Trăng Suông

 

 

PHẦN 1

 

 

Chiếc xe đò Á Đông chạy vùn vụt trên đường Sài Gòn-Mỹ Tho. Phùng Xuân ngồi ghế bìa. Gió thổi phần phật. Chàng đang sung sướng nhìn ra đồng ruộng Tân An mênh mông cò bay thẳng cánh. Đã là tháng bảy rồi. Đồng lúa  xanh xanh mút mắt. Cuối chân trời, những đàn cò trắng bay thong thả và những đám chim lá rụng rập rờn lên xuống. Có những đoạn đường xe đò chạy

song song với đường xe lửa. Đột nhiên Xuân nhớ lại những chuyến xe lửa thú vị. Ngồi chỗ bậc thang lên xuống ở những toa hàng hóa, chàng mặc tình ngắm nhìn đồng ruộng, ca hát và suy nghĩ vẩn vơ mà hông bị quấy rầy… Nhưng bây giờ, xe lửa hổng còn chạy nữa. Năm ngoái (1958) là lần cuối cùng Xuân về Mỹ Tho bằng loại xe chạy cà xịch cà xịch tuôn mù mịt khói đó…

Cách đây hai ba tuần vừa có kết quả kỳ thi TúTài I, Xuân đã nhảy tưng tưng. Sau khi loang quanh ở SàiGòn thăm bè bạn cho đến hôm nay, Xuân mới xin phép Má về quê chơi trong vòng một tháng.

Xuân xuống xe ở Ngã Ba Tháp, rồi băng qua đường, đi xuống hồ Trúc Bạch. Nhà bà cô thứ Tám ẩn hiện sau lùm cây bên trái. Ông dượng, Sáu P…, người con út của ông Hội Đồng M…, sau khi phung phí hết tài sản vào những canh ỏ ( hình như là một loại bài làm những miếng gỗ nhỏ như là bài đô mi nô. Chỉ thấy lúc còn nhỏ. Hông sưu tầm được. ) thâu đêm suốt sáng, chỉ còn giữ lại được mười mẫu vườn dừa hương hỏa ở Châu Thới (cầu Ông Hổ). Thời chiến tranh- khoảng năm 1946-1954-, vùng Ba Châu còn là khu tự trị của Việt Minh. Sau khi làm giáo làng một thời gian, ông chán nản. Ông bỏ làng lên tỉnh, làm thư ký Tòa Án. Rồi bây giờ, quen nếp sống sáng xách xe đi chiều đạp xe về, ông ở lỳ lại tỉnh, bỏ mặc bà vợ bươn chải coi vườn tược ở làng.

Xuân bước vào nhà. Ông dượng đang ngật ngù ngồi trên ghế đẩu. Xị rượu đế với trái cốc còn độ nửa và mấy trái ớt hiểm để trên bàn. Ngày nào cũng vậy, chỉ cần bao nhiêu đó là ông có thể nhịn ăn cơm suốt ngày.

– Chào dượng

– Sao mậy? Học hành ra sao rồi?

– Dạ, con đậu Tú Tài I rồi. Có kết quả hôm tháng rồi.

– Giờ đi đâu đây?

– Dạ, con dìa quê chơi

– Bao lâu?

– Dạ, một tháng

– Đã hé!

Nói xong, ông tiếp tục gật gù bên ly rượu đế. Chàng đi xuống nhà dưới rộng thênh thang. Bà cô đang lui cui bên đống rau lang.

– Ngọc Thiền đâu rồi hả cô?

– Nó ở trong kia kìa, hổng biết đang làm gì ở trỏng.

Vừa lúc đó, Ngọc Thiền đi tới, mừng rỡ:

– Anh Ba. Anh vừa mới dìa hả? Thi đậu hông?

– Đậu rồi. Dìa quê chơi một tháng đây. Cha! Lúc rày Sáo Sậu coi bộ trổ mã rồi nghe.

Cô em gái, con thứ sáu của bà cô, tên thân mật Sáo Sậu, vội cười bẽn lẽn đỏ hồng đôi má. Ngọc Thiền, năm nay 15 tuổi, là con gái duy nhứt trong gia đình toàn anh trai nên được cưng chiều. Ngọc Thiền có đôi mắt u buồn, xa vời vợi. Chàng quay mặt đi chỗ khác.

– Thôi anh đi nghen.

– Đi đâu?

– Xuống cầu Cá Lóc, coi Khanh và Vân còn ở đó hông rồi dìa Lương Quới chơi.

– Chà! Coi bộ anh mết cô nào đây. Nói em nghe đi!

Xuân mỉm cười, nheo mắt nhìn Ngọc Thiền, bước ra khỏi nhà. Ánh nắng hơi nghiêng về chiều. Chàng đi dọc theo bờ hồ Trúc Bạch, băng qua mấy con đường vắng vẻ rồi hướng về cầu Cá Lóc. Ngôi nhà to lớn hoang tàn bên trái vẫn còn đó, nhắc chàng nhớ lại một thời học sinh ngắn ngủi ở Bến Tre và mối tình ngây thơ đẹp đẽ…

– Ê, Xuân. Mầy thấy con Điệp hông? Nó ngó mầy dữ lắm đó!

– Thiệt hôn? Mầy nổi tiếng xạo, đó Trường.

– Sao mầy biết tao xạo?

– Thì tin lời mầy đó. Hôm kia, mới vừa tan trường, tao thót lên xe dông theo nó. Qua khỏi cầu Cá Lóc, tao rề rề theo. Ban đầu, chắc nó tưởng bạn cùng trường tan học dìa. Tới Rạch Chanh, nó thấy lạ, nó quay đầu lại, nhìn thấy tao, nó đạp xe nước rút. Tao đeo theo, nhưng đường lổm chổm đá hông cặp song song với nó được. Vừa lên dốc cầu Gò Đoàn, tao dọt lên. “ Điệp ơi, Xuân có cái nầy”. Bất ngờ, nó xẹt qua trái. Tao lủi vào lề, may nhờ bụi lứt, nếu hông té xuống sình nhào vô đám ô rô. Nó hổng thèm ngó lại, quẹo trái vào đường bờ dừa, chạy miết. Mầy gạt tao hả? Đồ thằng quỉ sứ!

Bên trái dưới dốc cầu Gò Đoàn, dọc theo đường bờ dừa có những hàng cây điệp ( phượng vĩ ) đang nở rộ bông đỏ ngất cả bầu trời chiều….. Bông Điệp !!!……Và sau đó là những lá thư ngây ngô qua lại. Hồng Điệp rồi cũng hông còn qua mùa hè. Những dòng chữ, những hình ảnh trong “Lưu Bút Ngày Xanh” rồi cũng trôi vào không gian tít mù xa…

– Anh Ba. Anh dìa rồi hả?

– Thì dìa tới đây rồi, còn hỏi dìa rồi hả.Hai con nhỏ nầy!

– Em tưởng vậy mà?

– Em tưởng sao Khanh?

– Em sợ anh hông dìa.

– Bây giờ anh ở đây nè! Bộ nhớ anh sao?

– Đúng đó, anh Ba. Chị Sáu em hổm rày nhắc anh hoài. Anh thi đậu hôn?

– Con nhỏ Vân nầy lãng xẹt. Tao nhắc hồi nào mậy? Có mầy nhắc thì có.

– Anh thi đậu rồi. Khanh biết rồi mà! Thôi hai chị em đừng cãi nữa. Còn mấy người kia đâu hết rồi?

– Vậy hả anh Ba? Vui quá hé! Tụi nó hẻ? Chưa kịp hết lớp hè là  lo dông trước rồi. Anh Tân, con Bích dọt lúc trưa. Còn Thủy, Ái, mới vừa ra khỏi nhà chừng chút xíu thì anh dìa.

– Còn hai em? Sao chần chờ ở đây?

– Chỉ đợi anh đó, anh Ba. Cứ lo miết vụ anh đi thi. Hồi sáng chỉ nói bữa nay thế nào anh cũng dìa. Em hối chỉ lo dọn đồ đạc. Chỉ nói thủng thỉnh mà!

– Con nhỏ Vân nầy! Mầy lợi xạo nữa rồi.

Xuân trìu mến nhìn Khanh. Nàng đỏ má và đôi mắt long lanh. Các cô gái miệt vườn kẹp tóc dài, làn da trắng, thon thả trong bộ áo bà ba, ăn nói thật ngây thơ, hồn nhiên.

– Có gì cho anh ăn hông?

– Tụi em hết tép kho rồi. Chỉ còn gạo thôi!

Chàng biết nhóm học trò miệt vườn lên tỉnh học nầy. Mỗi tuần họ về nhà cụ bị tép rang kho nước cốt dừa với dừa cứng cạy, mắm ruốc xào hoặc thịt ba rọi kho khô… Buổi sáng, thức dậy nấu nồi cơm, ăn cho sáng, trưa, chiều với chừng ấy thức ăn trong suốt tuần. Rau ráng thì mua ở chợ, nhưng ít khi có món canh…

Sau năm 1954, khi Việt Minh( dân miền Nam vẫn còn gọi là Việt Minh ) tập kết về miền Bắc, miền Nam trở nên thật yên bình. Nhà nhà lo vun đắp lại mảnh vườn bị tàn phá và bắt đầu cho con cái đi học. Giống như các bạn cùng trang lứa, hông được học hành đến nơi đến chốn trong thời chiến tranh, nên Khanh và Vân đã 18 và 17 tuổi mà mới học đến lớp đệ lục và đệ ngũ. Những năm đó, hông hiểu sao, làng Lương Quới chỉ có trường bậc Tiểu Học. Những làng lớn hơn, nằm dọc theo tỉnh lộ nối liền Bến Tre và quận Ba Tri như Mỹ Lồng (Mỹ Thạnh)…, đôi khi có đến lớp đệ thất, lục, ngũ. Ở Châu Thới cũng có một trường Trung Học Đệ Nhứt Cấp tư, nên học sinh vùng Ba Châu ít khi lên tỉnh học. Phần nhiều do giáo sư ở chiến khu về dạy. Họ hông giỏi, nên cha mẹ thường cố gắng cho con cái lên tỉnh.

Bốn năm gia đình hoặc đông hơn mướn một miếng đất rồi cất một căn nhà dài dọc theo bờ dừa để cho con cái có chỗ ở đi học, thường ở khu Lò Gạch. Chung quanh nhà chỉ đóng ván sơ sài. Đám con trai ngủ trên bộ ván ngựa dài ở phần trước, giăng mỗi đứa một cái mùng vào ban đêm. Phần sau, kê hai ba cái giường dành cho đám con gái. Phần bên hông là bếp nấu ăn và một cái bàn. Sau căn nhà là sàn nước. Cuối góc phải nhà là cái buồng tắm vừng sơ sịa bằng lá chầm. Đám con trai có bao giờ tắm trong buồng tắm đâu. Tụi nó dùng gàu đan bằng lá dừa nước, múc nước từ trong lu hoặc nước dưới mương dừa- khi nước lớn- xối ào ào…

– Hay là hai em đãi anh một bữa chè nghen! Được hôn anh Ba? Nhưng em phải đi mua thêm đường, dừa, bột khoai. Chị Sáu ở nhà nấu đậu xanh cho nhừ, chờ em dìa, nhen.

– Ờ hé!! Ngon à nghen, Vân. Chè đó ở thành phố họ gọi là chè thưng, có phải hôn? Mà anh phải đi tắm cái đã.

– Nước đang lớn đó anh Ba. Nếu anh sợ tắm nước mương dừa thì anh tắm nước trong lu đã lóng phèn sẳn. Chị Sáu biểu em lóng nước để cho anh dìa tắm đó!

– Mầy nghen mậy. Con nhỏ lí lắc, xí xọn! Đi đi mầy….

Xuân quay lại nhìn Khanh. Cô nàng bẽn lẽn bỏ đi một nước vào trong buồng. Xuân, Khanh, Vân quen nhau từ lúc nhỏ. Tụi nó thường cút bắt từ bờ dừa nầy sang bờ dừa khác trong những đêm trăng rằm vào những ngày mùa hè, dưới gốc xoài, ổi, mận, sa bô chê. Đám con nít trầm nghịch trong xẻo mương dừa từ lúc nước nhửng lớn cho đến nước ròng. Môi đứa nào đứa đó đen thâm sì. Bờ môi bám đầy bùn non như có râu. Chúng nó nắn tu na với đủ thứ con nhưng mà nhiều nhứt là con trâu.Xong rồi đi bắt kiến dương ở những gốc ô môi đem về gắn vào bốn chân trâu. Trâu đất, kiến dương đi nghễng nga nghễng ngãng. Cả bọn xúm xa xúm xí. Có hôm Xuân dụ Khanh bắt ổ ong dúi ( loại ong nhỏ thường đóng ổ trong hang bọng chung quanh nhà, hông cắn, chích nhưng hay bu kín người ). Cô nàng ngây thơ nên bị ong bu đầy tóc. Mật ong dúi thơm nồng ngọt ngào. Rồi vào những cơn mưa dầm tháng tám, lũ nhóc dầm mưa chơi rồng rắn cho đến tạnh ráo. Ai nấy môi tím ngắt lạnh run cầm cập. Hồi đó cả bọn đều tắm truồng…

Cho đến một hôm, tự nhiên bọn con gái mặc nguyên bộ đồ bà ba nhảy ùm xuống sông. Đám con trai thấy mắc cỡ nên cũng mặc quần xà lỏn. Nhưng mà bây giờ, tụi nó có vẻ dè chừng hơn thành ra hổng còn hứng thú nữa. Lúc trước hả? Tạt nước, nhào vô, xáp lá cà, ôm nhau vật đả đời mà có gì đâu? Bây giờ Xuân a lát sô đến con nhỏ nào, tụi nó đều né…

Một buổi trưa hè. Nước nhửng lớn. Cả bọn đang hò hét, móc bùn táng nhau ở đầu con rạch nhỏ. Đột nhiên đám nhỏ la lên ….

– Anh Ba! Anh Ba! Ma da! Ma da! Con Khanh bị ma da níu!

Xuân bơi sải đến, nắm chùm tóc Khanh vật vờ trên mặt nước. Khanh quíu tay ôm chặt vào người thằng con trai. Hai đứa chìm nghỉm, đụng đáy rạch. Xuân đạp mạnh một cái, trồi lên. Nó may mắn quơ tay nắm được bụi dây chại, kéo hai đứa vào bờ và lủi vào đám mái dầm. Xuân thở khì khò, còn Khanh cà ngáp. Hông hiểu cô nàng đã uống bao nhiêu ngụm nước mà còn nằm im thin thít. Mặt xanh như tàu lá chuối. Hàng nút bóp của áo bà ba trắng ngã phèn cũ kỹ bị bung toành hoành từ trên xuống tới dưới gần bụng. Ngực trần trắng nuột lộ ra chập chờn! Đôi vú như hai cái mộng dừa non nhu nhú nhỏ cứng ngắc căng tròn tròn nhòn nhọn, có hai núm hồng hồng. Mái tóc dài cùng vạt áo lượn lờ trong đợt nước chập chùng… Nó cảm thấy hơi ấm từ người Khanh hòa vào ngực nó. Một luồng hơi nóng rừng rực chạy cùng khắp người. Nó ngạc nhiên, hơi ngơ ngơ ngác ngác. Lần đầu tiên, nó nhìn thấy hai cái vú của người con gái… Nó đắm đuối nhìn vào đôi má bầu bĩnh sũng nước… Tự nhiên nó cúi đầu xuống. Khanh mở mắt trân trân nhìn nó. Nó nhanh chóng hun lên má cô ta một cái. Khanh hứ nhẹ một cái cóc, đẩy Xuân ra rồi lật đật cài nút áo lại…

Và bây giờ Xuân hun một cái nữa, nhưng lần nầy lâu hơn như uống một hơi nước dừa xiêm ngọt mát rượi.

– Hồi trước, nhờ ma da kéo, em hụt chưn nên anh mới hun được em có chút xíu. Bây giờ hun lâu lâu hơn.

– Xí! Coi chừng Vân nó sắp dìa rồi đó anh!

Phùng Xuân chưa chịu buông Khanh ra, còn muốn tận hưởng mùi dầu dừa bông chúa ( Ylang Ylang ) ngay ngáy ủ trong mái tóc óng ả dài thậm thượt. Và mùi sả, bông bưởi hay bông chúa thoang thoảng lan ra khắp trong  người Khanh.

Con gái miệt vườn thường nấu nước sả, bông bưởi, để tắm hoặc sang hơn tụi nó mua một xâu bông lài bỏ vào ấm nước sôi, xong rồi cất đó, khi nào tắm pha vào nước lạnh. Bông lài thì ở chợ BếnTre ngày nào hổng có. Mỹ Lồng có mấy mẫu trồng bông lài bán cho những người ướp trà ở BếnTre. Bông lài thường hái vào buổi chiều, lúc còn búp và để sáng hôm sau thì nở ra thơm ngát. Hoặc hông kiếm được bông, tụi nó liều bỏ tiền mua một cục xà bông Cô Ba. Sau năm 1954, có được cục xà bông Cô Ba của hãng xà bông Trương Văn Bền là nhứt. Bọn con trai ít khi tắm được xà bông Cô Ba. Tụi nó chỉ được tắm với cục xà bông đá nhỏ, cắt từ khúc xà bông lớn dài độ gang rưởi tay. Ở thành thị dân dùng xà bông để giặt quần áo. Còn ở quê hả? Toàn xài nước tro bếp lóng trong diệm hoặc lu bể để ở bên hông nhà… Xong xả lại bằng nước lóng phèn, có ngâm thêm vài miếng giấy lơ ( Lơ có thể từ tiếng bleu của Pháp ) cho màu xanh dương để vải có màu trắng  đẹp.

– Em trông anh nhiều dữ lắm hả?

– Mấy hôm rày em ngủ chập chờn, nhớ anh nhiều. Hổng hiểu có chuyện gì hôn mà Tía nhắn dìa gấp. Em còn nấn ná chờ anh.

– Thì mơi dìa cũng được mà. Mấy khi mình có được như vầy, hở em? …

– Coi chừng Vân đó anh à! Con nhỏ quỉ đó hả, nó thóc mách lắm. Sợ nó mét tía má là bị đòn tét đít luôn!!…

– Xí! Nhát như thỏ đế!

Trăng đầu tháng hông còn ở phía tây. Ánh sao mờ nhạt xuyên qua những tàu lá dừa lắc lư theo cơn gió nhẹ. Khanh nằm gối đầu lên ngực Xuân. Nàng đã dâng hiến trọn vẹn cho người tình. Tóc Khanh xõa dài chập chờn như dòng suối đang chảy. Và hơi thở cô gái đều đặn trong niềm hoan lạc vừa qua. Xuân nếm được mật ngọt trái cấm đầu đời của thằng con trai mới lớn lên, lâng lâng như người say rượu, bồng bềnh như ở giữa dòng sông mông mênh… Ở cuối góc nhà, có tiếng vạt giường kêu răng rắc, cót két… Vân đang trở mình?

Sáng hôm sau, ba người đạp xe về Lương Quới. Qua khỏi cầu Gò Đàng là vùng đất giồng. Tỉnh lộ nối liền Bến Tre-Ba Tri ( Tỉnh Lộ 885), chạy qua nhiều vùng nỗng đất cát kêu là giồng: như Giồng Khương (LươngQuới), Giồng Trôm, Giồng Tre (Cái Bông)… Đám ruộng bên trái xanh rờn. Vài cây thốt nốt  lẻ loi vươn lên trong nắng sớm. Nhiều đám dúi xanh um tùm ở khuất tận ngõ vào xóm. Có thể Lê Thương đã từng ở nơi đây để viết ca khúc Hòn Vọng Phu chớ không phải phía bên kia cầu Chẹt Sậy về phía Mỹ Lồng, vì vùng đất giồng bên đây đầy vẻ thơ mộng, có đường tỉnh lộ chạy sát bờ sông. Vùng đất vườn bên kia âm u nhiều muỗi mòng.

Cầu Chẹt Sậy- hay cầu Kinh-  bắc ngang qua con kinh Chẹt Sậy (Giao Hòa) nối liền sông Bến Tre và sông Ba Lai với những nhịp sắt yếu ớt. Cầu bị phá nhiều lần trong thời chiến tranh chống Pháp. Việt Minh  lợi dụng lúc nước ròng xuống về đêm thả bè dừa làm sập cầu. Những lần như thế, người ta  phải dùng bắc để qua lại. Hồi nhỏ, Xuân sợ đi bộ ngang qua cầu vì cầu cao trông có vẻ lêu khêu, chênh vênh, mà ván lót ngang quá mỏng và thưa. Nó bước từng bước một, nhìn dòng nước kinh chảy xiết. Cầu yếu lắm. Hành khách phải xuống xe đò, đi bộ qua cầu. Còn đi xe ngựa, cũng phải xuống đi bộ vì dốc cầu cao, ngựa hông kéo lên nổi.

Ba đứa xuống xe đạp, lửng thửng bước qua cầu. Ánh nắng ban mai rọi xuống dòng nước chảy cuồn cuộn ở ngã ba kinh chập chờn bàng bạc. Những đám lục bình hông trôi được, xoay tròn như bông vụ nơi búng nước. Màu đỏ của lò gạch nơi ngã ba sông hừng hực trong nắng ban mai. Gió thổi mạnh. Gió của tháng bảy: gió nồm hướng tây nam bung hai mái tóc huyền. Từng sợi, từng sợi tóc lượn lờ như những tơ nhện mờ ảo trong nắng sớm. Bốn ống quần đen của Khanh và Vân kêu phành phạch. Bữa nay hai đứa hông mặc áo dài trắng, chớ hông thì bốn tà áo thi nhau tung tăng trong gió. Hai cô nàng phải lấy nón lá xuống, úp ngang trên ngực. Khanh bước đi vẻ chậm chạp, nhìn dòng nước đục ngầu tuôn ra ngã ba kinh….. Xuân và Vân thả xe xuống dốc cầu trước, đúng đợi Khanh.

– Anh Ba. Mình có ghé Mỹ Lồng hông?

– Hông. Chắc mấy thằng bạn của anh giờ nầy hổng có ở nhà đâu. Tụi nó dông đi chơi hết rồi. Có con Tuyết em thằng Thông là có ở nhà. Còn Trường phải phụ ba nó sửa xe đạp. Tiệm ba nó có nhiều xe đạp cho mướn lắm: xe người lớn và xe con nít. Nên nó phải sửa hoài. Còn thằng Đáng ở tuốt trong Phong Nẩm lận. Ờ quên, tự nãy giờ nói chuyện mấy thằng bạn của anh mà quên hỏi thăm anh Năm Lân của em.

– Anh Năm em hả? Hè nầy ảnh hổng có dìa.

– Sao vậy?

– Ảnh mắc dự lớp bổ túc cho giáo viên. Hơn nữa, ảnh dạy bên Mõ Cày rồi cưới vợ ở bển, nên ở luôn bên vợ, ít khi về thăm Tía Má lắm.

Năm Lân học sau Xuân. Đậu bằng Trung Học Đệ Nhứt Cấp, Năm Lân thi vào Giáo viên cộng đồng, học một năm ra làm giáo viên cấp Tiểu Học, về dạy ở Mõ Cày.

Khanh chầm chậm bước xuống dốc cầu, nghĩ ngợi mông lung đến hạnh phúc đầu tiên đêm hôm qua… Cảm giác nhiều lần ái ân còn ngần ngật.“ Hổng hiểu Tía kêu về nhà gấp gáp có chuyện gì. Bình thường Tía đâu có làm như vậy?”

Mỹ Lồng – tên tục của làng Mỹ Thạnh- nằm kế bên dòng sông Bến Tre, là vùng gò cát pha đất màu đo đỏ, có những vườn lài cung cấp bông cho những nhà ướp trà ở Bến Tre và đôi khi ở Sài Gòn. Nhà lồng chợ rộng và đẹp đẽ, nằm sát bờ sông. Hai bên là hai dãy phố gạch. Buôn bán nhộn nhịp.

Vào khoảng năm 1947- 48, cả đoàn ghe thoát khỏi vùng Tây ruồng bố ở Lương Phú, bên kia bờ sông Bến Tre… Chợ Sữa là một địa danh mù mờ trong trí nhớ của Xuân, ở đâu bên Tân Hưng hay Châu Hưng gì đó, bên bờ sông Hàm Luông? Phải bơi ghe qua mấy vàm sông rộng mênh mông. Ở đó, buổi sáng người đông nườm nượp. Lần đầu tiên, nó ăn tô hủ tiếu thơm ngào ngạt, có mấy lát thịt, hai ba miếng gan và một khúc phèo sừng sựt, beo béo.

– Lấy tín phiếu hay lấy tiền ngoài, chú Năm?

– Tiền gì cũng được, chị Bảy. Mà chị có tiền ngoài hôn? Tiền ngoài thì ba đồng, còn tín phiếu thì năm đồng. Đừng cho mấy ổng thấy.

Và đoàn ghe của nhóm người chạy trốn, trong đó có ghe gia đình Xuân, đã tấp vào Mỹ Lồng.

– Con ăn cà rem hông?

– Cà rem là gì hở má?

– Cái thằng nầy! Cà rem là cà rem chớ cái gì mà phải hỏi. Con lấy cây ba cắc, có đậu xanh.

– Í! Trời ơi! Sao nó bốc khói dữ quá vầy nè má?

– Con đừng có thổi. Con thổi nó tan hết bây giờ.

– Má ơi, ngon quá má. Khi dề Lương Quới, má mua cho con ít cây, gói trong lá chuối, để dành ăn nghen má.

– Anh Ba! Làm gì đứng thừ người vậy?

– À! Nhớ chuyện cây cà rem và tô hủ tiếu.

Bọn họ đạp xe ra khỏi Mỹ Lồng là đến Mã Đá, rồi tới ngã ba Lương Hòa. Trước mặt, hai bên đường, những cánh đồng lúa xanh có sao chơm chớp trong nắng trưa. Vùng Đồng Gò, Đìa Đôi, Trường Gà- chạy dài đến cầu Đúc Lương Quới. Hàng me tơ hai bên đường đang trổ bông…

– Khanh! Em còn nhớ hông?

– Nhớ chuyện gì anh?

– À! Cái vụ thằng Rong nó hái me cho tụi em mà hổng có đứa nào dám tới lấy hết đó mà! Anh nhớ thằng Rong hôm đó nó mặc cái quần sọt rộng rinh.

– Ờ hé! Đồ quỉ anh à! Cứ nhắc chuyện đó hoài. Em nhớ chớ sao hông. Con Lan rắn mắc. Nó tới lấy, bụm hai tay nhìn lên để hứng me. Bất ngờ nó quay chạy ra còn la lớn: “ Tụi bây ơi, tới chỗ anh Rong lấy me. Ảnh có chùm chùm vậy đó! ”Tụi em ùa tới. Cả đám ngước lên bụm tay. Đứa nào đứa nấy đỏ mặt ù té chạy…

– Tụi em thấy gì, sợ mà bỏ chạy ghê vậy?

Khanh lấy tay đấm thùm thụp lên lưng Xuân… Đồ quỉ!… Hai tiếng: Đồ quỉ vang vang trong buổi trưa vắng lặng…

Lúa xanh ngầy ngật trong ban trưa nổ đầy sao nắng. Từng đàn cò trắng lập lờn trên  đám ruộng. Hai bên đường những đàn chim áo dà nâu tím, chim sắc ( cùng một loại với áo dà nhưng màu xám pha sọc đen ) tíu tít trong những bụi bông cỏ. Con bù cắt ( Chim săn mồi bay đứng một chỗ rất lâu ) lẻ loi trong nắng chói chang, chăm hẳm tìm mồi. Và con đường chạy dài tới Cầu Đúc Lương Quới ngun ngút, đượm ảo nước từ xa xa ngút ngoắt. Nắng nổ đom đóm. Cánh đồng ruộng xanh với đám công cấy vang tiếng hò hông còn nữa. Ôi! Cả khung trời kỷ niệm xa lắc xa lơ nay còn đâu?

Khi tụi nó còn học ở trường Trung học Tư Thục Mỹ Lồng, trưa nào cũng tụm năm tụm bảy dưới những gốc cây me. Mùa me đơm lá non, xanh màu đọt chuối, cả con đường trở nên dịu mát. Bầu trời cũng dường như bớt oi ả. Lá me non chua lè nếu mình nhai ngốn ngáo trong miệng; nhưng vị chua trở nên ngọt ngào hơn với nồi canh chua lươn, bắp chuối, lá me; hay canh chua cá chốt, lá me… Bông me nho nhỏ, trăng trắng, tim tím ở đầu, phủ nhút nhít đầy cây, ít khi trông thấy được lá, biến hàng me dọc đường như những giỏ bông treo lơ lửng trời xanh. Bông me ăn cũng chua chua, chan chát. Tháng mười một là mùa me non, có nhiều gió chướng ( gió mùa Đông Bắc ). Me non dễ bắt với cơm nguội và tép rang nước dừa: béo, chua, mặn. Nhưng mùa nầy rủ bọn con gái hơi khó vì khi trở về, gió bấc thổi mạnh, bật tung hai vạt áo dài ra sau và quần đen làm lồ lộ… Tụi nó hông chịu đi, chỉ ới :“ Đem về cho tụi tui ăn ví ”. Thế là xong.

Tháng hai, tháng ba rủ là tụi nó đi liền: Mùa me dốt và chín. Hơn nữa hông còn  gió chướng, nhưng nắng nổ đom đóm. Me dốt chua chua ngòn ngọt xôm xốp. Nếu nhai luôn nguyên hột có thêm vị chan chát đăng đắng. Vừa để me dốt vào miệng là nước miếng trào ra. Nhai từ từ, sẽ thưởng thức được hương vị tuyệt vời của me dốt trộn lẫn trong nước miếng. Ăn riết rồi phát ngây, ê răng hồi nào hổng biết. Mà phải me dốt thực sự chớ còn dôn dốt thì hông bằng, vì me dôn dốt còn chua nhiều và khó lột vỏ. Me chín thì ăn hông đã miệng vì cơm chín mềm mụp, chua lét lại còn phải lừa bỏ hột. Ít khi tìm được me đậu phọng có cơm chín ngọt…

Chợ Lương Quới- hồi xưa còn gọi là chợ Bàu Sấu- là một ngôi chợ nhỏ, nằm sát đường Bến Tre-Ba Tri. Nhà lồng cao, chỉ có mái che còn hai bên trống hoang hoác. Một vài ba cái sạp nhỏ xíu nằm rải rác.

Ông già mù ở cái sạp cuối nhà lồng. Mắt ổng mở trao tráo. Tròng mắt hơi đo đỏ, hông đen. Vậy mà ổng hông thấy đường. Ổng mặc một cái áo rách bươm, rệu rã, coi bộ xơ rơ xác rác, hông đủ che thân mình mà còn làm lộ rõ cái quần xà lỏn sười lai cũ kỹ. Tóc tai bùm sùm vì lâu ngày hông hớt. Ngày hai bữa, Xuân đem cơm cho ổng trong cái diệm nhỏ. Sáng sớm ổng lẩn đi đâu mất vì chợ nhóm từ gà gáy. Chợ tan lúc mặt trời vừa ngang tầm là có ổng. Hể ổng cần đái ỉa là kêu: Xuân ơi. Khi nào nước lớn ngoài đầu cống bên mặt chợ, nó dẫn ổng đi tắm.

Hổng hiểu ổng từ đâu tới. Một buổi chiều, nó đi bắn chim về thì ổng đã có ở nhà lồng chợ rồi. Mấy ngày đầu tiên, nó thấy ông già mù ăn toàn là xôi. Vì ổng có mình ên, nên nó chạy vào xin với Má cho ổng ngày hai bữa cơm. Mà cơm thì cũng hổng có gì ngoài cá kho, cá chiên, mắm kho, tép rang nước dừa đựng trong cái diệm nhỏ… Thỉnh thoảng mới có một bữa cơm với thịt ba rọi kho dừa cứng cạy.

Bọn Xuân thường ngày chơi tạc giấy, đánh trỏng, đánh cờ chó, bắn bi ở nhà lồng chợ. Còn bọn con gái thì nhảy cò cò, đánh đũa. Đôi lúc cả bọn chơi cút bắt hay rồng rắn, hay bắt con quít tàu, chuồn chuồn buộc miếng giấy nhỏ thả lên làm máy bay. Trong đám có Tuyết, con của anh Mười Điển. Nó gọi Xuân bằng chú mà bằng tuổi Xuân, hay nhõng nhẽo với chú dàng trời đất. Sau nầy nó mới biết anh Mười Điển, to lớn dềnh dàng, bà con họ đâu xa lắm. Ba Má Xuân gặp ảnh ở Chợ Sữa trong lúc chạy Tây ruồng…. Rồi còn có con Mận- con anh Tư Chúc- cháu nội của bác Năm Học, cùng tuổi nó, lúc nào cũng kêu Xuân bằng chú Ba ngọt ngào. Lại còn con Lan, con anh Hai Nhung, mắc bịnh Cam Tích, có cái bụng chong bóc, nổi gân xanh lè. Rồi còn thằng Si ghẻ, mình mẫy nó lúc nào cũng đầy ghẻ hòm. Xuân thấy má nó lấy trái mù u, nướng trên ngọn đèn cháy sèo sèo cho chảy dầu ra, xong lấy dầu trét lên mấy mụt ghẻ. Mỗi lần bả làm như thế là nó khóc ré, té đái chết điếng vì bả phải tắm nó rồi gở mấy cái mày ghẻ đầy mủ xanh nhầy nhụa trên khắp mình nó.

Anh em Xuân tối ngày chơi ngoài nhà lồng chợ. Có thằng Bon Nhỏ mới 14 tuổi mà đã lấy vợ 16 tuổi. Một hai năm về trước, khi gặp nó, còn thấy hai lỗ mũi có hai cục cứt mũi xanh lè chảy dài lòng thòng lểnh thểnh. Ba nó –ông Chín Kiến- chỉ có thằng con trai một, nên cần con dâu về nhà lo phụ công việc. Cái thằng ghê thiệt! Bọn Xuân nói mầy còn chút xíu, biết cái gì mà lấy vợ. Mầy có dám cổi truồng đi về nhà hông? Nó cổi thiệt, trùm quần lên đầu để hai sợi lưng quần tòn teng, đi ngỗng nga ngỗng nghễn. Cu nó còn nằm nóp và mới có vài sợi lông măng lơ thơ. Chắc thế nào về nhà vợ cũng nhằn cho một trận! Ấy vậy mà năm sau nó có đứa con trai kháu khỉnh. Nó giúp Xuân rất nhiều việc: dẫn ông già mù đi đái ỉa khi hông có Xuân, đội diệm mạch nha lên đầu lúc anh em nó đi bán. Mà bán mạch nha khi nào cũng lỗ vì mỗi đứa chấm mút một ít hoặc đôi khi sút tay rớt bể diệm. Bà Ba Đầm- má Xuân – làm mạch nha rất ngon. Nó hông ngọt nhiều, có vị ngòn ngọt, thơm, dèo dẽo. Mạch nha làm từ mộng lúa và nếp. Mà tụi thằng Xuân đi bán mạch nha có đi một đứa đâu; đi cả đàn cả lũ: anh em Xuân, thằng Bon Nhỏ, thằng Sết, con Bi, con Mận… Khi bán, thằng Xuân vít mạch nha bằng chiếc đũa, quệt vào bánh phồng nướng hoặc lá chuối, thế nào nó cũng chừa lại một ít; thế là cả bọn thay phiên nhau chấm mút chùn chụt. Ôi! sao nó ngon làm sảo làm sao! Nhà thằng Xuân có khi nào có đường ngon đâu. Đường thùng thì dùng ướp mắm lóc, mắm sặc đem bán ngoài chợ. Bà Ba thỉnh thoảng mới mua một vài cục đường tán, hoặc vài miếng đường thẻ. Đường cát vàng hoặc đường cát mỡ gà thì bà Ba Đầm dùng để làm mứt. Bả cất rất kỹ hai loại đường nầy. Đứa nào lớ quớ thì ăn bánh tét nhưn mây ngay. Xuân có nghe loáng thoáng Bà Ba Đầm nhắc đến đường phèn, đường phổi gì đó. Bả nói ngọt và ngon như kẹo vậy, nhưng có bao giờ nó nhìn thấy…

Ở cái thời chiến tranh trước năm 1954, dân khu chợ là dân hàng hai, cũng giống như ban hội tề. Ban ngày theo “Tây”, ban đêm theo Việt Minh. Đồn đóng sau dãy nhà bên hông chợ, trên nền đất của ông Quan Năm. Về những năm gần đình chiến sau nầy, đồn dời về ngay ngã ba Lương Quới, đối diện với nhà chú Hai Đấu cho mướn xe đạp. Lính trong đồn mà có rục rịch gì là dân xóm trong biết liền. Trái lại lâu lâu, dân xóm ngoài cũng có người bị Việt Minh giết, thả trôi sông. Thằng chỏng có nhiều khi nằm chình ình bên rạch trước đồn ông Quan Năm.

Thường thường, đêm nào mà sắp sửa có đánh đồn- nói là đánh chớ ít khi nào Việt Minh đánh bứt đồn Lương Quới, chỉ là  du kích về chọc phá chơi- thì tối đêm hôm đó nhà Xuân biết trước. Má lo gom góp một ít đồ và gói đầu máy may hiệu Brother vào bọc vải rồi âm thầm dắt đàn con chạy tuốt vào xóm trong cho đến một hai hôm sau mới về. Có lần du kích về ban ngày. Xuân thấy họ đi ngờ ngờ trong xóm. Anh Hai Thẹo cho nó đeo thử cây mút “Ăng-Lê”( ?) làm nó khoái chí tử. Và Xuân cũng thấy anh Năm Nhiên  đứng giữa ngã ba đường, bên cây me còng, ôm cây FM, cười hể hả với những người qua lại. Người ta nói ảnh  là bộ đội của Ông Cống( ?)(Đồng Văn Cống)

Bà Ba Đầm được Bà Nội thằng Phùng Xuân giao cho căn nhà ngoài chợ Lương Quới. Thời chiến tranh bả bán sạch trơn mấy mẫu vườn bên ngoại Xuân chia cho, lo nuôi đàn con để ông chồng rảnh rang đi kháng chiến chống Pháp. Sau năm 1954, Ông Ba hông trở về. Bà Ba Đầm với hai bàn tay trắng, buôn gánh bán bưng đủ thứ: bán mắm, bán bánh bông lan, bánh men nước dừa, mạch nha… để nuôi đàn con năm đứa. Xuân cũng hông hiểu từ đâu mà lâu lâu Bà Ba có được một thùng bơ nước lỏng le, một thùng sữa bột hoặc một thùng dầu bông cải. Những ngày đó là những ngày huy hoàng: cơm chiên bơ ăn với nước mắm… Hông hơn một năm, bà cô sáu từ bưng trở về, lấy căn nhà ngoài chợ. Mẹ con lại đùm túm dọn về ở một mẫu đất ruộng ngoài giồng. Từ đó thằng Xuân xa hẳn ông già mù …

Sau Hiệp định Geneve 1954, ở làng Lương Quới, một số người theo kháng chiến chống Pháp tập kết ra Bắc, một số hông tập kết ở lại sinh sống yên ổn: như chú Sáu Đâu, Mười Tương… May mà thằng Xuân hông đi theo anh Tám Khước, con bác Tư Bơ đi tập kết vì bà nội hổng cho đi, lấy lý do thằng Phùng Xuân là cháu lớn nhứt của tao. Ngay cả những gia đình có con, có chồng tập kết đều làm ăn bình thường như thằng Khởi con anh Mười Điển; chồng chị Sáu Biên; chồng chị Ba Kha… Làng xã chẳng thấy ai thắc mắc gì về họ. Họ hông bị bắt bớ, tra hỏi, hay bị làm khó dễ trong mọi việc. Nói nào ngay, tất cả đều có dây mơ rễ má với nhau cả: hông bà con xa thì cũng họ hàng gần, hay sui gia. Thì bây giờ tất cả đều chí thú làm ăn có gì đâu???

Dân làng Lương Quới sống thật an lành sau năm 1954. Thỉnh thoảng có gánh hát đến đóng tại chợ, đôi khi lâu nửa tháng. Mỗi buổi chiều tiếng trống thì thùng vang lên làm ai cũng náo nức. Tuồng gì đêm nay? Hay hôn chị Ba? Đám đàn bà, con gái, trẻ con thì có vẻ mê hơn. Đàn ông, thanh niên ít bàn tán: một lớp lo giỗ quảy, tiệc tùng, nhậu nhẹt. Cánh đàn ông sồn sồn lo tán mấy bà lỡ thời sau kháng chiến trở về…

Vào mùa hè, có đội chiếu bóng hông biết từ đâu về, căng màn giữa chợ, bắc loa kêu gọi ầm trời. Hai phim thường chiếu là: Ánh Sáng Miền Nam và Chúng Tôi Muốn Sống. Và sau đó là các phim về vệ sinh của gia đình bác Tám: phải rửa tay trước khi ăn… ;  phải đào lỗ chôn khi đi ỉa ngoài đồng, trong rẫy bắp… ; vi trùng sốt rét chui vào trong người như thế nào: qua con muỗi nên phải lắp cống rảnh … Chỉ có dân xóm chợ thường hay coi chiếu bóng, còn dân vườn ở xóm trong ít khi coi, vì lúc nào cũng có bao nhiêu đó thôi, hông có gì mới lạ. Những dịp chiếu bóng, gánh hát bội, đoàn hát cải lương đến là con nít đều khoái: chạy nhảy vui chơi, năm mười, rồng rắn.

