em, da thịt em đang đầy ngập hơi hướng của thằng đàn ông khỏe mạnh, đẹp trai, và tài giỏi.

-Anh không có quyền nói xấu kẻ vắng mặt.

-Có quyền. Có quyền tuyệt đối, em biết không? Vì trên giấy tờ anh được luật pháp công nhận: anh là chồng em.

Rôsita sẵng giọng:

-Nội đêm nay, em sẽ đánh điện cho luật sư, đưa đơn xin ra tòa ly dị.

Pelam vẫn cười, tiếng cười mỗi lúc 1 thêm rùng rợn:

-Ly dị hả? Em muốn làm gì, tha hồ. Nhưng phút này đây, lát nữa đây, và đêm nay, ngày mai, em vẫn còn là vợ anh.

-Tôi sẽ từ giã tàu này ngay bây giờ.

-Dễ quá nhỉ?

-Anh không được quyền vũ phu với đàn bà.

-Được quyền …, được quyền … khi nào cô cũng danh từ rỗng tuếch ấy. Tôi nhắc lại lần nữa: tôi có quyền. Bằng chứng là lát nữa tôi sẽ giết thằng nhân tình thô bỉ của cô.

Rôsita vụt đứng dậy như bị ong châm vào thịt:

-Anh nói thật hay nói đùa?

Pelam gật gù:

-Đàn ông ngũ tuần ít khi nói đùa.

Rôsita giọng cương quyết:

-Vậy từ phút này đây, tôi và anh không còn liên hệ tình cảm gì với nhau nữa. Chào anh, tôi đi đây.

Nàng bước nhanh ra cửa cabin, song Pelam đã bước theo, nắm áo nàng, giật lại. Trong cơn níu kéo hoảng hốt, cái áo bằng ni lông mà nàng may với giá 1.000 pêsô, bị rách toạc. Giận dữ, nàng xô chồng ra. Nhưng Pelam đã khóa tay nàng, đẩy ngã xuống cút sét. Bản năng người nữ điệp viên thành thạo quyền thuật thức dậy trong lòng Rôsita. Không kịp suy nghĩ Pelam là chồng nàng, Rôsita dùng 1 thế phản đòn tuyệt kỹ của nhu đạo để quật Pelam ngã theo. Bị vợ đánh trả, Pelam không tỏ vẻ ngạc nhiên. Người ngạc nhiên là Rôsita vì khi bước về nhà chồng, nàng đinh ninh Pelam chỉ là tỉ phú, quanh năm ngụp lặn trong tiền bạc, không hề biết đến võ nghệ. Nàng không ngờ hắn lại tránh đỡ và phản công nhanh như tên bắn, và bay bướm như 1 võ sĩ dày công luyện tập.

Rôsita tưởng hắn trượt chân té xuống. Nàng không ngờ hắn vẫn đứng vững như bàn thạch, còn nàng thì nằm sóng soài trên nền tàu. Tuy bị đau ê ẩm, nàng vẫn lóp ngóp bò dậy, giọng đứt quãng:

-Té ra … anh giỏi võ!

Hắn rít hơi xì gà, cử chỉ khinh bạc:

-Phải, mãi đến bây giờ cô mới biết ư? Thật tội nghiệp cô, vì cô chỉ biết 1 phần đời của người chồng hờ. Những chuyện xảy ra từ trước đến nay giữa cô và tôi chỉ là giả tạo, thằng Pelam không phải là chủ hãng kinh doanh chân chỉ hạt bột, mà là 1 tay giang hồ … Đúng hơn, 1 ông trùm buôn đồ quốc cấm. Từ trước đến nay, tôi ngậm miệng, mặc cô tha hồ tung hoành, vì cô chưa đụng chạm tới quyền lợi của tôi. Nhưng giờ đây, tôi phải xuống tay hành động. Tôi không tha thứ cô được nữa, vì cô toa rập với thằng chó săn Văn Bình để phá hoại công cuộc làm ăn của tôi.

-Ông không được hỗn.

-Hừ, mặt nạ của cả cô lẫn tôi đều rớt xuống rồi. Cô là con điếm, còn tôi là đứa ăn cướp. Người tám lạng, kẻ nửa cân. Mạng của cô chỉ là trò đùa đối với tôi. Khi cần, tôi chỉ phất tay áo là cô sẽ chết bẹp như con ruồi dưới gót giày vậy. Cô phải nói thật thì mới còn hy vọng sống: Văn Bình đã biết những gì về tôi, và về Dixon?

Rôsita đưa bàn tay lên dụi mắt. Nàng nghe rõ từng tiếng một của Pelam song vẫn tưởng là lầm. Pelam vừa nhắc đến Dixon, người mà Văn Bình rượt theo từ nhiều ngày trên mặt biển. Chồng nàng dính líu đến hoạt động của Dixon ư?

Nàng hỏi lại:

-Anh muốn tôi nói thật, nhưng nói thật về chuyện gì?

Pelam nghiến răng:

-Về chuyến đi hiện tại của đại tá Văn Bình. Tôi là bạn của Dixon. Chắc chắn người yêu của cô đã nói cho cô biết Dixon là ai.

Rôsita im lặng. Thì ra Văn Bình bị lụy vì nàng. Nếu nàng không nằng nặc đòi Văn Bình mang nàng theo kỳ được thì đâu đến nỗi. Pelam đã lợi dụng nàng mà nàng không biết. Pelam lại nói:

-Tôi không thể chờ lâu hơn nữa. Yêu cầu cô thuật lại đầy đủ và thẳng thắn. Dầu sao cô cũng là người đẹp lừng lẫy ở Phi luật tân. Tôi vốn nhẹ tay với đàn bà, cô đừng buộc tôi phải trở thành vũ phu.

-Anh đánh tôi?

-Nếu cô ngoan cố thì miễn cưỡng tôi phải dùng võ lực.

-Nghĩa là giữa anh và tôi, tình vợ chồng đã hết? Chúng ta đã biến thành kẻ thù.

-Trời ơi, cô cũng nhắc đến tình vợ chồng nữa ư? Từ ngày cô là vợ tôi đến giờ, cô đã yêu tôi khi nào đâu. Chẳng qua cô ham số tiền hồi môn khổng lồ. Cô nhận lời làm vợ tôi, nhưng lòng cô, thân thể cô lại hoàn toàn thuộc về người khác. Phải, cô nói đúng, tình vợ chồng giữa tôi và cô đã hết. Bắt đầu hết từ hôm nay …

Rôsita thở dài:

-Văn Bình chỉ cho tôi biết phần nào về Dixon. Không phải Văn Bình giấu tôi, nếu tôi hỏi, chắc chắn chàng sẽ nói. Song tôi không hỏi.

Pelam nghiến răng:

-Cô nói dối.

-Anh dùng lời lẽ nặng làm gì? Hẳn anh còn nhớ tôi là nữ nhân viên Sở Phản gián Phi luật tân hồi nọ. Tôi đã quen với sự dọa nạt. Về vụ Dixon, thú thật với anh là tôi không biết. Nhưng nếu tôi biết rõ, tôi cũng không nói vì tôi chẳng dại gì cho kẻ thù biết đầy đủ chi tiết để đề phòng.

Pelam tiến lên, vung bàn tay xù xì ra, giọng dữ tợn:

-Tôi cho cô suy nghĩ 3 phút. Đúng 3 phút, không được thêm 1 giây đồng hồ nào. Sau 3 phút, cô phải trả lời, bằng không …

-Anh giở trò du côn ra bây giờ đi, còn đợi gì nữa. Vả lại, tình vợ chồng đã hết, chúng ta có thể thù tiếp nhau bằng quyền thuật được rồi.

Nàng bước tréo sang bên để thủ thế.

Pelam « á » 1 tiếng ra vẻ khinh miệt, rồi đập bàn tay xòe rộng xuống đầu nàng. Hồi còn phục vụ trong ngành điệp báo, Rôsita đã thành thạo về cận chiến. Từ ngày gặp Văn Bình, nàng học thêm được nhiều thế võ lợi hại. Vì vậy, nàng không tỏ ra sợ sệt hoặc hoảng hốt trước phép đánh karatê đặc biệt của Pelam. Có lẽ hắn cũng biết nàng giỏi võ nên ngay từ phút lâm trận đầu tiên, hắn đã dùng độc thủ. Nhanh như cắt, nàng luồn qua nách hắn để tránh đòn, đồng thời nàng phát đòn, đánh trả vào gáy Pelam. Tuy đã lớn tuổi, Pelam vẫn không mất sự dẻo dai, mềm mại và mạnh mẽ của tuổi thanh niên. Nàng lẻn ra sau lưng hắn theo bí thuật Ninjitsu do Văn Bình truyền dạy. Hắn cũng tài giỏi không kém trong 1 thế quay người 1 vòng, tay và chân hắn cùng phóng ra 1 lượt. Rôsita vội vàng né tránh, nhưng sự lẹ làng của nàng còn thua sự lẹ làng của võ sĩ giang hồ, dầy dạn kinh nghiệm trận mạc như Pelam. Nàng trúng đòn vào bả vai, loạng choạng 1 giây rồi ngã chúi xuống sàn tàu.

