TRẠI TẬP TRUNG

Yêu thương tặng con tôi,
Thiên Hương và Thiên Sơn,
đã lặn lội vào rừng già Sa-Ác
và rừng lá Hàm-Tân thăm nuôi bố tù.

Duyên Anh

 

Phần thứ nhất:

VÀNG ỬNG NGẬM NGÙI
(Sa Ác TH6)

 

-1-

Có kẻ mê giang-hồ đến độ thèm được lột da mình bọc ngoài chiếc va-ly của một lãng-tử nào đó, khi mình chết. Để mãi mãi ngày tháng là những chuyến đi. Nếu ông ta tiên-tri cuộc đời sẽ còn những tuyến đường Moscou – Goulag Sibérie, Suối Máu – Phước Long, Kà-Tum- Bù-gia-mập, Long Giao – Sơn Ca, Trảng Lớn – Hà Nam Ninh, Gia Lai – Vĩnh Phú, Washington – Hà-nội Hilton, Nhà Mình – Sở Công An, Đề-lao Gia Định – Chí Hòa…. di chúc của ông ta sẽ khác hẳn.

Và nếu ông ta biết cuộc đời sẽ còn những chuyến xe lửa ngừng lại chẳng cần kéo còi. chẳng cần đợi đến ga nhỏ, lãng-tử chạy xuống vũng trâu đầm, múc nước uống ừng-ực ngang họng súng AK canh chừng, ông ta, chắc chắn, sẽ chán chuyện lãng-du. Ở thời đại tôi và trên quê-hương tôi có những chuyến đi đã trùm lấp định-nghĩa vô-định và thống-khổ mà tôi không sợ lộng-ngôn bảo rằng đó là những chuyến đi định-nghĩa làm người. Rồi sẽ có hồi-ký của một tù-nhân viết chính-xác về chuyến đi Sài gòn – Hà nội được chào mừng bằng những trận mưa máu đá củ đậu củ khoai. Rồi sẽ có hồi-ký của một tù-nhân viết chính-xác về chuyến đi Sài gòn – Phú Quốc trên chiếc tầu HQ 501 khởi hành từ bến Tân Cảng.

Chẳng bao giờ anh được đi chiếc 501
Ba nghìn tù-nhân bó gối dưới hầm ngồi
Chuyến tàu đi Phú Quốc
Chuyến tàu đi theo định-mệnh nổi trôi

Chẳng bao giờ anh được đi chiếc 501
Ba nghìn tù-nhân một nắp nhỏ thông hơi
Chuyến tầu đi Phú Quốc
Chuyến tàu đi thám-hiểm vực đời

Chẳng bao giờ anh được đi chiếc 501
Ba nghìn tù-nhân ba triệu tấn mồ-hôi
Chuyến tầu đi Phú Quốc
Chuyến tầu đi rúng-động đất trời

Chẳng bao giờ anh được đi chiếc 501
Ba nghìn tù-nhân chờ từng giọt nước rơi
Chuyến tầu đi Phú Quốc
Chuyến tầu đi cháy tiếng khô lời

Chẳng bao giờ anh được đi chiếc 501
Ba nghìn tù-nhân ba nghìn thú vật rã rời
Chuyến tầu đi Phú Quốc
Chuyến tàu đi định-nghĩa con người

Duyên Anh, (Thơ Tù, Nam Á Paris-1984)

Thơ không đủ định-nghĩa con người và sức chịu đựng phi thưởng của nó 2 ngày 3 đêm bó gối nhịn đói, nhịn khát dưới hầm tầu há mõm. Hãy hình tưởng một nắp thông hơi thường xuyên những họng súng chúc xuống đe-dọa. Hãy hình tưởng tù-nhân chen lẩn cầm ca đi hứng nước nhỏ giọt ăn bao nhiêu đấm đá của “chiến-hữu” – vì xô đạp lên người ngồi – mới đến “nguồn hạnh phúc”, và uống một hơi, không dám uống hết đem về. Về chỗ khốn-khổ như rời chỗ, nước đã bị tung-tóe hết. Hãy hình tưởngg 2 ngày 3 đêm ỉa đái không tụt quần. Và, hãy hình tưởng, khi ghé bờ, cái tầu há mõm ra, phân tiểu cũng ùa ra. tù-nhân “đổ bộ” theo phân; có người ngụp lặn cho sướng, ngoi đầu lên phân cả đống! Đó là sự thật rực-rỡ dưới ánh mặt trời mà bất cứ người tù Việt Nam nào tham dự chuyến đi trên hai chiếc tầu HQ 501 và HQ 503 đều không phủ-nhận. Có lẽ, người ta sẽ đính chính. Rằng, nó còn thê-thảm gấp bội. Nỗi đau đớn chưa ngưng ở đó.

Hai ngày ba đêm dưới hầm tầu
Mắt còn thèm ngủ bụng đói lả
Thân xác còn như cái mền tã
Sáng sớm vác xẻng đào giếng khơi
Đất biển không chìu theo ý người
Càng sâu bao nhiêu càng lún rã
Mấy nghì tù-nhân khát khô cổ
Nhìn nhau muốn nói chẳng nên lời
Hạnh-phúc bây giờ là nước lã
Đội đá, lên núi hề đội đá
Đường đi- về ba cây số ngàn
Năm trăm tù-nhân xếp thành hàng
Đi thì hồn khói hun bốc toả
Về thì hồn cháy thiêu tàn-tạ
Chuyến đầu cố gắng vượt gian-nan
Chuyến sau gối mỏi đầu đau ran…

Duyên Anh, (Thơ Tù, Nam Á Paris-1984)

Những kẻ chịu đựng hình phạt của thù hận một cách can-đảm và kiên- nhẫn, khinh-thường hình-phạt của thù-hận, bước qua nó mà đi mà tồn-tại để tặng nhân-loại một định-nghĩa làm người, nhân-loại đã không thấy hình ảnh tuyệt-vời của những kẻ ấy ở những cuốn sách viết về họ, nói về họ. May mắn, nhân-loại không đọc nổi chữ Việt Nam, thành ra, họ chưa nhăn mặt biết tù-nhân chính-trị của chúng ta “ăn giun, ăn cắp cháy, ăn vụng thịt, ăn tranh cơm với heo”! Hơn mười năm nghẹn-ngào của dân-tộc, của tù-nhân lao-cải. nhân-loại đã được mở mắt những điều gì? Một cái xó xỉnh đề lao Gia Định khu Cl của Đoàn văn Toại chưa biết ghẻ tù thêu dệt ngu-xuẩn, bịa đặt gian-dối đã rằng “Goulag Vietnamien” ư? Muốn viết quần-đảo tù-ngục cộng-sản ở Việt Nam sau 1975, phải viết những trại tập-trung lao-động khổ-sai tại Sông Bé. Những đảo Bù Nho, Bù-gia-mập. Phú Văn, Phước Long, Hớn Quản, Đồng Soài đã tạo thành một quần đảo biểu tượng. Có trại lao-cải của đàn bà tư-sản, vượt biên. phản-động. Có trại lao-cải của vũ-nữ, gái điếm. Có trại lao-cải của thanh-niên xì-ke, ma-túy. Có trại lao-cải của con nít. Có trại lao-cải của phế-binh. Có trại lao-cải của sĩ-quan chế-độ cũ. Có trại lao-cải của trộm cướp… Chỉ cần một cuốn sách viết chính xác về Quần-đảo Sông Bé, thế-giới sẽ thẩm-định giá trị phát triển của nền tù ngục cộng-sản Việt Nam. Nhưng chúng ta rất thờ-ơ trong sứ-mạng gây xúc-động và phẫn-nộ cho thế-giới. Chúng ta có nhiều tù-nhân khắp miền đất nước đang hiện diện ở Mỹ, ở Pháp, ở Úc. Chúng ta, thay vì có nhiều người viết hồi-ký tù ngục, càng nhiều càng tốt – để các nhà văn lớn cô- đọng, tổng-hợp, nhuận-sắc văn-chương thành một Goulag Vietnamien vĩ-đại, đúng nghĩa. làm bàng hoàng thế-giới – thì chúng ta lại chỉ có vài cuốn. Thành thử, Goulag Vietnamien mới là cái đống rác Đoàn văn Toại, nơi đó, tù-nhân đầy đủ tự-do lập kiến-nghị và ký tên vào kiến-nghị! Thành thử, đại-diện của tù-nhân cải-tạo tư-tưởng ở Việt Nam, nhân danh tù-nhân đi họp-hành, kiện-cáo, tranh-đấu cho tù-nhân, toàn các vị ở Tây 30 năm, các vị di-tản sang Mỹ trước 30-4-1975. Bọn cai-thầu nỗi khổ này chịu khó vác bị gậy đi ăn mày sự hứa hẹn của thiên hạ. Chúng nó đã trúng mối, cả danh lẫn lợi. Và tù-nhân của chúng ta vẫn vô-vọng ngày về Thể thì tiếng nói đích-thực của thống-khổ đâu? Tiếng nói không ai dám ngờ-vực của các ngục-sĩ đâu? Họ đã bị chụp mũ “ăng ten” cả rồi. bị chụp mũ từ chân ướt chân ráo đặt lên đất quê người. Họ chán nản, im lặng. Để mặc cai thầu độc-quyền đấu thầu nỗi khổ. Như bọn thống trị luồn cúi đã loại bỏ những người yêu nước chân-tình để độc-quyền làm đầy-tớ cho ngoại-ang, ở đất nước chúng ta. Cho nên tôi nghĩ: những chuyến đi của tù-nhân Việt Nam trên quê-hương mình, những chuyến đi định-nghĩa con người: định-nghĩa làm người như chuyến đi Sài gòn – Phú Quốc, ngay cả trong chúng ta, vẫn còn mơ hồ, xa lạ.

Chuyến đi của tôi tầm thường. Năm mươi tù-nhân công-kênh hành-lý nhồi nhét trên chiếc xe vận-tải chuyên chở heo, bò. Không ai dám ngồi. Tất cả đứng. Bạn tù của tôi báo cáo lộ trình. Xe đã qua cầu xa-lộ. Qua ngã tư Thủ Đức – Trường Võ Bị. Nhiều anh em hồi -hộp chờ qua cầu sông Đồng Nai. Không, nó rẽ lối đi Vũng Tầu. Qua Long Thành, nó chạy thẳng. Một anh mau miệng:

– Mình vào Xuyên Mộc đất đỏ, các ông ạ!

Chúng tôi bắt đầu khó chịu vì con đường này đã bị lồi-lõm nhiều, không kịp tu sửa. Sau ngày 30-4-1975, đường-xá kể như không tu sửa. Nhà nước xã-hội chủ-nghĩa đẻ ra chính-sách “dưỡng đường”nhưng ngay ở thành-phố Hồ Chí Minh “rực rỡ tên Người”, chính sách “dưỡng đường” đã trở thành “chuyện tiếu lâm Việt- cộng”. Người ta múc nhựa đun sôi đổ đầy ổ gà rồi rắc cát lên. Xe hơi chạy qua, lôi luôn cả tảng nhựa’! Có nhiều con đường được “dưỡng” bằng cát xịt nước. Nắng Sài gòn đã làm cát bay tung mù phố-phường. Đường thành-phố đã “tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên xã-hội chủ-nghĩa”, quốc-lộ và tỉnh-lộ còn tiến vọt theo “ba luồng sóng cách-mạng” bạo hơn.

Xe tới thị-xã Bà Rịa thì rẽ vô con đường đất. Tốc-độ giảm xuống. Nó ì ạch nuốt những bậc thang. Chúng tôi dồn lên, xô xuống liên tục. Nằm chuồng gà lâu ngày, chúng tôi đâm ra yếu ớt. Lục phủ ngũ tạng đảo lộn với đường-xá gập-ghềnh. Nhiều anh em ói mửa. Bụi đỏ luồn qua những khe bạt hở khiến chúng tôi ngộp thở. Cộng thêm mùi ói mửa chua lòm. Chúng tôi choáng-váng mặt mày. Chẳng ai bảo ai, cả làng ngồi hết. Ngồi lên cả hành-lý. Ngồi lên cả những bãi nôn mửa mà chịu đựng xe nhồi. Khi sức nóng hấp chúng tôi. bắt mồ-hôi chúng tôi tuôn chảy ướt nhèm quần áo, xe qua Bầu Lâm, Bà Tô. Hai địa danh này, ít nhất. có bốn trại lao-cải dành cho các ông trong ủy-ban xã, ấp, khóm, phường của chế-độ cũ, dành cho những người vượt biên thiếu may-mắn, dành cho tù-nhân hình-sự chế-độ cũ và “đệ-tử tiên nâu tiên trắng”. Ngọc Thứ Lang, tên củng cảm Nguyễn Ngọc Tú, hỗn-danh Tú Lệch, dịch giả Bố Già tài tình. đã chết nơi đây vì can tội “chống chủ-nghĩa mác-xít bằng chủ-nghĩa choác-hít”.

Đúng trưa. xe chở sức-vật tới đích. Nó ngừng ở sân phía ngoài trại. Tấm vải bố che kín phía sau được lột lên và của sắt mở tung. Chúng tôi đứng dậy chờ lệnh.

– Tôi gọi tên anh nào, anh ấy hô có rồi nhẩy xuống khẩn-trương. Rõ chưa?

Chúng tôi đồng thanh đáp:

– Rõ.

Ba lô may ở Chí Hòa máng hai vai, tay xách giỏ thực-phẩm, chúng tôi chuẩn bị một “saut tù”, chắc chắn, lâm ly hơn “saut đêm” của thi sĩ Hà Huyền Chi.

– Trần Duy Cát.

Đằng Giao len ra và nhẩy…dù! Người lính nhẩy dù bất-đắc-dĩ ngã chúi . Vệ-binh ôm súng cười khoái-chí. Gã công-an dục:

– Ngồi dậy khẩn-trương! Ra xếp hàng chỗ kia!

Đằng Giao đứng dậy thật nhanh, sửa lại hành-lý và bước đến chỗ ngồi chỉ-định.

– Nguyễn Mạnh Côn.

Tác-giả Ba người lính nhẩy dù lâm nạn… lâm nạn thật sự. Đằng Vân Hầu (1) không thề đằngvân giá vũ. Cái tước hầu của anh đã bị xóa bỏ. Anh ta ném hai cái bị xuống trước rồi “bông nhông” sau. Như vậy, anh ta chỉ bị…khuỵu

– Vũ Mộng Long.

Tôi nhẩy…kiểu thế vận hội lao-cải! Kiểu này khác Tango, Rumba, Valse. Càng khác Twist, Disco. Có lẽ nó là kiểu à gâu gâu. Nhưng mà vẫn ngã bổ nhoài. tôi ngậm-ngùi đứng dậy và lặng-lẽ bước đến ngồi cạnh Đằng Giao. Huyết-thống tổ-tiên tôi không có “anh-hùng-tính” và tôi đã không có tinh-thần “uy-vũ bất-năng- khuất”. Phải chi tôi di-tản qua Mỹ trước 30-4-1 975 hay chẳng hề bị tù-đầy, tôi sẽ viết báo chửi tôi khiếp-nhược đầu-hàng cộng-sản”. Phải hét lớn: “Bố quốc-gia đây, bố đếch nhẩy, các con cộng-sản làm gì bố thì làm”, rồi có bị bọn chăn trâu cắt cỏ, bị đục sưng phổi, dập lá lách, tôi sẽ phong tôi làm anh-hùng tù ngục. Tuy nhiên, sẽ không anh nào gửi về an-ủi tôi một lọ dầu cù-là.. . Mỹ! Vậy thì tôi hèn và tôi khước-từ làm anh-hùng đào-ngũ ngồi viết sử đấu-tranh.

– Ông thầy, ngậm ngùi quá hả? – Đằng Giao thầm-thì hỏi tôi.

– Hãy còn xanh, nó sẽ chín vàng, chín vàng ửng, vàng như ước mơ.

Cái động đầu tiên của trại tập-trung đấy. Nó là tiếng ngã huỳnh-huỵch. Chúng tôi đã biến thành chìa khóa mở một kho cười no-nê cho đám công-an coi tù. Trẻ nhẩy. Già nhẩy. Màn nhẩy dù kéo dài cả tiếng đồng-hồ. Chúng tôi ngồi giữa nắng chang-chang, đầu trần. Nô-lệ thời Trung-cổ còn sướng hơn chúng tôi. Công-an thì tà-tà. Công việc tiếp-nhận tù có chi gấp-gáp. Nắng làm chúng tôi hoa mắt và khát khô họng. Chúng tôi há hốc miệng, chứ chưa thè lưỡi thôi. Lệnh bắt chúng tôi ngồi yên tại chỗ. Tôi bỗng tương-tư Chí Hòa. Châm ngôn của tù-nhân cộng-sản là “Nơi sắp đến khốn nạn hơn nơi đã đến. Ngày mai thê thảm hơn hôm nay”. Biết thế mà vẫn thèm thay chỗ, đổi không khí và rồi chán ngán.

– Ông thầy!

– Gì?

– Mình bỏ xác tại đây mất.

– Bậy nào.

– Mình tù lâu quá rồi.

– Một vụ nghỉ hè trong đời sống. Vài tháng nữa, mình về. Hè của học trò ba tháng. Hè của tù-nhân ba năm.

– Ông lại tin nó.

– Tôi tin tôi. Vẽ ra niềm tin mà sống chứ.

Công-an đã kê bàn trước mặt chúng tôi. Họ bắt chúng tôi kê-khai lý-lịch. Từng người lên bàn. Đứng nghiêm và đứng cách xa cán-bộ ba thước. Luôn luôn, cộng-sản cảnh-giác cao độ. Lớn cảnh-giác lớn. Bé cảnh-giác bé. Cảnh-giác mọi lãnh-vực. Cảnh-giác làm việc và cảnh-giác rong chơi. Bài học cảnh-giác được thi-hành triệt-để. Từ trên xuống dưới. Học tập dài dài. Thời chiến và thời bình. Cảnh-giác địch và cảnh-giác ta.

Chúng tôi lại phải làm công việc kê khai tên tuổi, chỗ sinh, chỗ sống, nghề-nghiệp cũ: can tội gì. bí bắt ngày nào, cơ-quan nào bắt vân vân… Tôi đã khai đến nát bét lý-lịch. Có một lần. ở khu Cl đề-lao Gia Định, Hai Phận đã làm tôi sửng-sốt về tội-trạng của tôi. Họ cầm tờ khai lý-lịch của tôi đứng ngoài cửa phòng gọi tôi:

– Vũ Mộng Long.

– Tôi là Trưởng khu, anh phải dạ vâng.

– Dạ.

– Anh can tội gì?

– Nhà văn chế-độ cũ.

– Sai. Anh viết lại đi.

– Thưa ông Trưởng khu, viết thế nào ạ?

– Vũ MộngLong can tội Duyên Anh!

Hai Phận vĩ-đại đã tặng cả phòng một trận cười khi hắn khuất dạng. Tôi cũng cười ra nước mắt. Về sau, suy nghĩ kỹ tôi mới thấy Hai Phận vĩ-đại hơn Hồ Chí Minh. Vũ Mộng Long có tội gì đâu. Duyên Anh gây ra đủ thứ tội Thế nên, tôi đã yêu Vũ Mộng Long mà ghét Duyên Anh thậm tệ. Ở đây, ở cái trại tập-trung khổ-sai lao-động tôi chưa biết tên này. Người ta chấp nhận Vũ Mộng Long, bút hiệu Duyên Anh, can tội nhà văn phản-động, dẫu hồ-sơ Trung-ương ghi rõ tôi can tội “Đảng viên Duy Dân trốn trình-diện học-tập, trong tổ-chức chống phá cách-mạng hiện-hành”.

Phải mất thêm hai tiếng đồng-hồ phơi nắng nữa thủ-tục nhập trại mới của chúng tôi mới xong. Rồi chúng tôi được tách thành hai nhóm và được dẫn vào trại, chỉ-định nơi ăn chốn ở.

o O o

Trại tập-trung khổ-sai lao-động này có Hòm-thư mang bí số TH6 Xuyên Mộc, Đồng Nai. Nghĩa là trại TH6 thuộc huyện Xuyên Mộc, tỉnh Đồng Nai. Riêng huyện Xuyên Mộc đã vượt chỉ tiêu 6 trại lao-cải. Cả tỉnh Đồng Nai nhân lên bao nhiêu lần?

TH6, khi tôi tới, chưa nhốt tù-nhân sĩ-quan Quân-lực Việt Nam Cộng-hòa. Mà chỉ toàn sĩ-quan cảnh-sát đặc biệt, cảnh-sát tư-pháp, sĩ-quan, hạ sĩ-quan Phủ đặc-ủy Trung-ương tình-báo, vài ông thẩm-phán và tù-nhân hình-sự đa-số mang tiền-án du-thủ du-thực dưới chế-độ cũ. Khoảng mười dẫy nhà mái tôn, nền đất, tường ghép bằng cây dài, to cỡ cánh tay, chôn sâu chẳng mấy hứa hẹn an-ninh cho những tay thích trốn trại. Mỗi dẫy nhà chứa trên dưới 150 tù-nhân gồm 3 đội. Nhà “kiến trúc” hai tầng, do tù-nhân xây cất.

Tầng dưới phải khom lưng, đứng thẳng người sẽ đụng đầu. Sàn gác” cũng ghép bằng cây nhỏ còn nguyên vỏ, nằm ê ẩm mình mẩy. Một cái cầu tiêu ba chỗ ngồi đại-tiện phía sau và ở ngay trong nhà. Cầu tiêu “kiến trúc” rất ly-kỳ xứng đáng đoạt giải Roma, nếu dự thi như kiến-trúc-sư Ngô Viết Thụ. Ngó xuống lỗ cầu sẽ thấy cái máng gỗ chứa phân. Không nên để nước tiểu và nước rửa đít chảy vào máng chứa phân. Như thế, nước tiểu sẽ ngấm qua phân, rỉ xuống đất qua kẽ hở của máng chứa phân và tạo thành mùi thối. ..trường-kỳ. Trường-kỳ kháng-chiến nhất-định thắng-lợi nhưng trường-kỳ thối sẽ hủy diệt khứu-giác. Do đó, “kiến-trúc-sư” tù của Đội xây cất mới dùng tôn mỏng sáng-chế một kiểu ống máng rất hiện-thực xã-hội chủ-nghĩa. Ống máng nầy nghiên-cứu kỹ-lưỡng trước khi thiết-kế. Nó vừa đúng tầm phóng ngắn của “vòi nước”. Nhỡ phóng mạnh: văng ra ngoài không sao, đừng ào ào xuống máng chứa phân là hợp tiêu chuẩn cải tạo. Ống máng chạy về phía sau lưng tù-nhân ngồi đại tiện thì rộng ra để tù-nhân thiếu giấy chùi, có thể, đem bình nước, ca nước lết lùi vài bước mà rửa hậu-môn. Nước rửa và nước tiểu trôi qua cái ống mà tuôn vào cái hồ chứa có nắp đậy, bên ngoài bức tường cây ghép. Nước tiểu sẽ dùng để tưới rau xanh. Đội rau xanh sẽ lo múc gánh đi, mỗi sáng. Và, mỗi sáng. khi các đội đi lao-động hết, trừ những ai khai ốm nằm nhà, tù-nhân thuộc Tổ vệ-sinh kéo các thùng phân đã đầy có ngọn ra, xếp lên xe cải-tiến. Xe cải-tiến là thứ xe ba-gác, lốp đặc. Miền Nam đã chê bỏ từ lâu. Nhưng, ở miền Bắc, xe cải-tiến là cuộc cách-mạng vĩ-đại nhằm giải-phóng đôi vai phụ-nữ nông- thôn. Phụ-nữ nông-thôn miền Bắc gánh gồng vất-vả. Đảng sáng-tạo xe cải-tiến. Thay vì gánh, phụ-nữ kéo xe cải-tiến oằn vai như bò, như ngựa vậy. Để hợp nếp- sống văn-hóa mới, tù-nhân đậy lá chuối kín các máng chứa phân. Rồi anh ta xối nước rửa máng tiểu, rửa phân dính quanh lỗ cầu, rửa sàn cầu. Anh ta lại kê máng chứa phân mới đã lót sẵn mạt-cưa. Trại có xưởng cưa, tha hồ nhiều mạt. Công việc xong xuôi, anh ta kéo xe phân tới kho phân của đội rau xanh mà đổ. Rồi kiếm suối rửa xe, rửa máng. Rồi chọn khúc suối trên nước chảy róc-rách mà tắm gội, xát xà-phòng thơm vài lần. Rồi kéo xe về trại. Rồi nghỉ ngơi. Rồi lo ca cóng cải- thiện bữa ăn. Một ngày lao-động có một giờ, nhàn quá.

Tù-nhân đặc-trách vệ-sinh nhà-cầu nhiều đặc-quyền, đặc-lợi Có quyền đi vung-vít trong, ngoài trại. Có quyền nhận riêng thực-phẩm của nhà bếp để nấu nướng riêng. Có quyền nấu nướng hai bữa. Có thể xin rau của Đội rau xanh và câi cá, mò cua, xúc tép . Có thể nuôi gà nữa. Chỉ thiệt thòi một tí là mũi sẽ điếc, sẽ hết đánh hơi thấy “thoảng hương thơm một da thịt đàn bà!.

Hai tù-nhân tình-nguyện làm công việc phu đổ thùng là hai vị thẩm-phán của Tòa Thượng-thẩm Sài gòn. Nhưng phu đổ thùng, bạn biết chưa? Lịch-sử đổ thùng như vầy: Trước cách-mạng 19-8-1945 , dân chúng Hà nội (2) đã chơi cái trò đại-tiện kiểu đại-tiện của tù-nhân ở các trại lao-cải. Dĩ nhiên, nhà xí thuộc phạm vi gia đình nên nó văn-minh hơn. Năm giờ sáng, các ông phu đổ thùng chở thùng mới vào thành phổ bằng đôi bồ có nắp đậy và gánh hai thùng phân ra tận ngoại-ô bán cho nông-dân. Thuở ấy, làm nghề thầu phân béo bổ, lại không thất đức như thầu vé chợ. Nhà thầu thuê phu đổ thùng. Phân bắc quý lắm. Bởi vậy, có khối bà địa-chủ, khuyên vàng, xà-tích rủng-rỉnh mà dám xắn ống tay áo lên cao, đưa cánh tay trần chạm đáy thùng xia khoắng kỹ xem thùng xia nhiều giấy hay ít để định giá. Sau cách-mạng 19-8-1945, phu đổ thùng vẫn đeo nhãn hiệu phu đổ thùng. Mãi sau cuộc cải-cách ruộng đất 1956, vô-sản vùng lên dữ-dội thì phu đổ thùng hóa kiếp “công-nhân vệ-sinh đặc-trách” đổ thùng. Phùng Quán tả sự ghê rợn của đổ thùng:

Tôi đã gặp
Chị em công-nhân đổ thùng
Yếm rách chân trần
Quần xăn quá gối
Run lây-bẩy chui vào hầm xia tối
Vác những thùng phân
Ta thuê một vạn một thùng
Có người không dám vác

Hà-nội từ 1973 đã được mệnh-danh là “thủ-đô của phẩm-cách con người”. Và, mặc dù, chủ-tịch Hồ Chí Minh ba-hoa “Đánh xong giặc Mỹ ta sẽ xây-dựng bằng mười năm xưa”, bi-cảnh đổ thùng còn tiếp diễn và muôn đời tiếp nối. Sự nghiệp đổ thùng của nhân-dân sống mãi trong chủ-nghĩa cộng-sản Việt Nam như “Bác Hồ vĩ-đại sống mãi trong sự-nghiệp” đổ thùng của nhân-dân vậy.

Tôi không hiểu tại sao hai vị thẩm-phán của Toà Thượng-thẩm Sàigòn (3) lại dám làm công-việc mà, đói rã họng “Ta thuê một vạn một thùng, Có người không dám vác”? Nghe một vị thâm-phán có vợ bác-sĩ y-khoa thuyết-trình công-tác lao-động đổ thùng, Đằng Giao khoái quá, hỏi tôi:

– Hay là ông thầy và tôi tình nguyện đổ thùng nhé!

– Cảm hứng nào thế?

– Mình ngu, ở lại để đi tù là đáng ăn một thùng cứt.Mình không dám ăn thì đi đổ vậy.

– Rất đúng.

Vị thẩm-phán nói tình-nguyện đổ thùng sẽ bị nghi ngờ. Phải phấn-đấu cam-go vô cùng. Nhờ đó, tôi tìm được câu trả-lời tại sao hai vị thẩm-phán anh-dũng đổ thùng. Ông Trưởng Công Cừu thuyết trình về “triết học” Tam- túc cộng với Tam-giác cộng với Tam-nhân thành Nhân-vị ở một khoá học-tập Ấp Chiến Lược năm 1962 đã phán một câu chí-lý: “Người trí -thức muốn làm đẹp xã -ội. cần phải xông vào những nơi nhơ bẩn nhất để làm cho nó sạch-sẽ, thơm tho”. Đã chẳng một trí-thức nào xông vào những nơi nhơ-bẩn mà chỉ thấy trí-thức xông vào những nơi ăn-bẩn! Trí-thức, nhất là trí-thức khoa-bảng, vốn sợ khó, sợ khổ. Hôm nay bị cộng-sản nó cưỡng-bức lao-động, vẫn cố cách xoay sở chỗ nhàn-hạ, dẫu có bị ngửi phân tiểu đến điếc mũi hết ngửi nổi mùi da thịt của vợ mình.

– Anh ạ. vợ tôi sợ tôi chết khứu giác, đã mua cái mặt nạ chống hơi ngạt gửi cho tôi.

– Ông có đeo mặt nạ đổ thùng không?

– Có!

– Rồi sao?

– Cán-bộ tịch thu.

– Vô lý!

– Vâng, thật vô lý. Cán-bộ bảo tôi thíếu thiện-chí…đổ thùng, chưa tiến-bộ còn nặng đầu óc tiểu-tư-sản trí-thức.

Thôi, tôi quên cái cầu tiêu và sự tiến-bộ đổ thùng của hai vị thẩm phán mà những ai đã ở TH6A trước và sau tôi đều thuộc tên nhớ mặt.

Tôi tả tiếp sinh-hoạt của “cái nhà”. Ở trại tập-trung, người ta không gọi “phòng” mà gọi “nhà”. Tù-nhân chịu trách-nhiệm vệ-sinh, trật-tự toàn nhà gọi là Nhà-trưởng! Nhà-trưởng bắt buộc phải làm Đội-trưởng. Vì nhà có hai tầng nên thường xuyên xẩy ra cãi-cọ Thí-dụ trên gác vô ý đánh đổ nước uống, nước mắm, lau nước điếu xuống dưới. Thí dụ quét bụi, giũ bụi không báo trước.Vân vân.

Sinh-hoạt của các trại lao-cải rập theo một chính-sách, một tổ-chức. Mỗi trại, thông thuờng có bây nhiêu đội:

1- Đội cấp dưỡng: Phụ-trách công-tác ăn uống cho tù-nhân toàn trại.

  1. Đội xây cất: Phụ-trách xây dựng nhà cửa cho tù-nhân và các công-trình xây cất của trại.
  2. Đội 1âm-sản:Phụ-trách công-tác chặt cây, chặt tre, cung-cấp cho đội xây dựng và chặt củi cho đội cấp dưỡng.
  3. Đội vận-chuyển: Phụ-trách kéo, đẩy xe cải-tiến chuyên-chở thực-phẩm, hàng-hóa.
  4. Đội rau xanh: Phụ trách trồng rau cung-cấp cho nhà bếp.
  5. Đội nông-nghiệp: Phụ-trách trồng khoai, sắn, bắp, lúa…
  6. Đội chăn nuôi:Phụ-trách nuôi heo, nuôi bò.
  7. Đội văn-nghệ: Phụ trách ca múa, đàn sáo…
  8. Đội linh-tinh:Đội này gồm nhiều tổ như Tổ y-tế, Tổ vệ-sinh, Tổ thiết-kế, Tổ trật-tự, Tổ thông-tin văn-hóa, Tổ thăm nuôi…

Nếu trại chứa 1000 tù-nhân, ít nhất, có 4 Đội rau xanh, 3 Đội lâm sản. Đội nông nghiệp thì trại nào cũng đông cả. Một đội không quá 50 người. Đội trưởng, Đội phó, Thư-ký do Ban giám-thị chỉ-định. Tổ trưởng do cán-bộ quản-giáo chỉ-định. Đội trưởng được miễn lao-động 100 phần 100. Đội phó được miễn 50 phần 100. Thư-ký lao-động huỳnh-huỵch. Quản-giáo là ông thầy của lớp học lao-cải. Ông thầy săn sóc cả phần tư-tưởng lẫn phần lao-động. Khi dẫn đội ra hiện-trường lao-động, ông thầy quản-giáo đeo súng ngắn. Hai vệ-binh đeo súng AK. Đội trưởng là một chức vụ não-nề nhất của thân-phận tù. Chỉ những thẳng ngu-si, đần-độn mới ham làm Đội trưởng và chức-sắc trong tù. Miễn lao-động nhưng Đội trưởng phải đôn-đốc tù-nhân của đội lao-động tích-cực. Nội cái khoản đôn-đốc lao-động đã bị chửi xéo, chửi thầm mục mả rồi. Chưa kể, Đội trưởng “phải thay mặt cán-bộ kiểm-soát tư-tưởng của đội khi không ở hiện-trường lao-động, phải báo cáo cán-bộ mọi diễn-biến tư-tưởng của đội”. Cái khoản này hãi-hùng cao độ, dễ đưa nhau vào thù hận. Hai khoản cộng lại, dồn Đội trưởng vào thế trên đe dưới búa. Ù-lỳ thì bị quản-giáo “giáo-dục” tơi-bời, bị làm tự kiểm, bị gọi lên Ban giám-thị. Tích cực thì bị anh em thù ghét, nguyền-rủa. Đó là thân-phận Đội trưởng. Đổ thùng yên ổn nhất, không ai thích hít phân nên chẳng ai thèm chú ý thằng đổ thùng. Khổ nỗi, ở tù là phi-ní tự-do, không có quyền chọn lựa công-tác lao-động. Muốn đổ phân lại bị làm…văn-nghệ! Không muốn làm Đội trưởng mà Ban giám-thị chỉ-định làm Đội trưởng, Nhà trưởng vẫn cứ đau khổ “hồ-hởi phấn-khởi”. Từ-chối đồng nghĩa với chống đối cách-mạng. Quan-điểm chính-trị bị nâng cao vút. Anh khinh-nhờn sự chiếu-cố của cách-mạng là anh không thích tiến-bộ, là anh nuôi dưỡng tư-tưởng phản-động, là anh cầm chắc sự khốn-nạn suốt quá-trình lao-cải.

Người cộng-sản dùng câu Tư-Tưởng Thể-Hiện Hành-Động làm khuôn vàng thước ngọc đề đo tâm-hồn con người. Khuôn vàng này là bảo-sinh-viện của gian dối. Con người cộng-sản và con người trong chế-độ cộng-sản suốt đời đóng kịch giả vờ. Buồn phải giả vờ vui. Đói phải giả vờ no. Đau khổ phải giả vờ hạnh-phúc. Chổng-đối phải giả vờ ủng-hộ. Đả-đảo phải giả vờ hoan-hô. Ghét phải nói yêu. Tí-hon phải nói vĩ-đại. Thua phải nói thắng. Vân vân. Chân-lý là xa-xỉ-phẩm dưới vòm trời cộng-sản. Thi-sĩ Phùng Quán đã khao-khát sự chân-thật. Ông tuyên-chiến với chủ-nghĩa cộng-sản chỉ vì “Tôi muốn làm nhà văn chân-thật, chân-thật trọn đời”. Những kẻ chân-thật trọn đời không có đất sống dưới ánh mặt trời Đảng. Họ sẽ bị hủy-diệt hoặc sẽ bị tẩy não để đồng-hóa với gian dối.

Ở trại cải-tạo, giáo điều Tư-Tưởng Thể-Hiện Hành-Động được các bậc thẩy quản-giáo ranh con suy-diễn thêm: “Hành-động tốt thì tư-tưởng tốt. Tư-tưởng tốt do lao-động tích-cực. Lao-động chính là thước đo giá-trị con người. Nhưng muốn tư-tưởng tốt, cần triệt-để thi-hành đúng Nội- quy, Tiêu-chuẩn cải-tạo và Nếp sống văn-hóa mới”. Những tù-nhân khôn ngoan nhất, thông-minh nhất là những tù-nhân quán-triệt cái võ-đạo của nhà Mộ Dung. Mày muốn tư-tưởng thể-hiện hành-động thì ông thể-hiện hành-động. Ông giả vờ khiếp-nhược, ông nín thở qua cầu. Tâm-sự của ông, ông dấu kỹ đáy tim, mày sao biết nổi. Những tù-nhân thích chân-thật, thích khoe móng vuốt thích thể-hiện sự chống đối, đều bị rơi vào bẫy…cải-tạo Hiển nhiên. họ bị chặt hết nanh vuốt, bị đầy đoạ tới mức bị cô- lập. Cuối cùng, họ trở thành những người khiếp-nhược hơn cả những kẻ đã bị họ miệt thị khiếp-nhược.

Cộng-sản độc-quyền anh-hùng. Phải nhớ kỹ điều đó ! Họ tự nhận họ ưu-việt,” cái nôi của loài người đỉnh cao của trí tuệ”. Sự ngạo-mạn phát-xít đó không cho phép những kẻ chống đối họ làm anh-hùng trong thế-giới của họ. Cộng-sản lại không ngu-si đần-độn như đa số những người chống họ tưởng-tượng. Họ rất giỏi sự quản-lý con người và kiêu-ngạo.

Cho những anh trung-sĩ giáo-dục đại-tá, nhà văn, nghệ-sĩ, thẩm-phán, bộ trưởng, bác-sĩ của chúng ta, họ quả là kiêu-ngạo xấc-xược. thứ kiêu-ngạo đầy mặc-cảm. Vị đại-tá Quân-lực Việt Nam Cộng-hoà có nên anh-dũng chống đối thằng trung-sĩ chăn trâu cắt cỏ về tư tưởng không nhỉ? Thế thì giả vờ và gian dối là triết-lý sống tuyệt hảo ở trại lao-cải cộng-sản. Tiếc thay, người ta đã không đủ kiến-thức cộng-sản, không có kinh-nghiệm cộng-sản để đương đầu cộng-sản trong nghịch-cảnh. Nhưng trách chi? Hai mươi năm chống cộng-sản, chúng ta có nghiên-cứu chủ-nghĩa cộng-sản đâu? Chúng ta chỉ hô to một khẩu-hiệu “Đả đảo cộng-sản”!

(1)Một bút hiệu ký ở mục Bẩy Ngày Đêm Tính Quẩn Chuyện Đời trên tuần-báo VNTP của Nguyễn Mạnh Côn

(2) Và các thành phố, các thị-xã miền Bắc luôn

(3) Xin miễn nêu tên

 

Trại Tập Trung – Phần I

 

-2-

Chúng tôi sống chung nhà với các đội cảnh-sát đặc-biệt và trung-ương tình-báo. Chiều qua, Đằng Giao và tôi đã chứng-kiến sinh-hoạt ca-cóng ở bếp ngoài trời sát hàng rào kẽm gai. Thấy anh em xào nấu thức ăn, chiên lạp-xưởng thật hấp-dẫn. Chúng tôi ra đi, kể như giỏ thực-phẩm đã xác-xơ, đành đứng xem mà học-tập kinh-nghiệm ca-cóng. Ở TH6, lửa chỉ được phép nổi buổi chiều khi các đội tan lao (1) về trại. Tù-nhân, mỗi người một bếp, nhóm lửa vội-vàng, nấu-nướng thật lẹ để kịp đem vào nhà. Rồi rửa mặt rửa tay chờ điểm danh. Một tiếng đồng-hồ cho các dịch-vụ lấy cơm, chia cơm, ca-cóng. Những tù-nhân không ca-cóng thỉ ăn cơm ngoài sân, ca-cóng thì đem vô, đợi cửa tù khóa sau lúc điểm danh mới thong-thả ăn uống. Chủ nhật được nghỉ, tù-nhân sinh-hoạt ca-cóng hai lần. Tha hồ nấu chè, nướng bánh và tụ tập enioy. đàn sáo. nhạc vàng…

Ca là cái ca, ai cũng biết. Ca nhôm, ca sắt, ca nhựa vẫn là ca. Cóng người miền Nam gọi là lon. Kỳ thủy, hộp sữa bò đặc uống hết mở nắp vất đi, người miền Bắc gọi là cái ống bơ. Có nơi gọi là ống bơ. Ống bơ dùng để đong gạo. Riết rồi, bất cứ một hộp sắt, hộp thiếc nào to nhỏ, đều được gọi là ống bơ. Ống bơ rỉ thì chán lắm. Hát như ống bơ rỉ! Cái lon sữa bột Guigoz cũng là…ống bơ, là cóng bơ. Dưới chế-độ cộng-sản, vì toàn dân đói nên thiếu hơi, nhiều danh-từ được giản-lược half and half. Cóng bơ còn một tiếng cóng. Bơ ở thiên đường mù-mịt, bỏ bơ đi là đúng. Bỏ bơ là loại bỏ tư-bản, là chống đế-quốc, là vô-sản khoai sắn “cho ngày nay, cho ngày mai, cho muôn đời sau”…Cái cóng đa-dụng và đa-năng ở trại lao-cải là cóng Guigoz.

Hãng chế-tạo sữa bột Guigoz đã đi vào lịch-sử đấu-tranh của hai miền Nam-Bắc. Trên thế-giới, có lẽ, chỉ có nước Việt Nam bốn nghìn năm văn-hiến giầu và nghèo bình-đẳng…lon Guigoz. Nhà nào cũng có lon Guigoz. Vì lon Guigoz bán ngoài thị-trường vỉa hè. Đựng đường, đựng mỡ, đựng bột thật an toàn. Đựng cà-phê thì khỏi lo bay mất hương thơm. Thuở ta học đòi Mỹ, công-chức làm việc thông-tằm, lon Guigoz biến thành thứ gà-mèn lý-tưởng, đủ bữa cơm trưa ăn ngay tại cơ- quan. Sau 30-4-1975, lon Guigoz đắt giá. Một cái trị-giá hai lá cờ đỏ sao vàng tặng thêm chân-dung Bác, Mác và Lê. Lần đầu tiên trong lịch-sử cộng-sản, lon Guigoz hạ chủ-nghĩa và lãnh-tụ. Vì chủ-nghĩa và lãnh-tụ bắt quá nhiều tù. Và tù-nhân cần lon Guigoz làm cóng. Ca cóng, tôi không hiểu chính-xác xuất-xứ của nó. Người nói: Anh em cải-tạo miền Bắc đem về Nam. Kẻ bảo: Việt cộng nó gọi vậy mình hài hước gọi theo, riết đâm quen. Điều buồn cười là, khi nổi lửa nấu bếp: đa-số tù-nhân nấu bằng nồi. Vậy thì ca-cóng là một bí số- như TH6- là bí danh của Nấu Nướng, như Lý Thụy, Anh Ba, Nguyễn Ái Quốc, Hồ Chí Minh, Nguyễn Tất Thành, là bí danh của Nguyễn Sanh Cuông.

Tù-nhân kiếm giây kẽm làm cái quai cho cóng. Tùy theo sự khéo tay của mỗi người. Dở nhất là đục lỗ luồn giây rồi bẻ quặp lại. Ra hiện-trường lao-động, mỗi tù-nhân xách một cái cóng đựng nước đun sôi. Ở TH6, cóng không được phép nấu ngoài bãi. Tù-nhân nấu bằng cóng thường là tù-nhân ăn một mình. Ăn chung thì vui nhưng nếu trong đám bạn ăn chung có người trốn trại, sẽ gặp cơ-man rắc rối, sẽ tự kiểm, tự khai mệt phờ. Cóng nấu nướng, nắp phải đục vài cái lỗ bốc hơi. Buổi chiều, anh em vất-vả kiếm củi, nổi lửa, ta chỉ việc đổ lưng cóng nước, bỏ vô dúm tôm khô, chút bột ngọt, tí nước mắm và thả vài lá mồng tơi, nếu ta kiếm được, rồi đậy chặt nắp, ta dùng sợi giây kẽm dài móc cái quai lon, nấu nhờ ngọn lửa tạt ra của thiên hạ. Đợi nó sôi tan nhừ tôm, ta mở nắp cóng, thẩy nắm mì vụn vào. Thế lả ta có cóng mì cải-thiện bữa ăn.

Sinh-hoạt ca cóng thật sinh-động ở những chiều tù. Tôi sẽ quan-sát kỹ-lưỡng hơn. Để sáng-tạo một phương-pháp nấu-nướng thích-ứng với thời-gian hạn-hẹp của trại. Sáng nay, chúng tôi được dẫn đi tắm. Rồi về nhận quần áo tù, viết lý-lịch. Lại lý-lịch! Mỗi tù-nhân viết một lý-lịch mới. lý-lịch này đầy đủ chi tiết. Buổi chiều, chúng tôi lên hội-trường học-tập Nội-quy trại, Bốn tiêu-chuẩn cải-tạo và hai mươi nếp sống văn-hoá mới. Nhờ học-tập, tôi biết TH6 có hai khu. Khu A là nơi tôi đang ở. (2) Khu B chả rõ nơi nào. Nội-quy trại có nhiều điều khác hẳn Nội-quy nhà tù. Một điều đáng suy-nghĩ:”Cán-bộ không được phép đánh đập trại viên và cấm-chỉ trại viên nịnh hót, mua chuộc cán-bộ”. Người lên lớp chúng tôi là Trưởng trại A (Phó giám-thị TH6) Nguyễn Xuân Bến. Chúng tôi học-tập hai ngày liên tiếp. Học xong, chúng tôi sẽ được biên-chế đội và sẽ cuốc xẻng, dao búa lao-động trả nợ….đời ngụy! Nhưng, buổi chiều ngày thứ tư của trại-viên mới, xẩy ra một vụ trốn trại ngoạn-mục. Bốn sĩ-quan cảnh-sát đặc-biệt đã biến dạng khi đội điểm danh về suối tắm. Súng nổ báo động. Vệ-binh toàn trại súng ngắn, súng dài lao vào cuộc săn đuổi. Các đội tan lao về sớm đang nổi lửa ca-cóng bị dập tắt lửa, xua hết vô nhà. Người ta nhắm hướng núi Mây Tào mà truy-lùng kẻ trốn trại.

Lần đầu tiên, từ thành-lập TH6, tù-nhân chính-trị trốn trại. Chỉ có hai loại tù, ở trại cải-tạo: Tù chính-trị và tù hình-sự. Tù chính-trị gồm sĩ-quan quân-đội và cảnh-sát, hạ-sĩ-quan Trung-ương Tình-báo, an-ninh quân-đội, công-chức cao cấp, nghị-sĩ, dân-biểu, nghị-viên, thẩm-phán, phản-động, vượt biên, nhà văn, nhà báo. Tù hình-sự gồm lưu manh, trộm cắp, lường gạt, hiếp-dâm và tiền-án bất hảo. Đã xẩy nhiều vụ trốn trại thành-công ở TH6 A và những kẻ liều mạng đều là du-đảng. Có một vụ hi-hữu được tù kể lại như huyền-thoại. Một tên du-đãng trốn trại khác đời. Nó tới chuồng gà bóp cổ hai con, vào bếp trại nhóm lửa đun nước làm lông rồi luộc cả hai con gà. Nó ăn hết một con, vất lại cái đầu và cặp chân. Nó ra vườn rau xanh nhổ thêm ba cây cải bẹ rồi mới dông tuốt. Nhưng hình-sự trốn trại không quan-trọng bằng chính-trị trốn trại. Lực-lượng võ-trang TH6 truy-lùng suốt đêm. Chúng tôi chưa biết kết-quả thì, ngay sáng hôm sau, chúng tôi nhận lệnh tập-trung ngoài sân với tất cả hành-lý.

Và chúng tôi rời TH6 A. Người ta không muốn chúng tôi dao-động chuyện trốn trại.

o O o

Ra ngoài cổng trại, có hai lối. Rẽ trái thì về Bà Rịa. Rẽ phải thì sang Long Khánh. Chúng tôi xếp hàng đôi, rẽ phải. TH6 B nằm trên đường qua Long Khánh. Người ta bảo chúng tôi vào khu B. Qua chiếc cầu gỗ bắc ngang dòng suối, chúng tôi đi lung-tung. Vệ-binh áp tải và quản-giáo dẫn độ không chú-ý đến sự vô trật-tự của tù-nhân. Chúng tôi không bị còng tay vì đi bộ và lưng đeo nặng ba-lô, tay xách trĩu giỏ. Tôi chợt nhớ bài hát Sơn La của Đỗ Nhuận diễn tả cảnh tù-nhân bị phát-vãng thời nô-lệ Pháp. “Sơn La âm-u, núi khuất trong sương mù. Lá rơi xuống suối, gió đưa vù….Đoàn tù tha-hương, cất bước đi trên đường…” Chúng tôi đang là “đoàn tù tha-hương, cất bước đi trên đường, đi trên đường cách-mạng vô-sản thành-công, đi trên đường giải-phóng nô-lệ, đi trên đường ưu-việt của chủ-nghĩa Mác-Lê bách chiến bách thắng, đi trên đường dẫn đến đỉnh cao của trí-tuệ, dẫn đến cái nôi của loài người .

Đã tới khúc cổ-thụ bị chôn mìn, nổ bật gốc, cây lớn bị cưa gãy nằm rạp chắn lối. Chúng tôi phải gỡ cành, dọn đường rồi leo qua các thân cây mà đi. Mỗi quãng bị khai quang, chúng tôi tháo bỏ hành-lý. Khai quang xong, lại mang hành-lý lên đường . Xuyên Mộc mang một ý-nghĩa nào? Nếu là xuyên qua gỗ, chúng tôi đã xuyên qua gỗ. Bài học lao-động thứ nhất toát mồ-hôi, rời tay, rã cẳng . Hai cây số rừng (3) cho tù-nhân Chí Hoà thật thấm-thía. Khi mặt trời cao gần đỉnh đầu, chúng tôi ra khỏi quãng đường thử-thách lao-cải đầu tiên. Và đi một khúc đường quang, chúng tôi đến TH6 B.

TH6 B là mật-khu của Việt cộng suốt cuộc chiến-tranh xâm-lăng miền Nam. Người dân thiểu-số đã có sẵn cái tên cho vùng này: Sa Ác. Sa Ác là rơi vào chỗ ác độc, rơi vào chỗ chết. Trần Bạch Đằng, tên cúng cơm Trương Gia Triều (đã bỏ Kỳ, thực ra là Trương Gia Kỳ Triều), bí danh Tư Ánh, tác giả Chân dung một quản-đốc, ký bút hiệu Nguyễn Hiểu Trường (Hưởng Triều đó), đăng theo kiểu feuilleton trên nhật-báo Sàigòn Giải Phóng, đã hồi tưởng khá nhiều về những tháng ngày chuyên chở vũ-khí từ Vũng Rô vào Nam, qua các nhánh sông để ghé sông Ray. Sông Ray nằm sát Sa Ác, TH6 B. Nó là biên-giới Xuyên Mộc – Long Khánh. tôi không biết chính-xác nó bắt nguồn từ đâu. Có người bảo nó là nhánh nhỏ của sông La Ngà. Có người bảo nó khởi nguồn từ chân núi Mây Tào. Chắc chắn nhất, nó chẩy qua Sa Ác TH6 B. Mà TH6 B là mật-khu an-toàn của Việt cộng. Vũ-khí Hà-nội tiếp tế cho các lực-lượng võ-trang miền Đông đã đổ vào mật-khu này. Do đó, TH6 B đã là vùng oanh-kích tự-do của không-lực Việt Nam Cộng-hoà và Mỹ. Quân-đội Úc-đại-lợi đặc-trách an-ninh tỉnh Phước Tuy đã thả vô TH6 B những toán biệt-kích thám-báo. Dấu chân của Kangourou vẫn còn khi tôi tới (xin đọc những trang sau).

Sông Ray đầy vơi theo hai mùa mưa nắng. Mùa mưa, nước đỏ ngầu, chẩy xiết và dâng cao mấp-mé sân trại. Mùa nắng, nước trong vắt, chỗ sâu nhất khoảng nửa thước, chỗ nông nhất xe hơi có thể vượt qua. Trại lao-cải TH6 B bên bờ sông Ray, chung-quanh chằng chịt hố bom lớn và những trái bom chưa kịp nổ. Nhiều cánh rừng xơ-xác vì bom lửa. TH6 B “kiến-trúc” sơ-sài hơn TH6 A. Có hai khu-vực. Khu của công-an coi tù và khu của tù-nhân. Biên-giới hai khu là con đường chạy thẳng sang Long Khánh. Khu của công-an gồm ba dẫy: Dẫy của vệ-binh, dẫy của quản-giáo và dẫy của các chức-sắc lãnh-đạo trại và văn-phòng hành-chính. Sau ba dẫy là nhà bếp, nhà kho và nhà ăn của toàn bộ cai tù lớn nhỏ. Khu của tù-nhân mới lèo-tèo ba căn nhà và một căn đang xây cất. Hàng rào kẽm gai vây quanh khu này còn thấp và thưa. Tù-nhân vỏn-vẹn bốn đội, một rau xanh, một nông-nghiệp, một lâm-sản, một xây cất. Tất cả thuộc tù hình-sự. Chúng tôi là tù chính-trị trước tiên của TH6 B. Tôi nhớ ở Chí Hoà ra đi, tôi đếm đúng 5 chiếc xe chở heo. Đến TH6 A chỉ còn 2 chiếc. Vậy thì, chúng tôi, 100 tù-nhân chính-trị “tiền-phong” của trại TH6 đã được dẫn qua cổng đoạn-trường có cái biển gỗ nền đỏ chữ vàng treo cao, bên ngoài viết :Không có gì quý hơn độc-lập tự-do, bên trong viết : Lao-động là vinh-quang!

Chúng tôi bị tách thành hai nhóm, ngồi xếp hàng đôi giữa sân nắng, hành-lý để một bên. Lại khai sơ-yếu lý-lịch. Thủ-tục nhập trại mới mà. Tôi đã quá quen thủ-tục này. Quen đến độ, có thể, thuộc lòng lý-lịch của mình cả trong chiêm-bao. Phơi nắng gần say nắng thì chúng tôi “khăn gói quả mướp nối nhau vào một căn nhà…mới. Từ nắng chói chang vào bóng râm, tôi không nhìn thấy gì, ít nhất, một phút. Tôi hiểu cơ-thể tôi đã hao mòn tháng năm tĩnh ở nhà tù. Tôi nhà văn 42 ký lô, được độc-giả yêu mến tặng biệt danh Tăm Tre Việt Nam, đã trải tấm thân còm-cõi của mình trên những tuyến đường Nhà Mình – Sở Công An, Sở Công An – Đề-lao Gia Định. Đề-lao Gia Định – Chí Hòa ngót nghét ba năm. Ba năm. đường rầy – tôi nằm bất-động chịu đựng từng chuyến xe lửa oan-nghiệt kéo dằng-dặc những toa thù-hận nghiến lên. Chưa chết, dĩ-nhiên. Cái hình hài xơ-xác, bấy nát, lỗ-chỗ những vết đâm ấy, tôi lết vào cái động của trại tập-trung Sa Ác. Mắt tôi bị quáng tưởng chừng đã bị mù. Không, không nên mù, không thể mù. Cần sáng, cần rực sáng để chiếu rọi những tia lửa tim vào cái bóng tối âm-u của thù-hận với ước-mơ khám-phá niềm bí-ẩn của đời sống.

Tôi đã hết hoa mắt. Căn nhà tôi vừa vào tiến-bộ hơn các căn nhà ngoài TH6 A. Cũng hai tầng, nhưng sàn bằng gỗ xẻ ghép khít và cột lớn cách các khoang đục những bậc thang để lên xuống dễ dàng. Lối “kiến-trúc” y hệt nhà khu A. Giữa là hành-lang trống, nền đất. Tường nhà khu B đan bằng tre và trét đất đỏ trộn mạt-cưa. Cầu tiêu chưa…tiến bộ. Nghĩa là, nó đứng riêng rẽ với ba nguồn thác cách-mạng văn-hóa, nông-nghiệp và khoa-học kỹ-thuật. Chúng tôi “hồ-hởi phấn-khởi” khắc-phục” bữa bo-bo buổi trưa. Nhà bếp đã không được báo trước có tù mới. TH6 B chưa có Đội cấp-dưỡng. Tù-nhân phụ-trách bếp-núc hơn 10 người hợp thành một tổ. Thêm Tổ vệ-sinh và Tổ thông-tin văn-hóa. Tổ thông-tin văn-hóa vỏn-vẹn hai mạng, kiêm-nhiệm cả trật-tự. Vậy văn-hóa là Sanh, trật-tự là Hoa, hỗn danh Hoa-nẫu. Cả hai đều can tội trộm cắp.

“Nhà” thông-tin văn-hóa Sanh (tôi không biết họ của nó) nhỏ thó. Khuôn mặt nó gồ-ghề, lồi-lõm. Cặp mắt nó sâu hoắm, trắng rã. Đằng Giao ví bọn công-an coi tù là quân dữ. Gặp thằng văn-hoá Sanh, Đằng Giao lại ví công-an coi tù là phát-xít Đức để gọi thằng văn-hoá Sanh là Pháp-gian. Nó giống hệt bất cứ một tên Pháp-gian nào trong các phim diễn-tả thời Đức chiếm đóng Pháp. Trông nó gian-manh ra mặt. Nó chỉ-huy Hoa-nẫu (dân Quảng Ngài). Sanh-gian và Hoa-nẫu đại-diện cán-bộ trực trại giáo-dục chúng tôi bài học “nhập gia tùy tục”. Chúng tôi được hân-hạnh sống chung phòng với Đội rau xanh mà đội trưởng là Hoàng xì coọc, đội phó là Hoàng nham, những hỗn danh bụi đời. Đội rau xanh khá đông du-đãng có tiền-án và bị đi cải-tạo vì tiền-án. Tôi bỗng trở thành “nhân-vật hàng đầu của tù-nhân hình-sự TH6 B. Ở đây, có nhiều đàn em của “tứ-linh” Đại, Tì, Cái, Thế. Đại Ca-thay đã chết năm 1968 . Huỳnh Tì (James Dean Hùng trong Điệu ru nước mắt của tôi) còn nằm ở Phước Long. Cái và Thế đã chết thảm tại Bù-gia-mập. Đại-bàng gẫy cánh hết. Còn mỗi Hùng-phốc, đàn em Huỳnh Tì, sống-sót về Sa Ác. Và Hùng-phốc lãnh đạo đám bụi đời nhỏ tản-mạn khắp các đội của khu B.

Những công-chức cao cấp, dân-biểu, thẩm-phán đã từng “cải-tạo” ở Long Thành đều biết và đều có thể làm nhân-chứng về những chuyến xe chở tù-nhân từ Bù-gia-mập về Long Thành. Đó là tù-nhân can tội tiền-án du-đãng trộm cắp Những người này đã trả nợ cho những tội-lỗi và tội-ác của họ. Và chế-độ mới, họ chưa hề gây một tội-lỗi tội- ác nào mà họ vẫn bị bắt nhốt và bị đầy-đọa thê-thảm. Con người, dẫu con người tiền-án, con người vô-án, con người hình-sự hay con người chính-trị vẫn là con người và phải được đối xử như con người sống hay chết, tù đầy hay tự-do. Nhưng, nhân-danh chủ-nghĩa ưu-việt của mình, người cộng-sản đã hạ giá những người mang tiền-án xuống quá hàng súc-vật đã đánh đập họ đã bắt họ lao-động quá mức, đã cho họ ăn ít, đã mặc họ chết bệnh-hoạn. Cuối cùng, 1000 tù-nhân còn có 100 được di-chuyển từ Bù-gia-mập về Long Thành và được mô-tả như “những bộ xương biết đi”! Bồi-dưỡng một thời giảm, đám tù-nhân sống sót này được liệng vào Sa Ác. Họ đã cùng những tù-nhân mang tiền-án dưới chế độ cũ, đến từ khắp nơi, hợp thành “thế-hệ tiên-phong” xây dựng trại tập-trung khổ-sai lao-động TH6 B. Hùng-phốc ở trong đám Bù-gia-mập sống sót.

Mấy ngày ở khu A, tôi đã được “giang-hồ” chiêu-đãi tận-tình. Tôi giao-du với vài tay du-đãng gộc thôi song Điệu ru nước mắt, Vết thù trên lưng con ngựa hoang của tôi đã giao-du thân-mật với du-đãng cả nước. Ở đâu có du-đãng đọc sách tôi, ở đó tôi được đền ơn như một luật-sư biện-hộ vô-vụ-lợi cho những kẻ bị xã-hội khinh-bỉ, bị luật-pháp đánh dấu. Hiển-nhiên. tôi ca-ngợi du-đãng hào-hiệp. Bởi vì tôi thấy Đại Cathay ca-cả hơn Nguyễn văn Thiệu; bởi vì tôi thấy những tay anh chị đẹp-đẽ hơn bọn tướng-lãnh, bộ-trưởng, nghị-sĩ; bởi vì du-đãng nhận mình là du-đãng còn bọn Nguyễn Văn Thiệu, thì ăn cắp, bịp bợm mà cứ nhận mình là ái-quốc? Kể cho tôi nghe, ai ở cái xã-hội miền Nam cũ đã xứng đáng được ví với nhân-vật tiểu-thuyết thần tượng Trần Đại? Cao văn Viên hay Đặng văn Quang. Phạm văn Đang hay Nguyễn Cao Kỳ? Hoàng Đức Nhã hay Nguyễn Ngọc Nghĩa? Thẩm-phán sạch-sẽ Đào Minh Lượng, người đã ghê tởm một số tù-nhân thư-lại Long Thành nói với tôi ở TH6 A: “Tôi thèm được sống chung với đám hình-sự. Họ không bần-tiện, ích-kỷ như tù-nhân chính trị thư-lại”… Chưa một nhà chống cộng nào chào mừng tôi một ly bia ở Paris, nhưng du-đãng đã nồng-nhiệt chúc tụng tôi còn sống bằng những chai champagne tình-nghĩa. Những người du-đãng không chụp mũ tôi vì không đố-kỵ tài-năng với tôi. Muốn hiểu du-đãng để ngưỡng-mộ họ và để tin-tưởng một cuộc cách-mạng Tây Sơn mới sắp xẩy ra ở Việt Nam, hãy tìm đọc Hồn say phấn lạ . Đó là trường-thiên tiểu-thuyết vinh-tôn trước những Nguyễn Nhạc mới. Nguyễn Nhạc cũ, tay du-đãng bất hủ đất Bình Khê. Kẻ nào dám làm cách-mạng chuyển-vần thời-cuộc, nước non bằng cách liều-lĩnh chui vào cũi nạp mạng cho kẻ thù? Khi tâm-hồn du-đãng dậy bất-bình vì dân-tộc, vì tổ-quốc, họ sẽ thành anh-hùng. Không ai dám nhắc đến dĩ-vãng du-thủ du-thực của tên đình-trưởng đất Cối Kê. Vì hắn diệt Tần Thủy Hoàng. Không ai dám nhắc đến dĩ-vãng rượu chè bê- bết của biện Nhạc. Vì ông ta gây cảm-hứng cho Nguyễn Huệ.

Tôi nên trở về TH6 B. Sanh-gian bảo chúng tôi tạm cất hành-lý ở những khoảng trống, đợi biên-chế đội xong cán-bộ trực trại sẽ chỉ-định chỗ nằm riêng biệt. Trước khi kẻng điểm tan lao, chúng tôi được lệnh ra tập-họp tại sân ngay cạnh nhà. Sự tổ-chức của TH6 B như sau:
1 Phó giám-thị, còn gọi là Trưởng trại B. Nhiệm-vụ của y bao quát cả tư-tưởng của công-an coi từ lẫn thực-thi chính-sách học-tập cải-tạo.
2. Chính-ủy. Nhiệm-vụ của y điều-hành công-an trách-nhiệm vấn-đề giáo-dục tư-tưởng tù-nhân.
3. Công-an trực trại. Nhiệm-vụ của y là điểm số tù-nhân xuất trại lao-động và nhập trại tan lao cùng kiểm-soát an-ninh toàn trại ban ngày. Có hai công-an trực trại.
4. Vệ-binh. Nhiệm-vụ của vệ-binh là canh gác trại ban đêm, canh chừng tù-nhân ngoài hiện-trường lao-động.
5. Quản-giáo. Nhiệm-vụ của quản-giáo là theo dõi đội về lao-động và tư-tưởng.
6. Giáo-dục. Nhiệm-vụ của công-an giáo-dục là. . .dạy dỗ tù-nhân và đưa tù-nhân ra gặp thân-nhân ở phòng thăm nuôi.
7. An-ninh. Nhiệm-vụ của công-an an-ninh là…đánh tù-nhân!

Còn có công-an đặc-trách hồ sơ tù-nhân, công-an nấu bếp. . . Bất kể công-an già hay trẻ, cấp bậc hạ-sĩ hay đại-úy, giám-thị hay coi kho, tù-nhân đều phải gọi là cán-bộ. Vậy thì cán-bộ trực trại. cán-bộ quản-giáo, cán-bộ giáo-dục đã đến làm việc với chúng tôi.

– Theo quyết-định của Ban giám-thị, hôm nay các anh được chính-thức biên-chế thành hai đội. Tôi gọi tên anh nào anh ấy hô  rõ-ràng và đứng dậy ngồi ra góc sân.

Cán-bộ giáo-dục nói xong thì nhìn danh-sách mà đọc.

– Trần Duy Cát.

– Có

– Đặng Hải Sơn.

– Có.

-Nguyễn mạnh Côn.

– Có.

Đọc đủ tên 50 tù-nhân, cán-bộ giáo-dục ngưng lại. Hắn nói:

– Những anh còn lại ở chung một đội.

Hắn ra lệnh hai đội tập-họp gần nhau.

– Theo quyết-định của Ban giám-thị, Trần Duy Cát làm Đội trưởng; Đặng Hải Sơn, Đội phó; Nguyễn văn Thương, Thư ký. Anh Cát đâu?

Đẳng Giao dơ tay:

– Có tôi

Cán-bộ giáo-dục gật đầu:

– Tốt. Đội của anh là Đội 21 nông-nghiệp.

Bước sang đội của tôi.,cán-bộ giáo-dục hỏi:

– Anh Vũ Mộng Long đâu?

– Có.

– Theo quyết-định của Ban giám-thị, anh là Đội trưởng, Nguyễn văn Thạch, Đội phó, Phạm Kim Sơn, Thư-ký. Đội của các anh là Đội 17 rau xanh. Ai thắc-mắc gì không?

Đằng sao dơ tay:

– Thưa cán-bộ. tôi không biết làm Đội trưởng.

Cán-bộ giáo-dục nghiêm nét mặt:

– Anh khước-từ sự chiếu-cố của Ban giám-thị hả? Học tập sẽ làm được. Làm sĩ-quan ngụy tiêu-diệt Việt cộng chắc anh làm giỏi đấy nhi?

Đằng Giao nín thinh. Tôi tưởng Đằng Giao thành-công, sẽ bắt chước theo. Ai ngờ…

– Khước-từ sự chiếu-cố của Ban giám thí là khước-từ sự khoan-hồng của cách-mạng,, là chống Đảng và nhân-dân.

Hoạ sĩ Đùa Dzai (4) vừa thẩy bị đùa dai một trò đùa nâng cao quan-điểm. Dằn mặt thế gọi là giáo-dục. Ông thầy của chúng tôi tên Đương. Thầy Đương đeo quân-hàm chuẩn-úy. Thầy xoa dịu trò Đằng Giao:

– Phấn-đấu lên, anh Cát. Không dễ gì ai cũng được làm Đội trưởng đâu.

Thầy Đương ngó thầy Hưng, cán-bộ trực trại:

– Dạy họ báo-cáo xuất trại. nhập trại.

Thầy Hưng, đeo quân-hàm trung-sĩ, dạy Đằng Giao và tôi bài học báo-cáo quân-số và dạy toàn thể anh em cách đi đứn, cầm nón mũ chào kính vân vân…

Nàm thử xem sao, anh Cát!

Đội trưởng Đằng Giao vẫy tay bảo đội ngồi xuống. Anh ta đếm số đội viên một lượt rồi bước lên cách đội ba bước. Anh ta hô “Đứng dậy , nón mũ bỏ ra. Nón mũ cầm tay phải, lật ngử. Chú ý: Nghiêm! Hai hàng dọc nhìn đằng trước…thẳng? Thôi…” Đằng Giao bước xuống, đứng cạnh hàng đầu, quay mặt về phía điếm canh tưởng tượng, dõng dạc báo-cáo:

– Báo-cáo cán-bộ, Đội 21 nông-nghiệp tổng số 50, lao-động 50, hiện-diện đủ, chờ lệnh cán-bộ.

Thầy Hưng vẫy tay:

– Cho đi!

Trò Đằng Giao đáp: cỡi

– Rõ.

Tôi muốn cười quá mà không dám cười. Giá tôi được tự-do cười tôi đã cười một trận nghiêng-ngửa nhất đời tôi. Đến lượt tôi “nàm thử”, thầy Hưng ra lệnh cho 4 đội-viên của tôi bước khỏi hàng. Tôi cũng “nàm” như Đằng Giao đã “nàm”. Cám ơn tổ-tiên tôi đã khóa cái sự thèm cười của tôi đúng lúc diễn-xuất…căng.

– Báo-cáo cán-bộ. Đội 17 rau xanh tổng số 50, lao-động 46, 4 bệnh nằm nhà, chờ lệnh cán-bộ.

– Cho đi!

Thầy Hưng khen:

– Được Nhưng đó là xuất trại. Còn nhập trại thế lào?

Tôi biểu-diễn:

– Báo-cáo cán-bộ, Đội 17 rau xanh lao-động 46, về đủ, xin nhập trạ, chờ lệnh cán-bộ.

Thầy Hưng tấm-tắc:

– Chính-trị dễ tiếp thu hơn nà hình-sự

Cái sự vô-phúc thiếu âm-đức của tôi không dừng ở chức-vụ Đội trưởng. Màn thực-tập vừa dứt. thầy Đương thăng thêm cho tôi chức Nhà trưởng “theo quyết-định của Ban giám-thị”. Tôi phải học bài học nhân-danh Nhà trưởng báo-cáo thầy trực trại buổi sáng mở cửa nhà và buổi chiều đóng cửa nhà và điều khiển tù-nhân cả nhà tập thể-dục. Kệ mẹ nó, đến đâu hay đó. Ít ra, tôi đã hách hơn Hồ Chí Minh. Vì, Ngục trung nhật ký Hồ chủ-tịch không được khoe mình làm Đội trưởng, Nhà trưởng trong tù. Chúng tôi nhận lệnh giải-tán rồi vào nhà nhận chỗ nằm theo sự chỉ-định của cán-bộ trực trại. Đội của tôi ở 5 khoang đầu nhà. Thu xếp hành-lý, tranh nhau nằm trên nằm dưới, dàn xếp ổn-thỏa xong thì các đội cũ tan lao nhập trại. Tôi cắt cử người xuống bếp lấy cơm canh, chia cơm canh. Ấm lòng ngay lập tức nhờ các cháu du-đãng hình-sự tặng “hai chú” Đằng Giao và Duyên Anh, cháu thì tô mì vụn nấu tôm khô rau cải xanh, cháu thì miếng thịt vừa nhận thăm nuôi, cháu thì con cá kho câu dưới sông…

Thi-sĩ Trần Tuấn Kiệt, trong cuốn sách viết về nhà văn nhà thơ Việt Nam, có nhã-ý viết về tôi. Anh ta kể lại kỷ-niệm ở quân-lao. Vì anh ta khoe là bạn của Nguyễn Thụy Long và Duyên Anh nên anh ta được tù-nhân du-đãng chiều-chuộng hết mình. Anh ta bảo, nếu tôi vào tù, tôi sẽ sướng hơn vua! Tôi đã vào tù, không thấy sướng hơn vua mà chỉ thấy khổ như chó. Nhưng nếu tình-cảm là cái gì quý nhất, tôi đã được hưởng cái quý nhất của những độc-giả, đặc-biệt những độc-giả bụi đời dành cho tôi.

Cơm nước xong chúng tôi ngồi tán gẫu chờ điểm danh buổi chiều. Kẻng vừa điểm, tù-nhân vội-vã xếp hàng mười trước của nhà, ngồi ngay ngắn. Tôi đã hỏi quân số Đội 3 rau xanh của Hoàng xì coọc. Tôi phải đếm lại cẩn-thận. Tù-nhân nào ốm không ra điểm danh, phải báo-cáo và trật-tự Hoa-nẫu vô nhà kiểm-soát rồi xác- nhận với cán-bộ trực trại. Nhà của tôi mang số 1. Đáng lẽ, đội của tôi số 5 hoặc số 6, vì TH6 B mới có 4 đội. Chắc chắn, trại sẽ tiếp-nhận thêm nhiều tù-nhân những tháng sắp tới. Thầy trực trại Hưng đã đến, theo sau là Sanh- gian và Hoa-nẫu. Tôi thực-hành bài học báo-cáo…nhà.

~ Anh em chú ý…im lặng! Báo-cáo cán-bộ, Nhà 1 tổng-số 150, tập-họp đủ, chờ lệnh cán-bộ.

Thầy Hưng đếm hàng. Thầy hất tay:

– Cho vào.

– Rõ.

Từng hàng đôi, tù-nhân vô nhà. Tôi sau chót. Hoa-nẫu cài thanh gỗ lớn chắn ngang cửa và khóa lại. Sinh-hoạt ồn-ào thả-giàn cho tới khi kẻng báo ngủ. Lúc đó là 9 giờ.

o O o

TH6 B chưa có điện. Trại tân-lập mà. Mỗi nhà thắp hai ngọn đèn dầu chế bằng keo thủy tinh không có bóng. Một ngọn để ở sà trên cửa ra vào, một ngọn trên lối vào cầu-tiêu. Điểm danh xong trực trại giao trách-nhiệm cho vệ-binh. Hai vệ-binh canh một nhà suốt đêm. Súng AK sẵn sàng khạc đạn vào kẻ trốn trại. Hai ngọn đèn lù-mù, có khi tắt một, có khi tắt hết nên vệ-binh khó kiểm-soát sinh-hoạt của tù-nhân. Bèn thêm mệnh lệnh không ghi ở Nội-quy, Tiêu-chuẩn cải-tạo và Nếp- sống văn-hoá mới: Đi ỉa, đi đái phải báo-cáo! Thr62 là tù-nhân sáng-tạo chuyện hài-hước đen.

– Báo-cáo cán-bộ, tôi đi đái.

– Báo-cáo cán-bộ, tôi đi đái xong rồi, tôi về chỗ ngủ.

– Báo-cáo cán-bộ, tôi đi ỉa.

– Báo-cáo cán-bộ, tôi đi ỉa xong rồi, tôi về chỗ ngủ.

– Báo-cáo cán-bộ, tôi đi ỉa nữa.

Có tù-nhân chơi bạo:

– Báo-cáo đái!

hoặc:

– Cán-bộ ỉa!

Nếu vệ-binh tìm chỗ ngồi đốt lửa sưởi lạnh với nhau, không nghe thấy thì không sao cả. Nó đi tuần. nghe thấy là réo Nhà trưởng, đánh thức cả nhà dậy nghe nó giáo-dục sỉ-vả hoặc nó bắt tìm ra ai…lạc-hậu, đầu óc nặng tư-tưởng đồi-trụy và ảnh-hưởng văn-hoá Mỹ-Ngụy sâu đậm. Giả đò không báo-cáo nó nghe tiếng chân đi, nó cũng hô-hoán ầm-ỹ. Cái chức Nhà trưởng coi bộ nguy-hiểm. Ngủ chỉ sợ có bố nào cao-hứng đạp tường mò về sum-họp gia-đình, Nó sẽ đổ vạ mình đồng-lõa, mình làm ngơ và sẽ còng tay xích chân mình. Khổ nhất vẫn là màn nửa đêm bị vệ-binh thèm thuốc gọi dậy xin một điếu. Nhưng khổ hơn cả mọi nỗi khổ là Nhà trưởng phải thắp đèn và bảo-quản bình dầu. Trật-tự Hoa-nẫu đã tính-toán kỹ-lưỡng. Nó phát dầu đủ thắp một tuần: hết dầu ráng mà chịu bị vệ-binh “lên lớp”. Tù-nhân nghiện thuốc lào thường thích có đèn riêng cho đỡ tốn xăng đá lửa. Quý vị ấy che đèn và xin dầu kiểu “thông-cảm”. Nhà trưởng không dám cho, sợ hết dầu và sợ bị “nâng quan-điểm” giúp tù-nhân phương-tiện trốn trại hay đốt trại! Thì bị quý vị ấy chửi bới. Quý vị ấy công khai sớt dầu ở đèn tập thể. Nằn nì quý vị ấy thông- cảm, quý vị ấy không thông-cảm. Cấm-đoán, ngại quý vị ấy xỏ xiên “giữ 1. cho chúa”. Từ cái nhỏ hóa thành cái lớn . Nhà trưởng biến thành cái đích của thị-phi. Chỉ vì sợ hết dầu trước hạn kỳ. Chỉ vì anh em tiếc rẻ xăng, đá lửa. Chỉ vì anh em lười châm lửa ở đèn tập thể. Chỉ vì anh em khoái đèn cá nhân.

Đêm đầu tiên nhậm chức Nhà trưởng của tôi thật não-nùng. Tôi không ngờ nổi. Những tiếng báo-cáo “đi đái, đi ỉa” liên tục đến gần sáng. Tôi bắt đầu chán ngán cái động của trại tập-trung. Dường như, cái động hứa hẹn vang vọng một niềm bất-hạnh. Đêm cuối năm ở rừng già Sa Ác lạnh vô cùng. Tôi đã quên cái lạnh mùa đông miền Bắc hơn hai mươi năm nay nhớ lại và thấm rét mướt. Sự rét mướt chẳng còn ở ngoài da nữa. Nó đã thấm buốt cả thân-phận tôi. Tôi xoayngười úp bụng xuống sàn gỗ, ngẩng đầu nhìn qua chấn song gỗ của khung cửa ọp-ẹp. Đêm tối. Thân-phận. Đất nước. Dân-tộc. Thân-phận tôi là đồ bỏ. Nhưng đất nước tôi, dân-tộc tôi? Trong cuộc chạy đua việt-dã mấy chục năm giữa bọn ăn cướp và bọn ăn cắp, sự thắng bại đã rõ rệt. Chính-nghĩa của bọn ăn cắp là đào-ngũ, đào-nhiệm chạy dài. Chính-nghĩa của bọn ăn cướp là hồ-hởi phấn-khởi trả thù vặt. Ba mươi năm chính-nghĩa thổ-phỉ và chánh nghĩa “phi-lu” nhân danh hai chủ-nghĩa ưu-việt nhất của loài người, vô-sản và tư-bản; nhân danh hai quyền-lực vĩ-đại nhất và thô-bạo nhất của loài người, Liên xô và Hoa kỳ, đấm đá và tranh giành sự-nghiệp nô-bộc, đất nước tôi rách mướp, dân-tộc tôi đói rách, ngu dốt, lạc-hậu. Chiến-tranh bẩn thỉu toa rập giữa tư-bản Hoa kỳ và vô-sản Liên xô đã tàn-sát đến cả cây cỏ, muông thú của quê-hương tôi, đã đẩy dân-tộc tôi vào cuộc phiêu-lưu thù-hận, đã tạo dựng bọn tướng cướp bản-xứ khát máu và bọn trùm trộm cắp hèn-mọn, trơ-tráo. Hạnh-phúc mà vô-sản chủ-nghĩa đem từ thiên-đường Liên xô sang đất nước tôi là gì? Hỏa-tiễn, súng đạn, giáo-điều mác-xít, lê-ninh lỗi thời. Chủ-nghĩa cộng-sản có khả-năng tiêu-diệt 1 triệu 500 ngàn dân Việt Nam mùa cải-cách ruộng đất năm 1956, có khả-năng nướng thiêu 1 triệu thanh niên miền Bắc dọc đường mòn Hồ Chí Minh và các chiến trường miền Nam. Chủ-nghĩa cộng-sản có khả-năng làm bé nhỏ cả dạ-dầy lẫn tim óc của dân miền Bắc. Nhưng, chủ-nghĩa bách-chiến bách-thắng ấy chưa giải-phóng nổi chế độ đổ thùng ở riêng thủ-đô Hà-nội “thủ-đô của phẩm-cách con người”. Khi còn công-nhân vệ-sinh đặc-trách đổ thùng, còn phu đổ thùng, còn con người tăm-tối chui rúc vào cầu-tiêu vác những thùng phân đổi miếng cơm hẩm, chủ-nghĩa cộng-sản chỉ được định giá như một thùng phân lúc nhúc ròi bọ.

Hạnh-phúc mà tu bản chủ-nghĩa đem từ thiên-đường Hoa-kỳ sang đất nước tôi là gì? Bom lửa, xe tăng, thuốckhai quang, phi-tiễn, lựu đạn cay và lý-tưởng khai- phóng tự-do, dân-chủ chó đẻ. Chủ-nghĩa tư-bản có khả-năng đẩy hai thế-hệ thanh-niên miền Nam xuống vực thẳm chiến-tranh cho tham-vọng khốn-kiếp của nó, có khả-năng làm đảo tung đạo-nghĩa và tình-nghĩa Việt Nam; có khả-năng xúi dục đảo-chính, chỉnh-lý; có khả-năng giật giây tôn-giáo thù nghịch lẫn nhau; có khả-năng đưa những thằng vô-lại lên ngôi tổng-thống, thủ-tướng, bộ trưởng, tướng tá, nghị-sĩ, dân-biểu. Chủ-nghĩa ấy còn có khả-năng mầu-nhiệm tạo đĩ điểm thành mệnh-phụ phu-nhân, ma-cô thành lãnh-tụ dân-tộc và biến con người thành công-cụ của đô-la, nô-lệ của vật-chất; biến con người thành ký-sinh-trùng ăn bám, ươn- hèn, vọng ngoại. Nhưng, chủ-nghĩa chói-chang ấy chưa tẩy xóa nổi dấu-tích ô-nhục của phản-bội đê-tiện. Khi còn còng made in USA còng tay những người Việt Nam chân-chính chống đối chủ-nghĩa cộng-sản phi nhân ở Việt Nam sau 1975, chủ-nghĩa tư-bản Hoa Kỳ cũng chỉ được định giá như một thùng phân lúc nhúc ròi bọ.

Rốt cuộc, quá độ chiến-tranh ý-thức-hệ thùng phân là đất nước héo úa, dân-tộc chia lìa, tổ-quốc gầy mòn. Những thằng ăn cắp bỏ chạy không quên mang theo tài-sản ăn cắp. Và chúng nó đang phè phỡn ở Hoa kỳ, miền đất hứa có chủ-nghĩa được định giá như một thùng phân. Chủ-nghĩa này tạo ra những nhà lãnh-đạo lỗi-lạc để thi-triển những chính-sách đối với các nước nhỏ và các nước dưới quyền…viện-trợ. Những thằng ăn cướp được dịp tuyên-bố chiến-thắng những thằng phản-bội và những thằng ăn cắp. Và chúng nó bảo cách-mạng thành-công. Và chúng nó lùa những người Việt Nam vào nhà tù, trại tập trung. Tôi cũng bi lùa vào nhà tù 3 năm. Bây giờ, tôi bị ném ra trại tập-trung Tôi mang cái tội gì nhỉ?

Thoạt đầu, phỉ-quyền (bọn ăn cướp) chụp lên đầ tôi cái tội ngớ-ngẩn: Nhà văn chế-độ cũ. Tôi không phải là người của chế-độ nào cả. Tôi là người của tôi, của gia-đình tôi, của bằng-hữu tôi, của độc-giả tôi và lộng ngôn một tí tôi là người của dân-tộc tôi. Không một chế-độ nào chấp-nhận những người nghệ-sĩ phản-kháng cả. Tôi là nhà văn, nhà báo phản-kháng. và có chính-kiến rõ rệt. Tôi đứng về phía những người bị trị chống đối kẻ thống-trị. Sự chống đối của tôi, tùy theo cường-độ chính-trị của thống-trị. Khi thống-trị bình-thường, sự chống đối của tôi hiểu theo nghĩa đối-lập. Khi thống-trị đàn áp, sự chống đối của tôi là phản-kháng quyết-liệt. Bằng văn-chương và tư-tưởng. Tôi đã thường xuyên quyết-liệt phản-kháng bọn thống-trị Sàigòn vì tôi muốn không còn, không có nữa phỉ-quyền hiện diện ở Hànộí và âm-mưu thôn-tính quê-hương tôi. Phỉ-quyền lên án tôi từ năm 1970. Hẳn nhiên, phỉ-quyền Hà nội thù hận tôi. Nhung ngụy-quyền Sàigòn (bọn ăn cắp) ưa gì tôi? Nó cũng thù hận tôi. Tôi thực sự sống bằng ngòi bút từ tháng 1-1964. Tôi viết nhật-báo từ đó. Và từ đó, tôi tuyên-chiến với bọn thống-trị Sàigòn, đứng hẳn về phía bị trị vì những người bị đàn áp bị bóc lột; vì những người nghèo khổ nhất miền Nam; vì những người lính hy-sinh nhất miền Nam, bị bạc đãi nhất miền Nam; vì cô-nhi, quả-phụ; vì danh-dự của tổ-quốc mà lên tiếng. Ngụy-quyền Nguyễn Văn Thiệu chưa dám bắt tôi bỏ tù. Nó tin tử-vi. Và nó sợ phản-ứng độc-giả tuổi trẻ của tôi. Nó sợ cộng-sản lợi-dụng cơ-hội nhập cuộc Nếu quốc-gia là những ai phò Nguyễn văn Thiệu, suy-tôn nó, ủng-hộ nó, còn kỳ vọng nhiều ở nó; nếu quốc-gia là Nguyễn Cao Kỳ. Trần Thiện Khiêm. Đặng Văn Quang, Cao văn Viên…và các vệ-tinh, tôi khước-từ thứ quốc- gia đó. Và tôi thẳng-thắn nói: Tôi là người cộng-sản không tha, quốc-gia không dung.

Không thể là quốc-gia ăn cắp, lừa bịp, tôi phải chấp-nhận mọi hệ-lụy ngoài đời, trong tù; trong nước, ngoài nước . Tôi hiên-ngang chấp-nhận. Để tôi là quốc-gia của tôi. Chỗ “tựa vào” của tôi chỉ là dân-tộc Việt Nam đau-khổ. Tôi đã “tựa vào”, đang “tựa vào” và “tựa vào” đến khi nhắm mắt.

Quốc-gia của tôi là quốc-gia chân-chính, quốc-gia của những người lương-thiện sáng chói. Tôi phủ nhận ngụy-quyền, phỉ quyền. Với tôi, ròng rã ba mươi năm, đất nước ta chưa có chính-quyền. Dân-tộc ta đang mơ ước một chính-quyền tạo dựng bởi người quốc-gia chân-chính trong và ngoài nước Chỉ khi nào đất nước ta có chính-quyền, dân-tộc ta mới có ấm no, hạnh-phúc, đoàn-tụ, thương yêu, tự-do là dân-chủ thực sự. Phỉ-quyền Hà-nội và ngụy-quyền Sàigòn đã bất lực mưu cầu hạnh-phúc cho dân-tộc. Phỉ-quyền chỉ biết ăn cướp. Ngụy-quyền chỉ biết ăn cắp. Thổ-phỉ và đạo-tặc đều thờ chủ riêng. Phỉ là đầy-tớ Liên xô. Ngụy là đầy-tớ Hoa Kỳ. Bây giờ, thêm bốn hạng ngụy nữa: Ngụy kháng-chiến bịp-bợm, ngụy giải-phóng đội đít Tầu, ngụy cứu quốc bám chân Tây, ngụy phục-quốc chờ đèn xanh ảo tưởng Mỹ.

Từ hơn 100 năm rồi, tinh-thần dân-tộc đã bị các thứ giáo-hội đè nặng trĩu, đè ngóc đầu lên không nổi. Các thứ giáo-hội đã chi-phối tinh-thần dân-tộc một cách nghiệt-ngã. Đất nước lạc-hậu của chúng ta có tới hai chục giáo-hội. Giáo-hội và tổ-quốc chứ không tổ-quốc và giáo-hội. Thứ giáo-hội mạnh nhất, thô-bạo nhất hôm nay là giáo-hội cộng-sản. Dân-tộc ta đã ủ-êc vì các giáo-hội, đang ủ-ê vì các thứ ngụy. Vậy làm cách nào phục-hưng tinh-thần dân-tộc và tinh-thần quốc-gia, dĩ nhiên, quốc-gia chân-chính? Vấn đề này nhà văn không đủ tư-cách giải-quyết. Bổn phận của y chỉ nhằm gợi ý.

Tôi đã trải qua một đêm TH6 B.

 

(1) Tan lao: Tan lao-động.
Vào lao: Vào giờ lao-động.
Giải lao: Nghỉ lao-động

(2) Khu A có xưởng cưa máy. Đầu năm 1979, các Nhà cũ bị phá để xây cất Nhà mới khang-trang, cầu-tiêu xối nước. Dĩ nhiên, Nhà nhiều hơon vì tù nhiều hơn và sự quản-lý chặt-chẽ hơn. Sĩ-quan quân-đội từ các trại miền Tây dồn hết lên miền Đông.

(3) Về sau, chính Đằng Giao đặt mốc cho đoạn đường…vào Ba Thục này.

(4) Vẽ tranh hí-hoạ, Đằng Giao ký tên Đùa Dzai.

 

 

-3-

Kẻng báo thức đã gầm-gừ. Cả Nhà thức giấc. Đèn phòng được thổi tắt. Các quan-viên thuốc lào rít điếu cầy xòng-xọc. Sinh-hoạt ồn-ào trong cầu-tiêu. Màn thuốc lào, đái ỉa buổi sáng coi như chào mừng một ngày lao-động khốn-nạn. Bên ngoài còn nhá-nhem và sương mù đầy đặc. Tù-nhân thu dọn chỗ nằm thật ngăn-nắp. Thuốc lào đã sang tua rít thứ mấy. Khối anh phê, đáp dài trên phi-đạo sàn. Phải phê. Không phê sẽ một ngày vô-nghĩa. Những tù-nhân mới tập hút thuốc lào, chưa dám kéo hơi dài. Thành thử, rít đến khi khói vô đẫy phổi mới lăn kềnh, mắt lim-dim. tim đập mạnh, thân thể lạnh giá, tay chân quơ cào. Thuốc lào mau say mà cũng mau tỉnh. Tù lao-cải gắn bó với thuốc lào y hệt tù nhà-lao gắn bó với ghẻ. Phi thuốc lào bất thành cải-tạo. Thuốc lào là cái gì mà ghê thế? Ca dao có câu:

Nhớ ai như nhớ thuốc lào,

Đã chôn điếu xuống lại đào điếu lên

Từ câu này, Nguyễn Tuân mới đặt cho thuốc lào cái tên thật văn-chương: Tương-tư-thảo. Nhưng tương-tư-thảo có vẻ Tầu quá. Mà Tầu không hút thuốc lào .Vậy gọi thuốc lào là cỏ nhớ. Miền Bắc hút thuốc lào trước khi hút thuốc lá, hút ống vố. Câu nhại lời bài Giải-phóng Miền Nam quy-định rõ-rệt sự hút của dân ta:

Miền Bắc hút thuốc lào, miền Trung hút thuốc rê, miền Nam thì hút Capstan, Con Mèo ….

Thuốc lào thượng-hảo hạng miền Bắc là thuốc lào Vĩnh Bảo. Cách gói và bán thuốc lào ở miền Bắc rất…cổ-truyền. Người bán thuốc lào gánh đôi khạp gỗ đậy nắp kín đến các chợ phiên. Một bên là thuốc đã gói sẵn vào cái bao giấy mầu có in nhãn-hiệu bằng con dấu khắc thô-sơ. Một bên là thuốc nguyên bánh và thuốc rời. Gói có hai loại, to và nhỏ. Thuốc rời bán lạng. Cũng có ba hạng thuốc: thượng-hảo-hạng, ngon nhất và ngon vừa phải. Người bán thuốc bầy thuốc trên nắp khạp, châm đèn và kê điếu bát. Khách hút thử thuốc rồi mua. Ở thị-xã người ta cũng bán theo cung cách ấy. Thuốc lào đem giống vô Nam ngon nhất là thuốc Cái Sắn, hút phê lăn cù mèo. Trước l975, có các nhãn hiệu thuốc lào Say, thuốc lào 888. Về sau thuốc 888 nổi tiếng, bèn đẻ thêm thuốc lào 555, thuốc lào 999. Sau 1975. thuốc lào 888 giả hiệu đầy thị-trường.

Ông đây đã bỏ thuốc lào,
Thấy ba số 8 lại đào điếu lên

Câu thơ ảnh-hưởng ca-dao nặng-nề này in trên bao gói thuốc lào 888. Theo đà văn-minh lãng nhách, thuốc lào gói bằng bao ni lông, mất hết 99 phần 100 tính chất cổ-truyền dân-tộc.

Thuốc lào rấtt khó trồng. Nó kén đất và phân bón. Trồng, tỉa, bắt sâu thuốc, phơi, thái, ủ thuốc là một nghệ-thuật. Thuốc ngon nhờ giống, nhờ đúng thời-gian và nhờ bí-quyết riêng của người sản-xuất. Xin miễn bàn-luận về chuyên-môn. Thuốc đi với điếu. Điếu kêu ròn-rã nhờ cái guốc. Điếu tráp của các nhà quyền-quý thì khảm xà-cừ, xe điếu bằng cành trúc dài, đầu bịt bạc. Điếu bát của giới trung-lưu thì đặt trong chiếc bát cổ, đồ thông uốn bằng giây đồng tỉ-mỉ, của bình-dân thì đặt trong bát gỗ đơn-sơ. Điếu cầy của nông-dân thì làm bằng ống tre mật. Điếu tốt cần đóm tốt. Đóm bị tắt ngang xương, điếu thuốc vô vị . Thường,người ta chẻ tre thật mỏng, ngâm nước rồi phơi khô đóm cháy bền. Những tay chơi đóm, chặt luôn cây đu-đủ đã sinh trái, liệng xuống ao. Thân cây đu-đủ chìm dưới bùn và bị “cháy ngầm”. Chừng nó nổi lềnh-bềnh, vớt lên phơi nắng cho khô. Rồi tước ra.Thế là có đóm tuyệt-diệu, bảo-đảm hút cú đúp, đóm vẫn cháy, chấp gió thổi mạnh. Điếu và đóm cộng lại thành một thành-ngữ ám chỉ bọn hầu-hạ. Nhà quyền-quý bẻ cong cái xe điếu trúc. Gã bưng điếu hiểu ý ngay. Bèn vo dúm cỏ nhớ đặt thật khéo trên miệng nó. Gã khác châm đóm. Ông chủ hít một hơi, chiêu ngụm trà tầu, nhả khói đê-mê. Sau này có điếu đóm chính-trị bỉ-ổi hơn điếu đóm thuốc lào.

Nước điếu của những tay chơi thuốc lào cũng công-phu lắm. Có ông dùng nước mưa kinh-niên. Có ông lại sắc nước cam-thảo. Nước đổ vào bình phải chạm đúng mức nào của guốc điếu. Ôi, lỉnh-kỉnh lắm. Thuở nhỏ, tôi sợ nhất cái xe điếu bằng song. Bị quất xe điếu vào mông là lươn nồi ba ngày. Điếu đóm ngoài đời nếu luận tới mức, phải viết hai chục trang sách.

Tôi nói về điếu đóm nhà tù. Cái thứ điếu “poọc-ta-típ” to bằng gói thuốc, chế-tạo bằng plastic, ống nhựa ngắn chút xíu, hút chỉ tổ phí thuốc. Tù-nhân đề lao Gia Định gửi mua khá nhiều. Đóm nhà tù là diêm Samasa…quốc-doanh, quẹt 3 cây cháy l; là giấy gói mì Con Cua, mì Ba Con Tôm. Những tư-nhân điệu-nghệ sáng-tạo điếu bát đặc biệt. Cái can nhựa chứa nửa lít tầu-vị-yểu là bình. Vỏ kem đánh răng Hynos gò làm guốc điếu. Ống nhựa bọc giây kẽm quai xô nhựa rút ra làm xe điếu. Nước nhiều thì khói dịu, vô tận phổi mới đã. Tiếng điếu kêu xòng-xọc nặng âm-điệu tù đầy. Tù-nhân cải-tạo không chơi điếu can nhựa tầm-thường. Điếu cầy là nguồn thác cách-mạng thứ tư sau ba nguồn thác cách-mạng văn-hóa, nông-nghiệp, khoa-học kỹ-thuật. Vậy tù-nhân lấy điếu cầy làm “sự-nghiệp vĩ -đại sống mãi” với thuốc lào cải-tạo.

Nông-dân miền Bắc không cầu-kỳ lắm về hình-thức cái điếu cầy. Chỉ cần cái nõ điếu cho kêu thôi. Điếu cầy của nông-dân vạt nhọn phía dưới. Để tiện cắm xuống bờ ruộng. Nhà quê Bắc-kỳ nghèo, chẳng có diêm, bật lửa. Vậy phải bện bùi-nhùi rơm mang theo với đóm. Nông-dân hút ra sao? Vê thuốc nhét kín miệng nõ, thổi bùi-nhùi, châm lửa. Bập bập ba cái, đưa ngón tay nhấn chặt thuốc rồi kéo một hơi dài đến trôi tuốt cả tàn vào nước. Rồi thổi phụt cho nước điếu bắn ra một vòi ngắn. Rồi kéo tiếp để nghe tiếng điếu ròn-rã. Rồi mới nhả khói. Cao-thủ điếu cầy phải hút như thế. Sáng sớm tinh mơ chưa ăn gì, hút một điếu Vĩnh Bảo thượng-hảo-hạng kiểu cao-thủ điếu cầy, chỉ có té bật ngửa “mắt lim dim, tim đập mạnh, lạnh tứ-chi, sùi bọt mép”…Tù-nhân cải-tạo khối người đạt chỉ-tiêu hút cao-thủ điếu cày. Hút điếu cầy phải hút ngoài bãi mới tự-do phụt nước điếu. Điếu cầy đẹp nhất, công-phu nhất là điếu cầy của sĩ-quan cải-tạo ở Sơn La đem về. Ống tre dài, nõ điếu bằng đá mài, khoét tài tình. Nhưng chiếc điếu cầy cải-tạo đi vào lịch-sử điếu cầy dân-tộc là điếu cầy của tù-nhân Lê văn Minh tự Minh-suyễn.

Minh-suyễn. con trai ông chủ hàng bánh ngọt nổi tiếng đường Nguyễn Thiệp, Sài gòn 1 , đi làm phản-động trong tổ-chức Binh-đoàn Lê văn Duyệt. Tổ chức này do Mai Chí Thọ nặn ra cùng 51 tổ chức khác. Mục đích của Thọ là giăng lưới bắt hết những người yêu nước chống cộng. Minh-suyễn sa bẫy luật-sư nằm vùng Đỗ Hữu Cảnh, bí-danh Ba Sơn (1). Minh-suyễn bị suyễn nặng, thường xuyên có 4 cái bình xịt tối tân Huê kỳ, xịt hết thuốc là vất đi mà khoái hút thuốc lào.. phê. Anh ta thửa cái điều cầy trị giá 10 gói mì Con Cua, thuê một tù-nhân lâm sản tìm ống tre dài, bóng. Minh-suyễn nhờ Đằng Giao vẽ thiếu-nữ khỏa thân, tóc xõa, chân và tay bị trói chặt quanh ống điếu. Hai trái đào tiên căng nổi. Cái hoa quý của thiếu nữ, đúng cái ái ân huyệt đó. Minh-suyễn dùi lỗ để…cắm nõ. Anh ta tô mực xanh lên những nét khắc của Đằng Giao. Điếu cầy của Minh-suyễn nổi tiếng, ai cũng xin hút một điếu. Cuối cùng, điếu cầy của Minh-suyễn bị tịch thu, Minh-suyễn bị làm tự kiểm nhận tội tuyên-truyền văn-hóa đồi-trụy. Điếu cầy ấy về sau, cán-bộ giáo-dục giữ làm của riêng.

