Gián Điệp Hoa Quỳnh- 2

giandiephoaquynh

CHƯƠNG 5: NGÕ CỤT

Trưởng ty quan thuế Fue-Kuen nốc thêm một ly buốc-bông thơm phức rồi ngả lưng vào ghế dựa, thở phào khoan khoái. Thân hình hắn quá dài, dài như cái phướn đám ma, nên chỉ nửa lưng là dính ghế, và hắn phải đẩy lùi ghế gần sát tường mới gác được chân lên bàn giấy xa hai thước.

Fue rút hai tờ bạc năm trăm đô-la sột soạt ra ngắm nghía. Trong đời chuyên viên thương chánh, hắn không lạ gì đồng mỹ kim. Đã nhiều lần hắn có rủng rẻng đô-la trong túi. Nhưng món tiền lần này lại có ý nghĩa đặc biệt.

Vì hắn sắp bị bãi chức..Hắn cần tiền, thèm tiền hơn bao giờ hết. Về sản nghiệp, Fue thuộc thành phần trung lưu. Sau 15 năm tung hoành ở phi trưòng, hắn đã thu vén được khá nhiều của chìm, của nổi. Giá mà hắn không rượu chè be bét và nhất là không bao gái mứa bừa bãi thì của chìm của nổi còn lớn hơn nữa.

Fue nhìn đồng hồ.

Đã tới giờ hẹn.

Còn 30 phút nữa mới có chuyến bay quốc tế đáp xuống phi trường Sungshan. Khi ấy, Fue mới bận bịu. Hiện giờ hắn ta còn rỗi rãi. Vả lại, hắn cũng không thể nào lỡ hẹn.

Nơi gặp chỉ cách trường bay một quãng ngắn. Fue-Kuen trèo lên chiếc xe hơi Nhật mới sắm, sơn xanh nhạt, màu mát mắt, từ từ lái ra khỏi đám đông hỗn độn và ồn ào.

Hắn lái vòng đúng 3 phút rồi đậu lại, sau đuôi một chiếc xe hơi đen cũ kỹ.

Fue không phải là tay chơi xe thành thạo, song cũng biết được đó là loại Prince 150, có bốn bánh cao lêu nghêu, tứ phía vuông vắn, trông nghiêm trang một cách kênh kiệu như cô gái quá ba mươi đứng trước một ý trung nhân. Từ xe Prince bước xuống một người đàn ông trung niên, tráng kiện, khôi ngô, mặc com-lê trịnh trọng, sơ mi trắng, cà-vạt trắng, giày da cá sấu vằn trắng hợp thời trang mới nhất của Luân đôn.

Thấy người lạ, Fue-Kuen mở vội cửa xe, hối hả bước xuống, nhưng người lạ giơ tay cản. Fue vội chào:

– Thưa ông…

Người lạ ngắt lời:

– Anh đến hơi chậm…

– Vâng. Chậm đúng 3 phút, xin ông tha lỗi. Tôi đã thi hành đúng chỉ thị của ông..

Người lạ ngồi xuống băng trước, cạnh Fue-Kuen. Bên ngoài, trời bắt đầu chuyển về chiều, những đám mây đỏ tía và da cam đang lũ lượt kéo về hướng tây, như để chạy trốn trước bóng tối từ hướng đông đang sắp sửa dâng lên.

Người lạ đổi hẳn vẻ mặt. Đang cau có, hắn cười tươi tỉnh được liền.

Hắn gật gù:

– Thi hành như thế nào?

Fue-Kuen đáp, giọng kính nể:

– Thưa…hắn tin tôi hoàn toàn, bằng chứng là tôi đòi một ngàn đô-la hắn xỉa ra ngay. Bây giờ công việc xong xuôi…

Người lạ lại ngắt lời:

– Ờ, xong xuôi…

Vừa nói, người lạ vừa liếc nhìn kiếng chiếu hậu. Thấp thoáng phía sau có một bóng người cúi xuống, rồi đứng lên. Người lạ bỗng bắt sang chuyện khác bằng cái chắt lưỡi khen ngợi:

– Chà xe Hino S của anh cũng gắn cả máy điều hòa khí hậu nữa hả?

Gặp kẻ tri kỷ Fue-Kuen sướng phổng mũi:

– Vâng. Loại máy này rất tốt, bấm nút là lạnh liền. Khi cần sưởi thì đổi lạnh ra nóng trong chớp mắt. Tôi gửi mua tận bên Mỹ. Mất 500 đô-la đấy. Không phải đóng thuế nhập nội, chứ nếu tính cả thì xấp xỉ 800…

– Trời, 800 mỹ kim, một cái máy điều hòa, nghĩa là gần bằng giá một chiếc xe hơi Nhật.

– Vâng, xe hơi Nhật vốn rẻ, Nhưng thưa ông, cũng còn tùy. Nhiều xe rất đắt. Và tốt cũng không kém xe tây phương.

Trong thâm tâm, hắn ta muốn người lạ lưu ý hơn nữa đến chiếc Hino Contessa S. Xe này gắn động cơ ở phía sau, có tới 1.300 phân khối – động cơ do hãng Renault bên Pháp cung cấp – nhưng lại có hai bình xăng, thắng đĩa, và chạy nhanh kinh khủng, giá tiền đắt gấp rưỡi kiểu Hino thường.

Song người lạ không cần hỏi thêm nữa, Thời gian trì hoãn đã hết.

Hắn lấy trong túi vét-tông ra một cái gói lớn bằng hai gói thuốc lá, ngoài quấn băng keo kỹ lưỡng.

Mắt Fue-Kuen sáng lên:

– Thưa, ông lo cho đàn em chu đáo quá!

Người lạ vỗ vai hắn:

– Dĩ nhiên…thần thiêng vì bộ hạ mà…À, anh Fue-Kuen, anh làm cho tôi từ bao lâu rồi nhỉ?

Fue đáp:

– Thưa, được một tuần nữa là chẵn ba năm. Ba năm gồm 36 tháng mà loáng một cái đã hết. Ông đã trả bọn đàn em quá nhiều tiền. Sau vụ Braun, ông đã cư xử một cách vô cùng hậu hĩ.

– Công anh trong vụ ấy rất lớn.

– Vâng, chẳng qua chỉ là bốn phận. Tôi không dám nhận 10 ngàn đô-la của ông.

– Món tiền này sẽ giúp anh sống tạm trong một thời gian, chờ tôi vận động với ông bộ trưởng để tái dụng anh vào chức vụ khác.

– Đa tạ ông.

– Thôi, cầm lấy, đừng ngại ngùng gì nữa.

Fue-Kuen bỏ vội cái gói vào hộc táp-lô, dường như sợ cầm lâu trong tay nó sẽ biến mất.

Người lạ bắt tay rồi dặn dò:

– Khu vực này gần phi trường nên rất đông người qua lại. Tôi gặp anh là chuyện thường, anh gặp tôi cũng vậy, tuy nhiên, chúng ta nên bảo mật được chừng nào hay chừng nấy. Sau khi tôi xuống xe, anh phải lái ngay về thành phố, không được dừng lại.

Fue-Kuen đáp:

– Xin tuân lệnh.

Một phút sau, chiếc Hino S của Fue-Kuen lùi lại rồi chạy ra đường lớn. Con

đường phi trường buổi chiều đông nghẹt xe cộ. Fue nhìn kiếng chiếu hậu thấy chiếc Prince theo sau hắn một quãng rồi rẽ sang trái.

Do kiếng chắn gió của xe Prince nhuộm xanh thẫm nên Fue-Kuen không thể thấy rõ kẻ ngồi xe. Nhưng nếu hắn nhìn rõ, hắn sẽ giật mình.

Vì trên miệng người lạ hồi nãy vừa nở một nụ cười ma quái.

Người lạ hỏi tài xế:

– Mấy phút thì xong?

Tài xế đáp:

– Thưa, 3 phút. Đúng 3 phút sau khi máy nổ, hơi khỏi chạy vào ống xáp-măng.

– Từ nãy đến giờ, được mấy phút rồi?

– Thưa, hai phút rưỡi. Nghĩa là chỉ còn nửa phút. Xin phép ông cho tôi quẹo. Vì Fue-Kuen có chột dạ, đậu xe lại, vọt xuống cũng không kịp nữa.

Phía trước, Fue-Kueu thấy chiếc Prince rẽ sang trái thì vội vàng đậu lại.

Hắn đậu lại không phải vì sự thúc giục của giác quan thứ sáu. Sau nhiều năm lăn lộn với ma men, giác quan thứ sáu của viên trưởng ty quan thuế phi trường đã mòn vẹt. Fue-Kuen biến thành con người máy, chỉ biết nốc rượu buốc-bông vô hồi kỳ trận, biết trác táng thâu đêm với người đẹp lầu xanh ở xóm Peitou, và biết… nhận tiền của thiên hạ…

Hắn lẩm bẩm:

– 10 ngàn đô-la!

Tiếng động cơ xe đua Hino S. nổ khá lớn vậy mà Fue-Kuen vẫn nghe được tiếng lầm bầm từ cái miệng hắn thốt ra. 10 ngàn đô-la là món tiền kếch sù..quá kếch sù nên hắn tưởng là giấc mộng. Sau 3 năm làm việc bí mật, Fue-Kuen thường được trả tiền hậu hĩ, nhưng chưa bao giờ hậu hĩ tới mức 10 ngàn đô-la.

Trưởng ty quan thuế Fue-Kuen liếc nhìn kiếng chiếu hậu một lần nữa.

Chiếc Prince cao khật khưỡng đã biến dạng, Fue-Kuen run run lôi cái gói giấy ra. Khi ấy, thể xác và tâm hồn hắn không khác gã đàn ông đang tuổi hồi xuân được thần may mắn cho “hối phóng” một cô gái non tơ, nên tai ù, mắt hoa, tay chân lóng cóng, vội vàng xà xuống, sợ miếng mồi ân ái đột ngột bỏ chạy.

Fue-Kuen cố dứt băng keo bọc quanh cái gối mà không ra. Hắn đưa lên răng, cắn toạc lớp giấy xi-măng. Bên trong lại là một lớp giấy xi-măng khác.

Sực nhớ ở trong túi có dao, hắn vội rút ra, lấy lưỡi dao nhọn rạch một đường dài.

Sau cùng cái gói mới chịu mở rộng tênh hênh trước mắt Fue-Kuen..

Hắn xây xẩm mặt mày lại như bị trúng gió độc. Theo lời người lạ thì cái gói đựng đúng một trăm tờ đô-la 100. Nhưng đến khi mở ra, Fue-Kuen chẳng thấy đồng đô-la nào hết. Tưởng ngó lầm, hắn ta cuống quít cầm xấp giấy hình chữ nhật, đầu đuôi xếp ngay ngắn như tờ bạc lên xem, rồi lật từng tờ….

Vẫn chỉ là giấy. Thứ giấy trắng của học trò, cắt vuông vức giả làm giấy bạc.

Fue-Kuen nghiến răng:

– Hừ, đồ khốn nạn!

Hắn thừ người một giây rồi tiếp:

– Mày đã xỏ ông thì ông sẽ bỏ thơ rơi để cáo giác mày…Hừ, ông nghĩ ra rồi… ông sẽ lái ngay đến sứ quán Hoa-kỳ, bán tin cho họ. Họ sẽ trả hai, ba chục ngàn đô-la một cách vui vẻ để đổi lấy những tin tức giật gân về tiến sĩ Braun….Ha ha… ha ha, vỏ quýt dày thì có móng tay nhọn… thằng bất nhân…mày sẽ biết tay ông…Mày sẽ…

Tội nghiệp cho gã trưởng ty quan thuế nghiện rượu và ngu xuẩn không am tường luật lệ đểu cáng của nghề gián điệp! Hắn không thể nào thực hiện ý định trả thù, bán tin cho sứ quán Hoa kỳ. Hắn cũng không có thời giờ nói hết câu nữa….

Vì một tiếng nổ long trời lở đất đã trùm lấp tiếng máy xe hơi. Trùm lấp tiếng kêu cứu tuyệt vọng. Trùm lấp mọi âm thanh trên con đường từ trường bay Sungshan về trung tâm Đài Bắc đầy thơ và mộng.

Trong khoảnh khắc, những tia lửa da cam vọt lên, bắn tung tóe, mặt đất như chồng chềnh, nứt ra làm nhiều mảng. Sau tiếng nổ đầu tiên, chiếc Hino S. xinh xắn, đắt tiền, đã bị chẻ làm đôi, mọi cửa kiếng vỡ nát, vô-lăng cũng gãy gập. Fue-Kuen ngã gục vào táp-lô bất tỉnh nhân sự, rồi tắt thở không kịp trối.

Lửa liếm ngay vào thùng xăng, Một loạt tiếng nổ nữa phát ra.

Chiếc Hino S. mới toanh đỏ rực trong biển lửa. Xe cộ hai chiều dừng lại, làm sự lưu thông bị kẹt cứng. Người ta nghe văng vẳng tiếng kèn xe cứu hỏa.

Cảm nghĩ đầu tiên của mọi người là dây điện chạm nhau, gây ra hỏa hoạn. Không ai ngờ được thủ phạm của vụ cháy xe khủng khiếp này là một cái ống nhỏ, chỉ nhỏ bằng điếu xì-gà An-lăm-bra, và cũng dài như vậy, được đúc gọn vào trong ống xắp-măng.

Luồng khói từ động cơ phụt ra, châm ngòi nổ cháy. Chất bột G trong ống nổ đủ sức làm xe cam – nhông 12 bánh tan tành.

Fue-Kuen chết. Bí mật về vụ tiến sĩ Braun biệt tích tại sân bay, bí mật về con người đến văn phòng quan thuế cũng theo Fue luôn xuống tuyền đài….

° ° °

Chiều hôm ấy, không phải chỉ một mình Fue-Kuen chết. Mà ít nhất là hai.

Gã trưởng ty quan thuế hám tiền và nghiện rượu chết là đáng đời, vì dầu ít hay nhiều hắn cũng đã có tội. Nhưng nghề gián điệp khét tiếng vô nhân đạo lại không biết và không cần phân biệt giữa kẻ có tội và kẻ vô tội. Nhiều khi, vì công việc đòi hỏi — hoặc vì người trong cuộc không có thời giờ phân biệt — kẻ có tội lại được thi ân, còn kẻ vô tội lại bị hạ sát thảm thương

Kẻ vô tội, nạn nhân của nghề điệp báo tàn nhẫn chiều hôm ấy tại thủ đô thanh lịch Đài Bắc là cô gái hơ hớ xuân tình mặc sường sám màu lam gợi cảm trong phòng thư lưu trữ của Nha bưu điện trung ương.

Nàng không có bổn phận giao dịch với khách đến lấy thư. Coi về phần vụ này là thiếu phụ trung niên đeo kiếng trắng gọng đồi mồi. Vì thiếu phụ trung niên vào phòng trong nên Văn Bình mới nói chuyện với cô gái mặc sường sám. Nếu là người khác thì chắc chắn nàng từ chối. Nhưng định mạng éo le (và ác độc) lại khiến cho khách đến lấy thư lưu trữ là một thanh niên có luồng mắt và miệng cười mê hồn…

Nên nàng cuống quýt đứng dậy. Cuống quýt làm khách vừa lòng.

Nàng — và ngay cả điệp viên lão luyện Văn Bình nữa – không ngờ được ở hành lang đối diện phòng thư lưu trữ còn có một người đàn bà ngồi trên ghế dài kê sát tường, mặt bị tờ báo che lấp, luôn luôn theo dõi sự việc qua lỗ nhỏ khoét trước của tờ báo. Vì vậy người đàn bà này mới biết Văn Bình đã đến nhà bưu điện, mạo tên tiến sĩ Braun lấy thư, và cô gái mặc sường sám đã nhanh nhẩu trao thơ cho chàng, không đòi hỏi xuất trình giấy tờ căn cước như thường lệ…

Sau khi Văn Bình lên xe thì người đàn bà bí mật cũng lên xe. Nhưng trước khi rời phòng thư lưu trữ, người đàn bà bí mật không quên lại ghi-sê, hỏi bằng một giọng khiêm tốn:

– Mấy giờ thì ghi-sê đóng cửa hả cô?

Hỏi xong, người đàn bà bí mật đã ung dung ra xe đậu sẵn ở góc đường, có tài xế lái.

15 phút sau, một chiếc xe chở hàng kiểu nhỏ từ đường Chung Hwa tới, chờ dưới gốc cây lớn, nhìn chếch vào cửa văn phòng thư lưu trữ.

Cô gái mặc sường sám màu lam lững thững bước ra. Như thường lệ mỗi chiều, nàng bách bộ một quãng dài cho thư dãn gân cốt, và nhất là cho tiêu bớt mỡ thừa. Thân hình nàng tuy dễ coi nhưng vẫn chưa được hoàn toàn cân đối. Bạn bè nàng cho biết vì đời sống viên chức, suốt ngáy ro ró trong bàn giấy nên đường cong tuyệt mỹ không có điều kiện phải lộ. Bù lại, nàng phải bách bộ.

Nhà nàng ở ngoại ô, nàng đi hết nửa đường Yenping, rồi lên xe buýt. Lòng nàng như vui như mở hội. Trên thực tế, tuổi đôi mươi của nàng sắp mở hội, chỉ mấy tháng nữa là một sinh viên du học ở Hoa kỳ sẽ hồi hương và hỏi nàng làm vợ theo lời đính hẹn từ lâu giữa hai gia đình.

Nàng mải nghĩ đến chuỗi ngày vui sắp tới nên không để ý đến chiếc cam-nhông nét— đang rừ rừ chạy phía sau.

Đến quãng đường vắng, tài xế tạt nhanh vào lề. Cô gái mặc sường sám màu lam còn ngơ ngẩn, chưa hiểu chuyện gì, thì một gã đàn ông đã từ sau xe nhảy xuống, tiến đến, nắm tay nàng.

Nàng rút ra, giọng giận dữ:

– Ai cho phép ông nắm tay tôi?

Gã đàn ông cười nhạt:

– Tôi mời cô lên xe.

Nàng vùng vằng:

– Ông không phải người quen. Vì vậy tôi không thể lên xe ông. Vả lại, tôi vốn thích đi bộ.

Gã đàn ông vẫn cười nhạt:

– Cô lầm rồi. Tôi mời cô lên xe, không phải để chở cô về nhà, hoặc tôi có cảm tình riêng với cô. Mà vì tôi là nhân viên an ninh.

– Nhân viên an ninh… ông định bắt tôi?

– Tôi chỉ mời cô về trụ sở có việc cần.

– Việc gì?

– Hồi nãy, cô vừa liên lạc với một tên gián điệp địch. Cô trao cho hắn một phong bì đựng tài liệu quốc cấm.

Nàng thở phào ra:

– Tưởng gì… Có lẽ ông chưa biết rõ câu chuyện. Y đến văn phòng để lấy thư.

Gã đàn ông nghiêm mặt:

– Lát nữa, cô sẽ giải thích cho ông trưởng ty nghe. Còn tôi, tôi chỉ có nhiệm vụ đưa cô tới.

– Tới đâu?

– Cô hỏi lôi thôi lắm. Tại trụ sở cơ quan an ninh.

– Được, tôi sẵn sàng. Nhưng…

– Không có nhưng gì cả.

Hắn lại nắm tay cô gái. Và nàng xô ra. Ngày thường, nàng yếu như sên, không hiểu sao khi ấy nàng lại khỏe như đàn ông vạm vỡ. Chột dạ trước phản ứng quyết liệt của nàng, gã đàn ông dịu giọng:

– Yêu cầu cô tôn trọng pháp luật.

Nàng đáp ngay:

– Tôi là công dân luôn luôn tôn trọng pháp luật. Ông phải cho coi chứng minh thư, tôi mới chịu đi.

Gã đàn ông rút trong bóp-phơi ra tấm thẻ lát-tích nhỏ, trên gốc trái in cờ thanh thiên, bạch nhật, mãn địa hồng. Đích thị hắn là nhân viên an ninh…

Cô gái mặc sường sám màu lam thở dài:

– Vâng, tôi lên xe với ông.

Gã đàn ông nở nụ cười đắc thắng. Đại lộ Yenping vẫn vắng xe cộ và khách bộ hành.

Hắn mở cửa sau, lách sang bên cho thiếu nữ bước lên. Đột nhiên, nàng cảm thấy đau thắt ở cuống bao tử. Nàng nhớ lại nhiều vụ bắt bớ giả mạo đã qua. Một nữ viên chức từ Sở về, tạt qua vườn bách thảo thì bị xe hơi chận lại, hai người đàn ông bước xuống, xuất trình giấy tờ công an, rồi đưa nàng lên xe. Nàng đi luôn ba tuần lễ…

Khi về, nàng đã biến thành cô gái điên. Điên, vì trong suốt 20 ngày bị cầm giữ, nàng không được, trông thấy ánh sáng mặt trời. Ngày cũng như đêm, nàng bị nhốt trong phòng kín, khóa chặt. Cẩn thận hơn, người ta còn chụp bao vải đen vào đầu nàng, khiến nàng không thể nhận diện được bọn đàn ông lần lượt tới nơi nàng bị giam, và hãm hiếp nàng một cách tàn bạo.

Nàng đã chết đi, sống lại nhiều lần, nhưng vẫn không làm bọn đàn ông dằn được thú tính, sở dĩ chúng phải thả nàng vì công an gia công tầm nã, và cơ sở nhốt gái của chúng sắp sửa bị bại lộ. Chúng là một nhóm thanh niên du đãng, chuyên bắt gái tân về làm của riêng một thời gian. Hầu hết nạn nhân đều ngậm miệng, vì sợ thương tổn đến danh dự…

Hình ảnh của quá khứ như có mãnh lực bắt cô gái mặc sường sám màu lam từ chối.