Pelam cúi xuống, quật 2 cánh tay của nàng ra sau lưng rồi lấy dây dù trói lại. Hai chân nàng cũng bị trói còng queo. Hắn đứng nhìn nàng bằng vẻ mặt khoan khoái. Nàng nhổ nước miếng để biểu lộ sự ghê tởm. Pelam cười khanh khách:

-Cô định khinh tôi ư? Muộn rồi, cô ạ. Vả lại, tôi không cần. Tôi yêu cô thật đấy, nhưng vì an ninh bản thân, vì an ninh chung của tổ chức bắt buộc tôi phải xử tệ với cô. Cô đừng giận nhé! Và nếu tôi có phải ném cô xuống sông Chao Phya cho cá ăn thịt thì chẳng qua cũng vì hoàn cảnh đòi hỏi.

Rôsita cúi gằm mặt. Nàng không thèm nhìn hắn nữa. Hắn cạn tàu ráo máng như vậy mà hay, vì nàng vẫn mong bị hắn ruồng rẫy để có thể tự do dành cuộc sống của nàng cho Văn Bình. Sự kết hôn với Pelam là 1 lầm lẫn tai hại. Nàng lấy hắn vì kính phục cử chỉ hào hoa của hắn. Nàng không ngờ đó chỉ là màn kịch. Nàng đinh ninh sản nghiệp khổng lồ của chồng sẽ giúp nàng mau quên được dĩ vãng. Đến khi bước lên xe hoa, nàng mới biết rằng cho tới tuổi già nàng vẫn không quên được dĩ vãng. Cho tới ngày thở hơi cuối cùng, nàng vẫn không quên được Văn Bình.

Pelam nhìn nàng 1 cách thản nhiên mặc dù nàng bị trói gô trên sàn tàu, giây ni lông cứa sâu vào da thịt. Tóc nàng xõa ra làm nổi bật gương mặt trái soan, có đôi mắt đen láy và cặp môi hình trái tim, không cần tô son cũng đỏ. Trong khi giằng kéo với Pelam, Rôsita đã bị rách gần hết cái áo trắng viền đăng ten. Nàng diện cái áo hợp thời trang tây phương này là để chờ Văn Bình. Giờ đây nó đã đứt tung, phần trên tuột xuống để lộ đồ lót mỏng dính và làn da trắng muốt phía sau.

Trước khi ra ngoài, Pelam đứng sững 1 phút. Hắn vừa nhìn thấy bộ ngực tròn trịa và ngon lành của nàng. Tuy là chồng nàng, chưa bao giờ hắn được ngắm nghía nàng tự do và thỏa thích cơ thể trắng trẻo ngồn ngộn của nàng. Nàng thường nói là sợ ánh đèn. Nàng thường viện cớ xấu hổ để đòi hắn tắt đèn, dẫu 1 ngọn đèn đêm 5 nến lù mù để ở đầu giường nàng cũng không ưa. Khi ấy hắn tưởng nàng sợ ánh đèn thật sự. Giờ đây, hắn mới hiểu được bề sâu thầm kín của nàng.

Pelam vội ngoảnh đi chỗ khác. Chần chừ thêm 1 vài giây nữa, hắn sẽ phải mềm lòng. Trong thâm tâm hắn vẫn yêu nàng. Dường như nàng nghe được tiếng đập rộn ràng của trái tim hắn, trái tim nổi tiếng là cứng rắn như kim khí, song nhiều khi cũng mềm nhũn như bông gòn. Nàng ngửng phắt đầu lên, vươn bộ ngực căng tròn ngồn ngộn ra. Mắt nàng, miệng nàng là hiện thân của sự thách thức và lôi cuốn. Pelam luống cuống, cái quẹt máy đã cháy lửa gần kề điếu xì gà mà hắn lại vụng về để tắt. Hắn định châm lửa lần nữa. Và lần này lửa cũng tắt trước khi lửa bén vào đầu điếu xì gà.

Pelam nhăn mặt ném điếu thuốc xuống đất. Giọng hắn rít lên ghê rợn:

-Hừ, cô Rôsita, cô định quyến rũ tôi!

Vốn bình tĩnh mà từ nãy đến giờ, từ khi rời công viên Phramane để về tàu Thiên thần, bỏ neo trên sông Chao Phya, Văn Bình lại lầm bầm luôn miệng. Nói gì, chàng cũng không biết. Tự nhiên, chàng nói 1 mình. Cách 1 vài phút, chàng lại phóng tầm mắt về phía nam thành phố, mặt lo lắng:

-Không khéo chậm mất!

Taxi Vọng các chạy len lỏi trên đường phố đông nghẹt liều mạng không kém taxi Đông kinh, vậy mà Văn Bình vẫn thấy tài xế quá thận trọng. Chàng nện gót giày xuống sàn xe:

-Mau lên. Mau lên.

Tài xế quay lại:

-Ông cần gì ạ?

Chàng quát:

-Mau lên.

-Thưa, thế này là quá lắm rồi. Ngày thường, không bao giờ tôi dám chạy ẩu như vậy. Giờ này là giờ kẹt xe.

Không hiểu sao, Văn Bình lại buông ra 1 lời phê bình kém khôn ngoan:

-Anh lái xe dở ẹc.

Tài xế, 1 người Thái trung niên, da bánh mật, lông mày sâu róm, gân cổ nổi cuồn cuộn như cây đũa, bắp thịt căng phồng sau cái áo thun bằng hàng băn lông màu đen, hơi nhăn mặt khi nghe Văn Bình chê bai. Người Thái vốn nóng tính như lửa, nên hắn đáp lễ liền, không suy nghĩ, cũng như không chút nể nang:

-Ông đừng nói xạo. Tôi là 1 trong những tài xế lái giỏi nhất Vọng các. Ông muốn nhanh hơn thì tìm xe khác.

Biết mình lỡ lời, chàng bèn đấu dịu:

-Tôi nói chơi đấy. Anh giận tôi làm gì?

Chàng đinh ninh gã tài xế sẽ dịu giọng trước vẻ mặt làm lành của chàng, song hắn lại làm già hơn trước:

-Thằng này không thích nói đùa.

Hắn thắng gấp, bố thắng kêu ken két. Chiếc taxi lạng sang phải rồi lạng sang trái trước khi chịu đứng lại. Phía sau, hàng chục tiếng chửi rủa vang lên, tiếp theo tiếng thắng ren rét dài bất tận. Quả hắn là tay lái xe ẩu có hạng. Hắn vào lề mà không thèm mở đèn hiệu, không thèm giơ tay. Lẽ ra Văn Bình không nên chỉ trích hắn. Chàng vội cười ruồi:

-Ơ kìa, tại sao anh đậu lại?

Hắn rút cái khăn lông vắt trên ghế ra lau trán:

-Mời ông xuống.

-Dầu sao tôi cũng đi được nửa đường rồi. Tôi lại đang có việc gấp. Lại còn vấn đề tiền xe …

-Không sao, tôi biếu ông.

Văn Bình bắt đầu nổi xung. Ngữ này chỉ nghe tiếng gió của cú atémi cũng đủ bất tỉnh, chứ đừng nói thật sự ăn đòn nữa. Song võ thuật của chàng được dành cho đại sự, không thể lúc nào cũng đem ra phô trương, nhất là để thỏa mãn sở thích cá nhân. Chàng bèn xuống nước:

-Thôi, tôi xin lỗi anh.

Trong đời, ít khi hoặc không bao giờ Văn Bình chịu xin lỗi mặc dù chàng là con người phục thiện. Nhưng lần này chàng đành phải bấm bụng xin lỗi người tài xế taxi Thái. Chàng lầm tưởng lời xin lỗi sẽ làm hắn nguôi giận. Trái lại, hắn lại hầm hầm nét mặt và văng tục ầm ỹ. Chàng quắc mắt ra lệnh:

-Im ngay. Im ngay đi. Nếu không, đừng trách.

Hắn rú lên cười sằng sặc:

-Im đi … im ngay đi. Anh chắc mẩm ăn gỏi được tôi, phải không? Còn lâu. Thằng này đã lưu lạc cả chục năm trong cõi giang hồ rồi mới quay về Vọng các làm nghề lái xe cho thiên hạ. Tử tế thì tử tế lại, còn như …

-Thì tôi vẫn luôn luôn tử tế với anh. Lúc lên xe, anh đòi bao nhiêu, tôi bằng lòng trả bấy nhiêu. Hơn thế nữa, tôi lại bằng lòng trả gấp 3, với điều kiện anh chạy nhanh hơn thường lệ. Anh lại đòi trả hết tiền bồi thường nếu xe bị đụng, tôi cũng bằng lòng ngay, không bàn cãi, hoặc kỳ kèo. Theo anh, như thế nào mới là tử tế?

-Tử tế nghĩa là anh phải bước khỏi xe tôi.

Biết nán lại không được, Văn Bình đành mở cửa xe. Đã chậm thì chậm luôn thể. Song chàng mới rờ quả nắm cửa thì gã tài xế thét lớn:

-Ai cho phép anh mở?

Gã tài xế điên chăng? Nếu không điên, hắn phải là kẻ ăn sương chuyên nghiệp đội lốt tài xế. Loại người này không phải không có ở 1 thành phố đầy kẻ tứ chiếng giang hồ như Vọng các. Văn Bình đã xuống nước cùng cực, không thể xuống nước thêm nữa. Nghĩ vậy, chàng cứ tiếp tục mở cửa. Hắn cản tay chàng lại:

-Ô hay, anh định quịt tiền xe hả?

