Chiếc Lá Hoàng Cầm

Hoàng Cầm với “Lá diêu bông”Lê Tiến Dũng

hoangcam_namkhgkhong_songduong

Thật khó mà cắt nghĩa cho thật rạch ròi từng câu, từng chữ của bài thơ. Nhưng đọc bài thơ dường như ta thấy hiện lên trước mắt mình cánh đồng quê một… chiều đông bảng lảng sương như trong huyền thoại. Trên cái nền chiều huyền ảo và xa xăm ấy như có bóng ai đang tìm kiếm một cái gì. Và dường như ta nghe âm vang một tiếng gọi, một âm vang mơ hồ đâu đó trong “gió quê vi vút”, một âm vang mơ hồ đâu đó trong tiềm thức mỗi người.

Diêu bông hỡi !…

… ới diêu bông !…

Cái lá diêu bông vô hình, vô ảnh và không có thật kia lại là cái mong ước có thật, sự tìm kiếm có thật của con người giữa cuộc đời.

Bài thơ mở đầu bằng nét chùng của tà “váy Đình Bảng” tạo nên nét đẹp duyên dáng của người con gái xứ Kinh Bắc.
Váy Đình Bảng buông chùng cửa võng
Chị  thẩn thơ đi tìm

Đồng chiều

cuống rạ

Người con gái xứ Kinh Bắc ấy đang tìm gì giữa cánh đồng mênh mông và lộng gió ? Chị đi tìm chiếc lá diêu bông hay tình yêu, hạnh phúc của đời mình ? Trời thì chiều rồi, cánh đồng mới gặt xong, còn trơ gốc rạ, dường như càng rộng ra. Trước một không gian mênh mông, một thời gian nhạt nhòa dần như thế sự kiếm tìm mới khó khăn làm sao !

Chị bảo :


Đứa nào tìm được lá diêu bông

Từ nay ta gọi là chồng.

Nào mấy ai có thể tìm được cái lá không có thực ấy trong đời. Tình yêu, hạnh phúc mãi mãi như chiếc lá diêu bông vô hình kia, ẩn mình đâu đó giữa cánh đồng đời mênh mông để con người suốt đời đi tìm, suốt đời chiêm nghiệm vì sự kiếm tìm này. Những đoạn thơ nối nhau như những trang đời, như lời thủ thỉ và ẩn đọng trong đó là cảm hứng, suy tư về sự kiếm tìm của con người trong đời.

Hai ngày Em tìm thấy lá

Chị nhau mày :

– Đâu phải lá diêu bông

Chao ơi, làm sao có thể tìm được chiếc lá mơ ước của một đời lại dễ dàng đến thế, chỉ “hai ngày” thôi ư ? Chị “chau mày” không tin đây là lá diêu bông, chiếc lá của một đời lặn lội, kiếm tìm cũng như không thể tin có thứ hạnh phúc nào lại đến quá dễ dàng. Thì đây :

Mùa đông sau

Em tìm thấy lá

Chị lắc đầu

trông nắng vãn bên sông

Dẫu thời gian đã nhiều ngày, nhiều tháng hơn (mùa đông sau) nhưng chị vẫn không tin có thể tìm được chiếc lá ấy giữa đời. Câu thơ thấm một nỗi buồn. Đấy là nỗi buồn lặng lẽ khi nghiệm ra rằng chiếc lá kia vẫn cứ là một ẩn số của đời người. Ánh nhìn gửi theo “nắng vãn bên sông” gợi lên nỗi buồn man mác, xa vắng. Vậy chẳng lẽ con người lại vô vọng trong sự kiếm tìm này ? Phải có một ngày, một lúc nào đó, người ta chợt nhận ra mình đã tìm được chiếc lá diêu bông của đời mình chứ ! Phải, đã có một ngày như thế :
Ngày cưới Chị

Em tìm thấy lá

Chị cười xe chỉ ấm trôn kim

“Ngày cưới” là ngày sung mãn, tròn đầy của hạnh phúc. Trong cái ngày ấy chị tưởng như đã chạm được vào chiếc lá diêu bông. Nụ cười chị e ấp, ấm áp và phảng phất cái tha thiết của dân ca quan họ : “Chị cười xe chỉ ấm trôn kim”. Nhưng rồi :

Chị ba con

Em tìm thấy lá

Xòe tay phủ mặt chị không nhìn

“Chị ba con” như là một sự trải nghiệm hết mọi lẽ buồn vui của cuộc đời. Với bấy nhiêu sự nếm trải, chị hiểu nào đâu có dễ dàng gì tìm được lá diêu bông hạnh phúc trên cánh đồng đời mình đã đi qua. Cho nên chị đã trốn chạy, trốn chạy ước mơ, khát vọng cháy bỏng của một thời, trốn chạy chính mình với bàn tay “phủ mặt” không nhìn. Nhưng cái bàn tay bé nhỏ kia dù cố “xòe” ra, dù cố “phủ mặt” cũng không thể che được cái nhìn hướng ra phía cuộc đời mênh mông. Chị bất lực với chính mình, bất lực với cả sự trốn chạy. Cái chiếc lá diêu bông dù không có thật ấy vẫn cứ hiển hiện, hiển hiện như một tiếng gọi, cố quên mà không quên được. Phải chăng đấy là cái bi kịch ngàn đời của con người mà Hoàng Cầm muốn nói đến :

Từ thủa ấy

Em cầm chiếc lá

đi đầu non cuối bể

Gió quê vi vút gọi

diêu bông hời !…

… ới diêu bông !

Đoạn thơ gợi lên cảm xúc bâng khuâng trước cái âm hưởng văng vẳng của một tiếng gọi đâu đây giữa cánh đồng quê một chiều đông. Tiếng gọi ấy như khát vọng ngàn đời của con người lẫn trong sương chiều, trong “gió quê” hay cất  lên từ trong lòng mỗi người ? Nào ai đã tìm được lá diêu bông của đời mình giữa cánh đồng đời bao la ? Nào ai đang lặn lội nơi “đầu non cuối bể” ? Diêu bông hời !… Ới diêu bông !

CÙNG HOÀNG CẦM ĐI TÌM LÁ DIÊU BÔNG

Ngô Minh

Từ thuở ấy
Em cầm chiếc lá
đi đầu non cuối bể
Gió quê vi vút gọi
Diêu bông hời…
… ới Diêu bông…!
Nhà thơ đi tìm. Người yêu thơ đi tìm. Những lứa đôi đi tìm. Nhưng nào ai tìm thấy ! Còn cái “Lá Diêu Bông“ viết hoa ấy vẫn ẩn hiện đâu đó nơi phố xá làng quê, nơi rừng sâu núi thẳm. Hoàng Cầm đa tình, kiêu sang mà cay đắng. Có phải bởi Hoàng Cầm cũng là tên của một vị thuốc bắc có vị đắng tận cùng ?. Hoàng Cầm là ông hoàng về thơ tình Việt Nam từ 50 năm nay. Bài thơ Lá Diêu Bông là một trong những bài thơ trữ tình hay nhất của ông, không thua kém gì, về mặt thơ, có khi vượt bài thơ Bên kia Sông Đuống. Lá Diêu Bông là một dấu ấn buồn thảm nên thơ nhất của đời ông.

Câu chuyện tình bắt đầu nửa đêm mùa đông năm 1959, ba năm sau vụ Nhân Văn- Giai phẩm, Hoàng Cầm trăn trở không ngủ được, trong ánh sáng lời mờ của ngọn đèn ngủ 6w . Nhà thơ chợt nghe bên tai vẳng lên một giọng nữ rất nhỏ nhẹ thầm thĩ trong đêm, mà rất rành rọt đọc chậm rãi từng câu thơ. Giọng nữ có tiết điệu, nghe như từ xa xưa vẳng tới :
Váy Đình Bảng buông chùng cửa võng
Chị thẫn thơ đi tìm…
Nhà thơ xoay người lấy giấy bút để sẵn đầu giường ra chép từng câu một. Bài thơ Lá Diêu Bông ra đời như thế. Nghĩa là thần linh đọc cho ông chép chứ không phải ông làm ra bài thơ!. Một bài thơ tình lạ : Tình EM và CHỊ . Lạ lùng và huyền hoặc hơn là mối tình chỉ xoay quanh một chiếc lá gọi là Lá Diêu Bông :
Chị bảo
Đứa nào tìm được Lá Diêu Bông
Từ nay ta gọi là chồng.
Cái Lá như một lời thách đối, thách cưới, cái lá như là sự trớ trêu, thử thách sự chịu đựng của con tim nhạy cảm và tâm hồn đa cảm.

Vậy cái Lá Diêu Bông ấy là cái lá gì vậy? Không ai biết. Ngay cả tác giả, người đã nhiều lần “Em tìm thấy lá” vẫn không biết nó là lá gì, ở đâu . Hoàng Cầm bảo :” Thần linh đọc Diêu Bông, tôi chép Diêu Bông, thế thôi !”

Có lần đi làm báo ngang qua Đèo Con ( Hà Tĩnh) phía ngoài Đèo Ngang, tôi bắt gặp cái biển quảng cáo các món ăn. Bên dưới có ghi một câu rất gợi :” Ở đây có Lá Diêu bông”. Tôi ghé quán, hỏi Lá Diêu bông là lá gì ? Cô chủ quán trẻ măng mắt liếc dao cau, cười đưa đẩy :” Anh muốn là lá gì thì nó là cái lá đó”. Nghĩa là nhà thơ Hoàng Cầm đã sáng tạo ra một thứ lá ảo. Thứ lá mà ai cũng thuộc tên, cũng mường tượng được hình dáng nó, nhưng nó lại không có thực bao giờ! Cũng có thể gọi bài thơ Lá Diêu Bông là câu chuyện cổ trong Nghìn lẻ một đêm , các chàng trai phải đi tìm được một cái gì đó, giết được một con vật độc ác nào đó nhà vua mới gả công chúa cho. Nhưng tìm mãi, có khi tìm được mà vua bảo “không phải”, thế là đành “ngậm một mối hờn” đi tìm tiếp. Tôi cho rằng, bài thơ Lá Diêu Bông là một “hiện thực huyền ảo” trong thơ Việt Nam hiện đại. Nhạc sĩ Trần Tiến dùng lá Diêu bông làm hồn cho ca khúc “Sao em vội lấy chồng” viết theo đơn đặt hàng cơ quan tuyên truyến sinh đẻ có kế hoạch. Nghĩa là cái Lá Diêu Bông ấy không chỉ là tình yêu mà nó còn có dính dáng đến vợ chồng, sinh đẻ. Nhiều doanh nhân đặt tên cho quán mình là Quán Diêu Bông…Ấy cũng là một cách tìm Lá.

Trong suốt cuộc đời mình cho đến hôm nay Hoàng Cầm có tất cả 13 Nàng Thơ xương thịt. Ông bảo “Đó là những hồn người đã gọi ra nhịp điệu, âm thanh, đường nét sắc màu” những bài thơ tình của ông. Theo nhà thơ Nguyễn Thuỵ Kha, thì ông đã cho mọi người biết tên của 9 nàng, còn 4 nàng là tên viết tắt. Trong 9 nàng có tên, có chị Vinh “diêu bông” và chị Nghĩa “tam cúc”đã làm nên thời ký “Thơ Chị Em” của Hoàng Cầm. Nhà thơ Hoàng Cầm kể trên sóng phát thanh :” Năm 12 tuổi, tôi say mê một người con gái láng giềng hơn tôi những 8 tuổi….”. Một chiều thứ bảy, cậu bé Bùi Tằng Việt thấy một cô gái hàng xóm đang mua thứ gì đó ở quán của mẹ. Khi cô ấy ngẫng đầu lên, nhìn ra đường thì cậu bé lên tám choáng người, bị ngay “tiếng sét ái tình” Người con gái đẹp đến mê hồn. Thế là cậu bé làm một trang thơ lục bát tặng người tình trong mộng . “Em gửi chị Vinh của em”. Chị Vinh cũng váy lụa Đình Bảng, áo cánh lụa mỡ gà, khăn vuông mỏ quạ , đi Hội Lim chị là bà chúa quan họ, giọng ngọt như mật. Từ đó CHỊ đi đâu EM theo đó. Lẽo đẽo bụi hồng. Cho đến một ngày tròn 12 tuổi, cậu bé theo sau chân chị ra đồng.
– Chị Vinh ơi chị tìm cái gì thế”.
Chị Vinh quay phắt lại, giọng bỡn cợt :
– Ừ , Chị đi tìm tìm cái lá… ấy đấy, đứa nào tìm được cái lá… ấy ta gọi là chồng !
Hai ngày em tìm thấy Lá
Chị chau mày
Đâu phải lá Diêu bông
Mùa đông sau em tìm thấy Lá
Chị lắc đầu
Trông nắng vãn bên sông
Ngày cưới Chị
Em tìm thấy Lá
Chị cười xe chỉ ấm trôn kim
Chị ba con
Em tìm thấy Lá
Xoè tay phủ mặt Chị không nhìn

Từ khi “Chị thẫn thơ đi tìm / Đồng chiều / Cuống rạ” cho đến “ Mùa đông sau…, Ngày cưới chị…rồi khi “Chị ba con” là một quãng thời gian rất dài, rất dài. Vậy mà EM vẫn kiên nhẫn miệt mài đi tìm Lá để chứng minh cho tình yêu thương đối với CHỊ của mình. Và Em đã bốn dạo “Tìm thấy Lá”, nhưng đều bị CHỊ từ chối không “gọi là chồng”. Bi kịch của tình yêu, bi kịch cuộc đời là vậy . Yêu nồng nàn , nhưng không tới được hạnh phúc. Cho nên
Từ thuở ấy
Em cầm chiếc lá
đi đầu non cuối bể
Gió quê vi vút gọi
Diêu bông hời…
Ới Diêu Bông… !
Đoạn kết bài thơ như một tiếng kêu thảng thốt, nấc ngẹn, đẩy nỗi buồn đau đến vô cùng . Bài thơ là một giấc mộng, là câu chuyện cổ tích về mối tình đầu của Hoàng Cầm. Với ngôn ngữ vùng Kinh Bắc dân giã mà chắt lọc, bài thơ như pho tượng đài tình yêu bằng kim cương lấp lánh. Ôi, thơ là ngôn ngữ kỳ diệu của trí tưởng tưởng. Nhà thơ sáng tạo ra hình tượng thơ, còn người đọc thơ, cảm thơ thì mỗi người cảm nhận một cách khách nhau. Đó là “ý tại ngôn ngoại” của thơ, do chiều sâu của bài thơ quy đinh. Đó cũng là cội nguồn gây ra bao rắc rối cho tác giả Lá Diêu Bông…

Tôi quen biết nhà thơ Hoàng Cầm nhờ anh Phùng Quán. Năm 1985, ra Hà Nội, tôi ngụ tại Chòi Ngắm Sóng của Phùng Quán. Ngày nào anh cũng đèo tôi bằng cái xe đạp cuốc Liên Xô cao lêu nghêu đi thăm các nhà thăm Trần Dần. Hoàng Cầm, Phùng Cung…Sau đó, tôi gặp anh nhiều lần ở nhà anh Phùng Quán, hay trong các kỳ Đại hội Nhà văn Việt Nam. Năm 1993, Hoàng Cầm cho xuất bản tập thơ Lá Diêu bông, một phần trong tập “Về Kinh Bắc “ viết trong 2 năm 1959, 1960. Sau nhiều trắc trở, mãi đến tháng 7- 1994, tập thơ “Về Kinh Bắc” mới được ấn hành. Ông tặng tôi một tập với lời đề tặng rất “bạn bè” “Tặng bạn Ngô Minh”, mặc dù về tuổi ông là bậc cha chú, về thơ ông là bậc thấy.

Đọc Lá Diêu Bông, ngoài câu chuyện tình đơn phương như huyền thoại ấy, tôi còn miên man nghĩ đến một “thông điệp” khác rất “bỏng cháy” phát ra trong từng câu chữ thơ. Tại sao EM tìm thấy LÁ mà CHỊ vẫn “chau mày”, “ lắc đầu”,” xoè tay phủ mặt không nhìn” ? CHỊ là ai ? Tạo sao CHỊ lại nhất quyết cự tuyệt tình yêu của EM đến vậy, mà không một lời giải thích , không một chút thương tâm ? Sao Chị lại Vô Tình, Vô Tâm đến vậy ? Đó có phải là một phần số phận đắng cay, ẩn ức của Hoàng Cầm được thể hiện dưới dạng thức thơ tình ? Sinh thời, anh Phùng Quán thường kể với tôi, sau vụ Nhân Văn – Giai phẩm, Hoàng Cầm là người “sám hối” mạnh mẽ nhất để mong sớm được làm thơ, viết văn trở lại. Ông làm nhiều thơ gửi lên cấp trên để mong được “cứu xét”. Rồi ông chờ đợi. Nhưng không một hồi âm. Nhớ lại thời kỳ này, nhà thơ Hoàng Cầm kể với phóng viên báo An Ninh Thủ đô ngày 28/2/2007 :” Lúc đó chúng tôi chỉ biết lấy sáng tác để khắc phục, làm đêm làm ngày, tập trung sáng tác để quên đi cái khổ. Chỉ có cách khắc phục bằng lý tưởng cách mạng của mình thôi chứ biết làm sao…”. Ông đã làm hết sức mình để thể hiện lòng trung trinh như nhất của mình, nhưng vẫn bị nghi ngờ, chối bỏ! Thế là ông mượn thơ để giải toả nỗi thất vọng của mình. Có lẽ không phải riêng tôi mà chắc ai rành thơ cũng nghĩ như thế. Vì bài thơ “ mỗi lời là một vận vào khó nghe” với số phận ông Hoàng.

Nhà thơ Hoàng Cầm không chỉ bị nạn trong vụ “Nhân Văn- Giai phẩm”. Bài thơ “ Lá Diêu bông” ra đời cũng đã làm cho Hoàng Cầm phải bị vô tù tội điêu đứng. Nhà thơ Hoàng Cầm kể với vợ chồng anh Phùng Quán và tôi trên “Chòi ngắm Sóng” bên Hồ Tây một câu chuyện buồn. Mùa thu năm 1982, bỗng nhiên xe Công an đến nhà riêng 43-Lý Quốc Sư Hà Nội đọc lệnh bắt ông Bùi Tằng Việt ( tên thật của nhà thơ Hoàng Cầm) vô tù về tội chứa chấp người buôn bán sử dụng ma tuý. Hoàng Cầm thì xưa nay đã thành nếp, ngày nào cũng hút vài “vê” nàng Tiên Nâu mới tỉnh trí để sáng tác. Bây giờ đã 88 tuổi rồi, ông vẫn chơi “cơm đen”. Đã hút thì phải có người cung cấp thuốc, tất nhiên…

Thực ra, thì trước đó Công an đã bắt nhà thơ Hoàng Hưng vì nhà thơ này định chuyển bản thảo tập thơ “Về Kinh Bắc” của Hoàng Cầm, do Hoàng Cầm đưa ra hải ngoại để in ấn. Do vậy, Hoàng Cầm bị bắt. Trong tập thơ đó có bài thơ “ Lá diêu bông” . Ở trong nhà giam, “cán bộ” đưa cho nhà thơ bản thảo tập thơ Về Kinh Bắc, bảo Hoàng Cầm mỗi ngày phải viết kiểm điểm về từng bài, từng chữ trong đó. Khi nào kiểm điểm “thành khẩn” mới được tha. Về Kinh Bắc là tập thơ trữ tình hay nhất, tâm huyết nhất của Hoàng Cầm. Ông đọc đi đọc lại chẳng thấy có gì “sai đường lối” cả. Nhưng “cán bộ” trai giam vẫn không chịu, vẫn bắt viết kiểm điểm. Một hôm ông nghĩ “Có lẽ do bài Lá Diêu Bông chăng?”. Vì đây là bài thơ duy nhất có độ “nhoè” cao, dễ gây ra những ý nghĩa mơ hồ . Thế là Hoàng Cầm viết kiểm điểm ngay bài thơ “Lá Diêu Bông”. Quả nhiên, khi nộp kiểm điểm, ông thiếu tá công an vui vẻ cảm ơn nhà thơ. Đúng là bài thơ đã tạo ta hai hình ảnh đối nghịch :CHỊ bà EM. Đọc trong văn cảnh, người ta nghĩ ngay đến CHỊ đây là người có quyền muốn làm gì thì làm, tức là Nhà nước. Còn EM là nhà thơ, là văn nghệ sĩ, yêu CHỊ mà CHỊ không yêu cũng phải cam chịu. Muốn theo chị mà chị không cho, chị lắc đầu. Thế là vì “Lá Diêu Bông”, Hoàng Cầm đã phải ngồi tù 18 tháng.Tôi thấy công an đọc thơ như thế cũng “khen cho con mắt tinh đời”. Nhưng, thực tình “Lá Diêu Bông” không phải là bài thơ CHỐNG ĐỐI, không có ý gì chống đối ẩn trong đó cả, mà chỉ là bài thơ BUỒN, TRÁCH . Vì “buồn, vì “trách” mà phải ngồi tù năm rưỡi ròng quả là quá oan nghiệt ! Giá mà những người làm công việc “thực thi pháp luật ” hiểu văn chương tử tế hơn, hiểu cho hết, cho đúng ý tưởng bài thơ, thì chắc chắn nhà thơ Hoàng Cầm không phải bị phiền luỵ đến thế !