Tiếng điếu cầy rít liên tục làm sinh-động buổi sáng ở Nhà 1 của tôi. Tôi đã hiểu sự cần-thiết của thuốc lào. Có lẽ tôi sẽ tập hút thuốc lào. Trật tự Hoa-nẫu đã mở cửa. Chúng tôi ùa ra hít khí trời giây lát rồi ngồi xếp hàng như chiều qua. Đội trưởng Đội 3 rau xanh đã cho tôi biết trước đội của anh ta có 2 người bệnh nặng không thể ra điểm danh. Tôi cần nói thêm: Mỗi thư-ký đội được cấp dầu thắp đèn cá-nhân cho mỗi sáng đội-viên của mình khai bệnh và mỗi tối thứ sáu họp đội. Bệnh nhân được nghỉ lao-động hay phải đi lao-động là do quyết định của Y-tế. Y tế của Sa Ác B do một y tá (2) tù-nhân đảm-trách dưới quyền chỉ-huy của một cán-bộ y-tế mà trình-độ là biết phát thuốc…Xuyên Tâm Liên! Sa Ác B chưa có bệnh-xá, chưa có cả phòng y-tế. Y-tá làm việc ngoài sân, trước giờ tập họp lao-động. Y-tá can tội hình sự rất dễ-dãi những e-dè. Anh ta không dám cho tù-nhân nằm nhà nhiều. Bởi vậy, có xổ số bệnh nặng! Tù-nhân bệnh nặng thật sự có khi, đi ra ngoài lồng cầu. Tù-nhân cảm xoàng lại trúng số độc-đắc Tôi đã trải qua ba nhà tù. Cả ba nơi, tù-nhân đều không được chích thuốc ngừa các thứ dịch hạch, dịch tả, thương-hàn, phong đòn gánh, đau màng óc…Ở trại tập- trung cũng vậy. Tôi nghĩ, Bộ chính-trị trung-ương Đảng cộng-sản Việt Nam quan-niệm rằng, chỉ có một thứ vi-trùng chế ngự tất cả vi-trùng là vi-trùng cải-tạo. Đã được tiêm “vác-xanh” cải-tạo, kể như miễn dịch.

Cán-bộ trực trại đã tới.

-Anh em chú ý… Im lặng! Báo-cáo cán-bộ. Nhà 1 tổng-số 150, 2 bệnh nặng nằm trong nhà, hiện diện l48 đủ, chờ lệnh cán-bộ.

Trật-tự-viên Hoa-nẫu chạy vô nhà, la lối:

– Ai nằm trong lên tiếng?

Hai bệnh-nhân lên tiếng. Hoa-nẫu chạy ra báo-cáo:

– Thưa cán-bộ, hai đau nặng.

Trực trại đã đếm xong tù-nhân, hất đầu:

– Cho tập thể-dục.

Tôi đáp:

– Rõ.

Thế là tôi, Nhà trưởng kiêm thêm chức-vụ huấn-luyện-viên thể-dục, điều-khiển cả Nhà vừa chạy tại chỗ vừa hét “một hai ba bốn” và vài động-tác vớ-vẩn. Những ông già được miễn thể-dục. Màn thể-dục…tù chấm dứt, Tổ trực của đội lo cơm sáng và nước sôi. Anh em khác đánh răng, rửa mặt. Cơm sáng đúng nghĩa là cơm lót dạ, một chén bo-bo nhỏ. Bo-bo nhập-cảng từ Ấn độ. Có người bảo bo-bo là lúa miến. Con gái tôi viết thư cho tôi: “Bố ạ, nhờ giải-phóng con biết nhiều địa-danh mà những bài học địa-lý đã không dạy. Thí dụ: Kàtum, Trảng Lớn, Vườn Đào, Bà Tô, Bù Nho, Sa Ác, Gia Trung… Con cũng biết thêm nhiều thực-phẩm như gạo Đại Mễ (3), bo-bo, sắn lát là những thức ăn ngon lạ hơn gạo nàng Thơm chợ Đào”…

Bo-bo, tôi đã thưởng-thức ở Chí Hòa. Sau những ngày ăn bột mì luộc là những tháng, những năm bo-bo. Bo-bo từ nhà tù ra trại cải-tạo. Bo-bo mầu như mầu gạo lức rất dẻo và dai. Muốn thực hiện cách-ngôn “Ăn có nhai, nói có nghĩ” thì nên ăn bo-bo. Các nhà tư-tưởng cần ăn bo-bo vì phải nhai thật lâu mới nuốt nổi. Các nhà lãnh-tụ kháng-chiến Hamburger cần ăn bo-bo. Để vừa nhai vừa nghĩ mà chấm dứt những trò lạc-quyên bịp-bợm. Các nhà văn, nhà báo di-tản trước 1975 cần ăn bo-bo. Để vừa nhai vừa nghĩ mà chấm dứt những bài viết chụp mũ a-dua bôi bẩn thiên-hạ và đố-kỵ hèn-mọn. Bo-bo có thể ăn 6 bữa 1 ngày. Vì ăn đầy ca vừa uống nước xỉa răng xong là đã tiêu hóa 3 phần 4 ca bo-bo. Bo-bo hỗ trợ chính sách cải-tạo của nhà nước cộng-sản. Phải rửa ruột trước khi rửa óc. Bo-bo có mày rất sắc cạnh và rất “kiên trì”. Nó mà dính kẽ răng thì “bám chốt”, thì “nằm vùng” kỹ lắm. Tăm tre mới trục xuất nổi mày bo-bo. Tăm gỗ ba Tầu bất lực. Mày bo-bo cơ hồ ám-khí phóng ngập hàm, lợi. Thò hai ngón tay nhổ nó ra, máu ra theo. Mỗi cái mày bo-bo là một giọt máu. Mỗi bữa bo-bo thường bị vài cái máy cắm sâu vô lợi. Máu đó nhắc nhở miếng ăn tù đầy nhục-nhằn. Máu đó làm khôn lớn những ai biết suy-tư trong thống-khổ. Những kẻ học đòi cạp Hamburger, Macdonaỉd từ 29-4-1975 chưa được ăn bo-bo, không bị ăn bo-bo – chẳng dám ăn bo-bo, nên không thấy thảm-cảnh mày bo-bo đòi máu tù-nhân. Và họ thản-nhiên. Rất bình thường. Những những kẻ tự nhận là nhà văn, là kỹ-sư của linh hồn, hơn cả thản-nhiên trước một rung-động làm nên văn-chương, tư-tưởng đã vận-dụng ngòi bút cắm sâu những cái mày bo-bo vào lợi của tù-nhân đồng-nghiệp của họ. Bằng bình-phẩm và bằng vu-khống đê-tiện những gì mình không nhìn thấy. Đôi khi, cũng có “nhà văn” có cơ-hội ăn bo-bo. Tiếc rằng, thay vì ăn bo-bo để khôn lớn, để sáng-suốt, để biết thù-hận đúng chỗ, ông ta lại chỉ “ăn vụng thịt nhà bếp, ăn cắp cháy, ăn tranh phần cơm heo” nên ông ta đã tự đồng hóa với đồ ăn cắp, tự xếp hàng với súc vật. Vì ông ta còn là “nhà vẽ” nên ông ta đã vẽ một bức tranh đầy mầu vàng của phân. Mầu vàng này đã trùm lên sự thật. Và đó là lập-thể. Rốt cuộc sự-nghiệp vẽ của ông ta là những bức chân-dung Hồ Chí Minh “vĩ-đại”, và sự-nghiệp văn-học nghệ-thuật của ông ta – ông này thích văn-học nghệ thuật lắm – rực rỡ nhất ở bài nhận vơ làm “biệt-kích văn-nghệ”. Chưa thấy nhà văn nào viết bài báo tồi đến thế. Tư-tưởng thì rặt “phân tiểu”, hành văn thì câu bất thành cú, chấm than thì bỏ bừa bải, lập-luận thì dựa…tin đồn. Đó là tại ham “ăn vụng thịt, ăn cắp cháy cơm” mà chê ăn bo-bo. Người như vậy, tôi nghĩ, nên thắt cổ tự tử, vì sống vô-tích-sự. Sống bám welfare nhà nước Mỹ đã nhục, bám welfare mà chẳng sáng-tạo nổi một truyện ngắn sạch nước cản nào, càng nhục. Rõ là ký-sinh-trùng, là sán sơ-mít trong ruột Mỹ! Thánh-kinh, theo Matthew, Chúa Jésus dạy: “Cây tốt sinh trái tốt. Cây xấu sinh trái xấu. Cây tốt không thể sinh trái xấu. Cây xấu cũng không thể sinh được trái tốt”. Một nhà văn-học nghệ-thuật “ăn cắp, ăn vụng, ăn tranh phần khoai và cơmcháy của heo” không thể làm nổi những việc gì tốt đẹp. Chúa là chân-lý. Ngài đã phán xét đúng.

Nhưng làm sao hạng người có huyết thống “ăn vụng thịt, ăn cắp cơm cháy” dám ăn bo-bo? Bo-bo nó vào dạ-dầy nó cũng phóng mày bám chặt lấy dạ-dầy. Do đó, tù-nhân cải-tạo đa số đau răng và đau bao-tử. Dạ-dầy là cái máy nghiền nát các loại thức ăn. Vậy mà không nghiền nát được mày bo-bo. Bo-bo tiêu hóa, chất bã đem theo mày bo-bo ra ngoài. Đội 17 rau xanh của tôi, sau này, phải làm một cái cầu-tiêu “dã-chiến” để Đội phát quang có chỗ đại-tiện. Chúng tôi cần phân bón rau. Tôi đã quan-sát cái cầu-tiêu chưa kịp “tiếp thu” phân sau ba ngày “hành quân” ngang qua của Đội phát quang. Toàn bộ phân bị đế quốc Bọ Hung thôn-tính hết. Một đống mày bo-bo còn nguyên. Bọ hung cũng không dám ngốn mày bo-bo. Vậy mà tù-nhân cải-tạo đã nuốt mày bo-bo vào dạ-dầy! Tôi không hiểu các “sử gia” nghiên-cứu lịch-sử hiện-đại Việt Nam có chịu nghiên-cứu mày bo-bo để viết những trang lầm-than của dân-tộc. Xin lưu ý các “tiến-sĩ, sử gia” bỏ chạy trước 30-4-1975: Cả nước Việt Nam đã bị ăn bo-bo suốt hai năm 1979 và 1980. Riêng tù-nhân, ăn bo-bo từ 1979 đến…hôm nay. (khi tôi viết trang này là 1987)

Bình, cóng đựng nước và ca, bát đựng bo-bo bầy hai chỗ. Đội nào chia cơm nước đội ấy. Nhà bếp cấp-phát nước mỗi ngày ba lần, sáng và trưa, trước giờ đi lao-động, và chiều. Ngoài bãi lao-động, đội có người đặc-trách nấu nước sôi cấp riêng để uống lúc giải-lao. Lưng ca bo-bo, tù-nhân ăn lót dạ và lao-động 4 tiếng. giải-lao 15 phút. Không có cà-phê, dù cà-phê cá-nhân. Ở Sa Ác B, người ta bắt chúng tôi “quân-sự-hóa” mọi việc.

Quanh năm tích-cực, bốn mùa khẩn-trương
Vượt nắng, thắng mưa, đạt chỉ-tiêu lao-động sản-xuất

Hai khẩu hiệu này chưa đủ thấm-thía kiếp người lao-cải. Bạn đọc thêm hai khẩu hiệu nữa.

Với sức người, sỏi đá cũng thành cơm
Vượt cờ xanh, giành cờ đỏ, bỏ cờ trắng, thắng cờ vàng

Cái gọi là học-tập lao-động cải-tạo tư-tưởng của chúng tôi nằm trong bốn khẩu hiệu oan nghiệt đó. Với sức người, sỏi đá cũng thành cơm. Nghe mà ngậm-ngùi. mà phẫn-nộ. Tôi chợt hiểu vì sao Nhân-văn giai-phẩm đã tư-tưởng dấy động, đã chủ-nghĩa xung-kích. Thời của văn-chương viễn mơ, của văn-chương chẻ sợi tóc làm tám, của tùy-bút miêu-tả cách ăn, lối mặc, kiểu uống đã đóng băng.Ở bài Những tín-hiệu sáng-tạo giới-thiệu thi-phẩm Đời bỗng dư thừa của Hà Huyền Chi, tôi đã viết như sau:

“Quê hương câm nín đang réo gọi những lên tiếng cần-thiết của văn-chương, của thi-ca. của âm-nhạc, của tư-tưởng lưu đầy. Nỗi réo gọi bi thương ấy, cơ hồ, đã chìm vào cái hoang-vu ngậm-ngùi của chữ nghĩa. Đó đây, chỉ còn là tiếng thở dài áo-não của hồi-tưởng, chỉ còn là những lượm nhặt bụi nắng hoàng-hôn của dĩ-vãng. Không-khí và thời-tiết xứ người, xem chừng, hết thích-hợp với người cầm bút đã có hào-quang hai mươi năm phồn-vinh văn-học miền Nam. Chúng ta đầy đủ tự-do để viết. Nhưng chúng ta chóng quên niềm bất-hạnh, lười biếng truy-nã thân-phận mình, thân-phận dân-tộc mình. Nên sáng-tạo hiu-hắt . Thỉnh thoảng, cũng vài lên tiếng ném vào sự ồn-ào chạy đua leo dốc vật-chất. Thì lại là tiếng nói chết hay tiếng nói bêu riếu chữ nghĩa. Của những kẻ tự nhận mình đứng hàng đầu, thống-lĩnh ngọn núi này, chặn lấp cửa biển kia. Rốt cuộc, mươi năm mất nước, văn-nghệ sáng giá và văn nghệ dẫn lối đã biến thành những ngọn hải-đăng mù. Và thành-tích ô-nhục của nó là “áo thụng vái nhau” và “áo thụng tự vái”. Mọi vinh-quang sáng-tạo dành hết cho những người cầm bút trẻ dẫu chưa điêu-luyện và dẫu bị nhấn chìm tội nghiệp. Hà Huyền Chi thoát bung ra cái nghĩa-địa văn-nghệ biệt xứ. Anh không thích đào mộ chôn mình hoặc để người khác đào mộ chôn mình. Hà Huyền Chi làm thơ, làm thơ và làm thơ… Thơ của anh không bị đồng hóa với

thứ thơ văn nghìn năm không dấy động
thơ văn cột rỗng
lớp son mầu-mè tỉa-tót công-phu
thư thơ văn tửu hậu trà dư
thơ văn chết khi cuộc đời căng nhựa sống
thơ văn ngồi khi Việt Nam khốn quẫn
thơ văn nằm khi bạo-lực diễn-hành
thơ văn tô móng tay khi dân-tộc đói nhăn răng
thơ văn nhẫy-nhụa môi son vênh-vang trưng diện.

Thơ Độc Ngữ

Hà Huyền Chi ngậm thống-khổ của dân-tộc anh, của chiến-hữu anh, của bằng-hữu anh, của bản-thân anh. Anh đã biết khôn lớn từ kinh-qua thống-khổ, từ phù-ảo sau cơn lốc nghiệt-ngã 30-4-1975. Thống-khổ tạo ra lửa. Lửa rực thơ anh. Lửa bập bùng. Lửa thắp sáng những bùi-ngùi những xao-xuyến, những rung động nguyên khối. Lửa thiêng Hà Huyền Chi khác hẳn lửa thiêng Huy Cận. Lửa thiêng Hà Huyền Chi soi tỏ một nhận đường trong mù khơi tuyệt-vọng. Lửa ấy rạng-rỡ một bóng tối dầy đặc u-mê. Nó gợi ý một thành-khẩn trả lời cho bất cứ ai tha-phương cầu-thực ở thời-đại khốn khó hôm nay: Tôi là ai, đang ở đâu, làm gì? Khi người ta trả lời câu hỏi này với cả tâm-hồn người ta, mọi dấu tích ô-nhục ở mọi lãnh-vực sẽ được xóa sạch và sẽ chẳng bao giờ còn dấu tích ô-nhục mới. Người Việt Nam sẽ thương yêu nhau bằng tình-nghĩa Việt Nam. Không còn ai bần-tiện nữa.

Đừng tranh-chấp nghệ-thuật-vị nghệ-thuật hay nghệ-thuật-vị-nhân-sinh. Văn-học, văn-hóa và văn-hiến Việt Nam vĩnh cửu. Chớ dối gạt nhau sợ hãi nó mất mà bảo-tồn theo cung-cách ăn cắp hay chọc mắt mù để khỏi nhìn thời-đại mình mà luận về miếng ăn, miếng uống, manh áo, manh quần, cách ăn, lối mặc. Tất cả sẽ chỉ chứa-chan ý-nghĩa nếu chúng ta giải-thoát được dân-tộc để còn có tổ-quốc và quê hương”.

Theo tôi, những tác-phẩm trước 1975 của Sài gòn, những tác-phẩm gọi là tiền-chiến cũ mèm hết hơi thở, những văn-học-sử quá sớm, những ký-sự khuôn mặt văn-nghệ mọi người đều biết, những tùy-bút thu góp tái-bản bừa bãi, xuất-bản lai rai, chỉ là hồi trống thu không báo hiệu một hoàng-hôn tím lạnh. Nó chẳng có tác-động gì ở thời-đại mê sảng, thời-đại của bọn phu đào huyệt. Nó không thể bắt câm họng những con chó điên tru-tréo bạo-lực và hình-phạt thù-hận. Chẳng còn gì trơ-trẽn hơn phải đọc một tùy-bút uống trà tầu khi mình biết chính-xác hàng trăm ngàn tù-nhân cải-tạo uống nước chùm-bao, nước hà-thủ-ô. Và, ở những trại tị-nạn, đồng-bào mình uống trà cám bằng lon coca cola mài nhẵn nắp. Nhà văn có thể rửng-rưng với chập-chùng thống-khổ của thời-đại mình, của dân-tộc mình đến thế ư?

Người ta đã chê tôi viết những tiểu-thuyết thoát-ly rung cảm cũ. Người ta muốn tôi như Hoa thiên-lý, như Cầu mơ.. Người ta cứ chê và tôi nhất-định không trở lại kỷ-niệm cũ. Bởi vì, tôi đã ăn bo-bo. Bo-bo là cảm-hứng mới của tôi. Bo-bo là biểu-tượng nhục-nhằn của dân-tộc tôi. Đó là trái cô-đơn tôi tình-nguyện ngậm suốt quãng đời văn-chương còn lại. Có lẽ, nên dạy ông nhà văn “ăn cắp, ăn vụng” một bài học về trái cô-đơn khi ông ta hỏi: “trái cô-đơn hay là trái cật?” một cách ngu-xuẩn. Tôi nghĩ chả nên dạy ông ta. Một nhà văn “ăn vụng thịt”, ngậm miếng thịt đầy họng thì sẽ chỉ tưởng-tượng trái cô-đơn là miếng thịt “ăn vụng”. Và, vì ở trại cải-tạo, những ngày lễ lớn tù-nhân được ăn thịt lợn nhưng không được ăn lòng lợn nên ông nhà văn “ăn cắp, ăn vụng” cứ mơ-ước “ăn cắp” một trái cật mà ngậm! Trái cô-đơn, dễ gì ai cũng hái được để ngậm. Ít ra, người ta phải kinh-qua 40 ngày đêm tự khai rã rượi linh-hồn, phờ-phạc thể-xác; người ta phải nghe báo-cáo chết-chóc ở Chí Hoà; người ta phải khiêng bom chưa kịp nổ, lấp hố bom đã nổ; người ta phải nhìn rõ cái sinh-động quán rượu văn-học nghệ-thuật Hamburger viết bằng mõm, đôi khi, viết theo cung-cách gầm-gừ của bầy chó câm. Và nữa, người ta nghe rõ tiếng sủa thô-bỉ của các lãnh-tụ Mặt-trận chửi bới lẫn nhau vì tiền lạc-quyên “giải-phóng dân-tộc” chia-chác không đồng đều . Còn nhiều lắm…

Chia bo-bo, nước sôi xong, các đội cũ khẩn-trương nhai, khẩn-trương nuốt và khẩn-trương tập-họp chuẩn-bị lao-động. Hai đội mới ở lại. Khoảng nửa giờ sau, hai ông thầy quản-giáo đến nhận học-trò mới. Thầy của Đội 17 rau xanh là Để, thầy của Đội 21 nông-nghiệp là Bản. Thầy Để mang quân-hàm thượng-sĩ, thầy Bản hạ-sĩ. Thầy Để phát cho mỗi tù-nhân một tờ giấy, bảo khai lý-lịch. Lại lý-lịch! Thầy muốn nắm thật vững đội. Thầy giao nhiệm-vu cho tôi gom hết lý-lịch của đội, kiểm-soát lại rồi góp “bài” cho thầy, khi thầy hỏi. Nhờ vậy, tôi cũng “nắm” đội. Đội của tôi có 50 người thì 44 người sinh-quán và hộ-khẩu thường-trú ở Bình Chánh, đa-số là nông-dân, vài người đã đi lính, đã làm cảnh-sát, thợ nhà in. Tất cả đều trẻ, từ ông Quản già, đều can tội phản-động chung một vụ.

Ban giám-thị chọn lựa dân làm rẫy vào đội rau xanh là sáng-suốt. 44 tù-nhân phản-động Bình Chánh có cha con ông Quản (người con tên Học), ba anh em ruột thằng Lợi, hai anh em ruột thằng Huỳnh được kể như “đoàn-tụ gia-đình” trong một đội. Sáu người không thuộc thành-phần nông-dân còn lại là:

1- Phạm Kim Sơn. Anh này ở BC Chí Hoà khoe rằng anh là hải-quân Trung-úy, trốn trình-diện học-tập, đi làm phản-động và bị bắt trong một trận đánh. Lý-lịch anh ta khai với quản-giáo Để thì anh là Trung-sĩ, can tội vượt biên.

2- Trần Quang Thạch. Anh này lớn tuổi, khai là y-sĩ thiếu-tá bị đuổi khỏi quân-đội VNCH, can tội lý-lịch mơ-hồ, nhà ở đường Công Lý gần trường Marie Curie.

3- Đặng Hoàng Hà. Can tội phản-động hiện-hành.

4- Nguyễn Trường Thanh, giáo viên. Can tội phản-động hiện-hành, tính nết bất-thường.

5- Lê Văn Hoán, lớn tuổi, can tội phản-động hiện-hành, bố vợ của Thanh.

Và..tôi.

Đội 21 nông-nghiệp của Đằng Giao nhiều “hào-kiệt” hơn. Trung sĩ Phạm Kim Sơn thích tỏ ra …trí-thức và ưa lý-luận. Anh ta còn trẻ lại ham nói những điều mình chưa hề biết. Trần Quang Thạnh nghệ-sĩ lắm, đàn nguyệt tà-tình, từng là tình-nhân của Út Bạch Lan, vui tính và cởi mở. Đặng Hoàng Hà, em ruột Đặng Hải Sơn, giao-du với Phạm Kim Sơn là một cặp.

44 người Bình Chánh hiền-lành. Chỉ có 2 làm phản-động thật sự, còn bị tình-nghi. Đảng CSVN thực thi châm-ngôn:”Giết oan hơn tha lầm”. Và họ đã nâng tỷ-lệ tù chính-trị lên mức kỷ-lục.

Chúng tôi làm quen nhau, trao đổi chuyện gia-đình….

o O o

Hôm sau, chúng tôi vào lao-động. Tập họp ở sân trại với các đội cũ, tôi mở to mắt nhìn khẩu-hiệu Lao-động là vinh-quang treo cao trên cổng trại. Đằng sau cái bảng gỗ, phía bên ngoài, bạn đã biết rồi, danh-ngôn Hồ chủ-tịch Không có gì quý hơn độc-lập, tự-do. Khi bước vào Sa Ác, bạn được nhắc-nhở lời Bác “Không có gì quý hơn độc-lập, tự-do”. Định-nghĩa của danh-ngôn Hồ chủ-tịch là căn nhà, cái cầu-tiêu, hai ngọn đèn và những câu báo-cáo đi đái, đi ỉa. Và cửa nhà tù khép lại, chặn then và khoá kỹ. Sự mỉa mai không dành cho chúng ta. Nếu biết suy-luận, danh-ngôn Hồ chủ-tịch ngoài cổng nhà tù là ý-chí chiến đấu của ta. Phải, không có gì quý hơn độc-lập, tự-do; không có gì quý hơn tự-do khi ta vào tù, khi dân-tộc ta mất nó. Không biết suy-luận thì bạn sẽ cặm-cụi vẽ chân-dung Hồ Chí Minh, sẽ “ăn cắp cháy, ăn vụng thịt” như ông nhà… văn-học nghệ-thuật Tạ Tỵ. Lao-động là vinh-quang. Để xem, vinh-quang của chúng tôi nó ra sao.

Đội 21 nông-nghiệp của Đằng Giao xuất trại đầu tiên. Tổng-thư-ký nhật-báo Sống, cha đẻ của hai nhân-vật hí-hoạ Hách-xì-xăng và thằng Ngọng, biểu-diễn báo-cáo.

– Chú ý. Đứng dậy. Nón mũ dở ra cầm tay phải lật ngử. Ca-cóng cầm tay trái. Hai hàng dọc nhìn đằng trước …thẳng. Thôi.

Đằng Giao xoay người, ngẩng mặt ngó về phía điếm gác:

– Báo-cáo cán-bộ, Đội 21 nông-nghiệp tổng-số 50, lao-động 50, hiện diện đủ, chờ lệnh cán-bộ.

– Cho đi.

– Rõ.

Quân-sự-hoá mà. Ra khỏi cổng mới được đội nón mũ. Văn-hào Nguyễn Mạnh Côn le te theo sau, bị gỡ luôn kính cận khi qua điếm gác. Tác-giả Hoà-bình, nghĩ gì làm gì? đã được trả lời câu hỏi dầy ngót 500 trang sách.

Đến lượt đội của tôi xuất trại. Đội-trưởng đi sau cùng. Tôi thấy trực-trại Hưng đếm tù và kiểm-soát ca-cóng tù mang theo. Trực-trại có…trực-giác công-an. Hắn mà bắt đội nào dừng lại, y rằng phát-giác được tù-nhân bỏ gạo vào cóng hay nhét áo không đóng dấu trong xô. Tù-nhân này sẽ bị hạch hỏi gạo và áo không đóng đấu âm-mưu gì? Thường là âm-mưu trốn trại. Trốn trại có nhiều cách. Hoặc đêm khuya khoét tường vượt ngục. Hoặc đợi một đêm mưa tầm-tã dỡ mái tôn đào-tẩu. Hoặc ra đi ngay ở bãi lao-động. Cách đi này, muốn chắc ăn, phải chuẩn-bị kỹ-lưỡng. Nghĩa là tìm chỗ dấu quần áo, thực-phẩm ngoài bãi. Mỗi ngày đem theo một chút. Trại nào cũng đóng dấu lên hết quần áo của tù-nhân, bất kể quần áo lao-động hay quần áo… để diện khi về, quần áo trại phát hay quần áo gia-đình gửi. Dấu của Sa Ác mang bí-số hòm thư TH6, chiều ngang 8 phân, chiều dài 20 phân. Dấu đóng ở lưng áo hai cái, ngực áo hai cái; ở quần bốn cái, bằng thứ mực xà-phòng giặt không phai. Tù-nhân nào bỏ sót quần áo không chịu đóng đấu, trực trại khám hành-lý, sẽ bị làm kiểm-điểm và bị “đánh dấu” có âm-mưu trốn trại. Muốn vượt ngục thành-công, cần có bộ quần áo không bị đóng dấu và thực-phẩm đề-phòng lạc trong rừng vài hôm. TH6 B chưa hề có tù-nhân nào trốn trại.

Quản-giáp Để đợi chúng tôi ngoài cổng trại. Ông thầy dẫn chúng tôi tới hiện-trường lao-động. Hai vệ-binh canh gác chúng tôi. Ở trại lao-cải, thằng công-an nào cũng có thể “giáo-dục” tù-nhân. Vậy chúng nó là thầy hết trọi. Hiện-trường lao-động của chúng tôi sát khít cơ-quan và cách bờ sông Ray 30 thước. Đó là khoảng đất có nhiều cây cháy vì bom lửa và năm bẩy hố bom lớn, sâu trũng. Cỏ gai và cỏ nhỏ chằng-chịt. Chúng tôi sẽ trồng rau ở đây. Thầy Để gom 50 tờ khai lý-lịch, thầy gọi riêng từng tù-nhân “làm việc” rất khẩn-trương rồi thầy chọn 10 người đi lấy dao, cuốc, xẻng, búa chim, xe. Xe là miếng tôn rỉ sét, hai mép dọc bọc lấy hai khúc cây dài, đóng đinh cho khỏi tuột, dùng để khiêng đất. Còn là tre đan khổ miếng tôn, luồn qua hai khúc cây. Và cộng-sản gọi rằng “cái xe”! Chúng tôi phải phát quang và làm phẳng phiu khu đất này rồi mới vỡ đất, lên luống trồng rrau.

Tôi quên chưa kể chi-tiết này: Ra tới hiện-trường lao-động, đội phải tập-họp “hai hàng dọc, nhìn đằng trước thẳng, nghiêm” để Đội-trưởng báo-cáo với vệ-binh.

– Báo-cáo cán-bộ, Đội 17 rau xanh tập-họp đủ 50, chờ lệnh cán-bộ.

Vệ-binh sẽ phán:

– Cho phép lao-động.

Bấy giờ tù-nhân mới cất ca-cóng, cởi quần áo, mình trần xà-lỏn “đóng góp cho sự phồn-vinh của tổ-quốc”. Sau mỗi buổi tan lao, Đội-trưởng tập-họp đội, báo-cáo vệ-binh. Vệ-binh cho phép đi tắm. Tắm xong, Đội-trưởng tập-họp đội, đếm đủ người, báo-cáo vệ-binh. Vệ-binh cho về trại. Vệ-binh đứng canh cho đến khi đội nhập trại. Đội-trưởng miễn lao-động chân tay nhưng lao-động… mắt. Cứ khoảng 20 phút lại đếm tù và đứng cách vệ-binh 3 thước báo-cáo quân-số đang lao-động. Tù-nhân trốn trại, Đội-trưởng lãnh búa tạ. Đi cải-tạo, bị chỉ-định làm Đội-trưởng là ôm tai-hoạ chưa hiểu ngày nào nó giáng xuống số-phận mình. Vệ-binh không thể đứng 8 tiếng đồng-hồ, lại không thích ngồi dưới gốc cây, trên gò mối nên mỗi đội đều có hai cái ghế đẩu thấp dành cho vệ-binh. Nhiệm-vụ của Đội-trưởng là bưng ghế cho vệ-binh ngồi và cất ghế lúc tan lao.

Khi bưng ghế cho vệ-binh ngồi, tôi lại nhớ người bạn đạo-diễn Hoàng Vĩnh Lộc. Tôi quên mất năm nào của thập-niên 70, hãng phim Giao Chỉ tiếp-tân ở Majestic giới-thiệu truyện phim Người tình không chân-dung mà hãng sắp thực-hiện. Buổi tiếp-tân có Tổng-trưởng Ngô Khắc Tỉnh. Ông ta được mời phát-biểu về truyện phim mà ông có vinh-hạnh đọc trước. Vì cái bục cao mà Ngô Khắc Tỉnh lùn nên ông khó lòng đọc bài phát-biểu viết sẵn đặt mặt bục. Hoàng Vĩnh Lộc nhanh chân kiếm cái két nước ngọt đem tới cho Ngô Khắc Tỉnh bước lên. Tôi vỗ vai Hoàng:

– Phim của mày có quanh cảnh …bưng két này không?

Hoàng chửi tôi:

– Đ.m…, mày chơi ông đau quá!

Rốt cuộc thì tôi cũng lại bưng ghế. Kẻ dám lên Đài truyền-hình Huế năm 1972 cùng Phạm Duy, Tô Thùy Yên nhắn giùm lời hạ-sĩ Sứt, thủy-quân lục-chiến điều-khiển hoả-tiễn Tow, thách-thức Võ Nguyên Giáp hãy cho tăng Liên-xô vào, ai ngờ có ngày lãnh cái tát của cai ngục Phách và bưng ghế cho vệ-binh chăn trâu cắt cỏ. Có lẽ, người ta đánh giá tôi khiếp-nhược và đầu hàng cộng-sản qua cái bi-hài-cảnh này. Tôi chưa biết, nếu Tố Hữu bắt tôi bưng ghế, thái-độ của tôi sẽ ra sao. Chữ nếu không bao giờ có. Người cộng-sản kiêu-ngạo lắm. Họ đã chỉ để bọn chăn trâu cắt cỏ, bọn nhãi ranh trên dưới 20 tuổi giáo-dục chúng ta. Tôi sẽ chẳng có phản-ứng gì với đối-tượng chăn trâu cắt cỏ. Đối-tượng chiến-đấu của tôi là chủ-nghĩa cộng-sản và lãnh-tụ cấp ủy-viên Bộ Chính-trị trung-ương Đảng. Rõ rệt nhất, tôi không thèm rên-rỉ, bất-bình những hình-phạt của thù-hận giáng xuống thân-phận tôi. Tôi chưa quên lời khuyên tâm-cảm của người chấp-pháp miền Nam ở Sở Công An: “Có nhiều vị anh-hùng không chết ở chiến-trường mà bị chết nhục ở cái lỗ chân trâu. Anh chớ dại chết vì cái lỗ chân trâu.” Tôi chưa quên lời khuyên tâm-cảm của người cai ngục khác thường tên Vũ, Trưởng-khu A4 Chí Hoà: “Các anh không ở đây lâu. Tôi cũng không ở đây lâu. Tôi không thích công-tác quản-giáo tù-nhân. Tôi ít tuổi hơn các anh, xin các anh một điều : Đừng chống đối cán-bộ quản-giáo, bất cứ nơi nào. Họ không có quyền bắt các anh, không có quyền tha các anh, nhưng có quyền hành-hạ các anh, đầy-đoạ các anh vào chỗ chết thảm”.

Sự nổi tiếng của tôi là một bất-lợi lớn, một bẽ-bàng cho tôi khi tôi vào tù. Tôi đã tạo ra những nhân-vật thần-tượng, những mẫu người hùng lý-tưởng trong tiểu-thuyết của tôi. Độc-giả say mê nhân-vật thần-tượng rồi gán-ghép cho tôi ngôi vị thần-tượng của họ. Trước 1975, đã nhiều lần tôi khước-từ ngôi vị thần-tượng phù-ảo mà độc-giả của tôi phong tặng cho tôi. Người nghệ-sĩ sáng-tạo khác người nghệ-sĩ trình-diễn. Nhà văn không có thần-tượng và không thích làm thần-tượng. Thần-tượng của nhà văn là nỗi cô-đơn. Bởi vì, cô-đơn soi sáng sáng-tạo cho nhà văn. Ở bài Một chút tâm sự của người làm thơ trong tù, tôi viết: “Tôi làm thơ để quên mệt mỏi, để chống ngủ sầu. Nhưng đúng nhất, tôi làm thơ để tồn-tại. Sự tồn-tại khác với sự sống. Một số ít, trong chúng ta, quan-niệm sự sống và sự tồn-tại giống hết. Do đó, nẩy sinh ra nhiều mâu-thuẩn, ngộ-nhận chua xót. Tôi cho rằng con người tồn-tại. Và tôi không thù-hận con người . Thời-đại tôi, nhất là trong cảnh-ngộ tôi, tín-đồ bắt buộc thần-tượng của họ phải thực-hiện ý muốn của họ. Họ độc-tài, quá-khích, muốn thần-tượng của họ thù-hận những kẻ đầy đoạ họ như họ thù-hận. Thần-tượng trái ý. Họ đạp đổ thần-tượng, bài-bác và bôi bẩn. Họ thù thần-tượng cũ hơn cả kẻ thù của họ nữa”.

Người ta trông đợi ở tôi một sự chống đối quyết-liệt bọn công-an coi tù, tôi lại … cam đành vác ghế! Tôi không thể chống đối bọn cộng-sản giẻ rách này. Thứ nhất, họ không phải đối-tượng của tôi. Thứ hai, tôi không thích chết dại ở lỗ chân trâu. Thứ ba, tôi thương họ hơn là thù-hận họ.

Chưa bao giờ tôi thấy triết-lý Nguyễn Du tuyệt-diệu trong câu :”Chữ Tài liền với chữ Tai một vần”. Tôi muốn nhắc lại câu nói bất-hủ trước khi bay đầu của người đồng-bóng Tang Môn :”Tài-năng là cứu-cách, đồng thời, cũng là tai-hoạ của con người.” Cứ lèng-mèng lại khá. “Ngu-si hưởng thái-bình” là vậy. Tài-năng của tôi còn dẫn tôi đến tai-hoạ khác. Và tôi nằm bẹp dí giữa sức ép của phỉ và ngụy. Một số thư-lại Long Thành, khuyển mã của Nguyễn Văn Thiệu, một số sĩ-quan văn-phòng , khuyển mã của Cao Văn Viên vấn nạn tôi và quy tội “làm mất nước” cho tôi. Vì tôi đã đối-lập Nguyễn Văn Thiệu bằng cách đi … ăn mày! Đối-lập, với nhà văn là phản-kháng, là nghĩa-vụ của người cầm bút, trừ những anh ký-giả nhà nước, những ông nhà văn giám-đốc, chánh sở…. Ở Nhà tù, tôi đã viết rõ sự cần-thiết phản-kháng để làm thăng-hoa đời sống. Tôi xin ghi lại những câu thơ Trần Dần mà tôi coi như kim-chỉ-nam của tất cả những người cầm bút:

Chẳng thể rúc kèn cũ rích
vác loa mồm kêu:
“Hiện tại rất thiên-đường!”
Không
Thiên-đường chúng ta
là nối đuôi nhau
vô tận triệu thiên-đường
Đi mãi
chẳng bao giờ thoả.

Đối-lập một chế-độ không bao giờ là đối-lập tổ-quốc. Chống đối, loại bỏ một chế-độ khốn-kiếp lại là yêu-cầu cần-thiết của dân-tộc. Còn đi ăn mày vào cái ngày báo-chí Sàigòn xuống đường đi ăn mày thì tôi đã, chẳng những không đi mà còn chống đối. Người cầm bút chiến-đấu bằng tư-tưởng, chống đối bằng tư-tưởng. Người cầm bút phẫn-nộ bằng chữ-nghĩa, không phẫn-nộ bằng bị gậy đi ăn mày, diễn trò hề rẻ tiền dưới mắt báo-chí thế-giới. Những kẻ không biết viết và viết chẳng ra gì mới đối-lập kiểu ăn mày bệ-rạc.

Ăn mày là ai?
Ăn mày là ta,
Đói cơm rách áo hoá ra ăn mày.

Cũng thế, đói tư-tưởng, rách chữ-nghĩa thì hoá ra nhà văn, ký-giả ăn mày. Hình-tưởng tác-giả Cậu chó đi ăn mày phản-kháng đi! Tôi e rằng không có tác-dụng gì cả. Tuy nhiên, ký-giả ăn mày vẫn còn một điểm để đề-cao cái nền dân-chủ què-quặt của Nguyễn Văn Thiệu. Dẫu sao, người ta vẫn được quyền biểu-diễn trò chơi dân-chủ rất hạ-cấp ấy. Và tôi là nạn-nhân khi nằm tù. Người ta mỉa mai tôi “Bây giờ dám đối-lập, dám đi ăn mày không?”! Tôi im lặng. Cái bọn vấn nạn và kết tội tôi không có kiến-thức. Họ thua cộng-sản xa. Người cộng-sản mới hiểu nổi nhà văn chống đối họ.Bọn nhà văn là bọn biết dấu-diếm những điều cần dấu-diếm kỹ trong đầu óc của chúng” (4) Cựu-ước-kinh viết: “Có một thời im lặng và một thời lên tiếng”. Thời lên tiếng không phải là thời nằm ở nhà tù, trại tập-trung. Lên tiếng chống đối ở nhà tù là dại, lên tiếng chống đối lũ cai tù chăn trâu cắt cỏ là ngu. Lên tiếng tranh-chấp với bạn tù hẹp-hòi, thiển-cận là xuẩn. Vậy “xếp tàn lại để dành hơi” cho một lên tiếng trong tương-lai.

Và bình-thản bưng ghế. Vì “trại-viên cải-tạo phải triệt-để tuân-hành mệnh-lệnh,. chỉ-thị của cán-bộ”, Nội-quy ghi rõ. “Hùm thiêng khi đã sa-cơ cũng hèn”. Bưng ghế không nhục bằng “Để chúng dắt đi tựa trâu bò” như Hồ Chí Minh tự thú và không bỉ-ổi bằng “ăn cắp, ăn vụng”. Thoạt đầu, tôi rất khó chịu sự vinh-quang của “lao-động” bê ghế. Chúa ơi, Ngài dạy rằng:

“Đừng chống cự kẻ ác. Trái lại. hễ ai vả má hữu ngươi, hãy đưa má kia cho họ luôn. Hoặc ai muốn kiện ngươi để lấy áo trong, hãy để họ lấy luôn áo ngoài nữa. Hay là hễ ai muốn bắt ngươi đi một dặm, hãy đi hai với họ. Ai xin, ngươi hãy cho, ai muốn mượn của ngươi thì đừng làm ngơ. Các ngươi đã nghe phán rằng: “Hãy yêu người lân cận và ghét kẻ thù nghịch”. Nhưng ta nói cùng các ngươi, hãy yêu kẻ thù nghịch các người và cầu nguyện cho kẻ bắt-bớ các ngươi hầu cho các ngôi được làm con của Cha các ngươi ở trên trời. Bởi vì Ngài khiến mặt trời soi trên kẻ ác cùng người thiện, mưa cho người công-chính cùng kẻ bất-nghĩa. Nếu các ngươi yêu kẻ yêu mình thì có được phần thưởng gì đâu? Kẻ thâu thuế há chẳng làm như vậy sao? Lại nếu các ngươi chỉ chào anh em mình mà thô,. thì có lạ gì hơn ai?” (5)

Con đã tuân lời Ngài, không “chống-cự kẻ ác”, con đã bê ghế cho “kẻ thù nghịch”, con chưa thấy mặt trời soi trên kẻ thiện, mưa xuống người công-chính. Mà chỉ nghe những lời nguyền-rủ nghiệt-ngã, mà chỉ chịu đựng những vu oan giáng họa tối tăm mặt mũi. Nhưng, Chúa ơi, hơi may cho con là những kẻ nguyền-rủa con không phải là “kẻ yêu mình”. Họ là khuyển mã của Nguyễn Văn Thiệu, Cao văn Viên, là đám quốc-gia bần tiện, nhơ bẩn, con có nên yêu họ, có nên đưa má hữu cho họ tát thêm sau khi họ đã tát má tả?

Quốc-gia bẩn kết tội tôi làm mất chế-độ khốn-kiếp của chúng nó, thù-hận tôi, chụp lên đầu tôi chục kiều mũ đê-tiện.

Cộng-sản ác kết tội tôi kéo dài chiến-tranh, đầy-tớ Mỹ ngụy, biệt-kích văn-nghệ, giam nhốt tôi, đầy-đọa tôi.

Tôi kẹt giữa hai sức ép ròng-rã tháng ngày lao-cải. Cai tù nhìn tôi như một tội-đồ nguy-hiểm. Tù-nhân bị cộng-sản tước-đoạt đặc quyền đặc-lợi chế-độ cũ nhìn tôi như một kẻ phá hoại. Tù-nhân độc-giả của tôi nhìn tôi như một tên khiếp-nhược. Họ trông đợi hành-động ngoạn-mục của tôi trong tù như hành-động ngoạn-mục của nhân-vật thần-tượng của tôi trong tiểu-thuyết. Cuộc đời có bao giờ là tiểu-thuyết? Tiểu thuyết đã được hiểu như cuộc đời! Họ chờ đợi tôi phẫn-nộ. Tại sao họ không chờ đợi văn-hào Nguyễn Mạnh Côn cùng trại với tôi, lỗi-lạc hơn tôi? Họ bảo ông Côn già rồi, lờ-mờ rồi, hết sáng-suốt vì đói thuốc phiện rồi. Họ muốn tôi làm vật tế thần, làm kẻ hy-sinh. Để họ hoan-hô và nếu tôi chết, họ tưởng-niệm. Còn họ, họ thụ-động.

Không, tôi không khoái làm liệt-sĩ hay dũng-sĩ. Tôi không thích chết sảng: không thích vào cachot vì bị xúi dục. Tôi hết là “thần-tượng” của những người cổ ý gán ghép tôi tước-vị thần tượng. Và bất hạnh xẩy đến cho tôi. Dài dài. Cái đám nhân-loại ích-kỷ trong nhà tù cộng-sản chỉ muốn tôi chết-. Mà tôi. tôi cần sống để viết và để tồn-tại. Vậy thì tôi bưng ghế như mọi tù-nhân bị cưỡng-bức sai vặt những công việc ngoài ý muốn.”Ở đời trăm sự đều cay đắng Cay đắng đâu bằng mất tự-do, Mỗi lời mỗi việc không tự chủ . Để chúng dắt đi tựa trâu bò”(6) Hồ Chí Minh chấp nhận bị “dắt đi tựa trâu bò” để trở thành chủ-tịch Hồ Chí Minh “vĩ đại sống mãi trong sự nghiệp” cộng-sản.Những thằng cộng sản cắc ké khác đã “bất khuất”, đã chết ngu. Để chỉ là liệt-sĩ chẳng có cái gì đề lại và chẳng ăn cái giải gì. Tôi yêu câu thơ của Nguyễn Bá Trác: “Chí ta ta biết, lòng ta ta hay”. Cái chí của tôi, rồi người ta sẽ biết, là những gì tôi để lại sau khi tôi nhắm mắt.

Tâm sự của tôi, ở tù và ra tù, tôi gửi trong bài Gọi Tự Trường.

Tử Trường, Tử Trường, ơi Tử Trường
Xưa hay là sau đều thê-lương
Xưa chịu nhục-hình cho sử-ký
Sau làm sáng tỏ nghĩa yêu thương

Đã thiết-tha nhiều chuyện Lý Lăng
Tiếng than sĩ-khí buốt cung đàn
Ai dám vì ông mà chuộc tội
Cõi đời ngu-muội phán lăng-nhăng

Ông đau vết hoạn lưỡi dao hèn
Từ đó cung giương một mũi tên
Theo hồn tài-tử, tên bay vút
Ngạo-nghễ hành tình Tư Mã Thiên

Cái bọn chê ông chết hết rồi
Nhưng ông sống mãi như mây trôi
Hai nghìn năm ngỡ chừng gang tấc
Mảnh đất oan này lại có tôi

(Thơ Tù – Nam Á Paris, 1984)

Tôi đã đọc một điều tuyệt diệu trong Luận Báo Vương Tam Muội “Oan ức không cần biện bạch vì biện bạch thì hèn nhát mà trả thù thì oán đối tăng thêm”. Thế mà tôi đã phải biện-bạch. Bởi vì cả phỉ lẫn ngụy vây hãm tôi, cùng chơi tôi một đòn quyết-liệt: Bôi bẩn, nhục mạ tôi để vô-hiệu-hóa uy-tín và khả-năng chiến-đấu chống cộng-sản bằng tư-tưởng của tôi.

Tôi đã biết một phái-đoàn Amnesty International từ Luân Đôn sang Việt Nam, xin vào được Chí Hòa thăm Cao Dao và tôi, năm 1978. Tôi bị khước từ gặp AI (7) Trực-giác của tôi cho tôi biết tôi sẽ được cứu. Vì phải thả Cao Dao và tôi ra để “thể-hiện tình-nghĩa anh em quốc-tế” đánh đổi sự tự-do cho và i nhà văn, nhà báo cộng-sản Nam Dương bị chế-độ Suharto giam nhốt, cộng-sản mở chiến-dịch hạ gục Cao Dao và tôi, trước khi họ tha cho làm phúc. Cao Dao bị gán nhãn-hiệu thảm hơn, “ăng-ten trong trại cải-tạo”. Cộng sản nửa kín nửa hở phụt tin rỉ tai cho tù-nhân. Họ chọn những đối-tượng ghét chúng tôi. Họ bịa đủ mọi chuyện, tù-nhân thêu dệt thêm. Ông “nhà văn lão thành” Toan Ánh, ký Lã Vi, không hề bị bắt. Biết gì mà phao tin bẩn? Hồ sơ của công-an đâu phải thông-cáo dán tường mà ai cũng đọc, cũng biết. Đến như ông Tạ Tỵ đã học tập cải tạo, vẫn vô lý như vầy: “Nếu cách-mạng tha tôi, tôi tình-nguyện báo-cáo hết những tên làm văn-nghệ CIA ở Sàigòn”. Vẫn ông Tạ Tỵ: “Câu này do chính tên công-an nói lại cho tù nghe, xong nó mỉa-mai: Chúng tôi đâu có cần anh Duyên Anh chỉ-điểm. Chúng tôi đã “nắm vững”. Nghề của chúng tôi mà”! (8)

Nói ông Tạ Tỵ vô-lý ác ý vì:

1 Các nhà văn quân-đội đi trình-diện từ tháng 6-1975. Tôi bị bắt tháng 4-1976.

  1. Các nhà văn, nhà báo bị bắt trong chiến-dịch 2-4-1976 1 976 vào tù cả làng, có cần ai chỉ-điểm.
  2. Không có nhà văn-nghệ nào là CIA cả. Ông Tạ Tỵ bịa ra và đã làm giảm tư-cách của văn-ghệ Sàigòn. Chỉ có cộng-ản đổ tội văn-nghệ Sàigòn làm việc cho CIA.
  3. Ông Tạ Tỵ ngoan-ngoãn nghe và tin tên công-an cộng-sản tiết-lộ những điều nhằm bôi bẩn tôi. Ông ta ngu quá không biết lý-luận và cũng không tự hỏi công-an bôi bẩn tôi nhằm mục-đích gì.
  4. Công-an coi tù không có ngôn-ngữ “Nghề của chúng tôi mà”. Coi tù là coi tù, nó mù tịt những gì tù-nhân khai với chấp-pháp.

Cái đắc chí của ông Tạ Tỵ là ông dẫn chứng “chính tên công an nói lại cho tù nghe” những lời bêu nhục tôi là bằng-chứng cụ-thể rằng cộng-sản đã mở chiến-dịch hạ gục uy-tín chống cộng tự nguyện của tôi trước khi tha tôi. Nó đánh tôi trong tù, ngoài đời; trong nước ngoài nước. Nó muốn tư-tưởng chống cộng của tôi tê-liệt, tôi về cũng như tôi chết. Bây giờ, chiến-dịch ấy trở thành lố-bịch. Công-cụ của nó rách bươm. Bây giờ, những con chó điên đã hết sủa bậy. Bây giờ là thời lên tiếng của người công-nghĩa . Bây giờ còn là thời của phu đào mồ phả tỉnh khơi sâu nấm huyệt tập-thể chôn vùi những tên điêu-ngoa, bịa đặt, gian dối, a-dua toa rập. Bây giờ, trên nước Mỹ tự-do, nước Mỹ không có nhà tù cho những người đối-lập tư-tưởng, nước Mỹ không có nhà tù của những thằng quốc-gia bẩn nhãn hiệu Nguyễn Văn Thiệu, Cao Văn Viên, nước Mỹ không có trại tập-trung của cộng-sản, người ta định-nghĩa anh-hùng và khiếp-nhược ra sao về thái độ của vài nhà văn Hamburger đối với lũ quyền-uy ảo-tưởng?

 

(1) Minh-suyễn được tha năm 1982. Năm 1985 Minh-suyễn chết. Gia-đình chôn cất hòm đắt tiền, phu nhà đòn quốc-doanh đào mả, lấy hòm, vất xác Minh-suyễn trên miệng huyệt. Minh-suyễn được chôn lần thứ hai (Theo tin của bạn tù mới qua Paris)

(2) Ở tù cũng như ở trại cải-tạo, y-tá không cần-thiết phải là y-tá tốt-nghiệp ở một trường nào, chỉ cần đọc được tên vài thứ thuốc và cách trị bệnh thông-thường. Thí-dụ: y-tá Đoàn Văn Toại, Lý Sen…

(3) Thứ gạo Trung-quốc viện-trợ để lâu mục nát, vo là tan thành bột.

(4) Huỳnh Bá Thành. Vụ án hồ Con Rùa, nhà xuất-bản Tuổi Trẻ, 1982.

(5) Tân-ước, theo Matthew, ấn bản của The Gideons International, trang 11.

(6) Hồ Chí Minh, Ngục trung nhật-ký.

(7) Năm 1984, nhân-viên của AI trung-ương ở Londres viết thư cho tôi có nhắc vụ không được gặp tôi ở Chí Hoà.

(8) Tạ Tỵ, báo đã dẫn.

 

`

-4-

Những ngày đầu “làm quen lao-động”, thầy quản-giáo Để cho đội của tôi tự-do. Mệt thì nghỉ. Muốn nghỉ bao lâu tùy ý. Dẫu là nông-dân nhưng nhiều tháng nằm tù không lao-động, tay em sưng mọng, phồng nước đau xót. Rồi những chỗ mọng nước vỡ ra, chai lại. Đó là lúc tù-nhân phải lao-động đúng thời-khóa-biểu quy-định theo tiếng kẻng. Kẻng của Sa Ác B là vỏ trái bom. Đánh kẻng bằng khúc sắt tròn nhỏ, âm-thanh của nó vang vọng chu-vi một cây-số. Có 11 hồi kẻng trong ngày. Kẻng báo thức sáng. Kẻng tập họp đi lao-động. Kẻng giải-lao. Kẻng vào lao. Kẻng tan lao. Kẻng báo thức trưa. Kẻng tập họp lao-động. Kẻng giải lao. Kẻng tan lao. Kẻng tập họp điểm danh vào nhà. Kẻng báo ngủ. Chủ-nhật chỉ có ba hồi.

Giai-đoạn đầu tiên của chúng tôi là chuẩn-bị đất trồng rau. Nghĩa là phát quang. Tất cả các đội đều phải phát quang giai-đoạn đầu. Đội của tôi chia thành 5 tổ. Một tổ hạ những cây lớn cháy lưng chừng, bứng gốc lên rồi khiên cây chất một chỗ. Những cây bị bom napalm làm cháy không lớn lắm, ở khu-vực lao-động của chúng tôi, nên đào đất sâu quanh gốc, bứng cũng dễ dàng. Một tổ san-bằng các gò mối cao lấy đất lấp hố bom. Một tổ khiêng đất lấp hố bom. Hai tổ chặt cây nhỏ, cỏ tranh đầy gai xếp thành đống.

Đội 21 nông-nghiệp của Đằng Giao được giao công-tác mở đường xuyên khu AB để xe vận-tải có thể lưu-thông. Hai bên đường cũ có vài trái bom chưa nổ. Muốn đắp đường rộng, phải đào bom khiêng đi. Những trái bom cắm sâu xuống đất. Đội của Đằng Giao có hai quái-nhân và một lý-thuyết-gia “cái gì cũng có thể làm được”. Quái-nhân thứ nhất. Trung sĩ Phạm Thái Ất – khi chưa khai lý-lịch riêng nộp quản-giáo xưng là Đại-úy không-quân trốn trình-diện cải-tạo. từng bay trên phản-lực điều-khiển B52 trút bom, với tù hình-sự khoe là trung-ương tình-báo cộng-tác với CIA – lính địa-phương Long Khánh, người luôn luôn tỏ vẻ hơn mọi người khác. Quái nhân thứ hai, Tạ Dung, võ-nghệ đay mình, khỏe như voi, nửa điên nửa khùng, từng cầm ngang cây cuốc đứng giữa bãi nắng, nhìn mặt trời mà cười hết nửa buổi khi bị kỷ-luật. Thầy quản giáo Bản điếc không sợ bom nổ, thích chơi bạo, muốn đào bom khiêng đi. Thầy nghĩ các anh Cù Chính Lan, La văn Cầu, Bế văn Đàn dám chơi bạo, thầy sẽ dám…bắt tù-nhân chơi bạo. Thầy hỏi ý-kiến lý-thuyết-gia Nguyễn Mạnh Côn. Anh Côn bảo bom đã rơỉ mà không nổ thì không bao giờ nổ!

Đằng Giao kể xong, lắc đầu:

– Tôi sợ bố Côn quá. Bố ấy cứ làm như. . . khoa-học giả-tưởng.

Tôi hỏi:

– Đào bom không?

– Đào. Đóng phim xì-cu-mun phước-thiện. Sợ xón đái ra quần. Vừa móc đất bằng tay vừa run, vừa buộc giây vừa rét, vừa khiêng vừa niệm Phật.

– Mấy quả?

– Mới hai.!

– Còn mấy?

– Ba.

– Để đâu?

– Giữa bãi vắng. Chất củi, cỏ chung quanh, châm dầu, đứng xa liệng bùi nhùi lửa vào rồi chạy.

– Nổ không ?

– Củi cháy hết mà nó đếch nổ.

– Bố Côn đã đúng. Còn cu Ất?

– Nó bảo bom cắm xuống đất lâu ngày nó…chết rồi! Thằng Tạ Dung hung-hăng khiêng.

Chúng tôi đã đào bom chưa nổ, khiêng bom và lấp những hố bom đã nổ. Tôi có dịp suy-nghĩ về những trái bom chưa nổ và những hố bom. Dân-tộc bất-hạnh của chúng ta là nạn-nhân của Mỹ và Liên-xô, tư bản đô-la và vô-sản rúp. Mỹ đem bom tàn-phá quê-hương ta, chúng nó đã trút bom xuống mồ mả tổ-tiên chúng ta, khai quật hài-cốt tổ-tiên chúng ta, mà chúng nó bảo chúng nó khai-phóng dân-chủ, bảo-vệ tự-do cho chúng ta. Nhưng rồi chúng nó cuốn cờ chạy làng, sau một phản-phúc đê-tiện nhất nhân-]oại. Chúng nó chạy làng, dắt theo bọn thống-trị cầy cáo tay sai. Chúng tôi ở lại . Cộng-sản bắt chúng tôi khiêng bom Mỹ chưa kịp nổ và lấp hố bom đã nổ. Suy-nghĩ hóa thành bài thơ:

Nhân danh ai?

Những trái bom chưa nổ
Những trái bom chưa nổ
Nằm ngổn ngang đâu đó
Nằm ngổn ngang đâu đây
Ta tháo gỡ từng ngày
Những trái bom đã nổ
Vực sâu còn đâu đó
Vực sâu còn đâu đây
Ta lấp kín từng ngày
Nhân danh ai bom nổ
Người chết không nấm mộ
Nhân danh, nhân danh ai
Người sống tìm tương lai
Gỡ bom và lấp hố
Ta vác thánh giá này
Vác bom chưa kịp nổ
Ta chịu đau thương này
Đem thân ta lấp hố
Văn minh nào sẽ nở
Trong nhân loại một mai

(Thơ Tù – Nam-Á Paris, 1984)

Cái động của trại tập-trung khác hẳn cái tĩnh của nhà tù Nó gầm-gừ đe-dọa cắn xé da thịt. Nếu tôi được trải qua 10 trại lao-cải từ Sơn La vào Thanh Hóa. Lao Bảo, Kàtum…, chắc chắn, tôi sẽ viết nổi một Goulag như một báo-cáo tội-ác của cộng-sản với loài người . Tội ác ấy, một nửa dân tộc Mỹ phải gánh chịu. Phần thứ hai của Trại Tập-trung, tôi sẽ viết theo lời kể của các tù-nhân đã ở các trại khác nhau. Bạn sẽ biết trại An Túc ở Đà Năng, nơi tù-nhân bị tù-nhân thủ-tiêu và các tù-nhân bác-sĩ phản tỉnh thay phiên nhau tự sát ra sao.

Chúng tôi đã lao-động nửa tháng. Đằng Giao đã hết “tự-hào” khi bưng ghế cho vệ-binh.

– Bọn nó hách-xì-xằng hơn cụ Hách xì-xằng và ngọng hơn thằng Ngọng của tôi, ông thầy ạ?

Anh ta chán nản:

– Số khốn-nạn mới bị làm Đội-trưởng, toàn những thằng muốn làm tù cha. Nói với mình thì chúng nó bất-chấp, đứng trước quản-giáo chúng nó rúm lại. Phản-động cái gì!

– Có nhiều loại phản động.

– Tướng sư-đoàn đếch chỉ-huy nổi một đội tù cà-chớn.

Đằng Giao và tôi ăn cơm chung ở Sa Ác. Chúng tôi đã được viết thư về báo tin cho gia đình biết trại mới. Ở đây, hai tháng thăm nuôi một lần và gặp vợ con hai mươi phút.

– Tôi rầu bố Côn quá.

– Ông ấy lẩn-thẩn rồi. Thuốc phiện làm ông ấy sáng-suốt và thuốc phiện hủy-diệt ông ấy toàn diện.

– Ông ấy ra bãi được ngồi chơi thì cứ ngồi chơi, lại ham ý-kiến lao-động.

Viết về anh Nguyễnn Mạnh Côn thật là khó. Vì anh ấy đã chết. Ba chúng tôi Đặng Hải Sơn. Đằng Giao và tôi thoả-thuận với nhau, nếu còn sống ra đời tự-do, sẽ quên anh Côn. Những nếu có kẻ nào phong thánh, phong thần cho anh Côn và ông Hồ Hữu Tường, bổn-phận của chúng ta phải nói cho đúng. Chúng ta không thề bắt con cháu chúng ta thờ-phụng những vị anh-hùng không bao giờ là anh-hùng. Tôi vừa đọc đâu đó, bài của một vị tự nhận mình là chứng-nhân, bảo rằng cộng-sản đã vất anh Côn vào biệt-giam, bỏ đói anh 3 ngày và anh chết ở đó. Điều này hoàn toàn sai. Tù-nhân chứng-kiến diễn tiến từng ngày vụ Nguyễn Mạnh Côn ở Sa Ác, ở Paris, ít nhất có Trần Thanh Liêm, phi-công trực-thăng; ở Mỹ, ít nhất có Đức-méo, Phó quận và Ngô Đình Hoa, Phó quận. Văn-nghệ Sài gòn trước 1975 đã xẩy ra một vụ thật bẩn. Là âm-mưu làm tiền nhà tỷ-phú Phạm Quang Khai. Công-ty này gồm 4 nhà văn, nhà thơ lừng danh. Tỷ phú Phạm Quang Khai nhờ cảnh-sát gài bẫy. Bắt trọn ổ. Một nhà văn sắp chết được miễn vào ấp. Một nhà thơ vốn là Giám-đốc Đài phát-thanh, bắt thì xấu hổ chế độ. Vậy tha. Hai nhà vào ấp là Vũ Bằng và Mặc Thu. Sau 30-4-1975, hai nhà này được giải-phóng. Nhà văn Mặc Thu bị bắt đi cải-tạo Nhà “tiền chiến” Vũ Bằng không bị bắt. Ta cứ lơ-mơ lờ-mờ ghép vào vụ Nguyễn văn Thiệu bắt Sức Mấy, Chóe…cho nó chính-trị, đối-lập chế-độ cũ. Cái dấu-tích ô-nhục tống tiền tỷ-phú Phạm Quang Khai không thấy nhắc-nhở trong những bài báo tưởng-mộ, truy-điệu một nhà văn nham-hiểm đã đóng kịch ăn uống với anh em chê người này, chửi người kia rồi giăng bẫy cho Mai Chí Thọ. Không nên đề những thằng bẩn, dù là nhà văn, đóng vai quân-tử khi sống và khi chết.

Vậy cần xét lại và viết thật chính xác. Riêng anh Nguyễn Mạnh Côn, tôi chỉ viết về những ngày sống chung với anh ta ở Chí Hòa và Sa Ác. Những chuyện ứng-cử dân-biểu, nằng-nặc đòi tặng Nguyễn Văn Thiệu bản thảo hoà-bình nghĩ gì, làm gì đóng bìa da gáy mạ vàng (bị báo-chí công-kích tơi-bời). .xin miễn bàn.Mọi sai lầm của anh Côn đều do thiểu thuốc phiện. Một người đã viết Cộng-sản là gì, đã tự cho mình là người hiểu biết cộng-sản hơn bất cứ ai, đã bị cộng-sản bỏ tù một lần trước 1950 mà vẫn ngồi ảo-tưởng cộng-sản sẽ xử-dụng mình. Hai tuần một lần, ở Chí Hòa, anh Côn xin giấy cai ngục viết thư cho Tổng bí-thư Lê Duẩn (Ông Hoàng Mạnh Hùng, cựu tù-nhân Chí Hòa khu FB và AH, hiện cư ngụ tại Costa Mesa, California biết rõ chuyện này). Việc anh Côn viết thư cho Lê Duẩn cũng khôi-hài như “tổng thống” Bùi Ngọc Phương xin giấy viết thư gửi cho Đại-sứ Mỹ ở Thái Lan nhờ ông Đại-sứ (quen ông Phương, ông ta nói thế) giàn-xếp với Đặng Tiểu Bình về vấn đề Việt Nam! Tôi không biết thư của anh Côn có tới tay Lê Duẩn. Một hôm, ở FG. anh được gọi ra “làm việc”. Về phòng anh khoe rằng anh “làm việc” với ủy viên Hội Nghiên Cứu Mác-xít.

Đoàn Kế Tường yêu quý anh Côn lắm. Chính tôi đã chứng-kiến Tường bợp tai anh cảnh sát Bâu ở 6C1 đề-lao Gia Định vì cảnh sát Bâu than phiền anh Côn mượn mấy viên trụ-sinh, hứa trả tiền rồi chuyển phòng chê thuốc đắt không chịu trả. Buổi tối hôm anh đi “làm việc” với Hội Nghiên Cứu Mác xít về, chúng tôi tụ tập chỗ anh. Tôi tỏ ý buồn-bã, chán-nản. Anh Côn nói:

– Việc gì mà buồn.

– Em lo cho vợ con ở nhà.

– Việc gì mà lo. Vợ chết lấy vợ khác. Con chết sinh con khác.

Đoàn Kế Tường hỏi:

– Còn sự-nghiệp?

Anh Côn đáp:

– Làm sự-nghiệp khác. Viết tác phẩm mới.

– Ai thèm đọc mình?

– Độc giả mới đọc mình.

Đoàn Kế Tường đứng dậy:

– Thế thì vô-liêm-sỉ quá. Sống làm chi nhỉ?

Từ đó, Đoàn Kế Tường khinh miệt anh Côn. Tường không chơi cờ tướng với anh Côn, không rửa chén cho anh Côn nữa. Anh Côn ăn xong là quăng thí chén ở sàn nước. Tường phải rửa giùm anh. Anh làm phiền nhiều người trong phòng. Họp cuối tuần, tuyên-bố bế-mạc rồi, anh còn cố yêu-cầu phát-biểu ý-kiến. Cúp ngang, anh dở lý-sự làm rùm beng. Ý kiến của anh kéo dài cả hai chục phút. Sang khu AH, anh Côn “tiến-bộ” hơn. Vào Sa Ác, anh lại dở chứng. Đi tiểu, anh không báo-cáo. Bị vệ-binh “lên lớp”, anh cự nự “Tôi có trông thấy cán-bộ đâu mà báo cáo?”. Vệ-binh la hét. Cả phòng thức hết. Nhiều lần như thế. Điểm danh anh nằm trong nhà không ra nhưng lấy bo-bo điểm-tâm, anh xếp hàng trước tiên. Nếu anh ra, anh ra chậm nhất. Trực trại đợi lâu, điểm danh Nhà khác, anh em ngồi chờ. Và chia cơm nước xong chưa kịp ăn đã nghe kẻng tập họp lao-động. Anh em công kích, anh nhe răng cười trừ. Xuống Y-tế khai bện nghỉ, anh khoác luôn cả mền như Django.

Có một chuyện khiến chúng tôi không dám gần-gũi anh nữa. Tù-nhân Liêu A. Sáng đứng sát hàng rào, bị trật-tự Hoa-nẫu thoi một trái. Ngay tối, tù-nhân chính-trị đòi họp Phòng. Thư-ký phòng Đặng Hải Sơn xin giấy làm biên-bản. Anh Côn vận-động cả tù hình-sự phản-đối trật-tự Hoa-nẫu xúc-phạm thể-xác tù-nhân. Anh hăng say bảo chúng tôi tỏ thái-độ. Trong cuộc họp, anh Côn không hề phát-biểu. Khi lấy biểu-quyết, một nửa phản-đối trật-tự Hoa,. một nửa không ý-kiến. Anh Côn dõng-dạc bắt Đặng Hải Sơn ghi vào biên-bản: “Tôi, trại viên Nguyễn Mạnh Côn, tôi cực-lực phản-đối những người phản-đối trật-tự Hoa. Chúng tôi ngỡ-ngàng. Đặng Hải Sơn nói:

– Thằng già này nham-hiềm quá. Nó xui mình phản-đối rồi nó phản-đối những người phản-đối. Tôi không phục-dịch nó nữa.

Đặng Hải Sơn không ăn cơm chung với anh Côn. Sau đó vài hôm, anh Côn được mạn-đàm với tên chính-ủy của trại. Tôi quên tên thằng già chính-ủy này. Anh Côn “hồ-hởi phấn-khởi”gạ tôi:

– Tớ với cậu viết chung một cuốn sách nhé?

– Sách gì. anh?

– Mình diễn-tả cái trại này như một trường học.

– Để làm gì?

– Khỏi đi lao-động.

– Anh viết một mình đi.

– Tớ muốn giúp cậu.

– Em còn lấn-cấn tư-tưởng chưa thật sự tiến-bộ, không dám viết.

Anh Côn không viết sách. Chính-ủy cho anh nằm nhà. Anh soạn-thảo kế-hoạch xây dựng trại. Tác giả Kỳ Hoa Tử đòi có cái nghĩa-địa cho tù-nhân và khi một tù-nhân chết cả trại nghỉ lao-động để đưa linh-hồn người quá-cố về quê mẹ. Kết-quả kế-hoạch của anh là chính-ủy bắt anh đi lao-động.

– Bố Côn chống tôi ông thầy ạ! Đằng Giao than-vãn.

– Chống gì? Tôi hỏi.

– Bố ấy bảo tôi không tranh-đấu cho bố ấy nằm nhà, bảo tôi không biết làm Đội trưởng.

– Ông đề-nghị quản-giáo cho bố ấy làm…cố-vấn Đội trưởng đi.

Ngày tháng qua nhanh. Đội của tôi đã lấp hết hố bom, bứng hết cây cháy và phát quang được khu trồng rau khá rộng. Chúng tôi đã nổi lửa đốt hết cây lớn, cây nhỏ, cỏ tranh xếp đống, chuẩn-bị vỡ đất lên luống.

Gần Tết, Đằng Giao và tôi có thăm nuôi. Hai chúng tôi theo “cán-bộ giáo-dục”, ông thầy Mạo, ra tận khu A khiêng đồ. Khúc đường cây đổ ngổn-ngang hôm chúng tôi vào khu B đã khai quang.

– Đội của tôi dẹp đấy. Đằng Giao nói.

– Với sức người sỏi đá cũng thành cơm. Tôi nói.

– Vài tháng nữa, xe vận-tải sẽ chạy trên đường này. Tôi đã thử sức, thấy mình đủ sức chịu đựng lao-động.

– Ông làm gì?

– Bứng gốc cây, khiêng cây. Tôi tình-nguyện làm, bị quản-giáo cấm hoài. Còn ông thầy?

– Tôi phá gò mối, gánh đất. Tôi gánh hết đau vai rồi. Mình đứng chơi thấy kỳ, mà lao-động thì hay quên báo-cáo quân-số, vệ-binh dũa thê-thảm. Nó chỉ-định mình giữ chức Đội trưởng là nó đưa mình vào chỗ thân bại danh liệt.

Chúng tôi gặp gia đình ở nhà thăm nuôi khu A. Vợ con tôi không nhận ra tôi. Trong tù, tôi xanh mướt. Ra trại tập-trung, tôi đen thui. Và gầy ốm. Hai mươi phút tôi nghĩ không tới, gặp vợ con, tôi chỉ nhìn thấy nước mắt và nước mắt. Vợ tôi cho biết thẳng con trai lớn của tôi vẫn còn nằm trên đảo Poulau Tengah, chưa được vào đất hứa Hoa kỳ. Những tin buồn-bã: Mất trộm, bị lừa gạt vượt biên, đau ốm…khiến tôi hết “an tâm cải-tạo”. Họa vô đơn chí, đó là trường-hợp gia-đình tôi. Bất- hạnh chập-chùng gối sóng lên vợ con tôi sau khi đã dìm tôi dưới hồ thẳm. Tôi không muốn nghe, muốn biết, muốn nghĩ về tai-họa mà vợ con tôi phải gánh chịu. Tất cả do tôi gây ra, tất cả do văn-chương, chữ-nghĩa của tôi gây ra. Tất cả do tên Duyên Anh gây ra. Tôi đã khốn-đốn vì cộng-sản. Tôi còn khốn đốn vì quốc-gia bẩn, quốc-gia ngu-xuẩn, quốc-gia a-dua, quốc-gia mê-muội. Cộng-sản chà đạp lên sự-nghiệp tim óc của tôi, còng tay tôi, tống tôi vào các nhà tù Sở công An, đề-lao Gia Định, khám lớn Chí Hòa, đẩy tôi ra các trại tập-trung. Quốc-gia bẩn ăn cướp sự-nghiệp tim óc của tôi, toa rập với công-cụ của cộng-sản vùi lấp danh-dự và uy- tín chiến-đấu của tôi.

Hết giờ gặp gỡ thân thân, chúng tôi gánh đồ tiếp-tế trở vào khu B. Qua cây cầu gỗ, Đăng Giao la ơi ới:

– Ông thầy, ông thầy!

Tôi ngoái lại. Đằng Giao co rụt cổ. Đòn gánh trễ xuống quá vai. Tổng thư-ký nhật-báo Sống không biết gánh. Chàng xử-dụng…lưng chớ không xử-dụng vai. Chàng cận hai túi đồ chứ không phải gánh. Bây giờ tôi mới yêu cái dĩ-vãng con nhà nghèo của tôi. Năm 1948, tôi đã biết gánh lúa, biết trở vai chạy một mạch từ cánh đồng về sân nhà. Năm 1951 , hồi-cư thị xã Thái Bình, tôi đã gánh nước cho mẹ tôi mỗi ngày. Tôi “quán triệt” nghệ-thuật gánh. Năm 1956, lưu lạc ở Trảng Lớn, Tây Ninh tôi đã gánh nước tưới rau mấy tháng. Vào trại tập-trung, tôi “ôn” đôi vai, gánh đất lấp hố bom rất dẻo. Và tôi gánh đồ thăm nuôi ngót 50 ký lô.

– Nặng quá. ông thầy ơi!

Đằng Giao buông đòn gánh, ngồi thở dốc. Ông thầy Mạo lắc đầu. Tôi đặt gánh xuống đường, chạy tới gánh giùm Đằng Giao. Cứ một quãng đường tôi gánh đồ của tôi, tôi lại đặt xuống, trở lui gánh đồ cho Đằng Giao. Thầy Mạo không giúp học trò. Thầy chỉ kiên trì…đợi. Được nửa đường, chúng tôi tìm thấy khúc cây dài. Chúng tôi luồn giây thắt miệng túi đồ qua cây, khiêng cho…lao-động đồng đều và đi nhanh. Đằng Giao cao, đi sau. Bốn túi đồ dồn sát phía vai tôi. Vậy mà cha đẻ Hách xì- xằng và thằng Ngọng vẫn co rụt cổ.

-Ôông thầy học gánh ở đâu thế?

– Thuở nhỏ, con nhà nghèo.

– Ông thầy đâu có khỏe mà gánh cừ quá.

– Gánh giỏi là do biết gánh.

– Chiến-đấu cũng vậy

– Đúng.

Sợ bị nâng cao quan-điểm, Đằng Giao tiếp:

– Chiến-đấu lao-động cải-tạo.

Tôi thêm:

– Phấn-đấu lao-động cải-tạo.

Cuối cùng, chúng tôi đã về trại. Đồ đạc trong túi bầy từng món ra sân cỏ. Các vị thầy xúm quanh khá đông .Không có màn đổ thịt, đổ mắm vào chậu khoắng, nguấy như ở đề-lao Gia Định. Trực trại nghi-ngờ món nào, cầm lên và hỏi. Sau đây là hài-kịch ngắn khám đồ thăm nuôi của học trò lần đầu có thăm nuôi và các ông thầy quản-giáo vệ-binh từ Bắc vô thẳng rừng già Sa Ác.

Ông thầy (cầm cuộn giấy Kiss me lên ngắm nghía) : Giấy vấn thuốc rê, hả?
Học trò: Thưa cán-bộ, giấy đi cầu ạ!
Ông thầy (liệng cuộn Kiss me xuống): Chùi đít ?
Học trò: Dạ!
Ông thầy (nhìn gói lạp xường, bắt gỡ ra): Con gì nạ thế lày, không đầu, không đuôi, đỏ hỏn!
Học trò: Thưa cán-bộ, con lạp-xường.
Ông thầy: Miền Nam các anh ăn dơ dáy quá! (Cầm gói bột mầu nâu lên ngửi) Còn cái này?
Học-trò: Xô-cô-la bột
Ông thầy: Xô-cô-na nà đất Tây à?
Học trò: Dạ. đất Tây.
Ông thầy: Vớ vẩn, đất Tây mà cũng thăm nuôi?

Hài-kịch còn dài nhưng nên kéo màn ở đây. Các ông thầy gốc gác bần-cố-nông. Vì hai mươi năm xã-hội chủ-nghĩa miền Bắc nghèo-nàn quá nên con người hóa ngu dốt một cách tội-nghiệp. Thời đại các thầy lớn lên, cái “nôi của dân tộc” chỉ còn ngô, sắn, khoai, gạo hẩm và mì sợi luộc. Thức ăn là rau muống với nước chấm. Nước mắm đã tuyệt tích, đã bị “đấu tố”, đã bị “tiêu diệt” sạch sẽ. Trên những bức tường phố vắng của Hà nội, “thủ-đô của phẩm-cách con người”, dân-gian vẽ cái xe đạp không đèn, không chuông, không phanh, không gác-đờ-bu, gác-đờ-sen”, chỉ có “poọc-ba-ga”. Trên “poọc-ba- ga” vẽ ba bó rau muống, dùng lời hát cách-mạng ghi chú cho từng bó. Một bó “cho ngày nay”. Một bó “cho ngày mai”. Một bó cho “muôn đời saư” . Rau muống được các nhà khoa-học dinh-dưỡng của Đảng ca-ngợi trên báo Nhân Dân, cơ-quan trung-ương Đảng cộng-sản Việt Nam ” là thức ăn bổ hơn bất cứ thức ăn bổ nào. Nó gồm đủ sinh tố từ A đến Z. Bác Hồ nhờ ăn toàn rau muống mà mắt như sao, râu hơi dài“. Ông nhà văn Nguyễn Tuân cảm khái viết một tùy-bút rau muống. Câu kết suýt bị kiềm điểm: rau muống ngon và bổ thế mà bọn miền Nam ngu-xuẩn lại cứ đem xào với thịt bò. Nông dân vốn hiền-lành, chất-phác. Bị Đảng giáo-dục cho ngu-si đần-độn, bị Đảng bỏ đói, ngàn năm chỉ mơ ăn no mặc bền, không dám tơ tưởng ăn ngon mặc đẹp. Vậy bạn chế riễu sự ngọng-nghịu, sự ngu dốt, sự nghèo khổ hay bạn chống đối bọn làm cho con người ngọng-nghịu, ngu dốt, nghèo khổ? Bạn đòi tiêu diệt chế-độ cộng-sản, chủ-nghĩa cộng-sản, lãnh-tụ cộng-sản hay những con người bộ-đội, công-an, công-cụ và nạn-nhân của chế-độ cộng-sản? Tôi chống đối chủ-nghĩa cộng-sản, không chống đối con người trong chủ-nghĩa cộng-sản. Tôi chống đối chế-độ và lãnh-tụ cộng-sản, không chống đối con người bị chủ-nghĩa, lãnh-tụ và chế-độ cộng-sản làm mê sảng, ngu dốt, mất dần nhân-tính. “Tôi thì chỉ ghét cay đắng chủ- nghĩa, các thứ chủ-nghĩa. Tôi nghĩ, chính các chủ-nghĩa và tham-vọng mù lòa của nó đã đầy-đọa con người, đã làm con người hèn-hạ, mất-mát lương-tri. Nhưng mà chủ-nghĩa đã tàn-sát chủ-nghĩa. Chủ-nghĩa đã chết. Chủ-nghĩa sẽ chết. Con người tồn-tại vĩnh-cửu, bất kề con người tư-bản hay con người cộng-sản. Lý-tưởng và bổn-phận của thi sĩ là phải thức tỉnh những người đánh mất lương-tri làm người chứ không cổ võ chém giết họ, hủy-diệt con người. Thơ là thông-điệp của cảm-thông, của hy-vọng, của tình-tự và của gần-gũi. Thơ không bao giờ là tín-hiệu của bom dội, hỏa-tiễn bay, đạn nổ và mã-tấu vung lên. Cuối cùng, thơ không phải là tiếng nói của thù-hận”.(Thơ Tù – Nam-Á Paris, 1984)

Như thế, không những tôi không thù-hận những người quản-giáo vệ-binh mà còn thương-hại họ. Thương người là một cái tội. Thương người bị nhiều người thù ghét càng là một trọng tội. Khi tôi thẩm-thấu câu ca-dao:

Ngày xưa roi điện thì còn
Ngày nay roi gạo hao mòn thịt xương

Tôi nhìn và nghĩ về những người coi tù, những người trực-tiếp hành-hạ tôi khác hẳn tôi nhìn và nghĩ về chủ-nghĩa và lãnh-tụ cộng-sản và bọn tội đồ của miền Nam cùng lũ văn-học nghệ-thuật gian dối, hèn mọn, bầy ngự-sử giẻc rách với nhân-sinh-quan ruồi nhặng. Và tôi đã mủi lòng khi một vệ-binh hỏi tôi:

– Con không đầu không đuôi đỏ hỏn nướng sao thơm thế, cho tôi ăn thử một miếng được không?

Ăn xong thì người Việt Nam khốn nạn tuổi bằng 2 phần 3 tuổi nước Việt Nam dân-chủ cộng-hòa phát biểu:

– Ngon hết ! Nào nướng cho tôi xin cả con nhé!

Câu phát biểu não nùng hơn Cu Lặc, trong O chuột của Tô Hoài thuở thực-dân đô-hộ, về sự ăn miến: – Vừa mới luốt qua cổ họng ló đã trôi tuốt xuống tận củ tỉ ?

Chủ-nghĩa cộng-sản và lãnh-tụ vĩ-đại Hồ Chí Minh đã bất-lực trong sự-nghiệp cách-mạng vô-sản. Là không đem nổi một khúc lạp-xường hạnh-phúc cho dân Việt Nam, dẫu xương máu dân Việt Nam đã chất thành núi, chảy thành sông ròng rã ba mươi năm cho chiến-thắng phù-ảo. Hẳn nhiên, lãnh-tụ Hồ Chí Minh, bọn ủy-viên Bộ chính-trị, bọn ủy-viên trung-ương Đảng đã không tốn một sợi lông chân và đã thụ-hưởng hơn cả vua chúa. Một cái lăng cho xác chết Hồ Chí Minh, hai mươi triệu dân “hao mòn thịt xương”. Và “ba mươi năm dân chủ cộng hòa kháng-chiến đã thành công”, lần đầu tiên, trong đời một con người được trồng trên mảnh đất ưu-việt xã-hội chủ-nghĩa mới được ăn một miếng lạp xường nướng than củi. Miếng lạp xường đó, mỉa mai thay, lại không phải là hạnh-phúc hứa hẹn “đánh cho Mỹ cút Ngụy nhào” mà là hạnh-phúc của tù-nhân bất-hạnh tặng cháu ngoan của Bác Hồ.

Tôi bỗng thấy cái tư-tưởng chiến-đấu tạo hạnh-phúc cho con người là tuyệt-diệu. Phải cần-thiết một chiến-thắng không còn thù-hận giữa con người với con người. Phải cần-thiết một chiến-thắng không còn thù-hận giữa người Việt Nam với người Việt Nam. Phải chấm dứt thời-đại mê sảng, thời-đại thù-hận, thời-đại u tối trên quê-hương Việt Nam. Trong ý nghĩ ấy, tôi khó lòng ghét bỏ những kẻ không có quyền bắt tôi, không có quyền tha tôi. Nếu họ có quyền đầy-đọa tôi, có quyền dồn đẩy tôi vào chỗ chết, quyền ấy được ủy-nhiệm bởi lãnh-tụ khốn-kiếp và giáo-điều mù điếc của chủ-nghĩa, thứ chủ-nghĩa mà họ chẳng hiểu là cái gì.

Sự khám xét đồ thăm nuôi của chúng tôi dễ-dàng, chóng vánh, nhờ không có trật tự Hoa-nẫu và thông-tin văn-hóa Sánh-gian. Tù-nhân thích làm khó dễ tù-nhân. Người Việt Nam có thói xấu truyền-thống: Hễ có tí quyền là y rằng lạm quyền và bắng-nhắng. Ở trại cải-tạo và ở c3 trại tị-nạn cộng-sản.

o O o

Tôi không nhớ chính xác ngày tháng, hình như sau Tết, tù-nhân được lệnh tập họp ở sân trại, có kê bàn và bình hoa – Đằng Giao gọi là bầy bàn hương-án. Chính-ủy xuất hiện với đầy đủ lễ-nghi quân-cách. Ông thầy giáo-dục cải trại, thầy Mạo, báo-cáo chính-ủy của ông ta về quân-số hiện-diện. Chúng tôi đứng hết dậy. Đứng nghiêm. Vỗ tay. Chính-ủy bảo ngồi xuống. Ông ta hồ hởi phấn khởi loan tin :”Ta đã giải-phóng Kampuchia. Bè lũ diệt chủng Pol Pot, Lang Sary cuốn gọi chạy sang Vọng Các rồi”. Cái tin chiến-thắng không lấy gì làm hấp-dẫn đối với chúng tôi. Sau tin mừng giải phóng Kampuchia là bài học tập về chính-sách khoan-hồng của Đảng và Nhà Nước dành cho ngụy-quân, ngụy-quyền, phản-động lao-động cải-tạo. Tất cả bọn cộng-sản lớn và nhỏ đều mắc cái bệnh nói dối, nói dài, nói dai, nói dở, nói dốt. Học tập cải-tạo có cái gì đâu? Nội-quy hay Nếp sống văn hóa mới có thể tóm gọn: “Cai tù bảo, tù-nhân nghe; cấm cãi, cấm tranh-luận. Cai tù sai bảo, tù-nhân làm, cấm dùng -ằng, cấm khiếu-nại. An tâm cải-tạo, cấm nhớ nhà, nhớ vợ, nhớ con. Thi đua lao-động sản xuất đóng góp vào sự phồn-vinh của tổ- quốc. Cấm trốn trại. Ăn ở hợp vệ sinh. Gặp cai tù phải dở nón mũ chào kính. Cấm xâm-phạm, phá-hoại tài-sản xã-hội chủ-nghĩa. Thức ngủ đúng giờ giấc. Cấm mua bán, đổi chác. Cấm cãi nhau, đánh nhau”. Tôi tự-hào có trí nhớ rất tốt mà chỉ nhớ một điều trong 20 điều Nếp sống văn hóa mới: “Cấm trạm trổ lèn thân thể”! Và 4 tiêu-chuẩn cải-tạo, tôi lơ-mơ nhớ: phải tố-cáo đồng-phạm còn lẩn trốn bên ngoài. Phải tố-cáo những kẻ tuyên-truyền xuyên-tạc, âm-mưu trốn trại, chống báng cách-mạng” . . .

Thế thì 5 bài thơ sau đây mang tựa đề HỌC TẬP CẢI-TẠO sẽ diễn tả đầy đủ về cái gọi là học tập cải-tạo.

1- Trường học nhà tù

Anh biết anh đang ở đâu không?
Đề-lao trại tập-trung
Láo!
Chủ-nghĩa không có nhà tù
chủ-nghĩa chỉ có trường học
anh nhắc lại đi
nhắc lại nhiều lần
chủ-nghĩa không có nhà tù
chủ-nghĩa chỉ có trường học

Anh biết anh đang ở đâu không?
bài học đầu tiên anh đã nằm lòng,
Trường học!
Láo! Trí-thức
văn-sĩ thi-sĩ họa-sĩ nghệ-sĩ
chỗ của anh là ở nhà tù
không có trường học cho những tên phản-động
không có trường học cho những tên đòi quyền sống
những tên đòi dân-chủ tự-do
những tên đòi hạnh-phúc hoà-bình ấm no
Nhắc đi
nhắc hoài hoài
nhắc ngày nhắc đêm
nhắc bất cứ lúc nào anh mở mắt
nhắc bất cứ chỗ nào anh thi đua sản-xuất
khi đứng khi ngồi
khi mơ khi ước
đến khi anh thông suốt
chỉ còn chủ-nghĩa là sự thật

Anh biết anh đang ở đâu không?
Trại tập-trung địa-ngục!
Láo. chủ-nghĩa chỉ có trường học
chủ-nghĩa quý trọng con người

2-Con bò và chân lý bò

Con bò có mấy chân
Thưa bốn
Hãy nhìn rõ ràng nhìn chính xác
chủ-nghĩa luôn luôn sáng-suốt
chủ-nghĩa ưu việt không sai lầm
Thưa con bò đúng bốn chân
Láo! Anh mù
chỉ có ba chân
con bò chỉ có ba chân, nhắc lại
Con bò chỉ có ba chân
ba điểm tạo nên một mặt phẳng
ba chân con bò tạo nên một sự thật
như trái đất quay và trái đất không quay

Con bò có mấy chân
Ba !
Láo!. Ba làm sao nó đi nó đứng
nó ăn nó uống
nhìn đi nhìn cho đúng
Con bò có bốn chân
Láo! Năm!
Dạ, con bò có năm chân
chân-lý chân bò biến đổi rất nhanh

Con bò có mấy chân
Năm
Láo! Chỉ có hai
Sự thật hôm qua không có ở hôm nay
sự thật hôm nay không có ở ngày mai
nhắc lại
Con bò có mấy chân
Con bò có ba, năm, hai, một hay chẳng chân nào
tùy theo chủ-nghĩa dạy
Sự thật hôm qua không có ở hôm nay
sự thật hôm nay không có ở ngày mai

3- Nếp sống văn-hóa mới

Đế-quốc đã đưa anh trở về thời-kỳ đồ đá
anh sống thiếu văn-hóa
văn-minh và tư-tưởng làm người
anh chỉ biết chém giết tơi-bời
quên húi tóc cạo râu cắt móng tay nhọn hoắt
chủ-nghĩa ưu-việt dạy anh học tập
văn-minh cạo râu cắt móng tay

Báo-cáo chủ-nghĩa
rasoir, mince lame, đồ cắt móng chân
bị tịch thu hết
không thể thực-thi nếp sống văn-hóa mới
của chủ-nghĩa sáng chói
chủ-nghĩa vệ-sinh râu tóc bảnh-bao
móng tay nhẵn=nhụi phẳng-phiu

Gillette là tên phản-động
USA là tư-bản ác-ôn
tịch-thu thể-hiện nhân-đạo khoan-dung
anh có thể bị chúng xui tự sát
chúng sẽ gây thêm tội ác
hãy nhổ râu và gậm nhấm
móng tay hay mài xuống nền xi măng
hãy học tập cải-tạo thuộc lòng:
đế-quốc đã đưa anh về thời- kỳ đồ đá
đế-quốc dã-man muốn anh ăn lông ở lỗ
hãy đấu-tranh râu nhổ móng tay mài
tích-cực hàng ngày
tại trường học xã-hội chủ-nghĩa
mà đế-quốc đã mai-mỉa
là đề-lao Gia Định là khám lớn Chí Hòa

4-Vinh-quang chủ-nghĩa

Anh phải nói dối không nhớ vợ thương con
phải nói dối sự-nghiệp anh là đồ bỏ
phải nói dối tổ-tiên đã quên không dạy-dỗ
nên anh lầm-lỡ yêu dân-chủ tự-do
chiến-đấu và tình-nguyện chết dưới cờ
lý-tưởng quốc-gia dân-tộc

Anh phải nói dối anh làm tay sai đế-quốc
chống giai-cấp vô-sản anh-hùng
phải nói dối anh đã lầm đường
không được hy-sinh cho lãnh-tụ
phải nói dối nhiều man-khai tất cả
phải nói yêu chủ-nghĩa quang-vinh
hơn cả gia-đình
phải cám ơn chủ-nghĩa đã bắt anh đi cải-tạo

Anh phải nói dối hoan-hô khi anh thèm đả-đảo
quanh năm tích-cực,bốn mùa khẩn-trương
vượt nắng, thắng mưa, lao động thật hăng
phải cười làm việc và vui nhịn đói
luôn luôn hồ-hởi
thi đua sản-xuất đoạt giải tù-nhân
phải sung sướng được xuống hầm phân
và gọi kẻ đánh đập nguyền-rủa anh là thầy giáo

Anh phải hăng say tố-cáo
bản thân anh thiếu thiện-chí nằm tù
phải dối gian từng phút từng giờ
nói dối càng hay càng nhanh tiến-bộ
nói dối ốm mòn không cần thuốc bổ
cưa chân cụt gẫy khắc-phục thuốc mê
nói dối án phạt tập-trung hạnh-phúc hơn lệnh thả về
phải nói dối anh chết dần phi-lý
cho ngày-mai chủ-nghĩa
rạng ngời
cho ngục-tù chủ-nghĩa dầy kinh-nghiệm đầy-đoạ con người

5-Lãnh-tụ và sự bất-diệt

Anh biết lãnh-tụ vĩ-đại ở đâu không?
Thưa, quý ngài ấy đã chết
có nhiều ngài nằm trong hòm kính
chê địa-ngục chê thiên-đàng
và lơ-lửng giữa không-gian

Đây là bài học
anh phải nhớ suốt đời
lãnh-tụ không bao giờ chết
lãnh-tụ bất-diệt
lãnh-tụ sống mãi trong sự-nghiệp loài người
lãnh-tụ đang nói đang cười
đang hô-hoán hoà-bình, đang hung-hăng chém giết
đang ăn uống và không cần bài-tiết
lãnh-tụ còn nguyên trên thế-giới ngậm-ngùi

Anh biết lãnh-tụ ở đâu không?
Thưa, quý ngài ấy chưa chết
quý ngài ấy bất-diệt
quý ngài ấy còn nguyên trên thế-giới ngậm-ngùi
quý ngài ấy siêu nhân ăn uống không cần bài tiết
Láo! lãnh-tụ đã chết
lãnh-tụ chẳng bao giờ bất-diệt.

Sự thật hôm qua không có ở hôm nay
sự thật hôm nay không có ở ngày mai

Chính-ủy nói dối, nói dài, nói dai, nói dốt cả hai tiếng đồng-hồ. Chúng tôi ngồi phơi nắng, tê chân, mỏi đít. Nói đủ “đô” rồi, chính-ủy hỏi:

– Các anh có an-tâm cải-tạo không?

Cả làng đáp:

– An-tâm cải-tạo.

Chính-ủy đập bàn hương-án:

– Láo! Phải nhớ vợ, thương con chứ?! Nhớ vợ, thương con thì an-tâm cái gì? Anh nào nói an-tâm cải-tạo là không thành-khẩn.

Bỏ mẹ! Nội-quy dạy, thầy quản-giáo, thầy trực trại, thầy giáo-dục, thầy vệ-binh đều dạy tù-nhân phải an-tâm cải-tạo. Mà chính-ủy lại bảo an-tâm là không thành-khẩn, là gian dối. Rõ rệt chân-lý con bò! Sau rốt, chính-ủy chi một câu thuộc loại “biết rồi, khổ lắm, nói mãi”:

– Về hay không là do nơi các anh có tiến-bộ hay không. Về sớm hay về muộn cũng là do nơi các anh có tiến-bộ nhanh hay tiến-bộ chậm. Muốn tiến-bộ phải lao-động tích-cực. Lao-động tích-cực là cải-tạo tư-tưởng đó.

 

-5-

Chưa có gì mới lạ ở Sa Ác B. Ăn Tết xong là đã bước sang năm 1979. Đội xây cất đã hoàn-thành ba căn nhà. Và tù hình-sự đổ đến 200 mạng, trong số đó có Nguyễn Đăng Viên, anh ruột nhà văn Mai Thảo. Trại nhộn-nhịp hẳn lên. Thêm các đội phát quang, nông-nghiệp. Đội 17 rau xanh đã lên một số luống, bắt đầu gieo hạt rau cải củ. Mầm chưa kịp nhú thì thầy Để chuyển công-tác giao co thầy Vinh, một ông nhóc 21 tuổi, ngọng líu lưỡi và quan-trọng hoá mọi việc. Thầy Để ít soi-mói đội. Giao việc xong,thầy đi chơi hay đi ngủ. Thầy Vinh nhòm ngó từng tù-nhân.

Trại nổi lên phong-trào chơi dao găm. Mỗi thầy một con dao. Bèn có màn gà-men inốc Mỹ bị tịch-thu cái cán cầm. Cán này sẽ làm lưỡi dao găm. Bắt buộc phải giữ lại ba chữ USA. Đội của tôi, anh Nại được thầy Vinh chiếu-cố “sáng-chế” một con dao găm. Thầy Vinh “lạc-quyên” lon guigoz của tù-nhân nào có hai lon. Để đúc cái chuôi dao. Con dao của thầy Vinh vừa xong thì Trung-quốc xua quân xâm-lăng Việt Nam. Chiến-trận do Đài Hà-nội tường-thuật được phát-thanh mỗi tối cho tù-nhân theo dõi. Tù-nhân Việt gốc Hoa bị gom chung thành một đội riêng và bi canh-chừng nghiêm-mật. Chiến-tranh biên-giới Hoa – Việt tạo ra hai phe nhóm chống đối suýt đập lộn giữa các tù-nhân chính-trị ham bầy tỏ quan-điểm. Một phe hí-hửng câu tuyên-bố xấc-xược”Dạy Việt Nam một bài học” của Đặng Tiểu Bình. Phe này hy-vọng chứa-chan câu nói xấc-xược thứ hai “Ăn điểm-tâm ở Hà-nội, ăn trưa ở Huế và ăn tối ở Sàigòn”, vẫn của Đặng Tiểu Bình. Người ta chờ Đặng Tiều Bình giải-phóng các trại tập-trung. Phe thứ hai không tin Trung-quốc dám tiến sâu xuống lãnh-thổ Việt Nam. Phe này dứt-khoát lập-trường, nếu Tầu xâm-lăng Việt Nam, họ sẽ đứng chung với Việt cộng đánh kẻ thù truyền-kiếp của dân-tộc. Tôi đồng quan-điểm phe thứ hai. Nhưng cả hai phe đều nín thinh khi chính-ủy của trại cảnh cáo:

– Bọn Trung-quốc cách các anh 500 thước, chúng tôi sẽ tiêu-diệt các anh toàn bộ. Các anh đừng hòng có cơ-hội chào đón chúng nó.

Đặng Tiểu Bình chỉ nói phét. Quân Trung-quốc ôm đầu máu chạy về. Nhiều tù-nhân thất-vọng. Càng thất-vọng hơn với khẩu-hiệu “Đem thù-hận vào sản-xuất”. Chúng tôi phải lao-động thêm giờ, lao-động cả chủ-nhật. Ngày chủ-nhật lao-động gọi là ngày xã-hội chủ-nghĩa. Trại phát-động thi đua…khổ-ai lao-động giữa các đội. Tù-nhân làm hộc máu mồm. 9 tiếng đồng-hồ quần-quật một ngày đổi lấy hai ca bo-bo và dúm muối cục.Ông chủ cộng-sản bóc lột công-nhân tàn-bạo gấp triệu lần ông chủ tư-bản. Mỗi tù-nhân, tính đủ mọi khoản, một tháng nhà nước cộng-sản tốn có 11 đồng 5 hào! Cứ coi ngày lao-động trong tháng là 8 tiếng, nghỉ 4 chủ- nhật thì 11 đồng 5 hào chia cho 208 giờ không ai dám ghi con số thành. Đặng Tiểu Bình đúng là thằng chọc phân chẳng nên lỗ, khiến tù-nhân bị…thi-đua lao-động!