Đặc biệt là gánh Sơn Đông Mại Võ. Họ vừa bán các thứ thuốc cao đơn hườn tán, cảm mạo thương hàn, thuốc trị đau nhức răng, thuốc sán lải…… Mỗi lần bán một thứ thuốc là một tràng trống tùng tùng nổi lên. Sau đó một người đi vòng vòng giơ cao món thuốc mời mọi người mua. Bán xong thuốc là màn biểu diễn võ thuật. Thường là những màn nội công như chém bể gạch, để mũi dao ấn vào bụng… Đôi khi có những con khỉ giúp vui, làm những trò lạ mắt khiến đám con nít đúng bên ngoài liên tục gọi: Mai! Mai! Dân làng nghèo bị bịnh thường uống ba thứ lá cỏ cây. Cùng lắm mới đến chỗ bán thuốc Tây. Người bán thuốc là “dược sĩ kiêm bác sĩ”. Bịnh gì đây? Nhức đầu nóng lạnh hả? Aspirine. Ỉa chảy hả? Elexir. Vân vân và vân vân. Có tiền chút đỉnh thì bổ thuốc bắc. Nay gặp các loại thuốc nầy thì họ bu lại coi, “trước mau vui sau làm nghĩa”chớ họ đâu biết thuốc sán lải của đám Sơn Đông Mại Võ nầy còn thua thuốc sổ bằng lá muồng đầy dẫy trong vườn nhà họ.

Gánh hát cải lương, đoàn hát bội là gây ồn ào nhứt. Họ ăn dầm nằm dề ở chợ làng đôi khi cả tháng, hát những tuồng tích như Cánh Buồm Đen, Phàn Lê Huê giải giá Thọ Châu…. Những dịp đó, khu chợ như ngày hội. Khoảng ba, bốn giờ chiều, trống bắt đầu nổi lên, con nít chạy nhảy, la hét. Trước khu chợ, những sạp bày bán đủ thứ: khô mực nướng, bắp nướng…

Sau khi họ rút đi, dân làng mất một ít cô con gái  mê cải lương. Những năm đó, ngoài gánh hát bội, cải lương, chớp bóng, dân làng hông có gì để giải trí vui chơi. Gặp dịp có đám giỗ, đám cưới họ tụ họp đàn, ca vọng cổ kéo dài hai ba ngày thâu đêm suốt sáng. Ngoài ra còn cúng đình cũng sập sình sập sọe mất mấy ngày. Thằng Xuân biết cả làng chỉ có một người- Chú Bảy Nghiêm- có máy hát hình ống loa hiệu con chó, lâu lâu phải lên dây thiều bằng tay, dĩa to bằng cái rổ quảo, hát các tuồng cải lương, giọng nghe chan chát. Đâu có ai có được cái radio để nghe tin tức và ca nhạc. Và Xuân tin rằng chẳng ai biết mặt mũi cái máy thâu thanh nó như thế nào!

– Sao bây về trễ dậy?

– Dạ, nhà trường cho lớp chị Sáu ở lại làm cái gì đó. Con cũng hông biết nữa, Tía.

Vân liếc mắt ngó Khanh thầm nói: chị phải cám ơn em nha.

– Còn thằng Xuân, mầy cũng mới dìa hả.

– Dạ, con mới dìa chú. Chú thím mạnh giỏi hả?

– Tụi bây cơm nước gì chưa?

– Chưa, Tía. Chị Sáu chỉ hối đi sớm nếu hông nắng lên. Nóng lắm Tía à.

– Bà ơi! Coi còn cái gì hôn, cho tụi nó ăn ba hột.

Bà Sáu Xe dọn bữa cơm ra với cá bống dừa kho tiêu mằm mặm, ngòn ngọt và béo, tô rau cải trời luộc và tộ nước dừa xiêm tươi. Chở Khanh từ sáng đến giờ, Xuân đói bụng, thêm nước dừa váng cháo chua chua  thay canh nên nó ăn rất ngon… Cơm nước vừa xong. Khanh và Vân đem chén, tô ra rửa ngoài mương và úp lên xống chén làm bằng sống dừa.

– Con Khanh vào đây tao biểu.

– Dạ, Tía

– Mầy với Má mầy lo chuẩn bị ngày mai đám hỏi.

– Đám hỏi ai vậy hả Tía?

– Đám hỏi mầy chớ ai nữa, mà còn hỏi. Tao đã hứa với gia đình Tư Thép bên ấp bốn. Hổm rày còn đợi bây. Để chút, tao đi báo cho họ. Ngày mai họ đem trầu cau qua.

– Tía! Sao Tía hổng hỏi con chút nào hết dzậy. Con còn đang đi học mà Tía. Con chưa muốn lấy chồng.

– Học hành gì nữa con ơi. Mầy lớn chồng ngồng rồi. Mười tám tuổi rồi chớ còn nhỏ nhen gì nữa. Tao cho bây đi học là chưa có ai hỏi. Bây giờ có người hỏi thì tao gả. Gái vườn mà bước qua hai mươi là ế đó con. Coi! Chưa gì hết mà bây bí xị, mặt mày xanh như tàu lá và khóc mếu máo dzậy.

– Tía. Cho chị Sáu học hết năm tới, chỉ đi thi Trung Học Đệ Nhứt Cấp, rồi làm cô giáo như anh Năm dậy Tía.

– Tía! Con năn nỉ Tía. Như Vân nói, Tía cho con học thêm một năm nữa đi Tía! Nghen Tía! Con mới mười tám tuổi mà.

Nói vậy chớ thực ra, Khanh có biết tuổi mình là bao nhiêu đâu? Ở nhà quê, sanh ra trong thời chiến tranh, làng xã thường bị đốt đi đốt lại tới ba bốn lần, sổ bộ bị thất lạc, cha mẹ hông nhớ ngày sinh chính thức của con cái. Họ chỉ nhớ đại khái là, ờ con nhỏ nầy hình như nó tuổi con Gà, thằng kia tuổi con Rồng, hoặc là tui sinh con Khanh ra năm Ba thằng Nhữ đi vào đâu trong Khu Chín? Ngày tháng thì họ mù tịt. Hỏi bà Nội hay bà Ngoại thì may ra họ cũng nhớ là hình như mày sanh ra lúc rằm tháng mười hay là, tao nhớ hình như lúc đó là con nước rong tháng chín. Rồi sau năm 1954, lúc cho con cái đi học. Tụi nó cần khai sinh thì mới ra làng gặp hương Bộ. Như hương Bộ Đời ở làng Lương Quới. Ổng hỏi thì biết đâu mà lần: năm con Gà lớn hay con Gà nhỏ…. Ở cái thời quỷnh tẹt và cái thời Bảo Đại còn làm trùm, ai có biết con Gà nào và con Rồng nào! Ổng nhẩm tính trên bàn tay rồi ghi vào sổ. Tới khi đi học, ra làng xin giấy khai sinh, tá hỏa tam tinh mới biết mình sinh ngày, tháng,  năm nào! Đôi khi còn có cái tréo cẳng ngỗng. Tên Mai nhiều khi biến thành tên Mơi, vì trong làng kiêng cử tên Mai!

Khanh vẫn còn khóc thút thít.

– Tao đã hứa với người ta rồi. Thôi nín đi con. Lo phụ với má mầy chuẩn bị đám hỏi.

Khanh hông dám nhìn Xuân, hông dám cải lại ông Sáu Xe, nhưng nước mắt ràn rụa. Phùng Xuân đứng kế bên, hông nói được lời nào. Trong lòng chàng đang rối rắm, tự hỏi có nên nói một vài tiếng với ông chú nầy hôn.

Thực ra gia đình Phùng Xuân hông có bà con họ hàng gì với chú thím Sáu Xe, chỉ là quen biết nhau trong làng. Còn chuyện yêu thương giữa chàng và Khanh là chuyện thầm kín giữa hai đứa từ bao lâu nay, hông có ai biết được. Nếu chuyện lộ ra, có thể Khanh bị đòn. Ông Sáu Xe có khắt khe trong việc tiếp xúc giữa trai và gái? Và hôn nhân con cái thường do cha mẹ Khanh định đoạt? Cũng có chuyện yêu thương lăng nhăng trong lúc còn đi học, nhưng phải dấu diếm, vì mắc cỡ, vì sợ người ta nói vô nói ra. Bọn Khanh, Vân lên tỉnh học thì tình cảm trai gái hơi mới mẻ hơn chút xíu. Một số ít cũng cặp bồ, cũng tình tứ theo kiểu “tự lực văn đoàn”. Nhưng ở tỉnh lẻ khó có thể hẹn hò ra một nơi vắng vẻ nào đó. Và chuyện quan hệ xác thịt nếu có xảy ra thì bùng nổ một cách mãnh liệt; lỡ có bầu bì với nhau thì rủ nhau bỏ trốn. Xuân có nên nói ra hông và nếu nói thiệt, liệu ổng có gả Khanh cho chàng hông? Ổng có e ngại về gia đình mình hông?

Gia đình Xuân có tiếng chớ hông có miếng. Ông nội chàng là Hội Đồng trong làng. Một chức việc phải mua mới có thì có gì là danh tiếng. Phùng Xuân hông hiểu sao người ta lại trọng vọng gia đình chàng. Đó là hồi nẫm kìa! Hồi thời năm 1940-1950… Bà nội cho các chú, các cô lên Sài Gòn học. Các cô học trường Áo Tím. Nhưng mà nghe đâu các cô học hông nhiều, chỉ đến première année hay deuxième année gì đó rồi về quê lấy chồng.

Còn ông Bảy Mi theo Cao Đẳng Sư Phạm (École normale supérieure). Học được nửa chừng, gặp lúc phong trào Nguyễn An Ninh, cả trường bãi khóa. Ông Bảy Mi bỏ học, theo kháng chiến chống Pháp khoảng năm 1946.

Từ đó gia đình dọn về Lương Quới, cất một căn nhà lá phía bên kia đường đối diện nhà Bà Nội. Hai vợ chồng nhờ tiền của Nội, sắm một chiếc ghe bầu. Hồi đó ghe bầu còn vô được rạch bên hông nhà, vào đậu ở cái búng to rộng rình trước  chùa. Họ mua trái cây như chuối, chanh, mận từ làng đem lên Sài Gòn. Rồi bổ hàng bí rợ đem về bán cho chợ làng. Đâu có ai ăn bí rợ dữ vậy? Bí rợ chất đầy cả nhà. Thầy cò mi  làm sao có được mánh lới như con buôn? Họ bị lỗ vốn rồi bỏ nghề.

Đêm đêm thằng Xuân có dịp nằm cạnh bà cô Năm, bên ngọn đèn chong leo lét, nghe cái giọng ê a đọc đủ loại truyện Tàu của bà cô chưa học hết lớp ba trường làng. Nhà Nội có đủ loại truyện: Phong Thần, Phong Kiếm Xuân Thu, Thuyết Đường, Tây Du, Tam Quốc, Đông Chu Liệt Quốc… do các cô, chú mua từ Sài Gòn.

Xuân còn nhớ ngày chàng đi học. Buổi sáng hôm đó chàng khóc sướt mướt, dùng dằng hông chịu đi. Bà Bảy Mi phải đứng đợi từng chặp. Đi học thì còn thời giờ nữa đâu để mà  đào trùng câu cá bống dừa, còn thời giờ đâu nữa để mà  tối ngày móc bùn nắn tu na, chim cò !

Ngôi trường làng Lương Quới sao mà nó bự vậy! Trường lợp ngói, cất trên thềm cao. Bà Bảy Mi (Bà Bảy Mi và bà Ba Đầm cũng là một người. Ở quê miền Nam, người ta gọi tên người tùy theo quen bên nội hay ngoại) nói với ông Hiệu Trưởng: “Cho tôi gởi con anh Bảy đi học”. Đứng nói chuyện một lát với vài người chung quanh rồi bà Bảy Mi bỏ ra về. Xuân chạy theo, nhưng ông Hiệu Trưởng nắm tay Xuân dắt vào lớp và nói với thầy giáo: “Cháu bà Hội Đồng, con anh Bảy Mi”. À ra, danh giá thời xưa còn lại là cháu bà Hội Đồng Nhượng và con ông Bảy Cò Mi. Chớ bây giờ sau bao năm chiến tranh, các con ly tán. Nhà bà Nội bị Tây đốt cháy mấy ngày sau mới tắt, ruộng vườn tan hoang thì còn gì nữa? Gia đình Phùng Xuân bây giờ hông có một miếng đất để cặm dùi. Bà Bảy Mi phải đi buôn gánh bán bưng, đôi khi phải may quần áo dối cho chợ, nuôi đàn con năm đứa nhỏ nheo nhóc thì có gì là danh giá nữa?

Xuân đành đứng yên lặng nhìn người mình thương mà chẳng nói được một lời nào. Khanh lấy tay quẹt nước mắt ràn rụa, nghẹn ngào; thỉnh thoảng hỉ mũi một cái và nấc lên một tiếng như nấc cụt…

Nằm trên bộ ngựa gõ rộng, Xuân lăn qua lộn lại hông biết bao nhiêu lần. Trăng đã lặn. Đêm chắc khuya lắm. Tiếng vạc sành sạt sạt sát bên hè. Tiếng dế nhủi nhin nhít hòa với tiếng dế chó che che nghe rõ mồm một. Có tiếng mũi hin hít. Hình như Khanh đang khóc. Làm sao bây giờ? Làm sao thoát khỏi tình trạng nầy? Tiếng muỗi vo ve bên lỗ tai làm cho chàng hông ngủ được. Đêm nay ngủ hông mùng cũng hông mềm, chỉ có chiếc chiếu lác mỏng. Chàng bị muỗi chích lia chia nên quơ tay đập lia lịa. Xuân liền cuốn mình trong chiếu, mong muỗi hông thể cắn được, nhưng chiếu quá thưa, muỗi vẫn đưa vòi được qua kẽ chiếu. Quá mệt mỏi, Xuân ngồi dậy nhìn đống un. Lửa đã tắt từ lâu. Xuân khều khều thử, may còn chút than miểng gáo nằm dưới đáy. Xuân bươi nhẹ ra, xé một miếng xơ dừa bỏ vào. Than bắt đầu ngún. Xuân thêm xơ dừa, than phừng lên. Xuân vội vàng bỏ thêm vỏ dừa vào. Khói bùng lên tràn ngập căn nhà.

Xuân ngồi im lặng nhìn khói trắng bao phủ quanh mình, nghĩ ngợi mông lung. Rồi mối tình của Khanh và chàng cũng tan mau như những làn khói nầy? Cảm giác nhiều lần ái ân ngất ngất đêm qua làm chàng đau khổ và hối tiếc thời gian qua mau. Khói tan rồi còn lại đống than đỏ rực và vài ngọn lửa nhỏ. Muỗi vo ve trở lại. Ngồi đây hoài suốt đêm đuổi muỗi? Ngồi đây hoài than thở cho mối tình tan vỡ? Phải chi thời gian dừng lại ở đêm hôm qua? Làm gì để kéo níu trở lại? Chỉ là hối tiếc thôi sao? Ôi thời gian! Thời gian quái ác! Sao hông dừng lại ở đêm hôm qua cho mình tận hưởng trọn vẹn ân ái mặn nồng? Thời gian vẫn trôi và có tiếng gà gáy canh hai xa xa từ bên nhà hàng xóm. Chàng gục đầu vào hai gối nhìn đống than từ từ lụn mà quên đàn muỗi vo ve bu quanh hai mang tai.

Khanh vùi đầu vô cái gối mỏng còn lộm cộm hột vì dồn bằng bông cây gòn. Từ đầu hôm đến giờ Khanh hông ngủ được, khóc rấm ra rấm rứt tức tưởi. Sao mình hông lấy được anh Xuân? Con người  mà mình yêu thương từ đó đến giờ. Liệu mình chống  lại  được lịnh của  Tía hông? Tía Má chắc từ mình quá? Bỏ nhà trốn đi theo ảnh? Mà mình với ảnh đã có…với nhau rồi mà! Làng xóm họ đàm tiếu hai ông bà già, hai ổng bả chịu sao nổi? Trời ơi! Sao khổ quá vậy nè trời?…

Xuân uể oải đứng dậy. Cầm một miếng than nhỏ, bỏ vào miếng vỏ dừa, chàng dời đống un đến gần võng. Võng đong đưa kẽo kẹt trong đám khói. Xuân thiếp đi và ngủ quên được một lát rồi chàng giựt mình thức dậy. Ngoài vườn vừa có tiếng dừa khô rụng đánh bịch và tiếp theo là tiếng tàu dừa rơi nghe xào một cái. Đống un đã tắt ngúm. Xuân bước lại bộ ván, xoa xoa hai bàn chân phủi bụi rồi nằm gối đầu lên trái dừa điếc. Sơ dừa làm chàng nhột nhạt nơi cổ. Và muỗi lại vo ve bên tai. Xuân quơ đại cái áo thun dơ hồi lúc chiều chưa kịp giặt, còn nồng nặc mùi mồ hôi, trùm kín mít lên đầu và thiếp đi cho đến khi chàng thức dậy vì tiếng nói của chú Sáu Xe và tiếng động dao động thớt ở dưới nhà sau.

– Bây lựa hai con vịt nấu cháo, hai con gà giò nấu cà ri phụ má mầy. Ra bắt sớm đi con, để chút nữa hừng đông là tụi nó đi mất, khó bắt lắm. Còn con Vân lo đi mua bún, rồi về chuẩn bị nấu nước nôi pha trà đãi khách. Để Tía lột dừa rồi nạo cho.

– Bộ họ qua sớm hả Tía?

– Ờ! Họ qua sớm. Nghe đâu về rồi phải đưa ông Tư Thép đi nhà thương. Ổng bị bịnh gần cả tháng nay  rồi.

– Ổng bị bịnh gì dzậy Tía?

– Bịnh gì cả nhà cũng hổng biết. Cứ nóng lạnh lên xuống hà rằm. Ăn vô ói ra. Chút nữa, thằng chồng bây qua, rồi bây hỏi nó.

– Ảnh tên gì Tía?

– Thằng Ba Đẹn.

Xuân ngồi trên bộ ngựa, nhìn thấy Khanh xụ mặt qua ánh đèn dầu leo lét. Xuân thấy tội nghiệp cho Khanh, tới bây giờ mà chưa biết tên tuổi và mặt mũi người chồng sắp cưới của mình. Chàng liếc nhìn Khanh. Hình như có hai dòng nước tuôn ra từ đôi mắt nàng.

– Xuân! Mầy uống với tao một chén trà cho tỉnh người, mậy. Trà con Khỉ đó mầy!

Chàng biết trà xanh con Khỉ ướp bông lài Mỹ Lồng. Trà nầy thường bán ở con đường giữa chợ Bến Tre. Nước màu xanh trong chén trà bốc hơi. Xuân nhấm một hớp. Mùi bông lài ngào ngạt. Vị trà chan chát, đăng đắng. Nước trà nóng trôi đến bao tử. Hơi ấm lan dần trong cơ thể. Xuân cảm thấy lâng lâng.

Ngồi nhìn ánh đèn chập chờn, chàng nghĩ ngợi mông lung. Mới năm nào, ba đứa Antoine-( con anh Hai Huynh, lớn hơn Xuân đến ba tuổi mà kêu Xuân bằng chú; quen nhau nhiều chỉ kêu tên thôi. Sau nầy, có bằng trữ dược viên, mở nhà thuốc Tây ở Mỹ Lồng), Hai (con chú Bảy Nghiêm. Nhà bên hông vườn Bà Nội)- và Xuân cứ mỗi buổi trưa hè mùa bãi trường hay ngồi uống trà xanh con Khỉ ở nhà Antoine. Hết bình trà nầy đến bình khác, ba đứa nói đủ thứ chuyện: chuyện làng xóm , chuyện học hành, truyện Tàu, chuyện văn chương Việt Nam……

– Anh Ba ngồi uống trà với Tía em. Bây giờ em còn phải đi chợ mua bún

– Cho anh đi với.

– Đợi em đi bó đuốc.

– Để anh bó cho. Ba cây được hông?

– Nhiều lắm. Hai cây đủ rồi. Anh bẽ hai ngọn tàu lá dừa rồi bó thành hai cây dài là mình đủ đi đến ngoải.

Xuân mồi lửa rồi giành cầm đuốc. Chàng quơ lên quơ xuống. Ánh sáng chập chờn bóng đêm. Đường mòn trong xóm trắc tréo men theo ngọn  lửa. Chưa quen đường đêm, Xuân dò dẫm theo bước chân của Vân. Đôi khi vấp mô đất cao, Xuân suýt té. Những bụi lứt, bụi sậy, đám quao có trái cong vòng mọc lấn ra đường thù lù như hình người làm chàng giựt mình. Hàng dừa tơ cao bằng đầu, lá dừa ngáng ra giữa, chàng phải cúi mình chui qua. Phùng Xuân nhìn lên cao, qua những ngọn dừa lão cao nghệu, sao đêm đang trôi chầm chậm về Tây. Trời sắp sáng. Có một vài tiếng cu đất gáy từ xa xa.

Hai người ra đến đường làng. Vân đi lẹ. Xuân vung đuốc cao. Lửa bập bùng. Phía trước và sau xa xa có vài ánh đuốc lập lòe như ma trơi, nhìn tưởng chừng như lăn tròn trên mặt đất.

– Vân nè?

– Gì anh Ba.

– Tại sao Khanh chịu lấy chồng sớm vậy?

– Sao anh hông hỏi chỉ. Lại hỏi em.

– Đêm qua hai đứa chui vô mùng sớm. Làm sao hỏi được.

– Tía sợ chị Sáu ế chồng. Anh nghĩ coi. Thời buổi nầy, con trai ở nhà quê lớn lên đi học cho có chút chữ nghĩa rồi còn ở nhà lo chăm sóc vườn tược nữa chứ. Thành thử tụi nó đâu có đi học bao nhiêu. Con gái học cao ở quê, trai nào dám cưới.

– Vậy chớ chồng Khanh, Ba Đẹn, học đến lớp mấy rồi?

– Hồi hôm nghe má nói chồng chỉ học hết lớp ĐệThất rồi về nhà lo coi khoảnh vườn của Tía ảnh. Thì anh coi, trai vườn tối ngày chỉ lo làm cỏ, bồi mương và tới lứa lo giựt dừa.

– Rồi hổng làm gì cho có tiền nữa sao ?

– Có làm gì đâu ra tiền. Có đám nào giỏi, làm chông bắt cá tép chút đỉnh để vợ đem ra chợ bán.

– Vậy là cũng nhàn nhã?

– Có đám tiệc, giỗ quảy thì lo phụ. Xong lại đàn ca hát xướng, nhậu say be bét. Có đứa hiền về nhà im re; còn có đứa nhậu đã về nhà chửi vợ mắng con.

– Có vậy mà con cái cũng đầy đàn đầy đống.

– Còn em?

– Sao anh hổng hỏi tới chuyện chỉ nữa đi ?

– Hỏi gì nữa em.Khanh đã chịu vậy. Thì anh biết làm sao nữa.

– Đêm qua chỉ nằm kế bên em mà khóc thúc tha thút thít hoài. Em kêu chỉ nín đi mà chỉ hổng nín. Sáng nay bụp mắt mà Tía thấy là đố khỏi ổng rầy cho coi.

– Sao Khanh khóc dữ vậy?

– Sướng chưa! Bây giờ mới hỏi vậy. Chắc tại chỉ thương ai đó.

– Lúc đi học ở BếnTre?

– Chắc vậy?

– Em biết người đó chứ?

– Em biết.

– Trong đám bạn Khanh?

– Hông phải.

– Anh đâu có ở Bến Tre thường. Một năm anh mới về một vài lần mà. Em nói cho anh biết đi.

– Hổng có nói bây giờ. Bật mí hết. Để sau khi làm đám cưới hả.

Xuân im lặng. Chàng nghĩ: con nhỏ nầy chắc biết chuyện Khanh và chàng thương nhau. Cũng có thể lắm? Nhiều khi Vân nói đon nói ren hoài…

Một hai nhà đã thức. Bếp đã đỏ lửa. Giờ nầy đám đàn ông nấu nước pha trà vì có tiếng nói rổn rảng và tiếng cười ròn tan. Hai đứa đi qua một vài nhà có chó. Tiếng sủa inh ỏi, vang rền cả một khu vườn. Đột nhiên, một con chó từ trong nhà chạy sát ra đường sủa to liên hồi rồi hực một tiếng.

– Vân! Làm gì vậy?

– Anh! Em sợ chó.

– Thì em cứ đi đi. Nó sủa chớ hổng có cắn đâu. Đi đi. Làm gì mà hoảng hồn dữ vậy?

– Em sợ chó mà!

– Sợ thì sợ chớ sao ôm anh cứng ngắc, hổng chịu buông ra vậy?

– Xí! Đồ thấy ghét. Lãng nhách! Ai thèm ôm anh hồi nào!

– Nó. Lại giận nữa rồi. Ở đằng trước tối thui. Coi chừng ma bắt bây giờ đó nghe!

Vân ngoe nguẩy bỏ đi te te thật xa. Xuân nghĩ chắc con nhỏ nầy muốn sanh sự…

Hai người tới đình Lương Quới thì cũng vừa tàn cây đuốc thứ hai. Hồi nhỏ, thằng Xuân ít khi vô đền vì trong đền tối âm u, chỉ thấy gươm giáo và mấy con hạc, con rùa. Nó đi vòng ở ngoài ra đến cây trôm. Nó chặt lấy mũ đem về cho Bà Nội. Hồi đó cây trôm to lắm, gốc khoảng một người ôm và hông biết mọc từ lúc nào. Muốn vào cây trôm, phải lách lau sậy. Thiên hạ đồn có nhiều rắn thần để giữ đình, nhưng nó đâu có ngán! Cái thằng Xuân trời đánh, tung hoành lục tặc, tối ngày mình trần trùng trục, hay phá làng phá xóm. Đi cả đám ngang vườn mía tây vàng ươm là Xuân nhảy vào bẽ cái rụp rồi chia mỗi đứa một khúc. Ổi thì khỏi nói, cho tụi bây ăn líp ba ga. Làm như ta đây là chúa đảng hông ai bằng. Mỗi lần bị mắng vốn: “Chị Bảy: Thằng Xuân ….” là mỗi lần bị đòn nhừ tử. Roi mây, roi tre bà Bảy quất túi bụi. Nó chỉ có dang tay đỡ rồi chạy trốn, chui vào bụi cây lùm cỏ khóc thút thít cả buổi trời. Nghe bà Bảy, chị hai kêu về ăn cơm nhưng nó cứ ngồi lì cho đến sẩm tối. Nói vậy chớ đánh đòn xong, lần nào bà Bảy cũng lấy dầu cù là MacPhsu xức vào những lằn roi ngang dọc rồi hai mẹ con ôm nhau khóc thút tha thút thít. Lần bị đòn đau nhứt là lần Xuân nhảy lên thoi vào bụng Sếp Hết. Ổng nhậu say ngà ngà. Gặp hai anh em nó, ổng đưa hai tay bóp cổ thằng Quang, em Xuân. Nó nhảy lên thoi ổng hai thoi rồi hai đứa bỏ chạy. Ổng theo riết. Tao mét chị Bảy là mầy dám đánh tao. Bà Bảy đánh cho đã nư vì có ổng đứng đó coi và bà Bảy sợ ổng trả thù. Ổng biết ông Bảy đi kháng chiến chống Tây…

Gà gáy canh ba. Chợ Lương Quới bắt đầu nhóm. Mỗi một người bán là một ngọn đèn chông. Có người có sạp. Người hông sạp thì lót lá chuối bày hàng trên mặt đất. Một số người buôn sĩ để sẳn trong thúng như chanh, chuối, cam, ổi, bưởi. Họ thường là dân xóm trong, ở ấp cô Xanh bên Lương Hòa, hay Lương Phú ở bên kia sông Bến Tre. Họ bán mảo cho bạn hàng chợ quận và chợ tỉnh, cho nên mỗi lần xe đò đến là người đông tấp nập. Xe đò Ba Tri lên sớm thường chở cá và tôm thẻ. Cá thì có mùa, khi thì cá đuối, cá rựa, cá lù đù. Những loại cá rẻ tiền mà Bà Bảy thường hay mua. Cá đuối thì nấu cà ri dừa, ăn béo ngậy. Cá rựa thì ướp sả chiên, nhưng phải khứa khứa cho nhỏ ra vì nó rất nhiều xương. Cá lù đù kho khô. Đặc điểm của món ăn Bến Tre là cái gì cũng có nước dừa tươi và nước cốt dừa. Đến món cháo trắng cũng có nước cốt dừa: món mà ông Bảy thích nhứt.

Những năm đó chợ Lương Quới sung túc vì ở Ba Châu lên và Lương Hòa, Lương Phú đổ ra. Thành thử khu chợ nhỏ mà đã đông từ khuya. Bạn hàng nườm nượp đã đành mà người mua cũng nhiều. Họ tranh nhau đi sớm để mua được những món hàng rẻ mà tươi. Hơn nữa còn hành khách đi xe cũng tụ về đây. Họ đi sớm lên tỉnh có công việc hoặc lên Sài Gòn thăm bà con. Từ Châu Bình- vùng Ba Châu- phải thức dậy từ gà gáy canh một thì canh ba đi bộ mới đến Lương Quới. Những năm đó cũng có xe đò Bến Tre- Châu Bình, nhưng mỗi ngày có một hay hai chuyến. Còn muốn đi đò máy qua MỹTho thì cũng phải thức dậy từ canh hai. Đò máy chạy sình sịt tới trưa mới đến Mỹ Tho. Muốn đi mau, chỉ có cách là lên xe đò ở Lương Quới đến Bến Tre thật sớm, ngồi xe Á Đông lên Sài Gòn.

Vân và Xuân đi ngay lại chỗ bác Năm Học bán bún và giá đậu xanh.Vân mua được một cái củ hủ dừa. Trời còn quá sớm nên chưa có bún. Những ánh đèn dầu mù mờ. Những cái đầu đội miếng khăn có khi trắng, có khi có sọc. Nếu hông có tiếng ồn ào thì chợ về đêm toát lên vẻ âm u của một ngôi chợ ma…

Trời hửng sáng. Bận về Vân đi sát bên Xuân, thỉnh thoảng nhìn chàng cười chúm chím và hai má ửng hồng trong sương sớm.

– Em có gì vui?

– Đâu có gì!

– Sao lại cười?

– Thì nhìn anh cười hổng được sao!

– Anh có gì lạ?

– Có chứ. Lạ là tại sao anh hổng buồn?

– Buồn chuyện gì?

– Buồn chuyện chị Sáu em đi lấy chồng

– Con nhỏ nầy hay hỏi cắc cớ quá. Thì cũng như em thôi. Mình vắng đi môt người thân!

– Anh nói xạo hoài!

Đàng trai qua thật sớm. Hông đông, khoảng mười người. Ba Đẹn mặc bộ đồ bà ba trắng, bên ngoài thêm áo dài đen lụa mỏng. Chú rể đi chân không, đầu bịt khăn đống. Gương mặt người trai nhà quê đi cưới vợ lần đầu ngô nghê, cặp mắt hơi ti hí và môi dưới trề ra, lộ hàm răng lộn xộn vàng khè. Nhà trai đem qua có bốn mâm: mâm trầu cau, mâm trà, mâm rượu và mâm trái cây. Mùa nầy hông phải là mùa trái cây và chắc vội vàng, nên trên mâm chỉ có vài trái mận đỏ và trái mãng cầu xiêm.

Mở đầu là lời ông mai, nói lý do đám hỏi hơi gấp; rồi lời chào hỏi hai bên đàng trai, gái. Sau đó, tất cả bốn mâm bọc vải đỏ được bày ra để trên bàn ăn cơm giữa gian nhà. Nhà có được sáu cái ghế đẩu nên có một vài người khách phải đứng, nhưng Xuân nhanh nhẹn mời họ ngồi qua bộ ván bên cạnh. Vân lăng xăng lo tới lui bưng nước trà. Chú Sáu Xe thường hay nói nhiều, lanh lợi, thăm hỏi bịnh tình của ông sui Tư Thép. Bà TưThép nhai trầu bỏm bẻm, xỉa cục thuốc rê to tổ bố bên miệng, trả lời rất chậm. Thím Sáu Xe cũng là dân quê nhưng hông ăn trầu, nói nhỏ nhẹ và rất hiền lành. Hông hiểu bên sui trai như thế nào chớ Xuân thấy bên sui gái có vẻ như chưa hợp với nhau. Ba Đẹn ngồi bên bộ ván, thỉnh thoảng lấy hai bàn chân chà chà nhau coi bộ nóng lòng vì chưa thấy bóng dáng Khanh.

Được độ cạn ba chén trà, ông mai đứng lên xin phép về sớm vì còn phải đưa Ông Tư Thép đi nhà thương. Đến bây giờ mới nghe chú Sáu Xe gọi Khanh ra chào hỏi đàng trai. Lẽ ra, Khanh phải ra bưng trà đãi khách, nhưng hông hiểu sao từ sớm đến giờ Khanh cứ ở miết trong buồng. Đến khi nghe tiếng Tía gọi Khanh mới ló đầu ra. Cô dâu tương lai mặc chiếc áo dài trắng  hổng có gắn phù hiệu của trường Trung Học Tân Dân Bến Tre, đôi mắt hơi đỏ,  bước ra khỏi buồng cúi đầu e lệ chào mọi người. Bà Tư Thép lấy cục thuốc xỉa khỏi miệng, cầm hờ trên tay, liếc nhìn cô dâu. Còn Ba Đẹn lật đật tuột xuống khỏi bộ ván, đứng nhìn người vợ sắp cưới duyên dáng trong chiếc áo dài trắng, có vẻ hài lòng. Xuân đứng cuối nhà bếp, loáng thoáng nghe ông mai xin định  cưới trước Tết- ngày hai mươi tháng chạp ta, sau khi gặt lúa xong- rồi chào hỏi ra về…

Dòng nước ròng đục ngầu cuồn cuộn, tuôn vào búng của con rạch thành những xoáy tròn mang theo những bập dừa, những trái mù u còn xanh, trái vẹt dài có đầu như cái nôm, trái quao cong vòng, chìm sâu vào đáy nước. Kỷ niệm ba năm về trước vẫn còn đó. Bụi chại hơi lớn hơn. Đám mái dầm và ô rô lấn ra dòng rạch. Nơi Xuân vớt được Khanh, rồi ôm vào lòng, bây giờ trơ ra gốc dừa nước. Lúc đó là nước nhửng lớn. Bây giờ là nước ròng. Thời gian trôi đi, đảo lộn và xóa nhòa mọi thứ. Con ma da có còn ở cái búng nầy hông? Xuân ngồi ở đầu bờ dừa, hổng biết bao lâu, cảm thấy mình hèn hạ hông thể làm gì để có thể giúp cho hai đứa có được một mối tình trọn vẹn. Chim chàng chài lẻ loi đậu im lìm trên gốc bập dừa nước, nhìn dòng rạch tuôn chảy. Chim ơi, chim đợi chờ gì?

– Anh. Anh làm gì ngồi ở đây? Em đi kiếm anh cùng hết.

Phùng Xuân ngước nhìn lên. Gương mặt Khanh u buồn, nhưng vẫn còn nét tươi sáng đẹp đẽ. Mái tóc kẹp lại gọn ghẽ. Đôi môi hồng hồng lồng trong hai má bầu. Cặp mắt tròn nhìn nó đăm đăm như muốn nói điều gì. Chàng vụt đứng lên, bước sát đến bên Khanh. Có tiếng sột soạt trong đám mía ở đầu bờ.

– Coi chừng con Vân nó đang đi tới!

– Hai người đang làm gì ở đây?

– Con nhỏ nầy! Tía kêu tao đi kiếm ảnh về ăn bánh xèo, chớ bộ!

– Ờ hé! Thôi đi về mau để Tía đợi.

Hai chị em bước đi. Xuân nhìn theo. Mông Khanh lúc lắc trong chiếc quần đen. Chiếc mông giống y chang khi Khanh gánh dừa hoặc hai thúng ổi và chuối từ vườn về nhà. Còn Vân thân hình hơi mảnh dẽ hơn và đi có vẻ gọn gàng hơn Khanh. Khanh đúng là tướng con gái nhà quê, giỏi giang, chịu khó đủ điều.

Về tới nơi, Khanh bắt đầu đổ bánh xèo. Củ hủ dừa dòn tan và ngòn ngọt, được xắt mỏng. (Ít khi có được củ hủ dừa, trừ trường hợp dừa bị đuông ăn hoặc dừa quì ngã ra bờ rạch)… Những cái bánh còn nóng hổi, bốc khói, vàng ươm óng ánh đầy những con tép bạc, tép đất, xếp thẳng hàng ngay ngắn trên tấm lá chuối. Hai bên rìa bánh xèo dòn rụm. Bên kia là tấm lá chuối khác, có lá cách xanh mùi hăng nồng đăng đắng, đọt xoài mũm mĩm chan chát, lá điều ( cây điều: Maya Apple, trái màu đỏ sậm, lá non chua ) non tim tím chua chua, lá bông vạn thọ hương ngạt ngào nhân nhẫn, lá ngò gai thơm nồng hái ở đầu bờ, rau răm cay cay, vấp cá tanh tanh mằm mặn. Mọi thứ được trộn chung với lá đọt mọt chua chát, trắng ngần mỏng tanh mềm mại như lụa, làm cho đống rau ăn bánh xèo dân dã thêm phong phú. Vân pha nước mắm chanh, tỏi, ớt với nước dừa xiêm thiệt. Cuộn bánh xèo béo ngậy đầy đủ hương vị của nước cốt dừa, của nghệ tươi, của bột gạo Tào Hương xay ở cối đá sau nhà, cuốn với đám rau sống, chấm nước mắm chanh là món mà dân quê ưa thích, ăn no cành hông. Gặp những ngày cuối tháng bảy trời mưa dầm, trúng được ổ nấm mối mà đổ bánh xèo thì còn gì bằng!

Sau buổi ăn, chú Sáu Xe ngồi ở bộ ván, vấn điếu thuốc rê to bằng ngón trỏ, xong thọt tay vô túi áo bà ba cũ mèm nhuộm màu phèn, lấy ra cái hột quẹt đá lửa, se se đầu tiêm cho bớt dầu. Sau ba bốn cái sẹt nháng đỏ, tiêm bùng cháy. Chú Sáu đưa điếu thuốc bập bập hai ba cái, hít một hơi thật lâu, xong thở ra. Luồng khói thuốc dài màu xám đục tuôn ra từ hai đầu mũi. Điếu thuốc hông dính vào môi mà dính vào đầu lưỡi. Chú tiếp tục bập thêm ít cái nữa và hít vô. Điếu thuốc bây giờ chỉ còn độ nửa. Chú hút thêm một vài hơi nữa, điếu thuốc gần hết. Chú dụi tắt và lấy tàn dán vào cột hàng hiên bên hông nhà. Xuân nhìn những tàn thuốc dán đầy từ trên xuống dưới. Để làm gì vậy? Chàng chưa bao giờ hỏi ổng.

– Khanh, Vân à! Tụi bây chuẩn bị ngày mai xuống thay cho thằng Tám Trò. Hổm rày nó coi thế dùm tao mấy ngày để về lo đám hỏi cho con Khanh.

Khanh nháy mắt hai ba cái, liếc nhìn Xuân, im lặng. Còn Vân cứ hỏi miết.

– Thế gì Tía?

– Thì chăn bầy vịt Tàu chớ gì nữa!

– Ở đâu Tía?

– Ở đồng Mỹ Nhiên, sâu trong Cái Bông, Giồng Tre.

– Vân nó hổng biết, chớ con biết rồi. Tía khỏi lo. Để con chuẩn bị ngày mai tụi con đi.

– Chú Sáu! Cho con đi theo tụi nó ví.

Ông Sáu Xe nhìn Xuân hơi ngạc nhiên. Còn bà Sáu Xe ngó Xuân đầy cảm tình. Từ hồi nào đến giờ, hai ông bà hy vọng có sự ngỏ lời của má Xuân về hai đứa con gái của mình, nhưng hông thấy má Xuân nói năng gì, nên họ cũng e ngại. Mỗi lần Phùng Xuân về chơi, chú thím Sáu đều hỏi thăm má chàng. Nhưng ngoài những câu Xuân trả lời về sức khỏe, về chuyện làm ăn của gia đình, hai ông bà hông nhận được bất cứ điều gì nữa nên họ đành im lặng. Có thể họ là đàng gái, họ hông mở lời trước. Còn Xuân và Khanh đều lo sợ nên hông dám hở môi. Bây giờ chuyện đã dỉ lỡ rồi. Thím Sáu còn hy vọng ở Vân? Bà nhìn chồng như ngầm đồng ý. Chú Sáu liếc nhìn vợ một cái rồi quay sang Xuân, hơi ngần ngại.

– Nắng nôi lắm mầy ơi. Còn sình lầy và đỉa nữa mầy có chịu nổi hông. Đố hông rồi mầy bịnh hoạn chị Bảy rầy tao.

–  Được mà chú Sáu. Con chưa biết mần như thế nào. Con muốn chăn vịt cho biết. Chú Sáu cho con đi đi. Có gì con còn phụ cho Khanh và Vân

– Mầy mà phụ cái gì. Tướng học trò Sài Gòn.Trắng bốc! Mầy mà mần nổi cái nước nôi gì!

– Nổi mà chú!

Nói vậy chớ chú Sáu cũng phì cười. Chắc chú tin có hai đứa con gái đi chung nhau thì hông có điều gì phải lo. Hơn nữa Khanh cũng đã đám hỏi rồi!

– Bà kiếm cho nó hai bộ bà ba cũ của thằng Lân. Chớ nó mặc đồ tây, xuống dưới phèn ăn hết!

Khanh đợi lúc vắng, nói với Xuân cứ mặc quần áo chàng mang theo. Anh mà mặc bà ba đen coi nhà quê lắm. Nhớ bỏ đôi săng đan ở nhà!