Thật rầy rà! Văn Bình đến đất Thái, đất có nhiều chùa chiền và sư sãi, đất của đạo Phật từ bi hỉ xả, nên chỉ muốn dĩ hòa vi quý, không ngờ lại phải biểu diễn quyền cước. Tuy nhiên, chàng cố dằn lòng bằng giọng nói ngọt ngào:

-Anh đòi bao nhiêu, tôi sẽ trả đủ.

Hắn phì bọt mép, hơi men nồng nặc:

-Tùy anh, anh muốn trả bao nhiêu cũng được.

Mới đầu, Văn Bình tưởng hắn say rượu, nhưng khi quan sát tròng mắt và gan bàn tay, chàng biết hắn đang tỉnh. Có lẽ hắn cũng là bợm rượu như chàng. Dân uống rượu như hũ chìm trên thế giới không lấy gì làm đông nên Văn Bình càng có thêm lý do để nhân nhượng tột bực. Nhưng gã tài xế không muốn nhân nhượng, mà chỉ muốn khiêu khích. Văn Bình rút bóp phơi, chìa ra tờ bạc trăm. Một trăm bath, vị chi 5 đôla Mỹ. Không ai trả 1 cuốc xe ngắn tới một trăm. Chàng tin chắc gã tài xế sẽ toét miệng cười khoái trá khi thấy tờ bạc mới toanh, kêu loạt soạt trong tay chàng. Một lần nữa, chàng lại lầm. Không những hắn không cười, hắn còn dề môi:

-Một trăm hả?

Văn Bình gật đầu:

-Một trăm chưa đủ ư?

-Tùy anh đấy. Một trăm cũng được. Nhưng nếu tôi là anh thì tôi sẽ không quá kẹo như vậy.

-Hừ, tôi đã trả gấp 4, gấp 5 giá tiền phải trả.

-Danh dự con người không thể nào đo bằng tiền. Anh trả gấp 100 lần cũng còn thiếu. Lẽ ra tôi tước hết đồng hồ vàng, bút máy vàng trên người anh, và lấy luôn giấy tờ căn cước quăng xuống sông Chao Phya cho bõ ghét. May cho anh, hôm nay tôi còn chút nhân đạo trong máu nên tôi chỉ đòi bồi thường tượng trưng.

-Theo anh, tượng trưng là bao nhiêu?

-Là cả cái bóp phơi của anh.

Bóp phơi của Văn Bình đựng trên 2.000 đôla. Hai ngàn chứ nhiều hơn nữa chàng cũng không tiếc, song chàng không thể nhân nhượng đến mức bị 1 tên du đãng miệt thị. Chàng phải cho hắn 1 bài học để lần sau hắn không dám xớ rớ, chấn lột du khách nữa. Chàng bèn lặng lẽ đút cái ví vào túi quần sau. Gã tài xế nhoài người tóm lấy cánh tay chàng. Chàng giật nhẹ tay hắn làm hắn ngã dúi xuống băng xe. Hắn nhỏm dậy với lưỡi dao nhọn hoắt trong tay. Nhưng mũi dao chưa kịp đâm tới thì Văn Bình đã chặn bắt, và bẻ cặp ngón tay cái của hắn nghe rắc 1 tiếng khô khan. Gã tài xế thét lên, mặt tái mét. Văn Bình bồi thêm cái tát trời giáng vào má. Lần này, hắn vập mặt vào táp lô xe hơi rồi nằm lịm luôn.

Chàng kéo hắn dậy, dựa hắn ngồi ngay ngắn vào ghế, rồi ấn đề ma rơ cho xe chạy. Khi Văn Bình đậu xe, tắt máy, nạn nhân mới tỉnh. Hắn nhìn Văn Bình bằng cặp mắt hiền khô, tưởng như trong cuộc đời hắn chưa khi nào biết nói nặng. Chàng vỗ nhẹ vai hắn rồi bước xuống xe.

Trời đã tối mịt.

Con đò quen thuộc đưa chàng xuôi giòng sông Chao Phya đến chỗ du thuyền Thiên Thần buông neo. Càng tới gần tàu, Văn Bình càng cảm thấy nhột nhạt bao tử. Giác quan thứ 6 đang ngầm báo chàng biết là tai nạn sắp xảy ra. Tuy nhiên, như chiếc xe hỏng thắng ở lưng chừng giốc, Văn Bình không thể ngừng lại được nữa. Mối tình nồng thắm với Rôsita giục chàng nhắm mặt tiến tới, bất chấp nguy hiểm. Quang cảnh du thuyền vẫn phẳng lặng, không thay đổi, y như hồi chiều. Đèn trên boong sáng quắc, thủy thủ tì tay vào lan can nhìn chung quanh, dáng điệu nhàn nhã. Văn Bình cười thầm:

-Mình chỉ hay báo động hoảng!

Gã thủy thủ đứng gác bên cầu thang gật đầu chào chàng. Chàng vẫy bàn tay chào trả rồi chạy như bay xuống cabin. Chàng hẹn về sớm. Như thế này là đã muộn. Có lẽ vì muộn vì chàng không giữ lời hứa nên Rôsita hờn mát, rút vào cabin nằm 1 mình. Chàng sửa soạn nụ cười thật tươi để tạ lỗi. Xưa nay, chưa người đàn bà nào cưỡng lại được nụ cười xí xóa xin bớt giận làm lành tuyệt diệu của chàng.

Lối đi vào cabin vắng tanh. Thủy thủ đã lên bộ. Số còn lại đang hóng mát trên boong. Hồi nãy, trước khi rời tàu, chàng hỏi viên thuyền trưởng thì được biết là y ở lại để điều khiển việc canh phòng. Tuy nhiên, nếu Văn Bình chịu khó tìm tòi 1 lát thì sẽ khám phá ra dấu vết khả nghi, và chàng sẽ giữ cẩn thận hơn nữa chứ không ngây thơ đút đầu vào cạm bẫy của Pelam, chồng hờ của Rôsita, tỉ phú Phi luật tân, bạn cùng chí hướng với trùm buôn lậu quốc tế Dixon.

Cửa cabin hé mở. Văn Bình hấp tấp đẩy vào, miệng kêu liên tục:

-Rôsita!

Không nghe nàng lên tiếng, chàng càng gọi lớn hơn, giọng tha thiết:

-Rôsita, anh đây mà! Em đâu rồi? Anh làm gì đâu mà em giận? Mặc quần áo xong chưa? Trên bộ vui như tết, Rôsita ạ! Em trốn ở đâu kỹ thế?

Trong cabin chỉ có 1 ngọn đèn lờ mờ.

Nhưng dầu ánh sáng lờ mờ, Văn Bình cũng nhận ra Rôsita bằng xương bằng thịt đang nằm còng queo trên nền tàu, chân bị trói gô, miệng nhét đầy giẻ. Thấy người yêu, Rôsita cố gắng quẫy mình song thân thể đau rừ nên nàng đành nằm ép 1 chỗ. Nàng rán kêu cũng không được. Pelam là tay thiện nghệ, chỉ cần 1 cái mù soa nhỏ tọng vào cuống họng cũng đủ bắt nàng im tiếng.

Nàng ngước nhìn Văn Bình, nước mắt chảy ròng ròng. Giây phút ấy, nàng cảm thấy yêu chàng đứt ruột. Nàng bỗng hối hận đã nhận lời làm vợ Pelam sau khi thất vọng với Văn Bình, và quáng mắt trước sản nghiệp kếch sù của tên gian hùng đội lốt tỉ phú lương thiện. Gian phòng trống rỗng làm Văn Bình chột dạ. Chàng đảo mắt nhìn tứ phía lần nữa, tay chân duỗi sẵn, để gặp biến cố có thể đáp ứng được ngay. Sau cùng, chàng mới nhìn thấy Rôsita. Chàng buột miệng:

-Em!

Chàng nhảy 3 bước lại chỗ nàng bị trói. Việc đầu tiên của chàng là lôi đống giẻ ra khỏi miệng nàng, và hỏi:

-Tại sao hả em?

Rôsita không đáp mà chỉ chăm chú nhìn qua vai Văn Bình. Biết kẻ thù đang núp phía sau, chàng ngã lăn về bên trái, cuộn tròn 1 vòng rồi đứng dậy. Nhưng chàng đã tỏ ra khôn ngoan quá chậm trễ. Pelam đã bố trí chặt chẽ với 2 khẩu tiểu liên đen ngòm, họng chĩa về phía Văn Bình. Hai tên thủy thủ lạ mặt từ góc cabin tiến ra, ngoắt nòng súng, nói:

-Yêu cầu anh đứng dậy.

Chàng không có hy vọng cỏn con để đoạt súng. Loại tiểu liên Tiệp khắc này bắn rất nhạy, chàng chưa kịp đối phó thì 1 tràng đạn đã có thể bắn chàng nát bấy thân thể. Vả lại, đang còn khẩu súng thứ ba của Pelam. Văn Bình mới gặp Pelam trong ảnh. Bức ảnh bán thân to tướng, bệ vệ, treo giữa phòng khách trong tòa biệt thự ngàn một đêm lẻ của y tại trung tâm thành phố Mani. Khung ảnh toàn bằng vàng khối. Kiếng ảnh được chế tạo tại Saint Gobin trong suốt, mỏng dính nhưng súng bắn không vỡ. Chàng không thể bỏ qua được bức ảnh vì nó lớn gần bằng cái chiếu. Đôi mắt nghiêm nghị của Pelam từ trên tường nhìn xuống, chứng kiến những xen ôm hôn nồng nàn của Văn Bình và Rôsita. Lúc đó chàng nhăn mặt chỉ tay lên tường thì Rôsita cười rộ, bấm cái nút dưới bàn xa lông. Một bức riềm trắng từ từ chạy ra, che kín bức hình. Trong ảnh, Pelam có vẻ già, và hiền. Ở ngoài, bằng xương bằng thịt, những nét già và hiền ấy đã biến đâu mất. Pelam trước mặt chàng còn trẻ tuy tóc đã nhuộm muối tiêu. Mắt y, miệng y toát ra sự dữ tợn và tàn nhẫn.