Không còn gì thê-thảm bằng tù-nhân khổ-sai lao-động trong quỹ-đạo cộng-sản. Đã là tù, bị cưỡng-bức làm việc còn bị thi-đua…ăn giải. Lại còn phải họp-hành, bình-bầu cá-nhân xuất-sắc, bình-bầu mức ăn. Có ba tiêu-chuẩn ăn

  1. 18 ký-lô thực-phẩm một tháng cho một tù-nhân xuất-sắc
  2. 15 ký-lô cho một tù-nhân trung-bình.
  3. 13 ký-lô 50 cho một tù-nhân lao-động kém.

Một đội có 4 tù-nhân được ăn tiêu chuẩn 18 ký lô. Một tù-nhân ăn 18 ký thì 2 tù-nhân bị ăn 13 ký 50. Tù-nhân xuất-sắc ăn bớt phần của tù-nhân kém. Bình quân, mỗi tù nhân 15 ký. Sự ghét bỏ nhau, khích-bác nhau, thù ghét nhau, tố-cáo nhau do ba tiêu-chuẩn ăn này. Xin giới -thiệu một cảnh bình-bầu mức ăn ở đội của tôi.

– Tôi, Phạm Kim Sơn, tháng này tôi tự thấy tôi lao-động tích-cực, an-tâm cải-tạo, không hề có tư-tưởng trốn trại. Vậy tôi xin ăn mức 15 ký.

– Tôi, Đặng Hoàng Hà, lao-động tốt, tư-tưởng tốt. Tháng này tôi xin ăn mức 15 ký.

Vân vân…Cả đội lần-lượt phát-biểu câu tương-tự và cho xin ăn mức trung bình. Tôi nghĩ các đội ở các trại từ miền Bắc vào miền Nam đều giống đội tôi. Sổ bình- bầu mức ăn đưa cho quản-giáo. Ông thầy chê bình-bầu thiếu chất lượng. Ông thầy bắt họp tại bãi. Kết-quả vẫn thế, vì không ai xin ăn 18 ký cả. Thầy Vinh cáu tiết chỉ-định 4 tù-nhân hưởng tiêu-chuẩn 18 ký. Thầy chọn luôn 8 tù-nhân thầy ghét, cho ăn 13 ký 50. Từ đó, quản-giáo định mức ăn. Đội có ba thau bo-bo. Thau 18 ký. Thau 15 ký. Thau 13 ký 50. Chia rẽ khởi-sự từ miếng bo bo. Thoạt đầu, đội của tôi đồng-ý chia phần bo-bo đồng đều. Mọi người vui vẻ. Quản-giáo Vinh lộn- xộn, đột-xuất thăm đội lúc chia bo-bo. Ông thầy dũa tôi và bắt chia riêng theo đúng mức ông thầy đã quyết-định.

Rõ ràng, không ai thích ăn 18 ký. Bị ăn thì sớt trả người 13 ký 50. Nhưng 18 ký là bị chửi. Đội trưởng cắt việc, anh em nhao-nhao “sai thằng xuất-sắc 18 ký làm đi”. Thằng 18 ký dần-dần bị cách-ly, bị coi là chân tay của quản-giáo, bị gán tội “ăng ten”! Nó bực, nó chửi lại. Đấm đ. á Ra tòa án…trực trại. Lý do đấm đá? Những thằng sỉ-nhục nó làm “ăng ten” bị kỷ-luật. 18 ký càng bị chửi thêm. Nó tức quá, làm “ăng ten ‘ luôn. Gọi là tù chính-trị, thực ra kiến-thức và tư-cách của đa-số tù chính-trị ở các trại cải-tạo thua bọn trộm cắp. Thủ-đoạn vặt của cộng-sản mà cũng sa bẫy để thù hận nhau. Phải sống chung với bọn này, thật xấu hổ.

Tháng 3-1979, Sa Ác B nhận thêm 2 đội cảnh-sát đặc-biệt và 5 đội chính-trị khu A vào. Tôi gặp lại Dương Đức Dũng. Người mới đối với tôi là Phạm Long, em của Phạm Huấn, Phạm Hậu, Đậu Phi Lục, báo Chính Luận ,Bùi Hoàng Thư, tác giả tiểu thuyết Nàng, Trần Thanh Liêm, không quân vân vân… Chúng tôi đổi nhà, không ở với Đội 3 rau xanh nữa. Tuy không ăn chung với anh Nguyễn Mạnh Côn, chiều nào chúng tôi cũng biếu anh bát mì hay bát hủ-tíu nấu tôm khô. Tôi nấu bếp. Đằng Giao nhóm bếp và bưng đồ. Chúng tôi thổi cơm ăn buổi tối. Có Dương Đức Dũng, Đỗ Ngọc Quỳnh, chúng tôi họp thành tổ ăn bốn người. Mưa to cách mấy, chúng tôi vẫn có nồi cơm, nồi canh. Tôi nấu hai bếp, Đằng Giao, Dũng và Quỳnh căng ni-lông che mưa. Anh Côn được miễn lao-động từ Tết. Ngày 2-4-1979, bất thần, anh cao-hứng đi lao-động. Đằng Giao có giác quan thứ sáu. Anh ta nói nhỏ:

– Sắp nổ lớn.

Tôi cười:

– Ở nhà buồn, anh ấy đi cho khuây khỏa.

Nổ lớn thật. Các đội tập họp chờ báo-cáo xuất trại. Trực trại vừa mở sổ, anh Côn đứng dậy:

– Báo-cáo cán-bộ, tôi Nguyễn Mạnh Côn, bị bắt ngày 2-4-1976. Hôm nay là 2-4-1979 vừa đủ 3 năm học-tập cải-tạo đúng chỉ-tiêu Đảng đề ra, tôi xin gặp Ban giám-thị lấy giấy trại về sum-họp gia-đình.

Trực trại Hưng trả lời:

– Anh Côn ở nhà gặp Ban giám-thị. Các đội đi lao-động. Đội 21!

Đằng Giao báo-cáo quân-số rồi xuất trại. Không biết chuyện gì sẽ xẩy ra cho tác giả Cộng sản là gì? Ngoài hiện-trường lao-động tôi phải tiếp sức anh em gánh nước tưới…..cứu rau. Lứa rau cải đầu tiên của đội tôi bị rầy tàn-phá. Thay vì nhổ mẹ nó hết đi, phát cho tù cải -hiện bữa ăn, thầy Vinh bắt cả đội. . .cứu rau. Rầy nó không sợ kiểm-điểm. không sợ kỷ-luật thì sợ gì nước sông Ray. Nhưng vẫn gánh nước tưới tối-đa. Tôi mệt phờ quên anh Côn.

Buổi trưa, đội về, anh Côn đã có mặt ở nhà. Anh có vẻ buồn-bã. Anh không nhận phần cơm trưa.

Đằng Giao:

– Anh không ăn, anh có cho người nào không?

Anh Côn:

– Không ăn, không cho là quyền của tôi.

Đằng Giao:

– Anh không thương em tí nào cả.

Anh Côn:

– Cậu bảo nhà bếp tôi trả lại phần cơm.

Đằng Giao:

– Vâng.

Anh Nguyễn Mạnh Côn là người thông-minh, đọc nhiều, hiểu rộng. Cái kiến-thức uyên-bác về cộng-sản của anh đã không giúp anh điều gì khi anh đương đầu với bọn chăn trâu cắt cỏ. Anh đã sáng-suốt nhờ thuốc phiện và anh đã u-tối vì thuốc phiện. Thiếu thuốc phiện, anh Côn như xe cạn xăng. Đầu óc anh tê-liệt. Anh nói toàn chuyện nhảm, nghĩ toàn điều nhảm. Buổi chiều lao-động về, chúng tôi thấy anh bị nhốt riêng ở căn nhà cuối dẫy đối diện căn nhà của chúng tôi. Căn nhà này vừa xây cất xong, chưa nhốt tù-nhân. Anh cởi trần, mặc quần dài xắn cao, bám chấn song cửa sổ nhìn ra ngoài. Trong hoàng-hôn vàng vọt của Sa Ác, hình ảnh anh cơ-hồ một vạt nắng sắp lóe bừng soi sáng một định-nghĩa nào đó. Chúng tôi nhìn anh, cùng chung một ý-nghĩ:

– Anh Côn, chúng em sẽ nhận tội sai lấm phán xét anh vội-vã. Với chúng em, anh là hôm nay. Dĩ-vãng anh, tương-lai anh, cái vừa qua của anh là hôm nay. Anh sẽ chết thật đẹp. Anh dám chết thật đẹp. Anh là đại-thụ, tất cả là cỏ hèn.

Hôm sau, chủ-nhật chúng tôi nằm nhà. Anh Côn chỉ bám chấn song cửa sổ vào buổi chiều. Lúc ấy, tôi thấy anh lừng-lững Đem tâm-tình viết lịch-sử, Ký hoa tử, Mối tình mầu hoa đào, Lạc đường vào lịch-sử…. Buổi trưa ngày thứ hai anh Côn tuyệt-thực, trật-tự-viên Hoa-nẫu vào Nhà chúng tôi bi-bô:

– Tưởng tuyệt thực lâu, vừa cúp nước uống đã xin ăn. Xin ăn thì phải làm đơn đàng-hoàng, viết lạ đời: Tôi xin ăn ăn ăn ăn ăn ăn ăn..!

Trật-tự Hoa-nẫu còn nói nhiều điều xấu về diễn-biến tuyệt-thực của anh Côn. Chúng tôi không tin nó. Và khẳng-định nó là “phát-ngôn-viên” của Ban giám-thị . Buổi trưa thứ ba Hoa-nẫu hân-hoan loan tin khắp trại:

– Nguyễn Mạnh Côn làm đơn xin ăn nghiêm-chỉnh rồi !

Chúng tôi vẫn không tin. Nhưng mà anh Côn làm đơn xin ăn thật. Anh được đưa về nhà cũ, sống với chúng tôi, miễn lao-động song phải “làm việc” đều đều với Ban giám-thị. Cho đến một buổi sáng, Anh Côn bị đưa qua một Nhà chỉ có các đội hình-sự. Tù-nhân trong Nhà bị cấm liên-hệ với anh. Sa Ác B chưa có cachot, cũng chưa có hầm nhốt người vi-phạm kỷ-luật.

o O o

Tháng 4-1979, tù-nhân chính-trị ở trại Long Thành vào Sa Ác B. Thành-phần này gồm các vị Phó quận-trưởng hành-chánh, Chánh-sự-vụ, Chủ-sự, Giám-đốc xuất thân từ Viện quốc-gia hành-chánh, Thẩm-phán, Dự-thẩm, Nghị-viên, Dân-biểu… Tất cả đều may-mắn không bị ra Bắc. Chủ-tịch Hạ-viện Nguyễn Bá Lương, nghị- viên Nguyễn Thanh Liêm có mặt. Bác-sĩ Hạnh của Viện Pasteur, bác-sĩ Nguyễn Ngọc Tùng, Trưởng-ty Y-tế Phú Yên kiêm Chủ-tịch Đảng Dân-chủ Nguyễn văn Thiệu có mặt. Thẩm-phán Đào Minh Lượng, thẩm-phán Hương (tòa-án Gia Định rồi Biên Hoà) có mặt. Các chuyên-viên, cố-vấn Phủ tổng-thống có mặt. Nhóm Long Thành được biên-chế thành hai đội: Đội rau xanh và Đội vận-chuyển. Đức méo nằm trong Đội vận-chuyển (nhờ vậy sang Mỹ chàng lái xe vận-tải xuyên bang). Đội vận-chuyển có 10 người. Đội rau xanh trên 50 người. Một số Long Thành nhập các đội cũ của trại. Đằng Giao nhận Đào Minh Lượng, Nguyễn Ngọc Tùng… Tôi nhận Ngô Đình Hoa, Nguyễn văn Bình. Lúc này bác-sĩ Thạch của đội tôi đã ra coi phòng Y-tế. Lúc này, quản-giáo Vinh ưa cự-nự tôi, chụp lên đầu tôi cái mũ “bao che” cho tù-nhân “thiếu thiện-chí cải-tạo” trong đội. Nguyên-do: Quản-giáo Vinh cấm dùng “đũa”‘ gắp phân bón rau, cấm dùng “găng tay” bao ni-lông. Ông thầy vĩ-đại này bắt tù-nhân bốc cứt bằng tay trần nhét tận gốc rau. Và không cho tắm buổi trưa! Tôi xin cho đội tắm gội, quản-giáo Vinh cho cho rửa chân tay. Và tôi bị viết kiểm-điểm vì tội “yêu-sách cách-mạng”! Tôi đã phải đứng nghiêm trước mặt ông thầy hàng giờ nhiều lần để nghe ông phê-bình văn-chương tự kiểm của tôi.

– Văn của anh là văn lá cải. Truyện của anh là truyện ba xu. Anh tưởng lắt-léo qua mặt cách-mạng à?

– Tôi viết rõ-ràng, thưa cán-bộ.

– Anh Đặng Hoàng Hà chửi xéo cán bộ.

– Anh ấy chửi cào-cào.

Ông thầy nuôi con chích-chòe lửa. Ông ghét Đặng Hoàng Hà tình nguyện vào Đội văn-nghệ làm nhạc trưởng bỏ Đội rau xanh của ông. Đội văn-nghệ rã đám . Đặng Hoàng Hà trở về “đơn vị cũ”, bị ông thầy đì tới chỉ, bắt kiếm cào-cào nuôi chích-chòe và cho ăn 13 ký 50.

Đặng Hoàng Hà vồ cào-cào hụt, bị té, chửi cào-cào. Ông thầy nghe được, bèn nâng quan-điềm Đặng Hoàng Hà chửi cách mạng, chửi Đảng… Cuối cùng, ông yêu- cầu tôi xác-nhận trong tự kiểm là Hà chửi cán-bộ.

– Anh bao che anh Hà.

– Tôi cam-kết anh Hà chửi cào-cào chứ không dám chửi cán-bộ.

– Anh Nong!

– Dạ.

– Anh đừng giả vờ nín thở qua cầu. Cách-mạng biết các anh giả-vờ cải-tạo hết. Mặt xun-xoe nhưng nòng dạ chống đối cách-mạng. Cái mặt anh, đi tù còn ra cái đíều chê-bai ân-huệ của cán-bộ.

– Tôi chê gì đâu?

– Cho anh rau bồi dưỡng anh chê.

– Cán bộ cho hết cả đội. tôi sẽ nhận. Một mình tôi ăn au, cả đội chửi tôi. Đội lao-động tích-cực, tôi đóng góp chút đỉnh.

– Nuận điệu của anh gian dối.

Quản-giáo Vinh ghét tôi từ hôm ông thầy hỏi tôi về quản-giáo Để đối xử với đội ra sao. Tôi đã đáp thầy Để đề mặc đội tự-giác lao-động. Ông thầy nghĩ rằng tôi xỏ-xiên ông, ông dở trò tự kiểm hành tôi tơi-bời.

– Nếu anh Hà thú nhận đã chửi cán bộ, anh biết tay tôi.

May-mắn, Đặng Hoàng Hà chối dài. Đội 17 rau xanh của tôi là đội rau xanh bệt nhất trại. Anh em Bình Chánh ù-lỳ sáng-tạo lao-động, chỉ-thị quản-giáo ra sao, anh em làm vậy. Quản-giáo Vinh có uy với phân tươi! Phân không cần ủ, không cần ngấu, cứ nóng hổi ngào tro mà bón. Và phân sợ tự kiểm ngoan-ngoãn xui rau …vàng khè. Đội rau xanh Long Thành rất cừ. Các ông thư-lại ăn đứt nông-dân. Các ông trồng mướp, trồng bầu, trồng rau muống đều vượt chỉ-tiêu. Đội trưởng Quả, anh của Miên Đức Thắng, tháo-vát vô cùng. Vườn rau của đội Long Thành xứng đáng đoạt giải thi đua.

Giữa tháng 4-1979, trại bầy hương án. Tù-nhân tập họp đợi nghe “lên lớp”. Không, người ta dẫn anh Nguyễn Mạnh Côn ra đứng trước các tù-nhân đọc tờ kiểm-điểm của anh. Tờ kiểm-điểm của anh Côn, hồi chuông báo tử của niềm tin, vạt nắng thoi thóp của hoàng-hôn sầu tủi.

Anh Côn viết: “Tôi thù ghét vợ con tôi đã không thăm nuôi tôi mấy tháng nay”. Anh Côn viết đúng. Chị Côn không bao giờ đi thăm nuôi anh cả. Ở đề-lao Gia Định, Chí Hòa, hai đứa con anh thay phiên nhau nuôi anh. Ở Sa Ác B. chỉ một lần duy nhất cháu Nguyễn Kiên Trung theo vợ Đằng Giao và vợ tôi vào thăm anh. Tôi chẳng hiểu nghĩ gì mà chị Côn đã gửi mía khúc tiếp-tế cho chồng tù rụng hết răng? Bài kiểm-điểm của anh Côn khiến chúng tôi cúi gầm mặt. Đằng Giao khóc. Tại sao phải lôi vợ con ra nguyền-rủa? Thằng tù nào làm tự kiềm, tự khai mà không dối-trá, điêu-ngoa, hèn-hạ? Thằng tù nào làm tự kiểm, tự khai mà không nhận tội sai lầm với cách-mạng và hứa-hẹn khắc-phục để tiến-bộ? Trong hàng rào giây kẽm gai cộng-sản, ngang họng súng đen ngòm, chỉ có vài vị anh-hùng ngục-sĩ dám chấp-nhận cái chết, dẫu biết mình chết lãng nhách. Còn đa-số, cái đa-số tuyệt-đối, đều ngoan-ngoãn nín thở qua cầu. Những tự kiềm, tự khai trong tù, ngoài trại tập- trung chỉ có tù-nhân và cai tù biết, trừ trường-hợp anh Nguyễn Mạnh Côn bị cộng-sản bêu nhục mới đọc công khai. Tự khai của anh Nguyễn Mạnh Côn thuộc loại tự khai mê-sảng vì thiếu thuốc phiện. Chắc chắn, lúc đứng giữa sân trại nghe đọc tự khai của mình, anh Côn đã quên Cộng sản là gì. Tội nghiệp anh. Cộng sản bố ở Hà-nội đã chỉ-thị cộng-sản con ở Sa Ác triệt-để khai thác sự mê-sảng thiếu thuốc phiện của anh Côn mà đánh gục anh, đánh gục lý-thuyết-gia chống cộng lỗi-lạc của miền Nam. Tên chính-ủy đắc-chí:

– Mỹ Ngụy đã tước đoạt hết lương-tri của anh Nguyễn Mạnh Côn. Rất may, phẩm-cách làm người của anh còn sót lại đôi chút trong hai câu thơ của anh: hoan-hô cán bộ Để, Đương, Từ nay phản-động hết đường nữa nao!

Trong cơn mê sảng, anh Côn còn làm vè nữa! Anh được dẫn về Nhà của các đội hình-sự. Chúng tôi đi lao-động. “Vĩ-nhân thường chết bởi cái gai!” Hemingway viết thế. Tôi chợt nhớ Sợi tóc của Thạch Lam. Nhưng đời sống đầy rẫy những kẻ giả-dối, ích-kỷ, chỉ thích người khác chết đẹp để vinh tôn bằng miệng. Đứng giữa sợi tóc quyết-định sống và chết, nhân-loại đều lưỡng-lự, đều sợ chết hùng và chấp nhận sống hèn. Chúng tôi đã là những kẻ giả-dối, ích-kỷ ấy. Không có gì để trách-móc anh Nguyễn Mạnh Côn. Nếu phải trách, chỉ là thuốc phiện. Thuốc phiện đã hại anh Côn.

o O O

Cuối tháng 5-1979, ông Nguyễn Bá Lương chết. Ông chết rất êm-ái. Cựu chủ-tịch Hạ-viện của nền đệ nhị cộng-hòa nham-nhở không để lại một lời giăng giối nào.Ơng chết nửa khuya, gần sáng anh em cùng Nhà mới phát-hiện. Ngọn đèn tập-thể được mang tới kê cao sát đầu ông. Chúng tôi biết tin nhờ anh em thông-báo. Nhà ông Nguyễn Bá Lương cạnh Nhà chúng tôi. Ngọn đèn leo-lét cháy. Nhà-trưởng đợi kẻng báo thức mới báo-cáo. Người ta chở một cái quan-tài mộ- mạc từ khu A vào. Xác ông Nguyễn Bá Lương do mấy tù-nhân Đội lâm-sản tẩm-liệm. Người ta bỏ vô hòm bộ quần áo tù mới tinh chưa đóng dấu rồi đậy nắp, đóng đinh. Quan- tài đặt lên xe cải-tiến cùng với cuốc, xẻng. Tù-nhân Đội lâm-sản kéo đẩy quan-tài. Đám tang đi vội-vã. Không ai được phép đưa tiễn linh-hồn người quá-cố, dù một quãng sân trại . Một cai tù theo sau xe. Hắn sẽ đọc lệnh tha ông Nguyễn Bá Lương khi hạ huyệt . Cựu chủ-tịch Hạ-viện đã về sum-họp gia-đình!

Sinh-hoạt ở trại vẫn thế. Hai hôm sau, tù-nhân hình-sự Quản Quang Ninh chết bệnh kiết-lỵ kinh-niên! Đám ma gã tù hình-sự can tội trộm cắp cũng đầy đủ “lễ-nghi” như đám ma tù-nhân chính-trị Nguyễn Bá Lương. Nghĩa-trang Sa Ác B đã có hai nấm mộ không mộ bia và không hứa-hẹn không bị san bằng bởi mưa rừng tầm-tã.

Mồng 1 tháng 6 năm 1979, sau cơn sốt nặng, anh Nguyễn Mạnh Côn qua đời. Anh chết ở Nhà 1 . Anh không hề bị ném vào hầm giam, không hề bị bỏ đói. Anh già, đuối sức, không thuốc phiện cầm cự. Và anh chết. Anh Nguyễn Mạnh Côn công-khai “Báo-cáo cán bộ, tôi Nguyễn Mạnh Côn, bị bắt ngày 2-4-1976. Hôm nay là 2-4-1979 vừa đủ 3 năm học-tập cải-tạo đúng chỉ-tiêu Đảng đề ra, tôi xin gặp Ban giám-thị lấy giấy ra trại về sum họp gia đình”. Anh đã gặp Ban giám-thị. Chắc chắn. anh bị chúng nó sỉ-vả tội sách-động tù-nhân. Anh uất-ức tuyệt-thực. Chúng nó dồn anh vào đường chết nhục, chết thảm. Người “anh em” của ông Tạ Tỵ đã chết như thế. Không ai “bán anh em” của ông ta đâu. Cho đến khi tôi rời Sa Ác B chỉ có ba người chết: Nguyễn Bá Lương, Quản Quang Ninh, Nguyễn Mạnh Côn..

Cái chết của anh Nguyễn Mạnh Côn không đúng ý mọi người nên chẳng ai xúc động. Đời vốn chó đẻ mà! Sinh-hoạt của trại bình-thường.

Đội của tôi nhận anh Phạm Thái Ất từ đội của Đằng Giao qua. Nhà gián-điệp này dấu nửa lạng vàng nhét ở đế giép, định ra gặp thân-nhân thăm nuôi sẽ gửi về, ai dè bị trật-tự Hoa-nẫu phát-hiện. Thế là vàng bị tịch thu, thân bị kỷ luật 15 ngày. Kỷ-luật Sa Ác B rất nhẹ cả với những tù-nhân trốn trại. Vì chưa kịp xây cất cachot, tù-nhân vi phạm kỷ luật thường bị còng chân vào cột nhà mới xây xong hoặc Nhà của các đội hình-sự.

Tù-nhân vi-phạm các tội như trây lười lao-động, nói xấu cán-bộ, xâm-phạm tài-sản xã-hội chủ-nghĩa, đánh nhau, dấu tiền bạc (dù bị “ăng ten” báo cáo) chỉ bị còng một chân 15 ngày, ăn cơm tiêu-chuẩn 13 ký 50, bị cúp viết thư , nhận thư và nhận quà thăm nuôi trong vòng 2 tháng. Tù-nhân trốn trại bị bắt lại thì bi vệ-binh đánh thê-thảm từ lúc bị bắt đến lúc dẫn về trại. Kỷ-luật cũng 15 ngày còng. Nặng hơn như đánh giết vệ-binh, quản-giáo thì bị đưa ra khu A. Suốt thời gian tôi ở khu B, chưa có vụ trốn trại nào đánh giết vệ-binh, cướp súng. Đang bị còng chân kỷ-luật mà có lệnh tha của Bộ nội-vụ, vẫn ra về. Chẳng phải bị kỷ-luật, bị “ăng ten” tố-cáo mà kéo dài hạn tù. Chẳng phải tố-cáo người khác mà chóng được tha về. Khả-năng gian ác của “ăng ten” chỉ làm kẻ bị nó hãm hại 15 ngày kỷ-luật, một lần cúp thăm nuôi. Nó không thể “bán xác” ai cả. Khả-năng gian-ác của “nhà văn” gian-dối, điêu-ngoa ghê-gớm hơn “ăng ten”. Khả-năng toa-rập của bọn vừa dốt vừa ngu ngang mức khả-năng gian-ác của “nhà văn” gian dối. Khả-năng thư luân-lưu độc-địa nhất, bần-tiện nhất, hôi-hám nhất về thủ -thuật rỉ tai bêu xấu vẫn là ông “nhà văn-hóa” Trần Tam Tiện. Tôi là kẻ bình-thản nghe tin một người nào đó bảo một người nào đó làm “ăng ten” gian-ác đến nỗi “bán xác” tù-nhân khác. Gặp ông cựu dân-biểu Nguyễn Minh Đăng ở trại Sungai Be si, một bạn tị nạn kéo tôi ra:

– Anh thân với Nguyễn Minh Đăng không?

– Vừa vừa.

– Hắn làm “ăng-ten” giết chết một vị đại-tá cải-tạo ngoài Bắc đấy.

– Ghê nhỉ?

– Ghê lắm.

– Trại nào?

– Tôi không rõ.

– Anh có ở trại ấy với Nguyễn Minh Đăng không?

– Không.

– Anh có bị tù không?

– Không.

– Ai nói với anh Nguyễn Minh Đăng giết vị đại-tá?

– Người ta.

– Người ta tên gì?

– Tôi không rõ.

– Anh nên về Việt Nam ngay đi.

– Làm gì? Vào tù à?

– Phải,, anh nên nằm tù cộng-sản. Nằm tù cộng-sản với người quốc-gia cao-cả của anh đi, anh sẽ thấm tình đời, thói đời. Một cục đường thôi, anh từ-chối cho “anh em” của anh, anh sẽ mang tội “ăng-ten” gớm ghiếc, anh sẽ bị “anh em” của anh viết báo bêu nhục nếu “anh em” của anh trốn thoát sang Mỹ.

Tôi muốn xử-dụng hợp-âm Do Majeur cho tất cả những tên khốn kiếp bêu nhục người khác bằng tin đồn.

Phạm Thái Ất chưa hết ba-hoa. Anh ta không ưa tôi vì anh ta không thể nói phét với tôi. Một lần, anh ta kể Tam-quốc-chí, tôi hỏi anh ta:

– Anh thấy Mã Tốc thế nào?

– Thẳng xạo.

– Nhưng Mã Tốc có tài thật. Những anh bất-tài vô-tướng mà xạo mới đáng ghét.

Chưa đủ độ ghét tôi, phải đợi hôm anh ta tâm-sự:

– Tôi và anh giống nhau.

– Anh lầm rồi, anh Ất ạ! Tôi và anh không bao giờ giống nhau.

– Chúng ta cùng tù.

– Cùng tù thôi.

– Cùng tù là giống nhau.

– Anh và tôi không thể giống nhau.

– Tại sao?

– Vì anh là anh, tôi là tôi. Có những thứ không thể đồng dạng, đồng tính.

Từ đó, anh ta ghét tôi ra mặt. Chẳng phải riêng anh Ất ghét tôi, còn một số thư-lại Long Thành ghét tôi nữa. Sự ghét bỏ xuất-phát từ lòng mặc-cảm. Thẩm-phán Đào Minh Lượng nói:

– Tụi nó ngại anh vì ngày trước anh chửi tụi nó là gia-nô của Thiệu.

Chắc chắn vậy. Cái số thư lại Long Thành cặn-bã của xã-hội cũ toàn những thằng già, sống tập-thể mà chỉ lo quyền-lợi cá nhân. Bị thăm nuôi của anh nào anh ấy buộc thật chặt. Điều này thuộc tự-do của họ, xin miễn phê-bình. Nói riêng hai điểm nhỏ thôi: Buổi chiều ca-cóng xong phải tưới nước cho tắt than lửa. Trực trại kiểm-soát trước khi điểm danh vào phòng. Nếu bếp còn than cháy và bừa-bãi, trực trại sẽ cấm ca-cóng một tuần. Mấy ông thư-lại già chuyên gây rắc-rối. Trực trại “lên lớp”, các ông ấy khúm núm “tiếp thu”. Nhà trưởng van nài các ông ấy thi-hành quy-định. các ông ấy nhởn-nhơ, chửi thầm. Đã bị cấm ca-cóng vài lần, rồi đâu vẫn hoàn đó. Một ông thư-lại vi-phạm quy-định, cả Nhà treo ca-cóng. Đấy là điểm thứ nhất. Trời mưa được nghỉ lao-động vì sợ tù-nhân trốn trại. Cửa Nhà mở rộng với điều-kiện tù-nhân đừng ra hứng nước hay tắm giặt. Tù-nhân vi-phạm, cửa sẽ bị đóng kín. Tất cả tuân lệnh, trừ mấy ông thư-lại. Nhà trưởng nói nhẹ, mấy ông ấy tỉnh bơ, nói nặng, mấy ông ấy sửng cồ. Nhưng trực trại hay trật-tự Hoa-nẫu “giáo-dục”, mấy ông ấy nín khe. Tôi không chịu nổi thái-độ sống của mấy ông thư-lại, thường xuyên công-kích mấy ông vì quyền-lợi chung của cả Nhà. Thư-lại cấu-kết với nhau kết án tôi “ký-giả ăn mày làm mất nước”!

May cho tôi là bị kỷ-luật, mất chức Đội trưởng, mất luôn chức Nhà trưởng. Vì Đội 17 rau xanh không đạt đúng năng-suất lao-động, người ta lôi cái vụ tôi gửi tiền lâm-sản mua thuốc lá, mua bột sữa hồi tôi mới vào Sa Ác B ra xử tội. Tôi bị đứng nghiêm trước tù-nhân cả trại nghe đọc quyết-định thi-hành kỷ-luật.

Cộng-hoà xã-hội chủ-nghĩa Việt Nam
Độc-lập – Tự-do – Hạnh-phúc

Bộ Nội-vụ
Trại Cải-tạo Xuyên Mỗc TH6 B

QUYẾT-ĐỊNH THI -HÀNH KỶ-LUẬT

Ban Giám thi trại cải tạo TH6 quyết-đinh thi-hành kỷ-luật trại viên:

Vũ Mộng Long
Sinh ngày 16-8-1935
Tại Thái Bình
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú 225 Bis Nam-kỳ Khởi-nghĩa tf Hồ Chí Minh

Can tội nhà văn phản-động
Bị bắt ngày 8-4-1976
về tội mua bán đổi chác. Trại viên Vũ Mộng Long bị mất chức Đội trưởng, Nhà trưởng. Đồng-chí Nguyễn văn Hưng là cán-bộ trực trại có nhiệm-vụ thi-hành quyết-định này.

Ngày 20-6-1979
Phó Giám-thị
Nguyễn văn Hiểu

Tội của tôi cũ mèm nên không bị còng chân, bị cúp thăm nuôi. Buổi chiều hôm ấy Đằng Giao gạ tôi nấu chè ăn khao . Anh ta rất thèm được kỷ-luật để thoát cảnh trên đe dưới búa. Tôi thì cảm giác mình tự do làm tù.

 

 

-6-

Thường lệ, Đội trưởng bị kỷ-luật thì được biên-chế sang đội khác. Tôi vẫn ở Đội 17 rau xanh làm tù-nhân bình thường. Đội trưởng của tôi là anh Trạng, từ đội của Đằng Giao qua. Anh Trạng, dân Bình Chánh. Quản-giáo Vinh xếp tôi vào Tổ tưới rau. Lúc này, Ngô Đình Hoa, Nguyễn văn Bình đã về với đội Long Thành. Quản- giáo Vinh bị Ban giám-thị phê-bình gay gắt vì đội của ông thầy cầm cờ trắng. Cờ đỏ do đội rau Long Thành đoạt. Cờ xanh nằm trong tay Đội 3 hình-sự. Ông thầy bực tức, Ông thầy phấn-đấu vượt chỉ-tiêu. Ông thầy…tăng phân tươi và tăng nước tưới. Mỗi tù-nhân phụ-trách gánh nước phải gánh đủ 100 đôi 1 ngày. Năm 1979 hạn hán. Tháng 6 mà vẫn chưa có trận mưa nào ngoạn-mục kéo dài vài hôm. Ở trại cải-tạo, mưa là hạnh-phúc. Tù-nhân bình-bầu mức ăn cho ông Trời như sau:

– Đêm tạnh, bắt đầu kẻng báo thức mới mưa. Mưa trút nước qua giờ tập họp lao-động. Cả trại nằm nhà nghỉ-ngơi: Trời hưởng mức ăn 18 ký.
– Ngủ trưa dậy, kẻng tập họp lao-động mưa tầm-tã, cả trại nằm nhà nghỉ-ngơi, Trời hưởng mức ăn 15 ký
– Đang lao-động, trời mưa, thu-hồi dụng-cụ về trại, Trời hưởng mức ăn 13 ký 50
– Mưa sớm, mưa đã đời, lúc tập họp lao-động lại tạnh, Trời bị kỷ-luật còng chân 15 ngày, cúp thăm nuôi 1 kỳ.

Mưa không những tù sướng, quản-giáo, vệ-binh cũng sướng. Ban giám-thị không sướng tí nào. Nhưng bắt tù đi lao-động, mưa to sẽ xẩy ra nhiều vụ trốn trại thành-công. Trại mà đề nhiều tù trốn trại, Ban giám-thị sẽ bị kiềm điểm, sẽ khó leo lên địa-vị cao trong ngành quản-lý các nhà tù. Do đó, trốn trại là quan-trọng, tiến-bộ tư- tưởng của tù-nhân là thứ yếu. Mục-đích chính-yếu của chính-sách lao-động cải-tạo tư-tưởng của cộng-sản là gì? Thế-giới, cho đến hôm nay, vẫn bị huyễn-hoặc bởi cách chơi chữ của cộng-sản. Người cộng-sản lúc nào cũng có thể to miệng nói với thế-giới rằng họ không hề bắt nhốt sĩ-quan quân-đội, sĩ-quan cảnh-sát, công- chức cao cấp. dân-biểu, nghị-sĩ, nghị-viên, đảng-phái đối nghịch đảng cộng-sản của và trong chế-độ Việt Nam cộng-hòa. Những thành-phần này, họ gọi chung là “ngụy quân, ngụy quyền”. Rõ-rệt và chính-xác, những thành-phần này đã đi trình-diện học tập cải-tạo. Thế-giới không cần biết cái thông-cáo cưỡng-bức và đe-dọa “ngụy quân, ngụy quyền”. Và cộng-sản phủ-nhận con số tù-nhân chính-trị mà họ giam giữ. Với cộng-sản, không có tù-nhân chính-trị. Các tổ-chức chống cộng-sản sau 30-4-75, những thanh-niên, sinh-viên, học-sinh chiến-đấu cho tự-do, dân-chủ của dân-tộc; những nhà trí-thức đòi hỏi nhân-quyền, bị cộng-sản xếp vào thành-phần “phản-động” can tội phá-hoại an-ninh của “tổ-quốc” và bị bắt bỏ tù không cần xét xử, không có án-tích. Tất cả những nơi giam nhốt, đầy đọa tù-nhân, cộng- sản đều gọi là Trại học tập cải-tạo và thế-giới đều gọi là Camp de ré-éducation. Cộng-sản không gọi là Nhà tù hay Trại tập-trung khổ-sai lao-động. Thế-giới không gọi thế và báo-chí Việt Nam hải-ngoại cũng không gọi thế Cho nên ý-nghĩa của tù-nhân chính-trị Việt Nam nó phôi-pha dần theo tháng năm. Như tị-nạn chính-trị bước sang giai đoạn tị-nạn kinh-tế! Sự can-thiệp của các hội-đoàn nhân-đạo quôc-tế chỉ nhằm cá-nhân, không nhằm tập-thể. Mọi lên tiếng về tù-nhân chính-trị ở Việt Nam mang tính chất làm cảnh theo cảm-hứng mùa màng. Cộng-sản cấm-chỉ báo-chí thể-giới thăm viếng nhà tù và trại tập-trung của họ. Cả miền Nam, có một trại kiểu mẫu để tiếp phái-đoàn Amnesty International (vì AT trung lập với tất cả các chế-độ chính-trị) và các hội-đoàn quốc-tế thân cộng-sản*. Thế-giới chỉ hiểu lơ-mơ về nhà tù và trại tập-trung khổ-sai lao-động của cộng-sản qua sự tường-trình của những ông Việt Nam cư-ngụ tại Pháp từ 30 năm. Và những ông này đều gọi những địa-ngục tù Việt Nam là Trại học tập cải-tạo! Thủ-đoạn bắt nhốt hàng mấy trăm ngàn tù-nhân của cộng-sản nó siêu-việt thế đấy. Đi học- tập, không đi khổ-sai lao-động. Tình nguyện trình diện học tập cải-tạo, không hề bị bắt giam nhốt. Phải công-nhận cộng-sản chơi chữ rất giỏi.

Ở nhà tù ra sao, bạn đã đọc Nhà tù rồi. Còn ở trại tập-trung ra sao, tôi sẽ cố-gắng viết trung-thực với nhận-xét và kinh-nghiệm của tôi. Cộng-sản không thích cải-tạo tư tưởng tù-nhân. Hiển nhiên, họ không thể chơi trò “brain washing” theo phương-pháp Pavlovcho hàng trăm ngàn tù-nhân. Họ thừa hiểu, tù-nhân lao-cải biết cách nín thở qua cầu. Vậy chỉ cần bắt tù-nhân tê-liệt tâm-hồn, rã-rời thể-xác Cách thực hiện hữu-hiệu nhất là làm cho tù-nhân đói khổ, làm cho tù-nhân mất phẩm-cách, làm cho tù-nhân sợ hãi. Làm cho tù-nhân đói khổ nằm trong chính-sách làm cho toàn dân đói khổ. Sự tiến-bộ của chế-độ cộng-sản ở Việt Nam là không còn ai chết đói nữa nhưng thường xuyên đói và triền-miên ăn độn. Chủ-tịch Hồ Chí Minh, ở bức chân dung vẽ ông ta đứng dơ bàn tay xòe đủ năm ngón, được dân-gian “học tập” như vầy:

5 ngón tay Bác, 5 đồng bạc “ngụy” ăn 1 đồng bạc cách-mạng.
5 ngón tay Bác, 5 năm tù tối-thiểu cho ngụy-quân, ngụy-quyền, phản-động.
5 ngón tay Bác, 5 lạng thực-phẩm cho một người dân một ngày.

Tù và dân đồng đều tiêu-chuẩn 15 ký lô thực-phẩm mỗi tháng. Thực-phẩm không phải là gạo. Thực-phẩm, có thể, là gạo hẩm cộng với khoai, sắn, ngô hay chỉ riêng rẽ khoai, sắn, ngô, bo bo…Gạo là xa-xỉ-phẩm như nước mắm trên đất khách miền Bắc có lăng Bác. Cách-mạng vô-sản đã đổi đời cho nước mắm. Nước mắm cũng tiến nhanh, tiến mạnh, tiền vững-chắc lên xã-hội chủ-nghĩa thành nước chấm. Muối + nước + kẹo đắng : Nước chấm! Ấm no, hai tiếng này vẫn nằm trong hứa hẹn. Bài ca Tự Túc phổ-biến sâu rộng khắp nước từ năm 1946. Hai câu cuối rực-rỡ tương-lai:

Anh em ơi góp công muôn bàn tay
Đất nước ta ấm no đi đây có ngày

Năm 1976, đài phát-thanh Giải-phóng, chương-trình Nông-nghiệp vẫn hát bài Tự TúcTụ Túc là nhạc mở đầu và kết-thúc chương-trình. Ba mươi năm sau cách-mạng đất nước ta vẫn đói rét, “đất nước ta ấm no rồi đây có ngày”. Chưa biết ngày nào? Năm nay, 1986, đất nước ta chắc vẫn còn đói rét. Dân chúng đói vì Đảng muốn dân chúng đói. Đói có nghĩa là bao-tử lưng-lửng. Bao-tử lưng-lửng có nghĩa là không thể chết đói. Không thể chết đói nhưng mà rất thèm ăn no. Thèm ăn no thì chỉ nghĩ đến miếng ăn, không thiết nghĩ đến tự-do dân-chủ. Càng không muốn nghĩ đền tranh-đấu cho ấm no, tự-do, dân-chủ. Con người khó lòng vùng dậy khi nó đói mà nó biết nó không bị chết đói. Cái roi gạo của cộng-sản nó nhiệm-mầu thế đấy. Nó phũ-phàng hơn roi điện của thực-dân phát-xít đế-quốc tra-tấn con người. Nó làm hao mòn thịt xương và tuyệt diệt ý-chí chống đối.

Ngày xưa roi điện thì còn
Ngày nay roi gạo hao mòn thịt xương

Cái cung-cách cai-trị nhân-dân bằng roi gạo ngoài đời giống hệt cái cung-cách quản-lý tù-nhân trong trại tập-trung khổ-sai lao-động. Ăn ít, làm nhiều. Làm không đem lại kết-quả, vẫn làm. Làm cho đói. Đói bị ăn ít. Ăn ít thèm ăn. Tù-nhân vẫn lại chỉ loay-hoay miếng ăn. Chung quanh miếng ăn là thảm cảnh dẫn tới sa-đọa và mất phẩm-cách. Bất cứ một tù-nhân lao-cải nào cũng có thể nói câu này với bất cứ ai, ở bất cứ đâu mà không sợ mang tiếng bịa đặt: Mọi sinh vật bị tiêu-diệt gọn quanh khu-vực tù-nhân cải-tạo Thằn lằn, rắn, kỳ-nhông, kỳ-đà, mối chúa, cào-cào, dế, chuột, cua, cá, tôm tép, cóc nhái… Cái gì có thể ăn và có chút chất đạm là tù cải-tạo ăn. Trừ giun ra. Tôi chưa thấy ai ăn giun. Có lẽ, ông nhà báo nào thương tù cải-tạo quá đã cho tù ăn giun thay bo-bo! Mà ăn cả bát giun mới là giầu óc tưởng-tượng. Rất tiếc, ông nhà báo này không được làm đại-diện tù chính-trị Việt Nam để “bốcxê la bút” tại quốc-hội Hoa-kỳ hay là đi kiện Việt cộng. Tù-nhân lao-cải còn ăn rau độn bo-bo cho căng bao-tử Rau tầu bay, rau cải trời, rau dền dại, rau sam… Có người dám ăn cỏ non. Lý-luậnn: Dê ăn cỏ, trâu bò ăn cỏ có chết đâu. Trâu ăn cỏ lao-động vô-địch. Bò ăn cỏ sinh bê còn ra sữa. Sữa bò chế thành bơ, thành phó-mát… Cỏ nhất định dồi dào sinh tố. Nhưng cỏ chỉ bổ khi được… nhai lại. Mà người không thuộc loài nhai lại, trừ cộng-sản là loài nhai lại những giáo-điều lạc-hậu, những nghị-quyết mốc thếch, những chiến-thắng chẳng ăn cái giải gì, những khẩu-hiệu gian-dối, những danh-từ rỗng tuếch. Cũng còn có một loài nhai lại. Đó là bọn nhà văn Hamburger, xuân hạ thu đông nhai lại những câu chửi rủa người vắng mặt. Thêm loài nhai lại hiệp định Paris 1973, nhai lại tiền lạc-quyên kháng-chiến, nhai lại tiền ăn cắp di-tản đem theo, nhai lại dĩ-vãng bệ-rạc. Vân vân… Đất nước khốn-khổ của chúng ta hơi nhiều cách-mạng nên khá đông thú vật hai chân nhai lại. Thú vật nhai lại cỏ kháng-chiến bền-bỉ và quang-vinh nhất chỉ có hai tên cùng viết tắt HCM. Một tên đã nằm trong hòm kính. Một tên đang nằm trong thùng nước lèo phở Hòa. Tù-nhân cải-tạo là nạn-nhân của thú vật hai chân nhai lại. Tù-nhân cải-tạo là CON NGUờI bị thú vật hai chân bắt đồng-hóa với chúng nó. Và đã thử ăn cỏ non. Khi người ta đói, người ta ăn cả thịt người. Đã có trường-hợp thuyền-nhân ăn thịt kẻ đồng-hành chết đói. Tháng 3 năm Ất Dậu, người sắp chết đói ăn thịt người vừa chết đói là thường. Ăn bất cứ cái gì có thể nuốt. Để chết. Người đói vô tội. Kẻ làm cho con người đói đến mất nhân-tính, mất phẩm-cách mới có tội.

Tù-nhân lao-cải không có ai chết đói nhưng “quanh năm tích-cực đói, bốn mùa khẩn-trương đói”. Đói thì “mưu sinh” riêng cho no. Rau cải trời dễ kiếm dễ hái, ăn nhiều mất máu. Cóc nấu cháo ngon lắm, bổ lắm, ăn trúng nọc “cậu trời” là đau quặn bụng, ói mửa ra mật xanh mật vàng. Bạ cái gì cũng ăn thì dễ sinh bệnh. Bệnh thiếu thuốc thì “về sum họp với cha ta”. Đa-số tù-nhân lao-cải chết bệnh là do ngoài đời ăn khỏe quá. Ông tướng Nguyễn Đức Thắng đi lao-cải sẽ kềnh trước tiên. Đói đâm ra lẩn-thẩn, kèn-cựa nhau từ miếng thịt đến muỗng cơm trắng “những ngày lễ lớn”. Chia sắn lát, chia khoai luộc, chia nước muối, chẳng ai thèm nhòm ngó. Chia thịt, chia canh, bắp cải nấu xương heo, chia cơm trắng, một đội 50 tù-nhân 100 con mắt theo dõi người chia cơm, chia thịt, chia canh. Sự thèm ăn làm đầu óc bé lại, tâm-hồn kẹo đi. Thêm cái tiêu-chuẩn thực-phẩm hàng tháng gây đủ mọi chia rẽ, gấu-ó, đấm đá. Đó là Sa Ác B của tôi, một trại đủ thành-phần xã-hội. Những trại khác tôi không biết tù-nhân lao-cải có còn thủ nổi tác-phong “giấy rách phải giữ lấy lề” ?

Chế độ thăm gặp ở trại lao-cải chẳng nhân-đạo gì. Nó nhắm ba mục-đích:

1/ Ăn ngon, ăn no thì phải “triệt-để tuân-hành Nội-quy và mệnh-lệnh của cán-bộ”. Kinh-tế…cái bị quà luôn luôn bị đe-dọa bởi cái quyết-định thi-hành kỷ-luật. Tù-nhân bướng-bỉnh, “tư-tưởng nấn cấn, nao động nề mề” khó cải-tạo, đa số là tù-nhân “con bà phước”. Kỷ-luật cúp thăm gặp kinh-hoàng nhất, “con bà phước” không ai nuôi, không ai gặp, không sợ hãi cái thứ kỷ-luật răn đe bao-tử.

2/ Ăn ngon, ăn no thì lao-động tích-cực, hết lấy cớ trây lười

3/ Thăm gặp tạo mâu-thuẫn giai-cấp giữa các tù-nhân. Thằng không có thăm gặp ghét thằng có thăm gặp. Thằng thăm gặp ít ghét thằng thăm gặp nhiều. Giá-trị và cả lòng thù-hận đánh giá bằng cái bị căng phồng quà cáp hay cái bị xẹp lép. Nếu không có chế-độ thăm gặp, tù-nhân bình-đẳng kinh-tế. Như thế tù-nhân yêu thương nhau đoàn-kết thắm-thiết và sẽ gây ra nhũng tai-hại khó lường cho sự quản-lý tù-nhân ở các trại lao-cải.

Đó, ba mục-đích chính của chế-độ thăm gặp nằm trong chính-sách cải-tạo tư-tưởng khoan-hồng và nhân-đạo của Đảng và Nhà nước cộng-sản. Con người chưa bao giờ khổ vì miếng ăn và hèn vì miếng ăn như con người tù-nhân ở trại tập-trung khổ-sai lao-động của cộng-sản. Tuy khổ và hèn nhưng là khổ và hèn bị cưỡng-bức. Tỷ-lệ những người vì khổ mà tình-nguyện xếp mình dưới mức hèn, xếp mình ngang hàng súc-vật hơi khan hiếm. Có lẽ duy nhất một “nhà văn” Tạ Tỵ.Ông này không lao-động vất-vả gì cả. Như ông ta muộn-màng thú nhận, ông ta được “anh em” của ông ta giới-thiệu vẽ chân dung Hồ Chi Minh giữa trại cải-tạo . Và ông ta bảo “Sống trong trại tù thì vẽ HCM hay đi hót cứt, bổ củi, vác gạo, trồng mì cũng như nhaư” . Bị cưỡng-bức vẽ tranh Hồ Chí Minh và được giới thiệu vẽ khác nhau. Ở tù trăm sự đều cay đắng. Hồ Chí Minh đã thở than vậy. “Bác” còn ngậm-ngùi: “Mỗi lời mỗi việc không tự-chủ. Đề chúng dắt đi tựa trâu bò”. Chúng không dắt đi tựa trâu bò mà mình tình-nguyện làm trâu bò thì kẻ vẽ “Bác” không giống tâm-sự “Bác”. Thì bị giới-thiệu cũng là một cưỡng-bức đi, ngồi vẽ “Bác” vẫn nhàn, bao-tử đỡ đói hơn bao-tử bổ củi, vác gạo. Đỡ đói hơn “anh em” mà “ăn cắp khoai mì, ăn vụng thịt dưới nhà bếp, ăn tranh phần khoai và cơm cháy của heo vân vân…” , tôi nghĩ đây là thành-tích rực-rỡ nhất xứng-đáng ghi đậm nét trong L’Arbre de vie của gia-đình ông nhà văn-học nghệ-thuật “ăn cắp”. Thời-đại của chúng ta rất ly kỳ. Rõ đúng…đổi đời. Những thẳng mạt rệp tự nhận mình ăn cắp, ăn vụng, ăn tranh phần súc-vật, vẫn trơ-trẽn phỉ-báng người khác những tội mơ-hồ, bịa đặt. Cái trường-hợp no mà vẫn ăn cắp, ăn vụng chính là biểu-tượng của đám quốc-gia bẩn vậy.

Đã biết cái thủ thuật cộng-sản đánh vào bao tử tù-nhân làm cho tù-nhân khốn-khổ và hèn-hạ vì miếng ăn, nên biết thêm cái thủ-thuật cộng-sản đánh vào đầu óc khiến tù-nhân tê-liệt tư-tưởng rồi biến thành âm-binh cho phù-thủy sai phái. Bí-kíp nằm giữa thủ-thuật này là phê-bình và tự phê-bình. Một học-giả Trung Hoa nói: “Kẻ sĩ một ngày không đọc sách thánh-hiền, soi gương thấy mình xấu-hổ”. Hồ chủ-tịch vĩ-đại nói: “Một ngày không tự phê-bình, soi gương thấy mình chưa rửa mặt”. Hồ Chí Minh có tài đạo văn. Bác Hồ rất nhiều tài, tài nào cũng có thể suy tôn, vì khó kiểm-chứng. Riêng tài đạo văn, Bác bị lòi tẩy . Bác cứ thuổng tư-tưởng của thiên hạ, “sáng-tạo” ra cái của Bác. Trong Lời khuyên học trò, Nguyễn Bá Học viết: “đường đi khó, không khó vì ngăn sông cách núi mà chỉ khó vì lòng người ngại núi e sông”. Bác vi-vút lời Bác “Không có việc gì khó, chỉ sợ lòng không bền thôi. Đào núi và lấp biển là khó mà quyết-chí thì cũng làm nên”. Bác thuổng lu-bù…Câu thuổng xây-dựng nên tư-tưởng Hồ Chí Minh về cái “dịch-vụ” phê-bình và tự phê-bình đã phá vỡ sự gần-gũi, sự thân-thiết dân-tộc. Nó là thủ-đoạn chia tình người đề quản-lý con người. xẻ tâm-hồn con người để kiềm-soát linh-hồn con người. Nó phát-triển mạnh-mẽ từ sau 1956, khi cộng-sản Hà nội đã đưa nông-dân vào Nông-hội, Hợp-tác-xã.

Từ đây, nông-dân được giao quyền làm chủ tập-thể dưới quyền điều-hành của bọn đảng-viên Chủ-nhiệm, Bí-thư Nông-hội, Hợp-tác-xã. Nông-dân bận-bịu họp-hành, bình-bầu xã-viên xuất-sắcc, phê-bình xã-viên thiểu tích-cực và tự phê-bình mình. Vân vân. Nông-dân vốn hiền lành, ghét họp-hành và tối-kỵ phê-bình họ-hàng, láng-giềng, chòm-xóm công-khai. Những buổi họp đầu tiên không được khuyến-khích phê-bình và tự phê-bình. Dần dần, phê-bình và tự phê-bình được khuyến-khích. Rồi lời Hồ chủ-tịch đem ra học tập. Rồi Chủ-nhiệm Hợp-tác-xã chủ-trì các buổi họp phê-bình các buổi họp thiểu phẩm-chất. Vì thiếu phê-bình và tự phê-bình. Người ta cố kéo dài phiên họp đền nửa đêm. Nông-dân ngáp vặt. Nông-dân thèm về ngủ mai sớm còn thay trâu kéo cầy “xây-dựng tổ-quốc”. Bắt đầu tự phê-bình những khuyết-điểm lặt-vặt vô-tội-vạ. Cộng-sản rất kiên-trì trong công-tác “giáo-dục” nhân-dân. Cái lặt-vặt sơ-hởi sẽ là cái rắc-rối cuối đường. Nông-dân “làm quen” với phê-bình. Từ làm quen thành thói quen. Thói quen dễ-dãi: Phê-bình cho xong chuyện, cho chóng giải-tán buổi họp về ngủ. Vậy thì nông-dân phê-bình lẫn nhau những chuyện đến muộn vài phút, nghỉ sớm vài phút, bệnh nhẹ không khắc phục, không chấm công công-bình, không tích-cực bảo-vệ tài-sản tập-tục… Nông-dân lại “com bin” với nhau. Tôi phê-bình bác như thể này, bác phê-bình tôi như thể này. Cho xong chuyện. Cộng-sản nó nghiên-cứu kỹ-lưỡng, nó phá chiến-thuật phê-bình của nông-dân. Thủ đoạn cầy-cáo của cộng-sản là rỉ tai, xuyên-tạc, gây thù-hận.

Cộng-sản:
– Bác thân với bác A lắm nhỉ?

Nông-dân B:
– Thân lắm.

Cộng-sản:
– Tôi không tin.

Nông-dân B:
– Đồng-chí không tin cái gì?

Cộng-sản:
– Bác A nói với tôi rằng bác cứ hậm-hực cái ao cá của bác bị vào Hợp-tác-xã.

Nông-dân B:
– Tôi nói với ai bao giờ?

Cộng-sản:
– Tôi không nghĩ bác nói đâu. Bác tiến-bộ, xã-viên lý-tưởng. Nhưng ở đời nó có hai chữ ai ngờ, bác ạ!

Cộng-sản đến thăm nông-dân B, bỏ nhỏ tí ti rồi về. Thay vì đi tìm sự thật ở nông-dân A, nông-dân B nghiến răng thề sẽ “chơi” nông-dân A một vố. Cộng-sản tạo cơ-hội để nông-dân B thấy rõ nông-dân A hay gặp riêng đồng-chí Chủ-nhiệm. Vậy là buổi họp, nông-dân B phê-bình nông-dân A theo cung cách…tố cáo. Bao nhiêu lời tâm sự uất ức Đảng của nông-dân A được khai vanh vách. Phê-bình thành tố cáo. Tố-cáo thành phong-trào. Cộng-sản biết hết thầm ý của nông-dân mà cai-trị. Nông-dân thù ghét nhau, sợ hãi nhau, không dám gần-gũi nhau tâm-sự thân-mật. Nhà nào nhà nấy đóng cửa. Gặp nhau ở Hợp-tác-xã thôi. Mọi người đề-phòng lẫn nhau. Thủ-đoạn cộng-sản trả lời câu hỏi tại sao không có cuộc nổi dậy nào của nông-dân miền Bắc.

Phê bình và tự phê-bình vào quân-đội, vào công-an, vào khắp các cơ-quan, các ngành. Vào nhà máy, bắt buộc. Vào cả đoàn-thể nhi-đồng. Vào nhà tù và trại lao-cải thì tinh-vi hơn. “Ăng-ten” nằm ở biên-bản các buổi họp của đội cuối tuần, ở tự kiểm. . . “Ăng-ten” ở sự tố-cáo lẫn nhau bởi thủ-thuật chia rẽ, gây thù-hận của cai tù. Một thí dụ điển-hình nhất cho tất cả các trại lao-cải:

Tù-nhân X là người có địa-vị xã-hội, có uy-tín ở xã-hội cũ, có uy-tín trong đội, trong trại được các tù-nhân yêu mến và coi như lãnh-đạo tinh-thần của tù-nhân. Phải hạ gục tù-nhân X. Dễ-dàng lắm. Cả đội đang cuốc đất dưới nắng chang-chang, mồ-hôi tầm-tã, thầy quản-giáo ra bãi gọi tù-nhân X vào nhà lô.(1) Nội-dung cuộc “làm việc” giữa quản-giáo và tù-nhân X sẽ như thế này:

 

Quản-giáo:
– Anh cải-tạo mấy năm rồi,anh X?

Tù-nhân X:
– Thưa cán-bộ, 5 năm.

Quản-giáo:
– Năm năm thì cũng sắp về rồi đấy.

Tù-nhân X:
– Tôi hy-vọng thế.

Quản-giáo:
– Vợ con anh thăm gặp anh đều chứ?

Tù-nhân X:
– Thưa cán-bộ, đều.

Quản-giáo:
-Anh cần gửi thêm thư cho gia-đình không?

Tù-nhân X:
– Cám ơn cán-bộ, một tháng một lần đủ rồi.

Quản-giáo:
– Anh nhận-xét về đội ra sao?

Tù-nhân X:
~ Tất cả tích cực lao-động, cải-tạo tư-tưởng tốt.

Quản-giáo:
– Không hơn thế đâu.

 

Chuyện sang vụ thu-hoạch sắp tới. Rồi làm gì, nghĩ gì khi về sum-họp gia-đình. Rồi uống nước rễ tranh, hút thuốc lào. Quản-giáo kéo dài giờ giải-lao của tù-nhân X.Khi tù-nhân X trở lại bãi, anh em xúm lại hỏi. Tù-nhân X tường-thuật trung-thực cuộc mạn-đàm. Anh em tin. Hôm sau xẩy ra như vậy. Anh em tin. Hôm sau nữa cũng vậy. Anh em vẫn tin. Rồi mạn-đàm hoài, anh em “lạ quá”. Từ lạ quá đến ngờ vực. Cho đến một hôm, buổi sáng tù-nhân X mạn-đàm với quản-giáo thì buổi chiều tù-nhân Y được gọi sỉ-vả và bị kỷ-luật. Quản-giáo tập họp đội, tuyên-bố quyết-định kỷ-luật tù-nhân Y thòng thêm câu:

– Cán-bộ có bị che mắt, còn mắt khác nhìn giúp.

Tù-nhân X trở thành nạn-nhân của quản-giáo, của trò chơi triệt-hạ uy-tín cá-nhân. Ông bị gán ghép tội “Ăng-ten”. Đội khinh-bỉ ông. Trại khinh-bỉ ông. Tiếng xấu lan đi khi có tù-nhân chuyển trại. Đây chỉ một thí-dụ điển-hình. Còn hàng trăm thủ-đoạn tạo ngờ-vực, thù-hận giữa các tù-nhân, chủ-đích làm các tù-nhân không thể hội họp, bàn-tán âm-mưu chống đối và trốn trại. Ngu-xuẩn nhất vẫn là kẻ tin vào lời cai tù rỉ tai tù về chuyện tù-nhân khác. Mà kẻ tin lời cai tù lại thêu dệt thêm giúp cai tù. Và không còn là một kẻ. Mà đa-số mê sảng trong thủ-thuật cộng-sản. Trong tù mê sảng chưa đủ, ngoài tù cũng mê sảng. Mê sảng cả ở hải-ngoại. Rốt cuộc, con người tù-nhân cộng-sản ngoài nỗi khổ, nỗi hèn vì roi gạo quất vào bao-tử, còn thêm nỗi khổ, nỗi hèn vì roi phê-bình, tự phê-bình và tin đồn phun ra thì lưỡi rắn quất vào đầu óc, vào trái tim, vào thân-phận. Đau-đớn cả thể-xác lẫn linh-hồn mà, ngay cả tù-nhân, đa-số vẫn chẳng khôn lớn tí nào.

Roi gạo và roi phê-bình cộng với lao-động quần-quật, với vô-vọng ngày tha của án phạt đê-tiện Tập-Trung Cải-Tạo, tù-nhân tê-liệt tư-tưởng, rã-rượi thể-xác. Cộng-sản chỉ muốn giáo-dục con người trở thành con người khiếp-nhược, cam đành và gian-dối. Bởi thế.,tù-nhân lao-cải khi được thả ra thì sợ-hãi tất cả. Trại lao-cải là cơn ác-mộng ám-ảnh thường xuyên. Có người đã trốn thoát ra ngoại-quốc vẫn ngẩn-ngơ như bị hớp hồn. Có người hấp-thụ nền giáo-dục gian-dối, mở miệng là phì nọc điêu-ngoa. Nhiều người học tập thụ-hưởng vật-chất đề quên học tập cải-tạo. Cộng-sản đã thành-công rực-rỡ với chính-sách học tập cải-tạo của họ. Hình như, chúng ta và tế-giới còn rất mù-mờ về sự thành-công chó đẻ này.

Tháng 6, trời nắng bạo, rau xanh cần tưới nước. Tôi phải gánh nước oằn vai. Đức-méo kéo xe cải-tiến lấy cát ở đoạn sông khu vườn rau của tôi, thấy tôi cởi trần gánh nước, đã chớp mắt thương-hại. Tôi đã cười nhìn Đức-méo, ông Phó-quận hành-chính Xuyên Mộc cũ. Tôi rất tự-hào tôi gánh nước giỏi, gánh đủ 100 đôi một ngày mà mỗi đôi, quản-giáo Vinh đều gạch dấu trong cuốn sổ kiểm-soát của hắn. Tôi tự-hào vì cáì gì cộng-sản làm được, tôi làm được; cái gì tôi làm được, Cộng-sản không làrn được. Và bất cứ cái gì đã gọi là công việc, tôi đều làm đến nơi đến chốn, làm hay và làm giỏi hơn người khác. Tôi sẽ hãnh-diện nếu ai bảo tôi gánh nước biểu-diễn ở Paris hay ở California.

o O o

Gánh nước được hơn một tháng, tôi bị chuyển sang Tổ phân tiểu như một Tổ trừng-giới và có biệt-danh Long-ếch-mù. Quản-giáo Vinh yêu cầu tôi “ủng hộ” cái gà-mèn Mỹ đã bị tịch-thu quai đề hắn sai anh Nại làm plaque gửi về Bắc tặng đào, tôi từ chối. ông thầy ghét tôi sẵn càng ghét thêm. Anh Mẫmở đội tôi là người vừa ngọng vừa khù-khờ. Buổi chiều gánh nước ở cái vũng chứa nước nhà bếp cán-bộ chảy ra, Mẫm vồ được con ếch. Mẫm khoe ầm-ỹ. Tôi cao hứng hỏi:

– Con ếch có mù không?

– Không.

– Tưởng nó mù chú mày mới vồ được chứ.

Quản-giáo Vinh gọi tôi tới “làm việc” :

– Anh Nong, anh vi phạm kỷ nuật.

Tôi cãi:

– Tôi làm gì đâu?

– Anh ám chỉ ai mù, cách-mạng mù à?

– Cán-bộ đừng nâng cao quan-điểm.

– Cách-mạng không mù, cán-bộ mù à?

– Tôi chỉ hỏi xem con ếch có mù.

– Con ếch không mù. Anh mù. Anh  hình-nhân được gắn hai con mắt giả.

– Vâng. con ếch không mù.

– Anh phải nhận anh mù.

– Tôi mù, cũng được. Tôi mù, tôi không nhìn thấy gì cả.

– Náo. Anh nhìn thấy một thứ.

– Cán-bộ muốn tôi nhìn thấy cái gì?

– Anh nói đi, tự-giác nói đi!

– Tôi nhìn thấy sự sáng-suốt của cách-mạng.

– Nại xỏ-xiên. Anh phải nhìn rõ bản-chất phản-động cộng nưu- manh của anh và đồng bọn. Mai anh phục-vụ Tổ phân tiểu. Rõ chưa?

– Rõ.

Đội gọi tôi tên mới: Long-ếch-mù. Vui thật. Tổ phân tiểu của tôi gồm 6 người. Đặng Hoàng Hà (không vồ đủ chỉ-tiêu cào-cào nuôi chích-chòe), Phạm Kim Sơn (dám nói không trốn trại mà ra về đường-đường chính-chính), Nguyễn Sắc (dám nói ông thầy không có kinh-nghiệm trồng mướp), Nguyễn văn Lợi (dám từ-chối leo cây cao bắt tổ chim cho ông thầy), Trần văn Tư (dám hát “đi trồng rau nhớ thăm nuôi xà bông”) và tôi (dám bảo con ếch mù). Tổ phân tiểu của tôi có nhiệm-vụ cung-cấp phân và nước tiểu cho hai Tổ bón rau và Tưới rau. Cầu-tiêu cơ-quan, nơi dành riêng cho Ban giám-thị và cán-bộ đi cầu, nằm trong khu-vực vườn rau của tôi. Thầy quản-giáo Vinh giáo-dục tù-nhân rằng: “Hễ Ban giám-thị ngang qua. Đội trưởng phải hô nghiêm, báo-cáo quân-số. Mọi người đang và nàm gì thì vất bỏ, đứng nghiêm”. Đội trưởng cứ nhìn anh Việt cộng nào già là. . .cho làm Ban giám-thị. Xẩy ra một hôm, có anh Việt cộng già ngoài khu A vô chơi. Anh này Ban giám-thị thật. Anh đi ngang qua vườn rau. Đội trưởng Trạng hét bự:

– Nghiêm!

Ban giám-thị giật mình.

– Báo-cáo Ban giám-thị. Đội 17 rau xanh…

Ban giám-thị vẫy tay:

– Thôi, đi ỉa miễn báo-cáo!

Lại một hôm, có anh Việt cộng trung niên qua vườn rau, Đội trưởng không hô nghiêm và báo-cáo. Không sao cả. Hôm khác, tưởng bở, Đội trưởng lờ tít một anh Ban giám-thị. Bị dũa. Từ đó, Việt cộng cỡ 30 tuổi đi ỉa, Đội trưởng Trạng đều phong chức Ban giám-thị, hô nghiêm và báo cáo. Như vậy chắc ăn, phản-ánh đúng tinh-thần “giết oan hơn tha lầm” của Đảng. Chuyện này gợi nhớ anh hề Văn Chung. Trong các hề Việt Nam, tôi khoái nhất hề Văn Chung. Anh ta đóng vai hàn-sĩ nhà quê lên kinh-đô chờ lọt mắt xanh của vương-tôn công-tử. Bạn anh ta dặn cứ ngồi góc phố, gặp ai đi qua có quân lính hộ-vệ thì “vạn-tuế thiên-tử”. Có vị nguyên-soái ngang qua, anh hàn-sĩ tung hô:

– Vạn-tuế thiên-tử!

Bị đá đít và nhắc nhở:

– Tao là nguyên-soái, mày muốn tao đảo-chính vua à?

Vị thái-tử đi qua, anh hàn-sĩ tung hô:

– Vạn-tuế nguyên-soái.!

Bị bợp tai và nhắc nhở:

– Tao là vua con, sắp là vua cha. mày muốn cách chức tao à?

Từ đó, bất cứ anh nào ngang qua, hàn-sĩ đều nhẩy lòng-vòng, miệng tung hô…trung-lập:

– Vạn-tuế anh nào đi qua đếch biết! Vạn-tuế anh nào đi qua đếch biết!

Ngày mới vào Sa Ác A, Đằng Giao đã vẽ một giấc mơ đổ thùng. Bây giờ, hơn cả đổ thùng mỗi hôm một tiếng nhàn-hạ, thảnh-thơi, tôi phải xuống hầm phân múc phân đầy xô xách lên. Tôi không được hân-hạnh đổ thùng quét rửa cầu-tiêu. Công việc “cao quý” này của Tổ vệ-sinh trại. Sa Ác B không tin tù chính-trị. Trật-tự là tù hình-sự; Thông-tin văn-hóa là tù hình-sự. Thăm gặp là tù hình-sự. Vệ-sinh, cấp-dưỡng là tù hình-sự. Lâm-sản là tù hình-sự. . .

Cảm giác đầu tiên của tôi khi xuống hầm phân nhung-nhúc hàng tỉ con ròi, tôi đã ghi lại trong tiểu thuyết Đồi Fanta, nhân-vật chính là thằng nhãi bị đầy-đọa như tôi.

“Tôi đang xuống hầm phân thối um và hàng tỉ con ròi bò lúc-nhúc ghê gớm. Tôi muốn ói. Nhưng cố nín. Rồi cũng phải ói. Tôi không kịp bước lên, ói tại chỗ, ói trên những con ròi. ói trên lớp phân có mùi thối không tên gọi, không so-sánh. Tôi ói hết phần sắn điểm-tâm, ói đền phần sắn chiều qua chưa kịp tiêu hóa, ói ra mật xanh, ói ra mật vàng, ói toàn nước bọt, ói khan quặn bụng. Thằng nhãi khiêng chung xô phân với tôi dục nhắng. Nó sợ chậm-chạp cán-bộ đinh nó. Nó vục xô thứ nhất, tôi và nó khiêng. Nó cho tôi đi trước cầm đầu khúc cây dài. Chuyến thứ hai, thấy tôi vẫn ói khan, nó bảo để nó vục. Tôi cám ơn nó, tự tay cầm xô vục. Bắt chước nó, tôi đưa hai tay xuống phân dưới hầm lùa vào cho đầy xô. Những con ròi bò bên cánh tay tôi . Tôi ngẩng mặt nhìn lên. Mặt trời nhìn tôi . .. Thằng Tổ trưởng nói đúng. “Xuống hầm vài lần là quen, hết sợ hãi”. Tôi muốn nói: Đã đền cái nước xuống hầm phân nhung nhúc ròi vục cả phân lẫn ròi bằng tay thì trên đời không có gì đáng sợ nữa, thì sẽ dám làm bất cứ việc gì. Tổ phân khen tôi xứng đáng dân xiện. Chúng nó bầy tôi rửa tay sạch rồi lấy lá cải chà nát thay xà-phòng. Quả nhiên mùi hôi bay biến. Tuy thế, buổi trưa tôi không ăn nổi, nghĩ tới hầm phân tôi nổi da gà”…

Có lẽ, tôi hạnh phúc hơn thẳng nhãi nhân-vật Đồi Fanta. Là, tôi có xà-phòng rửa sạch tay trước khi chà lá cải, lá húng chó.

Sự chấp nhận xuống hầm phân của tôi được giải-thích trong Sỏi đá ngậm ngùi.

“Bây giờ, hầm đã cạn, không thể đứng trên bờ ròng cái xô xuống múc mà kéo lên. Do đó, đội trưởng Jacqueline đã cho làm cái đường thang thoai-thoải xuống hầm. Nhưng lom-khom trên bực thang đất dễ té nhào nên tù-nhân đành phải lội hẳn xuống phân bầy-nhầy, hôi thối, hàng tỉ con ròi. vục xô múc đầy để bên trên kéo lên. Tôi đứng sát miệng hầm, nhìn xuống. Sự ưu-việt của chủ-nghĩa cộng-sản ở dưới ấy. Đầy-đọa con người tới mức đó là hết. Chị Jacqueline hỏi tôi:

– Liệu chị kham nổi không?

– Tôi cố gắng. Tôi đáp.

– Nếu không kham nổi, cứ ỳ ra. Nó kỷ-luật mình tống vô cachot còn sướng, khỏi lao-động.

– Tôi kham nổi.

Chị Thanh cũng chạy lại, khuyên tôi:

– Chị không xuống ham phân nó cũng không dám giết chị đâu. Chúng tôi đều chê hầm phân. Để bọn ngu sợ-hãi. Chúng tưởng lao-động tích-cực thì sớm được tha. Còn lâu.

Tôi nói:

– Nó hỏi tôi trí-thức làm được những việc gì. Tôi trả lời trí-thức làm được tất cả. Tôi cần chứng-tỏ với chúng nó rằng, việc của chúng nó, người trí-thức làm được còn việc của trí-thức, chúng nó không làm được. Tôi còn muốn chứng-tỏ với chị và với chính bản thân tôi.

Chị Thanh lắc đầu:

– Chị khó hiểu nhưng tôi yêu chị.

Tôi cầm tay chị Thanh:

– Đừng ví tôi với bọn ngu chỉ biết sợ hãi và ham được tha, chị nhé! Tôi tích-cực làm việc vì đó là công việc. Công việc đó đem lại kết quả gì, không cần đếm xỉa. Tôi tập làm việc nào đến nơi đến chốn việc đó.

Công việc xuống hầm vục phân đem lên ngào chung với tro và mạt cưa bón rau như vậy. Còn vào các cầu-tiêu của trại gánh nước tiểu thì nhẹ-nhàng, tuy mùi khai xông lên làm cay xè mắt. Tôi đã xuống hầm phân, gánh nước tiểu “nguyên chất” liên tiếp hai tháng.

(1) Căn nhà tù dựng ở bãi lao-động của Đội để nấu nước, chứ dụng-cụ lao-động, trú mưa và họp đội đột-xuất.

-7-

Tháng 8-1979, tôi bị biên-chế sang Đội 28 nông-nghiệp. Thời-gian này, Bộ Quốc-phòng, đã giải-tán hết các trại lao-cải ở miền Tây và giao tù-nhân cho Bộ Nội-vụ quản-lý. Tù-nhân trại lao-cải Vườn Đào thuộc huyện Cai Lậy được đưa lên miền Đông. Sa Ác A và B tiếp-nhận. Thực ra, công-an đã quản-lý tù-nhân từ năm 1978. Cũng thời-gian này, Sa Ác đã xây-dựng xong khu C. Sa Ác A, B và C gồm khoảng 5000 tù-nhân chính-trị và hình-sự. Vườn Đào đa-số là sĩ-quan Hoà Hảo đồng-hoá. Họ không tốt-nghiệp ở trường võ-bị nào cả. Kiến-thức của họ rất thấp và tác-phong của họ xô-bồ. Vừa mới đến, họ đã đánh nhau trong lúc chia com canh. Vài hôm sau, có tin đo Đội lâm-sản truyền: Vườn Đào bị Suối Máu trùm chăn đục thê-thảm ngoài khu A, có người bị cắt tai cảnh-cáo vì tội “ăng-ten” trại cũ. Á chà, câu chuyện được thêu dệt đầy đủ chi-tiết. Anh-hùng nhẩy dù Suối Máu đã ghi những trang ngục-sử tuyệt-vời! Bác-sĩ Thạch ra khu A lấy thuốc, trở về “cải-chính tin đồn”. Không có gì cả. Khu A hoàn-toàn yên lặng. Cách một quãng đường dài 2 cây-số, tù tung tin chẳng hay ho gì cho tù. Tuần-lễ sau, Phước Long đổ về Sa Ác. Long Thành, Vườn Đào. Phước Long được chuyên-chở bằng xe đò. Xe chạy trên con đường do Đội 21 nông-nghiệp của Đằng Giao kiến-tạo. Phước Long về làm sinh-động Sa Ác B. Từ đây. một hàng rào kẽm gai ngăn đôi biên-giới Hình-Sự và Chính-Trị. Hình-sự bị cấm-chỉ vượt biên-giới. Hai ông bác-sĩ Long Thành, một được tha, một bon chen ra khu A trụ-trì phòng Y-tế. Trước đó, 10 tù-nhân Long Thành đã về “sum họp gia đình”. Từ tháng 11-1978 đến tháng 7-1979, Sa Ác B mới có 11 người cầm giấy ra trại. Những người này đều trình diện học tập cải-tạo 10 ngày hồi tháng 6-1975. Vị bác-sĩ Long Thành còn kẹt ở trại đã lừng danh Long Thành. Ông ta củng-cố địa vị bác-sĩ tù bằng cách khuân cả tivi, tủ lạnh nộp cho Giám-thị Ba Tơ. Ông ta gạ-gẫm đưa Ba Tơ về Sài gòn, dẫn Ba Tơ đi ăn chơi và đưa Ba Tơ về nhà mình, dúi cho Ba Tơ mớ bạc để ông ta được làm tình với vợ! Như thế cũng bình thường thôi. Ai khéo xoay sở, người ấy sung sướng. Nhưng xoay sở cái trò bịa đặt khám bệnh hoa -liễu cho nữ tù, bắt nữ tù cởi truồng để Ba Tơ và bọn cai tù coi “chiếu bóng” thì ông bác-sĩ bỉ-ổi hơn Cộng-sản. Ông ta là quốc-gia đấy, đảng viên Đảng dân-chủ đàng-hoàng, Tỉnh-ủy chứ bộ! Hãy nghe một nữ tù Long Thành phát-biểu ý-kiến về đám quốc-gia bẩn.

“Con Lan-xì-ke thở dài:

– Chị đã từng nghe về giòng họ Đặng Vũ chưa.

Chị tự trả lời:

– Giòng họ khoa-bảng đấy, thủ-khoa bảng đần-độn, ích-kỷ. Tôi đã khước-từ nó từ lâu. Bây giờ tôi là “con bà phước”. Có người đi tìm hiểu mặt tốt của đời sống, tôi đi tìm mặt xấu. Rồi tôi vào tù vì tôi xấu. Ở tù, tôi bỗng thấy tôi tốt. Và cái tốt mà người ta rêu-rao chỉ là cái đốn-mạt, hèn-hạ. Nếu chị đến sớm vài tháng, chị đã gặp đủ mặt viên-chức thư-lại của chế-độ cũ. Bọn đàn ông ấy nhát như cáy, ngoan như cừu. Họ có vẻ hãnh-diện vì mình tình-nguyện vào tù chứ không bị bắt bỏ tù như chúng ta. Luôn luôn họ nói họ “trình-diện học tập”. Những ông chánh-án, ngày xưa. ngồi xử chúng tôi đủ các thứ tội, nay tranh giành nhau đổ cứt rửa cầu tiêu để đỡ lao-động vất-vả. Tranh giành đổ cứt và chửi bới nhau vì đổ cứt hụt! Những ông nghị-sĩ, dân-biểu, dân kêu ngàn lần không lên tiếng nhưng Cộng-sản nó gọi nhỏ đã dạ lớn rồi, dạ ngay lập tức. Bác-sĩ thì hục-hặc nhau chui vào phòng Y- tế cho đỡ chân lấm tay bùn, dâng mưu hiến kế cai ngục hãm hại tù-nhân . . .

Con Lan-xì-ke buồn-bã hỏi tôi:

– Ở thời đại của chúng ta, có thằng thư-lại nào dám làm cách-mạng không, chị?

Tôi đáp:

– Bản-chất của thư-lại là cầu an, ù-lỳ, làm cách-mạng sao nổi !

Con Lan-xì-ke phá ra cười:

– Vậy mà vào tù, bọn thư-lại cứ dọa giải-phóng đất nước. Tôi chửi chúng nó, chúng nó vu tôi đủ tội. Tôi nghĩ, bây giờ, tôi có quyền xử những đứa đã xử tôi”.(Sỏi Đá Ngậm-ngùi – Nam Á Paris, 1985)

Cũng bằng cung-cách hối-lộ. nịnh bợ Giám-thị Hiểu, ông bác-sĩ giã-từ Đội 21 nông-nghiệp ra khu A. Thẩm-phán Đào Minh Lương đã mất nửa lá phổi vì ông bác-sĩ này cúp tiêu-chuẩn cơm trắng và…tiết-kiệm Strepto cho Cộng-sản. Ông ta ra đi, tôi đỡ bị nghe ông thổi harmonica, đỡ bị ông ta than-phiền bỏ hạt ngô xuống lỗ mỏi lưng. “Trí thức của chúng ta cứ nằm trong tháp ngà, cứ trùm mền hưởng-thụ đâm ra lười biếng, sợ khó sợ khổ. Nên. khi đụng vào nghịch-cảnh của đời sống thì không dám đương đầu, thì ngớ-ngẩn và hèn-mọn”

Về Đội 28 nông-nghiệp, tôi thoát hầm phân. Cái động vang dội của trại tập-trung mà sau này, nhân-vật tiểu-thuyết của tôi từ cái tĩnh của nhà tù ra đã có ý nghĩ: “Trong bóng tối, ta chỉ nhìn thấy ta. Ngoài ánh sáng, ta sẽ nhìn thấy mọi người. Tôi vừa mở mắt: Không có nỗi khổ nào hạng nhất, nỗi khổ nào hạng bét. Nỗi khổ là nỗi khổ. Nỗi khổ trong bóng tối và nỗi khổ ngoài ánh sáng. Thế thôi. Tôi đã thấm nỗi khổ trong bóng tối. Tôi sẽ thấm nỗi khổ ngoài ánh sáng. Tôi bước xuống. Rờn rợn. Bốn năm ròng-rã gắn liền đời mình bên xô cứt, tôi đã quen. Nhưng cái hầm phân này thì thật là ghê rợn. Gọi nó là đầm phân mới đúng. Chân tôi chới với, lún sâu dần, sâu dần. Khi bàn chân đụng đáy hầm, phân đã ngập sát háng tôi. Trên miệng hầm, bạn tù ròng cái xô xuống. Tôi vục đầy xô. Bạn tù kéo lên. Nửa thân thể ngập phân, tay dính đầy phân. Tôi đứng trong phân, trong sự ưu-việt của chủ-nghĩa Cộng-sản hàng tiếng đồng hồ không thèm đếm xỉa tới hàng tỉ con ròi lúc nhúc”.

Sang Đội 28 nông-nghiệp với tôi, có ông già Hoán. Đội 17 rau xanh cũ của tôi là “thí-điểm” của đoàn-kết anh em, của thương yêu bố con. Nhưng mà ngụp lặn giữa vũng lầy thống-khổ, tình phụ-tử nghĩa huynh-đệ đã chẳng chịu ngoi lên, còn lún sâu xuống. Ba anh em ruột thịt nhà thằng Lợi đấm đá nhau, chửi bới nhau, ăn riêng. Hai bố con ông Quản ăn riêng. Ông Quản đục cậu Học. Cậu Học đưa bố ra đội. Đội không giải-quyết. Thầy quản-giáo giải-quyết giùm. Thế là bố một bị thăm nuôi con một bị. Bố ca, con cóng. Mỗi người một mâm. Con rể Thanh hục-hặc bố vợ Hoán. Cũng ăn riêng, thăm nuôi riêng. Chỉ còn anh em thằng Huỳnh thuộc “con bà phước” nên vẫn thắm-thiết. Lý-do ăn riêng chính-đáng nhất là bố chửi con “Mày chống Cộng, chọc cứt không thành lỗ làm liên lụy tao”, con cằn-nhằn bố “ông chẳng biết lãnh-tụ là thằng nào mà cũng tham-gia đề tôi bị bắt oan”.

Lãnh-tụ chống Cộng thứ thật sau 30-4-1975 không có, không hề có. Nếu có thì chỉ là sinh-viên, học-sinh Sài gòn và các thành phố. Và tôi gọi chung là Tuổi Trẻ . Và tôi đã vinh-tôn Tuổi Trẻ Việt Nam ở Sỏi đá ngậm ngùiBầy sư-tử lãng-mạn, Hồn say phấn lạ. Những người tuổi trẻ của tôi đã lên đường từ sau 1-5-1975 .Họ dấy động cuộc chiến-đấu mới. Cộng-sản sợ hãi. Lập tức, Mai Chí Thọ nặn ngay 52 “lãnh-tụ”. Trùm công-an miền Nam dùng Trần Xuân Ẩn, Đỗ Hữu Cảnh đi tìm người chống Cộng và phong làm lãnh-tụ. Thế là Sài òn có hàng chục nội-các, hàng trăm Sư-trưởng phục-quốc vốn là Trung-sĩ, Thượng-sĩ của Quân-lực Việt Nam Cộng Hòa, hàng ngàn lãnh-tụ chống Cộng. Có cả triều-đình nữa. Quốc-vương là anh bán thịt chó. Quốc-vụ-khanh là anh thợ hớt tóc. Đầy đủ “phản-động” của 52 tổ chức chống Cộng ở Sa Ác B. Mai Chí Thọ giăng bẫy, bắt gọn. Niềm tin chống Cộng bị Mai Chí Thọ đâm chảy máu. Dân chúng đang hăng say bỗng chùn lại vì nghi-ngờ. Lãnh-tụ chống Cộng lớn nhất Đỗ Hữu Cảnh lại là trung-úy công-an Ba Sơn. Mai Chí Thọ diệt niềm tin chống Cộng là chuyện hợp-lý. Bởi ông ta là lãnh-tụ Cộng-sản. Những tên nhập-nhằng chống Cộng ở hải-ngoại, mượn chiêu-bài kháng-chiến, móc đô-la của lưu-dân như ông Mặt-trận và công-ty của nó mới không hợp-lý. Nếu hợp-lý thì chả là sự tiếp tay Mai Chí Thọ hủy-diệt nốt niềm tin chống Cộng ở những nơi chốn không có trại tập-trung khổ-sai lao-động. Khi niềm tin bị lừa gạt, tinh-thần “phản-động” sa-sút và nó biến-chứng đủ thứ tật. Thí dụ ông già Hoán tuyên-bố từ con rề Thanh. Thí dụ con rể Thanh lên án bố vợ Hoán “phản-bội tổ-chức”. vân vân…

Công việc của tôi ở Đội 28 nông-nghiệp là hạ những cây lớn và bứng gốc cây mà thân còi chồi cao lên mặt đất.

Chúng tôi chuẩn-bị đất canh-tác. Quản-giáo Đội 28 là ông nhóc 18 tuổi, tên Thưởng. Đội-trưởng là phi-công già Trần Ngọc Lân. Đội-phó là Huỳnh văn Vàng, an-ninh quân-đội. Dụng-cụ hạ cây của tôi là dao cùn và cuốc, xẻng. Hai tù-nhân đặc-trách một thân cây hay một gốccây Chún g tôi đã hạ cây rừng như thế nào? Trước hết, tùy theo cây lớn. nhỏ, chúng tôi dùng cuốc dẫy cái vòng tròn lớn, nhỏ chung quanh gốc cây. Cây càng lớn, vòng tròn càng lớn. Chúng tôi cuốc đất, bới đất cho lòi lớp rễ thứ nhất. Thế rồi thằng chặt rễ sát gốc cây, thẳng chặt rễ mọc dài sát vòng tròn. Gỡ từng khúc rễ. Giai đoạn hai: Khi chặt đứt lớp rễ thứ nhất, cuốc đất, móc đất cho lòi lớp rễ thứ hai. Lại chặt. Lại cuốc đất, móc đất cho lòi lớp rễ thứ ba. Đất xúc đổ chung quanh vòng tròn. Cây nhiều tầng rễ ngang là cây sao, cây dầu. Chín tầng. Chặt rễ ngang tầng thứ chín, cái huyệt đã sâu, quá đầu chúng tôi. Chúng tôi moi đất chặt nốt cái rễ đuôi chuột. Lúc này phải báo động, vì cây sắp đổ. Nó đổ rầm rầm, nghe dễ sợ. Chúng tôi thản-nhiên ngồi dưới huyệt. Bởi đã biết chiều đổ của cây. Hạ cây bằng-lăng dễ nhất. Nó chỉ có ba, bốn tầng rễ ngang và không có rễ chuột. Bứng gốc cây cũng theo phương-pháp này. Gốc nhỏ thì khiêng đi. Gốc lớn thì liệng gốc nhỏ xuống huyệt, chất củi và mồi nổi lửa cho cháy ra tro. Mỗi lần san-bằng một gò mối vạn-niên hay hạ đổ một cây cổ-thụ, tôi khoái lắm. Tôi hiểu được sự chế-ngự thiên-nhiên của con người. Và tôi thấy rõ điều này: Chẳng có gì gọi là vĩnh-cửu. kể luôn cái vĩ-đại nhất, trừ con người và ý-nghĩa sống đẹp-đẽ của nó. Vương-quốc mối kiên-cố giữa rừng già trăm ngàn năm, đâu ngờ, có ngày bị tù-nhân lao-cải san-bằng, thò ngón tay chộp Mối Chúa, bỏ vô miệng, nuốt trửng. Cái ảo-vọng “vĩ-đại” và “sống mãi” xem chừng đã lố-bịch.

Hạ cây, bứng gốc cây, san gò mối là công việc của tôi. Nhờ vậy, tôi đã đào được dao cạo râu, nước ngọt Coca Cola, Sprite, lương khô mà lưỡi đã sét, hộp đã rỉ, bao da mủn. Quân-đội Úc đã “kích” vùng này. Họ đã nằm ở đây để vồ Việt cộng. Ghê thật, Kangourou dám vào tận sào-huyệt đối-phương. Gần hiện trường lao-động của Đội 21 có một hố bom thật lớn, thật sâu. Chúng tôi đã tắm ở đây mùa mưa. Cách hố bom khoảng 30 thước là cửa một cái hầm bí-mật còn đầy áo mưa ni-lông khô cứng. Trái bom của người lính tầu bay nào suýt nổ sập hầm bí-mật. Chắc chắn, nó đã làm vỡ mật Việt cộng núp dưới hầm.

Tôi sống thoải-mái ở Đội 21 , hết bị ròi của hầm phân ám-ảnh.

o O o

Đằng Giao làm đơn xin Ban giám-thị cho xuống làm tù-nhân bình thường. Bị ở nhà “làm việc” một tuần-lễ, bị quay đứ-đừ. Rốt cuộc, vẫn phải làm Đội-trưởng. Đội của Đằng Giao thêm hai “nhân-vật”: Hồ Hữu Tường và Lý Quốc Sinh.

Hồ Hữu Tường, cả nước đều biết tên tuổi. Với người miền Nam, ông là nhà “bác vật”. Chúng ta hiểu ông như một chính-trị-gia, một lý-thuyết-gia, một văn-gia. Sau hết, vào những năm trước 1954, nhà văn Tam Ích, muốn coi ông như một học-giả, yêu-cầu ông Hồ Hữu Tường về chỗ ngồi của ông “vì chiếu học-giả mới lơ thơ vài người”. Người đệ tứ quốc-tế, người vượt Mác, người trung-lập- chế, tác-giả Phi Lạc sang TầuThu Hương, Chị Tập, Thuốc tràng-sinh, Người Mỹ ưu-tư… không thích làm học-giả. Năm 1946, nằm trong tay bọn Bon-sê-vích, ông đã tuyên bố “phong kiếm quy ẩn”, giả-vờ bàn chuyện Tương-lai văn-hoá Việt Nam. Rồi ông trốn. Bị lừa, Phạm văn Đồng điên lên, thề bắt được Hồ Hữu Tường sẽ” thiển đái”! Phi Lạc sang Tầu, sang Nga, sang Tây, về Sàigòn, xuất-bản nhật-báo Phương Đông cổ-xúy thuyết trung-lập-chế. Phi Lạc vào Rừng Sát làm quân-sự cho tướng cướp hèn mọn Bẩy Viễn. Phi Lạc bị Ngô Đình Nhu bắt, đầy ra Côn Đảo. Phi Lạc được “cách-mạng thoán-nghịch” giải phóng. Phi Lạc ứng-cử dân-biểu Hạ-viện. Phi Lạc mượn tiền ngân-hàng phát-triển nông-nghiệp nuôi gà. Phi Lạc quỵt nợ. Phi Lạc qua Tây nằm ì, bắt Hạ-viện gửi tiền lương sang mua vé máy bay hồi hương. Phi Lạc mặc áo vàng, đeo xâu chuỗi vô Hạ-viện, bắt đầu cổ-xúy một thứ giáo-hội mới. Sự-nghiệp chính-trị của Phi Lạc chấm dứt từ dạo theo phò Bẩy Viễn và bêu-riếu từ khi làm dân-biểu. Tháng 4-1975, Cộng-sản thôn-tính miền Nam, cả Phi Lạc lẫn Phạm văn Đồng đều già rồi, Đồng quên lời thề “thiến dái” Phi Lạc. Hồ Hữu Tường yên thân. Đầu năm 1977, ông ta lập Đảng nhuốm đầy tính-chất hoang-đường, dị-đoan mê-tín. Ông ta và chúng đệ-tử bị bắt.

Chẳng hiểu vì lý-do gì, đệ tử của ông công-khai tố-cáo ông với các tù-nhân khác. Đệ-tử ông ta oang-oang tố-cáo thì tôi nghe. Cả nhà nghe. Cái bi-hài-kịch đảng-viên tố-cáo Đảng-trưởng đã xẩy ra như cơm bữa ở nhà tù, ở trại lao-cải. Tố-cáo toàn chuyện…ghê-gớm. Như anh thợ hớt tóc mặt rỗ nhằng rỗ nhịt được quốc-vương Thịt Chó phong chức quốc-vụ-khanh, thấy quốc-vương có thăm nuôi khẩm, quốc-vương thắt chặt túi, bị thăm nuôi, mình hút thuốc lá KENT (Không ENào Thăm.. .nuôi) mà quốc-vương chơi trò…ăn riêng. Bèn tủi thân. Rồi phẫn-nộ, lớn tiếng đòi quốc-vương trả lại hai lạng vàng đã đóng cho quốc-vương vì lý-tưởng chống Cộng! Như anh Tiểu-đoàn-trưởng phục-quốc-quân Binh-đoàn Lê văn Duyệt đòi tuyệt-hận ngoài đời khi được tha vì Sư-trưởng đã hú-hí với vợ của anh. Như các ông phản-động thì chửi lãnh-tụ đã đưa các ông ấy vào tù, vợ ở nhà no, thăm nuôi lãnh-tụ mập-mạp v.v…. Nền chống Cộng có vẻ thiếu…phẩm-chất. Tất cả không đáng xách dép cho những người tuổitrẻ chống Cộng tôi đã gặp, đã sống với họ ở đề-lao Gia Định và tôi đã gọi họ là Bầy sự-tử lãng-mạn.

Ông Hồ Hữu Tường không nghiện thuốc phiện, không vì thiếu thuốc phiện mà mê sảng, vậy mà ông ta rất mê sảng. Ông ta nằng-nặc xin cống-hiến những môn huốc dân-tộc. Ông ta ở nhà viết sách thuốc. Ban giám-thị yêu-cầu thuốc kiết lỵ, thuốc ghẻ, ông ta không “sáng tạo” nổi. Thế thì không đạt yêu-cầu. Ông Tường lóc-cóc đi lao-động. Ông đi bộ. Vấp chân té đụng thầy Quản-giáo. thầy Quản-giáo “miễn chấp”, ông Tường vẫn bắt Đội-trưởng Đằng Giao ghi vào biên-bản phiên họp cuối tuần: “Hôm ấy, tôi, Hồ Hữu Tường, trại-viên Đội 21 nông-nghiệp, đi lao-động sơ ý vấp té đụng cán-bộ. Tôi thất lễ, xin nhận khuyết-điểm”. Đằng Giao không cho thư-ký ghi. Ông Hồ Hữu Tường “hạ quyết-tâm” ghi ! Con người vượt Mác ấy đã trở thành biểu-tượng của “nhà văn”. Để bọn thư-lại và bọn sĩ- quan văn-phòng chửi rủa tất cả nhà văn phản-kháng chế-độ cũ của chúng nỏ. Tôi không muốn nhắc thêm ông thẩm-phán già Lý Quốc Sinh, ứng-cử-viên phó tổng-thống. Ông Hồ Hữu Tường, ông Lý Quốc Sinh đã giúp tôi một kết-luận không sợ sai lầm: Những “nhân-vật, già nua không xài được nữa, dù trong tù hay ngoài đời, trong nước hay ngoài nước. Bọn bình vôi sứt mẻ và đặc khịt này cần liệng ra ngoài lề lịch-sử. Bây giờ đích thực là thời của tuổi trẻ ở mọi lãnh-vực, ở mọi lãnh-thổ.

o O o

Sa Ác B, những ngày tôi sống, chỉ có một vụ vượt ngục thành-công. Đó là vụ ba người tù phản-động gỡ mái tôn ra đi một đêm mưa tầm-tã. Ba người này ở đội của Dương Đức Dũng. Vệ-binh truy-nã một tuần không tìm ra dấu vết. Những vụ trốn trại của tù-nhân hình-sự ngoài bãi, bị bắt hết. Dĩ nhiên, trốn trại bị bắt thì chính-trị hay hình-sự cũng đều bị giáng những báng súng tàn bạo. Có một vụ trốn làm tôi cảm-phục vô cùng. Hồi ấy, tôi còn làm Đội-trưởng rau xanh. Buổi sáng hôm đó, trời đầy sương mù. Lợi dụng lúc tan hàng tập thề-dục, người tù hình-sự tên Chuyên. sinh-viên đại-học Vạn Hạnh, leo hàng rào kẽm gai thật nhanh và phóng xuống sông Ray. Vệ-binh trên chòi canh nổ súng. Chúng tôi phải vào nhà hết. Cuộc truy-lùng diễn ra. Súng nổ ầm-ỹ khủng-bố tinh-thần kẻ bôn-đào. Đến lúc kẻng tập họp lao-động, vẫn chưa phát-hiện chỗ ẩn nấp của Chuyên. Khoảng 9 giờ, trời đã hoe nắng và sương mù đã tan, khu rừng bên kia sông Ray gần vườn rau của đội tôi có tiếng súng nổ và tiếng vệ-binh xôn-xao. Người ta đã bắt được Chuyên. Tên cán-bộ Cần, đặc-trách an-ninh, hung-thần của Sa Ác B, chạy nhanh ra bờ sông. Hắn máng giây súng AK trên vai, đứng chờ tủ-nhân trốn trại. Tiếng hét của vệ-binh bên kia sông:

– Bò! Cấm đứng dậy! Bò!

Vệ-binh sợ-hãi anh Chuyên, vì anh ta to con. Tôi khôngnhìn thấy anh Chuyên bò. Đứng trên gò cao, tôi thấy rõ hung-thần Cần sát-khí đẳng-đằng chờ đợi. Rồi anh Chuyên bị vệ-binh đạp mạnh rơi xuống sông. Anh ta đứng dậy ngay đưa tay vuốt mặt. Chuyên lội sang bên này. Hung-thần Cần đã gỡ súng AK khỏi vai. Hắn cầm chắc giữa nòng súng. Anh Chuyên vừa lên bờ, hung-thần đã phang anh một báng súng ngang lưng. Anh gục ngã. Đứng rất nhanh, ngẩng mặt:

– Cán-bộ không được phép đánh tôi.

Hung-thần không thèm nghe. Nó đợi anh bước vài bước. Lại đánh. Anh Chuyên vẫn cố đứng thẳng ngẩng mặt:

– Cán-bộ không được phép đánh tôi.

Mỗi báng súng giáng xuống thân-thể anh, Chuyên đều ngã chúi, đều đứng dậy rất nhanh, đều ngẩng mặt nói một câu đã nói. Qua vườn rau của tôi, bạo-lực chùn tay. Hung-thần Cần không đánh anh Chuyên nữa. Anh bị còng chân tại căn nhà mới xây xong. Chính hung-thần Cần săn-sóc anh Chuyên, cho anh ăn tiêu-chuẩn đãi-ngộ, tặng thuốc lá anh hút. Thái-độ can-đảm của anh đã khiển hung-thần cảm-phục. Một tù-nhân duy nhất không bị thi-hành kỷ-luật tội trốn trại. Anh Chuyên được dưỡng sức cả tháng. Hung-thần Cần mở còng cho anh về đội, hai hôm sau. Người tù hình-sự tuyệt-diệu đó đã gây cảm-hứng cho tiểu-thuyết Sông Ray phẫn-nộ của tôi.