Chưa tờ mờ sáng, ba đứa ra đến chợ Lương Quới, ngồi ở chỗ quán bà Tám Khéo: vợ bé của ông Hương Quản Cây. Gần nửa tiếng sau mới có chiếc xe đò Bến Tre-Ba Tri. Hành khách đông nghẹt, hổng còn một chỗ trống. Bọn họ phải đeo sau xe. Xuân lựa khi xe sắp chạy, nhảy lên sau cùng, nắm càng, đeo sau lưng Khanh. Xuân gần như ôm trọn Khanh vào lòng. Mùi thơm từ da thịt Khanh, thêm gió đồng sớm tỏa khắp vào mũi chàng. Chàng ngây ngất.

Sau năm 1954, đường sá chưa tu bổ nhiều nên còn nhiều ổ gà. Mỗi lần xe sốc là mỗi lần Xuân ôm lấy Khanh. Trời còn tối nên Vân hông thấy. Xe qua cống Cát Lỡ. Cầu sắt Bình Chánh, cũng loại như cầu kinh Chẹt Sậy, nhưng hông cao bằng và chắc hơn.Tiếng ván vỗ rầm rầm nghe điếc tai. Đến Giồng Trôm có vài người khách xuống. Xe trống hai chỗ. Vân và Khanh chui vào trong. Băng cây dài dọc hai bên. Chính giữa bạn hàng chất giỏ cần xé, gióng gánh. Xe chạy kêu ì ầm, sình sịt, qua mấy ổ gà sâu còn nghe cót két. Đến TânThành xe ngừng lại đổ nước vì máy xe bốc hơi dữ dội.

Cánh đồng Sơn Đốc mờ mờ trong sương sớm. Những địa danh quen thuộc gợi lại cho Xuân thời còn bé đi cùng các frère lội bộ dọc bờ đê từ ngã ba Sơn Đốc vô nhà thờ La Mã, nơi Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp hiện ra.

Đến Cái Bông thì trời đã bửng sáng. Cái Bông là vùng Công Giáo, có nhà thờ cũng khá lớn, nhưng đối với Xuân nhà thờ Ba Châu (GiồngKhương) là có nhiều kỷ niệm hơn cả: có những bà dì Phước Dòng Mến Thánh Giá phạt học trò quì xơ mít, bê thước bảng đỏ bàn tay; nhiều cây sao cao ngun ngút quanh nhà thờ. Những trái sao xoay tròn bay trong bầu trời nắng hè gay gắt. Xuân lượm bỏ đầy vào cái cặp lác, vào cái nón cối trắng tinh Bà Bảy mua cho lúc tựu trường…

Con đường cát ở Giồng Tre sâu hun hút, mập mờ tận cuối làng. Những cây vú sữa sắp trổ bông phủ dầy đặc cả hai bên đường. Khanh nói vú sữa vùng nầy là vú sữa tím, trái nhỏ và tròn. Có lẽ vì cây quá cỗi? Vú sữa nhà nội Xuân có hai loại. Loại da bò thì trái thon và hơi dài, khi chín vỏ hơi cưng cứng, hông láng bóng. Còn loại vú sữa trắng- bà ngoại gọi là vú sữa nếp- tròn mộng và to trái. Khi chín trên cành, da chúng láng bóng và hơi vàng vàng dưới đít. Bóp, vò cho mềm trong lòng hai bàn tay, rút cùi ra, rồi lấy lưỡi nút nút, độ ngọt và cơm sữa tiết ra của vú sữa trắng làm mình ngây ngẩy, tăng tăng. Một vài cành thanh long khẳng khiu, có một vài trái nhỏ chín đỏ, bò dài vút cao lên thân vú sữa. Tiếng chó sủa rân từng hồi dọc con đường bọn Xuân đi qua.

Khi ba người ra đến cuối làng, giáp với cánh đồng thì mặt trời mọc lên một sào. Ánh nắng thật chói chan. Đàn cò, đàn chim áo dà chập chờn cùng khắp cánh đồng. Bắt đầu nóng vì hông có gió. Đợi thật lâu, Khanh mới nhắn được với một người chống ghe đang đi vào trong, kêu Tám Trò ra.

Đồng Mỹ Nhiên-Mỹ Chánh là một cánh đồng trũng, nước nhiều vào mùa mưa- từ tháng tư trở đi. Mùa khô vào khoảng đầu tháng giêng, cánh đồng vẫn còn ngập nước, đầy phèn. Phía Bắc là Bình Tiên –Châu Bình, có món mắm còng lột ngon thơm lừng. Ngày mùng năm tháng năm âm lịch, còng đỏ tụ vào vùng trũng nước, nhứt là các lỗ chơn trâu rồi lột đồng loạt.( Còn còng quều càng xanh ở bặp dừa  vùng nước lợ ). Người ta chỉ cần thò tay vào các lỗ đó bắt còng lột và đem về làm mắm. Đây là một món đặc biệt, hông phải ai cũng có mà ăn, vì số còng lột hông nhiều. Thường thường gia đình làm để ăn và ít khi đem bán. Mắm còng đến độ, đem trộn với mít chín xé nhỏ, hay khớm, thơm điếc mũi. Ăn nó với bún và rau sống thì đả và no cành hông luôn.

Phía Đông Bắc là Bình Khương, có sân chim rộng lớn. Nổi tiếng là rừng chà là, có rất nhiều đuông. Đuông chà là ngon và to hơn đuông dừa. Mỗi đọt chà là chỉ có một lỗ, nghĩa là chỉ có một con đuông. Có hai lỗ là hông có đuông: đuông thành kiến dương bay đi mất. Nhưng đốn được đọt chà là để bắt một con đuông hông phải dễ vì rừng chà là rất nhiều gai, rắn và muỗi mòng vô kể. Vùng Nhơn Trạch miệt Long Thành (Biên Hòa) cũng có đuông chà là nhưng hông nhiều bằng ở đây. Phía Nam là miệt Tân Xuân và phía Tây là vùng Giồng Tre- Cái Bông.

Khanh bỏ sào dài xuống nước, nhún người đẩy nhẹ một cái, chiếc ghe ba lá hai kèm khẵm khừ rướn mạnh theo dòng nước trong vắt. Hai bên là lác, rán, sậy, quao, dứa gai. Từng đàn chim áo dà nâu tím, chim sắc màu xám điểm chút đốm trắng bay lượn chập chờn vờn theo những bụi bông cỏ, kêu ríu rít. Nhiều đám mây cò trắng rập rờn cùng khắp cánh đồng hoang. Thỉnh thoảng một vài con cò ma, con trích giựt mình bay vụt lên. Một vài cây trâm bầu trơ trọi giữa cánh đồng nơi gò đất cao.

Ở đây chỉ có thể làm một vụ lúa sạ bắt đầu từ tháng năm, tháng sáu. Đến tháng bảy, cánh đồng trũng ngập đầy lúa xanh rờn. Nhiều nhà bắt đầu nuôi vịt tàu bầy, thả ra đồng hoang ăn mọi thứ cào cào, châu chấu, cua còng đang lớn. Và họ đợi lúa chín, cánh đồng trơ gốc rạ là lúc thả cho vịt ăn lúa rơi rớt để cho mau mập. Khanh chống xuồng một lát vừa đổ mồ hôi hai bên mang tai làm ướt những sợi tóc mai thì lấy tay chỉ căn chòi lớn nằm bên trái. Xuồng rẽ vào dòng nước nhỏ và tấp vào bờ.

Đàn vịt càm cạp ỏm tỏi vì bị nhốt từ sáng đến giờ. Hai chị em và Xuân lật đật buông đồ đạc xuống.

– Chị Sáu lo cơm nước đi. Bây giờ cũng gần trưa rồi. Để em thả vịt cho.

– Khoan đã. Cho nó ăn ba hột lúa đi. Bữa nay thằng Tám Trò bỏ đói từ sáng.

Vân xách quần áo lủi vào sau đống rơm, thay đồ. Vân lật đật bước ra khỏi cây rơm, chưa kịp gài hết bộ nút áo, lộ khỏang ngực màu cơm dừa. Hai ống quần đen vo lên khỏi gối. Bây giờ là cô gái đồng ruộng, chớ hông còn là cô gái miệt vườn nữa. Sau đó Vân múc nước vào diệm, đổ ít lúa. Đám vịt khoảng chừng non hai tháng bu lại những cái diệm, kêu chít chít, rút rỉa chìn chịt. Độ chừng hết lúa, nàng mở cà tăng. Đàn vịt tuôn ào ra kêu chíu chít, vẫy nước văng tứ tung rồi tung tăng bơi vào đám ruộng. Vân đẩy xuồng ra, chống ghe theo bầy vịt.

Chòi chăn vịt nằm chơ vơ giữa đồng không mông quạnh, trên một cái nỗng đất cao hơn mặt nước một chút xíu. Phía trước có hai cây rơm cao độ chừng một tầm. Phía bên hông có một khoảng trống dừng cà tăng ví xung quanh làm chỗ nhốt vịt. Trong chòi trống bốc, hông có được cái gì để nằm và ngồi. Có một cái cà ròn, một cái nồi đồng sứt quai trong có vài đôi đũa nằm lỏn chỏn dưới đất. Bên cạnh cà ròn là một cái khạp đựng gạo, kế bên là cái tỉn đầy muối hột. Hai ba cái chén, một cái tô đá mẻ úp trên kệ tre. Và một cái hủ nhỏ dùng làm con mẻ. Phía góc chòi một chiếc chiếu bung đầu nằm đè trên hai cái nóp đệm. Còn có thêm cái cuốc, cái phảng, cái cù nèo, con dao yếm, con dao phay, cái chét và mấy cái liềm bỏ tùm lum tà la ở cuối sau hè. Sát bên ngoài có hai cái lu chứa đầy nước và một cái khạp bể miệng chứa nước tro lóng màu vàng nghệ, dùng để giặt đồ…

– Anh! Chắc em bỏ nhà trốn theo anh lên Sài Gòn. Anh đi để lại mình em làm sao em sống nổi. Em nhớ anh lắm.

– Rồi làm sao anh nói với má anh.

– Em sẽ tự thú. Em năn nỉ Bác Bảy, má anh. Được mà anh. Anh đừng lo.

– Tụi mình còn đi học, rồi lấy giống gì mà sống em? Mai mốt đẻ con đầy đàn đầy đống để tụi nó đói sao em?

– Em rán đi mần gì đó nuôi anh đi học tiếp, để anh làm giáo sư.

– Mần cái gì bây giờ em? Buôn gánh bán bưng? Nắng nôi cực lắm em ơi! Gánh nước mướn? Cũng khổ lắm. Tối ngày em sếp thùng ở phông tên, chờ chực lấy từng thùng nước. Còn nếu hông, em phải chờ đến khuya. Anh đâu để em cực khổ như vậy!

– Cực gì em chịu cũng được hết, miễn em được gần anh. Nghĩ tới em sống với người chồng em sắp cưới, chắc em chết mất quá. Nói gì thì nói em sẽ trốn đi theo anh.

– Hổng sợ Chú Thím Sáu sao? Ổng Bả đã làm đám hỏi cho em rồi.

– Có con rồi hai đứa dẫn con về tự thú. Hổng lẽ ổng bả giết chết em?

– Từ em luôn chớ giết chết gì?

– Ối hơi đâu mà lo anh. Ông bà nào hông thương cháu.

– Thiệt hông em? Em chắc đi theo hả?

– Chớ còn gì nữa? Bộ anh tưởng em nói giỡn với anh sao?

– Hay là để anh tính như vầy. Anh nói với chị hai, xin em vô mần hãng dệt với chỉ. Rồi anh cố gắng năm tới đậu xong Tú Tài Hai. Anh sẽ thi vào Đại Học Sư Phạm hai năm. Ra trường là giáo sư Đệ Nhứt Cấp. Lúc đó mình mần đám cưới. Em sẽ sung sướng hơn.

– Thiệt vậy hả anh? Anh tính vậy hả? Anh cho em đi theo anh hả anh?

– Còn Má anh. Anh lo hổng biết bả có chịu hông?

– Được mà anh! Em sẽ lạy xin má tha tội. Mình rán đẻ cho má một đứa cháu nội là bả mừng lắm. Rồi bả sẽ xí xóa hết.

– Chưa gì hết mà em lo đẻ rồi. Em đừng để đụng giường là đẻ. Kiểu mắn đẻ như gà dzậy là chết đó nghen em.

– Thì qua nay em thấy có cái gì hơi khan khác rồi.

– Hơi khan khác là sao?

– Thì hơi khan khác là vậy đó chớ ai biết nói sao đâu?

– Em nói giỡn? Em có bầu?

– Bầu bì gì mới qua nay. Nhưng em linh cảm là em có con. Em thấy trong người khác lạ lắm.Chắc tại mới lần đầu nên em thấy vậy.

– Hay là, em thèm nữa ?

– Con Vân nó về bây giờ, nó thấy là chết à nghen !

– Nói chơi thôi em. Bộ em tưởng thiệt hả? Vậy là mình tính sao đây em?

– Em tính sau khi mình chăn vịt dìa, em sẽ lấy cớ lên Bến Tre dọn đồ, rồi sẳn đó, em trốn theo anh lên SàiGòn luôn. Tính vậy được hông anh?

– Em tính sao mau quá vậy? Chú Sáu có nghi hông? Nhưng coi chừng con Vân. Anh thấy nó có vẻ đang soi mói cái gì đó.

– Hông có đâu. Nó vẫn binh em mà. Mà em nghĩ nó cũng mến anh lắm. Nó hay nhắc tới anh hoài.

– Được vậy càng tốt! Có chị có em.

– Gì nữa đây ông! Bộ tính bứng hoa cả cụm hả? Coi chừng em đó nghen. Thôi bây giờ anh ra trước, nhắc chông lên coi có con tép rong, cá bãi trầu nào hông?

Xuân  đi ra ngoài, vừa lúc Vân cũng hùi hùi quơ cây lùa vịt vào chuồng. Đóng cà tăng xong, Vân đổ lúa vào diệm cho vịt ăn thêm. Cái nón lá  rách bươm của Vân che cái đầu đội khăn trùm kín mít nên Xuân chỉ còn thấy được hai con mắt đen nhánh như hột nhãn nhấp nháy. Hai cánh tay áo dài sười sợt, tươm những đường chỉ còn đang sũng nước. Nàng vo hai ống quần đen lên tới bắp vế, lộ đôi đùi trắng nuột vừa mới rửa. Và những giọt nước còn đọng lại nơi chân lông tơ mượt mà. Vân bỏ nón và khăn ra. Liếc nhìn chàng, Vân nhoẻn miệng cười. Nàng hơi e thẹn. Cô ta vội lấy hai tay vắt ống quần cho rỏ nước rồi xổ ra. Mặt nàng đỏ hồng lồng ráng chiều rực rỡ…

– Cho ăn gì đây chị Sáu?

– Có gì đâu mậy! Thì tép rang dừa cứng cạy ăn với cơm gạo mới, hổng ngon sao? Anh Ba ảnh vừa xúc một mớ tép rong ngoài chông còn nhảy soi sói. Tao rang với muối hột rồi cho ít trái ớt xanh hái bên chòi. Mầy với ảnh ăn thử coi có ngon hơn hông.

– Ngon hông anh? Em thấy anh hít hà và đổ mồ hôi hột rồi đó.

– Ngon. Nhưng mặn đắng chát và cay quá. Muối hột nhai rào rạo ghê răng dữ à nhen! Bới cho anh chén nữa đi!

Một chén nữa. Mặn. Cay. Răng nghiền muối hột rau ráu như cối xay lúa. Ê răng lên tận óc.

Chiều đang xuống dần. Nhưng nóng vẫn còn hừng hực như trong lò sấy dừa. Hông có một chút gió. Mồ hôi đổ ướt rinh rít cả áo. Hai áo trắng của Vân và Khanh cũng vậy, ướt nhiều còn hơn áo chàng, giống như vừa tắm sông lên, làm lộ hai cặp vú săng tròn như mộng dừa già. Cái chòi hình như nhỏ lại và không khí ngột ngạt. Mái chòi lợp bằng lá cà đốp cũ, lủng nhiều nơi. Ánh nắng tuôn xuống loang lỗ. Cả ba người, người nào toàn thân cũng có đốm đốm trắng giống như những con chó mắc mưa đang nằm trong ổ. Khanh lấy tay vén những sợi tóc mai đẫm mồ hôi hai bên má rồi thu dọn chén bỏ vào nồi đồng, bước ra ngoài. Nhai xong một và cơm còn lại, Xuân vội đứng dậy. Một dòng nước từ trên cổ tuôn xuống tận thắt lưng quần. Mặt trời vẫn còn cao. Nắng chói chan, ngùn ngụt. Mặt nước toàn cánh đồng như đống un hắt nắng nổ lừng lừng con mắt…

Chiếc xuồng chưa kịp tấp vào bên đống rơm, người con gái đầu quấn khăn rằng trùm bít để lộ hai con mắt đen nhánh và lanh lợi, vội nhảy lên bờ, bỏ sào và đi nhanh vào chòi. Vân liếc mắt nhìn thấy trước tiên.

– Chị ở đâu vậy?

– Ở chòi bên. Thấy mấy người mới tới qua đây chơi được hôn?

– Thì được chớ sao hổng được. Mà chị tên gì dzậy?

– Tên Lon.

– Tên Lon hả?

– Ừa. Tên Lon. Lon là tên con chim gì gì đó. Má tui nói vậy. Còn ở nhà kêu tui là Tư Én hông hè!

– À vậy, chị tên là Loan chớ hổng phải là Lon đâu!

– Ờ hé ! Ai biết đâu! Chữ nghĩa có nhiều đâu mà hiểu Loan với hổng Lon!

Người con gái mới đến tên Loan có đôi mắt sáng và nụ cười dòn dã, cổi nón lá bung niền cũ rích  và cái khăn rằn trùm đầu, rồi quạt sành sạch. Xuân đứng gần, ngửi mùi mồ hôi ngay ngáy và mùi nắng cháy từ mái tóc Loan tỏa ra trong căn chòi chật chội.

– Ai đó vậy?

– Anh Ba tụi em.

– Anh ruột hay bà con?

– Hỏi kỷ quá vậy? Bà con được hông?

– Vân nó nói xạo đó cô Loan. Vân nó vừa nói vừa cười, cô hổng thấy sao?

– Ai biết! Mấy người nói sao, tui tin vậy. À há! Mà anh sao trắng trẻo, đẹp trai quá vậy? Chắc hổng phải ở đây?

– Ảnh ở Sài Gòn. Nghỉ hè về quê chơi.

– Tui có biết Sè Gòn ở đâu đâu. Tui chỉ biết Bến Tre có một lần. Học trò hả?

– Ừa. Ảnh là học trò.

– Chắc học giỏi lắm hé. Ăn cơm chưa?

– Gì vậy? Ăn cơm rồi. Sao cô hỏi kỷ quá vậy?

– Ờ. Tại tui có con vịt què, thấy mấy người mới xuống, muốn đem qua đây, nấu cháo, mời ăn chơi vậy mà. Mà ăn cơm rồi thì thôi, ngày mơi tui đem qua. À, chị gì gì đó, đang rửa chén ngoài kia kìa, tên gì?

– Chị Sáu em hả? Chỉ tên Khanh.

– Mấy người cũng là học trò hả?

– Sao chị biết?

– Sao hổng biết! Mấy người, người nào người nấy trắng như bông bưởi, đẹp hơn tui nhiều. Nắng ruộng cháy da nên tui đen thui đen thít, mùi khét lẹt. Tui xấu hơn mấy người nhiều. Có phải vậy hông anh Ba? Thôi tui dề nghen. Ngày mơi, tui đem vịt qua, nấu cháo ăn chơi. Tui dề nghen anh Ba !

– Sao cô hông ngồi chơi một chút. Có gì đâu mà gấp vậy?

– Tui phải lo cho vịt ăn, anh Ba.

Nói xong, Loan trùm khăn, đội nón lá, bước ra, nhìn Xuân ngoẻn cười. Xuân cũng theo ra. Mặt trời vừa chấm chơn trời, to bằng cái rổ súc, rừng rực. Một đàn cò bay ngang. Vài đốm trắng hiện ra trong khối lửa đỏ.

Cơm nước xong. Đàn vịt cũng nhốt kỹ càng. Trời nhá nhem. Vân và Khanh đi chung quanh cà tăng ém rơm, sợ chuột và rắn ban đêm chui vào ăn vịt con. Trăng đầu tháng còn trên ngọn trâm bầu ở hướng Tây. Mùa nầy là mùa mưa nên trời nhiều mây. Thảng hoặc có hôm trời trong thì về khuya thấy được nhiều sao. Ba đứa ngồi tựa vào đống rơm. Gió mát lai rai. Sao bắt đầu lấp lánh nhưng thỉnh thoảng bị mây che khuất. Muỗi kêu vo ve, ẹ ẹ như tiếng đàn cò của người mới tập. Khanh đem ra hai cái nóp và chiếc chiếu rách để gần đống rơm. Đời sống người dân quê miền Nam giản dị. Ở miệt vườn và miệt đồng, vừa chạng vạng là lo đốt đèn. (Nói là đèn cho nghe có vẻ sang, chớ thực sự là miếng vải se tròn lại luồn qua cái nắp bằng thiếc của cái chai đựng dầu dừa thắng theo lối nhà quê. Họ nạo một trái dừa khô, vắt lấy nước cốt, bắc lên bếp nấu cho đến khi nào cứt dừa hơi cháy đen, chắt bỏ cặn thì lấy được dầu. Trẻ con thích ăn loại cứt dừa nầy, béo ngậy và ngọt.)

Tối một chút là tắt đèn và chung vô mùng vì sợ bị muỗi cắn. Ở đây cũng vậy, trời chạng vạng nên Khanh lo đi ngủ. Họ ngồi nhìn bầu trời tối đầy mây sâu thăm thẳm, hông ai nói gì. Khanh luồn tay dưới rơm nắm chặt hai tay Xuân. Muỗi chờn vờn bên tai, Xuân đành chịu trận, hông đập được. Ba người ngồi sát bên nhau, nói chuyện vu vơ, nhưng Vân và Khanh cứ vung tay đập muỗi lia lịa.

– Anh với Vân ngủ mỗi người một cái nóp, còn để em ngủ chiếu cho. Chiếu rách thấy mồ sao anh ngủ được!

– Anh ngủ chiếu. Ngủ nóp chật lắm anh hổng ngủ được đâu.

Xuân dành ngủ chiếu vì chàng biết ngủ nóp rất chật chội, khó day trở. Cái nóp bề ngang độ hơn cánh tay, mình ngủ phải chui tọt vào trong đó, ló đầu ra. Nếu muỗi nhiều, thụt đầu vô như rùa và bịt đầu lại, đôi khi nóng đổ mồ hôi, khó thở. Vì thế, dân quê hay nói con cu còn nằm nóp là vậy. Đàn ông con trai hay lăn lộn nên hổng khoái ngủ nóp. Còn mấy bà, mấy cô ngủ thì được, hông tung đạp. Mà thực ra, cực chẳng đã mới ngủ nóp chớ có ai khoái đâu.

Xuân lấy rơm khô lót thêm dưới chiếu, rồi cuộn mình vo tròn, nhìn lên bầu trời. Triều sao cuồn cuộn như dòng nước chảy từ Đông sang Tây khuất trong bầu trời đầy mây. Tiếng cúm núm, tiếng chim trích, tiếng nhái bén, nhái bầu… xa xa hòa lẫn với tiếng dế tí te tí te trong đống rơm như một bản đàn nhiều cung bậc, dỗ Xuân  ngủ mau chóng.

Xuân giựt mình thức giấc. Tối và im lặng. Khanh nằm sát bên chàng từ hồi nào. Hai đứa rục rịch, rị mọ, một hồi lâu. Chàng nghe tiếng thì thầm bên tai….

– Anh! Em… em… Đừng có cổi đồ nhen anh. Rơm sót lắm!

– Hổng sao đâu em!

Tiếng xột xoẹt của rơm và quần áo quyện lấy hơi thở dồn dập. Mùi mật ngọt ong dúi, mùi thơm nước chanh, nước sả ngầy ngật. Cơn khao khát như những làn sóng bạc đầu ở dòng sông Bến Tre cuốn chìm hai con người trẻ đầy sức lực đang đi chòng chành trên con xuồng ba lá. Sao Hôm mất lút ở dưới chơn trời và rồi sao Mai lấp ló ở hàng bần cửa sông Ba Lai. Chiếc thuyền chở Phùng Xuân và Khanh trôi giạt ngoài biển khơi. Xuân đê mê sung sướng nhưng thân thể rã rời, rệu rạo hơn chiếc chiếu rách chàng đang nằm. Xuân mặc cho sương đêm thấm lạnh và những con muỗi è ẹ bên tai…

Cái vỗ nhẹ của Khanh

– Mặc đồ mau vô để Vân nó…

Xuân nhướng mắt. Trong chòi, lửa rơm đang phừng cháy….

– Em đang làm gì vậy?

– Nấu cơm.

– Nấu cơm gì giờ nầy?

– Coi vậy chớ gần sáng rồi anh. Ví lại, nấu cơm bằng rơm phải canh chừng nếu hông nó sống. Lúc đầu anh phải đốt rơm thật nhiều, cho lửa phừng lên để nước sôi bùng sùng sục, gạo mau nở. Sau đó anh chắt nước, đậy hùm nấp và dần nồi cơm trong rơm nóng. Anh hổng dần nó trong rơm mà cứ hong trên bếp là nó hổng chín đâu; nên phải coi chừng lâu lắm đó anh.

Có tiếng lịch kịch của cây sào chạm vào ghe.

– Chị Sáu ơi! Chị Sáu ơi!

– Gì đó mậy. Đi đâu sớm vậy? Mà sao mầy kêu như bị ma rượt vậy?

– Bác Sáu nói chị dề mau.

– Tám Trò! Làm gì mà mầy nói như líu lưỡi vậy? Dề là sao? Sao dề?

– Bác Sáu nói. a… đàng trai hồi khuya qua nói ông sui trai bị nhà thương chê rồi. A.a.a. họ lật đật chở dề. Aa.a..a. Họ qua xin đàng gái cho cưới chạy tang. Bác Sáu đã thuận rồi. Ổng kêu chị dề mau đi, để họ qua rước dâu cho kịp con nước.

– Anh ! Cưới chạy tang! Anh ơi! Chết em rồi! Anh ơi! Cưới chạy tang! Trời ơi!

Nước mắt Khanh ràn rụa. Vân liếc nhìn chị rồi nhìn Xuân, thầm đoán ra câu chuyện. Chỉ có Tám Trò là thò lỏ mắt nhìn mọi người mà hông hiểu tại sao Khanh lại khóc dữ vậy. Tay chân Khanh lập cà lập cập, nàng vừa cuộn ba quần áo bỏ vào trong giỏ bằng lác vừa thút tha thút thít, xong ngồi bệt xuống đất bắt đầu khóc rấm ra rấm rức. Nước mắt, nước mũi tuôn ra cùng một lượt làm đẫm vạt áo cô gái. Khanh chỉ nói được một câu như thất thần: Đám cưới chạy tang, chết em rồi! Xuân chỉ biết đứng nhìn người yêu khóc mà lòng rối bời bời. Nói lời an ủi cũng hông được mà ôm vào lòng vỗ về cũng hổng được. Khóc đã một hồi, hỉ mũi ướt cả góc khăn rằn, Khanh vụt đứng lên, nhìn Vân, nhìn Xuân một lát rồi ngấp nga ngấp ngứ..

– Anh! Em đi. Anh ở lại với Vân.

– Đợi anh. Anh lấy đồ đi dìa ví em.

– Hổng được đâu anh Ba. Hồi khuya em mượn xuồng của người ta, họ để sẳn trên đó một hai giạ lúa rồi.Chị Sáu ngồi lên đã khẳm, thêm anh nữa là ghe chìm luôn. Mà Bác Sáu nói anh ráng ở lại phụ chị Bảy một hai hôm rồi Bác Sáu xuống.

Xuân thẩn thờ, bí xị. Khanh quay trở lại

– Em bỏ cái nón lá nầy lại cho anh đội, hông để nắng cháy da anh. Vân! Mầy  lo nấu cơm cho ảnh ăn nghen mậy!

– Khanh! Khanh! Khanh!

Khanh tuôn chạy ra khỏi chòi. Nàng bước xuống ghe, ngồi quay mặt về phía Xuân. Nước ở đâu chảy ra nhiều và mãi mãi như nước tuôn ra từ hai mắt sâu thăm thẳm?… Chiếc xuồng khuất dần trong đám sậy, lùm cây trâm bầu. Khanh có quay lại thì cũng hông còn thấy nhau. Xuân chỉ thấy có một cây sào chống ghe dài quơ qua quơ lại một lát rồi mất hẳn trong màng sương sớm mờ mờ trên mặt nước đồng hoang.

Xuân ngồi thừ bên đống rơm một lúc lâu, nhìn về phía Khanh ra đi. GiồngTre bây giờ là một nhúm cây nhỏ lờ mờ xanh rì. Thôi thế là hết. Những toan tính tốt đẹp chiều hôm qua như hoa Quỳnh Hoa, qua đi nhanh chóng. Mà chàng theo Khanh về thì có được cái gì?

Tám Trò đèo Khanh trên chiếc xe đòn dông ọp ẹp hông có cái bửng nào hết. Khanh ngồi sau. Cái bọt- ba- ga lông ốc sụt sịt. Bùn đất văng lên tới tóc. Nàng vẫn còn khóc thút thít. Thằng con trai còng lưng đạp, đổ mồ hôi ướt áo như mắc mưa, về đến nhà thì cũng gần trưa.

 

Cổng đám cưới trước nhà làm bằng tàu dừa xé đôi, rọc bớt lá còn chừa lại độ một gang tay dọc sát cọng rồi uốn cong, trang trí thêm những lá và bông đủng đỉnh đốn ở cuối vườn, giây tơ hồng hái nơi những bụi lứt mọc hoang trong vườn. Bảng Vu Quy mượn ở đâu đó, được gắn vội vã nên hông ngay ngắn. Một bình bông vạn thọ, một dĩa trái cây trên bàn thờ ông bà. Đơn giản như thế nhưng ông Sáu Xe vẫn lăng xăng chạy tới chạy lui mong ngóng Khanh về. Một vài người bà con lui cui ở bếp lo nấu vài món ăn đãi khách.

Vừa thấy Khanh bước vào thềm nhà, ông Sáu Xe hối Khanh lo chuẩn bị vì nhà trai trưa sẽ qua rước dâu cho kịp con nước. Ông hông để ý thấy đôi mắt Khanh đỏ hoe. Khanh hông buồn tắm, ra sàn nước rửa mặt qua loa rồi vào buồng tìm cái áo dài trắng mặc bữa đám hỏi còn vắt ở đâu đó. Hông kịp sắm một cái áo cưới! Khanh ngồi xuống bên mép giường, thừ người nghĩ ngợi một lát rồi đứng dậy, chải sơ mái tóc, kẹp cho hai bên đừng xệ xuống. Trời ơi! Đám cưới chạy tang! Đúng là trời định. Mình toan tính nhiều thứ với ảnh chiều hôm qua giờ hông còn gì nữa! Ái ân nóng bỏng đêm qua còn ngây ngất. Câu nói với Xuân về chuyện bầu bì, giờ đây làm Khanh hơi lo sợ. Thôi kệ nó. Chuyện lỡ rồi, tới đâu hay tới đó. Mình tính trước rồi cũng trớt quớt, hổng đi đến đâu!

Hàng dừa hơi ngã bóng. Con nước xế trưa vừa mấp mé đám mái dầm ở ngoài rạch thì năm người bên đàng trai qua tới: chú rể, bà Tư Thép, ông mai và chú thím của chú rể. Hông có những mâm trái cây, mâm trà. Ba Đẹn bận bà ba trắng, ngoài khoác áo dài đen, đi chơn không, bưng mâm trầu cau… Họ có vẻ hối hả, hấp tấp đi vào trong nhà, hông cần ông mai vào báo trước. Ông Sáu Xe rót nước mời, nhưng ông mai chưa kịp uống, đứng lên nói vài lời trình bày lý do phải cưới gấp vì bịnh tình ông sui trai. Khanh đứng kế bên ông Sáu Xe mà hông nghe được câu nào cả. Hông có nhẫn cưới, hông có đôi bông tai, chỉ có chiếc kiềng vàng để trong hộp…  Xong ông mai xin cho hai cháu lạy bàn thờ ông bà để rước dâu về sớm. Ông Sáu Xe khẩn khoản mời nhà trai ở lại dùng bữa cơm trưa, dù gì cũng qua tới đây rồi. Ông mai đưa mắt hỏi ý kiến bà Tư Thép. Sau một phút ngần ngừ, bà gật đầu ưng thuận. Ông Sáu Xe hối vợ cho dọn đồ ăn lên. Khanh cũng chạy tới chạy lui lo bưng khi thì chén cơm, khi thì tô kiểm, nhưng mặt mày buồn so. Buổi ăn hông lâu hơn thời gian một siêu nước sôi. Ai nấy im lặng, ngoài  tiếng chó gầu gừ dành giựt những cục xương thừa quăng xuống đất…

Khanh cùng Ba Đẹn lạy trước bàn thờ ông bà, lạy cha mẹ. Những người bà con xí xóa những cái lạy của Khanh vì hông đủ thời giờ. Khanh vào buồng, vội vàng nhét một vài ba bộ quần áo trong giỏ đệm lác (bà già chồng nhắc nhở đừng mang nhiều. Hai ba bữa sau sẽ quay về lấy thêm cho đủ) rồi ra ngoài. Vừa bước đến cửa hiên nhà, Khanh sụp khóc ồ ồ sướt mướt, có lẽ để được dịp sổ hết những nỗi buồn khổ của mình mà hông ai có thể biết được. Giờ nầy đáng lý ra có Vân, có Xuân, có dâu phụ, có rể phụ, có tiếng pháo nổ, có những trẻ em chạy lăng xăng theo coi cô dâu mặc áo cưới, có tiếng khua lụp cụp của dao thớt, có tiếng lẻng kẻng của tô chén, có tiếng chuyện trò rổn rảng của người thân quyến thuộc, có bếp lửa bên hông nhà, dưới tàn cây lêkima,  khói bay nghi ngút của đám trai trẻ lo nấu nước pha trà. Hông có dựng rạp che lá dừa nước ở trên với những hàng cột ôm đầy lá đủng đỉnh, giây tơ hồng, những nẹp ngang bó bằng bẹ chuối có bông đủng đỉnh tua tua… Một chút hơi hướm đám cưới cũng hổng có: đúng là đám cưới chạy tang!

Gia đình Khanh cùng nhà trai ra chỗ đậu ghe. Con nước ưỡn ẹo lưng chừng rạch. Chiếc ghe năm lá hai kèm hông áp sát được bờ. Một vài người trai trẻ đốn những tàu lá dừa nước lấp lên bùn làm lối đi cho đỡ lún…

Chiếc ghe chở đoàn đám cưới chạy tang khuất sau đám dừa nước, nhưng gia đình Khanh vẫn còn đứng trên bờ ngó theo. Và nước chảy ngập ngừng, ứ éo. Có tiếng bìm bịp kêu ngoài sông cái. Bìm bịp kêu nước lớn anh ơi! Đợi một hồi lâu, họ thẩn tha thẩn thờ lặng lẽ quay trở vào…

Chiếc ghe ra rạch Lương Quới. Hai bên đầy lá dừa nước chen ô rô bông trắng và tím nhỏ nhin nhít hì hụp trong con nước lớn đục ngầu. Cặc bần ngỏng lên khỏi mặt nước độ gang tay, ngủng ngẳng nhịp nhịp cà giựt, cà giựt theo sóng nước. Thỉnh thoảng có những bụi bần chen lẫn, mang nhiều ổ chim dòng dọc đực và cái có màu vàng cỏ úa. Ổ chim mái bao giờ cũng đẹp và ấm cúng, con đường vào kín đáo như phòng các cô gái chưa chồng. Trong lúc đó chàng chim trống đứng lơ lửng trong ổ đơn sơ, chịu đựng mưa nắng. Đừng có ham mà trèo lấy ổ dòng dọc. Chúng khôn ngoan ở chung với ong bần, nên kẻ nào có ý xấu phá đám- nhứt là đám trẻ con- sẽ bị ong bần đánh cho tơi bời, hông kịp leo xuống, chỉ có cách nhảy ùm xuống nước để thoát mà thôi. Ít có ai lấy được ổ dòng dọc, trừ khi là ổ cũ, chúng đã bỏ đi rồi. Mà lấy làm gì? Hãy để những ổ dòng dọc treo tòn teng trên những hàng bần dài dọc bờ sông, bờ rạch, bờ xẻo- dưới tàng cây rợp bóng, giữa đồng hoang mênh mông- sẽ tạo thành  bức tranh ấm cúng, hạnh phúc như những gia đình dân quê sông nước miền Nam. Khanh ngước nhìn lên. Một con dòng dọc trống đang đứng lẻ loi trong ổ. Bất giác dòng nước mắt Khanh tuôn chảy. Ba Đẹn ngồi bên, nhìn vợ khóc, hông nói một lời, tưởng là những giọt nước mắt kia Khanh dành cho mình: cô dâu về nhà chồng!

Bữa tiệc đón dâu hối hả và yên lặng. Bà Tư Thép hông muốn làm rình rang trong lúc người chồng đang nằm chờ chết trong buồng ở căn nhà trên nên cổng đón dâu cũng làm đơn sơ như bên nhà gái. Hổng có pháo. Có khoảng chục người thân thuộc trong gia đình lo đám cưới. Không khí lặng trang. Ai nấy nhìn cô dâu vừa vô nhà mà hông có tiếng cười nói rôm rả. Sau khi cùng chồng lạy bàn thờ tổ tiên, lạy cha mẹ, Khanh vào buồng thay áo rồi xuống nhà bếp lo dọn dẹp cùng những người gia đình bên chồng cho đến khuya mà quên rằng mình từ trưa đến giờ chưa có cái gì nhét vào trong bụng. Trong khi đó, BaĐẹn đang gật gù ở bàn nhậu với mấy người bạn bên ánh đèn dầu leo lét.

Trời tối thui. Đám cưới chạy tang nên bà già chồng hông cho đốt đèn măng xông. Khanh lần mò đi vào căn buồng dành cho hai vợ chồng mới cưới. Một mùi khác lạ hơn mùi căn buồng ở bên nhà. Và đột nhiên Khanh vừa cảm thấy mình mất mát một thứ gì khó tả mà Khanh hông bao giờ tìm thấy lại được trong giờ phút cô đơn nầy. Cây đèn dầu mù mờ hông đủ làm ấm cúng căn phòng đêm động phòng của đám cưới chạy tang. Mềm gối mới cũng hông. Giường mới cũng hông. Khanh ngồi xuống thở dài, nghĩ ngợi lung tung; được một lát, lục trong giỏ lác đem theo hồi trưa, lấy một bộ đồ bà ba bông còn mới, rồi cầm đèn đi ra nhà tắm sau nhà…

Khanh nằm xuống trong chiếc giường mà nàng nghĩ là lạ lùng với mình. Cuộc đời người con gái sao bị đưa đẩy nhanh chóng? Vừa mới đêm qua đây với Xuân, đầy những dự tính, đầy những ân ái nóng bỏng mà bây giờ lại thế nầy đây?

Khanh suy nghĩ miên man, thiu thiu ngủ trong mưa đêm thì giựt mình, vì có người ôm chặt và mùi rượu đế nồng nặc. Khanh định xô ra nhưng vừa kịp nghĩ lại, mình mới làm đám cưới chạy tang ngày hôm nay và người ôm mình chắc là Ba Đẹn, chồng mình, nên nằm im lặng. Ba Đẹn chồm lên mình Khanh, thở hổn hển trong hơi rượu. Bàn tay sờ soạng lung tung và mạnh bạo nơi bụng vợ. Đôi bàn tay to lớn, gồ ghề, nham nhám làm Khanh nổi da gà cùng mình. Nàng nằm trân mình chịu trận. Qua những lần ân ái với Xuân, nàng biết là chồng mình muốn gì? Chồng mình có biết mở dây lưng quần mình hông? Khanh tự hỏi? Vì bàn tay Ba Đẹn lây quây ở bụng và thắt lưng vợ rất lâu mà hông mở được. Khi hông biết kéo, Ba Đẹn sẽ giựt dây gút lại. Cô định thò tay gỡ mối, nhưng Ba Đẹn mạnh bạo đẩy tay vợ ra và giựt mạnh một đầu dây. Lưng quần bị gút chặt. Người con trai bồng bột, háo hức, thiếu kinh nghiệm trong đêm tân hôn, gồng người lên mình người vợ mới cưới một vài cái. Vừa lúc đó, Khanh nghe một tiếng thở khè nồng nặc mùi rượu phà vào mặt mũi nàng… rồi Ba Đẹn nằm sui cò…

Khanh lấy răng cắn môi lại, cố ngăn hai dòng nước mắt chảy dài. Đêm tân hôn như thế nầy sao? Khanh chưa bao giờ nghe Má nhắc tới đêm tân hôn như thế nào. Tiếng đó hông khi nào nghe cha mẹ ở đồng quê nói tới. Và Khanh cũng chẳng bao giờ nghe bạn bè nói với nhau về chuyện nầy. Nó như thế nầy sao?… Gà gáy canh hai. Khanh giựt mình thức giấc, đỡ nhẹ chồng mình qua một bên, mầy mò trong bóng tối mù mù. Nàng lục giỏ mình, lấy ra một bộ bà ba, lần mò đi xuống nhà tắm, giặt bộ quần áo nhầy nhụa và đầy mùi rượu.