Sau đợt bị nhốt tù ấy về, nhà thơ Hoàng Cầm bị suy sụp vì khủng hoảng tinh thần. Có lần Phùng Quán đến nhà thăm, bà Hoàng Yến ( vợ Hoàng Cầm) nói với anh Quán :” Anh chú hỏng rồi ! Ai đời ăn bánh giò xong, bỏ lá bánh vào tủ khoá lại…” Từ đó, Hoàng Cầm không sáng tác nữa . Hàng ngày ông bán quán nước trà trước nhà. Bọn trẻ gọi “ Ông Cầm, cho đĩa lạc”. Thế là ông lọm khọm bốc lạc ra đĩa, bưng đến bàn cho bọn khách choai choai. Phùng Quán xót ruột hỏi :” Cái quán nước này cho anh ngày bao nhiêu mà anh phải khổ sở thế ?” .Hoàng Cầm ngậm ngùi :” Em cứ coi như thi sĩ Hoàng Cầm đã chết rồi. Bây giờ chỉ còn mỗi ông chủ quán nước Hoàng Cầm thôi !” Vì thế, Phùng Quán, đã viết bài thơ “Viết tặng nhà thơ Hoàng Cầm trong giây phút anh ngã lòng suy sụp” :
Tôi tin núi tàn
Tôi tin sông lấp
Nhưng tôi không thể nào tin
Một nhà thơ như anh
Lại ngã lòng suy sụp!…
…Tôi có một niềm tin
Chắc như định đóng cột
Mai kia anh nhắm mắt
Đi sau linh cửu anh
Ngoàì bạn hữu gia đinh
Có cả con Sông Đuống!…

Sau này. Nhà thơ Hoàng Cầm đã có lần tâm sự với chị Bội Trâm ( vợ nhà thơ Phùng Quán) :” Thơ chú Quán đã vực tôi dậy …”. Cũng có một nhà văn ở Thành phố Hồ Chí Minh đã viết bài :” Một bài thơ đã cứu một nhà thơ…” kể về chuyện ấy.

Có người định nghĩa Lá Diêu bông là Lá yêu , những ai đang yêu mới tìm thấy lá! Tôi cho rằng Lá Diêu Bông là một trong những bài thơ tình hay nhất Việt Nam. Nhưng tôi vẫn đi tìm lá Diêu Bông theo cảm nhận của riêng mình, đi tìm cái lá Diêu Bông của số phận thi sĩ .
Diêu Bông hời
Ới Diêu Bông…

hvln

Cây Tam cúc

Đặng Tiến

Hoàng Cầm là một nhà thơ Việt Nam xuất sắc bị buộc phải im hơi lặng tiếng hơn ba mươi năm, nên tài hoa chưa được quần chúng tiếp nhận đầy đủ, và giới phê bình, nghiên cứu chưa có khoảng cách để đánh giá đúng mức.

Vài năm nay, đã thấy xuất hiện nhiều tác phẩm Hoàng Cầm. Gần đây, mừng Hoàng Cầm lên tuổi bảy mươi – với trên lưng già nửa thế kỷ sáng tác và gian truân – nhà xuất bản Văn Hoá cho in một tập thơ chọn lọc 1942-1992 dưới tựa đề Bên kia Sông Đuốngmột tuyển tập đặc sắc.

Hoàng Cầm sinh năm 1922, tên thật là Bùi Tằng Việt do nơi sinh là thôn Phúc Tằng, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang (nay là Hà Bắc). Anh ra đời và lớn lên trong tiếng hát Quan họ, tại vùng Kinh Bắc xưa, cái nôi văn hoá của đồng bằng Bắc Bộ. Thơ Hoàng Cầm bắt nguồn từ nền văn hoá kia và tiếng hát ấy. Thi hứng của anh xoáy dọc xoay ngang vào những Kinh Bắc, Thuận Thành, Bát Tràng, Sông Đuống. Từ lưng vốn cũ càng, Hoàng Cầm từng bước làm mới thơ mình, anh là trường hợp hiếm hoi nếu không phải là duy nhất giữa những nhà thơ cùng lứa tuổi, đã tạo ra được phong cách thi ca mới, trên một nền từ vựng cũ, trên phong tục cổ truyền. Thơ Hoàng Cầm là cuộc hôn phối hạnh phúc giữa tính dân tộc và tính hiện đại.

Cây Tam Cúc là một bài thơ hay, tiêu biểu cho những thành tựu nghệ thuật của Hoàng Cầm. Từ một trò chơi dân gian khá phổ biến, tác giả đã sáng tạo nên một bức tranh trữ tình đặc sắc và phong phú, bắt đầu với tình nam nữ, rồi đến tình chị em, tình người, tình dân tộc. Rộng ra nữa là tình yêu tuổi trẻ, quê hương, tình yêu cuộc sống trong mọi mặt, trong cảnh nhàn nhã lẫn lúc chênh vênh. Từ một ổ rơm giản dị, hình ảnh quê nghèo, Hoàng Cầm đã vẽ lên giấc mơ hạnh phúc, giấc mộng lứa đôi với ít nhiều nhục cảm. Bài thơ tình tứ và nhẹ nhàng, có khả năng làm suy nghĩ, nhờ kỹ thuật già dặn và tân kỳ của Hoàng Cầm về mọi mặt từ vựng, ngữ điệu cũng như hình ảnh.

Một điều cần nói thêm: nếu đặt được bài thơ vào không khí và văn hoá quan họ thì nó sẽ thêm hương sắc. Những câu hát quan họ, thường là những bài tỏ tình trai gái, có khi trơ trẽn; nhưng đặt vào nền văn hoá quan họ, thì khác: những bài hát ấy mời gọi, ca tụng cuộc sống và con người. Cây Tam Cúc của Hoàng Cầm cũng vậy: nó chuyên chở tình người, tình quê nhiều hơn luyến ái lứa đôi.

Cũng như những làn điệu dân gian xưa kia, thơ Hoàng Cầm ngày nay là những ngọn lửa sưởi ấm cuộc sống, một tia nắng mới trên chân trời cũ. Những đoá râm bụt nở muộn màng trên bờ giậu làm thắm lại niềm lãng quên bên triền ký ức.

Thơ Hoàng Cầm trau chuốt, có khi do dụng công và kinh nghiệm, có khi chỉ là thành tựu của vô thức – mà nhà thơ gọi là thần lực hay tâm lực. Vô thức ở đây là phần tích luỹ trầm kha của rung cảm và tiềm năng sáng tạo; thi nhân từ năm này sang năm khác sống triền miên bài thơ mình cho đến lúc nó bật ra thành lời, thành tiếng; do đó, Hoàng Cầm có lần tâm sự rằng nhiều câu thơ, có khi toàn bài thơ của mình là tiếng nói đến trong những giấc mơ, từ một thế giới khác, như là một giọng nói mầu nhiệm, linh thiêng.

Thơ Hoàng Cầm giàu âm điệu. Anh nói: “Nhạc điệu là cái xe chở cái hồn của bài thơ”. Có những câu thơ dìu dặt, luyến láy do sắp xếp; nhưng giai điệu toàn bài thơ có thể xuất thần, vượt khỏi dụng công. Ví dụ bài Cây Tam Cúc trên 111 chữ đã có đến 27 âm đ là một phần tư. Ngoài số lượng, còn chất lượng: âm đ đứng vào những vị trí xung yếu, hay diễn tả những tình ý thiết thân:

Em đừng lớn nữa, Chị đừng đi
…Em đi đêm, tướng điều sĩ đỏ
Đổi xe hồng đưa chị đến quê Em
… Quan Đốc đồng áo đen nẹp đỏ
Thả tịnh vàng cưới Chị…

Âm đ còn là những chuyển động trong bài thơ: đi, đứng, đưa và đến; hay là màu sắc hạnh phúc: tướng điều sĩ đỏ; trầu cay má đỏ đối lập với màu đen của định mệnh: Quan Đốc đồng áo đen nẹp đỏ; tướng sĩ đỏ đenHai chữ đỏ đen cô đọng nội dung bài thơ, một trò chơi may rủi, giống như tựa đề Đỏ và Đen của tiểu thuyết Stendhal.

Âm đ chủ đạo âm điệu bài thơ Cây Tam Cúc của Hoàng Cầm nhắc ta âm trong bài thơ La Fileuse của Valéry. Cũng cần thêm rằng âm đ = [d] trong tiếng Việt, cũng như âm [l] trong tiếng Pháp, có một giá trị thẩm mỹ đặc biệt. Âm đ luyến láy ở những vị trí ưu đãi, còn nhắc đến câu thơ Hoàng Cầm rất cảm động:

Em ngồi đâu, Chị đứng đâu
Bỗng dưng hai đứa hai đầu hư không

Ngoài giá trị và vị trí của một phụ âm đ, còn giai điệu toàn bài thơ, gồm những câu dài ngắn, so le, với nhịp điệu thường xuyên thay đổi. Bắt đầu bằng nhịp cổ điển, sau đó tiết điệu biến đổi, khi dìu dặt, khi rắn rỏi, lúc khoan thai, nói chung là nhẹ thoảng. Có thể nói Cây Tam Cúc là một bài thơ ngắn dồi dào nhịp điệu vào hàng đầu trong thơ Việt. Hoàng Cầm phân phối, luyến láy những nguyên âm, phụ âm rất tài tình. Đoạn đầu, bốn âm k (=c) câu đầu vọng lại ở hai chữ (cây cay), biệt đãi ở câu giữa, “kết” ở chữ “ kết” rồi chữ “quê” (đọc k) câu bốn. Quê em là hình ảnh của hạnh phúc vọng tưởng

Năm sau giặc giã
Quan Đốc đồng áo đen nẹp đỏ
Thả tịnh vàng cưới chị
võng mây trôi

Quan Đốc đồng… nhịp thơ gay gắt, như định mệnh bức bách đánh dấu bằng âm đ cứng rắn – như trong những chữ đánh đấm, đạp đổ, đấu đá, đau đớn đối lập với câu sau, ung dung, nhẹ thoáng, làm nổi bật những động từ phóng túng, tự do, thoải mái: thả, cưới, võng, trôi đưa đến hư không. Chữthả dùng rất độc và đắt, nhắc đến những cuộc bố ráp của một quân đội viễn chinh vô kỷ luật. Võng đi với cưới, nhưng kết quả chỉ là mây trôi, như một hạnh phúc tan biến, vô tông tuyệt tích:

Em đứng nhìn theo, Em gọi đôi

Còn lại một mình Em, giữa cảnh mây trôi tan tác. Gọi đôi là gọi Chị, gọi hạnh phúc, gọi vô cùng và vô vọng.

Câu thơ ngắn và đơn giản nhất

Năm sau giặc giã

nhắc lại hoàn cảnh lịch sử, nhắc thoáng qua thôi, nhưng chúng ta đều nhớ đến hằng triệu giấc mơ tình đã cháy rụi, đã tàn lụi trong cơn hoả mộng dài nửa thế kỷ. Thơ Hoàng Cầm trọn vẹn với dân tộc chỗ đó. Giặc giã, tự nó mang theo bạo lực áp bức. Quan Đốc đồng là chức quan địa phương thời Lê, ở đây là hình ảnh của định mệnh, của cường quyền; chữ đốc đồng được chọn, vì âm vang và vì thể chất kim khí cứng rắn, đối lập với tuổi thơ đứa được, đứa thua; với hạnh phúc thanh bình có đi, có đưa là có đến. Thân phận người chị long đong: động từ cưới không rõ chủ từ, qua câu thơ, không rõ Quan đốc đồng cưới chị hay ông ấy chỉ thả tịnh vàng cưới chị. Ai cưới, không biết, về đâu cũng không hay; chúng ta cảm giác một cuộc cưỡng hôn, hay một cuộc hôn nhân chắp nối trong giặc giã. Đau xót nhất là Em đã bảo: Chí đừng đi.

Ta đã thấy Hoàng Cầm dùng động từ rất tài tình. Các nhà thơ mới đều có chủ tâm sáng tạo bằng động từ. Như Huy Cận:

Sóng rủ nhau đi bát ngát cười
(…) Sóng đã cài then, đêm sập cửa
(…) Đêm thở, sao lùa nước Hạ Long

Hoàng Cầm cũng sành dùng hoán dụ:

Thân cau cụt vẫy đuôi mèo trắng mốc
Chuồn chuồn khiêng nắng sang sông
(…) cò chở nắng tề phi…
(…) Hàng tre nhả yếm
Đá nghển trông con
gục đầu sườn núi Dạm
Lụa vàng xé lộc rắc tro tiền

nhưng đặc sắc là những động từ rất chính xác trong trò chơi tam cúc, nhưng lại ẩn dụ tình ý khác: chị gọi đôi cây… Nghé con bài… Em đi đêm… chui sấp ngửa… đổi x e hồng… Em gọi đôi… Dĩ nhiên, người biết chơi tam cúc sẽ thích thú với những động từ gọi, kết, chui, đi đêm (đổi bài) đổi. Thậm chí ta có thể lắp ghép hai câu thơ, để tóm tắt toàn bài:

Chị gọi đôi cây – Em gọi đôi.

Chị chỉ đánh bài tam cúc thôi, còn Em thì mơ tình yêu, đôi lứa. Em sẵn sàng hy sinh những tài sản quý giá nhất, những con bài tốt nhất, tướng điều sĩ đỏ, để hưởng được một thoáng hạnh phúc phù du: Đổi xe hồng đưa Chị đến quê Em.

Giấc mơ tình ái đã đến với Hoàng Cầm từ tuổi lên tám, bên cạnh cô hàng xóm tên Vinh tuổi gấp đôi. Tuổi thơ đã sớm phảng phất mùi tính dục với hơi tóc ấm… đọng tuổi đương thì, và hình ảnh rạo rực, tinh quái:

Tướng sĩ đỏ đen chui sấp ngửa

Có lẽ trai gái chơi bài xong, mệt quá, lăn kềnh ra ngủ: hình ảnh mộc mạc hồn nhiên của quê nghèo. Chúng ta nhớ bài thơ Cờ người được gán cho Hồ Xuân Hương, có câu: quân thiếp trắng, quân chàng đen, và Hồ Xuân Hương thường có lối chơi chữ như thế. Văn học dân gian đã cho ta những ví dụ chơi chữ tinh tế:

Quay tơ thì giữ mối tơ
Dầu năm bảy mối hãy chờ mối anh
… Biết nhau từ thuở buôn thừng
Trăm đứt ngàn nối xin đừng quên nhau

Cấu trúc Cây Tam Cúc hài hoà toả ra một thế giới riêng, trong đó kĩ thuật chơi chữ như biến dạng với những đường khâu, chúng ta chỉ còn thấy một tấm áo đẹp, hay một hoạ phẩm tuyệt vời.

Bình thường, tình ái đưa đến hôn nhân. Trong thơ Hoàng Cầm thì ngược lại, hôn nhân là mối động cơ của tình ái, là giấc mơ tình ái. Hình ảnh xe hồngđẹp và tinh tế. Nghĩa đen của nó là quân bài, nhưng mang hình tượng của xe cưới, xe hoa – ngày xưa đã có phong tục dùng kiệu kết hoa để rước dâu.Trầu cay má đỏ… kết xe hồng… Vẫn người chị ấy, trong giấc mơ hôn phối,

Chị vỡ pha lê. Bùn vấy tay
Hồn trong Em chuốc Chị chìm say
Là Em cưới Chị xanh thiêm thiếp
Sinh một đàn con
Mây trắng bay

[Chị Em xanh]

Viển vông, sao mà giấc mơ tha thiết đến thế. Cũng người chị ấy, trên một cánh đồng chiều đông, đã hứa hẹn hão huyền:

Đứa nào tìm được lá Diêu Bông
Từ nay ta gọi là chồng…
(…) Ngày  cưới Chị
Em tìm thấy lá
Chị cười xe chỉ ấm trôn kim

[Lá Diêu bông]

Lễ cưới, trong thơ Hoàng Cầm, là một hình tượng nghệ thuật có giá trị thẩm mỹ trên hết. Hôn lễ không phải là luật lệ, nghi thức xã hội mà thôi, nó là một thành tựu của tình người hài hoà trong xã hội: hôn lễ là sự đồng thuận giữa hai cuộc sống, trong rất nhiều cuộc sống làm thành đại gia đình, xã hội, dân tộc; là dòng sông hoà hợp để tiếp nối dòng sống của loài người. Hôn lễ là niềm vui của nhân loại qua đám cưới chuột “tưng bừng rộn rã” trong bài Bên kia Sông ĐuốngThơ là hôn lễ của từ ngữ, giữa lòng ngôn ngữ. Từ đó, khi tả một mâm cưới nghèo, chỉ có khoai luộc, Hoàng Cầm đã cấu tứ được một hình tượng đặc sắc:

Cỗ cưới chênh vênh khoai luộc
Mật vàng mọng rách vỏ nâu non

[Đợi mùa]

Tả củ khoai như vậy là thần tình, và hiện đại: thơ văn Việt Nam dường như chưa có củ khoai nào đa tình đến thế; trong ca dao, củ khoai còn phảichấm mật, ở đây mật vàng mọng sẵn trong khoai, như thân thể cô dâu căng đầy nhựa sống, chín mọng khát khao, chứa chan mật ngọt trần gian. Mà vẫn không quên những khốn khó của nhân gian, không quên thân phận chênh vênh, nâu non rách rưới. Đâu đây, còn phảng phất mùi da thịt cô gái hai mươi

Ổ rơm thơm đọng tuổi đương thì

Nơi kia, hơi ấm cô gái lại thơm mùi gạo mới

Đường quê mình dăng hương tám đỏ
Khép ổ rơm mùa giăng tóc tám xoan
Em quây sân vuông cót tròn nếp quít
Em nung gạch già thuyền ngả bến than

(…) Hàm răng nuột nà xít xa dóng mía
vú xuân đường phèn căng bưởi Nga My
Môi hè thạch non hé dưa hấu tía
Cốm sen cuối cành gói lá đài bi.

(…) Anh đi xa Em mới biết nói thầm
Đường đê chợ Trầm sang mùa Tu hú…

[Vợ Liệt sĩ]

Hạnh phúc lứa đôi đậm đặc màu sắc dân tộc, mà hơi thơ lại mới mẻ, thắm tươi. Nhục cảm nồng nàn, rạo rực, mà dịu dàng, kín đáo. Cô gái quê trong Nguyễn Bính lúc nhớ người yêu thì cơ thể

Sao cứ đầy lên, cứ rối lên

Cô gái quê trong Hoàng Cầm, cơ thể đầy mà không rối. Cô gái tân thời trong thơ Xuân Diệu rảnh rỗi hơn:

Em gọi thầm anh, suốt cả ngày

Cô gái quê trong thơ Hoàng Cầm mới biết nói thầm khi xa vắng người yêu. Ý không thật, lời không thật, nhưng tình thì thật: vắng anh, cả đời sống nội tâm của em đều thay đổi, mọi đối thoại với người ngoài đều trống rỗng. Nói, là nói thầm, nói với anh hay nói một mình. Câu sau: Đường đê Chợ Trầm…là một câu tả cảnh, ngoại cảnh và tâm cảnh cô gái

Anh đi xa Em mới biết nói thầm             a
Đường đê Chợ Trầm, sang mùa tu hú    b

Hai câu thơ kết hợp a b mạch lạc, tinh tế, hay cái hay thường tình của văn chương, của lời nói khéo. Nay ta thử tách rời a ra khỏi b, sẽ có hai câu thơ độc lập, lẻ đôi, và mỗi câu đều có giá trị riêng, nhất là câu

Đường đê Chợ Trầm, sang mùa tu hú

Ý nghĩa không có gì, nhưng âm vang kỳ diệu. Hoàng Cầm có nói “Cái tứ của thơ phải đọc được ngoài lời. Có nhiều bài thơ mang một tứ rất lạ, khó giảng, khó bình, chỉ cảm thấy được thôi”.

Cũng là tiếng tu hú, cất lên đầu mùa hạ, gọi nắng hồng, trái chín và những phiên chợ rộn rã trong thơ Nguyễn Bính:

Tu hú vừa kêu, vải đã vàng

mà âm vang khác. Có thể trong sáng hơn, nhưng không tạo cảm giác mờ ảo, huyền nhiệm như câu thơ Hoàng Cầm. Ánh sáng ấy, là biên giới giữa thơ và văn xuôi.