Nàng khựng người, bảo gã đàn ông:

– Xin phép ông một phút. Tôi phải….

Nàng sửa soạn quay đi.

Gã đàn ông chặn lại:

– Cô trốn đi đâu?

Nàng quắc mắt:

– Tôi đâu thèm trốn. Vả lại, tôi phạm tội gì mà phải trốn. Yêu cầu ông giữ gìn lời nói. Mẹ tôi đang chờ ở nhà, tôi cần gọi điện thoại về báo tin.

Gã đàn ông dề môi:

– Dễ nghe nhỉ!

Cô gái thản nhiên bước lên lề. Gã đàn ông rượt theo, túm lấy cành tay tròn trĩnh của nàng, giật lại. Suýt nữa, nàng té ngửa vào lòng hắn. Nàng vùng vẫy, cố thoát khỏi kềm tay, song hắn ta đã xoè bàn tay, đánh vẹt vào gáy nàng.

Nàng ngã gục xuống. Gã đàn ông vực nàng lên xe. Chiếc cam-nhông-nét rú ga, chạy biến vào sương chiều.

Và từ chiều hôm ấy, cô gái mặc áo sường sám màu lam cũng đi luôn, không về nữa….

° ° °

Văn Bình cũng bị đưa lên một chiếc xe cam nhông-nét bít bùng.

Thiếu phụ mặc đồ ni-lông hồng vẫn sùi sụt trên ghế xô-pha, gục mặt vào bàn tay. Nghe tiếng “cách”, nàng ngẩng đầu lên. Chiếc còng sắt lạnh lùng đã khép quanh cườm tay Văn Bình. Chàng đọc thoáng trong mắt nàng một ý nghĩ trắc ẩn.

Chàng mỉm cười như mọi việc đang xảy ra chỉ là một chuyện đùa rồi trèo lên xe bít bùng. Hai nhân viên công lực ngồi sát bên, người thứ ba mặc sắc phục trung sĩ ngồi đối diện ở băng trước.

Tài xế lái xe ra khỏi vườn…

Văn Bình nhắm mắt lại cho thần trí được thoải mái. Chàng cần nghỉ ngơi vì lát nữa sẽ phải đối phó với nhiều việc dồn dập. Chàng đã bị bắt. Chắc là bị bắt về tội làm tiền người thiếu phụ mặc đồ ni-lông hồng. Và không còn hoài nghi gì nữa, người ta đã gài bẫy cho chàng bị bắt…

Nhưng người ta là ai?

Bị cơ quan an ninh Trung hoa quốc gia bắt không phải là một điều đáng sợ đối với chàng. Trung Hoa là đồng minh, Sở điệp báo Đài Bắc lại là đồng minh thắm thiết nhất của Sở điệp báo Sài gòn. Văn Bình chỉ xin gặp một nhân viên cao cấp, nhờ liên lạc với tòa đại sứ Việt nam, tòa đại sứ sẽ thỉnh thị Sài gòn, và chỉ trong vòng 24 tiếng đồng hồ phù du, chàng sẽ được trả tự do, Chính phủ Trung Hoa sẽ cử người tới tạ lỗi…

Tuy nhiên, đó lại là điều Văn Bình sợ nhất. Trên nguyên tắc, Sài gòn sẽ không bao giờ công nhận Văn Bình là điệp viên chính thức. Chỉ khi nào ông Hoàng đòi hỏi quyết liệt, sứ quán tại Đài Bắc mới chịu ra mặt điều đình.

Và ngày chàng được trả tự do có lẽ cũng là ngày chàng phải vĩnh biệt cuộc đời điệp báo ba chìm bảy nổi mà chàng say mê từ thưở hoa niên…Chàng phải bỏ nghề đã đành, cả đến kế hoạch Hoa Quỳnh vô cùng quan trọng cũng bị xếp xó, Tiến sĩ Braun, bộ óc siêu phàm của thế giới, sẽ bị lọt vào tay địch….Nhân loại tự do sẽ bị thiệt hại nặng nề…

Tài xế phóng mỗi lúc một nhanh.

Văn Bình liếc chung quanh. Chàng không có hy vọng thoát thân trên xe, dầu chỉ là hy vọng mỏng manh. Ít ra là một họng súng được chĩa vào ngực chàng. Dầu chàng cướp được khẩu súng, và phóng atémi triệt hạ ba nhân viên an ninh, chàng cũng không thể mở được cửa xe.

Vì một lẽ dễ hiểu, loại xe chở phạm nhân này được chế tạo tại Hoa kỳ, theo công thức riêng, cửa lên xuống được đóng mở bằng điện, do tài xế ngồi băng trước bấm nút. Phía sau xe như cái thùng sắt kín mít, chỉ có một cánh cửa, muốn liên lạc với tài xế phải dùng điện thoại.

Biết vậy, Văn Bình đành ngoan ngoãn ngồi yên. Chẳng mấy chốc, xe đến nơi. Cửa xe mở, Văn Bình bước xuống một cái sân rộng, tứ phía đều là tường cao. Trời nhá nhem tối nên Văn Bình chỉ thấy tường trắng và cây thông xanh thẳm gần như chuyển sang màu đen.

Một cảnh sát viên mặc sắc phục đứng sẵn ở bậc tam cấp. Văn Bình mừng thầm. Chắc chàng đuợc giải về trụ sở cảnh sát trung ương. Chàng được dẫn vào một căn phòng nhỏ, tường cũng quét vôi trắng, bàn ghế sắt màu xám mát mắt, ánh đèn nê-ông tỏa xuống dịu dàng. Trong phòng chỉ thấy hồ sơ được xếp đống nhưng không thấy một ai.

Chàng đợi độ ba phút thì một trung úy bước vào.

Thấy chàng, viên trung úy hất hàm:

– Tên anh là gì?

Văn Bình đáp lại bằng tiếng Tàu. Tuy chàng nói thạo, viên trung úy cũng nhận ra.

Y dịu hẳn nét mặt:

– À ra anh không phải là người Trung hoa…Vậy anh là người nước nào?

Chàng đáp bừa:

– Nhật.

– Nhật hả? Người Nhật thường can đảm, không tham sống, sợ chết… A, anh lưu ý tới bà đại tá từ bao giờ?

– Bà đại tá nào?

– Chà, anh còn giả vờ nữa ư? Bà đại tá Tsung mà anh vừa gặp…Bà đại tá Tsung mà anh đòi năm chục ngàn đô-la mới chịu trả lại cái hộp, nhưng vào phút chót anh lại thay đổi thái độ…..

– Trung úy cũng như bà Tsung đã lầm tôi với người khác rồi.

– Nếu tôi lầm, thì anh đến biệt thự bà đại tá để làm gì?

– Việc riêng.

– Anh thử cho biết nội dung của việc riêng ấy.

Văn Bình không thể nào nói rằng chàng đến đại lộ Chengtu theo lời tiến sĩ Braun dặn trong thư. Vì như vậy là thú nhận hoạt động điệp báo. Song nếu chàng không nói, chàng sẽ không thuyết phục nổi công an Đài Bắc..

Trước tình trạng tiến thoải lưỡng nan này, Văn Bình là người nổi tiếng quyền biến, đa mưu túc trí mà cũng phải bó tay chịu trận.

Viên trung úy gằn giọng:

– Việc riêng, việc riêng… tôi đã thừa rõ việc riêng của anh rồi. Việc riêng này là giáp mặt bà Tsung để vòi thêm tiền. Bà Tsung khẩn khoản yêu cầu chúng tôi không can thiệp, nếu anh chịu nhận năm chục ngàn đô la và trả lại cái hộp thì chúng tôi đã lẳng lặng rút êm. Nhưng vì anh có tham vọng quá đáng.. các anh tưởng Đài Bắc là bãi vắng, muốn tác oai tác quái thế nào cũng được. Sức chịu đựng của chúng tôi chỉ có hạn, anh hiểu chưa? Cho nên chúng tôi phải can thiệp. Chúng tôi có hàng chục cơ quan điều tra, anh biết điều thú tội thì hơn.

Văn Bình đáp sẵng:

– Nếu các anh có hàng chục cơ quan điều tra thì còn năn nỉ tôi làm gì nữa.

– À, anh bướng…Tôi thành thật khuyên anh lần nữa. Nếu anh không khai, chúng tôi bắt buộc phải tra tấn. Đến khi anh cảm thấy dại dột thì thân thể anh đã tan nát.

Văn Bình ngồi im. Tra tấn là chuyện cơm bữa đối với chàng nên chàng không sợ. Tuy nhiên, chàng không thể tiếp tục nín thinh để xương thịt bị dày vò một cách vô ích. Chàng phải nghĩ kế kéo dài thời giờ, hoặc đánh lừa nhân viên công an.

Viên trung úy đột nhiên đổi giọng ôn tồn:

– Anh mượn chiếc Datsun của ai?

Văn Bình cười thầm. Viên trung úy đã áp dụng đúng nguyên tắc sách vở: nhảy từ đề tài này sang dề tài khác, xen lẫn tức giận với ngọt ngào.

Chàng đáp, giọng thản nhiên;

– Của người quen.

– Người quen ở đâu?

– Gần lữ quán Grand Hotel.

Chàng đã nói thật. Vì biệt thự của Yu-Tung tọa lạc gần Grand Hotel.

Không ngờ viên trung úy lại giơ cánh tay lên không, ra vẻ ngao ngán:

– Anh lại chối rồi.

– Vậy theo anh, tôi đã lấy cái xe Datsun ở đâu!

– Không phải gần Grand Hotel. Vì lữ quán này ở tận phía bắc thành phố. Anh đã đánh cắp ở phía nam, xế cửa sứ quán Phi luật tân, trên đường Hoping. Vô phúc cho anh, chủ xe lại là một nhân viên an ninh cao cấp.

Lời nói của viên trung úy không làm Văn Bình kinh ngạc. Yu-Tung không thể nhìn nhận là cho chàng mượn xe. Có lẽ công an truy số xe, tìm ra Yu-Tung, và Yu-Tung đành phải nói là xe bị mất trộm.

Viên trung úy lại nói:

– Về điểm mượn xe, anh đã khai gian. Tôi hy vọng anh sẽ bắt đầu khai thật từ giờ phút này. Một lần nữa, nhân danh công an Đài Bắc, tôi cam kết trả ngay tự do cho anh nếu anh chịu hoàn lại các bức thư đựng trong hộp. Anh sẽ được thưởng năm chục ngàn đô-la như bà dại lá Tsung đã hứa.

Thấy vẻ mặt Văn Bình đăm chiêu, viên trung úy tưởng chàng xiêu lòng nên vội vỗ về tiếp:

– Anh nghĩ coi, những bức thư này chẳng có gì là quan trọng. Bà Tsung đã lỡ giao du vói một người đàn ông không tốt trong thời gian ông đại tá công du ở nước ngoài. Nếu ông đại tá biết được, gia đình bà Tsung sẽ đi đến chỗ tan vỡ. Vì lương tâm con người, anh nên chỉ nơi giấu các bì thư.

À thì ra, ông đại tá vắng nhà, bà đại tá nổi cơn đói… tình nên đi ăn vụng, và chùi mép không sạch!.

Bà đại tá chắc thuộc loại đàn bà thì khát kinh niên, cõi lòng như cái thùng không đáy, đổ vào bao nhiêu tình cũng chưa đủ. May ra Văn Bình chiếu cố thì bà đại tá mới có thể nguôi được cơn điên…

Đột nhiên, Văn Bình nảy ra ý định trở lại biệt thự của người thiếu phụ đa tình mặc đồ ni-lông hồng. Trở lại để thưởng thức tài ba và kinh nghiệm của nàng…

Song muốn thực hiện ý định này, chàng phải thoát thân ra khỏi nhà giam Công an….

Chàng bèn cúi mặt xuống, ra vẻ hối hận:

– Chẳng qua vì hoàn cảnh thúc đẩy, xin trung úy hiểu cho.

Mặt viên trung úy trở nên hí hửng:

– Ừ, có thế chứ! Thế các bức thư hiện giờ anh cất ở đâu?

Văn Bình tần ngần giây lâu rồi đáp:

– Dầu sao, tôi cũng cần… tiền. Như trung úy đã hứa, tôi xin năm chục ngàn đô la….

Đang vui, viên trung úy bỗng sa sầm, song cố cười gượng:

– Tôi là người lớn, không thể hứa rồi nuốt lời. Vả lại, năm chục ngàn đô-la là tiền thưởng riêng của bà đại tá, không liên quan gì đến cơ quan an ninh. Một lần nữa, tôi xác nhận lại là sau khi anh giao trả thư, anh sẽ được trả lại tự do..

– Ngay tại chỗ?

– Phải, ngay tại chỗ.

Văn Bình ngẩng đầu lên, xoa tay hỉ hả:

– Thưa trung úy, tôi xin sẵn sàng.

Hơn ai hết, chàng đã biết là viên trung úy an ninh chỉ tuân lệnh cấp trên, tìm đủ cách lấy lại các phong thư cuồng nhiệt của người đàn bà núi lửa. Xong xuôi, họ sẽ kiếm cớ nuốt lời cam kết.

Chàng ngoan ngoãn theo viên trung úy ra ngoài hiên. Nếu họ vẫn chở chàng bằng xe bít bùng như hồi chiều thì chàng khó có hy vọng đào tẩu. Kể ra, là chàng muốn đào tẩu lúc nào cũng được, nhưng chàng phải nặng tay với bọn nhân viên áp giải, đó là điều chàng không muốn.

Viên trung úy to nhỏ một hồi với đám nhân viên tụ tập ở cuối hành lang, rồi mọi người kéo nhau ra xe. Vì phương diện tâm lý, họ đưa Văn Bình lên xe Hoa kỳ, một chiếc Ford kiểu mới, sơn xanh thẫm, trên mui có cái đèn thủy tinh hình tròn đỏ ối.

Dĩ nhiên là Văn Bình được dành đặc quyền ngồi giữa, với hai tủ gương đồ sộ hai bên. Viên trung úy ngồi băng trước với tài xế. Trước khi xe chạy, viên trung úy mời văn Bình hút xì-gà. Chàng không khoái xì-gà bằng thuốc điếu Sa-lem, nhưng miệng cảm thấy nhàn nhạt nên vui vẻ nhận liền, rồi ngửa cổ thở phù phù.

Xe hơi đóng kín vì được gắn máy lạnh.Nhưng vì đóng kín nên khói xì-gà hăng hắc ngập đầy xe làm hai gã khổng lồ ngồi bên cạnh ho sặc sụa.

Nghe tiếng ho, Văn Bình lại tuôn thêm khói như ống khói cam-nhông chạy bằng dầu cặn. Gã ngồi bên trái lấy tay dụi mắt, miệng rên rỉ:

– Trung úy ơi, em ngạt thở mất!

Sực nhớ ra, viên trung úy ồ một tiếng rồi kéo kiếng cho gió ùa vào, và ném điếu xì-gà mới đốt ra ngoài. Cố ý chơi khăm gã ngồi bên trái, Văn Bình búng tàn thuốc cháy đỏ vào má hắn…

Hắn giẫy nẩy:

– Làm gì thế? Đồ khỉ!

Văn Bình định tặng hắn một cái tát méo miệng. Song chàng vừa giơ bàn tay lên thì rụt hạ xuống. Đèn trên trần xe được bật lên. Chàng bỏ ý định trừng trị tên ngồi bên trái về tội hỗn xược không phải vì chàng sợ đèn sáng, mọi người trông thấy, hoặc sợ nạn nhân né tránh và trả đòn. Chàng chỉ đụng vào mặt hắn là hắn sẽ phải húp cháo loãng cả tháng, và sau khi rời bệnh viện lại phải mất hàng đống tiền và đống thời giờ chầu chực tại phòng nha sĩ để trồng răng giả.

Chàng không đánh hắn vì ánh đèn trong xe vừa đánh thức trong trí chàng một kỷ niệm sống động.

Hồi nãy, phần vì trời tối, phần vì không thèm để ý tới bọn nhân viên hộ tống, Văn Bình không nhận ra gương mặt trái bầu hơi khác thường của tên ngồi bên trái. Vầng trán hẹp bề ngang của hắn xòe rộng ra phía dưới, làm hai má phồng tròn bánh đúc, ai đã gặp một lần là, suốt đời không cách nào quên được.

Trên mặt hắn còn một đặc điểm khác mà Văn Bình nhớ mãi: đó lá vết thẹo hình chữ chi, chạy từ lỗ mũi tới vành tai trái.

Khuôn mặt thóp trên, phình dưới và cái thẹo dích dắc lạ lùng này là của một xác chết còn nóng hổi trên núi Ali giữa những cành phong lan và anh đào nặng chĩu hoa sặc sỡ cuối mùa xuân của tỉnh Chiayi, thuộc phía tây-nam hải đảo Đài Loan…

Cuối mùa xuân năm ấy, Văn Bình được ông Hoàng phái tới sứ quán Việt nam tại Đài Bắc để thảo luận với viên Đệ nhất tham vụ về một vấn đề hành chánh. Kể ra, việc này không có tính cách quan trọng hoặc cấp bách, chẳng qua ông Tổng giám đốc nhờ Văn Bình vì khi ấy chàng đang tắm suối nước nóng lưu huỳnh ở Núi cỏ, cách thủ đô Trung Hoa quốc gia 16 cây số (dĩ nhiên là tắm suối với giai nhân Tàu nổi tiếng trên thế giới vì cái eo nhỏ xíu, chỉ bằng cái trét tay).

Công vụ xong xuôi, chàng dành phần thời giờ còn lại cho chương trình du hí. Và chàng đã đi Chiayi để tới núi Ali.

Đường sắt từ Chiayi tới núi Ali dài 5 giờ đồng hồ tàu hỏa, chạy qua 72 hầm đá. Không biết vì sợ bóng tối của hầm, hay cố tình giả vờ mà cô gái cùng đi với chàng chỉ chờ xe hỏa tiến vào hầm là cuống quýt ôm chầm lấy chàng, và không quên chìa môi cho chàng hôn.

Trên núi Ali có nhiều rừng rậm và gỗ quý. Có những cây cổ thụ sinh sống từ ngàn năm trước, tục truyền là có cây đã thành tinh. Đặc biệt là có gỗ thiêng, thơm hơn cả gỗ trầm hương, xen lẫn với kỳ hoa, dị thảo.

Kẻ yêu đời nhất như Văn Bình mà lên đỉnh núi cũng sinh ra chán đời, muốn bỏ hết tục lụy đầy bụi bặm để tu tiên. Tới chùa Túy Vân, chàng đã ngây ngất trước những đám mây là là, như sắp hạ xuống, đưa chàng lên thượng giới. Mây trên đỉnh núi Chú sơn bay ngay trên đầu du khách, tưởng chừng kiễng chân lên là bắt được,

Văn Bình đến nơi vào tiết cuối xuân, ở đâu cũng thấy phong lan và hoa anh đào. Hoa phong lan ở đây không giống như ở nơi khác, cánh hoa êm như sương, nhẹ như khói, như có mắt để ngắm nhìn du khách và như biết tấu nhạc để ru hồn vào cõi mộng thiên tiên….

Buổi tối, Văn Bình nằm trên phiến đá trắng phau phau, rộng bằng hai cái giường, ngay chân núi, bên giòng suối nước nóng. Giai nhân nằm bên, cạnh chàng là nước, là vách đá ngàn trùng, trên đầu chàng là vầng trăng gần rằm tròn trạnh chiếu sáng…

Sau cơn truy hoan, người đẹp đã ngủ say. Văn Bình xuống suối tắm. Chàng đang mặc quần áo thì nghe thấy tiếng rên. Tiếng rên nổi lên rồi lặn xuống. Tiếng rên não nùng. Tiêng rên của kẻ hấp hối…

Chàng lần theo giòng suối tới một bụi rậm, và vấp phải xác người nóng hổi.

Đó là một gã thanh niên trên 20, nằm trần truồng trên mặt đất. Nhờ trăng sáng, Văn Bình biết là nạn nhân bị đâm nhiều lát. Lát ở nách làm ra nhiều máu nhất, còn lát trên má làm bộ mặt gớm guốc…Nạn nhân bị đâm xong, hung thủ còn lột hết quần áo, cốt để cho chết lạnh. Vì núi A li nằm ở trên cao, đêm lạnh buốt xương.

Chắc hung thủ có mối thù sâu đậm với nạn nhân nên không đâm chết mà chỉ đâm cho gục ngã. Bụi rậm gần giòng suối là nơi hẻo lánh, không ai đặt chân tới, hung thủ vứt nạn nhân xuống đó, đinh ninh chỉ một đêm là nạn nhân tuôn hết máu mà chết. Nếu chưa chết vì hết máu thì cũng chết vì lạnh.

May mà nạn nhân gặp Văn Bình.

Chàng đốt lửa sưởi ấm nạn nhân, và dùng thuật kuatsu hàn lại vết thương. Trong chớp mắt, máu đông đặc lại, không chảy nữa.

Đến nửa đêm nạn nhân tỉnh lại. Thì ra nạn nhân là sinh viên ở Đài Bắc, thường thường tới Chiayi trèo núi. Tính tình cương trực, y tố cáo một viên chức có thế lực là phạm tội tham nhũng có bằng chứng cụ thể, nên viên chức này sai đàn em trả thù. Thân cô, thế cô, y chỉ chống cự được một lát thì bị bọn đầu trâu mặt ngựa tràn ngập. Chúng đánh y nhừ tử, rồi đem vứt gần bụi cây sau khi lấy dao rạch mặt và đâm cho máu chảy lênh láng.