Khi Khanh vừa bước lên nhà trên, nghe tiếng hốt hoảng của bà già chồng: “Thằng Ba đâu rồi? Tía mầy chết rồi nè!” và tiếng khóc thất thanh của bả. Khanh lật đật chạy vào buồng kêu chồng dậy.

Trời vừa tờ mờ sáng là bắt đầu một ngày bận rộn của cặp vợ chồng mới cưới cho đám ma. Khanh bù đầu lo công việc dưới bếp: nào nấu cơm, thức ăn cho gia đình và những người bà con, lối xóm phụ việc chôn cất. Mọi việc ai cũng kêu vợ thằng Ba. Vì mới về nhà chồng chưa được một ngày nên Khanh hông biết mọi thứ sắp xếp trong nhà như thế nào? Hổng lẽ chút gì cũng phải hỏi bà Tư Thép trong lúc bả đang ngồi khóc rấm rức? Còn cô em chồng, Út Nhạy, mới mười lăm tuổi nó chỉ biết chạy tới chạy lui. Vì thế Khanh hông lúc nào được hở tay.

Còn Ba Đẹn?Từ sáng sớm, lo tắm rửa cho Tía, thay một bộ đồ bà ba trắng mới tinh, để người chết trên bộ ván giữa nhà. Nó dặn mẹ lo việc cúng kiến, nhứt là đừng để cây đèn dưới bộ ván tắt. Xong qua nhà chú Hai Đời mượn xe đạp dông xuống GiồngTrôm mua hòm.

Khoảng gần đứng bóng dừa, người ta nghe tiếng nổ bình bịch của tiếng xe gắn máy motobécane cũ xì. Sau năm 1954, ở các tỉnh miền Nam, ngoài xe ngựa, người ta còn thường xài các chiếc xe lôi đạp để chuyên chở hàng và người ở những đoạn đường ngắn khoảng từ mười hai cây số trở lại. Xe lôi đạp hông chở được nhiều, chừng ba, bốn người và một số ít hàng. Nếu có được một chiếc motobécane cũ thời Pháp thì chở được khoảng tám người với số hàng nhiều và đi xa hơn. Về sau nầy, có một số xe lôi gắn máy Sachs, Goebel, Peugeot…. Hành khách ngồi ở trong ba người- nếu có con nhỏ thì ôm vào lòng-, ở càng xe hai người, ở phía sau hai hoặc ba người. Gióng gánh thì móc hai bên. Chiếc xe lôi motobécane cũ mèm như con trâu già coi vậy mà còn gân, ít khi nào chết máy. Hơn nữa, vì tài xế giỏi nên hông bao giờ thấy xe lật. Đoạn đường Lương Quới- Mỹ Lồng bị Việt Minh đào đi bới lại trong chiến tranh, nay chưa được sửa lại, nên lầy lội chèn nhẹt trong mùa mưa. Ấy vậy mà chiếc xe lôi motobécane vẫn tuôn đi ào ào trên con đường trơn trợt đó. Ba Đẹn mướn xe lôi chở hòm từ Giồng Trôm về, quẹo vô ngã ba Lương Hòa, ở gần Mã Đá. Xe lôi vào sân nhà chú Hai Đời.Người ta phải bắc thêm hai cây cầu song song qua hai cái mương mới khiêng được hòm về tới nhà.

Thầy chùa đã coi giờ liệm, khoảng đâu đầu giờ Mùi, tức là lúc có tiếng gà gáy ban trưa. Trà xấu được gói bằng giấy súc thành những bọc to và xơ dừa chèn hai bên hông; xong rồi phủ thêm những bộ quần áo mới. Bà TưThép và cô con gái khóc vật vã khi khóa nắp hòm. Xong đâu đó là phần thầy chùa trong làng lo tụng kinh.

Buổi chiều đầu tiên, một ít trai tráng thanh niên trong làng tụ họp giúp đỡ gia đình người chết. Một đám lo tìm cây như so đũa, mù u, bình linh… để dựng rạp. Nhóm nầy chặt lá dừa nước để lợp che nắng hoặc lo khiêng bàn ghế để ngày mai cho khách ngồi. Đám kia lo phần nấu nước pha trà.

Khanh đầu tắt mặt tối, chạy lên chạy xuống lo đủ thứ chuyện, từ chuyện cái chén, cái tô, đôi đũa đến chuyện bếp núc. Hở một chút là con vợ thằng Đẹn, cô Ba, dì Ba. Khanh hổng biết đâu mà rờ. Khanh phải chạy đi kiếm chồng hỏi cái nầy ở đâu, cái kia ở đâu anh?

Trời mới vừa mưa đêm qua, bùn dậy lên sền sệt vì nhiều người dẫm tới dẫm lui. Đôi chơn của Khanh hông bao giờ sạch, quậy trong đám bùn nhão nhoẹt, dính bết đầy bùn nên chè bè ra. Trên đầu thì đội khăn tang. Hai ống quần phải xoắn lên gần khỏi bắp chuối. Cặp giò trắng ngần của cô nữ sinh ngày hôm kia, bây giờ đã thành đôi cẳng của người vợ đảm đang. Khanh mần quần quật, hông còn thời giờ để nghĩ đến Xuân, đến những giây phút ân ái cuồng nhiệt bên đóng rơm mà giờ đây Khanh coi như đã xa, xa lắm.

Trời tối mờ tối mịt. Đèn đóm mù mờ ở dưới nhà bếp. Ở nhà trên và ngoài sân rạp có được hai cây đèn măng xông. Tụng kinh đã xong. Giờ nầy có lẽ đã khuya lắm rồi nhưng vẫn còn một đám đàn ông con trai tụ tập ở phía bên góc trái rạp. Họ lót nhiều lớp lá dừa nước để cho đỡ dính bùn rồi ngồi lên trên đó. Một người đàn cây guy-ta và một người hát những bài vọng cổ. Tiếng hát buồn não nà não nuột tả cảnh chia ly của cặp vợ chồng, ơ ơ trong đêm khuya như nghẹn trong tiếng nấc. Con chó nằm nghếch mỏ lim dim bên đống un mù khói.

Nồi cháo gà đã nhừ cho đám đàn ca hát xướng. Khanh bỏ thêm vài trái dừa điếc khô để giữ nóng, đi lại cái lu bên hè nhà rửa chơn rồi vào buồng. Khanh mệt mỏi thiếp đi. Trong giấc ngủ chập chờn, Khanh cảm thấy mùi rượu nồng nặc phà vào mặt và bàn tay mằn mò mải miết của chồng. Mơ mơ màng màng, Khanh đưa tay gỡ mối dây lưng quần… Men rượu làm Ba Đẹn quên người cha vừa mới chết còn nằm trong hòm! … Nó thỏa mãn nằm sụi lơ… Nước mắt Khanh tuôn chảy dầm dề. Nàng hổng có thấy một chút gì sung sướng.

Xuân cuộn tròn mình như con trúc, ngủ thiếp đi. Khi giựt mình thức dậy, chàng cảm thấy chung quanh vắng lặng và trống trải. Ngoài đồng, chói lòa. Pháo nắng nổ khắp nơi. Xuân lim dim và dụi mắt một ít lâu mới mở được. Ngồi thừ, co rúm lại như chuột gặp phải rắn, bần thần nghĩ mông lung rồi Xuân gục đầu vào hai gối. Chàng vẫn lặn hụp trong sung sướng xác thịt đêm qua. Hương vị nồng nàn còn ở đây. Kỷ niệm hiện ra từng khúc, từng khúc như đám lục bình trôi. Làm sao nối lại được. Bị sóng đánh tan tác. Xa rồi, xa rồi, dòng xoáy nước nhấn chìm tất cả. Chỉ còn những mảng vỡ vụn hông chắp nối lại được. Mỗi mảnh trôi theo mỗi hướng. Xuân ứa nước mắt.

– Anh Ba! Anh Ba! Thức dậy chớ.

– Thì anh cũng vừa dậy đây.

– Gần xế rồi. Em dề, nhốt vịt, cho vịt ăn mà vẫn thấy anh ngồi bó rọ, gục mặt vô đầu gối. Anh buồn lắm hả?

– Sao em biết?

– Thì thấy sáng sớm nay chị Sáu khóc sướt mướt khi nghe đám cưới chạy tang, rồi bây giờ anh ngồi cú rủ và rơm rớm nước mắt, là em đủ biết.

– Cái con nhỏ nầy cứ đoán mò hông hè!

– Ờ hé! Đoán mò hay hổng đoán mò thì có ai biết đó nhen? Trúng bóc!

– Cái con nhỏ quỉ nầy!

– Sao anh kêu em con nhỏ nầy con nhỏ nọ hoài hông dzậy. Bộ em còn con nít lắm hả? Có ngày em cho anh biết tay.

– Biết tay gì?

– Thì biết tay vậy vậy đó.

– Thôi đi cô em ơi! Đừng nói chuyện dần lân.

Như lời hứa, buổi chiều Loan xách con vịt què qua chòi. Nồi cháo ngọt lịm nhưng còn hôi mùi lông thui. Xuân buồn bã húp từng ngụm cháo và uể oải ăn miếng thịt vịt xé trộn muối ớt cay sè.

– Anh Ba nè!

– Gì Loan?

– Ngày nào tui cũng đem đồ ăn qua đây ăn với anh và Vân được hông?

– Có được hông Vân?

– Anh Ba hỏi em hả?Ờ hé ! Chị Loan tốt quá hé! Vậy là em đỡ nấu cơm rồi nhe.

– Sao em lại muốn ăn cơm chung với anh và Vân?

– Ở đây vắng teo. Ăn cơm tui ăn có một mình nhiều khi nuốt hổng vô.

– Chớ mấy khi kia thì sao?

– Thì ngồi một mình ráng nuốt chớ sao!

– Sao hổng kiếm bạn nào chăn vịt gần gần chỗ Loan.

– Có ai đâu anh Ba? Anh hổng thấy đồng không mông quạnh hông sao? Có trời và nước….

– Hổng có anh và Vân thì em cu ky một mình em hổng sợ à?

– Chèn đất ơi! Sợ gì anh Ba? Còn ai đâu mà sợ, thằng Tám Trò nó còn con nít, khờ câm à! Cả tháng nay rồi. Từ hồi vịt còn chút xíu cho đến bây giờ vịt sắp đôn lông rồi. Sáng sớm dậy nấu cơm ăn cho cả ngày. Trưa bới cơm đựng trong mo cau đem ra ngoài đồng, ngồi coi chừng vịt rúc rỉa, hát nghêu ngao ba câu vọng cổ, vừa nhai vừa nuốt, rồi vốc nước ruộng uống. Rảnh một chút, kiếm thêm con cá, con tép, con lươn.

– Em có bắt được chim cò gì hông?

– Có chứ. Đôi khi tui cũng chộp được trích, cò, chàng nghịch, cúm núm. Mà chuột và rắn là thường.

– Em dang nắng cả ngày à?

– Có chỗ nào đâu mà đụt mưa đụt nắng. Bộ tui đen lắm hả?

– Tui hổng đen mà tui như cục than!

– Đồ quỉ anh nè! Ngày mơi tui kiếm gì qua ăn, chớ ở dưới đây ăn cực lắm.

– Thì có gì ăn nấy, cũng như tụi em thôi. Khanh và Vân cũng còn chút đồ ăn đem từ Lương Quới xuống.

– Anh Ba nầy sướng quá hén, vừa mới đây mà có người lo rồi! Hôm trước có chị Sáu, giờ đến chị Loan, em toàn ăn ké hông.

– Xí. Cái con nhỏ nầy lại ganh nữa rồi. Tao thấy ảnh học trò sợ ảnh ăn cực hông nổi tao mới phụ với mầy chớ. Đừng có ba xàm bá láp nghen mậy.

– Ờ hé ! để rồi coi.

– Coi coi cái gì? Có coi mầy á. Thôi tao dìa đây. Trưa mơi tao đem cơm qua ăn chung nhen.

Loan te te đi ra ngoài, nhảy xuống xuồng chống đi. Xuân mệt mỏi ngã lưng trên đống rơm nhìn ra ngoài cánh đồng mút ngàn ngộp nắng chiều. Giờ nầy em đang làm gì hở Khanh?

Ba người đựng cơm chung trong cái mo cau. Vân và Xuân mỗi đứa có một cái muỗng cũ mèm. Còn Loan dùng một khúc lá dứa gai. Hai cô gái bày tép kho dừa, thịt chàng nghịch và đọt rán luộc ra trong hai cái lá bông súng nhỏ. Tép kho dừa của Khanh và Vân còn có chút màu mè và hơi hướm nước mắm thơm ngon. Thịt chàng nghịch của Loan trắng bệch vì hông có nước màu và gia vị, kho với muối hột nên nghe mùi tanh ói và mặm chát. May là có thêm mấy trái ớt tươi bán được mùi lông, nhưng chàng vẫn hửi được mùi khen khét của chim thui qua lửa rơm. Loan còn bày thêm được món canh chua rau dừa, bông súng nấu với con mẻ đựng trong chén làm bằng gáo dừa.

– Ngon hông anh Ba?

– Ngon chớ!Thịt chàng nghịch lạ miệng ăn cũng được.

– Hứ! Tui biết anh khen cho lấy có, chớ thịt chàng nghịch kho muối hột có gì là ngon.

– Thì anh phải khen để mai mốt em còn nấu cho anh ăn nữa chứ. Chớ khen dở, em giận lẩy là hổng có cái gì ăn đâu nghen. Ờ mà sao em bẫy được chàng nghịch vậy?

– Đâu có bẫy anh Ba. Tui vừa đi vừa cầm khúc cây. Nó bay lên, tui phang, may trúng cánh, nó lủi xuống đám lác, tui phải quần hồi lâu mới tìm được; nếu hông, bữa nay, có muối rang ớt hông hè.

– Em có gian thiệt. Hể quơ cây là trúng chim. Ờ, mà còn canh chua con mẻ nữa mà. Ăn lạ miệng.Ngon lắm.

– Chà! Anh Ba nay coi bộ nịnh dữ à nghen!

– Con nhỏ nầy! Chọc tao hoài nghen mậy.

Hai gò má Loan hây hây đỏ trong nắng. Loan bỏ đi, đến vũng nước trong, lấy tay khoát khoát rồi bụm uống. Có lẽ nước vũng ruộng ngon hơn nước mưa trong lu bên hông chòi. Khi mới mở lu ra Xuân hông dám uống. Trước hết là muỗi, rồi kế đó lăng quăng, khỏa cách mấy lăng quăng vừa chìm xuống là nổi lên lại. Nước mưa mái lá và rơm hơi đo đỏ, có mùi nấm. Rút cuộc rồi ai cũng uống nước ruộng, múc càng xa chòi càng tốt.

– Con Vân nó đi đâu rồi anh?

– Hổng biết. Chắc Vân ở tuốt ngoài đầu bờ. Có gì hôn?

– Con nhỏ hay thót thét. Nói tui với anh nầy nọ.

– Thì đâu có gì! Cũng như Vân vậy thôi!

– Chừng nào anh dìa trển. Dìa trên SèGòn đó.

– Hổng biết nữa. Chắc mươi ngày.

– Tui muốn anh ở đây chăn vịt hoài.

– Đâu phải vịt của anh. Với lại, anh còn phải về Sài Gòn đi học nữa chớ.

– Vậy thì biết chừng nào tui gặp lại anh?

– Thì mùa hè năm sau. Anh trở về đây chăn vịt nữa.

– Ờ hé! Biết có còn gặp lại anh Ba hôn?

Nàng ngó mông ra cánh đồng. Hai cặp mắt đỏ hoe, rươm rướm nước mắt. Hình như có cái gì làm cho tâm hồn nàng xao động. Nàng cảm thấy mình thiệt gần gủi với người thanh niên nầy. Sao mới có mấy ngày mà mình cảm thấy hông thể xa cách được ảnh. Mình có thương ảnh hông? Mai mốt ảnh về Sè Gòn thì mình mần sao?

Bữa cơm trưa vừa xong. Từ cuối rặng dừa một đám mây đen như lọ ghẹ dần dần lan rộng, hông mấy lúc phủ kín cả bầu trời hướng Tây Nam. Có gió nhẹ và không khí dịu mát lại. Có tiếng sấm sét gầm gừ từ xa.

– Anh Ba dí Vân lùa vịt dìa đi. Mưa tới  lớn lắm đó. Vân, mầy lo hùi tụi nó dìa mau đi. Tấn cà tăng kỹ nghen mậy. Gió mạnh, thổi tốc hết, vịt túa ra tùm lum, mầy hổng nhốt lại được đâu. Rồi mất vịt hết. Thôi tao dìa đây, tao lo vịt của tao.

– Kệ. Để chỉ dề đi. Mình lo từ từ cũng xong. Bây giờ em dí anh xuống xuồng, mình lùa tụi nó dìa, nhốt lợi thì chưa chắc mưa tới.

– Có chắc hông em? Loan nó nói mình làm mau mau đi mà. Anh thấy bây giờ gió lớn quá mà. Trời tối đen rồi em. Sấm nhiều quá. Mau đi.

– Anh hổng nghe người ta nói sao. Mưa đằng Đông vừa trông vừa chạy. Mưa đằng Nam vừa làm vừa chơi. Em cá ví anh là mình ví vịt xong xuôi thì mới vừa mưa tới thôi.

Nhưng hai đứa làm cà rịt cà tang, phần Vân hông thạo việc bằng Khanh. Còn Xuân thì i tờ rít, ù ù cạc cạc  ba cái vụ nầy, nên mây phủ đen trời mà việc chưa đến đâu. Cơn mưa ập đến như roi mây quất vào mình. Sấm sét nổ như đạn lum đum nghe đinh tai nhức óc. Những giọt mưa như những viên sỏi nhỏ bắn vào mặt, tát vào má, đau rát dữ dội. Nón lá bay mất. Xuân phải lấy khăn rằn phủ kín mặt, phụ Vân đang lính qua lính quýnh chèn cà tăng thật kỹ. Mưa bắt đầu như lấy gàu tát. Cánh đồng mù mịt. Hông còn thấy gì. Một màu trắng xóa.

– Vân ơi! Em đâu rồi? Em đâu rồi?

– Gì? Anh hét lớn quá vậy?

– Anh đâu thấy em đâu? Mưa lớn quá. Mù trời. Dông dữ tợn.

– Em đang đứng gần anh đây. Chạy vô chòi đi.

– Chòi hướng nào đâu? Anh đâu thấy đâu?

– Em thấy anh rồi!

Xuân chợt nhận ra một hình mờ mờ đi lần tới, rồi hướng về phía chòi. Chàng bước lần theo. Vô chòi, hai đứa ướt như chuột lột, cùng tháo khăn rằn ra, vắt ráo, rồi lấy lau mặt. Mưa vẫn còn nặng hột và gió càng lớn. Sấm sét hông bớt. Vừa lúc Vân lủi vô góc sau chòi thay đồ, Xuân lật đật cổi quần áo thật lẹ, vứt đại xuống đất rồi mặc đồ khô vào. Tiếng gió hú dữ tợn. Cơn dông có lẽ sắp tới gần. Bờ mương gần nhà đầy bong bóng. Mới chút đó mà nước lé đé mí bờ. Hông còn thấy hai cây rơm và bến ghe. Màn mưa che khuất đám vịt. Chắc chúng tụm lại, rút đầu vào nhau, dồn vào một góc cà tăng, im thin thít. Mà nếu chúng có kêu Xuân cũng hông thể nghe được vì gió quần dữ quá, chỉ nghe tiếng hú liên tục mà hổng nghe được tiếng mưa rơi. Mưa giăng mùng khắp trời, nhìn ra hông còn thấy gì hết. Chợt xoáy gió quặn một cái thật mạnh kèm theo tiếng rít rất dài. Dãy lá cà đốp bị giựt mạnh nghe cái rốp rồi tung bay mất. Nước tát tung tóe.

– Chạy chỗ khác đi! Nóc chòi bay mất rồi!

– Anh hét lớn lên hơn nữa em mới nghe. Chạy đi đâu anh Ba?

– Lấy nóp trùm đầu rồi chạy ra đống rơm, lủi đầu vào trỏng, anh kéo rơm phủ dầy tấp kín lên khắp mình em nghe!Nghe hôn? Nghe hôn?

– Nghe rồi!

– Chạy đi!

Vân tốc ra khỏi chòi, lủi vào đống rơm. Xuân nhào theo, rút từng bó rơm phủ đầy một lớp thật dầy lên người Vân. Khi moi được một lỗ sâu và rộng luồn vào giữa cây rơm, chàng đẩy Vân vào nóp rồi chui tọt vô luôn, lấy rơm phủ kín bên ngoài. Mưa và gió vẫn còn quần nhau dữ tợn.

– Chừng nào mới tạnh hả anh?

– Chưa biết nữa!

– Chắc chòi bay nóc hết rồi?

– Chắc vậy!

– Anh!

– Gì?

– Hồi nảy anh đứng ở ngoài rút rơm. Anh ướt hết rồi. Chắc anh lạnh lắm hả?

Một khoảnh khắc im lặng. Chàng hông trả lời .Vân hơi nhúc nhích. Hơi ấm chiếc nóp của Vân từ từ xít lại gần hơn. Mùi tóc ngạt ngào mật ngọt ong rùi và hơi thở thơm tho của cô gái đồng nội trinh trắng bay tỏa gần mũi Xuân.

– Hồi đầu lạnh, bây giờ hết rồi!

– Nhờ nằm gần em nên có hơi ấm nhiều chớ gì? Phải hôn?

– Hổng phải đâu cô nương. Nhờ rơm đó. Ở giữa cây rơm nóng lắm. Một chút nữa em sẽ thấy nực cho mà xem.

Im lặng một lúc lâu. Hơi thở của Vân phà sát vào mặt Xuân và phần nóp ở ngực cô nàng phập phòng.

– Nực quá anh! Em muốn bỏ nóp ra!

– Sao được? Em cựa quậy hoài, rơm tuôn, nước mưa hắt vô, hai đứa ướt hết bây giờ. Ráng chịu. Nằm im đi!

– Xí! Ghét anh quá hè!

Bên ngoài dông hông ngớt, càng lúc càng dữ dội. Tiếng hột mưa đánh xình xịt lên mái cây rơm. Xuân nằm im, nghĩ đến Khanh. Mối tình thoáng qua mau chóng như cơn mưa dông, gãy đổ thật nhanh như chiếc ghe nhỏ mong manh quay mòng mòng rồi chìm trong búng nước ông Khả. Người ta có biết trước cái gì xảy ra cho mình hôn? Mới vừa toan tính đó, rồi có gì hông? Khanh ơi!!

Bây giờ nằm sát bên Vân, mình nghĩ gì? Có nghĩ đến Vân hông? Qua những lời nói mấy hôm rày của nàng, Xuân biết mình chỉ cần một cử chỉ hơi đi xa một chút là Vân sẽ ngã trọn vào vòng tay của chàng. Hông. Hông. Xuân sẽ hổng tính gì thêm nữa. Hãy để cho con thuyền trôi đi một cách tự nhiên và nó sẽ tấp vào bờ bến nào kệ nó….. Khanh ơi! Khanh ơi! Giờ nầy em đang làm gì?

Xuân giựt mình thức đậy. Hơi nóng của rơm, hơi nóng của người hừng hực. Mồ hôi ra ướt áo. Hai cái nóp bây giờ trở nên chật và nực nội nên bung hết ra ngoài. Lỗ rơm đâu đủ rộng. Hai đứa phải nằm sát vào nhau. Xuân hơi nhóm người dậy, nhận ra Vân cũng đã chui ra ngoài nóp. Áo Vân rinh rỉnh ướt và nàng nằm sát bên mình chàng, hơi thở đều đặn trong giấc ngủ say. Xuân lắng tai nghe. Hông còn tiếng mưa đập trên mái rơm. Sợ Vân thức giấc, Xuân nằm hông động đậy, ngửi mùi thơm của tóc, mùi mồ hôi thơm ngọt của người Vân toả sang. Đột nhiên, Vân choàng tay qua ngực Xuân. Xuân đợi một lúc lâu rồi nhẹ nhàng đỡ lấy tay Vân bỏ ra khỏi ngực mình. Một lớp rơm mỏng te ngăn cách người chàng và Vân. Xuân lặng lẽ xoay người về phía khác cố tránh mùi bông chanh, bông chuối của cô gái vườn dừa. Có bao giờ một hình ảnh mới dễ dàng làm lu mờ cái cũ một cách mau chóng hông? Vân cứ mãi quấn quít Xuân ngày đêm ở nơi khỉ ho cò gáy rồi thì cũng có một ngày Vân sẽ làm Xuân quên mất hình bóng người chị. Cô em bây giờ như một cái bóng to lớn muốn ôm trùm Xuân. Và Xuân cũng biết mình khó thoát khỏi cái bóng cô gái nầy. Sống chung đụng nhau như thế nầy thì cũng có ngày. Trai với gái vừa mới lớn mà ở giữa trời đất lồng lộng thì có chạy đằng trời? Lửa gần rơm đố mà hông tròm thì trẹm. Mình đâu phải là thánh? Hơn nữa nàng cố tình khiêu khích Xuân nhiều lắm. Và Xuân cố đem cô chị ra chống đỡ một cách yếu ớt. Xuân cũng hông phải là thằng con trai hay ve vản các cô gái.

À, mà hông hiểu sao chú Sáu Xe hổng cho Tám Trò hoặc ổng xuống thế cho tụi nầy? Ông Bà cũng biết chớ.  Một thằng con trai mới lớn lên-19 tuổi- và đứa con gái út hơ hớ của ổng- 17 tuổi, tuổi con gái bẽ gãy sừng trâu- ở chung nhau nơi chốn vắng vẻ chỉ một ngày là có chuyện rồi. Huống gì bây giờ là hai ngày rồi. Ông Bà tin mình? Tin cái gì? Tin cái giống nhứt quỉ nhì ma thứ ba học trò? Hay là hai người đó tính với nhau cái gì?

Tiếng dế nhủi chi chắt trong đống rơm. Và đâu đây có nhiều tiếng chuột đồng chí chít. Xuân nghe văng vẳng có tiếng cúm núm, tiếng chim trích tắc nhè nhẹ. Cánh đồng chắc mênh mông đầy nước. Nỗng đất nầy có bị ngập hông? Hông nghe tiếng vịt con chiêm chiếp. Chúng nằm im vì bị ướt hay là cà tăng đã tốc hết? Đàn vịt chạy tứ táng và lạc bầy mất rồi? Xuân nhỏm dậy, nhìn ra ngoài. Màn đêm còn tối đen. Gió vẫn thổi mạnh. Chàng cảm thấy bao tử mình trống rỗng và cơn đói làm sót ruột. Đầu cô gái vẫn còn nghiêng sát qua mình Xuân. Xuân hít một hơi thật dài cho đầy bụng. Có đỡ đói hơn hông? Phùng Xuân nằm im lặng một lát rồi thiếp đi trong giấc ngủ muộn màng.

Xuân choàng mở mắt. Trời sáng bửng. Vân đã chui ra ngoài từ lúc nào. Xuân lật đật tốc rơm, đưa tay dụi mắt. Cả một vùng nước mênh mông. Những bờ đê thấp hông còn nữa. Ngập láng te. Chỉ còn một vài cây trâm bầu đứng chơ vơ giữa biển nước đục ngầu. Nước bao phủ toàn bộ nỗng đất. Đàn vịt con bơi lội tung tăng, rúc rỉa trong vòng cà tăng. Vân đang lội bì bà bì bõm mò kiếm các đồ đạc trong căn chòi mất nóc, còn trơ trọi các rui ngang. May là nước chỉ ngập đến mắt cá nên tỉn muối, khạp gạo, hủ con mẻ hông bị trôi đi mất. Cà ròn, chén dĩa bị chìm nơi nào? Xuân loay hoay một lúc lâu mới tìm được cái nồi đồng duy nhứt dùng để nấu cơm và làm các món ăn khác ở tận ngoài gốc ớt. Nếu hông, hai đứa chắc bị đói meo. Cuối cùng Vân cũng mò ra cái cà ròn và rút rơm lo nấu cơm.

– Ăn cơm với gì đây Vân?

– Em cũng hông biết nữa! Chắc với ít muối quá! Ngày hôm qua còn chút tép kho đem ra ăn ví chị Loan hết rồi!

– Ờ hé! Để anh coi coi… À, anh biết rồi. Có một món ngon lắm em có ăn hông?

– Món gì?

– Thịt chú tí!

– Ở đâu mà có?

– Ở trong hai cây rơm nầy nè! Nước nôi lênh láng như vầy, tụi tí chỉ còn có nước rút vào trong cây rơm chớ có đi đâu được!

– Ờ hé! Vậy mà em cũng quên nữa.

– Bây giờ em và anh mỗi đứa cầm một khúc cây. Mình dậm cù cây rơm đằng kia, thế nào mấy trự cũng nhào ra. Mình đập cho mau là mình cũng có mấy con. Anh đem thui, lột da, móc ruột, bỏ đầu, lấy mấy cục máu tanh, ướp muối ớt, rồi xỏ lụi nướng lửa rơm là ngon hết sảy đó nghe. Em thấy chảy nước miếng chưa?

– Anh đi học ở Sài Gòn mà sao anh rành quá vậy?

– Thì em cũng biết anh là dân nhà quê mà! Anh nghe má anh nói anh sanh ở SàiGòn đâu năm 19…, ở nhà Bảo Sanh Hồng Ngọc, đối diện chợ Thái Bình, lúc ba làm cho Tây ở Sạt Ne. Gia đình theo ổng về quê đâu năm 1945, 46, lúc ổng bỏ trường theo Nguyễn An Ninh đi bán dầu cù là, rồi đi theo kháng chiến luôn. Anh mới lên Sài Gòn đi học mấy năm nay chớ có lâu đâu. Hơn nữa, hè nào anh cũng về quê mình, cùng các bạn dậm cù, đào hang bắt chuột. Nước rong đi chĩa chuột. Kéo đăng bẫy chim trích, chàng nghịch, ốc cao, cò ma….; hớt cá lia thia, làm giàn thung bắn chim, chèo ghe hái bần, tắm sông…  Anh cũng biết phân biệt tép rong, tép rêu, tép mòng, tép bạc, tép đất; cá lia thia với cá bãi trầu, chớ bộ! Anh là dân xứ dừa mà! Anh có quên đâu?

– Ờ hé! Vậy là mai mốt anh dìa lại Bến Tre? Dìa lại Bến Tre ví em nghen! Nghen anh! Em…

– Hổng biết được đâu à cô nương! Tui về trển còn phải đi học nữa. Biết năm sau có về được hông? Đừng có mơ nhen!

Cô nàng xụ mặt. Buổii cơm trưa tưởng chừng là ăn thịt chuột nướng chấm với con mẻ và muối ớt ngon hết sẩy, nhưng Vân nuốt hông vô, mắc nghẹn nơi cổ họng. Vân tiu nghĩu. Cặp mắt đỏ hoe, rơm rớm. Xuân xé miếng đùi chuột nướng vàng ươm, quết con mẻ, bỏ vào chén cơm cô gái rồi vã lã cười nói như thường. Nàng gầm mặt lại, nhưng được một lát thôi.

– Đồ quỉ anh nà! Ghét anh quá!

– Coi nè! Sao lấy tay đấm lưng anh thùm thụp vậy? Coi chừng dập ba sườn à nhen!

Xuân bỏ chạy ra sau chòi. Nước bây giờ đã rút bớt để lộ gò đất, nhưng hai đứa hông dám thả vịt vì nước còn lễnh lãng như thế nầy làm sao chăn đám đó, mà sâu quá tụi nó cũng hông rúc rỉa được. Chàng nhìn mút sang chòi Loan. Hổng thấy mái đâu. Tệ hơn là chẳng còn riu mè gì hết, trơ ra mấy trụ lẻ loi. Tiếng vịt cạp cạp dữ quá. Mần gì mà tới giờ nầy Loan chưa cho tụi nó ăn?

– Anh mần gì lo tới chỉ dữ vậy? Chỉ lớn rồi. Chỉ lo được mà! Chỉ là dân miệt ruộng, chỉ rành sáu câu còn hơn anh nữa!

– Nhưng anh nghe vịt cạp cạp dữ quá. Chắc có gì lạ. Gần đứng bóng rồi. Nhen! Để anh qua bển coi sao nhen!

– Em hổng cho anh đi! Sao anh hổng hú chỉ coi sao?

– Thôi mà! Cho anh đi đi, nhen! Chút xíu rồi anh dề rồi anh bắt đền cho!

– Kỳ quá! Anh lo chuyện bao đồng hông hè!

Khi Xuân chống ghe gần tới chòi Loan, tiếng vịt cạp quang quác càng dữ tợn, chứng tỏ chúng đang đói hoặc có điều gì bất thường. Chiếc ghe chưa kịp tới bờ, Xuân bỏ sào, nhảy phóc lên. Đàn vịt thấy người càng cạp cạp rộ lên. Chàng bỏ mặc, đi nhanh vào chòi.

Loan đang nằm mê man trên lớp rơm mỏng. Tóc tai bùi xùi. Quần áo ướt nhem. Chàng lấy tay sờ trán cô gái. Nóng hổi. Và hai môi tím rịm. Xuân gọi tên Loan nhiều lần, nhưng nàng vẫn nằm nín khe. Chàng vừa vỗ vào má nàng vừa gọi tên. Loan vẫn hông nhúc nhích. Nắm tóc giựt mạnh một vài cái, nàng vẫn hông tỉnh. Mình phải làm gì bây giờ? Quay về kêu Vân qua phụ? Lâu lắm! Hơn nữa Vân cũng hông biết gì đâu? Chàng lật đật chạy ra ngoài rút nhiều ôm rơm khô, đem vào banh một lớp dày rộng vừa đủ người nằm. Xong Xuân ẳm cô gái, để nhẹ nhàng vào chỗ đó. Chàng chợt nhìn thấy một khạp đậy nấp. Xuân đi đến, dở nấp ra. May quá có một bộ đồ bà ba, phong bánh in Bổn Lập, miếng cớm chùi, chai dầu cù là MacPhsu, lọ Nhị Thiên Đường, và cái hột quẹt máy.

Một ý nghĩ thoáng qua nhanh chóng: phải thay đồ cho Loan ngay lập tức rồi xoa dầu cho cô ta. Chàng hơi ngần ngại. Rủi mình đang làm thì cô ta tỉnh rồi sao? Loan la lên là ể mặt. Mà chưa chắc gì cô ta la lên đâu! Cổ mắc cỡ, cổ thụi, cổ đấm đá mình chưa biết chừng. Mà để cổ như vầy thì cảm lạnh càng lậm hơn. Cổ cũng có vẻ ngổ ngáo lắm, nhưng Xuân nhận thấy Loan hơi thin thích mình. Mình lạng quạng chưa kịp cổi quần áo, mới rờ đụng vào mình, cổ  giựt mình tỉnh lại, cổ hoảng sợ rồi đá mình một đá thì chết cha mồ tổ! Ở đây xa xóm xa làng biết kêu cứu ai bây giờ? Thực ra Xuân cũng run lắm, nhưng chàng cũng phải làm liều. Để lâu như vậy, hông hiểu Loan có chuyện gì hông? Cho chắc ăn, chàng vừa kêu vừa lấy chơn đẩy nhè nhẹ vô người Loan. Nàng hơi nhướng mắt, hơi tỉnh lại. Nhưng rồi sau đó Loan lại nhắm hai mắt, xụi lơ. Xuân vỗ nhè nhẹ vào hai má Loan. Nàng lại hơi nhướng mắt.

– Em có thay đồ được hông? Quần áo ướt hết trơn rồi. Mau đi để bị lậm là chết đó.

Loan vẫn nằm im. Hơi thở hơi chậm. Xuân rờ trán nàng. Vẫn còn nóng hổi. Chàng giựt mạnh một núm tóc cố tình làm cho Loan tỉnh. Rồi nàng cũng mở hai con mắt hơi lớn một chút nhướng lên nhướng xuống một vài cái.

– Em có thay quần áo được hông? Có bộ đồ khô trong cái khạp cà. Em ráng đứng dậy. Anh đỡ cho. Rồi ráng thay đồ. Rồi… rồi lại nhắm mắt nữa rồi. Nè, Loan. Để anh thay quần áo cho em. Em chịu hôn?

Nàng lại vẫn nằm im re. Cuối cùng chàng quyết định lấy hai tay mở lẹ hàng nút áo. Bộ ngực thật đầy đặn. Làn da trắng ngà ngà như nước cốt dừa và hai vú săn chắc to tròn như cặp vú sữa trắng chín mộng, có núm đỏ hồng. Xuân một thoáng choáng voáng. Chàng hơi ngần ngừ, nhưng tiếp tục đẩy Loan nghiêng qua nghiêng lại để cổi áo, rồi bỏ qua một bên. Còn cái quần? Chàng ngừng tay một chút rồi mau lẹ giựt dây lưng quần sút ra. Hai tay tuột gọn gàng và nhanh. Người Loan bây giờ nằm trên đống rơm hiện ra một cách tuyệt đẹp trước mắt Xuân trong ánh nắng chói chan. Chàng ngây ngất. Trắng ngần ngần như miếng cơm dừa nạo! Xuân nghĩ. Thân thể người đàn bà là một tuyệt tác của tạo hóa. Đúng.Chàng đã đọc câu nói của Francisco de Goya. Và thấy hình La Maja, và thân thể người đàn bà trần truồng trong những tác phẩm của Gustave Courbet in trong sách ở Thư Viện Quốc Gia đường Gia Long Sài Gòn.

Và lần đầu tiên trong đời của thằng con trai 19 tuổi, Xuân được thấy trọn vẹn thân hình lồ lộ của một thiếu nữ hiện trước mắt mình. Chàng hơi xao động. Tự nhiên nước miếng chận nơi cổ họng. Xuân biết sự ham muốn ân ái nổi dậy. Xuân cố kềm chế nên Xuân hông dám nhìn lâu. Chàng lật đật lấy bộ đồ khô mặc vào. Hai bàn tay vẫn còn hơi rung. Đến khi mặc đồ cho Loan xong xuôi Chàng mới thở phào nhẹ nhõm. Mồ hôi tuôn ra như tắm.

Và bây giờ làm sao cho Loan bớt nóng? Xuân lấy dầu Nhị Thiên Đường xoa hai bên mang tai, sau ót. Chàng dùng nắp dầu cù là cạo gió ở lưng. Sau đó, nhanh chóng cạo ở hai bên bả vai. Khó khăn nhứt là xoa dầu ở phần ngực. Xuân ngần ngừ. Mình đúng là thằng ba trợn, dám làm chuyện nầy!

Xong, Xuân lấy bộ đồ ướt đầy mùi hôi tanh ói liệng vô ảng nước tro, đem ra bến ghe đập lên đập xuống vài cái nghe bèm bẹp, rồi quăng dài lên đống rơm phơi nắng. Cái áo in bông cũ nhèm thâm kim ở phần lưng. Cái quần lãnh đen hàng Mỹ A cũ xì cũ xịt nhuộm mặc nưa, hai ống rách bươm.

Chàng lục lạo tìm lúa và cho đám vịt ăn. Tụi nó từ sáng giờ đâu có hột nào trong bụng đâu, nên con nào con nấy chạy lẹt đẹt bu quanh các diệm lúa, đua nhau rúc chèn chẹt.

Chàng trở vào thấy Loan hơi mở mắt, khép lại rồi trở mình rên một vài tiếng. Xuân lại gọi tên cô gái nhưng nàng nằm im. Chàng bèn đi tìm cái nồi đất, nấu một ít nước sôi, bỏ miếng cớm chùi và một chút bánh in vô quậy cho thành cháo. Chàng rờ trán Loan. Mát rượi. Như vậy là đỡ lắm rồi. Chàng lay lay vai Loan mấy cái. Cô gái mở mắt thao láo nhìn Xuân, vẻ ngượng ngùng.

– Ăn chút cháo nhen. Cho khỏe.

– Anh mần gì tui vậy?

– Thì có mần gì đâu! Trưa rồi, tui nghe vịt cạp dữ quá, bơi ghe qua coi thử sao. Ai dè thấy cô ướt chèm nhem, nóng hổi, nằm liệt dưới đất, kêu hoài hổng nghe trả lời, lắc mấy cái cũng hổng tỉnh. May mà lục trong khạp được bộ quần áo, lọ Nhị Thiên Đường, chai dầu cù là rồi mới thay đồ cho cô, rồi cạo gió. Giờ cô thấy sao rồi?

– Chèn đất ơi! Anh thấy của tui hết rồi hả?

– Thấy gì đâu mà thấy! Ráng nhắm mắt nhắm mũi thấy mồ tổ, rồi thay áo quần lẹ lẹ.

– Dóc tổ. Anh mà nhắm mắt dịt dật cho tui chết đi. Anh nhìn tui mãn nhãn rồi phải hông?

– Thiệt mà! Hổng có đâu mà!

– Thiệt ví giả cái gì! Anh cổi hết đồ tui ra rồi bộ anh mặc lại một cái rụp được hả? Nè anh coi đi. Đầu tiên là cái áo, anh phanh ngực tui, anh nhìn đã thèm. Còn cổi quần tui nữa. Anh thấy hết trơn rồi còn gì đâu!Sao anh gan dữ vậy? Anh hổng sợ tui tỉnh, tui dộng anh một cái, tui đá anh dập mật, lòi bảng họng sao?

– Trời ơi! Cô nầy dữ hé. Chớ để cô vậy, cô bị cảm lạnh cô chết ai mà chôn! Bị ướt từ đầu hôm đến giờ hả?

– Chà! Kệ cha tui! Coi bộ anh thương tui quá hé! Thương thấy mồ thấy tổ người ta. Lột quần áo người ta ra hết rồi còn gì! Mần sao anh biết tui bị cảm?