Nhắc lại tình cảm ở tuổi thơ – tuổi mười hai ở quê vào năm 1934 là còn nhỏ lắm – Hoàng Cầm cùng làm chung với một người bạn, bài Gọi đôi trên đồi chùa Phật Tích, xuân 1974:

Dưới sông kia chẳng quay đi
Mười hai tuổi cũ biết gì chị ơi
Một con bướm lửa đậu môi
Hai nhành hoa lửa chia đôi tay cầm
Ba tầng mây lửa trầm ngâm
Bốn con chim lửa đậu nhầm cỏ hoang.

(… ) Em ngồi đâu chị đứng đâu
Bỗng dưng hai đứa hai đầu hư không.

Ngọn lửa đam mê bừng cháy tuổi thơ của Hoàng Cầm sẽ tiếp nối bập bùng mãi mãi trong thơ anh, cho đến bây giờ “ thì cũng bấy nhiêu ngày đêm nghe lửa reo mòn tuổi tác”. Mượn hình ảnh trong truyện thơ Men Đá Vàngta có thể so sánh nhà thơ Hoàng Cầm với người thợ nung men sứ Bát Tràng trong huyền thoại, gan hồng thạch, dạ kim cương, anh Phù Du ngày đêm canh sức lửa.

Lửa của bướm hoa, lửa của đá vàng, thơ Hoàng Cầm, năm mươi năm qua, đã trầm ngâm vàng mười thử lửa.

Tam cúc là trò chơi dân gian trong những ngày tết. Nói là dân gian, nhưng cũng phong lưu

Rút trộm rơm nhà đi trải ổ

hàm ý là cậu bé đi chơi lén đâu đó bên hàng xóm. Chỉ trộm rơm không thôi, thì không lấy gì trầm trọng. Nhưng niềm vui của cậu bé là vụng trộm. Mê say cô hàng xóm hơn mình tám tuổi trong tình chị chị em em, thì có cái gì đó bất chính, mang mùi vị trái cấm. Cậu bé càng biết vậy, càng thiết tha, càng lý thú, cái thú đi đêm thầm lén. Người chị biết vậy mà vẫn để cậu em mơ mộng, vẩn vơ mà vô hại. Biết đâu cô chị chẳng thích thú và đồng loã?

Nghé con bài tìm hơi tóc ấm
Em đừng lớn nữa Chị đừng đi

Trong bài thơ, chỉ có một câu phủ định, nhưng vô vọng. Làm sao “ đừng lớn nữa” làm sao giữ mãi được cõi “thiên đường xanh những mối tình bé dại”(le vert paradis des amours enfantines) như lời thơ Baudelaire? Nhân vật Créon, cuối vở kịch Antigone của Anouilh cũng dặn chú tiểu đồng là “đừng lớn nữa” ( Il faudrait ne jamais devenir grand). Vấn đề của Hoàng Cầm là không thoát ra khỏi được tuổi thơ. Hoàng Cầm ở tuổi sáu mươi, bảy mươi, làm thơ là để sống lại tuổi mười hai “trong tấm lòng may thay vẫn là tấm lòng 12 tuổi”.

Tuy nhiên, thơ Hoàng Cầm có hồi cố mà không hoài cổ. Anh không tỉ tê, tí ta tí tách. Sử dụng chất liệu cũ để kiến trúc một phong cách thơ mới, Hoàng Cầm thành công. Thơ Hoàng Cầm vừa lạ vừa thân. Sinh trưởng từ tiếng hát quan họ, thơ Hoàng Cầm không phải là một làn điệu dân ca nối dài mà là ngôn ngữ hiện đại của một tâm hồn tân tiến. Đây là điều khó thực hiện, và số người đạt tới không nhiều. Không phải vì tình cờ mà tuyển tập Bên kia Sông Đuống mở ra bằng bài Cỏ Bồng Thi:

Chị đưa Em đến bến này
Cheo leo mỏm đá
Trước vực
Sau khe

… Cỏ Bồng Thi phải cheo leo mỏm đá.

Đến bến là phải đến nơi bằng phẳng, êm ả, ngừng nghỉ. Nhất là nơi Chị đưa Em đến. Sao vẫn cheo leo? Bài này viết năm 1959, nhưng ta không nên giải thích đơn giản bằng vụ án Nhân văn – Giai phẩm mà anh là nạn nhân dài hạn. Vì cùng một năm ấy, anh còn làm nhiều bài khác rất thanh thoát, nhưLá Diêu bôngCây Tam Cúc và loạt bài Đêm Ngũ Hànhkhông có ẩn ức gì về thân phận. Chính anh nói vào thời điểm ấy anh “ không một phút nào nghĩ tới thời cuộc chính trị và xã hội trước m ắt”.

Cheo leo mỏm đá, theo tôi, là gian nan của người làm thơ, muốn sáng tạo và làm mới thơ mình. Người làm thơ khác người làm kinh tế, nhưng vẫn phải sử dụng một số vốn nhất định, về cảm xúc, tri thức và từ ngữ. Anh phải nhảy múa trên một mỏm đá, trước vực, sau khe; anh làm thơ gì đây, để nói cái gì đây và nói với ai đây? Khắc khoải của Hoàng Cầm cũng là của nhiều nhà thơ, nhà văn khác, những người bị cấm in ấn tác phẩm như anh hay Văn Cao, Trần Dần, đến cả những người có nhiều tự do hơn như Nguyễn Đình Thi, Huy Cận. Người nghệ sĩ vẫn thường muốn tiên tiến về mặt nghệ thuật, nhưng bản thân làm sao tiên tiến được trong một xã hội lạc hậu và trì trệ về tri thức, kinh tế và chính trị? Mỏm đá của Hoàng Cầm cũngcheo leo với nhiều tác giả khác.

Bình thường, nói chuyện thơ, thì chớ nên so sánh người này với người kia, vừa không nghiêm túc vừa kém trang nhã. Viết khéo đến đâu, thiện chí đến đâu vẫn có người giận. Nhưng đành so sánh cho sáng tỏ. Tôi đã nói: Hoàng Cầm kết hợp được tính dân tộc và tính hiện đại trong thơ. Văn Cao và Nguyễn Đình Thi là hai tác giả luôn luôn đấu tranh cho dân tộc và cho hiện đại, nhưng tính dân tộc và tính hiện đại trong thơ hai anh biệt lập với nhau. Xuân Diệu 1940 hiện đại mà ít dân tộc; Xuân Diệu 1950 dân tộc mà ít hiện đại. Huy Cận dân tộc trong tình cảm và hiện đại trong trí tuệ. Dĩ nhiên nói như vậy là sơ lược, thậm chí sơ đẳng. Nhưng tôi mạn phép giản lược, cho bài viết dễ hiểu, vì độc giả thường so sánh và thường hỏi: còn kẻ nọ người kia thì sao?

Bài này bắt nguồn từ một lý do tâm cảm: viết để đáp lại tấm thịnh tình và lòng tin cậy mà Hoàng Cầm đã dành cho bạn đọc ở xa. Mấy năm gần đây nhiều nhà xuất bản trong nước đã liên tiếp in ấn nhiều tác phẩm Hoàng Cầm Men Đá Vàng (1989), Mưa Thuận Thành (1991), Kiều Loan (1992), Lá Diêu Bông (1993), Bên kia Sông Đuống (1993) lấp một khoảng im lặng kéo dài hơn ba mươi năm. Mỗi lần có sách in, anh đều có gửi – rất khó khăn – cho chúng tôi với lời dặn dò: đọc kỹ và cảm thông.

Cây Tam Cúc là một thành tựu nghệ thuật tiêu biểu. Trong một bài thơ ngắn và đơn giản, tác giả đã sử dụng ngôn ngữ mới, tài hoa và tinh tế, từ cách chọn chữ đặt câu, đến cách xe kết âm thanh, nhịp điệu, màu sắc, hình ảnh, tạo cho người đọc nhiều cảm giác, cảm xúc, tư duy và mơ mộng. CâyTam Cúc là một thế giới hài hoà trong toàn bộ hữu cơ của thơ Hoàng Cầm, chủ yếu nói lên tình yêu, tình người, tình quê hương xứ sở, trong vẻ đẹp truyền thống lẫn với những gieo neo của thân phận. Đặc điểm thơ Hoàng Cầm là truyền thống ấy lung linh trong ngôn ngữ thơ mới, trẻ trung và hiện đại. Ngôn ngữ Hoàng Cầm đòi hỏi tôi phải có một bài khác, đầy đủ và rộng rãi hơn.

hvln

Anh đưa em về sông Đuống

Đặng Tiến

Đến với một nhà thơ, hành trình không phải lúc nào cũng đơn giản, cho dù rằng nhà thơ ấy, với mình đã là thân thuộc. Như trường hợp tôi tìm đến Hoàng Cầm. Tôi thuộc thơ Hoàng Cầm từ bài Bên kia sông Đuống làm thời Kháng chiến chống Pháp. Câu thơ Hoàng Cầm được trích dẫn nhiều nhất có lẽ là:

Quê hương ta lúa nếp thơm nồng
Tranh Đông Hồ gà lợn nét tươi trong
Màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp

Lời thơ đẹp, trong sáng, hùng hồn ngợi ca màu sắc quê hương, trong một giai đoạn kháng chiến gian nan, l948. Chúng ta yêu câu thơ vì giá trị văn chương, nhưng cũng vì nó lồng trong tình dân tộc nồng nàn đang bị bức bách và thử thách; về sau, đọc lại, vẫn yêu, vì câu thơ đã hoà màu vào kỷ niệm để làm máu thịt của cuộc sống. Nhưng nếu tách lìa ra khỏi bối cảnh lịch sử và tâm cảm, thì không biết câu thơ còn giữ trọn vẹn hương sắc hay không? Tuy nhiên Hoàng Cầm, suốt thời kháng chiến, là thời hoa niên, chỉ làm vài ba bài thơ như thế. Thơ anh sau này khác đi, tân kỳ hơn, tình tứ hơn và phi thời đại hơn:

Chị đi một chuyến chơi xanh cỏ
Quay bánh linh xa miết triệu vòng
Nhặt sợi-vô-cùng thêu áo gối
Mau về mừng cưới …
(nhớ Em không?)

(Chị Em xanh – 1970 – BKSĐ, tr. 57)

Đoạn thơ chỉ có một chữ khó: linh xa, là bánh xe linh hiển của thời gian, giữa không gian vô cùng, trong đó hạnh phúc con người mong manh tơ mỏng. Ngôn ngữ và tư tưởng Hoàng Cầm mới mẻ, nhưng vẫn tiếp với truyền thống của thơ mới, và nhắc chúng ta nhớ Vũ Trụ ca của Huy Cận:

Lá biếc đưa thoi xuyên vĩnh viễn
Gió là sợi thắm của thời gian

( Áo xuân, 1942)

Ngồi xe nhật nguyệt cùng thiên nhiên
Làm bạn đi đường về vô định

(Xuân hành1943)

Đến những câu này của Hoàng Cầm thì thật là sáng tạo:

Ta con bê vàng lạc dáng chiều xanh
đi mãi tìm sim chẳng chín

(Về với ta, 1960, BKSĐ, tr. 135)

Câu thơ long lanh những thanh sắc gọi về tuổi thơ hoàng kim và bích ngọc, lấp lánh vàng xanh qua một loạt nguyên âm mở (a, ang…) ngây ngất, chao đảo dưới trời chiều, rồi thu vào màu sim tím gian truân rón rén sau những nguyên âm khép (i, im…). Buổi chiều xanh không biết tự thời nào:

Một chiều xanh, một chiều xanh huyền hoặc

(Hàn Mạc Tử)

Hay bầu trời Rimbaud:

Par les soirs bleus d’été j’irai par les sentiers

(Chiều hạ xanh những lối mòn chân nhỏ…)

Những dấu chân chim sẽ đưa ta về với ca dao:

Đói lòng ăn nửa trái sim
Uống lưng bát nước đi tìm người thương

Thơ Hoàng Cầm ghé đến lòng đời, tình đã nhỡ một mùa sim.

Người đọc có thể ngạc nhiên vì hình ảnh con bê vàng – tuổi thơ của tác giả – hình tượng bất ngờ, thậm chí không thuận lý, nhưng cú pháp, từ pháp hợp lý. Hoàng Cầm táo bạo trong cấu trúc hình ảnh mà không vi phạm quy luật ngôn ngữ, nhờ đó mà thơ anh, dù cầu kỳ, vẫn gần người đọc, và tính hiện đại vẫn tiếp nối truyền thống – chưa kể là nhạc điệu phong phú, dìu dặt, dắt dìu độc giả đi sâu vào rung cảm và tưởng tượng.

Cũng có người cho rằng thơ anh bí hiểm. Hình ảnh bê vàng và sim tím nhắc tôi một đoạn khai tâm về thơ của Bùi Giáng: “Đi vào cõi thơ… thế nghĩa là gì? Anh lùa bò vào đồi sim trái chín? Một mặt anh lưu tâm trái chín rừng sim? Một mặt anh cũng lưu tâm chiếu cố cho những con bò, đừng để chúng lạc lối vào sâu trong rú rậm rồi mất lối trở ra (…). Ta ngồi dưới gốc cây sim lắng tai nghe bò đương gặm cỏ, thong dong đưa tay với một cành, hái một trái chín ăn chơi… Bỗng dưng? Bỗng dưng nảy ra một sự tình kỳ bí: bàn tay ta vừa chạm tới một trái sim riêng lẻ, thì suốt dãy rừng, toàn thể ngàn sim lục bỗng chấn động vang lừng. Đó là bí quyết lạ lùng. Một bí quyết bất khả truyền (Đi vào cõi thơ). Cuộc kỳ ngộ bằng hình ảnh giữa hai nhà thơ chỉ là tình cờ, nhưng cũng phản ánh những rung cảm chung trong một thế hệ thi ca. Người này, vô tình, giải thích người kia.

Tuy nhiên, những câu thơ lạc dáng chiều xanh “kỳ bí” như thế không nhiều trong thơ Hoàng Cầm và nói chung, chúng ta đều có thể phân tích, giảng giải được. Ngược lại, khó giải thích những câu đơn giản mà chúng ta đã gặp, đã phân tích:

Đường đê chợ Trầm sang mùa tu hú

(Vợ liệt sĩ)

Kỹ thuật không có gì. Những từ ngữ quyện vào nhau và tự tạo lên sức gợi cảm. Sự đơn giản đi gần tới văn xuôi – mà vẫn không phải là văn xuôi. Một số nhà nghiên cứu về thơ như Roger Caillois, đã nêu lên đặc tính này của thơ hiện đại.

Giản dị hơn nữa là câu thơ nhiều người thuộc:

Anh đưa em về sông Đuống

(Bên kia sông Đuống1948, BKSĐ, tr. 29)

Có gì mà câu thơ bình dị ấy cứ vương vấn mãi trong lòng ta? Bình dị, nhưng dịu dàng, đằm thắm,thiết tha: anh đưa em về. Cõi về đó là quê hương, là an bình, là kỷ niệm, là hạnh phúc. Thơ, và tình yêu, là một cõi về. Về một dòng sông. Sông Đuống: âm vang nghe cách trở, truân chuyên, mà thiết tha khẩn khoản.

Thơ Hoàng Cầm, sáng tác qua năm mươi năm, lấp lánh muôn màu ngàn vẻ, nhưng đều đồng quy về một chữ VỀ. Về sông Đuống, về Kinh Bắc, về cõi Em, về với anh, về với ta. Có tập thơ mang tên Mưa Thuận T hành, một cơn mưa về nguồn, như hình ảnh của Tản Đà, nước non nặng một lời thề, hay thơ Hoàng Cầm:

Giọt mưa phương Nam có về Kinh Bắc
Mưa đi về Anh mưa đi về nguồn

(Giọt mưa phương Nam, 1991, BKSĐtr121)

Tuyển tập Bên kia sông Đuống gồm có 56 bài, trong đó 35 bài mang chữ VỀ. Bản thân bài BKSĐ được cấu trúc trên điệp khúc: Bây giờ đi đâuVề đâu? Thơ Hoàng Cầm là một lối về, một cõi về, một cõi mơ về, một tiếng gọi về:

Dóng dả gọi về đồng sương
đôi ba người lận đận. 

(Về với ta, 1960, BKSĐtr. 135)

Có thể đây là một phản ánh trọn vẹn của thơ Hoàng Cầm, nổi tiếng từ vở kịch thơ Kiều Loan khởi thảo từ 1942. Kiều Loan, cô gái điên, là kẻ lạc mất đường về. Điên là đánh mất cõi về. Nhân vật chính, trước khi chết, đã cầu khẩn tình yêu:

Tôi chỉ xin nàng đôi giọt lệ
Cài lên lá cỏ… phía quê hương

(Kiều Loan1942)

Quê hương, là Thuận Thành, là Kinh Bắc, nhưng còn là cõi mênh mông. Từ 1942, Hoàng Cầm hai mươi tuổi, đã có những câu linh cảm, báo trước toàn bộ thi phẩm của mình:

Níu tay cười xuống hoàng hôn cũ
Vớt mắ t em về bến hoá sinh

(Lại gặp, 1942, BKSĐ, tr. 24)

Tập thơ cuối cùng Hoàng Cầm thông báo sẽ in, sẽ mang cái tên tiêu biểu: Về Cõi Thật NgườiThơ Hoàng Cầm đậm đà tình dân tộc, nhưng không phải là thơ địa phương. Từ bến quê hương, Hoàng Cầm tìm về cõi người chính xác – Cõi Thật Người – do đó, thơ anh, từ những màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp, vươn lên tình người, rất rộng, rất cao.

Cuộc sống hiện đại là một dòng sông ngày mỗi xa nguồn. Khái niệm và ý thức quê hương ngày một nhạt phai trong tâm tưởng con người hiện đại, con người đô thị.

Lìa nguồn là quy luật của tiến hoá. Nhưng con người cảm nhận ly cách đó mỗi nơi, mỗi lúc, mỗi người, một cách khác nhau. Thế hệ Hoàng Cầm – bản thân Hoàng Cầm (sinh năm 1922) – chứng kiến sự tan rã, tàn phá của một nền văn hoá trên một đất nước mất chủ quyền, rồi triền miên đắm chìm trong lửa khói. Hai cuộc chiến tranh dân tộc chồng lên trận tranh chấp lớn lao giữa hai nền văn minh, mới và cũ, Đông và Tây. Dân tộc có chiến thắng, vẫn để mất đi ít nhiều bản sắc văn hoá, như con chim thắng trận đã phải mất lông mất cánh. Anh chiến sĩ trong Hoàng Cầm chóng quên hào quang chiến thắng để lặng nghe những tàn phai, tan tác, rồi tự hỏi về cuộc đời, về con người, về bản thân

Anh đứng đây là đâu
Em cười như lá mỏng

(Anh đứng đây là đâu , 1988, BKSĐ, tr. 62)

Đơn giản và hàm súc. Câu hỏi hiện đại và hiện sinh, là niềm hoang mang lớn lao của nhân loại; con người đã tìm ra chỗ đứng, nhưng mất toạ độ trước những biến chuyển vật đổi sao dời, nhanh chóng và toàn bộ, có phần tự nhiên, có phần áp đặt.

Trong hỗn mang của thời đại và hoang mang của tâm linh, nụ cười, tia hạnh phúc, bỗng mong manh Em cười như lá mỏng. Có cái gì đó vô cùng quý giá, nhưng hết sức đơn giản, rất mực phôi pha, làm cho con người hoang mang trở thành hoảng hốt. Hoàng Cầm, những lúc sống thật với lòng mình, từ chiều sâu thăm thẳm của tâm thức, thỉnh thoảng bật ra những câu thơ, những hình ảnh bình dị mà hàm súc như vậy. Một câu hỏi lớn của loài người vừa vụt chao nghiêng tia nắng trên tờ lá mỏng: thơ Hoàng Cầm là ngọn gió lạc mùa, bất chợt thổi tạt qua trần gian, một ngày thu muộn màng và hiu hắt.

Bên kia sông Đuống, quê hương Hoàng Cầm long lanh quá khứ, với những buồn vui ngày ngày tháng tháng, trong khung cảnh đồng quê thân thuộc, tầm thường: tre luỹ, bèo ao, đê quai, bến Sấm. Có tiếng ếch cõng mưa rào, tiếng chào mào khát nắng. Và tiếng tu hú gọi mùa. Làm thơ, bao giờ cũng tô son điểm phấn ít nhiều lên cuộc sống, như cô gái bất hạnh:

Mua son đắt rẻ tuỳ phiên chợ

Đời sống trong thơ Hoàng Cầm vui ít, buồn nhiều, và thường xuyên vất vả. Việc đồng áng xen lẫn với quai gánh bán buôn. Đặc biệt về thủ công nghiệp, nghề gốm Bát Tràng chiếm trọn tập thơ Men Đá Vàng (1973) trong khi Tiếng Hát Quan Họ (1956) làm nền cho một tập thơ khác (1956). Lao động chuẩn bị những hội hè đình đám, niềm vui chẳng qua không lấp được bao nhiêu lận đận gieo neo. Chỉ thấy cảnh trai tài gái sắc giao duyên qua lời ca tiếng hát, mà không nghe được những uất nghẹn, tan tác, thì chưa cảm nhận đầy đủ tâm cảnh của Hoàng Cầm.