Văn Bình thốt lên:

-Ông Pelam!

Pelam nghiêng đầu:

-Vâng, Pelam là tôi. Anh chồng bị vợ cắm sừng lên đầu là tôi. Hân hạnh được biết ông. Nếu không có gì phiền phức, xin ông cho biết quý danh. Dầu ở trường hợp nào, tôi cũng vẫn giữ truyền thống hiếu khách. Người Phi chúng tôi hiếu khách với kẻ thù không đội trời chung.

Đứng trước đối phương, Văn Bình thản nhiên như không. Ngay cả khi súng chĩa vào ngực, sửa soạn nổ vang, chàng cũng phớt tỉnh vì chàng cho rằng con người có số, nếu đến số chết thì nằm trên giường cũng chết. Giới điệp báo quốc tế đã biết rõ đức tính có 1 không 2 của Văn Bình. Nhưng đêm nay, chàng lại mất bình tĩnh như kẻ mới bước chân vào nghề. Chàng nhìn từ Pelam qua Rôsita, mặt trắng bệch, tay chân luống cuống.

Sự thật là chàng mất bình tĩnh không phải vì sợ. Mà vì 1 cảm tưởng khác. Đây là lần đầu tiên chàng yêu 1 thiếu phụ có chồng, và bị chồng bắt quả tang. Vẫn biết nàng không yêu chồng, nhưng trên phương diện chính thức nàng là gái có chồng đàng hoàng. Tội ngoại tình là 1 trong những tội nặng về luân lý. Yêu Rôsita, Văn Bình chỉ nghĩ đến yêu chứ không nghĩa đến những hậu quả có thể xảy ra. Chàng không nghĩ rằng Rôsita ngày nay không phải là Rôsita hồi còn là nhân viên Sở Phản gián. Nếu khi ấy hạ độc thủ, Văn Bình sẽ nhắm mắt chịu đòn. Chàng quan niệm rằng người chồng bị cắm sừng có quyền trừng phạt. Văn Bình sẵn sàng chịu tội thay cho Rôsita. Vì thế trước câu hỏi đột ngột của Pelam, chàng đứng sững. Rôsita ngồi dậy, nắm áo Văn Bình:

-Đừng dấu nữa, vô ích anh ạ. Pelam đã biết hết.

Văn Bình quay lại:

-Biết hết sự giao du giữa anh và em ư?

Rôsita đáp:

-Đó là chuyện dĩ nhiên. Pelam còn biết nhiều hơn thế nữa. Còn biết anh theo đuổi Dixon. Pelam đến đây vì chuyện ấy.

Đang bấn loạn tinh thần, Văn Bình vụt trở lại lì lợm nhờ câu nói của Rôsita. Nếu chồng nàng liên quan đến Dixon thì hoàn cảnh đã đổi khác. Vụ cắm sừng chỉ là phụ cuộc. Hồi nãy ở công viên Phramane, Lê Diệp đã tiết lộ là Pelam thân với Dixon, song Văn Bình không tin. Chàng cố hy vọng đó chỉ là tưởng tượng. Vì chàng không muốn Rôsita gặp sự thật quá đỗi phũ phàng.

Pelam gật gù:

-Người yêu của anh nói đúng. Tôi chờ anh trên tàu này không phải chỉ vì ghen tuông, mặc dù tôi có quyền ghen. Sự hiện diện của tôi còn có mục đích quan trọng hơn thế nữa.

Văn Bình hỏi:

-Anh muốn biết rõ tại sao tôi theo dõi Dixon trên Thái bình dương ư?

-Phải.

-Anh đưa tôi gặp Dixon. Khi ấy tôi sẽ nói.

-Không được. Anh phải nói ngay ở đây.

-Tôi không chấp thuận.

-Rồi anh sẽ phải chấp thuận.

-Còn lâu.

-Chẳng lâu đâu. Tôi chỉ cần 2 phút. Sau 2 phút, anh sẽ thay đổi thái độ.

-Vậy anh hãy bắt đầu đi. Theo ý tôi, 2 phút hơi ít. Hút 1 hơi thuốc lá cũng đã mất 2 phút. Tôi xin đề nghị 2 giờ.

-Anh đừng riễu cợt nữa. Vì tôi e rằng lát nữa đây anh sẽ phải dở cười, dở mếu. Tôi nói là chỉ cần 2 phút tra tấn vì cô nhân tình của anh chỉ chịu được 2 phút tra tấn là giỏi nhất.

Nghe Pelam nói, Văn Bình lạnh người. Pelam đã cạn tình với vợ. Y không ngần ngại giết vợ để đạt mục đích. Y lại thấu rõ nỗi lòng yêu đương của Văn Bình đối với Rôsita. Y biết chàng có thể hy sinh mọi thứ, kể cả cuộc sống của chàng, để cứu nàng khỏi chết. Tuy nhiên, chàng vẫn phản đối lấy lệ:

-Dầu sao nàng cũng là vợ anh, từng sống chung với anh 1 thời gian. Con sâu, con kiến cũng không giết vợ. Anh là con người mà nỡ mang vợ ra tra tấn được ư?

-Ha, ha … Nghe giọng nói đạo đức của anh, tôi tưởng tôi là con chiên ngoan đạo, còn anh là linh mục trên tòa giảng. Nàng là vợ tôi thật đấy, nhưng đó chỉ là bông hoa giấy được bày trong tủ kính. Mỗi khi nàng ôm tôi, nàng ngủ với tôi, nàng đã biến thành người đàn bà bằng ni lông, 1 búp bê tình dục, không có trái tim để phát ra luồng máu nóng đầy cuồng vọng, không có thần kinh hệ để ra lệnh cho các đường gân thớ thịt rung động. Thành ra tôi có vợ mà cũng như chưa có vợ. Riêng chuyện này cũng đủ cho tôi muốn hành hạ nàng. Huống hồ nàng lại hú hí thân mật với người khác. Tôi sẽ tra tấn nàng 1 cách khoan khoái và thỏa mãn, vì đây là cơ hội cho tôi trả thù. Không còn sự sung sướng nào bằng được trả thù với sự chứng kiến của thằng đàn ông mà nàng yêu.

-Nghĩa là anh đã quyết định chắc chắn?

-Dĩ nhiên. Tôi trì hoãn là để chờ đợi thái độ của anh. Nếu anh còn thương nàng, tôi sẽ ra lệnh cho thuộc viên ngừng tay. Tôi không tra tấn bằng quay điện, bằng roi chì bọc cao su như các sở gián điệp vẫn làm. Tôi có 1 kỹ thuật tra tấn đặc biệt. Thân thể ngàn vàng của nàng sẽ dần dà mất đi từng mảng, từng khúc thịt. Người ta gọi hình thức tra tấn này là xử lăng trì. Nàng sẽ bị xẻo thịt từng miếng cho đến khi chết. Kinh nghiệm cho biết phải 1, 2 ngày người bị lăng trì mới chết được. Vì sau khi cắt 1 miếng thịt, tôi sẽ nghỉ ngơi 1 lát, có thể là vài giờ đồng hồ, lấy bông băng và thuốc cầm máu rịt lại vết thương, tiêm sinh tố K cho máu đông lại. Cứ như thế cuộc tra tấn được tiếp tục. Tiếp tục cho đến khi nàng đầu hàng. Đầu hàng vì không chịu nổi đau đớn. Chắc anh đã biết rằng đầu hàng trước thì thân thể còn được nguyên vẹn. Đến lúc mất tai, mất mũi rồi mới đầu hàng thì thật uổng. Nàng rất đẹp, phải không anh? Phải không, đại tá Văn Bình thân mến?

-Phải. Anh không xứng đáng là đấng trượng phu vì thủ đoạn báo thù nhỏ nhen đối với người đàn bà không yêu anh.

-Văn Bình ơi, anh không chọc tức tôi được đâu. Thằng Pelam này khôn lắm. Anh nói đi, tôi bắt đầu sốt ruột rồi. Tại sao CIA lại ra lệnh cho anh bám sát du thuyền Bồng lai của Dixon?

-Hừ, … không lẽ tôi lặn lội đi theo để ngắm cái cột buồm hoặc chân vịt của con tàu. Tất nhiên, tôi phải có mục đích rõ rệt. Nhưng tôi chẳng dại gì đánh đổi bí mật quan trọng này lấy 1 lời hứa xuông, chắc chắn là anh sẽ không tôn trọng.

-Nếu anh đòi bảo đảm, tôi xin chiều anh ngay.

Y ngoảnh sang bên, dặn 1 thuộc viên cầm tiểu liên:

-Đưa bà lên boong, gọi đò cho bà lên phố. Khi đò chạy rồi, mày xuống đây trình cho tao biết.