– Trời ơi! Tui cạo hai bên bả vai sau lưng cô, toàn là gió hột hông hà ! Tức là cô trúng nước chớ gì nữa. Vậy là hổng phải cảm chớ là cái gì? Hổng ấy, bây giờ tui ra ngoài lấy bộ quần áo ướt vô cho cô mặc trở lại, cô chịu hôn? Xí! Người ta mần ơn mà còn bị mắc oán nữa. Giờ có chịu ăn cháo hông?

– Tui còn chóng mặt quá hè! Ngồi dậy hổng nổi. Mần sao ăn?

– Trời đất! Bộ tính bắt tui đút cháo cho cô sao?

– Bắt đền anh vụ hồi nảy đó. Thì đút có chén cháo mà mần gì dữ vậy? Giờ có đút hông? Hổng đút tui la lên bây giờ!

– Nè! Nói cái gì mà phang ngang bửa củi hông vậy? Đừng có mần nư nhen! Đồng không mông quạnh ai mà nghe cô!

– Ừa đó! Con Vân nó nghe chớ ai nghe. Nó nghe rồi cho anh ê mặt luôn.

– Cô bắt bí tui hoài .Được rồi.Tui ngồi đâu lưng với cô để cô dựa rồi múc cháo ăn nhen!

– Hông. Anh phải đút cho tui.

– Trời ơi! cô đày tui quá. Mần có chút xíu mà làm tình làm tội người ta! Thôi, tui đút đây cô nương. Ngồi dậy đi.

– Hổng ngồi nổi. Anh phải đỡ tui dậy.

– Đỡ sao đây?

– Anh nói thiệt hay giỡn chơi đó. Anh mà hổng biết đỡ hả? Thì luồn tay dưới cổ tui, nhắc đầu tui dậy, dựa vào đầu gối anh thì anh mới đút được chứ!

– Cô nằm gọn trong lòng tôi như tôi ẳm em vậy hả?

– Ừa. Có vậy mà hổng biết nữa.

– Cô muốn gì đây?

– Muốn anh đút cháo cho tui chứ gì đâu?

– Khổ cho tui quá. Thinh không mắc cái nạn nầy. Nè! Vầy được chưa?

– Được rồi. Xí! Có vậy mà bi giờ mới làm.

– Ăn hết chén cháo nầy hông?

– Hết chứ! Miễn anh ráng đút cho tui.

– Tui chưa bao giờ mần như vầy hết. Má tui bịnh mà tui chưa bao giờ đút cháo kiểu nầy cho bả. Còn cô, chưa gì hết mà đày tui quá cỡ thợ mộc rồi đó nhe.

– Anh có thương tui hông vậy?

– Hả?

– Anh có thương tui hôn? Thương hông?

– Ờ! Thì… Thì có thương chớ sao hổng thương. Có thương, tui nghe tiếng vịt cạp dữ quá, tui biết cô có gì rồi mới chống ghe qua, chứ nếu hông qua đây mần gì? Ai dè, có chuyện cắc cớ vậy. Lỡ thì mần tới luôn chứ để cô chết thì sao? Thì lo cho cô cũng như Vân vậy thôi!

– Hổng phải. Thương khác kìa…

– Thương khác là thương mần sao?

– Thì thương như vợ chồng vậy đó!

– Tui chưa là chồng cô mà?

– Chắc hôn? Chỉ có chồng mới dám cổi đồ vợ trần trụi dậy chớ có ai dám. Anh thương tui như vợ anh nên anh mới mần. Giờ tui hỏi lại anh, anh có thương tui hông?

– Ơ! Ơ….

– Hổng có ơ nồi gì hết á. Chịu hông?

– Chịu sao?

– Thôi .Ghét anh quá đi. Nói chuyện gì đâu hông á. Người ta hỏi một đằng nói một nẽo.

– Mà…..bây giờ xong cháo rồi đó. Tui ra cho vịt ăn thêm, rồi về kêu Vân qua đây sắp nóc chòi lại cho cô.

– Anh đánh trống lãng hông hà!

Chiếc ghe chưa kịp tắp vào bờ, Xuân buông sào, nhảy phốc lên bụi cỏ. Chàng lật đật bước vô chòi. Ngó quanh ngó quất, Xuân hông thấy Vân đâu. Chàng đi vòng ra phía sau chòi. Chợt Xuân khựng lại. Vân hông mặc áo,  tự nhiên ngồi xoay lưng lại, múc nước trong lu xối rỉ rả lên đôi vai trần.

– Anh đi lâu dữ hé! Bây giờ mới dìa? Đêm qua, mồ hôi ướt áo, hôi rình. Em cổi ra để giặt.

– Thì qua bên Loan có chút siú, chớ đi đâu!

– Chỉ sao rồi, mà anh ở bển lâu quá dậy? Bộ dính nhau rồi hả?

– Đọ. Chưa gì hết mà nghi oan cho người ta rồi đó.

– Chớ sao bây giờ mới dìa?

– Loan nó bị cảm, nóng quá trời. Anh ở lại nấu cho nó một miếng cháo.

– Rồi đút cho chỉ ăn chứ gì?

– Em sao hay ghen tầm bậy tầm bạ quá, đặt điều hông hè! Đút cho nó ăn hồi nào?

– Thì nhìn cặp mắt láo liên của anh, em biết anh nói láo. Chà! Hai người tình quá hé. Cái bà đó coi vậy mà dữ tợn à nghen. Mới đây mà chài được anh học trò ở Sài Gòn rồi ta!

– Thôi đừng có nói bậy cô nương. Giờ em với anh qua bển, gom lại mớ lá, sắp nóc cái chòi cho cổ.

– Còn của mình thì sao?

– Mình khoẻ. Tối nay ráng ngủ ngoài trời đêm nữa, rồi ngày mai lợp chòi lại.

– Ngủ như đêm hôm qua hén? Em với anh cùng chui vô lỗ rơm đó nữa hẻ?

– Hông. Hết mưa rồi. Mỗi đứa ngủ một cây rơm.

– Xí! Thấy mà phát ghét!

Hai đứa qua chòi Loan. Họ gom lại được mớ lá xé cũ vương vãi khắp nơi, nhưng rách nhiều quá hông đủ để lợp lại, đành dựng một cái thum nhỏ. Vân giúp Loan cho vịt ăn và làm một vài công việc lặt vặt: sắp đặt lại cái cà ròn, chỗ để hủ gạo, tỉn muối, khạp đựng quần áo và đồ ăn… Vân nhìn thấy những vết bầm ở nơi gần cổ Loan.

– Chà! Chị bị cảm nặng lắm đó. Ai cạo gió cho chị vậy?

– Tao cạo chớ ai mà cạo mậy!

– Chị cạo đâu được ở lưng, để tui cạo gió lưng chị là chị hết bịnh liền hà.

– Thôi tui hết bịnh rồi.Hổng cần cạo nữa.

– Chứ hổng phải hồi nảy anh Ba cạo gió cho chị hả? Chà! Cạo sau lưng là tình rồi. Còn cạo trước ngực thì kể như mấm mộng rồi đó nhe!

– Con nhỏ nầy! Kệ tía tao. Hỏi đon hỏi ren hoài. Bộ mầy cũng thương ảnh lắm hả?

– Tui hổng biết. Thế nào tui rình tui cũng bắt được hai ông bà lẹo tẹo à nghen. Sao? Chị sợ chị hổng dám vạch lưng cho tui coi hả?

– Ờ đó. Mầy mần gì tao?

– Coi chơi vậy mà! Nếu có thì hai người hú hí nhau rồi. Hay quá há!

– Kệ cha tao. Tao thương ảnh thì mắc mớ gì tới mầy.

– Thôi mà! Hai đứa đừng cãi lẫy nữa. Lo mần cho mau đi. Tối rồi!

Ngày hôm sau, hai đứa nhặt nhạnh những tấm lá cà đốp còn hơi tốt để lợp lại mái chòi. Nơi nào thiếu lá, Xuân lấy thêm rơm bện lại thành từng bó nhỏ chen vào chỗ hở. Mấy cây cột bể mộng, hông mấm vào ngàm, sút lặt lìa. Điệu nầy, mái lá cũng chỉ ngăn được chút nắng chớ hổng che được mưa. Suốt cả ngày hai đứa có ở trong chòi đâu. Sáng, lùa vịt ra ruộng; chiều thì sau khi cơm nước xong xui, hai đứa ngủ ngoài trời. Khanh dặn đừng ngủ trong chòi vì nhiều rắn rít hay bò vô kiếm đồ ăn…

Không khí buổi chiều mát rượi nhờ mưa dông đêm qua. Và bầu trời ít mây, chắc vì đã trút gần hết nước. Sao Hôm mờ mờ ở chơn trời hướng Đông, được một lúc thì mất hẳn. Chàng hiu, nhái bén, cúm núm, ốc cao thi nhau hòa một điệu nhạc lạ lùng với nhiều nốt trầm bổng. Ánh trăng đầu tháng mờ nhạt, mông lung. Đầu hôm có gió nhẹ lai rai, nên nhìn xuống mặt nước như thấy nhiều mặt trăng chạy lao xao theo những đợt sóng lăn tăn. Những đám lau, sậy, lác, dứa gai dọc dài tạo nên hình dáng kỳ dị, đôi khi giống con cọp, con heo nằm ngủ im lìm trong màng sương trăng…

Loan cho đầu mũi ủi nhẹ vào đám lác sau chòi, chống mạnh sào cặp xuồng vào bờ, nhảy lên, rồi đi về phía hai cây rơm. Trời tối đen. Hai người ngủ hai cái nóp, thụt đầu vào trỏng thì mình làm sao biết được ảnh? Lớ quớ mò bậy trúng con Vân thì bể mánh hết. Mà rủi đụng ảnh, ảnh la lên thì chết cha mồ tổ. Từ hồi chiều tới giờ Tư Én cứ ngần ngừ hoài, nửa muốn qua mà nửa muốn hông. Loan luôn luôn tự hỏi trong bụng hoài: Ảnh có thương mình hông? Hổng thương sao ảnh cổi đồ mình hết vậy, lúc mình nóng mê man? Người gì đâu mà dị hợm? Sao cả gan dám cổi đồ người ta? Mình hỏi có thương mình hông mà cứ ỡm a ỡm ờ, trả lời trớt quớt. Mình thương ảnh quá đi chớ, ngay từ lúc đầu kìa. Nếu hông, sao lúc tỉnh rồi mà còn giả bộ nằm im re để cho ảnh cạo gió mình. Mắc cỡ muốn chết, mình mẫy sượng trân, nổi da gà mà cũng rán gồng mình để cho ảnh làm gì thì làm. Mà ảnh cũng tử tế, chưa dám sờ mó gì? Với bao nhiêu câu hỏi đó làm Loan rạo rực trong lòng. Hai hôm rồi, hình ảnh Xuân ôm nàng vào lòng để đút cháo, cứ chập chờn trước mặt Loan. Nghĩ tới lúc Xuân cổi hết quần áo, nàng trần trụi, có cái gì cứ nóng ran ran trong người nàng, chạy lên chạy xuống xốn xốn hoài. Loan xốn xang hông chịu được, cứ ngó mong qua chòi Xuân. Chập chập lại muốn chống ghe qua nhưng sợ cái con Vân, con nhỏ hay thót thét. Từ đầu hôm đến giờ Loan nằm trong cái thum mà cứ lăn qua lộn lại hông ngủ được. Tiếng cúm núm hình như giục: Cứ đi đi. Tư Én hông chịu được nên đẩy xuồng ra, hai tay ấn mạnh sào lao vụt  trong đêm tối.

Rồi bây giờ qua đến đây, Loan bắt đầu phân vân. Con gái gì mà đi tìm con trai? Giống như trâu tìm cột. Ảnh có chê mình hông? Rủi ảnh hông ưng mình thì sao? Nhưng coi bộ dạng ảnh trả lời thì chắc là ảnh thương mà! Con trai gì mà còn thỏ đế? Thương mà hổng dám nói là thương, cứ trả lời vòng vo hoài. Và Loan nhứt quyết phải gặp cho được Xuân, bởi vì Loan thấy có cái gì nong nóng làm nàng khó chịu, nhớ ray rứt hoài từ lúc lần đầu tiên thấy Xuân đến giờ.

Loan đi rón rén, vòng qua cà tăng nhốt vịt, nếu hông đám vịt con đánh hơi được, tụi nó sẽ kêu chí chít. Nàng đi tới cây rơm có cái nóp. Nàng ngần ngừ một hồi lâu, bước tới gần, nghe hơi thở nhè nhẹ, nàng biết là hơi thở của Vân.Nhưng để cho chắc ăn, Loan đứng lại, nghe ngóng một lần nữa, rồi bỏ đi qua cây rơm ở đầu kia. Nhờ ánh sáng mờ nhạt của những ngôi sao dọi xuống nước; và hơn nữa, ở ngoài đêm tối trong một thời gian lâu, nhìn được rõ hơn, Loan  thấy cái đầu đen của Xuân ló ra khỏi chiếc chiếu. Hơi thở của Xuân dài và mạnh. Loan hồi hộp bước đến gần. Sau một lúc do dự, cô gái nhẹ nhàng nằm xuống bên cạnh Xuân.

Trong giấc ngủ Xuân chập chờn ngửi được mùi bồ bồ và sả. Chàng giựt mình, lấy tay hất chiếu ra, đụng phải thân hình mềm mại của Loan.

– Ai đây?

– Tui đây mà!

– Em đi đâu vậy Loan?

– Tui nhớ anh quá, tui qua đây hổng được sao?

– Nè. Đừng nói lớn. Vân nó nghe.

Xuân vội rút một ôm rơm thật chặt, nắm lấy tay Loan, dẫn tuốt ra phía sau chòi, bươi rơm rộng ra, rồi hai đứa ngồi xuống.

– Em hổng sợ sao?

– Sợ gì? Có anh đây mà. Giờ tui hỏi thiệt anh nghe. Anh có thương tui hông? Anh nói đi rồi tui dìa. Đêm hôm khuya khoắt mà tui bạo gan qua đây gặp anh. Gái đi tìm trai, thì anh đủ biết bụng dạ tui rồi.

– Trời đất!

– Hổng có trời đất gì hết ráo á. Anh cứ dần lân hoài.

– Thì ………. thì…..

– Thì sao nữa đây?

Nói chưa dứt câu, Loan ngã đầu vào ngực Xuân. Mùi bồ bồ, mùi bùn tanh tanh và mùi con gái đồng nội ngây ngô chơn chất có cái ngay ngáy của rơm, có cái chua chua của phèn, của bùn non, có cái khen khét của ánh nắng cháy làm da đen dòn khiến Xuân rạo rực. Loan cứ rúng ra rúc đầu hửi hửi vào người thanh niên mới lớn hực hực đầy sức trai, chờ dịp là bùng nổ. Và rồi, tròm trẹm, trẹm tròm, phựt lửa đốt cháy rơm. Hai con mồi sẵn sàng lăn sả vào nhau. Và con chuột đồng ú nu vàng hực, lăn qua lộn lại xèo xèo trong đám lửa phựt phừng…

– Mình mặc đồ vô đi để bị cảm.

– Hông. Tui hổng chịu.

– Dữ hôn! À nè. Sao em cứ xưng tui hoài vậy? Thương nhau thì phải xưng em, anh chứ!

– Tui đâu biết. Cha sanh mẹ đẻ tới giờ tui có xưng em với ai bao giờ đâu?

– Thì bây giờ mình thương nhau rồi mình phải xưng anh em chứ!

– Ờ hé! Vậy hả anh? Vậy là tự nảy giờ mình thương nhau rồi đó hả anh. Kỳ ghê! Xưng em nghe lạ miệng, mắc cỡ chết mồ.

– Gì đâu mà kỳ. Người ta còn hun nhau nữa kìa. Em có biết hun đâu, chỉ biết hửi hửi như con chó Mực đánh hơi chuột! Vừa thấy hang là hít rồi bươi tới cùng luôn.

– Tui ….. Em nhà quê mà anh, tui… em có biết gì đâu. Em chỉ có biết thương là vậy thôi à! Anh à! Vậy là mình chắc có con hả anh? Em sẽ đẻ cho anh một dọc cho mà xem. Rồi anh sẽ mặc sức mà đặt tên cho tụi nó. Thằng hai Thương, thằng ba Anh, con tư Quá, thằng năm Trời….

– Ngộ quá hé! Ông chú quen trong làng anh, ổng đặt tên con gái một dọc là Mưng, Mửng, Mừng, Mứng, Mựng. Còn ông kia năm thằng con trai là Khuân, Khuấn, Khuần, Khuận, Khuẩn. Còn em lại đặt tên hay hơn.

– Thì tui thương anh quá trời nên mới đặt tên mần vậy?

– Con đông quá mần sao nuôi nổi đây?

– Ối! Hơi sức đâu mà tính. Trời sanh voi trời sanh cỏ. Mắc cuông lo bò trắng răng. Thì anh cứ tính đi. Anh ráng mần ít năm tụi nó lớn lên, tụi nó mần phụ ví anh, lúc đó là anh khoẻ rồi, còn em nữa chi. Chồng cày vợ cấy thì lúc nào cũng có ăn, hổng chết đói đâu mà sợ, má tui nói vậy. Ở xóm tui, ai cũng biết nhà ba má tui- nhà ông Sáu Lục- nhiều con, tới sáu đứa lận. Mà đứa nào đứa nấy cũng cùi cụi. Giờ ba má tui khoẻ re! Ruộng trong bưng nầy còn đầy đàng đầy đống. Tới mùa mình mặc sức mà mần.

– Sao tự nảy giờ anh nghe em tính hông vậy. Ba mẹ em có chịu hông? Nếu hông thì sao?

– Em thương anh thì ở đâu em cũng tới. Tía má em cấm thì em bỏ nhà theo anh .Chị ba tui -chị Ba Lựa- chỉ đi bán, chỉ thương anh ba tui-Hai Rắc- đâu bên Tân Hưng. Ba tui hổng chịu gả, nói tao đâu biết thằng cù bơ cù bấc đó. Chỉ mần nư. Ba tui nói mầy mần gì thì mần đi, tao hông chịu gả. Chỉ bỏ nhà đi theo ảnh biệt có về tới giờ.

– Trai tráng ở đây thiếu gì, sao mới thấy anh mà sáp vô vậy?

– Tụi nó ở đây hả. Thanh niên gì tối ngày tụ năm tụ ba, nhậu nhẹt, ca vọng cổ, hút thuốc rê, hôi rình. Có lần, có thằng hơi đã đã, đêm hôm mò mò tới tui, tui đá cho một cái muốn lòi bảng họng.

– Em ghê vậy! Bữa đó anh thay đồ cho em sao hông đá anh một cái cho lòi bảng họng đi? Bây giờ biết anh sao mà theo anh?

– Nữa? Lúc đầu, tui thấy anh hợp nhãn thì tui… em thương chớ bộ. Anh cứ nói quanh co hoài. Mình thương nhau sao mà cứ đắn đo. Hổng biết! Cứ thương nhau cái đã!

– Trời đất!

Xuân chưa kịp nói hết câu đã bị Loan đè ngã xuống. Xuân bị chìm nghĩm hổng biết đến mấy lần…

Buổi trưa hôm nay hông có gì ăn. Nước còn lễnh lãng. Tép rong hổng có con nào chạy vào chông, nên Xuân và Vân lùng sục tùm lum, may mới bắt được con rắn. Vân sợ hông dám làm. Phùng Xuân đành phải chống xuồng một mình về chòi, bỏ lại cô ta ngồi ở gốc trâm bầu, và hẹn khi nào xong thì đem ra. Tất cả mọi thứ ở đây chỉ làm có được hai món để ăn với muối: luộc và nướng. Chim chóc, chuột … thì phải nướng, chớ luộc ăn tanh ói. Cũng có những món nướng ăn vẫn tanh vì hông có một chút gia vị nào ngoài cây ớt hiểm mọc sau chòi.

Xuân đang lui cui lột da con rắn rằn ri cá thì Loan chống xuồng tới.

– Bầy vịt em ở đâu?

– Bỏ ngoài ruộng gần chòi tui. Tui…. em để ý thấy anh chống ghe về chòi có một mình, nên em lật đật qua. Con Vân nó ở ngoải một mình hả anh?

– Ờ! Có chuyện gì vậy?

– Nè! Nói nầy nghe nầy!…

Loan cổi bỏ khăn rằn trùm đầu ra. Miệng cười chúm chím và đôi mắt sáng ngời lồng trong mái tóc đen dài mượt mà. Cái áo bà ba bung hết nút. Làn da trắng và cái cổ màu mật ngà vì nắng ăn. Xuân ngước nhìn, và bỗng nhiên nghĩ tới thân hình lồ lộ của Loan ngày hôm kia dưới ánh trăng mờ mờ… Hơi nóng trong người Xuân và hơi nóng ban trưa rừng rực lây lan sang người Loan. Khi họ tỉnh lại, cỏ chung quanh đã bị nhầu nát…

– Em dữ lắm nhen! Như bị phong sù. Lại còn nhảy đồng đồng nữa kìa!

– Ờ hé! Vậy đó, rồi thì sao?

– Thì em đúng là Loan trào đờm. Mặc đồ vô mau đi. Vân nó thấy bây giờ.

– Ma dấu anh cho chết luôn đi! Xí! Đồ thấy ghét! Đồ dị hợm!

Nhưng nói thì nói vậy, chớ cô ta cũng nhào đến ôm Xuân hít, hít ngấu nga ngấu nghiến một hồi lâu như muốn ăn tươi nuốt sống. Hai ánh mắt cứ ngời ngời lên. Mình cổ nóng hừng hực còn hơn nắng trưa. Đúng là các cô gái quê đồng nội. Lần nầy nữa cỏ bị quậy nát bấy như trâu dậm lúa, chắc hông lên được!

– Nè. Nói nầy nghe nầy. Anh hỏi thiệt em nghe.

– Chuyện gì anh?

– Có phải hôm đó em giả bộ bị cảm nặng, ngồi dậy hông nổi để anh thay đồ cho em, phải hôn? Hổng phải hả? Ngập ngừng phải hông? Đúng rồi. Bị lật tẩy rồi.

– Xí!

– Xí, xí cái gì cô nương. Đúng rồi. Em làm bộ. Em gan thiệt. Rủi anh trở chứng là tiêu đời luôn.

– Xí! Thì bây giờ cũng tiêu tùng rồi đó!

Tư Én nhanh nhẹn đứng dậy, vuốt lại quần áo, rồi quay vô chòi, trở ra chỗ ghe đậu. Khi đi ngang chòi, cô ta tỉnh bơ xớt lẹ cái áo sơ mi rằn của Xuân, nhét vô bụng.

Loan đột ngột vắng bóng mấy ngày nay làm Xuân buồn rũ rượi. Xuân hỏi thằng nhỏ chừng mười tuổi chăn vịt thế cho Loan. Nó nói nó ra thay chị nó lúc khuya, để chỉ về chở Tía nó đi nhà thương. Hỏi bịnh gì? Nó trả lời ú ớ rồi nín khe. Thằng nhỏ coi bộ còn khờ, có cái mặt ngơ ngơ ngác ngác và hai mắt thao láo. Nó rất ít nói, cứ đưa mắt nhìn. Hông bao giờ có nụ cười. Hỏi tên gì? Một lúc lâu, hình như nó đang tìm kiếm cái tên của nó ở tận miền xa xôi nào đó, nó mới nhếch miệng: Út Thèm. Xuân chưng hửng. Có lẽ cho tai mình nghe hông rõ, Xuân hỏi lại một lần nữa.Nó ngạc nhiên chắc thằng cha nầy điếc, nên lập lại hơi lớn: Út Thèm. Tên gì kỳ vậy mậy? Út Thèm! Vân đứng kế bên cũng bật cười. Cái tên lạ quá há? Có gì đâu, chắc lúc sanh thằng nhỏ nầy, ông già nó ổng đang thèm cái gì đó nên ổng đặt tên cho nó như vậy mà! Chớ nếu nó “xấu hái” thì chắc tên nó là Út Cu hay Út Cặ.. rồi!Đôi khi nó đứng trân trân ngó Xuân và Vân như hai người khác lạ lùng mà nó chưa bao giờ gặp ở trong làng của nó. Nhứt là Vân, nó thấy trắng trẻo hơn chị của nó nhiều, có đôi má núng đồng tiền và cái miệng có cái răng khểnh, lúc nào cũng cười chúm cha chúm chím.

Xuân có linh tính là chẳng bao giờ gặp lại được Loan. Chàng chỉ có hơi thắc mắc là tại sao Loan hông nói với mình một lời trước khi ra đi. Có gì đâu, chỉ cần đi ngang là hú một tiếng thôi mà. Thế mà cũng hà tiện lời. Kể ra cô ta cũng kỳ. Đến đột ngột, thương bồng bột, quầng nhau dữ dội, rồi ra đi đường đột. Hình như là một áng mây che làm chàng u buồn ngẩn ngơ.

– Rồi a! Chị Loan hớp hồn anh nữa rồi phải hông?

Xuân hổng buồn trả lời.Vân thấy Xuân nhìn mình hổng cười trong hai ngày liên tiếp như vậy, nhưng Vân vẫn tiếp tục săn đón.Có thể nàng hiểu ra rằng bây giờ chỉ còn lại một mình.Và chắc chắn mình là kẻ chiến thắng sau cùng thì mình vội vã làm gì. Hai đứa chung đụng hằng ngày giữa chốn đồng không. Hông chóng thì chầy, lửa sẽ đốt cháy rơm tiêu tan hổng có cách gì ngăn cản được… Sao ông Sáu Xe hứa bữa sau xuống mà tới bây giờ hổng thấy ổng?

Tháng bảy ít khi được những đêm trời trong, bao giờ cũng có mây che, nên trăng hông bao giờ lộ nguyên hình, thỉnh thoảng hé miệng ra cười một chút xíu rồi lại ẩn mình trong những đám mây. Và trời thường tối sớm hơn vì mây đen. Hai đứa lúc nào cũng lùa vịt về lúc mặt trời còn ở trên cao. Trong lúc Vân bận rộn với nồi cơm, Xuân lo nhốt vịt rồi cho ăn thêm chút ít lúa. Xong, chàng ra thăm cái chông coi có được chút tép rong và cá bãi trầu nào hông. Bây giờ thì đồ ăn hết rồi.Hai đứa chỉ trông cậy ba con tép cá có được hằng ngày của cái chông. Trời mưa nhiều .Nước tràn bờ. Tép rong, cá bãi trầu, cá lia thia… lên ruộng. Cá lóc cửng cũng đi đâu mất hết. Mong gì được bầy ròng ròng! Chông hông chạy thì rán đi kiếm chuột, rắn… Những bữa hổng kiếm được gì thì Vân bỏ cho Xuân chăn vịt. Cô ta lò dò đi kiếm đọt chại, đọt ráng, rau dừa, rau muống ruộng (rau muống ruộng cọng màu hơi đỏ và cứng) về luộc chấm với nước muối ớt. Cay thắt họng. Nước mũi, nước dãi chảy sụt sùi. Nhiều khi hai đứa nuốt hổng vô…

Hông biết thời gian trôi đi là bao lâu, nhưng Xuân đoán có thể hôm nay là gần rằm. Chàng hy vọng có đêm sáng trăng. Nhưng tháng bảy và tháng tám làm gì có được đêm trăng rằm sáng ngà. Tháng nào thì có hạn bà Chằn? Hỏi Vân thì cô ta cũng bù trớt luôn. Và ngày rằm và ba mươi thường thì có mưa, vì con nước rong, nước ngập tràn đồng.

– Chắc đêm nay có trăng đẹp.

– Hổng có đâu anh. Em thấy mấy đám mây đen đang kéo tới kìa!

Vân trông mong trời mưa. Mấy hôm rày trời hơi khô ráo, hai đứa ngủ riêng ở hai cây rơm. Xuân biết Vân đợi trời mưa để được dịp chui vào lỗ rơm Xuân làm mấy hôm trước, nhưng bây giờ phải gá thêm vào đống rơm một cái thum nhỏ cho đủ rộng. Mỗi lần ước như thế là đôi mắt nàng rực sáng.

Và quả thật, mây đen kéo tới làm tối trời. Trăng bị mây che mất. Ánh trăng suông mờ mờ. Chưa gì hết là Vân lật đật phóng vào cái lỗ rơm trước tiên. Xuân còn chần chờ, nhưng cuối cùng mưa nặng hột rồi cũng phải chui tọt vô, phủ rơm lấp lại.

– Anh!

– Gì Vân?

– Em…

Xuân ngộp người vì hơi thở của Vân dồn dập. Hơi nóng tuôn ra ào ạt từ đôi vú lớn săn chắc, phập phò lồ lộ ra khỏi áo bị bung hết nút từ lúc nào hông biết. Mùi thơm lạ lùng của mái tóc dài thườn thượt, của đôi gò má nắng cháy đồng ruộng, mùi da của cô gái vườn dừa đang ở độ tuổi “bẽ gãy sừng trâu” và làn da mềm mại của ngực trần, đã đánh bại sức chống cự của Xuân.

Trời mưa! Trời mưa dông. Và trời mưa thật lớn nung nóng sức bật mãnh liệt của đôi trai gái đang sung độ. Cây rơm vừa gồng mình dưới cơn mưa vừa oằn oại chịu đựng sự rung rinh của hai thân thể bất kể trời đất. Trận mưa dông mặc tình tuôn đổ như xối nước lên cây rơm. Và tiếng xột xà xột xẹt của rơm liên tu bất tận, càng lúc càng lẹ hơn tiếng mưa rơi…

– Nhè nhẹ thôi em. Coi chừng cây rơm sập là hai đứa chết ngộp luôn à nghen.

– É! Anh biết gì! Tía bung rơm lên chặt lắm, hông có sụp đâu mà anh sợ.

– Nhưng mà anh moi một lỗ sâu vô giữa thân cây rơm rồi. Mưa đang như trút bên ngoài, thêm cây mưa của em; hai cây mưa lớn như thế nầy thế nào nó cũng quị cho mà xem!

– Kệ nó! Chết em chịu.

– Dữ hôn! Còn hơn chị Sáu em.

– Thì em đã nói có ngày em sẽ cho anh biết tay em mà. Anh hổng biết đâu. Chớ cái đêm ở Bến Tre, anh và chị Sáu mầy mò cái gì mà lục cà lục cục làm em ngủ trắng mắt. Còn nữa. Anh với chị Loan như hai cây đèn cầy lúc la lúc lắc hoài trong đêm tối. Chỉ đi tới đầu nóp em là em biết rồi. Em nín thở. Rồi em rình theo. Em biết hết. Đống rơm đằng sau chòi còn sờ sờ đó. Bây giờ còn mình em, em cho anh biết tay. Cho anh chết luôn!

– Trời đất! À. À. Anh còn nhớ đêm hôm đó, anh nghe tiếng giường của em cứ cọt cà cọt kẹt hoài.

– Ờ hé! Hổng có trời đất gì hết ráo á! Cho anh biết tay em mà! Đồ đàn ông gì mà tham lam!

– Có em á!

Và những trận mưa lại thêm nặng hột, ào ào, hông dứt. Ánh trăng suông mờ mờ. Cho đến lúc nào hông biết, đôi trai gái buông ra. Họ thở ra hông kịp hơi. Và họ mê mệt, tàn như tro rơm. Họ chết dần dần trong giấc ngủ. Chết dần trong sự đam mê xác thịt giữa cơn mưa nơi đồng không mông quạnh.

Mặt trời mọc rồi lặn trôi đều đặn. Vân hả hê với cuộc sống có Xuân bên cạnh. Bây giờ thì chỉ còn một mình, hông còn ai mà bắt xác ảnh nữa. Nàng nghĩ như vậy.Và nàng có những toan tính cho riêng mình.

– Anh à! Nói nầy nghe nầy! Em tính mai mốt Tía Má sẽ cho  tụi mình miếng vườn ở ấp Cô Xanh. Mình có con có cái sống ở đó khoẻ lắm anh.

– Sao khoẻ?

– Thì có huê lợi sẳn rồi. Nè, ổi nè, chuối nè, dừa nè. Bấy nhiêu đó hai đứa mình xoay tối ngày đủ ngất ngư. Còn con nữa mà. Em thích có năm sáu đứa.

– Năm sáu đứa thì còn thì giờ đâu mà lo vườn tược.

– Sao hổng được. Đẻ một tháng là làm được rồi.

– Rồi hai tháng sau ôm một cái bầu nữa hé?

– Em muốn vậy.

– Trời đất! Tư niên có chuyện đó thôi sao.

– Thì sao nữa. Gái vườn lớn lên, có chồng có con, lo vườn tược, như vậy là êm ấm rồi.

– Còn anh. Anh muốn học nữa.

– Thì anh học đi. Dìa dưới nầy làm thầy giáo.

– Vậy là mình chưa tính làm đám cưới?

– Chưa. Cho anh đi học rồi làm thầy giáo như anh Năm em.

– Anh thấy em tính coi bộ hổng được rồi đó.

– Sao hổng được?

– Mấy hôm rày cứ xà nẹo ngày ba bốn lần thì đố khỏi có con tới nơi. Ở đó mà tính với toán.

– Em hổng sợ. Mình có con là có chớ sao!

– Trời! Gái 17 bẽ gãy sừng trâu!

– Ờ hé! Cho anh biết tay em mà!

Buổi trưa, trời nắng chan chan. Sau khi ăn xong, hai đứa ngồi dưới gốc trâm bầu, nhìn đàn vịt đang rút rỉa trong ruộng.

– Em khát nước quá! Em đang thèm nước dừa xiêm.

– Dừa xiêm gì?

– Dừa xiêm chớ dừa xiêm gì? Anh lại hỏi dần lân nữa rồi!

– Hổng có đâu đó cô. Có dừa xiêm thiệt và dừa xiêm lai. Dừa xiêm thiệt nhỏ trái, hơi thon dài. Còn dừa xiêm lai trái hơi lớn một chút. Em hông có biết, chớ nước dừa xiêm thiệt ở quê ngoại anh- Châu Bình- có vị thanh và ngọt hơn Lương Quới .

– Sao vậy anh?

– Vì vùng Châu Bình là vùng đất còn ngập mặn- nước xạ hai. Qua mùa nắng gắt, lúc nước kém, nước mặn tràn vào,  ban đêm, mình lấy tay khỏa sẽ thấy nước sáng lên, có lân tinh lấp lánh. Rễ cây dừa hút nước lờ lợ. Nước dừa sẽ ngọt thanh hơn…

Ngôi nhà của Ngoại, ở Châu Bình, lợp ngói âm dương, cũ kỹ, có từ hồi nào Xuân hổng biết nữa. Lớn lên, Xuân đã thấy ngôi nhà đã có ở đó với cái dạng hình bánh ít, giữa cái sân trước rộng rinh dùng để phơi dừa. Một dãy lu vú da bò chứa đầy nước mưa bên hàng hiên nhà. Xuân, các em và tụi bạn thường hay lủi vào kẹt lu chơi trốn bắt cút. Trước nhà là cái cầu đúc nhỏ bắc ngang con rạch. Qua cái cầu đúc, phải đi trên những tảng đá ong, vòng vo ngoằn ngoèo theo cái hàng rào quít tàu và trà  được cắt xén cẩn thận cao khỏi đầu người, rồi mới vô tới căn nhà ăn và nhà bếp rộng rãi.

Sau nhà bếp là một dãy nhà lớn rộng để chứa và sấy dừa vào mùa mưa. Lúc nào bên hông dãy nhà nầy cũng có một hai đống dừa khô độ một hai thiên. (Một thiên là một ngàn. Ở  quê Xuân, người ta gọi một thiên dừa chớ hông ai gọi là một ngàn dừa). Và những ổ tèn hen đùn lên cùng khắp sân. Có đàn ngỗng dữ dằn, cổ dài ngoằn, luôn luôn lúc nào cũng rượt đuổi bọn Xuân.

Ông Ngoại của Xuân, Ông Ba Hạo, có đến bốn bà vợ. Ổng chết từ lúc não lúc nao, chắc lúc còn trẻ nên ông cố  Lê Phùng Xuân chia phần, cho người vợ trẻ nhứt, bà ngoại của Xuân ba mẫu vườn dừa, năm mẫu ruộng ở ngoài lộ ngang. Bà Ngọai, quê ở Giồng Trôm, đã một lần góa chồng, dốt đặc cán mai. Bà hay nói những thứ chữ hơi lạ như “tư niên”(quanh năm), hồi nẫm(hồi xưa), đi hược(đi học), vịt cồ (vịt trống), gà cồ, cua kình (cua lớn), sít rịt… Từ khi về với ông Ngoại, bà quán xuyến công việc nhà rất giỏi. Xuân lớn lên đã thấy một mình Ngọai tính nhẩm từ trăm cau, chục sa bô chê, chục mãng cầu xiêm… Đống dừa mấy thiên? Ngoại đều biết răng rắc bằng cách bẽ từng đọan cọng lá dừa.

Ông Cậu Năm Kình hổng làm gì được hết. Tối ngày ổng chỉ ho sù sụ vì chứng ho lao đã hành ổng từ khi ông Cố cho ổng lên Sài Gòn học. Ông Cậu mãi mê thức đêm thức hôm đọc ba cái Tiểu Thuyết Thứ Bảy và Tự Lực Văn Đoàn. Ổng có rất nhiều sách- nhưng đặc biệt là hông có truyện Tàu- dấu trong các cái lu vú bò. Khi nào hô có Tây ruồng là Bà Ngoại phải lo tuồn ba cuốn sách đó vào những cái lu đã chôn sẳn sau vườn. Ổng lại còn có tật cà lăm nữa. Nói một tiếng, rặn gần hồi lâu mới ra khỏi miệng.

Mới có  tám, chín tuổi nhưng Xuân cũng đọc được: Tôi là Mẹ, Chiếc Bóng Song The, Hồn Bướm Mơ Tiên, Tố Tâm và cuốn mà Xuân mê nhứt là Đồng Tiền Vạn Lịch. Thằng nhỏ nầy hay lò dò đến gần mấy cái lu, đợi ổng lên cơn ho, lén lén rút đại một cuốn rồi bỏ chạy. Ông Cậu có ngó thấy, chưa nói được một tiếng là Xuân đã tuôn ra tới đầu bờ dừa, nằm gác chơn lên gốc bụi nhàu đọc ngấu nghiến trong buổi trưa hè đầy nắng loang lỗ.

Nắng trong vườn dừa  buổi trưa mát rượi. Hông có một ngọn gió. Vắng lặng. Thoảng có tiếng cu kêu xa xa và tiếng gà  cồ gáy. Thằng bé đọc đã, nằm ngủ thiu thiu. Nước lớn dần dần len vào các bờ mương. Cá nóc nói bắt đầu nhảy lên, nằm phơi mình trên mấy trái dừa điếc và mo nang đầy bùn sình. ( Cá nóc nói có hình dạng như cá thòi lòi nhưng nhỏ con hơn, chỉ bằng ngón tay giữa là cùng. Nóc nói ở trong mương vườn, hông thấy ra ở vùng nước sâu. Háu ăn nên trẻ con thường bắt để làm mồi câu cua biển )

Nhà Ngoại còn có hai cây me to bên hông sân, ngập bông khi mùa gió chướng và đầy trái vào mùa quết bánh phồng mì, bánh phồng nếp. Bông me, đọt me non nấu canh chua cá chốt ăn với tép bạc kho nước cốt dừa. Có bụi chuối hột đầy trái chín. Đám con nít hông dám ăn, sợ ỉa hông ra. Bắp chuối và cây non nấu canh chua lươn con mẻ. Khi ra giêng, còn có hoa ô môi nở màu tím rịm, từng chùm phủ kín cây, đua sắc với bông vông nem đỏ choét ở ngõ vào nhà. Có đàn chim trao trảo kêu ‘ trao trao’ nhảy nhót đầy trong lùm cây sa bô chê, lê ki ma, mãng cầu xiêm, vú sữa. Có chim chìa vôi hiền lành liệng qua lại trên cành ô môi. Có con chim khách đen thẩm, đuôi dài kêu như có khách đến nhà. Có đàn chim se sẻ và cu lửa, cu đất thỉnh thoảng sà xuống sân mổ những viên sạn nhỏ. Có những com chim sâu ô đen tuyền im lặng chuyền qua chuyền lại tìm sâu trong lùm cây buổi trưa hè nắng có sao…

Từng ấy ghi đậm trong trí óc non nớt của Xuân về vùng đất của Ngoại ở Châu Bình. Nhưng còn nữa, còn nhiều nữa mà Xuân hông nhớ hết. Có cái đáng nhớ hơn hết là Ngoại hông bao giờ quánh đòn, hông bao giờ trách mắng anh em Xuân. Cùng lắm là: “ Ông bà cố tổ mầy, thằng chó đẻ nầy, mầy phá lắm à nghen! ”, rồi Bà vừa cười vừa lấy tay xoa đầu Xuân.

Cái thằng mới có cở tuổi đó mà đã giúp Ngoại lượm dừa rụng từ sáng sớm, hái sa bô chê, hái cau… Hông hiểu sao Xuân khoái nhứt là cái vụ hái cau. Miệng nó ngậm con dao bầu nhỏ bén để bửa cau khi Ngoại ăn trầu. Bụng bó mo cau. Nó có bao giờ mặc áo đâu, ở trần trùng trục tối ngày. Hai chơn kẹp vào nài, Xuân leo thoăn thoắt, đến buồng cau, thử hai trái bìa rồi đến trái giữa. Một tiếng hô: Dầy rồi Ngoại ơi! là nó cứa hai cái rẹt rẹt hai bên mép. Buồng cau rời khỏi thân cây. Một tay giữ chặt buồng cau, một tay ôm thân cau, Xuân tuột một cái rột là xuống tới đất. Bỏ đó, nó đi đến những cây cau khác. Cau hiểm hay là cau lồng tôm, nó đều biết cách thử và hái được hết. Đôi khi nó hông biết tại sao có những buồng cau rất nặng, nó hông xách nổi ở dưới đất mà lại ôm trọn được buồng cau để tuột xuống. Hay là nó say mùi bông cau? À! À! À hén, nó biết rồi. Ôm thân cau tuột thật lẹ làm cho nó thấy tê tê đầu con cu. Hèn chi nó mê cái mửng đó!