Ám ảnh lớn của Hoàng Cầm là niềm cô đơn trơ trọi, thể hiện rất sớm qua hình tượng cô gái điên hay mẹ con đàn lợn âm dương – chia lìa đôi ngả(1948) sẽ trở lại với con bê vàng lạc dáng chiều xanh – Đêm nay mẹ chẳng về chuồng (1960). Nhà thơ, ở bất cứ tuổi nào, vẫn mang tâm tình đứa trẻ con hoang mang đợi mẹ. Thơ Hoàng Cầm là một lối khấn thầm:

Khấn thầm như mẹ lỡ đò ngang
Miệng hé hạt na nhoà bến vắng…
Bao giờ mẹ về
Buộc yếm đào phai vỗ hát ru

(Đợi mùaBKSĐtr. 48)

Giữa những tang thương, dường như cảnh chia lìa làm nhà thơ đau đớn nhất. Anh vẫn tin ở cuộc đời, và niềm tin thiết tha sâu sắc nhất, có lẽ là tình cảm dành cho tuổi trẻ mai sau:

Ta ru em
Lớn lên em đừng tìm mẹ phía cơn mưa

(Về với ta1960, BKSĐtr. 136)

Hình ảnh người chị trở đi trở lại, là bóng dáng người mẹ nối dài. Trong bài Đợi mùa, hai hình ảnh lồng vào nhau trên đường về chợ:

Tưởng như mẹ về
Vai áo toạc ba vá chằng tơ dứa
Tưởng như Chị về
Tơ tóc đêm xưa giờ rễ tre
Bao giờ Chị về…
Bao giờ mẹ về…
Không
Đã hết năm tu hú gọi rừng già

Hình ảnh người chị trẻ trung và gần gũi hơn, nên gợi cảm gợi tình hơn, hàm chứa nhiều rung cảm đa nghĩa, tạo ra được những câu thơ đẹp hồn nhiên, nghịch ngợm:

Cách nhau ba bước vào vườn ổi
Chị xoạc cành ngang
Em gốc cây

(Quả vườn ổiBKSĐtr. 39)

Làm thơ, vói Hoàng Cầm, trong chừng mực nào đó, là giữ chân tuổi thơ dưới một gốc cây. Chờ mong và mơ mộng.

Người mẹ đẩy con ra đời, người chị đưa em vào đời:

Em mười hai tuổi tìm th eo Chị
Qua cầu bà Sấm bến cô Mưa
Đi…
ngày tháng lụi
tìm không thấy
Dải yếm lòng trai mải phất cờ

(Quả vườn ổiBKSĐtr. 39)

Hình ảnh người chị từ phái tính đưa đến dục tính, tế nhị, kín đáo, thi vị: Hai đứa lung linh lơi yếm áo. Có lúc người em còn ước mơ cưới Chị xanh thiêm thiếp (Chị Em xanh1970). Ta nên hiểu đây là giấc mơ hạnh phúc bao la trước vũ trụ mà người đàn bà là biểu tượng. Hoàng Cầm đi sâu vào lòng đời theo bước chân người chị. Bao nhiêu âm hao của sống, tiếng tu hú trên quai đê, tiếng bạc má trên cành chanh, tiếng chào mào trên cành nhãn đã đến với anh theo giọng lảnh lót của người chị. Những bài thơ hay nhất, bạo nhất về chị, Hoàng Cầm đã làm ba mươi năm sau – lúc đã ngoài bốn mươi năm mươi tuổi – đã quá tuổi thơ ngây để ngủ lại giấc mơ dang dở ( Đêm Mộc1959). Ngoài thơ ra, con người làm sao có thể ngủ lại giấc mơ? Nên hiểu thơ Hoàng Cầm trên chiều hướng đó; và trong giới hạn thu hẹp lại, những bài thơ về chị Trúc của Nguyễn Bính cũng nên hiểu như vậy, thay vì đặt những câu hỏi vớ vẩn và dung tục.

Dục tính là một yếu tố quan trọng trong thơ Hoàng Cầm vì nó là thành tố cơ bản, sâu xa của cuộc sống và đồng thời cũng là hương sắc của trần gian. Bản năng thiết yếu lồng vào nhu cầu thẩm mỹ. Những hình ảnh thiêng liêng nhất của quê hương cũng lâng lâng mùi da thịt:

Chùa Phật Tích ruỗi trong màn lụa bạch
Tượng Quan âm má ửng bồ quân
Chuông chiều cởi yếm…

(Đêm Thuỷ1959 – BKSĐ, tr. 15)

Dục tính trong thơ Hoàng Cầm, từ bản năng thiên nhiên, đã trở thành một yếu tố văn hoá trong xã hội cổ truyền, giống trong tranh tượng dân gian. Nó không phải là tự nhiên chủ nghĩa, không phải là Người gái thiên nhiên như trong thơ Đinh Hùng:

Ngoài thiên nhiên nở bừng thân mỹ nữ
(…) Làm đôi người cô độc thuở sơ khai

(Mê Hồn Ca)

Thỉnh thoảng cũng có hình ảnh tự nhiên, nhưng không nhiều:

Ngoài hồ cô giặt lụa
Vỗ vào lưng đêm giăng
Nước lạnh chấm hai đầu vú

(Cô gái giặt lụa)

Thân thể người đàn bà căng đầy nhựa sống nhưng giới hạn trong những điều kiện xã hội và văn hoá nhất định:

Chũm cau căng nứt mạch tằm
Yếm may ba ngày mẹ vá lại
Khuya nghe buồng động bóng đêm rằm

(Đêm Mộc – 1959 – BKSĐtr. 19)

Ngành dân tộc học ngày nay đã trưng nhiều tư liệu về những lễ lạc, hội hè trong hình thái xã hội cổ sơ, giải phóng con người ra khỏi những cấm kỵ, ràng buộc. Hoàng Cầm gợi lại cảm giác trước cuộc Thi đánh đu:

Luồn tay ôm say
giấc bay lay đỉnh núi
Tuột hàng khuy lơi yếm tóc buông mành
Đùi chảy búp dài thon nhún vội
Bàng hoàng tia chớp liệng nghiêng xanh.

Dục tính được nhà thơ làm nổi bật và thi vị hoá, vừa cô đọng vừa tan loãng trong một không gian ngất ngây, lảo đảo nhờ những âm thanh, hình ảnh và chuyển động trong thơ. Hoàng Cầm đẩy tưởng tượng – tôi tạm gọi dự cảm huyễn dục – đến huyền sử một Hội yếm bay với nhiều cô gái, vốn là tiên nữ bị đày xuống trần gian, cùng cởi bỏ xiêm y:

Ngũ sắc chen nhau cầu lễ hội
Nuột nà cởi bỏ áo khoa khôi
Em không buộc thắt lưng thon nữa
Thả búp tròn căng nuột ấy…ơi!
Nguồn sống tuôn thơm nhựa ứ đầy
Một chiều khổ cực bốn chiều say
Đã phanh yếm mỏng thì quăng hết
Những nếp xiêm hờ giả bộ ngây

(tập Lá Diêu Bôngtr. 76)

Trong dự cảm huyễn dục, Hoàng Cầm cao hứng:

Lệnh tám cõi tốc xiêm y chới với
Sững mình em vùn vụt hút lên xanh

(tập Lá Diêu Bôngtr. 83)

Dục tính trong thơ Hoàng Cầm táo bạo lắm, thì cũng đến vậy thôi. Không có cái rạo rực dồn nén như trong Gái Quê của Hàn Mạc Tử; nhục cảm ở đây, có lúc chỉ là phương tiện cho Hoàng Cầm làm một câu thơ hay và lạ. Dù ý có suồng sã, lời vẫn trau chuốt, có khi trang trọng, chứ không có ý bông đùa như Bùi Giáng. Về mặt này, tôi đã trích dẫn nhiều thơ anh mà ít bình luận – vì thơ anh tự nói lên được phong cách và nội dung. Lời bàn – về dục tính – e rằng dung tục một cách không cần thiết.

Hoàng Cầm là người làm thơ có ý thức rất rõ và rất cao về thiên chức của mình. Thơ phải nâng cao tình người và làm đẹp cuộc sống. Ngoài ra anh không phục vụ một ý đồ nào khác cho bản thân hay cho thời thế. Nếu một lúc nào đó có bài nọ bài kia phù hợp với một giai đoạn lịch sử, thì bất quá chỉ là những bước không hò hẹn, đã bước trùng nhau một ngả đường như lời thơ Huy Cận.

Hoàng Cầm làm thơ liên tục nhưng rời rạc trong hơn năm mươi năm. Những bài thơ xiêu lạc như những chiếc lá lìa cành:

Rồi lại chiều mai lại sớm kia
Lá không in dấu phận xa lìa
Cứ lang thang phố nhờ cơn gió
Nhè nhẹ sang hè rẽ lối khuya

(tập Lá Diêu Bông – tr. 77)

Với anh tôi muốn làm cơn gió
Lùa những lưu ly lại Cội Về
Lá bao nhiêu lá mai về đất
Đường Mê thân gió vẫn tê tê.

hvln

Mùa thu toả nắng

Đặng Tiến

Nguồn thơ Hoàng Cầm róc rách qua phong cảnh quê hương, khi vướng vào kỷ niệm, một nhan sắc, bỗng ngời lên thứ ánh sáng diệu kỳ, bao la, ngây ngất:

Ai về bên kia sông Đuống
Có nhớ từng khuôn mặt búp sen
Những cô hàng xén răng đen
Cười như mùa thu toả nắng

Bên kia sông Đuốngtr. 31

Dịu dàng, đằm thắm và trong sáng, nụ cười ánh lên đôi mắt; dù rằng câu thơ không nói gì về đôi mắt, ánh nắng và mùa thu vẫn toả ra từ cái nhìn hồn nhiên, đôn hậu, ngời niềm hạnh phúc ấm và sáng, lên đời sống nông thôn ảm đạm, xa xăm. Câu thơ sáu chữ đã xuất hiện từ lâu, từ trước thời Nguyễn Trãi, nhưng không thông dụng về sau; nhịp thơ tự do và khoan thai, nhẹ nhàng, cởi mở. Bốn âm bằng liên tiếp, trầm lặng và cởi mở, cười như mùa thu, chợt loé lên tia sáng sắc cạnh của hai âm trắc toả nắng. Tia nắng bất ngờ nhắc chúng ta nhớ lại ánh nắng cuối thu đầu truyện Đôi bạn của Nhất Linh: “Ở ngoài, như ý mong ước của Trúc, trời bỗng nắng to”.

Về cô hàng xén, Thạch Lam đã có một câu thật quyền: “Các cô hàng nước, cùng với các cô hàng xén, kĩu kịt đi chợ Đông chợ Đoài, là cái tinh hoa thuần tuý của người Việt Nam từ xửa từ xưa đến giờ”1.

Tinh hoa người Việt… Lời ca ngợi tuỳ hứng có phần quá đáng, vì hình tượng cô hàng xén chỉ xuất hiện trong văn học Việt Nam trong một giai đoạn ngắn, phản ánh thời kỳ quá độ trong xã hội nông nghiệp đang bắt đầu hướng về thành phố, vừa chuyển hàng đi, vừa nhận hàng đến, qua cô hàng xén.

Hình tượng cô hàng xén trong thơ Hoàng Cầm bắt nguồn từ nhiều tình cảm sâu xa. Thân mẫu Hoàng Cầm là một cô gái quan họ và một cô hàng xén. Những cô gái Kinh Bắc kết bạn quan họ giữa những mùa đồng áng và hội hè, thường rủ nhau đi buôn bán, và các cô thường hát:

Đi buôn khắp cả phố phường
Tôi buôn chẳng được lạc đường về chợ Đồng Xuân
 2

Thân mẫu Hoàng Cầm buôn bán vì sinh kế, đôi vai trĩu nặng đôi bồ, chăm chút nuôi con ăn học, và hình ảnh bà cụ (1891-1961) vẫn thường xuất hiện trong thơ:

Bên kia sông Đuống
Mẹ già nua còm cõi gánh hàng rong
Dăm miếng cau khô
Mấy lọ phẩm hồng
Vài thiếp giấy đầm hoen sương sớm.

Bên kia sông Đuốngtr. 31

Bóng đáng bà mẹ quê thấp thoáng trên những đường làng quạnh vắng, bước cao thấp bên bờ tre hun hút, hoặc trên những chuyến đò ngang miệng hé hạt na nhoà bến vắng, làm nhớ đến một bà Tú Xương chưa xa xôi lắm, và câu thơ Lưu Trọng Lư:

Nét cười đen nhánh sau tay áo
Trong ánh trưa hè trước giậu thưa.

Ta có câu ca dao yêu người yêu cả đường đi. Đơn giản và chân xác. Bóng dáng cô hàng trên đường đê chợ Trầm sang mùa tu hú đã chồng lên hình ảnh cô gái quan họ:

Đêm hội Lim về
đê quai rảo bước
Đuổi tà lụa nhạt
ánh trăng đầm ấm đường sương
(…) Em về đồng chiêm đất rạng chân chim
Em đi mưa ngâu nước ngập đồi chè
(…) Chân Em dài đi không biết mỏi
Má hồng em lại nổi
đồng mùa nước lụt mông mênh

Bên kia sông Đuốngtr. 64

Đường tình không tuổi theo trời đất chuyển màu, từ đồng chiếm đất rạn qua đồi chè nước ngập. Bước chân mẹ còn đê mê cát mịn lại phải bấm sâu vào đường trơn mưa 1ạnh. Xuôi ngược dọc ngang, những nẻo đường trong thơ Hoàng Cầm hẹn hò nhau ở một ngã ba: đường đến nhau và đường tìm về.

Hai con đường ấy, đều Về với ta.

Người phụ nữ nông thôn

Nàng Thơ của Hoàng Cầm là những phụ nữ lao động, lam lũ cật lực. Gánh hàng xén còn là lao động nhẹ, có được gánh hàng thì chưa phải là nghèo. Đất quan họ không phải là nghèo, nhưng vẫn có những người cùng khổ.

Chúng ta rình nhìn trộm cô gái Tắm đêm, một đêm trăng, tung tóc gội gầu trăng nước giếng. Ta sẽ đau lòng thấy thân thể cô gái đầy vết sẹo:

Em gánh gạo về nhà phú hộ
Nứt vai thành sẹo lá lan đao
Em chở nứa sang bờ duyên phận
Tay đóng bè chân xuôi thác ghềnh
Tuổi đã rách vá gì cho kịp
Da mỡ đông tuốt sẹo ngang thân
(…) Phấn mùa trăng thoa mờ sẹo tuổi.

Bên kia sông Đuống tr. 83

Trên đời không gì đẹp và quý bằng thân thể người đàn bà. Và những vết sẹo do lao động hay roi vọt cứa ngang rạch dọc kia là những nhục nhằn chung cho nhân loại. Người phụ nữ lam lũ và tất tả vẫn giữ nét duyên dáng:

Tàu cọ em che đàn gà mới nở
Em vực bê vàng lửng dáng chiều xanh
Đắp con đê quai sóng soài đất đỏ
Trận mua vừa rồi không rụng hoa chanh

(…) Một tay em che ngọn đèn bạt gió
Một tay quấy nồi cám lợn kê vàng
Như đêm đêm tay kia ôm bé ngủ
Tay này thắp hương… đế thức quanh tường

Vợ liệt sĩ, Mưa Thuận Thànhtr. 2

Nói đến người phụ nữ Việt Nam, không thể chỉ dừng lại ở làn môi khoé mắt, mà phải nhắc đến mồ hôi nước mắt, những vất vả và thiệt thòi. Điều ấy, nhà thơ chỉ thì thầm, nhưng vẫn rõ giọng. Người phụ nữ hiện lên dịu dàng trên nền trời quê hương, giữa tiếng ếch nhái, ễnh ương, chẫu chuộc, tiếng chim bạc má, cú vọ, tu hú bồ các, chìa vôi, cạnh con mèo mướp trong xó bếp, cánh chuồn chuồn, châu chấu, bươm bướm, đàn kiến lửa ngoài sân, cái giun đất lòng th òng mỏ con gà trụi, giữa những cành ổi, cành nhãn, cành chanh, ngọn bí lông tơ hoa xoan lả tả và bao nhiêu hình ảnh thân thương khác. Người phụ nữ trong thơ Hoàng Cầm không quyến rũ vì nhan sắc nhưng đáng yêu đáng nhớ qua bóng dáng, linh hoạt, năng nổ, tận tuỵ và cam phận:

Tiếng hát theo em đi vớt bèo
Em vớt được mấy chùm sao sáng
Vớt đôi mắt nhìn theo

(…) Tiếng hát theo em đêm về xay lúa
Cối xay tròn biết thuở nào xong
Tai cối đuổi nhau mãi mãi
Biết bao giờ nên vợ nên chồng ?

Bên kia sông Đuốngtr. 102

Thơ về lao động, hiện thực và tình tứ như vậy, xưa nay không nhiều lắm đâu. Thỉnh thoảng lắm ta mới gặp ở Nguyễn Bính:

Ví chăng nhớ có như tơ nhỉ
Em thử quay xem được mấy vòng
Ví chăng nhớ có như vừng nhỉ
Em thử lào xem được mấy thưng

Thường thường, những cô gái lầu hoa, người em sầu mộng… dễ đẹp dễ thơ hơn người phụ nữ ngày ngày vật lộn với thực tại. Và làm thơ, đọc thơ là để quên thực tại, chủ yếu là lao động, do đó, thơ hay về người phụ nữ lao động hiếm và quý. Và khó làm.

Trong xã hội phong kiến, nghèo khó dễ tạo ra đau thương. Thảm kịch người đày tớ:

Người ở gái trót mê anh đánh cá
Cụ Tiên đuổi ra khỏi làng
Nửa đêm ùm một tiếng
Nước lạnh khép mặt người

Bên kia sông Đuốngtr110

Hay cô gái bị bức bách lấy lẽ nhà giàu, mảnh gương rạch ngang cổ, chết rồi còn bị xã hội lên án:

Sai lấy mo cau
Úp xuống mặt người chết
Cho manh chiếu bó xác
Chôn ngay đầu làng
Trên mồ cắm một thanh tre
Đề bốn chữ “vô luân vô đạo”

Bên kia sông Đuốngtr. 111

Xã hội phong kiến, khe khắt và bất công, nghiền nát những mối tình và những giấc mơ:

Chúng ta yêu nhau có tội tình gì
Phải đến giữa đình trói tay ngả vạ

Bên kia sông Đuống tr. 73

Có những cặp tình nhân đói nghèo chẳng được sánh đôi, những chàng trai nghèo đói phải xa quê, những phụ nữ nón quai thao úp bụng, khăn gói lìa quê…

Quê Kinh Bắc của Hoàng Cầm nổi tiếng là nhiều hội hè, đình đám, nhiều dịp vui giải trí cho nhân dân… Nhưng trong thực tế, những cuộc vui chung, hào nhoáng và ồn ào không bù đắp được nhiều nỗi buồn riêng và những khó khăn của cuộc sống. Người nông dân cơ cực mua vui mang thân phận cây pháo:

Chuỗi pháo đùng thèm bay
bùng giấy đỏ liều thân

Bên kia sông Đuốngtr. 102

Hoàng Cầm làm thơ ca ngợi quê hương và cuộc sống. Nói chung, thơ anh lạc quan vì tin vào cái đẹp, cái tốt, tin vào hạnh phúc, nhưng vẫn mang nhiều nét buồn đau. Từ đó, thơ anh nhiều giai điệu và giàu nhân tính, chịu sự đọc lại và lọc đãi. Ngôn ngữ khúc mắc, có lúc cầu kỳ lại càng làm nổi bật chất trí tuệ – một chất trí tuệ nhuần nhuyễn tình cảm, thường quay về quá khứ.

Thơ Hoàng Cầm là lẵng hương thầm của những cành hoa xa vắng.

Đặng Tiến

Noël 1993

Men đá vàng

Đặng Tiến

Một lời quan họ bay lên dốc

Năm 1956, Hoàng Cầm sáng tác và in tập thơ Tiếng hát quan họThời gian này, anh phụ trách bài vở cho Giai phẩm Mùa Xuânđã tìm ra và tự ý cho đăng bài thơ Nhất định thắng của Trần Dần, ngòi thuốc nổ vụ án Nhân văn – Giai phẩm về sau. Trần Dần bị bắt, Hoàng Cầm viết hồi ký Con người Trần Dần để bênh bạn, đăng trên báo Nhân văn số 1 giữa tháng 9.1956. Bài báo khá dài, phản ánh không khí văn nghệ, chính trị thời đó, đã được Georges Boudarel dịch trọn vẹn ra tiếng Pháp1. Sau đó, Hoàng Cầm còn có bài thơ Em bé lên sáu tuổi (1956) và vở kịch thơ Tiếng hát (1957) nổi tiếng vì tính cách phản kháng.