Rôsita rềnh rang chưa chưa chịu ra ngoài:

-Em không muốn vì em mà anh bị hỏng việc. Anh cứ giữ vững lập trường. Pelam không dám tùng xẻo em đâu. Em biết. Vì y còn yêu em tha thiết, y không dám mó đến da thịt em, chứ đừng nói là cầm dao lóc từng miếng nữa.

Pelam chép miệng:

-Cô nói có lẽ đúng. Nhưng chỉ đúng với quá khứ. Tuy vẫn yêu cô, tôi không thể để ái tình trùm lấy bổn phận. Thú thật là trong thâm tâm tôi cầu mong cho Văn Bình chịu khai mọi việc để tôi có đủ lý do chính đáng để trả tự do cho cô. Thôi, cô lên bờ. Từ phút này trở đi, 2 ta sẽ trở thành người xa lạ. Đáng tiếc là hoàn cảnh éo le đã làm ta xa nhau. Trong những ngày sống chung bên nhau, nếu có điều gì sơ xuất, xin cô tha lỗi cho tôi.

Giọng nói của tên trùm buôn lậu đội lốt doanh gia tỉ phú không còn dấm dẳn, chát chúa như trước nữa. Y nói với vẻ tiếc nuối và buồn bã thật sự. Rôsita chỉ Văn Bình rồi hỏi chồng cũ:

-Chừng nào anh tha?

Pelam lắc đầu:

-Nếu tôi nói dối, tôi sẽ hứa đại là lát nữa sẽ trả tự do cho Văn Bình. Nhưng cô ơi, hiện giờ tôi rất thành thật. Thành thật hơn bao giờ hết, cô ạ. Thành thật vì đêm nay 2 ta phải vĩnh biệt. Cô chưa hề yêu tôi, nhưng ít ra đã có cảm tình nồng hậu với tôi. Tôi phải thành thật để đền đáp lại cảm tình nồng hậu ấy. Văn Bình chỉ có thể được trả tự do sau khi công việc của tôi được hoàn tất.

Rôsita nín lặng nhìn 2 người đàn ông đối diện nhau. Vẻ thù nghịch trên mặt họ đã tan biến mặc dù họ có thể ăn tươi, nuốt sống nhau ngay khi nàng rời cabin du thuyền. Nàng ngẫm nghĩ 1 phút rồi bước tới bên Pelam, hôn phớt lên trán y. Pelam đứng yên cho nàng hôn. Nhìn cặp mắt đờ đẫn của y, Văn Bình biết y còn yêu nàng tha thiết. Giá chàng không xía vào đời tư của 2 người thì Pelam chưa mất vợ.

Hôn chồng xong, Rôsita lùi lại hôn người yêu. Cũng như khi hôn Pelam, nàng giữ đúng sự âu yếm chừng mực, đồng đều, không bên nào khinh, cũng không bên nào trọng. Trước khi kiễng chân lên để hôn trán Văn Bình, nàng liếc chàng và nháy 1 bên mắt. Sợ chàng chưa hiểu, nàng còn nháy thêm lần nữa. Thật ra Văn Bình đã hiểu. Chàng phăng ra ý định của nàng khi nàng sửa soạn hôn trán chồng cũ. Ngày nọ, trong hàng ngũ Phản gián, nàng đã lừng danh nhờ quyền biến. Pelam là người đa mưu vậy mà Rôsita vẫn qua mặt.

Văn Bình dùng đuôi mắt để quan sát địa thế. Pelam, kẻ chủ chốt mà chàng phải chế ngự ngay trong giây đồng hồ đầu tiên, đang đứng đối diện chàng, gần như bị Rôsita che khuất. Hai bên chàng, trong khoảng cách 3 thước, là 2 tên thuộc viên trung thành của Pelam. Tuy chúng vẫn hườm súng, thái độ của chúng không còn khẩn trương như trước nữa. Văn Bình liếc thấy ngón tay của chúng đã rút ra khỏi cò. Nghĩa là chàng có thể đảo lộn tình hình trong chớp mắt. Nếu chàng xử sự thần tốc, chàng có hy vọng đánh ngã cả 3. Chàng sẽ kéo Rôsita chạy lên boong và 2 người sẽ nhảy ùm xuống sông Chao Phya. Trời tối, dầu đèn trên boong sáng quắc, họ cũng khó tìm ra. Ban ngày, dưới ánh nắng soi mói, nước sông đã nhuộm màu nâu, màu đất phù sa. Ban đêm, màu nâu sẫm lại thành màu mực tàu.

Nghĩ đoạn, chàng thực hành.

Bất thần, chàng xô Rôsita ngã chúi tới trước. Nàng loạng choạng rơi vào lòng Pelam. Hai chân của Văn Bình được phóng ra đồng loạt. Cước pháp của chàng đã đạt tới trình độ tinh vi nên 2 nạn nhân tránh không kịp, phương chi những ngọn cước đã được tung quá nhanh như thể tứ chi chàng là các bộ phận người máy điều khiển, nhanh đến nỗi khi khẩu súng bị rớt xuống sàn tàu, bắp tay và 1 bên hông bị tê dại, nạn nhân mới biết bị tấn công. Phải là cao thủ mới phóng được một lúc 2 ngọn cước sang tả và hữu. Vì như vậy, 2 chân sẽ xoạc ra, toàn thân phải nhảy vút lên thinh không. Điểm tuyệt vời của Văn Bình là khi hạ mình xuống thì đầu chàng bổ về phía trước, 2 bàn tay đã xòe rộng, chặt vào đầu Pelam.

Pelam bị Rôsita che mắt nên hơi luống cuống. Tuy nhiên, hắn vẫn tránh được độc thủ của Văn Bình. Y lạng người sang bên rồi lăn tròn trên mặt đất. Bản tâm của Văn Bình là đánh y trọng thương ngay trong thế mở đầu. Y không bị hề hấn gì nên Văn Bình hơi chột dạ. Pelam phải là võ sĩ có nhiều công phu tập luyện. Chàng phải áp dụng những miếng đòn lợi hại mới mong triệt hạ được y chóng vánh.

Nhưng chàng không thể lưu lại trên du thuyền Thiên thần được nữa. Nhân viên của Pelam đều được võ trang súng lớn. Chúng lại đông đảo. Chàng thì mãnh hổ nan địch quần hồ, lại vướng Rôsita. Vì vậy chàng không tiếp tục tấn công Pelam mà chỉ nghĩ đến thoát thân. Cửa cabin được khóa chặt. Không thấy chìa khóa. Văn Bình đành xử dụng đôi vai rắn chắc như bê tông. Tuy chàng không kịp lùi lại phía sau, hít 1 hơi dài để lấy trớn như thường lệ, chàng vẫn húc tung được cánh cửa sắt kiên cố. Biết trước ý định của chàng nên Rôsita đã chờ sẵn. Cánh cửa vừa bật ra, nàng đã phi thân nhảy ra ngoài. Nhờ được tập dượt võ nghệ, nàng nhảy khá cao, và đáp xuống nhẹ như lướt 1 bước tăng gô trên sàn gỗ vũ trường. Ngay trước mặt nàng là cầu thang bằng nhôm dẫn lên boong du thuyền. Rôsita đặt chân lên bậc thứ nhất thì 2 thủy thủ không biết núp ở đâu hùng hục chạy tới. Giá chúng được võ trang tiểu liên, khi ấy Văn Bình cũng không thể khoanh tay đầu hàng ngoan ngoãn, huống hồ chúng chỉ tấn công bằng 2 tay không. Chàng trườn tới, dùng 1 thế nhu đạo diễm tuyệt ghé vai nâng bổng tên thủy thủ thứ nhất lên, quay tròn 1 vòng trước khi ném cây thịt nặng nề vào giữa mặt tên thứ hai đang hăm hở lao vào vòng chiến. Cây thịt nặng gần 1 tạ mà Văn Bình đỡ lên gọn ghẽ, nhẹ nhàng như thể đối phương là con nhái bén. Nhưng đến khi chàng ném cây thịt xuống thì 1 tạ thịt biến thành 10 tạ thịt do công phu luyện công của chàng biến nhẹ thành nặng, biến mềm thành cứng. Kỹ thuật này chàng học được trong những ngày róc tóc đi tu tại ngôi chùa cổ gần Thát luông, Vạn tượng sau chuyến công tác bi thảm tại Hồng kông (2). Từ ngày nắm được bí quyết của Thần ảo công, phối hợp với Ninjitsu, Văn Bình dường như trở thành võ sĩ vô địch.

Vì là võ sĩ vô địch, sau hàng trăm trận đụng độ, chưa hề gặp đối thủ đồng cân đồng lạng, hoặc nếu thua thì chỉ thua sát nút, điệp viên Z.28 bắt đầu kém vui. Chàng nhận thấy địch quá tồi tệ nên mắc phải bệnh khinh thường, 1 tâm bệnh nhiều khi có lợi, mà cũng nhiều khi có hại, khả dĩ xô chàng vào cõi chết 1 cách khờ dại và oan uổng.

Hơn 1 lần, ông Hoàng đã bảo chàng:

-Võ nghệ của anh mỗi ngày 1 tinh vi, anh lại siêng năng bồi bổ, và thu thập kinh nghiệm thực tế nên chẳng bao lâu nữa anh sẽ đạt mức siêu quần bạt tụy. Đó là 1 điều mừng lớn cho Sở, và cả cho tôi nữa. Nhưng ngược lại, đó cũng là 1 điều lo sợ lớn.