Tôi đã viết: Có hai cách trốn trại. Trốn trại ban đêm và trốn trại buổi chiều, ngoài bãi lao-động. Khi tù-nhân rỡ mái tôn hay khoét tường trốn trại ban đêm, Nhà-trưởng, Đội-trưởng và những người ăn cơm chung với tù-nhân trốn trại rắc-rối to. Phải làm tự kiểm và bị chấp-pháp tơi-bời. Khi tù-nhân trốn trại ngoài bãi, súng vệ-binh nổ ba phát báo động. Trực trại đánh kẻng tan lao. Các đội thu dụng- cụ tập họp một chỗ. Ngồi đợi một lúc mới được dẫn về trại. Không tắm, không ca cóng. Vào nhà ngay. Những người khai bệnh nằm nhà, không được lai-vãng ngoài sân. Đang tụ-tập trong sân mà bày trò trốn trại, lại bị một thằng tù khác ôm chặt cứng cho cán-bộ đánh thì chỉ có ông nhà văn-học nghệ-thuật “ăn cắp” vẽ ra theo sự bịa-đặt vừa ngu vừa dốt. Thể gọi là văn-học nghệ-thuật…cao-cấp đấy. Và cũng hì-hục chép hồ-ký ngục tù. Chắc chắn, các trại lao-cải của nhà văn-học nghệ-thuật “ăn cắp” không có ai dám trốn trại. Cho nên, đáy địa-ngục chỉ là “ăn vụng, ăn tranh phần khoai và cháy của heo”. Người ta còn mang cả mối thù nặng những nghìn cân tức là 10 tạ vì bị dồn vào thế “ăn cắp, ăn vụng”. Từ ăn cắp, ăn vụng đến ăn gian nói dối cách nhau một sợi râu Bác Hồ!

Tỷ lệ những người “trình-diện học tập cải-tạo” trốn trại rất là khiêm-tốn. Tỷ lệ những tù-nhân can tội phản-động cũng khiêm-tốn lắm. Nói chung, tỷ-lệ trốn trại của tù-nhân ỏ các nhà tù, trại lao-cải không đáng kể. Với chế-độ hộ-khẩu, chế-độ công-an nhân-dân, chế-độ công-an khu-vực, tù hình-sự có trốn trại rồi cũng bị bắt lại. Trừ phi, trốn trại rồi vượt biên ngay. Trốn đi đâu? Không có một chiến-khu nào cho người trốn trại tìm vào chiến-đấu. Bồn bề hoang-vu, lặng thinh. Giữa rừng già hiu-hắt, chỉ cần một tiểu-đội biệt-kích đã thừa tiêu-diệt đám vệ-binh lau-nhau và giải thoát tù-nhân. Không hề thấy. Tôi đã hàng đêm mơ mộng chuyện quân ta đánh phá trại. Vì tôi đau lòng thấy mấy thằng Việt cộng mặc quần xà-lỏn may bằng cờ vàng ba sọc đỏ. Tù-nhân không dám trốn trại bởi không tìm ra địa-điểm đi tới. Nỗi quạnh-hiu đền não-nề phủ kín quê-hương, có lẽ, chỉ ồn-ào bằng kháng-chiến chiêm-bao, bằng chiến-khu tưởng-tượng của bọn cai thầu lòng yêunước và đám côn-quan thu thuế lạc-quyên.

Cộng-sản dùng danh từ man- rợ là quản-lý con người. Họ có nghệ-thuật quản-lý con người. Người quốc-gia hải-ngoại chắc chưa bao giờ nghe nói tới một thứ nghệ-thuật gợi tưởng bắt bớ, giam nhốt, tra tấn, thủ-tiêu là nghệ-thuật công-an. Nhà-nước Cộng-sản đã hãnh diện xuất bản tạp-chí Nghệ-thuật công-an đấy. Nghệ-thuật quản-lý con người là không cho con người có cơ-hội nổi loạn. Đừng đánh giá Cộng-sản qua những người công-an coi tù ngọng-nghịu, qua những người bộ-đội ngớ-ngẩn. qua những người cán-bộ khù-khờ. Phải đánh giá Cộng-sản qua chủ-nghĩa của nó, qua lãnh-tụ của nó. Chúng ta cần nhìn rõ đối-tượng đề tiêu-diệt. Đó là bọn ủy-viên Bộ chính-trị và bọn ủy-viên trung-ương Đảng. Và, đằng sau những con bài lãnh-tụ đã lật là những ai còn trong bóng tối. Khi Cộng-sản Việt Nam tung những khuôn mặt mới, chúng ta mới bắt đầu đi tìm hiểu và chúng ta cũng chưa hiểu chính-xác.

Ngược lại, Cộng-sản biết hết chúng ta. Tri-kỷ mà không tri-bỉ thì chỉ có. . .di-tản, vượt biên. Tri-bỉí mà không tri-kỷ thì chỉ có thuê đất thiên-hạ lập chiến-khu và duyệt binh thiếu xe tăng, tàu bò, đại- bác, máy bay những ngày quân lực.. tan hàng. Chúng ta đã viết báo, đã diễn kịch chống Cộng-sản. Chúng ta cho Cộng-sản đội nón cối, răng vẩu, mắt toét, nói ngọng, ngu dốt. Và chúng ta chạy quá dài, quá nhanh, quá xa. Chúng ta lại tiếp tục viết báo- diễn kịch chống Cộng-sản nón cối, giép râu, răng vẩu, nói ngọng, mắt toét, ngu dốt… Võ Nguyên Giáp không ngọng không dốt. Nguyễn văn Linh không dốt, không ngọng.

Lãnh-tụ Cộng-sản Việt Nam không nói “đồng hồ 2 cửa sổ, 12 cột đèn”. Lãnh-tụ Cộng-sản Việt Nam không nói kiểu cai tù chăn trâu cắt cỏ mắng tù-nhân: Nao động thì nề mề, tư-tưởng thì nấn cấn. Chỉ mong ngày nễ nớnNễ nớn ăn thịt nợn. Đã cho ăn thịt nợn nại còn đòi ăn nòng. Bố nếu bố náo“… Lãnh-tụ Cộng-sản Việt Nam biết lừa gạt cả thế-giới, biết bỏ đám phản-chiến Mỹ và báo-chí Mỹ vào túi quần… Và biết quản-lý con người. Quản-lý con người đáng ngại nhất. Giải-phóng con người thoát khỏi sự quản-lý của Cộng-sản mới là cách chiến-đấu tuyệt-diệu. Đề chiến-thắng. Đề tuyệt diệt Cộng-sản trên trái đất. Đề tạo dựng hạnh-phúc vĩnh-cửu cho dân-tộc, cho nhân-loại. Như thế, cần-thiết một chủ-thuyết chế-ngự chủ-nghĩa Cộng-sản và chủ-nghĩa tư-bản là hai chủ-nghĩa đã chỉ tạo ra chiến-tranh, nô-lệ, đói khổ, tù đầy, thù-hận. Cộng-sản và tư-bản đều đã lạc-hậu, bất-lực. Từ hơn một thế-kỷ nay, chúng ta chỉ nhai lại chủ-thuyết của thiên-hạ mà mưu cầu hạnh-phúc cho dân-tộc. Và chúng ta sát hại lẫn nhau cũng vì chủ-thuyết của thiên hạ. Chưa có người Việt Nam lập thuyết. Mỗi chủ-thuyết dấy động phong-ba đều ra đời trong những bối-cảnh lịc- sử nghiệt-ngã. Bối-cảnh lịch-sử hôm nay rất thích-ứng cho một chủ-thuyết nhân-bản ra đời. Các ngài tiến-sĩ tốt-nghiệp đại-học Huê Kỳ sau 1975 đã nghĩ đến chuyên lập thuyết chưa? Hay chỉ biết ngồi ở quán rượu diễn tuồng đố kỵ tài-năng và chửi bới người vắng mặt? Nhớ rằng Marx và Engels lập thuyết ở Đức và Lénine truyền-bá ở Nga. Vậy tiến-sĩ Việt Nam lập thuyết ở Mỹ sẽ có người truyền-bá ở một nơi nào đó thuận-lợi. Tôi sợ đầu óc tiến-sĩ bé tí tẻo, chưa dám nghĩ thuyết nào ngoài thuyết Job. Mà chống Cộng bằng “đả đảo”, bằng “tài liệu”, bằng chưa hề nhìn rõ giép râu 30-4-1975 sẽ nghìn đời không ép- phê. Nhưng lập thuyết và làm tư-tưởng không nằm trong khả-năng và kiến-thức hạng bét của thằng viết tiều thuyết mưu sinh là tôi. Vậy trở về nghệ-thuật quản-lý tù-nhân của Cộng-sản.

Cộng-sản nắm vững tâm-lý tù-nhân. Cái thứ án gọi là án phạt tập-trung cải-tạo nó bắt tù-nhân không được phép tuyệt-vọng và chỉ được phép hy-vọng kiểu hy-vọng trúng xổ số. Tù không có án, có thể, ngày mai được tha, có thể ba năm được tha, có thể ba mươi năm được tha. “Về hay không là ở các anh có tiến-bộ hay không. Tiến-bộ sớm về sớm. Tiến-bộ muộn về muộn”. Không bao giờ có dọa-nạt: Không tiến-bộ, không về. Nghĩa là, đã học tập cải-tạo tất sẽ phải tiến-bộ. Tiến bộ sớm hay tiến-bộ muộn do ở thiện-chí cải-tạo. Thiếu thiện-chí cải-tạo thì lâu tiến-bộ. Sự tiến-bộ nhìn rõ ở lao-động. “Lao-động là cái thước đo giá-trị con người”. Lao-động thể-hiện tư-tưởng vì lao-động là hành-động. Hành-động trọng-tâm xác-định tư-tưởng tốt chỉ là lao-động tích-cực đạt chỉ-tiêu. Ngoài ra, những hành-động chào kính, tuân-hành mệnh-lệnh thể-hiện sự hết thù-nghịch cách mạng. “Tư-tưởng thể-hiện hành-động”.Hành-động tốt, tư-tưởng tốt. Hành-động tốt giả-vờ, tư-tưởng vẫn tốt. Cộng-sản thừa hiểu hành động tốt giả-vờ là nín thở qua cầu nhưng họ chấp-nhận nín thở qua cầu hơn là chống đối ra mặt. Bởi thế, cái mà tù-nhân hấp-thụ được từ nền giáo-dục cải-tạo của Cộng-sản là sự gian dối. Tất cả tù-nhân, ra khỏi trại lao-cải, đều trả lại sự gian dối cho cộng sân. Hiếm-họa mới còn người con sự gian dối như chân-lý.

Tù-nhân bối-rối trong câu nói khoan-dung khốn-kiếp: “Đảng và Nhà-nước không muốn giam giữ các anh, nhưng về hay ở là tùy thái-độ cải-tạo của các anh“. Như tôi đã viết tù-nhân mang án phạt tập-trung cải tạo, có thể, ngày mai về, tuần sau về, tháng sau về hay ba mươi năm sau về, nên không dám vượt ngục. Nhỡ mai được tha thì sao? Cái hy-vọng mơ-hồ làm tù-nhân quên tuyệt-vọng. Và cam đành chờ đợi…xổ số. Tù-nhân gọi những buổi tập họp giữa sân trại hay tại hội trường nghe đọc danh-sách những người được tha là nghe kết-quả xổ số. Tại sao nghe đọc kết-quả xổ số? Vì không biết ai sẽ được về. Tù nhân lao-cải là những người không mua vé số mà vẫn bị nghe kết-quả xổ số. Cùng bị bắt một vụ, cùng đi trình-diện một ngày, người cấp bậc cao, người chủ mưu có tên trong danh-sách. Thiếu- tá Phủ đặc-ủy trung-ương tình-báo có tên đọc, hạ-sĩ gác cổng không có tên đọc. Vậy không gọi xổ số thì gọi là cái gì? Sự tha bổng của Cộng-sản ăn thua ở hên xui. Như tù-nhân Nguyễn Tân Mão, thiếu-úy đã có lệnh tha ở Phước Long năm 1978. Thay vì về sum-họp gia đình ngay buổi chiều đọc xong lệnh tha, lại nấn-ná ngủ một đêm chót “enjoy” với anh em, mai mới giã-từ lao-cải. Nửa đêm có lệnh thu hồi Giấy ra trại. Những người đã về, coi như… tự-do luôn. Những người chưa về, ở lại lao-cải tiếp. Nguyễn Tân Mão bị chuyển về Z30 D Hàm Tân, nghe kết-quả xổ số hàng chục lần. Mãi đến giữa năm 1981 mới… trúng số ! Bộ quốc-phòng rồi Bộ nội-vụ của Việt cộng có những quyết-định tha tù-nhân rất ly-kỳ. Tôi có cảm-tưởng họ bỏ tên tù-nhân vào lọ, xóc loạn lên như xóc sâm ở Lăng Ông. Tên nào rớt ra, tên ấy trúng số. Bộ nội-vụ quyết-định tha tù-nhân, không phải Giám-thị lại lao-cải. Ban giám-thị ưa hù tù-nhân rằng Ban giám-thị đề-nghị, chấm điềm cho tù-nhân. Tù-nhân được tha sớm, tha muộn là do đề nghị của Ban giám-thị. Mà đề-nghị điểm tốt lên Ban giám-thị là do cán-bộ Quản-giáo. Hù thế để tù-nhân tôn-trọng Nội-quy, nể sợ cai tù . Ngay cả Giám-thị cũng không có quyền bắt, quyền tha tù-nhân. Có một quyền duy nhất thả tù-nhân: Là ăn vàng hối-lộ của thân-nhân tù-nhân để tù-nhân trốn trại an-toàn. Trường-hợp này đã xẩy ra ở trại lao-cải Long Giao những năm bộ-đội quản-lý tù-nhân. Một tù-nhân trốn trại, bị bắt, bị nhốt vào conex, vẫn mở conex trốn ra như James Bond rồi vượt biên. Những thằng tưởng làm “ăng-ten” ở nhà tù, ở trại tập-trung sẽ được tha sớm là những thằng ngu. Những thằng viết rằng vì bị “ăng-ten” tố-cáo mà nằm tù mút chỉ là những thằng đại ngu . Từ năm 1980 , sĩ-quan, công-chức học tập cải-tạo, muốn về, chỉ cần gia đình có nhiều vàng chuộc. Trung-tá cảnh-sát đặc-biệt không những được về mà còn được đoàn-tụ gia đình ở Tây Đức. Trung-sĩ cảnh-sát đặc-biệt và hạ-sĩ gác cổng, hạ-sĩ bưng nước Phủ đặc-ủy Trung-ương tình-báo thì vẫn…lao-cải.

Biết rằng thân-phận mình nằm trên 6 lồng cầu, tù-nhân cứ khấp-khởi nghe kết-quả xổ số. Trước mắt đó, anh em đã ra về thơ-thới hâ- hoan. Sắp đến lượt mình về. Hy-vọng dâng tràn. Tích-cực lao-động và chấp-hành Nội-quy tốt. Khi tù-nhân chán-nản, tuyệt-vọng, lập tức, trại đột-xuất cho nghỉ lao-động vài ngày, cho ăn cơm trắng với thịt kho. Thế là bàn-tán, suy-luận, suy-diễn. Toàn suy-diễntốt về phía mình. Bồi-dưỡng để tha đây. Đảng và Nhà-nước thay đổi nhiều rồi. Hy-vọng lại dâng tràn. Nghỉ lao-động vài ngày rồi lao-động lề-mề. Quản-giáo không thúc-dục, không kiểm-tra. Giờ giải lao kéo dài cả tiếng. Văn-nghệ ngoài bãi. Nhạc vàng, vọng-cổ hát líp-ba- ga. Tắm thỏa-thuê. Về trại sớm. Trực trại dễ-dãi ca-cóng. Thăm gặp không giới hạn. Có sức tha-hồ gánh quà. Tự-do hàn-huyên với thân-nhân. Sợi giây siết cổ tù-nhân nới lỏng, nới lỏng tưởng chừng tháo tung. Mầm mống nổi loạn vừa nhú lên, vội-vàng tàn lụi. Không có gì đề chống đối cả. Trại đối xử tốt quá rồi. Cứ lè- phè đợi cầm giấy ra trại. Trốn trại là ngu. Bị bắn khổ vợ con. Nổi loạn là dại. Trứng khó địch lại đá. Tư-tưởng thua AK. Cộng-sản biết cách xì bong-bóng. Không bao giờ họ bơm căng, không bao giờ họ dồn tù-nhân vào chân tường. Dồn gần sát chân tường dò dẫm phản-ứng rồi họ lại đẩy ra. Nới lỏng giây siết cổ rồi lại siết dần. Cứ thể, họ quản-lý tù-nhân tháng này qua năm nọ. Và không hề có nổi loạn đánh phá trại giam, cướp súng giết cai tù.

Nghệ-thuật rỉ tai gây ngờ vực rồi thù-hận lẫn nhau giữa tù-nhân của Cộng-sản đã tinh vi, nghệ-thuật tung tin công-khai của Cộng-sản càng tinh-vi. Bàn hương-án bầy ra, Giám-thị, khuôn mặt đằng-đằng sát-khí, lời lẽ sắt thép:

– Các anh chỉ có một con đường chọn lựa. Đó là con đường tích-cực lao-động cải-tạo tư-tưởng để được hưởng sự khoan-hồng của Đảng và Nhà-nước sớm về sum-họp gia-đình. Ngoài con đường đó là vô vọng. Mới đây, đế-quốc Mỹ đòi chuộc các anh. Chúng định giá các anh như súc-vật mỗi đầu người 2500 đô la. Đảng và Nhà-nước ta quý-trọng con người, triệt-đề bảo-vệ phẩm-cách con người, không vì cần đô-la mà bán các anh như bán nô-lệ. Các anh đừng hòng đế-quốc Mỹ cứu các anh. Đừng hòng.

Cộng-sản thả cái phao mục cho tù-nhân sắp chết đuối. Chưa đủ, tự nhiên họ ân-cần yêu-cầu tù-nhân nào có thân-nhân di-tản bước 30-4-1975 sang Mỹ, sang Úc, sang Pháp…thì thành-khẩn khai báo. Ai không khai sẽ mất quyền-lợi và không được khiếu-nại. Tù-nhân đang muốn nổi loạn, bèn xìu xuống. Người ta công-khai thảo-luận đề-tài hấp-dẫn “Mỹ cứu tù-nhân cải-tạo”. Người ta suy-diễn. Người ta suy-luận. Người ta chìm vào chiêm-bao. Và người ta chứng-tỏ sự tiến-bộ vượt bực. Chấp-hành Nội-quy thật tốt. Lao-động thật tích-cực. Để được Mỹ cứu.

Tư-tưởng trốn trại và nổi loạn không còn nữa . Nhưng tư-tưởng… đố-kỵ manh-nha. Tù-nhân đặt câu hỏi: Những thành-phần nào được Mỹ chuộc 2500 đô-la một đầu người? Câu trả lời có ngay: Ngụy- quân và ngụy-quyền, tức là sĩ-quan quân-đội, cảnh-sát và công-chức cao-cấp, dân-biểu, nghị-sĩ… Mỹ chỉ cứu người của họ, “đồng-minh” của họ. Khi cần mỉa-mai thì Mỹ chỉ cứu đầy-tớ của họ, tay sai của họ! Thành-phần tù-nhân phản-động kết-luận thế. Bèn có ba giai-cấp tù trong nhà tù. Giai-cấp tù-nhân trình-diện học tập cải-tạo, giai-cấp tù-nhân bị bắt và giai-cấp tù-nhân chống Cộng sau 30-4-1975 bị bắt. Tù-nhân hình-sự không được đề-cập, dù hình-sự có nhiều người kiến-thức và tư-cách ăn đứt tù-nhân chính-trị. Giai-cấp tù-nhân chống Cộng sau 30-4-1975 mà Cộng-sản gọi là “phản-động hiện-hành” có vẻ tự-hào nhất. Rằng, có thể họ bị lừa gạt, bị sa bẫy Mai Chí Thọ nhưng họ dám chống Cộng trong hoàng-hôn chống Cộng. Rằng, tướng tá đào-ngũ trước 30-4-1975, bộ- trưởng đào-nhiệm, nghị-sĩ, dân-biểu, nghị-viên bỏ dân chuồn nhanh, những kẻ chậm chân bị ở lại thì cam đành đóng tiền, xếp hàng, chen lấn trình-diện học tập cải-tạo. Chỉ có họ, những người can-đảm và nhiệt tình, mới dám chống Cộng-sản, trực-diện chống Cộng-sản khi Cộng-sản đã thôn tính miền Nam . Vậy thì họ bèn khinh-bỉ những kẻ hí-hửng đợi chờ Mỹ cứu. Họ nổi cơn phẫn-nộ. nguyền-rủa Mỹ là bọn phản-phúc chó đẻ. Những cuộc đấu võ mồm suýt thành võ chân tay xẩy ra chung quanh đề tài “Mỹ cứu tù-nhân cải-tạo”. Cộng-sản ném một hòn đá chết hai con chim. Nó hư hư thực thực “Mỹ đòi chuộc các anh”, nó lấp-lửng không quy-định “các anh” là ai. Và các anh chống đối nhau, chia rẽ nhau. Thực lòng thì anh nào cũng muốn được Mỹchuộc với giá 2500 đô la, nhưng thấy mình quá “xa lạ” với Mỹ đâm ra cay cú Mỹ và cay cú thành-phần sẽ được Mỹ cứu. Võ-khí tư-tưởng của hai giai cấp: Chỉ có đầy-tớ Mỹ mới được Mỹ chuộc sang Mỹ tiếp-tục làm đầy-tớ cho nó. Bọn vô danh tiểu tốt, Mỹ đâu thừa tiền chuộc. Như vậy đó, thủ-đoạn Cộng-sản. Khi con người thấy nó không có quyền-lợi thì nó điên lên vì những con người có quyền-lợi. Cộng-sản quán-triệt nghệ-thuật làm con người điên lên. Thí dụ cái tin Mỹ đòi chuộc tù-nhân cải-tạo rất lô-gích mà họ tung ra ở các trại cải-tạo. Sự thành-công của Cộng-sản phải coi là tốt đẹp. Nhiều tù-nhân cải-tạo sợ “bị” được tha sớm. Được tha ở giai-đoạn này là niềm bất-hạnh, là bị xóa tên trong danh-sách tù-nhân được chuộc tiền của Mỹ. Tất cả muốn chờ Mỹ cứu, muốn đợi phái-đoàn Mỹ đến tận trại lao-cải gọi tên mình, ném mình lên trực-thăng, bốc mình luôn ra Hạm đội số 7. Ở đó, vợ con mình đã có mặt! Đó không bao giờ là ảo-vọng mà là sự thật. Sự thật nhanh một tí hay muộn một tí thôi. Và tù-nhân cải-tạo đã hồ-hởi phấn-khởi nằm tù.

Một vài thí-dụ cụ-thể để chứng-minh nghệ-thuật quản-lý tù-nhân của Cộng-sản. Nghệ-thuật này không bao giờ do Ban giám-thị trại hay bọn cai tù chăn trâu cắt cỏ ngọng líu lưỡi sáng-tạo cả. Chúng nó dốt-nát, sáng-tạo sao nổi. Nghệ-thuật quản-lý nhân-dân, quản-lý tù-nhân, quản-lý con người do đám lãnh-tụ chiếu nhất của cái gọi là Bộ Chính-trị trung-ương Đảng sáng-tạo thành chính-sách, thành mệnh-lệnh và bọn cai tù có bổn-phận thi-hành nghiêm-chỉnh.

Bạn đã hiểu tại sao tù-nhân lao-cải ít vượt ngục và tại sao không hề có cuộc nổi loạn ngoạn-mục nào ở các trại tập-trung khổ-sai lao-động.

 

 

-8-

Báo tin mừng cho em biết
Anh vừa tháo gỡ loạt bom
Có trái nổ
Cám ơn trời anh không chết
Nhưng bạn-bè người banh xác, kẻ cụt chân

Báo tin mừng cho em biết
Anh vừa phát hoang khu rừng
Khi gom đốt
Đạn chìm sâu lên tiếng thét
Cám ơn trời anh không chết
Nhưng bạn-bè người vỡ ngực kẻ bay lưng

Báo tin mừng cho em biết
Anh vừa đục núi gài mìn
Lửa bén ngòi nhanh
Đá bay như đạn rít
Cám ơn trời anh không chết
Nhưng bạn-bè người hộc máu, kẻ mù luôn

Báo tin mừng cho em biết
Anh vừa bắc lại cây cầu
Đang mùa lũ
Nước nguồn chẩy xiết
Cầu sập trôi
Cám ơn trời anh không chết
Nhưng bạn-bè người no nước, kẻ mù khơi.

Báo tin mừng cho em biết
Anh vừa chui xuống hầm phân
Hàng tỷ con ròi bò khắp mình anh gớm ghiếc
Cám ơn trời anh không chết
Nhưng bạn-bè người ngất xỉu, kẻ mửa mật vàng xanh.

Báo tin mừng cho em biết
Anh vừa ăn chuột cống, bọ cạp, thỏ sình
Cóc nhái, rắn rết, châu-chấu, cào-cào
Ăn rau tầu bay, cả trời, cỏ dại tào-lao
Cám ơn trời anh không chết
Nhưng bạn bè người tiêu ma, kẻ kiết-lỵ quặn đau.

Báo tin mừng cuối cùng cho em biết
Ngày anh chết
Xác anh nhét trong chiếc hòm
Trên xe cải-tiến
Bạn anh kéo, đẩy đem chôn
Mồ anh sẽ cạnh mồ tên ăn cắp
Chẳng một ai được quyền vẫy tay, lau nước mắt
Người ta đọc lệnh tha anh thay thế điếu-văn
Anh hoàn-toàn tự-do về sum-họp gia-đình

Duyên Anh
Thơ Tù, Nam Á Paris 1984

Bài thơ Tin Mừng, theo người tù không có án là cảm-xúc, có thể, gọi là nguyên-khối mà tôi đã sáng-tác ở Sa Ác. Tôi nói có thể vì một vài sự-kiện xẩy ra ở Sa Ác mà ở các trại Đồng Ban, Trảng Lớn, Kàtum, Suối Máu mà các bạn tù ở Phước Long kể cho tôi nghe. Như gỡ bom bị nổ, nhiều tù-nhân chết, nhiều tù-nhân cụt chân, cụt tay. Như phát-quang gom cây đốt, đạn nổ, tù-nhân mang thương-tích. Như gài mìn đục núi lấy đá, tù-nhân bị tức ngực, bị mảnh đá văng trúng mắt. Như bắc cầu bị sập, tù-nhân mất-tích. Đội 21 nông-nghiệp của Đằng Giao đã gỡ bom. Các Đội phát-quang của Sa Ác B đã đốt cây nhằm chỗ đạn vùi sâu dưới đất. Đội 38 của Dương Đức Dũng đã bắc cây cầu qua sông Ray mùa nước lũ… Tôi muốn cảm-xúc của tôi được ghi tại chỗ. Tôi muốn thơ của tôi không bị xếp loại với thơ “chiêm-bao sự thật”. Những người chưa hề đọc Thơ Tù của tôi sẽ thắc-mắc rằng tôi đã làm thơ tù như thế nào? Trang đầu của Thơ Tù, tôi giải-thích:

“Anh phải có trí nhớ thật tốt. Điều này những kẻ nhốt anh đã tuyên-dương anh: Bọn nhà văn là bọn biết dấu-diếm những điều cần dấu-diếm kỹ trong đầu óc của chúng (Huỳnh Bá Thành, “Vụ án hồ con rùa”, nhà xuất-bản Tuổi Trẻ, tp. Hồ Chí Minh 1982). Họ tuyên-dương anh để quản-lý cả thể-xác lẫn linh-hồn anh đấy. Nếu anh bị nhốt ở các đề-lao Sàigòn, Chí Hoà chẳng hạn, anh sẽ hiểu rằng mọi thứ giấy bút đều bị nghiêm-cấm. Bất chợt, cai ngục khám-xét túi bị của anh. Điều này thường xuyên xảy ra tại đề-lao thành-phố. Một mẩu bút chì thôi, anh vẫn bị còng chân, bị tống vào cachot. Nếu thêm mẩu giấy ghi chép vài câu vô-nghĩa, họ sẽ nâng quan-điểm anh, bắt anh làm tự khai ròng-rã để định-nghĩa sự vô-nghĩa của chữ-nghĩa vô-tình. Vậy anh là thơ bằng cách nào?”

o O o

Tôi làm thơ trong tù bằng óc của tôi. Tôi dựa lưng vào tường bê-tông. Tôi bám chấn song sắt to hơn cánh tay tôi – chấn song sắt của khám Chí Hòa – nghĩ thơ. Tôi nhắm mắt làm thơ. Tôi mở mắt sửa thơ. Tôi nằm gối đầu trên tay học thuộc thơ. Quên cũng lắm. Sai cũng nhiều. Bằng óc. óc tôi là giấy là bút, là mực. Trí nhớ tôi là máy ghi âm. Thiếu chính xác vì thiếu sinh tố bồi dưỡng. Người ta cấm tôi dùng tay đề viết. Tôi dùng tay đề gãi ghẻ. Vừa gãi ghẻ vừa làm thơ. Cần gì phải giấy bút. Cần gì phải cảm hứng. Nỗi ngứa đã là cảm hứng tuyệt vời. Tôi làm thơ và tôi gãi ghẻ. Bởi vì trong thống khổ và cô đơn, tôi thèm thơ. Tôi thèm thơ hơn tôi thèm nhìn
giọt nước mắt của vợ, thèm ngắm nụ cười của con, thèm thấy một miếng đời sống bên ngoài cánh cửa phòng giam nặng hàng tấn, thèm ăn cơm trắng, thèm uống nước trà, thèm tắm gội tập thể quá mười phút… Tôi làm thơ như Hồ Chí Minh làm thơ, như Tố Hữu làm thơ. Trong tù. Nhưng tôi không hậm hực kiều Hồ Chí Minh, rên xiết kiểu Tố Hữu. Tôi phơi phới. Tôi phiêu bồng. Tôi lãng du. Dẫu nhà tù Tố Hữu nhốt tôi ngày nay khốn nạn gấp ngàn lần nhà tù thực dân nhốt Tố Hữu ngày xưa. Luôn luôn chúng ta hơn cộng sản, thi sĩ của chúng ta hơn cộng sản. Chúng ta đem đời sống vào ngục tù. chúng ta không đem ngục tù vào đời sống, dù ngục tù hằng đe dọa hủy diệt đời sống của chúng ta. Chúng ta lên tiếng chứ không lên án. Tiếng nói của chúng ta thơm nồng trái thị cổ tích, rạng rỡ tấm lòng Thạch Sanh. Chúng ta ký thác tình yêu cho muôn thuở. Chúng ta không kêu gào thù hận nhất thời. Chúng ta có phần thưởng của chúng ta với dân tộc, với nhân loại như những người công chính có phần thưởng của họ trên nước Thiên Đàng.

Anh làm thơ trong tù bằng óc. Tôi hiểu rồi. Lao động khổ sai đầy đọa thể xác anh. Mỗi ngày anh ăn ba chén sắn lát, hai lưng cơm hẩm. Với nước muối. Với rau muống giây kẽm gai. Với củ cải sơ mướp. Anh phải phá gò mối nghìn năm giữa rừng. Anh phải hạ cây cổ thụ già chín kiếp đời anh. Anh phải khiêng bom chưa kịp nổ. Anh phải lấp hố bom. Anh phải xuồng hầm phân nhung nhúc cả tỷ con ròi, vục đầy xô phân bằng tay anh – tay anh thường chỉ quen cầm bút – và ròi chui vào lỗ tai anh. v.v… Người ta kiểm soát anh tất cả, anh mỏi mệt với những hồi kẻng não nùng, anh đặt lưng là anh ngủ. Vậy anh làm thơ bằng cách nào, ngoài trại tập trung?

Tôi làm thơ vì tôi thèm định nghĩa con người. Tôi thèm định nghĩa con người trong nỗi thống khổ đòi đoạn mà con người biết chịu đựng một cách can đảm, im lặng và khiêm tốn. Thi sĩ là người nhìn rõ sự bất hạnh trong hạnh phúc và, đồng thời, không ngừng khám phá hạnh phúc trong bất hạnh. Từ dưới hầm phân, tôi ngửi được hương thơm hiếm có trên đất trời. Tôi biết ngưỡng mộ con gọng vó suốt đời bơi ngược dòng nước lũ. Tôi cảm được tâm hồn nó và, nhờ nó, tôi đã được soi sáng. Trước đây, tôi chỉ tưởng tượng nỗi khổ, bây giờ, tôi trực diện nỗi khổ, dẫy dụa trong nỗi khổ. Trong tù, ngứa ghẻ là cảm hứng sáng tác của tôi. Ngoài trại tập trung, đau khổ là mật ngọt của đời sống tôi, đời sống một nghệ sĩ. Tôi làm thơ. vì thế. Đừng sợ người ta kiểm soát tất cả. Khí trời, bầu trời, thiên nhiên và tâm hồn đích thực của con người, không ai kiểm soát nổi”…

Những bài thơ nồng nàn nhất của tôi, tôi đã viết ở trại tập trung khổ sai lao động. Thí dụ bài:

Một năm thèm đường ở Suối Máu.

Người tù ngồi lựa gạo
Nhặt được vài hạt ngô
Bắt đầu một giấc mơ
Một giấc mơ ảo não

Ngay miếng đất anh nằm
Những hạt ngô reo rắc
Những hạt ngô nẩy mầm
Những cây ngô ao ước

Thân ngô nhú cao dần
Từng phân rồi từng tấc
Từng sáng anh tưới nước
Từng chiều anh ngó thăm

Ngô lên bằng đầu người
Gió đùa lá ngô vui
Nỗi niềm tan trong máu
Tù nhân dấu nụ cười

Anh múa lưỡi dao rừng
Những thân ngô ngã rạp
Mỗi khúc mỗi người cạp
Ôi, ngọt đến vô cùng

Đám bạn tù nhìn nhau
Mắt long lanh giọt ngọc
Bây giờ là hạnh phúc
Tìm thấy khi qua cầu

Duyên Anh
Thơ Tù, Nam Á Paris 1984

Bài thơ này cảm hứng từ câu chuyện một năm thèm đường của anh bạn tù ở trại Suối Máu kể cho tôi nghe. Người khác kể chuyện ở trại Đồng Ban, tù nhân cuốc trúng mìn bị cưa chân bằng cưa dùng để cưa củi. Tôi đã ghi nhanh bài :

Về nỗi khổ thật mới

Báo tin cho em biết
Bạn anh vừa cuốc đất trúng mìn
Mìn nào đó, ôi trái mìn xảo quyệt
Ai cũng được quyền gài và quyền lớn tiếng thanh minh

Bạn anh qụy xuống rất êm
Ôm chân máu vì không muốn chết
Sau những giây phút sững sờ oan nghiệt
Bạn anh được cõng vội về
Chẳng thuốc mê và chẳng cả thuốc tê
Người ta đè bạn anh ra cưa sống

Lưỡi cưa cùn cưa gỗ cưa cây thật ớn
Đã cưa xương cưa thịt con người
Bạn anh thét kinh âm hưởng vút lên trời
Bạn anh dẫy dụa đất nứt tung cục cựa
Anh ghì tay bạn anh
Mắt cài then kín cửa
Hồn đi xa khỏi thế giới lầm than
Nỗi đau đóng đinh thập giá có đâu bằng
Bạn anh bị cưa chân bởi thứ cưa cưa gỗ
Nhân loại có nhiều nỗi khổ
Nhưng chưa có nỗi khổ nào giống nỗi khổ bạn anh
Chưa có nỗi khổ nào giống nỗi khổ Việt Nam
Nỗi khổ vàng son xứng đáng tôn vinh
Nỗi khổ làm cho anh em mình biết sống
Nỗi khổ làm cho loài người rung động
Anh mở mắt nhìn
Chân bạn anh rụng mất rồi
Hôm nay bạn anh chống nạng mĩm cười
Báo tin cho em biết

Duyên Anh
Thơ Tù, Nam Á Paris 1984

Những bài thơ tù của tôi không làm cho đồng bào của tôi di tản sang Mỹ trước 30-4-1975 xúc động. Họ dửng dưng. Có lẽ, “nỗi khổ vàng son xứng đáng tôn vinh” đã làm họ phiền phức. Nhưng người ngoại quốc thì xúc động khóc sướt mướt. Ở Grenoble . Ở quận 6 thành phố Paris. Mời bạn nghe ông Pierre Bas, Viện sĩ Hàn lâm viện khoa học hải ngoại Pháp Dân biểu danh dự, Thị trưởng quận 6 Paris phát biểu:

“… Pierre Chaunu đã giới thiệu Duyên Anh với chúng ta. Độc giả của chúng ta thừa biết Chaunu là một nhà văn, một sử gia một xã hội học gia, một tư tưởng gia đã làm vinh dự cho xứ sở chúng ta. Chaunu giới thiệu Duyên Anh như một nhà thơ lớn, một niềm hãnh diện và vinh quang cho quốc gia đã bị cộng sản nhốt vào tù ngục. Những bài thơ được chuyền dịch Pháp ngữ do kịch sĩ Michel Etcheverry của Viện kịch nghệ quốc gia Pháp diễn tả thật xuất sắc. Quần chúng rất xúc động.

Được thả ra khỏi trại cải tạo nhờ những phản kháng của thế giới tự do, Duyên Anh cho chúng ta hiểu trại ấy là gì: Một thế giới của kinh hoàng, của đau thương ghê gớm, một hệ thống tù đầy, có lẽ còn tồi tệ hơn có hệ thống tù đầy mà Soljenitsyne đã cực tả. Đó là thế giới của sự tàn ác, của sự cuồng bạo, của những nhục nhã, của những trừng phạt tàn khốc, một thế giới mà không một người nào trong phòng này biết đến sự hiện hữu của nó, một thế giới mà chúng ta biết nhờ sự tiết lộ, một thế giới mà người ta lấy làm hổ thẹn vì nó đã có vào năm 1987 trước mắt nhân loại, một thế giới của tuyệt vọng, nhắc nhở người ta đến sự ghê tởm của các trại tập trung của quốc xã. Tối hôm đó, một buổi tối vui vẻ và dễ chịu nhưmọi buổi tối vui vẻ và dễ chịu của Paris, chúng ta mới được biết rằng, trên trái đất, tại Việt Nam, đã có chủ nghĩa quốc xã với những sự ghê tởm của nó.

Tôi đã nói đủ, những bài thơ của Duyên Anh sẽ kể hết cho quý vị biết. Tôi mong mỏi quý vị sẽ tìm đọc những bài thơ ấy. Như thế. quý vị sẽ được thông báo đầy đủ, quý vị sẽ hiểu những gì đang xẩy ra trên trái đất. Quý vị sẽ hỏi các tổ chức từ thiện, các hội đoàn tranh đấu cho nhân quyền rằng, mỗi khi một nhà báo không xem được hồ sơ tại một xứ nào đó của tây phương, các tổ chức ấy vẫn la lối thì nay, hỏi xem họ đã làm gì khi con người bị hạ nhục, con người bị hành hạ. Duyên Anh gọi đó là “sự đóng đinh trên thập giá”. Đúng vậy, đó là những sự hành hạ cũng tàn khốc như sự đóng đinh trên thập tự giá lên con người của thời đại chúng ta mà chúng ta lại giả vờ không biết, chúng ta bịt tai, chúng ta không muốn dính líu.

Chúng ta trông đợi Bộ ngoại giao Pháp tìm cách chấm dứt những sự ghê tởm đó đi. Không thế nào chấp nhận nước Pháp sẽ không nói gì với các tổ chức quốc tế, có lẽ viện cớ cần giải quyết vài hồ sơ hợp tác, trong khi có những mạng người cần phải cứu vớt. Chúng ta có bổn phận báo động dư luận nhân dân Pháp. Tôi cam kết dẫn đầu cuộc chiến này và tôi cầu mong nhiều người khác nhập cuộc cùng tôi. Những gì đang xẩy ra tại Việt Nam phải được chấm dứt. nếu không khuôn mặt nhân loại bị đánh tạt và bị ô nhục bởi những sự ghê tởm của chế độ Hà nội”.

(trích bài xã luận của tờ Le Courrier tháng 2-1987)

Hơn cả sự hờ hững, đồng bào trong và ngoài nước của tôi đã quên lãng những tù nhân, những nhà tù, những trại tập trung khổ sai lao động. Còn nhớ chăng là những người mẹ có con đi lao cải, những người vợ chung thủy có chồng đi lao cải, những người con có cha đi lao cải, những người em có anh đi lao cải. Thỉnh thoảng vài anh cai thầu nỗi khổ lại ném vào sự lãng quên những phản đối làm cảnh, những phản đối được đài thọ một chuyến đi, những phản đối đánh bóng cá nhân 30 năm sống bên Tây, những phản đối có mặt của một chủ tịch đào nhiệm từ 1973 cho cái gọi là Trung tâm Văn Bút đỡ trơ trẽn. Tôi cảm thấy bộ hồi ký tù ngục của mình vô duyên, lãng nhách. Nó vô duyên, lãng nhách vì những tên tướng khốn kiếp đào ngũ, sau 13 năm sống vô liêm sỉ trên đất nước Hoa kỳ, vẫn còn thừa thãi sự vô liêm sỉ đề mặc quân phục Việt Nam cộng hòa, nhâng nhâng nháo nháo phơi bầy những khuôn mặt đã ngâm “nước vỏ lựu, hoa mào gà” cứ đen thui như mõm chó, đi duyệt binh Ngày Quân Lực không còn…quân lực Khi ấy, sĩ quan kiêu hùng của chúng ta, của dân tộc ta của tổ quốc ta,nạn nhân của bầy tướng lãnh bất tài, tham nhũng đầy tớ Mỹ, đang quằn quại ở các trại lao cải cộng sản. Giọt nước mắt nào cho những anh hùng bị tước đoạt quyền chiến thắng ấy ở đêm liên hoan có nhẩy đầm tíu tít Ngày Quân Lực…lưu vong? Không có giọt nước mắt nào cả. Chỉ có những tiếng cười man rợ, tiếng rượu trôi uừg ực xuống dạ dầy. Chúng nó đã khiêu vũ trên nỗi thống khổ của chiến hữu chúng nó, của dân tộc chúng nó. Chúng nó khỏa lấp sự phẫn nộ của người công chính. Chúng nó bảo cần thiết một “huynh đệ chi binh” trong Ngày Quân Lực. Chúng nó bảo cần thiết những thằng tướng bẩn, tướng hèn, tướng đào ngũ triển lãm toàn diện sự bất cố liêm sỉ. Chúng nó bảo cần thiết những thằng tướng khốn kiếp phóng uế trên đất nước Lincoln. Và chúng nó khoán quyền đại diện tù nhân chiến hữu của chúng nó cho cai thầu nỗi khổ 30 năm phè phỡn bên Tây, chưa hề nhìn thấy lính Sài gòn cũng chưa hề nhìn thấy bộ đội Hà nội.

Người Mỹ đã không dạy chúng nó cách cai tri đồng bào chúng nó ở Việt Nam. Người Mỹ cũng không thèm dạy chúng nó những bài học dân chủ và trò chơi dân chủ ở nước Mỹ. Mở miệng, chúng nó nói dân chủ và chiến đấu cho dân chủ, tự do. Nhưng chúng nó chỉ muốn độc quyền tự do, dân chủ. Chúng nó đòi tự do, dân chủ…độc tài Chúng nó đòi tự do phóng uế chính trị, phóng uế kháng chiến, phóng uế giải phóng dân tộc. Nhưng chúng nó cấm người khác tự do phản kháng phóng uế chính trị, phóng uế kháng chiến, phóng uế giải phóng dân tộc. Chúng nó không thích trò chơi dân chủ. Chúng nó không thích đối lập ở nơi chốn mà dân chủ, tự do là biểu tượng cao quý nhất của con người, bất kề con người nào, mầu da nào, chủng tộc nào. Bọn ngu xuẩn này chỉ thích duy ngã độc tôn, sau chúng nó là đại hồng thủy. Quyền uy ảo tưởng và thế lực báo chí giẻ rách của chúng, có thể đe dọa những người cầu an, những người yếu bóng vía, có thể bịt miệng sự lên tiếng của bọn nhà văn Hamburger sinh ra đã sợ bạo lực và chỉ dám bạo miệng chống đối Cộng sản cách xa một đại dương, chỉ dư can đảm lè nhè chửi bới người vắng mặt song, không thể không bao giờ có thể đe dọa, bịt miệng nổi những nhà văn, những nhà báo khí phách và thừa thãi tài năng. Một bài thơ lửa đủ đốt thiêu chúng nó. Một bài báo thép đủ chặt ngang thây chúng nó. Chưa cần một cuốn sách. Và chẳng cần đến một tác phẩm. Thực chất, chúng nó chẳng có quyền uy gì. Nếu các nhà văn bầy tỏ thái độ nhất loạt, nếu báo chí tư cách bầy tỏ thái độ nhất loạt, chúng nó sẽ co rúm, sẽ cúi gầm mặt, sẽ câm họng. Chúng nó chẳng là cái gì cả . Chúng nó là đồ bỏ.

Người tuổi trẻ lưu vong phải quán triệt điều này:

Những ông chính khách kinh niên, những ông lãnh tụ đảng phái già nua, những tên đã nắm quyền bính ở miền Nam, những thằng tướng hèn đào ngũ không có tương lai, không còn tương lai nữa. Họ không chiến đấu cho tương lai của dân tộc đâu. Hiển nhiên. vì họ thiếu tài năng và tư cách. Cái mà họ đang gọi là chiến đấu chỉ là cuộc chiến đấu hư ảo nhằm mục đích phục hồi quyền bính dĩ vãng. Phục hồi quyền bính dĩ vãng đã là hư ảo, với bọn kể trên, là hư ảo bình phương. Bọn họ được chia làm hai loại. Một loại chưa nắm quyền bính, chưa ngồi ở những địa vị có thể ăn cắp nhiều. Một loại đã nắm quyền bính, đã ngồi ở những địa vị tha hồ ăn cắp. Loại thứ nhất, vì ăn cắp ít, nên lưu vong không được xếp vào loại tổ sư ăn cắp đâm ra “đố kỵ” tài năng …. ăn cắp. Chúng tìm nhau, hùn hạp lập công ty kháng chiến, hợp tác xã giải phóng dân tộc. Chúng bắt chước cộng sản, bôi son vẽ phấn cho chủ tịch, râu ria vài sợi, khăn rằn quấn cổ, gò khuôn mặt chủ tịch méo mó, khắc khổ. Chúng soạn cương lĩnh và hò hét. . . lạc quyên, xổ số, tem phiếu, hũ gạo. Và chúng vơ vét ngót nghét 10 triệu đô la, vẫn tiếp tục rao truyền cương lĩnh lạc quyên đốn mạt cho sự nghiệp ăn cắp công khai của chúng. Biểu tượng khốn kiếp của thời đại mê sảng là chủ tịch HCM. Rốt cuộc. công ty rã đám. Chủ tịch lạc quyên đòi chủ tịch lãnh tụ làm sáng tỏ tiền ăn cắp? Lý do đơn giản: Chúng nó chia chác không đồng đều. Loại thứ hai, ăn cắp nhiều no nê rồi, ngồi cạp tiền ăn cắp mãi đâm ra tương tư dĩ vãng. Thêm nữa, bị vợ khinh con chê, nhân tình lỉnh. Đường đường tổng thống, phó tổng thống, thủ tướng, đại tướng, trung tướng, thiểu tướng hét ra khói, ói ra lửa, nay cà lơ thất thều, đứa ngồi thở dài, đứa bán rượu, đứa gác-dan, vợ nó khinh là đúng. Bèn phẫn chí may quân phục, mua sao lên sân khấu thủ những vai hề cù không ai cười mà chủ đề nghe phỉ báng. Lâu lâu, chúng nó phát ngôn “Phục quốc là trách nhiệm”, “Giải phóng dân tộc là bổn phận”. Đúng rồi, phục quốc và giải phóng dân tộc khỏi ách thống trị cộng sản là trách nhiệm, là bổn phận của mọi người Việt Nam, trừ những thằng tướng hèn đào ngũ, những thằng tổng thống, tổng trưởng đầy tớ Mỹ, tham nhũng, thối nát. Một thằng tướng đã tuyên bố. “Tôi không đi đâu cả, tôi ở lại để ăn cơm với tương cà, canh mắm. ăn bơ, uống sữa chỉ đi té re. Đứa nào sang Mỹ thì, đàn ông làm cu ly, đàn bà làm đĩ”! Lịch sử nào cũng có những trang chó đẻ Những trang chó đẻ của lịch sử hiện đại của dân tộc ta, ngoài sự phản phúc của Mỹ còn ghi cả xú ngôn của những thằng vô lại. Thằng tướng vô lại ấy đã sang Mỹ. Vợ nó cũng sang Mỹ. Nó có làm cu ly? Vợ nó có làm đĩ ? Điều này bình thường. Hơn cả bình thường, nó tầm thường. Đôi khi còn hợp lý. Cái không bình thường là nó còn dám diện quần áo tướng, quấn phu-la đi duyệt binh Ngày Quân Lực…tan hàng, ở một nơi ai muốn làm gì tùy ý, miễn là đừng phóng uế lên danh dự Việt Nam. Vợ nó cũng… duyệt binh. Khi có ai lên tiếng rằng cu ly và đĩ không được phép nhục mạ quân đội, sẵn sàng khuyển mã của khuyển mã lý luận: Ngày Quân Lực là ngày đoàn kết quân đội! Đồng ý. Nhưng quân đội là những ai? Quân đội có phải là của tướng lãnh, nhất là của tướng lãnh đào ngũ hèn mọn? Không đâu, quân đội của chúng ta là những người lính kiêu hùng, là những hạ sĩ quan gan dạ, là những sĩ quan trong sạch quả cảm chiến đấu chống kẻ thù cộng sản đến giây phút cuối cùng. Ở Khánh Dương, ở trước dinh Độc Lập, ở cầu Thị Nghè, lính và sĩ quan dũng cảm của chúng ta còn chiến đấu đến hơi thở cuối cùng. Chỉ có những thằng tướng đang hung hăng sủa bậy “phục quốc, giải phóng, kháng chiến” là đào ngũ, là cút chạy quá sớm trước lệnh đầu hàng. Những kẻ đã đào ngũ có còn là quân đội, có còn là chiến hữu của những người lính đang chiến đấu ở quê nhà, những sĩ quan đang quằn quại ở trại tập trung khổ sai lao động của cộng sản? Quân đội của những người lính đã thắp sáng Bình Long, Kontum, Pleime, Quảng Tri…, đã tưới máu đào từ Bến Hải vào tận Cà Mau có thể “đoàn kết” với những thằng tướng đào ngũ, có thể bị nhân danh bởi những thằng vô lại?

Người tuổi trẻ đã là lính hay chưa là lính cần nhìn rõ vấn đề, cần điểm mặt lãnh tụ. Để nhận đường chiến đấu. Cuộc chiến đấu hôm nay là cuộc chiến đấu của Thiên Thần với Ác Quỷ. Nó đòi hỏi nhiệt tình, lòng tự phụ, tài năng và sáng tạo chỉ có ở tuổi trẻ. Vậy nó là cuộc chiến đấu của tuổi trẻ. Cuộc chiến đấu này phải loại bỏ lãnh tụ già, lãnh tụ vô lại, lãnh tụ vô học; loại bỏ bọn tay sai Mỹ, tay sai Liên Xô, tay sai Tây, tay sai Tầu cũ và, đồng thời khu trừ bọn tay sai Mỹ, tay sai Liên Xô, tay sai Tây, tay sai Tầu mới, dẫu tay sai có là người trẻ trung, mới mẻ. Cũng khu trú luôn đám cai thầu nỗi khổ của dân tộc, dây máu ăn phần sau 30 năm ngủ vùi trên đất thiên hạ.

Viết đến đây, tôi bỗng cảm thấy bộ hồi ký ngục tù của tôi không vô duyên, lãng nhách nữa. Còn tuổi trẻ Việt Nam an ủi tôi, còn tuổi trẻ Việt Nam là những người tôi sẵn sàng cống hiến chút tài năng còm cõi của tôi, chút kinh nghiệm kinh qua thống khổ của tôi, trọn phần đời còn lại của tôi, cho họ. Cho hết. Cho không đòi hỏi. Để họ không còn bị làm guốc cho bọn lãnh tụ ghẻ lở. Để họ không còn bị ném lên sân khấu bởi bọn đạo diễn mù. Tôi không có tham vọng chính trị. Tôi không có máu mê lãnh tụ. Tôi không lợi dụng tuổi trẻ. Tôi là nhà văn. Nhà văn thì không cần thế lực và hậu thuẫn. Thế lực và hậu thuẫn của nhà văn là Sự Thật và Lẽ Phải. Và đó chính là khuôn vàng thước ngọc của người cầm bút ở bất cứ thời đại nào. Bằng Sự Thật và Lẽ Phải, nhà văn khinh thường Bạo Lực. Luôn luôn bị Ngộ Nhận, bị Chụp Mũ, bị Đe Dọa, bị Vây Hãm nhưng chằng bao giờ bị hủy diệt vì không một bạo lực nào đủ khả năng hủy diệt Cái Thật, Cái Tốt, Cái Đẹp:. Lý tưởng chiến đấu của tuổi trẻ thế hệ sau 30-4-75 và những thế hệ kế tiếp là phải leo lên đỉnh ngọn Chân, Thiện, Mỹ; phải tạo dựng chính quyền cho quê hương Việt Nam, phải là Vạn Thắng Vương, dẹp tan 11 thứ phỉ, thứ ngụy để mơ kỷ nguyên Đại Cồ Việt mới.

Trong ý nghĩ ấy, tôi tình nguyện làm con ngựa già kéo xe cho Tuổi Trẻ ruổi rong làm lịch sử. Với tôi, giai đoạn tiểu thuyết lẩm cẩm, tùy bút tửu điếm, phòng trà lăng nhăng chấm dứt. Với tôi. hôm nay: “Cho lửa vào thơ văn hay cho thơ văn vào lửa”. Hoặc tôi tiếp tục văn chương chiến đấu, tư tưởng dấy động và chấp nhận mọi nghịch cảnh, mọi hệ lụy vây hãm, hoặc tôi bẻ bút. Tôi chọn lựa văn chương chiến đấu, văn chương có chính kiến rõ rệt. Người cầm bút phải có thái độ sống và thái độ viết thích ứng với thời đại của y. Nói theo nhà tư tưởng lý Đông A: “Văn nghệ phải để cho yêu thương của lý tưởng có tranh đấu trụ trì “*. Những kẻ cầm bút không có chính kiến, cầu an, sợ hãi bạo lực, thù hận của bạo lực và hình phạt của bạo lực chỉ là bọn thư lại chữ nghĩa. Những kẻ cầm bút chối bỏ Sự Thật và Lẽ Phải, nói theo Lý Đông A là bọn văn nghệ “mõ chợ”, bọn văn nghệ “chó sủa”*. Lý Đông A mượn ý của Shelley nhắc nhở rằng: “Nhà văn phải thổi kèn đánh thức” con người và lương tri của con người. Tôi muốn làm người thổi kèn, chỉ đề đánh thức cho tuổi trẻ Việt Nam lên đường và báo động hoàng hôn chết của lãnh tụ già nua mọi mặt. Thế thôi.

Trong mọi lãnh vực, người tuổi trẻ cần hiện diện. Lão thành cách mạng, lão thành ký giả, lão thành chính khách, lão thành văn sĩ là những người sắp chết, gần kề nỗi chết. Tương lai thì lại sẽ tới, sắp tới, đang tới và còn tới mãi mãi, vô tận. Tương lai không của người già càng không phải của những người hết thời. Tương lai là của tuổi trẻ. Tương lai là mầm vừa nhú, lộc đang đâm chồi, hoa chờ hé nhụy. Tương lai không là cây đã cổ thụ, hoa đã héo tàn, cà đã thâm, dưa đã khú. Đất nước chu toàn cây cổ thụ là đất nước buồn bã. Vì trên ngọn thì quạ đậu đầy, dưới gốc thì bình vôi đặc khịt chồng chất. Đất nước ta đã 50 năm rặt quạ và bình vôi. Và đất nước ấy đã thê thảm cùng cực. Phải làm cho đất nước cơ man cây trổ hoa, đơm trái. Phải làm cho đất nước rộn ràng ong bướm, véo von chim hót. Và đó, nghĩa vụ của tuổi trẻ Việt Nam. Tôi hy vọng, bộ hồi ký tù ngục này sẽ giúp tuổi trẻ đôi chút kiến thức về cộng sản. Đề họ nhìn kẻ thù chính xác mà chiến đấu. Nó cũng còn là một báo động một xúc động phôi phai cho họ, những người rời quê hương trước 30-4-1975 quá trẻ, dễ chìm nghỉm dưới bùn lầy vật chất nước Mỹ và đã quên thân phận dân tộc, số phận tù nhân lao cải mà thống khổ chịu đựng, văn chương của tôi không đủ khả năng diễn tả.

* Đạo Trường Ngâm, Thay lời tựa, Nhân Chủ Học Xã xuất bản, USA 1985

 

 

-9-

Đằng Giao kể:

– Hoàng Anh Tuấn thèm thực hiện một cuốn phim về nhà tù cộng sản. Phần générique Tuấn sẽ quay những khuôn mặt hốc hác dán vào cửa gió cachot. Giới thiệu tên phim, tài tử, đạo diễn, nhà sản xuất xong xuôi, mở đầu, một tù nhân đẩy cửa cachot bước ra, chân xích, tay còng. Cai ngục dẫn tù nhân tới phòng chấp pháp….

Đằng Giao nói tiếp:

– Giá mà Hoàng Anh Tuấn ở Sa Ác. Phần généríque sẽ quay cảnh tù nhân trần truồng tắm bến sông Ray…

Bến sông Ray, bến tắm tập thể của cả trại lao cải Sa Ác B, trưa và chiều. Gọi là sông vì nó là sông. Nó là con suối mới đúng. Khúc chảy qua Sa Ác, chiều ngang của nó khoảng 40 thước. Bến tắm được quy định một chiều dài khoảng 100 thước. Tù nhân không được phép lội sang bờ bên kia. Khi kẻng tan lao khuya, vệ binh canh phòng tù tắm giặt đã bố trí trung liên nạp đạn trên bờ. Ít nhất năm ổ trung liên. AK không kể. Vệ binh sẵn sàng khạc đạn nếu tù nhân leo lên bờ bên kia. Mùa nước lũ, có một hàng rào kẽm gai, giăng từ lúc sông cạn, đề phòng tù trốn trại bằng cách theo dòng nước chảy xiết mà ra đi. Ở chỗ hàng rào, cái đăng đón cá tù, vệ binh ngồi gác. Vệ binh được phép bắn chết tù nhân trốn trại. Tôi chưa thấy tù nhân nào trốn trại dưới sông, mùa nước lũ. Người ta sợ chết sặc khi vướng rào kẽm gai. Nước chảy xiết, tù nhân dính rào kẽm gai như cá dính mắt lưới. Bởi thế, mùa nước lũ, tù nhân chỉ tắm sát bờ sông. Nhiều người xách nước lên bờ tắm gội. Mùa nước lũ, tù nhân được uống “cà phê sữa”, tức là nước sông ngầu phù sa không đánh phèn, cứ “nguyên chất” mà đun sôi. Chúng tôi đã uống đất rừng, lá mục, xác thú chết trong những ca “cà phê sữa” suốt mùa mưa lớn. Uống nước phù sa đun sôi không thú vị bằng uống Coca Cola, Sprite, Pepsi, Fanta, sữa tươi nhưng, quả thật, phù sa đã bồi dưỡng cho cảm hứng sáng tác của tôi.

Năm 1979, tôi 44 tuổi. 44 tuổi tôi được soi sáng ý nghĩa của đời sống qua hình ảnh con gọng vó bơi ngược dòng nước lũ. Con gọng vó bé nhỏ, yếu đuối, hèn mọn sống trong dòng mà không chịu xuôi dòng. Luôn luôn nó ngược dòng. Sự phấn đấu chạy ngược dòng của nó thật cô đơn, thật lãng mạn và thật dũng cảm. Chắc chắn, đã không ai theo dõi cuộc chiến đấu với bản thân của con gọng vó. Chắc chắn, đã không ai hiểu nổi tâm sự của con gọng vó. Nó chính là người nghệ sĩ sáng tạo phản kháng, kẻ không chấp nhận theo dòng, xuôi dòng. Nó không thích bị cuốn xoáy xuôi dòng. Giữa con gọng vó và củi mục, thú chết. lục bình, tôm cá là một khác biệt. Tôi phải cám ơn cộng sản đã bắt tôi, đã đầy đoạ tôi. Nhờ thống khổ, tôi được con gọng vó soi sáng niềm bí ẩn của đời sống. Ít ra. nó đã giúp tôi cảm hứng viết bài thơ:

Như con gọng vó

Nỗi thống khổ dạy anh những điều khôn ngoan
Dạy anh giải tỏa niềm ẩn ức
Dạy anh gieo trồng hạnh phúc
Dạy anh nhìn rõ anh hơn
Nỗi thống khổ không dạy anh căm hờn
Không dạy anh phản phúc
Không dạy anh làm điều ô nhục
Không dạy anh tuyệt vọng chán chường
Nỗi thống khổ dạy anh bơi lội ngược dòng
Như con gọng vó

Đừng bao giờ than thở
Vì hệ lụy điếc câm
Nỗi thống khổ soi sáng anh mọi sai lầm
Dẫn anh vào trái tim nhân loại
Hãy là con đại bàng vươn cánh soải
Và thương loài chim sẻ léo nhéo bờ tường
Bởi sức nó chỉ để bay mái nhà này sang mái nhà khác
Nỗi thống khổ không dạy anh những điều gian ác
Chỉ dạy anh chịu đựng nhín nhường
Dạy anh khoan dung và cao thượng luôn luôn
Dạy anh tha thứ kẻ đã đầy anh xuống địa ngục
Nỗi thống khổ dễ gì ai cũng một lần gặp
Nên giữa anh có khoảng cách với cuộc đời
Anh cô đơn
như con gọng vó
ngược dòng bơi

Duyên Anh
(Thơ Tù, Nam Á Paris, 1984)

Tôi trở về cái bến tắm sông Ray. Tù nhân khắp các hiện trường lao động lũ lượt đổ về bến tắm duy nhất của Sa Ác B. Xuất trại, tù nhân phải ăn mặc chỉnh tề. Nhập trại, có thể cởi trần, mặc quần xà lỏn ướt. Từ bãi lao động về bến tắm, tù nhân cởi trần. Đến bến tắm, tù nhân trần truồng nhào xuống sông. Đội nào tới trước tắm trước. Tắm trước, nước còn trong, đến sau, tắm vào lúc cả chục đội chen chúc nhau một vũng nước sâu, bùn bị khuấy đen ngòm, cá cũng ngộp thở! Hình tưởng đám ròi lúc nhúc dưới hầm phân. Tù nhân dưới khúc sông quy định cũng thế. Đội trưởng và Đội phó thay phiên nhau tắm nhanh lên vội. Khi vệ binh ra lệnh bảo đội lên, Đội trưởng hú lớn cho đội lên tập họp, điểm số. Đội 21 nông nghiệp của Đằng Giao có một tù nhân xuân thu nhị kỳ tắm gội. Đó là Hùng nhí, figurant mà Đằng Giao chọn lựa cho đạo diễn Hoàng Anh Tuấn. Hùng nhí. 22 tuổi, lùn tì, nhỏ xíu, thứ gà đẹt. Nó có khuôn mặt hao hao Dracula. Răng rụng gần hết. Hùng nhí can tội…gián điệp ! Theo “truyền ký lao cải”, Hùng nhí được ông tướng Dư Quốc Đống nhận làm con nuôi, cho mặc quân phục nhẩy dù và thường cho nó ngồi cạnh trên xe jeep của ông. Hùng nhí trở thành lính dù danh dự sau khi nó giúp lính nhẩy dù khám phá hầm vũ khí của Việt cộng, hồi Mậu Thân, ở ngã từ Bẩy Hiền. Nó bị bắt ngay đêm 30-4-1975. Hùng nhí lưu lạc các trại Suối Máu, thành ông Năm, Đồng Ban, Trảng Lớn. Rồi về Sa Ác A. Rồi vào Sa Ác B. Người ta thầm thì Hùng nhí là “ăng ten” ở đâu đó. Còn ở Sa Ác B, cả ngày nó nằm võng ni lông ngủ thì co róm. thức thì khóc. Nằm nhà buồn, nó tình nguyện ra bãi chơi cho vui. Không ai bắt nó lao động cả. Nó không có răng nhai bo bo nên nói rất ít. Nó lại nằm lỳ một xó, lười đi lại. Thế mà người ta nỡ chụp mũ “ăng-ten” lên đầu nó, một thằng sinh ra đã hẩm hiu bất hạnh!

Vì Hùng nhí không tắm nên Đẳng Giao giao cho nó trách nhiệm hú đội lên tập họp. Hùng nhí làm tròn trách nhiệm. Nó chụm hai bàn tay vào miệng thay loa, mặt nhăn nhúm, há rộng mồm nghiến răng mà hét “Đội 21 lên!”. Khuôn mặt nó, lúc ấy, vừa bi thảm vừa hãi hùng. Đằng Giao muốn ống kính của đạo diễn Hoàng Anh Tuấn thu riêng khuôn mặt Hùng nhí thật lớn. Tiếng hét của nó vừa dứt thì ống kính quay xuống sông. Tù nhân trần truồng lên bờ. Các đội khác vẫn ngụp lặn dưới nước bùn.

– Được chứ, ông thầy?

– Độc đáo ra phết.

– Khán giả sẽ thấy cả sự gầy ốm lẫn ghẻ lở, hắc lào và những khẩu cà nông nhiều năm không khạc đạn! Tôi chưa nghĩ ra tên cuốn phim.

– Sông Ray phẫn nộ.

– Hay đấy.

– Tôi lại nghĩ cả đến màn tập họp lao động. Màn này làm générique cho phim cũng tuyệt cú mèo.

Đúng thế. Không có cảnh nào bi đát hơn cảnh tù nhân tập họp buổi trưa chờ gọi đi lao động. Trước hết, nói về nón mũ. Nón lá mới, nón mê là thường. Nón cối cộng sản là thường. Nón cao bồi Tểch- xa, nón lính Tân-tây-lan là thường. Nón sắt quân đội Mỹ là thường. Mũ nồi của các binh chủng tầu bò, nhẩy dù, thủy quân lục chiến là thường. Mũ cói là thường. Một thứ mũ cắt bị cói ra khâu thành mũ lao cải mới lạ mắt. Riêng loại mũ này cũng cả vài chục kiểu. Chưa có trại tập trung nào phong phú mũ như trại tập trung khổ sai lao động của cộng sản. Có tù nhân lười, chụp luôn cái bị lên đầu. Rất tiện. Vì buổi chiều về có thề đựng củi hay đựng vài thứ rau rừng… Các ông lái mũ ở xóm lầy Orange County, ở công ty kháng chiến hải ngoại, ở hợp tác xã giải phóng lưu vong, ở liên minh dân chủ cà chớn và, đặc biệt, ở tiệm của ông Trần Tam Tiện quận 7 Paris, ở tiệm của ông Nguyễn Ăn Kaka thành phố Bruxelles, chắc chắn, chưa hề nhìn thấy nón mũ lao cải. Cho nên, quý ông ấy hơi ngu. Là cứ nhè những thằng đã đội mũ lao cải mà chụp mũ cộng sản, mũ “ăng-ten”. Mũ của quý ông ấy ghi rõ made in USA, made in France, made in Belgium nhưng quên không ghi thêm made by Đào Ngũ, made hy Đào Nhiệm, made by Đào Tẩu, made hy Đánh Mướn, ma e hy Lãnh Lương Lạc Quyên. Vân vân… Tôi thấy cần khuyên các ông lái mũ thuộc thành phần đào ngũ và thuộc thành phần nhớp nhúa ở xã hội Việt Nam Cộng Hoà không nên làm nghề chế tạo nón mũ. Cái thứ mũ các ông đang đội lên đầu mình là thứ mũ nặng tội nhất, hèn hạ nhất, không dễ gì lột ra vất đi nổi: Mũ đào ngũ. Mũ này nó hẳn sâu vào sự nghiệp bẩn của các ông, dẫu có ông đã là tiến sĩ. Vậy muốn giương danh tiến sĩ lỏi, nên bỏ nghề chụp mũ và tự truy nã bản thân mình mà tu tỉnh cho nên người.

Bây giờ nói về giầy mép lao cải. Giầy bố, giày da quân đội, giầy vải, giép Nhật made in Chợ Lớn, giép râu đã tập họp đầy đủ ở trại lao cải. Tại Sa Ác B, sĩ quan quân đội biên chế riêng thành các đội chỉ có sĩ quan, sĩ quan cảnh sát biên chế riêng, công chức trình diện học tập biên chế riêng và phản động biên chế riêng. Quân đội của ta thà mang giầy mòn vẹt, há mõm chứ nhất định không thèm xỏ chân vào giép râu. Giép râu có nhiều ở các đội công chức, phản động và hình sự. Các đội hình sự đoạt kỷ lục chân đất. Khi các đội đứng hết dậy, ống kính máy quay phim thu từ đầu gối xuống là thấy đủ nghìn vẻ phong sương của nghìn đôi giầy giép. Đảng và nhà nước cộng sản bóc lột tàn bạo. Mỗi năm tù nhân chỉ được phát một bộ quần áo. Mũ nón, giầy giép phải…khắc phục! Do đó, tù nhân đã vá giầy, khâu giép mà vào rừng gai phát quang.

Đến quần áo lao cải thì bất hủ. Vá chẳng vá đụp, vá đủ thứ mụn, đủ thứ mầ. Vá đè lên dấu tùQuần áo lao cải, có khi, chẳng thèm giặt. Cứ nhất bộ nhất bái dầm mưa, giãi nắng. Nếu gia đình không gửi quần áo vào, tù nhân sẽ trần truồng thực hiện khẩu hiệu “Lao động là vinh quang”. Và, lúc ẩy, tự mỗi tù nhân sẽ tìm ra ý nghĩa tuyệt vời của khẩu hiệu: “Lao động là thước đo giá trị của con người”.

– Lấy đầu tù. lòng tù và chân tù làm générique.

– Hay lắm.

– Vào phim là cảnh tù nhân trốn trại bị trói, mặt mày sưng vù, máu khô dính mép, đứng nghiêm nghe đọc quyết định kỷ luật “Cộng Hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Độc lập, tự do, hạnh phúc”…

– Đểu quá, đều quá!

– Thoát ra, sang Mỹ, ông thầy nên thực hiện phim Sông Ray phẫn nộ.

– Cứ ước mơ đi.

Tôi đã ước mơ, ước mơ thật nhiều năm tháng cơ cực trong tù. Ước mơ cho tôi hy vọng. Hy vọng cho tôi can đảm sống đời tù. Tôi đã thoát ra, sang Pháp, chưa sang Mỹ. Tôi không có ý định sang Mỹ nữa. Bây giờ, tôi ước mơ chóng chết. Vì ước mơ tôi mang ở 3 nhà tù, 2 trại tập trung khổ sai lao động ra, tôi mang theo nó lênh đênh biền cả, gian khổ chập chùng, tôi đưa nó lên đảo Poulalu Bidong lầm than và nó đã bị cháy đen từ tôi nhìn rõ thế giới tự do và đồng bào tôi và đồng nghiệp tôi và bằng hữu tôi lưu vong. Quả thật, ước mơ hay ước vọng của tôi đã là ảo vọng bùi ngùi. Tôi đành ước mơ chóng chết. Nhưng ước mơ chóng chết cũng khó như ước mơ thực hiện một cuốn phim nói lên trọn vẹn và trung thực nỗi thống khổ của tù nhân Việt Nam ở trại tập trung khổ sai lao động của cộng sản sau cái gọi là hòa bình của chiến tranh ý thức hệ. Những ngày nằm tù, tôi đã ngây thơ nghĩ:

Cái tiểu ngã nhập vào đại ngã
Nỗi thống khổ chẳng riêng ai chịu nữa
Nó đè lên vai cả dân tộc, cả thế giới chứng minh
Nó trong giọt nước mắt già và trên ngọn tóc xanh
Nó ở cuộc đời thênh thang và ngụ tù tăm tối
Nó ở ban mai kinh nguyện cầu, nửa đêm kinh sám hối
Ở hồi chuông cáo phó
ở tiếng khóc chào đời
Nó gầm gừ đe doạ dài dài
Sau mỗi hoà bình của chiến tranh ý thức hệ
Nó là tham lam, ích kỷ
là kiêu căng ngu xuẩn, là độc ác dối gian
Nó xui Việt Nam tàn nhẫn với Việt Nam
Và bắt nhân loại phải rời xa nhân loại

Không, nỗi thống khổ vẫn chỉ riêng tù nhân và thân nhân của họ phải chịu. Cái tiểu ngã không bao giờ nhập vào cái đại ngã. Cái tiểu ngã của đồng bào tôi ngoài nước Việt Nam càng không bao giờ nhập vào cái đại ngã. Nếu tôi đã không ngây thơ câu này đúng nhất “Việt Nam tàn nhẫn với Việt Nam”. Đừng trách cộng sản Việt Nam tàn nhẫn với người Viết Nam. Hãy hỏi xem người Việt Nam tị nạn ở Mỹ có tử tế với người Việt Nam tị nạn? Hỏi đi! Hỏi đi! Người ta mở rộng túi đóng thuế cho thảo khấu kháng chiến 10 triệu đô la. Người ta đã quyên tặng Hội y sĩ thế giới được bao nhiêu đã làm phương tiện cứu vớt đồng bào của người ta đói khát, sợ hãi giữa đại dương mà hải tặc rình chờ hãm hiếp, cướp bóc, chém giết? Không còn gì mỉa mai hơn Hồng Kông thực hiện phim Boat People và sự giúp đỡ của Trung cộng. Hồng Kông trình bầy giùm dân tộc Việt Nam nỗi thống khổ đòi đoạn nhất của thời đại với loài người hôm nay và mai sau.

Người Việt Nam không nói được tâm sự của dân tộc mình?i Có đấy chứ những vidéo cóc nhái bôi nhọ nghệ thuật, những cuộc thi hoa hậu quốc sỉ, những phim ảnh dơ dáy luộc lại… Một phim lớn về Thuyền Nhân dũng cảm biệt Nam? Không có. Không bao giờ có cả. Bởi vì 5 đô la quá nhỏ để 1 triệu người góp thành 5 triệu đô la và quá lớn để uống coca, hút thuốc lá. Tôi lấy làm xấu hổ khi thấy Siêu thị Tang Frères ở quận 13 Paris mở chiến dịch Sampan lấy tíền giúp Hội y sĩ thế giới, trong vòng ba tháng, số tiền cứu vớt thuyền nhân gấp mấy lần người Việt Nam đóng góp trong vòng ba năm. Tôi đâm ra cụt hứng,không dám động chạm tới sự hờ hững của nhân loại đối với dân tộc tôi nữa. Ấy là tôi đã quên cái thân phận tầm thường của tôi, còn nằm trong ngục tù đã bị vài người Việt Nam… nhà văn, nhà báo đánh dập, đánh vùi và vừa đặt chân lên “đất hứa” bị đánh tới tấp, đánh tối tăm mặt mũi. Tôi có ra ngoại quốc để tranh giành quyền bính, quyền lợi gì đâu? Quyền lợi chính đáng của tôi bị xâm phạm. bị tước đoạt, có nhà văn. nhả báo nào bênh vực? Thì thôi. Còn chữ nghĩa, ai có nhiều người ấy viết, bầy đặt vít rào, cản lối nhau làm chi nhỉ? Chỉ riêng nghĩ đồng nghiệp bằng hữu của tôi, tôi đã lợm giọng. Và sự lợm giọng khiến ước mơ trong tù của tôi cháy khét.

Nhưng rồi tôi vẫn viết cho đồng nghiệp cũ và lại bị ăn quỵt nữa. Người ta bêu nhục tôi chán, người ta ăn quỵt công lao và tiền cước phí của tôi. Và đó là Lẽ Phải của nhân sinh quan mới, thứ nhân sinh quan liêu mong triệu năm vẫn khó lòng phục quốc.

Tôi đã tiếc mình không chết mòn trong nhà tù cộng sản. Như thế hạnh phúc bao nhiêu. Ước mơ của tôi không bị thắt cổ. Cho đến lúc nhắm mắt, tôi vẫn nghĩ bằng hữu mình ở Mỹ chung thủy lắm, không có thằng nào phản phúc cả, không có thằng nào bỉ ổi cả.

Cònđồng bào của tôi trưởng thành cả, tốt đẹp cả, không ai thèm vào quốc tịch Mỹ vì sắp về giải phóng quê hương đến nơi rồi. Báo chí Việt Nam hải ngoại rực rỡ. Các nhà văn, nhà thơ lưu vong đều năm bẩy tác phẩm dịch Anh ngữ do các nhà xuất bản lớn ở Nữu Ước ấn hành, Tây, Tầu, Pháp, Nhật, Ý, Đức xin dịch ầm ầm. Có nhà văn chuẩn bị lĩnh giải Nobel văn chương. Nhất định không có thảo khấu kháng chiến. Các tướng lãnh, đại tá quan trọng đều viết tự khai tham nhũng, nhận tội đào ngũ và xin hồi hương để ra hầu tòa án Quân Sự. Các nghị sĩ, dân biểu viết thư về nước xin lỗi cử tri và cam kết không ra ứng cử nữa. Các tổng trưởng, thủ tướng theo chân tổng thống lên chùa quy y, phát nguyện kiếp sau xin làm bọ hung, làm chó. Các linh mục hối hận chuyện bỏ con chiên di tản và vượt biên. Các thượng tọa đại đức không bầy trò thùng sương và rút hết tiền ngân hàng ra phát chẩn. Linh mục và thượng tọa nào lỡ cho vay tiền xanh xít đít đui, gọi hết con nợ tới., thiêu hủy văn tự. Vân vân và vân vân…

Ước mơ của tôi tuyệt vời thế mà bị thắt cổ. Chỉ tại tôi đã không chết rũ trong tù và lò dò sang…thế giới tự do, thế giới “tham lam, ích kỷ, kiêu căng, ngu xuẫn, độc ác, dối gian” từ ở trại tị nạn cộng sản. Nhưng mà…

Ta đến đây đành ở lại đây
Cuối đời thấm thía kiếp lưu đầy
Nghẹn ngào sách vở từng trang mục
Chữ nghĩa vèo bay như lá bay
Những tưởng tài năng vần thế cuộc
Nào ngờ tai họa giáng tê vai
Ðường người chó sói nhe răng nhọn
Nghe buốt đau thương cả đế giày
Vàng thau lẫn lộn phiền than lửa
Ngọc đá ganh đua rộn giũa mài
Bùn khuấy thờn vơn khoe gặp vận
Tép tôm hí hửng nhẩy tranh tài
Cá sấu chưa cười rung tiệc máu
Kên kên vẫn khóc rỉa moi thây
Hỡi ơi dâu biển và dâu biển
Ta đến đây đành ở lại đây

Giả câm giả điếc xem tuồng cũ
Ðào kép hiêu hiêu lũ cáo cầy
Vôi trắng vôi vàng vôi lốm đốm
Mặt mày nham nhở dối lừa ai
Bọ gậy ngo ngoe trò cách mạng
Ruồi xanh bu rối rít khen hay
Học đòi Câu Tiễn nuôi thù hận
Chí lớn xem chừng cái móng tay
Răng rụng trống tung còn hám lợi
Thân lươn lãnh tụ đắm mưa lầy
Hư danh gạt gẫm phường khoa bảng
Nguyệt mộ khơi rồi chửa tỉnh say
Ðeo mo mấy đứa buôn dân tộc
Cứu nước khom lưng truống chủ thầy
Nỗi buồn quốc sỉ Lê Chiêu Thống
Gươm giáo Quang Trung có thở dài

Ðã ngỡ nghìn xưa Trần Ích Tắc
Nghìn sau nhan nhản bọn tay sai
Hỡi ơi dâu biển và dâu biển
Ta đến đây đành ở lại đây
Thiếu kiếm bạt non Tôn Thất Thuyết
Lấy thơ ta lấp kín sầu mây
Mong gì Giới Tử Thôi dâng thịt
Ai kẻ cầu sương điếm cỏ đây
Ðất khách cùng đồ buông hiện tại
Quê người mạt vận bỏ tương lai
Vo ve nhặng ốm quanh sơ mít
Inh ỏi gà què quẩn cối xay
Ðỉnh chung cõi tạm cao hơn núi
Sĩ khí lưu vong thấp gót giầy
Ôi cái phương danh mà định nghĩa
Cơ hồ giảm giá vị chua cay

Ðầu lưỡi văn nhân phì nọc rắn
Ðáy tim thi sĩ vút dao bay
Thế nên đĩ điếm thầu văn nghệ
Trọc phú đầu tư núp áo dài
Yêu nước ngứa nghề anh bếp Mỹ
Thương nòi đú đởn chú bồi Tây
Hỡi ơi dâu biển và dâu biển
Ta đến đây đành ở lại đây
Thẹn vì cơm áo mòn khinh bạc
Rượu đốt thời gian lũng dạ dầy
Vó ngựa giao vành đêm mộng hão
Hồn hoang nhức nhối gió heo may
Máu đã úa khô đường phát vãng
Cung tên đố kỵ ngắm nhau hoài
Ngỡ đau giãi mũ Hàn Phi Tử
Ai đưa Lý Tư mảnh đất này

Học đòi lối gã Công Tôn Át
Rồi sẽ mình dao đâm thối thây
Xá chi đỉa đói đeo chân hạc
Mà luận công danh gã rạc rài
Ðâu phải bây giờ sông mới lấp
Ðã từng cát bụi khóc thiên tai
Thì thôi chả trách bìm leo dậu
Cây cỏ luân hồi vẫn cỏ cây
Cố quận cha già căng mắt đợi
Viễn phương hạnh ngộ cứ hao gầy
Hỡi ơi dâu biển và dâu biển
Ta đến đây đành ở lại đây
Dao cùn múa mãi bài vong quốc
Ngơ ngẩn như chiên bị lạc bầy
Thời đã thu không hồi trống điểm
Giật mình tóc gẫy xuống ngày mai

Khương Tử Nha đâu bờ Vị Thủy
Phong thần bảng ấy có hôm nay
Bồi hồi tiếng thét xô hung Trụ
Lửa thắp chiêm bao một giấc đầy
Mộng ảo chẳng no cơn biệt xứ
Ðìu hiu nghịch cảnh khép vòng vây
Con chim trốn tuyết về chưa nhỉ
Ta mãi cô đơn giữa chốn này
Gươm gỗ làm sao mài dưới nguyệt
Mà đòi sông núi nặng hai vai
Mưu sinh chữ nghĩa gầy tư tưởng
Tỳ vết kiêu sa vẹt tháng ngày
Ngùi trông cố quốc tình hong muối
Héo hắt tài hoa tâm sự phai
Thiếu kiếm bạt non Tôn Thất Thuyết
Lấy thơ ta lấp kín sầu mây

Ai trước Hồ Trường chưa rót cạn
Còn nghiêng bầu hẹn một người say
Hỡi ơi dâu biển và dâu biển
Ta đến đây đành ở lại đây

 

Duyên Anh
(Bài lưu đầy, 1987 trong tập thơ Em, Tôi, Sàigòn và Paris)

Đành ở lại đây đợi chết mòn chứ biết tính sao bây giờ. Tâm sự buồn bã của hoàng hôn đời tôi được tôi diễn tả:

Ta đến một mình không có Moise
Chân hoang chìm lún giữa truông đời
Ðào sâu đất hứa chôn tâm sự
Rượu cháy phồn hoa yêu nữ ơi

Ta đến một mình không có em
Mùa tàn, đất nẻ, bặt lời tim
Hồn oan sa vũng bùn luân lạc
Thoi thóp hoàng hôn, mỏi cánh chim

Ta đến một mình không có ai
Gập ghềnh địa nạn, dốc thiên tai
Thế gian vùi ngủ quên hồng thủy
Thuyền vắng Noé, nước ngập đầy

Ta đến một mình ta với ta
Bỗng dưng thương ngục đá đêm già
Cuối đường hiu hắt chiều giăng mắc
Thấp thoáng hồ ly đốm lửa xa

Duyên Anh
(Ta và Ta, 20-12-86 trong tập thơ Em, Tôi, Sàigòn và Paris)

Và sau hết:

Chẳng hẹn mà thành khách viễn phương
Cũng rằng non nước dục lên đường
Dấu giầy lữ thứ hằn lưng cát
Áo bạc hòa hoa nát gió sương

Chấp kích lang cười khinh Hạng Võ
Ðêm mòn đợi kiếm báu Trương Lương
Ðời không có kẻ nhường xe ngựa
Chậm bước tiên phong muộn chiến trường

Nghĩ giận thế thời con mắt đóm
Ngọc nằm bất động giữa văn chương
Hỡi Cao Bá Quát trùm thiên địa
Một nhát gươm vung rớt mộng cuồng

Vương đạo trái mùa thương Vệ Ưởng
Nghẹn ngào tư tưởng lãnh tai ương
Xác xơ chữ nghĩa gầy nghiên bút
Rượu ngút trời thiêu giấc bá vương

Trả lại phong trần cho bụi đỏ
Lênh đênh sông hẹp bỏ trùng dương
Chiều nay ta thấy ta rời rã
Nhan sắc hồng lâu nguội phấn hương

Duyên Anh
(Bài Ta, 1987 trong tập thơ Em, Tôi, Sàigòn và Paris)

Với tâm sự ủ ê như thế. thật sự tôi chẳng thiết gì cuộc sống lưu vong vô vọng. Tôi đã 53 tuổi, chết là vừa. 53 tuổi, tôi đã trải đời tôi theo vận mệnh của đất nước tôi.

10 tuổi tôi đi đếm xác người quê hương tôi chết đói trên vỉa hè, dưới gầm cầu. Tôi đã mở to đôi một nhìn con người chết đói từng giây. Chết thật nhanh. Tôi đã thấy người mẹ chết, đứa con nhay vú mẹ rồi chết theo. 10 tuổi, tôi chứng kiến Nhật đảo chính Tây, chứng kiến kiếm thép to bản của giặc lùn chặt đứt bàn tay của những đứa bé bằng tuổi tôi nghèo đói, ăn cắp thóc nuôi ngựa Nhật; tôi chứng kiến cách mạng 19-8-1945 và tôi chạy theo cách mạng mà hò hét mà sung sướng.

11 tuổi tôi nhìn Tầu phù sang nước tôi tước khí giới Nhật. Tôi đã hình tưởng quân của Mã Viện, của Ô Mã Nhi, của Trương Phụ, của Tôn Sĩ Nghị.

12 tuổi tôi chứng kiến tiêu thổ kháng chiến.

15 tuổi, tôi chứng kiến giặc Pháp đốt nhà, bắn giết, hãm hiếp đồng bào tôi.

19 tuổi. tôi chứng kiến giặc Pháp thua, quân ta chiến thắng. Và cũng 19 tuổi. tôi làm chuyến phiêu lưu quá xa với tuổi tôi và thời của tôi. Tôi lại chứng kiến cách mạng nhân vị phản phúc, chứng kiến loạn sứ quân tân thời, chứng kiến đảo chính, chứng kiến thoán nghịch, chứng kiến chiến tranh tàn phá đất nước tôi. Cuối cùng, tôi chứng kiến cộng sản vào Sài gòn. Và tôi bị cộng sản giam nhốt 6 năm qua 3 nhà tù, 2 trại lao cải.

49 tuổi, tôi làm thuyền nhân, nằm ăn mày ân huệ định cư 6 tháng ở nhà tù thế giới tự do. Tôi tiếp tục chứng kiến… Kể ra kiếm một nhà văn lớn dần theo những biến cố chó đẻ của lịch sử và có trí nhớ tốt, biết ghi nhận biết suy nghĩ như tôi cũng hơi hiếm. Rốt cuộc, sang đến Paris, nhìn sang bên bờ Đại Tây dương bên kia, tôi buồn nôn. Vẫn nối tiếp những “biến cố” bắt chửi thề. Tôi hoàn toàn tuyệt vọng dẫu tôi đã sống trọn vẹn với những đau thương của quê hương tôi, của thời đại tôi.

Rất may, tôi còn tìm được một niềm an ủi cuối đời ở một số người tuổi trẻ, những người bạn tuổi nhỏ của tôi. Thế là tôi bèn thèm sống thêm vài năm nữa. Để trao đổi kinh nghiệm sống, kinh nghiệm viết và kinh nghiệm chiến đấu với các bạn tuổi nhỏ của tôi. Tôi thắp sáng một ước mơ mới thay thế ước mơ trong tù đã tắt ngóm.

 

 

-10-

Vụ ngô thu hoạch bết bát nên chúng tôi bị thổi “ác-mo-ni-ca” có hai mươi ngày. Hai mươi ngày sáng ngô, trưa ngô, chiều ngô. Răng đã hư vì mày của bo-bo, bao tử đã loét vì mày của bo-bo, bây giờ đến mày ngô vàng, tức là bắp đá. Ngô già luộc cả đêm, cạp muốn rụng răng, nhai muốn lệch quai hàm. Hùng nhí cầm “kèn”, không dám “thổi”, Nó đi xin mì vụn sống cầm hơi đợi thu hoạch vụ khoai. Và vụ khoai trúng lớn. Chúng tôi ăn khoai ròng rã ba tháng. Khoai ăn nóng ruột. Nhưng nhuận tràng. Tù nhân đăng ký… đi cầu tối và sáng sớm. Suốt đêm, đạn tiểu liên chơi ra-phan. Nhuận tràng quen thói hoá tiêu chẩy. Tiêu chẩy biến chứng rất nhanh sang kiết lỵ. Y tế của Sa Ác B chỉ có …Xuyên tâm liên (1). Xuyên tâm liên vô hiệu quả thì bác sĩ Thạch phát thứ thuốc tiêu chẩn uống cầm ngay nhưng táo bón và kiết lỵ thì thuốc chích Emitine lạc hậu đã đầu hàng. Khoai ăn liên miên, tù nhân kiết lỵ hơi nhiều, anh em cứ nhè các đội nông nghiệp mà chửi.

Bác sĩ Thạch kê cái bàn giữa sân trước giờ kẻng báo tập họp lao động. Tù nhân hình sự khai bệnh nằm nhà rất đông. Thời gian này. Sa Ác B có thêm một cán bộ trực trại. Ông thầy này tên Nguyễn Tấn Độ. Thầy Độ da ngăm ngăm đen, mắt trắng dã, rất ưa đinh tù hình sự. Nét độc đáo của thầy Độ là thầy “phản động” nói ngọng. Toàn thể các đồng chí của thầy hóa N. Riêng thầy hóa L. Đám tù hình sự khai bệnh nằm nhà phải ngồi dưới gốc cây gần “phòng mạch” của bác sĩ Thạch, đợi thầy tới khám bệnh lại. Thầy xăn tay áo, gỡ đồng hồ. Thầy bắt từng tù nhân hình sự đứng dậy. Chỉ cần bác sĩ Thạch lắc đầu là thầy đinh tù tại chỗ về tội khai bệnh láo. Nhưng bác sĩ Thạch gật đầu lia. Bác sĩ đã cho nghỉ rồi mà. Tù chính trị thoát cảnh tái khám. Ròng rã 15 tháng ở Sa Ác B, tôi chưa hề thấy cai tù đánh đập tù nhân sĩ quan cải tạo, công chức cải tạo và phản động, trong trại và ngoài bãi. Một vài tù nhân phản động bị đánh thì đều thuộc thành phần phản động cà chớn, phản động vượt biên. Vượt biên là tù chính trị. Trung gian vượt biên lại là tù hình sự. Tôi có cảm tưởng cộng sản đã lố bịch hóa cái nghĩa tù chính trị. Cho nên, thế giới đã lắc đầu vì con số 1 triệu tù nhân chính trị sau 1975.

Phải thành thật nói điều này: Cai tù ở trại lao cải không hề chửi bới tù nhân một cách tục tĩu. không hề dùng roi vọt quất tù nhân, bắt tù nhân lao động. Vệ binh ghét tù nhân nào thì gọi tới giáo dục Nội quy.

– Anh cải tạo mấy năm rồi?

– Ba, cán bộ.

– Thuộc Nội quy chưa?

– Thuộc.

– Đọc điều bốn.

-“Trại viên phải triệt để tuân hành mệnh lệnh và chỉ thị của cán bộ”…

-Tốt.

Nó có thuộc Nội quy đâu. Mọi điều nó bắt mình đọc, cứ đọc điều một là nó sướng phổng mũi. Đứng đực hay nói không thuộc, sẽ bị nó giáo dục lung tung, giáo dục mỏi chân. Đi lao cải phải thông minh, mồm mép đỡ…học tập. Đi lao cải mà ngu thì vất vả. Thật thà thì lại càng vất vả.

– Anh bảo tuân hành mệnh lệnh cán bộ sao anh không tuân hành mệnh lệnh tôi?

– Cán bộ ra lệnh gì?

– Tôi gọi anh.

-Tôi điếc, cán bộ ơi!

– Thế hả? Thôi thông cảm. Có điếu thuốc lá nào không?

Còn quản giáo có quyền tập họp cả đội mà “lên lớp”:

– Các anh vô lương tâm, thiếu tình cảm gia đình, không chịu cải tạo tiến bộ, ngồi chờ vợ con thăm nuôi.

Đó là về lao động lề mề. Đánh nhau, chửi nhau thì nó “lên lớp”:

– Các anh không thương nhau, ai thương các anh?

Một tù nhân ăn cắp củ khoai, bắp ngô, trái mướp, nó lên lớp:

– Tưởng các anh sĩ quan, trí thức miền Nam là ghê lắm. Các anh cũng ăn cắp. Ăn cắp là xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa.

Sa Ác B không có ai “ăn vụng thịt dưới nhà bếp, ăn tranh phần khoai và cháy của heo” nên tôi không hiểu cai tù sẽ “lên lớp” nhục nhã chừng nào.

Tuyệt nhiên, cai tù cộng sản không “đù cha,đéo mẹ” tù nhân lao cải, không “mày tao” và không xử dụng ngôn ngữ mất dậy để mắng mỏ tù nhân.

Thầy trực trại Nguyễn Tấn Độ mềm dẻo với tù chính trị bao nhiêu thì cứng rắn với tù hình sự bấy nhiêu. Nhưng thầy không thể cứng rắn với đồng chí Amibe vĩ đại “sống mãi trong sự nghiệp” kiết lỵ. Chính thầy đã bị đánh dội ra khi thầy vào nhà kiểm soát nếp sống văn hóa mới. Mùi phân kiết lỵ tanh tưởi. Nhiều tù nhân “con bà phước” kiệt sức không thể lết vào cầu, leo lên bục. Nên hoặc chơi tại chỗ, hoặc chơi dưới sàn nhà. Ruồi nhặng vo ve. Thêm nạn chuột ngày ngao du máng cầu, đêm phiêu lưu chỗ tù nhân ngủ kiếm chác quà thăm nuôi. Chuột đem phân kiết lỵ lên quần áo người ! Chúng tôi đã ăn, uống, hít, thở, ngủ bằng dưỡng khí nặng mùi phân kiết lỵ. Không ai chết cả. Thếmới là phép lạ. Con người bị tiêu hao, xoáy mòn thì trông rõ. Sức đề kháng của con người Việt Nam thật kỳ ảo. Bọn Mỹ nằm nhà tù lao cải thì chỉ có chết.

Tuy nhiên, khoai cũng làm khởi sắc nhiều tù nhân hợp khoai. Đám hình sự xì ke, trộm cắp mập mạp trông rõ. Vào thời kỳ “lao động là vinh quang” khoai, tôi nhận được thuốc men, quà cáp của nhóm Amnesty International ở Lannion miền Bretagne, Pháp gửi về địa chỉ gia đình tôi. Con tôi thăm tôi cho biết AI đang ráo riết can thiệp cho tôi được trả tự do. Tôi bình tĩnh chờ đợi ngày cộng sản phải thả tôi ra. Cũng vào thời kỳ này, Sa Ác B xuất hiện một “nhân vật” cai tù quan trọng: thầy giáo dục Mai Sơn. Công tác đầu tiên của Mai Sơn là thử tài vẽ của Đằng Giao và Nguyễn văn Thương, giáo sư trường Mỹ thuật. Đằng Giao bị chê vẽ thiếu phẩm chất. Anh ta cố tình bôi bác để khỏi bị vẽ. Nguyễn văn Thương được chấm. Tác phẩm của Nguyễn văn Thương cảm hứng từ khẩu hiệu thi đua: vượt cờ xanh. giành cờ đỏ, bỏ cờ trắng. thăng cờ vàng được thể hiện trên cái panneau to tướng dựng trước mặt tù nhân khi ngồi tập họp lao động. Nó như vầy: Xe cải tiến biểu tượng của cờ xanh, xe vận tải biểu tượng của cờ đỏ, máy bay phản lực biểu tượng của cờ trắng, hỏa tiễn biểu tượng của cờ vàng. Tôi hiểu sự xỏ lá kềnh của Nguyễn văn Thương. Cờ đỏ cộng sản mới chỉ là xe vận tải. Cờ vàng quốc gia mới là hỏa tiễn. Anh Thương đưa ý kiến, Mai Sơn “nhất trí”. Và tù nhân khoái chí.

Công tác thứ hai của Mai Sơn là thực hiện một ngày lao động xã hội chủ nghĩa liên khu ABC mở con đường từ cầu sông Ray ra Long Khánh. Ngày lao động xã hội chủ nghĩa là ngày chủ nhật. Mai Sơn phát động thi đua giữa ba khu ngày đó. Vậy cần tin tức nóng hổi để phát thanh tại chỗ gây khí thế lao động. Nó lập ban văn nghệ khẩn trương, rồi nó gọi Phạm Long và tôi “làm việc” với nó:

– Anh nào là Phạm Long

– Tôi.

– Anh đã cộng tác với đài phát thanh nào?

– VOF.

– Đài địch hả?

– Đài Tiếng Nói Tự Do.

-Tự do mẹ gì, phản động nặng! Anh làm cái gì?

– Tôi viết tin và đọc.

– Anh nói cách đọc tin của anh cho tôi nghe?

Phạm Long mỉm cười:

– Thì nói như tôi đang nói.

Mai Sơn bĩu môi:

– Thế mà địch nó cũng thuê anh?

Nó quay sang tôi:

– Anh chắc là Duyên Anh rồi?

Tôi đáp:

– Phải.

– Bao nhiêu năm tay nghề báo?

– 15 năm.

– Báo lá cải hả?

– Lá cải.

-Bao nhiêu năm tay nghề tiều thuyết.

– 15 năm.

– Tiểu thuyết ba xu chớ mẹ gì! Anh biết làm thơ không?

– Biết.

– Anh có biết mắt của thơ không?

– Không.

– Mỗi bài thơ đều có mắt đấy.

Tôi không đủ can đảm để hỏi ông thầy giáo dục Mai Sơn, đại diện của Tố Hữu, ngoài mắt, thơ có mũi, miệng, tai, rốn và hậu môn?

– Anh biết viết tin không?

– Biết.

– Tin ngắn và tin dài khác nhau thế nào?

Tôi chợt nhớ Thanh Tâm Tuyền nói về truyện ngắn, truyện dài. Bèn trả lời:

– Thưa cán bộ, tin ngắn là tin không phải tin dài và tin dài không phải là tin ngắn.

Nó quắc mắt:

– Anh dở trò phản động cộng lưu manh hả?

Rồi nó đuổi Phạm Long và tôi về. Nó nhún vai rất ngạo mạn:

– Sài gòn không có tài năng!

Thầy tu Phạm Long khoác tay lên vai tôi:

– Đ.m. cộng sản con hỗn hơn cộng sản ông nội. Nó dạy sư tổ nó cách viết tin cắc ké và đọc tin bằng Ô-pạc-lơ xách tay! Anh buồn không?