Nhắc lại chuyện cũ để tìm hiểu động cơ của tác giả khi làm tập thơ Tiếng hát quan họlấy một chủ đề cũ để làm một tập thơ mới, trong không khí đấu tranh chính trị thời đó. Về hai tập Giai phẩmHoàng Cầm đã “tự hào”: “ Tuy chưa phải là những sáng tác xuất sắc, nhưng ít ra nó cũng nêu được một vấn đề gì. Có vấn đề xã hội trong thơ Văn Cao, có vấn đề chống công thức trong thơ Lê Đạt (…) Bài thơ Nhất định thắng của Trần Dần ít ra nó cũng khác với lối làm thơ một chiều…” 2Thế còn Hoàng Cầm, người đã có tập thơ in chung với Văn Cao, Lê Đạt, Trần Dần? Tiếng hát quan họ, ngoài giá trị tâm cảm, nhất định phải có giá trị phản kháng.

Về tâm cảm, Hoàng Cầm sinh ra trong một gia đình quan họ, lớn lên trên quê hương quan họ, tập thơ ca ngợi một khía cạnh đặc sắc trong một vùng văn hoá. Nhưng tiếng hát còn là hình tượng: nó biểu dương cho nền văn nghệ tự do, bình đẳng, độc lập trước chế độ xã hội phong kiến. Thời điểm đầu 1955, Hoàng Cầm đòi quyền độc lập đó, trong một “đề nghị chính sách văn nghệ”2 và tố giác thứ văn chương cung đình

Vịnh người đi cày bằng đá
Không nói năng gì sau đuôi trâu

Bên kia sông Đuốngtr. 107

Đây là một khuynh hướng quan trọng trong thơ Hoàng Cầm, chúng tôi chưa đào sâu, không phải là vì không thấy hay né tránh, nhưng vì khuôn khổ và tính cách của bài viết. Tôi sẽ trở lại vào một dịp khác.

Tiếng hát quan họ nêu lên vai trò, tính cách của văn nghệ trong cuộc sống. Trước hết, nó nhận làm một thành phần nhỏ của cuộc đời:

Chép hết bài ca chưa hiểu hết lòng người
Dựng được bài ca chưa xây dựng cuộc đời

Bên kia sông Đuốngtr. 117

Nhưng nghệ thuật làm cho cuộc sống cao lên, rộng ra và đẹp hơn:

Tiếng hát quan họ
Và trai gái quê tôi trẻ đẹp vô cùng
Nhảy khỏi vòng nia
Nhảy sang vòng nong
Từ hòn đá ném ao vòng tròn rộng mãi
(…) Vòng nhỏ
Vòng to
Đến vòng nào nữa
Chân mây mở rộng từng mùa

Bên kia sông Đuống tr118

Cuộc đời là những vòng tục luỵ, có hình thể quy định như những vòng nong, vòng nia hay vô định và bất tận như khi ta ném hòn đá xuống ao. Nghệ thuật giúp con người nới rộng những vòng nghiệp chướng. Vòng nongvòng nia là hình ảnh của nông thôn mà nhà thơ đã tích luỹ; động tác nhảy khỏi, nhảy sang nhắc lại cảnh múa sạp của dân tộc Tây Bắc mà Hoàng Cầm đã dày công nghiên cứu và cải biên thành nghệ thuật trình diễn chuyên nghiệp, thời anh chỉ huy Đoàn văn công Tổng cục chính trị. “ Tôi đã nâng số lượng sạp từ 2 lên 8 cây, từ 2 diễn viên gõ sạp lên 8 và từng đoạn luân phiên với diễn viên múa, vào nhảy để 8 anh chị em khác ra ngồi gõ. Sau chiến thắng Na Sản Tây Bắc 1953, tôi lại bổ sung (…) Toàn bộ tiết mục đã trở thành một khúc vũ hội tưng bừng (…) Múa quạt ở vùng xuôi hoà với múa xoè ở Tây Bắc, lượn của Đông Bắc quyện cả với múa nón của Trung Du (…) không nét nào trùng lặp với nét nào, các đường cong, nghiêng, thẳng của hình thể, phải đi đúng khuôn nhịp, không một đường uốn lượn nào được phép trật nửa bước ra ngoài”3.

Nghệ thuật ở đây tạo điều kiện cho con người nhảy khỏi vòng nia, nhảy sang vòng nong của cuộc sống. Quan họ cũng vậy thôi, là một nét đẹp xưa, quyến rũ và mong manh:

Mẹ kể chuyện ngày xưa xa lắm
Tháng tám ao hồ mát lặng
Làng quê còn níu lại hương sen
Hai mươi gái trai
Thả một con thuyền
Song song mười đôi
Mắt nhìn trong mắt
Nón nghiêng tăm tắp
Ngày mai ai chắc được gần ai

Bấy nhiêu con mắt
Cùng hát một câu
Nghe giọng biết người chung thuỷ

Bên kia sông Đuốngtr. 98

Quan họ, trước tiên, là tình bạn. Có gì đẹp bằng tình bạn thuỷ chung? Đôi bạn quan họ không được kết hợp với nhau. Năm mười năm sau khi đi lấy chồng xa, cô gái vẫn nhớ giọng, người gầy như nhánh mai:

Rồi chị Tư tay bồng tay bế
Mỗi năm một lần về quê hương
Đến thăm anh Năm so giọng cũ
Hát hết tuần trăng không hết thương

Bên kia sông Đuốngtr. 103

Đẹp bao nhiêu những con người chung tình với một giọng hát, ngọn gió qua cầu:

Mẹ xưa dối bà, con nay dối mẹ
Tình không dối được nhịp cầu

Bên kia sông Đuốngtr. 100

Làm thơ, rất khó mà nói dối được lâu. Cuộc đời ở đâu, thời nào cũng vậy, đan kết những tranh chấp, bon chen. Tiếng hát quan họ giải thoát: so lời sánh giọng, người hát không nề hà hai chữ được thua:

Hát thi ba mươi sáu giọng bổng trầm
Tìm những anh chàng hát thua
(…) Chúng ta sẽ ướm làm chồng

Ngày hội năm sau
Anh sẽ bắc giàn hoa lý
mời em về ngồi nghỉ
Khi nào em hát thua anh

Bên kia sông Đuốngtr. 99

Nghệ thuật, trong một giây lát nào đó, giải phóng con người nhọc nhằn và nhục nhằn, ra khỏi xã hội phong kiến đen ngòm:

Trai gái trong xã
Rút ống chân khỏi mực đen ngòm
Chạy ra bến sông khoả ánh trăng mát rợi
Tiếng hát cất lên nhuộm mùi hoa bưởi

Bên kia sông Đuống tr. 109

Câu thơ Hoàng Cầm không hiện thực, không đúng với thực tế quan họ và xã hội. Không ai thoát thân chạy ra bờ sông mà hát. Hát quan họ phải có nơi, có lúc, vào đám, vào hội theo nghi thức, theo lề lối, áo khăn, lời thưa tiếng gửi; làm gì có chuyện hát ào ào chân khoả ánh trăng. Nhưng câu thơ đúng với biểu tượng văn nghệ: nhiệm vụ văn nghệ là giải phóng con người ra khỏi áp bức của những chế độ hay những hoàn cảnh, thực tại éo le. Trong chừng mực nào đó, quan họ giải phóng giai cấp: cô gái quan họ dù có lúc trở thành Ỷ Lan phu nhân hay Bà chúa Chè thì bản thân quan họ vẫn khẳng định “Tiếng hát không biết đi võng đào” và công phá những thành luỹ của phong kiến

Tiếng hát chiều nay đá lắng tai nghe
Muốn cựa mình đổ xuống
Nghiến vụn toà lầu ngất ngưỡng
Xây nên trăm bực gập ghềnh
Để em có đường lên núi tìm anh

Bên kia sông Đuốngtr. 114

Vẫn là cái nhìn lý tưởng hoá. Tách rời ra khỏi xã hội, trong khuôn khổ những hội hè, tiếng hát quan họ giải phóng con người về nhiều mặt – kể cả giai cấp. Những liền anh liền chị là những nông dân hay thị dân nghèo kết nghĩa bằng nghệ thuật, không phân biệt địa vị. Giới khoa bảng, quan lại và tư sản không tham dự vào những sinh hoạt dân dã bình đẳng và phi giai cấp ấy. Người hát kết bạn, luyện giọng, tổ chức, sáng tác, trình diễn, thưởng thức và phê phán, làm thành một xã hội khép, với những lề lối, quy luật, tư duy, rung cảm riêng: quan họ là một ốc đảo giữa xã hội nông nghiệp phong kiến, và tồn tại lâu dài, phần nào, nhờ thoả hiệp. Hoàng Cầm cũng thừa nhận điều đó khi anh tố cáo gay gắt xã hội phong kiến qua cụ tiên chỉ gian xảo và tàn ác.

Văn nghệ quan họ có giá trị nhất định và giới hạn nhất định. Nếu xem thơ Hoàng Cầm là niềm u hoài, vọng lại một nền văn hoá đã vang bóng, thì chúng ta có được nhiều bài thơ hay, giữ lại và truyền đi những tình hay ý đẹp về quê hương, đất nước. Nếu xem Tiếng hát quan họ như một hoài bão, thậm chí một thông điệp văn nghệ, thì chúng ta cần cập nhật hoá nó, bằng nhiều tác phẩm khác. Thời điểm gian nan 1956 tại Hà Nội, Hoàng Cầm làm được những bài thơ như vậy là đầy sĩ khí. Tôi không tiện nói nhiều về khuynh hướng phản kháng trong Tiếng hát quan họ vì không hạp với nội dung bài này. Từ ấy đến gần đây, dù bị cô lập và cấm đoán in ấn, anh vẫn âm thầm sáng tác và tạo được tác phẩm giá trị, làm giàu làm có cho dòng thơ Việt giữa hai bờ truyền thống và hiện đại. Bằng tác phẩm và bằng cả cuộc đời, tác giả Bên kia sông Đuống đã đóng góp vào cuộc đấu tranh giải phóng văn nghệ, mãi cho đến lúc “ngọn lửa reo mòn tuổi tác”.

Men đá vàng: những mảnh đời rạn vỡ

Men đá vàng là tập thơ có sắc thái và địa vị riêng biệt trong tác phẩm Hoàng Cầm. Truyện thơ về người thợ gốm Bát Tràng làm năm 1973 in 1988, gồm phần dẫn nhập bằng văn xuôi thi vị, 13 trang và bốn chương thơ tự do, diễn tả tâm tình bốn nhân vật, ba người thợ gốm: cô gái Phong Kiều, người chồng, người cha và một người bạn đục đá. Truyện kể: người chồng mê chơi đi hoang, người vợ chờ mong hoá đá; chồng về hối hận khóc than, nước mắt thấm vào thân đá, bột đá hoà lệ thành men đá vàng, người cha nghệ sĩ tạo hình nung lửa tạo nên men gốm, trên đó cô gái Phong Kiều hồi sinh dưới hình tượng nghệ thuật: “ Từ chiếc bình men rạn nổi hình con phượng muôn màu ngậm mặt trăng nghiêng, cô gái Phong Kiều vươn vai đứng dậy (…) Trong bản tình ca hoà tấu tuyệt diệu của âm thanh, màu sắc, đường nét núi sông cây cỏ, Phong Kiều múa rẻo bàn tay làm hoa mưa hoa nắng. Cụ Hồng Châu đắm nhìn công trình sáng tạo tuyệt vời của con người Việt Nam và của chính mình” (tr. 20-21).

Dụng tâm tác giả khá rõ: một mặt ca ngợi nghệ thuật làm gốm lâu đời của quê anh, qua đó, anh nêu lên quá trình gian khổ của lao động nghệ thuật. Mặt khác, anh muốn dựa vào hư cấu đậm màu huyền thoại để thí nghiệm một ngôn ngữ thi ca mới, bằng cú pháp, nhịp điệu và hình ảnh khác lạ. Khi dồn hết tâm can vào việc kiến tạo ngôn ngữ, Hoàng Cầm cũng đã giãi bày nhiều tình cảm riêng tư: Men đá vàng có lẽ là tác phẩm Hoàng Cầm mang nhiều ẩn ức và u uẩn nhất.

Trong việc suy nghĩ, biên khảo về thơ trước đây, trong một thời gian dài, đã xa, tôi có chịu ảnh hưởng nhà bác học Gaston Bachelard, về những mạch thơ tuôn ra từ thể chất, từ không gian, từ tứ tượng trong vũ trụ quan phương Tây: đất, nước, lửa và không khí. Khi đọc thơ Hoàng Cầm về nghề gốm, tự nhiên, tôi nhớ lại Bachelard: gốm là hợp thể giữa đất và nước, thành hình trong ngọn lửa bừng trong không khí. Bachelard lại có những trang tuyệt vời về ngọn lửa tình và lửa dục4 thêm vào những suy nghĩ sâu sắc, độc đáo về thao tác quấy bột, gột hồ, nhào bột dậy men5. Gốm, từ vô thể biến thể thành hình thể, từ chất liệu vô tri hoá thân trong ngọn lửa, trở thành đường nét, màu sắc mang tâm tình, suy tư, mơ ước của con người. Đẹp quá. Tôi mang ngọn lửa trần gian soi vào thi phẩm Men đá vàng.

Tôi cũng có ít hành trang khác. Trong Về Kinh Bắc, Hoàng Cầm đã có những chùm thơ về ngũ hành: kim, mộc, thuỷhoả, thổ. Lại có chùm thơ về thực vật: Cỏ, Cây, Lá, Quả, về không gian: Gió, Nước, Khói, Sương, chứng tỏ có lúc nào đó, nhà thơ đã suy nghĩ về chất liệu, tư duy từ chất liệu. Trong cội nguồn thi hứng của anh, phải chăng đã có những giấc mơ thành hình từ thể chất, như Bachelard đã nói?

Và khi chọn nghề gốm để biểu trưng cho nghệ thuật, phải chăng lúc đầu – hay trong tiềm năng – Hoàng Cầm muốn tìm về những chất liệu sơ khai và “ ánh lửa sơ sinh” để nhào nặn nên một tác phẩm mới? Nghề gốm Bát Tràng là cơ hội lý tưởng, là truyền thống của quê hương mà anh thuộc lòng ngõ ngách. Nghề gốm đòi hỏi cần lao, kỹ thuật, nghệ thuật và may mắn, vì những thành quả bất ngờ gợi nên cõi huyền bí của thiên nhiên, chiều sâu tạo vật. Hòn đất vươn lên theo ngọn lửa, hoá thân thành chim muông, hoa lá, những rồng chìm phượng nổi, “màu son của đất pha ánh biếc của nước non (…) màu vàng của ngô lúa pha ánh hồng của những rạng đông huyền thoại” (tr. 18). Có cả tình yêu và tình dục bập bùng trong ánh lửa. Cô gái Phong Kiều, hình ảnh hoang tưởng của Nàng Thơ, âu yếm với ba người đàn ông cùng một lúc, cầm tay người chồng đã “ngày đêm canh sức lửa”, kề vai người bạn thợ đá, “ôm cả hai vai anh, run rẩy đặt môi hôn lên vầng trán”, và “đằ m thắm nở nụ cười quyến rũ” (tr .21) với chàng tuổi trẻ ái mộ nàng trên con đường đi tìm tình yêu và nghệ thuật.

Muốn đạt tới kết quả đó, bàn tay thao tác đã tư duy. Trí tuệ có khi chỉ nối dài tư duy của bàn tay. Nhào nặn thể chất, rung cảm bằng thể chất, bàn tay tiếp xúc, khám phá, mơ mộng và sáng tạo ngoài sự tham dự của trí tuệ. Đây là bài học của người thợ gốm “mười ngón tay chai tạc vó ngựa vàng cố lý”.

Một tiểu phẩm thủ công, khi vươn đến nghệ thuật, cũng đòi hỏi tâm huyết:

Xuống đất quánh ngà ngà pha lệ đỏ
Buồng gan hồng thạch
Dạ kim cương
(…) Nghe
lửa réo lò hồng
em níu vai anh mê ly
từng li ti mi li đất chín

Men đá vàng, tr. 32-34

Đến lúc người cha nghệ sĩ tạo hình truyền lệnh:

Men màu đâu ? Lên ngôi!
Men nâu lên
nình nịch vóc lực điền
vuông ngô lúa
tròn ao cá chép
vuông mùa xanh
tròn tiếp mùa vàng
(…) Men rạn lên ngôi
tia máu đan mành che bão táp
Nẻo người đi chằng chịt mấy muôn năm
ngang dọc nước sông Hồng

Men đá vàng tr. 46-48

Từ chuyện gốm Bát Tràng, Hoàng Cầm đã sa đà vào phong cảnh đất nước quê hương, qua địa lý, lịch sử, cho Văn Lang, Hồng Bàng, lớp lớp cánh cung căng mùa dân tộc hát, tiếng trống đồng Ngọc Lũ vang đến Sao Đẩu Sao Ngưu… Nhưng anh mỗi lúc một xa chủ đề trung tâm, là… cái lò nung gốm.

Truyện người thợ gốm lẽ ra sẽ giản dị là chuyện hai bàn tay tạo tác, đào luyện, nhào nặn, nung đúc một chất liệu dẻo dai, gắn bó, bền chắc keo sơn, thành những đồ sành đồ sứ men ngọc men nâu nổi tiếng từ thời Trần thời Lý. Nhưng người đọc không thấy được sự hình thành của nghệ thuật qua những tác phẩm vững chãi, rắn rỏi với thời gian, mà chỉ thấy sau nhiều đợt hô phong hoán vũ, những chia ly, tan tác, chủ yếu là tâm sự Hoàng Cầm, người cha xa con, người chồng ân hận, người bạn hồi tâm. Những tình cảm đó đáng kính đáng trọng, lời thơ tế nhị hơn những bài tâm sự sau này trong tập Lá diêu bông (1993), nhưng vẫn làm loãng men đá vàng trong chủ đề. Hoàng Cầm yếu đuối, lạc đường vào tâm sự và lỗi hẹn với Đá Vàng; anh làm lỡ cuộc tình bỏng rát giữa lửa hồng và đất mịn.

Điều còn lại trong Men đá vàng sẽ là niềm nhớ mong da diết của người cha:

Thương con đứng thương
để vàng m en gọi ngồi th ương
Con hỡi Phong Kiều về đó
Men màu mơ giọt đỏ đọng lòng tay
rớm máu mẹ cha sinh
Thương con chín thương
đá vàng men gợi mười thương
Con hỡi Phong Kiều về đó

Men đá vàng , tr. 50

Hay bản tình ca tha thiết của người yêu:

Đá hãy lên men
Nổi khúc tiêu bồng cánh nhạn
Em nhớ thương ai
Ta làm mưa đưa trầm ngải
Trải ngàn xanh về hàn đắp hồn đau
Sớm đã da non hồng phấn dậy thì
Em xót thương ai
Ta làm ánh chớp (…)
dìu sợi tóc mai về thềm mai lất phất
Em mong chờ ai
Ta làm rơm ổ
Chiều thu ru lá đỏ ấm vai gầy

Men đá vàng , tr. 60

Men đá vàng mong được hiểu theo nghĩa thứ hai: lớp men nhớ nhung tráng lên kỷ niệm đau thương những cuộc đời tan tác, hơi men đắng cay bốc lên từ cảnh đá nát vàng phai, bình tan gương vỡ. Men đá vàng khô se manh áo tân hôn cuối giường em gửi lại (tr. 39). Tác phẩm là những mảnh tan vỡ của ngôn từ, rạn nứt từ cuộc đời ngang trái.

Đặng Tiến

Noël 1993

hvln

HOÀNG CẦM- Trên đỉnh yêu thương và khổ lụy

Vương Trùng Dương

Kịch tác gia với dòng thơ trữ tình thời tiền chiến dấn thân vào phong trào Nhân Văn – Giai Phẩm bước sang đầu thế kỷ XXI vào tuổi bát thập. Hoàng Cầm là một trong ba khuôn mặt kiện tướng của Nhân Văn – Giai Phẩm hiện còn sống tại quê nhà. Suốt cả cuộc đời sống với thi ca, Hoàng Cầm luôn luôn tôn thờ tình yêu, ca ngợi hình ảnh nữ lưu cho dù cuộc tình nghiệt ngã. Đam mê trong tình yêu từ tiền bán thế kỷ XX cho đến thời điểm cuối đời ở hậu bán thế kỷ XX, Hoàng Cầm tự thú:

“Tám mươi khát cả lưỡi dao

Sắc như nước loáng…

Uống vào như chơi

Chín mươi… dẫu đến mười mươi

Khát thương em quá…

Khóc thôi một mình.”