Nghe ông tổng giám đốc nhắc đến chữ « sợ », chàng liền tỏ vẻ sửng sốt:

-Giỏi võ mà ông lại lo sợ thay cho tôi ư?

Ông Hoàng gật đầu, và đáp, giọng hơi buồn:

-Thật vậy, nếu anh chưa học xong bộ Thần ảo công, anh đã là võ sĩ nhất nhì ở Đông nam Á rồi. Thêm bộ Thần ảo công, anh đã tiến 1 quãng đường dài, người khác phải mất cả chục năm cũng không theo kịp. Anh trở thành 1 võ sĩ không đối thủ. Phàm làm võ sĩ bao giờ cũng thắng, không bao giờ thua, dễ bị chết hơn là võ sĩ vừa thắng vừa thua. Vì có thua mới chịu tìm hiểu khuyết điểm của mình mà sửa chữa. Vì có thua mới thận trọng mỗi khi thượng đài với địch. Thượng đài ngoài đời để tranh giải vô địch võ thuật, người ta thường vờn nhau 1 hồi cho dãn gân dãn cốt, và để lôi cuốn khán giả vì khán giả sẽ la ó nếu 2 võ sĩ mới bắt đầu giao đấu, chưa xong hiệp thứ nhất thì 1 đã lăn chiêng trên đài.

Thượng đài trong nghề điệp báo xung kích hoàn toàn khác với thượng đài ngoài đời. Vì ở đây, thời gian tính là yếu tố quan trọng bậc nhất. Cuộc giao đấu cần được rút ngắn đến mức tối đa. Lệ thường chỉ đánh 1 đòn là đối phương phải hôn mê bất tỉnh, hoặc tử thương. Võ sĩ quá giỏi như anh, tin chắc giỏi hơn kẻ thù, muốn ra tay lúc nào cũng được nên thường sơ hở, đôi khi lại cố tình sơ hở để dụ địch đánh thế hiểm cho đỡ buồn. Chẳng may gặp kẻ địch tấn công nhanh hơn là mất mạng.

Văn Bình cười rộ:

-Ồ, tưởng gì, nếu chỉ có thế thì xin ông yên tâm. Tôi hứa với ông là không khi nào khinh địch.

Ông tổng giám đốc lặng thinh, mặt cúi xuống đống hồ sơ. Văn Bình tưởng ông chịu thua, nhưng nếu chàng đến gần, chàng sẽ nhìn thấy mắt ông hơi đỏ. Không hiểu sao từ ngày Văn Bình tu xuất, ông lại lo lắng, lo lắng nhiều đến nỗi ông già thêm 10 tuổi, trên đầu ông không còn sợi tóc nào màu xám tro nữa. Văn Bình cho là ông già quá yêu chàng nên sinh ra lẩm cẩm. Chàng đem chuyện bàn với Triệu Dung, đinh ninh được bạn về hùa. Không ngờ Triệu Dung lại nghiêm mặt:

-Đúng, ông cụ đã lo lắng rất đúng. Anh cần gia tăng thận trọng hơn trước. Dạo này tôi nhận thấy anh khinh địch quá đáng. Khinh địch làm tôi lắm lúc sợ đứng tim.

Văn Bình cười rộ rồi bỏ đi. Chàng cho rằng các nhân viên cao cấp của Sở đều ăn phải đũa của ông tổng giám đốc khật khùng. Chàng không thể ngờ được sự thật đã xảy ra đúng như ông tổng giám đốc khật khùng dự liệu.

Và hôm ấy chàng suýt mất mạng.

Suýt mất mạng trong 1 cuộc giao đấu tại phòng tập của Sở dưới hầm công ty Điện tử, đại lộ Nguyễn Huệ. Một phái đoàn Đại Hàn gồm các huấn luyện viên cận vệ của Sở Tình báo ghé thăm để trao đổi kinh nghiệm võ thuật với các võ sĩ điệp viên dưới quyền điều khiển của ông Hoàng. Nhiều cuộc biểu diễn và đấu giao hữu được tổ chức, và Văn Bình được mời dự, nhân dịp từ hải ngoại về.

Tại cuộc biểu diễn cuối cùng trước ngày về nước, viên trưởng đoàn huấn luyện Đại hàn đã làm cử tọa mê say về những thế karatê chém gỗ, gạch và ngói dễ dàng như dao đâm vào bơ. Kể ra Sàigòn không thiếu gì võ sĩ karatê cừ khôi có thể chặt vật cứng bằng sống bàn tay, song viên trưởng đoàn huấn luyện đã chém nát 1 lúc 2 chồng ngói dày, 1 gang tay gạch men, và 1 phiến gỗ lim kiên cố, 1 thành tích mà ít người đạt nổi.

Ngoại trừ Văn Bình.

Chàng lạnh lùng nhìn ra sân khi người thông dịch nói lại bằng tiếng Việt rằng những đòn karatê của viên trưởng đoàn được coi là độc nhất vô nhị, từ nhiều năm nay không ai dám đưa người ra cho ông ta đấm thử. Vì đấm nhẹ nhất cũng làm lục phủ ngũ tạng nát bấy. Chàng từ từ quay lại:

-Tôi sẵn sàng đứng ra cho ông trưởng đoàn tập rượt.

Võ thuật của viên trưởng đoàn chưa thuộc hạng đồng cân đồng lạng với Văn Bình. Chẳng qua ông ta chỉ thạo 1 môn chém gỗ, chặt ngói. Nếu chàng dùng Thần ảo công ngay trong phút giao đấu đầu tiên, không coi thường đối phương 1 cách quá đáng thì cuộc tranh tài đã được kết thúc nhanh chóng và êm ả. Chàng chỉ dùng nội công thông thường của quyền Thiếu lâm để chịu đòn. Chàng không ngờ được đối phương là võ sĩ đặc biệt chuyên về khí quyền, bộ môn lạ lùng của 1 phái võ hùng cứ trong nhiều thế kỷ ở Hoa Bắc, sau vì nội loạn đã lưu lạc sang Cao ly. Đặc điểm của quyền này là đánh vào khí đạo. Trên thân thể con người, ngoài hệ thống tuần hoàn ở khắp nơi, còn có các đường giây thần kinh, và sau hết là đường khí đạo. Hệ thống khí đạo gồm nhiều huyệt khác nhau, bị đánh trúng huyệt vào những giờ giấc định sẵn nạn nhân có thể gục chết ngay tại chỗ tuy ngoài da không có thương tích. Hoặc nạn nhân bị điên. Nhiều võ sĩ thượng đài, chưa đấu xong 1 hiệp đã ngã lăn xuống sàn, cơ thể mềm nhũn, võ công hoàn toàn bị tiêu diệt chỉ vì 1 đòn nhẹ vào đan điền. Không phải Văn Bình không biết điều ấy. Đối với chàng thì khí quyền là món ăn hàng ngày, chẳng có gì đáng làm sửng sốt. Vì bản thân chàng cũng là 1 tinh hoa về khí quyền. Song chàng lại không biết là viên trưởng đoàn huấn luyện Đại Hàn sợ không thắng được chàng nên đã thi thố độc thủ với miếng đòn sơ kiến. May là đêm hôm trước chàng về phòng ngủ sớm hơn thường lệ. Vì giấc ngủ được điều hòa và đầy đủ nên sức lực chàng rồi rào, thần khí chàng vẫn sáng suốt.

Đường quyền vừa phóng ra, Văn Bình đánh hơi lập tức thấy nguy hiểm. Chàng liền vội vã né tránh. Tuy vậy, chàng cũng bị tối tăm mặt mũi rồi lảo đảo như người say rượu sau miếng atémi đánh vào đan điền. Nếu chàng không phăng ra kịp thời thì võ công của chàng đã tiêu tan, chàng phải tập rượt 3, 4 năm nữa mới mong hồi phục. Vì khí quyền và phép vận công kị nhau như nước với lửa. Võ sĩ đang vận nội công biến da thịt thành sắt, mà bị đòn khí quyền thì da thịt bỗng mềm xèo ra như bún, nội công bị hóa giải như đám cháy bị vòi nước dập tắt.

Viên trưởng đoàn bước lên 1 bộ để phóng đòn thứ nhì, đinh ninh sẽ triệt hạ được chàng điệp viên bách chiến bách thắng. Nhưng Văn Bình đã kịp thời tỉnh ngộ, và xử dụng Thần ảo công để đối phó. Khí quyền của đối phương trở thành vô ích, cũng vô ích như múc nước sông đổ xuống biển. Viên tưởng đoàn vận dụng hết sức lực mà Văn Bình vẫn trơ như đá, vững như đồng. Đến phát atémi thứ ba thì chàng hút luôn bàn tay của đối phương vào bụng rồi thở phì ra. Viên trưởng đoàn bị bắn lộn vào tường, ngã lăn chiêng, gẫy 2 xương sườn, và 3 cái răng.