Tôi cầm tay Phạm Long:

– Cậu sẽ kể kỷ niệm này cho Phạm Hậu, Phạm Huấn nghe. Chúng nó sẽ cười vỡ nước Mỹ.

Mai Sơn khoái trò bầy hương án sáng chủ nhật. Nó nói về kinh tế, xã hội, chính trị miền Nam. Thằng này mang quân hàm thượng sĩ. Hễ mở miệng nói về văn hóa. Nó không quên tôi: “Văn hóa miền Nam toàn bọn nhà văn lá cải, thí dụ tiểu thuyết ba xu của Duyên Anh”. Một hôm nó nói về phòng Hạnh Phúc (2) nằm trong nhà thăm gặp. Nó bảo tù nhân nào xuất sắc đoạt giải thi đua lao động sẽ được ngủ với vợ suốt một đêm và miễn lao động hai ngày. Nó đem vợ tù nhân ra treo giải thưởng và ban ân bố đức. Nó thi hành chính sách đốn mạt của Đảng nó.

Phòng Hạnh Phúc, cái phòng khốn kiếp này, chỉ dành cho tù nhân phụ trách thăm nuôi, y tế trật tự, văn hóa. Mà Sa Ác B có một tù nhân chính trị duy nhất được làm y tế: bác sĩ Thạch. Mai Sơn nham nhở như Amibe. Nó thao túng Sa Ác B nhờ có thầy đỡ đầu ở Bộ nội vụ. Nó qua mặt giám thị Hiểu. Mai Sơn còn khoái trò tổng vệ sinh chủ nhật. Nó huy động vệ binh, quản giáo bắt tù nhân đem hết chổi cùn dế rách ra sân, lục tung hành lý kiểm tra tỉ mỉ. Lúc ấy, sân trại là chợ trời.

Nhưng mà “tác phẩm” đáng kể của nó là xây một cái hồ chứa nước mưa bằng đá. Bốn đội bị động viên xuống sông Ray vác đá tảng lên bờ. Có đội của tôi. Tháng 11 đã lạnh lắm. Buổi sáng đầy sương mù. Ra bãi lao động, chúng tôi thường sưởi ấm ở những gốc cây đốt còn hồng rực than. Thế mà chúng tôi phải trần truồng lặn xuống sông Ray móc đá trôi tới tự kiếp nào bê lên xếp đống trên bờ. Cho cai tù có nước mưa trong mùa nước lũ. Tôi sẵn bệnh bao tử, thêm bệnh dị ứng da. Hễ dầm mưa một lát, y rằng mu bàn tay đỏ ửng, ngón tay ngứa ran rồi mông, đùi ngứa ran. Tôi đã lặn dưới nước những sáng mùa đông. Bệnh dị ứng da của tôi sợ…tự kiểm, hết dở chứng! Tưởng đã sưng phổi. Tôi chả hiểu tại sao chúng tôi không có ai bị sưng phổi. Lạnh nó bắt đói. Đói nó làm lạnh gia tăng. Vài cục đường chẳng đủ chống lạnh. Tôi mới thấy hình phạt của thù hận gớm ghiếc quá. Một tháng lặn sông mò đá thì cũng như tổ tiên mình đã “xuống biển mò ngọc trai”. Có lẽ, đau xót hơn tổ tiên, vì chúng tôi bị mò đá giữa kỷ nguyên “độc lập, tự do, hạnh phúc”, kỷ nguyên “không còn người bóc lột người”, kỷ nguyên “tôn trọng con người”, kỷ nguyên của “chủ nghĩa ưu việt, , của “hòa giải dân tộc”, kỷ nguyên của người Việt Nam đối xử với người Việt Nam tàn tệ và tồi tệ hơn cả thực dân, phát xít, đế quốc. Nghĩ đến thù hận, tôi cảm hứng viết bài thơ tù:

Thư tù

Gửi cho anh đôi mắt
để anh ráp trên khuôn mặt hận thù
Nó sẽ biết nhìn sự trơ trẽn ngục tù
và nó thấy nó bọ hung lầm lũi

Gửi cho anh cái mũi
để anh ráp trên khuôn mặt hận thù
Nó sẽ biết ngửi mùi tanh tưởi cachot
và nó thấy nó côn trùng câm nín

Gửi cho anh cái miệng
để anh ráp trên khuôn mặt hận thù
Nó sẽ biết ăn thực phẩm trâu bò
và nó thấy nó nghìn năm rác rưởi

Gửi cho anh cái lưỡi
để anh ráp vô họng hận thù
Nó sẽ biết tập tành nói chuyện thương yêu, lãng mạn, mộng mơ
và nó thấy nó xụt xùi muốn khóc

Gửi cho anh bộ óc
Gửi cho anh trái tim
Gửi cho anh ái tình
Gửi cho anh cuộc đời dạt dào cảm xúc
Gửi cho anh con người hào hoa đích thực
Gửi cho anh
gửi tặng hận thù

Tôi cũng nghĩ cả đến lòng trắc ẩn của những kẻ làm chúng tôi đau khổ, nhìn chúng tôi đau khổ, tưởng tượng chúng tôi đau khổ và đã quên chúng tôi vẫn đau khổ. Than ôi, “mặt trời soi trên kẻ ác cùng người thiện, mưa cho người công nghĩa cùng kẻ bất nghĩa” thì lòng trắc ẩn ở chỗ nào nhỉ? Tôi làm tiếp bài thơ tù:

Lòng trắc ẩn

Con chuột đã chui vào
ăn hết phần cơm anh để dành khuya đói
chẳng cho anh ngủ yên khi anh đã rã rượi
nó cắn chân anh bắt anh thức với niềm đau

Con dán đã chui vào
bơi đùa trong ca nước
Làm sao anh uống được
cổ anh khô mà cánh nó ướt nhầu

Con thạch thùng đã chui vào
thở than sám hối
nó muốn linh hồn anh chới với
sáng hôm sau tự khai vỡ máu trong đầu

Con muỗi đã chui vào
đốt anh sưng vù mặt
nó thích anh mở to đôi mắt
nhìn đêm đen chua chát nỗi đời

Nhưng một hôm
anh tha thiết yêu người
Con dán thương anh ngậm đầy oan khổ
con thạch thùng nhìn anh tư lự
con muỗi cong lưng chích còng xích ngục tù
con chuột gặm cửa sắt cachot

Em yêu dấu
thấy chưa
lòng trắc ẩn

Ở thời đại tôi và với đồng bào của tôi, lòng trắc ẩn, hình như , đã tê liệt. Và tôi đành nhận lòng trắc ẩn của con dán, con thạch thùng, con muỗi, con chuột, nhân danh tất cả những gì tôi biết về thống khổ, về thù hận, về hình phạt của thù hận.

Cực hình lặn sống mò đá kéo dài đến cuối tháng 12-1979. Tôi lại về với gốc cây, xe cây và gò mối.

o O o

Chuẩn bị đón Tết, TH6 tuyển lựa các nhân tài cho văn nghệ, thể thao. Mỗi khu sẽ có một hội tuyển bóng đá, một hội tuyển bóng chuyền. Trước đó, mỗi Nhà có một hội bóng chuyền giao đấu đề chọn cầu thủ vào hội tuyển. Văn nghệ duy nhất một đội cho liên khu gồm nhạc sĩ, ca sĩ, kịch sĩ tân cổ. Ông cựu giám đốc Viện âm nhạc và kịch nghệ Huế làm chánh chủ khảo chấm điểm nghệ thuật…tù. Một bạn tù Long Thành kể rằng kiến trúc sư Ngô Viết Thụ (3), giải nguyên khôi La Mã, người vẽ họa đồ tái thiết dinh Độc Lập, đã từng được giao nhiệm vụ vẽ họa đồ xây cất cái điểm canh ở trại Long Thành. Thì ông giám đốc Viện âm nhạc và kịch nghệ quốc gia có sắm vai chánh chủ khảo thi đánh đàn, thi hát ở trại tù là chuyện thường. Chấp kinh phải tùng quyền. Một số tù nhân sĩ quan từ Phước Long về đã lao động làm lược, làm mâm bằng nhôm cho quản giáo đề tránh mưa nắng, cũng là chuyện thường. Nhưng với nhiều anh khó tính – thường là chẳng có chút tài mọn nào – hay bầy tỏ “chí khí” và lòng bất khuất” lãng nhách. Các anh này công kích nhạc sĩ, ca sĩ, cầu thủ và thợ kim hoàn nhà tù. Thanh Tâm Tuyền, hồi mới ở Vĩnh Phú về cuối năm 1981 , thuật chuyện “ca sĩ” Phan Lạc Phúc khiến tôi ngậm ngùi, thương Ký giả Lô Răng vô cùng. Có ai mời nổi Phan Lạc Phúc hát những buổi thân hữu gặp gỡ ăn nhậu, văn nghệ? Anh ta hát hay lắm. Hôm khai trương Đêm Mầu hồng, Sài gòn, Thanh Tâm Tuyền lên hát, Phan Lạc Phúc nhất định “em chả, em chả”. Thế mà vì đổi đời, anh ta đã đứng giữa sân trại lao cải Vĩnh Phú hát vài bài ca cách mạng lấy khí thế cho tù nhân lên đường khổ sai lao động. Mỗi sáng ca vài bài, cả ngày nằm nhà. Đề tồn tại. Đổi 5000 tù nhân vớ vẩn chết lấy một Thanh Tâm Tuyền sống, một Doãn Quốc Sĩ sống, một Lê văn Tiền sống, một Phan Nhật Nam sống, một Nguyễn Hải Chí sống…tôi cũng chịu. Cái sống của những tài năng là cái để lại khi họ chết. Họ còn thiết sống để làm thăng hoa sự để lại. Mà có bao nhiêu tài năng văn nghệ đúng nghĩa, ở miền Nam? Tôi đã bị nguyền rủa thê thảm vì cái ý nghĩ này. Bọn tướng lãnh, nghị sĩ, bộ trưởng nằm tù nên chết hết, nhưng đừng bao giờ chết Phan Nhật Nam. Tôi không phê bình những người nhờ tài mọn mà tránh lao động vất vả, kể cả vẽ chân dung Hồ Chí Minh. Song, những người này đừng giả vờ sắm vai “uy vũ bất năng khuất” khi thoát nạn và đừng gang họng, lột lưỡi công kích thiên hạ để “sáng danh” cái đức bẩn và hèn của mình. Nếu tôi biết hát, tôi sẽ “thi” vào đội văn nghệ; nếu tôi biết đá bóng, tôi sẽ xin vào đội thể thao. Tù đánh đàn, tù hát cho tù nghe. Tù đá bóng, tù đánh bóng cho tù coi. Văn nghệ, thể thao béo bở gì, miễn lao động thì tập dượt tối ngày. Trình diễn xong được bồi dưỡng cơm cháy! Đá bóng chân đất trên sân rừng, vấp gốc cây là đi chơi cái móng. Giao hữu với cai tù, nó đi giầy vải, nó “cộp” sưng vù giò. Mỗi cái vinh đều có cái nhục. Máu văn nghệ tài tử và máu thể thao tài tử nó kỳ lắm, cứ tìm cái nhục mà lao vào. Để được đàn ca, chạy nhẩy. Dân chuyên nghiệp thì lại chán phèo. Bởi thế, những tay đàn cự phách của Sa Ác B không thi vào đội văn nghệ.

Những ca sĩ, nhạc sĩ tù trúng tuyển được chuyển sang khu A. Khu A dễ chịu hơn khu B nhưng lại có cái hầm đá nhốt tù nhân bị kỷ luật. Nghe nói khu A đã một nửa chức sắc tù là hình sự, nửa là chính trị. Khu B và khu C hình sự là cánh tay, là con mắt của cai tù.

o O o

Ngày 30 tháng Chạp, tù nhân nghỉ lao động. Ban giám thị sợ cuối năm, tù nhân nhớ nhà, nhớ vợ, nhớ con sẽ có thể gây ra những bất lợi cho trại nên bầy trò tổng vệ sinh ăn Tết. Nghĩa là tù nhân phải mang toàn bộ hành lý của mình ra triển lãm từng món trên manh chiếu, trên tấm ni lông lớn để vệ binh và quản giáo kiểm tra. Tháo tung hành lý rồi thu dọn hành lý mất nửa buổi. Trực trại loan báo Ban giám thị cho phép hát nhạc vàng ba ngày Tết. Những bài ca chỉnh huấn vẫn bị nghiêm cấm. Trại bãi bỏ giới nghiêm đêm giao thừa. Tù nhân tự do liên hoan văn nghệ trong phòng khóa cửa!

Người bạn tù Phước Long về Sa Ác B kể tôi nghe một kỷ niệm Tết tù của anh ở một trại lao cải Tây Ninh những năm bộ đội còn quản lý. 29 tháng Chạp, cuốc trúng mìn. Vài người chết. Nhiều người bị thương nặng. 30 tháng Chạp khám xét hành lý. Mồng 1 Tết, Ban Giám thị bắt tù nhân tập họp ở sân trại đề nghe họ chúc Tết, họ gửi lời chúc Tết gia đình tù nhân và tổng kết thành quả lao động năm cũ, đề ra kể hoạch lao động năm mới. Họ yêu cầu tù nhân hồ hởi phấn khởi chào mừng năm mới, không nhớ gia đình, phải cười vui bầy tỏ thiện chí lao động. Tù nhân cả trại không thể cười nổi. Vì các bạn tù. người chết, người chờ chết, người rên rỉ vết thương ở bệnh xá. Vệ binh dí súng vào ót các tù nhân cưỡng bức họ cười, vỗ tay và hát bài “Như có bác Hồ trong ngày vui đại thắng”. Tù nhân bèn cười đủ kiểu. đủ lối. Nhiều người phát khùng vì cười có người vừa cười vừa chửi Hồ Chí Minh. Bị bắn chết. Tôi vội vàng viết bài thơ

Chào

mừng năm mới

Tù nhân tập trung giữa sân trại
nghe giám thị chúc tết mừng thêm một tuổi tù
Hôm qua một đội cuốc đụng mìn
người chết chưa kịp chôn
người mang thương tích còn đang rên xiết
Tù nhân thương bạn
nỗi đớn đau khó nói ra
Giám thị ban lệnh không được nhớ nhà
nhớ vợ nhớ con nhớ cha nhớ mẹ
Chào mừng năm mới
lao động thi đua là đáng kể
Những khẩu AK dí sát gáy mọi người
Cười
Cười
Cười
Cười
không cười chưa tiến bộ
Tù nhân òa lên cười khốn khổ
cười rơi nước mắt cười lệch cả đời
cười lạc giọng cười hụt hơi

Nhưng thế giới chẳng ai biết
ít ngày sau có tù nhân cười hóa điên bị bắn chết

Thế giới chẳng ai biết đã đành, đồng bào của tôi định cư khắp nơi trên trái đất cũng chẳng ai biết. Và cai thầu nỗi khổ đại diện tù nhân càng chẳng biết. Như năm ngoái, ở đây, ngay chiều 30, tù nhân đã được ăn cơm trắng với thịt kho và canh bắp cải nấu xương heo. Tiêu chuẩn thịt khiêm tốn: Mỗi bữa một cục nhỏ hơn nửa nắm tay. Tù nhân hưởng 6 bữa cơm trắng với thịt. Ba ngày Tết thả sức nấu nướng. Từ chập tối, không khí giao thừa đã sôi nổi. Đây là dịp may của mấy ông ái quốc biểu diễn miệng. Nổi đình đám nhất ở Nhà tôi vẫn là ông Phạm Thái Ất. Ông Thái Ất nhất định không cho ai ngủ. Ông ta đơn ca bài “Dậy mà đi”! ông vỗ tay rất nổ. Một tù nhân khó chịu.

– Tôi chưa ngủ. Tôi thức trắng đêm nay. Nhưng cửa khóa chặt. Dậy đi đâu, anh Ất?

Tù nhân khác lên tiếng:

– Vào cầu tiêu đi đái, đi ỉa! Đi cái mồm. Những thằng to mồm không được tích sự gì cả.

Ông Phạm Thái Ất im lặng. Vì người lên tiếng là sĩ quan Võ Bị quốc gia Đà-lạt. Khi ông Ất hết nổ, văn nghệ thuần túy bắt đầu. Càng về khuya càng buồn. Một tù nhân tay đàn guitare miệng hát “Xuân này con không về chắc mẹ buồn lắm…” khiến cả Nhà sụt sùi. Vệ binh gác Nhà ngồi nghe. Chú nhỏ gọi tôi:

– Anh Nong, anh Nong…

Qua chấn song gỗ của tường vách khoang dưới, chú vệ binh và tôi trò chuyện đón giao thừa.

– Bài anh gì vừa hát nà bài gì đấy?

– Tôi không biết tên.

– Anh thuộc không?

– Không.

– Anh nhờ chép hộ tôi bài ấy nhé?

– Cán bộ thích nhạc vàng à?

-Vàng, xanh, đen, đỏ mẹ gì đâu, bài ấy nàm tôi nhớ mẹ tôi, tôi chẩy nước mắt.

– Cán bộ cũng nhớ nhà, nhớ mẹ?

– Ai không nhớ mẹ.

– Tôi tưởng chỉ tù mới nhớ nhà thôi.

– Các anh tù trong, chúng tôi tù ngoài.

– Cán bộ nói sao?

– Các anh tù trong, chúng tôi tù ngoài. Bảo chúng tôi vào Sài gòn, chúng tôi ham quá. Ai ngờ ném vào rừng già canh gác tù. Anh tính xem, tiền cơm, áo, xà phòng, ninh tinh trừ hết, mỗi tháng còn mấy đồng. Để dành bao nhiêu năm mới mua nổi vé tầu về Bắc. Thế nên hai năm một nần phép, vẫn hủy phép. Chắc nâu nắm mới về thăm mẹ được

– Tôi bốn năm tù rồi.

– Tôi hơn anh hai năm. Anh tù trong còn được gặp mặt vợ con, còn được tiếp tế đủ thứ. Tôi tù ngoài ai thăm, ai cho cái gì?

Chú vệ binh móc gói thuốc thơm mời tôi:

– Hút một điếu Sông Cầu, anh Nong. Tôi mời anh. Tiêu chuẩn thuốc Tết đấy.

Tôi rút điếu Sông Cầu. Chú vệ binh quẹt diêm cho tôi mồi thuốc.

– Anh đáng tuổi cha chú tôi. Ởtrong này, anh thông cảm nhé!

Tôi nói:

– Nhằm nhò gì.

-Các anh thù chúng tôi nắm hả?

– Thù hận chi, cán bộ.

-Này, nói thật, cũng có thằng náo nếu. hống hách nhưng nệnh cả. Nệnh bắt chúng nó náo nếu rồi chúng nó quen thói. Tôi mong các anh về sum họp gia đình hết. Cứ hết trại cải tạo nà tôi có cơ hội về Bắc.

Chú vệ binh hỏi:

– Thuốc thơm ra phết hả?

Tôi đáp:

– Thơm lắm.

Chú vệ binh dặn tôi:

– Nhớ nhờ chép hộ tôi bài ấy nhé!

Rồi bỏ đi. Tôi có nhiều kỷ niệm với vệ binh, toàn kỷ niệm buồn cười. Có chú cứ đến phiên gác đội tôi là ngày vài lần mời thuốc lá.

– Anh Nong.

– Gì, cán bộ?

– Nại bảo.

-Chi?

– Có thuốc ná cho xin một điếu.

Rút điếu thuốc cống thầy, thầy sai:

– Nại bếp nấy giùm tí nửa.

Có chú xin thuốc nhưng sợ bị “đồng chí” biết, bảo tôi vất một chỗ rồi ra lượm. Có chú bắt tôi cầm con rắn giơ cao. đứng giữa nắng thật lâu vì tôi “đang nao động mà đánh rắn nại còn cãi cán bộ”. Hôm đó, tôi đập chết con rắn bò gần chỗ tôi, chủ ý tặng anh em nướng chia nhau mỗi người một miếng. Vì hết thuốc cống thầy, bị thầy xử ức. Tôi chưa bao gây thù hận mấy chú nhãi chăn trâu cắt cỏ cả. Nói tôi thương hại mấy chú ẩy thì có vẻ giả đạo đức. Nhưng đêm giao thừa 1980, nghe tâm sự chú vệ binh, tôi thương hại thật sự. Chú vệ binh không hiểu câu trả lời thuốc lá “thơm lắm” của tôi. Ởbất cứ không gian và thời gian nào, ở bất cứ hoàn cảnh nào, tình người vẫn thơm lắm Anh sẽ tiêu diệt chủ nghĩa cộng sản, lãnh tụ cộng sản hay tiêu diệt luôn những con người sống trong chế độ cộng sản như chú vệ binh “ai không nhớ mẹ”?

Chú vệ binh cỏn nguyên vẹn cảm xúc “tôi nhớ mẹ tôi, tôi chẩy nước mắt” đi tuần một lúc thì trở lại.

– Anh nào vừa hát bài “Xuân này con không về chắc mẹ buồn nắm ” đấy?

– Tôi.

 Nàm ơn hát nại nần nữa cho tôi nghe. Hay nắm, buồn nắm…

Người tù trong cảm động hát lại. Người tù ngoài cảm động nghe. Giao thừa 1980, với tôi, đầy ý nghĩa. Ý nghĩa ấy soi sáng đường hướng sáng tác và chiến đấu của tôi, dẫu tôi có vì cái ý nghĩa ấy mà bị chụp bủa bằng những ngộ nhận, những hệ lụy chập chùng. Không cần. Điều cần thiết là nhà văn phải sống thật với lòng mình.

…Ô dẫu sao tối vẫn thấy họ rất người
Vẫn thấy họ níu tay đời tha thiết
Mỗt nỗi gì xa xôi cách biệt
Có phải con người hay tại chủ nghĩa phi nhân
Con người sinh ra đã muôn thuở cô đơn
nhưng khao khát gần nhau và thèm gần nhận thêm nữa
Ở chín tầng oan khiên nhục nhã
bỗng tự nhiên tôi yêu quý con người
thiếu con người sẽ thiếu hẳn đất trời
Tôi sống với ai
thơ tôi còn chi để viết

o O o

Mồng một Tết, như năm ngoái, Ban giám thị bày bàn hương án và bắt tù nhân tập họp đề nghe chúc Tết và động viên tinh thần lao động tích cực. Trước khi Ban giám thị xuất hiện, thầy giáo dục Mạo yêu cầu tù nhân văn nghệ lấy khí thế mừng xuân. Tù nhân nhao nhao “Hùng nhí, Hùng nhí”! Tên tù nhóc anh dũng đứng dậy, tiến lên bàn hương án. Nó nhe “hàm răng chiếc rụng chiếc lung lay” cười khì. Tù nhân vỗ tay hoan hô. Hùng nhí cầm mi-cô của cái máy phát thanh chạy pin, hắng giọng hát không đàn đệm:

… Ta thắp lửa bên con cua đồng
Ta thắp lửa bên lũy tre xanh
Quê hương ta từ ngày làm tương lai
bằng AK bằng lựu đạn 
(4)

Thầy giáo dục Mạo vội vàng chụp mi-cô và đuổi Hùng nhí về chỗ. Văn nghệ lấy khí thế chấm dứt ngay. Tù nhân bầu Hùng nhí là: “người của năm 1980”. Ban Giám thị chúc Tết xong đến lượt các thầy quản giáo xông nhà thăm các đội của mình. Các thầy mang theo mứt Hà nội và thuốc lá Hoa Mai. Lại văn nghệ trong Nhà. Cái đinh văn nghệ của Nhà tôi là Tạ Dung thuộc đội của Đằng Giao. Tự nhiên, anh tù nhân Vovinam đầy mình “đờ mi tốc đờ mi phu” này xuất chúng một màn tự biên tự diễn. Tạ Dung, cháu chín đời Kim Mao sư vương Tạ Tốn, mào đầu:

– Thưa quý cán bộ, thưa các bác, các chú, các anh. Nhân dịp xuân về, Tạ Dung xin cống hiến quý cán bộ và cả Nhà ta màn văn nghệ đặc biệt. Tạ Dung đóng vai người đi từ Bắc vô Nam. Trước hết, anh ta ở Hà nội.

Tạ Dung hát cò lả, trống quân. Đến Huế, anh ta chơi hò mái đẩy. Vô Sài gòn. anh ta hò lơ.

– Bây giờ, người này trở về Bắc.

Tạ Dung đã đi đến cửa cầu tiêu, anh ta trở lại, hát nhạc Phạm Duy. Tạ Dung nhắm mắt giả vờ mù và bước khập khiễng giả vờ què.

– Ngày trở về, anh bước lê, trên quãng đường quê đến bên lũy tre….

Quý cán bộ chán quá, vất mứt Hà-nội và thuốc lá Hoa Mai cáo từ vội vã. Tù nhân vỗ tay sôi nổi. Tạ Dung số một. Tạ Dung đâu có khùng. Anh ta tiên tri ngày tháo lui của cộng sản. Trong ba ngày Tết, đội múa lân khu A vào biểu diễn. Rồi bóng chuyền khu A và C vô đấu vòng loại với khu B. Vân vân. Những tiết mục giải trí nghèo nàn này không hấp dẫn tôi. Nó chỉ làm tăng cái vẻ thê lương của đời tù lao cải. Đằng Giao và tôi có dịp bách bộ quanh trại,gần hàng rào kẽm gai, tâm sự vẩn vơ Tôi chú ý hàng rào. Hồi tôi mới đến Sa Ác B, hàng rào thấp và thưa, cột bằng cây rừng. Bây giờ, hàng rào cao, dầy, cột sắt và bốn góc là bốn chòi canh bố trí súng trung liên.

– Ông thầy, ở bên Mỹ người ta đang làm gì?

– Chuẩn bị ra báo số Tân Niên.

-Tôi muốn, sau này, ông thầy viết một tiều thuyết mộng và thực lồng vào nhau như Tiêu Sơn tráng sĩ. Nhân vật của ông thầy là một thôi, không phải hai Phạm Thái và Quang Ngọc, Quỳnh Như và Nhị Nương. Nhân vật ấy đang ở nhà tù, ở trại lao cải thì thoát ra nhập vào đời sống Mỹ. Nghĩa là, vừa mới vục phân dưới hầm, anh ta đã đi nhẩy đầm tíu tít. Rồi một chút suy nghĩ dưới hầm phân và trong phòng trà.

– Ý kiến hay.

– Một định nghĩa về đau khổ và hạnh phúc.

– Ông đã nghĩ chuyện sang Mỹ chưa?

– Không bao giờ..

– Tại sao?

– Tử vi vẽ sẵn con đường xuất ngoại của tôi: Mã lộ cùng đồ, ông thầy đi chứ?

– Phải đi thôi.

– Rồi ông thầy cũng sẽ cô đơn.

– Con người sinh ra đã cô đơn, lầm lỗi trên sinh đạo. Bếp lửa của Thanh Tâm Tuyến đã thét nỗi thét cô đơn đó.

Đằng Giao chỉ lên cây cổ thụ ngoài cổng trại:

– Ông thầy, lạ quá.

Tôi hỏi:

– Gì?

– Cây cổ thụ cũng trổ hoa. Ngắm đi, ông thầy. Đóa hoa tuyệt đẹp. Chỉ tiếc mình không hít được hương vị của nó.

Tôi ngước mắc nhìn đóa hoa duy nhất trên cây cổ thụ của nhà tù Sa Ác. Tôi chưa hề thấy cổ thụ trổ hoa. Mà cổ thụ đã trổ hoa. Lại trổ hoa ở nơi chốn buồn thảm của đời sống.

-Tôi sẽ viết một bài thơ ngắn.

– Nhan đề?

– Đóa hoa.

Và bài thơ ấy như sau:

Cây cổ thụ bỗng trổ một đóa hoa
Anh nghe giây kẽm gai thổn thức
Tự nhiên kẻng tù hết gầm gừ
âm thanh thoảng gió đàn rạo rực

Và đó là mùa xuân
anh vừa thấy sau nhục nhằn phát vãng
Gã cai tù xem chừng lãng mạn
Cây cổ thụ đã trổ hoa
Lòng suối độc xôn xao tình đá
Những thứ còng 
ở biệt giam
râm ran cảm giác lạ
thèm đôi tay ôm gọn cuộc đời

Họng súng sát nhân mệt mỏi rồi
Thù hận cúi đầu xấu hổ
Bản tình ca
dấy lên tự đất khổ
Cây cổ thụ cũng trổ hoa
tình yêu và hạnh phúc không già

Anh bẻ gai viết nhanh trên lá
những vần thơ ái ân
bồng bế
Rồi con người sẽ yêu nhau
ở khắp nơi trên mặt địa cầu

Tôi đã manh nha một cuộc chiến đấu của con người chế ngự thù hận và hình phạt của thù hận. Trước hết, con người cần phải là nạn nhân khốn khổ của thù hận và hình phạt của thù hận.

(1) Thứ thuốc trị bách bệnh của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

(2) Khi tôi rời Sa Ác B, phòng Hạnh Phúc mới mở cửa. Và một số tù nhân được ngủ với vợ.

(3) Đã cộng tác với cộng sản. Được cho ra Bắc du ngoại. Được cho sang Liên Xô tham quan, về gáy cộng sản điếc tai cả nước.

(4) Tôi không biết tên bài hát này và nhớ mấy câu trên có thể sai vài chữ.

 

-11-

Ba ngày Tết trôi qua rất nhanh. Cái không khí “hòa giải dân tộc” lại bị ngột ngạt bởi màn tự kiểm tập thể, tự kiểm công khai giữa sân tập họp lao động trước khi tiến công hai mặt trận Lao động tích cực, Tư tưởng tiến bộ. Hùng nhí và Tạ Dung bị làm tự kiểm cá nhân, bị hạch hỏi cả tuần lễ. Tù nhân Sa Ác B thì chỉ bị phê bình. . . quá đà nhạc vàng. Nhân vật Phạm Thái Ất nổi bật.

– Anh Ất đâu?

– Anh hò hét to lắm hả?

– Thưa cán bộ, tôi chỉ…vỗ tay!

– Anh thành khẩn chứ?

– Dạ.

– Tốt. Nhưng đừng quên chúng tôi đã không bám sát sinh hoạt của các anh đêm giao thừa.

Tôi vốn không ưa những kẻ anh dũng trong bóng tối và hèn mọn ngoài ánh sáng. Phạm Thái Ất là biểu tượng của hạng người kể trên, nhan nhản trong nhà tù ngoài cuộc đời. Ngạo nghễ phải ra mặt ngạo nghễ. Muốn chứng tỏ mình phủ nhận chính sách cải tạo và pháp lý nhà tù thì hiên ngang khước từ lao động, hiên ngang chối bỏ Nội quy, hiên ngang chống đối cai tù. Bằng không dám, nên nhẫn nhục. Biết nhẫn nhục những việc bình thường, biết nhịn nhục những kẻ tầm thường mới gọi là biết sống. Và còn gọi là can đảm. Khi vẫn cam đành ra bãi cầm cuốc, vẫn cam đành tôn trọng Nội quy, vẫn đứng nghiêm trước mặt cai tù thì không nên chửi bới sau lưng chế độ và cai ngục. Sự chửi bới sau lưng không giải quyết được gì. Nó chỉ chứng tỏ sự hèn nhát khi bị cật vấn và bắt buộc gian dối chạy tội. Lúc ấy lôi anh em ra khỏa lấp nỗi bẽ bàng của mình cái tội “ăng ten”. Chống chính sách cải tạo cần khước từ thăm gặp vợ con, gánh nặng quà cáp về trại. Nghe tên mình đọc thăm nuôi, nhẩy cỡn mắt sáng rực, miệng cười toe mà cứ thích chửi cộng sản thầm thì tôi thấy nó kỳ lắm. Nó gian dối lộ liễu. Và xứng đáng bị cộng sản khinh bỉ. Cũng như một ông nhà văn tôi đã gặp ở Paris. Ông này chửi bới Nguyễn văn Thiệu, Nguyễn Cao Kỳ, Hoàng Cơ Minh hết cả ngôn ngữ chửi bới. Tội ác của Hoàng Cơ Minh, ông ta nêu ra cả một đống. Nhưng ông ta không dám lên tiếng trên sách báo ông ta viện dẫn lý do rất hợp lý. Ông nhà văn này thuộc thành phần anh dũng trong bóng tối và hèn mọn ngoài ánh sáng. Cái dũng biểu lộ với cai tù chăn trâu cắt cỏ là cái dũng của kẻ thất phu, bất trí. Đám này chỉ bị hành hạ và chết sảng. Cái dũng biểu lộ sau lưng cai tù chăn câu cắt cỏ và co rúm trực mặt chúng là cái dũng của kẻ vô lại, đê tiện. Người ta đã có một định nghĩa cho sự im lặng, cho tất cả những con người chịu đựng nghịch cảnh một cách nhẫn nhục và can đảm.

Thủ đoạn cộng sản là bung ra rồi thu lại, là nới lỏng rồi xiết chặt, là cho phép rồi kết tội. Sau Tết 1980, sự kiên trì của Sa Ác B biến thành trấn áp. Không còn cảnh Đậu Phi Lục vung cuốc cao rồi buông lưỡi cuốc từ từ nhẹ nhàng rơi xuống, chẳng cần ngập đất. Không còn cảnh Bùi Hoàng Thư chém cả ngày không đứt một cái rễ cây. Không còn cảnh vừa ra hiện trường lao động là báo cáo đi ỉa. Quản giáo đã kiểm tra chỗ tù nhân ngồi ỉa. Chấm dứt màn giải lao…tụt quần trốn lao động. Lệnh của Ban giám thị: Giới hạn sự đi ỉa ngoài bãi đến mức tối đa. Cái thú thứ hai của người Việt Nam không còn, cái thú được ví với tước vị quận công, ngang cơ Ủy viên bộ chính trị trung ương Đảng: “Thứ nhất Quận công, thứ nhì ỉa đồng”. Số tù nhân khai bệnh nằm nhà giảm gần hết. Bi cảnh lao động diễn ra: Người khỏe cõng người ốm đi lao động; người trẻ dìu người già đi lao động, người què chống gậy đi lao động… Vì lao động là vinh quang, lao động là thước đo giá trị con người. Chủ nghĩa cộng sản tôn trọng con người, đánh giá cao con người, với sức người sỏi đá cũng thành cơm. Con người biến sỏi đá thành cơm nhưng con người khiêm tốn, chỉ ăn bo-bo, cạp bắp đá, nuốt khoai sùng!

Đội 28 nông nghiệp của tôi đã phát quang xong diện tích canh tác. Vì ông già Hoán bị trật khớp xương không thể gánh nước và nấu nước cho đội ngoài bãi, tôi được chỉ định thay thế nhờ “tuổi tù” cao hơn mọi tù nhân trong đội. Công tác nấu nước quá nhàn. Tôi gánh nước ở cái giếng đào cách bếp lộ thiên 200 thước. Máng khúc cây lên móc hai cái xô, chất củi nấu nước. Nước sôi, đi lượm ca cóng của anh em múc đổ đầy để giải lao anh em có nước uống. Đó là phần anh em. Còn phần của thầy quản giáo và hai thầy vệ binh thì nấu ấm riêng, có rễ tranh.Rút kinh nghiệm Đội rau xanh Long Thành, tôi bỏ hai tán đường vào ấm nước rễ tranh, khi đội vô lao, tôi xách ấm nước cầm theo ba cái ly “chế” bằng vỏ chai xá xị và ba điếu thuốc thơm Capstan rỏm cho các thầy thưởng thức. Các thầy ngồi uống nước, đấu láo. Đội muốn làm, muốn nghỉ tại chỗ tùy ý. Đội trưởng Trần Ngọc Lân rỉ tai quyên đường, quyên thuốc lá anh em. Anh em chỉ thích lao động đơn sơ chứ không thích đóng góp. Khi đường và thuốc của cá nhân tôi vừa hết, buổi sáng tập họp xuất trại đầu tháng 3-1980, cán bộ hồ sơ xuất hiện tại điếm canh. Trực trại nói lớn:

– Anh Hồ Hữu Tường, anh Vũ Mộng Long ở nhà.

Tất cả tù nhân đều tưởng ông Hồ Hữu Tường và tôi được tha. Bởi vì hễ anh cán bộ hồ sơ bảo ai ở nhà, người ấy sẽ về sum họp gia đình. Tôi giao xô và đòn gánh cho bạn tù khác, trở lại Nhà. Đào Minh Lượng đang quét sân (ông thẩm phán gầy ốm, lao phổi của tôi được làm vệ sinh Nhà từ lâu) chạy tới chia mừng với tôi. Ngô Đình Hoa chúc tôi về Sài gòn vui vẻ. Đợi các đội xuất trại hết, trực trại Nguyễn Tấn Độ tìm tôi:

– Anh Long đâu.

– Có

– Anh được tha rồi đấy.

Thầy Độ nói nhỏ:

– Những gì quý, anh để lại cho tôi.

Tôi cười:

– Yên chí, cán bộ.

Tôi vất lại tất cả đồ đạc cho Đằng Giao, Dương Đức Dũng, chỉ dồn mấy món “quý” như hộp thuốc, bình thủy, chăn, màn, quần áo,…vào cái túi phân bón tặng thầy Nguyễn Tấn Độ. Tôi mặc bộ quần áo bà ba đen đi đôi guốc do du đãng già Mậu, hỗn danh Già Móng đẽo tặng, theo thầy Độ, cùng ông Hồ Hữu Tường ra văn phòng trực lại. Ở đây, ông Tường và tôi, mỗi người được yêu cầu viết một trang nhận xét về Sa Ác B. Dĩ nhiên, nhận xét của tôi là tốt từ A tới Z. Trực trại Hưng nói

– Được về sớm, sướng nhé!

Nhưng trực trại đã tưởng lầm. Cán bộ hồ sơ đến. Hắn đeo súng ngắn, ôm hồ sơ của ông Tường và tôi

– Các anh chuyển trại. Cơ hội thuận lợi của các anh ở trại mới. Các anh sẽ được tha ở đó.

Người buồn nhất là trực trại Nguyễn Tấn Độ. Tôi đành xách túi đồ định cho hắn lên chiếc Van nhãn hiệu Ford. Ông Tường và tôi ngồi băng dưới cùng. Người ta khóa tay phải của tôi vào tay trái ông Tường, chân cũng thế, bằng hai chiếc còng số 8 made in USA. Xe rời trại. Nó chạy qua chiếc cầu do đội của Dương Đức Dũng bắc ngang sông Ray. Nó chạy trên con đường tù nhân Sa Ác đã mở những ngày lao động xã hội chủ nghĩa.

Giã từ Sa Ác. Giã từ một nơi chốn đã làm vàng ửng nỗi ngậm ngùi của tôi. Giã từ con dốc dài thoai thoải gánh nước leo lên thót bụng, oằn vai. Giã từ hầm phân nhung nhúc hàng tỉ con ròi. Giã từ gốc cây. Giã từ gò mối. Giã từ tất cả những tị hiềm nhỏ mọn, những gian dối đê tiện, những phán xét ngu xuẩn của xã hội vây quanh hàng rào kẽm gai. Giã từ, giã từ. Giã từ và cám ơn con gọng vó suốt đời phấn đấu ngược dòng nghịch lũ, suốt đời khước từ thân phận bèo rác, cây mục cuốn xuôi dòng. Giã từ và cám ơn đóa hoa đã nở trên cây cổ thụ. Tôi lại ra đi. Và chưa biết đi về đâu?

 

Phần thứ hai:
THƠM NỒNG TRÁI ĐẮNG

(Rừng Lá Z30 D)

-12-

Đi về đâu? Tôi không biết. và tôi cũng chẳng cần biết làm gì. Tôi đã đi từ nhà tôi đến Sở Công An thành phố Hồ Chí Minh. Tôi đã đi từ Sở công an đến đề lao Gia Định. Tôi đã đi từ đề lao Gia Định đến khám lớn Chí Hòa. Tôi đi đi từ cái tĩnh này vào cái tĩnh khác. Rồi tôi đi từ khám lớn Chí Hòa đến Sa Ác, tôi đi từ cái tĩnh ra cái động. Tôi có kinh nghiệm này: Cái tĩnh là sự đầy đọa linh hồn, cái động là sự đầy đọa thể xác. Cả hai cộng lại thành một hình phạt của thù hận mà người cộng sản đã tự hào tuyết hận tôi, tuyết hận một nhà văn chống đối họ bằng tư tưởng và chữ nghĩa. Chủ nghĩa tư bản bất lương Mỹ đã phó thác cái sứ mạng trả thù nhà văn nhân bản cho chủ nghĩa cộng sản bất nhân Nga. Không có nhà văn nào tự nhận mình còn lương tri mà không phẫn nộ thái độ xấc xược, vênh váo, chơi cha của bọn Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ ở khắp nơi trên thế giới. Bọn Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ đại diện cho những chính sách, những chủ thuyết hèn mọn của những chính phủ những lãnh tụ tối cao của Nhà Trắng, của Ngũ Giác Đài, của Quốc Hội. Dân tộc Hoa Kỳ đã trở nên kiêu căng, ngạo mạn do cái chính sách ngu muội của “lập pháp” và “hành pháp” của họ với các nước nhỏ, nhất là các nước lệ thuộc vào đồng đô la viện trợ. Nước Mỹ không biết cứu giúp ai. Nước Mỹ không có lòng trắc ẩn. Nước Mỹ chích vào mạch máu tiểu nhược quốc một chai sérum thì sẽ rút ra một lít máu. Nước Mỹ rồi sẽ là Babylone. Hồi chuông báo động một đại hồng thủy mới đã điềm. Con tầu của ông Noé sẽ khước từ cứu vớt dân tộc Mỹ. Hoặc là, dân tộc ấy sẽ chịu lời nguyền như dân tộc Do Thái đã chịu. Dân tộc ấy cần biết đau khổ. Và cộng sản sẽ dạy họ thề nào là đau khổ. Lúc đó, họ sẽ hiểu còng made in USA không phải để cộng sản còng tay những người công chính chống cộng sản, mà còn để cộng sản còng tay người Mỹ tống vào các trại tập trung khổ sai lao động. Lúc đó, người Mỹ sẽ đói, sẽ ăn bọ cạp, thằn lằn, chuột cống cào cào, châu chấu, rắn rết rau rừng, cỏ dại.. Lúc đó, người Mỹ sẽ khiêng bom chưa nổ, sẽ lấp hố bom, sẽ xuống hầm phân. Và, lúc đó họ sẽ thấy họ là con người đích thực, con người nguyên vẹn không giả vờ chẻ đôi, một nửa cứ sát hại nhân loại bằng bom đạn dã man, một nửa cứ nghêu ngao phản chiến rẻ tiền.

Tôi nói thẳng: Tôi chống đối chính sách của Mỹ đối xử với các nước nhỏ nhiệt tình như tôi chống đối chủ nghĩa cộng sản. Tư bản là cộng sản giầu. Mỹ và Liên Xô cùng bản chất gian manh khốn nạn. Hai đứa đang ghét nhau chuyện giầu nghèo. Thề thôi. Chẳng còn ý thức hệ gì cả. Muốn thoát đại hồng thủ, dân tộc Mỹ phải làm cách mạng xóa bỏ chủ nghĩa tư bản để cùng các dân tộc khác, thành tâm và lương thiện xóa bỏ nốt chủ nghĩa cộng sản. Khi hai chủ nghĩa khốn kiếp này bị hủy diệt, tham vọng đê tiện của chúng bị hủy diệt luôn. Loài người sẽ sống hòa bình, hữu nghị, hạnh phúc mà không cần bất cứ một chủ nghĩa nào. Khách quan mà nhận xét mà phê phán hai chủ nghĩa này đã bất lực trong mưu cầu hạnh phúc cho nhân loại. Chúng còn tồn tại ngày nào nhân loại còn phải chới với trong chiến tranh ngục tù và thù hận Vậy nên hủy diệt chúng. Dân tộc Mỹ sẽ lãnh đạo cuộc chiến của Thiên Thần chổng ác quỷ, của con người chống quái vật.(1) Những nhà văn trước khi trở thành nạn nhân của cộng sản đều đã là nạn nhân của tư bản Mỹ. Diễn nghĩa rộng hơn, nhiều dân tộc bị tư bản Mỹ làm mồi dâng cộng sản. Cuba, Việt Nam, Angola, Nicaragua. Sẽ thêm nữa. Bởi vì, ở đâu chính sách Mỹ can thiệp trực tiếp ở đó chính nghĩa cộng sản rực rỡ và sức mạnh cộng sản đuổi Mỹ cuốn cờ chạy dài. Nước Mỹ thay vì xây Đài Chiến Thắng…giả vờ, nên tạc tượng Đại sứ John Dean ôm cờ sao sọc, mặt mày tái mét “nhanh bước chân nhi đồng”. Đừng quên khắc câu nói bất hủ của hoàng thân Sim Matak giữa trái tim John Dean: “Cái chết đối với tôi không quan trọng. Điều quan trọng là tôi đã trót tin người Mỹ”. Tượng John Dean nên dựng ở thủ phủ mỗi tiểu bang Hiệp Chủng Quốc. Để nhắc nhở cái dân tộc ngạo mạn, xấc xược ấy sự thua trận nhục nhã và sự phản bội có chứng cớ. Tất cả những danh từ, động từ, tĩnh từ liên quan tới chung thủy, thành thật, đồng minh, gắn bó, hữu nghị trong tự điền Hoa kỳ cần xóa bỏ. Muốn để lại, cần ghi chú: Chỉ áp dụng cho kẻ thù, không áp dụng cho bạn và đầy tớ.

Tôi là nhà văn, từ biết cầm bút bầy tỏ chính kiến, đã không tha thứ cho cái chính sách ngược ngạo của Hoa kỳ ở nước tôi. Chính sách ấy tạo ra bè lũ tay sai nắm quyền thống trị. Bọn thống trị cầy cáo này ngu dốt, tham nhũng. Chúng nó chỉ có tài ngoan ngoãn vâng lời chủ đàn áp, bóc lột dân tộc tôi. Người Mỹ tuyên bố khai phóng dân chủ, tự do và bảo vệ tự do cho dân tộc tôi. Nhưng người Mỹ đã chỉ thị đầy tớ đâm lưỡi lê chảy máu dân chủ và thắt cổ tự do. Người Mỹ ở Việt Nam khích lệ đầy tớ tham nhũng và ăn chia tiền tham nhũng. Rốt cuộc, dân Việt Nam phải chống cộng sản, chống đầy tớ Mỹ, chống cả Mỹ. Sự mỉa mai nhất của chiến tranh Việt Nam là lính Mỹ, con em của dân tộc Mỹ đã chết nhục như những tên đánh mướn hèn hạ. Họ bị chính sách Mỹ lừa bịp. Họ đâu có được vinh dự hy sinh vì tổ quốc, vì lý tưởng bảo vệ tự do – dân chủ. Họ đã chết thảm trong “cuộc chiến mà họ không được phép chiến thắng” cho bọn tay sai của chính sách Mỹ ăn cắp, phè phỡn. Những cựu chiến binh thất thểu trên quê hương của họ có ai biết Cao văn Viên gửi ngân hàng ngoại quốc bao nhiêu triệu đô la? Có biết Nguyễn văn Thiệu đang giữ bao nhiêu triệu đô la? Như bất cứ một người Việt Nam liêm sỉ nào, tôi đã chống cộng sản, chống chính sách Mỹ và đầy tớ Mỹ. Và tôi bị đay tớ Mỹ cấm viết, cấm luôn cả bút hiệu viết báo theo lệnh của chủ Mỹ của chúng. Tôi nghĩ, đến hôm nay, chỉ còn những thằng nhà văn vô liêm sỉ mới tiếp tục ngửa tay nhận tiền Mỹ làm công tác “văn hóa”. Những thằng nhà văn vô liêm sỉ ấy vẫn viết lách ăn lương khoán của Mỹ và vẫn được cộng sản ca ngợi công khai trên báo chí của chúng. Chỉ những nhà văn liêm sỉ là thất thế và bị vây hãm giữa ba thế lực cộng sản, phản chiến Mỹ và chính phủ Mỹ. Và đôi khi còn bị vây hãm bởi chính đồng nghiệp chống cộng của họ. Chưa kể họ còn bị vây hãm bởi các công ty kháng chiến, các hợp tác xã giải phóng, các tổ hợp phục quốc, các hãng thầu ái quốc và đám văn nghệ sa đích đố kỵ dơ dáy. Nhưng tín hiệu mới của chữ nghĩa dấn thân lúc nào cũng sẵn sàng phóng ra. Hôm qua. Hôm nay. Trong nước. Ngoài nước. Là người, không ai biết cúi mặt. Sự ngẩng mặt có thể dẫn vào tù, dẫn ra trại tập trung, dẫn xuống hầm phân, dẫn đếnn nơi chốn nào khác mình chưa biết, dẫn băng ngõ hẹp, đường hẹp, dẫn qua cửa hẹp, dẫn đến sự sống. Khi đã đến đích của sự sống, cái chết vô nghĩa, cái tồn tại mới đáng kể. Bởi vì, cái tồn tại là cái gì để lại sau lần chui qua cửa hẹp.

Tôi đang đi trên con đường hẹp. Con đường hẹp dẫn tôi vào Rừng Lá. Là đây, trại lao cải Z30 D. Bên kia dẫy núi Mây Tào là TH6 Đồng Nai, bên này là Z30 D Thuận Hải, một tỉnh gồm Phan Rang, Phan Thiết, Hàm Tâ. Bí số của các trại tập trung khổ sai lao động tỉnh Thuận Hải là Z . Z30 D là một trong những Z30 từ A, B, C. D đến H, I, K, L, M. . . Từ quốc lộ số 1 , cây số nào tôi không nhớ, rẽ bên phải, đi khoảng hơn nghìn thước là tới Z30 D, K1. Khu vực này, trước 1975 là Rừng Lá hãi hùng. Du kích Việt cộng ẩn núp nơi đây, thường chặn xe đò tuyên truyền và xin “ủng hộ” tiền bạc. Đáng lẽ phải gọi là rừng Buông vì đa số cây rừng là cây Buông, thứ cây chỉ dùng được đọt lá. Cây Buông thích hợp đất cát. Rễ của nó giống hệt chùm râu ăn không sâu những tóe ra khoảng đất rộng. Thân nó như thân cây dừa nước. Hai mươi năm Buông mới trổ hoa, kết trái. Và chết. Tuổi thọ của nó vỏn vẹn hai mươi năm. Trái cây Buông có chất độc. Người ta xử dụng để thuốc cá suối cạn. Rang khô, tán nhỏ ném xuống suối, cá sẽ nổi lên ngáp ngáp. Đọt lá của nó để đan quạt, đan giỏ… Lá già để lợp nhà, làm tiếp. Thân nó vô tích sự. Nó nằm mục đợi nấm mọc mùa mưa. Có hai thứ nấm ngon nhất và quý nhất. Là nấm mối và nấm Buông. Nấm mối nở trên gò mồi. Nấm Buông nở trên thân Buông. Sau 1975, cộng sản dùng sức người của tù nhân phát quang khu rừng lá Buông, xây dựng một trại tập trung mang bí số Z30 D. Trại này di chuyền từ Thủ Đức thuộc thành phố Hồ Chí Minh ra nên vẫn giữ tên cũ Thủ Đức Z30 D Con đường đất lớn ngoài quốc lộ dẫn vào trại là do tù nhân phạt rừng, hạ cây đào đất mà đắp.

Z30 D có ba K, cũng như ba khu. K là K2 và K3 K tôi đến là K1 . Thủ tục nhận tù mới nhập trại ở Z30 D rất đơn giản. Có lẽ tù mới chỉ có hai tên. Người ta mở còng cho chúng tôi trên xe. Chúng tôi xách hành lý bước xuống. Tôi ngơ ngác nhìn một…dinh thự! Phải tôi đang đứng giữa sân trải đá răm xen lẫn sỏi của một dinh thự, chắc chắn, lớn hơn bất cứ một Bộ nào của nước Việt Nam cộng hòa ở Sài gòn. Sân có nhiều mảng vườn trồng hoa. Cỏ bên lối đi trải đá răm xanh um, tỉa xén và chăm sóc công phu. Những dẫy nhà nền cao, mái ngói đỏ au. Tôi không thấy cái vẻ “lao cải” ở đây. Ai dám bảo đây là nơi của chúa ngục, là nơi nhận chỉ thị đầy đọa tù nhân?

Người ta làm thủ tục nhập trại cho chúng tôi rất nhanh trong một căn phòng sàn lót gạch hoa cửa sổ thoáng mát. Anh cán bộ hồ sơ của TH6 từ giã chúng tôi. Anh ta nói:

– Ở đây, trại sẽ tạo mọi cơ hội thuận lợi cho các anh về sum họp gia đình. Tôi bảo đảm với các anh , trại nầy là trại cuối cùng của các anh. Các anh sẽ được tha ngày rất gần.

Chúng tôi được dẫn sang trại đối diện cái dinh thự gọi là cơ quan. Cơ quan vắn tắt. Trật tự của trại khám xét hành lý của chúng tôi, khám xét thân thể chúng tôi dưới sự giám sát của cai tù. Cộng sản đã lên án chính sách chiến tranh hóa Việt Nam của Mỹ. Nghĩa là họ chửi Mỹ dùng Việt Nam tàn sát Việt Nam. Cũng thế cộng sản dùng tù nhân khám xét tù nhân hạch hỏi tù nhân, làm khó dễ tù nhân. Sau màn kiểm tra người và vật, chúng tôi được dẫn vô một căn nhà. Tôi lại ngạc nhiên căn nhà tù tường gạch cửa sổ gỗ chấn song sắt, mái lợp fibro ciment. Căn nhà có kho, có kệ chứa thực phẩm của tư nhân và nồi niêu, ca cóng; có cầu tiêu bàn xối nước, có hồ nước lớn. Hồ nước xây bên trong nhà cầu tiêu có ba phòng, có sàn tắm. Căn nhà hai tầng kiều TH6 nhưng gỗ bào nhẵn làm sàn gác có kệ để hành lý. Tầng dưới lót gạch hoa, có hầm để hành lý cá nhân đậy nấp gỗ ngay đầu mình. Có hàng chục căn nhà và mỗi căn thuộc quyền xử dụng của một đội dưới 50 tù nhân.

Z30 D, K1 có hai khu. A và B. Khu A là khu kiểu mẫu của cả ba K và của một trại cải tạo kiểu mẫu của toàn bộ nhà tù nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam . Thư viện khang trang rất nhiều sách báo cộng sản Có thể đọc Lê nín toàn tập, Xít ta lin toàn tập, Thời niên thiếu của Mác…. tại đây. Cũng có thể đọc Những kẻ khốn nạn của Victor Hugo và Chùm nho phẫn nộ của John Steinbeck hay Cuộc đời Leonard de Vinci… Còn có thể đọc Temps moderne của Liên Xô, ấn bản Pháp ngữ. Thư viện đủ các thứ tự điển. Quản thủ thư viện là tù nhân trong Tổ thông tin văn hóa. Bệnh xá có hai bác sĩ, một tù, một cách mạng. Bác sĩ cách mạng tên Hoàng Cầm, dân Nam bộ tập kết. Bác sĩ tù nhân tên Nguyễn Vân Hạc, nghị sĩ, người đã cống Ban giám thị Z30 D chiếc Peugeot 404 để được làm bác sĩ của tù nhân. Như vậy, tránh lao động vất vả. Khi tôi đến bác sĩ Vân Hạc đã về, bác sĩ Nguyễn Hữu Nhơn của binh chủng Thủy quân lục chiến được gọi thay thế, thêm nha sĩ Phạm Huy Hoàn giã từ cuốc xẻng. Bệnh xá Z30 D có hai y tá, nhiều thuốc và nhiều giường. Còn có bếp riêng cấp dưỡng bệnh nhân theo tiêu chuẩn bồi dưỡng. Sân trại có vườn hoa và ba hồ nước lớn. Nước dẫn từ suối bằng ống lớn, máy bơm. Z30 D có máy điện chạy 24 trên 24, có cả château d’eau…hiện đại. Nói tóm lại khu A của K1 là khu kiểu mẫu và lý tưởng mọi mặt. Rõ ràng, nó là trại học tập cải tạo.

Cách một hàng rào tre và cái cổng qua nhà bếp của trại tù, khu B y hệt Sa Ác A TH6. Tệ hơn nữa, mái lợp lá Buông và tường phên lá Buông bọc ngoài tường cây cắm dầy khít. Chế độ đại tiện là…đổ thùng! Thiên đường khu A và địa ngục khu B. Vì là trại kiểu mẫu nên kỷ luật cũng kiều mẫu. Dẫy cachot gồm 5 phòng sát khít hội trường. Giây kẽm gai không được xử dụng ở Z30 D. Vây quanh trại là hàng rào cây cao chôn sâu và sát khít. Lại thêm cây nhỏ làm nẹp ngang siết kỹ bằng giây thép. Cứ một thước rào có một cột trụ cây thật lớn. Hàng rào cây…đúp. Ở giữa là lối đi. Ngoài hàng rào, người ta trồng tre. Khi xe lên cao xanh um, trại sẽ là cái làng. .êm ấm. Z30 D có đài phát thanh, phát thanh mỗi tối từ 8 giờ đến 9 giờ. Phụ trách chương trình là tù nhân Bùi Hoàng Cầm cảnh sát đặc biệt kiêm cựu ký giả của nhật báo Đồng Nai của chủ nhiệm Huỳnh Thành Vị. Ông Vị và danh ca Duy Trác đã nằm tại khu B Z30 D, K1 Họ bị chuyền ra trại trừng gjới Phủ Khánh trước ngày tôi tới Z30 D. Đài phát thanh là “kẻ thù” của tù nhân. Bởi rằng, chương trình của họ là đọc tên những tù nhân khai bệnh nằm nhà. Nhiều tù nhân bị phê bình ốm giả vờ. Nhiệm vụ của Bùi Hoàng Cầm là, sáng sáng. qua bệnh xá ghi chép tên tù nhân khai bệnh, kiểm điểm xem trong tháng tù nhân khai bệnh nằm nhà mấy lần, bao nhiêu ngày. Anh ta làm việc theo chỉ thị thôi. Nhưng anh ta bị tù nhân lên án nặng nề và chụp mũ “ăng ten” tổ bố. Z30 D tổ chức khác hẳn TH6. Tù nhân hình sự, chính trị lẫn lộn một đội. Tù nhân chính trị được làm trật tự, thăm nuôi và lâm sản.

Ông Hồ Hữu Tường và tôi được tạm đẩy vào căn nhà của Đội văn nghệ, thể thao. Đội này đàn sáo, ca múa, ảo thuật, vẽ panneau, viết khẩu hiệu và đá bóng. Vậy nó phân làm hai tổ. Tổ văn nghệ lại chia đôi: Ban tân nhạc và ban cổ nhạc. Dụng cụ âm nhạc do tù chế tạo. Tù nhân chế tạo đàn guitare, đàn violon, đàn nguyệt, đàn tranh , đàn gáo đàn cò. .. Tân nhạc thì khá hơn, dụng cụ do trại mua làm cảnh. Có cả giàn trống, guitare điện. Đội văn nghệ, thể thao nhàn hạ, nhiều đặc ân đặc lợi nên bị ghét. Ở đâu có lợi, ở đấy có ganh ghét. Hễ hôm nay Tổ văn nghệ nhà tưới cây thì Tổ thể thao đi phát quang thật xa ngoài quốc lộ, ngày mai Tổ thể thao ở nhà, Tổ văn nghệ ra đi. Ra khỏi trại. có tiền tha hồ ăn hủ tíu, miến gà, mua chuối, mua trứng đem về. Bạn thân ở đội khác có thể gởi tiền nhờ mua chuối, mua rau…. Bạn không thân bị từ chối. Đó là nguyên nhân của chụp mũ. Lúc tôi vào căn nhà, người đón tiếp tôi là Lê Ngọc Biên.

– Tôi là anh em cột chèo với anh Trương Đình Huân, em của chị Thanh Khánh, anh nhớ chưa?

– Nhớ rồi.

Anh Biên làm mì gói chiêu đãi ông Tường và tôi. Chúng tôi chưa kịp tắm thì vệ binh tới dẫn chúng tôi ra suối tắm. Và sau đó, chúng tôi được dẫn lên văn phòng của Phó giám thị, ủy viên chính trị của Z30 D, thiếu tá Phan Hữu Phúc. Ông Tường vào trước, tôi ngồi ngoài hành lang. Phó giám thị Phúc làm việc riêng từng người. Đến lượt tôi, ông Tường về trại thay vì ngồi đợi tôi cùng về. Tôi không biết nội dung cuộc mạn đàm ngắn ngủi giữa Phó giám thị Phúc và ông Tường. Riêng tôi Phó giám thị Phúc rất ân cần. Ông ta pha ấm trà mới, rót nước mời tôi. Tự tay ông ta bóc gói thuốc Phù Đổng đưa tôi rút và quẹt diêm cho tôi mồi thuốc.

– Anh đi đường có mệt không? – Ông ta hỏi tôi.

– Bình thường, thưa ông Phó giám thị. -Tôi đáp.

– Cứ gọi tôi là cán bộ.

– Vâng.

– Anh sẽ về nhưng anh nhớ rằng anh được tha là do ở sự khoan hồng của Đảng và Nhà nước. Tuyệt đối không một thế lực ngoại quốc nào có thể can thiệp cho anh ra khỏi trại cả.

– Tôi nghĩ thế.

– Những ngày còn ở trại, nhất là ở đây, anh không nói cho bất cứ ai anh đã ở các trại nào và từ trại nào vừa đến.

– Vâng.

– Tôi sẽ gặp anh sau.

– Vâng.

Anh cần gì, cứ báo cáo cán bộ quản giáo hay cán bộ trực trại xin gặp tôi, tôi sẽ giải quyết ngay.

– Cám ơn cán bộ.

Sau đó, ông ta hỏi thăm chuyện gia đình tôi và dự định cho tương lai khi tôi trở lại đời sống. Tôi về trại một lát thì các đội tan lao.

o O o

Qua sự thông tin của trật tự, một số anh em đến tìm tôi. Tôi giữ lời hứa với Phó giám thị Phúc, không nói về các nhà tù tôi đã bị nhốt và trại lao cải tôi vừa rời Số anh em này thất vọng tôi ngay. Họ thấy tôi không phải là nhân vật hào hùng của tiểu thuyết của tôi. Và họ cho rằng họ đã hiểu tại sao tôi được ân huệ biên chế ngay vào Đội văn nghệ. thể thao. Rồi Bùi Hoàng Cầm, nhà báo, nhân vật bị tù nhân nguyền rủa từ khu B sang thăm tôi. Rồi những tù nhân bị đánh dấu “ăng ten” như hoạ sĩ Có, sĩ quan cảnh sát, nhà ảo thuật Hưởng, hạ sĩ quan an ninh quân đội, săn sóc tôi rất chu đáo buổi đầu khiến số anh em có kết luận dễ dàng: Tất cả những thằng nhà văn, nhà báo ở các trại đều làm công việc như thằng nhà báo Bùi Hoàng Cầm! Một tuần lễ sau người ta bảo tôi là Bùi Hoàng Cầm của TH6 B, Xuyên Mộc, Đồng Nai. Tôi tin chắc ông Hồ Hữu Tường đã được Phó giám thị Phúc yêu cầu như đã yêu cầu tôi “không nói cho bất cứ một ai anh đã ở các trại nào và từ trại nào vừa đến”. Không hề có phát thanh..học tập, phát thanh mỗi tối ở Sa Ác B. Cách nhau dẫy Mây Tào, sự thật bên kia và bên đây đã chẳng giống nhau rồi. Bấy giờ, tôi không cần tìm hiểu. Sau này tôi mới tìm hiểu và tôi ghê tởm cái thủ đoạn cộng sản. Họ triệt hạ tôi, họ làm tôi mất hết tư cách rồi mới thả tôi về. Để tôi hoàn toàn tê liệt. Họ bảo tôi đừng nói rồi họ rỉ tai trật tự, họ tung tin Hồ Hữu Tường và tôi từ đâu tới, đã làm những gì thật dơ dáy ở các trại cũ. Điều bấy giờ tôi suy nghĩ chỉ là câu nói hé lộ một xác nhận Amnesty International sắp cứu tôi ra. “Anh sẽ về nhưng anh nhớ rằng anh được tha là do ở sự khoan hồng của Đảng và Nhà nước. Tuyệt đối không một thế lực ngoại quốc nào có thể can thiệp cho anh ra khỏi trại cả”.

Tôi nằm ở Đội văn nghệ và thể thao hai ngày nghỉ mệt. Anh Lê Ngọc Biên kể cho tôi nghe nhiều chuyện thú vị. Anh đã ở Suối Máu, đã đáp chuyến tầu HQ 503 đi Phú Quốc, đã ở Phước Long. Mấy tháng trước có phái đoàn Amnesty lnternational thăm Z30 D, K 1 Tù nhân cò mồi của Đội văn nghệ và thể thao sắm vai trại viên trại học tập cải tạo Mỗi diễn viên được phát một bộ quần áo mới không đóng dấu tù. Đầu tóc cát gọn. Râu ria cạo nhẵn. Các Nhà quét dọn sạch sẽ, sắp xếp ngăn nắp. Các hồ nước bơm đầy. Bệnh xá tươm tất. Thư viện gọn gàng. Giàn nhạc đầy đủ dụng cụ. Phái đoàn tới, được Ban giám thị hướng dẫn thăm khu A và chỉ khu A thôi. Hai thông dịch viên Pháp-Việt, Việt-Pháp và Anh-Việt, Việt-Anh là Lê Ngọc Biên, Nguyễn văn Dụ, tù nhân. Amnesty International thăm Nhà, thấy Nhà khang trang thoáng mát. đầy đủ…tiện nghi; thăm thư viện, thấy thư viện đầy sách. Cò mồi chăm chú học tập tư tưởng Mác Lê, cò rnồi đang đàn sáo, lại chơi Le Beau Danube bleu, Only you, Smoke gets in your eyes…; thăm bệnh xá thấy bệnh nhân tù nhân “hồ hởi phấn khởi”; thăm sân, thấy hoa phô sắc, cỏ thắm tươi Thì bằng lòng lắm. Lại phỏng vấn tù nhân được lệnh phiên dịch : “Cám ơn chính sách học tập cải tạo khoan hồng và nhân đạo của Đảng cộng sản Việt Nam và Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, chúng tôi không phải là tù nhân mà là trại viên trại học tập cải tạo. Chúng tôi học tư tưởng làm người cao quý và tập lao động cho bớt lười biếng. Chúng tôi ăn ba bữa, đầy đủ dinh dưỡng, tinh thần và thể xác thoải mái, không hề bị đánh đập tra tấn thể xác hay tinh thần . .”

Phái đoàn thấy tù nhân đâu có nhiều. Bởi vì, hàng ngàn tù nhân đã bi lùa vào tận chân núi từ sáng sớm. Đề phòng, bất thình lình, phái đoàn trở lại, tối mịt tù nhân mới được lùa về. Chẳng hiểu phái đoàn AI đánh giá Z30 D ra sao. Có điều, chắc chắn. phái đoàn không bao giờ nhìn rõ sự thật ở nón mũ, giầy giép, quân áo, ca cóng của tù nhân xuất trại lao động.

Lê Ngọc Biên nói, chuyến thăm của AI, tù nhân cò mồi và thông dịch viên đều bị tù nhân nguyền rủa, lên án nặng nề. Càng bị nguyền rủa hơn, sau chuyến viếng thăm của Al, Biên và Dụ được biên chế sang Đội văn nghệ và thể thao. Sự thiếu may mắn của tôi là về Z30 D, tôi bị vào Đội văn nghệ và thể thao. Giá tôi vào cachot, có thể tôi lừng danh anh hùng tù ngục!

Ngày thứ tư, đột xuất có một phái đoàn ngoại quốc thăm trại Z30 D kiều mẫu. Tôi đã theo đội đi lao động từ hôm qua. Hôm nay cả đội của tôi ở nhà làm… cò mồi. Tù nhân toàn trại đi lao động từ sớm tinh mơ. Riêng ông Hồ Hữu Tường và tôi được đưa sang “dấu” ở phòng trật tự khu B. Người ta phát giấy cho chúng tôi khai lý lịch. Cảnh tượng tiếp phái đoàn này y hệt cảnh tượng tiếp phái đoàn Al. Lê Ngọc Biên và Nguyễn văn Dụ không được chỉ định thông dịch. Đã có thông dịch viên của Bộ nội vụ. Vì phái đoàn là phái đoàn Liên-tôn thế giới, thân cộng sản Việt Nam. Thế giới cũng có một số thằng vô danh tiểu tốt buôn công danh bằng cách họp thành một phái đoàn sang thăm nhà tù kiều mẫu Z30 D dàn cảnh công phu, đầy xảo thuật của đạo diễn Đảng để về tuyên bố ngược lại tất cả những gì các phái đoàn khác đã công kích chế độ nhà tù cộng sản. Thế là chúng nổi tiếng. Báo chí cộng sản thế giới, báo chí thân cộng sản Tây phương và Mỹ đã đánh bóng chúng nó, đã coi chúng nó như người của sự thật. Thế giới tự do, thế giới của lương tri, của lẽ phải, của tôn trọng sự thật đã có một bọn khốn kiếp gọi là Liên-tôn lò dò đến trại Z30 D phả thêm mùi tanh ươn vào thứ nhân quyền bị thắt cổ lè lưỡi bởi cộng sản. Tôi không biết cộng sản Việt Nam đã trả bọn này bao nhiêu tiền? Với cộng sản Việt Nam còn phải lột lưỡi để ca ngợi chế độ lao tù của họ.

Từ kinh nghiệm Liên-tôn viếng nhà tù kiều mẫu Z30 D, tôi thấy không thể tin tưởng vào bất cứ một hội đoàn nhân đạo nào của thế giới tự do, trừ Amnesty International. Rất tiếc, Al không lên tiếng về sự vi phạm nhân quyền. AI trung lập với tất cả các chế độ chính trị. AI can thiệp cho tù nhân chính trị, tù nhân tư tưởng ở bất cứ quốc gia nào có tù nhân chính trị, tù nhân tư tưởng.

AI đã can thiệp cho Vũ Hạnh dưới chế độ Nguyễn Văn Thiệu. AI lại can thiệp cho Cao Dao dưới chế độ Lê Duẩn. Cho nên sự thật về ngục tù và tù nhân trong chế độ cộng sản đã chỉ được thế giới mường tượng hay căn cứ vào những báo cáo bán rẻ lương tâm cho cộng sản của những hạng người tương tự Liên-tôn, của lũ phản chiến thân cộng sản, của đám báo chi Mỹ đã ngồi xổm lên nghĩa vụ luận. Lương tri của nhân loại cần phải được đánh thức, cần phải được lay động bằng tiếng nói đích thực và trung thực của những người thoát lên từ vực thẳm. Nhưng, buồn thay, những người thoát lên từ vực thẳm đã im lặng, hoàn toàn im lặng. Thỉnh thoảng, có một vài lên tiếng với đồng bào của mình. Thì đã bị khoả lấp bởi tiếng rao bán xổ số kháng chiến, tiếng mõ quảng cáo lạc quyên phục quốc. Chưa thấy ai đặt vấn đề với bọn nhà báo Mỹ – đã mô tả chuồng cọp Côn Sơn, đã đòi cải thiện chế độ lao tù miền Nam trước 1975- mô tả các trại tập trung khổ sai lao động của đàn bà con nít, thương phế binh ở Long Thành – ở quần đảo Phước Long sau 1975. Chưa thấy ai lạc quyên tiền đăng nguyên hai trang trên các nhật báo lừng danh xuất bản tại Nữu ước, Hoa Thịnh Đốn, Ba Lê, Đông kinh, Luân đôn…để nói về tù nhân và ngục tù cộng sản. Chưa thấy ai lạc quyên tiền để dịch thuật và xuất bản một cuốn sách viết về ngục tù cộng sản Việt Nam trích từ những cuốn hồi ký của những người thoát lên và thoát ra từ vực thẳm. Chưa thấy gì cả. Chỉ thấy rõ ràng người ta đã hoan hỉ bỏ đô la vào túi áo ông Mặt trận, vào thùng sương, vào những cuộc liên hoan ăn uống có nhẩy đầm. Rất nhiều tinh hoa của dân tộc đang quằn quại trong nhà tù cộng sản mà đồng bào của họ ở hải ngoại đã lãng quên không nghĩ chuyện cứu họ, thản nhiên để họ chết mòn. Rất nhiều những thằng chó đẻ sống phè phỡn bằng tiền lạc quyên cho mục đích bịp bợm. Rốt cuộc, nỗi thống khổ của tù nhân được cai thầu chiêm bao và báo cáo chiêm bao ấy với người ngoại quốc. Cai thầu hưởng danh lợi. Tù nhân được…hứa hẹn sẽ can thiệp. Bao giờ? Mai. Mai rồi mốt. Mốt rồi mút, Mút rồi mít. Mít rồi mịt. Rồi mù mịt.. Thế giới tự do yêu sự hợp lý đến ngây thơ và ngu xuẩn. Tiếng nói của người đã nhìn sự thật là hợp lý. Phái đoàn Liên-tôn kia, chẳng hạn. Tiếng nói của người chưa nhìn sự thật chỉ nói theo báo cáo là tiếng nói vu vơ, không hợp lý. Tiếng nói của những người thoát lên từ vực thẳm là hợp lý, chính xác là tiếng nói của sự thật.

Song, buồn bao nhiêu, tiếng nói của sự thật là tiếng nói Việt Nam viết bằng chữ Việt Nam Thế giới không biết nghe tiếng Việt Nam, không biết đọc chữ Việt Nam. Mà chúng ta thì không ai thích đóng góp tiền để chuyển dịch tiếng nói của sự thật vàng mười sang Anh ngữ, Pháp ngữ, Y pha nho ngữ, Đức ngữ, Ý ngữ. Người Pháp và người Mỹ sẽ chỉ thấy ngục tù Việt Nam qua cuốn Goulang vietnamien, Vietnamese Gulag của gã tù nhân de luxe 11 tháng ở đề lao Gia Định. Nhà tù được viết kiến nghị, được tự do đi xin chữ ký, cả trăm tù nhân ký vào kiến nghị thì nhà tù cộng sản là. . . thiên đường, cần gì phải đòi nhân quyền và tự do cho tù nhân!

Cái phái đoàn Liên tôn…thiếc kia viếng trại lao cải kiểu mẫu Z30 D đúng 15 phút. Giàn nhạc chỉ chơi có một bài Loe is blue! Không sợ, đột xuất, họ trở lại nhìn sự thật trần truồng – bồ tèo mà -, Ban giám thị cho tù nhân núp dưới chân núi về sớm. Tù nhân được cơ hội suy diễn : Ông Hồ Hữu Tường và tôi được đem về đây làm cò mồi. Cò mồi gì nhỉ? Tôi bỗng thấy chua xót cái câu mà cai tù nào cũng thích nói với tù nhân: “Các anh không thương các anh thì ai thương các anh”. Quả thật, một số tù nhân đã tỏ ra tàn nhẫn với tù nhân. Bạn tù, mấy kỳ liền không có thăm nuôi, thay vì an ủi bạn, chia sẻ cho bạn dúm tôm khô, vài vắt mì, người ta nỡ phát ngôn: “Vợ bỏ rồi hả? Chắc vợ đi theo bộ đội bỏ rơi anh rồi”?

Người ta sẽ buồn cười điều “Cấm mua bán, đổi chác trong Nội quy Tôi không buồn cười. Vì tôi biết chuyện một tù nhân không nghiện thuốc lào, thuốc rê mà có cả mấy bánh thuốc lá, mấy bịch thuốc rê. Thuốc lào của anh ta thuộc loại xiện, sáng sớm kéo một điếu là phê. Có tù nhân đã đổi cái quần treillis lấy 2 hộp quẹt thuốc lào xiện. Tù nhân này không thăm nuôi, dĩ nhiên.Ở Sa Ác B, có thuốc lào xiện là có tất cả. Thuốc lào có thể đổi rau muống non, củ cải, rau mồng tơi, mướp, củ mài… Nhiều tù nhân đã lấy râu ngô phơi khô tẩm nước điếu rồi lại phơi khô để hút. Giá trị của thuốc lào vô kề. Hễ có thuốc lào xiện. điều cầy xiện sẽ thêrn bạn bớt thù và sẽ chỉ còn bạn. Ở Sa Ác B cho tù nhận thuốc mà cấm tù nhận diêm, đá lửa, bật lửa. Nhưng tù nhân xoay đâu ra bật lửa, đá lửa, xăng thì tự do dùng. Bèn có ba câu Anh ngữ lao cải:

– Đông vui hao lao
Đông vui thì tốn thuốc lào.

Đông phen hao rê
Đông bạn thì tốn thuốc rê

Tham nuoi no dzim
Thăm nuôi không có diêm

Với tù nhân nghiện thuốc lào, đa số tuyệt đối, thì thiếu thuốc lào còn hại cho cơ thể hơn là thiếu chất protéine, chất mỡ, chất đường… Đầy rẫy những kẻ hám lợi trong tù. Và đầy rẫy những kẻ thích làm khổ người khác. Vô cớ và vô lý. Tôi mang thêm tội cò mồi. Đã có kinh nghiệm ra cái động ở Sa Ác, tôi tiết kiệm tối đa ngôn ngữ ở Z30D. Với những kẻ không đáng nói, nửa lời không nói.

(1) Tác giả có tham vọng viết cuốn sách nhan đề Sấm Ký cho Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ tiên tri cuộc cách mạng tiểu tư sản hào hoa cứu vớt dân tộc Mỹ thoát nạn đại hồng thủy.

 

-13-

Ở Đội văn nghệ và thể thao, mọi người đều quý tôi. Đội này không có tù hình sự. Đa số là sĩ quan và hạ sĩ quan cảnh sát. Phần còn lại là sĩ quan quân đội. Những người này đã trải qua nhiều trại lao cải. Tôi nằm phía trên, giữa Biên và Hưởng. Một hôm, Biên tâm sự:

– Chúng nó bảo thằng Có, thằng Hưỏng và thằng Ánh là “ăng-ten” gây ra vụ một số anh em đi Phú Khánh.

– Tôi không cần biết.

– Ông nên biết.

– Biết để làm chi. Toàn chuyện tầm phào.

– Biết để hiểu trắng và đen, đen và trắng trong tù.

– Vậy ông kể đi.

– Thằng Ánh đã sang làm Đội trưởng Đội trừng giới, chúng nó càng tin nó làm “ăng-ten”. Tết vừa rồi, thằng Ánh sáng tác khẩu hiệu, thơ vè; thằng có vẽ và viết tay trái; thằng Hưởng dán. Thằng Có vẽ ở phòng hội hoạ, ai dám nghi nó. Thằng Hưởng ảo thuật dán nhanh như làm trò. Cả trại khoan khoái đọc thơ, vè, khẩu hiệu, khen nhặng những thằng dám chơi là ái quốc là can đảm.

– Rồi sao lại thành”ăng-ten”.

– Vì chúng nó chửi những thằng viết, vẽ dán khẩu hiệu, chửi loạn cả lên.

– Tại sao có vụ đi Phú Khánh?

– Chuyện cũ tích lại. Ông Huỳnh Thành Vị nhà tôicứ ngứa miệng cãi chuyện Paris với thẳng chưa đến Paris rồi chửi nó ngu ngọng. Cán bộ nghe thấy nó bèn chụp mũ ông Vị chửi nó ngọng. Ông Duy Trác thì chủ nhật nào cũng vác đàn đi hát nhạc vàng… ôi, đủ thứ. Xẩy ra vụ dán khẩu hiệu chửi cộng sản, nó không bắt được ai bèn giận cá chém thớt đưa những anh bị nó ghim ra Phú Khánh dằn mặt anh em.

– Hưởng, Ánh và Có im lặng?

– Chứ cái gì nữa! Chúng nó không buồn vì còn một vài người biết chuyện. Đấy, trắng hóa đen là vậy. Tôi bị chúng nó chửi cò mồi, nay đến ông bị cất một chỗ cũng cứ rằng đã gặp phái đoàn Liên-tôn làm cò mồi. Cái trại này táp nham, ông sống lâu sẽ rõ. Ông sẽ khổ tâm lắm đấy. Cộng sản nó theo dõi ông, tù nhân theo dõi ông từng hành động. Ai bảo ông nổi tiếng? Vào tù vô danhtiểu tốt là yên thân.

– Ông nhận xét đúng.

– Ở tù cộng sản có những nỗi oan không dám thanh minh. Như tôi.Tôi cò mồi mẹ gì đâu. Anh Trương Đình Huân phục vụ ở UNESCO nhờ Amnesty International can thiệp cho tôi vì gốc tôi là giáo sư biệt phái về Trung tâm học liệu. AI ghi tên tôi và trại tôi đang cải tạo. Thằng Dụ cũng thế. AI đòi gặp hai đứa tôi. Chúng tôithông dịch theo đúng lời nói của tù nhân được phỏng vấn. Có thông dịch viên của họ giám sát vớ vẩn ốm đòn à? Nó đâu tin mình. AI hứa can thiệp cho tôi về sớm. Tôi phải làm kiểm điểm mờ người, phải hứa không tiết lộchuyện. AI can thiệp cho tôi. Rồi chúng tôi bị biên chế qua Đội văn nghệ. Tôi văn nghệ mẹ gì. Nó đề phòng tôi ngứa miệng bên khu B. Ngu sao. Tôi ngậm họng mặc chúng nó chửi lèm bèm.

Lê Ngọc Biên triết lý:

– Người Việt Nam đếch có kinh nghiệm gì cả, kể luôn kinh nghiệm ở tù cộng sản. Chỉ a dua, phán xét bậy.

Biên nói đúng. Đã không có kinh nghiệm cộng sản đến nỗi bị nó bắt bỏ tù rồi vẫn không chịu học tập kinh nghiệm cộng sản trong tù. Hình như, cái…truyền thống bạn đáng diệt hơn kẻ thù có từ 20 năm miền Nam chống cộng Kẻ thù xa, đối lập gần. Đối lập có thề đảo chính mình, kẻ thù thôn tính cả nước. “Đất nước mất, mất tất cả”. cả Cả nước rơi vào tay kẻ thù, ô kê. Quyềnbính của mình rơi vào tay đối lập, nô ô kê. Truyền thống nàyđưa sang Mỹ, sang Tây. Mày đối lập ông, mày nguy hiểm hơn cộng sản. Nghĩ cũng bẽ bàng khi phải đứng chung chiến tuyến với bon vô lại. Bọn vô lại kháng chiến, phục quốc chí muốn những người chống chúng nó gian manh, bịp bợm bỏ rơi chuyện chống cộng hoặc đầu hàng cộng sản. Để chúng nó tự do kháng chiến bịp, phục quốc lừa. Có một thằng vô lại vén môi lên tồ tồ rẳng: Giải phóng Việt Namkhông phải là là ước mơ mà còn là nhiệm vụ,bổn phận. Tôi tìm cách giành lại quê hương bằng cách làm cho cộng sản kiệt quệ về quân sự, kinh tế, chính trị! Rõ khẩu khí một thằng vô lại. Nó đã viết sách nhận nó ngu dốt chính trị, thầy nó không chịu dạy nó. Nay nó đòi “giành lại quê hương đòi làm cho cộng sản kiệt quệ chính trị”. Lại còn kinh tế nữa, trời ạ! Độc Ngữ viết hai câu thơ khá độc:

Đó cái gọi là tướng
Lũ sán kim ngọ nguậy ngứa hậu môn

Thằng này câm đi thì dần dần hết vô lại. Nó càng đao to búa lớn, càng vô lại hết thuốc chữa. Quê hương Việt Nam không cần vô lại nữa. Thời của vô lại cai trị dân tộc đã cáo chung. Thầy Gerald Ford dạy: “Lịch sử đã sang trang”. Hiểu chưa? Đã sang trang mới cho tuổi trẻ Việt Nam làm chính quyền. Sẽ không còn phỉ quyền gian ác và ngụy quyền vô lại trên quê hương Việt Nam tương lai.

– Ông ạ, tôi linh cảm tôi sắp về. Biên nói.

– Ông tin AI cứu nổi ông?

– Tin lắm.

– Tốt thôi.

– Tôi hiểu chỉ ông mới viết được truyện về những đứa trẻ con ở trại Phú Văn.

– Truyện thế nào?

Biên kể ngọn đồi mà tù nhân cải tạo đặt tên là Đồi Fanta (La Colline de Fanta, Les Éditions Belfond).Ngọn đồi này đã làm tôi quên mọi ưu phiền Z30 D. Ít ra, cái trại lao cải hắc ám cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng, đã cho tôi một toan tính ngày mai. Tôi ghim vào đầu óc ngọn đồi ô nhục và hy vọng sớm được tha để viết cuốn sách về nó.

Những ngày ở Đội văn nghệ và thề thao, tôi có dịp đi lao động ngoài quốc lộ. Quản giáo đội này tên Hào, ham chơi hơn giáo dục tù nhân. Chúng tôi thường cuốc bộ theo hướng ra Phan Thiết. Chừng hai cây số cách trại, có một cái chợ nhỏ của một xã nằm sát quốc lộ. Tên chợ tôi quên rồi. Chợ có vài quán cà phê, hủ tíu, bún bò xào. Mỗi sáng, đội của chúng tôi dừng chân nơi đây ăn điểm tâm uống cà phê rồi mới vào rừng. Quản giáo và vệ binh ở lại đá banh bàn, thụt bi da và ngủ. Đội muốn đi đâu muốn làm gì tùy ý, miễn là trở lại tập họp tại chợ đúng 14 giờ. Đội lao động rất lè phè và “tự do” mua bán, ăn uống. Đó là lý do phải chấp nhận sự ghét bỏ của các đội khác.

Tôi lấy làm lạ điều này: Không hề thấy tù nhân hình sự hay chính trị ở các đội lâm sản trốn trại. Những người này muốn trốn, sẽ trốn dễ đàng. Họ vào rừngtừ 7 giờ sáng, 16 giờ mới về. Các đội lâm sản không cần vệ binh. Làm sao đủ vệ binh canh giữ? Vậy tù nhân tự giác Và hiếm họa lắm mới có một tù nhân ở đội lâm sản ra đi không về…trại. Dẫu có tù nhân ra đi, các tù nhân còn lại vẫn tự do vào rừng và, nếu thích, cứ việc sắp xếp chương trình về sum họp gia đình không cần Giấy ra trại. Điều lạ ấy chính là nghệ thuật quản lý tù nhân của cộng sản. Đâu cần Phạm Hùng hay Cao Đăng Chiếm chọn tù nhân biên chế vào đội lâm sản. Chỉ là Ban Giám Thị và đám công an chăn trâu cắt cỏ, ngọng níu lưỡi tuyển chọn. Tù nhân tiến bộ đến mức không thèm trốn trại. Các đội lâm sảnkhông chấp nhận sĩ quan tác chiến, quân báo, nhẩy dù, thủy quân lụcchiến. Phản động cũng bị chê. Đa số là cảnh sát và sĩ quan văn phòng. Nếu tôi còn ở Đội văn nghệ vàthể thao, thể nào cũng có ngày tôi trốn trại. Tôi đã phác họa kế hoạch ngon lành. Rất tiếc, chưa kịp trốn thì tôi bi biên chế sang Đội 27 nông nghiệp. Có lẽ, người ta đã đoán được âm mưu của tôi.

Đội 27 nông nghiệp của Kì Z30 D,khi tôi sang, vừa thay đổi quản giáo mới. Quản giáo tên Hà, dân Hà Tĩn. Kinh nghiệm ở tù cho tôi biết điều này.: Hễ tên cai tù ở miền nào bị Mỹ dội bom nhiều nhất, tên ấy khe khắt nhất. Quản giáo Hà là tên cai tù ấy. Hắn mang quân hàm trung sĩ. Đội của tôi nhan nhản đại úy, trung úy phi công, hải quân. Và cũng nhan nhản hình sự vô lại. Tôi dược sống lại không khí xô bồ như ở các phòng giam đề lao Gia Định, khám lớn Chí Hòa. Bấy giờ, Đội trưởng làanh Vũ Tiến Đạt, một người đầy đủ tư cách. Hiện trường lao động của chúng tôi nằm sát con đường ra vào cổng chính của trại, đối diện nhà thăm gặp. Chúng tôi có nhà lô. Sa Ác B không có nhà lô. Đội 27 đã canh tác nhiều vụ khoai, ngô và đậu xanh. Đội chia nhiều Tổ và các tổ lao động giống nhau, không chuyên biệtnhư đội rau xanh. Công việc của tôi là cuốc đất, lên luống, rắc phân hoá học, đặt phân xanh, bỏ hạt bắp, giây khoai, làm cỏbắp, vén giây khoai… Chờ đợi thu hoạch chúng tôi chặt cây điên điển đạo hầm chôn để làm phânxanh cho vụmới.

Mùa thu hoạch thì lao động cả chủ nhật. Hết bắp lại ngô. So với SaÁc lao động ở Rừng Lá không đáng kể. Tôi bằng lòng thái độ lao động của tù nhân Sa Ác hơn. Ởđội của tôi tại Z30D, người ta chấp nhận nghe quảngiáo “giáo dục”. Người ta thản nhiên”Nghe chúng nó chửi quen rồi”! Và người ta không xấu hổ ăn cắp mướp, ăn cắp bắp non, ăn cắp khoai… Một số tù nhân tự dẫm lên phẩm cách của mình đã bắt cả đội phải xếp hàng, đứng nghiêm, nghe quản giáo phê bình bằng giọng điệu xấc xược, trịch thượng.

Quản giáo không bao giờ giáo dục một tù nhân. Chỉ cần một tù nhân ăn cắp trái mướp trên giàn mướp của hắn, hắn sẽ tập họp đội, miệt thị “các anh toàn bọn ăn cắp, thế mà cứ tưởng mình sĩ quan, trí thức” và đem vợ con tù nhân vào cuộc học tập “các anh là bọn mất tính người, không còn tình người, cố kéo dài thời gian cải tạo để bắt vợ con nhịn ăn mặc thăm nuôi các anh!” Tôi thấy số người tự xóa bỏ nhân cách của mình vẫn bình thản, vẫn nhe răng cười. Tôi thì tôi lấy làm đau đớn lắm.. Thà nhịn ăn mướp, thà cuốc đúng chỉ tiêu chứ không chịu nghe cai tù giáo huấn. Nhưng vô ích, tất cả tù nhân tự trọng, những tù nhân bằng lòng để cộng sản thù ghét, không bằng lòng để cộng sản khinh bỉ, đều bị đồng hóa bởi số tù nhân vô lại Anh Vũ Tiến Đạt hiểu tâm sự tôi . Anh chuyện riêng với tôi:

– Sự khốn nạn của chúng ta là chúng ta đã không được phép chọn người sống chung một đội.

– Cộng sản nó muốn vậy.

– Đồng ý, song anh đã rõ, trong đám vô lại có cả vài ông sĩ quan của chúng tôi. Bọn này to mồm nhất, yêu nước nhất, căm hờn cộng sản nhất và sẵn sàng chụp cứt lên đầu kẻ đồng cảnh ngộ tàn bạo nhất. Anh mới về đội, chưa hiểu hết sự tình não nề. Chia rẽ, kèn cựa, chụp mũ, chửi bới, đánh lộn chẳng còn ra tù…chính trị gì cả. Riết rồi tù hình sự trộm cắp nó khinh thường. Cờ bạc sát phạt nhau tới…tán đường cuối cùng! Tôi cứ giả mù, giả điếc, giả câm. Đánh đấm nhau, chửi bới nhau rồi đưa nhau vào biên bản cuối tuần. Năm năm cải tạo rồi, ấu trĩ gì! Làm Đội trưởng khổ hơn chó.

Đội 27 nông nghiệp, chỉ có vài tên vô lại quậy phá. Chúng nó trêu chọc cả đàn bà, con gái đi thăm nuôi chồng, cha, anh. Chúng nó nói năng nham nhở, mất dậy Chúng nó đã làm phiền cả đội. Những người đứng tuổi im lặng, cầu an. Đa số phẫn nộ nhưng không tỏ thái độ. Có một tù nhân tên Thành, Trưởng ty cảnh sát thời Ngô Đình Diệm, con bà phước từ khi trình diện học tập cải tạo bị đám vô lại đặt hỗn danh Thành chạp và bị chúng nó ghét ra mặt. Chỉ vì ông Thành đói, ai cho gì cũng nhận và vớ được cái gì cũng ăn. Chúng nó, dĩ nhiên, không cho ông Thành một miếng sắn lát song, ai cho ông Thành nắm mì, dúm tôm khô, chúng nó ngăn cản. Tôi đã thường xuyên tặng hủ tíu, tặng mì vụn, tặng phần bo bo nguyên ngày chủ nhật cho ông Thành. Tôi bị chúng nó ghét. Nhờ tôi có thuốc lào xiện, lại chủ trương “đông phen no lo hao lao”, tôi đã chế ngự chúng nó. Gô thuốc lào mở nắp, tha hồ các “phen” hít và phê. Thuốc lào xiện là thước đo già trị con người!

– Anh ơi anh đừng ăn cơm chung với thằng Thịnh.

– Tại sao?

-Nó là thằng đi rêu rao anh làm cò mồi. Anh cứ thử hỏi các bố sĩ quan của Sư đoàn 18 là biết nó. Quân báo đấy. Nó bô bô khoe thành tích đã ăn cắp cái máy bơm nước của một nông dân rồi cho lính bán lại cho nông dân này.

– Chuyện nhảm.

– Nhảm gì, cháu của nông dân này lại là sĩ quan cùng Sư đoàn 18 và cùng ở đội mình.

– Cậu thích thì ăn chung với tôi luôn.

-Em mến anh nhưng em ghét thằng Thịnh.

– Cậu muốn sao?

– Anh đuổi ngay thằng Thịnh đi, em xin về ăn chung, phục dịch anh.

Thuốc lào ngon và túi thăm nuôi nặng và thường xuyên của tôi đã “đổi thù thành bạn”. Hợp với thành ngữ Bạn tù tình nhà thổ. Tôi sống yên thân ở Đội 27 nông nghiệp. Rồi tôi trở thành một máy ghi âm chuyên ghi tin miệng của đám vô lại tố cáo nhau.

-Anh này.

-Mấy tháng trước anh đã gặp phái đoàn Liên tôn hả?

– Ai nói vậy?

– Cán bộ giáo dục.

-Nói với cậu à?

-Với bạn em bên khu B, bạn em nói lại với tụi em.

– Cậu tin chứ?

– Hồi đó chúng em tin, chúng em rao rêu hại anh.

– Bây giờ cậu tin cán bộ hay tin tôi?

– Em tin anh.

– Thế thì tôi không gặp phái đoàn nào cả.

-Tại sao cán bộ bịa đặt nhỉ?

– Tôi không hiểu.

Nếu bạn đọc Lê nín toàn tập, bạn sẽ gặp câu này: “Dùng bọn côn đo mạt hạng đề chúng diệt những phần tử lương thiện đối nghịch cách mạng. Khi những phần tử lương thiện bị triệt hạ, sẽ diệt bọn côn đồ mạt hạng”. Cộng sản áp dụng đúng sách vở của sư tổ vào nhà tù. Cho nên bọn tù nhân vô lại, bọn ăn cắp khoai mì, ăn vụng thịt dưới bếp, ăn tranh phần khoai và cơm cháy của heo, vân vân. đã được xử dụng để triệt hạ những tù nhân cố gắng giữ phẩm cách làm người trong bất cứ nghịch cảnh nào.

o O o

Tổ chức của Z30 D hơi khác TH6 một chút. Ở đây không quân sự hóa nếp sống nên thiếu hoạt cảnh báo cáo xuất trại. Các đội cứ ngồi tại sân tập họp, Đội trưởng tới gần điếm canh báo cáo quân số với cán bộ trực trại. Cán bộ ghi vào sổ trực. Thế là đội đứng dậy xuất trại. Qua cổng, tất cả phải dở nón, mũ. Điều này đã ghi rõ trong Nội quy. Ở đây an ninh gọi là chấp pháp. Công an đặc trách an ninh gọi là cán bộ chấp pháp. Chấp pháp của trại chỉ điều tra những việc xẩy ra ở trại. Tù nhân bị chấp pháp gọi lên “làm việc” có nghĩa là chuẩn bị vào cachot. Chấp pháp bao trùm quyền uy. Chỉ dưới Ban Giám Thị. Ở đâycó một ội chuyên gài mìn phá núi và một tổ thiết kế. Ở đây có hồ rộng nuôi cá. Nói tóm lại, nội dung của Z30 D hiểm độc gấp bội TH6, hình thức của nó là…kiều mẫu. Các phái đoàn ngoại quốc thân cộng sản và không chống cộng sản đều chỉ được dẫn tới Z30 D, K1 , khu A và cơ quan. Dĩ nhiên, họ chỉ thấy hình thức. Cộng sản nặng phần trình diễn hơn quốc gia. Nghệ thuật trình diễn của họ cộng thêm nghệ thuật chơi chữ của họ đã khiến thế giới tự do mê sảng. Ở đây, trật tự đa số là tù nhân chính trị. Công an cộng sản hiểu rõ cảnh sát quốc gia. Do đó, trật tự được tuyển lựa từ thành phần cảnh sát đặc biệt , an nính quân đội.

Trật tự khu A gồm 4 người tạo thành một giai cấp đặc quyền, đặc lợi và trở thành đối tượng thù hận của tù nhân. .Người thứ nhất là ông già Tới, can tội hình sự, mẫn cán với cai tù nhưng vô tội vạ với tù nhân, nóng tính mà tâm địa tốt. Người thứ hai là ông già Phú, giảng sư Đại học Vạn Hạnh, can tội vượt biên, thông thạo Anh, Pháp ngữ, kiến thức rộng, giỏi toán học, được chỉ định làm trật tự để dạy một ông chấp pháp học toán và Anh văn. Người thứ ba, tôi quên tên, một ông già cảnh sát hiền lành, cả khu yêu mến. (Ông này được tha hồi tháng 4 1980, người thay thế là một viên chức của VTX, tôi kg nhớ tên). Người thế tư là Trần Trọng Thanh trung uý cảnh sát đặc biệt. chuyên thẩm vấn Việt cộng ở Biên Hoà. Trần Trọng Thanh dân Quảng Ngải, một loại ngụy quân tử trong tù. Hắn xúi ông già Tới gây khó dễ cho tù nhân. Còn hằn, hắn đóng vai thiện. Khuôn mặt Trần Trọng Thanh xám xịt, vui buồn khó đoán. Hắn là cáo già của phòng trật tự.

Ở Z30 D, mỗi nhà có một phòng ăn, cửa sổ thoáng mát bàn ghế sạch sẽ. Có bếp lợp mái tôn cho tù nhân ca cóng những ngày được phép ca cóng. Trật tự nấu nướng bằng bếp riêng ở ngay phòng. Họ lấy than hồng của bếp trại mà cải thiện bữa ăn. Họ ăn sang hơn cả cai tù. Cai tù mua thịt cá giùm họ. Rau, mướp, bầu, bí thì họ xin các đội rau xanh. Những ngày lễ lớn hay những hôm đột xuất có thịt heo, trật tự được chia phần thịt tươi gấp 10 tiêu chuẩn tù nhân. Cơm của trật tự luôn luôn thừa thãi. Phòng của trật tự có chiếc máy vô tuyến truyền hình. Máy này, thỉnh thoảng, đem ra sân cho tù nhân giải trí kịch nhạc cách mạng. Trật tự chỉ thị công tác lao động cho vệ sinh và sai phái vệ sinh. Mỗi lần vợ thăm nuôi, trật tự được ngủ với vợ một đêm ở nhà thăm gặp. Cái đặc quyền, đặc lợi do hưởng đầy đặc ân đã khiến một vài anh trật tự quên mất bản thân mình là tù nhân. Ở khu A, Trần Trọng Thanh thâu tóm hết đặc quyền, đặc lợi. Ông già Phú “con bà phước”, ông già Tới vợ đã chết. Trần Trọng Thanh vợ buôn bán khá, mấy đứa con trai lại vượt biên thoát, thăm nuôi ê hề tiền bạc thừa thãi cung phụng chấp pháp và trực trại.