Tình Sử Lá Diêu Bông

Văn nhân mang tâm hồn lãng mạn từ tuổi ấu thơ vì mới 8 tuổi đã vương vấn hình bóng người tình trong tâm tưởng, con tim cậu bé sớm ngất ngây rung động trước chân dung người con gái tuổi trăng tròn. Mối tình đó được trang trải cho đời qua hình ảnh “Lá Diêu Bông”. Sau ba thập niên mối tình đơn phương của Hoàng Cầm được bày tỏ qua bài thơ Lá Diêu Bông hình thành vào mùa đông 1959:

“Váy Đình Bảng buông chùng cửa võng

Chị thẩn thơ đi tìm

Đồng chiều,

Cuống rạ.

Chị bảo:

Đứa nào tìm được Lá Diêu Bông

Từ nay ta gọi là chồng.

Hai ngày em đi tìm thấy lá

Chi chau mày:

Đâu phải Lá Diêu Bông.

Mùa đông sau em tìm thấy lá

Chị lắc đầu,

Trông nắng vãn bên sông.

Ngày cưới chị

Em tìm thấy lá

Chị cười xe chỉ cắm trôn kim.

Chị ba con

Em tìm thấy lá

Xòe tay phủ mặt chị không nhìn.

Từ thuở ấy

Em cầm chiếc lá

Đi đầu non cuối bể.

Gió quê vi vút gọi.

Diêu Bông hời… ới Diêu Bông!”.

Lá Diêu Bông là chiếc lá tưởng tượng, chiếc lá định mệnh để bày tỏ ẩn tình bi thương, chất ngất cho thiên tình sử, vượt thời gian và không gian, dòng thơ được đưa vào cung bậc, trở thành phổ thông qua nhiều ca khúc.

Làng Đình Bảng, Bắc Ninh – quê hương nổi tiếng của quan họ Kinh Bắc – tuy là miền quê nhưng cũng là “nơi đàn bà con gái đa tình, sóng sánh mắt lá răm” trông mòn con mắt. Trong bài Lá Diêu Bông, mở đầu, Hoàng Cầm đã viết “Váy Đình Bảng buông chùng cửa võng” để phác họa hình ảnh địa phương với bóng dáng trang phục diễm kiều của người gái quê. Năm Hoàng Cầm lên 8 tuổi, từ tỉnh lỵ trọ học, trở về thăm nhà, gặp người con gái 16 tuổi – Vinh – yêu kiều trong chiếc váy bước vào quán hàng xén của thân mẫu, cậu bé 8 tuổi quá lãng mạn đã bị “tiếng sét ái tình” (coup-de-foudre) (amour subit & violent) ngay tức khắc.

Tiếng sét ấy đã đi sâu vào trái tim, gần 70 năm sau, Hoàng Cầm tâm sự: “Trước mắt tôi, chị hiện ra sáng rực rỡ như một thiên thần. Ngay lập tức, hồn tôi bị chị chiếm đoạt đến đau điếng. Kể từ giây phút định mệnh ấy, tôi mê man chị chẳng còn biết trời đất, ất giáp, quên hết học hành, sách vở, suốt ngày chỉ ngong ngóng sang bên kia đường số I, xê xế nhà tôi khoảng 20 mét, nơi thiên thần của tôi ngồi bán quán nghèo, phố nhỏ đìu hiu, tỉnh nhỏ… Tôi phải lòng chị, cứ thế giăng mắc tơ tình quanh chị suốt 4 năm trời, đến năm tôi 12 tuổi thì chị đi lấy chồng” (Nguyễn Thị Minh Thái – Thi sĩ Hoàng Cầm… – Kiến Thức Ngày Nay).

Người con gái đó vẫn biết từ lúc gặp nhau đã đi vào mối tình si của cậu bé học trò. Thế nhưng “Chị vẫn dứt áo ra đi. Đi lấy chồng. Tôi mất tăm chị, đầu non cuối bể tôi đi tìm, không thấy. Biền biệt tăm cá bóng chim…”. Theo Hoàng Cầm, Lá Diêu Bông “là chiếc lá huyền thoại, chiếc lá ngây thơ về một tình yêu đầy mộng mị thời thơ ấu”. Chiếc lá ấy mang theo hình ảnh có thật với Hoàng Cầm: “Tôi còn nhớ mồn một buổi chiều mùa đông… Chị đi về phía cánh đồng chiều còn trơ cuốn rạ. Những dãy núi xanh xanh mờ xa in hình như dao khắc trên nền trời cuối hoàng hôn. Bí mật, tôi lặng lẽ lần theo chị. Tôi thấy chị thẩn thờ tìm đồng chiều. Cuống rạ. Rồi chị lẩm bẩm một mình, dầu chị biết chắc tôi lẵng nhẵng sau lưng: Đứa nào tìm được Lá Diêu Bông, từ nay ta gọi là chồng…”(NTMT – KTNN)

Bài thơ gợi hình ảnh chị & em vì vậy tha nhân cứ nhầm tưởng hình ảnh hai chị em gái, người chị đi lấy chồng, người em còn lại với nỗi thẩn thờ; thật ra, ngôn ngữ trong thơ xưng hô em và chị thể hiện cách gọi giữa tác giả với “người tình” nơi cố quận. Tác giả giữ mãi ẩn tình đó qua thời gian khá dài gần bốn thập niên mới tâm sự nỗi niềm.

Tình Yêu Qua Ca Khúc

Nhạc sĩ cảm tác, rung động với hồn thơ để sáng tác. Và, “thiên tình sử” Lá Diêu Bông được nhạc sĩ phổ theo thơ, dựa vào câu chuyện để viết thành ca khúc. Phạm Duy viết thành ca khúc Lá Diêu Bông ở hải ngoại vào giữa thập niên 1980 trong tuyển tập “Thấm Thoát Mười Năm”, xuất bản 1985. Phạm Duy dùng nguyên văn bài thơ để viết nhạc, chỉ bỏ vài câu đầu từ “Váy…” đến “Chị bảo:”. “Đứa nào tìm được lá diêu bông… Diêu bông hời, hời hỡi diêu bông” và thêm hai câu cuối vào bài hát: “Em đi trăm núi nghìn sông! Nào tìm thấy lá diêu bông bao giờ…”. Nhạc phẩm Lá Diêu Bông nầy mang âm hưởng, sắc thái mới lạ, khó hát nên ít được phổ biến.

Đầu thập niên 1990, ở trong nước, Trần Tiến phổ biến bài nầy mang âm điệu dân ca, bình dân, được nhiều ca sĩ trình bay; vì vậy, đã có nhiều sự nhầm lẫn về tác giả khi nghe bài hát Lá Diêu Bông. Trần Tiến không hiểu được hồn của bài thơ, ngộ nhận nhân vật, nhưng làm nổi tiếng tên tuổi Lá Diêu Bông:

“Lời ru buồn nghe mênh mông, mênh mông, sau lũy tre làng kiến lòng tôi xôn xao.

Ngày lấy chồng em đi qua con đê, con đê mòn lối cỏ về, có chú bướm vàng bay theo em.

Bướm vàng đã đậu cây mù u rồi, lấy chồng sớm làm gì để lời ru thêm buồn.

Ru em, thời thiếu nữ xa xôi; còn đâu bao đêm trăng thanh, tát gàu sòng vui bên anh.

Ru em, thời con gái kiêu sa, em đố ai tìm dược lá diêu bông, em xin lấy làm chồng.

Ru em, thời thiếu nữ xa xôi, mình tôi lang thang muôn nơi, đi tìm lá cho em tôi.

Ru em, thời con gái hay quên, thương em tôi tìm được lá diêu bông, sao em nỡ vội lấy chồng… Diêu bông hỡi diêu bông, sao em nỡ vội lấy chồng”.

Năm 1997, “Nhạc Vàng Productions” giới thiệu CD sẽ được phát hành “CD Tình Sử Hoa Diêu Bông” thơ Nguyễn Mạnh Hoàng Cương, nhạc Phạm Vinh. Có 3 bài: I (Lời Người Con Trai) Vũ Thành An đã phổ nhạc dòng thơ nầy của NMHC mang bóng dáng trong thơ của hoàng Cấm, II (Lời Người Con Gái), III (Giây Phút Lỡ Làng). Ở đây Diêu Bông “tưởng tượng” như “sắc hoa”, “ti-gôn”, “hoa sim”… cho tình sử nhạc khúc nhưng danh xưng tưởng tượng “thoát xác” qua ý thơ của Hoàng Cầm.

Trở lại hình ảnh Lá Diêu Bông với tơ lòng nhà thơ đắm say trong trường tình. Với hình ảnh người bạn đời Tuyết Khanh, Hoàng Yến; với cả mười người tình đi qua đời, qua trái tim; hình ảnh người con gái quê Đình Bảng vẫn là “đẹp nhất trần gian” ghê thật!.

Hoàng Cầm, nghệ sĩ sống thật với cõi lòng. Qua bao nhiêu đau thương, biến động dồn dập trong cuộc sống, Hoàng Cầm vẫn mang nặng tâm hồn nghệ sĩ, chấp nhận tất cả mọi hệ lụy để sống còn và sáng tác. Trôi nỗi giữa cuộc sống phong ba, bão táp, nhà thơ Sông Đuống có lẽ bị hai cú “shock” mạnh nhất là ngày chị Vinh đi lấy chồng lúc 12 tuổi và ngày Bùi Thị Hoàng Yến – đứa con thân yêu nhất – vĩnh viễn ra đi khi 63 tuổi đã làm Hoàng Cầm “hoàn toàn sụp đổ, hàng tháng sau vẫn chỉ là cái xác vật vờ, lờ lững mà thôi”!.

Đọc Lá Diêu Bông, nghe Lá Diêu Bông… một mối tình đơn phương đầy lãng mạn, một huyền thoại về hình ảnh chiếc lá biểu tượng cho tình yêu chất ngất, rướm máu… Chỉ có Hoàng Cầm đam mê, nóng bỏng, lãng mạn của kiếp đời nghệ sĩ.

Nếu so sánh Hán Quang Võ đa tình, đa cảm… mẫn mê với thở Lệ Quyên “thơm như hoa lan”, giữa Ôn Như Hầu (tác giả Cung Oán Ngâm Khúc…) và Dục Đức (Tự Đức) (tác giả Ngự Chế Việt Sử tổng vịnh tập, Luận ngữ Diễn Ca…) cách nhau một thế kỷ còn mập mờ tranh nhau hình ảnh Thị Bằng – “Đập cổ kính ra tìm bóng cũ. Xếp tàn y lại để dành hơi” – thì Lá Diêu Bông có lẽ tha thiết, nặng tình, bi thương hơn bội phần. Nếu so sánh với tuổi yêu đương, có lẽ Hoàng Cầm đứng đầu danh sách nghệ sĩ.

Với “thiên tình sử” Lá Diêu Bông, với Hoàng Cầm, người nghệ sĩ bị chôn vùi tâm hồn lãng mạn qua thời gian lâu dài trong vùng đất ngục tù, cay đắng… nhưng vẫn giữ được trái tim rực lửa như thuở học trò với người gái quê Kinh Bắc.

Tên tuổi Hoàng Cầm được nhắc nhở qua cung bậc với Lá Diêu Bông, ở hải ngoại, Phạm Duy đã phổ nhiều ca khúc qua dòng thơ của Hoàng Cầm, nổi tiếng như ca khúc Tình Cầm (thơ Nếu Anh Còn Trẻ, 1941):

“Nếu anh còn trẻ như năm ấy

Quyết đón em về sống với anh

Những khoảng chiều buồn phơ phất lại

Anh đàn, em hát níu xuân xanh…”

Xin mời nghe Tình Cầm- Thơ: Hoàng Cầm- Nhạc: Phạm Duy-Hòa âm: Duy Cường- Trình bày: Thái Thanh

[audio https://chusalan.files.wordpress.com/2013/01/tinhcam.mp3]

Chân Dung Nhà Thơ

Hoàng Cầm, tên thật: Bùi Tằng Việt. Sinh năm 1921, làng Đình Bảng, thôn Phúc Tằng, Việt Yên, Bắc Ninh. Theo Hoàng Văn Chí trong tác phẩm Nhân Văn Giai Phẩm – Sài Gòn VN, 1957 – Hoàng Cầm sinh năm 1922 ở làng Lạc Thổ, huyện Thuận Thành, tỉnh Hải Dương. Theo Đinh Cường trong bài viết “Hoàng Cầm, Nhà thơ Cho Ta Yêu Sông Đuống” sau ngày gặp mặt Hoàng Cầm tại Sài Gòn: “Sinh nắm 1921 tại làng Lạc Thổ, Chợ Hồ, huyện Lang Tài, phủ Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh. Thân phụ anh hoạt động trong phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục nên từ bé anh đã được hun đúc tinh thnầ dân tộc và ái quốc”. Yêu thơ văn từ thuở học trò, lớn lên, Hoàng Cầm không thích nghề giáo nên dấn thân vào con đường kịch nghệ & thi ca.

Vào thập niên 1940, Hoàng Cầm nổi danh với tác phẩm kịch nghệ như Lên Đường, Kiều Loan, Hận Nam Quan… Năm 1945, kịch thơ Kiều Loan ra đời, diễn viên Tuyết Khanh đóng vai Kiều Loan. Vở kịch Kiều Loan trình diễn lần cuối vào tháng 11-1946 rồi đình bản vì tình hình chiến sự.

” Anh đang sống chung với Tuyết Khanh, nữ kịch sĩ của đoàn kịch Đông Phương do anh Hoàng Tích Linh thành lập trước đây. Tuyết Khanh là người thủ vai chính trong vở Người Điên của Hoàng Cầm. Vở kịch cón mang thêm cái tên Kiều Loan… Đi theo Hoàng Cầm ra vùng kháng chiến, Tuyết Khanh, mà lúc đó Hoàng Cầm cũng đổi luôn tên là Kiều Loan, đang có thai và bắt buộc phải ở lại vùng trung du để Hoàng Cầm và chúng tôi lên đường lưu diễn” (Hồi Ký Phạm Duy – Thời Cách Mạng Kháng Chiến). Và, mối tình thơ mộng đó đã cho ra tác phẩm bằng xương bằng thịt: Kiều Loan. Thế rồi: “Suốt thời gian từ 1948 cho tới năm 1954, từ trong vùng địch chiếm, Kiều Loan mẹ viết thư cho Hoàng Cầm nhiều lần và chẳng bao giờ được trả lời. Sau hiệp định Genève chia đôi đất nước, Kiều Loan mẹ đành phải bế con lên sán di cư vào Nam, trong khi Hoàng Cầm hãy còn ở một nơi nào đó trong vùng quê miền Bắc.

… Đứa bé nằm trong bụng mẹ trong thời kháng chiến năm xưa, hôm nay, trong một ngày lành tháng tốt của năm 1968, đã lấy chồng. Qua tới Mỹ năm 1975, tôi biết tin Kiều Loan mẹ cũng đi tị nạn và đang sống tại vùng Hoa Thịnh Đốn. Vào nam 1982 tôi lại nghe tin Kiều Loan con cũng vượt biên qua tới Mỹ và về sống với Kiều Loan mẹ tại Los Angeles. Ngày đầu năm 1983, trong buổi đi chơi tình cờ, tôi được một người bạn đau lại gặp hai mẹ con Kiều Loan tại căn nhà nhỏ ở downtown Los Angeles” (Phạm Duy – Hồi Ký TCMKC).

Khi định cư tại Hoa Kỳ, Kiều Loan nối nghiệp song thân, cùng với phu quân là Trần Nhật Hiền, nguyên Giám đốc trường Quốc Gia Âm Nhạc Huế, lập ra ban kịch, ra mắt vở kịch Kiều Loan vào năm 1982 tại San José, được lưu diễn nhiều nơi, góp mặt trong việc hồi sinh nền kịch nghệ hải ngoại.

Khi Hoàng Cầm về Hà Nội thì Tuyết Khanh và Kiều Loan đã di cư vào Nam. Hoàng Cầm lập lại cuộc đời với Lê Hoàng Yến ở 43 Lý Quốc Sư Hà Nội. Đứa con gái ra đời được lấy tên mẹ Bùi Thị Hoàng Yến, sau nầy trở thành diễn viên kịch nghệ. Tháng 5-1982, Hoàng Yến qua đời, Hoàng Cầm rơi vào tình trạng khủng hoảng tinh thần trầm trọng, như dòng thư gởi ra hải ngoại cho Kiều Loan: “Đến khi chị Yến chết thì bố hoàn toàn sụp đổ, hàng tháng sau vẫn chỉ là cái xác vật vò, lò lững mà thôi…”.

Tưởng nhớ người vợ, Hoàng Cầm bày tỏ niềm rung ảm qua Nén Linh Hương:

 

“Đã hẳn em bay cõi im-vô-cực

Sao còn mưa mau quất đau lá cành…

Từ hôm em đi ghi âm cười khóc

Ghi nét mày chau ghi sắc môi hồng…”

Bài thơ Xa, khóc L.H.Y viết vào tháng 8 năm 1985, vô cùng cảm động:

 

“Em đâu? Ai xé hồn muôn mảnh

-Tiếng mối tường bên xé tiếng mưa…

Đêm đêm hương khói, ngày không nói

Trang giấy vùng âm đắp ẩm êm

Ai khấn gọi gì qua mộ chí

Chơi sao nuốt nghẹn khối u mềm…”

Tham gia trong thời kỳ kháng chiến, dòng thơ tuyệt vời của Hoàng Cầm qua “Bên Kia Sông Đuống” và “Đêm Liên Hoan” vang vọng, được lan truyền khắp nơi.

Hoàng Cầm bị bắt lần thứ hai và trải qua 3 năm ở nhà giam Hỏa Lò.

Đó là hai người tình, bạn đời chính thức của Hoàng Cầm.

Năm 1989, tập kịch Men Đá Vàng được xuất bản ở Sài Gòn, sau gần nửa thế kỷ im bóng.

Về thi ca, Hoàng Cầm sáng tác được 2 tập: Bên Kia Sông Đuống & Về Kinh Bắc. Cho đến năm 75 tuổi, chọn lọc trong khoảng 300 bài thơ liên quan đến hình ảnh 13 người đẹp đi vào trái tim với “Thơ Hoàng Cầm – 99 Tình Khúc”. Theo nhà thơ: “Tôi biết ơn tất cả những người con gái đã đi qua đời tôi, đã gieo gió bão trên cánh đồng thi ca của riêng tôi”.Năm 1998, thi phẩm Thơ Hoàng Cầm gồm hai phần: Vọng Về Kinh Bắc và Thơ Tình (Tình Ngây, Tình Si Mê, Tình xưa) được xuất hiện.

Trước kia, Hoàng Cầm gắn liền với hình ảnh Kiều Loan. Ngày nay, bài thơ Lá Diêu Bông, rất ngắn nhưng đã làm sống lại tên tuổi Hoàng Cầm, ngay cả hải ngoại.

Có bài thơ đã vượt không gian và trường tồn với thời gian vào quảng đại quần chúng; chẳng hạn, Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu.

Ngày xưa, thi hào Lý Bạch xem bài thơ Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu cùng thời Thịnh Đường ở Trung Hoa, ngưỡng mộ phóng bút: “Nhãn tiền hữu cảnh đạo bất đắc?. Thôi Hiệu đề thi tại thượng đầu!”. Hoàng Hạc Lâu làm sống mãi tên tuổi Thôi Hiệu trải qua nghìn năm sau. Hoàng Hạc Lâu được rất nhiều thi sĩ Việt Nam dịch, cảm tác từ thời tiền chiến cho đến nay, trong tâm trạng con người lưu vong khắp bốn phương trời.

hvln

Mẹ, chị và em trong  “Về Kinh Bắc”

 Hoàng Hưng

Trở về SG sau những ngày lễ tang Hoàng Cầm, tôi ngồi soạn lại những kỷ niệm còn lưu giữ về ông, thì gặp lại bài viết này của mình nhân sinh nhật thứ 80 của thi sĩ (2002). Bài đã in trên tạp chí Phụ Nữ TPHCM số Xuân năm ấy, nay xin đưa lên mạng, có bổ sung hai chú thích.