Gần sáng, bọn đầu trâu mặt ngựa trở lại giòng suối để xem nạn nhân đã chết hẳn chưa. Chúng giật mình, vừa sửng sốt vừa tức giận khi thấy nạn nhân còn sống và đang được người lạ săn sóc. Sợ bại lộ chúng bèn hùa nhau tấn công chàng.

Thoạt tiên, chúng chỉ nghĩ đến lấy thịt đè người, chứ không dùng võ khí, vì chúng đinh ninh Văn Bình cũng như mọi người khác. Không ngờ chàng chỉ vung tay gạt nhẹ là cả bọn ngã nhào mà sắc diện của chàng vẫn ung dung. Khi ấy, chúng mới biết Văn Bình võ nghệ cao cường. Cả sáu tên rút dao đâm loạn xạ..

Văn Bình vung tay lần thứ nhì. Cả bọn lại té như sung rụng. Chúng la hét, tấn công lần nữa, rồi ném dao qui hàng. Vì để chúng thất kinh, chàng đã vận nội lực, biến vầng trán thành tảng đá, mũi dao đâm vào bị lộn lại, và kêu lên tiếng coong rùng rợn, như thể đâm vào cửa sắt.

Cả bọn khiếp sợ đến nỗi hai chân ríu lại, không đứa nào chạy được nữa. Chúng xì xụp van lậy chàng tha mạng. Dĩ nhiên chàng nhắm mắt bỏ qua, sau khi bắt chúng quỳ xuống nghe chàng răn dạy và véo cho mỗi đứa một cái vào tai.

Ngày hôm ấy, Văn Bình đưa nạn nhân về Chiayi. Nhờ thương tích không quá nguy hiểm, nạn nhân được bình phục ngay. Y thuộc một gia đình khá giả. Em gái y cũng khá đẹp. Văn Bình ghé nhà y chơi trước ngày lên đường về nước.

Chàng không ngờ xác chết còn nóng nằm song soài trong bụi rậm năm xưa dưới chân núi Ali lại là nhân viên công an ngồi cạnh chàng trong chiếc xe hơi.

Vết dao rạch mặt giờ đây còn là cái thẹo ngoằn nghèo. Nạn nhân đã tỏ ra chững chạc hơn xưa.

Chàng quan sát hắn, và hắn cũng quan sát chàng. Hai luồng nhỡn tuyến chạm nhau. Văn Bình có cảm giác là tia mắt của hai người gây ra âm thanh rỏng rẻng như binh khí va chạm.

Hắn há miệng toan nói nhưng đã ngậm miệng lại kịp thời.

Hắn đã nhận ra chàng. Nhận ra ân nhân của quá khứ. Khi xa nhau, hắn đã nắm tay chàng thề nguyền suốt đời sẽ không quên ơn, và trong tương lai nếu phải xả thân để báo đền hắn cũng không dám từ. Mắt hắn dịu hẳn. Vẻ mặt hắn đang câng câng như muốn ăn tươi nuốt sống Văn Bình bỗng trở nên nhu mì, hiền lành như con cừu non. Văn Bình thấy hắn tủm tỉm cười với chàng. Và chàng cũng cười lại.

Tuy nhiên, không ai nói với ai một tiếng. Có lẽ hắn sợ bạn bè và cấp trên biết hắn quen Văn Bình.

Chàng không thể nào lầm được: hắn ta không phải là hạng người vô ân bạc nghĩa. Nhưng hắn chỉ giữ một chức vụ tầm thường, không có quyền quyết định.

Trừ phi…

Văn Bình đang suy nghĩ thì xe hơi đột nhiên dừng lại, lái vào bên đường, rồi viên trung úy quay mặt ra băng sau, hỏi chàng:

– Anh dẫn tôi đến hộp đêm nào?

Văn Bình nhăn mặt:

– Tôi đã nói đi nói lại nhiều lần rồi. Trung úy đã cho ghi âm và ghi tốc ký. Không lý nào băng nhựa và hồ sơ đã mất…

Viên trung úy nghiêm giọng:

– Anh nhắc lại lần nữa thi cũng chẳng chết chóc gì. Nào, anh trả lời đi. Anh dẫn tôi đến hộp đêm Ngôi sao phải không?

– Phải.

– Trong thành phố có hai hộp đêm Ngôi sao. Anh muốn đến Ngôi sao nào?

– Gần Thảo cầm viên và tòa đại sứ Phi luật tân?

– Anh biết Kao Cheng không?

– Không. Hắn là ai?

– Chủ nhân hộp đêm.

– Tôi chưa có dịp gặp hắn.

– Vậy anh đưa những bức thư cho ai giữ?

– Đến nơi tôi sẽ cho trung úy biết tên.

– Đáng tiếc, giờ này tôi chưa thể đưa anh đến hộp đêm Ngôi sao được…

– Vì sao?

– Vì cách đây 10 phút, có một cuộc đấu súng. Không biết ai đấu với ai, trung ương vừa gọi điện thoại cho tôi, ra lệnh đình hoãn đến sáng mai.

– Nghĩa là tôi sẽ về nhà giam?

– Phải! Anh đừng ngại, tôi sẽ dặn nhân viên đối xử với anh rất tử tế.

– Viên trung úy dựa vào ghế, phì phèo một điếu xì-gà mới đốt. Hắn quên bẵng bọn đàn em bị chảy nước mắt vì khói. Lần này, không hiểu vì vô tình hay cố ý, hắn không mời Văn Bình hút.

Văn Bình lại được đưa vào tòa nhà chơ vơ giữa cái sân rộng, tứ phía tường trắng xóa cao lút đầu người, hai hàng thông nhọn reo vi vút trong gió.

Hai công an viên mà một gã mang thẹo ở má chịu ơn chàng ngày nọ – áp giải Văn Bình qua một hành lang sâu hun hút đến giẫy xà-lim sau cánh cửa sắt kiên cố. Chắc đây là xà-lim biệt lập vì chàng thấy mạng nhện chăng đầy bụi đóng lớp, bản lề cửa lại nghiến răng kèn kẹt chứng tỏ từ lâu chưa hề giam ai.

Chàng bị giam ở xà-lim cuối cùng.

Trước khi trở ra, gã mặt thẹo bỗng lớn tiếng hỏi bạn, dường như muốn cho Văn Bình nghe:

– Lát nữa mày có gác không?

Tên bạn đáp:

– Có chứ. Tao định trốn mà không được. Mày thử nghĩ coi, họa có trái tim bằng thép thì mới đủ can đảm gác đêm trong khu nhà ma này….Tụi nó nói là ở đêm nào cũng có ma xõa tóc kêu la thảm thiết…. ma đàn bà mày ạ. Mày sướng thật, đêm nay mày không phải gác.

– Có chứ! Nhưng đến sáng mới là phiên của tao..

– Cũng sướng rồi. Vì đêm mới có ma. Mày lại gan góc khét tiếng, giá có ma hàng đoàn nữa mày cũng chẳng sợ. Chỉ tội nghiệp cho tao..Chắc mày cũng biết rằng tao mới lấy vợ tuần trước. Phàm vợ mới bao giờ cũng vậy. Nó quấn riết một bên, đi vào phòng tắm một phút cũng không được huống hồ đi gác, và là gác đêm…

– Dạo này trời đêm lạnh ghê!

– Thôi, mày đừng xỏ tao nữa. Nếu tao là mày, chưa vợ chưa con, còn nhẹ gánh tang bồng, thì tao sẽ giúp bạn.

– Giúp gì?

– Đừng giả vờ nữa đi, ông cụ. Giúp tao phiên gác đêm nay, chứ còn giúp gì nữa! Tao lạy mày, mày ra ơn cho tao rồi mày muốn gì được nấy…

– Ô, tao đâu phải là thằng người không tim. Gác thay cho mày một đêm chứ trăm đêm tao cũng bằng lòng ngay. Vì bọn thanh niên độc thân như tao đêm nào cũng mở mắt thao láo nhìn lên trần nhà, không tài nào ngủ được trước 3, 4 giờ sáng. À, mấy giờ mày gác?

– Một giờ nữa.

– Ừ, mày cứ để cho tao. Nhưng phải ngậm miệng, không được hở cho ông trung úy biết nghe!

– Đồng ý!

– Mày muốn gì, tao xin trả ơn.

– Em gái mày hôn tao một cái.

– Đồ xỏ lá. Nó sắp lấy chồng rồi. Chồng nó là sĩ quan pháo binh giỏi võ ghê gớm. Mày tơ lơ mơ, chồng nó bắn cho nát óc.

– Đùa đấy. Mày đừng giận tao tội nghiệp.

– Dĩ nhiên tao biết mày đùa. Nhưng mày vốn là đứa đùa như thật. Thôi chúng mình ra ngoài uống ly cà-phê.

Hai công an viên đeo súng lách cách kéo nhau đi. Tiếng giầy im dần. Rồi tiếng xích sắt kêu rỏng rẻng.

Văn Bình còn lại một mình trong xà-lim trống trải, trong khu biệt giam trong trại, tâm thần bâng khuâng.

Dường như thần hoàng của nghề gián điệp thích chơi khăm chàng mặc dầu vẫn có cảm tình thân thiết với chàng. Thần hoàng không muốn cho điệp viên Z.28 mất mạng trong lúc này. Có lẽ vì công việc trên thế gian còn nhiều, Văn Bình phải được sống để hoàn thành….

Nhưng thần hoàng lại rình những lúc chàng sửa soạn thành thân với người đẹp hoặc phăng ra đầu mối quan trọng là xía vào. Chẳng hạn xúi giục chàng lên phi trường gặp trưởng ty quan thuế Fue-Kuen, tới phòng thư lưu trữ tán tỉnh cô gái mặc sường sám căng cứng tình yêu, rồi vác xác vào biệt thự của bà đại tá Tsung đa nhân duyên…

Để rồi bị dính vào một vụ tống tiền và tống tình hi hữu. Rốt cuộc chàng vào xà-lim nghỉ mát….

Tuy nhiên Văn Bình vẫn chưa hết hy vọng thoát thân trong đêm nay. Vì có gã mặt thẹo. Hắn cố ý trò truyện la cà với bạn trước cửa xà lim là để gián tiếp báo tin cho chàng.

Nhưng biết đâu! Lòng người đổi trắng thay đen là chuyện thường. Gã mặt thẹo nhân viên công an không phải là xác chết còn nóng nằm bất động dưới chân núi Ali ngày nọ….

Văn Bình thở dài, ngồi xuống nền xi-măng. Nhà tù Đài Bắc cũng như nhà tù ở mọi nơi trên trái đất, trên tường, dưới đất, chỗ nào cũng ẩm ướt, đầy rêu, nhán, rắn mối, rệp và chuột tha hồ hoành hành, còn hoành hành ngang nhiên hơn quân đội của minh ước Varsovie do Nga sô thống lãnh xâm lăng Tiệp khắc nhỏ bé nữa.

Ngoài hành lang sâu hun hút, ngọn đèn ống xanh lè như mắt mèo bỗng hấp háy. Đang ưu tư, Văn Bình vội mỉm cười. Đèn nê-ông ở đây cũng thiếu điện. Té ra không phải đèn Sài gòn là chiếm độc quyền thèm điện!

Hồi ở Sài gòn, chàng đang cụng ly mừng sinh nhật lại nhà Mộng Kiều thì đèn vụt tắt. Đèn vụt tắt mà sở điện không báo trước. Mộng Kiều là bạn tình lâu nắm nhất, và dễ dãi nhất của điệp viên hào hoa Z.28. Khi nào về thủ đô, chàng túng phòng trọ (hoặc túng yêun đương), cứ việc gõ cửa phòng nàng, bất luận là ngày hay đêm, nàng đang ăn cơm hay ngủ trưa. Tủ áo trong phòng Mộng Kiều luôn luôn có đủ quần áo cho Văn Bình thay, từ đồ lót mình hàng tá mới nguyên đến những hộ com-lê cà-vạt tươm tất mấy chục ngàn một hộ.

Hàng tháng, những ngày trời nắng, Mộng Kiều thường mang đồ của chàng ra phơi. Những ngày ấy, nàng nghỉ ở nhà, đánh giày, mạng sơ-mi, chải đồ, ủi thẳng nếp cho chàng, chăm chút hơn là vợ đối với chồng nữa…..

Vì vậy, trừ phi quá bận việc (hoặc những khi bị con ma ái tình phải gió làm chàng quên bẵng) chàng thường nghỉ dưỡng sức trong tổ ấm của Mộng Kiều. Lễ ăn sinh nhật của nàng mỗi năm đều được chàng chiếu cố đặc biệt với những món quà đặt riêng ở ngoại quốc, và món quà…âu yếm cả tuần liền tù tì, không phân biệt giờ giấc.

Lễ sinh nhật năm ấy vui như hội Tết. Mộng Kiều kéo một lô bạn gái về nhà. Trong số bạn nàng, đa số đều đẹp. Tệ nhất thì cũng sạch nước cản. Tuy nhiên, điều làm Văn Bình đứng tim là tính tình cháy bỏng của họ. Họ thuộc lớp người sống vội, yêu vội, cái gì cũng vội. Đáng kể hơn nữa, họ đều chưa…chồng, hoặc được quyền sống tự do.

Biết tật xấu của chàng, Mộng Kiều đã dặn dò bạn gái bằng lời lẽ nghiêm nghị:

– Cậu ấy là của tôi, hoàn toàn của tôi, các cô nhớ giùm cho. Xin đừng ai ti toe. Tôi biết được thì cấm cửa.

Đồng thời, nàng cảnh cáo Văn Bình:

– Cả anh nữa. Thấy gái đẹp thì mặt la, mày lét. Anh coi chừng đấy, gái này tuy không biết ghen nhưng cũng biết dăm ba miếng võ du-đô.

Trong bữa tiệc, Văn Bình được đặt ngồi giữa hai giai nhân vừa đẹp, vừa trẻ. Chàng chỉ dám nhìn, chứ không dám đụng. May thay sở điện lại giúp chàng toạị nguyện.

Vụt một cái, đèn tắt. Không phải chỉ riêng phòng Mộng Kiều tắt đèn, mà là toàn bin-đinh, toàn bộ khu vực. Tất cả đều tối om. Văn Binh đang suy nghĩ, chưa định làm gì thì có bàn tay đàn bà nhỏ nhắn và mát rợi đặt vào gáy chàng, vuốt nhè nhẹ từ trên xuống.

Không cần biết là ai, chàng kéo người đẹp vào lòng, và hôn một cái say như rượu cần uống khi bụng đói, và mạnh như bom nguyên tử một trăm mêgaton. Chàng buông ra thì người đẹp ngã luôn xuống sàn nhà, khiến thực khách hốt hoảng, gọi nhau thắp đèn cày cho sáng. Nhưng trước khi ngọn nến hồng được đốt cháy giữa bàn ăn, Văn Bình đã ôm bừa người đẹp gần nhất để hôn. Thoạt đầu, nàng cưỡng lại, nhưng chỉ một phần mười tích tắc sau đó, nàng khám phá ra chàng và phản công lại nhanh như vũ bão, khiến chàng suýt nghẹt thở.

Đại phước cho chàng, đêm ấy nhà đèn cúp hơi luôn hai tiếng đồng hồ nên bữa tiệc sinh nhật được giải tán sớm hơn thường lệ. Đèn cày chỉ có mỗi cây, Mộng Kiều không nhìn rõ mặt chàng đầy vết son môi. Mãi khi sắp về, Văn Bình nghe một giọng nói ngọt lật ghé bên tai mới biết. Người đẹp nói cho chàng biết là chàng ăn vụng nhưng chùi mép chưa kỹ. Chàng vội vàng nhúng luôn góc khăn ăn vào ly rượu, rồi lấy ra lau mặt.

Thoát nạn.

Một tuần sau chàng đang lang thang trên đại lộ Lê Lợi thì nghe tiếng gọi quen quen. Quay lại, chàng gặp một mỹ nhân chân dài, mông nở và ngực nhọn, tất cả hoàn toàn thiên tạo. Nàng đã có mặt trong đêm tiệc sinh nhật tắt đèn, hôn ẩu.

Nàng trách móc:

– Gớm, anh đi nhanh quá, em gần hụt hơi mới theo kịp được anh!

Chàng đáp lưỡng:

– Xin lỗi.

Nàng cọ vào người chàng:

– Anh còn nhớ em không?

Nhớ gì, chàng không hiểu. Có thể là nhớ nàng, nhớ một kỷ niệm êm đềm với nàng. Trừ phi là đại ngốc mới đáp là không nhớ.

Chàng bèn gật đầu:

– Nhớ. Nhớ lắm.

Nàng vồ lấy:

– Thế hả, trời ơi, thế mà em cứ tưởng là anh quên em. Em cứ tưởng là anh không nhận ra em trong đêm hôm ấy.

Té ra mỹ nhân trên đại lộ Lê Lợi đã từng ôm chàng hôn trong đêm tiệc thần tiên.

Nàng liến thoắng:

– Gớm, anh hôn có một cái mà cả tuần nay em vẫn say say…Anh đi đâu đấy? Bận không? Tới nhà em chơi nhé!

Dĩ nhiên là Văn Bình ký cả hai tay. Giá nàng ở giữa rừng U minh, cây cối và sình lầy chằng chịt, chàng cũng tới thăm cho kỳ được, phương chi nàng lại có căn phòng xinh như mộng, thơm như nước hoa Chanel số 5, và mát như đỉnh núi Long hải…

Chàng theo mỹ nhân về nhà, và bắt đầu một mối tình mới…

Chung quy cũng do tắt đèn mà ra. Bởi vậy, mọi người ở Sài gòn đều nhăn mặt, chỉ trích nhà đèn thậm tệ khi bị cúp hơi bất thần, riêng Văn Bình lại hoan nghênh nhiệt liệt. Chàng lại cầu mong đêm nào cũng hỏng điện, nhất là những đêm chàng đi ăn, đi dạo mát với người đẹp.

Đêm nay, trong nhà giam tại Đài Bắc, ngọn đèn ống cũng hấp háy rồi tắt.

Nhưng Văn Bình đã lầm. Đèn nê-ông ngoài hành lang xà lim bị tắt không phải vì công ty điện Đài Bắc ăn phải đũa của công ty điện Sài gòn.

Mà vì một bàn tay bí mật đã khóa công-tắc điện.

Văn Bình giật mình trong bóng tối. Chàng vừa nghe tiếng chân người đi nhè nhẹ, thật nhanh, từ đầu hành lang tới.

Chàng nghe tiếng gọi:

– Ông đâu rồi? Tôi đây.

Chàng mừng rơn. Gã mặt thẹo không hề bội bạc như chàng lo ngại. Hắn đã lẻn vào xà-lim để tìm cách giải thoát cho chàng. Hắn đến trước cửa xà-lim của Văn Bình, rồi nhắc lại:

– Tôi đây mà…Ông còn nhớ vụ giết người ở chân núi Ali không?

Văn Bình đáp:

– Nhớ. Tôi đợi anh từ tối tới giờ.

– Ông can tội đã tống tiền bà đại tá Tsung phải không?

– Không, họ lộn tôi với người khác.

– Tôi cũng nghĩ như vậy. Thấy ông, tôi sung sướng quá. Hai người mà ông gặp hồi chiều đã chết rồi.

– Ai chết?

– Truởng ty quan thuế phi trường, cô thư ký ở phòng thư lưu trữ bưu điện.

– Bị giết?

– Vâng. Bị giết. Cấp trên nói rằng đồng lõa của ông thủ tiêu hai người ấy để ngăn cản cuộc điều tra của chánh quyền. Ông phải trốn khỏi nhà giam nội trong đêm nay, vì đến mai ông sẽ bị đưa qua quân lao được canh gác rất nghiêm mật.

– Trốn bằng cách nào?

– Tôi đã mang sẵn cái túi này cho ông, bên trong có chìa khóa xà-lim, chìa khóa cổng sắt bên ngoài, và một khấu súng đựng đầy đạn. Lát nữa, người khác sẽ thay tôi, gác dưới mái hiên, cách cổng sắt độ 10 thước. Trước khi đổi phiên, tôi sẽ đưa người gác mới vào đây. Sau khi tôi ra, ông hãy mở cửa mà ra ngay. Ra khỏi đây rồi, ông hãy đi vòng hòn giả sơn để người gác không nhìn thấy, rồi trèo tường. Tường thấp lắm, ông chỉ nhún nhẹ là vượ t qua dễ dàng. Tôi đậu xe bên kia dường chờ ông.

– Xe hiệu gì? Số xe bao nhiêu?

– Chưa biết. Vì tôi không có xe hơi riêng. Tôi sẽ mượn ẩu xe hơi của ông trung úy. Ông yên tâm, khi ông vượt qua tường, tôi sẽ mở đèn pha làm hiệu. Thôi, chào ông, và chúc ông thành công.

Gã mặt thẹo giơ tay vẫy Văn Bình trong bong tối rồi bước rảo. Ngọn đèn ống lại sáng như cũ.

Văn Bình nhấc cái túi vải, thấy hơi nặng nên mở ra coi. Chàng tỏ vẻ hài lòng khi thấy gói Sa-lem và bao quẹt. Gã mặt thẹo đã có trí nhớ khá bền bỉ. Hồi ấy, hắn mỉm cười, nén đau, ngước nhìn Văn Bình gõ điếu Sa-lem vào mặt quẹt máy, rồi khoan thai châm lửa. Hắn cho chàng biết là hắn cũng khoái thuốc Sa- lem. Theo lời hắn, thuốc Sa-lem được gắn lọc nên vị rất nhẹ, nhưng bù lại có mùi bạc hà, và nhất là một chất say kỳ dị, làm tâm hồn người hút Iâng lâng…

Hắn bảo rằng hút Sa-lem mà có chai rượu huýt- ky nguyên chất một bên thì tuyệt. Cùng với vò Lưu linh nếu có sắc đẹp “nguyên chất” ngả trong vòng tay trìu mến thì còn tuyệt hơn nữa.