Z30 D, K1 là trại kiểu mẫu, kỷ luật gay gắt nhưng ca cóng tự do ngoài bãi. Ở đây, người ta chỉ đòi hỏi tuyệt đối “an tâm cải tạo” nghĩa là đừng có tư tưởng trốn trại và chống đối Nội quy. Nội quy trại tù là pháp lệnh của Nhà nước xã hội chủ nghĩa thu hẹp. Chống Nội quy tội nặng hơn các tội cũ và mới. Người ta lý luận rằng, ở tù mà chống Nội quy ra đời sẽ chống Chế độ. Bởi vậy trên tấm Giấy ra trại, phần “Nhận xét quá trình cải tạo”, đa số tuyệt đối tù nhân được tha đều ghi câu tương tự danh ngôn bất hủ “biết rồi, khổ lắm, nói mãi” của nhân vật Số đỏ: “Trong thời gian học tập đã có nhiều tiến bộ, lao động và học tập tốt, chấp hành nội quy của trại nghiêm”. Một số nhỏ bị “nhận xét” thế này: “Trong thời gían tập có tiến bộ nhưng vẫn thiếu thiện chí cải tạo, chưa chấp hành nội quy tốt”. Bèn thêm câu: “Đương sự cần được chính quyền địa phương giáo dục thêm” thì kể như số vất vả. Sẽ bị công an phường bắt “đi học” dài dài. Sẽ có cuốn vở chép nhật ký để công an phường theo dõi mọi sinh hoạt.

Giấy ra trại là một lối chơi chữ của cộng sản. Anh ra trại thôi, có thể, anh lại bị vào trại. Doãn Quốc Sĩ, Hoàng Hải Thủy đã vào trại sau khi ra trại. Giấy ra trại, với tù nhân mang án phạt “tập trung cải tạo, TTCT” là thứ giấy thủ thân đến khi nhắm mắt. Tiêu đề của nó là Giấy ra trại nhưng văn từ thì lại “Thi hành án văn, quyết đinh tha số… ngày… tháng… năm… của Bộ Nội Vụ. Nay có giấy tha cho anh, chị có tên sau đây…” Trên Giấy ra trại củ tôi, ghi rõ “Can tội Nhà Văn Phản Động. Bị bắt ngày 804-1976, án phạt TTCT. Theo quyết định, án văn số không có, ngày tháng không có. Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Độc lập – Tự do – Hạnh phúc cứ… tự do bắt tưới hạt sen, chẳng thèm quyết định, án văn . Thế giới có thể nhìn rõ sự bắt người. sự giam nhốt người – sự hành hạ người và sự tha người của chủ nghĩa cộng sản trên cứ một Giấy ra trại của bất cứ một tù nhân nào. Nếu mắt thế giới không thông manh và óc thế giới không đặc khịt, họ sẽ tìm ra một định nghĩa về nhân quyền ở Việt Nam hôm nay. Trong phần “Nhận xét quá trình cải tạo” còn hai câu ác độc:

1- Nơi cư trú do chính quyền địa phương quy định.

2- Đương sự không được cư trú tại nơi đăng ký nhân khẩu thường trú trước khi bị bắt.

Nếu tù nhân đã cư ngụ ở nhà của mình do mình đứng tên trên bằng khoán, mình sống chung với vợ con mình trước ngày mình bị bắt, Sài gòn chẳng hạn, nay được tha, chính quyền địa phương nó “quy định” cá nhân mình về Long Xuyên hay lên Ban Mê Thuột mình phải…lưu vong ngay trên quê hương của mình. Vợ mình có không làm giấy bảo đảm cho mình tạm trú tại nhà minh thì dẫu chính quyền địa phương quy định” nơi cư trú cho mình là nhà mình”, mình vẫn đành lưu vong. Bị ghi câu số 1 đã lận đận. Bị ghi câu số 2 thì khốn nạn, thì kể như biệt xứ bất thành án văn, khỏi cần vượt biên tha phương cầu thực. Giấy ra trại của tôi ghi câu số 1. May mắn, tôi không bị “quản chế” nên “được hưởng quyền công dân”. Tù nhân bị quản chế một thời gian nào đó, phải trình diện công an địa phương hàng ngày, hàng tuần và chờ đợi sự khoan hồng của nhân dân khu phố mình cư ngụ trong cuộc họp quyết định “trả lại quyền công dân”. Tù nhân dưới chế độ cộng sản, vào tù đã khổ, đã nhục ; ra tù còn khổ, còn nhục hơn. (1)

Nội quy nhà tù và trại lao cải quantrọng thế đấy. Anh bị tống vào cachot để “thành khẩn suy nghĩ” mà viết tự khai trong thời gian anh bị thẩm vấn thì không sao cả. Anh bị tống vào cachot vì tội trốn trại, tội chống đối Nội quy, Giấy ra trại của anh nhất định bị ghi nhữngcâu nhận xét độc ác Và đó là bản chất nhân đạo của chủnghĩa, của chế độ. Ở trại kiểu mau Z30 D, K1, lao động cóthể lề mề nhưng tư tưởng bị kiểm soát gắt gao. Bởi nó là son phấn của chính sách học tập cảitạo, là nơi Tú Bà cộngsản dễ lửa bịp khách làng chơi thế giớitự do bằng “nước vỏ lựu, hoa mào gà” Mác-xít-lê-ni-nít!

Đầu tháng 5-1980, Z30 D thả một số đông tù nhân sĩ quan quân đội. cảnh sát và hạ sĩ quan an ninhquân đội, cảnh sát đặc biệt. Lê Ngọc Biên trúng số kỳ này. Những người trúng số K2 và K3 ra hết K1 .Họ tập trung ở hội trường, ăn ngủ ở đó thêm 10 ngày để chờ làmthủ tục. Thủ tục là gì. Lãnh đồng hồ, bút máy nhẫnvàng, giây chuyềnvàng đã đăng ký. Lãnh giấy ra trại, tiền đi đường…. Chỉ cần làm việc một ngày là xongmọi thủ tục. Nhưng Ban Giám Thị muốn “thầu” nhân lực 10 ngày củatù nhân. Họ sắp về nên lao động hăng lắm. Tù nhân vào rừng chặt đọt buông và bắt cắc kè để Ban Giám Thịbán cho Hợp tác xã ở thành phố Hồ ChỉMinh. Tiền vào túi Ban Giám Thị. Không có bảo đảm về tính mạng cho tù nhân đã được tha nếu họ chết trong lao động “làm giày cho Ban giám thỉ”. Những người được tha mòn mỏi thêm 10ngày. Họ rất sợ Bộ Nội Vụ ra quyết định mới giữ họ lạivài năm nữa. 10ngày lâu bằng suốt quá trình lao cảié. Chỉ khixách túi hành lýnhỏ, cầm giấy ratrại, lĩnh vài đồng bạc tiền đường vàbước nhanh ra quốclộ, người được tha mới thở phào. Ân huệ của cộng sảnthật đòi đoạn.Ban Giám Thị Z30D đã bóc lột tù nhân đến giọt giọt mồ hôi lao cải cuối cùng.

Giám thị Z30 D tên Nguyễn văn Mạnh, mang quân hàm Đại tá công an, già nua, có cô vợ trẻ. Vợ hắn bắt tù canh tác riêng một vườn ngô, vườn khoai. Tù nhân phải ăn thêm ngô, khoai của vợ Giám thị Mạnh. Mụ này bán ngô, khoai cho trại. Mụ cũng nuôi đàn vịt, bán trứng cho tù nhân qua trung gian tù nhân Đội chăn nuôi, giá cắt cổ. Ở Z30 D, chúng tôi phải ăn sắn lát. Bạn biết sắn lát chứ? Nông dân hai bên quốc lộ số 1 thuộc phạm vi huyện Hàm Tân trồng khoai mì, thái từng lát mỏng, phơi nắng đầy đường cho khô cứng rồi đóng bao bố nộp thuế nông nghiệp cho nhà nước. Nhà nước bán rẻ cho nhà tù. Nhà tù hầm sắn lát cho tù nhân ăn. Sắn lát ăn với nước muối. Tiêu chuẩn như vầy:

– Sáng, điểm tâm một chén sắn lát đầy có ngọn. Lao động 4 giờ.

-Trưa, một chén sắn lát, một chén cơm. Lao động 4 giờ.

-Chiều, một chén sắn lát, một chén cơm. Ngủ 8 giờ.

Ăn sắn lát thảm hơn ăn bo bo, ăn bắp đá. Với khoai, bắp, sắn, bo bo là thực phẩm lý tưởng. Răng rụng và bao tử loét vì bắp đá, bo bo, sắn lát.

Thỉnh thoảng, tù nhân bị ăn cá biển ươn cả tuần. Chả là công an kinh tế ngoài quốc lộ bắt trúng cá Phan Thiết chở vào Sài gòn bán lậu. Bèn phạt. Dân buôn chạy tiền phạt thời gian hạn định không nổi. Đành để công an kinh tế tịch thu. Công an kinh tế bán rẻ rề cho Ban Giám Thị Z30 D. Tù ăn cá thối 7 ngày thì 7 ngày sau ăn toàn sắn lát. Gạo trừ cá. Ban Giám Thị bán gạo cho dân ngoài quốc lộ. Thỉnh thoảng, tù nhân được phát muồng xanh chua lòm. Ăn muồng xanh cũng bị trừ phần cơm. Ban Giám Thị rất giỏi kế hoạch kinh tế…nhà tù. Mỗi tháng, một tù nhân bị ăn cắp một ký gạo nhai sắn lát thay cơm, 3000 tù nhân đã đóng góp vào túi Ban Giám Thị số tiền lớn, năm này qua năm khác. Chưa kể đọt buông, cắc kè của hàng ngàn tù nhân được tha “lao động tự giác 10 ngày”. Z30D, bí số của đốn mạt! Nó là thứ kiểu mẫu của gian lận, bịp bợm.

Z30 D có hai nhân vật tù nhân. Ông Paul Nur, Tổng trưởng Bộ sắc tộc triều đại Nguyễn văn Thiệu và cụ Trân (hay Trản), thân phụ của cố thiếu tướng Nguyễ văn Hiếu. Ông Paul Nur, “con bà phước”, nấu bếp ở Đội cấp dưỡng. Tổng trưởng Paul Nur thường được cán bộ ưu ái cho giết bò những ngày lễ lớn. Đền công ông, cán bộ tặng ông da bò! Ông đem về treo sàn bếp. Một ngày xấu trời của năm 1982, Tổng trưởng Paul Nur ăn khá nhiều da bò hầm. Ông bị sình bụng. Bác sĩ Nhơn đã về. Bác sĩ Hoàng Cầm mải đi chơi xa. Y tá không biết trị bệnh. Thế là Tổng trưởng Paul Nur về…sum họp với tổ tiên. Cụ Trản thuộc loại lão thành phản động. Cụ bất chấp kỷ luật của Z30 D.Hình tưởng một cụ già ngoài 70 tuổi mà còn bị đày đoạ ở Đội trừng giới, sẽ hiểu tinh thần bất khuất của cụ.

Thời gian tôi ở Z30 D, hầu như tháng nàocũng được kết quả xổ số. Tháng 7-1980, khá đông sĩ quan cải tạo ở Thanh Nghệ Tĩnht về Z30 D. Có ông thiếu tá nhẩy dù Phạm Đình Cung, hỗn danh Cung củ đậu. Tùnhân cải tạo ở miền Nam vẫn tưởng tù nhân cải tạo ở miền Bắc ngoan cường lắm. Z30 D đã thất vọng nhóm tù nhân về từ Thanh Nghệ Tỉnh. Họ ở khu B. Nhiều lúc tôi muốn văng tục với loài người. Con người không dám phản kháng chỉ mong con người khác phản kháng. Và khi con người mình kỳ vọng bất động, mình thất vọng, mình coi thường! Tôi đã bị nghe những lời bình phẩm nặng nề tù nhân Thanh Nghệ Tỉnh của những ông tù nhân Z30 D thuộc loại “bầy tỏ chí khí trong bóng tối “. Tù nhân Thanh Nghệ Tỉnh về không bị biên chế sang các đội cũ của Z30 D. Họ được ở chung với nhau. Và đó là những đội của sĩ quan quân đội trình diện học tập cải tạo. Tháng 9-1980, Đội 27 của tôi gặp sự rắc rối. Bấy giờ Vũ Tiến Đạt đã bị “cất chức” Đội trưởng. Đội trưởng mới Nguyễn văn Thành, sĩ quan cảnh sát tốt nghiệp Viện cảnh sát quốc gia, tác giả vụ bắt sòng bài tổ chức tại nhà ca sĩ Thanh Thúy, đường Cao thắng và vụ đột nhập sòng thuốc phiện Tư Cao. Nguyên nhân sự rắc rối như vầy: Tôi nằm giữa Nguyễn văn Hải, trung úy quân đội và Bùi Đình Mừng, phản động hiện hành. Ngô của đội tôi đã ra bắp. Quản giáo chọn người đi canh ruộng bắp. Thư ký đội (tôi quên tên), trung úy không-ảnh, được giao phó công tác canh ngô. Chủ nhật, anh ta về muộn, lúc trại đã điểm danh chiều và tù nhân đã vào “chuồng”, cửa đã khóa. Anh ta đứng ngoài đợi trực trại mở cửa. Nguyễn văn Hải ngứa miệng:

– Sao không trốn luôn đi? Chăm lắm. Trước đây mà chăm một góc thôi, đâu đến nỗi mất nước.

Bùi Đình Mừng vồ được câu “đại phản động” này. Nó vốn thù ghét Nguyễn văn Hải “con bà phước”, vì Hải ưa nói móc nó. Mừng to họng nhất đội, thích đấm đávà thích chụp mũ “ăng ten” lên đầu người khác. Nó hỏi tôi:

– Anh có nghe gì không?

– Nghe gì?

– Anh Hải vừa nói.

– Không.

– Tại sao anh không nghe?

– Tôi bận hút thuốc lào và rồi tôi phê…

Họp đội, Bùi Đình Mừng đưa Nguyễn văn Hải vào mục phê bình. Nó nhắc nguyên văn câu của Hải. Nó bắt tôi làm chứng. Tôi nói:

– Tôi không nghe thấy gì cả. Vì tôi phê thuốc lào. Dẫu tôi nghe thấy, làm chứng hay không là do tôi thích hay không, anh Mừng không có quyền bắt tôi làm chứng. Chứng nhân là ân nhân của pháp luật, không là nạn nhân của pháp luật, anh Mừng hiểu chưa?

Đội trưởng Thành không ghi chuyện này vào biên bản. Bùi Đình Mừng báo cáo quản giáo. Họp đội tại nhà lô. M ừng quyết liệt tố cáo Hải. Tôi vẫn “không nghe gì cả,vì phê thuốc lào”. Phiên họp giải tán. Quản giáo gọi tôi, hỏi riêng:

– Anh Hải có khả năng nói thế không?

– Tôi không nghe gì cả.

– Có khả năng nói thôi?

– Tôi biết anh Mừng ghét anh Hải. Khi người ta ghét nhau thì nhẹ là nặng, ít là nhiều.

Quản giáo bỏ qua vụ này. Tôi thêm hỗn danh Long phê sau khi đã là Long ếch mù. Bùi Đình Mừng không dám sinh sự với tôi. Từ đó, nó hết bảo người này “ăng ten” người kia “ăng ten”. Và “cơ” của tôi bắt đầu lên!

(1) Xin đón đọc Chiến Bại, tiểu thuyết của Duyên Anh viết về những tù nhân trở về đời sống cũ

 

 

-14-

Tôi đã thèm qua nhiều nhà tù, nhiều trại tập trung. Thế mà, đến Z30D thì tôi không muốn bị chuyển trại nữa. Ở đâu cũng vậy, ngục tù rập một khuôn y hệt cuộc đời, rập một khuôn xã hội chủ nghĩa. Còn lâu mới tiến lên xã hội cộng sản. Ông Phạm Văn Đồng đã khẳng định vậy, trong một cuốn sách văn nô viết ký tên ông ta. Con người phải nhục nhằn, mòn mỏi thêm nữa, thêm mãi; phải trường kỳ thống khổ để khi đạt được lý tưởng cộng sản, nó trở thành kẻ mất hết cảm xúc, cảm giác; nó không thèm muốn đến cả hạnh phúc nó mơ ước. Bởi vì, lúc ấy, nó hết là con người. Năm 1848, Engels phóng ra Tuyên ngôn Đảng cộng sản, tính đến nay, 1987, đã là 139 năm. 139 năm loài người “có” chủ nghĩa và Đảng cộng sản mà chủa nghĩa và Đảng ấy mới chỉ hồ hởi phấn khởi thông báo rằng, đã có những hai công dân hưởng quy chế xã hội cộng sản ở Đông Đức! Nếu thành tích khiêm tốn này chưa đủ nói lên sự “ưu việt” của chủ nghĩa cộng sản “bách chiến bách thắng”, của “đỉnh cao trí tuệ” loài người, nên ghi chú thêm rằng: Hai công dân Đông Đức hưởng quy chế xã hội cộng sản là hai nhà bác học! Mà quy chế xã hội cộng sản là gì? Đó là mua sắm ăn uống ở bất cứ nơi nào cũng không phải trả tiền. Đặc biệt không phải…xếp hàng, chen lấn! Như thế, còn lâu ngục tù mới rập khuôn cộng sản. Và nó chẳng thể giúp tù nhân hiểu thêm sự thống khổ mới của quy chế ngục tù cộng sản. Nên trại lao cải nào cũng giống trại lao cải nào, nhà tù nào cũng giống nhà tù nào. Đã sống tĩnh ở Chí Hỏa, đã sống động ở Sa ác là đã sống trong bóng tối, ngoài ánh sáng, sống trọn vẹn cuộc đời tù tội không xét xử không án tích.

Hai mươi năm trước, đọc bài phỏng vấn danh ca Charles Aznavour đăng trên tuần báo Jour de France, sau chuyến đi trình diễn của Aznavour ở Liên Xô về, tôi thấy người danh ca này có nhận xét độc đáo vô cùng.

– Ông vừa trình di diễn ở Liên Xô về?

– Vâng.

– Khán giả Liên Xô thế nào?

– Ở Liên Xô, đã thành công tại Moscou, sẽ hoàn toàn thành công khắp nơi. Tôi đã thành công tại Moscou. Ở Mỹ. chẳng hạn, thì khác. Thành công tại Washington chưa chắc đã thành công tại Houston, có khi, còn thất bại tại Los Angeles…

rong chế độ cộng sản. mọi thứ đều rập khuôn, kể cả khuôn thưởng ngoạn nghệ thuật, khuôn hoan hô, khuôn đả đảo, khuôn nói dối. khuôn hứa láo, khuôn bịp, khuôn đạo đức giả, khuôn chà đạp phẩm cách con người, khuôn tước đoạt nhân quyền, khuôn bắt bỏ tù, khuôn lao cải…. Thì qua một nhà tủ đã là qua tất cả nhà tù, qua một trại tập trung đã là qua tất cả trại tập trung. Ơ Z30 D không có những con gọng vó để lôi được soi sáng thêm cái triết lý sống lội ngược dòng. Nên tôi nhớ Sa Ác, nhớ sông Ray, nhớ đề lao Gia Định, nhớ khu Cl, nhớ Chí Hoà, nhớ khu FG. Tôi có ý nghĩ này: Càng ở những nơi đau khổ nhất, con người càng gần gũi nhau vả lòng người rộng mở, tình người thắm thiết. Ở nhà tù. khi anh từ cachot ra, anh được đón tiếp như anh em ruột thịt lưu lạc phương xa trở về mái nhà gia đình.. Ở trại tập trung, khi anh từ cachot ra. anh cảm thấy lẻ loi, cô độc dù, đôi bận, anh đã vì mọi người mà “dấn thân’ vào cachot. Thành ra tôi tương tư nhà tù, tôi thèm được trở lại nhà tù, thèm được ghẻ mủ, thèm được cấp mỗi ngày bốn ca nước, thèm nghe tiếng kẻng gầm gừ đe dọa thân phận làm người… Con người chỉ có thể ngủ vùi trong hoan lạc mà khó có thể ngủ vùi trong thống khổ. Nỗi thống khổ giúp con người thức tỉnh, suy tư truy nã thân phận nó, thân phận dân tộc nó và thôi thúc nó chiến đấu.Thiếu thống khổ bản thân là thiểu cảm thông nỗi thống khổ của tha nhân, đôi khi. còn thô bạo dầy đạp lên cả nỗi thống khô của tha nhân, của dân tộc, của nhân loại. Những kẻ chưa một lần thống khổ là những kẻ chưa biết chiến đấu. Những kẻ chưa kể khổ, than khổ, tố khổ lại là những kẻ không biết chiến đấu Nhưng, tệ mạt nhất, vẫn là những kẻ tưởng tượng thống khổ, bêu nhục thống khổ và nhân danh khổ để đấu thầu lòng yêu nước, sự vinh hoa và một chút tiếng tăm gầy còm. Những kẻ này cần thiết phải bị vào nhà tù cộng sản. Để họ vỡ nghĩa thống khổ. Để họ hiểu cái hun hút của một ngày tù Một ngày thôi. Nói chi một tháng, một năm, sáu năm, mưòi năm, trọn đời. Sự phán xét phẩm cách, nhân cách của người khác chỉ có giá trị khi chính ta bị bỏ khát ở conex những trưa nắng bỏng, ta há hốc miệng, lưỡi thè ra như chó và ta sẵn sàng liếm từng giọt nước do cai ngục hắt qua kẽ hở của cửa Conex. Những kẻ hăng say luận về nhân cách, về lòng can đảm thường quên bản năng sinh tồn. Tôi tin rằng, bị bỏ khát trong conex, những kẻ ưa phán xét con người nhất sẽ là những kẻ không thích liếm giọt nước hình phạt mà tình nguyện quỳ lạy để nốc ừng ực một ca ân huệ có điều kiện sám hối. Chỉ cần một lần xuống hầm phân vục cứt đầy ròi bằng tay trần, chỉ cần một lần lặn xuống sông kiếm đá, ở Sa Ác, tôi tự cho phép tôi ngồi lên mặt những kẻ hèn mạt chuyên nghề phì nọc độc vào nỗi bất hạnh của đồng loại.

Bỗng tôi nhớ Chí Hòa và Đoàn Kế Tường vô cùng.

o O o

Người bạn tuổi nhỏ của tôi có biệt tài “sáng tạo” lời ca cho những bản nhạc “cách mạng” và nhạc “Mỹ Ngụy”. Anh ta “chế” lời bản Love Story, tiếc rằng tôi quên hết, chỉ nhớ câu đầu. Tôi nghĩ, chỉ cần một câu là diễn tả trọn vẹn tâm sự của tù nhân chính trị, tù nhân tư tưởng trong các chế độ cộng sản.

Biết vào tù rất khó
mà mình vào tù rất dễ
Mình vào tù rất dễ
mà mình về thì rất khó
Ba năm rồi đó…

Khi Đoàn Kế Tường nghêu ngao, cả phòng cười. . Cười xong thì thấm thía. Sống với cộng sản, vào tù thật dễ, thật đông, vào cả làng một lúc mà về thật khó, thật iít, về từng người . Đoàn Kế Tường là vua chế lời ca mới và vua sưu tầm lời ca “phản động” của dân gian. Anh ta đã hát cho chúng tôi nghe bài Đường tầu thống nhất

Năm xưa anh phá núi, em mở đường
xuyên Trường Sơn đồi núi chập chùng
Năm nay cũng bao bàn tay
phá núi trên mở núi dưới
Tự hào là ta anh dũng
Tự hào là những chàng trai
Tuổi thanh niên sức dai Phù Đổng
Cháu ngoan của bác Hồ
đi mỏ đường thống nhất quê hương….

thành bàiBài ca của dân móc túi

Năm xưa anh móc túi em giật đồ
xa-cảng Miền Tây thành phố Sàigòn
Năm nay cũng bao bàn tay
móc túi trên luồn túi dưới
Tự hào là dân móc túi
Tự hào là những chảng trai
Tuổi thanh niên trót theo cộng sản
Cháu ngoan của bác Hồ
chuyên giật đồ móc túi nhân dân…

Bài Vàm Cỏ Đông

Ở tận sông Hồng em có biết
Quê hương anh cũng có dòng sông
Anh vẫn gọi với lòng tha thiết
Vàm Cỏ Đông..ơi…Vàm Cỏ Đông

Thành bài Vùng Bù Đăng.

Ở tận Huê kỳ anh có biết
Quê hương em đếch có gì ăn
Em mới dọn đến vùng kinh tế mới
Vùng Bù Đăng hay Bù Nho
Vùng Bù Đăng hỡi vùng Bù Đăng
Sắn ngô nhai mãi khốn khổ vô cùng
Mỹ cút đi rồi, chồng học tập muôn năm

Bài Lá đỏ.:

Gặp em trên cao lộng gió
Đường Trường Sơn ào ào lá đỏ…

Thành bài Chợ trời:

Gặp em khơi khơi đầu gió
Đường Hàm Nghi ồn ào lính đuổi
Em đứng cạnh cột đèn như con buôn
vai áo nhuộm phong trần
Quần đen, bao nhiêu một cái
Đài xài pin chừng nào mới đổi
Em bán bằng tiền Hồ hay đô-la
hay giá vàng Kim Thành

Chào em, em gái chợ đen, ôi em gái chợ đen
Hẹn gặp em giữa nhà tù

Đoàn Kế Tường thuộc, ít nhất, hai chục bài ca cách mạng lời…hai. Anh ta chế lời bài Gia tài của mẹ của Trịnh Công Sơn mới thú vị:

Một nghìn năm ta đuổi thằng Tầu
Một trăm năm ta đuổi thằng Tây
Hai mươi năm đuổi Mẽo từng ngày
Gia tài của mẹ: gạo độn ngô khoai
Gia tài của mẹ: gạo mốc dài dài.
Dạy con đeo răng sắt mà nhai
Dạy con mua thuốc đau dạ dầy
Ăn sắn con thành chai
Ăn sắn tiêu hình hài

Chưa đủ, anh ta chế thêm:

Một nghìn năm sinh được cụ Hồ
Một trăm năm răng rụng cạp ngô
Hai mươi năm sản xuất từng giờ
Gia tài của mẹ trả nợ Liên Xô
Gia tài của mẹ còn cái chuồng bò.
Dạy cho con lấy đá mà ăn
Dạy con lấy rơm mà gặm
Con sẽ no lầm than
Con sẽ no nhục nhằn…

Tôi đã mơ mộng, nếu thoát đời tù, trốn ra ngoai quốc. xách đàn đi hát dạo những “ca khúc cách mạng” lời “phản động”, đọc ca dao và kể chuyện tiếu lâm cộng cho đồng bào hải ngoại nghe. Giấc mộng của tôi đã cháy. Bây giờ, nó thành tro tàn. Người ta không hiểu nổi giá trị chống cộng sâu sắc của dân gian. Và người ta đã, đang, tiếp tục chống cộng sản theo cung cách “mới”, cái thứ “mới” làm héo hon niềm tin của người ở lại, của cả kẻ ra đi, cái thứ gọi là mới mà đã cũ mèm, lạc hậu, trong khi, cộng sản không ngừng “sáng tạo” những thủ thuật lưu manh. Mỗi thủ thuật cộng sản phóng ra, chúng ta chới với,, chúng ta chụp mũ lẫn nhau lung tung, chúng ta chổng chúng ta, chúng ta chia rẽ nhau và chúng ta giết nhau. Riêng cái thủ thuật chấp nhận cho người Việt Nam rời khỏi Việt Nam sau 1975, bất kể chính thức, bán chính thức hay vượt biên, vượt biển, được về thăm Việt Nam, du lịch Việt Nam dễ dàng, cộng sản đã được cả chì lẫn chài. Chì là ngoại tệ và tuyên truyền. Chài là chúng ta gấu ó nhau, ngờ vực nhau và vô hiệu hóa tị nạn chính trị. Lúc nào và ở đâu, cộng sản cũng thâm độc. Sau ngày 30 tháng 4-1975, chúng ta nhận diện rõ những tên nằm vùng gộc, những tên ăn cơm quốc gia ngon nhất, những tên chống cộng nỏ mồm nhất và chụp mũ cộng sản lên đầu người quốc gia kỹ nhất. Những tên nằm vùng này nằm trong mọi lãnh vực, mọi cơ cấu quốc gia. Người ta sẽ nhìn rõ “đồng nghiệp” nằm vùng của chúng ở Hoa kỳ, ngày nào đó, khi Hoa kỳ bang giao với cộng sản Việt Nam. Người ta sẽ ngỡ ngàng. Người ta sẽ có kinh nghiệm. Nhưng kinh nghiệm đó không còn cơ hội…rút tỉa nữa. Cũng chẳng ai thiết rút tỉa nữa. Nói tóm lại, cộng sản Việt Nam đánh chúng ta mọi mặt, đánh rộng rãi, đánh kiểu mới; chúng ta thu hẹp sự đánh cộng sản vào từng Mặt trận, từng Lực lượng, từng Hội đoàn… Chúng ta đánh chúng ta kỹ hơn chúng ta đánh cộng sản. Cộng sản chuyên chế, cấm đối lập. Chúng ta cũng cấm… đối lập, dù chúng ta hô hoán chiến đấu cho tự do, dân chủ Năm 1985, ở Mỹ, ở Úc, ở Âu, chúng ta vẫn chống cộng kiểu cũ, mốt 1954 ở Việt Nam. Vẫn vậy, những cuộc tuần hành đả đảo cộng sản ngày quốc hận 30-4-75 như ngày quốc hận 20-7-54, càng năm càng thưa dần. Vẫn vậy, những trang báo, những hình ảnh mô tả Hà nội, Sài gòn hôm nay nghèo đói, cúp điện. Vẫn vậy, những buổi diễn thuyết hiếm hoi bàn về cái thế tất thua của cộng sản một cách khơi khơi. Cái mới mà chúng ta mong mỏi là tư tưởng chiến đấu thật mới, thật thích ứng với người Việt lưu vong để tận diệt cộng sản giải phóng quê hương thì chưa hề có. Nhưng đã có những Hội Nghị và Nghị Hội với những khuôn mặt cũ mèm không bao giờ biết xấu hổ. Xin làm ơn ghi nhận: Cộng sản Việt Nam đã đưa ra nhiều khuôn mật thật mới. Hình như ít ai trong chúng ta “bi quan” nghĩ rằng, chúng ta không được phép thất bại, không còn thì giờ làm lại nữa vì chúng ta “lão thành” rồi. Hình như, tất cả đều “lạc quan” mình còn trẻ lắm, sau mình là đại hồng thủy nên đã thất bại liên miên, đã làm lại liên miên và chưa chịu tỉnh ngộ những kẻ đã hết thời thì không thể tạo thế.

Hôm nay là thế của tuổi trẻ dĩ vãng vằng vặc trăng sao, hiện tại hừng hực mặt trời, thời của sư tử trẻ không còn là thời của mèo già. Tuổi trẻ sẽ tạo ra thế. Nhiệt tình, tựphụ, thông minh, kiến thức và lương thiện của tuổi trẻ tạo ra cái thế chiến đấu mới để chiến thắng cộng sản. Nhưng, tuổi trẻ, anh ở đâu, thần tượng của tôi, hy vọng của dân tộc? Anh cũng còn chưa có mặt tại Nghị Hội, nói chi anh là lãnh tụ. Mà tôi, tôi chưa ngu đi lạy bọn mèo già hen suyễn để chúng nó “thương tình” cho tôi ân huệ trình bầy sự chống cộng sâu sắc của đồng bào quốc nội và đồng bào quốc ngoại. Bởi. tôi biết mèo già sẽ từ chối. Chúng nó không thích ai chổng cộng sản hay hơn chúng nó. Chúng nó độc quyền hen suyễn khò khè chống cộng sản.

Mộl triệu bài báo viết về sự nghèo đói của thủ đô nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam không hơn một bức hí họa không lời của dân gian vẽ trên tường rêu của Hà Nội. Bức tranh rất đơn sơ: Cái xe đạp không chuông, không “phanh”, không đèn, không “gác đờ bu” , “gác đờ sen”, chỉ có có mỗi cái “poọc ba ga” chở ba bó rau muống. Mỗi bó rau muống được ghi chú bằng lời một bài hát ca ngợi Đảng: Cho ngày nay, cho ngày mai, cho muôn đời sau. . Vậy thì ba bó rau muống trên cái “poọc ba ga” của cái xe đạp tam tứ ngũ lục thất bát. .vô, bó thứ nhất cho ngày nay, bó thứ hai cho ngày mai, bó thứ ba cho muôn đời sau , tưởng đã đủ “chửi cha” Đảng và chủ nghĩa cộng sản. Giá trị chống cộng của bức hí họa là nó đánh cộng sản ngay trên đất cộng sản, nó đánh Đảng, đánh bọn thống trị bóc lột quần chúng và làm ngu dốt quần chúng. Nó không đánh nạn nhân của cộng sản, những người sống trong quỹ đạo cộng sản và bị trở thành công cụ tội nghiệp của cộng sản. Nó không đánh con người khờ khạo nói ngọng .

Đến câu chuyện tiếu lâm sau đây thì tôi quả quyết quốc ngoại chống cộng thua hẳn quốc nội chống cộng về mặt tư tưởng: Unesco tổ chức thi tranh, giải thưởng lớn, đề tài “Nạn đói và người đói”. Các nước trên thế giới đều được gửi tranh dự thi, bất kể theo chế độ chính trị nào. Vòng thứ nhất, tranh của họa sĩ Hoa kỳ bị bại. Vòng nhì: các nước Tây Âu. Vòng ba: các nước Nam Mỹ, Phí Châu. Vòng tư: Liên Xô và các nước Đông Âu. Cuối cùng, Unesco tuyên bố tranh của họa sĩ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đoạt giải thượng hạng, ngoại hạng. Phòng triển lãm khai mạc chỉ treo bức tranh thuộc loại “siêu phẩm” trúng giải. Loài người háo hức đi xem và đều trầm trồ ca ngợi là thể hiện đúng “Nạn đói và người đói” ở các nước cộng sản. Bức tranh diễn tả một công dân Việt Nam trần truồng, gầy đét, ngồi khom lưng rặn ra. Rặn hoài mà phân không ra. Rặn đến màng nhện mọc kín đít, trùm mông mà phân vẫn không ra. Vì có gì ăn đâu mà tiêu hóa! Đói thế là đói ở cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Tiếu lâm trên được ca dao phụ họa:

Từ khi ta có cụ Hồ
Nhân dân chẳng được ăn no ngày nào

Ai sinh ra cái củ mì
Hỏi để làm gì, đáp để mà ăn
Nước nhà mãi mãi khó khăn
Dân mình mãi mãi phải ăn khoai mì

Tôi không mấy tin tưởng vào “sự nghiệp chống cộng” của những kẻ thiếu nhiệt tình và chưa hề thể nghiệm nỗi thống khổ kinh qua đoạn trường cộng sản. Những lãnh tụ mèo già hen suyễn khò khè chống cộng chỉ khiến tôi buồn nôn. Từ trong ngục tù tôi đã nghĩ rắng những cái sẹo cộng sản trên thể xác đàn anh, những dấu ấn cộng sản khó phai nhòa trong tâm khảm đàn anh, sự lương thiện chiến đấu của đàn anh cộng với nhiệt tình và lòng tự phụ của đàn em, chắc chắn, sẽ làm nên đại sự. Đàn em đủ sức công kênh nhau hái trái chín vàng mơ ước nấp sau chùm lá nào đó trên cây cao mỏi mắt chờ đợi đàn anh hướng dẫn. Nhưng đàn anh biết trái chín vàng mơ ước ở chỗ nào mà không chịu chỉ hay đã chỉ láo, chỉ bậy để đàn em mú tay vu vơ rồi tuyệt vọng và sa đoạ. Tôi nhớ Đoàn Kế Tường, nhớ Chí Hòa và nhớ vô cùng những con sư tử lãng mạn tôi đã gặp ở đề lao Gia Định… Dù bị quốc gia giả đạo đức, dù bị cộng sản đánh dập đánh vùi và gắn cho tước hiệu “nhà văn du đãng”, đọc lại Điệu ru nước mắt, Sa mạc tuổi trẻ, tôi vẫn thấy tự hào là đã nói lên được nỗi niềm u ẩn của tuổi trẻ. Tôi lại tiếp tục nói giùm tâm sự của họ, của tuổi trẻ thế hệ sau 30-4-1975, khi tôi gặp họ trong tù, ngoài đời; trong nước, ngoài nước. Tuổi trẻ trong nước đã kinh qua thống khổ cộng sản. Tôi tin rằng tuổi trẻ ngoài nước cũng đã kinh qua thống khổ cộng sản hoặc đã cảm thông nỗi thống khổ cộng sản mà dân tộc đang ngậm ngùi chịu đựng.

Thế thì, giấc mơ của tôi không tàn. Vì chúng ta còn tuổi trẻ, còn nhiều tuổi trẻ.

 

-15-

Những trang đã viết về tuổi trẻ,
cho tuổi trẻ suy tư từ ngục tù.

o O o

Phẩm cách tuổi trẻ

Những ai đã trọ ở quán Đề Lao Gia Định vào những năm 1975, 1976 và 1977 đều biết mặt hay biết tên những người tuổi trẻ Sài gòn đánh cộng sản, bị khép tội phản động, những người tuổi trẻ Sài gòn mà tôi gọi là những con sư tử non lãng mạn và cô đơn. Từ cuối 75 tới giữa 76, bầy sư tử lãng mạn lần lượt dính cạm bẫy và hiên ngang vào tù. Con trai. Con gái. Tất cả đều ngẩng mặt thách thức cachot, xiềng xích. Tất cả đều thắp lửa tím rực rỡ làm kẻ thù nể nang và làm đàn anh cúi mặt.

Tôi chưa thấy cái kiêu hùng của Bà Trưng, Bà Triệu, của Cô Giang, cô Bắc. Nhưng tôi đã thấy, tận mắt, các cô sinh viên trường Luật, các cô nữ sinh trường Lê Văn Duyệt, Gia Long chân mang xiềng mà miệng vẫn mỉm cười.

Tôi chưa thấy cái anh dũng của Phạm Hồng Tháỉ, của Nguyễn Thái Học, của Ký Con, của Trần Bình Trọng. Nhưng tôi đã thấy, tận mắt, các cậu sinh viên Vạn Hạnh, các cậu học sinh Chu văn An, Nguyên Trải.. .tay đeo còng mà mắt vẫn mộng mơ.

Họ biến thành khách hàng thượng hạng sáng giá nhất của Công Ty Khách Sạn Nhà Tù Cộng Sản. Người trẻ măng, 16 tuổi. Người trưởng thành, 22 tuổi. Tôi nhìn các cô ra vào cachot và in dấu chân tuyệt đẹp trên hành lang khu C1 Tôi nhìn các cậu ra vào cachot và gửi niềm tin chiến đấu thánh thiện trong gió quê hương. Rồi, hân hạnh biết bao, tôi được nằm chung với các cậu qua các phòng giam của các khu Cl và C2. Và khu FG, AH, BC của đỉnh cao tù ngục Chí Hoà.

Tôi quen thân Đặng Hữu Trí 16 tuổi, hiền lành và rất dễ thương. Đặng Hữu Trí can tội dám lập một tòa án xử Hồ Chí Minh. Tòa án vỏn vẹn ba người. Trí đóng vai chánh án. Hai bạn của Trí., một công tố viện, một luật sư Bị cáo Hồ Chí Minh chỉ là bức chân dung Người, in offset do nhật báo Sàigòn giải phóng ấn hành. Luật sư cố gắng biện hộ tội ác cho Hồ Chí Minh. Công tố viện buộc tội khắt khe. Chánh án Trí tuyên án xử tử Hồ Chí Minh. Chân dung Bác bị châm lửa đốt ngay tại tòa, một lớp học vắng vẻ. Tòa bế mạc. Câu chuyện được truyền tụng trong bạn bè. Rồi lọt tai công an. Chánh án, công tố viện, luật sư bị còng tay, bịt mắt dẫn đi. Luật sư, nhờ bênh vực Hồ Chi Minh, được tha về, sau một tuần lễ chấp pháp. Công tố viện, chánh án nằm cachot dài dài. Mà vẫn tự hào mình đã dám xử tử Hồ Chí Minh.

Tôi quen thân Hoàng Sơn Trường, 18 tuổi, cận thị, can tội chống phá “cách mạng”. Sài gòn mất, Trường mất mát nhiều thầy, cô, bạn bè, kỷ niệm. Cậu buồn bã đi tìm phục quốc Chẳng gặp ai, cậu ghé chùa An Lạc, rủ một chú tiểu tính chuyện nước non . Chú tiểu – tôi quên tên – hẳn đã đọc Tiêu Sơn tráng sĩ, bèn dậy tình sông núi. Vậy là chùa An Lạc, nằm phía sau đường Phạm Ngũ Lão, Sài gòn, biến thành trụ sở của “tổ chức”! “Tổ chức” nhiều nhiệt tình nhưng lắm vụng dại. Và “tổ chức” bị lộ. Hoàng Sơn Trường và An Lạc tráng sĩ vào tù . Mẹ của Hoàng Sơn Trường “nằm vùng” tới chức Phó chủ tịch Liên Hiệp Phụ Nữ tỉnh Sông Bé. Trường nằm cachot, hai tay bị còng chéo sau lưng liên tiếp 38 ngày đêm vì khước từ làm việc. Mẹ Trường tới đề lao, dụ dỗ cậu khai báo “đồng bọn” để được tha ngay hoặc mẹ cậu sẽ đoạn tuyệt cậu. Trường không khai báo. Cậu bị gia đình bỏ rơi. Và cậu không hề than thở.

Những cậu học sinh như Đặng Hữu Trí, Hoàng Sơn Trường, tôi đã gặp. Thí dụ thêm Đặng Cơ Bản, Đinh Cường, Đinh Dũng, Đinh Vượng, Trí loa, Trí ghẻ, Ngô Tỵ, Nguyễn Khánh Long… Các cậu ấy anh hùng trong hành động và biết giữ gìn phẩm cách khi sa cơ, thất thế. Tuyệt đối tôn trọng Nội quy nhà tù. Không lèm bèm trong bóng tối. Không chống đối rẻ tiền. Biết kính mến người tuổi tác và sẵn sàng giúp đỡ người bệnh hoạn. Điều mà tôi suy nghĩ và cộng sản suy nghĩ hơn là động lực nào đã quyến rũ các cô các cậu Sài gòn xuống thuyền một cách lãng mạn thế! Trước khi mời cộng sản chiếm Sàigòn, người Mỹ đã tận dụng các hệ thống tuyên truyền vĩ đại của mình để hù dân tộc Việt Nam, rằng cộng sản sẽ giết hết dân Sài gòn, sẽ có “biển máu” ở miền Nam. v.v… Do đó, bọn thống trị hèn mạt, bọn tướng lãnh đào ngũ, bọn dân biểu, nghị sĩ bù nhìn. bọn làm giầu bằng chiến tranh, bọn lãnh tụ xôi thịt…đã cuốn gói chạy thật nhanh, dù bị lính Mỹ đạp đá như súc vật, ở phi trường Tân Sơn Nhất và ở Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ! Bọn hưởng thụ trên xác chết của lính chiến, bọn nhẩy đầm trênbtiếng khóc của quả phụ, bọn uống sâm banh nước mắt của cô nhi, bọn cười đùa nỗi khổ của đồng bào, bọn kên kên rút ruột, mổ mắt tổ quốc, đã cuốn gói chạy thật nhanh để lại toàn bộ “chiến hữu” cho cộng sản quản lý, trong tù và trại tập trung khổ sai lao động. Tất cả đều đã tan rã. Bức dư đồ rách bươm . Đàn trẻ của Tản Đà, đau đớn thay, lại toàn lũ lãnh đạo chỉ biết chạy, chạy và chạy. Những kẻ không thích chạy trốn, không thèm chạy trốn mà còn đòi bồi vá bức dư đồ rách, đẹp đẽ thay, lại là tuổi trẻ Sài gòn sau 30-4-1975.

Người cộng sản đặt nghi vấn: Tuổi trẻ Sàigòn chống chúng tôi với mục đích gì? Họ có bị tước đoạt quyền bính đâu mà đòi phục hồi quyền bính cũ? Mà họ đã làm gỉ có quyền bính. Giữa chúng tôi và họ chưa nợ nần gì nhau. Tại sao họ chống chúng tôi? Nghi vấn ấy đã làm điên đầu cộng sản. Tuy rất cay cú tuổi trẻ nhưng họ phải kính phục. Những câu trả lời của tuổi trẻ Sài gòn hôm nay nằm trong Sỏi đá ngậm ngùi, Bầy sư tử lãng mạng, Hồn say phấn lạ. Nên nhớ thêm rằng, trong nhà tù cộng sản tôi đã gặp khá nhiều tổng trưởng, thủ tướng, bộ trưởng, sư đoàn trưởng! Rặt bọn thèm quyền bính phong chức tước cho nhau và tự phong. Rồi đi tù ! Tuổi trẻ Sài gòn không xuống thuyền vì chức tước, vì quyền bính. Họ mới đích thực là lãnh tụ của tôi. Phần còn lại của đời tôi, tôi sẽ dành để ca ngợi họ. Nhiều người đã chết. Nhiều người đã về nhà với bệnh hoạn. Riêng và duy nhất Bầy sư tử lãng mạn, gồm 28 người, dưới sự lãnh đạo của Lương Việt Cương, hiện đang nằm dưới hầm đá của trại Nam Hà B, Hà Nam Ninh (trại Đầm Đùn cũ). Chẳng một ai ở ngoài nước biết đến họ, dẫu người ta hô hào chống cộng sản, kháng chiến và tôn vinh vô số liệt sĩ. Hình như, những người tuổi trẻ dấn thân vào cuộc chiến đấu mới cũng chẳng thấy cần thiết phải có sự biết đến của những ai đang “âm mưu” chống cộng sản, ở ngoại quốc, dĩ nhiên. Trước hết, tuổi trẻ Việt Nam đã thực sự trưởng thành. Để tự làm cái mũ đội lên chính đầu mình. Thế hệ tuổi trẻ làm guốc cho lãnh tụ giả hình mài mòn vẹt trên đường công danh đã chấm dứt. Ở Sàígòn, đừng tưởng dân chúng còn ham nghe những tiếng nói chết vọng về từ bên kia Thái Bình dương. Đừng tưởng nữa vả nên im lặng. Giữa tiếng nói sống và tiếng nói chết đã là một phân ranh đánh dấu một thời đại. Thời đại của chống cộng rầm rộ và ồn ào đã vô hiệu quả. Những hô hoán chống cộng là tiếng nói chết. Nó đang buồn hắt hiu bên kia ranh giới của ba mươi năm cũ. Bên đây ranh giới, tiếng nói sống quyến rũ và tích cực: Đánh cộng sản. Đánh bằng nhiệt tình và lòng tự phụ. Đánh cộng sản để thắng cộng sản. Đánh cộng sản không mưu cầu địa vị, công danh; không mộng mơ cái chức lãnh tụ hư ảo. Đánh cộng sản vì hạnh phúc của dân tộc, vì quyền sống của con người và thản nhiên bước vào tù ngục để bị đầy đọa đến chết mòn.

Nhưng, từ đó, từ khởi sự của tuổi trẻ Sàigòn 30-4-75, là một thời đại mới, thời đại đánh cộng sản; thời đại mới gọi thương yêu gần gũi, thời đại ngăn cấm tàn sát, tù ngục, tập trung sau chiến thắng. Và tôi, người nghệ sĩ, tôi xin phép được đứng trong thời đại mới- dù tôi ở Paris, ở Washington hay ở Sài gòn. Tôi đặt hết niềm tin vào tuổi trẻ Việt Nam, bất kể lưu vong hay không lưu vong, thế hệ tuổi trẻ biết sáng tạo trong đấu, nhân danh hạnh phúc dân tộc, tự lên ngôi để vừa đánh cộng sản vừa học cách đánh. Nhị thập bát tú, 28 con sư tử non trong Bầy sư tử lãng mạn , như những lãnh tụ của tôi, những con người đích thực giải thoát quê hương, không cần ai nghĩ tới cái chết của mình, không cần ai quyên tiền đóng góp, không cần cả một nén hương tưởng niệm.

(Trước khi vào Sỏi Đá Ngậm Ngùi)
Nam Á Paris 1985

o O o

Tư tưởng mới của tuổi trẻ

Tôi đứng dậy, ra tận cửa, nhìn bên ngoài qua ô cửa gió. Đêm buồn bã. Sân cỏ ướt đẫm sương khuya. Dẫy tập thể, đèn néon sáng trưng. Các phòng tù nữ, mọi người đang ngủ trong những cái mùng giăng thấp lè tè. Ở phòng bệnh lao, một vài ông già ôm ngực ho. Từng chuỗi tiếng ho quằn quại cơ hồ những băng đạn quạt vào cuộc đời khốn khổ. Con đường hệ lụy, không ai ngờ lại có những nhà tù và những người tù chẳng hiểu mình can tội gì. Người ta sinh ra, cố sống thật lương thiện với lòng mình mà cam đành nằm ngục. Nếu người ta biết gian dối, người ta chấp nhận triết lý sống của loài cỏ đuôi chồn, có lẽ, yên thân hơn. Khổ nỗi, những người quá lương thiện thường bất bình những kẻ gian lận trong các trò chơi tư tưởng. Và, do đó, mới sản sinh ra loại tù nhân tư tưởng Anh không chấp nhận một quan điểm nào đó của một người nào đó, nếu người ấy chưa nắm quyền bính, anh sẽ bị bôi bẩn, sẽ bị truyền khẩu hạ nhục, sẽ bị rỉ tai vấy nhơ; nếu người ấy nắm quyền bính, anh sẽ bị bỏ tù, sẽ bị giết Người ta đã chống đối tư tưởng của nhau và người ta đã giết nhau theo cung cách ấy. Nhưng ít ai nghe tiếng ho quằn quại trong ngục thất đêm khuya, những tiếng ho không gợi niềm trắc ẩn và không đánh thức nổi lương tri của con người.

Trước đây, tôi sống rất hời hợt, tôi đã sống với hình thức của đời sống chứ chưa hề sống với nội dung nó. Mỗi kinh qua của lịch sử là mỗi kinh nghiệm tuyệt vời. Nhiều thứ phải chết cho nhiều thứ sống lại. Những thứ chết là lòng ích kỷ, sự ỷ lại, tâm hồn vọng ngoại, thói tị hiềm và mưu cầu hạnh phúc riêng tư. Những thứ sống lại là nhiệt tình, lòng tự phụ, sự can đảm, niềm tự tin và ước mơ xây dựng hạnh phúc cho mọi người. Tôi thức tỉnh do lịch sử sang trang bất ngờ, nhưng tôi khôn lớn , tôi biết nhìn vào nội dung cuộc sống nhờ những đêm im lặng hãi hùng trong các thứ cachot. Cuộc sống vô tận, tôi mới chỉ ngốn hết ba mươi trang. Tôi chưa hiểu mình sẽ sẽ đọc đến trang thứ bao nhiêu. Thật lòng, tôi muốn đọc tới trang cuối cùng. Nhiều bạn bè tôi đã di tản trước ngày 30-4-1975. Họ đang có mặt ở Mỹ, ở Pháp, ở Gia Nã Đại . Tôi không biết tâm trạng họ ra sao, nhưng biết chắc họ đã thỏa mãn vật chất.

Đời sống được định nghĩa thế nào? Nếu nó đã được định nghĩa là sự thụ hưởng thì mọi kinh qua của lịch sử đều vô íc, thì những người di tản qua Mỹ, qua Pháp phải cám ơn cộng sản. Nhờ cộng sản thôn tính miền Nam họ mới có cơ hội xa quê hương, có nhà cao cửa rộng, có xe hơi chạy vung vít, có những đêm nhảy đầu tíu tít và có những giọt nước mắt cay thuốc lá gửi về “xót xa cho những người ở lại”. Ngay thẳng mà nói, nhiều người di tản và vượt biển phải cám ơn cộng sản vô vàn. Đời sống tăm tối của họ, sự ngu dốt của họ tại quê nhà đã rực rỡ và sáng giá tại quê người. Và họ đã dám âm mưu cả chuyện về giải thoát chúng tôi! Buồn cho họ, đời sống đã không bao giờ được định nghĩa là sự thụ hưởng vật chất. Những miếng ngon nhất và những miếng tồi tệ nhất đều tiêu hoá giống nhau và đều có mùi vị giống nhau. Miếng ngon có thể làm cho con người béo mập, phì nộn, đồng thời, nó cũng làm con người ngu si, ích kỷ, hẹp hòi, ti tiện. Miếng tồi tệ – miếng cơm tù đày, chẳng hạn – làm gầy mòn con người nhưng lại giúp con người khôn ra, lớn lên, đầy đủ chiều cao, chiều rộng, chiều sâu; giúp con người từng trải, độ lượng và cao thượng. Vậy thì đời sống chỉ có định nghĩa chính xác với ai dám sống, sống đến tận cùng và can đảm chịu đựng mọi thử thách cam go của đời sống. Bởi vì, sau những thử thách khốn cùng, con người sẽ để lại một ý nghĩa cao cả cho những đời sống kế tiếp.

Tôi không có tham vọng ghê gớm ấy. Đời sống đẩy tôi vào sự thử thách quá ngỡ ngàng đối với tôi. Lịch sử dẫn tôi ra khơi, bỏ tôi loay hoay giữa cuồng sóng. Tôi phải tự lo lấy. Không ai giúp tôi cả. Không ai an ủi tôi cả. Tôi nhập cuộc cũng không cần đòi hỏi những đền bù này nọ. Tôi chiến đấu cần thiết như tôi thở, tôi yêu. Thế thôi. Lãng mạn và cô đơn. Âm thầm và khiêm tốn. Còn ai thích hiểu sao, tùy ý họ. Tôi không bao giờ là chiến hữu của những người trong trận tuyến hư ảo, những người đang cổ võ phục hồi cái dĩ vãng tanh ươn, mục rã. Nếu chiến đấu để sống lại tháng năm buồn tênh cũ, thà chấp nhận cái hiện tại rạc rài này còn hơn. Tôi cũng chẳng bao giờ là chiến hữu của những người hiếu sát hung hăng đòi giết hết quân thù. Thời đại của tàn sát đã cáo chung. Không có thúu hạnh phúc nào tưới bằng máu cả. Những kẻ toan tính thọc huyết kẻ thù như thọc huyết heo là những kẻ ngu xuẩn, hắc ám và dốt nát; là những kẻ toan tính thiết lập ở quê hương Việt Nam những lò sát sinh ghê tởm hơn cả những trại tập trung lao cải. Tôi chống sự man rợ từ mọi phía và tôi thành thật nói rằng, khi lịch sử đã sang trang có nghĩa là gánh hát đã rã đám, đào ca, kép hát và hề đã bị sa thải. Không ai để cho bọn đào kép cũ chơi tuồng mới nữa. Dân tộc đã chán nản họ.

Chỉ còn những đứa vô liêm sĩ mới tự hoá trang, mũ mảng cân đai diễn trò phục hồi dĩ vãng. Và cũng chỉ còn những đứa cắn hạt gạo chư vỡ mới cổ võ cái trò hề rẻ tiền ấy. Chúng tôi dấn thân vì không muốn bị tách rời khỏi dĩ vãng của mình. Dĩ vãng của chúng tôi, dứt khoát, không nằm trong dĩ vãng hèn mạt của hai mươi năm lịch sử ô uế miền Nam, của ba mươi năm lịch sử ô uế miền Bắc. Nó ở trên tất cả. Nó đòi hỏi kép mới, tuồng mới. Nó đòi hỏi tẩy sạch những trang lịch sử đầy vi trùng mác xít của bọn lãnh tụ giả danh, của lũ lãnh tụ tôi mọi tư bản. Nó đòi hỏi một tương lai thật mới, thật lạ, thật nhân bản. Nó muốn dân tộc đoàn tụ và yêu thương . Hàng chục ngàn người tuổi trẻ Sàigòn, bầy sư tử non của thời đại, đang có mặt trong các ngục tù cộng sản, đã xuống thuyền vì nó. Sư tử không rống, như đào tàn tạ nhan sắc,, như kép hoen rỉ giọng ca. Sư tử âm thầm và khiêm tốn. Sư tử lãng mạn và cô đơn. Ý nghĩa cao cả của chiến đấu là, hãy trực diện đương đầu với quân thù, hãy chấp nhận trừng phạt của quân thù, không kêu cứu, không rên siết, không nghĩ thất bại, không màng thành côn. Ý nghĩa đó làm sao tìm được ở bọn chạy trốn, bọn đào ngũ trước lệnh đầu hàng. Ở bất cứ không gian và thời gian nào, bọn tiêu bạc giả vẫn ồn ào hơn những người tiêu bạc thật, và, đôi khi, tiếng nói của chúng khoả lấp tiếng nói của người khác bằng bạc giả của chúng tung ra.

Tôi trở về chỗ nằm, đợi chờ giấc ngủ. Con cắc-kè già trên cây me góc sân cọ cựa cổ họng và buông những tiếng buồn thảm. Đêm cachot, nghe cắc-kè kêu, hình tưởng vô vàn những đổ vỡ, mất mát. Cuộc chiến hai mươi năm kết thúc thật phũ phàng nhưng cũng thật lạ lùng. Vớ những người Việt Nam chân chính muốn tái tạo một xã hội lương thiện, tốt đẹp thì sự kết thúc của cuộc chiến là một vận hội mới. Nó bứng tận cội rễ giai cấp thống trị bất lương và gian manh. Nó phơi bầy rõ rệt chân tướng của bọn tướng lãnh “pạc-ti-dăng”, gái, rượu, ăn cắp, buôn thuốc phiện, chứa thổ đổ hồ. Nó tước đoạt hết quyền uy kinh tế của lũ tư sản mại bản Chợ Lớn, thứ quyền uy từng rút máu và gặm thịt nhân dân Việt Nam và thông đồng với Cộng Sản. Nó đẩy đám làm giầu trong chiến tranh, làm giầu trên nghĩa trang quân đội vào tù ngục. Nó dìm bọn cầy cáo, gia nô, hạc gỗ xuống đất đen. Đồng thời nó lay động tâm hồn thật của dân chúng. Nó kêu gọi vất bỏ ích kỷ, ươn hèn. Nó mời gọi đùm bọc, yêu thương. Nó soi sáng ý nghĩa tự do, dân chủ, đau khổ và hạnh phúc. Nó cụ thể những gì đã là trừu tượng. Nó kích thích những giọt nước mắt và vuốt ve nhiệt tình. Không cần nói Cộng Sản gian ác, thú vật nữa. Bầy qủy đã vào thành phố. Và ngay cả con nít cũng xa lánh, ghét bỏ. Người Việt nhìn rõ cả trái đất để làm lại miếng đất cua mình. Chuyến đi trăm năm của người Việt đã quá xa, quá cay đắng. Bây giờ là lúc trở về. Trở về từ bước thứ nhất thong thả, vững chắc. Trở về từ ý nghĩ mới, tâm hồn mới, tư tưởng mới. Những kẻ ôm khư khư cái hào quang đắc thời nô bộc không thể trở về. Thời đại của khuyển Nho, khuyển Tây, khuyển Nhật, khuyển Mỹ đã đăng cáo phó. Và sắp đăng cáo phó thời đại khuyển Nga, khuyển Tàu.

Đã vắng mặt chính quyền trên đất nước này, lâu rồi. Chỉ có phỉ quyền và ngụy quyền. Một bên ăn cướp, một bên ăn cắp. Cả hai đều là tay sai của ngoại bang. Cả hai đều tồi tệ, đốn mạt. Số phận của dân tộc chúng ta, bao nhiêu thế hệ tuổi trẻ, nằm trong tay bọn ăn cướp và bọn ăn cắp. Lịch sử dâng hiến chúng ta vận hội mới, lịch sử lột mặt nạ phỉ quyền, lịch sử đào thải ngụy quyền. Chúng ta có thể làm chính quyền rồi đấy. Cả dân tộc đang làm chính quyền trong ngục tù bao la và trong ngục tù giới hạn. Hạnh phúc của người Việt Nam không thể có từ nước miếng ly hương, từ sự mô phỏng áo quần, khăn rằn lố lăng khờ khạo, từ champagne tuyên ngôn, tuyên cáo. Mà phải khởi sự tù bát cơm độn ngô, khoai, sắn, từ những giọt mồ hôi cưỡng bức rơi xuống luống cầy; từ nỗi khát sữa của em thơ; từ nỗi thèm gặp con trong tù của mẹ già; từ những cái gì khắt khe, quái đản đã từng phút diễn ra trên khắp quê hương, đang từng phút đè nặng lên thân phận dân tộc Việt Nam.

Sự kết thúc của cuộc chiến hai mươi năm đã làm nhiều người lớn lên, đằm thắm, thiết tha; nhưng cũng làm nhiều người bé đi, giả tạo, hời hợt. Nghĩ mà thương những người lính của chúng ta đã chết anh dũng ở chiến trường. Những con người bé nhỏ chưa để họ yên nghỉ dưới mồ. Kẻ thù đã quật mồ mả họ, san bằng nhiều nghĩa trang của họ, bêu nhục và khu trừ vợ con họ. Những con người bé nhỏ còn nỡ nhân danh xác chết tuyệt tích nấm mồ của họ, tính chuyện mưu bá đồ vương. Những con người bé nhỏ không thích làm chính quyền. Với họ, có lẽ, làm chính quyền nhiêu khê quá. Họ phải khởi sự từ số không . Mà khởi sự từ số không thì họ không ra gì cả. Do đó, họ khư khư cái dĩ vãng phù phiếm, xúm nhau lại đánh bóng nó thêm, mô phỏng trò chơi của phỉ quyền, hăm hở trong cuộc phục hồi quyền bính dĩ vãng, phục hồi ngụy quyền, phục hồi rác rưởi và cóc chết. Tôi dấn thân để đóng góp đôi chút vào công cuộc tạo dựng một chính quyền cho xứ sở, để được sống bình yên chung quanh những người Việt Nam hiền lành, lương thiện, được tuân lệnh những người cai trị sáng suốt, hiền lành, lương thiện. Ngoài ra, tôi không tơ hào gì cả. Bởi vì, lịch sử vừa mới dậy tôi, tất cả đều phù ảo, trừ hạnh phúc vĩnh cửu của mọi người.

(Ý nghĩ của cô Lan trong Sỏi đá ngậm ngùi –
Nam Á Paris, 1985)

o O o

Thư cho tuổi trẻ dấn thân

Em Hoàng Sơn Trường,

Anh không biết em còn sống dưới hầm đá biệt giam ở trại Đầm Bùn hay đã chết rồi. Nếu em còn sống, em đang đếm từng ngày trong bóng tối lạnh lẽo. Nếu em đã chết, xác em chôn dưới vùng đất nào của quê hương, chẳng ai rõ. Chắc chắn trên nấm mồ hiu quạnh của em, thiếu cái một bia mơ ước như em thường nói với anh, hồi chúng ta nằm chung xà-lim số 7 hôi hám của khu C1 đề lao Gia Định. Em mơ ước gì nhỉ? Em muốn mộ bia của em khắc Búa Liềm và Còng Mỹ. Và em giải thích rằng, vì Còng Mỹ và Bú Liềm mà em chiến đấu và em hy sinh tuổi trẻ của em. Mơ ước của em thật lạ lùng. Nó cũng lạ lùng như sự dấn thân lãng mạn và cô đơn của em, của bạn bè em, của một thế hệ tuổi trẻ Việt Nam tuyệt vời.

Em nhớ chứ, Trường thân mến, hôm đầu gặp gỡ, anh thử em bằng câu hỏi ngờ vực và bằng sự phán xét kẻ cả về mục đích em theo đuổi, em đã trả lời anh:

“Em kính mến anh lắm. Nhưng con đường em đi em tin là chính đạo và lý tưởng. Mong anh đừng bàn tán rắc rối!”

Anh phục em từ đó. Chúng ta thân nhau. Trong tù, dĩ nhiên. Em kể anh nghe cái động lực xui em chiến đấu và sự trở về đời sống thảnh thơi, im lặng của em. Thế thôi. Là đã hừng hực mặt trời tuổi trẻ. Là đã vằng vặc mặt trăng tuổi trẻ. Ở tù không hứa hẹn gần nhau lâu, anh bị chuyển xà-lim, chuyển dài dài, chuyển phờ phạc. Anh phiêu lưu khắp cõi đề lao. Cuối cùng, anh gặp Ngô Tỵ tại xà lim số 3C1 Ngô Tỵ nói về em: “Em không hề biết mặt thằng Trường khi em gia nhập tổ chức của nó. Em vẫn tưởng nó phải lớn tuổi, to con, đầy vẻ bí mật. Nằm khu A, buổi sáng, đi đổ rác em gặp tráng sĩ chùa An Lạc, em hỏi tráng sĩ chứ đảng trưởng đâu, tráng sĩ kéo một thằng lùn tỉ, đeo kính cận ra cửa xà lim khoe em. Em bèn hỡi ơi, đảng trưởng của mình nhóc hơn mình”. Anh hỏi Ngô Tỵ: “Bây giờ, em còn phục nó không?” Ngô Tỵ cười: “Nó hay thật, anh ạ”! Em đã quyến rũ bao nhiêu bạn bè, em đã quyến rũ anh. Em tuyệt diệu.

Anh gặp thêm Đinh Cường, Đinh Dũng, Đinh Vượn, Nguyễn Khánh Long, Đặng Cơ Bản, Nguyễn Hữu Trí… Rồi lang thang sang khám Chí Hòa, anh gặp vô số những khuôn mặt yêu nước khiến anh lợm giọng. Và anh buồn bã là không còn được sống với các em. Những khuôn mặt yêu nước: những anh già nua thèm danh vọng trải dải đời mình qua các chế độ chưa nắm nổi một địa vị bình thường, những anh thèm thuồng quyền bính đến ngớ ngẩn tội nghiệp đã tụ tập nhau mưu đồ phục hồi dĩ vãng tanh ươn. Họ lập chính phủ, phong cho nhau làm tổng thống, thủ tướng, tổng trưởng. Một xà lim của anh có đến…ba nội các. Và ba vị thủ tướng hét chửi nhau vì quan điểm chính trị lại chửi nhau vì cơm chia không đồng đều, vì chỗ ngủ thiếu ni tấc! Anh gặp những ông quận trưởng vẽ vời chức tước tỉnh trưởng ngày mai. Anh gặp những ông chánh án, dự thẩm vẽ vời món tiền lương “ráp pen” ngày mai. Anh gặp những ông tá vẽ vời sao tướng ngàn mình chống cộng sản vì tổ quốc và dân tộc. Họ ưa kể lể công lao nằm tù của họ. Nằm tù, với họ, là cái gì thiêng liêng, cái gì đầy đủ đặc quyền đặc lợi khi cộng sản tan rã. Nằm tù với họ, là sự ngưỡng mộ của toàn dân, mặc dù họ vì vạ miệng, vì say mèm nói láo, vì ham danh vọng nhào vô, vì tự ý dẫn xác đi trình diện xin ở tù. Các em khác hẳn họ. Các em khiêm tốn. Các em im lặng. Chiến đấu im lặng. Sa cơ thất thế im lặng. Đau khổ im lặng. Và thành công càng im lặng hơn. Mà các em đã làm gì có quyền bính. Mà các em đã hưởng thụ được gì từ quyền bính của dĩ vãng? Anh chợt nhớ một câu văn bất hủ của nhà văn Ngọc Giao trên trang đầu tiều thuyết “Nhà quê”: Con ốc nhỏ trôi giạt trên bãi cát, bé nhỏ thế thôi, câm nín thế thôi, thế mà trong lòng nó chứa đựng cả sóng gió của đại trùng dương đấy, bạn ạ!”

Em , các em , chính các em là những con ốc nhỏ cô đơn và vĩ đại đang trôi giạt trong lòng dân tộc. Ý nghĩa chiến đấu của em, của các em, anh thấy nó ta tựa tư tưởng của một nhân vật của nhà văn Eric Maria Remarque trong “The Night in Lisbon”: Khi thế giới còn những bọn dã man tàn bạo và mình còn khả năng chống lại chúng mà không dám chống thì đó là tội ác”

Nhân vật này cho giấy thông hành người khác, ông ta khước từ trốn sang Mỹ, ông ta ở lại Âu Châu, gia nhập lính lê dương để chiến đấu diệt phát-xít. Các em cũng khước từ tất cả để chiến đấu chống cộng sản vì, dân tộc chúng ta, dân tộc Ba Lan, Tiệp Khắc.. đang đầy ngập bọn dã man tàn bạo, đang bị trùm kín bóng tối của chủ nghĩa cộng sản đốn mạt.

Một bông hồng nào cho em, Trường thân mến. Anh chỉ mới mừng tuổi em hộp diêm, mùng một Tết năm 1977 ở đề lao Gia Đình. Và em rất thông minh, nói nhỏ: “Vâng, em sẽ mãi mãi giữ lửa!”

Em thừa hiểu, tù nhân như anh em mình, cộng sản chẳng dại gì mà nhốt một chỗ lâu ngày. Họ phân tán dần dần. Sớm gần, chiều xa. Tháng 5 năm 1977, em chuyển trại, các em chuyền trại. Tháng 12 năm 1977 anh sang Chí Hòa. Tháng 11 năm 1978, anh bị đầy vào rừng già Sa Ác. Tháng 2 năm 1980 , anh về Hàm Tân. Đầu năm 1981 , tù nhân ở trại Nam Hà B được điều về miền Nam. Khoảng 500 người nhập trại Hàm Tân, Z30 D. Anh gặp vài anh bạn cũ. Có Vũ Xuân Thông, trung tá chỉ huy phó Lữ đoàn Biệt cách dù 801, tài tử cao ráo bô trai trong phim “người tình không chân dung”. Bạn anh kể cho anh nghe một cuộc vùng dậy ở Nam Hà B do nhóm 28 “ông nhóc” dưới sự lãnh đạo của Lương Việt Cương đã thổi lửa vào tâm hồn mấy ngàn sĩ quan từ lâu đã cam đành. Lương Việt Cương, anh nhớ lắm chứ, mắt ốc nhồi, giáo sư toán lý hóa, còn trẻ, hồi làm sinh viên ở Đà Lạt đã chan chứa nhiệt tình, hồi ở đề lao Gia Định đã từ cachot này qua cachot khác. Anh nôn nao quá, vội hỏi:”Nhóm 28 ông nhóc có Hoàng Sơn Trường, Đinh Vượng, Ngô Tỵ, Nguyễn Khánh Long?” Có, có, có… Họ trả lời anh. Vậy là em đã bị lưu đầy ra tận miền Bắc. Những địa danh nào đã in dấu chân em? Anh chạnh nghĩ em đang nằm dưới hầm đá trại Đầm Đùn, và anh bất bình. Luôn luôn, chúng ta thừa thãi bọn tiêu bạc giả. Và bọn tiêu bạc giả cậy mình vô liêm sỉ, dùng bạc giả của chúng khỏa lấp dư luận, bôi bẩn những người công chính. Còn em, còn bạn em, ai biết đến cuộc chiến đấu cô đơn của em?

Anh hiểu em. Anh hiểu em nhiều lắm. Em đi chiến đấu hôm nay như năm xửa. năm xưa em xé vở gấp tầu bay đẹp phóng lên bởi; gấp tầu thủy xinh thả trôi giòng nước. Em phơi phới. Em chuyền nhẩy. Em làm đẹp cuộc đời và không cần cuộc đời biết đến, không bắt cuộc đời nghĩ đến. Có nhiều cuộc đời nhỏ trong một cuộc lớn. Cuộc đời lớn không biết đến em vì thật sự không biết hay chưa biết. Nhưng cuộc đời nhỏ, vốn dĩ nó nhỏ, bản chất nó hẹp hòi, nó biết đến em mà nó cứ giả vờ không thèm biết. Nó sợ hãi biết đến em, sợ hãi nói về em với cùng khắp cuộc đời. Nó lo ngại em nổi tiếng hơn nó, em trở thành thần tượng, em trở thành đại thụ còn nó chỉ là cỏ hèn. Nó ghen với em. Và nó tìm cách hãm hại em, cô lập em, bôi bẩn em. Nó không dám chiến đấu bằng con số không thật tròn trong hình vuông thật đẹp đâu. Nó phảì bấu víu lấy cái tước vị quá khứ phù ảo và chua ôi làm lý tưởng. Những đứa ghẻ lở, hắc lào rất sợ tắm sông trần truồng. Những đứa vô tài bất tướng lại thích khoa trương, càng ghét những tài năng vàng mười.

Vậy thì giữa cuộc đời nhỏ đầy rác rưởi và em đã có một phân cách.

Nó chiến đấu để phục hồi dĩ vãng quyền bính cũ. Em chiến đấu để khai phóng tương lai.
Nó ngoảnh lại. Em nhìn lên.
Nó chiến đấu cho nó. Em chiến đấu cho mọi người.
Em trực diện với nghịch cảnh. Nó nằm chiêm bao nỗi khổ.
Em chiến đấu bằng nhiệt tình và lòng tự phụ của tuổi trẻ Việt Nam. Nó chiến đấu bằng tiền quyên góp phè phởn.

Em không cần nó biết đến em là em xứng đáng, em được quyền kiêu ngạo.

Trong truyện dài Sỏi đá ngậm ngùi anh đã viết rằng, nỗi thống khổ là văn phạm của đời sống, sự cô đơn là ánh sáng soi rõ đất trời. Em, các em, chiến đấu trong thống khổ và cô đơn, trong im lặng và thầm kín. Các em đang làm tác phẩm lớn cho đời sống, đang cố gắng để lại những dấu ấn vàng son trên sinh đạo mà các em đã một lần vượt qua. Anh, các anh, những nhà văn, nhà thơ những nghệ sĩ sáng tạo cũng mang nỗi thống khổ và cô đơn như các em. Các anh đã, đang và còn làm tác phẩm cho đời sống. Phải nói một cách khẳng định rằng, chỉ có nghệ sĩ sáng tạo mới biết làm đẹp đời sống, chỉ có nhà văn, nhà thơ mới đủ tài năng và thẩm quyền làm đẹp đời sống của những ai làm đẹp đời sống. Chúng ta đau khổ, chúng ta cô đơn, chúng ta im lặng chịu đựng. Bởi vì chúng ta làm việc để làm việc, chúng ta không làm việc để phô trương. Hình như chúng ta vẫn chưa yên thân. Chúng ta vẫn bị cái thứ cuộc đời nhỏ rình rập nghi ngờ. Thứ cuộc đời nhỏ gồm một lũ thích ngồi trong xó tối giả giọng chó sủa gây khó chịu cho người đi ngoài ánh sáng. Thứ cuộc đời gồm một lũ chẳng thích làm gì mà chỉ sợ người khác làm hơn mình. Cái thứ ấy, trong Thuyền Nhân anh viết:

“Bao giờ biển nổi giận? Bao giờ trời gầm thét? Bấy giờ vòng tròn bao la sẽ là cõi mịt mù và con thuyền vượt biên ngoi ngóp trong cái cõi mịt mù khôn cùng đó. Và con người lại càng hiểu giá trị làm người của mình không bằng tấm mảng mục. Con người sẽ sợ hãi, sợ chết. Con người sẽ khóc lóc, than van. Con người sẽ biến mất, những ích kỷ hèn mọn, những ghen tuông đê tiện, những phán xét ngu muội. Con người, bấy giờ, bỗng thèm sống và tự hứa với chính mình, nếu sống sót sẽ cố sống ra vẻ một con người. Những kẻ thích thị phi người khác, thích nghị luận những lầm lỗi mơ hồ của người khác, thích phán xét người khác bằng những điều đồn đại vu khống, thích nằm chiêm bao nỗi khổ, chẳng khi nào được vinh dự chìm đắm giữa mù khơi, ngoi ngóp trong nỗi sợ. Những kẻ ấy, những kẻ giả hình ấy, chỉ cần một phút chênh vênh trên đường chết, năm phút nhức nhối tinh thần, mười phút quặn đau thể xác là gục xuống cúi lạy cái quyền uy có thể ban phát cho chúng kiếp sống cỏ dại. Chúng sẽ khả ố, bỉ ổi gấp triệu triệu lỗi lầm của những người bị chúng phán xét oan ức. Bất hạnh cho bọn gìả hình. Thượng Đế đã không bố thí cho chúng một miếng ân sủng nhỏ về nỗi cô đơn và niềm thống khổ. Do đó một đời tẻ nhạt chúng đeo đuổi, chúng chỉ loay hoay trong cái vòng tròn nhỏ bé đánh đai bởi những ý nghĩ bẩn thỉu của kèn cựa, tranh giành, vu khống, chụp mũ, nói xấu, bôi bẩn và nhục mạ người vắng mặt. Chúng ngu dốt không biết định nghĩa hai tiếng cao thượng. Chúng hèn nhát không dám mặt đối mặt người công chính. Chúng lầm lũi như bọ hung. Chúng chẳng thề hiểu thế nào lả tồn tại, là sự phục sinh của nỗi chết. Việc làm của người công chính, ý nghĩ tốt đẹp của người công chính để lại cho đời sống sẽ phục sinh cái chết của người công chính,. Tác phẩm để đời của nhà văn, nhà thơ, họa sĩ, nhạc sĩ… phục sinh cái chết của họ và cho phép họ tồn tại vĩnh cửu. Bọ hung không để lại cho đời sống cái gìChúng chỉ để lại vết tích ô nhục trong gia phả của chúng cho con cháu chúng tưởng niệm xót xa. Người công chính đã được tuyên dương xứng đáng trong Thánh Kinh. Chúa đã dành cho họ phần thưởng trên Thiên Đàng. Dưới cõi thế, họ vẫn can đảm sống, vẫn làm đẹp đời mình, đời người khác. Vì họ biết, đời sống chỉ có một số bọ hung, một số Lý Thông gian ác. Còn rất đông Thạch Sanh và công chúa cổ tích”

Trường, em hiểu từ sao Lý Thông cứ muốn Thạch Sanh nằm mãi dưới hang không ? À, Thạch Sanh lên đời thì Lý Thông xuống lỗ. Thạch Sanh có cây đàn muôn điệu. Lý Thông chỉ có cái đàn miệng với bài duy nhất ” Người đi đường và con chó” Vậy nó không biết đến em, nó rình rập em, nó nghi ngờ em vì nó sợ nó là lãnh tụ giả mà em là lãnh tụ thật. Nó muốn độc tôn. Nó muốn chỉ có nó quốc ngoại. Nó không muốn có ai quốc nội. Anh viết về các em, anh nhận các em là lãnh tụ cao quý, anh minh, vĩ đại của anh, nó sẽ chán lắm, cái cuộc đời nhỏ ấy mà, nó sẽ hầm hè anh nó sẽ lập tòa án (!) xử anh, nó sẽ ghi tên vào sổ đen! Ồ, chấp chi. Chúng ta vẫn còn nơi nương tựa vững chắc. Là cuộc đời lớn, bao la, rộng mở, công bình, hào sảng. Không có khí giới nào giết nổi những tâm hồn ngọc. Anh sẽ tiêu pha không tiếc chữ nghĩa vàng son để bọc lấy những tấm lòng thơm ngát của các em, của những người tuổi trẻ Việt Nam chiến đấu trong thống khổ và cô đơn. Bầy sư tử lãng mạn ở quê nhà hãy yên tâm sống và yên tâm chết. Lịch sử sẽ thay đổi. Phải thay đổi. Đó là chân lý. Và chân lý ấy phóng lên bầu trời quê hương ngút ngàn thù hận bằng cung cách sống, chết dưới hầm đá trại Đầm Đùn. Sống làm thăng hoa yêu thương, rực rỡ tình người. Chết làm phục sinh tự do dân chủ và nở rộ hoa nhân ái lên còng tư bản, trong ngục vô sản. Cung cách sống chết khai sinh một kỷ nguyên mới của những người tiểu tư sản lãng mạn, hào sảng và ước mơ….

Thế nhé em yêu dấu!

(Vào với Bầy sư tử lãng mạn)
Nam Á Paris, 1986

o O o

Người tuổi trẻ suy tư

Chàng ngồi dựa lưng vào chiều ngang bức tường cachot, chân duỗi chưa thẳng đã đụng bức tường đối diện. Quá nửa dĩa cơm và ca nước đầy khiến chàng tỉnh táo. Trong đời chàng, từ thơ ấu tới nay, chưa bao giờ chàng được uống thử nước nào tuyệt diệu bằng ca nước lạnh đầu tiên trong ngục tù. Mỗi hớp nước là mỗi niềm bí ẩn của đời sống. Đó là hạnh phúc trong bất hạnh. Hạnh phúc không thể tìm thấy ở một cảnh vui phù ảo, giả tạo. Cũng vậy, tự do, dân chủ, độc lập không thể kiến tạo bằng những hò hét giả vờ, nhưng dấn thân ngụy tạo ở miền hoan lạc nương cậy. Giá trị của người đi chiến đấu là chấp nhận mọi thống khổ và biết tìm sự thống khổ nhưng ý nghĩa cao cả cho mọi người là hình tưởng nỗi khao khát tự do của dân tộc. Hình tưởng mọi người trong cộng đồng dân tộc sẽ uống từng hớp tự do sau những năm đói quằn quại thê lương. Nỗi thống khổ mời gọichiến đấu. Kinh qua thống khổ là thắp hào quang chiến đấu. Vậy thì nỗi thống khổ đã soi sáng con đường chiến đấu… Trước hết, nỗi thống khổ mang tính chất tiểu ngã sẽ hòa nhập vào đại ngã. Người đi chiến đấu hiểu rõ tại sao mình phải chiến đấu, vì ai mình chiến đấu, lý tưởng nào thôi thúc mình chiến đấu. Chàng vừa khám phá ra niềm rung động của thống khổ. Chàng như Thạch Sanh bị lấp dưới hang. Nhờ ở dưới hang, chàng có cơ hội soi bóng mình trên mặt nước lung linh, huyền ảo, so lại dây đàn, nay cùng điệu mới hòa nhập hồn mình với hồn nhân gian. Âm điệu, thần thánhcủa Thạch Sanh được tôi luyện bằng cảm xúc từ oán khổ. Và âm điệu ấy đã thoát lên đời, đã làm xao xuyến ma quỷ, đã dạy những Lý Thông về địa ngục hèn mạt của chúng.

Chàng đang ngồi trong cachot như Thạch Sanh đã ngồi dưới hang sâu thăm thẳm. Chàng đang tìm hạnh phúc trong bất hạnh như Thạch Sanh đã so dây đàn, soi bóng mình, tìm cái tuyệt đối chân thiện mỹ cho cuộc đời. Chàng bằng lòng làm, nghĩ rằng, mỗi ngày oan nghiệt, đời sống sẽ cống hiến thêm cho con người một niềm bí ẩn. Sống để đi đến tận cùng của đời sống tức là sống để thu nhận trời biển oan khiên cho riêng mình. Chưa đủ. Đi đến tận cùng của đời sống để xóa bỏ tất cả oan khiên cho mọi người mới đích thực là lý tưởng. Lý tưởng này không thể tìm thấy ở bọn quen thụ hưởng. Những bọn quen thụ hưởng là những bọn nào?

Trước hết là đám ruồi xanh đã bu kín trên cái miệng đỉnh chung tôi mọi cũ. Chúng đã hèn mọn chạy trốn, bỏ cuộc như những tên đào ngũ khốn kiếp. Chúng ngu dại không chịu nằm yên thân phận giống bầy chó ghẻ già nua, ngồi gặm những khúc xương đầy thịt mà chúng ngoạm chặc trên bước đường bôn tẩu. Chúng càng dốt nát không hiểu thời và thế. Thời của chúng đã cáo chung. Thế của chúng đã mất mát. Vậy mà chúng còn muối mặt xưngtước vị cũ, phong cho nhau tước vị mới, tranh giành lãnh đạo, cách chức lẫn nhau, mặc quần áo mới, quấn khăn rằn, trơ trẽn diễn tuồng kháng chiến cứu nước! Chúng lêu bêu xứ người, bất tài vô tướng, làm thầy hay làm thợ cũng chẳng xong, do đó, chúng tương tư quyền bínhvà phát động cuộc chiến đấu phục hồi dĩ vãng – phục hồi quyền bính của dĩ vãng. Chúng huyền hoặc người nhẹ dạ, khỏa lấp dư luận, dọa nạt người công chính, bôi bác người đối lập. Chúng là lãnh tụ độc quyền giải phóng quê hương, là bầy tướngtáQuảng Lạc diễn chèo, là bọn mà Nguyễn Khuyến đã mỉa mai:” Vua chèo còn chẳng ra gì, Quan chèo thêm nữa khác chi thằng hề!”

Thứ đến là bọn trí thức bất lương, tình nguyện làm đám “ba quân, dạ dạ” chạy cờ cho lãnh tụ Quảng Lạc để được chia tiền lạc quyên, xổ số. Bọn này lãnh nhiệm vụ bao vây, ngăn cản những người tài năngvàng mườidám nói sự thật. Những người tài năng dám nói sự thật đều là những người đã quằn quại trong ngục tù cộng sản, thừa thải kinh nghiệm đánh cộng sản và chưa hề làm đày tớ Mỹ. Những người này đã nổi tiếng ở Việt Nam, chúng sợ lưu vong sẽ nổi tiếng hơn, sẽ “cướp” hết quyền lãnh đạo của chúng. Và chúng tạo dựng nhiều chuyện khả ố: Chuyện khiếp nhược không dám chống đối các cai tù chăn trâu cắt cỏ, chuyện làm tay sai cho cộng sản trong tù bị chọc thủng mắt, bị liệng xuống giếng, chuyện vượt biên bị liệng xuống biển, chuyện cộng sản gài vượt biên để dễ hoạt động cho cộng sản, vân vân… Bọn trí thức nửa mùa và bất lương này lập hàng rào cô lập người công chính. Chúng sợ người công chính đến với tuổi trẻ thì chúng hóa thành giả hìnhvà nhỡ bị lột quần áo, mọi người sẽ thấy rõ tác phẩmghẻ lở, què quặt, cóp nhặt của chúng. Và chúng hết nhí nhố. Tội nghiệp chưa?

Sau hết là bọn sống ở Pháp ròng rã 30 năm, dài hơn cuộc chiến Việt Nam khốn khổ, chẳng hiểu đất nước mình ra sao mà cứ thích chất vấnnhững nạn nhân cộng sản. Chúng không chịu sáng tạo, thấy người ta sáng tạo thì chúng ghen ghét, hạch hỏi:”Tại sao lại sáng tác nhiều thế?”! Và cũng chỉ đến biết vỗ tay hoan hô tướng tá Quảng Lạc.

Đó, những hạng vừa kể trên, dẫu có sống thêm chín kiếp cũng không dám đi đến tận cùng của đời sống để xóa bỏ tất cả oan khiên cho mọi người. Chúng chỉ giỏi bịa đặt, chỉ dám núp trong xó tối phìnọc rắn. Tội nặng nhất của chúng và công ty là lừa gạt niềm tin của mọi người, làm cản trở sự nghiệp tiêu diệt cộng sản giải thoát dân tộc. Chúng làm gì có lý tưởng. Chúng chỉ có cái miệng lưỡi của “người đi đường và con chó!”

Lý tưởng đi đến tận cùng đời sống để xóa bỏ oan khiên cho dân tộc, giải phóng tổ quốc, tạo dựng hạnh phúc cho giống nòi là lý tưởng của tuổi trẻ hôm nay. Tuổi trẻ hôm nay, tuổi trẻ thế hệ sau 30 tháng 4 năm 1975, có dĩ vãng vằng vặc trăng sao, có hiện tại hừng hực mặt trời. Họ chưa hề thụ hưởng gì của dĩ vãng. Họ cũng chẳng hề có quyền bính gì trong dĩ vãng. Họ chưa hề làm tôi mọi cho một thứ quyền lực quốc tế nào, tư bản hay cộng sản, Mỹ hay Liên xô. Nói cho đúng, tuổi trẻ đã là nạn nhânthảm thươngcủa dĩ vãng, của những quyền lực thao túng quê hương Việt Nam từ 1945. Từ chiêu bài quyến rũ “toàn dân đoàn kết kháng chiến chống Pháp giành độc lập” đến cách mạng què cụt 1-11 “tiêu diệt chế độ độc tài Ngô Đình Diệm” mấy thế hệ tuổi trẻ đã bị lừa bịp, đã chết không một nấm mồ, đã mang thương tích u mêvì tham vọng của chủ nghĩa và sự khờ khạo của lãnh tụ quốc gia.

Những người tuổi trẻ của Hà Nội 1946 hồn ở đâu bây giờ? Những người tuổi trẻ tuyệt diệu đó, những sinh viên tự vệ thànhdũng cảm đem thân mình ngăn xe tăng của thực dân Pháp, còn ai nhớ chiến tích của họ, còn ai tưởng niệm họ? Những người tuổi trẻ lãng mạn cách mạng trong trung đoàn Ký Con, trung đoàn Thủ Đô còn lại ai? Họ đã bị cộng sản trá hình Việt Minh đẩy lên tuyến đầu chết thay cho họ cả rồi. Đến cuối 1950, lịch sử và Đảng sử chỉ ghi chép sự hy sinh cho tổ quốc và nhân dân của những người lính nông dân. “Ta là người nông dân, mặc áo lính, chiến đấu vì giai cấp bị áp bức từ bốn ngàn năm.”

Ôi, những người tuổi trẻ thế hệ 1945, những người mà nhà văn Nguyễn Mạnh Côn gọi là những người “lạc đường vào lịch sử,” những người đã lo ngại Hồ Chí Minh không phải là Nguyễn Ái Quốc trong mơ ước của mình, Nguyễn Ái Quốc là tên cộng sản xảo quyệt, là thứ Lê Chiêu Thống chủ nghĩa phi nhân. Nhiệt tình và lòng tự chủ của tuổi trẻ Việt Nam thế hệ 1945 đã bị cộng sản nướng khét bằng lửa mác xít. Bị nướng ròng rã 10 năm cho một nền độc lập cắt đôi tổ quốc; cho triền miên đói rách, ngu dốt, thanh toán, thủ tiêu, đấu tố, tù đày. Khi có những biến động trong lịch sử, những kẻ tiền phong dấy độnglà tuổi trẻ và những kẻ bị khai thác tận tình, bị lợi dụng tội nghiệp vẫn chỉ là tuổi trẻ.

Bạn còn nhớ những người tuổi trẻ Sàigòn 1955 khởi sự công cuộc chống cộng sản không? Họ đã dấn thân tích cực. Họ đòi “treo cổ Hồ Chí Minh.” Họ muốn “chặt ngang thây Trường Chinh.” Họ truy lùng Văn Tiến Dũng giữa Sàigòn. Họ đốt “Gallieni, Majestic.” Họ khai phóng một phong trào. Họ lay động bọn khiếp nhược, tiêu cực. Họ làm sinh động đời sống. Trong họ, nhiều người bị bỏ tù, bị đánh đập, bị bắn mù mắt. Chế độ vững vàngnhờ tinh thần sư tửcủa họ. Và chế độ bắt bớ, đàn áp họ. Chế độ chỉ ban phát ân huệ cho bọn “cai thầu tuổi trẻ.” Bọn cai thầu trúng mối lớn của ông Ngô Đình Nhu. Bọn cai thầu đang có mặt ở Paris. Bạn muốn biết chúng nó là ai không? Có đứa nhờ thầu tuổi trẻ mà vinh hiển suốt đời. Có đứa mon men mãi cũng leo lên chức Bộ Trưởng. Kinh nghiệm đấu thầu tuổi trẻ của chúng nó là cẩm nang của bọn thầu khoán tuổi trẻ quốc ngoại hôm nay. Kinh nghiệm của cai thầu tuổi trẻ, buồn thay, chỉ là thương đaucủa dân tộc, là xoáy mòn niềm tin của tuổi trẻ, là phôi pha nhiệt tình, là ngờ vực, là lừng khừng với đời sống. Sau hết , là bọn bon chen trên đường khoa bảng giá áo túi cơm và nổi loạn vô duyên cớ và tích lũy thù hậnđàn anh. Chúng thù hận có dịp bung ra, đó là cơ hội rạch nát lịch sử. Tuổi trẻ Việt Nam bị trúng một phát tên độc ngóc đầu lên không nổi: Mũi tên USA. Người Mỹ sách động tuổi trẻ tiêu diệt chế độ Ngô Đình Diệm để được suy tôn “thần tượng” Tôn Thất Đính, Đỗ Mậu, Dương Văn Minh, Trần Văn Đôn! Bọn phản nghịch dốt nát biến thành thần tượng của tuổi trẻ. Mỉa mai quá. Sự mỉa mai thấm vào tim phổi tuổi trẻ, sự nổi loạn có duyên cớ khai sinh. Và hậu quả của thức tỉnh là tuổi trẻ triền miên hưởng phi tiễn, dùi cui, lựu đạn cay và ngục tù của đám bảo vệ chế độ, đám công an, cảnh sát, đám cò cơm vô liêm sĩ.

Đàng ngoài hay đàng trong, tuổi trẻ đã là công cụ của các thứ chế độ, của lãnh tụ đảng phái, của bọn thầu khoán bất lương. Ba mươi năm, tuổi trẻ bị đày ra chiến trường cho những tham vọng khốn kiếp của cộng sản và tư bản và bầy tôi mọi của chúng. Mấy triệu thanh niên đã chết dọc đường mòn Hồ Chí Minh, khe núi Trường Sơn, rừng già Pleime, biển cát Hạ Lào. Trường Chinh, Phạm Văn Đồng vẫn sống. Bọn tướng lãnh Sàigòn vẫn sống. Trong nước, phù thủy gian ác cộng sản lại huyền hoặc tuổi trẻ bằng chiêu bài mới “ba giòng thác cách mạng” để lứa tuổi trẻ phơi xác ở Kampuchia “vì nghĩa vụ quốc tế,” lừa tuổi trẻ vào nơi khỉ ho cò gáy để làm, “thanh niên xung phong” đi tải đạn ra chiến trường, lừa tuổi trẻ vào ngục tù, trại tập trung để ngăn chặn phản kháng. Ngoài nước, đạdiễn mù lạivỗ về tuổi trẻ, vuốt ve nhiệt tình tuổi trẻ bằng chiêu bài kháng chiến chống cộng sản trình diễn. Ở không gian và thời gian nào thì tuổi trẻ cũng vẫn là những người nặng tình non nước, những người con xứng đáng được tổ quốc tin cậy, những người dám làm lịch sử và không mang công danh địa vị. Họ ví như cây ăn trái hứa hẹn những mùa màng tốt đẹp, vô hạn. Bọn lãnh tụ trá hình, bọn đào ngũ chạy trốn hèn mọn đã là những cây mục chờ ngày gục xuống vĩa đời. Chúng đã nắm quyền bính và vẫn thèm thuồng quyền bính để bảo vệ quyền lợi của chúng, để thao túng, để hống hách. Khi quyền bính bị tuớc đoạt, chúng nắm tương tưquyền bính. Vì ngu dốt, chúng không thể tạo nổi thứ quyền bính tự tạo nên chúng phải bấu víu lấy tước vị tôi mọi cũ trong cái thế nhân dân đã phủ nhận tước vị cũ của chúng. Và chúng diễn trò yêu nước một cách vụng về. Đứa mặc quần áo, quấn khăn rằn của kẻ thù, tự phong chủ tịch. Dựa trên cái quá khứ “công an xung phong,” vênh vang tự biến mình thành kẻ viết chủ thuyết cho phong trào!

Lịch sử hiện đại chỉ thấy bọn tướng lãnh thoán nghịch, bọn sĩ quan tá, úylàmđảochính. Chưa hề thấy, trong nhân loại, bọn thư lại đi làm cách mạng. Thư lại là bọn giở chiêu nào nướng chiêu ấy, chế độ nào cũng tốt, cũng đang phục vụ miễn răng yên thân. Cũng chẳng thấy công an cảnh sát làm cách mạng bao giờ! Công an, cảnh sát là công cụ bảo vệ chế độ và lãnh tụ đắc lực và hữu hiệu nhất. Một phong trào, một đoàn thể, một lực lượng nàoâm mưu lật đổ chế độ, dù là chế độ độc tài, công an sẽ đàn áp thẳng tay. Tuổi trẻ Việt Nam từ 1963 đến 1975, ở Sàigòn, còn ấm áp những kỷ niệm đàn áp dã man của cảnh sát nổi, cảnh sát chìm, cảnh sát dã chiến. Người nữ sinh viên nào bị đốt núm vú ở Ty Cảnh sát Quận 1? Người nam sinh viên nào hưởng liên tiếp một tuần lễ đòn của thợ đánhngười ở trong nha Cảnh sát? Cứ hỏi ông Phạm Văn Liễu, ông Trang Sĩ Tân, một là Tổng Giám đốc Cảnh sát, một là Giám đốc Nha Cảnh sát Đô Thành, sẽ biết rõ thủ đoạn đàn áp sinh viên học sinh Sàigòn xuống đường đòi hỏi tự do, dân chủ. Tuổi trẻ trong nước năm xưa bị nếm dùi cui, phi tiễn tàn bạo của cảnh sát. Một số người nông nổi vì quá căm phẩn đã bỏ vô mật khu theo cộng sản. Cảnh sát và tinh thần bảo vệ chế độ của họ đã dồn tuổi trẻ vào bước đường cùng, đã giết chết nhiệt tình của tuổi trẻ. Người tuổi trẻ Việt Nam du học lâu năm ở ngoại quốc chưa có kinh nghiệm cay đắng của những người thuộc thế hệ họ. Lòng yêu nước và niềm tin giải phóng dân tộc của họ bị ru ngủ bởi lũ cò mồi. Hình tưởng một cậu bé ngây thơ, mặc quần áo Tết, cố len vào đám bầu cua cá cọp. Biết cậu bé ham ăn, cò mồi đánh đâu thắng đấy. Cậu bé móc túi, lôi ra những phong bao lì xì thơm tho, theo cò mồi liệng tiền xuống chiếu bạc. Và cậu bé cháy túi. Chủ sòng và cò mồi chia tiền nhau, chia những đồng tiền của cậu bé non nớt, ham vui!

Tuổi trẻ Việt Nam thường xuyên bị cò mồi chính trị dụ dỗ. Ở Mỹ Châu, ở Úc Châu, ở Âu Châu thiếu gì cò mồi kháng chiến. Ngay ở Paris cũng có thứ cò mồi gớm ghiếc đó. Nó in được bạc giả nên nó tiêu bạc giả vung vít. Nó dùng bạc giả nên nó khỏa lấp người công chính, vu khống người công chính và ngăn các người công chính tới gần tuổi trẻ. Nó giả hình văn nghệ. Nó vô liêm sỉ nhận mình là nhà văn để len lỏi vào cõi văn học nghệ thuật. Tất cả đều đáng bỏ qua, bởi vì, sẽ có ngày mọi người biết nó tiêu bạc giả. Nhưng một điều không thể tha thứ cho nó vì nó nhúng vào tội ác đối với dân tộc, đối với công cuộc kháng chiến giải phóng quê hương chân chính, đích thực là nó đã đưa tuổi trẻ Việt Nam ở Âu Châu vào tay tên trùm cảnh sát, tên trùm đã dày thành tích tra tấn, đàn áp, bỏ tù tuổi trẻ dám chống chế độ độc tài, tham nhũng. Thiếu tuổi trẻ và nhất là tuổi trẻ trí thức, bảng hiệu của Công ty của trùm cảnh sát và đồng bọn không thể làm ăn, chia chác được. Do đó, cò mồi đã xâm nhập tuổi trẻ, khuynh loáttuổi trẻ, biến tuổi trẻ thành những người đi lạc quyên và bán vé xổ số. Nghĩ cũng bẽ bàng khi tuổi trẻ hôm nay suy tôn một kẻ từng đàn áp không thương xót tuổi trẻ hôm qua! Có lẽ người ta muốn tạo dựng một chế độ cảnh sát mới ở Việt Nam mai này?

Đó, chàng đã suy nghiệm thân phận tuổi trẻ Việt Nam. Và, dưới hang sâu thăm thẳm, chàng vừa nhận ra một chân lý: Tuổi trẻ Việt Nam bị làm guốc cho các chế độ, các lãnh tụ thật và giả lâu quá rồi. Guốc mòn, vất đi. Một thế hệrác rưởi. Thay guốc mới. Thêm một thế hệ mệt mỏi, lạc lỏng. Bây giờ là lúc tuổi trẻ Việt Nam phải làm mũ, nón tự đội lên chính đầu mình mà đi tìm hạnh phúc vinh quang cho dân tộc. Bởi vì, dĩ vãng của tuổi trẻ hôm nay là mặt trăng, hiện tại của tuổi trẻ hôm nay là mặt trời. Tuổi trẻ hôm nay không mảy may mặc cảm tội lỗi nào với dân tộc, với quê hương. Chàng sảng khoái và bất giác, chàng nói lớn: “Ta khởi sự từ số không, từ ngục tù cộng sản.”