Dầu sao buổi giao đấu này cũng là bài học để đời đối với Văn Bình vì sau đó chàng phải vào bệnh xá của Sở điều trị đúng 1 tuần. Rồi chàng phải xin phép ông Hoàng lên cao nguyên nghỉ ngơi trong 2 tháng. Nghỉ ngơi ở đây không có nghĩa là cặp kè những cô gái có cặp chân dài và bộ ngực cứng nhọn khiêu khích. Trong quá khứ, Văn Bình thường nghỉ ngơi như vậy nên ông Hoàng hạn chế thời gian đi phép. Nhưng lần ấy, ông Hoàng lại thúc giục chàng và cũng không buồn cử người theo dõi chàng từng giờ, từng phút như trước. Vì hơn ai hết, ông tổng giám đốc biết chàng cần lánh xa đô thành bụi bặm, ồn ào, lánh xa nữ sắc để luyện lại võ công đã bị tổn thương trong cuộc giao đấu với viên trưởng đoàn huấn luyện Đại Hàn.

Lời căn dặn của ông Hoàng, và nhất là hình ảnh của cuộc so tài luôn luôn sôi đọng trong lòng Văn Bình. Nhiều khi chàng cũng quên, quên vô tình hoặc quên cố ý. Hôm nay, trên du thuyền Thiên thần, vì sự sống của chàng, đặc biệt là sự sống ngàn vàng của giai nhân Rôsita, chàng đã dùng ngay Thần ảo công để đánh gục 2 tên thủy thủ le te chạy tới. Cả 2 đều nằm mọp trên sàn tàu, máu me lênh láng. Văn Bình dìu Rôsita lên cầu thang.

Trên boong tàu sơn trắng, mạ kền bóng loáng, bọn thuộc hạ của Pelam đang chờ sẵn. Những thủy thủ Mã lai và Phi có thiện cảm với chàng đều bị bắt nhốt từ trước nên Văn Bình chỉ gặp toàn mặt lạ. Nói cho đúng thì cả bọn thủy thủ ùa tới cũng không có hy vọng chế ngự được chàng vì trông cách thủ thế và tấn công của chúng chàng biết chúng chỉ là hạng xoàng, ti toe vài ba miếng võ đủ đe dọa đàn bà và con nít. Cho dẫu chúng là tay chơi chuyên nghiệp, chàng cũng coi như cỏ rác. Chàng chỉ cần tóm 1 đứa, nâng lên làm mộc là trong khoảnh khắc quét gọn được toàn bọn. Tuy nhiên, chàng lại vướng Rôsita 1 bên. Nàng cũng giỏi võ nghệ, nhưng khốn nỗi trong khi luống cuống trèo cầu thang lên boong, nàng bị té ngã, trẹo mắt cá chân. Gãy chân tuy đau nhưng còn đỡ khổ hơn sái mắt cá vì nàng đi đứng không nổi, bắt buộc phải ngồi xuống. Nàng nghiến răng chịu đau, 2 tay dùng làm nạng để bò lết trên boong.

Bọn thủy thủ chia làm 2 toán, toán vây kín chàng, toán chạy tới bắt giữ Rôsita. Chàng hét lên tiếng « kiai », cả bọn bị dạt ra như đứng trước ngọn cuồng phong. Có đứa ngã lăn xuống sàn tàu bất tỉnh. Văn Bình cúi xuống, xốc Rôsita lên vai, phi thân chạy ra mạn tàu. Một tên thủy thủ dại dột nắm áo chàng bị chàng giẫy 1 cái lộn 2 vòng xuống tầng dưới, gẫy xương sống. Tên thứ hai mới bén mảng tới gần Rôsita đã ăn 1 cái đá trời giáng vào bụng, nhăn nhó ngồi bệt xuống. Khi ấy Pelam đã ló đầu lên khỏi cầu thang. Khẩu súng lăm lăm trong tay.

Văn Bình ôm Rôsita nhào xuống giòng sông Chao Phya. Đèn trên boong đã tắt. Có lẽ nhân viên của Pelam không muốn để đèn sáng, sợ công an tuần tiễu trên bờ nhìn thấy. Đoàng … đoàng … Pelam bắn 2 phát liên tiếp. Nhưng viên đạn không trúng mục phiêu mặc dù hắn là thợ săn nổi tiếng. Văn Bình đã ôm Rôsita lao xuống giòng nước đen ngòm. Bọn thủy thủ đua nhau nhảy theo. Văn Bình ngoi lên, hét vào tai Rôsita:

-Đừng sợ. Em cứ ôm chặt lấy anh.

Nếu không có Rôsita, chàng đã lặn luôn 1 mạch vào bờ. Về tài lặn dưới nước, chàng ăn đứt nhiều người. Đua về tài bơi, chàng cũng khó thua. Nhưng chàng lại không dám ngụp xuống sợ Rôsita ngạt thở. Vết thương ở mắt cá chân làm đường gân chân nàng co rúm. Nàng phải là người có thừa can đảm mới không hé miệng rên la. Bất đắc dĩ chàng phải ngoi lên, bơi 1 tay, còn 1 tay ôm ngang eo Rôsita. Dường như chàng ôm nàng quá chặt nên nàng cựa quậy, chàng phải buông ra cho nàng níu lấy vai chàng.

Hai ngọn đèn pha từ mạn tàu bắt đầu chiếu xuống sông. Loại đèn 3 ngàn nến này có thể khám phá ra 1 con cá nhỏ đang bơi lượn dưới nước ban đêm. Chàng thấy người đứng lố nhố, vây quanh Pelam, giờ đây vừa đổi khẩu tiểu liên lấy khẩu súng bắn mũi lao bằng hơi ép, thường dùng trong các cuộc săn cá dưới biển. Bắn trúng, mũi lao sẽ xuyên qua người. Tiếng động của mũi lao từ nòng súng vọt ra lại được thu nhỏ tới mức tối đa, người lạ ở chung quanh khó thể nghe được. Pelam đã tỏ ra thận trọng. Nhưng y thận trọng không cần thiết vì du thuyền Thiên thần buông neo tại khúc sông vắng, ở xa trung tâm dân cư và tàu buôn. Giá y bắn súng đại liên nữa cũng chẳng ai nghe tiếng, và nếu nghe tiếng thì cũng chẳng ai để ý. Văn Bình nhoài người để ra khỏi vùng sáng của 2 ngọn đèn pha luân phiên nhau quét trên mặt sông phẳng lặng. Đột nhiên có tiếng kêu lớn:

-Thấy rồi. Nó đây rồi.

Văn Bình vội hụp xuống, và kéo Rôsita theo. Nàng đã mệt nhoài, chắc chắn sẽ sặc nước, nhưng nếu chàng trù trừ, Pelam sẽ tặng ngay 1 mũi lao hơi ép. Hai lùm đèn pha cùng chập vào nhau. Khúc sông sáng rực như ban ngày. Tiếng Pelam oang oang:

-Đâu? Có thấy nó đâu?

Văn Bình trồi lên và đụng phải 1 gã thủy thủ. Hắn cũng vừa nhận ra chàng nên lập tức quay người lại, miệng kêu cứu. Văn Bình tống mạnh vào miệng hắn, Tiếng kêu cứu của hắn bị mắc nghẽn, đồng thời chàng giáng atémi vào giữa mắt. Bị đánh 2 đòn hiểm cùng một lúc, gã thủy thủ bất hạnh nằm ngửa tênh hênh dưới ánh đèn vừa chiếu tới, rồi từ từ chìm xuống nước. Văn Bình đã hạ được tên thủy thủ đầu tiên trên sông. Song cả chục tên khác đang nườm nượp bơi về phía chàng. Du thuyền Thiên thần mỗi lúc 1 xa. Văn Bình tiếp tục bơi thật nhanh hầu dụ đối phương xuống quãng tối, ở xa tàu, để chàng dễ bề hành động. Và tốt nhất là chàng có thể bơi vào bờ. Trên cạn, sức chàng có thể quật ngã toàn bọn, dầu chúng mang theo khí giới đầy đủ. Bỗng nhiên, 1 bên vai chàng nhẹ hẳn. Hốt hoảng, chàng quay lại. Rôsita đã buông tay, chơi vơi trên giòng nước chảy xiết. Nàng bị mệt mỏi đến độ không còn gân cốt để bám lấy chàng nữa. Chàng nắm áo nàng giật về phía chàng. Rôsita đã biến thành khối thịt vô tri giác. Chàng điểm nhẹ vào mê huyệt gần màng tang cho nàng tỉnh dậy, miệng gọi rối rít:

-Em, em, Rôsita?

Nàng vẫn không đáp lại. Hồi nãy, trong khi lặn sâu xuống nước, nàng đã uống nhiều nước mà chàng không để ý. Nếu tình trạng này kéo dài mấy phút nữa, nàng sẽ ngạt thở mà chết. Chàng bèn bơi bằng 2 chân, dùng 2 cánh tay nâng nàng lên khỏi mặt nước, đồng thời bóp huyệt gần đốt xương cụt. Phàm người bị thắt cổ lè lưỡi tím ngắt, hoặc chết đuối bụng trương phình nước, phép điểm huyệt tinh vi này có thể làm hồi sinh. Thân thể nàng còn nóng hổi, Văn Bình lại là kỳ tài về khoa hồi sinh nên chỉ sau 1 tích tắc đồng hồ nàng đã sống lại. Chàng lại gọi:

-Rôsita, em đã tỉnh hoàn toàn chưa?

Nàng lúng búng ho rồi thều thào:

-Rồi, em mệt quá.

Chàng luồn bàn tay dưới nách nàng, giữ cho đầu nàng ở trên mặt nước:

-Em ráng lên chút nữa. Sắp đến bờ rồi.