Văn Bình trịnh trọng bóc gói Sa-lem thơm tho. Gã mặt thẹo lại không quên kèm theo một ve huýt-ky và hai cái xăng-uých gà. Đang đói, chàng nhai ngấu nghiến, chiêu với ve rượu, rồi nằm dài trên sàn, hút thuốc thở khói thành vòng tròn, dáng điệu nhàn nhã. Sàn phòng giam bẩn thỉu, ướt át, đàn rệp, rắn mối, muỗi và chuột chạy lui, chạy tới loạn xạ mà Văn Binh không hề lưu ý. Chàng khoan khoái như đang nằm trên nệm mút một tấc êm ái, trải khăn giường trắng tinh, trong phòng đại lữ quán gắn máy điều hòa khí hậu.

Thời khắc từ từ trôi qua.

Giờ đổi phiên gác đã đến.

Gã mặt thẹo nện giày cồm cộp vào, bên cạnh là một công an viên mặc sắc phục, đeo súng tiểu liên, vẻ mặt lầm lì. Đến trước xà-lim, gã mặt thẹo đập mạnh vào song sắt, dõng dạc..

– Ngủ hay thức?

Văn Bình lè nhè:

– Ngủ hay thức là quyền của tôi, không liên quan gì đến các anh.

Tên công an mặc sắc phục lúc lắc cái chùm chìa khóa…

– Hừ câm miệng đi nếu không tao vả cho gãy răng.

Văn Bình cười ha hả:

– Mở cửa để xem răng ai gẫy trước.

Gã mặt thẹo giả vờ can bạn..

– Thôi anh, nói với bọn sát nhân làm gì. Mình chỉ có bổn phận canh gác cho hắn khỏi trốn. Hắn nói gì cũng mặc kệ. Hơi đâu mà phí thời giờ.

Văn Bình tiếp tục cười vang. Nhưng đến khi hai người đi khuất sau tường, tiếng xích sắt ngoài cửa kêu loảng xoảng, chàng liền im bặt.

Trong chớp mắt, chàng đã mở được cửa xà-lim.

Gã mặt thẹo đã tỏ ra khá đắc lực…chìa khóa giả mà không kém chìa khóa thật là bao, Văn Bình vừa tra vào ổ là vặn được ngay.

Đèn nê-ông đã tắt ngúm từ khi cổng lớn ở đầu hành lang đã được khóa lại. Nếu không có chìa khóa thì Văn Bình không tài nào mở nổi. Công an Đài Bắc đã gắn ổ khóa Yale chế tạo tại Đửc quốc, vô cùng kiên cố.

Gió mát thổi qua rặng thông vào hành lang sâu thẳm. Văn Bình núp sau tường, quan sát tứ phía.

Gã mặt thẹo nói đúng. Bức tường trước mặt chỉ cao bằng đầu người, Văn Bình chỉ thót nhẹ là đủ vượt qua. Ngoài sân có ba ngọn đèn pha sáng quắc nhưng lại không chiếu về phía hành lang. Thỉnh thoảng, một ngọn đèn pha khác lại quét một vệt dài trên tường. Dường như Văn Bình là can nhân duy nhất bị giam trong khu xà-lim nên nhân viên lơi lỏng canh phòng.

Nhưng một tiếng động phía sau đã cải chính hùng hồn nhận định này của chàng. Nhân viên trại giam không hề bê trễ như chàng lầm tưởng.Bằng chứng là có một nhân viên mặc sắc phục từ sau hòn giả sơn gọi vọng ra:

– Ai đó?

Văn Bình đáp:

– Mình đây mà.

Chàng dùng lối nói thân mật để đánh lừa đối phương. Chàng không ngờ đối phương đòi trả lời mật khẩu. Một tiếng hô ngắn ngủi và khô khan:

– Pakua Shan.

Văn Bình toát bồ hôi. Pakua Shan là một ngọn đồi nhỏ thuộc Đài Trung, đứng trên có thể nhìn thấy thị trấn Changhua và biển. Năm 1895, quân đội Nhật chiếm đóng Đài loan, một lực lượng địa phương đồn trú trên đồi Pakua Shan đã kháng cự trong nhiều ngày cho đến tay súng cuối cùng. Ngày nay khách du còn thấy bốn khẩu đại bác cổ xưa, chứng tích của cuộc kháng cự anh dũng và tuyệt vọng.

Văn Bình không lạ gì Pakua Shan…..nhưng chàng lại không thể đối đáp. Vì gã mặt thẹo quên dặn chàng mật khẩu.

Chàng đành nín lặng..

Từ sau hòn giả sơn, người công an bước ra quát lớn:

– Đứng lại, quay lưng lại đây.

Văn Bình tuân theo như máy. Người công an tiến nhanh đến sau lưng chàng.

Chờ cho đối phương còn cách chàng có một tầm đá, Văn Bình xoay người lại thật nhanh, và ngọn cước tung ra ác liệt. Thế võ đà đao tuyệt vời của chàng xô ngã tên công an khờ khạo. Tuy nhiên trước khi bị đá gục xuống đất, hắn đã có đủ thời giờ lẩy cò khẩu súng tiểu liên.

Một tràng tiếng nổ “chóc, chóc, chóc” vang lên phá tan bầu không khí im lặng ban đêm.

Văn Bình nhịn thở vọt qua tường. Chàng nghe phía sau có nhiều tiếng nổ rời rạc. Có lẽ nhân viên canh phòng bắn hú họa.

Xa xa, một chiếc xe hơi đậu dưới cây đa xum xuê nháy đèn pha hai lần.

Văn Bình co chân chạy tới, cửa xe mở ra, chàng nhảy vào trong. Chàng nhận ra khuôn mặt trái bầu quen thuộc. Gã mặt thẹo xả ga cho xe phóng nhanh.

Được một quãng, xe quẹo sang trái, hắn mới quay sang hỏi chàng:

– Tại sao súng nổ hả ông?

Chàng đáp:

– Một người núp sau hòn giả sơn..

Gã mặt thẹo chắt lưỡi:

– Sau hòn giả sơn? Té ra hai người gác mà tôi tưởng một. Ông có phải hạ độc thủ không?

– Không. Tôi chỉ đá hắn té ngã.

– Như vậy lương tâm tôi đỡ cắn rứt. À, hiện giờ ông đang ở đâu?

– Khách sạn. Phiền anh đậu xe lại cho tôi xuống. Anh đã bị liên lụy vì tôi quá nhiều, tôi không muốn để anh liên lụy thêm nữa.

– Có gì mà gọi là liên lụy, thưa ông? Cái ơn cứu tử ngày xưa, tôi chẻ xương, róc thịt vẫn chưa đủ báo đáp. Nếu ông không chê gia đình tôi nghèo thì xin về nhà tôi tạm trú một thời gian. Em gái tôi đã lấy chồng; đúng hơn nó đã ở riêng để sửa soạn về nhà chồng, mẹ tôi ở chung với em gái tôi, còn vợ tôi thì đang ở hộ sinh viện.

– Đẻ?

– Vâng. Nhà tôi mới sinh cháu hôm qua. Vì con so nên khá vất vả, có lẽ một tuần nữa mới về được. Nhà tôi vốn neo người, chỉ có hai vợ chồng son, giờ đây còn vắng vẻ hơn nữa. Ông về ở tạm với tôi cho vui.

– Nhìn mặt anh, tôi biết cháu đầu lòng là con trai.

Gã mặt thẹo cười rộ:

– Đúng, đúng, cháu là con trai…Ông giỏi thật, cái gì cũng biết.

Văn Bình nhìn qua cửa xe. Trời lất phất mưa nên bóng tối bị cô đặc lại như hắc ín, ánh điện ngoài đường và trước các cửa tiệm đã tỏ ra bất lực. Thành phố Đài Bắc ban đêm buồn tênh không phải vì thiếu người đẹp nguyên tử, vì thiếu rượu nồng và đèn đỏ của vũ trường, vì thiếu phòng lữ quán gắn máy điều hòa khí hậu không sợ bị thiên hạ quấy rầy…

Mà vì thiếu chất liệu quê hương…..

Văn Bình là con người giang hồ, gần suốt thời hoa niên lênh đênh ở hải ngoại. Đến khi về nước, lại hối hả lên đường: thỉnh thoảng giữa hai công tác mới được trở lại Sài gòn. Ai cũng tưởng con người giang hồ kinh niên như chàng phải có trái tim giá lạnh thật ra chàng rất dễ xúc dộng, dễ nhớ nhà, nhớ nước hơn ai hết.

Không hiểu sao đêm nay chàng lại thấy thèm đến quay quắt, thèm đến điên dại một ly cà phê bít tất trong hẻm tối ở Sài gòn,một tô cháo đêm trên vỉa hè đầy bụi mặc dầu chàng đang sống giữa thiên đường của kỹ nghệ chiêu đãi thần khẩu.

Đài Bắc có những món ăn ngon nhất nhì trái đất, đầu bếp thiện nghệ ở Chợ lớn chỉ có thể nấu được, chứ không thể tranh tài về ngon được. Thật vậy, du khách đi tận cùng thế giới cũng không tìm ra nơi nào có một thực đơn bay bướm, kỳ lạ và hấp dẫn như ở Đài Bắc. Muốn ăn món Tứ xuyên và Hồ nam thì có chân gà nướng than, thịt heo cắt hình con cò nấu với cá, cá hầm tỏi tươi, gân bò ngũ hương, đó là chỉ đơn cử một vài món thông dụng…Con gái Thượng hải nổi tiếng đẹp thì món ăn Thượng hải cũng nổi tiếng ngon. Trừ phi là kẻ đau bao tử, đau ruột non, đau ruột già, đau toàn thể tạng phủ thì mới chê được món gà hấp hơi, cua luộc, lươn chiên, cá sốt chua ngọt, rùa nướng, đùi ếch rán, bào ngư hấp, vi cá và yến…..

Còn ăn món Bắc kinh thì người kén ăn nhất thế gian cũng phải ngậm mà nghe trước đĩa hải sâm nấu với trứng tôm, bồ dục và lòng gà rán, nghĩa là những món bổ dưỡng kinh khủng, thích hợp với cái khí hậu rét lạnh miền Bắc…

Nhớ Sài gòn quá, Văn Bình phải gấp rút hoàn thành công tác để trở về…

Gã mặt thẹo lôi chàng ra khỏi giấc mộng:

– Sắp đến nhà tôi rồi. Tôi còn mấy chai rượu ngon lắm. Tuy là rượu Tàu nhưng ngon không kém huýt-ky. Có lẽ còn ngon hơn nhiều. Ông nếm thử sẽ thấy. Rượu của tôi được cất bằng gạo nếp và lúa mạch đặc biệt. Nghĩa là trồng trên đất đặc biệt, vun sới cũng đặc biệt, như người ta nuôi ngựa đua. Và phân bón cũng đặc biệt nữa. Ông biết Đảo Lục không?

Văn Bình gật đầu.

Đảo Lục là một hòn đảo núi lửa nhỏ xíu, với diện tích khoảng 60 cây số vuông, ở phía đông bờ biển Taitung 25 cây số. Văn Bình chỉ nghe nói chứ chưa có dịp tới thăm vì nó ở gần cực nam Đài Loan.

Gã mặt thẹo nói tiếp:

– Vậy ông phải biết một hòn đảo nhỏ hơn ở phía nam đảo lục. Trên đảo này, có một bộ lạc tiền cổ sinh sống, gọi là bộ lạc Yamis. Hiện họ vẫn theo nếp sống cũ xưa. Hòn đảo nhỏ này còn có một loại hoa phong lan kỳ lạ. Lúa mạch do dân Yamis trồng bên cạnh giỏ hoa phong lan mà đem trộn ủ để nấu rượu thì bất hủ, ông nếm thử sẽ thấy.

Gã mặt thẹo đã rủ rê Văn Bình hai lần “nếm thử sẽ thấy”. Thật ra, Văn Bình có thiện cảm từ lâu với rượu Trung hoa, những sắc dân ở miền bắc và miền tây đã có thủ thuật nấu rượu bí mật, còn bí mật gấp chục lần bí mật làm cốm ở làng Vòng, bí mật làm tương ở Cự đà, và cả bí mật làm bánh chè lam ở Phủ Quảng, Bắc Việt. Rượu do họ cất uống vào không cay như rượu buốc-bông hoặc din của Mỹ, lại không ngọt như rượu mùi của Pháp và nhất là không làm say choáng váng, nhức đầu như hầu hết các thứ rượu Tây phương.

Mà là cay dìu dịu. Ngọt dìu dịu. Và say dìu dịu. Từ khi uống đến khi ngây ngất, tao nhân mạc khách chỉ có cảm giác dìu dịu, dìu dịu như ngồi khoang thuyền với người đẹp thiên tiên, rong chơi Ngũ hồ như trong truyện Tây thi Phạm Lãi…

Gã mặt thẹo tiếp tục giải thích về nghệ thuật trồng lúa để cất rượu, nghệ thuật ủ men và nghệ thuật giữ rượu cho ngon.

Song Văn Bình đã ù tai.

Chàng chỉ nghĩ đến ngày về.

Vì vậy, chàng phải dấn thân vào hang hùm nội đêm nay. Đúng hơn, là dấn thân vào ngõ cụt. Công tác Hoa Quỳnh của chàng trên đảo Đài loan chỉ là một ngõ cụt chứa đầy rẫy chết chóc. Biết là ngõ cụt, chàng vẫn phải lao đầu.

Chàng bèn ngắt lời gã mặt thẹo:

– Cám ơn anh. Chừng nào xong việc, tôi sẽ đến thăm anh.

– Ông định đi đâu?

– Phiền anh thả tôi xuống gần sứ quán Phi luật tân.

– Ông muốn tới vũ trường Ngôi sao ư?

– Phải. Tại sao anh biết?

– Tôi nghe ông trung úy gọi điện thoại cho Kao Cheng; chủ nhân vũ trường Ngôi sao.

– Hai người quen nhau?

– Tôi không rõ. Dường như Kao Cheng khiếu nại là đêm qua ông đến làm tiền nhân viên vũ trường, và sau đó đã giết một người bồi rượu tên là Huang.

Văn Bình làm thinh.

Xe chạy qua vườn bách thảo.

Gã mặt thẹo nói.

– Hồi nãy, tôi đã xác nhận với ông rằng tôi không tin một người phong lưu mã thượng như ông lại dúng tay vào những việc đê tiện và đẫm máu. Chắc chắn bên trong còn có nhiều chi tiết bí mật mà ông chưa tiện nói ra. Một lần nữa tôi xin nhắc lại ý nghĩ của tôi đối với ông. Khi cần, xin ông đến tìm tôi.

Đến con đường nhỏ tranh tối tranh sáng, gã mặt thẹo cho xe chậm lại rồi tiếp:

– Một phút nữa, tôi sẽ đậu lại, ông đi bộ một trăm thước, rồi rẽ sang bên phải. Coi chừng, vũ trường Ngôi sao nằm trong ngõ cụt. Người ta có thể ám hại ông.

Ngõ cụt! Ngõ cụt! Gã mặt thẹo tình cờ gợi lại danh từ “ngõ cụt” mà Văn Bình đã nghĩ tới.

Dầu là ngõ cụt dẫn tới tử thần, Văn Bình cũng không quản ngại.

Chàng vỗ vai gã mặt thẹo….

Hắn xiết tay chàng, nói lời từ giã…

Chợt nhớ ra, chàng hỏi hắn:

– Khổ quá, quen nhau từ nhiều năm nay mà ta chưa biết tên nhau. Anh tên là gì nhỉ?

Gã mặt thẹo cười vui vẻ:

– Tôi là Shan, còn ông?

Văn Bình ngần ngừ một giây:

– Văn Bình. Đại tá Văn Bình.

– Tức điệp viên Z.28?

– Đích thị.

Shan kêu “trời ơi” để biểu lộ sự ngạc nhiên và kính phục.

Song Văn Bình đã băng mình vàọ ngõ cụt…….

CHƯƠNG 6: ĐÊM TÀN SÁT

T

Trên quãng đường từ Sứ quán Phi luật tân đến sân “gôn” ở phía tây-nam thành phố, cũng có một ngõ cụt. Nó không giống các ngõ cụt khác, vì bên trong chỉ có một căn nhà độc nhất.

Đó là một căn nhà hai tầng, mái cong lên như mái chùa, cột sơn son, tường gạch đắp hình nổi long ly quy phượng nhiều màu rực rỡ. Tuy nhiên, khách qua đường không thể nhìn thấy những công trình thẩm mỹ cổ kính này vì hàng rào quá cao bằng tôn uốn ghép lại, trong vườn lại trồng toàn thông kết thành một tấm bình phong kiên cố.

Khách bước vào, nhìn thấy vườn thông san sát, những cây cột sơn son, và hình nổi trên tường, không thể không trầm trồ khen ngợi. Vào bên trong, khách sẽ hoàn toàn sửng sốt. Vì cách kiến trúc bên ngoài thật cổ kính mà bên trong lại thật tân tiến…

Trên lầu hai, ngay dưới mái có một gian phòng đặc biệt. Đặc biệt vì mái nó bằng kiếng trong suốt, nhưng phi cơ trực thăng bay qua cũng không thể nhận ra vì mái pha lê nằm dưới mái giả lợp ngói, khi chủ nhân bấm nút điện, mái giả sẽ tách ra, gian phòng đặc biệt sẽ từ từ trồi lên, trông như tiềm vọng kính của tàu ngầm.

Chủ nhân thường có mặt trong gian phòng đặc biệt này, nhất là những buổi sáng, mặt trời mọc ở hướng đông, chiếu tia sáng ấm áp vào cái hộp kiếng lạ lùng.

Chủ nhân là đàn bà.

Một người đàn bà trung niên. Tuổi thật có lẽ bốn mươi (vì một trong những việc khó nhất trên thế gian là đoán tuổi của nữ giới), những căn cứ vào khuôn mặt và cơ thể chưa bị tàn phá thì nữ chủ nhân chỉ độ ba mươi là cùng.

Mặt nàng không thuộc loại tuyệt thế giai nhân, trừ cặp mắt và đôi môi. Mắt nàng xanh biếc vì nàng là phụ nữ Tây phương – đúng hơn, phụ nữ lai nhiều giòng máu — luôn luôn ướt át, và sâu như cái giếng nước. Đàn ông bắt gặp luồng mắt của nàng đều phải rùng mình, dường như nàng có phép lạ nhìn xuyên qua quần áo, để rồi trong phút chốc nhỡn tuyến kỳ dị biến thành muôn ngàn tia nóng vô hình tỏa xuống đầu, đọng lại trong cái trũng sau gáy, và chạy dọc theo xương sống. Được đàn bà vuốt xương sống, người đàn ông lì lợm nhất cũng phải rùng mình, huống hồ luồng mắt của nàng lại tạo ra cả chục, cả trăm ngón tay mềm mại…

Đôi môi của nàng dày gấp rưỡi môi phụ nữ thông thường, tuy nhiên lại không có vẻ thô tháp quá đáng. Dầu lạt lòng đến đâu với phái yếu, đàn ông cũng phải có cảm tình với đôi môi dày của nàng, đôi môi dường như có chất từ thạch, dính vào lại kéo mãi không ra.

Giờ ấy, nữ chủ nhân đang nằm một mình trong gian phòng gắn kiếng tứ phía trên lầu hai.

Ánh trăng khuya lọt qua pha lê chiếu xuống thân hình trắng nõn của nàng. Nàng không còn những đường cong toé lửa của thuở thanh xuân, chưa nếm bụi đời, nhưng cơ thể chín mùi của nàng vẫn chưa mất sự hấp dẫn cố hữu. Có lẽ nàng còn hấp dẫn là do da nàng trắng nõn. Và như thể nàng sợ các vì sao trên nền trời lợp bằng nhung mịn chưa nhìn rõ làn da trắng nõn của nàng nên nàng trang hoàng gian phòng toàn màu đen. Cái ghế xích-đu nàng đang nằm đong đưa cũng bằng sắt tròn sơn đen, vải tẹt-gan đen…

Nữ chủ nhân đã vứt cái áo choàng đen xuống sàn nhà, trải thảm len đen trước khi thưỡn người trên ghế, mặt ngửa ra, nhìn trời. Nàng có thói quen không mặc gì hết khi ở nhà, ngoài cái áo choàng đen. Mỗi đêm trước khi lên giường ngủ, nàng thường khỏa thân rất lâu như thế. Và nếu đi ngủ thì nàng cũng đắp mền màu đen….

Nàng hơi nhăn mặt vì chuông điện thoại reo.

Trên máy điện thoại đen, chỉ có chữ số là màu trắng. Nàng nhấc ống nghe, và chưa cần nghe nàng đã nói ngay:

– Xong rồi hả anh?

Cuối đường dây là giọng đàn ông:

– Chưa! May quá, anh sợ giờ này em đã đi ngủ.

– Mọi bữa em ngủ sớm, riêng đêm nay em phải thức. Công việc mà trục trặc thì nguy lắm.

– Anh đến gặp em ngay bây giờ được không?

– Giờ này e không tiện cho anh. Đề nghị anh đến sáng mai.

– Hỏng mất rồi, em ạ.

– Nghĩa là thế nào?

– Hắn đã bỏ trốn.

– Người ta bố trí cho hắn trốn để tiện theo dõi phải không? Vậy thì càng nguy hơn.

– Không, hắn tự ý bỏ trốn. Anh chưa biết rõ chi tiết. Chỉ biết đại khái là hắn đã thoát khỏi nhà giam công an cách đây một giờ.