Không hẹn mà nên, thời điểm Hoàng Cầm chào đời lại là lúc các làng quan họ nao nức đợi sáng hôm sau mở hội: đó là lúc gần nửa đêm 12 tháng Giêng. Chẳng biết có phải vì thế mà cái chất “âm tính”, “nữ tính” nó ám vào thơ ông. Nhưng quả thật những bài hay nhất, những gì hấp dẫn nhất trong thơ Hoàng Cầm, tập trung ở tập Về Kinh Bắc, đều ám ảnh bóng hình người con gái Kinh Bắc xưa…

Hoàng Cầm và các liền chị liền em Kinh Bắc thời nay

Câu thơ mở đầu Về Kinh Bắc là một lời khấn nguyện: “Cúi lạy mẹ con trở về Kinh Bắc”. Để rồi trong suốt 48 bài qua 8 nhịp tuần du, tiếng Mẹ cứ trở đi trở lại như một âm chủ trong toàn bộ tổ khúc thơ đầy màu sắc ấn tượng chủ nghĩa, như một sức mạnh ngầm nối kết những liên tưởng, ẩn dụ, cảm nhận tản mác, tạo nên một thế giới vừa thực vừa ảo. Để rồi gấp tập thơ lại, ta cứ nao lòng vì câu hát ru cuối cùng: “Lớn lên / Em đừng tìm mẹ phía cơn mưa”. Một nỗi buồn bí ẩn, không giải thích được, một kinh nghiệm trả giá một đời?

Sự thực là Về Kinh Bắc đã được khởi hứng và nuôi dưỡng trong suốt mấy tháng mùa rét Đông Xuân 1959 – 1960 từ nỗi niềm của đứa con tơi tả chỉ còn một con đường: tìm về quê mẹ nương náu trong lòng mẹ. Cũng tức là tự bứt khỏi thực tại để chìm đắm vào quá khứ một đi không trở lại. Hoàng Cầm nhớ về mẹ mình, “một cô gái Kinh Bắc có nhan sắc, óng ả, kiều diễm, có đôi mắt ‘lúng liếng’ thật tình tứ, dáng đi đài các uyển chuyển thanh tao”. Mẹ ông là cô gái làng quan họ Bựu – Xim, cùng làng với bà Trần Thị Tần vợ yêu quan Đại tư đồ Nguyễn Nghiễm, mẹ của thi hào Nguyễn Du. Về Kinh Bắc hẳn đã mang sẵn trong máu mình nỗi u uẩn của người con gái hát quan họ tuyệt vời nhưng chính tài hoa ấy lại khiến người chồng nghiêm khắc hững hờ lạnh nhạt trong hơn mười năm, để đứa con đầu lòng phải ra đời trong cảnh đơn chiếc một đêm lạnh giá…

Đứa con ấy chưa kịp lớn bao nhiêu đã lại chuốc lấy cho riêng mình một nỗi u uẩn. U uẩn từ mối tình “Chị – Em” kỳ lạ hiếm hoi trong lịch sử văn học. Mối “tình” này đã được báo chí lạm thác đến mức nhàm chán, và tác giả cũng đã kể nhiều đến mức có lúc có thể lẫn lộn việc thực với tưởng tượng. Tôi muốn quên đi huyền thoại ngoài thơ để chỉ nói về huyền thọai trong thơ. Về những ấn tượng không thể nào phai của chùm “Cây – Lá – Quả – Cỏ” mà hình bóng “Chị” trùm lên.

Chị “trầu cay má đỏ” là trung tâm toả không khí ngây ngây men erotic của đêm chơi tam cúc “nghé cây bài tìm hơi tóc ấm”, “ổ rơm thơm đọng tuổi đương thì” (riêng tôi thích cái dị bản “thơm dậy tuổi đương thì” hơn là “thơm đọng”, vì tuổi đương thì là tuổi dậy chứ chưa đọng).

Chị với chiếc “váy Đình Bảng” có lần “xoạc cành ngang” trên cây ổi có thể làm các chàng quân tử “dùng dằng đi chẳng dứt” còn hơn là cô thiếu nữ ngủ ngày “yếm đào trễ xuống dưới nương long” của nữ sĩ họ Hồ. Chiếc “váy Đình Bảng buông chùng cửa võng” làm câu mở đầu bài thơ Lá Diêu Bông, theo lối “hứng” của ca dao, đã trở thành một huyền thoại văn chương. Mấy ông bạn già của Hoàng Cầm từng bình luận: ai bảo ông ngạo thần ngạo thánh, dám ví cái váy của cô gái quê với cái cửa võng thiêng liêng chốn đình chùa, nên bị Thánh phạt đến nửa đời là phải! Vâng, cái váy con gái Đình Bảng một thời là “mốt” thời trang Kinh Bắc, mẹ cậu Việt (tên thật Hoàng Cầm là Bùi Tằng Việt) từng mặc, chị Vinh thần tượng của cậu từng mặc. Theo như tác giả miêu tả, nó buông chùng xuống mu bàn chân giống kiểu buông của cửa võng (cửa võng thật ra là thứ rèm trướng cách điệu, bằng gỗ, buông nửa chừng như cánh võng trước mặt ban thờ trong hậu cung đình chùa); mặc cho đúng mốt Đình Bảng là biết chếp nếp trên thắt lưng để phía dưới có nhiều pli, càng nhiều pli càng đẹp, khi đó dáng cô gái đi chẳng khác đi trên sóng rập rờn.

Chị với chiếc Lá Diêu Bông có thể trở thành một mục từ trong từ điển văn học! Chiếc Lá Diêu Bông nổi tiếng đến mức nhạc sĩ Trần Tiến chỉ đưa cái tên ấy vào một câu trong bài hát “Sao em nỡ vội lấy chồng” đã mang tiếng là “phổ nhạc bài thơ Hoàng Cầm”. Lá Diêu Bông là cái lá gì? Trong hơn 30 năm kể từ khi bài thơ ra đời, không ít người đã hỏi. Bây giờ thì chắc ai cũng biết đó là cái lá không hề có, do chị bịa ra để dối em, đúng ra là do nhà thơ bịa ra (và đó cũng là nguyên nhân dẫn đến bao nhiêu suy dĩên, bao nhiêu rắc rối cho ông!). Chính tác giả nói ông cũng không biết tại sao mình nghĩ ra cái tên ấy. Theo tôi, cái tên đã hình thành một cách vô thức từ những liên tưởng do hai âm “diêu” và “bông” gợi lên. “Diêu” gợi nghĩa “phiêu diêu”, “bông” gợi nghĩa “bông lông” hoặc “nhẹ như bông”. Lá Diêu Bông là một cái lá bay phiêu diêu, vô định. Có lẽ hiểu như thế nên nhạc sĩ Văn Cao từng có lần vẽ hai cái lá bay làm “bìa” cho một tập Về Kinh Bắc do Hoàng Cầm chép tay. Xin dừng một chút ở chuyện này. Vào cái năm 1982 ấy, số người tìm đến quán rượu Hoàng Cầm ở 43 Lý Quốc Sư Hà Nội xin ông chép tay bản thảo Về Kinh Bắc đã không còn giới hạn trong phạm vi các “fan” ở Hà Nội. Từ TPHCM ra thăm lại quê hương, tôi cũng xin Hoàng Cầm một tập để đem về cho bạn bè văn thơ trong ấy thưởng thức, kể cả bản thân tôi, đến lúc ấy mới chỉ có trong tay ba bài “Cây tam cúc”, “Lá Diêu Bông”, “Quả vườn ổi”. Hoàng Cầm chép xong, tôi bắt chước ông Lâm “toét” (tức Lâm cà phê) xin hoạ sĩ Bùi Xuân Phái vẽ cho hai bức “phụ bản”, ông đã vẽ hai cô gái quan họ. Mở ngoặc nói thêm: ông Lâm là người mến tài các hoạ sĩ nên đã trở thành nhà sưu tập tranh có hạng ở Hà Nội, từ đó ông lại “chơi” cả một số bản thảo của các nhà văn nhà thơ nổi tiếng nhưng chưa được phép công bố, có lẽ Về Kinh Bắc của Hoàng Cầm là món đầu tiên thuộc loại đó. Vào năm 1982 thì bản thảo Về Kinh Bắc mà Hoàng Cầm chép tay và Bùi Xuân Phái vẽ phụ bản, sở hữu của ông Lâm từ nhiều năm trước, bỗng biến mất! Khi đề nghị tác giả VKB chép, tôi có chủ ý làm lại một bản để thay cho bản đã mất của ông Lâm. Còn “oách” hơn bản kia, vì nó sẽ có một cái “bìa” do Văn Cao vẽ. Hồi ấy, nhạc sĩ được coi là người minh họa tác phẩm và vẽ bìa sách văn học tài hoa nhất. Do quý mến đứa em làm thơ cùng chí hướng, ông đã thực hiện rất nhanh cái “bìa” Về Kinh Bắc trên tờ giấy thếp (chắc là bằng khổ A4 bây giờ). Tiếc thay, tập chép quí giá ấy (có thể nói là vô giá) – với thủ bút Hoàng Cầm, tranh phụ bản Bùi Xuân Phái, tranh bìa Văn Cao – đã không thể nào tìm lại được nữa!1

Về Kinh Bắc còn có rất nhiều hình bóng gái Kinh Bắc mà tác giả gọi chung là “Em”. Em cam phận hồng nhan đày đọa: “gánh gạo về dinh phú hộ/ nứt vai thành sẹo lá lan đao”, “ chở nứa sang bờ duyên phận…da mỡ đông tuốt sẹo ngang thân”, em tắm đêm “tung toé dội gầu trăng nước giếng… còn bủn rủn sẹo ngang sẹo dọc” và bỗng kinh hoàng “ấp vú mình trần con dế trũi”. (Tắm đêm, bài thơ lạ lùng như bức tranh theo chủ nghĩa xuất biểu – expressionnism). Em dân ca quan họ trong bức tứ bình minh họa thành ngữ dân gian về ‘tướng’ dành cho phái nữ: “Lại xót mắt em mi trường khép bóng”, “Chân em dài đi không biết mỏi”, “Má hồng em lại nổi”, “Lưng thon thon cắm sào em đợi” (Theo đuổi)2. Có cả em âm thầm “nén nghẹn búp thanh xuân” nơi cửa Phật “chuông chùa cởi yếm, chuông sớm đội khăn, câu kinh tê tê mười ngón tay măng… ong bay vai áo tiểu thon mình” (rất có thể em đây là nhân vật của “Hồn bướm mơ tiên” Khái Hưng). Cả em “hình nhân má điệp tóc mực tàu… da trắng bóc/ phủ bụi tàn nhang… mai nhảy vào đám lửa giỗ đầu”. Và em bảng lảng trong thiên nhiên, khí hậu Kinh Bắc: “Gió vào trăm cửa, gió ra hồng da trinh nữ”, “châu chấu ma vờn cổ yếm xây”. Trong lịch sử Kinh Bắc: “Thấy phẩm Huệ xênh xang năm sắc áo/ biết lòng chim sáo chim di”. Em của các lễ hội dân gian một thuở: hội thi sợi bún, thi ăn mía thổi cơm, thi đánh đu, hát đúm, thi dệt vải, thêu gấm, hội chen Nga Hoàng…Cái hội chen này của vùng Kinh Bắc xưa thật là hấp dẫn, độc đáo. Mỗi năm một đêm đúng vào đêm nguyệt tận “tối như đêm 30”, trai gái đàn ông đàn bà đợi cụ Tiên chỉ nổi trống, đèn đuốc tắt hết, là nhào vào “chen”, những đôi yêu nhau mà không lấy được nhau tận dụng thời gian vàng ngọc này để thoả cái tình phải nén trong lòng. Nhưng dù mê đắm thế nào cũng phải “tỉnh táo” căn sao cho đúng ba hồi trống, kẻo đèn đuốc bừng lên mà chưa kịp buông nhau ra là làng bắt vạ. Nhà thơ đã nhập vào tâm tư của cô gái lỡ gặp người thương quá ba hồi trống, cả hai bị bắt trói cột đình. Đã liều thì liều một thể, cô thầm ước (hay thầm hát, một điệu quan họ): “Thì trói cả đôi/Xin trói cả đời/Cột lim ư gãy rồi/Giường nhung ư sóng đôi”.

Hoàng Hưng

hvln

 

ẤN TƯỢNG HOÀNG CẦM

NGUYỄN TRỌNG TẠO

Hoàng Cầm, ảnh Nguyễn Đình Toán

Không hiểu sao trong tâm thức thơ ca của tôi luôn ám ảnh bởi Hàn Mặc Tử và Hoàng Cầm, dù thơ của hai thi sỹ này rất khác nhau về hồn thơ và giọng điệu. Hàn Mặc Tử thăng hoa cõi trần vào cõi mơ: Thơ có tích và chiêm bao có tuổi, Hoàng Cầm lại phất cánh diều thơ từ trầm tích của văn hóa Kinh Bắc Giải yếm lòng trai mải phất cờ; Hàn Mặc Tử mất năm 28 tuổi (1940) cũng là lúc Hoàng Cầm 18 tuổi xuất hiện trong làng thơ và tới những năm tuổi bảy mươi vẫn còn sung bút. Tôi nhớ hồi nhỏ đã từng chép tay hàng chục bài thơ của Hàn Mặc Tử, và sau chiến tranh trở về Hà Nội (1976), tôi lại mải miết chép vào sổ tay tập thơ VỀ KINH BẮC từ bản thảo của Hoàng Cầm, bởi thơ ông rất lôi hút những nhà thơ trẻ chúng tôi lúc bấy giờ. Quả là thơ Hoàng Cầm có một ma lực kỳ lạ ở sự cách tân, ở hồn cốt văn hóa làng quê Việt. Có lẽ vì thế mà Trần Dần gọi Hoàng Cầm là “nhà tân cổ điển”.

Thực ra, thế hệ chúng tôi lớn lên sau vụ Nhân văn – Giai phẩm ít được đọc Hoàng Cầm dù trước cách mạng 1945 ông đã đóng góp không nhỏ cho kịch thơ với hai vở Hận Nam Quan và Kiều Loan cùng với những bài thơ kháng chiến, tiêu biểu là Bên kia sông Đuống nổi tiếng và trường ca Tiếng hát Quan họ. Thơ của ông đẹp một vẻ đẹp thướt tha mà lại dạt dào, hào sảng:

Sông Đuống trôi đi
Một dòng lấp lánh
Nằm nghiêng nghiêng trong kháng chiến trường kỳ

Những hình ảnh thân thương gần gũi của quê làng vào thơ ông bỗng trở nên sang trọng lạ lùng.

Những cô hàng xén răng đen
Cười như mùa thu toả nắng

Nói như nhà thơ Nguyễn Thụy Kha thì thơ Hoàng Cầm “trầm đầy một nỗi phương Đông”. Đúng như vậy, cái “nỗi phương Đông” luôn “trầm đầy” chính là nhờ ông đã nhập hoà hồn thơ mình vào chiều sâu văn hóa Việt để rồi hiện ra trên trang giấy với dáng vẻ năng động của thơ mới trong sự luân chuyển về hiện đại.

30 năm vắng bóng trên thi đàn (1958-1988) lại chính là thời gian mà Hoàng Cầm đã tạo nên sự đột khởi trong nghiệp thơ của ông bằng tập VỀ KINH BẮC và nhiều tập thơ lẻ như MEN ĐÁ VÀNG, MƯA THUẬN THÀNH, 99 BÀI TÌNH, v..v… Nhiều bài thơ trong những tập thơ này, mà đặc biệt là tập VỀ KINH BẮC đã trở thành “ngôn truyền” trong công chúng với những Lá Diêu BôngQuả Vườn ỔiCây Tam CúcCỏ Bồng Thi… Theo Hoàng Cầm thì VỀ KINH BẮC chính là tập thơ cột sống của đời ông. Đây là một tập thơ mà tinh túy của văn hoá Quan họ – Kinh Bắc đã được chưng cất, kết đọng lại. Ông chia tập thơ thành các “nhịp” với những đêm Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ như nén lại để rồi làm thăng hoa thơ Việt trong một không gian, thời gian thực ảo biến hoá khôn lường. Đọc thơ ông, ta gặp một con người Việt nguyên khôi qua hơi thở của lục bát, ngũ ngôn và nhịp tự do tài tình lướt qua khuôn phép. Chính vì thế mà thơ ông không cũ đi trong cổ điển, và cũng không quá xa lạ trong hiện đại. Nhiều câu thơ của ông đầy tài hoa, quyến rũ, khiến người đã “phải lòng” rồi thì không thể nào dứt ra được nữa:

– Vắt áo nghe thầm tiêng vải kêu
– Một con mèo mướp ruỗi chân chiều
– Ta con bê vàng lạc dáng chiều xanh
đi mãi tìm sim chẳng chín
– Ta con chào mào khát nước
về vườn xưa hạt nhãn đã đâm mầm
– Ta con chim cu về gù rặng tre
mang nắng ấu thơ về sân đất trắng
– Chị gánh gạo về nhà phú hộ
nứt vai thành sẹo lá lan đao
……….

Mảng thơ tình của Hoàng Cầm lại là một đóng góp đáng kể về cảm giác tình yêu trong thơ ta. Đấy là một cảm giác si mê hưng phấn trong ái tình, mà có người nhầm tưởng là kích động nhục cảm. Ví dụ những câu thơ rất gợi này:

Chân em dài đi không biết mỏi
Má hồng em lại nổi
đồng mùa nước lụt mênh mông
Lưng thon thon cắm sào em đợi
Đào giếng sâu rồi
đừng lấp vội đầu xanh

Những chân dài, má hồng, lưng thon khiến ta nhớ tới “trường túc”, “hồng nhan”, “chiết yêu” trong quan niệm tính dục của người Tàu, nhưng khi những chi tiết ấy vào thơ Hoàng Cầm nó đã được Việt hóa một cách thần tình, khiến cho câu thơ trở nên lung linh tơ lụa bọc che những ẩn dụ xa xăm.

Thực ra, nhục cảm trong thơ tình Hoàng Cầm luôn đa nghĩa, mà cuối cùng hướng về cái đẹp e ấp luôn có nguy cơ biến mất. Trong đời thực, Hoàng Cầm là một người đa cảm và cũng đa tình lắm. Da trắng, môi son vẫn còn phảng phất trên gương mặt chữ điền dưới mái đầu bạc trắng như cước. Cho dù khi đã gần tuổi 80, ông vẫn thường khát khao một mối tình chân thành, đắm đuối. Có lẽ nhờ thế mà trái tim trong thơ ông vẫn rộn ràng những điệu nhạc xa xăm:

Ai bảy mươi tươi ròn
Nằm mơ đưa võng mẹ
Ru say dòng mẫu hệ
Vòng tay quê bế bồng

hoặc:

Em ơi! Em ơi!
Tóc xanh bạc óng
Như hai con sóng
Dễ gì chẻ đôi…

Ngoài tình yêu và thơ ca, Hoàng Cầm cũng là người còn nhiều đam mê khác. Mươi năm lại đây, nhiều bài phê bình, tiểu luận và hồi ký của ông thường làm giật mình người đọc về một trí tuệ và khả năng sung mãn trong sáng tạo. Có thể nói ông là một người thẩm thấu văn chương rất tài tình, tinh tế và nhạy cảm. Không chỉ chia sẻ với các nhà văn nhà thơ cùng thời, mà ông rất gần gũi với cả những thế hệ sau. Ông viết phê bình, giới thiệu thơ của nhiều nhà thơ chống Mỹ với lòng ưu ái và nể trọng. Những bài viết gom nhặt cái hay cái đẹp như vậy bao giờ cũng chân tình và hứng thú. Khi không còn sức để đọc nhiều nữa, ông vẫn dành thời gian đọc những người trẻ, chỉ bảo và cổ súy họ. Có lẽ nhờ thế mà sáng tác của Hoàng Cầm không bị già cỗi, không bị tụt hậu như một số người cao tuổỉ khác. Gần đây ông cho in tập VĂN XUÔI HOÀNG CẦM khoảng 500 trang đã cung cấp cho bạn đọc nhiều điều lý thú bất ngờ. Văn xuôi của ông bộc lộ một bề dày văn hóa cùng những trải nghiệm về đời, về nghề vô cùng sâu sắc và bay bổng. Có cảm giác dòng sông tâm hồn ông lúc nào cũng đầy ắp những con sóng dạt dào trẻ trung và ngọt mát.