Nàng lại ho:

-Không thoát được đâu. Pelam lừa anh xuôi giòng nước rồi dùng ca nô rượt theo. Trên ca nô có súng bắn hơi ép rất lợi hại.

Văn Bình sợ lạnh người. Nếu nàng nói đúng, chàng khó có hy vọng thoát khỏi vòng vây, trừ phi bỏ nàng lại. Mà bỏ nàng là điều chàng không thể chấp nhận, phần vì nhiệm vụ, phần vì tình yêu tha thiết. Không bỏ nàng lại để trốn 1 mình thì chàng phải chết. Nhưng thà chết … chứ chàng không thể mang tiếng ích kỷ và đê hèn.

Tiếng Rôsita lại cất lên:

-Văn Bình ơi, anh trốn đi.

Chàng lắc đầu:

-Không được.

-Lạy anh, anh nên nghe em. Pelam không dám giết em đâu. Vì hắn còn yêu em. Hắn chỉ giữ em thôi. Nhưng nếu anh bị bắt, hắn sẽ không tha.

Văn Bình không có thời giờ đôi co với Rôsita nữa. Một cơn gió mạnh từ xa thổi tới làm mặt nước cuộn sóng, nhồi nàng chìm nghỉm. Chàng vội kéo nàng lên rồi xải tay bơi thật nhanh vào bờ, khi ấy chỉ còn cách 30, 40 thước. Họa vô đơn chí, chàng đang loay hoay với những đợt sóng mỗi lúc một mạnh khiến Rôsita đã mệt lại mệt thêm thì ca nô của Pelam chạy tới đã mở đèn sáng rực giòng sông. Tiếng động cơ rầm rầm xé tan màn im lặng. Trong chớp mắt, ca nô đã đến gần. Văn Bình nghe rõ tiếng của Pelam:

-Thong thả … không cần bắn. Hắn không chạy đâu thoát. Cứ lại gần nữa, gần thêm nữa. Chiếu đèn pha vào mặt cho hắn chóa mắt.

Phút này, Văn Bình mới nghiệm thấy Rôsita nói đúng. Gã gian hùng tỉ phú đang còn nặng lòng vì nàng. Y phải đích thân điều khiển cuộc rượt bắt vì sợ đàn em làm nàng bị thương. Tuy nhiên, còn nước còn tát, Văn Bình không phải hạng người đầu hàng dễ dàng. Chàng co chân đạp mạnh để thoát khỏi lùm sáng đèn pha soi mói của ca nô. Nhưng Rôsita đeo cứng lấy chàng như tảng đá khiến chàng quay tròn như chong chóng. Chàng bèn cắp Rôsita vào nách, liều mạng ngụp xuống. Chàng tin tưởng vào tài kuatsu của mình có thể hồi sinh nàng sau khi tới bờ. Nhưng chàng không ngờ rằng khi ấy nàng lại nghĩ khác. Nàng mệt tưởng như sắp đứt hơi thở, trái tim nàng muốn ngừng đập song thần trí nàng vẫn tỉnh, có lẽ còn sáng suốt hơn ngày thường nữa. Nàng cảm thấy yêu Văn Bình lạ lùng, và có thể chết được vì chàng. Thật ra, nàng sẵn sàng chết cho chàng sống. Pelam sẽ băm vằm Văn Bình ra hàng trăm mảnh. Y thù chàng vì công việc thì ít, mà vì ghen tuông thì nhiều. Hồi còn ở Mani, y đã biết nàng có tình riêng với Văn Bình. Y nói 1 cách cao thượng là không cấm đoán nàng yêu. Giờ đây nàng biết là y hờn mát. Khi nói như vậy, y hơi nhăn mặt, luồng mắt sáng lên pha máu đỏ, cánh mũi run run. Y đã rắp tâm thanh toán Văn Bình từ lâu mà nàng vẫn khờ khạo cả tin vào tinh thần mã thượng của gã chồng hờ.

Ánh đèn ca nô múa nhảy trên mặt sông gợn sóng. Rôsita vừa có 1 quyết định dứt khoát. Nàng sẽ buông tay ra khỏi tay Văn Bình, và mặc cho chìm xuống đáy sông. Nếu trời còn tựa thì bọn đàn em của Pelam sẽ vớt nàng kịp thời, và trong khi ấy Văn Bình có hy vọng thoát hiểm. Cũng có thể nàng bị nước cuốn đi, và nàng sẽ mất mạng. Trước sau gì cũng 1 lần chết, nàng nghĩ vậy rồi đột ngột buông tay ra. Khối nặng đè trên vai Văn Bình đã tan biến. Văn Bình hiểu ngay nguyên nhân nhưng chàng không tài nào ngăn cản nàng được nữa. Quên cả nguy hiểm gần kề với chiếc ca nô chiếu đèn pha sáng lòa đang rẽ sóng phăng phăng chạy tới, chàng kêu thất thanh:

-Rôsita!

Nàng đã ở ngoài tầm tay của chàng. Ánh đèn rực rỡ làm chàng quáng mắt. Chàng nghe tiếng của Pelam:

-Quăng câu liêm xuống móc hắn lên.

Hoảng hồn, chàng quẫy mình lặn xuống. Một loạt móc sắt được phóng xuống, chỉ cách chàng trong gang tấc. Khi chàng trồi lên thì đã ở phía đuôi ca nô. Bọn thuộc hạ của Pelam đều tập trung đằng mũi nên không nhìn thấy chàng. Chàng lại nghe Pelam gắt:

-Tìm được hắn chưa? Tụi bay đúng là đồ ăn hại. Hàng chục cặp mắt, súng ống trong tay mà để hắn chạy thoát.

Bên trái, 1 tiếng reo mừng rỡ cất lên:

-May quá, thấy rồi!

« Thấy » ở đây là thấy Rôsita. Nàng đang vùng vẫy giữa giòng nước chảy xiết, sắp sửa bị xoáy xuống đáy sông thì 2 tên thủy thủ thiện nghệ đã bơi kịp tới, choàng ngay cái phao lên người nàng rồi dìu về ca nô. Chân vịt ca nô quay mạnh kêu ầm ầm, suýt nữa nghiến đứt bàn tay của Văn Bình. Chàng bám lấy mạn thuyền máy, lặng lẽ theo dõi những việc xảy ra trên boong. Tiếng Pelam:

-Có bị nguy không?

Tiếng người đáp:

-Thưa ông, không. Bà đang còn thở. Chỉ bị uống 1 bụng nước mà thôi. Hai, ba phút nữa là tỉnh. Bây giờ xin phép ông cho khiêng bà xuống cabin ấm hơn. Trên này gió lộng quá.

Lại tiếng Pelam:

-Bọn bay cố gắng lên, tao sẽ có thưởng. Khi nào bà tỉnh dậy thì kêu tao ngay, nghe chưa!

Ca nô quay vòng tròn trên sông. Pelam dán mắt vào ống viễn kính, giọng bực bội:

-Quái, có lẽ hắn là ma! Vừa thấy đó mà hắn đã lỉnh đâu mất?

Văn Bình mỉm cười 1 mình. Chàng đang ở dưới chân y mà y không biết. Nhưng nụ cười kiêu hãnh vội tắt trên môi điệp viên Z.28 vì Pelam « à » 1 tiếng rồi nói tiếp:

-Thôi, tao biết rồi. Hắn chỉ quanh quẩn đâu đây thôi. Tắt máy đi.

Văn Bình đã đọc thấu tư tưởng của trùm gian hùng Pelam. Sau khi ca nô tắt máy, y sẽ sai nhân viên giỏi thủy chiến nhảy xuống nước tìm kiếm. Lần này, chắc chắn chúng sẽ phăng ra chàng. Chàng phải rời xa khu vực hoạt động của ca nô trước khi Pelam trở tay. Giờ đây chàng đã có thể ra đi 1 mình vì Rôsita đã được an toàn. Nghĩ đoạn, Văn Bình nhịn thở cho toàn thân từ từ chìm xuống. Cứ thế chàng lặn ngược giòng về phía thành phố. Cách thuyền máy 1 quãng khá xa, chàng mới xuất đầu lộ diện. Ngoại ô Vọng các đã bị bóng đêm che kín. Du thuyền Thiên Thần nằm ngoan ngoãn trong ánh đèn mờ mờ. Xa xa là chiếc ca nô vô tích sự.

Văn Bình lóp ngóp trèo lên bờ, quần áo ướt sũng nước. Chàng phải tìm nơi an toàn, kiếm quần áo khô để thay, và nhất là uống ly 1 huýt ky cho ấm bụng. Chàng khựng người, sực nhớ đến cái hẹn định mệnh với cô gái Thái. Chậc 1 tiếng nhỏ, chàng rẽ vào bóng cây dày đặc. Đêm nay, chàng sẽ không được ngủ. Vì đêm nay nhiều chuyện quan trọng sẽ xảy ra.

Vì đêm nay là đêm dài nhất của đại tá điệp báo Văn Bình Z.28 tại Vọng các.

Chú thích:

(1) muốn hiểu cuộc gặp gỡ nồng nàn đầu tiên giữa Rôsita và Văn Bình tại Mani, xin đọc « Tử chiến ngoài khơi » ( 2 cuốn ) đã xuất bản tháng 12 – 1967.

(2) xin đọc Bí mật Hồng kông và Tia sáng giết người, đã xuất bản.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s