– Hiện giờ hắn ở đâu?

– Nếu biết hắn ở đâu, anh đã không gọi điện thoại cho em. Em nghĩ sao?

Nữ chủ nhân trầm ngâm một phút rồi cười gằn:

– Không sao. Hắn bỏ trốn ta càng khỏe.

Giọng nói đàn ông ở cuối đường dây chứa đầy lo ngại:

– Càng khỏe ư? Em đừng chủ quan. Anh chỉ sợ hắn nắm được đầu mối, phăng ra nơi giam tiến sĩ Braun thì…

– Thì sao?

– Chúng mình sẽ khốn to.

– Ha, ha…Vậy em phải mở đường cho hắn đến gặp Braun mới được.

– Em điên hả?

– Chỉ có anh mới điên. Nếu điên, em đã không cầm đầu cơ sở được mấy năm nay, không hề bị thất bại. Vụ này hư hỏng là vì anh, anh nhớ chưa?

– Vì anh…..anh có làm chuyện gì hớ hênh đâu?

– Phải, anh không làm chuyện gì hớ hênh. Nhưng anh đã hảo ngọt với gái. Hảo ngọt nên bị người ta ngờ vực. Hồi tối, người ta báo cáo với em là anh còn cặp kè với nó.

– Khổ lắm, em ơi, chẳng qua là vì công việc…

– Lần nào bắt được quả tang cũng mang công việc ra dọa. Này em bảo anh biết, lần này cũng là lần cuối, anh phải đoạn tuyệt với con bé giang hồ ấy…

– Anh xin em nghĩ lại.

– Em đã nghĩ lại chu đáo rồi. Em chỉ có thể ngoảnh mặt làm ngơ nếu sự tằng tịu của anh không phương hại đến tổ chức. Nhưng sự thật đã xảy ra khác hẳn. Em không ngờ anh lại tối dạ đến thế. Người ta đã dùng con bé giang hồ làm cái mồi để bắt con thú trong rừng rậm phải bò ra. Anh đã đi săn nhiều lần, hẳn không lạ gì thủ đoạn săn cọp. Sục sạo hàng tuần lễ trong rừng mà chẳng thấy cọp, nhưng chỉ cần treo một đùi thịt nướng thơm phức trên cành cây là sớm muộn cọp phải rời sào huyệt, bò ra. Bò ra để ăn đạn….Con cọp mà người ta đang lừa giết là chúng mình. Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng, em gần anh nên cũng mất trí khôn nếu không em đã ngăn cản, không cho anh liên lạc với nó. Vả lại, mỗi khi em mở miệng anh lại bô bô đổ tội cho em ghen tuông.

Giọng người đàn ông bắt đầu run run:

– Anh hiểu rồi. Từ phút này, anh xin nghe theo em. Anh xin hứa không lẻo hánh đến nhà con bé ấy nữa.

Nữ chủ nhân vẫn cười, tiếng cười kiêu hãnh và khinh bỉ, coi nhân loại bằng nửa con mắt:

– Không nên. Họ muốn chúng ta làm cọp thì chúng ta sẵn sàng làm cọp. Chúng ta sẽ giả vờ chạy ra để tìm mồi. Nhưng thừa dịp chúng ta sẽ thịt luôn bọn thợ săn. Nhớ chưa, chúng ta sẽ thịt luôn bọn thợ săn… Bao giờ thì tàu tới?

– Trước định đêm nay, nhưng sợ không kịp. Nếu kịp, anh sẽ báo tin cho em biết để sửa soạn.

– Thôi, bây giờ em đi ngủ. Có gì cứ đánh thức em dậy.

Giọng người đàn ông có vẻ ngập ngừng:

– Em vừa cho biết là sẽ thịt bọn thợ săn. Nhưng bây giờ em lại đi ngủ. Vậy ai…

Nữ chủ nhân cười xòa, cắt quãng:

– Để em lo liệu.

Nữ chủ nhân cúp điện thoại trước. Tuy nàng xưng em, nàng vẫn có lối nói đàn chị. Từ trước đến nay, nàng thường tự ý cắt điện đàm như vậy. Nhiều khi câu chuyện đang nổ ròn, nàng thản nhiên gác ống nói. Gã đàn ông rung chuông lại thì nàng không thèm nghe. Thái độ trịch thượng này nằm trong kế hoạch chinh phục đàn ông của nữ chủ nhân. Theo nàng, phương pháp nắm đầu đàn ông hữu hiệu nhất là bắt họ luôn luôn lép vế, luôn luôn sống trong tự ti và mặc cảm.

Nữ chủ nhân đứng dậy, khoác áo choàng đen vào người. Nàng mở cửa, bước vào cầu thang xoắn ốc bê-tông, lót thảm đen ngăn tiếng động. Cầu thang dẫn xuống tầng trệt, rồi từ trệt xuống hầm.

Nhưng trước khi xuống hầm phải qua một cánh cửa bí mật, nút mở được giấu sau bức tranh tĩnh vật treo chễm chện trên tường. Nữ chủ nhân đẩy nhẹ khung gỗ sang bên, búc tường sơn đen kịt đối diện từ từ nứt ra làm hai tấm, để lộ một hình trống chữ nhật, vừa cao hai người đàn ông lực lưỡng len vào.

Bên trong là một căn phòng xép. Trên nền phòng có một cái tủ sắt đồ sộ.

Két sắt này được chế tạo theo một công thức riêng, 10 công nhân hùa vào đẩy nó vẫn đứng trơ trơ, không nhích lấy một li, như thể bị chôn sâu vào xi măng cốt sắt. Nhưng nếu biết cách đẩy thì một đứa trẻ lên ba cũng có thể sai khiến cái két khổng lồ bướng bỉnh này một cách rất dễ dàng.

Đó là bấm nút bên hông…

Sau khi bấm nút, cái két lùi về phía sau, không gây ra tiếng động. Người ta có cảm tưởng là cái két được đặt trên bốn bánh xe luôn luôn được chùi dầu mỡ trơn tru.

Cái lỗ vuông vức dưới chân tủ sắt mới là lối đi thực thụ xuống hầm, một nhà hầm khá rộng, có máy thay đổi không khí, và nhiều tiện nghi tân tiến khác, đuợc đào sâu 6 thước dưới đất.

Cầu thang dẫn xuống cũng bằng đá rửa đen sì. Xuống hết 12 bậc là sàn hầm.

Nữ chủ nhân khoan thai vặn đèn dưới hầm. Nhiều ngọn đèn gắn trong tường cùng sáng lên một lượt, tỏa ra một thứ ánh sáng xanh dìu dịu. Nữ chủ nhân tra chìa khóa vào ổ. Một cánh cửa lim dầy mở ra nhè nhẹ.

Sau cửa, một người đàn ông lớn tuổi đang nằm trên giường, vụt ngồi dậy. Chắc người này không ngủ. Hoặc giả ánh đèn bên ngoài lọt vào làm y thức giấc.

Y mặc bộ đồ ngủ bằng lụa Ý trắng, cổ tay đeo đồng hồ Rado vỏ bằng vàng khối, gọng kiếng hai tròng cũng bằng vàng khối. Y là tù nhân nhưng là tù nhân được trọng đãi.

Thấy nữ chủ nhà, y tỏ vẻ mừng rỡ. Nhưng y chỉ ngồi trên giường chứ không khua chân xuống đất tìm giầy, để ra cửa đón khách. Nữ chủ nhân ngồi xuống cái ghế kê ở đầu giường, nhìn người đàn ông bằng cặp mắt thân mật và hiền hậu:

– Chào anh, anh chưa ngủ ư?

Người đàn ông chép miệng:

– Không dám, chào bà. Từ mấy tuần nay, không đêm nào tôi ngủ được.

– Ô kìa, tại sao anh lại xưng hô khách sáo và xa lạ như vậy?

– Bà muốn tôi xưng hô ra sao?

– Em vẫn là em ngày xưa của anh mặc dầu định mạng éo le đã thay đổi hoàn cảnh. Anh giận em lắm, em biết, nhưng anh ơi, nếu anh đi sâu vào cuộc, anh sẽ hiểu em hơn, và sẵn sàng bỏ lỗi cho em.

– Thưa bà, tôi đâu dám giận bà. Tôi chỉ giận tôi thôi. Chẳng qua vì tôi là kẻ còn

giầu tình cảm thích sống với kỷ niệm tuy đã mang hai thứ tóc trên đầu và một trách nhiệm nặng nề trên vai…

– Em quên sao được những ngày chúng mình sống bên nhau… Những ngày ở Mỹ là thời gian hạnh phúc nhất đời em, đến chết em vẫn còn nhớ. Nhìn mắt anh, nghe giọng nói của anh, em biết là anh đang giận em, giận em ghê gớm. Đêm nay, em xuống đây để thành thật xin anh….

– Tha lỗi?

– Vâng. Như em đã nói hồi nãy, xin anh tha lỗi cho em. Em không hề có ý lường gạt anh. Chính vì người ta cưỡng bách em.

– Người ta…người ta….khi nào cô cũng đổ vấy cho người ta cả. Song nếu cô không viết thư cho tôi thi tôi có đến Đài Bắc làm gì! Tôi không có nhiệm vụ xuất ngoại. Vì cô mà tôi bỏ dở công trình thí nghiệm ở Hoa kỳ. Nghe lời cô dặn, tôi đã giữ kín câu chuyện. Không ai biết sự liên lạc giữa cô và tôi. Bây giờ tôi mới thấy dại. Nhưng thôi, sự việc đã đến nước này thì trách móc nhau làm gì vô ích. Tôi cam tâm hứng chịu mọi hậu quả. Cô cứ giết tôi đi?

– Đấy, anh vẫn giận em mà…

– Thì cô muốn gọi thái độ của tôi bằng danh từ nào cũng được. Cô cứ giết tôi đi, tôi sẽ không van xin nửa lời.

– Nếu muốn hại anh thì em đã không xuống đây.

– Nghĩa là cô định thuyết phục tôi.

– Chà, chữ thuyết phục em thấy có vẻ quá long trọng, không thích hợp với mối tình giữa anh và em. Em chỉ xin nghĩ lại….

– Nghĩ lại để theo họ. Cô đừng hòng lung lạc được tôi. Đêm nào tôi cũng vắt tay lên trán, cân nhắc hơn thiệt. Thú thật, nhiều khi tôi cảm thấy cõi lòng rung động, vì dầu sao cô cũng đã mang lại cho tôi nhiều kỷ niệm đam mê…

– Trời ơi, em sung sướng quá! Anh vẫn còn yêu em…..nghĩa là anh đã tha lỗi cho em.

– Vâng, tôi vẫn còn yêu cô, vẫn yêu cô tha thiết như hồi tôi đậu bằng tiến sĩ vật lý, mảnh bằng tiến sĩ đầu tiên ở Tây Đức, cách đây 15 năm.Hồi ấy, tôi mới 40 tuổi. Tôi sống cô đơn đúng 12 năm thì ông trời đã run rủi cho tôi gặp cô.

– Em đố anh, hai đứa mình đã gặp nhau trong trường hợp nào?

– Hừ, em không đố thì anh cũng nhớ. Anh nhớ rõ như mới xảy ra đêm qua. Đêm ấy, em đẹp như như tiên giáng trần, toàn thể đàn ông đều thèm thuồng, toàn thể đàn bà đều ganh tị, đến nỗi buổi dạ vũ long trọng được tổ chức để nghênh đón phái đoàn hoa hậu Âu châu trở thành buổi dạ vũ để nghênh đón em.

Em có đủ điều kiện để lôi cuốn mọi người, em vừa đẹp lại vừa có địa vị xã hội, chồng em là vị bác sĩ thần kinh học nổi tiếng nhất nước Đức thời hậu chiến. Vậy mà khi gặp anh, em đã quên bẵng danh vọng bản thân, quên bẵng anh chỉ là cậu sinh viên mới tốt nghiệp chưa có một chút tiếng tăm, chưa có một đồng mác dính túi. Tứ tuần rồi mà anh mới đậu bằng tiến sĩ, tứ tuần rồi mà anh vẫn nghèo xơ, nghèo xác, em yêu anh kể cũng là một chuyện lạ.

– Đó là tiếng sét ái tình. Tiếng sét kinh thiên động địa đã làm em mất ăn mất ngủ cả tháng trường. Trong thời gian đầu tiên, em cố tình tránh gặp anh để thử lại lòng.Nhưng càng xa em càng thấy yêu anh hơn. Rốt cuộc, em phải lựa chọn.

– Lựa chọn giữa giầu và nghèo, giữa sung sướng và cực khổ!

– Cám ơn anh đã nhắc lại quá khứ. Phải, em đã chọn nghèo, chọn cực khổ bằng cách bỏ chồng. Chồng em không bằng lòng cho em ly dị, em dọa quyên sinh, chồng em cho là em nói đùa, và không riêng gì chồng em, ai cũng tưởng mối tình bồng bột của em chỉ là một sự động cỡn thoáng qua của một thiếu phụ tràn trề sức sống. Đến khi em khóa cửa phòng, mở vòi ga ra ban đêm thì mọi người mới hiểu. Nếu đêm ấy, khu em ở không có đám cháy, khiến chồng em cứ ở lì trong bệnh viện không trở về nhà thì em đã thành người thiên cổ….và ngày nay, em không phải ngồi đây, để tiếc nuối dĩ vãng với anh nữa…

– Chúng mình sống với nhau trong căn phòng nhỏ, anh vừa đi dạy vừa học thêm, còn em phải đi làm. Cho đến một ngày kia…Đến một ngày kia…ngày em hoạt động cho phong trào thống nhất Đức quốc, một phong trào khuynh tả, bị cộng sản lợi dụng làm cơ sở gián điệp. Anh đậu thêm 2 cấp bằng tiến sĩ nữa, và được mời làm việc trong căn cứ thí nghiệm khoa học. Anh nghiên cứu về thái dương học, một bộ môn khoa học mới, nhiều hứa hẹn lớn lao, nên dần dà được nổi tiếng. Chính phủ cử anh làm giám đốc, điều khiển cả trung tâm. Hạnh phúc của hai đứa mình đang nồng nàn thì biển cố xảy ra… Em còn nhớ không? Tài liệu anh mang về nghiên cứu ở nhà được anh cất trong một tủ sắt đặc biệt. Đặc hiệt ở chỗ nó được lắp ống kiếng chụp hình bí mật, người lạ bén mảng tới trong vòng một thước là bị thu hình vào phim nhựa.

Một ngày kia, ống kiếng đã chụp được em đang loay hoay mở cửa tủ sắt. Và anh đã lục vấn em. Em không đáp mà chỉ ngồi khóc. Anh nâng mặt em lên hỏi, và nói rằng chuyện đã qua thì để cho qua nhưng từ nay em đừng tái diễn nữa vì tài liệu của anh liên quan đến vận mạng của Liên bang Tây Đức, của Âu châu, và của cả hàng trăm triệu con người trong thế giới tự do nữa.

Vì yêu em, vì không muốn làm em đau khổ, anh không hề tìm hiểu nguyên nhân hành động của em, hành động mở tủ sắt để lấy tài liệu quốc phòng. Anh đinh ninh được em thông cảm, không ngờ ba ngày sau em bỏ đi biệt tích…Mãi sau này anh mới biết em vượt biên giới sang Đông Đức…

– Em bị người ta bắt buộc.

– Em vẫn có thể ở lại vì nếu phải bảo toàn an ninh cho em, anh đã mang em sang Hoa kỳ. Nhưng em đã ra đi, bỏ anh sống một mình trong suốt 15 năm đằng đẵng, 15 năm không được một mẩu tin tức về em.

– Anh ơi, nếu anh đã từng gia nhập một tổ chức điệp báo thì anh sẽ biết rằng vào thì dễ, nhưng ra thì khó, rất khó. Nhiều khi ra là chết. Người ta lợi dụng kẽ hở trong gia đình em để lôi kéo em vào vòng vây điệp báo. Hẳn anh còn nhớ toàn thể gia đình em đều ở phía đông, chỉ một mình em sinh sống ở phía tây. Người ta bắt mẹ em viết thư cho em, nói em phải hợp tác với tình báo Đông Đức. Bằng không mẹ em sẽ bị bỏ tù, các em trai của em sẽ bị tống qua Tây bá lợi Á. Vào địa vị em, anh sẽ xử sự ra sao? Chắc chắn anh phải nghe lời, dầu biết rằng không nghe cũng khổ mà nghe cũng khổ. Nhưng thà nghe lời họ, kéo dài giai đoạn lâm chung còn hơn không nghe để mẹ bị tù tội, các em của em bị lưu đày…Vì vậy, em không dám yêu cầu anh bênh vực: Em đành đau khổ một mình…

– Tại sao họ bắt em trốn qua phía đông?

– Buổi chiều, em vừa tắm xong, mặc qua áo đợi anh về để cùng đi ăn thì họ gõ cửa. Một nhân viên Đông Đức vào phòng ra lệnh cho em xuống xe, đậu sẵn trước nhà. Em hỏi đi đâu thì y không nói. Y chỉ cho biết là cấp trên cần gặp em tức khắc..Chiếc xe chở em qua Đông Đức, rồi em bị giữ riệt bên ấy, không được quay về, cũng như không được liên lạc thư từ với anh nữa.

Sau này, em khám phá ra lý do, nhưng cũng như lần trước, em chỉ là con cờ vô nghĩa. Người ta kêu em đến văn phòng Tổng giám đốc Sở Do thám Quốc ngoại, và hạ lệnh cho em lên đường qua Đài Bắc dưới một tên giả và lý lịch giả.Thì ra trong 15 năm họ cho em nghỉ ngơi, cho đến khi nào anh nổi tiếng khắp thế giới, đến khi nào công cuộc nghiên cứu về thái dương học đuợc thành công mỹ mãn thì mới bắt em xuất đầu lộ diện lần nữa…

Họ biết anh còn yêu em, anh sẽ không từ chối đề nghị của em. Nhưng khi tái ngộ, em mới thấy lầm. Anh yêu em thật đấy, song anh không thể nhận lời làm gián điệp. Mục đích của họ là dung em móc nối anh, tổ chức anh vào hàng ngũ. Nhưng vì anh cự tuyệt nên họ buộc em phải bắt giữ anh tại đây.

– Anh không tin. Bây giờ em có muốn đảo ngược tình thế cũng chưa muộn.

– Đảo ngược bằng cách nào?

– Phóng thích anh. Chỉ có thế thôi. Cơ quan an ninh Đài Loan sẽ bảo vệ em từng bước cho đến khi em lên phi cơ đi Hoa Kỳ. Chúng ta sẽ chắp nối lại duyên tình dang dở từ 15 năm nay.

Người thiếu phụ mặc áo choàng đen nín lặng, vẻ mặt đăm chiêu. Dường như

câu nói của bạn long đã làm nàng xúc động mãnh liệt. Song chỉ một phút sau, nàng lắc đầu, giọng buồn bã:

– Nghe anh nói, em muốn òa khóc như đứa trẻ. Nhưng anh ơi, em không được quyền chỉ nghĩ đến hạnh phúc cá nhân mà bỏ mặc người thân. Mẹ em còn sống, nhưng nửa người bên trái đã bị bại liệt. Nhờ em, bà được điều trị trong bệnh viện riêng của KGB ở Đông Bá linh. Em không trở về, mẹ em sẽ chết, chết vì sầu muộn một phần, phần khác là chết vì bị ngược đãi. Rồi còn các em trai của em nữa. Chúng đã lớn, có vợ, có con đầy đàn. Toàn thể gia đình em sẽ bị đưa đi miền băng tuyết ghê rợn Tây bá lợi Á. Anh tha thứ cho em.

Đến lượt người đàn ông trung niên lại nín lặng.

Thiếu phụ thở dài rồi nói:

– Em nghĩ chỉ còn một lối thoát duy nhất. Đó là anh cùng đi với em.

– Về phía sau bức màn sắt?

– Anh đừng dùng danh từ có tính cách tuyên truyền ấy. Chúng mình ở đâu là hoa hồng sẽ mọc đầy ở đấy. Chính quyền phía đông long trọng cam kết sẽ cấp cho anh hai tòa nhà. một trong trung tâm thí nghiệm thái dương học, và một ở bãi biển. Mùa hè, hai đứa mình sẽ đáp phi cơ tới bãi biển nghỉ mát. Chúng ta sẽ đuổi bắt nhau dưới làn nước trong xanh, như hồi xưa. Mùa đông, hai đứa mình sẽ lên núi, trượt tuyết. Em đi trước, anh sẽ rượt theo em như hồi xưa, ở trên sườn núi thoai thoải dài hàng cây số, tuyết phủ trắng xóa, giữa những rặng thông xanh ngắt, và bầu trời trong veo không một gợn mây xám. Anh còn nhớ không? Mùa đông năm ấy, chúng ta nặn tuyết thành hình tròn rồi ném nhau từ trưa đến xế chiều không biết mệt, tối đến anh và em đốt củi trong lò sưởi, uống rượu rom, trò chuyện âu yếm với nhau trước khi chui vào mền len ấm áp. Em nhớ mãi lời anh phê hình “quái, anh có cảm tưởng da thịt em là cái máy điều hòa khí hậu, mùa lạnh thì em nóng, sưởi anh khỏi tê cóng tay chân, mùa nóng thì em mát, khiến anh khỏi chảy bồ hôi, và ngủ thẳng một giấc từ đầu hôm đến sáng “…

– Anh vẫn nhớ..nhớ lắm chứ. Anh nhớ nhất những lúc em khỏa thân tắm nắng trong căn phòng gắn kiếng trong vắt tứ phía. Em mặc bộ đồ đen tuyền. À, bây giờ em cũng mặc đồ đen tuyền như 15 năm trước.