Từ đầu những năm 90 của thế kỷ trước, Hoàng Cầm vẫn khao khát được chung tay với Hội Nhà văn ra một tờ báo THƠ để thúc đẩy thơ ca ngày càng đạt tới những thành công mới và đáp ứng nhu cầu của công chúng yêu thơ. Đọc những lời tâm sự của ông trên báo, càng thấy khát vọng ấy của ông nhức nhối đến chừng nào: “Thơ là một mặt vô cùng trọng yếu của đời sống tinh thần dân tộc ta, thì lại không có một tờ báo dẫu chỉ là hai trang thôi! Lấy đâu ra sức mạnh đẩy thơ lên tới mức hiện đại hóa văn chương và nghệ thuật cho kịp với các trào lưu thế giới?”…

Những khao khát của Hoàng Cầm là khao khát nghiêm cẩn. Cũng chính những khát vọng ấy đã giúp ông vượt qua bao trắc trở thị phi bi kịch không đáng có trên con đường văn học. Và giờ đây, khát vọng vẫn nâng đỡ cho ông chống chọi với bệnh tật hiểm nghèo, với gánh nặng tuổi tác, giành lại những phút giây sáng tạo cuối cùng. Hôm qua, tới thăm ông tại nhà riêng, tôi thấy ông nằm trong căn phòng kính tận tầng 4 căn nhà 43 Lý Quốc Sư. Hai năm nay ông đã nằm như vậy sau một cú ngã cầu thang gãy xương đùi. Ông “nằm nghiêng nghiêng” trường kỳ như vậy không biết sẽ đến bao giờ. Năm nay ông đã 86 tuổi. Tôi nói rằng, ông xứng đáng giải thưởng Hồ Chí Minh. Ông cười nói: Giải thưởng Nhà Nước cũng là vinh dự lắm rồi. Được Nhà Nước tặng giải thưởng này, cũng có nghĩa là mình đã được “phục hồi” thật sự, phục hồi công khai. Mà lại có tiền để chữa bệnh, để sống thêm những ngày cuối cùng. Ông khoe với tôi mấy bài thơ mới mà ông vẫn còn tiếp tục sửa chữa. Nhìn ông tóc bạc, da trắng, môi son và cặp mắt ánh lên những tia sáng đắm đuối, tôi như thấy cả thời tuổi trẻ của ông vẫn còn song hành cùng ông trên con đường văn chương đầy mê đắm.

Hà Nội, 8.2004 – 2.2007

NGUYỄN TRỌNG TẠO

hvln

HOÀNG CẦM RA ĐI, MỘT-THẾ-GIỚI-THƠ CÒN LẠI

thanh thảo

Vào giờ Thìn, ngày Thìn, tháng Thìn (6/5/2010) Hoàng Cầm thi sĩ – người tuổi Nhâm Tuất (1922) đã trút hơi thở cuối cùng, thọ 89 tuổi. Ông ra đi, để lại phía sau mình một thế giới thơ riêng biệt : thế giới thơ Hoàng Cầm. Vâng, một nhà thơ lớn có thể làm nên một thế giới thơ cho riêng mình, một thế giới của những điều bé nhỏ, yêu thương, xa xót, hy vọng và thất vọng.

 Nhà thơ Hoàng Cầm bên bờ sông Đuống (ảnh chụp năm 2000)

Hoàng Cầm là điển hình của một nhà thơ thu hút được tinh hoa của một vùng đất đai văn hoá, của lịch sử và bên lề lịch sử. Thuận Thành, Kinh Bắc, Bắc Ninh, quan họ, yếm thắm, lụa đào, “ váy Đình Bảng buông chùng cửa võng ”, đồng chiều, cuống rạ, lá diêu bông, con chào mào, cây ổi, “ con chim cu về gù rặng tre ”… và những gì nữa với sông Đuống “ nằm nghiêng nghiêng trong kháng chiến trường kỳ ”, với những được mất của kiếp người trước đôi mắt mở to ngơ ngác của “ Ta con bê lạc dáng chiều xanh / đi mãi tìm sim chẳng chín ”. Ngay trong những bài thơ hừng hực khí thế chiến đấu nhưBên kia sông Đuống người ta vẫn tìm thấy những “ Tranh Đông Hồ gà lợn nét tươi trong ”, vẫn nghe rạo rực với “ Đám cưới chuột đang tưng bừng rộn rã ”, vẫn mê mải với “ Những nàng môi cắn chỉ quết trầu ”… Cả một vùng làng quê Kinh Bắc hiện lên thắm thiết trong thơ Hoàng Cầm. Không có người yêu nước nào không bắt đầu bằng tình yêu quê hương mình. Hoàng Cầm đã yêu tới những con chuồn chuồn châu chấu nhỏ bé ở ven đê làng mình mà yêu nghiêng con sông Đuống, mà yêu lên đất nước từ những năm khói lửa chiến tranh tới những năm tháng day dứt khổ nghèo chia ly bất hạnh. Thơ Hoàng Cầm là một giọng thơ rất khẽ nhẹ, phải tinh ý lắm mới nghe ra những gì nhà thơ phải nén chặt lại cho mình :

“ Cúi lạy mẹ con trở về Kinh Bắc
Chiều xưa giẻ quạt voi lồng
Thân cau cụt vẫy đuôi mèo trắng mốc
Chuồn chuồn khiêng nắng sang sông
 ”

(Đêm thổ)

và :

“ Ta ru em
lớn lên em đừng tìm mẹ phía cơn mưa
 ”

(Về với ta)

Tôi nhớ, hồi nhỏ, khi mới tập kết ra Bắc, có một buổi chiều tôi thằng bé 8 tuổi đã chạy về phía cơn mưa để tìm mẹ mình. Một cảm giác bơ vơ trong câu thơ không dễ gì hiểu ngay được, nhưng khi đọc lên nó dựng trước mình một thế giới hiện hữu và một thế giới khuất lấp. Đó có thể coi là một thế giới ẩn bên trong một thế giới của thơ Hoàng Cầm. Những câu thơ vừa muốn thổ lộ vừa muốn che giấu, và có lẽ càng thổ lộ thì lại càng hun hút những nỗi niềm mà ta chỉ cảm được một cách không rõ ràng.

Có một điều khiến tôi lạ lùng, là thơ Hoàng Cầm và thơ Quang Dũng luôn nhắc nhở về một quê hương trong mù sương nào đó, luôn u ẩn một nỗi hoài nhớ nào đó không thể gọi tên. Phải chăng, tự xa xưa, xứ Đoài của Quang Dũng và Kinh Bắc của Hoàng Cầm từng là nơi những người lính và những nghệ sĩ Chàm lưu lạc đã chọn làm quê hương thứ hai ? Trong thơ Quang Dũng rắn rỏi một nỗi niềm chiến sĩ, còn trong thơ Hoàng Cầm tha thướt những nét hoa văn những dải lụa đào nghệ sĩ. Họ như từ quá khứ đến với ta, họ vừa thân thuộc vừa xa lạ, vừa đắm đuối yêu thương vừa không tương hợp với thế giới này. Tất cả những mâu thuẫn ấy đã hiện rõ trong thơ Hoàng Cầm. Và chính nó đã làm nên sự khác biệt của thơ ông :

“ Ta con chim cu về gù rặng tre
đưa nắng ấu thơ về sân đất trắng
đưa mây lành những phương trời lạ
về tụ nóc cây rơm
 ”

(Về với ta)

Những câu thơ hơn cả cô đơn, nó là nỗi bơ vơ của một kiếp người :

“ Ngày Chị bảo Em quên
Tranh tố nữ long hồ gián nhất
mất chân đi
má đội tổ tò vò

Cuốn chiếu xa rồi
thơ thẩn vách chiêm bao
 ”

(Nước sông Thương)

Có người nói thơ Hoàng Cầm như những lẩm nhẩm bùa chú, lại như một nghi lễ thờ cúng, nó kính cẩn mà hoang sơ. Với một thế giới thơ như thế, người ta chỉ nên chấp nhận chứ không cần giải mã. Và theo tôi, cách đọc thơ Hoàng Cầm là bất chợt đọc một đoạn thơ nào đó trong một bài thơ nào đó của ông. Rồi ngớt. Rồi lại đọc ở một lúc khác. Đó là cách đọc những cơn mưa rào, là sự đồng cảm tự nhiên và thốt nhiên với chính thế giới mà mình đang sống cùng với thế giới mà mình chưa biết nhưng có thể sống. Thơ Hoàng Cầm kết nối được những thế giới khác nhau như thế để cho ta cảm giác vừa mơ hồ vừa rõ rệt về một giấc mơ.

“ Bắn nát chiều mai ráng đỏ
Châu chấu ma vờn cổ yếm xây

Không gặp người quen
Hờ
Ngõ cũ
 ”

(Đêm thổ)

Những ai đã một lần lỡ hẹn, những ai đã cầm được giấc mơ trong tay rồi bỗng giấc mơ tan biến sẽ dễ dàng đọc những câu thơ này. Những câu thơ thuần Việt, Việt từ trong máu huyết của từ ngữ, của âm điệu, của bóng hình.

Xin vĩnh biệt Hoàng Cầm thi sĩ. Ông ra đi, nhưng Thơ ông còn ở lại. Còn nguyên một thế giới thơ Hoàng Cầm. Một thế giới trong một thế giới.

Chiều 6/5/2010

Thanh Thảo

hvln

‘’Nàng thơ’’ đẹp nhất trong đời thi sĩ Hoàng Cầm

Như chính nhà thơ Hoàng Cầm đã tự nhận trong tập “99 tình khúc”, cuộc đời của ông có 13 “nàng thơ”, 13 người phụ nữ đã khiến cho cả tâm hồn người đàn ông và tâm hồn thi sĩ trong ông rung động. Trong 13 “nàng thơ” đó, bà Hoàng Yến – người vợ cuối cùng của ông là “nàng thơ” đẹp nhất, khiến ông mãi khôn nguôn nỗi đau mất mát khi bà ra đi.

Chuyện tình của thi sĩ Hoàng Cầm

Nhà thơ xứ Kinh Bắc Hoàng Cầm tên thật là Bùi Tằng Việt. Ông sinh năm 1922. Không chỉ là một nhà thơ nổi tiếng với “Bên kia sông Đuống”, “Lá diêu bông”, Hoàng Cầm còn nổi tiếng bởi sự hào hoa, lãng tử.

Hoàng Cầm viết rất nhiều thơ tình. Trong mỗi bài thơ tình của ông, bao giờ cũng có bóng dáng của một người phụ nữ đã từng đi qua đời ông – những người phụ nữ được ông âu yếm gọi là “những hồn người đã gợi ra nhịp điệu, âm thanh và đường nét sắc màu” trong những tình khúc của ông.

Ông có 3 bà vợ và nhiều “nàng thơ” khác. Nhưng như lời thi sĩ từng nói lúc còn sống: bà Hoàng Yến là người mà ông yêu thương nhất, biết ơn nhất, là “nàng thơ” đẹp nhất trong thơ ông, là người mà ông đã đẩy cái gánh nặng cuộc đời với “ngày hai bữa cơm nghèo, mấy tấm quần áo đã sờn rách, một lũ con nhỏ dại lau nhau đi học, chơi đùa, đau ốm….”.

Bà Hoàng Yến là người vợ thứ ba của ông, cũng là người vợ cuối cùng của ông. Năm 18 tuổi, Hoàng Cầm cưới người vợ đầu là bà Hoàng Thị Hoàn, quê Bắc Giang, do gia đình cưới hỏi. Sinh cho ông được một trai, một gái thì bà qua đời.

Nhà thơ Hoàng Cầm

Năm 1946, Hoàng Cầm viết kịch thơ “Kiều Loan” và đem lòng yêu Tuyết Khanh – nữ diễn viên đã hóa thân trọn vẹn vào vai Kiều Loan trong vở kịch thơ cùng tên. Nhưng cuộc hôn nhân đó cũng không kéo dài được lâu. Sau khi có với nhau một con gái, do hoàn cảnh gia đình, ông bà phải xa nhau.

Bà Tuyết Khanh lấy chồng mới, sau năm 1954 theo chồng vào miền Nam sống rồi qua Mỹ định cư năm 1975 rồi mất tại đây.

Sau khi kháng chiến chống Pháp thắng lợi, Hoàng Cầm trở về Hà Nội, là một ông bố của 3 đứa con, 2 đời vợ, nhưng lại chẳng có người phụ nữ nào bên cạnh. Ông gặp bà Hoàng Yến trong hoàn cảnh đó.

Thân sinh bà Hoàng Yến là một thầy thuốc sống ở Hải Dương. Thuở con gái mười tám đôi mươi, bà kết tóc se tơ cùng với ông Đào Thiện Phỏng, một người làm nghề thầy giáo khá giả ở Hà Nội. Cuộc hôn nhân đầu tiên, bà sống hạnh phúc bên người chồng nho nhã, có lòng nhân hậu.

Hai ông bà thường cùng nhau đi làm từ thiện. Nhưng sau này, ông giáo Phỏng bị một cơn nhồi máu cơ tim qua đời, để lại bà một mình vò võ nuôi 5 con. Năm bà Hoàng Yến 31 tuổi, thì thi sĩ “Lá Diêu bông” xuất hiện.

Khi ấy, ông là Trưởng đoàn Văn công Tổng cục Chính trị, “oai” ra trò, bà tuy đã qua một đời chồng, đã có 5 con, nhưng nhan sắc vẫn mặn mòi, duyên dáng, được mệnh danh là hoa khôi của bệnh viện (hồi đó bà là y tá của Bệnh viện Yersin – nay là Bệnh viện Việt – Đức).

Sau đám cưới, ông xách ba lô và đem theo mấy đứa con côi về ngôi nhà 43 Lý Quốc Sư – ngôi nhà mà người chồng cũ để lại cho bà sinh sống.

Bà Hoàng Yến- người vợ thứ 3 của thi sĩ Hoàng Cầm

Cuộc hôn nhân của thi sĩ Hoàng Cầm với bà Hoàng Yến là một cuộc hôn nhân không được lòng dư luận. Khi ông bà về sống với nhau, Hoàng Cầm cũng đàng hoàng là anh trưởng đoàn văn công của Tổng cục Chính trị “kiếm đâu cũng được vợ”.

Nhiều người cho là thi sĩ bị bà Hoàng Yến “lừa”. Nhưng cuộc hôn nhân của vợ chồng thi sĩ Hoàng Cầm và bà Hoàng Yến đã trải qua 30 vững bền. Đến lúc bà Hoàng Yến qua đời năm 1985, thi sĩ Hoàng Cầm đã phải trải qua nỗi mất mát lớn trong đời.

Một đời vất vả gieo neo

Bà Hoàng Yến là người vợ có nhiều dấu ấn nhất trong sự nghiệp thơ ca của Hoàng Cầm. Bà vừa là “nàng thơ” của ông, vừa là người nâng bước ông những năm ông sống trong khốn khổ vì bị vùi dập.

Đời làm vợ của bà có thể gói gọn trong 2 câu thơ mà thi sĩ Hoàng Cầm viết tặng vợ: “Tôi có người vợ nghèo/ đời vất vả gieo neo…”.

Khi còn sống, thi sĩ Hoàng Cầm từng kể: “Lúc đó bà ấy vò võ nuôi một gánh con, cũng muốn lấy tôi để được nhờ, vì tôi dù gì cũng là anh Trưởng đoàn Văn công. Ai ngờ đâu chỉ sau vài năm, tôi mất tất cả, một tay bà phải lo cho cả chồng, con đến tận khi qua đời”.

Ông bà lấy nhau được 2 năm thì ông vướng vào vụ “Nhân văn giai phẩm”. Ông bị cắt 2/3 lương, bị lao động cải tạo bắt buộc trong 3 năm. Suốt 30 năm trời, thơ ông bị cấm in, không thể kiếm sống bằng ngòi bút của mình.

Trong những năm tháng khổ cực đó, Hoàng Cầm ban ngày đi đẩy xe bò với Trần Dần, ban đêm đi chiếu phim cùng Phùng Quán, lọ mọ làm đủ thứ nghề hàng đêm để sống qua ngày.

Gánh nặng gia đình, với “con anh, con tôi, con chúng ta” đông không kể hết ấy hầu như dồn lên vai bà Hoàng Yến. Nhưng chưa bao giờ bà kêu ca với ông một lời nào. Những lúc thấy nhà thơ phẫn chí, chán nản với cuộc đời, bà lại động viên ông.

Bà động viên ông làm thơ, gánh hết mọi lo toan cuộc sống, nuôi cả ông và hơn 10 đứa con cả chung lẫn riêng của cả hai mà không một lời ca thán. Từ một người phụ nữ ăn trắng mặc trơn, sau khi về lấy ông, bà gánh vác trên vai gánh nặng của cả gia đình.

Ngôi nhà 43 Lý Quốc Sư bà được người chồng trước để lại khá chật chội, nhưng bà vẫn vui vẻ chia sẻ với những người con riêng của ông.

Có một điều đặc biệt là bà Hoàng Yến không bao giờ phân biệt con chung, con riêng. Người con gái đầu của nhà thơ Hoàng Cầm cũng tên là Hoàng Yến – trùng tên với bà, rất tâm đầu ý hợp với bà.

Hai mẹ con thường rủ rỉ rù rì ngày này qua tháng khác. Đến khi cô Hoàng Yến mất, bà Hoàng Yến đau buồn suốt cả năm trời sau đó, không lâu sau cũng mất theo.

Bà Hoàng Yến sống bên cạnh Hoàng Cầm 32 năm, chỉ có 2 năm tạm gọi là ổn định, 30 năm còn lại, bà khổ. Vậy mà người phụ nữ ấy không bao giờ hé miệng kêu ca, không bao giờ có một lời cãi vã với chồng.

Thời “Nhân văn giai phẩm”, mỗi tháng để được cấp 12kg gạo, bà phải đi trình diện, rồi lấy giấy chứng nhận nọ, chứng nhận kia, mới được xếp hàng đợi mua gạo. Cả gia đình mười mấy người chỉ trông vào 12kg gạo mỗi tháng đó – mỗi bữa ăn đều phải nhìn nhau mà ăn.

Ai đã trải qua thời bao cấp cũng đều kêu khổ. Nhưng bà Hoàng Yến thì còn khổ hơn cả cái khổ của những người khác sống cùng thời.

Nhờ sự chịu thương, chịu khó, nhờ đức hy sinh của bà, mà những năm tháng “Nhân văn giai phẩm” đó, Hoàng Cầm mới còn đủ tinh thần để làm thơ. Tập thơ “Về Kinh Bắc” – tập thơ quan trọng nhất trong sự nghiệp của Hoàng Cầm – nếu không có sự tần tảo, hi sinh của bà Hoàng Yến, vợ ông, chắc chẳng bao giờ ra đời được.

Bà thay ông lo chuyện cơm áo, để ông nhẹ gánh nợ đời, đắm chìm trong thơ ca; bà là nàng thơ của ông, là người phụ nữ gợi cho ông nhiều thi hứng nhất. Bà giữ từng bản thảo thơ ông viết, hy vọng một ngày, sự nghiệp của ông sẽ được nhìn nhận lại.

Nhưng bà không được hưởng những vinh quang của cuộc đời ông. Năm 1988, sự nghiệp của ông mới được khôi phục sau những năm tháng nghiệt ngã. Nhưng bà Hoàng Yến thì không đợi được đến ngày chứng kiến giây phút đó. Bà đã mất trước đó 3 năm.

Trong buổi xuất hiện đầu tiên của ông trên thi đàn, được tổ chức tại Cung Văn hóa Hữu nghị Việt – Xô, đánh dấu sự trở lại của ông sau 30 năm, khi những tiếng vỗ tay vang lên khắp hội trường, nước mắt của ông cứ thế trào ra.

Sau này ông kể lại, ông khóc không phải vì thấy vinh quang đang trở lại với mình, mà khóc vì thương người vợ cả đời khổ cực bên cạnh ông, chẳng có lấy một tích tắc sung sướng.

Những tràng vỗ tay của những người dưới hội trường, họ ca ngợi thơ ông, nhưng họ không bao giờ biết được phía sau những vần thơ ấy là những giọt nước mắt lặng lẽ của cả cuộc đời một người phụ nữ.

Ông cứ ao ước, giá giây phút đó có bà Hoàng Yến bên cạnh, ông sẽ thong dong, hạnh phúc trọn vẹn hơn bao giờ hết.

Hoàng Cầm nổi tiếng là thi sĩ hào hoa. Cuộc đời ông luôn có bóng dáng một người phụ nữ nào đó. Nhưng sau khi bà Hoàng Yến mất, khoảng trống mà bà để lại là khoảng trống quá lớn, mà những người phụ nữ sau này có khiến ông rung động, cũng không thể lấp đầy được khoảng trống đó.

Bà mất giữa những ngày khó khăn, gia đình vẫn phải chạy ăn từng bữa, con cái nhóc nheo. Ông như người mất đi chỗ dựa cuối cùng, bỗng nhiên thấy mình thành một đứa trẻ bơ vơ giữa cuộc đời. 2 năm sau đó, Hoàng Cầm sống trong đau khổ.

Ông sợ bóng tối, sợ tiếng ồn, sợ chỗ đông người, sợ cả những tiếng bước chân đi lại. Kể từ ngày bà mất, ông cũng không còn nghĩ đến việc tìm kiếm một người phụ nữ khác thay thế vị trí của bà.

Nhà thơ Hoàng Cầm mất sau bà Hoàng Yến hơn 20 năm, nhưng đến khi ông mất, bà vẫn là người vợ cuối cùng, là nàng thơ đẹp nhất trong đời thi sĩ đất Kinh Bắc hào hoa Hoàng Cầm.

Hết

hvln

Advertisement