(Trích “Một người tên là Trần Văn Bá”)

o O o

Tuổi trẻ chiến đấu

Chúng ta là những người biết sống và biết chết. Chúng ta không phải là những người sợ sống và sợ chết. Đồng ý. Sống và chết, hiểu theo nghĩa của chúng ta, của những người tự nguyện chiến đấu cho lý tưởng dân tộc. Chẳng ai được phép đòi hỏi gì chúng ta trước, trong và sau chiến đấu. Chẳng ai được phép ban phát gì cho chúng ta trước, trong và sau chiến đấu. Đó là hãnh diện của kẻ chiến đấu tự nguyện. Chúng ta không cần sự phê phán của đám sử gia rẻ tiền hay sự tranh luận bệ rạc về chính sử, ngoại sử, dã sử của đám nghiên cứu lịch sử bằng tài liệu mốc thếch, xuyên tạc cả ngợi khen lẫn chê trách. Chúng ta là lịch sử, lịch sử của tuổi trẻ Việt Nam trưởng thành từ một kinh qua khốn cùng của đất nước. Chỉ còn tuổi trẻ mới có quyền nói mình yêu nước mà không phải cúi mặt xấu hổ. Dĩ vãng tuổi trẻ vằng vặc trăng sao. Vì chưa hề ngửa tay nhận tiền ngoại quốc, chưa hề nhận ân huệ tôi đòi của ngoại bang để vênh váo quyền bính thống trị bù nhìn bốc lột và đàn áp nhân dân. Hiện tại tuổi trẻ rực rỡ mặt trời. Vì chúng ta không cam đành, chúng ta dám chiến đấu chống cộng sản nhiệt tình và tự phụ, lãng mạn và cô đơn trong hoàng hôn chiến bại, trong đào ngũ chạy trốn của bọn sinh ra để sống nhục và chết nhục. Tương lai tuổi trẻ rạng ngời ánh sáng. Vì chúng ta không chiến đấu để mưu đồ quyền lực, tước vị, công danh, phú quý . Chúng ta là chiến sĩ vô danh. Chúng ta sẽ cố gắng để vui niềm vui của dân tộc như chúng ta đã buồn nỗi buồn của dân tộc. Không có cố gắng nào không dẫn đến kết quả. Sự thành công của chiến đấu, niềm vui động đất của dân tộc, bắt chúng ta cố gắng không ngừng, bắt chúng ta thắp sáng ý chí chiến đấu từng phút, từng giây, bắt chúng ta sáng tạo chiến đấu từng phút, từng giây. Chúng ta đầy đủ uy thế bệ vệ và sức mạnh tuyệt luân của sư tử. Chúng ta là sư tử lãng mạn. Ở mỗi chúng ta không ai nghĩ thất bại. Không có thất bại luẩn quẩn trong đầu óc chúng ta, trong trái tim chúng ta, trong hơi thở chúng ta.

Chúng ta chưa quên câu nói bất hủ của Vị Ưởng: “Sống vì tổ quốc khó khăn hơn chết”. Nhưng khi phải chết, trong nỗi chết thiếu tiếng thở dài tuyệt vọng. Cho nên, Vị Ưởng, Thương Hoài, Dzũng bò, Mục rỗ, Năm cò vẫn tin cuộc chiến thành công dẫu mình tan xác. Cho nên, Ngư Phủ tự sát, vẫn tin cuộc chiến thành công. Cho nên, Độc Thư đứng thẳng dẫm chân lên hình phạt của thù hận mà tuẫn tiết, vẫn tin cuộc chiến thành công.

Chúng ta đều là những người biết sống biết chết. Chúng ta ngạo mạn. Bởi chúng ta là thái dương, tinh tú trong mù sương của lịch sử hôm nay. Cứ chủ quan mà nói, kẻ thù cộng sản chỉ khiếp sợ chúng ta. Chúng ta đã chứng minh điều đó. Chẳng có dấy động nào thiếu tuổi trẻ tiên phong. Chẳng có bão tố nào thiếu tuổi trẻ nổi gió.Chẳng có cách mạng nào thiếu tuổi trẻ mở đường.

Cộng sản nói đời đã đổi từ 30-4-1975. Chúng ta nói đàn anh đã chết hết từ 30-4-1975. Không còn kẻ nào xứng đáng để chúng ta gọi là đàn anh. Trần Du có thể trả lời. Lê Thanh có thể trả lời. Nguyễn Ngọc có thể trả lời. Bất cứ ai trong chúng ta đều có thể trả lời. Bất cứ một người tuổi trẻ Việc Nam nào lớn khôn từ nỗi đau 30-4-975 đã có thể trả lời . Và đều được phép khinh miệt đàn anh. Họ đã làm hư hỏng đất nước ròng rã ba mươi năm. Họ đã chết dù họ còn sống. Cỏ dại bám vào lúa làm hại mùa màng thì phải nhổ lên, đốt cháy. Chúng ta không cần nhổ cỏ dại . Cộng sản đã giúp chúng ta. Cộng sản đã kéo màn để chúng ta nhìn rõ đàn anh chúng ta trên sân khấu nham nhở. Rặt bọn đào kép đầu quân hết chế độ này sang chế độ khác. Rặt lũ đạo diễn mù đeo kính đen. . Rặt những vở tuồng lều bều tham vọng quyền bính tôi đòi hèn mọn. Đàn anh chưa hề chiến đấu. Đàn anh chưa hề biết sống và biết chết. Những kẻ không biết sống và biết chết là những kẻ sống chết không có thái độ. Và họ chẳng có gì để lại cả. Họ sống như lợn ủn ỉn đòi ăn tối ngày và chết như cóc nhái thối tha bờ bụi. Những cây mục hút đất mầu quê mẹ no nê nghìn năm không trổ hoa đơm trái ấy, ở đâu đó, xa lìa tình tự dân tộc, xa lìa nỗi thống khổ của dân tộc, lại đang rắc hạt tiêu vào mắt, lại đang nuốt ớt lột lưỡi, nhỏ lệ khóc quê hương và lên tiếng ái quốc huyễn hoặc quá khứ, ve vuốt hiện tại, phỉnh phờ tương lai.

Chúng ta không tin họ. Chúng ta chỉ tin chúng ta. Chúng ta tin chúng ta vì, trước hết, không huyễn hoặc chúng ta , không ve vuốt chúng ta, không phỉnh phờ chúng ta. Chúng ta tin chúng ta vì, sau hết, chúng ta biết tại sao chúng ta chiến đấu và chúng ta chiến đấu cho mục đích nào. Chúng ta tin chúng ta vì, ngoài ra, chúng ta biết chúng ta đầy đủ nhiệt tình, thừa thãi lòng tự phụ, tràn trề sáng tạo, lãng mạn, lạc quan. Hẳn nhiên, chúng ta cô đơn . Và chúng ta bằng lòng cô đơn. Nỗi cô đơn giúp chúng ta nhìn rõ chúng ta, nhìn rõ thân phận của dân tộc chúng ta.

Nỗi cô đơn thắp giùm chúng ta đốm lửa nhận đường chiến đấu, dẫn dắt chúng ta gần gũi nhau, thương yêu nhau, soi lối cho chúng ta sáng tạo chiến đấu và dạy chúng ta khôn lớn. Trong cô đơn, chúng ta có Đạn lên nòng, chúng ta có vận động cách mạng Tây Sơn. Và niềm kiêu hãnh của thời đại chúng ta, chúng ta có chủ thuyết tư sản. Một nghìn năm binh lửa triền miên, nước Trung hoa vĩ đại sản sinh một trăm triết gia gọi là “bách gia chư tử”. Bốn năm đau khổ, dân tộc Việt Nam sản sinh một Nguyên Ngọc. Chủ thuyết tiểu tư sản của người Việt Nam lập thuyết trong nỗi cô đơn khôn cùng của lịch sử Việt Năm là nỗi rạc rài của lịch sử nhân loại. Chủ thuyết tiểu tư sản, chắc chắn, sẽ dẫn đạo cuộc tân cách mạng Tây Sơn thành công, sẽ đem lại hạnh phúc vĩnh cửu cho dân tộc Viết Nam và loài người trên trái đất sau một thế kỷ bị đầy đọa bởi hai chủ nghĩa tư bản và cộng sản. Để có thành công, chúng ta phải biết đề phòng thất bại. Đề phòng thất bại và không nghĩ đến thất bại thật khác nhau. Trí tuệ của kẻ mưu đồ đại nghĩa mênh mông khôn tả. Nó biến hóa theo sáng tạo. Nhưng căn bản của nó vốn là biết mình, biết người. Chúng ta biết kẻ thù của chúng ta, kẻ thù của chúng ta không biết chúng ta. Đó là điểm chúng ta hơn hẳn bọn đàn anh. Chúng ta lại biết cái thế của chúng ta và biết cả cái thế của kẻ thù. Do đó, chúng ta còn tồn tại, không bị chúng tiêu diệt. Ở đây, ngoài tôi, không ai biết anh em Đạn lên nòng gồm những ai, tên gì, làm việc ở đâu. Ở đây, ngoài anh em hiện diện hôm nay và Quỳnh Đạo, người ta chỉ biết tôi là tên nhạc sĩ phản bội, kẻ thù chỉ biết tôi là hàng thần lơ láo. Nếu hôm nào tôi ngã gục, Phong trào vẫn nguyên vẹn, vẫn ngạo nghễ chiến đấu. Chúng ta biết kẻ thù tinh vi, xảo quyệt, tài giỏi, thừa thải người . Chúng ta không được phép coi thường kẻ thù, không được đánh giá kẻ thù rẻ tiền khi nhận xét gã bộ đội quê mùa hay tên công an ngu dốt. Chúng ta phải đánh giá kẻ thù qua Võ Nguyên Giáp chiến thắng Pháp; qua Lê Đức Thọ ngang cơ Kissinger, qua Trần Quốc Hoàn trùm KGB Việt cộng; qua Mai Chí Thọ, Trần Độ, Tố Hữu,Trường Chinh… Với chủ thuyết tiểu tư sản, kẻ thù của chúng ta là Karl Marx, Lénine. Vậy thì chúng ta , mỗi người biết nhiệm vụ của mình, biết sổ người cộng tác của riêng mình để , nếu phải chết, vẫn tin Phong trào vẫn tồn tại, sẽ thành công. Tôi mong, ngoài mấy anh hiện diện hôm nay biết nhau thôi, người của anh em không nên biết. Tôi chẳng dám nghi ngờ ai, tôi chỉ đề phòng. Bởi vì, có khi người ta chưa kịp chọn cách chết mà cộng sản tinh vi đủ phương pháp bắt cả người chết phải khai sự thật. Tôi nói ít, mong anh em hiểu nhiều. Điều anh em vẫn đang thắc mắc là tại sao, lần đầu tiên, tôi yêu cầu gặp nhiều anh em một lần và nói nhiều. Tôi xin giải thích ngay: Kình nghiệm Phan Thức. Tôi quen biết ông Phan Thức trước năm 1975. Thuở ấy tôi là một nghệ sĩ thuần túy. Tôi thấy ở ông Phan Thức có vài điểm tôi phục. Có lẽ là thời say mê lý tưởng của tuổi trẻ ông. Ông Phan Thức kiến thức vững vàng, tuy hơi ngây thơ. Tôi yêu những người già ngây thơ. Sau 1975, tôi nhập cuộc chiến đấu. Và tôi cũng tâm sự với ông Phan Thức. Ông ta tìm tôi, nhờ tôi một việc. Tôi thất vọng, hoàn toàn thất vọng về đàn anh ảo tưởng. Tôi đã cứu ông Phan Thức sa lưới công an. Anh Trần Du đòi khử ông ta để tránh hậu họa. Lòng trắc ẩn níu tôi lại. Ông Phan Thức đã trốn chạy. Nếu ông ta bị Mai Chí thọ bắt, tôi phải tự xử. Để Phong trào tồn tại. Tôi chưa hiểu tình trạng ra sao với tôi và với ông Phan Thức, song đây là kinh nghiệm của chúng ta vừa chiến đấu vừa học tập dân chủ. Tất cả lãnh tụ độc tài đều mọc mầm từ sự sợ hãi nghe phê bình và không dám tự phê bình. Chẳng bao giờ tôi là lãnh tụ cả. Chúng ta cũng chẳng ai mong mỏi có lá cờ phủ trên quan tài khi gục ngã. Tôi gây ra lỗi lầm, tôi nhận lỗi. Tôi biết sống và biết chết. Sống và chết không thành vấn đề quan trọng. Quan trọng là cách mạng Tây Sơn thành công. Cái chức vị huynh trưởng mờ ảo, hư thực này tôi xin được giao cho Trần Du. Anh em sẽ tiếp tục hư thực, mờ ảo chức vị đó. Tôi hoàn toàn tin cậy anh em. Anh em sẽ là đầu óc, là tay trái, tay phải của anh Trần Du. Tôi sẽ gặp riêng anh Trần Du bàn rõ Đạn lên nòng Sàigòn và cơ sở miền Tây . Tôi không bỏ cuộc. Tôi vẫn chiến đấu. Nhưng chúng ta nên chuẩn bị tư tưởng chu đáo. Cách mạng không giống thảo khấu. Thảo khấu sẽ tan rã, nếu chủ soái chết. Cách mạng Tây Sơn phải tồn tại đến thành công nếu Duy Tâm chết, Trần Du chết, Lê Thanh chết, Vũ Hải chết.. Và, với Nguyễn Ngọc tôi muốn nhắc vài lời: Karl Marx chết, Fiedrich Engels viết Tuyên ngôn đảng Cộng sản và Lénine thực hiện. Anh Nguyễn Ngọc cần nhiều người thực hiện chủ thuyết tiểu tư sản.

(Hồn say phấn lạ)
Xuân Thu, 1988

o O o

Tuổi trẻ quốc ngoại xuống thuyền

Tự bản chất, tôi không hề có tham vọng chính trị .Như những người tuổi trẻ cùng thế hệ, tôi sinh ra và lớn lên trong chiến tranh Việt Nam triền miên. Khi tôi thật sự trưởng thành, tôi chỉ thấy, khắp quê hương tôi những biến động và biến động. Những biến động tạo ra bởi tham vọng bất nhân của chủ nghĩa tư bản, tham vọng phi nhân của chủ nghĩa cộng sản. Những biến động gây ra binh lửa, chết chóc, đói khổ, ngu dốt và chia rẽ. Đề khiêu vũ trên bãi tha ma, để đua thuyền trên giòng sông nước mắt, chủ nghĩa cưa đôi dân tộc tôi và toa rập với nhau kiến trúc hai miền thù hận. Bằng ý thức hệ và bằng cả vũ khí tư bản cộng sản. Tham vọng của chủ nghĩa đẻ thêm tham vọng quyền bính của lũ tôi đòi bản xứ. Một bên là đám ăn cướp. Một bên là đám ăn cắp. Đúng nghĩa nhất, lãnh tụ Hà nội và mọi cơ cấu của nó là phỉ quyền. Bởi vì nó hằng phô trương thành tích cướp chính quyền. Lãnh tụ Sài gòn và mọi cơ cấu của nó là ngụy quyền. Bởi vì nó được nặn ra do thế lực và áp lực ngoại nhân do bầu cử gian dối, lừa gạt. Đám ăn cướp hò hét chuyên chế. Đám ăn cắp hò hét độc chiếm. Với mệnh lệnh của chủ nghĩa với ân huệ của chủ nghĩa, phỉ quyền và ngụy quyền tranh giành quyền bính. Những khúc xương dính chút mảng thịt ném xuống mặt tổ quốc, chúng nhào tới quần thảo. Đề gặm. Để cạp. Khi chúng nuốt những miếng nuôi chim mồi của chủ nghĩa, dân tộc tôi cay đắng, đòi đoạn, thù hận chia lìa. Bỗng nhiên. dân tộc tôi biến thành một dân tộc hiếu chiến, man rợ!

Để lãnh tụ Hồ Chí Minh trở thành “cha già dân tộc”,đám phong kiến quan liêu đội lốt vô sản áo rách để nướng một thế hệ tuổi trẻ tinh hoa và nồng nhiệt vào cuộc chiến 10 năm để có nền độc lập què cụt và thân thể tổ quốc bị cưa ngang. Không cần kháng chiến giành độc lập, không cần đổ máu, không cần tiêu thổ kháng chíến, nước Mã Lai tầm thường vẫn có độc lập đầy đủ chủ quyền, thịnh vượng, ấm no hạnh phúc và đang có tiếng nói trong sự ổn định tình hình Việt Nam! Đó là sự mỉa mai, là chứng minh cho ngu xuẩn của phỉ quyền. Nó đã gang họng miệt thị tiền nhân, vọng ngoại đê tiện: “Quang Trung chỉ nhìn được 10 năm, Lénine nhìn xa 100 năm!” Nó răm rắp tin nghe giáo điều của chủ nghĩa, nó sáng tạo trò chơi “giải phóng dân tộc” là nó trở nên thông manh, mù quáng. Nó bị lớp màng xanh tham vọng anh hùng giai cấp phủ lấp tim óc. Và nó dẫn dắt dân tộc vào cuộc phiêu lưu 10 năm để dân tộc dạt vào bờ bãi lạc hậu, khốn cùng, phân ly. Chưa đủ, nó tiêu diệt thêm 2 triệu con người Việt Nam hiền hòa, nó bảo “cải cách ruộng đất”, thực ra để củng cố quyền bính gần sụp đổ của nó. Rồi , vẫn giáo điều “giải phóng dân tộc” tham vọng của nó lên cân, nó đưa dân tộc phiêu lưu chiến tranh, mời mọc tư tưởng và súng đạn tư bản nhập cuộc. Nó nướng thêm mấy thế hệ tuổi trẻ ròng rã 20 năm “giải phóng”! Được gì? Một đất nước xanh xao hết máu. Sư cô lập. Nhà tù. Trại tập trung. Thù hận anh em. Và đói khổ. Và già nua, bệnh hoạn. Chưa hề thấy- kể cả ngay trong thế giới cộng sản – một chế độ nào khụ khị, ù lỳ như chế độ cộng sản Việt Nam. Lãnh tụ rặt những bô lão, những cổ thụ không còn khả năng đâm chồi. nẩy lộc. Họ cứ khăng khăng nghĩ, sau họ là đại hồng thủy. Do đó, dân tộc héo hắt và tuổi trẻ thui chột.

Còn đám lãnh tụ lính pạc-ti-đăng, khố xanh, khố đỏ ra sao? Đó là lũ ròi bọ đục khoét xương tủy tổ quốc, lũ tôi mọi hèn mọn của chủ nghĩa tư bản. Nó nhân danh “quốc gia”, bóc lột xương máu của lính chiến bóc lột niềm tin của dân tộc, đàn áp tuổi trẻ tận tình. Nó cho biết thoán nghịch, rượu, gái và cờ bạc. Nó ăn cắp tiền bạc của nhân dân, bòn rút tài sản của quốc gia chuyển ra ngoại quốc. Để đeo sao trên cầu vai nó, đã dẫm lên xác chết của hàng trăm ngàn chiến sĩ vô danh hy sinh vì tự do, dân chủ của đất nước. Để đóng đinh trên tước vị tổng thống, thủ tướng, nó đã quấn khăn tang cho hàng triệu cô nhi quả phụ. Nó diễn hành trong tiếng than khóc của nòi giống. Nó bán đứng dân tộc nó cho sự vinh hoa, phú quý và quyền uy thống trị. Vây quanh nó là bọn gia nô, cầy cáo hiến kế dâng mưu làm bại hoại tổ quốc. Nó cúi gục mặt cam đành để ngoại nhân khinh nhờn cái uy linh của đất nước. Điều bi thảm nhất là nó giương danh “chính nghĩa quốc gia” bêu nhục quốc gia. Nó thao túng tất cả. Nó độc quyền yêu nước giả vờ và ngăn chặn tiến hóa của dân tộc. Nó ăn cắp cả vũ khí để giết kẻ thù bán cho kẻ thù. Nó đánh đổi bất khuất truyền thống, lấy vọng ngoại, ỷ lại đê hèn. Cuối cùng, nó đào ngũ chạy trốn trước lệnh đầu hàng, bỏ mặc quân dân ngơ ngác. Chưa hề thấy trong lịch sử Việt Nam hạng tướng quốc cao bồi, mật vụ; hạng tham quyền cố vị và ngu dốt như thế.

Nếu chúng không ngu dốt, đám lãnh tụ phong kiến đội lốt vô sản và đám lãnh tụ khố xanh khố đỏ, chúng đãhiểu được cái thế hòa giải dân tộc và thống nhất tổ quốc sau này Hòa giải dân tộc không thể bao giờ có bằng sự nuôi dưỡng thù hận huynh đệ, thù hận nòi giống. Ngườigià rồi sẽ chết, phải chết, kể cả lãnh tụ vĩ đại muôn năm . Tương lai một dân tộc là ở sự làm việc của người trẻ. Những người trẻ sẽ biết phán xét cha anh, sẽ hiểu giá trị của đoàn tụ, sẽ nhường nhịn nhau, hòa giải với nhau vì sự trường tồn của xứ sở. Nếu hiểu được vậy, chúng đã không thích chiến tranh. Và khôn ngoan hơn, chúng biết lấy tiền củangoại nhân xây dựng hạnh phúc cho dân tộc và kiến thiết đất nước. Vì chúng ngu dốt lại đầy tham vọng nên chúng biến thành công cụ của chủ nghĩa. Một đứa háo danh. Một đứa ham tiền. Cả hai đều thèm quyền bính. Rốt cuộc quê hương tôi là bãi chiến trường đọ vũ khímới nhất của cộng sản và tưbản; dân tộc tôi hứng bom Mỹ, hỏa tiễn Liên xô và đạn AK Trung quốc. Dân tộc tôi nàobiết tư bản ra sao, vô sản ra sao, thế mà cứ phải đâmchém nhau vì chiến tranh giải phóng và chiến tranh ý thức hệ. Hết làm “thành trì chống Cộng bảo vệ Đông Nam Á” lại đến làm “thành trì bảo vệ xã hội xã hội chủ nghĩa”! Chiến tranh chấm dứt, chúng tôi còn gì ?Hố bom. Hầm chông. Rừng tàn tạ vì thuốc khai quang. Đói khổ.Lạc hậu và lạc hậu.

Điều bi thảm nhất của dân tộc tôi là sau hòa bình của thứ gọi là chiến tranh ý thức hệ khốn kiếp, chiến tranh tâm lý chó má, nhà tù và trại tập trung được xây dựng nhanh hơn, nhiều hơn trường học bị bom đạn tàn phá. Người Việt Nam coi người Việt Nam là kẻ thù nguy hiểm. Khi chủ nghĩa tư bản ngự trị trên một nửa đất nước tôi, trò chơi của nó là bom đạn, càn quét, giết người, còng xích tra tấn và tù ngục. Người Việt Nam công cụ của chủ nghĩa cộng sản ở một nửa đất nước phía trên, bị đẩy vào chỗ chết bị bắt bớ, bị gọi là cộng phỉ và bị tra tấn, giam nhốt vào các nhà tù do Mỹ viện trợ. Ởtrong những nhà tù Mỹ quốc viện trợ, trò chơi của chủ nghĩa tư bản xoay cộng phỉ phờ phạc rồi báo chí Mỹ miệt thị người Việt Nam không tôn trọng nhân quyền. Khi chủ nghĩa cộng sản thôn tính miền Nam, người Việt Nam bị coi là thua trận người Việt Nam, bị coi là ngụy quân ngụy quyền, bị lùa vào các nhà tù, trại tập trung rập khuôn mẫu Liên xô và người…ngụy bị người Việt Nam còng xích chân tay bằng khóa chế tạo tại USA! Đất nước tôi lại là nhà tù trại tập trung sau hai mươi năm là bãi chiến trường khốc liệt. Thù hận do các thứ chủ nghĩa xâm nhập. Các thứ chủ nghĩa hữu nghị với nhau, nắm tay nhau liên hoan trên quê hương nghèo đói của tôi. Còn chúng tôi, chúng tôi thù hận lẫn nhau. Chúng tôi nhân danh chủ nghĩa để băm vằm nhau. Chủ nghĩa và bọn đầy tớ vong bản thủ lợi.

Thù hận chưa ngưng, dù đất nước đã tan tác, rạc rài. Vì tham vọng của chủ nghĩa, tham vọng của lãnh tụ cái chế độ xã hội xã hội chủ nghĩa đã áp đặt lên khắp quê hương Việt Nam yêu dấu của tôi những tai họa và những tai họa. Một xã hội sưu thuế mới, đê tiện hơn cả xã hội sưu thuế trong tiểu thuyết của Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan. Bọn thu thuế mới, bọn đảng viên cộng sản, gian ác và thủ đoạn gấp ngàn lần bọn lý trưởng, chánh tổng. Dân chúng quằn quại vì sưu thuế. Ruộng đất phì nhiêu, lúa cấy đến bốn vụ mà dân vẫn phải ăn độn khoai sắn. Tự do, dân chủ là nước hoa đối với con nhà nghèo. Hạnh phúc là mỏi mòn chờ đợi. Tuổi trẻ hắt hiu, cằn cỗi. Dinh dưỡng thiếu thốn, lao động quần quật, tuổi trẻ choắt lại, thấp bé, môi thâm, mắt mờ. Đã thế, vẫn bị đầy ra chiến trường nước ngoài để chết, để đui mù, què quặt cho “nghĩa vụ quốc tế”. Dân tộc bốn nghìn năm văn hiến bỗng hóa thành một dân tộc dốt nát vì chỉ được học, được biết những giáo điều viết lại của bầy ngự sử mác-xít. Những tài năng của đất nước bị chôn sống trong nghĩa địa cải tạo, bị thủ tiêu, bị lưu đầy. Do đó, thù hận cũ chưa nguôi, thù hận mới khởi sự. Và đó là chân lý.

Trong nước, phỉ quyền lộng hành, hủy diệt mọi công trình dựng nước của tiền nhân, thúc bách dân chúng cam đành chấp nhận cuộc sống tối tăm ảm đạm. Ngoài nước, đám tàn dư của ngụy quyền tiêu biểu là những tên tướng tá xuất thân khố xanh, khố đỏ, pạc-ti-đăng; những tên chính khách chuyên nghiệp hèn mạt; những tên nghị sĩ dân biểu gia nô; những tên trí thức bất lương, tiêu bạc giả lại mở miệng hôi thối nói chuyện nước non. Sau khi bỏ lính chiến đào ngũ, sau khi bỏ cử tri chạy trốn, sau khi bỏ đồng chí lẩn cút, sang nước Mỹ an toàn không một bóng dáng Việt cộng, lũ tội đồ của dân tộc âm mưu phục hồi quyền bính tôi đòi cũ, thứ quyền bính cho chúng bóc lột xương máu của quân dân một cách hợp pháp và có… chính nghĩa quốc gia. Bọn quốc gia giả hình này, bọn cầy cáo của ngoại nhân, bọn đã làm ung thối tổ quốc, bọn đã đánh bạc bằng máu của lính chiến, bằng mồ hôi của dân lành, bọn đã làm băng hoại cuộc chiến đấu chống cộng sản xâm lăng, lại tiếp tục làm băng hoại cuộc chiến đấu chống cộng sản cua dân trong nước, làm mất niềm tin hồi hương của lưu dân khắp thế giới bởi những tranh giành quyền lãnh đạo độc tôn, bởi những công kích nhục mạ lẫn nhau, bởi những thủ đoạn lừa gạt bịp bợm của chúng. Và, thê lương hơn, bởi tinh thần vọng ngoại khó gột rửa. Một số vẫn ôm chặt chân ông chủ Mỹ. Há chúng chưa quên bàn chân ông chủ Mỹ đã đạp đá chúng những cú cuối cùng khi chúng chạy vào Tòa Đại Sứ hay phi trường Tân Sơn Nhất lạy van xin trốn khỏi Việt Nam? Chẳng đứa nào có một chút liêm sỉ lãnh đạo của Cheng Heng, của Siêu Matak? Hai nhà lãnh đạo Kampuchia này đã khước từ ân huệ di tản của Mỹ, kẻ lừa gạt dân tộc họ, tình nguyện ở lại đất nước để được tưới máu của họ xuống đất quê hương, để được chết chung với chiến hữu, với dân tộc họ bằng lưỡi lê Khờ me đỏ. Một số tìm cách bám chân ông chủ cũ của Việt cộng là bố Tầu hồng, kẻ thù truyền kiếp của giống nòi Bách Việt, kẻ đã đô hộ chúng ta hàng nghìn năm, đã bắt tổ tiên ta lên rừng kiếm ngà voi, xuống biển mò ngọc trai hết thế kỷ này sang thế kỷ khác. Há chúng chưa học lịch sử tranh đấu của nòi giống Bách Việt, chưa biết Lê Chiêu Thống và sự nghiệp rước giặc vào nhà? Học đòi tham vọng quyền bính, chúng theo đóm lũ Hoàng văn Hoan, Trương Như Tảng chống bè lũ Lê Duẩn. Há chúng chẳng hiểu Hoan và Tảng bị cộng sản khu trừ đâm ra cay cú mà chống bọn khu trừ mình chứ đâu phải vì dân tộc mà thoát ly cộng sản. Há chúng chẳng rõ Hoan vẫn tôn thờ tên tội đồ muôn thuở của dân tộc là Hồ Chí Minh? Một số kết hợp tướng bẩn và tá cớm bầy trò lạc quyên xổ số, tem phiếu lấy tiền bảo rằng mua súng đạn về lập chiến khu chống cộng sản. Công ty yêu nước của tẩy và cớm làm ăn khấm khá nhờ lưu dân nóng lòng trở lại quê hương, khao khát trở lại quê hương. Được đám trí thức bất lương đồng loã cổ võ và vinh tôn hết ngôn ngữ cò mồi trên báo chí, thêm nữa, những tên giả hình trí thức, giả hình văn nghệ chui vào hội đoàn này, hội đoàn nọ chia rẽ giữa các hội đoàn, bôi bẩn những người tài năng không đồng quan điểm với công ty của nó, huyễn hoặc sinh viên, tạo nghi ngờ giữa tuổi trẻ và đàn anh để lôi kéo tuổi trẻ suy tôn lãnh tụ tẩy và cớm, những tên đã đàn áp tuổi trẻ tận tình. Há chúng tưởng người thức giả quên chuyện chúng đào ngũ vất lại hàng ngàn xe tăng, hàng ngàn đại bác, ..hàng ngàn máy bay, hàng triệu tấn súng đạn và ngót triệu quân tinh nhuệ? Bây giờ chúng lạc quyên, xổ số để mua được mấy khẩu đại bác?

Nhìn thẳng vào sinh hoạt cứu quốc của đám tàn dư ngụy quyền ở quốc ngoại, hướng về dân tộc đang rên siết dưới gót giầy thống trị bạo tàn của phỉ quyền quốc nội , tôi, người tuổi trẻ thế hệ sau 30-4-1975, tự đặt mình vào cái thế phải chống cả tàn dư ngụy quyền và phỉ quyền. Ngụy quyền lưu manh. Phỉ quyền gian ác. Nước Việt Nam không thể nào được xây dựng kiện toàn bằng lưu manh và gian ác. Dân tộc Việt Nam không thể nào có tự do, dân chủ, hạnh phúc, thương yêu bởi đám lưu rnanh và phường gian ác. Lịch sử thống trị của ngụy và phỉ đã chứng minh trên hai miền đất nước. Phỉ quyền đang bóp nghẹt dân tộc bằng quyền bính chuyên chính vô sản. Ngụy quyền đang phát động chiến đấu phục hồi quyền bính tôi đòi. Hai thứ quyền bính này chỉ là nọc độc phì vào tim óc tổ quốc, chỉ là ròi bọ đục nát gan phổi dân tộc . Tôi đã thấy và thấy rõ hơn từ những ngày tôi cô đơn trong ngục tù phỉ quyền. Và tôi nghĩ tới một chính quyền tương lai của đất nước tôi. Và tôi nghĩ tới thân phận tuổi trẻ Việt Nam bị lừa gạt ròng rã ba mươi năm trời, bị gạt ra ngoài lề lịch sử. Nhiệt tình và lòng tự phụ của tuổi trẻ đã tiêu pha lãng phí cho những âm mưu củng cố quyền bính khốn nạn của phỉ và ngụy. Bây giờ là lúc tuổi trẻ phải quyết định lấy số phận dân tộc mình, phải nhận thức đúng vai trò và nhiệm vụ của mình đối với lịch sử nòi giống, phải tích cực chiến đấu để xây dựng chính quyền. Không có chính quyền, không bao giờ có hạnh phúc vĩnh cửu. Muốn có chinh quyền, điều kiện tiên quyết là phải xóa bỏ tàn dư ngụy quyền và âm mưu phục hồi quyền bính tôi đòi dĩ vãng, phải xóa bỏ phỉ quyền. Tôi thành khẩn nghĩ rằng sứ mạng xóa bỏ ngụy và phỉ chỉ có tuổi trẻ thế hệ tôi, trong và ngoài nước làm nổi. Bởi vì đại nghĩa ở trong tim chúng tôi.

Thế hệ tôi là nạn nhân đau đớn của phỉ quyền và ngụy quyền, đồng thời là chứng nhân buồn bã của niềm tủi nhục của tổ quốc trong thế tranh giành quyền lực giữa hai thứ chủ nghĩa khốn kiếp. Chúng tôi chưa hề là tay sai của bất cứ một thứ quyền lực nào đã thao túng ở Việt Nam. Nói rõ rệt, chúng tôi chưa hề là phỉ, là ngụy. Trong chúng tôi nhiều người đã là lính chiến. Nhưng ở bất cứ một chế độ nào, người lính vẫn chỉ là người cầm súng bảo vệ tổ quốc, quê hương dân tộc. Chế độ sẽ mất như chế độ đã mất, tổ quốc, quê hương, dân tộc còn mãi, vĩnh cửu. Người lính bảo vệ cái vĩnh cửu đó, không bảo vệ chế độ hay lãnh tụ. Chế độ, lãnh tụ và chủ nghĩa đã lợi dụng người lính. Người lính gục ngã giữa chiến trường vẫn tin rằng mình chết cho tổ quốc, không chết cho chế độ, lãnh tụ. chủ nghĩa. Người ta hằng nói đến quân đội và nhân danh quân đội. Có bao giờ quân đội là tướng lãnh đâu! Quân đội là lính chiến và những sĩ quan can đảm. Quân đội không bao giờ là của riêng bọn tướng tá hèn mọn đào ngũ để chúng nhân danh này nọ. Chúng tôi chưa hề để lại những dấu tích ô nhục trên quê hương. Chúng tôi chưa nắm quyền bính và không tham vọng quyền bính. Dĩ vãng của chúng tôi đẹp. Hiện tại của chúng tôi đẹp. Chúng tôi đi làm đẹp tương lai. Chỉ có thế hệ tuổi trẻ hôm nay, thế hệ trưởng thành sau 30-4-75, mới đủ khả năng tạo dựng chỉnh quyền cho xứ sở, mới đủ tư cách xóa bỏ ngụy quyền, phỉ quyền.

Kinh nghiệm lịch sử dạy chúng tôi những bài học quý giá về sự trông cậy ngoại bang. Sau Lê Chiêu Thống rước Tầu là Nguyễn Ánh rước Tây. Nô lệ và nô lệ. Những hò hét của Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Cường Để được tích sự gì? Người Nhật đã có mặt ở Việt Nam không phải vì Cường Để cầu cứu đủ làm sáng mắt chúng ta. Sau Hồ Chí Minh tình nguyện làm đầy tớ Liên Xô đến Ngô Đình Diệm cam đành làm đầy tớ Mỹ. Chiến tranh và chiến tranh. Phản bội và tù ngục, lưu đầy. Vậy mà vẫn còn những kẻ ngu xuẩn muốn ôm chân tài phiệt Nhật Bản, muốn luồn cúi bá quyền Trung Hoa. Nghĩ thật tủi vong hồn anh hùng, liệt sĩ đã chết vì chiến đấu chống Tầu, chống Nhật xâm lăng! Bối cảnh lịch sử tuy đã khác nhưng hoàn cảnh lịch sử vẫn giống nhau. Nghĩa là mọi vùng dậy đạp đổ bạo quyền phải xuất phát từ trong nước. Chính nghĩa ở đó. Chính nghĩa lung linh từ giọt nước mắt tủi nhục của bà mẹ. Chính nghĩa sang sảng từ tiếng khóc đói sữa của em thơ. Chính nghĩa ánh lên từ những giọt mồ hôi cưỡng bức đổ xuống nông trường, công trường vô vọng. Chính nghĩa tỏa ra từ những ngục tù xiềng xích. Chính nghĩa đó không tìm thấy ở những ly champagne liên hoan chào mừng lạc quyên, xổ số trúng mối; ở những chỉ thị ngu đần của kẻ mất tổ quốc mà vẫn to miệng hô hoán chỉ có ta mới giải thoát được quê hương. Chính nghĩa đó cũng không tìm thấy ở những đồng bạc ti tiện ngửa tay xin Nhật, xin Tầu; ở những đài phát thanh thuê mướn, ở những chiến khu màn bạc.

Những suy nghĩ, những phán xét của tôi, trước đây, còn mơ hồ. Từ ngày tôi về nước, tất cả những gì tôi nghe, tôi thấy đã cụ thể cái mơ hồ của tôi. Và, rất ngay thẳng, tôi quả quyết rằng, mọi nỗ lực lương thiện và chí tình quốc ngoại chỉ nhằm mục đích hỗ trợ cuộc chiến đấu đích thực quốc nội chứ không thể giành quyền chỉ đạo. Người ta đã không chịu hiểu điều này, nên mới xâu xé, bôi bẩn và tạo ra chia rẽ phân hóa lực lượng. Nghĩ cho cùng thì đó là bản chất của quân phiệt, mật vụ thôi. Chúng đòiđấu tranh cho tựt do dân chủ mà chúng không thích trò chơi dân chủ và luật dân chủ. Chúng muốn bắt mọi người đi vào quỹ đạo lạc quyên, xổ số đi vào cái hũ gạo tối om? Ai chống lại chúng, chúng chụp mũ dơ bẩn và rỉ tai bêu nhục. Nếu chúng dám về nước, chúng sẽ thấy chúng nhỏ bé đi và trẻ em trong nước đã lớn hơn chúng đủ mọi phương diện. Tôi về nước. Tôi nằm tù. Tôi bị còng tay, xích chân. Từ nỗi cô đơn tù ngục, tôi sáng tạo cuộc chiến đấu mới của tôi. Tôi nhớ anh em nhà Tây Sơn. Và tôi nghĩ rằng, trước hay sau, sớm hay muộn, sẽ phải có cuộc cách mạng Tây Sơn mới giải quyết xong toàn bộ vấn đề của dân tộc tôi. Như thế, tôi có thể khẳng định rằng, tôi và tuổi trẻ thế hệ tôi, vì nỗi ngậm ngùi của dân tộc mà chiến đấu. Tôi thuộc về dân tộc tôi . Và tôi chiến đấu trong cô đơn. Đừng bảo tôi chiến đấu trong bất cứ một tổ chức nào. Đã đúng thời điểm người tuổi trẻ đội mũ lên chính đầu mình, chiến đấu vì tổ quốc, dân tộc mình, không dại dột làm giầy giép cho mọi thứ lãnh tụ hay chủ nghĩa nào hết. Tuổi trẻ là lãnh tụ tuyệt vời nhất. Tôi tự hào tôi đã thấy tôi là người tuổi trẻ dám chiến đấu.

 

-16-

Những suy tư trong thống khổ của tôi dành nhiều cho tuổi trẻ. Từ ngày bị chuyển về Z30 D, tôi ít quan tâm tới thân phận tù đầy của tôi và những hình phạt tôi phải chịu đựng. Trại tập trung chẳng còn gì hấp dẫn tôi nữa. Nếu tôi đã thấy niềm bí ẩn của đời sống thì niềm bí ẩn ấy chỉ có dưới hầm phân nhung nhúc hàng tỷ con ròi, chỉ có dưới đáy sông Ray những sáng mùa đông đói lạnh lặn xuống móc đá tảng. Niềm bí ẩn ấy đã được soi sáng nhờ con gọng vó và triết lý sống bất hủ của nó. Sa Ác, trại tập trung khổ sai lao động, mang bí số TH6, với riêng tôi, là nơi chốn mà cái động đã rung rinh tận lóng xương, ống tủy của tôi:

Rừng nối rừng, cây tiếp nối cây
Đất gò mối rắn, cỏ tranh dầy
Mây leo cổ thụ gai nanh vuốt
Là chốn này đâu, Xuyên Mộc đây.

Ta tới như thời lưu vãng xưa
Tay còng áo dấu ấn thô sơ
Sương mù Ba Thục tan huyền thoại
Chân bước nghe quanh khỉ vượn đùa.

Tự đó thân phơi giữa nắng trời
Hồn đêm nương ánh vỡ sao rơi
Nghe chăng hai tiếng nguyền Sa Ác
Đã đến là xong một kiếp người.

Ngẩng mặt lên nhìn ngọn Mây Tào
Lòng ta muối xát vẫn chiêm bao
Có gì êm ái hơn đau đớn
Khi biết hư vô ở chỗ nào.

Ai trước ngồi câu bờ Vị Thủy
Bây giờ ta tắm nước sông Ray
Thấy con gọng vó bèn bơi ngược
Soi sáng đời ta tử địa này.

(Thơ tù, Nam Á Paris)

Tôi phải cám ơn con gọng vó. Nó đã dạy tôi phấn đấu. Nó đã dạy tôi thản nhiên đi trên hệ lụy, đi trong nghịch cảnh như nó lội ngược dòng nghịch lũ. Và tôi noi gương nó:

Chẳng ngại đường oan bỏng sắt nung
Xin đi. Dù hiu quạnh trăm năm
Xin đi. Vì nỗi đau khôn lớn
Đi đến hồn nhau, đến tận cùng.

Do đó, tôi đã không mang nhà tù ra đời sống. Chẳng còn gì tẻ nhạt hơn là ngồi kiểm điểm nỗi buồn khổ của riêng mình hàng nghìn trang và bắt người khác phải đọc, phải nghe nỗi buồn khổ không làm rơi nước mắt đó. Nên tôi đã thích suy tư trong thống khổ để hy vọng được sáng tạo bằng đau thương gạn lọc. Nhưng tại sao nỗi suy tư của tôi dành nhiều cho tuổi trẻ? Tôi trả lời ngay đây. Tôi thấy, tuổi trẻ Việt Nam, ở bất cứ không gian và thời gian nào, ở bất cứ hoàn cảnh nào, đều chứng tỏ mình là sư tử. Trong nghịch cảnh, họ là sư tử lừng lững. Tất cả những người tuổi trẻ – học sinh và sinh viên, nam cũng như nữ- mà cộng sản kết tội “phản động”, tội “chống phá cách mạng” tôi đã gặp ở các nhà tù đều là những người làm rạng rỡ cho sự nghiệp chiến đấu giành độc lập, tự do, dân chủ của dân tộc. Phẩm cách và tinh thần bất khuất của họ đã làm cộng sản nể nang. Và khiếp sợ. Luôn luôn trực diện kẻ thù bầy tỏ thái độ, bầy tỏ ý chí khi cần thiết. Không thèm sách động trong bóng tối và không thèm chối cãi quanh co. Họ biết sống, biết chiến đấu và biết chết, dám chết. Hẳn nhiên, họ không thích chết sảng, chết ngu, chết lấy tiếng anh hùng rơm. Họ kiên trì chịu đựng gian khổ, không than van, không theo chủ nghĩa “buộc chặt cái túi thăm nuôi”. Họ hào sảng, chia sẻ và sẵn sàng hứng lấy cả thiệt thòi giùm người khác. Tôi cho rằng đó là những người lý tưởng mà tổ quốc và dân tộc kỳ vọng. Những người tuổi trẻ của quân đội, những sĩ quan tác chiến cấp úy, đa số, cũng là những người còn đầy lửa tim, còn cố gắng bảo vệ danh dự quân đội, danh dự con người khi đương đầu với cộng sản trong tù ngục. Thái độ sống của họ khác hẳn thái độ của sĩ quan tá già, của sĩ quan văn phòng. Càng khác hẳn thái độ sống của giai cấp thư lại. Nói tóm lại, tuổi trẻ Việt Nam trong tù hay ngoài đời vẫn là sư tử, là những kẻ cao thượng của một xã hội thấp hèn. Tôi suy tư về tuổi trẻ còn bởi cộng sản to họng nguyền rủa tôi đã “đầu độc tuổi trẻ” chống đối họ. Trong cuốn Những tên biệt kích của chủ nghĩa thực dân mới trên mặt trận văn hoá tư tưởng do nhà xuất bản Văn Hoá ấn hành năm 1980, công sản đã dành cả 30 trang để kết án tôi đã tìm một lý tưởng cho tuổi trẻ. Và tôi đã phản pháo cộng sản bằng Bầy sư tử lãng mạn. Tôi sắp cho cộng sản vỡ mặt bằng tung thêm Hồn say phấn lạ. Ở bộ tiểu thuyết 1000 trang này, độc giả sẽ thấy tuổi trẻ Sàigòn và tuổi trẻ Hà Nội – cả con cháu lãnh tụ cộng sản như Võ Điện Biên (con trai út của Võ Nguyên Giáp), Thọ lột (cháu Nguyễn Lương Bằng), Lê Điểu (con Lê Duẩn) v.v.. – chống cộng sản ngoạn mục ra sao. Đấy, lý do tôi suy tư nhiều về tuổi trẻ. Sự suy tư không mang cho tôi một lợi lộc gì mà còn đẩy tôi vào giữa gọng kìm của phỉ quyền và tàn dư ngụy quyền và bọn kháng chiến ảo tưởng, bịp bợm. Bởi vì, tôi nghĩ, cuộc chiến đấu giải thoát dân tộc và mưu cầu hạnh phúc cho dân tộc của tuổi trẻ là phải tiêu diệt phỉ quyền, loại bỏ ngụy quyền và bọn mưu đồ phục hồi quyền bính tham nhũng, thối nát cũ. Bộ tiểu thuyết Hồn say phấn lạ của tôi chưa xuất bản, chưa phát hành dù tôi đã hoàn tất từ cuối tháng 11-1985, mới chỉ đường tạp chí Ngày Nay ở Wichita – Kansa (Hoa Kỳ) – “doạ” phát hành đầu tháng 4-1987 (*) mà đã có một “tờ báo” chụp nguyên trang quảng cáo Hồn say phấn lạ, đánh máy thêm những dòng báo động:

Tại nhiều cộng đồng người Việt hải ngoại, nạn thanh niên du đãng và trụy lạc, chìm đắm trong tội ác, mỗi ngày một trầm trọng. Không ai chối cãi được. Vậy có cần loại tiểu thuyết này để tiếp sức đầu độc và vạch đường chỉ lối không ? Các chiến sĩ quốc gia nghĩ sao?

Thưa ông “tờ báo” mà tôi không biết tên (bạn tôi chỉ cắt trang ông chụp trang quảng cáo Hồn say phấn lạ), ông báo động hơi sớm đấy. Tiểu thuyết chưa hề xuất bản, ông biết gì mà bảo nó “tiếp sức đầu độc”. Chừng Hồn say phấn lạ phát hành, mua trọn bộ về nghiền ngẫm kỹ lưỡng, nếu lương thiện, ông sẽ quảng cáo giùm. Loại tiểu thuyết này vạch đường chỉ lối cho tuổi trẻ quốc nội (xin yên tâm, không dính dáng chi đến quốc ngoại cả) vận động cuộc cách mạng Tây Sơn mới, tiêu diệt cộng sản. Các chiến sĩ quốc gia (của ông thôi) nên mua càng nhiều càng tốt về học tập. Riêng ông thì học cách làm báo cho hay bằng báo bí mật Đạn lên nòng của tuổi trẻ Sàigòn đánh cộng sản.

Một điểm nhỏ vừa nêu đủ nói lên sự “khó khăn” cho suy tư của tôi. Tôi có nên bán đứt bản quyền Hồn say phấn lạ cho cộng sản để họ đốt đi không nhỉ? Chống cộng sản, bây giờ, còn gặp cả trở ngại quốc gia bẩn, quốc gia rắn rết, quốc gia “nghĩ sao” những điều mình chưa biết. Nhưng cần gì, “chó sủa mặc chó, đoàn lữ hành cứ đi”. Bao giờ và ở đâu thì tôi cũng vẫn chỉ là kẻ chống cộng tự nguyện, chống cộng không ăn cái giải gì mà bị ăn hơi kỹ cơm tù và nọc rắn. Cộng sản chửi tôi :” Từ Hoa thiên lý, Duyên Anh cho là đã viết với “niềm xúc động thật tình”. là một truyện chống cộng khá thâm hiểm. Thông qua câu chuyện tưởng như truyện tình cảm thuần túy, Duyên Anh đã quỷ quyệt gieo vào lòng người đọc tình cảm sai về miền Bắc” (**). Vẫn cộng sản chửi: “Đa số những truyện, ký của Duyên Anh đều sặc mùi phản động. Duyên Anh đã chống cộng với tất cả mối thâm thù cách mạng” (**). Cộng sản tiếp tục chửi: “Chỉ cần đọc câu: ‘Thôi đành chống cộng sản bằng cách gọi cái sự thấy mỗi cuối tháng của đàn bà bình thường là kéo cờ cộng sản vậy’ thì dù có hiền lành đến mấy đi cũng phải sôi gan” (**). Cộng sản lên án: “Thực ra, phải nói Duyên Anh căm thù cách mạng mới thật đúng với lòng dạ của hắn. Hắn căm thù cách mạng đến độ hầu như không một cuốn truyện nào, bài báo nào của hắn mà không có những đoạn, những câu nói xấu cách mạng, xuyên tạc, chửi rủa cộng sản” (**). Công sản cay cú: “Chẳng những hắn biện hộ, ca ngợi bọn du đãng mà còn không bỏ lỡ cơ hội nào để xuyên tạc, phỉ báng phong trào sinh viên học sinh và nó xấu cộng sản, nói xấu cách mạng . Ý đồ chống cách mạng của Duyên Anh trong loại tiểu thuyết du đãng còn lộ liễu trắng trợn hơn. Cái đuôi chống cách mạng của hắn đã thò ra ngay từ cuốn truyện du đãng đầu tiên” (**) Cộng sản đánh nhầu tôi, lôi cả ông nội tôi, bố tôi, em tôi, vợ tôi ra chửi. Quốc gia bẩn thì nhục mạ tôi…làm việc cho cộng sản, tay sai cộng sản! Cộng sản khẳng định truyện du đãng của tôi chống cách mạng cộng sản. Quốc gia bẩn bảo truyện du đãng của tôi “đầu độc quốc gia…bẩn. Kể ra cũng chẳng đáng ngạc nhiên. Bởi tôi đứng về chiến tuyến quốc gia chân chính. Mà quốc gia chân chính sẽ làm chính quyền, phải làm chính quyền. Chính quyền không dung dưỡng phỉ quyền, không chứa chấp ngụy quyền. Chính quyền sẽ nằm trong tay của tuổi trẻ lỗi lạc, sáng suốt, nhiệt tình và lương thiện. Chính quyền của nước Việt Nam tương lai khu trừ gốc rễ cộng sản, đã đành, còn loại bỏ toàn bô cơ cấu ngụy quyền tham nhũng, thối nát, ngu dốt, phản phúc. Vậy thì cộng sản nguyền rủa tôi, quốc gia bẩn của nguy quyền nham nhở nguyền rủa tôi chả là một song kiếm hợp nhất diệt kẻ thù chung. Rất lô gích. Vì, cộng sản đã nêu cao chính nghĩa nhờ quốc gia bẩn, quốc gia bẩn kiếm chác khấm khá nhờ chiêu bài độc quyền đấu thầu chống cộng sản. Phỉ quyền và ngụy quyền đã nương nhau, đã dựa dẫm nhau mà sống, mà moi ruột tổ quốc, mà móc mắt dân tộc, mà dẫm nát tình nghĩa đồng bào, mà làm băng hoại đất nước Việt Nam yêu dấu, mà tước đoạt quyền sống con người. Nhưng khi dân tộc ta, đất nước ta, tổ quốc chúng ta có chính quyền, bắt buộc, phỉ quyền và ngụy quyền sẽ bị tận diệt cùng một lúc. Không có đất sống cho phỉ quyền và ngụy quyền trên giang sơn gấm vóc của Lý Thường Kiệt, của Trần Hưng Đạo, của Quang Trung.. Phỉ quyền và ngụy quyền đều sợ hãi chính quyền. Là bởi chính quyền có chính danh, chính nghĩa. chính đạo. Chúng là bọn giả danh, giả nghĩa, giả đạo, giả mạo, giả nhân . Từ bản chất, chúng đã giả. Chân lý không của bọn giả danh. không của phỉ quyền và ngụy quyền. Tất cả đều đã nhìn rõ. Người tuổi trẻ hôm nay cần nhìn rõ hơn. Để nhận đường chiến đấu. Nếu không, mọi dấn thân sẽ chỉ đóng góp cho bè lũ tôi đòi vọng ngoai âm mưu phục hồi quyền bính bệ rạc dĩ vãng. Mãi mãi, dân tộc khốn khổ, Việt Nam sẽ bị thống trị bởi phỉ quyền và ngụy quyền, hoặc thời thống trị độc quyền của phỉ quyền, hoặc thời thống tri độc quyền của ngụy quyền. Còn bóng dáng phỉ quyền và ngụy quyền, dân tộc ta còn quằn quại, đau thương. Tôi muốn ví, ở bối cảnh lịch sử này, phỉ quyền như chúa Trịnh đàng ngoài, tàn dư ngụy quyền như chúa Nguồn đàng trong. Chúng ta cần một cuộc cách mạng Tây Sơn mới. Của tuổi trẻ. Chừng nào chúng ta có chủ thuyết tiểu tư sản do ngtrời Việt Nam lập thuvết làm nòng cốt cho tân cách mạng Tây Sơn, chừng đó dân tộc ta mới được giải thoát, mới đượcsống hạnh phúc trong thương yêu (***)

Nhưng, trước hết, một điều kiện tiên quyết, tuổi trẻ Việt Nam phải khước từ lãnh tụ già nua, phải chối bỏ lãnh tụ mù lòa, phải đạp đổ lãnh tụ giả mạo. Tôi hoàn toàn đồng ý với người tuổi trẻ tên là Độc Ngữ trong bài thơ dưới đây:

 

Những con chó già

vẫn tưởng

răng mình còn sắc

Tuy đã

rụng lông

trên lưng

từng mảng ghẻ.

Những con mèo

ngu si

vẫn tưởng

mình cốt cách

sư tử

nhưng chết

khó hóa

thành cáo.

Những lão bình vôi

vẫn tưởng

nhờ mình cây đa

được trọng nể

mà quên

ông thần.

Những tên văn nghệ khụ khị

vẫn tưởng

thốn tâm thiên cổ

bằng tác phẩm

củi mục

và huyênh hoang

sau mình

đại hồng thủy

Bọn lãnh tụ

Bọn lãnh tụ

chúng nó đấy :

chó ghẻ

mèo ngu

bình vôi

củi mục

Trong mọi lãnh vực

chúng nó

ngăn chận

tuổi trẻ ta

Cách mạng :

-Chúng nó

Văn hóa :

– Chúng nó

Xã hội :

– Chúng nó

Chính trị :

-Chúng nó

Thụ hưởng :

-Chúng nó

Còn chúng ta

hít khói
lựu đạn cay

Còn chúng ta

ăn báng súng
dài dài

Chúng ta

lãnh đòn

cảnh sát

vào khám

ra tù

hụt hơi

mù mắt

Chúng ta

làm guốc

để chúng nó đi

Chúng tự cho mình là

đại dương

Còn chúng ta

kinh rạch

Chúng tự cho mình là

trái núi

Còn chúng ta

cỏ mục dưới chân

Đã phẫn nộ chưa

tuổi trẻ

hào hùng

bất cứ

giai đoạn lịch sử nào

Chúng ta

cũng đều

biến thành

vật tế thần

của tham vọng

cá nhân

Chúng nó cần ta

mà cứ khinh ta bé nhỏ

Chúng nó sử dụng ta

như những tên

nô lệ

như những trái chanh

vắt hết nước

liệng ngay

chằng hề

thương xót

Bọn lãnh tụ

Bọn lãnh tụ

chúng nó đấy :

chó ghẻ

mèo ngu

củi mục

bình vôi

Chó ghẻ bên trong

chó ghẻ bên ngoài

Chó ghẻ hôm qua

chó ghẻ hôm nay

Chó ghẻ xà mâu

giả hình
sư tử

Tuổi trẻ ta đâu

hãy đứng lên

dang chân

đạp lãnh tụ

Lãnh tụ bên trong

Lãnh tụ bên ngoài

Lãnh tụ ù lỳ

Lãnh tụ tay sai

Lãnh tụ lạc quyên

Lãnh tụ thỏa hiệp

Lãnh tụ cộng sản

Lãnh tụ lưu vong

rặt những thằng

khốn kiếp

thứ củi mục

hết xài

thứ bình vôi

đặc xịt

thứ hòn bi

thích ăn

thèm uống

thứ côn trùng

nhầy nhụa

háo danh

đã đục rỗng

ba mươi năm

đất nước

Phải xổ

sán giun

khỏi

ruột non

ruột già

tổ quốc

Phải phóng

nhiệt tình

và lòng tự phụ

vào trận địa

Dấn Thân

Tuổi trẻ ta đâu

kèn đã dục

kết đoàn

Bởi vì

chúng ta

mới thật là

Sư Tử

Chúng ta

hiện tại mặt trời

trăng sao quá khứ

Xuống thuyền thôi

Lịch sử

đang chờ

(Đạp đổ lãnh tụ, thơ Độc Ngữ)

 

 

Tôi mong rằng, tuổi trẻ Việt Nam hôm nay, sẽ luôn luôn truy nã bản thân mình, truy nã thân phận dân tộc mình. Sự truy nã thường xuyên sẽ soi rõ con đường chiến đấu của mình. Để không còn thất bại. Đề tự hào là sư tử của tổ quốc. Tôi xin phép được khẳng định vị thế của tôi trong cuộc chiến đấu giải thoát giống nòi của tuổi trẻ. Tuổi trẻ là lãnh tụ cao quý của tôi. Tôi chỉ ngưỡng mộ tuổi trẻ lý tưởng và phục vụ lý tưởng của tuổi trẻ như một tên lính thổi kèn đi tiên phong.

Thôi, tôi phải về Z30 D, nơi tôi bị phỉ quyền cộng sản giam giữ và hành hạ khổ sai lao động vì đã dám chống đối cách mạng vô sản và xúi dục tuổi trẻ chống đối cách mạng vô sản.

(*) Vì Hồn say phấn lạ dầy quá, tạp chí Ngày Nay không đủ phương tiện xuất bản. Nên cứ … doạ mãi. Rốt cuộc Xuân Thu sẽ phát hành

(**) Những tên biệt kích của chủ nghĩa thực dân mới trên mặt trận văn hóa tư tưởng

(***)Tác giả đã gợi ý cho tuổi trẻ Việt Nam về chủ thuyết tiểu tư sản và tân cách mạng Tây Sơn ở những tiểu thuyết Sỏi đá ngậm ngùi, Bầy sư tử lãng mạn, Một người tên là Trần văn Bá và rõ rệt nhất ở Hồn say phấn lạ. Theo tác giả, hai chủ nghĩa tư bản và vô sản đã bất lực trong mưu cầu hạnh phúc cho nhân loại, đã cầy nát dân tộc Việt Nam, đã đưa dân tộc Việt Nam vào chiến tranh, thù hận, ngục tù, đói khổ, ngu dốt, lạc hậu.

 

 

-17-

Chuyện nghe kể về một trại cải tạo.

Trại ấy tên là An Hòa, cách thị xã Đà Nẵng 60 cây số về phía Tây, gần biên giới Ai Lao. Chúng ta đều biết rằng, cộng sản chiếm Quảng Trị, Thừa Thiên, Đà Nẵng rồi mới thừa thắng tràn xuống phía Nam. Tổng Y viện Duy Tân của Quân Đoàn 1, Vùng 1 chiến thuật nằm ở thị xã Đà Nẵng. Khi cộng sản băng qua đèo Hải Vân vào Đà Nẵng, Tổng Y viện Duy Tân còn khá đông y sĩ ở lại với thương bệnh binh. Lương tâm thầy thuốc không cho phép họ đào tẩu. Cộng sản tiếp thư Tổng Y viện Duy Tân, chỉ định bác sĩ Phạm văn Lương làm chỉ huy trưởng lâm thời Tổng Y viện này.

Bác sĩ Phạm văn Lương, người hùng đảo chính Trường Y khoa quân đội năm 1963 (*), hồi còn là sinh viên. Là bạn thân của Hà Thúc Nhơn, người hùng chống tham nhũng ở Tổng Y viện Nguyễn Huệ, Nha Trang, bị thảm sát bởi tập đoàn Ngô Du, Vũ Ngọc Hoàn, Huỳnh Bá Phẩm, ông thực sự nổi tiếng khi ôm lựu đạn ngồi trước cửa Hạ Viện bầy tỏ thái độ chống tham nhũng, thối nát của ông. Phải nói, ông là biểu tượng của sĩ khí còn lại sau cơn lốc đô la. Một mình một ngựa, người tuổi trẻ Phạm văn Lương xông xáo vào trận tuyến làm đẹp đất nước. « Một người còn có một tin tưởng vào một số tín điều nào đó, tất nhiên phải nhìn những biến thiên của xã hội hôm nay bằng một con mắt nghiêm khắc, nếu không muốn nói là thù hận. Sự tin tưởng sâu xa và sự cuồng tín chỉ là hai mặt của một vấn đề »(**). Phạm văn Lương là con người đó. Sự cuồng tín của ông ta đã đưa ông ta vào cô đơn. Và ông đã dẫy dụa trong lưới ngộ nhận cố tình của bọn thống trị độc ác. Phạm văn Lương giáo dục con cái nghiêm khắc như ông nhìn xã hội vậy. Ông chính là con gọng vó bơi ngược dòng nghịch lũ. Cuối cùng, ông thả dài mộng ước hư hao ở quân y viện.

Tháng 6-1975, như tất cả sĩ quan quân lực Việt Nam Cộng Hòa, các y sĩ quân đội phải đi trình diện học tập cải tạo. Y sĩ Tổng y viện Duy Tân trình diện tại chỗ và được đưa vào trại cải tạo An Hòa cùng một số lớn thuốc và dụng cụ Y khoa. Trại An Hòa được kể là trại lao cải lớn của Vùng 1. Sĩ quan của Sư đoàn 1 bộ binh, các viên chức cao cấp của chế độ cũ, nhất là những người gốc gác Thừa Thiên, đều đã chạy cả vào Đà Nẵng rồi trình diện ở Đà Nẵng và vô An Hòa. Huế vốn lừng danh sắt máu. Huế của Tố Hữu 1945 xử tử Phạm Quỳnh. Huế của Mậu Thân 1968, của Hoàng Phủ Ngọc Tường tàn sát, chôn sống tập thể. Huế của 1975, của Tống Nhạn sẽ tái diễn Huế 1968. Người ta sợ hãi « biển máu » ở Huế và người ta chạy tuốt vào Sài gòn hay tạm dừng ở Đà Nẵng.

Tất cả các trại tập trung cải tạo « ngụy quân, ngụy quyền » từ tháng 6-1975 đến cuối năm 1978 đều do quân đội nhân dân quản lý. Nói rõ rệt, Bộ quốc phòng quản lý. Khi ổn định tình hình Huế, chính quyền cách mạng của Huế mới nghĩ chuyện trả thù những kẻ « có nợ máu » với nhân dân. Họ lập một danh sách những tù nhân cần thiết phải đem về địa phương để xử tử. Và danh sách đó gửi tới An Hòa. Ban giám thị trại An Hòa không trả lời. Huế cử một phái đoàn vào An Hòa lãnh tù nhân sinh trưởng tại Huế về « cải tạo ». Ban giám thị trại An Hòa từ chối. Huế làm dữ. Mỗi ngày một phái đoàn vào An Hòa. Ban giám thị phải hỏi ý kiến Bộ quốc phòng. Bộ quốc phòng hỏi ý kiến Bộ chính trị trung ương Đảng. Quân ủy và Đảng ủy họp. Hai vấn đề được đặt ra :

  1. Giao tù nhân cho địa phương là sai nguyên tắc, sai chính sách học tập cải tạo.
  2. Tù nhân sẽ nổi loạn nếu biết địa phương đem về xử tử.

Đặt vấn đề xong là giải quyết ngay : Thủ tiêu các tù nhân cải tạo gốc Huế mà Huế đòi hỏi trong danh sách. Các y sĩ của Tổng y viện Duy Tân còn sót lại và đi trình diện học tập cải tạo bị chỉ định công tác sát nhân này. Có 2 lý do khiến họ phải cất lương tâm một chỗ thật kín.

  1. Bị đe dọa nếu không thi hành công tác, vợ con sẽ bị tàn sát.
  2. Bị đe dọa sẽ chết thảm nếu không thi hành công tác.

Họ cần sống, họ sợ chết đau đớn, chết kiểu chôn sống. Và họ đã giết mỗi ngày vài tù nhân gốc Huế cho đến khi danh sách những kẻ « nợ máu » của nhân dân Huế không còn ai. Huế đến đòi. Anh Hòa báo cáo tù nhân đã chết bệnh, có biên bản và y chứng. Nhưng Huế biết tù nhân « nợ máu » bị thủ tiêu cả. Sau hai năm sống với nỗi ray rứt lương tâm, ám ảnh tội ác, các y sĩ của Tổng y viện Duy Tân cải tạo ở trại An Hòa đã lần lượt tự sát. Chính xác tên tuổi và ngày tháng tự sát là bác sĩ Vũ Đức Giang. Bác sĩ Giang tự sát ngày 30 tháng Chạp năm Tị, 1977. Ông đã chọn một ngày cuối năm cho một ngày cuối đời. Bác sĩ Giang còn rất trẻ. Người yêu ông vượt biển sang Gia nã đại. Nàng chỉ yêu ông. Và nàng trở nên lạnh lùng với tình ái khi hay tin ông tự sát. Nàng đã bị kẻ yêu nàng mà không được nàng yêu hạ sát. Bác sĩ Giang tự tử đúng ngày sinh của ông. Người y sĩ cuối cùng tự sát là Phạm văn Lương.

– Các y sĩ thủ tiêu tù nhân bằng thuốc gì ?

– Thiếu gì thuốc. Nhưng việt cộng có một thứ thuốc thủ tiêu rất êm.

– Thuốc gì ?

– 20 xen ti mét khối không khí vào mạch máu !

– Các y sĩ cũng chết bằng cách đó ?

– Có lẽ.

Bài thơ về một người tù

Em bé Việt Nam
Sinh tháng 8-1975
Năm 79 chưa đầy bốn tuổi
Theo mẹ vượt biên tìm cha trốn khỏi quê hương
Chẳng may bị bắt giữa đường
Em bé đến trường cải tạo
Chế độ khoan hồng nhân đạo
Nhốt em với mẹ chung phòng
Em có hồ sơ riêng
Được đối xử công bằng
Do xã hội ưu việt
Do giáo điều tinh khiết
Do luật pháp quang minh
Do lãnh tụ tài tình
Em can tội khước từ chủ nghĩa
Em can tội chống ý thức hệ
Em bé mút ngón tay học tập làm người
Khi em trở lại cuộc đời
Cầm tấm giấy ra tù
Vẫn chưa biết mình là thần đồng phản động.

Và một bài thơ có nhan đề Cổ tích

Có một đàn kiến lửa
rủ nhau vào cachot
thấy nằm đó gã tù
tay còng chân đeo xích

Tù nhân không nhúc nhích
Kiến chúa nhớ thù người
Vuốt râu nhếch mép cười
Đã đúng giờ tuyết hận

Ôi con người khốn nạn
Sát hại kiến dài dài
Gót giầy dẫm cả bầy
chẳng mảy may thương xót

Kiến dậy lòng căm tức
định hành hạ tù nhân
Một giây sáng lương tâm
chê con người bần tiện

thiếu linh hồn loài kiến
ghét nhau bắt nhốt nhau
đầy đọa nhau thảm sầu
nhục nhằn rồi chết rũ

Kiến quên nhanh thù cũ
phun lửa chảy xích còng
Tù nhân khóc rưng rưng
Con người thua con kiến

Cuối tháng 12-1980, khu A biên chế các đội lung tung, xào xáo. Nguyễn văn Hải và tôi bị biên chế vào đội linh tinh và tách ra tổ vệ sinh khu A. Tất cả các đội khu A dọn sang khu B, xóm nhà lá. Riêng đội xây cất, đội mà danh ca Duy Trác đã ở, còn được cư ngụ tại nhà gạch khu A. Ông già Tới cầm Giấy ra trại. Thiếu tá nhảy dù Phạm Đình Cung, hỗn danh Cung củ đậu (***) nhậm chức trật tự viên, thay thế ông già Tới. Cung củ đậu quen biết tôi ngoài đời, hồi Phạm Huy Sảnh còn làm chỉ huy trưởng Cảnh sát dã chiến Biệt đoàn Con nhện 222 và Nguyên Duy Am, chỉ huy phó. Anh ta có máu lai Chà và, bụng to, thân xác to nhưng óc nhỏ. Tôi không hiểu tại sao Z30 D lại tin tưởng sĩ quan nhảy dù. Cung củ đậu sang làm trật tự khu A một tuần lễ thì tổ vệ sinh của chúng tôi nhận chỉ thị cọ rửa sạch các hồ nước và bơm đầy nước vào hồ. Rồi các nhà trống cũng được quét dọn, lau rửa sạch sẽ. Có biến cố gì chăng ?

Tôi đã sống ở Sa Ác ngót hai năm và đã hiểu cung cách quản lý tù nhân. Cứ ba bốn tháng, các đội lại bị biên chế. Người ta không muốn tù nhân sống chung lâu với nhau cùng đội, cùng nhà. Tôi đã tưởng các đội khu B sang khu A. Không, bạn tù lâu năm của Z30 D bảo không hề có đón tiếp nồng hậu thế. Vậy đón ai ? Khoảng 20 tháng 1-1981 tôi có câu trả lời. Tù nhân sĩ quan cải tạo từ trại Hà Nam Ninh (trại Đầm Đùn) từ Bắc về Nam. Z30 D tiếp nhận 500 tù nhân đặc biệt này. Họ về với cả chổi cùn dế rách, lồng chim, lồng gà. Chim chào mào đít đỏ và gà vẫn sống nhăn răng sau cuộc hành trình đường sắt. Họ xuống ga Phan Thiết. Từ ga Phan thiết, họ bị dồn lên xe tải, hai người một còng số 8, về Z30 D. Hành lý chở riêng mấy xe đầy nhóc. Hành lý đến trước người. Chúng tôi, tổ vệ sinh, vác hành lý để một góc sân xếp riêng một chỗ theo tên tù nhân viết ngoài bao bố, ba lô, túi vải, bị cói. Công việc vừa xong thì xe chở tù nhân tới. Còng tay được mở ngay lúc họ xuống xe. Hàng đôi, họ vô trại. Vệ binh bố trí quanh trại. Đại liên, trung liên nạp đạn sẵn sàng. Thủ tục nhập trại của họ rất khẩn trương. Trước hết, họ nhận hành lý. Rồi theo dõi tên đọ trong danh sách, khuân hành lý xếp hàng trật tự. Họ được biên chế đúng 10 đội, đủ 10 căn nhà. Đội xây cất lại dọn sang khu B. Tổ vệ sinh tạm trú ở phòng ăn Nhà 1. Mỗi đội khuân hành lý, theo quản giáo và vệ binh nhận nhà. Hành lý của họ được kiểm tra thật nhanh. Không món nào bị tịch thu cả.

Tất cả tù nhân từ một trại đến một trại đều nằm trong quy luật này: cửa nhà đóng chặt, khóa kỹ, chỉ mở lúc chia cơm nước. Ba ngày sau mới được đi tắm. Tù nhân Hà Nam Ninh đúng là “thượng khách” của Z30 D. Cửa mở tung, đi lại tự do. Nước đầy hồ, mặc sức tắm. Cạn thì bơm đầy. Họ ca cóng ngay. Chúng tôi phải kéo đẩy mấy chuyến xe cải tiến củi, cho họ mượn dao chẻ nhỏ mà nấu nướng. Trong số tù nhân Hà Nam Ninh, tôi quen biết vài người. Quân đội có Vũ Xuân Thông, trung tá, Lữ đoàn phó Biệt cách 81. Lữ đoàn trưởng còn kẹt lại Hà Nam Ninh A vân vân. Dân sự có Ruyện hay Ruyệt (tôi nhớ không rõ), Quốc gia hành chánh, cùng khóa Đỗ Tiến Đức, đã làm việc chung phòng với tôi ở Tổng nha thanh niên thời Cao Xuân Vỹ, phó tỉnh trưởng vân vân. Người đầu tiên nhận ra tôi và tìm gặp tôi là Vũ Xuân Thông, tài tử điện ảnh, vai chính của Người tình không chân dung. Vũ Xuân Thông và tôi là chỗ thân tình, kém tôi vài tuổi mà Thông cứ xưng em với tôi, ngoài đời như trong tù.

– Không ngờ gặp anh ở đây.

– Ông biết tôi bị bắt không ?

– Biết. Em đã sống với anh Văn Quang. Anh Văn Quang chịu đựng nổi, anh cũng chịu đựng nổi.

Tôi kể chuyện Sở công an, đề lao Gia định, khám lớn Chí hòa, Sa Ác cho Thông nghe. Thông kể chuyện Lào Kay, vùng kinh tế núi Văn Bàng, Hoàng Liên Sơn, Yên Bái và bến đò Khô Lâu, Sơn La, ruồi vàng to bằng đốt ngón tay cắn chảy máu người, ăn bo bo đen, chịu sốt vàng da… Chúng tôi ôm nhau khóc. Và cười.

– Em vẫn mơ ngày vẽ bộ truyện tranh Dzũng Đa kao

– Chuyện ấy tính sau.

Vũ Xuân Thông kể chuyện Bầy sư tử lãng mạn (****) đánh thức Hà Nam Ninh B vùng dậy. Và kết quả là chuyển trại về Nam.

– Anh nghĩ gì ?

– Nghĩ gì ?

– Chuyện đưa anh em về đây.

– Tôi không hiểu, hoàn toàn không hiểu. Nó đã đón tiếp Hà Nam Ninh nồng hậu. Thanh Nghệ Tĩnh về đây âm thầm lắm. Có điều đừng suy diễn hoàn toàn lợi cho mình. Hay nhất là im lặng, wait and see. Ô kê ?

– Đồng ý với anh. Nhưng anh em quá khích hơi đông. Đầu óc lại hơi ít.

– Ai là đầu óc lớn ? Mà thôi, đừng tiết lộ.

– Tại sao, anh Duyên Anh ?

– Tại tôi không thích biết quá nhiều nữa. Còn ông, lớn hay nhỏ ?

– Không lớn vẫn bị tụi nó đánh dấu … Biệt cách 81.

– Bọn Z30 D nhận chỉ thị trực tiếp của bộ nội vụ. Chúng nó cáo lắm. Chân ướt chân ráo nên im lặng là tốt. Nó cũng đang chờ các ông tỏ thái độ đấy.

– Sao anh biết ?

– Rồi ông xem. Nó đưa thằng Cung củ đậu làm trật tự trước khi các ông về. Nó đã đề phòng. Nó lấy độc trị độc.

– Em phải bàn với anh em.

Tôi nấu mì chiêu đãi Vũ Xuân Thông, người lính hào hùng, người tài tử đẹp trai của tôi. Tổ vệ sinh đã làm tất cả những gì có thể làm để giúp đỡ anh em Hà Nam Ninh. Đêm đầu tiên hoàn toàn im lặng. Vì mấy ngày đường mệt mỏi, anh em ngủ ngon lành. Hôm sau, anh em được viết thư báo tin cho gia đình. Trại hứa đem hết thư về Sài gòn và yêu cầu Bưu điện Sài gòn phát thư khẩn trương. « Đầu óc lớn » chưa làm việc. Tốt. « Mặt trận miền Tây vẫn yên lặng ». Một trung úy của Phủ đặc ủy trung ương tình báo, độc giả của tôi, tên Thọ, đến tìm tôi.

– Anh thân với anh Vũ Xuân Thông lắm, phải không ?

– Thân.

– Anh Thông thật tốt, thật bao dung. Anh ấy chỉ là nghệ sĩ khoác áo lính, làm việc khác không được đâu. Anh ấy ba phải, bị thiên hạ dùng làm bia.

– Cậu nói gì tôi không hiểu. Nhưng đừng nên nói nữa. Anh em mình gặp nhau là vui. Chúng ta lại mới biết nhau. Đừng tâm sự thì khỏi ngờ vực, đề phòng. Kinh nghiệm ở tù dạy tôi từ chối nghe chuyện kín.

– Anh thủ đến thế ư ?

– Tôi tránh phiền phức cho cậu. Sợ rằng thương tôi cậu mất công thanh minh cho tôi rồi sẽ mất cả bạn lẫn chiến hữu.

– Đã xảy cho anh chuyện đau lòng vậy à, anh ?

– Sẽ, xẩy ra.

– Anh có gì khuyên em ?

– Cậu thuộc bài Khóc Bằng Phi của Tự Đức chứ ?

– Thuộc.

– Một câu trong đó là lời khuyên.

– Câu nào, thưa anh ?

– Xếp tan y lại để dành hơi.

– Cám ơn anh, em vẫn chủ trương thế. Anh Duyên Anh ạ ?

– Gì ?

– Nghề nghiệp của em dạy em biết đánh giá con người, sự việc và tin tức. Những người lãnh đạo vụ Hà Nam Ninh B đều bị ghim trong danh sách đỏ. Và hồ sơ theo tù nhân đến trại mới. Em nghĩ anh chẳng cần thủ.

– Ở tù, bất đồng quan điểm là một tội nặng, cậu hiểu chứ ?

– Anh bất đồng quan điểm gì ?

– Nhiều lắm.

– Thí dụ ?

– Một số người mơ mộng dẹp tan cộng sản sẽ lên lon ầm ầm, sẽ lãnh vô kể tiền ráp pen, sẽ trở thành những cái rốn của tổ quốc. Tôi thì lại mong tất cả khởi sự từ zê rô.

– Gì nữa ?

– Một số người lấy thành tích ngục tù là cái gì ghê gớm lắm, dân tộc phải biết ơn họ, ngưỡng mộ họ. Tôi thì cho chuyện ở tù là một vụ nghỉ hè dài trong đời sống.

– Gì nữa ?

– Tôi quan niệm việc làm là việc làm, lớn hay nhỏ, tôi cố gắng làm đến nơi đến chốn. Tôi lao động đúng yêu cầu của cộng sản. Để biết sức của tôi và để tập hoàn thành một công việc bị cưỡng bức. Còn để chứng tỏ thái độ của nhà văn. Một số người cho rằng tôi sợ hãi, khiếp nhược. Họ muốn tôi phải là nhân vật người hùng của tiểu thuyết của tôi.

– Gì nữa ?

– Tôi không thích thù hận bọn công an coi tù, nói chung, tôi không thích thù hận công cụ của chủ nghĩa cộng sản và lãnh tụ của nó. Tôi chỉ muốn hủy diệt chủ nghĩa cộng sản và lãnh tụ cộng sản. Người ta không thể giết chết con rắn độc bằng cách chỉ đập nát cái đuôi. Tôi bị coi là thân cộng sản, đầu hàng cộng sản.

– Tầm bậy. Em đồng ý với quan điểm của anh. Còn nổi loạn trong tù ?

– Cộng sản sợ hãi sự im lặng.

– Nổi loạn vô ích ?

– Thử nổi loạn đi, sẽ có kinh nghiệm lớn.

– Em vốn bất động từ vào tù. Em muốn có kinh nghiệm từ anh.

– Tôi chưa nổi loạn trong tù, không bao giờ nổi loạn trong tù. Tôi chống bạo lực bằng chữ nghĩa và tư tưởng. Nhà văn xử dụng võ khí của nhà văn. Tôi chưa hề xuống đường hoan hô, đả đảo. Cậu nên nhớ rằng, sĩ quan quân đội của ta không được coi như tù binh chiến tranh. Vậy không có Quy ước, Thỏa hiệp quốc tế nào bảo vệ. Với cộng sản, dẫu có, họ cũng dẫm lên những Quy ước – Thỏa hiệp bằng giép râu. Thí dụ sĩ quan quân đội của ta được coi là tù binh chiến tranh, thì Quy ước quốc tế về tù binh chiến tranh ký kết tại Geneve, hình như, năm 1951, cũng có điều khoản cấm tù binh nổi loạn trong các trại tù và cho phép những kẻ canh giữ tù binh đàn áp mọi nổi loạn trong trại tù. Còn có cả điều khoản tù binh chiến bại phải chào kính kẻ chiến thắng canh giữ, nếu kẻ chiến thắng yêu cầu. Nổi loạn trong tù là hạ sách, có lẽ, là chuyện phiêu lưu vô vọng. Vậy nằm tù cộng sản có hai thái độ chọn lựa. Một là, tuyệt vọng như con hổ trong chuồng sắt sở thú : Than ôi, thời oanh liệt nay còn đâu ! Hai là, suy tư một câu thơ của Tự Đức : Xếp tàn y lại để dành hơi. Tôi chọn thơ Tự Đức.

Trung úy Thọ, người bạn tuổi nhỏ của tôi, không hỏi thêm gì nữa. Anh ta hút thuốc lào rồi nói chuyện văn nghệ. Ngày thứ ba, anh ta lại tìm tôi. Và chúng tôi mạn đàm thân mật.

– Hỏng rồi, anh Duyên Anh ơi !

– Chuyện gì ?

– Đàn anh qua khu B được các đàn em tâng bốc và đốc thúc « phải cho nổ », đừng để đàn em thất vọng như đã thất vọng Thanh Nghệ Tĩnh.

– Rồi sao ?

– Các anh ấy họp.

– Đến đây thì tôi xin cậu ngưng lại.

Trung úy Thọ lắc đầu :

– Vâng, em nghe anh. Cho em phê bình một câu được không ?

Tôi hỏi :

– Phê bình tôi ?

Thọ đáp :

– Phê bình đàn anh của em.

– Thử phê bình xem sao.

– Quân đội không biết làm chính trị. Các anh lớn đánh giặc giỏi, khí khái, quả cảm nhưng thiếu thủ đoạn.

– Tại sao cậu không giúp ?

– Em nhỏ và luôn luôn bị coi phá bĩnh.

– Mình nói chuyện khác, Thọ ạ !

Thọ ngồi chơi một lát rồi về. Vũ Xuân Thông tới, kể tiếp chuyện Văn Quang vồ ngóe nướng ăn và tình mò đập chết cả chim nữa. Tôi hỏi Thông :

– Đầu óc lớn đã có nhận xét chính xác về Z30 D chưa ?

Thông cười rất tươi :

– Thuận lợi 100 phần 100.

– Dựa vào những sự kiện nào ?

– Suy diễn.

– Ra sao ?

– Cộng sản đưa một nửa trại Hà Nam Ninh B về Nam, chứng tỏ nó đã hết chịu nổi áp lực của Mỹ. Nó đối xử đẹp và nhún nhường chưa từng thấy từ trại này qua trại khác ở ngoài Bắc cũng như trong Nam. Chắc chắn sẽ có một biến cố.

– Đợi chờ biến cố xẩy ra chứ ?

– Vâng.

– Nhưng do đâu biết tin Mỹ can thiệp cho tù nhân sĩ quan cải tạo ?

– Anh em khu B nói.

Tôi vỗ vai Vũ Xuân Thông :

– Bạn ơi, ở Sa Ác, người ta đang chờ Mỹ đem trực thăng đến bốc sĩ quan cải tạo từ trại ra thẳng Hạm đội 7. Bạn ta biết tin từ đâu không ?

– Không.

– Từ ban giám thị, từ cộng sản. Bạn ạ, ở tù cộng sản phương pháp 3 W chưa đủ, 4 W vẫn chưa đủ. Who, What, Where, When vất đi hết. Các bình luận gia lỗi lạc của thế giới đều đã trật lất khi suy đoán, tiên đoán về cộng sản. Với cộng sản, chỉ khi công khai hóa một vấn đề, cụ thể hóa một sự kiện, người ta mới ngã bổ chửng. Không ai đoán nổi, hiểu nổi cộng sản sắp làm gì, sẽ làm gì, mà chỉ vỡ lẽ cộng sản đã làm gì ! Anh Nguyễn Mạnh Côn, tác giả Cộng sản là gì, người tự cho mình hiểu cộng sản hơn bất cứ người nào chống cộng sản, đã tưởng mình tuyệt thực dọa, cộng sản sẽ lạy mình ăn, sẽ đè ra chích nước biển và bồi dưỡng cả két sữa đặc như Như Phong, nhưng kết cuộc thấy mình lầm lớn, mình chưa hiểu nổi những giai đoạn, những đối tượng cộng sản cần đối phó. Bạn ta biết cộng sản mỉa mai ra sao không ?

– Ra sao ?

– Nó nhún vai : Trò rẻ tiền xuống đường, tự thiêu, tuyệt thực chỉ xẩy ra thời ngụy. Bây giờ là thời của xã hội chủ nghĩa. Thời này, kể tuyệt thực chết, tự thiêu chết, thắt cổ chết bị đánh thuế ngu. Thân nhân kẻ chết ngu phải nộp thuế ngu cho Nhà nước.

Vũ Xuân Thông bần thần suy nghĩ. Tôi nói :

– Bạn ta ơi, tôi chưa hề thấy người hùng của chiến trường miền Nam cũng là người hùng của chính trường miền Nam.

Và tiếp :

– Từ Trần Phú, Lê Hồng Phong đến Hồ Chí Minh, Lê Duẩn, Tố Hữu … vân vân đều đã như những con chó câm trong ngục tù thực dân hàng chục năm. Có đứa 20 năm. Cuối cùng, nhờ biết làm chó câm, chúng nó lần lượt trở thành vĩ đại. Những thằng sủa và bị hích sủa thì thành liệt sĩ ngu đần. Liệt sĩ Bế văn Đàn khom lưng cho đại liên kê lên vài bắn cháy mẹ nó da thịt, liệt sĩ Cù Chính Lan lao mình vào lỗ châu mai hứng đạn, thế giới đếch thèm biết tên mà chỉ biết Võ Nguyên Giáp, anh hùng, vĩ nhân Điện Biên Phủ. Vậy bạn ta muốn thay đổi vận mệnh dân tộc, muốn lật ngược thế thời hay chỉ muốn được đám tù nhân Z30 D ca ngợi ?

Vũ Xuân Thông cầm tay tôi :

– Em sẽ đem tặng anh cái điếu cày em thửa ở Sơn La.

(*) Bác sĩ Hoàng văn Đức, chỉ huy trưởng Trường Quân y đến 11-1963

(**) Ký giả Lô Răng, Đọc Ngựa chứng trong sân trường, Tạp Ghi, báo Tiền Tuyến

(***) Khi tôi về, bạn tù về sau kể rằng, thiếu tá nhảy dù Đàng, tự Đàng sứt, Cò quận 4, từ Bắc vô nam đã làm tới chức Trưởng ban trật tự K1 Z30 D.

(****) Nam Á, Paris, 1986

 

-18-

Chưa có triệu chứng « nổ » của tù nhân về từ Hà Nam Ninh. Anh em vẫn tự do tắm giặt, nấu nướng, đi lại « linh tinh ». Anh em tự do nhổ rào trại đun bếp. Anh em tự do sang khu B truyện trò ngoài hàng rào. Trực trại chỉ thị tổ vệ sinh kiếm củi cho Hà Nam Ninh. Trật tự cả hai khu đều khép nép khi gặp Hà Nam Ninh. Trần Trọng Thanh lên bệnh xá nằm cả ngày. Cung củ đậu, lợi dụng tình chiến hữu, hết sang nhà này đấu láo lại sang nhà khác đấu láo. Anh ta rất khớp Hà Nam Ninh. Vì Hà Nam Ninh nhiều trung tá ở các binh chủng dữ dằn. Có một đại tá nhảy dù nữa. Nhưng Hà Nam Ninh không hẳn chỉ toàn sĩ quan quân đội mà con viên chức cao cấp chế độ cũ, phản động và đảng phái trình diện học tập cải tạo. Ra Bắc, chẳng phải là tù nhân tối quan trọng. Ở Nam, chẳng phải là tù nhân tầm thường. May rủi cả. Trưởng ty Dân vận và chiêu hồi, nhạc sĩ Vũ Thành An, ra Bắc. Tổng trưởng thông tin và chiêu hồi Hồ văn Châm ở Nam. Dân biểu Nguyễn văn Cung ra Bắc. Chủ tịch Hạ viện Nguyễn Bá Lương ở Nam. Những nhà văn quân đội ra Bắc. Những nhà văn dân sự « biệt kích văn nghệ » ở Nam. Nhà văn « biệt kích văn nghệ » Dương Nghiễm Mậu về nhà sau 11 tháng tù. Nhà văn quân đội Duy Lam hôm nay vẫn ở trại trừng giới Phú Khánh.

Một điều Hà Nam Ninh cảm thấy tủi nhục và phẫn nộ là thấy thiếu tá nhảy dù Cung củ đậu xun xoe theo sau trung sĩ công an trực trại, nhâng nhâng cầm xâu chìa khóa, đóng và mở cửa hai lần tập họp điểm danh. Sự phẫn nộ đã không trút vào Cung củ đậu mà lại trút vào một tên trật tự tù nhân hình sự khu B. Tên này bị vây đánh ở bệnh xá, sau đúng một tuần Hà Nam Ninh về Z30 D và một số người đã được gặp vợ con, đã nhận quà thăm nuôi. Vũ Xuân Thông cũng đã gặp thân nhân. Chàng có tin buồn : thân mẫu vừa qua đời. Thông buồn bã ra mặt. Chàng mong gặp mẹ sau nhiều năm xa cách. Chàng đã về thật gần mẹ. Nhưng mẹ chàng vội khuất núi. Vài người chỉ có em hay chị dẫn con thăm bố. Vợ đã phụ tình từ lâu, gia đình viết thư ra Bắc đã nói dối vợ vẫn thủy chung. Trung úy Thọ, người bạn tuổi nhỏ của tôi gặp vợ và cha già. Chuyện vui buồn chưa dứt bùi ngùi và ngậm ngùi thì một nửa Hà Nam Ninh chuyển khu. Ba đội vào K2 K3. Hai đội sang khu B. Năm đội bên khu B qua khu A. Ngay buổi tối hôm chuyển khu, chuyển K, Hà Nam Ninh còn lại khu A, tỏ thái độ.

Một nhà hát. Bốn nhà hát theo. Trước hết, họ hát những bản hùng ca do anh em của họ sáng tác. Rồi họ hát chính huấn ca. Cái lâu đài âm thanh này đã khiến tù nhân cả K1 ngưng hút thuốc là, ngưng chuyện trò. Tôi nghĩ thế. Vì, ở nhà của tôi (bây giờ tổ vệ sinh sống chung với đội rau xanh khu B mới sang), các cửa sổ khoang trên, khoang dưới kín mít. Tù nhân chờ đợi phản ứng của cai tù. Z30 D K1 không có phản ứng. Quản giáo, vệ binh, trực trại đứng gần các nhà nghe hát. Hà Nam Ninh chỉ hát, không reo hò, không hô khẩu hiệu. Họ hát đến khi kẻng báo ngủ thì ngưng hẳn. Sáng hôm sau, tập họp điểm danh bình thường. Các đội cũ đi lao động. Các đội Hà Nam Ninh ở nhà, tư do như hôm vừa tới. Mỗi chiều, vệ binh, lần lượt, dẫn từng đội ra suối tắm giặt. Nước bơm vào hồ không kịp. Xuất trại, Đội trưởng báo cáo. Ai đội nón, mũ đều lật khi qua điếm canh.

Ngày 25 tháng Chạp năm Thân, dương lịch 1981, Z30 D tuyên bố kết quả xổ số chào mừng Tết Con Gà. 300 tù nhân của 3 K được « thần tài » chiếu cố. Tất cả tụ tập ở hội trường K1 chờ làm thủ tục về xum họp gia đình. Chưa lần nào tù nhân được tha đông như lần này. Người ta phóng ra một tin phấn khởi : tù cũ sắp về hết nhường chỗ cho tù miền Bắc bồi dưỡng rồi về luôn. Tiến bộ vượt mức ! Tiến bộ, tôi chợt nhớ bài « lên lớp » của phó giám thị Phúc :

– Đáng lẽ các anh về từ lâu. Chúng tôi giữ các anh ích lợi gì ? Các anh lao động không đủ nuôi các anh, các anh nắm vững hơn ai. Sở dĩ, các anh còn cải tạo vì vợ con các anh ở nhà đã tiến bộ vượt mức. Chính vợ con các anh viết thư yêu cầu chúng tôi giữ các anh lại, giáo dục các anh để các anh tiến bộ ngang mức vợ con các anh thì khi về các anh mới thích nghi đời sống xã hội chủ nghĩa !

Bài « lên lớp » đã làm tù nhân « chửi » vợ con mình quá xá. Cộng sản còn có nghệ thuật cù không cười. 300 tù nhân được tha kỳ này chắc đã được vợ con ô kê tiến bộ. Đặc biệt, cận Tết, họ đỡ bị … bóc lột lao động thêm. Bộ nội vụ đã giáng một đòn cân não. Hà Nam Ninh chới với con số 300 tù nhân được tha. Trung úy Thọ tìm tôi :

– Nó lọc hay quá, anh ạ !

– Lọc gì ?

– Lọc người.

– Ra sao ?

– Nó lọc từ Hà Nam Ninh trước ngày về đây. Biên chế đội rồi mới chuyển trại. Các ông cầu an, lừng khừng đã sang khu B và vô K2 cả.

– Còn lại là chống đối à ?

– Chống đối và chống chống đối.

– Thâm hiểm ghê nhỉ ?

– Vâng. Nó cho hai quan điểm đối nghịch sống chung. Cộng sản mà ! Anh Thông bị kẹt.

– Sao ?

– Anh ở giữa hai quan điểm.

– Còn cậu ?

– Em không dám lên tiếng nữa. À, anh này …

– Gì ?

– Phản ứng của nó ra sao khi Hà Nam Ninh hát nhạc chính huấn.

– Tôi không gần gũi nó, không thể biết. Nhưng tôi biết chắc điều này : cộng sản sẽ trấn áp qua giai đoạn kiên trì. Nhìn lại vụ nó nuốt Kampuchia đi ! Nó chuẩn bị dư luận thật chín muồi, kiên trì chịu đựng mọi ngang ngược của Pol Pot, Iang Sary. Cho đến khi giải phóng Kampuchia là chân lý, nó mới thôn tính Kampuchia.

– Tại sao anh không làm chính trị ?

– Tại sao tôi phải làm chính trị ? Mà cậu đề cập chính trị ở đâu ?

– Ngoài đời.

– Không, ngu sao làm chính trị. Đem tư tưởng chính trị của mình chỉ đạo bọn làm chính trị mới khôn. Tôi không làm chính trị song, tôi có thái độ chính trị như thái độ viết. Cả hai nằm trong thái độ sống của tôi.

– Em sẽ làm gì ?

– Ở đâu, bao giờ ?

– Ở đây, bây giờ.

– Xếp tàn y lại để dành hơi. Hỏi mãi, sốt ruột !

Buổi chiều ngày 27 tháng Chạp năm Thân, một đội Hà Nam Ninh xuất trại ra suối tắm. Nội quy ghi rõ điều khoản này : « Trại viên xuất trại và nhập trại phải báo cáo cán bộ và bỏ nón mũ khi ra và vào cổng ». Tôi đã ở trại lao cải Sa Ác và Rừng Lá, tôi thấy điều khoản này được tù nhân triệt để thi hành. Một vài người không thèm đội nón mũ. Để khỏi chấp hành nội quy. Sa Ác còn quái ác bắt tù nhân cận thị gỡ kính xuất nhập trại. Điều này không có trong nội quy nhưng nằm ở câu « Trại viên phải triệt để tuân hành mệnh lệnh và chỉ thị của cán bộ … ». Một tù nhân Hà Nam Ninh đã cố tình không gỡ mũ ra khi vào trại. Cán bộ trực trại, lúc ấy, chưa đến điếm canh. Vệ binh trên vọng gác thay thế. Vệ binh yêu cầu gỡ nón sau khi báo cáo nhập trại. Tù nhân này nhất định không gỡ nón. Vệ binh lên đạn. Để cảnh cáo tù nhân « ngoan cố », vệ binh ngắm đống đá chất cao ngoài cổng trại, cách chỗ đội tập họp báo cáo nhập trại khoảng 2 thước bấm cò. Viên đạn làm một mảnh đá dội ngược văng mạnh vào cánh tay một tù nhân. Anh này bèn nằm lăn ra. Vệ binh bắn chỉ thiên 3 phát báo động. Trực trại, quản giáo, vệ binh kéo đến. Y tá được gọi ra băng bó vết thương ngoài da. Đội Hà Nam Ninh được yêu cầu vào trại.

Thay vì về nhà, họ xếp hàng đôi, ngồi giữa sân tập họp lao động. Bốn đội Hà Nam Ninh khác cũng ra ngồi tỏ tình đồng đội. Khi các đội cũ của khu A lao động về, Hà Nam Ninh yêu cầu họ cùng ngồi. Ai thích thì ngồi, ai không thích thì thôi. Không có sự cưỡng bức. Một nửa tham dự. Một nửa về nhà lấy cơm, chia cơm. Số người tham dự không ăn cơm. Tù hình sự tham dự rất ít. Đại diện của Hà Nam Ninh yêu cầu trực trại mời ban giám thị tới giải quyết vấn đề. Trực trại hứa chuyển đạt lời yêu cầu rồi gấp sổ trực, rời điếm canh. Nắng tắt rất nhanh. Chiều nay không không có kẻng báo điểm danh. Trật tự K1 đã lỉnh hết sang khu B. Cung củ đậu cũng biến luôn. Ở khu B, cơm canh lĩnh khẩn trương và đem vào nhà chia. Các cửa khóa sớm. Vệ binh tăng cường canh phòng, tuần tra. Khu B kể như bất động. Chẳng ai dám xô tường ra cả, dù xô mạnh là tường đổ.

Bóng tối đã trùm Z30 D K1. Đèn các nhà đã lên. Vệ binh trên chòi sát cổng đã xuống và rút đi. Lực lượng võ trang bảo vệ trại làm thành hai vòng vây chung quanh trại, phía ngoài hàng rào. Ban giám thị không đến. Cuộc đấu tranh bắt đầu. Cuộc đấu tranh với lý do đơn giản như đã kể ở trên. Thoạt đầu, bọn tù nhân hình sự trộm cắp xông vào phòng trật tự lục soát đồ đạc và tịch thu đường, thuốc rê, thuốc lào, trong khi, Hà Nam Ninh cùng tù nhân cũ hát vang nhạc chính huấn. Tù hình sự, dưới sự lãnh đạo của tên Lâm Quyền, đạp cổng hội trường, tiến vô sách động 300 tù nhân vừa trúng số, chuẩn bị về nhà ăn Tết, ra tham dự Đêm Không Ngủ. Tâm trạng 300 người này thật não nề. Ra không được, ở lại không xong. Ra thì có thể bị nằm tù nữa. Mà ở thì có thể bị … ăn đòn tranh đấu. May sao, có một người trong số 300 người đứng lên hô hào đoàn kết chiến đấu chống Cộng Sản. Vậy là một nửa người miễn cưỡng ra, một nửa người ở lại, tản mạn tại chân hàng rào suốt đêm. Nhiều người núp ở bệnh xá, bếp bệnh xá. Lâm Quyền tự phong chức trưởng ban hành động, đến từng nhà dọa nạt và lùa « nhân dân » ra tranh đấu. Nhạc chính huấn vẫn rền vang. Ban giám thị không tới.