– Hồi còn con gái, em chỉ mê màu xanh da trời. Em mê màu đen là vì anh. Anh giải thích cho em hiểu rằng trong các màu của tạo hoá, màu đen được coi là đẹp nhất. Thật ra, em không hoàn toàn đồng ý với lập luận khoa học khô khan của anh, nhưng em thích màu đen là vì anh thích màu đen…..

– Ruột anh đau lại như thắt. Em ơi, anh lo cho số phận của hai đứa mình quá!

– Vậy anh còn trù trừ gì nữa. Anh hãy quyết định ngay đi. Một lần nữa, em xin…

– Anh van em. Anh không thể nào nghe lời họ.

– Nghĩa là anh nhất định không xuống tàu?

– Tại sao?

– Em đã là vợ anh, hẳn em biết rằng anh có một đời vợ trước, và hai đứa con trai. Nàng là người Bạch Nga, theo cha trốn khỏi nước Nga từ sau đại chiến thứ hai. Vì cha nàng dính dáng vào phong trào cách mạng quốc gia Uy-cờ-ren nhằm lật đổ Sít-ta-lin, thiết lập một chế độ cởi mở và công bằng. Khi cha nàng từ trần, nàng trôi giạt sang Tây Đức và kết hôn với anh. Nhân viên ngoại giao Sô-viết đã liên lạc với nàng, thuyết phục nàng trở về quê hương.

Nàng bùi tai trở về. Nàng hẹn một tháng quay lại với anh, nhưng trên thực tế không bao giờ nàng quay lại nữa. Một thời gian sau, anh được tin đích xác là nàng đã bị tra tấn đến chết dưới hầm nhà giam Lubianka tại Mạc tư khoa. Họ giết nàng đã đành, họ còn giết luôn cả hai đứa trẻ vô tội để bảo vệ bí mật. Vì vậy anh đã thề độc là quyết không khi nào nghe theo lời đường mật của cán bộ Sô-viết!

– Trước khác, bây giờ khác. Trước là Sít-ta-lin với chế độ cảnh sát đàn áp. Giờ đây Liên sô dễ thở hơn.

– Anh đã quen với không khí tự do Tây phương..Vả lại, anh không thể hóa giải lời thề với những người thân yêu đã khuất.

– Như vậy họ sẽ cưỡng bách đưa anh xuống tàu.

– Họ có súng đạn, muốn làm gì chẳng được. Nhưng họ chỉ có thể cưỡng bách được thân thể anh, chứ không thể cưỡng bách được linh hồn anh. Nếu bị bó buộc, anh sẽ tìm đến cái chết.

Nữ chủ nhân lại thở dài:

– Em đã cố gắng tột dộ rồi. Anh vẫn bị mê hoặc như hồi nọ. Thôi thì đành vậy…

Người đàn ông cũng thở dài:

– Đành vậy, biết sao! Trước sau anh cũng chết, anh chỉ xin em một ân huệ.

– Anh muốn gì, cứ nói.

– Muốn em ban cho anh một viên đạn vào tim. Được người mình yêu hành quyết còn sung sướng hơn là…

– Không được. Em chỉ là nhân viên tầm thường. Vả lại, em yêu anh, không nỡ nào bắn anh chết.

Người đàn ông nằm xuống giường, quay mặt vào tường:

– Đã khuya rồi, em nên lên phòng nghỉ.

Nữ chủ nhân nhăn mặt:

– Anh đuổi em?

– Đâu dám. Anh chỉ là thằng tù bị kết ản tử hình. Em là cai ngục, có toàn quyền định đoạt sự sống và sự chết.

Một tia giận dữ thoáng qua mắt nữ chủ nhân. Nàng nhún vai định nói một hơi cho hả cơn tức, song lại ngậm miệng. Người đàn ông cũng không buồn thay đổi thế nằm khi nghe cửa lim đóng lại kêu sầm một tiếng mạnh.

Nữ chủ nhân chậm rãi lên lầu hai.

Tuy đêm đã khuya, nàng cũng quay số điện thoại. Nàng trao đổi mật khẩu, và nói chuyện với một người đàn bà.

Một người đàn bà trẻ hơn nàng…

Nhưng lại là cán bộ chỉ huy trực tiếp của nàng…..

° ° °

Văn Bình tiến vào ngõ cụt tranh tối, tranh sáng.

Giữa ngõ là hộp đêm Ngôi sao. Tuy mới ở đầu đường, chàng đã thấy xe hơi đậu hai giãy dài, nối đuôi nhau. Đài Bắc vẫn là thành phố có nhiều người thức khuva mặc dầu chỉ ở trong tầm tấn công của Trung Hoa lục địa.

Chàng đứng lại, tạt vào mái hiên. Tiếng động cơ xe hơi của Shan, người bạn mặt thẹo chung tình, đã nhỏ dần, nhỏ dần rồi nhập vào bầu không khí yên lặng trong đêm khuya.

Văn Bình đi lộn lại đường cũ. Chàng nói vói gã mặt thẹo là đến vũ trường Ngôi sao nhưng lại đến tòa biệt thự trệt cô độc ở đại lộ Chengtu, nơi chàng giúp bà đại tá Tsung hồi chiều.

Đành rằng Shan là kẻ kín miệng, Văn Bình vẫn phải đề phòng. Có thể đối phương đã theo sát xe hơi của Shan. Văn Bình cần gia tăng thận trọng vì từ phút này chàng trở thành một con thú mà hàng chục, hàng trăm thợ săn tìm kiếm, và nguy cho chàng nhất là trong số thợ săn giàu kinh nghiệm xạ thủ này có cả sở công an Đài Bắc mà trên nguyên tắc cũng như trên thực tế vốn là đồng minh thân thiết

của chàng.

Chàng bách bộ thêm một quãng nữa rồi vẫy tắc-xi. Nhưng chàng không dặn tài xế lái thẳng đến đường Chengtu.

Mà là đến đường Hengyang ở kế cận.

Tòa nhà trệt ở cách nơi chàng xuống tắc-xi gần một cay số. Văn Bình đếm bước ung dung trên vỉa hè, miệng phì phèo thuốc lá, một tay đút túi quần. Trông chàng, ai cũng tưởng là khách chơi đêm, khệnh khạng ngoài đường, chưa muốn về nhà, để tận hưởng khí trời trong sạch, không chứa đầy bụi bặm và khói xưởng máy ban đêm.

Chàng đi khỏi tòa nhà trệt trăm thước rồi đi vòng ra phía sau.

Giờ này chắc chắn gia nhân đã ngủ say. Theo lời bà đại tá Tsung, đầy tớ đều đi vắng, trong nhà chỉ có nàng và một nữ tì nhỏ tuổi. Chàng phải giáp mặt nàng để hỏi cho ra lẽ.

Tuy hàng rào cao ngút, chàng không chật vật mấy khi rún mình trèo qua. Trong vườn, cỏ mọc xum xuê như tấm thảm dầy nên chàng đáp xuống êm ái. Cho dầu bên trong là sân gạch đi nữa, chàng cũng không sợ gây ra tiếng động khả nghi. Nhờ thuật Ninjutsu và thần ảo công, chàng có thể biến khối thịt trên 70 ký của chàng nhẹ hẳn như bong gòn. Trong quá khứ, chàng đã nhảy tường hàng trăm lần nên đã rút đúc được khá nhiều kinh nghiệm, chẳng hạn như đánh lừa chó bẹt-giê hoặc hệ thống canh phòng điện tử.

Chàng hút chết nhiều lần, nhưng có hai lần làm chàng nhớ nhất, vì đối phương đã áp dụng những kỹ thuật mới lạ không ngờ.

Lần đầu tiên xảy ra ở Sài gòn, Sài gòn là đất nhà nên chẳng có gì đáng ngại. Như thường lệ, chàng đu lên đỉnh rào rồi trườn người nhảy xuống vườn thật gọn. lẽ ra sau khi chấm đất, chàng phải ngồi thu hình năm ba phút để làm quen với bóng tối và địa hình địa vật. Nhưng vì quá khinh thường, chàng cứ thản nhiên đứng dậy, len lỏi qua những gốc mít xum xuê để thâm nhập vào bên trong.

Chàng đã mang sẵn thuốc trừ cho nên càng khinh thường hơn nữa. Loại thuốc này công hiệu một cách kỳ lạ: chỉ cần rũ một gói bột lớn bằng hai viên thuốc trụ sinh là một mùi thơm nhẹ bay ra, hòa trộn vào không khí, giống chó ngửi phải là cúp đuôi bỏ chạy, con nào gan lì ở lại sẽ bị ù tai, tịt mũi và chảy nước mắt đầm đìa.

Nhưng chủ nhân của tòa nhà khả nghi mà Văn Bình có trách nhiệm đột nhập đêm ấy lại không dùng chó để canh phòng.

Mà là dùng rắn.

Một giống rắn ” lười biếng ” suốt ngày đêm nằm cuộn tròn trên cành cây, trông

như khúc củi mục, không buồn cử động cũng như không buồn đi lang thang trong vườn. Đặc điểm của giống rắn này là thích ăn thịt. Khi động dụng, nó quăng mình từ trên cây xuống, quấn chặt cổ nạn nhân, và trong nháy mắt bẻ gẫy xuơng sống như đứa trẻ bóp cái bánh que trong bàn tay.

Chủ nhân tòa biệt thự lạ lùng ấy nuôi được hai con rắn “lười biếng” để canh gác phía sau, ở phía thường hay bị đạo chích thâm nhập. Vô tình Văn Bình đã lẻn vào nhà bằng lối hậu nên chạm trán với hai tên lính quyết tử máu lạnh nguy hiểm này.

Chàng đang đi loanh quanh giữa vưòn mít phồng cánh mũi để hít thở mùi mít thơm tho (và bất giác nghĩ đến đàn bà đẹp vì giới vui nhộn đã đặt ra từ ngữ “thơm như mít” để tả thần Vệ nữ bằng xương bằng thịt) thì huỵch một tiếng, chàng khựng lại. Con rắn quái ác không biết từ đâu lao tới đã bện thành vòng tròn trên vai chàng, sửa soạn xiết cổ.

Con độc xà tấn công thật nhanh, thật gọn, song Văn Bình đã kịp thời vặn công để tung nó ngã xuống. Tuy nhiên, chàng phải dùng đến atémi cực hiểm mới chặt nát được đầu nó, vì nội lực của chàng khá mạnh nhưng chỉ mạnh đối với con người. Toàn thân độc xà được bọc một lớp vảy cứng đủ sức chịu đựng những đòn sấm sét.

Sau khi giết con thứ nhất, chàng phải đối phó ngay với con thứ nhì. Con này đáng sợ hơn vì là con đực, con cái là vợ nó vừa bị nát đầu. Vì đã có kinh nghiệm với con cái, Văn Bình không vất vả mấy trong việc triệt hạ con đực. Dầu sao thì chàng cũng bị một phen bở vía. Và sau vụ này, Văn Bình tự nguyện sẽ gia tăng thận trọng mỗi khi nhảy tường vào nhà người lạ.

Lần hút chết thứ nhì xảy ra ở Vạn tượng, một thủ đô xơ xác và quê mùa có nhiều xe hơi Mércedes kiểu mới hơn là đường phố, có nhiều phụ nữ bán dâm hơn là phòng trọ. Chàng được lệnh lẻn vào ngôi nhà của một cô gái chơi thượng lưu để chụp trộm một tài liệu mà ông Hoàng nghi là được cất giữ bên trong.

Biệt thự ở Vạn tượng thường được xây cất trên những vùng đất trống xa khu xóm lao động lụp xụp, ban đêm đèn điện lại quá yếu, cảnh sát lại quá ít, hoặc quá tài tử nên giới ăn sương cũng như giới gián điệp hoạt động khá dễ dàng.

Trong nhà không có chó bẹt-giê, chủ nhân lại đang say sưa ở vũ trường Vieng Ratry nên Văn Bình nghênh ngang mở cửa mặc dầu ông Hoàng đã dặn chàng nên thận trọng,

– Coi chừng đấy! Đừng có nghĩ rằng đối phương là những kẻ cẩu thả. Trong nghề này, những việc dễ nhất lại là những việc khó nhất, và dễ chết nhất.

Như thường lệ, chàng đã ừ ào tuân lệnh nhưng lại hoạt động theo ngẫu hứng, cho ông tổng giám đốc là cụ già lẩm cẩm, cẩn thận một cách vô ích.

Chàng không thể ngờ rằng tòa nhà bề ngoài bỏ hoang ấy lại là một pháo đài

điện tử kiên cố.

Thoạt đầu, chàng dùng chìa giả để mở ổ khóa. Mọi cánh cửa dẫn vào căn phòng có tủ sắt đều được gắn hệ thống báo động, gồm những băng bằng chất nhôm nhẹ bề ngang một phân tây, dán dọc theo ô kiếng, Văn Bình ngây thơ tưởng đó là một hình thức trang trí vì giới lắm tiền, nhiều của ở đất Lào đồng khô cỏ cháy thường mời các nhà trang trí hữu danh tây phương tới trần thiết nơi ăn, chốn ở cho sang trọng.

Té ra những băng kim khí này được nối liền với một động cơ điện tử trung ương, gọi là “teleap- proche”, phát minh mới nhất của kỹ nghệ chống kẻ trộm ở Hoa kỳ. Khi chàng mở cửa lẻn vào, chất nhôm truyền lệnh báo động tới động cơ trung ương, căn phòng chứa két sắt lập tức phát ra một luồng hơi độc, ai ngửi phải là ngã lăn ra bất tỉnh.

Chủ nhân ngôi nhà chỉ phạm một lỗi lầm nhỏ. Vì thế Văn Bình mới còn sống đến ngày nay.

Đó là dùng chất hơi độc có mùi thơm như kẹo bạc hà. Văn Bình rất nhậy cảm với mùi bạc hà sau nhiều năm kết bạn thân thiết với thuốc lá Salem. Nên khi ngửi thấy hương vị quen thuộc, chàng vội ngừng tay, suy nghĩ.

Mùi bạc hà mỗi lúc một thêm đậm đà. Tuy chàng chưa vào đến phòng cất tài liệu, chàng cũng đã choáng váng mày mặt. Biết là hơi độc, chàng vội vàng thoát thân ra vườn.

Sau chuyến “ăn sương” thất bại này, chàng không dám nhìn mặt ông Hoàng luôn trong nửa tháng. Ông Hoàng phải cho Lê Diệp tới triệu năm lần, bảy lượt chàng mới vác xác tới.

Trước khi chàng từ giã ông Hoàng ở Đông kinh để qua Đài Bắc tiến hành công tác Hoa Quỳnh, chàng được ông Hoàng tặng một cuốn sách nhỏ viết về nghệ thuật ẩm thực Trung quốc, ông Hoàng tủm tỉm cười, nói với chàng:

– Món ăn tàu nổi tiếng thế giới về ngon, nhưng theo tôi nó không hợp với tì vị của nhân viên điệp báo. Vì nó có quá nhiều chất béo. Vẫn biết anh có bao tử bọc thép, ăn đá cũng tiêu, huống hồ ăn món nhiều mỡ, nhưng dần dà mỡ sẽ làm cho phản ứng thần kinh bị trì chậm, tri khôn và linh tính bị mờ nhạt.

Thì ra ông Tổng giám đốc bày trò tặng sách và bàn bạc về món ăn tàu để khuyên chàng thận trọng!

Vì vậy đêm nay chàng đã thận trọng từng bước trong vườn nhà bà đại tá Tsung. Mảnh trăng đã trốn sau đám mây rộng, lơ lửng dưới nền trời loang lổ. Văn Bình men theo những luống hoa nở ngào ngạt vào ga-ra, rồi từ ga-ra đột nhập nhà trên để lên lầu.

Biệt thự của bà đại tá Tsung là một biệt thự trệt, nhưng được kiến trúc theo lối

mới, trệt mà có lầu, lầu mà là trệt. Phân nửa diện tích nhà chính được dùng làm phòng khách và phòng ăn, muốn vào phòng ngủ phải trèo một trong hai cầu thang thấp ở giữa nhà.

Đèn phòng khách đã tắt. Cầu thang lót thảm ni-lông nên Văn Bình bước lên êm ái.

Chắc bà đại tá đa tình còn thức vì gian phòng phía trái, mặt hậu, đang còn ánh đèn le ói chiếu qua khe cửa.

Văn Bình lục soát khắp nhà, đến khi không gặp được ai chàng mới yên tâm mở cửa phòng ngủ. Thoạt tiên, chàng định dùng sợi thép cứng thay cho chìa khóa. Nhưng chàng vừa đụng vào quả nắm thì cánh cửa đã từ từ mở vào bên trong.

Chàng bàng hoàng trong giây phút vì thấy một xác người nằm sóng sượt sau cửa. Đó là ả nữ tỳ mở cổng cho chàng hồi chiều.

Nạn nhân nằm ngửa, mắt trợn trừng, ngó lên trần nhà. Văn Bình áp tai vào ngực. Tim nạn nhân đã ngừng đập. Chàng cầm tay lên để bắt mạch: mạch máu cũng đã câm bặt.

Tuy nhiên làn da còn hơi nóng. Văn Bình quan sát kỹ lưỡng trước khi quỳ xuống dùng thuật kuatsu để hồi sinh cho nạn nhân. Nhưng chỉ mấy phút sau, chàng chép miệng đứng dậy. Chàng vuốt mắt nạn nhân rồi lấy khăn trắng trải giường đắp kín từ đầu xuống chân.

Suýt nữa chàng quên bà đại tá Tsung.

Nàng vẫn mặt bộ áo màu hồng quen thuộc. Nàng gục đầu trước bàn phấn kê ở góc phòng. Ngọn đèn đêm xanh nhạt chiếu phơn phớt vào khuôn mặt trái xoan gợi cảm của nàng.

Văn Bình lật mặt nàng ra. Mắt nàng lim dim như ngủ. Bình thường đôi mắt này được liệt vào loại khá đẹp. Khi nhắm lại, mi mắt bầu bầu nổi lên những tia máu hồng, giống mắt trẻ thơ. Miệng nàng chỉ hơi mím, dường như để biểu lộ sự ngạc nhiên và uất ức.

Cũng như ả nữ tỳ, bà đại tá Tsung không bị vết thương nào trên người.Văn Bình mở áo coi cẩn thận. Nàng không bị ám sát bằng súng hoặc bằng dao.

Tuy nhiên…

Nhỡn tuyến tinh tế của chàng vừa nhận ra một nốt ruồi son nhỏ xíu ở sau tai. Nốt ruồi không phải nốt ruồi có sẵn. Người lạ có thể lầm, nhưng chàng không thể lầm được. Nhiều năm lăn lộn trong nghề võ thuật đã mang lại cho chàng một số vốn kinh nghiệm và kiến thức chuyên môn phi thường.

Ngày nay, môn điểm huyệt atémi của võ Nhật đã nổi danh trong làng võ lâm thế giới. Nhưng võ tàu đã nổi danh về môn điểm huyệt từ ngày xưa, từ ngày nhu đạo chưa ra đời. Có những võ sư đạt tới cao độ của môn điểm huyệt, đứng xa 5, 10 thước chĩa ngón tay ra giết đối phương dễ dàng như chơi. Nguyên tắc tấn công của họ rất giản dị, nhưng muốn luyện tập lành nghề phải mất hàng chục năm: ấy là vận dụng chân khí vào đầu ngón tay, hoặc ngón chân, rồi hướng thẳng vào huyệt đối phương.

Thấp hơn một bậc là những võ sư chỉ chạm nhẹ đầu ngón tay, hoặc ngón chân vào da thịt là đối phương mất mạng. Chỗ bị chạm nồi lên một vết tròn nhỏ, tụ máu màu đỏ, giống như nốt ruồi son.

Văn Bình vừa nhìn thấy vết tròn màu đỏ này. Nghĩa là bà đại tá Tsung bị một tay cao thủ hạ sát.

Chàng dí ngón tay vào tròng mắt nàng. Tròng mắt hơi cử động. Mừng rỡ chàng bèn kéo toạc chiếc áo lót của nàng ra, rồi ngửa cổ, hít một hơi dài trước khi phóng vào huyệt gần tim nàng một phát atémi nhè nhẹ, nhằm khích động hệ thống tuần hoàn. Chàng đã học được nhiều thế hồi sinh theo thuật kuatsu của nhu đạo. Trong trường hợp nạn nhân chưa hoàn toàn tắt thở, thuật kuatsu có hy vọng cứu sống.

Bồ hôi vã ra đầy trán Văn Bình.

Mải nghĩ đến tính mạng của nạn nhân, chàng quên cả chiêm ngưỡng bộ ngực cân đối và rắn chắc đang phơi bày trước mắt. Nàng đa tình, thay đổi người yêu như thay áo là lẽ dĩ nhiên của tạo hóa. Vì nàng quá đẹp, nàng không thể trở thành vật sở hữu riêng của một người, phương chi người ấy lại luôn luôn sống xa nàng…

Thân hình đều đặn của nàng, cặp giò thuôn dài của nàng, cái lưng ong của nàng, tất cả được hoa công nặn ra cho những trận giao hoan dài vô tận, đêm này sang đêm khác, tuần này sang tuần khác, tháng này sang tháng khác. Văn Bình chưa gặp đại tá Tsung, nhưng dẫu đại tá Tsung là người đàn ông có bắp thịt nở nhất và cứng nhất hoàn vũ thì cũng không đủ sức làm chủ độc quyền….

Nàng vẫn nằm thẳng đơ như khúc gỗ.