Xuân ít khi nào thấy Ngoại bị bịnh, chỉ lâu lâu thấy bà nhai một vài viên thuốc tể uống với nước đậu nành rang. Trà của Ngoại là bông đực mãng cầu xiêm cắt nhỏ phơi khô, xong rang cho vàng ươm thơm lừng, đổ xuống nền đất nạp thủy thổ. Trà của Ngoại còn là đậu ma hái ngoài bờ dừa rang với đậu đỏ, đậu đen. Ngày nào cũng có ba bốn tô bự chảng nước trà loại nầy để Ngoại uống từ sáng đến chiều. Mấy hôm nào bị trúng mưa, bà sụt sùi. Bà lấy một viên thuốc tể hiệu Cữu Long Hoàn, nhai nhót nhét rồi uống một vài hớp nước hoặc hái mấy trái nhàu chín màu trăng trắng chấm với muối, ăn một cách ngon lành. Xuân hông chịu được mùi trái nhàu chín, nó khai ngấy, thum thủm như mùi nước đái con nít. Tụi Xuân thích nhứt là những ngày nắng hè gay gắt Ngoại vò cho một diệm lá sâm hái ngoài bờ dừa. Mỗi đứa ăn một tô với đường tán gọt nhỏ hay đường thùng. Có thế mà ngon, vì hổng có đường thì ăn với muối kia mà!

Ngoại tom góp đủ thứ để nuôi anh em Xuân. Ngoại bán cơm dừa sấy hay phơi khô có giá hơn dừa tươi. Từng lít nước màu nấu bằng nước dừa, từng trăm cau, từng trăm sa bô chê (khi Sa bô chê tới lứa, Ngoại kêu anh em Xuân hái xuống, phơi đầy sân một nắng, xong cho vô khạp da bò có lót lá chuối khô, đốt một bó nhang để vô giữa, đậy hùm lại độ ba ngày là sa bô chê trở mình ) và chục mãng cầu xiêm, từng bó lá dừa, từng nãi chuối tá quạ và từng ôm củi bẹ dừa, từng trái ô môi chín khô quăng lên nóc nhà .

Những thứ đó Ngoại chứa sẳn theo mùa, đợi ngày con nước rằm. Ghe bầu vào tới cầu ở rạch cái trước nhà. Ngoại đem đổi lấy gạo, nước mắm, muối, đường… Đôi khi đổi được một miếng thịt ba rọi, thịt đầu heo thì đem đi kho với dừa cứng cạy, với tép đổ nò. Cây mái dầm mọc đầy dẫy ven bờ rạch. Ngoại làm cách nào hông biết để thành món dưa chua. Xuân hông bao giờ quên được cái mùi thum thủm của món dưa chua mái dầm ăn dậm với nước mắm kho quẹt trong những ngày mưa dầm rả rích tháng bảy. Còn có cả thịt nhái, thịt cóc xào với lá nhàu hay lá cách. Và còn tô canh cải trời nữa chứ. Ờ hé!, những ngày tháng nầy có nấm mối mọc ngoài vườn. Ngoại đổ bánh xèo với nấm mối, tép chạy nò. Bánh xèo cái nào cái nấy vàng hực, ngầy ngậy mùi nước cốt dừa. Bọn Xuân ăn bánh xèo cuốn với lá đọt mọt trắng muột, lá cách, với ngò gai thơm mọc tràn sau vườn nhà.

Ra giêng, mùa nắng gắt. Nước sông mặn. Ban đêm lấy tay khỏa, nước lấp la lấp lánh như ma trơi. Bắt đầu có sam, rạm. Ngoại cho đấp đập mương vườn ngăn nước mặn tràn vô. Bọn Xuân tắm nước mặn. Mắt cay xè. Họng đắng nghét. Vậy mà cũng ráng dầm mình suốt buổi rồi chạy vào mương vườn múc nước xối ào ào. Có hôm Ngoại buồn tình. Bà bẽ cây lá cách làm roi, vừa cười, rượt bọn Xuân. Tụi bây phá nước ngọt của tao. Bọn trẻ, ở truồng dòng dỏng, tuôn chạy, rồi quay lại cười. Coi vậy, chớ nhằm con nước rong rằm và ba mươi, nước sông trở nên măn mẳn hay ngòn ngọt được một vài đêm.

Cái nò ở cái xẻo bên hông vườn nhà là nguồn cung cấp cá tép hằng ngày cho gia đình. Mỗi ngày có hai con nước lớn, nước ròng theo con trăng. Tép bạc, tép đất, bống dừa, bống cát… thì lúc nào cũng có. Còn cá kèo và những con rạm, con sam, con lươn, con lịch… chạy theo mùa, theo con nước. Cá chốt thì nhiều, nhưng dơ lắm, hay bám theo những dề cứt trôi lều bều lúc nước nhửng lớn ở ngoài rạch cái. Gặp con nước ươn, con nước kém, hoặc là những dịp rái giỗ ngoài rạch lớn thì hông có con gì. Đôi khi bọn anh em Xuân thèm quá, lén Ngoại đổ trộm để bắt tép, cua… nướng ăn. Còn con rạm, con sam, và con lươn, con lịch với con cua bọn nầy đi câu hay đi móc hang lúc nước ròng là những món ăn chơi của bọn Xuân. Hay là nghịch ngợm hơn, đào miết để bắt tèn hen nướng ăn chơi. Tư niên chỉ có mùi cá hông mà sao hổng thèm đến các thứ khác được?…

Gà chưa gáy sáng, Ngoại choàng mình thức dậy. Đâu phải tiếng chim sấm bay trong mùa nầy? Chim sấm bay nhiều đợt từ Nam ra Bắc vào mùa gió chướng mà? Tiếng gầm rú của tàu đổ bộ ngoài vàm sông Ba Lai? Chắc Tây ruồng rồi. Trong khi mọi người lo gom góp quần áo cuộn lại trong khăn, Ngoại đã nấu được nồi cơm nhão, dùng mo cau nhồi thành những cục cơm vắt, cuộn lá chuối rồi bỏ vào bao lác.

Trời chưa hửng sáng, đã có tiếng súng gần lộ ngoài. Ngoại lật đật hối Cậu Năm chui xuống lu đã chôn giữa bụi quít tàu sau nhà rồi dùng lá dừa phủ lên. Kỳ nầy Ngoại hông kịp dẫn bọn Xuân trốn vào rừng cây bình linh có nhiều bụi mây và lứt cao ngập đầu mà đẩy tụi nó chui vào đít bộ ván giữa nhà bếp. Xong Ngọai lấy vỏ dừa khô chất kín chung quanh…

Hổng biết độ bao lâu. Đột nhiên có tiếng súng nổ ngoài sau vườn và nhiều tiếng la hét bằng giọng mình và giọng gì lạ quắc mà Xuân nghĩ chắc là Tây. Xuân có bao giờ thấy Tây đâu. Nghe mọi người nói là tụi nó ác dữ lắm, đi ruồng tới đâu là bắn giết, chặt đầu người, còn bắt đàn bà con gái hãm hiếp. Nó nghe nói mà ớn luôn. Họ lại còn nói Tây mặt gạch và Tây Sê nê ga le còn hung dữ hơn nữa. Xuân nghe lén chị Năm Hơn ở xóm ngoài bị bốn năm thằng Tây mặt gạch tụi nó hiếp tới chết luôn. Xuân nhớ có lần, Ba Má dẫn Xuân đi mít tinh chống Tây ở đình Bình Khương, miệt dưới Châu Bình. Xuân còn nhớ đêm đó, nó trông thấy nhiều cờ đỏ sao vàng của ViệtMinh  quơ lên quơ xuống và tiếng hô đả đảo Tây vang trời.

Bất thình lình, có những tiếng xí xô xí xào quanh chỗ Xuân và tiếng lụp cụp quăng đồ vật lên mặt ván.Cả gia đình nằm im thin thít, chết điếng, hông dám cựa quậy. Mẹ nói nếu để Tây bắt được thì nó bắt đem về bên Bình Đại; nếu hông thì nó bắn giết cho chết luôn. Sợ nhứt là đứa em út. Rủi nó khóc lên thì sao? May mà nó sợ quá, nó nín khe.

Có những thứ gì liệng len keng trên bộ ván và giọng nói của đám người càng lớn càng nhiều.Cùng lúc có tiếng gà mái kêu quang quác và tiếng la hét hô bắt nó, bắt nó. Xuân nghĩ chắc bọn lính tìm ra nơi gà mái đang ấp và đã hốt trọn ổ trứng gà rồi.

– Mầy hỏi quan lớn có đốt nhà nầy hông mậy?

– Hông. Ổng thấy nhà nầy có  tượng Đức Mẹ ẳm chúa DêSu, có ông Thánh DuSe, lại còn có khung hình thờ Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp nữa nên ổng hông cho đốt.

Ông Hương Cả Lê Phùng Xuân-người thường gọi ông Cả Non- đã đến lập nghiệp ở vùng đất hoang vu Châu Bình từ lâu đời. Gia đình thờ cúng ông bà. Khi gặp một linh mục ở Đà Lạt đã trị cho ông hết bịnh ban cua dai dẳng, ông tin lời Chúa và theo đạo Thiên Chúa. Theo lời bà Ngoại kể lại, ông có rất nhiều sách viết chữ Nho, ông biết kê đơn bốc thuốc và giỏi võ. Đến đời ông Ngoại- Lê văn Hạo- con cái đều được đi học. Má Xuân học ở GiồngTrôm, còn Cậu Năm Kình “hược” ở Sài Gòn. Gia đình rất sùng đạo. Chủ nhựt nào cũng phải thức dậy từ khuya để đi lễ tận nhà thờ Giồng Khương, sát bên Lương Quới. Vùng Ba Châu có nhiều người theo đạo, nhưng chỉ có một nhà thờ đó mà thôi.

Ông Cố cho lập bàn thờ Đức Mẹ ở gian giữa nhà. Gian nầy có bộ tràng kỷ đen, cẩn xa cừ. Một bên là bộ ván gõ mun và bên kia là bộ bàn ghế dùng để ngồi uống nước trà. Phần sau là buồng ngủ, có cái “giường xe” to lớn, đựng đầy tô chén kiểu dùng vào dịp giỗ quãy. Phần sau nhà nầy là phần Xuân sợ nhứt vì bao giờ cũng tối mò và đầy muỗi.

Nằm im lìm nín thở dưới đít bộ ván, Xuân nhớ lại Ngoại đã kể với nó về Ông Tán Kế (Lê tấn Kế) bị Tây chém đầu ở Châu Thới(?), về Một On (Le Roy) phục kích đánh tan tác bộ đội của Chín Tá, Việt Minh, ở gần cầu sắt Châu Bình năm 1947(?), gần lộ giữa. Bà nói ông Ngoại kể chết nhiều lắm, chôn xác một ngày hông hết .Xuân sợ quá, lỡ Tây mà nó bắt được là nó bắn chết. Xuân mắc đái gần chết mà hông dám đái ra quần.

Cảnh vật chung quanh im ắng đã từ lâu. Cả nhà vẫn còn nằm nín thinh. Đột nhiên có tiếng gáy của con gà cồ gần bên bộ ván. Bà Ngoại và Má biết đám lính đã rút đi hết rồi nên tốc vỏ dừa hai bên. Tụi Xuân lật đật chui ra. Trên mặt bộ ván bày la liệt  những lon dẹp và tròn mà bọn nầy hông biết là thứ gì. Mỗi đứa cầm lên một thứ, bắt đầu hửi. Có mùi thịt. Tụi nó liếm một cách ngon lành. Nhưng có liếm mút được một cách trọn vẹn đâu vì tiếng hét của Bà Ngọai và Má.

– Quăng đi. Mau. Có thuốc độc trong đó. Chết hết bây giờ!

Tư niên chỉ có mùi cá hông mà sao hổng thèm đến các thứ khác được? Cả bọn ngẩn ngơ. Xuân xách chét, kéo tụi em ra bờ dừa xiêm. Xuân trèo lên vặn một vài trái cho rớt rồi tuột xuống, vạt soèn soẹt ở đít dừa, chia nhau uống ừng ực. Mùi cá mòi và mùi thịt hộp vẫn còn dây dưa quanh miệng…

– Em muốn uống nước dừa xiêm thiệt ChâuBình!

– Đâu mà có?

– Có mà!

Đột nhiên Vân ngã người ôm siết Xuân. Gương mặt nàng đỏ rực dưới mặt trời nóng cháy. Và hai thân thể bị nắng trưa thiêu đốt đỏ hừng hực. Bùn non trây nhèm nhẹp, chẹp chẹp liên hồi và nước bị quậy chủm chà chủm choẹt, rột rà rột rẹt. Mình mẫy hai đứa dính đầy bùn. Gió mạnh cũng hông làm khô nổi những giọt mồ hôi tuôn rào rào như nước xổ đập… Nằm im lìm trên người Vân rất lâu, Xuân thấy ngưa ngứa ở bắp chuối. Chàng giựt mình. Có hai con đỉa mén..

– Chết cha! Quần áo mình để ở nón lá trôi tuốt luốt đằng kia rồi!

– Làm sao đây? Thôi mình lội đi lấy đi!

– Hả? Hông. Hổng đi đâu hết!

– Chứ làm sao mình lấy?

– Oánh tù tì. Đứa nào thua thì đi lấy.

– Thôi à nhen! Mình hổng chịu đi đâu à nhen. Rủi em thua thì sao?

– Thì đi lấy chứ sao!

– Mình hổng dỡn đâu à nghen! Đàn ông con trai gì đâu mà hổng biết nịnh. Như vầy, ai bắt con gái đi!

– Nịnh là hồi lúc trước cà! Chớ bây giờ ai thèm nịnh nữa. Em thua thì em phải đi lấy. Như vậy đi cũng được vậy!

– Dị hợm hôn. Coi cái bản mặt kìa. Thấy mà ghét!

– Ghét hả? Xỉa xói vô mặt anh hả ? Anh mần một trận nữa cho em chết luôn thì hết ghét nghen!

– A! A! A! Thôi… thôi mà…

Bờ bao ruộng nơi khác lại bị sạt lở. Nước lại đục ngầu như  nước quậy mương xúc tép. Dường như có trời mưa vì nước tuôn chảy dầm dề trên lưng Xuân. Hai cơ thể rã rời nằm yên, một phần ở bờ bao đầy bùn sình, một phần ở dưới nước. Nắng trưa hừng hực. Nước ruộng nóng hổi.

Cuối cùng thì chàng cũng phải đi lấy quần áo nằm trong nón lá bị trôi mút tí tè ở đầu bờ ruộng. Hông lẽ mình để thân thể trắng duột như miếng cơm dừa của cổ đi ngờ ngờ trên bờ đê hay lội vô đám bùn non? Chàng hông dám chạy tồng ngồng theo bờ đê, coi chướng lắm, nên lội ột ệt dưới nước sâu đến ngang háng. Đến khi trở về, hai con đỉa mén bám vào bắp đùi, Vân ngó thấy la hoảng lên. Chàng lấy tay giựt mạnh ra. Hai dòng máu rỉ ra chạy xuống đến bắp chuối.

Ở đây có nhiều đỉa mén mà ít đỉa trâu. Hai đứa hông khi nào lội tắm ở xẻo nước trước chòi. Xuân thì có thể ở trần, mặc quần xà lỏn, lặn ngụp một hai cái, xong đi lên. Chớ còn Vân bao giờ cũng mặc nguyên quần áo nhảy ùm xuống, rồi lật đật chạy lên- nếu ngày hôm đó bị dính bùn đất nhiều. Hai đứa đều sợ đỉa. Nếu mình quậy đùng đùng một lúc lâu thì đỉa mén sẽ men tới liền, chui vào những chỗ kín thì khó mà biết được. Khi mà thấy ngứa, mò tay đến thì con đỉa mém to bằng ngón tay út đầy máu. Ai mà hổng hoảng!

Cho nên tắm nước trong lu là tốt nhứt, vì nước trong lu hông bao giờ có đỉa. Có hai lu nước. Một lu dùng làm nước uống, còn một lu dùng làm nước xài và tắm. Những ngày trời mưa, hai lu nước đầy, hai người tắm giặt thoải mái. Và bây giờ, Vân luôn luôn mặc quần trong lúc tắm. Nàng vo tròn hai ống lên tận bắp vế. Ở đây bao giờ có nhà tắm đâu. Ngực trần với đôi vú hồng, chắc, thon thả của Vân có cái gì trìu mến đối với Xuân. Cả hai hông thấy mình thẹn thùng, đứng tắm giữa đồng.

Chỉ có một cái đồ múc nước làm bằng gáo dừa. Hai đứa thay phiên nhau múc, xối. Một vài ngày đầu tiên Vân còn ngại ngùng e thẹn rồi sau đó nàng tỏ ra dạn dĩ, chà xà bông rồi kỳ lưng cho Xuân. Đổi lại Xuân cũng làm như thế cho cô nàng. Cục xà bông Cô Ba Xuân đem theo cũng mau hết, vì Vân còn dùng nó để gội đầu. Có thể đến một lúc hai đứa sẽ phải dùng tới bồ bồ hay là phải tắm mà hông có chút xà bông nào cả. Cũng như bột đánh răng “Anh bảy Chà Và, Hynos” Xuân đem theo đã hết từ lâu. Đâu có gì nhiều đâu. Đó là một hộp nhôm tròn nhỏ đựng miếng bột ép cứng, khi xài dùng bàn chải ướt chà chà cho bột tan ra. Mấy ngày hôm nay nó cũng bắt chước Vân dùng xác cau chà răng mỗi buổi sáng và tối.

Vân cảm thấy hạnh phúc với cuộc sống hiện tại. Ngày ba buổi nàng lo nấu cơm chăm sóc bữa ăn cho Xuân như một người vợ. Vân cứ để cho Xuân mặc sức làm cái gì thì làm. Nàng cứ cắm cúi lo kiếm từng con tép, từng con cá nhỏ nhít tới con cá bãi trầu lớn bắng ngón tay út, từng con ròng ròng, từng con cá lóc cửng, từng đọt rán ở mọi ngõ ngách, từng cọng rau dừa, rau hẹ ở tận bờ ruộng xa chỗ chăn vịt…. để chỉ làm một món ăn với muối ớt! Nàng hy vọng Xuân ăn ngon miệng vì mấy hôm rày hông còn gì để ăn với cơm nữa.

Một buổi chiều, Vân lục lọi được trong góc chòi một lon chao cũ, sét gần như lủng vào trong.Có vậy mà Vân cũng mừng húm như tìm được một món ăn ngon. Vân kêu Xuân inh ỏi. Xuân lật đật chạy vô ngó Vân đưa lon chao sét với  vẻ mặt rạng rỡ.

– Làm sao mở đây anh?

– Để anh coi coi. Ở đây, làm gì có than bỏ lên ngay nắp cho nó chảy chì hàn ra.Mình lấy mũi dao phay đục thì nó bể.

Cuối cùng Xuân cũng tìm được chỗ mỏng. Chàng từ từ lấy mũi dao tách nhè nhẹ cho đến khi thành một lỗ lớn đủ đổ hết chao ra tộ.Những cục chao hòa chung với một thứ nước hơi đen đen vàng vàng. Xuân đưa lên mũi, hửi. Vẫn còn có mùi chao thum thủm pha lộn với mùi rượu. Nhưng để cho chắc ăn, chàng đổ bỏ nước, chỉ lấy lại mấy cục chao. Mùi thơm lừng toát ra từ mấy viên vuông vuông khiến nước miếng từ hai bên miệng Vân chảy ra. Tự nhiên nàng muốn nấu một nồi cơm thật ngon, ăn ngấu nghiến với mấy viên tàu hủ lên men ngầy ngậy đó. Phùng Xuân pha nước muối đổ vào chao, cho vô tô mới.

– Mình rán kiếm một con rắn hay con chuột, nướng cho thật vàng, rồi dầm chao chấm với đọt ráng luộc là ăn cơm quên thôi đó, hén em!

Nàng nuốt nước miếng đánh ực một cái rồi nhìn Xuân mĩm miệng cười. Những buổi chăn vịt sau đó hai đứa đã đập được con rắn bông súng nhỏ. Có rau dừa, rau hẹ, kèo nèo, cóc kèn, lại thêm một chút rau muống. Và họ đã có một bữa cơm chiều đả miệng, no cành hông.

Sau đó chúng nó bỏ đại chén đũa, hổng thèm rửa. Tụi nó ra ngồi cặp kè dựa đống rơm, nhìn mặt trời từ từ gối đầu đỏ ối lên chiếc “giường dừa” cuối chưn trời. Khi ở trên cao, mặt trời chỉ bằng cái rỗ súc, nhưng càng xuống gần hàng dừa mặt trời từ từ lớn dần bằng cái nia, bị đốt cháy đỏ rực rồi chậm rãi tiêu tan mất. Không khí hơi dịu lại và có gió thổi lai rai từ hướng Tây Nam. Một vài vệt mây đen vắt ngang chơn trời

– Mình xuống đây được bao lâu rồi hả anh?

– Anh cũng hông biết nữa. Chỉ nhớ lúc đầu có trăng lưỡi liềm. Chắc gần rằm vì mới đầu hôm, em thấy hôn, mà trăng đã lên gần một sào, lấp ló trong đám mây cà. Ánh trăng suông chớ có bao giờ tỏ đâu. Em nhớ nhà hả?

– Hông. Còn anh?

– Cũng hông nữa. Có em bên cạnh là anh vui rồi.

– Dữ hôn nhen. Nói nghe đã chưa! Chớ mới lúc đầu anh ở đâu đâu, biệt thèm ở gần em. Mất hết trơn rồi mới quay dìa em hả? Có phải vậy hôn?

– Đâu có. Khanh cũng cho anh biết chứ! Nhưng hổng lẽ anh bứng hoa cả cụm?

– Cha! Tham quá há. Hai cụm rồi đó ông, còn đòi gì nữa!

– Em hổng ghen hả?

– Ghen chớ sao hổng ghen? Nhưng giờ đi mất tiêu hết rồi. Em tha tàu cho anh đó. Từ rày về sau lạng quạng là chết ví em đó nhen. À, anh! Sao hổng thấy Tía hay thằng Tám Trò xuống thế cho mình hết vậy. Hai đứa mình ở lâu dưới nầy làng xóm họ dị nghị.

– Anh hổng biết nữa. Làng xóm đâu mà dị nghị. Ở đây đồng không mông quạnh, hổng có một bóng người. Thằng nhỏ Út Thèm nó đem vịt chăn ở đâu đâu. Có thấy nó đâu. Suốt ngày đêm có thấy ai đâu mà nói ra nói vô. Anh với em sống giống như ông bà Adam và Eva.

– Ông bà nào? Em hổng biết?

– À. Đây là chuyện KinhThánh của đạo Thiên Chúa. Sau khi mần ra trời đất, Chúa tạo ra hai con người đầu tiên là ông Adam và bà Eva. Họ sống sung sướng trong vườn địa đàng.

– Ủa? Có tới hai lận sao?

– Ừ hai. Có nam nữ mới có con cái chứ!

– SaoTiá nói với em ông Tổ loài người chỉ có ông Bành Tổ thôi.

– Còn bà Nữ Oa nữa đó chứ em. Cổ tích mình kể lại họ là hai anh em ruột. Chắc người lớn sợ kể thêm bà Nữ Oa là em ruột thì đó là sự vô luân. Ai đời hai anh em ruột lại lấy nhau được. Chúng ta hông được quyền nghe những chuyện như thế. Xã hội càng ngày càng văn minh mà em. Có những ràng buộc về đạo đức để bảo vệ gia đình.

– Nhưng em học lịch sử nhà Trần mình. Bà con lấy nhau lộn xộn.

– Lịch sử Đông Tây đâu mà chẳng vậy. Một là bảo vệ vương triều, hai là lòng tham tiền và quyền lực. Thiếu gì chuyện anh em ruột lấy nhau, mẹ lấy con, con lấy mẹ, chú, dượng lấy cháu…… Ối thôi loạn xà ngầu, kể đâu cho hết.

– Còn anh thương em thì sao?

– Anh thương em hả? Anh thương em từ thuở mẹ về với cha.

– Xạo ke dữ he! Đó là câu ca dao: Sao Vua chín cái nằm kề. Thương em từ thuở mẹ về với cha.

– Vậy chớ em thấy sao Vua chưa? Sao Vua ở xa tít tít ngoài cõi trời xa xăm. Lúc đó em và anh chưa có. Thì hổng phải là lúc mẹ về với cha sao?

– À! Anh. Sao Vua ở đâu? Em có bao giờ biết nó ở đâu đâu. Ở vườn lúc nào cũng nhìn thấy lũm trời bé tí xíu trên đầu. Còn lại bốn bề chỉ có dừa là dừa.

– Bữa nay trăng suông làm gì mà nhìn thấy được sao, em!

Cõi trời xa xăm nầy giống như nơi họ đang ở. Tối ngày hông thấy một ai ngoài hai cái đầu đội nón lá và bịt khăn rằn. Xuân bây giờ như một dân quê. Chàng đi chưn không. Móng chơn bám đầy phèn vàng khịt. Hai bắp chuối bị muỗi chích sần sùi và cỏ lác cắt chằng chịt. Hai ống quần có hai khoảng cách riêng biệt: vàng và đen.

Một hôm Phùng Xuân nhìn vào lu nước thấy tóc mình bùm xùm, râu non mọc đen mươn mướt hai bên bờ mép, hai má hóp đi. Mình có ốm đi hôn? Mình quên mất đi ngày tháng rồi. Ở đây chỉ có biết ngày đêm bằng mặt trời mọc và lặn. Và ngày nào cũng như ngày nào với một công việc đều đặn: sáng sớm thức dậy, ăn ba hột cho chắc bụng rồi cùng Vân lùa vịt đến những đám ruộng. Nhiều khi để Vân một mình, Xuân lùng xục tới những nơi xa kiếm rau, bắt ốc, dặm chuột, đập rắn. Những con rắn rằn ri cá hay rằn ri voi to và mập cũng hông khó kiếm nơi chốn đầm lầy nầy. Nhưng có điều những con rắn nầy cắn nhanh quá tợn nên nhiều khi bàn tay Xuân đầy vết răng của tụi nó.

Sau đó, trở về gốc trâm bầu nào đó mà Vân đã dọn sẳn làm cái ổ cho hai đứa. Ăn ba hột dưới trời nắng chang chang. Nằm thiu thiu ngủ. Ngọ nguậy… Rồi xớ rớ thế nào hai đứa cũng có một trận đổ lửa xảy ra. Nhiều khi nó xảy ra còn hơn gấp hai ba lần ngày ba bữa cơm. Có phương tiện gì giải trí hơn là công việc đó ở nơi nầy-nơi trời đụng đất, nước giáp mây- với sức trai gái đang độ rững mỡ được dịp mà hùng hục buông thả? Nhứt là những ngày mưa dầm rả rích. Gió lộng trời cho đến suốt đêm. Muỗi mòng hông có thì ở trong ổ rơm hai đứa cũng hì hà hì hục nhừ tử, đua nhau cùng với trời đất. (Cái thằng con trai bây giờ quên nó là đứa học trò học hành chăm chỉ bao năm qua ở Sài Gòn, phải lo học gạo dữ dằn để lấy được mảnh bằng Tú Tài. Nó quên tuốt luốt mọi thứ. Cái thằng giống đực vô trách nhiệm. Có khi nào nó sẽ có đàn con đầy đàn đầy đống và dính chặt vào đời sống ở đây hôn?)

Có đêm, chàng giựt mình thức giấc. Chung quanh hoàn toàn im lặng. Vân nằm bên cạnh, choàng tay qua ngực Xuân, thở đều đều nhẹ nhàng, bình yên. Chàng lắng tai nghe. Thời gian như dừng lại. Chàng giựt mình nhớ lại Sài Gòn. Nhớ những ngày tháng ngồi lê lết ở trường cùng bạn bè. Những ngày tháng thiệt ngây thơ bình dị, hông có những lo toan về đời sống, từ miếng ăn cho đến manh áo, chỉ ngày hai bữa cắp tập đến trường. Đôi khi, có mơ mộng đến một mối tình vu vơ thoảng qua, nhưng chưa bao giờ chàng biết  đến những vui sướng của xác thịt.

Đột nhiên chỉ một kỳ nghỉ hè ở miền quê xa xăm, chàng đã tận hưởng được những giờ phút ái ân mặn nồng. Một thoáng thôi của thời gian, ba người con gái còn trinh trắng đã cho chàng nếm mùi vị yêu đương ngọt ngào. Hèn gì thằng con trai 19 tuổi như dê đực chẳng đê mê ngây ngất quên hết ngày tháng qua đi. Chàng hông còn nhớ những đoạn văn hay chàng đã đọc trong những cuốn sách nổi tiếng viết về đồng quê, về những bức tranh thơ mộng cánh đồng ruộng. Bây giờ Xuân sống như một người dân quê thực sự, quên hết mọi sự hiểu biết, lo ngày hai bữa ăn. Nói tóm lại, có bốn nhu cầu thiết yếu của con người bình thường. À! Mà lạ. Mới có mấy ngày thôi: cũng là cánh đồng, cũng thơ mộng, có trăng có nước giữa trời đất bao la mà sao Xuân hông tìm thấy những điều giống như trong sách vở chàng đọc được. Chàng đã biến thành con người khác mất rồi.

Còn Vân, lúc nào ra nắng cũng trùm kín mít đầu và hai tay. Nàng sợ nắng ăn đen làm cô ta trở nên xấu xí? Tóc Vân hơi dài nên phải cuộn quấn vào khăn rằn. Những buổi chiều, trong ngày nắng ráo, sau khi cơm nước, tắm rửa xong xui, nàng mới xõa tóc rồi đứng hong cho khô trước hiên chòi gió thổi vù vù. Nàng cảm thấy hạnh phúc với cuộc sống hiện tại. Có Xuân bên cạnh, Vân yên tâm và nàng tin rằng đó là chỗ dựa duy nhứt trong cuộc sống bình yên hiện nay.

Mặc dầu với lối sống đơn sơ, mộc mạc: tắm nước ruộng, uống từng bụm nước ruộng, nấu nướng bằng rơm và những món ăn bình thường: cá tép, chim chuột, rắn rết, ốc… nhưng nàng tận tâm lo mọi việc cho Xuân như một người vợ, một người vợ trẻ yêu chồng như bất kỳ người đàn bà trẻ nào khác. Trong mấy ngày chung đụng nầy, hai đứa chưa bao giờ xa rời nhau. Họ khăng khít, vui vẻ bên nhau như cặp chim bồ câu ríu rít liú lo. Và nàng chìu chuộng Xuân một cách tự nguyện, hông đắn đo vì cho đó là bổn phận của người vợ; kể cả đến trường hợp nồi cơm đang sôi sùng sục bên lửa rơm phừng phừng…

Kết quả là sau đó hai đứa ăn cơm sống. Hổng ai đổ lỗi cho ai, còn vui vẻ cầm đũa chỉ cho nhau là tại anh, là tại em rồi cười nắc nẻ. Tự nhiên Xuân phát chứng, bỏ đũa tiến đến bên Vân rồi nói: Nè nè, tại anh nè… Bỏ ngang bữa cơm… Hai đứa nằm bệt dưới đất, bên bếp, thở muốn hụt hơi cho đến chiều tối. mặc cho bầy vịt đói kêu ỏm tỏi. Đơn giản, Vân xem những điều đó là hạnh phúc mà mình có được. Vân nghĩ mình sống như trong một thế giới nào đó, hông một bóng người, chỉ có chim chóc muông thú, cây cỏ ở thời đại xa xưa. Nàng hông cảm thấy thời gian trôi đi và ngày qua ngày hông có gì khác lạ.

Xuân tắm trần truồng trước mặt nàng trong cơn mưa dông gió lạnh vì phải cổi quần áo để giặt. Nàng nhìn thân thể đó một cách âu yếm trìu mến mà hông ngượng nghịu. Thân thể đó có một cái gì thân thiết, vững chãi khi nàng nằm trong vòng tay Xuân. Còn nàng, trái lại hông bao giờ dám làm như Xuân. Nàng ở trần khi tắm là quá lắm rồi. Nàng thẹn thùng hay sợ Xuân trông thấy mình mẫy mình trắng muột mà dưới cơn mưa lạnh? Lúc nào cũng quần kín mít. Chỉ vén quần lên đến bắp vế hoặc nới rộng lưng quần để kỳ cọ dưới cơn mưa, xong rồi che lại. Chớ còn khi ân ái ban ngày ban mặt thì sao? Ở bờ đê, ở góc đống rơm, bên cạnh nồi cơm đang sôi… sao Vân hổng mắc cỡ? Vân hông giải thích nổi. Hay là Vân sợ Xuân trông thấy thân hình mình có nhiều biến đổi kể từ khi ở gần Xuân?

Mà có thiệt như thế. Gần hơn tuần nay Vân thấy người mình nẩy nở ra. Hai đầu vú săn chắc, bầu vú lớn hơn và đôi mông hơi nặng nề đôi chút. Có đúng là gái phải hơi trai? Đôi khi, nàng thấy Xuân nhìn nàng chằm chặp, hông hiểu để làm gì; nhưng nàng đỏ mặt mắc cỡ trách nhẹ: Anh nầy! Tiếng trách đó hình như khiêu khích Xuân. Hai đứa lại vồ lấy nhau, ngấu nghiến cho đến khi mệt nhoài… Rồi, hổng thèm mặc quần áo, cùng nằm ngữa, nhìn lên trời cao sâu, xanh thăm thẳm.

Và cứ thế cuộc sống giữa đồng hoang của đôi trai gái hông có nhu cầu gì khác hơn. Họ sống hoang sơ, mộc mạc, bình dị, quên mất đi ngày tháng. Bây giờ chẳng ai nhắc đến thằng Tám Trò hoặc Tía hoặc Chú Sáu đến để thay thế họ. Trong đầu mỗi đứa đều thầm mong hông ai đến để họ tận hưởng những ngày tháng mặn nồng bên nhau. Cả hai bây giờ tỏ ra quấn quít, quyến luyến và nghĩ rằng nếu vắng bóng người mình thương thì nổi nhớ nhung sẽ ray rứt biết chừng nào!

Một buổi chiều, chúng nhận ra trong lu còn tí xíu gạo. Nhưng mấy ngày nay mưa lên tiếp, đồng hoang mù mịt. Vịt được thả cho ăn loanh quanh chòi chớ hông đi xa. Mấy lần hai đứa bàn nhau phải đi vào trong Cái Bông một chuyến để mua thêm gạo và một chút thức ăn vì hổng biết chắc chắn ngày nào người nhà trên Lương Quới xuống.

Buổi sáng hôm nay nhiều sương mù. Biết là trời hôm nay hông mưa, Vân chống ghe đi chợ thật sớm. Có vậy mà Xuân cũng đi cùng Vân ra tận chiếc tam bản và còn ráng nói vói theo là về sớm nghe mình! Khi chiếc xuồng khuất khỏi bờ nước, mất vào đám sương dày, Xuân vẫn còn ngồi thừ một lúc lâu trên đám cỏ, tưởng chừng như Vân đi vào chỗ nguy hiểm. Chàng mường tượng con đường nước từ chòi đến Cái Bông có nhiều trắc trở, hổng hiểu Vân có qua được hông, có lạc đường hông, mà quên rằng từ chòi đến đó chỉ có một dòng  nước một mà thôi. Hơn nữa Vân là gái vườn, tháo vát thì đâu có gì mà phải lo lắng. Sao hông lo cho mình khi còn một mình ngồi chong ngóc giữa đồng hoang ?

Khi mặt trời lên độ một sải tay, Xuân cứ ngóng mãi về hướng Cái Bông cho đến khi thấy cây sào dài quơ lên quơ xuống chàng mới yên lòng và đứng chực sẵn ở bờ nước.

– Có mua được gì hông em?

– Có. Được mười lít gạo, một lít nước mắm, một chục bánh cúng, bánh da lợn, bánh lỗ tai heo và một ít bánh rau mơ. Bây nhiêu đó là hết phần tiền của em và của anh đưa.

– Làm sao em mang nhiều thứ như thế nầy từ chợ ra bến ghe?

– Thì dễ ợt chớ gì. Kiếm khúc cây làm đòn gánh rồi quảy nó. Ráng mua một ít nước mắm để kho hay làm gì khác cho nó đỡ tanh. Chớ muối không mà ướp thịt chuột nướng, ăn tanh ói. Em chịu hông nổi.

– Rồi đa! Hôi cơm tanh cá rồi phải hôn?

– Mắc dịch anh. Trù ẻo hông à! Có đâu? Em hổng thèm ngủ chung với anh nữa à nghen!

– Thiệt hôn! Thiệt hôn!

– Đừng! Đừng anh…. Á! Á!…..

Cò cưa kéo nẹo ba cái vụ đó, mất gần hết thời giờ của buổi sáng. Hông nấu được cơm. Vịt kêu ỏm tỏi. Hai đứa lật đật mang theo đòn bánh tét, bánh tằm rồi hối hả lùa vịt ra đồng.

Đàn vịt mấy hôm nay thấy hơi trọng hơn một chút. Lông bắt đầu trổ mầu hơi trăng trắng và tiếng kêu hổng còn ríu rít như trước nữa; có lẽ sắp được ba tuần. Chắc vịt sắp đôn lông rồi. Bây giờ là đang vào tuần trăng rằm, nhưng về đêm mây đen bao giờ cũng che kín mít bầu trời, hông thấy được trọn vẹn con trăng. Dù sao trời cũng sáng hơn những ngày hông trăng. Hai đứa thường ngồi bên cây rơm sau những bữa cơm chiều.

Đèn khoe đèn tỏ hơn trăng,

Đèn ra trước gió được chăng hỡi đèn

Trăng khoe trăng tỏ hơn đèn,

Sao trăng lại phải chịu luồn đám mây?

– Còn nhiều nữa em à. Người mình vốn sống nhiều với đồng ruộng nên có nhiều thơ và ca dao về trăng.

– Đâu anh ngâm lên nghe coi.

– À. Như là:

 

Trăng bao nhiêu tuổi trăng già,

Núi bao nhiêu tuổi gọi là núi non…

 

Vầng trăng ai sẻ làm đôi,

Nửa in gối chiếc, nửa soi dặm trường.(Kiều)

Chàng từ đi vào nơi gió cát,

Đêm trăng nầy nghỉ mát phương nao.

Hoa giãi nguyệt, nguyệt in một tấm,

Nguyệt lồng hoa, hoa thắm từng bông.

Nguyệt hoa, hoa nguyệt trùng trùng,

Trên hoa, dưới nguyệt,trong lòng xiết đâu(1).

Đêm khuya ra đứng bờ ao,

Trông cá, cá lặn, trông sao, sao mờ.

Buồn trông con nhện giăng tơ,

Nhện ơi, nhện hỡi nhện chờ mối ai.

Buồn trông chênh chếch sao mai.

Sao ơi, sao hỡi, nhớ ai sao mờ?

Đêm đêm tưởng giải Ngân Hà,

Chuôi sao tinh đẩu đã ba năm tròn.

Đá mòn nhưng dạ chẳng mòn,

Tào khê nước chảy hãy còn trơ trơ.(2)

(1) Chinh phụ Ngâm

(2)Vì buồn mà nhớ-Quốc Văn Giáo Khoa Thư

– Anh ăn gian quá hà. Chỉ có một vài câu đầu là nói về trăng, còn phần sau là sao hông hà! Mà bài : Vì Buồn Mà Nhớ đó đâu phải là ca dao. Hôm trước anh nói của ông Nguyễn Mộng Can mà !

– Thì sao với trăng cũng vậy. Em hông nghe người ta hay nói trăng sao, sao? Tại vì bài thơ đó in vào Quốc Văn Giáo Khoa Thư. Con nít đọc riết, thuộc lòng rồi nó thành ra ca dao đó mà ! À. Mà còn một thi sĩ làm thơ về trăng rất hay.

– Ai vậy?

– Hàn Mặc Tử. Ông ta bị bịnh cùi lúc còn trẻ nên thơ của ông viết về trăng như điên điên dại dại.

 

Ta nằm trong vũng trăng đêm ấy,

Sáng dậy điên cuồng mửa máu ra.

 

Nhiều khi Xuân cũng ngâm vài đọan ca khúc của Chinh Phụ Ngâm, của truyện Kiều, những bài thơ Màu Tím Hoa Sim, Hai Sắc Hoa Ti Gôn… hoặc kể câu chuyện tình lãng mạn trong Tố Tâm của Song An Hoàng Ngọ cPhách… Vân nằm trọn vẹn trên người Xuân, gối đầu vào ngực, thở đều đặn và im lặng. Đó là những đêm tràn đầy hạnh phúc. Thật sự có bao giờ hai đứa ra ngoài ngồi ngắm trời mây được lâu đâu vì lúc nào muỗi cũng bu quanh kêu vo ve như bầy ong. Nhưng nhiều khi muỗi cũng chui vào được ổ rơm, đến nổi Xuân phải phủ thật kín. Mà phủ kín thì nóng nực, hai đứa lại ngọ nguậy rồi sanh chuyện cho đến mệt lã người. Họ ngủ mê man từ lúc mới đầu hôm cho đến gần sáng. Lại tiếp tục màn cũ  rồi ngủ cho đến sáng bét, vịt kêu ỏm tỏi mới trờ dậy. Tình yêu trai gái ở đồng quê là tình nghĩa của đôi giống trống mái. Có phải vậy hôn?