Khoảng 22 giờ, ô pạc lơ trại oang oang :

– Chú ý, anh em trại viên chú ý … Đây là tiếng nói của cán bộ giáo dục trại cải tạo Thủ Đức Z30 D. Anh em lắng nghe tôi đọc vài điều trong nội quy

Tù nhân hát thật lớn, át cả tiếng nói của cán bộ giáo dục. Nhưng hắn cứ đọc nội quy. Đọc xong, hắn nói :

– Một trại viên vi phạm nội quy, kéo theo hàng trăm trại viên vi phạm nội quy. Ban giám thị yêu cầu những trại viên vừa được tha, về ngay hội trường chuẩn bị hành lý để sáng mai nhận Giấy ra trại thật sớm. Về hay không là do sự quyết định của các anh.

Đại diện Hà Nam Ninh yêu cầu tù nhân vừa trúng số về hội trường gấp. Họ chỉ đợi có thế. Một người duy nhất ngồi lại. Người này trung thành với lời hô hào « đoàn kết chiến đấu ».

– Chú ý, anh em trại viên chú ý … Ban giám thị sẽ giải quyết vấn đề vào ngày mai. Yêu cầu anh em về nhà ngủ. Chúng tôi cam kết không có hình phạt trả thù.

Z30 D cứ đem nội quy ra nói. Và nói một cách bình tĩnh. Khi ấy, lực lượng võ trang từ Hàm Tân đã đến tăng cường. Trong này, nhạc chính huấn hăng say hơn. Tù nhân hình sự pha nước chanh, nấu chè cho mọi người ăn uống. Thuốc lào rít ròn rã. Tôi bỏ về từ lúc này, không còn hứng thú đứng và đi xem nữa. Nhưng tôi không ngủ. Cái răng khôn nhổ hôm qua còn đang hành tôi nhức nhối. Tôi nằm nghe những lời yêu cầu tù nhân giải tán, ai về nhà nấy ngủ, mai đi lao động. Về khuya, nhạc chính huấn ngưng hát tập thể. Chương trình chuyển sang mục văn nghệ Đêm Không Ngủ. Đơn ca không đàn đệm. Những ca khúc bêu riếu lính « Một trăm em ơi … », những ca khúc sến do bọn tù hình sự vô lại ông ổng hát đã làm hại anh em Hà Nam Ninh. Đấu tranh vô tổ chức nó mau tàn. Gần sáng, rã đám. Ai về nhà nấy, đúng yêu cầu của Z30 D, tuy hơi muộn.

Và đó, từ nguyên do, diễn tiến đến kết thúc của cái gọi là « nổi loạn ở nhà tù Hàm Tân ».

Sáng sớm hôm sau, cửa các nhà bị khóa chặt. Không có điểm danh. Không có lao động. 300 tù nhân được tha khẩn trương rời hội trường sang K2. Ở đấy họ sẽ làm mọi thủ tục ra trại. Người tù được tha ngồi lại tham dự Đêm Không Ngủ cũng sang K2 luôn. Trật tự vẫn lưu vong. Chỉ có tổ vệ sinh bên ngoài quét dọn sân trại và đổ rác. Không khí Z30 D căng thẳng. Khu B nằm nhà hết. Một vài nhà hò hét, vỗ tay. Khu A thì hoàn toàn im lặng. Buổi trưa, tổ vệ sinh phải khiêng cơm, canh cho từng nhà. Cửa mở. Cơm canh vào là khép chặt, khóa kỹ. Xế trưa, các cửa nhà đội cũ mở. Trật tự đã về đủ. Quản giáo các đội đến phát giấy cho đội làm tự kiểm. Quán giáo hướng dẫn viết tự kiểm. Tự kiểm nhận khuyết điểm tham dự Đêm Không Ngủ vì bị cưỡng bức và lên án một số người chủ mưu vô danh. Không một ai được viết ngoài cái ý đó. Ngày 29 tháng Chạp, mọi chuyện kể như đã qua. Cửa nhà Hà Nam Ninh mở tung. Miễn lao động toàn trại. Đi lại tự do. Nước bơm đầy hồ. Không ai bị kỷ luật cả. Ngay buổi sáng, một phái đoàn của bộ nội vụ đến thăm viếng anh em Hà Nam Ninh. Phái đoàn chuyện trò thân mật và hỏi anh em có cần đề xuất gì không. Tuyệt nhiên, phái đoàn không đề cập chuyện mới xảy ra.

Vũ Xuân Thông tìm tôi »

– Đêm qua anh đi đâu ?

– Tôi đứng xem, đến màn chè cháo, tôi về ngủ. Thế nào, thất bại hay thành công ?

– Theo anh ?

– Các ông đánh giá Cộng Sản thấp quá. Kinh nghiệm Hà Nam Ninh đâu ? Lý do thành công ở Hà Nam Ninh là chống đối nhốt tù nhân dưới hầm đá mà không đọc quyết định thi hành kỷ luật và do bầy sư tử lãng mạn và quả cảm lãnh đạo. Lý do thất bại ở Z30 D là chống gỡ nón và do “lãnh tụ” Lâm Quyền sách động đấu tranh. Tại sao ông dở thế ?

– Em bị theo cái đà xoay.

– Sao không chỉ các ông chơi ? Ông biết thằng Lâm Quyền can tội gì không ?

– Tội gì ?

– Ông đi hỏi cả trại, ai cũng biết tội nó. Nó chọc thủng vách nhà tắm cho bạn nó coi xi nê chị nó tắm. Vé mỗi lần vài đồng. Chị nó tố cáo nó với công an và yêu cầu cho nó đi cải tạo.

– Bỏ mẹ !

– Z30 D thật sự coi thường các ông rồi. Nó sắp ra tay rồi đấy. Rồi ông coi.

– Phái đoàn bộ nội vụ biết điều lắm.

– Đó là cái lỗ miệng Cộng Sản. Tôi gửi lời chê đầu óc lớn của các ông. Các ông không nghe tôi. Họa hổ thành khuyển.

Vũ Xuân Thông bỏ về. Người hùng của tôi chưa có vợ, dù rất đẹp trai và nhiều tài. Sáng sau, 30 tháng Chạp, điểm danh trễ hơn thường lệ. Nắng đã lên, kẻng vẫn chưa báo. Lại có chuyện gì chăng ? Có chuyện thật. Vũ Xuân Thông và 4 người khác xách hành lý rời Z30 D. Tôi đoán Thông và 4 đầu óc lớn ra đi. Về sau, tôi biết Vũ Xuân Thông về Chí Hòa. Có lẽ, hiện nay, Thông còn nằm ở trại trừng giới Phú Khánh.

Không có vấn đề gì cho anh em Hà Nam Ninh ở lại khu A và khu B. Ba ngày Tết thật êm ả. Ngày nào trung úy Thọ cũng sang nhà tôi, leo lên chỗ góc khoang trên của tôi hút thuốc lào và tâm sự. Thọ rủ thêm vài sĩ quan trẻ khác.

– Kết thúc chưa, anh Duyên Anh ?

– Chưa.

– Em thương anh Thông quá.

– Tôi cũng vậy.

– Anh Thông tình cảm lắm. Anh ấy bị một thằng đảng phái cáo già giật giây. Nó dùng tình cảm, dùng luôn cái bị thăm nuôi lúc nào cũng đầy của nó làm xao xuyến nhiều anh em “con bà phước”. Anh Thông ở Bắc không ai thăm nuôi cả.

– Lính chiến lại hào sảng, đâu biết tham nhũng. Đa số sĩ quan tác chiến, tôi thấy đều “con bà phước” hoặc bị thăm nuôi lép kẹp. Những thằng tham nhũng, thối nát, ở tù vẫn phây phây. Chúng nó thừa tiền mua cai tù nên chúng nó nhàn hạ. Còn được tha sớm nữa.

– Anh biết phái đoàn bộ nội vu hỏi thằng đảng phái ma đầu cần gì, nó trả lời sao không ?

– Không.

– Nó xin một thùng rác cho phòng. Nó biểu dương nồng nhiệt trại Z30 D. Còn anh Thông, anh yêu cầu không có trả thù người cải tạo, dù phái đoàn không đề cập chuyện Đêm Không Ngủ.

– Đó là lý do Thông ra đi ?

– Lý do phụ thôi. Anh Thông và 4 người kia bị ghim từ Hà Nam Ninh. Anh nói vụ này chưa kết thúc, liệu còn những gì xảy ra ?

– Nó sẽ làm các cậu xâu xé nhau.

– Cách nào ?

– Tôi không biết. Có lẽ, cậu sẽ không ở khu A lâu đâu.

– Em sẽ chuyển trại ?

– Chuyển K hoặc khu

– Anh có lời nào khuyên em thêm ?

– Một người công an chấp pháp Nam bộ tập kết ở sở công an thành phố Hồ chí minh khuyên tôi, ở tù Cộng Sản đừng tin ai, đừng dại dột chết ở lỗ chân trâu. Một người cai tù ở Chí Hòa khuyên tôi, đừng chống cán bộ quản giáo, vệ binh vì chúng nó không có quyền bắt, không có quyền tha, nhưng có quyền hành hạ và dồn mình vào chỗ chết. Cậu suy nghĩ lời người ta khuyên tôi.

– Cám ơn anh.

Mồng 5 Tết, tù nhân Hà Nam Ninh K1 tập họp hết ở hội trường nghe giám thị Mạnh “lên lớp”. Đây là bài lên án nặng nề Đêm Không Ngủ. Bài này được phát thanh cho cả trại nghe.

– Ai cho phép các anh vi phạm nội quy ? Ai cho phép các anh hát nhạc chính huấn ? Ai cho phép các anh tụ tập âm mưu nổi loạn ? Ai cho phép các anh sách động đấu tranh trong nhà tù ? Việt Cộng nổi loạn trong nhà tù, các anh tàn sát hết, các anh đâu có tha. Các anh nổi loạn, Việt Cộng chúng tôi không tàn sát các anh. Đó là chính sách nhân đạo và khoan hồng của đảng và nhà nước đối với người học tập cải tao…

Giám thị mạnh lên lớp gần ba tiếng đồng hồ. Cuối cùng là câu kết luận:

– Các anh, ai muốn lao động thì được lao động, ai không muốn lao động thì ở nhà. Từ nay, trại không tha thứ một hành động vi phạm nội quy nặng hay nhẹ.

Ngay buổi trưa, 5 đội Hà Nam Ninh khu A bị xào xáo, biên chế lung tung thành 5 đội mới. 3 đội sang khu B. 2 đội chuyển sang 2 căn nhà nằm sau phòng trật tự, sát hàng rào trại. Z30 D K1 vận dụng 2 đội dựng một hàng rào tre cách ly 2 đội Hà Nam Ninh với các đội khác. Thêm hàng rào kẽm gai giữa hai nhà. Đội xây cất xây bức tường gạch chia đôi hồ nước. Một cái cổng có giây xích và khóa chặt. Hai căn nhà của hai đội Hà Nam Ninh biến thành khu kỷ luật tập thể. Tù nhân không được ra ngoài hàng rào, không được nhận quà thăm nuôi, không đi lao động, không tắm giặt hàng ngày. Nước sẽ vào đủ xối cầu tiêu. Một tuần tắm hai lần bằng vòi nước đẩy vô, giới hạn thời gian. Bật lửa, diêm bị tịch thu. Điếu cày bị tịch thu luôn. Sự trả thù bắt đầu…

 

 

-19-

Tổ vệ sinh lo chở cơm, nước uống và nước xối cầu tiêu cho hai đội kỷ luật Hà Nam Ninh. Nguyễn văn Hải và tôi được trật tự giao công tác này. Trung úy Thọ thoát lưới đợt đầu. Tôi nói thoát lưới đợt đầu vì sự tầm tù chưa chấm dứt. Mỗi ngày một tù nhân bị gọi ra. Tù nhân này lên ban giám thị làm tự khai và « làm việc ». Rồi tù nhân này trở về, chuẩn bị hành lý khẩn trương rời phòng. Anh ta qua khu B. Liền đó, hai ba tù nhân Hà Nam Ninh khu B sang khu A, vô nhà kỷ luật. Sự ngờ vực lẫn nhau khởi sự cùng với sự sợ hãi. Hôm nay, một tù nhân bị gọi ra. Anh ta về, nhà không ai bị gọi, cũng không ai đến. Hôm sau, vài người khu B qua. Tù nhân bị gọi ra hôm qua hoảng hốt. Rồi Lâm Quyền vào nhà kỷ luật. Lâm Quyền ra « làm việc ». Mười hai người tù Z30 D cũ khuân hành lý vào nhà kỷ luật. Lâm Quyền bị chuyển trại. Ra vô, vô ra liên tiếp một tháng, Z30 D đã lọc đủ tù nhân « tích cực » trong vụ nổi loạn đêm 27 tháng Chạp. Nhiều tù nhân tình nguyện ra « làm việc ». Để chứng minh mình oan, chỉ có cách tố cáo những người « tích cực » chống đối. Sau thời gian « tầm thù » và phân loại mức độ « nguy hiểm », Hà Nam Ninh còn 40 người chịu hình phạt kỷ luật vô thời hạn, vì không đọc quyết định, Z30 D cũ có 20 người. Các đội Hà Nam Ninh đã có số riêng từng đội và đã đi lao động sản xuất. Họ lao động tích cực hơn tù nhân Thanh Nghệ Tĩnh và Z30 D cũ. Khu nhà kỷ luật coi như ổn định. Bây giờ Cung củ đậu có thể tác yêu tác quái.

Đền ơn Cung củ đậu chế ngự Hà Nam Ninh, trại cho anh ta ngủ với vợ hai ngày hai đêm. Vợ Cung củ đậu là cô vũ nữ xếch-xi. Tội nghiệp cho cô ta, Cung củ đậu hành lạc tả tơi, về trại khoe cùng khắp. Khu A, tù nhân già thì nể, tù nhân trẻ thì sợ Cung củ đậu. Anh ta được khám xét hành lý tù nhân nên biết hết tù nhân có những món gì. Ở Z30 D K1 không có hoạt cảnh … tổng vệ sinh. Tù nhân đi lao động, trực trại dẫn trật tự vào nhà, lục tung hành lý của tù nhân mà kiểm tra, loại bỏ và tịch thu. Tổ vệ sinh làm công việc kéo xe cải tiến đậu trước nhà. Hễ lục soát xong, vệ sinh quét dọn nhà và chở đồ loại bỏ đem đốt. Tù nhân đi lao động về phải cất xếp đồ đạc của mình bị lục bừa bãi. Những tù nhân lưu cữu, đồ đạc còn gì loại bỏ ? Những bó đũa mài vót bằng gỗ mun công phu, trực trại tịch thu, sợ tù nhân dùng đũa chọc mắt, chọc tai nhau ! Những cái plaques làm bằng inox tỉ mỉ, trực trại tịch thu gởi về cho em, cho tình nhân, sợ tù nhân « mua bán đổi chác »! Những tượng Phật, tượng Chúa khắc nghệ thuật, trực trại cho trật tự tịch thu. Những kinh sách tôn giáo loại bỏ. Những bản nhạc không có lời bị xé nát. Những thư từ viết khó hiểu bị giữ lại « nghiên cứu ». Vệ sinh thường lén giữ kinh sách tôn giáo, không đốt, đem về tìm đúng « đương sự » mà hoàn trả. Cung củ đậu « nắm vững » tù nhân và những món hàng quý. Và anh ta bắt địa kiểu xin xỏ khá nhiều kem đánh răng Close Up, xà phòng thơm Camay, quần xà lỏn, áo thun, xì líp Mỹ … Tôi cũng bị Cung củ đậu bắt địa cái kính lão đắt tiền. Thiên thần mũ đỏ Cung củ đậu nhảy các « xô » hủ tíu, mì, tôm khô, mỡ, lạp xường … Ngày nào cũng có người nhận quà thăm nuôi và ngày nào Cung củ đậu cũng enjoy với … anh em. Cung củ đậu bắt địa thuốc lá State Express 555 để cống cán bộ trực trại, chấp pháp. Anh ta không nghiện thuốc lá thuốc lào. Tôi đã nghe Cung củ đậu bô bô kể chuyện lính nhảy dù ăn gan Việt Cộng cho tù nhân và cả cai tù nghe. Anh ta tự thú anh ta cũng đã ăn gan người xào hành tây ! Đến đây thì không còn gì đáng nói về thiên thần ghẻ Cung củ đậu. Anh ta đã làm ô uế hai tiếng nhảy dù mà tôi hằng ngưỡng mộ yêu mến. Bây giờ, tôi viết về thằng vô lại Cung củ đậu. Nó dọa đánh hết người này đến người khác. Nó hung hăng, phách lối. Nạn nhân khốn khổ của Cung củ đậu là chú bé tên Cường, can tội vượt biên, mẹ đã là « tài pán » của Maxim Sài gòn. Cung củ đậu còn sắm vai công an chấp pháp, gọi tù nhân nó ghét lên phòng trật tự « làm việc » và viết tự kiểm. Khi Hà Nam Ninh bị dẹp, Cung củ đậu trở thành hung thần. Nó chửi bới trật tự Phú già, đòi đánh trung úy Nhẫn nấu bếp phục vụ bệnh nhân, đì trung úy Hanh nhảy dù đến nỗi trung úy Hanh, hỗn danh Hanh thịt chó, hiền lành, ít nói, phải sang nhà kỷ luật. Chỉ vì trung úy Hanh khinh bỉ thiếu tá Phạm Đình Cung, chỉ vì trung úy Hanh xấu hổ thấy thiếu tá Cung củ đậu vênh váo cầm xâu chìa khóa, khoanh tay đứng sau tên trung sĩ công an trực trại.

Bằng thủ đoạn lọc người, Z30 D đã gây kinh hoàng cho tù nhân Hà Nam Ninh. Tù nhân nào cũng nơm nớp sợ hãi, hôm nào đó, mình sang nhà kỷ luật. Do đó, khi Z30 D thành lập ban văn nghệ phối hợp giữa nghệ sĩ tù nhân và nghệ sĩ cai tù, những tay vĩ cầm, lục huyền cầm Y pha nho, ca sĩ và múa sĩ và viết hòa âm của Hà Nam Ninh « đăng ký » hăng hái nhất và được tuyển chọn sớm nhất. Có một hải quân trung úy đã theo con tàu Việt Nam Thương Tín từ đảo Guam về … trình diện học tập cải tạo. Vị trung úy này trở thành vũ sư dạy các cai tù công an trai và gái nhảy múa. Z30 D, những kẻ ca ngợi Hà Nam Ninh hết lời, những kẻ đốc xúi Hà Nam Ninh « nổ », những kẻ hoan hô Hà Nam Ninh đánh tù nhân trật tự, sau khi viết tự kiểm lên án « bọn chủ mưu vô danh » lại đã là những kẻ chửi bới Hà Nam Ninh « chọc cứt không thành lỗ », Hà Nam Ninh khiếp nhược lao động tích cực, Hà Nam Ninh tầm thường xin vào ban văn nghệ, Hà Nam Ninh hèn mọn, « ăng ten », tố cáo lẫn nhau để chạy tôi, để thoát vào nhà kỷ luật. Chẳng còn ai nhắc nhở Vũ Xuân Thông và 4 người Hà Nam Ninh về Chí Hòa địa ngục. Chẳng còn ai biết đến, ở nhà kỷ luật, 40 tù nhân Hà Nam Ninh bị trừng phạt ra sao. Người ta vẫn hoan hỉ gặp vợ con, nhận quà thăm nuôi và enjoy vui vẻ. Cuộc đời nó thế, bên ngoài và trong tù. Cái thành ngữ Bạc như dân, bất nhân như lính đã là chân lý.

Đầu tháng 4-1981, một người trong nhà kỷ luật được gọi ra thăm gặp gia đình. Tù nhân này không ra. Anh ta không dám ra vì sợ trở vào nhà cũ. Trực trại đến tận nhà dẫn anh ra gặp gia đình. Lãnh quà cáp về, anh ta yêu cầu được ngồi tại phòng trật tự và xin « làm việc » với cán bộ. Anh ta nói thẳng, nếu anh bước vào nhà kỷ luật, anh sẽ bị đánh chết. Tại sao ? Anh ta đã phản bội « anh em ». Chỉ những kẻ phản bội mới được « ân huệ » thăm gặp gia đình. Anh ta giải thích một cách tội nghiệp thế. Để bảo đảm an ninh cho tù nhân này, ban giám thị cho anh chuyển K. Trực trại vào tận nhà kỷ luật đem hành lý của anh ra cho anh. Z30 D ban ân huệ hãi hùng chưa ? Người tù khốn khổ này không tố cáo ai cả nhưng cả nhà kỷ luật đã lên án anh ta. Tù nhân ở nhà kỷ luật hết sợ kỷ luật, họ bắt đầu sợ ân huệ … thăm gặp gia đình ! Và họ đề phòng nhau ráo riết. Điều sợ hãi nhất là bị gọi ra « làm việc » rồi trở lại nhà.

Nguyễn văn Hải và tôi, ngày tám lần, 14 chuyến chở cơm, nước sôi, nước xối cầu vào hai nhà kỷ luật. Hai nhà cách biệt, không được đứng sát rào kẽm gai biên giới nói chuyện và nhìn nhau, mỗi nhà một cái cổng ở hàng rào tre. Cửa nhà, ban ngày mở, ban đêm khóa. Cổng thì chỉ mở khi xe cơm nước ra vào, ra. Lịch trình vệ sinh phục vụ hai nhà kỷ luật :

  • Sáng: Cơm điểm tâm, nước sôi. Một chuyến. Lấy thùng đựng cơm và nước sôi đem trả nhà bếp. Một chuyến. Chở một xe hai phuy nước xối cầu tiêu. Một chuyến.
  • Trưa: Cơm, thức ăn trưa. Một chuyến. Lấy thùng đựng cơm và thức ăn đem trả nhà bếp. Một chuyến.
  • Chiều: Cơm, thức ăn chiều. Một chuyến. Lấy thùng đựng cơm và thức ăn đem trả nhà bếp. Một chuyến.

Bẩy chuyến một ngày cho một nhà. Hai nhà là 14 chuyến. Sau nửa tháng, vòi nước lớn không ròng đến nhà kỷ luật nữa, chúng tôi còn phải chở 10 phuy nước cho mỗi nhà, thứ tư và 10 phuy, thứ bảy để tù nhân kỷ luật tắm giặt. Thoạt đầu, trật tự mở cổng và khóa cổng và kiểm soát sự liên hệ giữa vệ sinh và tù kỷ luật. Được một tháng, ông già Phú giữ chìa khóa và phụ trách cổng hai nhà kỷ luật. Ông ta giao cho tôi khóa, mở. Xong thì trả lại ông ta. Ông già Phú không theo dõi như Cung củ đậu. Chúng tôi thủ kỹ, chờ anh em khiêng cơm nước xuống là kéo xe ra ngay. Chở nước tắm, nước xối cầu vô, chúng tôi ra ngoài cổng đợi anh em múc hết đổ vào hồ trong nhà mới vô kéo xe đi. Thủ quá kỹ khiến trật tự tin chúng tôi. Và chúng tôi có thể giúp anh em vài việc lặt vặt.

Có một con chào mào miền Bắc, đít đỏ, hót rất hay. Nó cũng bị kỷ luật theo chủ. Chủ nó, một tù nhân Hà Nam Ninh. Anh ta nuôi nó từ khi nó chưa vỡ bọng cứt. Nó từ cái cóng bơ ra cái lồng tre nhỏ do chủ nó đan. Cửa lồng mở. Con chào mào tự do bay xa rồi lại nhớ lối trở về. Nó không biết mưu sinh. Nên nó đói. Tôi thương con chào mào, đi xin chuối, bóc vỏ liệng đi rồi lén chở theo cơm, vất vào lồng của nó. Mỗi trái chuối, nó sống được vài ngày. Để hót cho tù nhân kỷ luật đỡ buồn. Chủ nó muốn tặng tôi cả chào mào lẫn lồng, tôi thích lắm mà không dám nhận. Sau này, trật tự Trần Trọng Khánh gửi vợ đem về Sài gòn. Nó bị chuyển … trại. Cái lồng bị tịch thu ! Người tù Hà Nam Ninh mất nguồn an ủi. Anh ta thương con chào mào, khóc nửa buổi, anh em nói nhỏ với tôi thế.

Từ khi một tù nhân Hà Nam Ninh được gia đình thăm gặp và xin chuyển trại, không có gì mới xảy ra cho hai nhà kỷ luật. Ở tù Cộng Sản, không bị ăn đòn cai tù mà thường bị ăn đòn của tù nhân, ăn đòn oan uổng. Trung úy Thọ kể với tôi rằng, hai năm đầu ở trại lao cải miền Bắc không có thăm gặp, chỉ nhận quà theo đường Bưu điện. Tin tức miền Nam mù tịt. Nhưng tất cả nuôi hy vọng « Phục Quốc » lớn lắm. Bất ngờ, một hôm có vị trung tá được vợ ở Sài gòn ra thăm gặp. Anh em kỳ vọng tin tức miền Nam, thứ vitamine T (tức là tin rỉ tai) cần thiết để sống đời tù. Vitamine T của các trại lao cải miền Nam là tin tức của đài BBC Luân Đôn. Tù nhân gặp vợ con, câu đầu tiên là hỏi « BBC có nói gì về Việt Nam » không. Vợ con nói những tin tức vẩn vơ, tù nhân vào trại « sáng tạo » thành tin tức thê thảm cho Cộng Sản. Ở những nơi chốn đau khổ, con người thường dối gạt chính mình để an ủi người khác. Tôi nhớ hồi chiến tranh biên giới Hoa – Việt, một tù nhân ra gặp vợ con, khi về, anh em hỏi Trung quốc tiến quân đến đâu rồi, tù nhân nọ đáp : « Chúng nó rút hết, rút hết », đã khiến anh em hy vọng Trung quốc « giải phóng » buồn thiu. Tin tức đài BBC Luân Đôn thường bị suy diễn rất ly kỳ. Đài BBC tiên đoán thời tiết cho người đi biển ngầm ý khuyên thuyền nhân không nên vượt biển vào thời gian sóng gió bất trắc, được thân nhân hiểu sai và được tù nhân tiếp thu vội. Nên Vitamine T bổ … tai và bổ tim như vầy : đài BBC bảo không cần vượt biên nữa, sắp thay đổi ở Việt Nam ! Vị trung tá ở Hà Nam Ninh quá thật thà. Anh em nóng lòng muốn biết « phục quốc » hoạt động ra sao, ông ta đã trả lời : « Vợ tôi bảo không có phục quốc gì cả »! Thế là ông trung tá ăn đòn hội chợ. Vì làm vỡ … niềm tin. Đây là tội « ăng tin », đau hơn tội « ăng ten »! Người tù nhân ngay thẳng ở nhà kỷ luật, được gặp vợ con, không dám trở về. Bởi đã có kinh nghiệm « ăng tin » ở Hà Nam Ninh. Bạn đã hiểu nhà tù Cộng Sản chưa ?

Tôi nói tiếp hai căn nhà kỷ luật của Z30 D, K1. Tù nhân sống mòn mỏi ở đó mà đếm từng giọt thời gian. Đô mi nô, cờ tướng, kinh sách, thư từ, giấy bút, diêm thuốc, ống điếu, đàn sáo, ca coóng, muỗng nhôm, giây thép … bị tịch thu đốt bỏ hết. Tinh thần họ căng thẳng. Thỉnh thoảng, Z30 D còn kéo căng thần kinh của họ bằng cách đem thư gia đình của họ vào đọc tên người gửi, người nhận rồi tuyên bố : « Thư của các anh bị xé bỏ, vì các anh bị kỷ luật. Chúng tôi đã duyệt thư, nội dung là vợ con các anh đang gặp nhiều khó khăn ». Tù nhân muốn điên lên. Chưa đủ, Z30 D đọc tên những người vợ con đến thăm nuôi, rồi tuyên bố : « Các anh bị kỷ luật, trại đã mời vợ con các anh về. Các anh đã làm tốn nước mắt của vợ con các anh vô ích ! ». Sự nhân đạo và khoan hồng của Cộng Sản đó. Nhưng cậu Đoàn văn Toại đã biểu dương sự khoan hồng và nhân đạo này bằng cách bịa đặt tù nhân lập kiến nghị và ký kiến nghị trong đề lao Gia Định còn khe khắt hơn trong nhà kỷ luật tập thể Z30 D và các trại trừng giới. Tù nhân ở hai nhà kỷ luật K1 và Z30 D thèm nước … tắm hơn thèm cơm. Hễ trời có vẻ muốn mưa, cửa nhà khóa chặt ngay. Không sợ tù nhân trốn trại, mà không thích tù nhân tắm mưa thoải mái. Các ca, xô nhựa hứng nước mái nhà cũng bị dẹp.

Để cho kỷ luật thấm thía mùa nắng, Z30 D thêm mục tưới cây, tưới cỏ chung quanh hai nhà kỷ luật. Tưới tối đa nước. Chúng tôi lại phải kéo nước còng lưng tưới cây, tưới cỏ trước mắt tù nhân kỷ luật. Tôi biết có nhiều hũ, nhiều bình, nhiều ca nhựa dấu kỹ ở các gốc cây, bụi cỏ, xó hè … Chúng tôi đã tháo hoa sen, rót nước vào hũ, bình, ca. Tôi không quên mình đã bị Tư Long cúp nước khốn khổ ở khu FG, Chí Hòa.

o O o

Sau vụ Hà Nam Ninh, có thêm hai đợt tù nhân trúng xổ số nữa. Bấy giờ là tháng 7-1981. Sáu mươi tù nhân đã trải qua 5 tháng kỷ luật vì những « đầu óc lớn » họ còn tin tưởng người Mỹ. Nước Mỹ đã có 3 tổng thống từ 30-4-1975. Gerald Ford tuyên bố bán cái « Lịch sử đã sang trang ». Jimmy Carter hò hét, phất lia ngọn cờ Nhân quyền. Ronald Reagan, tay chốngCộng chuyên nghiệp số 3 sau Goldwater và Nixon. “Au Vietnam, rien de nouveau”! Các nhà tù, các trại tập trung khổ sai lao động mà đa số tù nhân là sĩ quan quân lực VNCH, là sĩ quan cảnh sát, là sĩ quan tình báo, là các viên chức, nghị sĩ, dân biểu trong các cơ cấu quốc gia, là “đồng minh” của Mỹ; phần còn lại là tù nhân Việt Nam cùng lý tưởng với Mỹ, chiến đấu cho dân chủ, tự do sau 30-4-1975, không có gì mới cả. Tuyệt nhiên không có gì mới cả. Ngọn cờ nhân quyền của Jimmy Carter chỉ là ngọn cờ giấy. Chỉ là cái mỏ con ó. Và tù nhân đã chán chường con ó.

Con ó bảo mỏ mình thôi nhọn quắt
Và con gấu khoe chân mình cùn nanh vuốt
Nhưng loài người vẫn bị mổ mắt, vẫn bị cấu cào
Ta thì vẫn nằm dài trong những đề lao

Khi Jimmy Carter phất cờ Human Rights, Sài gòn có nhiều người Việt Nam phất theo. Những người này bị Cộng Sản còng tay bằng Iron made in USA viện trợ cho Việt Nam Cộng Hòa bởi chính phủ và nhân dân Hoa Kỳ. Tôi không tin người Mỹ từ ngày tôi cầm bút, tôi không mảy may hy vọng người Mỹ cứu dân tộc tôi sau khi đã dâng hiến dân tộc tôi, như miếng mồi, tận miệng Cộng Sản. Tôi muốn quên người Mỹ như quên con quái vật trong chiêm bao. Nhưng tôi vẫn phải nhớ người Mỹ qua hình ảnh chiếc còng made in USA đã còng tay, còng chân tôi từ nhà tôi đến các nhà tù, các trại tập trung. Còng made in USA ám ảnh tôi. Tôi đã nghĩ một bài diễn văn không bao giờ được đọc trước Quốc hội Hoa Kỳ, những ngày tôi nằm ở FG Chí Hòa. Bài diễn văn này tôi viết ở trại tị nạn Pulau Bidong.

“Thưa quý vị nghị sĩ và dân biểu Mỹ, đại diện cho lương tâm của hai trăm mười sáu triệu nhân dân Hiệp chủng quốc,

Thật là một hân hạnh lớn lao cho tôi, được vào tòa nhà thiêng liêng này và được thưa chuyện với những con người cao cả của nước Mỹ, những con người sắp trở thành, sẽ trở thành những vĩ nhân không những của riêng nước Mỹ mà còn của cả thế giới, những con người mà tay dơ cao biểu quyết hay buông thấp khước từ là một nửa trái đất no hay đói, chiến tranh hay hòa bình, thắng hay bại, hạnh phúc hay đau khổ, bỏ nước chạy trốn như bầy vịt hay ở lại sống đoàn viên. Chính quý vị, những người đầy phép tích, đầy quyền uy, lương tâm của hai trăm mười sáu triệu dân Mỹ, đã vung cánh tay thần tiên, biến quê hương Việt Nam của chúng tôi thành một đại dương nước mắt. Tôi phải thành thật bày tỏ tấm lòng cảm phục của tôi với quý vị, những nhà ảo thuật đổi trắng thay đen trứ danh bậc nhất từ thuở có nền ảo thuật trên hoàn cầu. Tôi càng cảm phục hơn về tấm lòng trắc ẩn của quý vị, lương tâm của nước Mỹ, đã chẳng thèm lý tới hàng ngàn bộ xương của các chiến sĩ anh dũng Hoa kỳ không bao giờ biết thua trận còn nằm ngổn ngang đó đây ở bờ bụi Việt Nam. Sau hết, tôi vinh tôn sự khiêm tốn của quý vị, sự hiếu hòa tối đa của quý vị, những con bồ câu hiền lành hơn cả bồ câu, những chú nai ngoan hơn cả nai, đã tình nguyện thua trận ở Việt Nam mà chẳng cần đau xót, nhục nhã, xấu hổ. Theo tinh thần Đông phương, quý vị đã đạt rồi, đã là chính nhân quân tử rồi vậy. Và theo tinh thần nhà Phật, quý vị đã ngộ. Thua cái đáng thua ấy là thắng. Thắng cái không đáng thắng ấy là thua. Quý vị thông hiểu nghĩa sinh sát của nhà Phật một cách sâu sắc. Những anh lính Mỹ khù khờ, đần độn chết khốn nạn ở Việt Nam là đáng đời. Vì trót dại đòi thắng, thắng nữa, thắng mãi. Những ông đại sứ cuốn cờ chạy bán sống bán chết cũng là những anh mê muội, xuẩn ngốc, cao ngạo, sống ở phương Đông mà không thèm nghiên cứu triết lý sống của cổ nhân Đông phương. Một lần nữa, nhân danh người Việt Nam chống Cộng Sản không cần bàn tay quý vị dơ lên tụt xuống quyết định số phận của dân tộc tôi, tôi xin biểu dương quý vị, lương tâm của nước Mỹ, người khổng lồ đã hoan hỉ thua chú tí hon.

Thưa quý vị,

Tôi trốn khỏi ngục tù Cộng Sản sang đây không phải để xin quý vị thương xót ban cho chút hạnh phúc định cư tại Mỹ, xin được nhập quốc tịch Mỹ. Cũng không sang đây để, bắt chước ông Thân Bao Tư, người nước Sở, quỳ gối giữa sân Tòa Bạch Ốc, xin quý vị đem quân sang lần nữa giải phóng chúng tôi. Tôi sang đây chỉ để trình bày một vấn đề liên quan tới lương tri của hai trăm mười sáu triệu nhân dân Mỹ. Sau đó, tôi sẽ trở về quê hương tôi, sẽ vào tù nữa. Ngục tù đối với chúng tôi nó còn đơn giản hơn tự do, dân chủ đối với quý vị. Cách đây mấy năm, ông Gerald Ford, vị tổng thống bất hủ của lịch sử hiện đại Hoa kỳ, nhìn cái quyền uy cuối cùng của nước Mỹ ở Việt Nam rơi vào tay quân Cộng Sản, đã thản nhiên tuyên bố với nhân dân Mỹ, quân đội Mỹ và thế giới rằng, lịch sử đã sang trang. Lịch sử thua trận ở Việt Nam của người Mỹ không hề biết thua trận đã sang trang, sang rất vội vàng. Mọi bí ẩn của nó, đời sau sẽ rõ. Chúng tôi không phàn nàn gì cả. Một cô gái quê lên tỉnh gặp tú bà, sở khanh, chỉ biết trách mình ngu ngơ khờ khạo. Thế thôi. Lẽ phải luôn luôn nằm trong tay những kẻ táng tận lương tâm. Tôi chẳng có gì phải hậm hực. Người Mỹ rút khỏi Việt Nam để lại rất nhiều cặn bã. Cộng Sản nó bảo quý vị đưa chúng tôi về thời kỳ đồ đá. Nó bài trừ ảnh hưởng văn hóa đồi trụy và tư tưởng của quý vị rất kỹ. Chiến dịch và chiến dịch. Việc của nó không ăn nhằm gì tới tôi cả. Cả những đứa trẻ con lai Mỹ đen, Mỹ trắng còn vất vưởng ở Sài gòn, ngày đi ăn xin, lượm giấy vụn, đêm họp nhi đồng, nhận Hồ Chí Minh là bác, cũng không ăn nhằm gì tới tôi. Cái đáng nói, đối với chúng tôi, những người trực diện chống đối Cộng Sản không cần nhận quý vị là đồng minh, là những cái còng made in USA mà khi cuốn gói khỏi Việt Nam, quý vị đã quên không di tản.

Thưa quý vị,

Tôi xin phép quý vị để được nói đôi chút về sự liên hệ của chúng tôi với người Mỹ và những cái còng. Vâng, người Mỹ, chúng tôi, kẻ thù, còng khóa chỉ là những con đô-mi-nô tội nghiệp. Lục ngũ phải dính với ngũ tứ, ngũ tứ phải dính với tứ tam vân vân… Cái chủ thuyết domino thật trứ danh. Nó là trò chơi của tư tưởng. Nó có luật giết bò, gài triệt, triệt buộc… Dĩ nhiên, nó còn có cả gian lận, chạy làng nữa. Chúng tôi vốn đôn hậu, hồn nhiên, ngây thơ và nồng nhiệt. Theo tiếng gọi tân biên cương và quyền sống con người trên trái đất của cố tổng thống Kennedy, chúng tôi lớn lên, phóng tầm mắt nhìn sang nước Mỹ như nhìn hạnh phúc của dân tộc mình sau một trăm năm buồn tủi. Cái lý tưởng tự do, dân chủ của Hiệp Chủng Quốc đã hấp dẫn thế hệ chúng tôi, đã thúc dục chúng tôi móc trái tim dâng hiến sự nghiệp xây dựng tự do, dân chủ. Như những chiến sĩ Mỹ đã anh dũng hy sinh tại Việt Nam, chúng tôi không cần tiết kiệm xương máu. Cho tới phút này, hình ảnh người lính thủy Mỹ cuối năm 1954 vẫn là hình ảnh ngoại nhân đẹp nhất đối với chúng tôi. Chúng tôi đã nhìn chính sách của nước Mỹ ở Việt Nam như đã nhìn lính thủy Mỹ thật thà, dễ thương xuất hiện trên vỉa hè Sài gòn năm xưa. Bất hạnh cho chúng tôi là chính sách của quý vị đã không giống hình ảnh người lính thủy cuối năm 1954, càng khác xa chính sách của quý vị ở ngay nước Mỹ. Chúng tôi già nua trong nỗi thất vọng và những dâu biển của thời thế do quý vị tạo ra trên quê hương chúng tôi. Tôi vẫn để dành những giọt nước mắt khóc những người lính Mỹ bỏ xác tại Việt Nam. Hôm nay, tôi xin được khóc thương họ trước mặt quý vị, vì tôi biết quý vị đã quên họ. Nước mắt cho những con người chết cho lý tưởng giả dối và cho sự lừa gạt của con người trên trái đất. Nhưng quý vị, quý vị luôn luôn cao cả, luôn luôn là ngọn đuốc sáng biểu tượng lương tri của dân tộc Hoa kỳ, luôn luôn là thứ quyền uy vô địch kể từ nhân loại có quyền uy.

Thưa quý vị,

Bây giờ, tôi xin trở lại chuyện những cái còng viện trợ Mỹ. Xin thưa với quý vị rằng, tháng năm nằm trong cachot của Cộng Sản, tôi chợt nhớ hai bàn tay thân hữu nắm chặt lấy nhau gắn bó tình nghĩa viện trợ Mỹ các nước trên thế giới. Cái emblème quý vị chọn lựa thật là thấm thía. Bàn tay của quý vị lớn, khỏe, quý vị bắt chặt, siết chặt thân hữu các nước nhỏ thì các nước nhỏ chỉ có trợn mắt, lè lưỡi mà thôi. Ý nghĩa thấm thía nữa là hai bàn tay trao và nhận viện trợ hôm nay, sẽ là hai bàn tay còng và bị còng ngày mai. Ở Việt Nam, Cộng Sản chơi rất bẩn. Nó cứ còng chúng tôi bằng còng Mỹ. Nó hô hào tận diệt mọi tàn tích của đế quốc Mỹ nhưng nó đã “nuôi dưỡng” còng Mỹ. Tôi không hiểu tại sao kỹ nghệ và văn minh chế còng của Cộng Sản tối tân hơn của Mỹ mà nó lại suy tôn còng Mỹ quá đáng thế. Đó là vấn đề tôi phải bơi thuyền gỗ, lênh đênh trên mặt đại dương, đương đầu với bao nhiêu hiểm nguy để sang nước Mỹ phỏng vấn quý vị, sau nhiều năm luân lạc khắp các đề lao, các trại tập trung. Tôi phải bán cái nhẫn kỷ niệm cuối cùng mới đủ tiền mua vé xuống thuyền trốn khỏi Việt Nam. Như những thuyền nhân bất hạnh khác, tôi bị hải tặc hãm hiếp bảy lần, bị đói khát mười ngày ròng rã và, sau hết, trầy bả vai, nhỏ máu mắt mới vô được nước Mỹ thiên đường. Để lên Thiên Đường, quý vị linh mục chỉ cần làm sáng danh Chúa. Để vào nước Mỹ, quý vị linh mục cần có thân nhân ruột thịt ở Mỹ làm ở RMK, Pacific hay… đi lính ! Tôi vô thiên đường Mỹ nhờ dạy học dưới chế độ quý vị bảo trợ. Nhưng tôi sẽ trở về quê hương đau khổ của tôi như Lưu Thần, Nguyễn Triệu đã trở về quê hương trần thế lầm than sau một lần dại dột cất bước lên thiên thai. Người trên thiên thai trái tim bằng gỗ, không biết rung động, không biết yêu, không biết xấu hổ. Tôi hy vọng quý vị sẽ chẳng làm tôi tiếc rẻ cái trinh tiết còn lại đã bị ô uế trên mặt biển, khi trở lại Việt Nam.

Thưa quý vị,

Chúng tôi, khi bị còng dính chùm với nhau, đã bàn cãi sôi nổi về những biểu quyết của quý vị về ngân sách, tài khoản viện trợ cho Việt Nam. Bạn tôi bảo, quý vị toàn là những người xuất thân từ Harvard, từ Yale, từ Cornell, từ Darmouth…, những nơi quy tụ tinh hoa của trí thức, những nơi mà trí tuệ nước Mỹ sẽ tỏa khắp năm châu, mở đường khai lối tự do, dân chủ cho loài người. Những người cao cả như quý vị không thể, không bao giờ biểu quyết chấp thuận viện trợ dùi cui và còng cho bọn thống trị độc tài, phát-xít bản xứ. Bạn tôi bảo, quý vị chỉ chấp thuận cho chính phủ Mỹ viện trợ thuốc DDT giết muỗi, thuốc khai quan giết cây, hại rừng, tàn sát môi sinh, bom đạn giết người, lựu đạn mửa, khói cay đàn áp tuổi trẻ xuống đường học tập dân chủ và chính sách tham nhũng riêng cho lũ tướng tá thống trị bù nhìn vơ vét mồ hôi của dân, xương máu của lính. Không bao giờ quý vị chấp thuận viện trợ dùi cui và còng. Trí tuệ nhà nước Mỹ không bao giờ là dùi cui và còng. Bạn tôi bảo thế. Và chúng tôi hoàn toàn đồng ý. Thế nhưng, tại sao dùi cui và còng Mỹ lại ngổn ngang khắp đất nước Việt Nam ? Chẳng lẽ chính phủ Mỹ dám qua mặt Quốc hội ? Những cái dùi cui Mỹ viện trợ đã giáng xuống nhiệt tình và lòng tự phụ của tuổi trẻ Việt Nam ra sao, quý vị đã đọc trên báo chí Mỹ. Còn những cái còng Mỹ viện trợ thì để còng tay Cộng Sản và còng luôn cả tay những người chống Cộng Sản, đồng thời cũng chống luôn tập đoàn thống trị quân phiệt ngu dốt và ăn cắp. Nếu từ trước tới nay, quý vị chưa hiểu bí mật của còng Mỹ thì, bây giờ, quý vị đã hiểu tại sao những người trí thức chân chính bản xứ không ưa người Mỹ.

Thưa quý vị,

Có hàng ngàn vấn đề cần đặt ra để thắp sáng lương tri dân tộc Mỹ nhưng, rất tiếc, không thuộc phạm vi bài diễn văn của tôi hôm nay. Tôi sang đây không làm công việc than vãn, trách móc hay cầu cạnh. Lịch sử, như ông Ford nói, đã sang trang. Người Mỹ không thích lần dở quá khứ, không thích phục hồi dĩ vãng. Những kẻ còn ôm cái ảo tưởng bám chân người Mỹ về giải phóng quê hương, thâu tóm quyền bính cũ là những kẻ xuẩn ngốc đang chiến đấu với hư mộng. Chúng tôi khẳng định với quý vị rằng, chúng tôi không cần người Mỹ trở lại Việt Nam. Một lần đã đủ chua xót. Hãy để chúng tôi yên lặng ngồi liếm vết thương và làm lại quê hương chúng tôi. Lịch sử đã sang trang, thật sự đã sang trang rồi. Hiện tại là khởi sự những trang lịch sử mới của dân tộc chúng tôi chiến đấu cô đơn với Cộng Sản, chiến đấu bằng trái tim, không bằng súng đạn Hoa kỳ. Có một thứ quyền trên cả nhân quyền và thần quyền. Đó là quyền hy vọng. Chúng tôi hy vọng sẽ loại bỏ Cộng Sản như tổ tiên chúng tôi đã loại bỏ quân thù truyền kiếp. Nhưng, trước khi dấn thân vào sự quyết liệt, tôi tưởng nên gỡ nốt cái móc làm sự sang trang của lịch sử hiện đại Hoa kỳ thiếu suông sẻ. Vâng, tôi xin tiếp tục đề cập cái còng Mỹ. Còng Mỹ, nói rõ rệt, còng chế tạo tại Mỹ, do Mỹ viện trợ cùng với bột DDT, sữa hết chất béo, phó mát thừa, quần áo cũ, thuốc khai quang, bom đạn và cố vấn lãnh đạo đàn áp, đã còng tay còng chân những người Việt Nam đối lập các chế độ ở nước tôi do quý vị nặn ra rồi đạp đổ. Những người Việt Nam bị còng Mỹ siết chặt đều là những người nghe răm rắp tiếng thúc dục tranh đấu cho lý tưởng tự do, dân chủ của người Mỹ vĩ đại Kennedy. Còng Mỹ được trao cho đầy tớ Mỹ để nó phản bội lý tưởng của vĩ nhân Mỹ. Rốt cuộc, tình nghĩa Mỹ trao gửi Việt Nam đã bị còng luôn ! Nghĩ cũng buồn.

Thưa quý vị,

Càng buồn hơn, còng Mỹ đang được Cộng Sản trao cho cái sứ mạng còng tay, còng chân những người Việt Nam chống Cộng Sản một mình, những người Việt Nam còn say mê lý tưởng tự do, dân chủ, còn nhìn ông Kennedy như ngọn đuốc soi đường. Có lẽ, quý vị phải mở cuộc điều tra tường tận về con số còng chính xác viện trợ cho Việt Nam hai mươi năm trước. Nhiều người quá khích cho rằng, người Mỹ rút khỏi Việt Nam, để lại toàn bộ còng, khóa, dùi cui là có mục đích xấu xa. Tôi không tin thế. Thật lòng, tôi không tin thế. Luôn luôn, tôi nhìn dân tộc Mỹ qua các văn hào Mỹ, các vĩ nhân Mỹ. Tâm hồn đích thực của dân tộc Mỹ là tâm hồn Lincoln. Ngoài tâm hồn ấy là chính sách của Mỹ đối xử với các nước nhỏ. Tôi yêu dân tộc Mỹ, người Mỹ và thù ghét chính sách Mỹ ở nước tôi như tôi thù ghét còng Mỹ đã siết chặt chân tay tôi, bạn bè tôi, đồng bào tôi ! Còng Mỹ đang siết chặt chân tay đồng bào tôi và chẳng biết đến ngày nào nó mới chịu nghỉ mệt. Dân tộc Mỹ và quý vị, chắc chắn, không bao giờ muốn dân tộc Việt Nam bị Cộng Sản còng chân tay, tống vào tù ngục bằng còng Mỹ. Bởi thế, thân gái dặm trường, tôi phải chịu nhục nhã trên đường bôn tẩu, sang tận đây để tường trình quý vị những cái còng viện trợ Mỹ còn ngổn ngang khắp các nhà tù, đề lao, trại tập trung của Cộng Sản. Tôi không dám làm công việc tra vấn lương tâm quý vị vì tôi hiểu lịch sử sang trang vội quá nên quý vị cũng quên nhanh quá và nhiều chuyện quý vị chưa kịp nhớ. Vậy, tôi sang đây nhắc quý vị rằng, quý vị cần phải thu hồi toàn bộ còng của quý vị về Mỹ. Thu hồi bằng cách nào, đó là nhiệm vụ, là bổn phận, là lương tâm của quý vị, nằm trong chiến thuật, chiến lược mà tôi không nên biết, không nên hỏi. Người Mỹ đã lên cung trăng đem đá xuống trần gian, người Mỹ sẽ sang Việt Nam mang hết còng Mỹ về nước. Chúng tôi tin tưởng quý vị thừa khả năng.

Thưa quý vị,

Khi những cái còng Mỹ viện trợ Việt Nam còn do Cộng Sản dùng để siết chân tay những người Việt Nam chống Cộng Sản cô đơn, những người Việt Nam chân chính, quả cảm, quyết thắp sáng ngọn đuốc lý tưởng tự do, dân chủ thì lịch sử hiện đại của Hoa kỳ hai mươi năm can thiệp ở Việt Nam chưa sang trang. Khi ấy, quốc hội Mỹ nên đeo một chiếc còng vào cổ tay cầm bó đuốc của Nữ thần Tự do và hoán chuyển thế đứng cho nữ thần yêu dấu. Và, chính phủ Mỹ cũng nên treo một chiếc còng lớn lên đài Tưởng Niệm Chiến Sĩ Hoa kỳ bỏ mình vì lý tưởng tự do, dân chủ ở Việt Nam. “Bởi vì, còng Mỹ còn hoạt động tại các ngục tù Việt Nam là người Mỹ còn có mặt tại Việt Nam. Và vết ô nhục phản bội còn hằn trên lương tâm quý vị, hằn trên lương tri dân tộc Hoa kỳ; còn là lưỡi lê dơ bẩn cắm xuống mồ các vĩ nhân Mỹ, đâm vào trái tim những người lính anh hùng Mỹ đã chiến đấu, đã đổ mồ hôi và máu, đã hiến dâng tuổi trẻ của mình cho ngọn cờ dân chủ và hạnh phúc loài người…”

Bài diễn văn này do cô giáo Nga đọc ở cachot khu A đề lao Gia Định thời gian cô bị còng made in USA còng dính chùm cô với hai cô Lan và Nhi. Nó ở chương thứ năm của Sỏi đá ngậm ngùi*. Tôi không tin Mỹ cứu tù nhân cải tạo, cứu dân tộc tôi. Tôi chỉ muốn bắt họ sang Việt Nam thu nhặt hết còng Mỹ đem về Mỹ. Cái ảo tưởng Mỹ cứu, Mỹ sẽ can thiệp chuyện Việt Nam đã đưa vô số người vào tù Cộng Sản và đưa vô số tù nhân vào nhà kỷ luật của trại tù. Nằm buồn tênh ở nhà kỷ luật, vẫn còn tù nhân hỏi tôi: “Có nghe BBC nói gì về vụ này không ?” Chẳng muốn để anh ta tuyệt vọng, tôi đáp: “Yên chí, họ sẽ nói”. Những thằng ngu đưa dân tộc của chúng nó vào ngục tù Cộng Sản, rồi đổ vạ Mỹ không dạy mình giữ nước, không viện trợ đều đều. Thêm những thằng ngu tin tưởng Mỹ cứu, đưa bạn tù của chúng nó vào nhà kỷ luật chịu đựng trăm đắng nghìn cay một cách lãng nhách.

* Nam Á – Paris, 1985

 

-20-

Về Tổ vệ sinh đâm ra vất vả. Đủ các « khâu » lao động. Chở cơm, nước sôi cho hai nhà kỷ luật xong, Hải và tôi song ca … vệ sinh hành khúc, tức là đi đổ thùng ở cầu tiêu bệnh xá. Chúng tôi thay máng cầu mới, quét rửa sạch sẽ rồi khiêng máng phân đầy nhóc đem đổ xuống hố ngoài vườn rau phía sau hội trường. Rồi đổ phân cachot. Trật tự mở cửa cachot mỗi sáng sớm, tù nhân bị kỷ luật bê hộp đựng đạn đại liên ra. Tù nhân đã tiêu tiểu vào đó. Chúng tôi đổ phân và rửa hộp. Tôi có một truyện ngắn, nhan đề Khúc rẽ cuộc đời. Đời tôi đã rẽ nhiều khúc. Tôi không ngờ có thêm khúc rẽ xuống hầm phân ở Sa Ác, khúc rẽ hốt phân ở Rừng Lá. Tôi tự tặng tôi hỗn danh thứ ba : Long đổ thùng ! Đổ thùng, dẫy cỏ sân trại, buộc hàng rào, quét dọn điếm canh, đổ rác các nhà là những việc linh tinh. Tôi thích thú công việc chở nước tắm cho hai nhà kỷ luật và tưới cây. Hải và tôi cố gắng kéo xe, đẩy xe thật êm cho nước khỏi trào ra. Một ca nước rất quý. Chúng tôi tự do đi lại trong khu vực khu A. Những buổi trưa, tôi thường vào hội trường năm ngủ. Nằm suy nghĩ thì đúng hơn. Tôi đã sống ở Z30 D, K1 được 16 tháng. Phó giám thị Phúc đã quên tôi. Ông ta chưa gọi tôi “làm việc” lần thứ hai. Tôi vào Sa Ác với Nguyễn Mạnh Côn, Nguyễn Mạnh Côn chết. Tôi ra Rừng Lá với Hồ Hữu Tường, Hồ Hữu Tường chết. Về Z30 D, ông Tường trụ trì bệnh xá, viết sách thuốc dân tộc. Ông bị bệnh cổ chướng, bụng chương phình. Người ta chở ông ra bệnh viện Phan thiết. Rồi tha ông. Thân nhân ông đưa ông về Sài gòn. Vài hôm sau, ông Hồ Hữu Tường chết *. Đám tang ông cũng âm thầm như đám tang Vũ Hoàng Chương. Vợ tôi kể, ngoài Nhã Ca tiễn đưa Hồ Hữu Tường một quãng đường đến nơi yên nghỉ cuối cùng của ông, tuyệt nhiên không thết một khuôn mặt văn nghệ lớn, nhỏ, tiền bối, hậu bối nào khác hiện diện. Tôi rất sung sướng biết vợ tôi đã theo ông Hồ Hữu Tường đến tận huyệt và ném xuống quan tài Phi Lạc một nắm đất.

Đôi khi, vắt tay lên trán, nhắm mắt truy nã bản thân mình, tôi thấy cái sự nghiệp văn chương của tôi sao mà khổ sở thế, mà cô đơn thế, mà oan khiên lắm thế, mà ngộ nhận nhiều thế. Ngày tôi bước xuống hầm phân vục đầy xô phân bằng hai bàn tay trần, ròi nhung nhúc, ròi bò lên cả cánh tay tôi là ngày tôi thấy rõ niềm bí ẩn nhỏ của đời sống. Và tôi có cảm tưởng tôi mang vóc dáng một nhân vật cổ tích tội nghiệp nhất. Tôi nghĩ đến cô Tấm. Tôi nghĩ đến trái thị. Và tôi nghĩ đến trái đắng thơm nồng trong niềm bí ẩn của đời sống. Cái thật, cái tốt và cái đẹp, ở bất cứ không gian và thời gian nào, đều phải trả giá nước mắt, mồ hôi và máu. Tôi có bài thơ Trái thị làm ở Z30 D, thời gian khiêng cứt, hốt cứt.

Ngày xưa cô Tấm ngời nhan sắc
Thật thà như đếm chả thù ai
Cô thương điều xấu yêu điều ghét
Chung hết tâm tư với mọi người

Có nhiều đứa ác hờn ghen Tấm
Đầy đọa Tấm rồi giết Tấm oan
Tấm hóa thành chim thành trái thị
Cuối cùng thành công chúa nhân gian

Em ạ, anh là cô Tấm xưa
Lòng anh chứa chất cả hư vô
Anh đi với tháng dài năm rộng
Mơ nỗi niềm chưa ai ước mơ

Anh cũng bị chôn dưới vực sâu
Trước khi sặc nước mắt cơ cầu
Và cũng thành chim thành trái thị
Ngạo nghễ lên đời chói ngọc châu

Em, cổ tích này anh tặng em
Hãy nghe hãy truyền kể nghìn năm
Nghìn năm trái thị còn xanh mộng
Chỉ úa điêu ngoa héo dối gian **

Nhưng cổ tích Tấm Cám có đoạn kết trả thù tàn bạo quá. Thật sự tôi yêu Thạch Sanh và đoạn kết cổ tích Thạch Sanh. Vậy tôi đã làm thêm bài thơ Lời Thạch Sanh, cũng vào thời gian tôi khiêng cứt, hốt cứt ở Z30 D.

Ôi, nhớ làm chi vụ lấp hang
Phiến thù đâu dễ bặt cung đàn
Ta ngồi trong tối so giây lại
Nghe rõ hồn ta nhập thế gian

Đốm lửa nào đây mới nhúm nhen
Bóng ta in mặt nước thần tiên
Cái gì xa lắm nhưng gần lắm
Chưa phải hư vô vẫn ảo huyền

Ta biết lòng ngươi rã rượi rồi
Về đâu chiều bủa khói mù khơi
Hồi chuông cáo phó sao buồn thế
Giọt nước mắt còn ta khóc ai

Hãy đi hãy đi hỡi Lý Thông
Ta vút lên đời như mũi tên
Mũi tên cổ tích thèm bay lượn
Chuyện cũ xong rồi ta đã quên **

Từ vỡ lòng cay đắng đến vàng ửng ngậm ngùi, cuộc phiêu lưu tìm ý nghĩa cho đời sống – không tìm niềm bí ẩn của đời sống – tôi đã nghe thấy hương vị thơm nồng của trái thị. Với tôi là trái đắng. Tưởng chừng trái đắng đã thành hình từ đóa cổ thụ Sa Ác. Sa Ác: Rơi vào chỗ chết. Tôi không chết nghĩa là tôi còn sống. Tôi còn sống nghĩa là tôi tồn tại bằng những đóa hoa trên đỉnh ngọn tuổi tôi. Với nhà văn, đóa hoa cổ thụ là tác phẩm. Nhưng tôi vẫn trung thành với ý nghĩ cũ, ngày tôi rời bỏ Sở công an thành phố: “Nỗi thống khổ đầu tay của tôi là một thử thách nhẹ so với nỗi thống khổ của các văn hào thế giới. Nỗi thống khổ mà các nhà văn lẫy lừng của nhân loại đã trực diện, đã đương đầu, đã kiên nhẫn chịu đựng, đã phấn đấu im lặng ví như trái núi. Nỗi thống khổ tôi đang ngậm chỉ là cái móng tay. Cái móng tay chớ vội ồn ào khi trái núi nín thinh, bình thản liếm máu trên vết thương của mình mà cống hiến cho đời sống những ý nghĩa tuyệt vời về tình yêu và hạnh phúc”. Không đáng gì phải ồn ào về nỗi khổ, khi nhận mình là nghệ sĩ sáng tạo. Với nghệ sĩ sáng tạo, sự quan trọng không phải là trợn mắt, nghiến răng, vung trái đấm tố khổ, nhân khổ mà là suy tư từ nỗi khổ, suy tư từ kinh qua nỗi khổ. Để khám phá niềm bí ẩn của nỗi khổ. Để cô đọng nỗi khổ thành chất khổ, thành tinh túy của nỗi khổ mà thể hiện trong tác phẩm. Bằng ý nghĩ đó, tôi Cám ơn ngục tù.

Cám ơn em nhé ngục tù
Nhờ em giải đoán giấc mơ tuyệt vời
Nhờ em dẫn xuống vực đời
Chỉ con đường lạ lên trời hư vô

Lửa nào nổi cuộc phần thư
Cũng thiêu luôn cả cái xưa phận mình
Bây giờ anh mới biết anh
Nỗi đau tiền kiếp đóng đinh làm người

Thân anh nghe sắp rã rời
Với hồn anh nữa ngậm ngùi phù du
Cám ơn em nhé ngục tù
Cám ơn em lớp sương mù huyền vi

Nhờ em anh đến anh đi
Nhờ em anh ở anh về nhẹ tênh.**

Như tôi đã viết Gọi là thay lời tựa ở Nhà tù, cuốn 1 của bộ hồi ký ngục tù của tôi: “Không ai thích vào tù, dù chết trong tù sẽ thành liệt sĩ hoặc ra khỏi tù sẽ thành dũng sĩ. Linh mục cũng sợ tù. Các nhà cách mạng càng sợ tù hơn. Bởi thế, ngục tù không bao giờ là thành tích vĩ đại để khi thoát khỏi nó, người ta vỗ ngực khoe khoang, người ta quảng cáo nó như một món hàng thương mại, người ta xử dụng nó như một phương tiện bước vào chính trường. Như những người thật thà với chính mình, tôi rất sợ hãi tù đày. Tôi ở lại Việt nam vì vụng về trong mưu toan chạy trốn. Tôi không bao giờ ở lại để làm chứng nhân lịch sử cả. Công việc phi thường này dành cho người khác. Tôi ở lại và tôi bị bắt bỏ tù. Tôi đành ở tù”. Làm sao hơn được? Cũng đành thôi. Cũng đành, bạn ta ơi, Dương Nghiễm Mậu! Ở tù là chuyện cũng đành thì an ủi mình bằng cuộc phiêu lưu bất đắc dĩ, cuộc phiêu lưu định nghĩa Hạnh phúc và đau khổ.

Theo anh nhẹ bước phiêu du
Đi thăm địa ngục thâm u chín từng
Nghe xa thăm thẳm mịt mùng
Nghe gần hiu quạnh xoi mòn thịt xương

Nâng ly mật đắng Diêm vương
Uống say tới tận cuối đường cuộc chơi
Theo anh lên ngọn đỉnh trời
Hái hoa Thượng uyển thả trôi suối hồn

Nghe xa hạnh phúc đầu nguồn
Nghe gần ân ái thơm nồng Đào nguyên
Hôn em, ôi đóa môi mềm
Ôm em ôm cả niềm tin Địa đàng **

Thế đó, những năm tĩnh ở các nhà tù Sở công an, đề lao Gia định, khám lớn Chí Hòa; những năm động ở các trại tập trung khổ sai lao động Sa Ác TH6, Rừng Lá Z30 D không bao giờ là thành tích huy hoàng, là “sự nghiệp” của tôi. Nó bình thường. Nó tầm thường như huyết tâm ở bọn vô lại khạc trúng gấu quần tôi, như ngộ nhận nghiệt ngã của người đời, của thói đời chụp bủa quanh tôi. Cái không bình thường, đối với tôi, là sự sáng tạo nghệ thuật không mệt mỏi, là sự khám phá không ngừng những niềm bí ẩn của đời sống, là sự đóng góp tài năng còm cõi của mình cho sự thắp sáng tổ quốc và hạnh phúc dân tộc. Đến hôm nay tôi mới biết noi gương Trần Dần:

Tôi có thể mắc nhiều
tội lỗi
Chẳng bao giờ quá ngu đi
mắc tội nằm
Han rỉ
khác gì cái chết
Chết con tim chẳng còn dám
đau thương
Chết khối óc
chẳng còn dám nghĩ
Nếu
tôi chửa đến ngày thổ huyết
Phổi tôi còn xâu xé mãi
lời thơ
Tôi có thể mặc thây
ngàn tiếng chửi tục tằn
Trừ tiếng chửi
Sống không sáng tạo” ***

Phải, “tôi có thể mặc thây ngàn tiếng chửi tục tằn” của bọn vô lại. Bọn này “mắc tội nằm, tội han rỉ, tội chết con tim, tội chết khối óc” nên đâm ra sợ hãi những người sáng tạo. Chúng nó không dám chửi tôi “sống không sáng tạo”. Ai dám chửi tôi “sống không sáng tạo”?

Đầu tháng 8-1981, Z30 D ban ân huệ cho hai nhà kỷ luật đi tắm suối. Sáu mươi tù nhân ôm quần áo dơ, bình nhựa, xô nhựa xuất trại. Ở nhà, trực trại dẫn trật tự vào kiểm tra hành lý. Lại thêm một thủ đoạn mới. Người ta nghĩ rằng tù nhân bị kỷ luật vô thời hạn là tù nhân bị dồn vào chân tường, cần thiết đề phòng phản ứng đột xuất. Cảnh giác cao là châm ngôn Cộng sản. Cảnh giác bất cứ ai, bất cứ lúc nào, bất cứ chỗ nào. Vậy cho tù nhân đi tắm suối thỏa thuê, tù nhân hoan hỉ, tù nhân tưởng tượng sắp mãn hạn kỷ luật, còn mình thảnh thơi lục lọi, khám xét.

Như thường lệ, Hải và tôi kéo xe đậu trước cửa nhà. Nhà 1 không còn gì để tịch thu, loại bỏ. Sang nhà 2, tôi ngồi ngay cửa. Nhà này toàn tù nhân Hà Nam Ninh. Trật tự khám xét tận tình. Cung củ đậu được phép đeo giây chuyền vàng tây có thánh giá. Nó cởi trần, mặc quần xà lỏn Đài Loan mà nó chỉa của một tù nhân. Từ khoang trên, nó liệng xuống sàn nhà xi măng một vật gì đó gây tiếng kêu. Trực trại, gã trung sĩ công an, tên Chiến di đế giép râu lên vật đó. Một miếng đá mỏng ! Miếng đá không vỡ. Tôi lén vồ nhanh miếng đá bỏ vội vào túi áo tù trước ngực. Cung củ đậu liệng thêm cái thánh giá đẽo và mài nhẵn bằng gỗ lim. Trực trại Chiến lại di đế giép râu lên. Tôi lại lén vồ dấu đi. Là kẻ vô tôn giáo, nhưng tôi đã xúc động mạnh khi chứng kiến Cung củ đậu ném Thánh giá và cai tù Chiến di đế giép râu lên thánh giá. Quân dữ trong Tân Ước chắc cũng ngang ngược như thế này. Miếng đá và Thánh giá gỗ lim là hai vật còn sót lại sau nhiều lần khám xét. Xe cải tiến của chúng tôi chỉ mang đi đốt vài bộ quần áo rách, một số bị cói.

Ra chỗ đốt đồ loại bỏ, tôi móc túi ra xem miếng đá. Đó là miếng đá dày 50 ly, chiều ngang 4 phân, chiều dài 6 phân 50, có khoan một lỗ nhỏ đề luồn giây đeo. Một mặt, hình Đức Mẹ Maria được khắc thật công phu. Khuôn mặt Đức Mẹ nổi lên trong cái vòng tròn trũng xuống. Quanh vòng tròn là những nét khắc diễn tả ánh sáng từ khối óc của Đức Mẹ tỏa ra. Một mặt khắc con thuyền lênh đênh trên sóng cả, cột buồm là Thánh Giá. Dưới thuyền khắc bốn chữ trong Thánh Kinh: Này con là đá… Dưới nữa là hai chữ Lưu Niệm. Có thể gọi miếng đá này là Mề đay Đức Mẹ Maria. Tôi ngồi bần thần một lúc. Nguyễn văn Hải hỏi:

– Anh nghĩ gì vậy ?

– Người tù và đức tin.

Tôi đưa Hải xem cái mề đay Đức mẹ. Anh ta khen đẹp và hỏi tôi:

– Anh lượm lúc nào ?

– Lúc thằng Chiến di giép râu lên. Thằng Cung đã liệng mạnh, mề đay không vỡ. Thăng Chiến di mạnh, mề đay vẫn không vỡ. Miếng đá quá mỏng, cậu thấy chưa ?

– Em thấy.

Tôi lấy lại cái mề đay, bỏ vào túi.

– Này Hải, cậu hình tưởng người tù tuyệt vọng ở Sơn La, ở Lào kay hay ở Yên Bái đi. Qua bến đò Khô Lâu là kể như hết đường về. Cậu lại hình tưởng người tù mài đá phẳng lì, mỏng và kiên nhẫn ngồi khắc hình Đức Mẹ, con thuyền, Thánh giá… Đức tin của anh ta vững mạnh khôn cùng. Chính đức tin của anh ta đã giữ nguyên vẹn cái mề đay đá. Đá mỏng không vỡ vì đức tin dày. Đức Mẹ Maria thật sự ở cái mề đay đá này.

Đến lượt trung úy Nguyễn văn Hải bần thần.

– Tôi còn lượm được thứ nữa.

– Cái gì ?

– Thánh giá mài bằng gỗ lim.

Tôi lôi Thánh giá khỏi túi.

– Tặng cậu.

Tôi cho Hải cái Thánh giá đã bị quân dữ dí giép râu lên. Chúng tôi về. Tôi đến hồ nước của bếp bệnh xá tắm gội. Tôi không quên dùng bản chải đánh răng chà rửa sạch cái mề đay đá. Kể chuyện cho trung úy Nhẫn nấu bếp bệnh xá, anh ta nói:

– Anh sẽ được hưởng nhiều ân sủng của Đức Mẹ.

Ân sủng của Đức Mẹ, tôi không bao giờ nghĩ tới. Vì tôi ngoại đạo. Hành động lén nhặt miếng đá của tôi chẳng có toan tính chi cả. Tôi cũng không hiểu tại sao, hôm đó, tôi phản ứng tự nhiên và hồn nhiên thế. Tôi cất dấu cái mề đay Đức mẹ, khó lòng trả lại người tù nhân chủ nhân của công trình tay chân và tim óc ấy. Anh ta khắc “Này con là đá” nhưng “chìa khóa nước Trời” không ban cho anh ta. Anh ta nằm nhà kỷ luật.

Cuối tháng 8-1981, phó giám thị Phúc gọi tôi “làm việc”. Thời gian này, vợ con tôi đã được cấp Giấy thông hành xuất ngoại. Trước đó, tôi phải làm giấy cam kết “không được khiếu nại chuyện vợ con sang Pháp, không được đòi theo vợ con sang Pháp”. Tin tức về sự can thiệp của Amnesty International rất lờ mờ, tuy nhiên, gia đình tôi vẫn nhận đều đặn mỗi tuần một gói quà gửi đường Bưu điện của các ông Jacques Provendier, Émile Le Brizaut ở Bretagne, Pháp, và bã Christa Bremer, kịch sĩ, ở Brême, Tây Đức thay phiên nhau tặng. Thầy Thích Nhất Hạnh cũng gửi thuốc và tiền về giúp đỡ gia đình tôi và tất cả gia đình các nhà văn bị cầm tù. Ông bà Auguste Ablason ở Ermont, Pháp, còn dám làm giấy khai sinh nhận vợ tôi là con gái và bảo lãnh cho vợ con tôi “về Pháp đoàn tụ gia đình”. Thêm vào nữa là linh mục Chân Tín và vợ chồng Nguyễn Ngọc Lan, những người tôi chống đối ra mặt trước 1975, dạy học các con tôi, giúp đỡ và bênh vực vợ con tôi. Còn tất cả bạn thân của gia đình tôi đều ngoảnh mặt ! Con nuôi của tôi, nhân vật Ái Nhi trong Cây leo hạnh phúc, thì lừa tiền bạc và chửi rủa vợ con tôi. Đủ các thứ bìm leo lên dậu đổ. Cái sàng hoạn nạn đã đãi tình nghĩa. Lọt hết. Còn lại vài hạt bất ngờ, những hạt ngọc mà ta đã không mong ở trên đời.

Phó giám thị tiếp đãi tôi nồng nhiệt như hôm đầu tiên tôi đến Z30 D. Trà Thái nguyên. Thuốc lá Phù Đổng.

– Cơ hội về xum họp gia đình của anh đã rất thuận lợi rồi đó.

– Cám ơn cán bộ.

– Chị ấy và các cháu sang Pháp chưa ?

– Chưa.

– Khi chị và các cháu sang Pháp, anh ở đâu ?

– Có lẽ tôi về Bắc sống với bố tôi.

– Tốt thôi. Anh sẽ về.

Ông ta nhấn mạnh:

– Anh sắp về.

Và chậm rãi:

– Nhưng luôn luôn tâm niệm rằng đảng và nhà nước khoan hồng. Đảng và nhà nước tha anh. Ngoài ra, không một thế lực ngoại quốc nào đủ khả năng can thiệp cho anh được tha cả.

– Tôi hiểu

– Anh có điều gì phê bình sự điều hành của trại không ?

– Thưa cán bộ, không.

– Tại sao không ?

– Tù nhân chỉ chấp hành, không được phê bình.

Phó giám thị Phúc cười:

– Lãnh đạo của chúng tôi nhận xét anh không sai. Anh khôn lắm. Hơn cả khôn nữa cơ, anh biết nín thở qua cầu. Khác quan thì chúng tôi thành công vì anh đã lao động tốt, chấp hành nội quy nghiêm. Chủ quan thì chúng tôi thất bại vì anh không chịu thể hiện con người thật của anh.

Tôi bắt đầu nể nang phó giám thị Phúc. “Nó lú nhưng chú nó khôn”. Ông ta hỏi:

– Thật sự, anh muốn về chưa ?

Tôi đáp:

– Ai ở tù lâu mà không muốn về.

– Tôi hỏi anh thôi.

– Tôi rất muốn về.

– Thế là đủ rồi. Bây giờ, một câu hỏi khác, câu hỏi mà tôi biết anh không thành khẩn trả lời nhưng tôi vẫn cứ hỏi.

– Tôi sẽ thành khẩn

– Tôi tin là không.

– Xin cán bộ thử hỏi.

– Anh còn thù hận chúng tôi không ?

– Không.

– Dễ dàng nhỉ !

– Tôi sinh ra không để thù hận ai cả.

– Anh đã thù Cộng sản ?

– Và tôi đã nằm tù khá lâu.

– Chưa lâu đâu. Anh phải nằm tù gấp 10 lần tội của một tên đại tá ngụy ác ôn. Nhưng anh sắp về, đảng và nhà nước khoan hồng tội ác của anh, cho là anh vẫn còn thù hận Cộng sản. Anh uống nước nữa đi …

Câu chuyện chuyển sang đề mục nghề nghiệp tương lai của tôi. Uống hết ấm trà móc câu Thái Nguyên, phó giám thị Phúc bảo tôi về trại. Ông ta tặng tôi gói Phù Đổng chưa bóc và tiễn tôi ra cuối hành lang. Người ta đã bảo tôi có « cơ hội thuận lợi về sớm » từ 17 tháng trước. Chắc chắn, cái « sắp về » sẽ kéo dài thêm 17 tháng nữa để « làm việc » lần thứ ba. Ngày 2-9-1981, Z30 D, K1 loan báo xổ số có văn nghệ chào mừng quốc khánh. Toàn thể tù nhân K1 tập họp ở hội trường, trừ hai nhà kỷ luật và cachot. Tổ vệ sinh đã quét dọn hội trường từ sáng sớm. Bàn ghế, máy móc kê sẵn. Kỳ này có những ba danh sách trúng số. Danh sách giữ bí mật tối đa, ngay trật tự Trần Trọng Thanh cũng không biết. Tôi vẫn nghĩ rằng, nếu được tha, tôi sẽ về lặng lẽ, không chung danh sách tù nhân cải tạo. Và tôi tự xếp tôi vào loại không mua vé số không thể trúng xổ số. Tôi đi quét sân, không vô hội trường. Trực trại Chiến bắt tôi vào tham dự văn nghệ liên hoan mừng 2-9.

Mở đầu chương trình xổ số lao cải, anh cán bộ giáo dục chơi bài Tuyên ngôn độc lập mở nước Việt nam dân chủ Cộng hòa, độc lập – tự do – hạnh phúc, nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt nam, vẫn độc lập – tự do – hạnh phúc. Tù nhân nghe Tuyên ngon độc lập thì bẽ bàng không thể tả nổi. Tuyên ngôn độc lập chấm dứt, ban nhạc hòa tấu bản Đàn Ta lư rất giật. Giật như ghẻ bôi thuốc xanh vậy. Tiếp theo là đọc danh sách tù nhân trúng số đợt nhất. Rồi văn nghệ giúp vui. Đơn ca, song ca, tốp ca. Đọc danh sách tù nhân trúng số đợt nhì. Tôi ngồi vỉa hè cuối hội trường đấu láo với trung úy Thọ và y tá Ninh thay thế bác sĩ Nhơn đã về. Bỗng Thọ đập mạnh đầu tôi :

– Có tên anh.

Tôi nói :

– Đừng đùa.

Ninh cầm tay tôi, giật mạnh :

– Anh có tên.

Tôi vẫn nói :

– Đùa dzai, mấy chú !

Tôi đứng dậy. Anh em ngồi trong hội trường quay xuống nhìn tôi, vẫy tay lia lịa, cười toe toét. Thì ra tôi đã trúng số. Tôi cũng trúng số. Tôi trúng số chung mới đúng là tôi hưởng sự khoan hồng, nhân đạo của đảng và nhà nước, “không một thế lực ngoại bang nào đủ khả năng can thiệp” cho tôi được tha cả. Chào mừng tôi, trung úy Thọ lột ngày bộ quần áo tù Z30 D mới phát. Tôi còn trần xì cái xà lỏn. Đợi nghe hết danh sách đợt ba, “phen” của tôi, những bạn tù thiếu may mắn kỳ xổ số này, chê văn nghệ phụ diễn, “bắt cóc” tôi về nhà. Một màn kịch chia gia tài tù diễn ra. Tôi bị lột nhẵn nhụi và trở thành “con bà phước”, vô sản chính thống. Cái mùng và cái mền của tôi, nay tôi phải mượn lại vì đã bị “xí”. Tôm khô, lạp xường, hủ tiếu, mì vụn, bột ngọt đi hết. Thuốc tây, thùng thiếc bay luôn. Bèn ăn phõ chờ ngày về. Cung củ đậu đến chậm, chửi um lên. Rốt cuộc nó cũng vồ được tuýp thuốc đánh răng Colgate vừa xài hai bữa.

* Thân nhân ông Tường đăng cáo phó trên báo Sài gòn giải phóng

** Thơ tù, Nam Á – Paris, 1984

*** Trần Dần, Hãy đi mãi

 

-21-

Ân sủng của Đức Mẹ, như trung úy Nhẫn nói, tôi vừa được hưởng. Anh Nhẫn bảo tôi sẽ được hưởng nhiều ân sủng của Đức Mẹ*. Còn người tù mài đá khắc hình Đức Mẹ thì sao ? Tôi cầu nguyện Đức Mẹ ban ân sủng cho anh ta hơn tôi. Anh ta mới xứng đáng. Được tha thì cũng vui nhưng cảm giác sung sướng đã nguội. Giá tôi trúng số sớm hơn ba năm, tôi sẽ sung sướng lắm. Hạnh phúc của tôi luôn luôn tới vào lúc xế chiều. Cái gì tôi trông đợi, đều đến. Nhưng chậm, thật chậm. « Chậm bước tiên phong muộn chiến trường ». Bây giờ, tôi chờ cầm Giấy ra trại. Tôi có thì giờ suy nghĩ câu hỏi của phó giám thị Phúc : « Anh còn thù hận chúng tôi không »? Tôi đã trả lời « Không ». Và ông ta nói chắc nịch « Anh đã thù hận Cộng Sản ». Tôi không thể thành khẩn cho ông ta biết rằng tôi còn tiếp tục thù hận chủ nghĩa Cộng Sản và lãnh tụ Cộng Sản cùng những tham vọng mù quáng của họ. Thù hận và muốn hủy diệt. Nhưng con người sống trong dòng nghịch lũ Cộng Sản, theo dòng hay bị cuốn theo dòng, tôi không tìm ra lý do gì để thù hận cả. Những cộng cụ của chủ nghĩa và lãnh tụ Cộng Sản, những con người bị Cộng Sản tước đoạt nhân tính và lương tri, tôi thương xót họ hơn là thù hận họ. Bổn phận và nghĩa vụ của bất cứ ai nhận mình là con người nhân bản chống mọi chủ nghĩa phi nhân, phi luân là phải thức tỉnh lương tri và cải hoán nhân tính cho họ, những người bị chủ nghĩa và lãnh tụ Cộng Sản mê hoặc, sai khiến, làm cho ngu dốt, độc ác; chứ không được phép cổ xúy tàn sát họ hay tàn sát họ. Như Constantin Virgil Gheorghiu chống những kẻ chống phát xít tàn bạo hơn phát xít, tôi cũng chống những kẻ chống Cộng Sản tàn bạo hơn Cộng Sản. Người ta nhân danh cái Thiện chống cái Ác để cái Thiện thăng hoa lên ngọn đỉnh Thiện. Người ta không thể nhân danh cái Thiện chống cái Ác để vinh tôn một cái Ác mới tồi tệ hơn cái Ác cũ. Nhà văn, nhà thơ, nghệ sĩ không phải là sát nhân. Công việc này dành cho văn công, thi công, nghệ công cộng sản. Thế thì sự cổ võ chém giết bừa bãi, man rợ « thề phanh thây uống máu quân thù » là sự gian dối, sự bất lương trí thức của nhà văn, nhà thơ, nghệ sĩ. Và nữa, xét cho cùng, hạnh phúc của con người và nghệ thuật của cuộc đời không tạo dựng bằng thù hận. Người nghệ sĩ Thạch Sanh là biểu tượng tâm hồn Việt Nam đích thực, thuần khiết.

Tôi muốn nhân danh thi sĩ Việt Nam bị chủ nghĩa Cộng Sản bắt giam gửi một Thông điệp mới :

Khi cái còng siết chặt tay anh
phải hiểu sự thật đã chảy máu
phải hiểu tự do hằn lên những vết cào cấu
Và thi ca lún ngập lưỡi dao.
Lúc ấy anh bắt đầu
viết thông điệp mới cho sự tra tấn
cho nhà lao
cho cai tù.

Hãy tội nghiệp sự tra tấn
vì nó không có trái tim
không có hơi thở không có nước mắt
không có đớn đau.
Hãy thương xót nhà lao
vì nó không có tình ái
nó không hiểu nó ngu hay nó dại
nó ngàn năm bóng tối mịt mù.

Hãy tha thứ cai tù
vì nó trơ trơ thân máy
nó ngang qua
nó trở lại
nó vô tri như ngục đá đêm già.

Gửi tặng sự tra tấn một bông hoa
để nó biết da thịt dù tan nát
nhưng con người vẫn đứng trên hình phạt
vẫn đứng hoài và tồn tại vô cùng.
Gửi tặng nhà lao một miếng nhớ nhung
để nó tương tư cuộc đời bao la rộng mở
cuộc đời chẳng hề khóa chặt cửa
giam nhốt ai ca hát giữa đường.
Gửi tặng cai tù chút xíu tâm hồn
để nó thèm thuồng rung động
nó sẽ biết buồn và nó khóc
nó sẽ vui và nó cười
nó sẽ khao khát làm người.

Và đó là thông điệp mới
của thi sĩ Việt Nam viết từ oan khiên vời vợi
gửi đi khắp ngục tù thế giới
gửi xuống huyệt sâu
và gửi cả lên trời **

Tôi sẽ trung thành với thông điệp này trọn vẹn cuộc đời sáng tạo nghệ thuật của tôi. Và với lập trường dứt khoát: hủy diệt chủ nghĩa Cộng Sản và lãnh tụ Cộng Sản, cứu rỗi con người. Lập trường của tôi sẽ dẫn tôi đến những hệ lụy, sẽ đưa tôi vào cô đơn. Nhưng cần gì. Nhà văn không phải là bọn ồn ào hò hét đầu đường, góc phố. Nhà văn làm ra tư tưởng. Và tư tưởng chế ngự hết, bao trùm gọn cả thời đại mê sảng, thời của chó sủa và luôn cả thời của chó câm.

Tôi tiếp tục làm công việc thường nhật của tôi trong khi chờ đợi ngày về. Đổ phân, hốt phân, quét sân trại, dọn cỏ và chở cơm nước cho hai nhà kỷ luật. Người ta đã nhìn tôi bằng cặp mắt khác từ đêm cả trại xem vô tuyến truyền hình hồi tháng 7-1981. Đêm đó, thứ trưởng Văn hóa của nhà nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam xuất hiện trên màn ảnh nhỏ, nghiêm khắc phê bình thầy cô và học trò các trường miền Nam về sự chưa gột sạch ảnh hưởng văn hóa và tư tưởng đồi trụy của Sài gòn cũ. Có đoạn đề cập tới tôi, đại ý:

Miền Nam đã được giải phóng 6 năm rồi, thế mà ảnh hưởng văn hóa và tư tưởng đồi trụy của chế độ phản động cũ vẫn còn. Học trò vẫn viết lưu bút, lưu niệm cuối năm học bằng thứ văn chương ướt át, lãng mạn, mơ mộng. Một số thầy cô đã không có biện pháp ngăn chặn, lại bắt chước lưu niệm, lưu bút linh tinh. Tôi không hiểu tại sao, đến hôm nay, đa số thầy cô và học trò các trường phía Nam còn say mê tiểu thuyết của Duyên Anh, Nhã Ca, Mai Thảo…***

Tôi ngồi xem giật mình. Nhiều bạn tù có vẻ lo ngại “đường về xa lắm người ơi” của tôi. Hôm sau, thấy tôi từ xa, đã oang oang lời an ủi của bạn tù:

– Duyên Anh, 5 năm bốc cứt vẫn còn thơm !

– Duyên Anh, chữ nghĩa đang nhẩy hăng đấy !

– Duyên Anh, cứ bốc cứt đi !

Thì vẫn bốc cứt đấy chứ. Con gái tôi thăm nuôi tôi cho biết một chiến dịch mới đánh nát ảnh hưởng các nhà văn “có máu mặt” Sài gòn kéo dài ba tháng, từ tháng 4 đến tháng 7-1981, phụ họa cuốn Những tên biệt kích trong mặt trận văn hóa tư tưởng miền Nam. Nhật báo Nhân Dân tặng tôi một bài “xã luận”. Cơ quan trung ương của đảng Cộng Sản Việt Nam mà chơi thì nặng lắm, khó về. Vợ tôi nghe phường phát thanh bài này đâm ra tuyệt vọng. Tuần báo Tuổi trẻ đập tôi kỹ nhất. Nó vẽ tôi giống boong, ngồi luộc nồi nước Tuổi Ngọc bằng củi thanh, thiếu niên ! Thằng nhóc họa sĩ, tên Vũ, sau này đi Liên xô vung vít, lại là bạn của con tôi mới ghê. Radio, télé, báo đảng, báo đoàn… đánh tôi túi bụi. Mà tôi bận đổ phân, hót phân không biết gì cả. Nhưng tôi đã trúng số. Lồng cầu đảng ngừng ở 6 số 2-9-1981. Ngày mở nước đấy. Tôi có chút kỷ niệm Sa Ác. Về niên lịch. Chả là ông Phạm Thái Ất tỏ ra thuộc Sử và nhớ ngày tháng vanh vách, tôi mới dở trò “đố vui để chọc”.

– 19-3 là ngày gì ?

– Sinh nhật Hồ chủ tịch.

– 19-8 là ngày gì ?

– Tổng khởi nghĩa.

– 16-8 là ngày gì ?

Ông Phạm Thái Ất suy nghĩ một lát rồi đoán tầm bậy. Cuối cùng, ông ta chịu thua, hỏi tôi:

– Ngày gì ?

– Ngày này mà không biết thì chết rồi.

– Ngày gì ?

– Sinh nhật ông Vũ Mộng Long !

Bạn tù cười ầm. Tôi nói:

– Bây giờ hỏi đứng đắn. 7-7 là ngày gì ?

– Chí sĩ Ngô Đình Diệm về nước chấp chánh.

– 23-10 ?

– Trưng cầu dân ý truất phế Bảo Đại.

– 30-4 ?

– Mất nước.

– 8-4 ?

– Phật Đản.

– Nghĩ lại đi.

– Bụt sinh cá đẻ mà !

– Sai.

– Vậy 8-4 là ngày gì ?

– Ngày ông Vũ Mộng Long bị bắt bỏ tù ?

Bạn tù lại cười ầm. Ông Phạm Thái Ất khen tôi “hài hước” giỏi. Đó là kỷ niệm Sa Ác tôi sắp đem về nhà. Kỷ niệm Rừng Lá vỏn vẹn hai câu chuyện tiếu lâm nghe kể.

Chuyện thứ nhất

Đội nông nghiệp trồng khoai, trồng sắn, trồng ngô mãi cũng chán. Đất khai thác nhiều nó mệt, thu hoạch bết bát. Một tù nhân đề nghị quản giáo:

– Cán bộ ơi, tại sao mình không trồng xa lát.

Quản giáo:

– Sẽ nghiên cứu trồng Xa nát.

Tù nhân:

– Nếu trồng xa lát, mình nên trồng thêm cây bíp tếch cán bộ ạ !

Quản giáo:

– Sẽ nghiên cứu trồng nuôn cây bíp tếch một nượt !

Chuyện thứ hai

Kẻng báo ngủ đã điểm. Vệ binh đi tuần quanh nhà. Một tù nhân cao hứng:

– Ta thà làm quỷ nước Nam còn hơn làm vương đất Bắc.

Vệ binh nghe thấy, la hét:

– Anh nào vừa mới nói quỷ Nam, vua Bắc đấy ?

Im lặng. Vệ binh :

– Anh nào ? Quỷ Nam, vua Bắc, vua Nam, quỷ Bắc nà cái nghĩa ní gì ?

Im lặng. Vệ binh :

– Anh nào vừa nói ?

Im lặng. Vệ binh tức giận :

– Đội trưởng đâu ?

Đội trưởng :

– Có.

Vệ binh :

– Anh nào vưa nói ninh tinh náo nếu thế ?

Đội trưởng :

– Anh Trần Bình Trọng đấy, cán bộ ạ !

Vệ binh :

– Bảo anh Trần Bình Trọng sáng mai nàm kiểm điểm nộp cán bộ trực trại nhé !

Hai mẩu chuyện tiếu lâm lao cải trên, có thể là bịa đặt, có thể là không bịa đặt. Bịa đặt hay không bịa đặt thì cũng chỉ mục đích nói lên sự ngu dốt của cai tù, những ông thầy của trường học cải tạo xã hội chủ nghĩa. Ông Hồ Chí Minh nói : « Trồng cây mất 10 năm, trồng người phải mất 100 năm ». Những con người ông hồ chí minh và chủ nghĩa Cộng Sản của ông đã trồng từ năm 1950 là năm Cộng Sản Việt Nam quy định thành phần, giai cấp và thực sự chuyên chế ra sao ? Ba mươi năm trồng người, chủ nghĩa Cộng Sản và lãnh tụ vĩ đại của nó chỉ gặt được một thế hệ thanh niên ngu dốt đói khổ. Đói khổ nên môi thâm, người lùn tì. Ngu dốt nên ngọng nghịu đòi trồng cây bíp tếch và bắt Trần Bình Trọng viết tự kiểm. Người ta sẽ thù hận chủ nghĩa và lãnh tụ Cộng Sản hay thù hận những con người bị Cộng Sản và lãnh tụ làm cho đói khổ, ngu dốt ? Câu hỏi đặt ra cho lương tri những người chống Cộng Sản chân chính và cả bất chính nữa.

Với tôi, kỷ niệm lao cải như vậy ít quá, còn Những thứ sẽ mang về.

Mang về một chiếc mũ
Đã giãi nắng dầm mưa
Trầy vai câu chuyện cũ
Chảy máu sự nghiệp xưa

Mang về bộ quần áo
In dấu tù lem nhem
Z30 D, TH6
TCT, CTXM

Mang về đôi giày tã
Đế mòn vẹt đường dài
Băng rừng sâu núi cả
Đi hết kiếp lưu đày

Mang về chiếc lược nhôm
Bao nhiêu ngày mài dũa
Bao nhiêu là thương nhớ
Lược sẽ làm vui gương

Mang về thêm cái trâm
Gọt từ rễ giáng hương
Để em cài lên tóc
Và để tóc em thơm
 **

Và những thứ sẽ đem vào tác phẩm****. “Kiểm soát lại có khi còn thiếu sót”. Hẳn nhiên, thiếu sót rất nhiều. Nhưng mà tôi không đem nhà tù ra đời sống thì ngàn vạn thứ lẩm cẩm, vẩn vơ chẳng thèm nhớ, chẳng thiết đem về. Tôi có thể Giã từ đề lao rồi đấy.

Giã từ em nhé, đề lao
Giã từ lối hẹp dẫn vào xà lim
Giã từ em, giã từ em
Những ngày mòn vẹt những đêm vẹt mòn
Giã từ tay xích chân còng
Giã từ hồi kẻng úa lòng héo gan
Giã từ em, giã từ em
Tâm hồn song sắt trái tim cai tù
Giã từ củ sắn bắp ngô
Chén cơm Đại Mễ, bo bo sượng mày
Giã từ án phạt khổ sai
Gỡ bom, san núi, hạ cây, phá rừng
Giã từ cuốc xẻng đắp đường
Giã từ gánh nước đầy thùng oằn vai
Giã từ sước máu mây gai
Giã từ thù hận rạc rài đớn đau
Giã từ em nhé, đề lao
Giã từ tha thiết với bao chân tình
Mai anh làm chuyến viễn hành
Nhờ em nên mới trưởng thành biết chưa
Giã từ em, thế đã vừa
Sáu năm cuộc rượu say sưa tỉnh rồi
Anh về với đất với trời
Với hoa với lá với đời khác xưa
Anh về với nắng với mưa
Với cây với cỏ đong đưa tuyệt vời
Anh về ấm áp tình người
Buồm căng gió lạ trùng khơi dạt dào
Giã từ em nhé, đề lao
Cám ơn cay đắng nghẹn ngào em cho
 **

Ngày 11-9-1981 tôi cầm Giấy ra trại. Tôi đã cho nhân vật của tôi phát triển cảm tưởng của người trí thức bị cưỡng bách lao động ở trại tập trung. Bây giờ, tôi mượn cảm tưởng đó làm cảm tưởng của tôi. “Bài học thứ nhất của lao động dạy tôi cảm thông với người lao động, kính trọng họ và hiểu thấu giá trị của lao động chân tay. Dĩ nhiên, Cộng Sản đã không hề dạy tôi bất cứ điều nào trong nhà tù, ngoài trại tập trung. Họ chỉ dọa nạt, trừng phạt, dụ dỗ và bắt làm việc giống hệt bọn chủ nhân nô lệ hành xử quyền uy của mình. Bài học thứ hai của lao động tôi tự dạy tôi từ những giọt mồ hôi trí thức, còn dạy tôi niềm tự tin tuyệt vời: Tôi có thể làm được những công việc mà trước đây tôi tưởng không bao giờ tôi có thể làm được. Lao động đã thắp sáng kiến thức của tôi. Nó là dòng nước luân lưu đưa đẩy tư tưởng con người xuôi ngược. Nó làm long lanh trí tuệ, làm trong suốt tâm hồn, rạng ngời ý nghĩ. Trí thức của chúng ta cứ nằm trong tháp ngà, cứ trùm mền hưởng thụ, đâm ra lười biếng, sợ khó, sợ khổ. Nên, khi đụng vào nghịch cảnh của đời sống thì không dám đương đầu, thì ngớ ngẩn và hèn mọn. Với Cộng Sản, lao động là hình phạt trả thù chúng tôi. Nhưng, với tôi, lao động là một chương dài trong văn phạm của đời tôi”.

Vẫn mượn cảm tưởng ra trại, lần này của chú bé Vũ trong tác phẩm Đồi Fanta: “Không thèm quay lại, tôi nhìn thẳng, bước mạnh, bước nhanh về phía trước mặt. Dĩ vãng đau thương, tăm tối hay dĩ vãng huy hoàng rực rỡ thì cũng chỉ để hồi tưởng, ở một tuổi nào đó. Người già sống cho những ngày sắp tới. Người trẻ sống cho những ngày sẽ tới. Chẳng ai dại dột bám lấy quá khứ mà rên rỉ, tiếc nuối. Tương lai mới quyến rũ con người vì người ta không nhìn rõ tương lai, người ta mải mê tìm kiếm niềm bí ẩn của nó, niềm bí ẩn khôn cùng của đời sống chứa chan mời gọi. Tôi mang ý nghĩ đó về nhà.

Hàng khuynh diệp hai bên đường đã khá cao và xanh mướt. Con đường thẳng tắp, hun hút. Nắng sớm nhảy múa, reo vui trên lá cây. Gió đàn đong đưa tình tự. Con chim chích chòe nghệ sĩ véo von trên ngọn đỉnh cao điệu hát buồn rầu thơm ngát tiễn đưa. Tôi hít một hơi đẫy đà cái hương vị tự do của trời đất. Tâm hồn tôi dạt dào cảm xúc. Tôi đã trông thấy, sờ mó được những gì gọi là mơ hồ, trừu tượng. Tôi đã hiểu thế nào là hạnh phúc, thế nào là đau khổ. Cám ơn năm năm oan nghiệt của tôi. Tôi không cần hằn học với nó, rên xiết vì nó”.

Và, sau hết, cảm tưởng ra trại của cô Lan trong tác phẩm Sỏi đá ngậm ngùi: “Bước qua cổng trại, tay xách cái bị cói, đi một quãng, tôi nhìn lại hàng rào giây kẽm gai, nơi chị Nga đã chết treo tay trên đó. Giã từ ngục tù nhỏ, tôi vô ngục tù lớn. Gió sớm mát rượi. Tôi lững thững bước. Văng vẳng đâu đó những lời ca mượt mà theo nhạc đệm của muôn loài chim êm ái:

Tôi ca ngợi tôi
Ngụp giữa biển đời
Sóng gầm bão nổi
Tôi vẫn là tôi
Tôi vẫn là người…

Tôi mỉm cười. Dưới những tầng địa ngục, tôi đã lên đời chói lọi. Tôi vẫn là tôi. Tôi vẫn là người…”

* Khi về nhà tôi nhờ linh mục Chân Tín làm phép miếng đá cho tôi. Và tôi được cứu rỗi nhiều chuyến vượt biên thất bại. Rồi tôi thành công đều nhờ hưởng ân sủng của Đức Mẹ. Ở Pulau Bidong, lúc tôi chưa nhận tiền của vợ con, có người mua chiếc mề đay Đức Mẹ 500 đô la, tôi không bán. Đức Mẹ dẫn tôi đến linh mục Jean Mais và sư huynh Trần văn Nghiêm. Cả hai đều dịch sách cho tôi theo tinh thần tông đồ. Và sách của tôi Belfond xuất bản hết. Trước khi viết một cuốn sách mới, tôi đều thắp nến tạ ơn Đức Mẹ của tôi. Và tôi viết rất nhanh.

 

** Thơ tù, Nam Á – Paris, 1984

*** Đã đề cập ở Nhà Tù

**** Kinh nghiệm tù đầy của tôi được thể hiện ở Một người tên là Trần văn BáSỏi đá ngậm ngùiBầy sư tử lãng mạn, Đồi FantaMột tù binh Mỹ ở Việt Nam. 3 cuốn trên đã do Nam Á Paris xuất bản. 2 cuốn sau sẽ xuất bản ấn bản Việt ngữ cùng lượt với ấn bản Pháp ngữ.

 

Ivry sur Seine
1-8-1987