Văn Bình lại ngửa cổ lần nữa, thu hết khí trời vào lồng ngực. Phát atémi đã vút ra như tên bắn, kêu hự một tiếng khi chạm vào xương sườn của nạn nhân. Chàng phóng đòn chính xác như người cân vàng bằng cân tiểu li, không quá mạnh để nạn nhân nguy hiểm đến tính mạng, nhưng không quá nhẹ sợ không hiệu lực.

Toàn thân nạn nhân rùng lên một cái.

Văn Bình nắm tóc nàng, giật mạnh:

– Bà đã tỉnh chưa?

Nạn nhân mở mắt he hé, nhưng vội nhắm lại. Chàng cầm tay nàng bắt mạch.

Niềm vui vừa nhú lên trong lòng chàng đã lụi vì chàng cảm thấy mạch nạn nhân bị đứt quãng.

Nghĩa là nàng chỉ có thể hồi sinh vài ba phút rồi tắt thở. Và lần này thì không phép kuatsu nào cứu được nữa.

Văn Bình ấn nhẹ vào huyệt dưới nách, và gọi:

– Bà đại tá Tsung? Ai giết bà?

Dường như nạn nhân đã nhận ra chàng. Vì trên miệng nàng thoáng nở một nụ cười. Nụ cười ngượng ngùng của người biết mình có lỗi. Nàng hối hận vì đã nghi oan cho chàng hồi chiều.

Đột nhiên nạn nhân quẫy mình từ phải sang trái.

Mặt nàng đối diện cái bàn phấn kê ở góc tường. Chắc nạn nhân đã thu hết toàn lực mới có thể quay được mặt vào tường.

Văn Bình nhắc lại:

– Ai giết bà? Bà cho tôi biết. Tôi sẽ báo thù cho bà…..Bà Tsung…..

Miện nàng mở ra, Văn Bình vội vàng cúi xuống. Nàng chỉ thều thào như hơi gió:

– A… a a a…

Văn Bình lay nàng:

– Bà nói gì? Bà ráng nói hết câu đi. Bà Tsung!

Vô ích.

Trong khi đổi thế nằm, nàng đã sử dụng tới sức khỏe cuối cùng còn đọng lại trên đường gân và thớ thịt. Nàng chỉ nói được tiếng “a” yếu ớt và ngắn ngủi rồi ngoẹo đầu.

Văn Bình không tìm cách hồi sinh cho nàng nữa vì biết nàng đã chết hẳn.Chàng hơi ngạc nhiên khi thấy hai bàn tay nạn nhân đều nắm chặt lại và chĩa vào cái bàn phấn.

Chàng đứng lên, nhìn cái bàn phấn, dáng diệu suy nghĩ. Cái bàn này gồm ba tấm gương St Gobain hình chữ nhật dính vào nhau,thành một hình lục lăng dựa trên một mặt bàn thấp. Đó là kiểu bàn phấn mới nhất, giản dị mà đẹp mắt. Toàn thể bàn phấn đều dán phọt-mi-ca màu trắng, trừ hai ô kéo gắn khóa vàng.

Trên mặt bàn, Văn Bình thấy chai lọ bầy la liệt. Từ thuốc tô móng đến sữa trang điểm, tất cả đều do hãng Arden chế tạo. Bút chì xanh vẽ mắt, và mi giả cũng của hãng Arden. Văn Bình mở ngăn kéo. Bên trong toàn ảnh mầu. Ảnh chụp bằng máy Polaroid của Mỹ chỉ có một tấm. Và toàn ảnh đàn bà.

Chàng đặt dưới ánh đèn để xem kỹ từng tấm một. Hầu hết đều đẹp: Một nửa là ảnh chụp với áo quần, dầu chỉ là áo quần sơ sài, hầu như tượng trưng. Nửa còn lại là ảnh khỏa thân trăm phần trăm, chụp những kiểu táo bạo như trong trại khỏa thân theo chủ nghĩa thiên nhiên.

Người trong hình đều là đàn bà phương đông, mắt đen, mũi thấp, thân hình nhỏ nhắn. Văn Bình để ý tới một phụ nữ phương tây duy nhất trong xấp ảnh màu, với đôi mắt rộng xanh biếc và làn môi dày đa tình.

Dáng điệu tự nhiên, chàng bỏ xấp ảnh vào túi. Ở vào địa vị chàng, người đàn ông nào cũng làm vậy. Trừ phi là thày tu (mà vị tất thầy tu của thời đại bít-tơn, hip-py có đủ bản lãnh cưỡng lại thèm muốn xác thịt ghê gớm), chứ trên cõi đất đầy hoan lạc này không phần tử đực rựa có đủ bộ phận trời cho nào lại trả xấp hình khêu gợi vào chỗ cũ, trong ngăn kéo bàn phấn.

Văn Bình không chối cãi điều đó. Chàng không chối cãi là xấp hình quá gay cấn, chàng không thể không chiếm đoạt.

Nhưng còn một lý do khác, không dính dáng đến lãnh vực tình ái.

Đó là lý do nghề nghiệp, một trong các tấm hình màu hấp dẫn ấy vừa mang lại cho chàng chìa khóa để mở cánh cửa bí mật của công tác Hoa Quỳnh.

° ° °

Truớc khi đi ra, Văn Bình không quên tạt qua phòng ăn. Chàng đoán không sai, bà cố đại tá Tsung là người sành ẩm thực. Tủ rượu gồm nhiều loại danh tửu tây phương, và đặc biệt đủ loại huýt-ky.

Tuy nhiên chàng lại nhấc các chai rượu tây ra ngoài để lục lọi ở phía sau. Cũng như nhiều nhà thượng lưu, no cơm ấm cật khác, bà đại tá đã ngâm một chai rượu thuốc sâm nhung thượng hạng. Rượu này làm cho sức khỏe được củng cố và bền bỉ.

Chàng nhìn cái toa bên ngoài đề hai chữ nho “rượu thuốc”, mở nút thè lưỡi liếm thử thấy ngon bèn nốc luôn một hơi. Chủ nhân đã sang thế giới bên kia, không ai biết thưởng thức chai rượu đại bổ này cũng uổng. Như có phép thần, chất rượu vừa ngấm vào bao tử chàng đã tạo ra một cảm giác kỳ lạ, làm cho Văn Bình say mà không say. Tâm thần chàng lâng lâng, cảnh vật chung quanh chàng dường như thơm mùi hoa hồng, và vang ngân một điệu xì-lô êm ái, dịu dàng, vỗ về mơn trớn…

Tiếc rẻ, Văn Bình cặp chai rượu vào nách, mở cửa hông ra ga-ra.

Tội nghiệp cho bà đại tá Tsung…Khu vườn đầy hoa kiều diễm và thơm tho như thế này mà nữ chủ nhân đã chết… Xe hơi trong ga-ra cũng đẹp. Văn Binh ngẩn người trước chiếc Fiat Dino sơn đỏ tuyệt đẹp. Kiểu xe hai cửa này do Ý chế tạo, nổi tiếng trên thế giới về tốc độ hơn 200 cây số giờ, về hình dáng xinh xắn, về cách trang hoàng bên trong sang trọng và quý phái. Nó còn nổi tiếng về giá tiền nữa. Tính trung bình, nó đắt gấp hai xe hơi Hoa kỳ 4 cửa.

Khi ngồi vào trong, Văn Bình còn ngửi thấy mùi hương thoang thoảng. Mùi hương tóc và da thịt của bà đại tá Tsung. Có lẽ nàng mới lái đi đâu về. Bình sinh Văn Bình vẫn ưa đàn bà lái xe đua. Người lái xe đua là người thích tốc độ, đàn bà lái xe đua thường là những kỳ quan về tình ái. Họ thường là những người vợ luôn luôn đói khát yêu đương, phải tìm trên chiếc xe phóng nhanh một số cảm giác mạnh…

Nếu nàng còn sống, Văn Bình có thể mời nàng xuống biển. Đêm trăng mà hai người bơi bên nhau dưới nước thì thật thần tiên. Tắm xong, hai người dìu nhau lên bãi cát, nằm ngắm vầng trăng thẹn thùng đang rút vào đám mây màu sữa. Chiếc Dino rộng rãi cũng nằm gần đó. Khi cần, chàng khỏi phải mất thì giờ. Trong xe có sẵn máy điều hòa muốn lạnh hoặc muốn nóng chỉ bấm một cái nút nhỏ.

Nàng sẽ mang theo cái mền len màu hồng (mầu hồng vốn là màu nàng ưa thích). Chàng sẽ kèm thêm hai chai rượu đại bổ. Hai người sẽ hú hí bên nhau đến gần sáng…

Văn Bình thở dài.

Tất cả chỉ là ảo mộng.

Biệt thự của bà đại tá Tsung vắng tanh vắng ngắt. Trừ chủ nhân và ả nô tỳ gục chết bên trong, trong tòa nhà rộng thênh thang không còn ai nữa. Kể cả bẹt-giê giữ nhà cũng không, Văn Bình cũng không nghe âm thanh quen thuộc của côn trùng ban đêm.Dường như tạo vật đã rủ nhau nín lặng để tiễn đưa người đẹp về cõi chết.

Văn Bình lái chiếc Dino ra đường lớn.

Lát sau, chàng đã đến vũ trường Ngôi sao.

Chàng lái qua thấy đèn trước cửa còn sáng. Chàng không đậu lại mà cứ tiếp tục cho xe chạy. Cách hộp đêm một quãng khá xa chàng mới quẹo trái, đút đầu vào một hẻm tối chật hẹp, rồi xuống xe lái ngược về đường cũ.

Chàng cũng không đi qua cửa trước của vũ trường…Kinh nghiệm cho chàng biết là phần nhiều vũ trường—nhất là vũ trường có thành tích bất hảo — đều có ít nhất hai cửa, và cửa hậu luôn luôn mở, có sẵn người gác, cũng như cửa tiền. Hộp đêm Ngôi sao chắc chắn phải có thêm cửa hông để hoạt động được thêm kín đáo.

Văn Bình đi vòng ra phía sau vũ trường. Chàng thấy một cái hẻm bề ngang chưa được một thước, chỉ vừa lọt người đi. Bên trong le lói ánh đèn.

Trời đã khuya. Nhưng đối với thế giới hưởng lạc, lấy đêm làm ngày thì đang còn sớm. Phía trước đường, một số dạ khách đã ra về, song một số khác bắt đầu đến. Họ thường có hẹn với chiêu đãi viên hoặc vũ nữ. Họ đến trước giờ hộp đêm đóng cửa để kéo người đẹp đi ăn (Đài Bắc vốn là thiên đường của sự ăn đêm, cũng như Hồng kông, Tân gia ba, Cựu kim sơn, Chợ lớn, những nơi có nhiều Hoa kiều lập nghiệp), hoặc về một phòng khách sạn vắng vẻ mà ấm cúng.

Văn Bình bước thật nhanh vào hẻm. Chàng sợ vệ sĩ của chủ nhân hộp đêm gác cổng hậu nhìn thấy.

Cũng may, ngọn đèn vàng lủng lẳng ở tận cuối hẻm. Hẻm này khá sâu, vũ trường Ngôi sao tọa lạc ở chính giữa.

Chàng bám ống máng gần nhất, đu lên trên, nhẩy xuống một sân thượng tối, đầy rêu. Sau khi bị trượt chân suýt ngã, chàng mới biết sân thượng bị bỏ hoang từ lâu. Có lẽ chủ nhà là cặp vợ chồng già, suốt ngày ở tầng trệt, không khi nào lên gác lộ thiên đón nắng, đón gió và đón trăng.

Trăng đêm nay không sáng lắm song cũng không đến nỗi xấu xí. Trời trăng mêng mang như thế này, cặp kè giai nhân thì bất hủ… Văn Bình bỗng tiếc nuối Sài thành hoa lệ. Có lần ở đại lộ Trần hưng Đạo, chàng trèo lên mái, rượt bắt một tên đạo chích, tạt qua sân thượng một tòa nhà cao lêu nghêu thì gặp người đẹp nằm dài trên ghế xích-đu tắm… trăng rằm.

Tắm, theo nghĩa thông dụng, là cởi bỏ quần áo, vì tôn trọng luật lệ kiểm tục, người tắm phải che thân, ít ra cũng có hai miếng vải. Kẻ táo bạo mặc bi-ki-ni một miếng ở Âu châu bị bắt bỏ bót là chuyện thường, nên mỗi khi muốn trở về với chủ nghĩa thiên nhiên thuần túy người ta phải tắm lén lút.

Cô gái Việt chàng gặp đêm đó biểu diễn một lối tắm mới mẻ. Nàng lấy bình phong ni-lông quây tròn, chỉ chừa một phía nhìn ra khu đất trống, để tắm trăng. Và để hưởng thụ toàn vẹn tia sáng mơn trớn của Hằng nga, nàng đã vứt bỏ hết quần áo.

Tên trộm chỉ cách chàng một quãng ngắn. Chàng đu qua bao lơn thì thấy hắn. Chàng nhẩy xuống mái bằng kế cận là thộp cổ được hắn.

Song gã ăn sương đã được trời cứu (đúng hơn, được thần Vệ nữ cứu).

Văn Bình sửa soạn tấn công thì luồng nhỡn tuyến soi mói của chàng đụng phải làn da trắng sữa của người đẹp đang nằm bất động trên ghế vải…

Nghe ồn, nàng nhỏm dậy và tình cờ phô bày kho báu ngàn vàng. Thấy người lạ, nàng la lên. Nhưng không hiểu vì sự cầm xúc tột độ làm tiếng la bị mắc kẹt trong cuống họng, hay vì nàng cố tình lí nhí kêu cứu trong miệng, nên người đẹp chỉ “trời ơi” được một tiếng nhỏ. Và trong thoáng mắt Văn Bình đã đến gần.

Chàng quên cả việc đuổi bắt tên trộm, mà chỉ nghĩ đến việc đuổi bắt tình yêu đột ngột hiện tới. Và tối hôm ấy, mọi người chờ mỏi con mắt cũng chẳng thấy Văn Bình từ trên mái trèo xuống. Không tóm được đạo chích là chuyện thông thường, nhưng không trở về thì quả là chuyện lạ lùng. Sợ chàng sẩy chân bị té trọng thương, hoặc bị tên trộm đánh lén, bạn bè của chàng bèn lần lượt leo lên tìm kiếm. Họ lục lọi suốt một tiếng đồng hồ mà không tìm ra tăm hơi trong khi tên trộm đã bị bắt, bị tống lên xe cây chở về quận cảnh sát.

Cùng đi với Văn Bình tối hôm ấy tới buổi tiệc là Lê Diệp. Anh chàng sếu vườn ngồi yên với chai cocacola, không góp bàn vào việc tìm kiếm. Mãi đến khi thiên hạ mệt lử, ngồi thở phì phì thì Lê Diệp mới phá lên cười một tràng dài.

Một thiếu phụ ngồi bên vốn có cảm tình với Văn Bình vội quay lại, quắc mắt, giọng oanh the thé:

– Hừ, bạn thân của anh mất tích mà anh còn ngồi cười một mình được ư?

Lê Diệp càng cười to hơn.

Lát sau chàng mới giải thích:

– Các bạn chưa hiểu hắn bằng tôi. Hắn chạy trên mái còn nhanh nhẹn và an toàn hơn các bạn chạy trên đất bằng. Võ nghệ như hắn thì may ra trời đánh hắn mới bị thương tích. Chẳng qua hắn chưa về vì hắn bị kẹt đấy thôi.

Mọi người nhao nhao:

– Bị kẹt? Thế nào là bị kẹt?

Lê Diệp đáp:

– Chắc trong khi nhảy vào ban công nhà người ta hắn ta đã gặp một cô gái mũm mĩm nào đó. Nàng mời hắn và hắn đã bằng lòng ở lại. Hắn thường có tính hay quên kỳ quặc như vậy.

Sự thật hôm ấy đã xảy ra đúng như Lê Diệp dự đoán. Cô gái khỏa thân tắm trăng đã bị tiếng sét ái tình làm cho xởn vởn ngay trong phút giáp mặt đầu tiên. Văn Bình xà đến hôn nàng thì nàng không chống cự, trái lại nàng còn ôm cứng thêm nữa. Và Văn Bình đã được người đẹp mời vào dưới sân thượng.

Chàng hàn huyên với giai nhân đến gần sáng mới về. Chàng ra về chẳng phải vì nàng xua đuổi nhưng vì nàng bám riết quá nên chàng sợ. Hỏi ra mới biết nàng đã có chồng và chồng nàng là anh chàng ghen tuông khét tiếng, chàng không dám ở lại thêm một phút nào nữa. Nàng hỏi tên và chỗ ở, Văn Bình nín khe. Chàng đòi về, nàng làm dữ bắt chàng ở lại khiến chàng hoảng hồn và phải tặng nàng một atémi nhẹ, cho nàng ngủ mê đi.

Năm tháng sau, chàng lại đụng nàng trên đường Tự do. Nàng đang ngự xe hơi Hoa kỳ kiểu mới, bóng tưởng soi gương được, lại gắn máy lạnh tối tân, có tài xế mặc đồng phục trắng, đội cát- két viền vàng khi thấy chàng lững thững trước thư quán Xuân thu vội ra lệnh cho tài xế đậu bừa xuống. Xe hơi của nàng choán gần hết đường, phía sau lại đầy nhóc xe cộ, nhưng tài xế sợ bà chủ đã lái ẩu vào lề. Báo hại cho hai chiếc xe hơi bị móp vè, cảnh sát phải mất gần một giờ để làm biên bản tai nạn lưu thông.

Hoảng hốt, Văn Binh trốn một mạch vào hẻm Eden. Chàng khôn ngoan chui vào tiệm bán sách truyện Anh ngữ ở cuối hẻm. Cửa hàng bé nhỏ được gắn máy lạnh, lại có giá sách che khuất nên chàng đứng núp bên trong có thể nhìn qua cửa kiếng để quan sát bên ngoài.

Chàng đinh ninh trốn thoát, không ngờ người đẹp đã khám phá ra. Câu nói đầu tiên của nàng dội xuống như thùng nước lạnh:

– Anh bỏ chạy hả? Tệ thật!

Chàng đành đấu dịu:

– Không phải vậy. Đêm ấy, anh lỡ dại, về nhà anh hối hận mãi.

Nàng cười:

– Hừ, hối hận mà vẫn béo trắng ra! Em tìm anh suốt mấy tháng ròng, anh có biết không?

– Biết. Nhưng chúng mình xa nhau thì hơn…dù sao em là đàn bà có chồng. Luân lý cũng như luật pháp không cho phép…

– Kệ em.

– Kệ em sao được. Con người sống có xã hội. Trừ phi em là Lỗ bình sơn sống một mình trên hải đảo thì muốn làm gì cũng được. Chồng em phăng ra thì chết một cửa tứ. Rồi thừa phát lại đến làm vi bằng, rồi anh và em vác mặt ra hầu tòa….

– Yên chí. Từ nay trở đi hắn không thể ghen tuông được nữa…

– Thôi, anh không dám.

– Đúng là anh muốn chạy làng….anh định phụ bạc em thì bảo để em lo liệu!

– Không…không, anh chỉ sợ chồng em biết.

– Đã bảo là yên chí mà…Chồng em bị nạn phi cơ ở Hương cảng mấy tháng trước, mộ đã xanh cỏ từ lâu rồi. Chỉ sợ phía anh thôi.

– Anh cũng bị kẹt.

– Sư tử Hà đông?

– Phải, vợ anh cũng là một cây ghen tuông. Bà ấy dọa tạt át-xít vào bất cứ cô gái đẹp nào cặp kè với anh ngoài đường..

– Vợ anh dữ nhỉ?

– Vâng, dữ có tiếng. Chẳng thế mà mang danh sư tử Hà đông! Anh xin khất em đến dịp khác.

– Để chờ anh đầu độc vợ rồi hai đứa mình sống chung với nhau cho đến ngày răng long, đầu bạc…

– Đâu dám! Anh đâu phải là kẻ giết người.

– Vậy anh ngoan lắm! Anh đưa em về nhà anh đi. Em muốn gặp vợ anh.

Tay chân Văn Bình bắt đầu bị luống cuống. Tuy chàng đã có con trai. Quỳnh Loan vẫn không phải là vợ chàng. Trên giấy tờ cũng như trên thực tế, chàng độc thân. Quỳnh Loan đang sống với cháu Văn Hoàng ở cao nguyên. Căn phòng chàng đang ở là của Mộng Kiều.

Người đẹp muốn đến thăm, nhưng thăm ai bây giờ? Và biết đưa nàng về xó xỉnh nào bây giờ?

Văn Bình bèn đứng đực mặt. Người đẹp mỉm cười (chao, cái cười mà đến kiếp sau chàng vẫn còn nhớ), di ngón tay tháp bút trắng nõn vào má chàng, nói dằn từng tiếng nặng chình chịch như quan tòa tuyên án đại hình:

– Thôi, em xin ông. Em xin lậy ông cả tơi lẫn nón. Ông chưa có vợ mà dám vỗ ngực là có vợ. Trước kia, ông đã nói dối như vậy mấy chục, mấy trăm lần rồi?

Văn Bình van vỉ:

– Em tha lỗi cho anh. Vì hoàn cảnh…Chẳng qua vì hoàn cảnh nên anh phải che giấu sự thật.

Nàng bẹo má chàng như người lớn bẹo má con nít:

– Biết rồi, ông ơi…Ông lại sắp thở ngắn, than dài là nghề nghiệp bắt ông phải thất hứa với đàn bà.

Văn Bình trố mắt sửng sốt:

– Té ra em đã biết nghề nghiệp của anh!