Cứ như thế, đều đặn hơn chục ngày trời rồi hai đứa cũng hông cần biết; nhưng Xuân cảm thấy sức lực gần cạn kiệt đến nổi Vân biết được. Thỉnh thoảng nàng tìm một con vịt què nấu một nồi cháo cho Xuân ăn lại sức …

 

 

 

*****

– Chèn đất ơi! Thằng Xuân sao mầy ốm như cây tre miễu và đen quá vậy? Cơ khổ! Chắc mầy dang nắng và ăn uống cực quá chớ gì?

– Hổng có đâu Thím Sáu. Con vẫn có thịt, cá ăn đều đều mà. Bộ con ốm lắm hả thím?

– Cơ khổ! Mầy hổng biết sao? Ốm cà tong cà teo à con à! Vân ! Mầy hông lo cơm nước gì cho nó hết sao? Kìa coi kìa! Vân, coi bộ mầy phởn phơ hơn nó, còn nó thì gió thổi muốn bay. Rồi đây chị Bảy thế nào cũng quở tao cho mà coi! Tóc tai, đầu cổ xù ngù xục ngục, ngó mầy giống thằng bố quá mầy ơi! Mày ra ông Hù Tốt, hớt tóc đi mầy rồi hả về Sài Gòn.Nhớ hớt ma ninh cua nhen. Coi cho nó gọn.

– Được rồi! Để ngày mai con xuống tiệm chú Tư Hầu ở lộ dưới, thím à.

Nói vậy, chớ chàng đâu có dám hớt kiểu ma ninh cua đâu. Cái đầu cao nghệu giống như đầu cá lóc. Mà mình ốm lắm hả ? Như bộ xương cách trí ? Xuân nằm xuống bộ ván ngựa đánh một giấc hông biết trời trăng đất nước gì hết cho đến khi Vân khều khều chân chàng.

– Ngủ gì mà ngủ dữ vậy trời!

– Mấy hôm rày mệt quá, ngủ để lấy lại sức.

– Nói nhỏ nhỏ. Coi chừng Tía nghe được.

– Ủa? Chớ ổng ở đâu?

– Tía đang bịnh, nằm trong buồng. Anh về tới nằm xuống là ngủ như chết. Em tính kêu anh dậy mấy lần, nhưng bả hổng cho, nói anh mệt thì để anh ngủ. Hình như bả nghi nghi cái gì đó, bả cứ ngó cần cổ và ngực em hoài. Coi mắc cỡ gần chết. Tụi mình ở dưới cả chục ngày nên bả sinh nghi là phải. Hổm rày Tía bị cảm mạo sao đó, trúng đi trúng lại, hết cạo gió tới cạo gió lui, nên hông xuống thế cho hai đứa mình được. Còn thằng Tám Trò nó lỡ mắc bồi mương cho người ta, mới xuống thế cho mình trễ như vậy. Chớ em biết ổng bả cũng nóng ruột lắm. Để em và anh ở dưới hoài, có ngày con gái ổng bả mang cái bụng chình ình làm sao.

– Thì cũng sắp phồng lên rồi đó!

– Đồ quỉ anh hà. Nói nhỏ thôi, hông Tía nghe là chết cả đám.

– À, Vân! Còn Khanh, chị Sáu của em, từ hôm đám cưới có về thăm nhà hông?

– Má nói chỉ về có một lần, ốm xanh xao.

– Chắc lo nhiều việc bên chồng quá chớ gì? Có đâu như em, phổng phao!

– Mình hổng ghẹo anh à nghen! Đâu biết được. Chắc còn nhớ ai đâu đó?

Câu nói vô tình của Vân làm Xuân đau nhói. Mối tình đong đầy theo ngày tháng bỗng chốc tan vỡ, vẫn còn đeo đuổi trong tâm trí. Rồi Loan, sao mà đến mà đi vội vàng thế, vụt như bóng mây bầu trời tháng bảy ở cánh đồng Mỹ Nhiên. Cô gái đồng nội yêu nồng nhiệt, vội vàng làm Xuân ray rứt khôn nguôi. Canh khoai mỡ tím của buổi cơm chiều giúp Xuân dễ dàng nuốt trôi những nỗi nhớ nhung xuống tận đáy lòng mà Vân hông nhìn thấy được.

Xuân nằm trăn trở trên bộ ván. Hông ngủ. Đêm đã khuya. Không gian vắng lặng. Chàng ngước nhìn ra trước hiên. Chỉ có một khoảng bầu trời nhỏ với một vài ngôi sao. Xuân thấy lòng mình tự nhiên lắng đọng lại và dễ dàng tan biến vào cõi tĩnh mịch. Nhớ nhung tràn đầy và đàn muỗi lúc nào cũng kêu vo ve làm Xuân khó ngủ. Chàng cứ nhìn ra khoảng bầu trời nhỏ bé, hông đếm được bao nhiêu sao băng nhưng thỉnh thoảng thấy một lằn sao xẹt qua ngọn dừa. Một lằn xẹt: Khanh đã qua đi. Hai lần xẹt: Và Loan đâu rồi? Còn lần xẹt nào đến cho Vân? Ngày mai lại phải xa Vân trở về Sài Gòn cắm cúi vào bài học, vào những quyễn sách… Và chàng sợ những giọt nước mắt lúc tiễn đưa. Vân chắc sẽ bịn rịn, rươm rớm. Một năm trời xa cách. Những bức thư sẽ đi lên đi xuống. Và sau đó thì sao nữa? Có một lằn sao vừa xẹt ngang qua ngọn dừa!

 

 

*****

Chiếc bắc chở đầy nhóc người và xe chậm chạp rời bến, quay đầu hướng về cù lao Phụng. Phùng Xuân đứng bên lan can nhìn dòng nước ròng đục ngầu chảy tuôn ra cửa Đại. Tiếng rao hàng, tiếng mời mọc của các em nhỏ bán mía ghim, nem bưởi chay, đá chanh, xá xị vang inh ỏi…. từ mọi phía. Người ta đứng lộn xộn, xen lẫn với gồng gánh của những người đi buôn. Ngoài cùng hai đầu chiếc bắc là những hàng xe đạp, một vài chiếc Vespa… xếp chéo vào nhau. Người người  chen chúc hai bên hông của bốn chiếc xe- một chiếc xe đò Á Đông và ba chiếc xe hàng chở gà vịt- nên đi từ đầu đến cuối bắc phải luồn lách rất khó khăn. Chiếc bắc đã nhỏ, hông mui mà chuyến nào cũng đầy nghẹt người và xe, nên lúc nào cũng hổn độn và nóng nực vô cùng.

Nước ròng. Dòng sông chảy siết, hối hả, vội vã. Từng giề lục bình, từng giề dừa nước… giục giã chạy theo nước ròng đục ngầu. Bắc xuôi dòng nước, cặp dọc cù lao. Những ngôi nhà lá hì hụp sau đám bần, dừa nước. Cặc bần non rung bần bật, cà ngật cà ngật dọc theo mép bờ. Nước ròng bỏ bãi thật xa. Cặc bần cao thấp, nhỏ lớn lô nhô chen nhau trong đám bùn ở đầu bãi. Bắc Rạch Miễu đánh vòng ra xa tránh hai bãi bùn của cù lao Phụng và cù lao Thới Sơn, rồi ngược cửa Tiểu, quay đầu hướng về Mỹ Tho. Bên phải, sát bên cù lao Rồng, chiếc tàu Admiral Charner của Pháp bị Nhựt bỏ bom đánh chìm hồi 1945, trơ cột cờ cũ xì cũ xịt vươn lên trong nắng trưa. Chiếc bắc ngược nước, chạy rất chậm, rù rì như rùa bò, muốn ngừng tại chỗ. Xuân đứng sát lan can, nhìn nước đục ngầu tuôn trôi. Sao cái gì qua rồi cũng mất đi, hông tìm lại được? Thú vui vừa thấy đó, tình yêu nồng nàn vừa có đó, thoáng qua nhanh chóng. Chàng hông chộp lại đươc, hông nắm giữ được. Thời gian trôi đi là mất tất cả. Còn giữ lại được những kỷ niệm? Hông, tất cả đều mất đi, tan biến vào không thời gian vô hạn định.

Chàng nhìn về hướng Rạch Gầm. Một vài chiếc tàu nhả khói mù mịt cuối chân trời, chạy lên Nam Vang…

Nam Vang, tháng 5 năm 195… Xuân gặp Trần Văn Thành, ngồi ở băng đá, đang cầm cuốn Tái Sanh Duyên, bản in của Tín Đức Thư Xã, đường Sabourain ở SàiGòn… NamVang 195… Những ngày một mình lang thang nơi đế đô OulDong… Những ngày Phùng Xuân cùng Thành, Marin Phla bơi thuyền ở ngã ba sông MéKong và Tonlésap. Sóng vỗ bập bà bập bùng. Gió lồng lộng. Tóc của Marin Phla bay lượn lờ theo gió hú, hòa tiếng sóng vỗ vào mạn ghe. Cô bé 13 tuổi hồn nhiên, tươi mát, cười nắc nẻ giữa trời mây nước. Ba đứa bơi thuyền ngược dòng. Bãi bồi hiện ra với những đám bắp, đám dưa xanh um. Họ buộc ghe ở tuốt dưới lòng sông, đi ngược lên bờ, rồi vào những ngôi làng đầy cây ăn trái: sabôchê, cam, sầu riêng. Những người dân quê hiền lành, chơn chất, thiệt thà đãi họ những ly nước thốt nốt thơm tho, tươi mát. Nước thốt nốt ngọt ngào giống như những giọt nước mắt tiễn đưa của Marin Phla sau hơn 15 ngày chàng ở đất nước Chùa Tháp? Và bây giờ, cũng giống như nước dòng sông trôi đi, trôi đi hun hút. Kỷ niệm có bao giờ ngược thời gian quay trở lại? Ai cố bám víu nó, hông bao giờ nhìn được tương lai?

Hình ảnh Loan chắc mất mãi. Xuân cố công tìm kiếm nàng ở nhà thương Bến Tre và Mỹ Tho. Hổng bao giờ gặp lại! Sau khi ra khỏi nhà thương Mỹ Tho, chàng lê bước qua đường Ariès, đi tới cầu Quay, rẽ trái. Xe Cosara đâu rồi? Đã lâu hông còn! Nhưng tiệm sách Nam Cường vẫn ở đó?.. Những năm tháng ở trường Taberd Mỹ Tho: frère Colomban ở lớp Enfantin, frère Ignac lớp Moyen, frère Niva lớp Supérieur. Nhà thờ cũ kỹ ở con đường Hùng Vương dài hun hút. Ngôi biệt thự của ông Jacques Lê Văn Đức rộng thênh thang. Bến đò Thạnh Trị ngang qua kinh Bảo Định. Và thằng Tường, con ông bác sĩ Bá, có cái đầu chồ vồ, lúc nào cũng cà rem đậu xanh nước cốt dừa, ba cắc một cây, nay có còn hông? Mùi vị của miếng bánh mì bột gạo còn thơm lừng, dòn rụm vừa mới lấy từ trong bao bố tời và hương thơm ngọt ngào của chén cháo gạo lứt, đậu đỏ, dưa mắm đều vắng mất rồi?

Yvette ĐỗThị Đ…Yến ơi! Yvette Đỗ với mái tóc hớt bum bê ngào ngọt bông cau, nụ cười rạng rỡ và nước da bánh ít chưa phai nhòa trong trí Xuân. Tại sao Xuân vẫn nhớ mãi Yvette Đỗ? Yvette Đỗ ơi! Bây giờ em ở đâu rồi? Chàng đi về hướng trường Nguyễn Đình Chiểu, tới bến xe về Sài Gòn. Lần trong túi, chỉ còn đủ tiền mua vé. Xuân nhịn khát, nhịn đói cho đến khi xe đò ngừng ở đường Nguyễn Hoàng, Sài Gòn…

 

 

 

*****

Con đường Hồng Thập Tự là con đường đặc biệt. Từ ngã sáu đến đường Lê Văn Duyệt, hai bên toàn là cây sao và cây dầu, nhưng thỉnh thoảng cũng xen vài cây thau lau (bằng lăng) có chùm hoa tim tím vào mùa hè. Đến mùa, trái sao và trái dầu tung bay theo gió như cánh bướm. Đoạn từ Lê văn Duyệt đến Huyền Trân Công Chúa, một bên là cây giá ngự (bọn Xuân thường gọi là Dái ngựa) và một bên là me. Đoạn Huyền Trân Công Chúa đến Hai Bà Trưng hai bên toàn là me. Những cây me lão cao vút cặp bên trường Jean Jacques Rousseau và dọc theo Dinh Độc Lập. Mùa hè trái rớt lộp độp sau mỗi cơn mưa dông. Rồi đoạn Hai Bà Trưng – Mạc Đĩnh Chi, một bên là giá ngự, một bên là sao cao vun vút. Có ngôi nhà gỗ lâu đời nằm ngay đầu đường Hai Bà. Từ Mạc Đĩnh Chi đến ngã ba Đinh Tiên Hoàng, bên hông thành Cộng Hòa có hàng liêm sét nở vàng rực rỡ trong những ngày hè cùng tiếng ve kêu ra rả. Rồi từ sân vận động Hoa Lư đến Nguyễn Bỉnh Khiêm, hai bên lại là me cổ thụ gốc to sần sùi. Từ đường ông Trạng Trình đến cầu Thị Nghè, hai bên là giá ngự, có con dốc thoai thoải mà Xuân rất thích trên đường học trở về nhà.

Con đường thân yêu này hằng ngày in đều đều những vết bánh xe đạp, đi đi về về trong những ngày học ở trường Chu Văn An. Sao mà hôm nay nó dài thế?! Xuân lê đôi săng đan đầy nước lẹp xà lẹp xẹp, lầm lầm lũi lũi đi trong cơn mưa suốt chiều dài con đường Hồng Thập Tự. Có lúc, chàng đụt thật lâu dưới gốc me già. Tháng bảy, tháng tám thường là những trận mưa dai dẳng; chớ hông như tháng năm, tháng sáu, chợt mưa chợt nắng. Một vài chiếc xích lô đạp trùm kín mít lạnh lùng chạy qua. Phùng Xuân mơ màng ngó theo, rồi cắm cúi bước. Chàng về đến cầu Thị Nghè, rẽ trái vào ruộng dâu bên hông Ty Canh Nông thì trời cũng vừa sập tối…

 

 

*****

Trường Chu Văn An, nằm phía sau trường Pétrus Ký, là ngôi trường bé tí so với “ParắcKý” qui mô, đồ sộ. Nó chỉ có một sân chơi nhỏ xíu với vài cây me còng gốc đen thui, sần sùi rụng lá tư niên, nhưng bù lại đầy bông nhỏ hơi tim tím, trái dài cong cong và cho bóng mát quanh năm. Giờ ra chơi, trong những ngày nắng ráo, học trò tụ tập quanh gốc me trong cái sân nhỏ; còn những khi mưa, đứng đầy ở hành lang. Nghe nói khi xưa đây là khu chuồng ngựa, hông biết có phải vậy hôn? Nhưng có những ông thầy “người Bắc kính mến và đáng yêu”: thầy Bạch văn Ngà dạy Cơ Học, thầy Trần Bích Lan dạy Triết, thầy Nguyễn Xuân Vinh dạy Thiên Văn Học… Ông Hiệu Trưởng Trần Văn Việt và ông Giám Thị Ngạc: quần áo hai ông đó lúc nào cũng chỉnh tề, cả trong những ngày hè nóng bức. Ông Hiệu Trưởng thì mặc veste. Còn thầy Giám Thị, ốm người, luôn luôn thắt cravate, mặc áo sơ mi dài tay.

Những thằng bạn Bắc Kỳ dốn của Xuân đều là những thằng ngổ ngáo như chàng nhưng rất đáng quí; nhứt là giọng nói của chúng nó, trầm bỗng nghe ca kiệu hơn là giọng nói của các thằng bạn giá sống, đơn điệu. Thằng Toản, ở khu nhà thờ Ba Chuông, bao giờ mở miệng ra là có câu : địt mẹ. Còn thằng Chúc, tận Xóm Mới thịt chó, luôn luôn là: chúng ông. Rồi còn Tiến Tấn nữa chi. Ngồi bàn dưới mà lúc nào cũng thò viết chì cù lét Xuân. Lúc đầu, khi mà tụi nó địt mẹ, chúng ông là tiếp theo một cái thoi của Xuân vào vai. Rồi đuổi bắt, la hét… Về sau càng ngày càng thân thiện, cảm mến nhau.

Phần đông bọn họ đi học bằng xe đạp. Trong lớp đệ nhất A2 niên khóa 1959-1960 chỉ có thằng Tâm là con nhà giá sống giàu có. Nó đi chiếc Solex đen. Lẫn lộn trong bãi xe của đám học trò, chiếc Solex đen bóng nổi bật dưới trưa nắng làm dấy lên một chút ghen tị, nhưng hông vì thế làm cho bọn họ hông chơi thân với nhau. Những buổi tan học về là cặp kè ba bốn đứa bên hông chiếc Solex, giăng hàng ngang gần suốt con đường Hồng Thập Tự vắng teo, trò chuyện oang oang- chuyện ngây thơ của tuổi học trò. Đến vườn Bồ Rô thì rã đám. Chỉ còn Xuân và Chúc đi cho đến ngã ba Đinh Tiên Hoàng. Nhà thằng Chúc, Đỗ Bá Chúc, ở xa lút đâu tận khu Xóm Mới. Nó kết thân với Xuân, nên hai đứa thường hay đi chơi chung nhau. Ngày nào Xuân cũng đợi nó ở ngã ba Đinh Tiên Hoàng- Hồng Thập Tự. Mãi về sau nầy, Xuân mới biết gia đình nó ở Bàu Sen, Trảng Lớn, Tây Ninh.

Nhà ông Lý gần chợ Xóm Mới, sát bên con đường đá xanh lổm chổm đi lên Tân Thới Hiệp. Căn nhà đóng ván thùng thông phế thải. Mái tôn hông có pla-phông nên ngày hè rất nóng nực.  Ông di cư vào Nam năm 1954, theo giáo xứ Hà Nội, về ở tại khu nầy từ đó đến nay. Cả gia đình sống nhờ vào ao rau muống khoảng một công đất, được chia thành nhiều khu nhỏ. Buổi chiều, cả vợ chồng con cái cùng cắt rau, buộc thành từng bó nhỏ để sáng hôm sau đem ra chợ bán. Những ngày nghỉ, Chúc cũng phụ xịt thuốc trừ sâu, cắt rau, rồi cùng hai cô con gái của ông Lý: cái Lan và cái Huệ đem về nhà.

Sau khi phà một làn khói dài của điếu thuốc lào và hãm bằng một ngụm nước trà đậm, ông Lý ngồi trầm ngâm một thời gian rất lâu, nghĩ ngợi về tin của người bạn ông-bố của Chúc- ở TâyNinh. Tự nhiên, sáng nay ông cảm thấy hông an tâm, có điều gì bất ổn sắp xảy ra. Bác Đỗ cho biết ngày 26 tháng giêng năm1960 (ngày 28 tháng chạp năm Kỷ Hợi), bộ đội Bảy Môn của Bình Xuyên đã đột kích giết chết rất nhiều binh sĩ của Trung Đoàn 32, Sư Đoàn 21 Bộ Binh đồn trú ở Trảng Sụp (TuaHai), nằm trên Quốc Lộ 22 (Tây Ninh). Vì là ngày 28 Tết, anh em trong đồn lo chuẩn bị tất niên nên hông đề phòng. Hơn nữa, sau mấy năm dài được hưởng cảnh thái bình, sung túc dưới thời Ngô Đình Diệm thì hổng ai nghĩ là sẽ có chiến tranh. Trần duy Lâu-người cháu của ông Đỗ làm ở phòng nhì tiểu khu Tây Ninh-cho biết tiểu đoàn 3 của Bảy Môn (Bình Xuyên) đã bị hai cán bộ tên là Bảy Khánh và Chín Đạo dụ về với Việt Minh lúc tiểu đoàn thua trận ở Rừng Sác năm 1955. Hai tay Khánh và Đạo được Việt Minh cài lại sau Hiệp Định Genève năm 1954. Từ đó, bộ đội Bảy Môn bị Chánh Trị Viên Ba Thu lèo lái theo hướng có lợi cho họ. Có nghĩa là trong trận Trảng Sụp, bộ đội Bảy Môn của Bình Xuyên đánh quân đội của Ngô Đình Diệm để trả thù, chớ hông phải là của Việt Minh. Việt Minh đã tuân thủ Hiệp Định Geneve, rút về Bắc hết rồi mà !!! Ông Tỉnh Trưởng Tây Ninh- Thiếu Tá Nhuận- chắc hông biết kẻ nào đã đứng đàng sau xúi giục đánh Tua Hai ?

Cháu Lâu cũng còn cho biết có những vụ lộn xộn xảy ra trong mấy ngày qua ở tỉnh Kiến Hòa. Ngày 17 tháng giêng năm 1960 có vụ gì mà nó gọi là Đồng Khởi bị quân đội quốc gia ruồng bố càn quét; rồi tiếp sau đó ngày 26 tháng giêng năm 1960, có đám đông đàn bà con nít từ các làng Định Thuỷ, Phước Hiệp, Bình Khánh dọc sông Hàm Luông, kéo về tràn ngập quận Mỏ Cày kêu cứu là đã bị quân lính Cọng Hoà cướp bóc, hãm hiếp…

Khi ở miền Bắc, Ông đã từng nghe về những đợt Cải Cách Ruộng Đất và đấu tố kinh hồn xảy ra ở nông thôn nhưng hông hiểu một cách thấu đáo rằng Cộng Sản Việt Nam do Hồ Chí Minh thành lập với sự hổ trợ của Cộng Sản Tàu, Cộng Sản Nga đã mang lại khốn cùng cho dân tộc Việt. Ông Hồ Chí Minh rất khôn khéo. Một mặt ông chiêu dụ những thành phần yên nước-hông theo Cộng Sản- để chống Pháp, rồi từ từ ông tìm cách tiêu diệt những người có ý chống đối ông. Một mặt ông lập tức thay đổi đảng Cộng Sản thành đảng Lao Động. Những người trẻ, với lòng yêu nước nồng nhiệt, đã bị sa vào rọ lúc nào hổng biết… Khi vô rọ rồi muốn ra cũng hông được.

Ông Lý linh cảm chiến tranh giữa hai miền Nam Bắc sẽ xảy ra. Quân đội Cộng sản miền Bắc chắc có lẽ sắp mở màn tấn công. Sau một thời gian cài người ở lại chờ thời cơ, bây giờ là lúc họ sắp sửa bắt đầu lộ diện. Họ cũng đoán biết có một số thành phần đang bất mãn với chế độ Ngô Đình Diệm như các đảng phái chánh trị và giáo phái.

Chánh phủ Ngô Đình Diệm muốn thống nhứt quân đội thành một khối. Quân đội Cao Đài Tây Ninh- trước năm 1954 là hai: phe Liên Minh của Trình Minh Thế, hông theo Pháp, chống Việt Minh lập khu kháng chiến ở vùng núi Bà Đen và phe Nguyễn Thành Phương hợp tác với Pháp. Nhưng sau đó, hai phe đều đã qui thuận về với chánh phủ vào tháng hai năm 1955.

Chỉ có quân đội Bình Xuyên của Bảy Viễn là chống lại vì có Pháp hổ trợ. Đêm 29 rạng 30 tháng ba năm 1955, bất thình lình họ nổ súng tấn công vào Bộ Tổng Tham Mưu của quân đội Quốc Gia tại đường Trần Hưng Đạo. Nhưng cuối cùng rồi cũng thua chạy vào Rừng Sác sau một vài ngày đụng độ ở khu Khánh Hội. Và quân đội Quốc Gia sau đó dẹp tan được quân Hòa Hảo của Ba Cụt vào năm 1956 ở vùng đồng bằng sông CửuLong.

Khoảng năm 1952, trận bão năm Thìn làm núi Bà Đen bị sạt lỡ, nứt một đoạn dài từ chùa Bà đến chơn núi. Đứng ở Tây Ninh có thể nhìn thấy đường lỡ đó. Thời nầy, ở chơn núi Bà Đen còn vắng teo. Tụi học trò quăng xe đạp, dấu vô đám tranh. Đám khỉ khọt khẹt nhảy la chí chóe trên cây sấu, hái trái chọi tùm lum. Sóc xòe hai chơn trước bay từ cây nầy qua cây khác. Hồng Hoàng, Cao Các lượn qua lại kêu quang quác. Tụi nó đi cùng với một vài người bạn lên tận chùa Bà, hái xoài, mít, mận. Rối sau đó, vòng qua chùa Hang.

Họ đã gặp quân đội Liên Minh mặc toàn đồ bà ba đen và còn có một người tên là Nhị Lang. Lúc đó, còn rất nhỏ, nên họ hông biết Nhị Lang là ai và hông hiểu Liên Minh là gì? Nhưng có thể Jumoir Vương Mạnh Tuấn biết rõ vì Jumoir học ở Trường Trung học Lê Văn Trung.

Lúc mới thành lập, trường nầy có mười lớp Đệ Thất. Trường qui tụ được nhiều giáo sư giỏi do ông Trần Văn Tuyên làm hiệu trưởng từ năm 1952 đến năm 1954 rồi giao lại cho Chu Tử Chu Văn Bình. Đến năm 1958 ChuTử về SàiGòn.

Jumoir đâu có bao giờ quên các ông giáo sư già, trẻ kính mến: Trương Bảo Sơn, Hồ Việt Điểu, Tạ Chí Diệp,Tạ Chí Đông Hải, Hồ Thái Bạch, Âu Quang Nhứt… Ông Giáo sư Nhứt nầy còn trẻ, từ bên Pháp về, dạy Pháp Văn, nói tiếng Việt ngọng nghịu. Ông Nguyễn Văn Thuần, giáo sư dạy Tóan, mặt búng ra sữa. Trưa nào, trống đánh thùng thùng lúc hai giờ mà chẳng thấy thầy đâu? Té ra thầy ngủ quên. Báo hại đám học trò phải chạy đi kêu thầy. Thầy đến lớp mà hai con mắt còn đỏ ké… Và ông thầy Võ Văn Hợi, dạy chữ Hán, rất đáng yêu; mặc dầu đó là giờ hay ngủ gục…

Xuân dắt chiếc xe đạp cà tàng ra khỏi căn nhà sang trọng ở đường Hồ Xuân Hương.“ Vậy là mình kiếm được chỗ dạy kèm tốt rồi. Từ đây có thêm chút đỉnh tiền, mình yên tâm đi học hơn. Nhưng hổng hiểu các cô cậu nhà giàu nầy có hay quậy hông?”

Đang đạp xe tàng tàng, bất ngờ nó gặp Chúc ở ngã ba Bà Huyện Thanh Quan và Hồng Thập Tự.

– Ê! Chúc, tao tìm được chỗ kèm trẻ ngon lành rồi?

– Ở đâu, cậu?

– Trong đường Hồ Xuân Hương nầy.

– Sao tốt thế?

– Thì tao cũng đăng báo như mầy. Bây giờ hai đứa mình đi kiếm cái gì ăn đi. Tao đói bụng rồi. Tao đãi mầy một bữa.

– Nghĩa là không ăn ở quán cơm xã hội?

– Có gì mầy chê ở quán cơm đó? Một món mặn, một món canh, và cơm ăn thả giàn mà chỉ có hai đồng rưởi. Vậy là tốt rồi. Thôi đi mầy!

Bọn họ chạy theo đường Trần Quang Khải, hổng ghé vào quán cơm xã hội. Tụi nó ngược lên Tân Định, sà vào chỗ bán cơm bữa bên gần hông chợ. Bao giờ cũng vậy, món ăn đầu tiên mà Chúc gọi đầu tiên là trứng vịt kho.

– Mầy phải bắt chước tao. Gọi là trứng dzịt thì người ta mới biết. Chớ trứng vịt, trứng vịt giọng BắcKỳ của mầy làm cô bé bán cơm sẽ ngẫn tò te ra.

– Ê! Xuân. Cậu có biết tin Việt Minh đánh đồn Trảng Sụp ở Tây Ninh không?

– Việt Minh? Việt Minh nào mậy? Họ rút về Bắc hết rồi mà?

– Cậu không xem báo?

– Thì cũng như mầy. Lo gạo bù đầu bù cổ nếu hông năm nay rớt thì kể như lúa. Có thời giờ đâu mà coi báo. Ờ! Ờ! Mà cũng có, nhưng coi mau lắm. Coi báo cọp hay báo mướn hông hà. Tao đâu có thấy báo DânChúng đăng đâu.

– Tớ khác cậu. Tớ biết được vì bác Lý có báo. Có tin khác nữa kìa.!

– Tin gì?

– Tin đàn bà con gái ở tỉnh cậu đi biểu tình rầm rộ chống chánh quyền!

– Bến Tre? Mà ở chỗ nào?

– Hình như ở Mỏ Cày.

– Mỏ Cày hả?

Sau bữa cơm, Xuân đạp xe ra về. Vừa đi vừa nghĩ ngợi. Sao hông thấy Vân nhắc đến những việc đó? Hơn nữa, gần cả mấy tháng hổng được một cái thư nào của Vân. Chàng phân vân, hông hiểu có chuyện gì xảy ra ở quê nhà mà dân chúng phải biểu tình?… Nhưng thôi, kệ nó. Xuân thầm nghĩ, mình phải ráng lo học cái đã. Chắc Vân bận cái gì đó chớ gì? Hơn nữa bây giờ đâu có thời giờ và tiền để về Bến Tre ngó thấy Vân trong ngày rồi lại chạy lên. Hông kịp đâu! Hổng chắc là cô nàng có ở tại tỉnh ngày chủ nhựt hay là về Lương Quới thì kể như trớt quớt?

 

 

 

*****

Những ngày đầu xa Xuân, Vân thấy bồn chồn, nhớ nhung mông lung. Chiều nào Vân cũng ngó ra trước sân, có con đường qua lại trong xóm, mường tượng hình bóng Xuân bỗng chốc hiện ra ở đầu đường vô nhà. Những ngày sống với Xuân ở căn chòi nơi đồng không mông quạnh là những ngày Vân cảm thấy vô cùng sung sướng. Bây giờ những khi ngồi một mình, nghĩ đến lúc hai đứa hì hục bên trong đống rơm lúc cơn mưa dông đêm hay là tồng ngồng ở bờ đê buổi trưa khét nắng, Vân nghe mình mẫy nóng ran. Rồi hai má tự nhiên bừng bừng rờn rợn như có con thằn lằn chui vô ống quần. Những nụ hôn tới tấp nay còn đâu? Những vòng tay âu yếm siết chặt nhau như hai con rắn rồng Vân thường thấy ở kèo nhà đã mất rồi! Hạnh phúc! Sung sướng! Sao trôi đi nhanh quá vậy. Vân thở dài thẫn thờ…

Trong đêm tối, Vân mò mẫm với tay lấy cái khăn rằn móc ở vách lá, quấn môt vòng quanh cổ, rồi bước vội vàng ra khỏi nhà. Đêm đen mờ mịt. Nàng hông chịu bó đuốc, nên lúc đầu đi còn khó khăn. Được một lúc quen dần với bóng đêm, Vân rảo nhanh hơn.

Đêm nay có buổi họp. Tía nói rất quan trọng và kêu Vân nên đi. Hơn nữa, đây là dịp bãi trường Vân ở nhà nghỉ ăn Tết nên nàng cũng háo hức đi cho biết. Nghe nói họ nói “chữ” rất hay. Mấy hôm nay, anh ba của Vân, đã dự một vài cuộc mít tinh, nói họ từ khu 9 về. Họ mặc toàn đồ bà ba đen, quấn khăn rằn, ăn ở cùng với dân chúng ở Lương Hoà. Anh ba của Vân còn cho biết là họ hay nói u tê cu, sinh họat, công tác…. Vân thắc mắc hông hiểu u tê cu là gì? Chữ gì lạ vậy? Vân chưa từng nghe bao giờ? Mãi suy nghĩ, Vân đã đi vô sân nhà chú Chín Lê- em của Tía Vân- hồi nào mà nàng hông biết. Một cây đèn măng xông treo lủng lẳng ở đòn ngang nhà, đốt sáng một góc vườn. Có một đám thanh niên, thiếu nữ nhơn dịp kỳ nghỉ Tết cũng đi dự như Vân. Cả nhà Vân đêm nay cũng có mặt ở đây.

Hông có tiếng nói ồn ào. Chỉ có tiếng xù xì trong đám đông. Họ trông đợi coi người ta nói cái gì, vì đây là lần đâu tiên sau sáu năm- từ hồi đình chiến, tập kết- mới có cán bộ Việt Minh về làng nói chuyện. Đột nhiên mọi người im phăng phắc. Từ trong tối mờ mờ ở giữa nhà bỗng hiện ra một người đàn ông sồn sồn. Vì lâu ngày hông dùng lược, chỉ lấy hai tay vuốt từ trước ra sau, nên mái tóc chẻ hai ngay giữa đỉnh đầu. Đôi mắt sâu và sáng. Chân mày rậm rịt. Dáng đi nghiêm nghị khi bước ra vừa tới cửa.

Đầu tiên, người hay nói “chữ” gởi lời kính chào tất cả người đến tụ họp đông đủ đêm nay. Sau đó nói đến tình hình những người tập kết chưa được về là do chánh phủ Diệm đã phản bội bản ký kết đình chiến, hông chịu hiệp thương. Rồi lại còn kết án chánh quyền Diệm kéo lê máy chém đi cùng khắp miền Nam lùng giết những người Việt Minh còn ở lại. Những người nầy- theo lời người hay nói “chữ”-là những người yêu nước chân chính. Họ chịu ở lại, hợp tác với chánh quyền Diệm, yên ổn lo làm ăn, thế mà chánh quyền ác ôn bắt họ, đày ải họ, chặt đầu họ. Thế là có phải một chánh quyền tàn ác, man rợ hông? Đám đông- nhứt là những gia đình có người đi tập kết và những người từng có cảm tình với Việt Minh- hoan hô và vỗ tay rầm rộ. Người hay nói “chữ” kế tiếp nói về tình hình miền Bắc rất thịnh vượng sung túc đang tiến dần lên Xã hội Chủ Nghĩa, hông có cảnh người bóc lột người như ở nông thôn của chế độ Diệm hiện nay.Ông ta lấy thí dụ về những trường hợp nông dân bị bốc lột, áp bức ở một vài tỉnh tận miền Nam, xa mút tí tè như Cà Mau, Rạch Giá mà dân hai xã Lương Quới và Lương Hoà có bao giờ biết được?.

Rồi ông nói Miền Bắc đang được bè bạn bốn phương giúp đỡ, nhứt là Liên Xô và Trung Quốc, hai quốc gia hùng mạnh của Xã Hội Chủ Nghĩa, thành trì của giai cấp công nông toàn thế giới… Bác Hồ của chúng ta đang đưa đất nước chúng ta, trong tương lai, sẽ giàu mạnh như Liên Xô và Trung Quốc. Ông “liên hệ”với hai nước trên rồi vẽ ra cảnh là phải tiêu diệt chế độ Diệm. Phản đối chế độ Diệm đã tàn ác với quần chúng!!!

Dân hai xã hả hê với lối diễn đạt của ông Việt Minh, hoan hô rầm trời. Vân ra về, cảm thấy mình có cái gì đổi mới. Đầu óc cô gái nửa quê nửa tỉnh hình như bừng bừng nóng. Cô trở nên bạo dạn, nói nhiều và nói uyên thuyên với bạn bè về những điều mà cô vừa nghe được trên đường trở về nhà…

Kể từ ngày đó, Vân như người mê muội nói luôn miệng  với người trong gia đình và cả bạn bè giống như ông Việt Minh hay nói chữ. Và Vân dần dần đã quên nghĩ đến Xuân… Những lá thư nồng thắm từ từ thưa dần. Cho đến khi Vân trở thành một cô “cán bộ” tham gia  vào “công tác”, “phong trào” của  “đoàn thể”, “quần chúng” thì những lá thư đó mất hẳn. Tối ngày Vân lo hội họp, học tập, “đấu tranh bản thân” để mau tiến bộ. Học gương của chị em Mỏ Cày tranh đấu chống bọn ác ôn Diệm… và thành tích của đội quân tóc dài ngày 26-1-1960, của phong trào Đồng Khởi tỉnh Bến Tre do bà Nguyễn Thị Định cùng quê với Vân phát động…

Một vài tuần sau, Vân được giao nhiệm vụ hoạt động ở trong giới học sinh tỉnh. Một công việc hông mấy khó khăn vì phần đông học sinh tỉnh Bến Tre có gia đình cảm tình với Việt Minh. Những đứa bạn ở chung nhà trọ đi học-Tân, Lân, Hùng, Trưởng, Lan, Bích, Thuỷ, Ái, Lam, Bạch đều ở dưới quê nên dễ dàng rủ ren. Tụi nó đều có gia đình đi tập kết. Chỉ có những đứa bạn tại tỉnh lỵ là khó, vì cha mẹ là những người làm việc cho nhà nước. Chủ nhựt nào bọn Vân cũng trở về, nay làng này mai làng khác để học tập. Mấy tháng nay, Vân lo mọi việc bù đầu rồi đâu còn thời giờ nghĩ đến Phùng Xuân!!!

 

 

*****

Loan nhớ Xuân hung lắm. Mà chết cha mồ tổ, tới bây giờ mà mình cũng hổng biết tên thiệt của ảnh là gì nữa? Chỉ biết kêu theo tụi con Khanh và Vân là anh Ba thôi. Bây giờ tụi nó có còn ở trong trỏng nữa đâu? Hôm đưa Sáu từ nhà thương về, Loan lật đật chạy vào trong đồng, nhưng chòi trống trơn. Kiếm gặp thằng Tám Trò, nó nói về trển hết rồi. Hỏi thằng ÚtThèm, em nó. Thằng nầy nhoẻn miệng cười, một hồi lâu mới nói có chị trắng trẻo và anh đầu tóc bùm sùm, nhưng nay đi đâu mất tiêu rồi! Loan rầu muốn thúi ruột. Chiều chiều cứ ngó mong ra ngoài cánh đồng sau nhà, bụng dạ cứ bồn chồn, đầu óc trống rổng. Ôi! sao nhớ ơi là nhớ. Có cái gì làm cho nó cứ ngủ chập chờn, lúc nào nằm mơ cũng thấy mình và ảnh quấn quíu nhau giữa cánh đồng. Nàng thấy rờn rợn người !

Loan thấy mình nhợn cơm. Hay là dang nắng nhiều quá nên bị cảm? Mà tại sao lại là mùi gì tanh tanh như cá thì Loan chịu hổng nổi? Có lúc giữa bữa cơm, Loan bỏ đũa đi mau ra ngoài đống rơm sau hè, ngồi thở dốc như muốn ói. Rồi mở chai dầu Nhị Thiên Đường, lấy tay thấm một miếng thoa vô đầu lưỡi. Cũng hông bớt. Thoa dầu lên hai màng tang cho nó nong nóng coi có đỡ nhợn hơn hôn. Cũng hông. Rồi tự mình bắt gió, giựt chơn mày, cạo hai bên cổ. Những thứ đó hổng làm cho Loan bớt nhợn. Tại sao kỳ vậy?

– Má à? Sao cả tháng nay con hông thấy thèm cơm. Nhiều khi ăn vô còn muốn ói nữa Má, cứ ớn ớn hoài. Con hổng mần được cái gì hết.

– Thì ba cái thuốc cảm mạo cao đơn huờn tán, mầy lấy dộng vô coi, coi sao. Cái thứ của mầy mạnh như trâu cui mà bịnh cái nổi gì.

– Con uống nhiều rồi má mà sao hổng thấy bớt.

– Vậy sao kỳ vậy?

– Mầy hôi cơm tanh cá?

– Ờ. Con ăn sao hổng thấy ngon mà còn muốn nhờn nhợn ra nữa.

– Mầy có thấy cần cổ mầy hơi giựt giựt với lợi hai đầu vú mầy hơi căng cứng hông ?

– Sao kỳ quá ! Có Má à!

– Mầy hông có tháng nữa à?

-Tháng nầy con chửa thấy.

– Vậy là chết cha con mụ nội con rồi con ơi! Mầy có ngủ với thằng nào trong đồng hôn? Đố khỏi mầy có chửa rồi đó nghen mậy! Sáu mầy mà biết được, chắc ổng giết mầy lắm chớ hông.

– Đâu có má! Má nói bậy hôn hè!

Lời nói của bà Sáu Lục làm Loan sực rùng mình. Chết cha, vậy là có chửa rồi hả? Sao mà mắn quá vậy? Chỉ có một đêm và một buổi trưa mà sao lẹ vậy. Rồi Loan bồn chồn, xốn xang. Người như mất hồn. Nhiều khi nhìn vào khoảng trống thấy hình như mình ở tận đâu đâu. Cũng có nhiều lúc thoảng như nhìn thấy được hình ảnh Xuân ở gần đâu đây. Sau giờ cơm chiều, lo rửa chén bát và cho heo ăn xong, Loan thường ra ngồi bên đống rơm sau hè, ngó mông ra ruộng lúa đang trổ đồng đồng. Mùi lúa thơm như mùi bông chuối xiêm mới trổ. Loan chặc lưỡi: Làm sao gặp ảnh bây giờ? Tên ảnh hổng biết. Biết đâu mà kiếm? Người như chim trời cá nước. Mình thì ngu dốt. Một chữ cắn làm hai hổng bể. Tối ngày chỉ biết lui cui lo nấu nướng, hái rau muống, sắc chuối trộn cám cho heo ăn. Quanh năm suốt tháng làm quần quật hông hề bước chơn ra khỏi làng. Nói đến đi Bến Tre như một chuyến đi xa, xa lơ xa lắc, chớ đừng nhắc tới lên SàiGòn. Loan hông mường tượng Sài Gòn là như thế nào? Nhớ lại lần đầu tiên đi Bến Tre, mình ngơ ngơ ngáo ngáo, đụng thứ gì cũng ngó, thấy cái gì là lạ cũng đứng lại nhìn làm cho bà Sáu Lục phải buột miệng nói cái con nầy như là mọi mới ở rừng rú về.