Nàng hích cùi tay vào ngực chàng:

– Thưa anh vâng. Đêm ấy, anh hú hí xong là bỏ đi một nước, không thèm ngó ngàng đến người ta nữa. Sáng hôm sau, một con bạn thuật lại anh bỏ đám tiệc nhảy lên mái nhà bắt trộm em mới biết. Nhưng em vẫn chưa biết rõ tên anh. Phải khổ công điều tra thêm mấy tuần lễ nữa. Thì ra anh là đại tá Văn Bình. Em đã tức điên lên. Giá anh là người đàn ông khác thì em sẽ bỏ qua, nhưng anh lại là Z.28 nên em quyết làm cho đến nơi, đến chốn.

– Bây giờ em định xử ra sao? Vả lại, anh tự nghĩ là chưa phạm lỗi nào với em cả. Gặp em, chúng mình ưa nhau rồi yêu nhau, thế thôi, em không hề căn vặn anh, cũng như anh không hề hứa hẹn.

– Phải, anh chưa phạm lỗi nào cả. Bắt người ta chờ đợi gần nửa năm trường, ốm lên ốm xuống mà còn chưa cho là đắc tội ư? Hu hu, hu hu…

Nàng òa lên khóc như cô bé con nhà giàu làm nũng với mẹ. Hơn thế nữa nàng còn ôm ghì lấy chàng.

Một lần nữa, Văn Bình đầu hàng vô điều kiện.

Chàng đành năn nỉ:

– Đừng khóc nữa em! Em muốn gì, anh xin chiều ngay lập tức.

Đang mếu máo, người đẹp vụt cười tươi như hoa hồng trong nắng xuân:

– Anh phải đi chơi với em.

Ổng tổng giám đốc ra lệnh gọi chàng đến trụ sở để nhận công tác mới. Xưa nay ông Hoàng rất ghét cộng sự viên đến chậm. Lần ấy, không những Z.28 đến chậm 15 phút hoặc nửa giờ, trong phạm vi đến chậm thường lệ, mà đến chậm một ngày, một đêm.

Nghĩa là đến chậm đúng 24 tiếng đồng hồ…

Báo hại cho Lê Diệp và biệt đội an ninh phải tá hỏa đi tìm kiếm khắp Sài gòn. Đêm ấy, họ lục lọi các hộp đêm, và các nhà quen, lữ quán mà điệp viên dại gái Z.28 thường ngụ lại. Không thấy, họ đến các bót cảnh sát, sợ Văn Bình say rượu, nổi máu anh hùng, đánh thiên hạ bươu đầu, sứt trán, bị đưa về quận, như đã nhiều lần xảy ra trong quá khứ (có lần Văn Bình xuất trình thẻ quân nhân mang cấp bậc đại tá hiện dịch ra song không ai tin, và còn cho chàng là xài giấy giả nữa). Cũng không thấy, Lê Diệp đành phải điện thoại cho ban thường trực của các bệnh viện. Vì cũng có thể địch bắn lén hoặc gài mìn vào xe hơi của Văn Bình, từng nổi tiếng là bạt mạng, không hề lưu tâm đến các biện pháp tự vệ tối thiểu.

Tối hôm sau, trong khi cuộc lùng kiếm được mở rộng trên toàn quốc, Văn Bình lò dò bước vào trụ sở Mật vụ. Chàng bị ông Tổng giám đốc “xài” cho một trận nên thân.

Chưa hết, Lê Diệp còn kể lại vụ mất tích 24 giờ của Văn Bình cho đoàn nữ binh Biệt vụ nghe để họ về hùa với nhau đặt vè lục bát, vẽ hoạt họa để chế nhạo chàng nữa… Trong suốt mấy tháng, hễ thấy mặt chàng là Nguyên Hương hỏi mát:

– Kính chào đại tá. Đại tá đi tắm trăng về đấy à?

Từ đó, Văn Bình không dám đi lang thang trên mái nhà ban đêm nữa, sợ gặp người đẹp khỏa thân tắm trăng….

° ° °

Nhưng trăng đêm nay trên trời Đài Bắc lại chất chứa một sự khêu gợi khác thường. Những tia sáng dịu dàng như trăm ngàn bàn tay thiếu nữ măng tơ vuốt ve da thịt chàng.

Chàng lẩm bẩm một mình:

– Không khéo gặp đàn bà tắm trăng thi khổ!

Ghét của nào, trời trao của ấy, ngạn ngữ ngàn xưa ấy rất đúng với Văn Bình khi đó. Chàng sợ gặp đàn bà tắm trăng thì ngay trước mặt chàng, “dầy dầy sẵn đúc một tòa thiên nhiên”, một cô gái xinh như mộng Lưu Nguyễn, đẹp như bài thơ Lý Bạch, đang nằm thưỡn trên ban-công, cũng phô diễn những đường cong khích động như cô gái trên đại lộ Trần Hưng Dạo năm xưa ở Sài gòn.

Chàng vội bước tréo sang bên trái để tránh gặp gỡ.

Tuy nhiên, khối óc chàng sai khiến thân thể né tránh, còn trái tim chàng lại giữ riệt tay chân lại, không cho cử động nữa.

Đang nằm dài, cô gái vụt ngồi dậy, và kêu lên nho nhỏ. Nàng kêu bằng giọng lạ lùng, nghe như tiếng rên rỉ của tân giai nhân trong đêm động phòng hoa chúc:

– Anh đấy hả?

Nàng gọi bằng tiếng Quảng đông. Trước kia, giá Văn Bình đừng học tiếng Quảng đông cho rồi. Đối với chàng, thì tiếng Quảng cũng như tiếng Pháp, tiếng Anh, tiếng Đức…Chàng nói làu làu, và có thể cãi cọ bằng tiếng lóng nữa. Vì vậy, chàng hiểu, ngay cô gái tắm trăng muốn gì.

Nhưng chàng đứng lặng không đáp. Chàng không dám đùa nghịch với phụ nữ đẹp lắm trăng nữa.

Nàng lại cất tiếng:

– Em bắt đền anh đấy. Đợi từ khi trăng lên đến giờ, em lạnh phát cóng cả người…

Chết rồi…hồi chiều gặp bà đại tá Tsung, Văn Bình cũng rơi vào trường hợp tương tự. Bà đại tá nói là đợi chàng. Giờ đây cô gái tắm trăng cũng đợi chàng. Dĩ nhiên cô gái đang đợi tình nhân, chứ không phải đợi chàng. Nhưng thần May mắn đã xui chàng đến trước.

Chàng tháo lui cũng không kịp nữa vì nàng đã đứng dậy, giang rộng hai cánh tay ngà ngọc, tiến lại phía chàng đứng từ nẫy đến giờ không cựa cậy như cây cột trồng trong bê-tông. Thân hình của nàng nhỏ nhắn, chỉ vừa cái trét tay của chàng. Nếu được ôm nàng rồi bị ăn đòn bò lê bò càng, Văn Bình cũng sẵn sàng, huống hồ…

Vì vậy chàng cũng giang tay ra. Nàng ngã trọn vào lòng chàng.

Nàng la rú trong sung sướng:

– Anh ơi, em yêu anh quá!

Nhưng nàng đã buông chàng ra, ngước nhìn chàng bằng cặp mắt đen láy. Chàng hôn nàng quá cuồng nhiệt nên nàng sực tỉnh. Nàng lắp bắp:

– Té ra…không phải…

Văn Bình kéo nàng lại:

– Tôi không xứng đáng để cô yêu hay sao!

Nàng nép vào ngực chàng, run như tàu lá trước cơn gió lớn:

– Anh thả em ra rồi đi ngay đi…Vị hôn phu của em biết được thì chết.

Văn Bình hôn nàng lần nữa rồi đu lên sân thượng, xuống bao lơn nhà bên. Chàng vừa khuất vào bóng tối thì phía sau có tiếng chân người, rồi tiếng gọi của đàn ông:

– Anh đây, em có đấy không?

Tiếng cô gái khỏa thân tắm trăng đáp nhát gừng:

– Có…đây. Chờ…anh mãi.

Hú vía!

Chỉ chậm độ 30 giây đồng hồ nữa là mọi việc hỏng bét. Gã đàn ông nổi trận lôi đình sẽ gây sự với chàng. Bắt buộc chàng phải dụng võ. Chàng sẽ ráng nhẹ tay nhưng biết đâu nhẹ tay cũng giết chết người đàn ông chàng không quen tên, biết mặt, và không thù oán.

Mùi son còn thơm thoảng trên môi chàng. Cô gái tắm trăng đa tình ghê! Lát nữa, xong việc chàng sẽ tạt qua phòng nàng. Chàng tin chắc nàng sẽ nằm đợi chàng trên bao lơn. Nàng sẽ kiên nhẫn đợi suốt đêm. Đêm nay chàng không ghé, đêm mai nàng cũng sẽ đợi…

Chàng vượt qua một mái nhà thấp nữa, rồi rún mình hạ xuống cái sân nhỏ trồng hoa bên hông vũ trường. Sân này có hai lối, lối dẫn xuống bếp và lối mở vào văn phòng của Kao Cheng, chủ nhân hộp đêm Ngôi sao.

Văn Bình vừa chấm đất thì có tiếng oang oang:

– Ai?

Một gã đàn ông mặc quần chẽn, áo thun lá, mập thù lù, đầu trọc tếu, khệnh khạng bước ra, cất tiếng hỏi. Văn Bình đáp lại bằng ba ngón tay chụm lại, chọc thẳng vào giữa cái đầu tròn xoe và bóng nhẫy như quả dừa, phát atémi của chàng kêu phụp một tiếng như thể dao đâm vào phó mát. Gã mặc áo thun lá quay lông lốc trên nền nhà.

Văn Bình cúi xuống, lượm khẩu súng lục Béretta, xem xét bì đạn rồi bỏ túi. Một viên đạn đã nhẩy vào nòng, nạn nhân chỉ lảy cò là nổ. Hắn đã sửa soạn bắn nếu không nghe thấy tiếng trả lời, nhưng Văn Bình lại trả lời bằng hành động thần tốc nên hắn trở tay không kịp.

Kể ra chàng không muốn giết người. Vì đêm nay nhiều người vô tội đã bị giết. Nhưng nếu chàng không hạ độc thủ thì gã mặc áo thun lá đã ghim viên đạn 9 li ác ôn vào thân thể chàng.

Thở dài nhè nhẹ, Văn Bình kéo xác còn nóng của nạn nhân vào góc, để dựa lưng vào tường, đầu hơi gục xuống, như thể ngủ gật. Chàng hy vọng sẽ hoàn tất công việc tại vũ trường trước khi thi thể gã mặc áo thun lá được tìm thấy.

Chàng nhìn chung quanh một vòng. Nếu hộp đêm Ngôi sao chỉ là nơi dạ lạc như các hộp đêm khác thì đã không có người gác đeo súng ở cửa sau.

Chắc hẳn họ đang chờ…

Chờ ai?

Có thể họ đang chờ Văn Bình…

Và họ là ai?

Trước mắt Văn Bình, màn bí mật đã được vén kéo một phần. Chàng đến vũ trường Ngôi sao để tìm hiểu thêm trước khi đánh ván bài quyết định.

Chàng ngần ngừ một giây đồng hồ trước hai cánh cửa. Cả hai đều bằng gỗ lót cao-su ngăn tiếng động. Trên cả hai đều có cái lỗ nhỏ bằng lỗ đồng xu: đó là ống kiếng đặc biệt, nhìn qua nó người trong phòng có thể thấy rõ người đứng bên ngoài. Tuy cái lỗ nhỏ xíu, người trong phòng lại quan sát được rõ ràng như thể nhìn qua khung cửa sổ lớn. Hệ thống “mắt thần” này được thông dụng tại nhiều thủ đô trên thế giới.

Chàng chưa định sẽ mở cánh cửa nào thì bất ngờ có tiếng chìa khóa tra vào ổ, tiếng giày lộm cộp rồi cánh cửa bên hữu được mở đẩy ra ngoài. Lại một tên mặc quần chẽn áo thun lá khác…

Nhưng tên này không mập thù lu và đầu trọc tếu như tên thứ nhất bị Văn Bình giết gọn ngoài vườn. Hắn lại gày nhom, tóc tai bườm sườm, không thua các anh hùng bít -tơn Anh quốc, e có lẽ còn bườm sườm hơn họ nữa.

Đi đôi với sự gày nhom là bề cao kinh khủng của hăn. Lê Diệp đã cao, song hắn còn cao hơn nhiều. Tòm tèm hắn cũng phải cao gần hai thước. Đối với người tây phương thì hai mét đã là sếu vườn hiếm có, huống hồ hắn lại là người tàu trăm phần trăm nên khi nhìn thấy hắn, Văn Bình có cảm tưởng hắn là một quái nhân.

Đúng hắn là quái nhân vì Văn Bình thấy trên người hắn toàn lông lá. Lông ngực hắn đen sì lòi ra ngoài áo thun lan xuống bụng, lên đến cổ, còn lông nách hắn thì rậm rạp như tóc đàn bà. Hắn có cánh tay dài lê thê, xuống sát đầu gối.

Văn Bình đã nghe nói nhiều đến một giống người thiểu số cao lêu nghêu cánh tay dài hơn cánh tay vượn, lông lá xồm xoàm, sinh sống ở miệt Hoa-Bắc. Giống người này như người Mèo ở xứ ta, nghĩa là leo trèo rất giỏi, sức chịu đựng cũng rất bền bỉ. Nhưng họ khác người Mèo ở chỗ diện mạo họ lại quá xấu xí.

Và nhất là nếp sống bộ lạc man rợ của họ. Từ xưa nếp sống của họ vẫn không thay đổi.Họ chuyên săn thú ăn thịt, chứ không ăn ngũ cốc. Không có thú rừng thì họ săn đồng loại. Gặp mãnh thú như cọp họ không cần dùng cung tên hoặc dao búa.

Mà chỉ dùng hai cánh tay trần.

Gân tay và xương tay của họ cứng như được trui luyện bằng thép. Bàn tay họ giáng xuống có thể làm hùm lớn trọng thương. Nhiều khi chỉ cú đầu tiên là hùm bị vỡ sọ.

Giống người này bị người Hán và người Mãn châu đánh đuổi và giết hại gần hết. Số còn lại độ 5, 6 ngàn trốn vào rừng, lên các đỉnh núi cao nhất, quanh năm phủ đầy tuyết lạnh ở giáp giới Hoa Bắc. Thế giới văn minh đã quên họ.

Tuy nhiên, sau năm 1948, năm Hồng quân Trung hoa vượt qua sông Dương tử, Mao trạch Đông lên nắm quyền hành ở Bắc kinh thì nhóm tàn chủng này đã được nhắc tới.

Nhắc tới trong một bản báo cáo mật của quân khu Hoa Bắc đệ lên văn phòng Trung ương Đảng. Vì tính cách đặc biệt của nó, bản báo cáo này được chuyển cho tổ chức tình báo Trung ương, sau này là Quốc tế Tình báo Sở, cơ quan tối cao tình báo và do thám của chế độ Trung hoa cộng sản. Bản báo cáo đã đề cập tới những khả năng thiên phú của bộ lạc tóc dài trên đỉnh núi Hoa Bắc,và đề nghị xử dụng vào mục đích nâng cao nền võ thuật Trung quốc. Thật vậy, muốn có bàn tay cứng rắn để đánh atémi như trong nhu đạo hoặc điểm huyệt như trong quyền Thiếu lâm thì phải tập luyện công phu trong nhiều năm liên tục. Mau nhất cũng 5 năm. Đạt tới mức thượng thừa phải từ 15 đến 20 năm.

Trong khi ấy bộ lạc tóc dài đã có bàn tay khác thường ngay từ thuở oe oe mới chào đời. Đứa hài nhi đang bú sữa mẹ có thể bóp nát trái quít, hoặc bất cứ vật nào để trong bàn tay nó. Có đứa bóp nát được cả cục đá nhỏ nữa. Nếu người ta khám phá ra nguyên nhân bộ lạc tóc dài có bàn tay sắt thì khoa học võ thuật có thể bị đảo lộn hoàn toàn.

Quốc tế Tình báo Sở bèn cử một phái đoàn gồm toàn võ sĩ chuyên về nội công lên Hoa bắc để tiếp xúc với chủng tộc tóc dài. Phái đoàn lừa bắt được một vài người mang về thị trấn khảo sát, song sau nhiều tuần lễ theo dõi, họ không tìm ra đặc điểm nào khiến bộ lạc tóc dài có võ công thiên phú kỳ lạ, ngoại trừ bàn tay khô đét chỉ gồm da bọc xương, như thể da xác chết ướp thơm ở Ai cập cổ xưa.

Phái đoàn bèn cho xích tay, xiềng chân những người này lại, nhốt trong xà-lim vô cùng kiên cố, đợi máy bay đưa về thủ đô Bắc kinh. Đêm ấy, tù nhân bẻ tung giây sắt, dùng ngón tay đào đất từ trong xà-lim ra ngoài, chui lên và giết luôn bọn lính gác đang ngồi chơi bài trong phòng thường trực, rồi trốn vào bóng tối dày dặc.

Đến gần sáng, người ta mới khám phá ra vụ vượt ngực táo bạo và hi hữu này.

Cuộc đuổi bắt được phát động ngay, và kéo dài trong nhiều tuần lễ song không mang lại kết quả. Bọn quái nhân tóc dài đã thoát khỏi các nút chặn của công an và quân đội, vội vã trốn lên núi cao. Nhờ trời lạnh, mùa đông tuyết băng bao phủ, bọn quái nhân ung dung sống trên đỉnh núi.

Mùa xuân năm sau, khi trời ấm áp, một lữ đoàn Hồng quân được lệnh vây kín rặng núi tình nghi có bộ lạc tóc dài ẩn trú…

Một trận ác chiến diễn ra vì bọn quái nhân không chịu đầu hàng. Trừ một số ít thanh niên khỏe mạnh mở đường máu xuống đồng bằng, hầu hết đã bị tàn sát. Về phía Hồng quân, sự tổn thất về nhân mạng cũng rất lớn vì trong các cuộc phục kích và đánh sát lá cà, bộ lạc tóc dài đã dung bàn tay cứng như thép bẻ gãy khí giới và bóp chết binh sĩ của Bắc kinh.

Sau đó, một phái đoàn y sĩ giải phẫu thi thể quái nhân phúc trình rằng bộ lạc tóc dài có ở trong máu một chất kỳ lạ, chất này chưa được các nhà khoa học trên thế giới đặt tên. Phái đoàn giải phẫu tạm mệnh danh chất này là kim huyết…

Chất kim huyết ở lẫn lộn với các huyết cầu có tác dụng trui bồi cho da thịt được cứng rắn. Điều mà các y sĩ Trung Hoa cộng sản chưa giải thích nổi là tại sao chất kim huyết chỉ tập trung vào hai bàn tay, chứ không tản mát khắp châu thân mặc dầu hệ thống tuần hoàn của quái nhân vẫn hoạt động điều hòa và bình thường, nghĩa là máu đỏ từ tim ra cơ thể, và máu đen từ cơ thể lộn về tim để trở thành máu đỏ lại…

Nếu kim huyết chỉ dồn ở bàn tay không theo máu đen về tim thế tất ở cườm tay quái nhân phải có cái lọc, hoặc cái khóa nào đó để giữ kim huyết lại.

Nhưng sau nhiều cuộc giải phẫu kỹ lưỡng, các y sĩ không tìm ra một bộ phận nào lạ. Tạo hóa đã chơi khăm các nhà giải phẫu, các bình đựng kim huyết đột nhiên trở thành bình đựng một chất nước bầy nhầy. Kim huyết đã biến thể dưới tác động của ánh nắng mặt trời.

Cuộc khảo sát của chế độ Bắc kinh đành bị đình chỉ.

Văn Bình mừng rơn.

Nếu quả tên mặc quần chẽn và áo thun lá đang đứng như một cây phướn đám ma cao ngất ngưởng ở trước mặt chàng là quái nhân Hoa Bắc thì đây là cơ hội ngàn năm một thuở cho chàng thử võ công.

Những người biết chuyện đã thuật lại rằng quái nhân tóc dài có gân tay rất cứng nếu để cho họ đánh trúng thân thể thì dầu được luyện tập công phu trong nhiều năm cũng bị thịt nát, xương tan. Vì vậy, Văn Bình lùi sát vào tường cho quái nhân khỏi nhìn thấy, đồng thời chuẩn bị phóng atémi tấn công.

Nhưng gã tóc dài nhìn thấy.

Mắt hắn long lên sòng sọc, tưởng như đồng tử sắp nhảy ra ngoài. Hắn thở phì phì như ống bễ thợ rèn, song không kêu lên. Chắc hắn vững tin vào sức mạnh kinh thiên động địa nên không cần cầu cứu.

Văn Bình tiến đến gần quái nhân, xuống tấn theo quyền Thiếu lâm cánh tay vươn ra trong thế thủ của Thái cực đạo. Quái nhân cũng vươn cánh tay dài như cánh vượn ra, nhưng không phải để giữ thế thủ.

Mà là tấn công chớp nhoáng.

Và sấm sét.

Bàn tay hắn xòe ra, phạt xuống bả vai Văn Bình. Chàng nghiêng người tránh đòn, chân trái tung ra ngọn độc cước. Tuy cao lêu nghêu, quái nhân lại cử động lẹ làng, ngọn độc cước của Văn Bình vừa vèo ra, quái nhân kéo ngay một bàn tay xuống đỡ.

Bàn tay hắn xòe rộng gần bằng cái quạt đã che kín mục phiêu trên ngực mà Văn Bình nhắm đánh.

Rầm một tiếng mạnh!

Văn Bình có cảm giác như trời đất đang quay cuồng chung quanh, và chân chàng vừa húc vào bức tường bê-tông.

Quái nhân vung bàn tay khác ra, chụp lấy đầu chàng. Trong chớp mắt, thần Chết đã ở gần kề Văn Bình hơn bao giờ hết….

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s