Loan lấy tay xoa xoa cái bụng xem coi lời nói của Má có đúng hông. Đâu có gì đâu? Chưa thấy bự lên mà? Loan xoa đi xoa lại nhiều lần để chắc rằng cái bụng của mình hông có lớn. À! dễ quá mà. Loan xé một khúc giây chuối, đo ngang vòng bụng quanh rún, rồi lấy tay làm dấu, đưa lên miệng nghiến một hồi cho đứt. Con Én dấu khúc giây vào đầu chuồng heo. Loan tự nói ai mà biết khúc dây gì ?

– Con Én. Mầy đâu rồi? Mầy lên đây tao biểu? Mầy ngủ với thằng nào, mầy phải nói với tao. Lúc mầy chăn vịt ở trong đồng phải hôn? Cái ngữ đồ con hư. Cái thứ đồ đĩ ngựa, mầy nứng l…. lắm hả nên mầy để cho thằng nào nó đ… mầy. Mầy ngủ với thằng cô hồn nào, mầy nói đi!

Bà Sáu Lục ngồi chân hai tréo trên ghế đẩu giữa nhà đang tru tréo. Mấy hôm nay bà thấy cái bụng Loan càng ngày càng bự. Từ khi bà bắt đầu nghi con gái tanh cơm hôi cá, rồi bà bất thình lình vạch ngực con gái mình, thấy ngực nó to lên. Hai cái núm vú nổi lên chồ vồ. Bà thất kinh thấy cái bụng hơi ển lên( ?)Bà biết cái con Én mầy hư rồi. Bà mong cô ta lớn lên có chỗ cưới gả đàng hoàng. Chớ hông như con chị của nó, bỏ nhà đi theo trai mất tiêu, hổng thấy mặt mày gần cả năm rồi, hông hiểu có con có cái gì chưa. Nhớ con, nhớ cháu làm bà rầu thúi ruột.

– Quánh cho chết cha mồ tổ nó đi! Đồ con gái hư. Đồ đĩ ngựa!

– Ông làm gì dữ vậy? Ông lấy roi mây quất nó túi bụi, bầm mình bầm mẫy nó hết trơn.

– Kệ tui. Con tui, tui quánh đâu phải con bà đâu? Đồ con gái gì đâu mà hư quá mà, mới nức mắt là đã mê trai rồi. Kỳ nầy tui quánh cho nó chết luôn rồi đem bỏ trôi sông.

– Ông nói vậy chớ đâu có được. Nói với nó nhỏ nhẹ để hỏi nó cặp với thằng nào. Rồi bắt người ta mang trầu cau tới cưới xin nó đàng hoàng chớ có gì đâu!

– Sao từ hôm đó tới nay nó hổng nói, để tới bây giờ mang cái bụng chình ình mà nói cái nổi gì. Ai mà gả thứ cái đồ chửa hoang. Mầy nói hôn? Bữa nay tao phải tra cho ra lẽ mới được. Mầy ngủ với thằng nào, hả con đĩ chó kia? Tao đơm cho tàn hết cây chổi chà nầy cho mầy chết luôn. Mầy có nói hôn?

– Trời ơi! Ông ơi! Ông quánh nó như vầy thì nó hư thai, nó đổ nợ ra nữa cho ông coi.

– Bà dang ra. Để tui dện cho nó cái ghế đẩu nầy cho nó bể đầu chết luôn. Tức quá nè. Trời ơi!

– Uý mèn đất ơi! Ông nện nó một cái còn gì cái đầu của nó. Đầu nó chảy máu tùm lum rồi kìa. Én, mầy chạy đi để Sáu mầy quánh một hồi là mầy lết đi hổng nổi nữa đó.

Từ lúc bị ông Sáu Lục dộng một cái ghế đẩu vào đầu, con Én tá hỏa tam tinh, la lên chết con rồi Sáu ơi. nàng lật đật chui vào núp dưới đít bàn. Loan nghe đau trên đầu. Cổ lấy tay sờ lên. Có chất nước nhầy nhầy. Một dòng máu chảy xuống má. Cô ta hết hồn hết vía, thót chui ra khỏi bàn, chạy te ra sau hè, lủi vào kẹt hai đống rơm. Đầu bị tét một đường dài. Máu rỉ ra  trộn với tóc xù ngù. Quần áo ướt mồ hôi  chèm nhẹp làm cho Loan tủi thân thêm khóc  rấm ra rấm rức. Nhưng được một lát, Loan nín, mở mắt trao tráo và suy nghĩ: nhứt định phải đi chớ hông thể ở đây được. Mà đi lên Sài Gòn biết đường đâu mà kiếm được anh Ba ? SàiGòn xa quá, xa lắm. Nàng nghe qua mà chưa tới bao giờ. Mà lên đó ở với ai? Hổng có bà con họ hàng thân thích, đi lang thang bị ma cô dụ bắt làm đĩ thì kể như  vô rọ. Nghĩ đến đó cổ rùng mình lo sợ… Nghĩ quanh quẩn, Loan thiếp đi hồi nào hông hay…

Tư Én giật mình thức dậy khi nghe tiếng gà cồ nhốt trong bội gáy canh một. Nàng nhìn lên trời. Triều sao giăng giăng. Làng xóm êm ả. Tư Én rón rén đi vào sau bếp tới chỗ ngủ, nhè nhẹ rút hai bộ quần áo và cái áo sơ mi sọc rằn đen dấu trong đáy giỏ, bước ra khỏi nhà trong đêm tối.

 

 

*****

Vừa dò có tên mình trên bảng ghi những thí sinh đậu oral là Xuân dọt mau về nhà cho má hay và xin phép về Bến Tre. Rồi hông kịp tắm rửa, chàng dồn lẹ một vài bộ quần áo vô túi xách. Ba chân bốn cẳng Xuân dắt xe ra, đạp rút đến bến xe. Chỉ còn một chuyến Á Đông cuối cùng về BếnTre lúc hai giờ chiều… Khi lơ xe bỏ hàng xuống ở ngã ba Tháp, mặt trời đã nằm sát ngọn dừa bên Cái Cối. Xuân lật đật thót lên xe còng lưng đạp rút về Lương Quới. Ra khỏi Mã Đá ở Mỹ Lồng thì trời nhá nhem. Ngó tới ngó lui, Xuân thấy có một mình mình đi cu ky trên con lộ đá vắng lặng nầy. Nhái bầu, nhái bén ò e trong các ruộng lúa dọc hai bên đường.

– Vân đâu rồi hả thím?

– Ôi! Mấy hôm rày nó đi họp hành hà rầm!

– Họp gì thím?

– Thì ba cái vụ đoàn điếc gì của nó thím hổng biết nữa. Ban ngày thì đi công tác. Ban đêm thì họp. Nó mới vừa ra khỏi nhà với Tía nó là mầy về tới.

– Họp ở đâu lận thím? Thím biết chừng nào Vân mới về hông?

– Đâu ở ngoài vàm. Hổng biết chừng nào nó về. Có khi khuya lơ khuya lắc, tao ngủ một chập còn chưa thấy hai cha con nó về.

Từ lúc ở Cái Bông về, bà Sáu Xe ngầm nghĩ là hai đứa nầy có gì rồi. Chớ sao cái thằng nầy săn đón cái con Vân dữ vậy. Về đến nơi là hỏi con nhỏ đó chớ hổng có hỏi thăm đến hai ông bà. Bà cũng cầu mong như vậy. Hổng biết hai đứa có cái gì chưa ? Rủi con nhỏ đó nó mà có chửa trước là…

Phùng Xuân mệt quá, ngã lưng xuống bộ ván, vói tay lấy cái gối làm bằng dừa điếc kê vào sau ót. Chất cứng của sơ dừa làm chàng thoáng rùng mình. Xuân nghĩ miên man cái gì là đoàn, cái gì là ban ngày đi công tác rồi ban đêm đi họp. Vân có gì thay đổi rồi sao? Vân có dính líu gì tới những vụ như Chúc đã nói với Xuân hông? Cho đến thật khuya, cây đuốc chập chờn ở đầu góc vườn rồi tiến vào nhà. Ông Sáu Xe đi vô trước, còn Vân đứng lại dụi tắt đoạn cuối của tàu lá dừa đang cháy.

 

 

*****

– Ủa! Anh mới về đó hả?

– Về hồi chiều.

– Thôi khuya rồi. Anh đi ngủ đi.

Vân đáp lại có bây nhiêu đó rồi lẳng lặng đi vào buồng. Phùng Xuân cảm thấy có cái gì đó hụt hẫng. Chàng im đi một lúc lâu, buồn chán nhìn mông lung ra ngoài vườn dừa tối như mực. Xuân linh cảm có sự chia cắt. Và mầm móng của sự rạn nứt sắp bắt đầu. Chàng tự hỏi cái gì làm thay đổi và chàng cũng hông biết trả lời thế nào….

– Uả! Sáng nay em đi nữa hả Vân?

– Ừa. Bữa nay còn họp một bữa cuối cùng để phân công tác.

– Ủa, chú thiếm đi đâu hết rồi.

– Ổng bả đi xuống vườn rồi. Anh ở nhà chơi nhen.

– Vân. Lại đây với anh. Cho anh ôm em, hun em  đi.

– Em mắc đi họp rồi. Khi khác đi.

– Khi khác nào nữa? Lại đây

– Hổng được.

Chỉ có mấy tiếng đó thôi, rồi Vân lật đật đội khăn rằn, vói tay lấy cuốn tập học trò một trăm trang, bước ra khỏi nhà. Xuân ngao ngán nhìn theo bóng Vân khuất dần dần nơi con đường mòn dọc quanh vườn dừa. Những giây phút mặn nồng ở cánh đồng Mỹ Nhiên đâu rồi ? Những cái hun nóng hổi đâu rồi? Chàng tự hỏi nhiều câu hỏi mà hông có lời giải đáp. Thời gian trôi đi, hông còn có cái gì có thể quay lại được. Tất cả đã hết rồi sao?

Phùng Xuân chán nản nằm xuống bộ ván ngáp một cái thật dài. Loay hoay một lúc chàng ngồi dậy. Một tô canh rau  cải trời và một trách cá bống dừa kho khô để sẳn ở trên bàn. Xuân chợt thấy một cuốn tập học trò năm mươi trang nằm kế bên bình trà làm bằng vỏ dừa. Cuốn tập nhầu nát. Cái bìa cứng trở nên mềm xèo, có vẻ như được cuộn đi cuốn lại nhiều lần. Hai bìa góc gập lại như lỗ tai chuột. Chàng mở ra. Những dòng chữ xiên màu tím nắn nót thật đẹp bằng ngòi viết lá tre. Mở đầu là bài hát Quốc Tế ca… những bài hát ca ngợi các nước Cộng Sản, nhứt là Liên Xô: “Dân Liên Xô vui hát trên đồng hoa….”Tiếp theo là ca ngợi các lãnh tụ. Phùng Xuân lật tiếp những trang sau, chàng thấy  có bài thơ:

 

So ra tôi bác cũng anh hùng,

Cũng bậc mày râu, cũng kiếm cung.

Bác dẹp giặc Nguyên, thanh kiếm bạc,

Tôi đuổi bọn Pháp, ngọn cờ hồng.

Bác đưa dân tộc khỏi nô lệ,

Tôi dắt năm châu đến đại đồng.

Bác có linh thiêng cười một tiếng,

Để cho cách mạng chóng thành công.

 

Xuân thoáng nghĩ. Có phải chàng đã từng đọc được bài thơ bảy chữ tám câu nầy ở đâu hông, nhưng chàng hổng thể nhớ lại. Bài thơ ghi tên tác giả là Bác Hồ. Có phải vậy hôn? Ông ta sánh mình như là Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn?…

 

 

 

*****

Khu bán sách cũ dọc theo đường Lê Lợi, đối diện với nhà sách Khai Trí, ở sát bên nhà vệ sinh công cộng, bao giờ cũng khai mùi nước đái nồng nặc. Xuân thích la cà ở đây, vì thỉnh thoảng mua được vài cuốn sách cũ giá rất rẻ. Nơi đây  là cả một rừng sách cũ, thượng vàng hạ cám, bày bán dọc theo vĩa hè. Từ những cuốn bói toán, hồi ký, tiểu thuyết xưa của Lan Khai, truyện của TCHYA, của Phạm Cao Củng, tập thơ của Anh Thơ đến Phi Lạc Sang Tàu, Thu Hương, Chị Tập của Hồ Hữu Tường, cuốn Nửa Bồ Xương Khô nhầu nát, giấy vàng ngã màu của Vũ Anh Khanh, cuốn Tế Điên Hoà Thượng và cuốn Trận Giặc Con Nít v.v… đến những cuốn sách loại bỏ túi “livre de poche” bằng tiếng Pháp còn mới nguyên và cũ: En famille, Sans Famille của Hector Malot…. , Graziella của Lamartine và cả La Mère của Maxim Gorky nữa. Chính nơi đây, Xuân đã mua được cuốn: Trăm Hoa Đua Nở Trên Đất Bắc của Hoàng Văn Chí, và cuốn Đem Tâm Tình Viết Lịch Sử của Nguyễn Kiên Trung.

Nhà sách Khai Trí gần ở góc đường Lê Lợi và Công Lý.Đó là một căn phố nhỏ thôi, nhưng sách chất đầy nghẹt. Người ta ra vô nườm nượp. Họ mua nhiều lắm. Chắc chỉ có Phùng Xuân là coi cọp? Ông chủ và các cô bán hàng ở đây xem ra rất dễ dãi, chẳng bao giờ ngó ngàng tới những khách hàng hay mở những cuốn sách xem tới xem lui hàng giờ. Xuân rất thích vào đây trong những ngày cuối tuần để xem cọp tạp chí nước ngoài và những cuốn La vingt-cinquième heure của Constantine Virgil Gheorgiu, cuốn Le zéro et l’infinie của Arthur Koestler. Những cuốn nầy thì dễ gì tìm được ở những khu chợ bán sách cũ. Tiệm sách Lê Phan cũng hổng có, mà ở Xuân Thu thì mắc lắm. Xuân đành tìm một kẹt xó xỉnh nào đó của Khai Trí đọc cọp ngấu nghiến từng trang từ ngày nầy sang ngày khác. Với vốn liếng tiếng Pháp thấp kém, chàng cũng hiểu được một vài phần ý nghĩa trong  cuốn sách của Arthur Koestler. Cộng thêm những cuốn sách của Hoàng Văn Chí và Nguyễn Mạnh Côn giúp Xuân có chút ít ý niệm về một thế giới Cộng Sản.

Thư viện Gia Long im ắng khuất mình dưới những hàng me già, hông có vẻ gì đồ sộ, đối diện với Bộ Quốc Phòng, thường hay mở cửa đến tám hay chín giờ đêm. Phòng ốc nhỏ nhắn. Bàn ghế cũ kỹ mù mờ dưới những bóng đèn tròn  hông đến 100watt. Phần đông khách vào đọc là sinh viên, đến ghi danh lấy sách rồi tìm một góc nào đó im lặng làm việc. Hông một lời nói. Có phải nơi đây Xuân đã có một lần đọc đươc bài thơ trên kia hôn? Chàng hông nhớ nữa. Bao nhiêu chữ nghĩa trùng trùng điệp điệp làm cho lủy ( từ tiếng Pháp:lui, nó ) trở nên mù mờ. Hay là chàng đã đọc ở đâu?Trong những cuốn tập bỏ vương vãi đâu đó của những gia đình có người tập kết năm 1954? À. Có thể là đúng rồi. Dì Tám ở Cát Lỡ, Giồng Trôm, có người con là anh Hai Các theo Việt Minh. Ảnh đi tập kết. Và chắc là Đẹp- Thanh Tùng- em anh Hai Các, người con gái bằng tuổi Xuân, có thân hình nẩy nở trước tuổi dậy thì, cho Xuân mượn đọc những bài thơ của Tố Hữu. Nhưng cặp mắt liếc tình tứ của Đẹp đã ghi trong ký ức của Xuân nhiều hơn là những vần thơ đó.

Phùng Xuân hông màng coi hết cuốn tập. Chàng quăng trở lại trên bàn. Xuân cuốc bộ ra lộ cái-con đường làng chạy từ chợ Lương Quới cho đến bến đò Thủ Ngữ ( Lương Hòa )- đi dọc theo vườn Cô Xanh, thủng thỉnh lần ra bến đò. Vắng teo. Cả một cây cầu nhỏ cho ghe cặp cũng hổng có. Chỉ có khúc thân dừa gác sơ lên bờ. Nước đang lớn. Gió thổi mạnh. Tiếng sóng nhỏ vỗ lách tách vào đám lá dừa nước. Nhiều dề lục bình lững lờ trôi, mang theo những bập dừa hì hụp trong dòng nước. Đây là con sông BếnTre, một nhánh của sông Hàm Luông, bắt đầu từ  gần bắc Hàm Luông chạy dài cho đến  vùng Giồng Trôm. Từ sông Bến Tre tỏa ra nhiều rạch, xẻo, mương chằng chịt, len lỏi nơi những vườn dừa, vườn cây ăn trái, cánh đồng ruộng như một chưn rít  ăn thông với sông cái. Người ta có thể dùng những xuồng ba lá, ghe ba lá hai kèm, năm lá hai kèm, ghe bầu đi xuyên ngang từ vùng Mỏ Cày qua Chợ Gạo ( Gò Công ). Nếu hông phải là người lớn lên với sông nước, với đồng ruộng, với vườn tược khó có thể cảm nhận được mùi bùn pha lẫn trong dòng nước đục ngầu chảy khắp hang cùn ngõ ngách.

Nước đầy. Con sông nổi cơn. Những đợt sóng bạc đầu trắng xóa bủa cùng khắp. Hình như giữa dòng nước có chiếc ghe năm lá hai kèm nhảy sóng nhấp nhô. Một cô gái bé nhỏ độ mười tuổi bơi lái, đang ra sức chống đỡ con thuyền cho thằng em trai ngồi mũi, thò rổ vào những dề lục bình vớt cá bống trứng. Trời nắng chang. Thằng bé dang tấm lưng trần trùng trục. Da đen nhánh, nhưng nếu lấy tay cò cọ lên sẽ thấy mốc cời vì thằng nhỏ có bao giờ tắm sạch đâu. Hô đi tắm là nhảy một cái ùm xuống mương, xẻo, rạch. Lặn hụp, lặn hụp, quậy đùng đùng dậy bùn, đục nước cho đã. Lấy tay vò vò đầu. Xong rồi leo lên bờ đứng cho khô. Thằng bé có bao giờ biết cục xà bông, cái khăn là gì đâu. Phù sa sông nước qua bao năm tháng đắp thêm một lớp trên da đen xì. Ơ kìa, bây giờ chàng nhận ra hình ảnh hai chị em chàng của hơn mười năm về trước…

Buổi tối Vân rủ Xuân đi dự mít tinh ở gần búng ông Khả. Ánh đuốc chập chờn khắp các đường mòn trong vườn dừa. Người ta nói chuyện râm rang. Bên kia rạch Lương Quới, nhiều người kêu ơi ới để bên nầy bơi ghe qua rước họ. Đoàn người có vẻ háo hức hơn là đi coi chiếu bóng ngoài chợ. Khi gần đến chỗ mít tinh, Vân dắt Xuân len lỏi trong bóng đêm mờ, lần mò đến một cây lêkima gần sát sau nhà.

– Anh đứng đây nhen, coi mít tinh. Khi nào xong, em tới dẫn anh dìa.

– Em đi đâu?

Hông kịp nói một lời, Vân lủi vào trong đêm tối. Xuân ngỡ ngàng, hụt hẫng. Y ta cảm thấy mình bị bỏ rơi. Người ta tới càng lúc càng đông. Trước sân nhà, ba cái đèn măng xông bôm hết cỡ, kêu khè khè, tỏa ánh sáng ra đến tận bờ dừa. Xuân đi vô ít bước nữa, đứng sau bầy con gái đang nói cười tíu ta tíu tít. Đám đông chợt im lặng khi có người đàn bà mặc bộ đồ bà ba ra đúng giữa hiên nhà nói huyên thiên mà Xuân hông nghe rõ. Sau đó là tiếng vỗ tay rần rần. Khi tiếng vỗ tay vừa dứt, một người đàn ông cỡ khoảng ba mươi tuổi ra đứng nói có vẻ hùng hồn, y dơ tay lên dơ tay xuống liên tục. Phùng Xuân loáng thoáng nghe những tiếng: bè lũ Mỹ, Diệm; đế quốc xâm lược… Mỗi lần như thế, Xuân nghe tiếng hô đả đảo vang rền. Đám đông lại im lặng. Bất ngờ, Xuân thấy Vân hiện ra giữa hàng hiên. Hình Vân hiện rõ nét trước cái phông đen phía trong nhà. Gương mặt nàng tươi tắn, rạng rỡ đầy tự tin. Xuân thấy môi nàng mấp máy liên tục nhưng hông nghe được gì vì tiếng vỗ tay liên tu và tiếng la  hoan hô đả đảo rùm trời…

Sau đó là màn nhảy múa. Một đám thanh niên và thiếu nữ, có lẽ là những học sinh trung học ở trường Tân Dân hoặc trường Trung Học Công Lập Kiến Hòa, bắt đầu vừa nhảy vừa ca: Dân Liên Xô vui hát trên đồng hoa…… Họ dùng tàu cau khô kết thành hình những con ngựa. Ngọn tàu cau phất pha phất phới như những cái đuôi ngựa, chạy vòng khắp chung quanh sân nhà.Có như vậy mà họ hừng chí la hát vang trời. Được môt lát thì cũng có một mớ đàn ông đàn bà nhập cuộc. Thế là đám đông bên ngoài cũng hát theo, vỗ tay theo nhịp hát rần rần cả khu vườn. Chỉ có một bài hát mà hát đi hát lại cả chục lần. Đám đông bị ngây hình như điên. Một vài cái đèn măng xông được đem xuống, bôm thêm. Ánh sáng lại bừng lên. Thế là họ cứ ca đi ca lại hoài mà hổng chán cho đến khi hai cái đèn tắt phụt. Bóng tối hình như làm chùn khí thế. Đám đông sực tỉnh, hết ngây. Người ta lại nói chuyện ồn ào được một chút rồi lũ lượt ra về. Xuân  trở lui lại gốc cây lêkima, đợi Vân rất lâu. Bóng cô nàng lờ mờ đến.

– Có vui hôn anh?

– Ơ….

– Vui quá hé! Thôi mình đi về.

– Mình hông kiếm chỗ nào ngồi nói chuyện như trước được hả em?

– Hổng được đâu?

– Sao vậy?

– Ơ!

Hông có đuốc. Trăng cuối tháng nhô lên gần đầu ngọn dừa. Lối mòn lỗ chỗ đốm trăng suông. Khi đi ngang qua một đám chuối, Xuân vụt ôm Vân, lôi vào sau lùm, hun tới ta tới tấp. Hổng kịp phản ứng, Vân té nằm xuống. Cô nàng chưng hửng. Bàn tay xừ lủy tung hoành, xông xáo mọ mậy và rồi mặc sức quậy tanh bành từ trên xuống dưới. Lủy tần mần, tưng tiu một hồi lâu…Rồi như nai chịu đèn…  Ẻn ( từ tiếng Pháp elle: nó ) im rẻ rè re… Thình lình, Vân hất mạnh Xuân ra, kéo quần lên và đứng dậy.

– Hông được đâu anh.

– Sao hông? Chớ mình đã hổng từng làm như vậy sao? Làm bộ hoài.

– Bây giờ thì khác rồi. Hủ hóa lắm. Hổng làm như vậy được nữa đâu!

– Cái gì? Hủ hóa là sao? Chữ nghĩa gì mới lạ vậy?

– Em là cán bộ gương mẫu, hông được hủ hóa.

– Hồi nào vậy em?

– Ơ. Nhưng mà em khác anh. Phải đợi tổ chức cho phép.

– Anh khác em ở chỗ nào? Tổ chức nào? Em có nói với họ chuyện của tụi mình chưa?

– Chưa. Em còn đang phấn đấu.Em chưa tiện nói.

– Thế thì những ngày tháng chăn vịt ở đồng Mỹ Nhiên kể như hổng có, phải hôn? Cái gì làm cho em thay đổi mau quá vậy?

– Ơ! Anh hãy đợi đi

Tiếng cười nói từ xa dội lại. Và một tốp người hiện ra. Vân vội ngoe nguẩy te te bước đi, sợ đám người trông thấy, hông để chàng nói thêm một lời nào nữa. Xuân vụt hiểu có cái gì chia cách hai đứa. Chàng hông đoán nổi ở phía bên kia họ làm cái gì để Vân thay đổi nhanh chóng như vậy.

Những người Việt Minh miền Nam? Họ có khác với những người Việt Minh Cộng Sản ở miền Bắc hôn? Thật ra với sự hiểu biết quá ít ỏi và nông cạn hông làm sao Xuân hiểu rõ vấn đề nầy. Một vài cuốn sách của Hoàng Văn Chí, Nguyễn Kiên Trung và vài cuốn sách tiếng Pháp đọc lóm vội vàng làm sao cho Xuân có thể nhận định được rõ ràng Cộng Sản ngoài Bắc và Việt Minh trong Nam? Thời Xuân mới lớn lên xem được hai cuốn phim Ánh Sáng Miền Nam và Chúng tôi Muốn Sống thì chỉ để giải trí vậy thôi, chớ hông thể hiểu rõ tại sao người miền Bắc trốn đi như vậy. Ngay lúc đi học, các thằng bạn Rau Muống chẳng bao giờ nhắc đến những điều gì xảy ra ở miền Bắc theo như những cuốn phim mô tả. Tụi nó hông sống trong vùng đó hay là cha mẹ hổng nói lại? Nhà trường cũng hông dạy.Hổng có giờ chính trị trong chương trình giáo dục và sách vở thì quá ít để tìm hiểu.

Đâu có phải những giờ Huấn Luyện Quân Sự Học Đường ở năm lớp Đệ Tam hun đúc được ý chí và tinh thần chống Cộng Sản miền Bắc? Đó là  thời gian học sinh mặc những bộ đồ kaki vàng, mang giầy Bata trắng toát với bê rê màu cứt ngựa, tập hợp trong dãy nhà rộng lớn ở đường Nguyễn Hoàng.Họ nghe giảng viên nói thao thao mà chẳng hiểu gì. Kết cuộc là được bắn ba viên đạn ở trường bắn Thủ Đức.

Phùng Xuân hông buồn nói thêm một tiếng, lầm lũi lần bước theo con đường gập ghềnh loang lỗ trăng suông, lẽo đẽo theo sau Vân. Lại mất một người yêu nữa rồi. Vân hổng thèm hỏi mình có thi đậu hay hông và tại sao anh lại về lúc nầy? Hông để một chút ít thời giờ hai đứa ở bên nhau? Quên mất tất cả những gì toan tính ở cánh đồng hoang. Sao lại mau thế? Khanh gắn bó lâu dài, rồi chợt mất. Loan thoáng qua như một bóng mây. Và Vân, sao lại xa cách một cách vô lối như vậy?

Xuân hông vô nhà. Chàng đứng dựa thân dừa, chán nản nhìn vào khoảng vườn mù mịt hông biết đến bao lâu cho đến khi nhận ra trăng đã lặn mất rồi. Chắc đã khuya lắm. Xuân ngồi bệt xuống gốc dừa thiu thỉu ngủ, hông buồn đuổi muỗi vo ve. Chàng bừng tỉnh khi có tiếng người nói chuyện lao xao và vài ánh đuốc chập chờn trước đường mòn. Xuân đứng dậy, vuốt mặt, vươn vai vài cái rồi vô sân lấy chiếc xe đạp, mầy mò dắt đi trong đêm tối.

Trời hửng sáng khi Xuân vừa ăn xong gói bánh tằm và mấy lá bánh thúi địt xám xịt chan nước cốt dừa. Chàng lật đật phóng xe đi về hướng Giồng Trôm. Đến ngã ba Sơn Đốc thì trời sáng bửng. Giồng Tre kia rồi! Chàng hy vọng gặp lại Loan. Mồ hôi mồ kê chảy ướt cả áo. Xuân mở bung nút áo, phạch ngực cho thoáng mát. Xuân định vào xóm hỏi nhà Loan. Khát nước quá, chàng tấp vào một quán nước đầu chợ.

– Cậu người ở đâu mới tới hả?

– Dạ, cháu ở Lương Quới xuống.

– Xuống đây kiếm ai vậy cậu?

Xuân chưa kịp trả lời thì nghe bà chủ quán nói với bà già nhai trầu bỏm bẻm ngồi bên cạnh.

– Ờ! Ờ! cái con nhỏ đó! Con Tư Én chớ gì? Em của con Ba Lựa, con ông Sáu Lục ở xóm trong.

– Con nhỏ đó sao rồi?

– Nghe nói cái con đó chửa hoang với thằng nào hổng biết, lúc đi chăn vịt ở trong đồng. Ổng đánh cho một trận thừa sống thiếu chết. Bỏ nhà đi lâu rồi.

– Đi đâu?

– Ai biết? Bà hỏi ngất ngơ hôn!

Xuân hoảng hồn, vội quay mặt ra chỗ khác, rồi đứng dậy lật đật trả tiền nước, dắt xe ra đường, đạp ngược về Bến Tre.

Loan đã đi đâu? Bụng mang dạ chửa, dốt đặc cán mai, xách cái mình đó đi đâu bây giờ? Biết tìm em ở đâu bây giờ? Hở Loan ơi ?Và người con của tôi, người con của tuổi thanh xuân bồng bột, người con kết tinh giữa đồng hoang mờ ánh trăng suông. Bây giờ con với mẹ con ra sao rồi?

Qua khỏi Giồng Trôm, đến Cát Lỡ, Xuân mệt mỏi tấp vào bên vệ đường dưới bóng mát của đám dúi và cây cần thăng cao nghều nghệu. Chàng nằm bẹp xuống bãi cỏ, kế bên bụi cối xay( Cây dại, trái giống như cối xay- Abatilon indicium)), nhìn lên trời cao xanh tắp. Bên kia vườn, phía ĐôngNgô, vọng tiếng cu đất cườm bổ tư buồn não nuột. Cuộc đời sao nhiều nỗi đắng, the như trái cần thăng mà ít ngọt ngào như trái dúi? Chàng thẩn thờ ngắt lấy vài trái cỏ nổ( Cỏ nổ, trái nhỏ thon dài, chín có màu đen, chạm nước nổ ti tách.(Ruellia tuberosa L.) chín đen bỏ vào miệng, lắng nghe từng tiếng tách tách vang vang trong cổ họng.

 

 

 

*****

Kể từ năm 1954 đến năm 1960, dân miền Nam được hưởng cảnh thái bình, sung túc dưới thời Tổng Thống Ngô Đình Diệm dù cho có một biến động: ngày 22 tháng 02 năm 1957, Hà Minh Trí ám sát Tổng Thống nhơn dịp ông đi kinh lý ở vùng Cao Nguyên Trung Phần. Xuân nghĩ chắc cơ quan tình báo cũng biết ai chủ mưu của sự ám sát đó, nhưng báo chí lại loan tin theo một cách khác. Những lời bàn tán của người kháng chiến trở về thành, còn mơ ước ở một thời xưa cũ cộng thêm bất bình của những đảng phái chính trị bị chánh quyền cấm đoán hông cho hoạt động là mầm mống gây nên những xáo trộn về sau nầy? Thực ra phần đông dân chúng miền Nam còn ngây thơ, vẫn còn tin tưởng và có nhiều cảm tình với Việt Minh. Lại thêm một số lớp người đi kháng chiến chống Pháp thời Việ tMinh, hông hiểu gì về Cộng Sản, vẫn còn hoang tưởng sùng bái Hồ Chí Minh…. Có thể nói người miền Nam “làm chính trị theo cảm tính” hông?

Vào những năm đó, báo chí chỉ in ở Sài Gòn. Ở tỉnh hông có nhà in, ngay cả ngoài miền Trung cũng vậy. Báo cho ngày mai là xuất bản chiều ngày hôm trước. Báo chuyển theo đường xe đò phân phối cùng khắp cả nước, phần đông là về tới quận và các làng sát tỉnh lộ. Mà những làng nầy chưa chắc có sạp nhựt trình bán đủ các loại báo ở thủ đô. Thông tin còn yếu kém. Ngay ở làng dọc đường cái cũng hông có thùng thư. Muốn gởi thư, muốn mua con cò, muốn đánh giây thép phải lên tận nhà giây thép tỉnh. Mà ít có người dân làng nào biết những thứ đó. Một cái giây thép về đến làng là cả làng quýnh quáng lên. Làm sao mà đọc được cái giây thép viết bằng thứ chữ quốc ngữ hông dấu của bưu điện? Phần đông là những người có chút học vấn, ưa theo dõi thời sự, dặn các lơ xe đò mang loại báo mà họ thích đọc. Các xe đò chạy ngang làng theo đúng giờ  trong ngày. Các vùng gần Sài Gòn, nhựt trình tới sớm hơn các vùng xa.

Xe đò Á Đông, chạy tuyến đường Sài Gòn – Ba Tri tới làng Lương Quới vào khoảng xế trưa, bỏ hai, ba tờ nhựt trình cho Tư Chà, Quản Cây, Tư Chúc, Hai Ngươn…. Buổi xế chiều hôm đó quanh bàn nước trà thế nào cũng có các chức sắc trong làng như ông Cả Năng, ông Thôn Hai, ông thôn Bơ… hoặc là những người có “máu mặt” ngồi nhâm nhi hết bình trà nầy tới bình trà khác, bàn chuyện thời sự theo các tin sốt dẽo đăng trong báo. Các làng mạc xa xôi tư niên hông thấy mặt được tờ nhựt trình. Và tất nhiên mù tịt về tình hình đất nước. Thông tin yếu kém như thế thì có lợi cho ViệtMinh. Họ tuyên truyền bằng cách rỉ tai, hoặc là mít tinh ở các làng hẻo lánh, xa cách các trục lộ giao thông chính.

Trong lúc này Vân- bây giờ có bí danh là Sáu Trân-đã biết cách in những tờ truyền đơn, khẩu hiệu bằng bột gạo hoặc bằng rau câu(rong biển) phân phát cho dân trong làng. Người ta dùng loại ngòi viết lá tre- nếu cần tựa to thì ngòi viết rông- và mực tím pha thật đậm viết lên tờ giấy trắng.Họ nhồi bột gạo đến đúng độ dẽo, cho vào khuôn, xong úp bản chính lên khuôn bột.Bằng cách nầy, mỗi ngày SáuTrân in cũng được mấy trăm tờ truyền đơn.Họ cũng biết dùng thuốc tím(permangat kali) và chanh để xoá dấu vết, làm những giấy tờ giả……

 

 

*****

Sau khi miền Nam được vài năm an bình: từ năm 1955 đến năm 1960 thì miền Bắc quyết định dùng võ lực tấn công miền Nam theo nghị quyết của hội nghị Trung Ương Đảng Cộng Sản ngày 13-5-1959, cho nên những cán bộ nòng cốt của Cộng Sản còn cài ở miền Nam bắt đầu hoạt động trở lại. Việc đầu tiên là du kích quậy phá khắp nơi. Tình hình trở nên mất an ninh. Chiến tranh bắt đầu!

Từ đầu năm 1960 có nhiều biến động hơn. Ngày 17 tháng giêng năm 1960, đội quân “ tóc dà i” do bà Nguyễn Thị Định khởi động, có sự giựt dây của nhóm cán bộ Việt Minh còn cài lại, biểu tình ở quận Mỏ Cày, Bến Tre. Ngày 26 tháng giêng năm 1960, quân đội Bảy Môn do ViệtMinh kích động đánh chiếm đồn Trảng Sụp (TuaHai) ở Tây Ninh. Ngày 26 tháng tư năm 1960, tuyên cáo của nhóm Caravelle (nhóm Tự DoTiế nBộ) gồm 18 thành viên làm xáo trộn chính trường miền Nam.

Những sự kiện nêu trên hông làm cho người bình dân Sài Gòn lo lắng. Họ vẫn sống bình thản vì thông tin yếu kém như đã nói ở trên. Hông phải người dân bình thường nào ở thủ đô đều cũng đọc được báo. Nhựt trình thời đó chưa nở rộ, có thể in ấn còn khó khăn, dân còn nghèo hay trình độ dân trí còn thấp kém? Chỉ có một hay hai đài phát thanh ở Thủ Đô Sài Gòn thì làm sao dân chúng biết được trọn vẹn tin tức. Radio trasitor thì rất hiếm. Không hiểu Đài phát tuyến ở Quán Tre truyền đi có mạnh không? Dân làng hẻo lánh xa Sài Gòn như vùng quê Châu Phú, Châu Hòa chỉ có một vài người biết dùng cây tre cao chót vót làm ăng ten. Một nguyên nhân nữa là chế độ kiểm duyệt của chính phủ? Điều nầy nhiều khi làm cho tin tức trở nên sai lệch trong chiều hướng có lợi cho nhà nước…

 

 

*****

Bà Ba Đầm đang trên đường từ chợ về nhà, bưng rổ cá linh vừa mới mua ở chợ chồm hổm đầu xóm. Bà hông nghe được tiếng nổ, nhưng thấy đau nhói nơi xương bắp chuối. Bà khụy xuống, hông đi được. Bà vạch ống quần lên khỏi đầu gối. Một dòng máu tuôn ra. Mọi người la lối om sòm. Trong khi đó, Xuân nghe tiếng súng nổ dòn tan từng chập ở đài phát thanh, cuối đường Phan Đình Phùng. Bà HaiRiệm chạy ngang nhà la hoảng lên:” Cậu Xuân ơi! Mẹ cậu bị thương rồi kìa ”. Xuân hoảng hốt, vội bước nhanh ra khỏi nhà. Anh bạn Nguyễn Trấn cõng bà Ba trên lưng chạy dọc con đường mòn tuốt ra dốc cầu Thị Nghè, để mẹ lên xe xích lô đưa đi nhà thương. Ngày hôm sau đó, trong lúc đợi y tá  băng bó vết thương cho mẹ, Xuân mới nghe tin có đảo chánh ngày hôm qua, được đồn rùm qua miệng mọi người. Chàng đi ra ngoài cổng bịnh viện Nguyễn Văn Học, liếc trộm vào những hàng chữ lớn trên sạp báo. Hóa ra có một nhóm người gồm Đại Tá Nguyễn Chánh Thi, Trung  Tá  Vương Văn Đông, Trung Tá Nguyễn Thiệu Hồng,  Luật sư Hoàng Cơ Thụy và Bác sĩ Phan Quang Đán xúm nhau đảo chánh hôm 11 tháng 11 năm 1960…

Đâu là nguyên nhân bảng tuyên cáo của nhóm Caravelle ngày 26 tháng 4 năm 1960 và của nhóm người gây binh biến ngày 11 tháng 11 năm 1960?Có phải chánh quyền NgôĐìnhDiệm tóm thâu tất cả quyền lực vào trong tay của họ?Và đưa đến dẹp tan mọi đảng phái chính trị?Hệ lụy là bắt bớ, giam cầm và thủ tiêu rất nhiều  người?Vụ mất tích của  người thầy cũ, TạChíDiệp, ở cầu TânAn có phải là một trong những vụ thủ tiêu đó hôn?Hông lẽ tầng lớp trí thức họ chỉ phản kháng suông?Cái gì cũng có nguyên nhân của nó.Có bàn tay của ai? VC hay Mẽo?Và mầm mống bất mãn ngấm ngầm lan rộng.

 

 

*****

Từ ngày có người con gái đầu lòng vào làm trong hảng dệt may ở Thị Nghè khoảng năm 1955, bà Bảy Mi đem cả gia đình lên Sài Gòn. Mới đầu họ mướn một chái nhà nhỏ ọp ẹp bên cạnh ruộng dâu. Sau đó, dành dụm được chút đỉnh tiền, gia đình cất được căn nhà sàn ở đám ruộng sau Ty Canh Nông.

Cánh đồng ngày gặt còn ngát mùi lúa chín, chạy dài từ con rạch Thị Nghè lên tận sau Viện Dưỡng Lão và ngã ba Hàng Xanh, với nhiều con xẻo nhỏ ngoằn ngoèo đầy cá tép. Đàn cò trắng lượn lờ ngày nắng oi ả. Tiếng chim trích, cúm núm tắc tục vào buổi hoàng hôn. Và nước lớn, ròng ngày hai buổi vẫn còn trong ngát với những bầy cá đối đớp bọt nước .Bọn Xuân ngày nào cũng bơi lội đì đùng trong những con xẻo nhỏ nầy sau những trận đá banh nơi khoảng đất đỏ rộng rãi để chuẩn bị làm xa lộ Sài Gòn-Biên Hoà. Và con đường đất nhỏ ngang qua trại gà Thanh Tâm đầy sình lầy sau cơn mưa.

Họ còn nghèo lắm. Thường thường ngày hai bữa cơm vẫn là rau muống luộc, khi thì chấm chao, chấm hột vịt dầm nước mắm, khi thì chấm cá mòi Ma Rốc. Những năm đó, một bịt mì gói của Nhựt là niềm mơ ước xa vời vợi. Với số đồng lương ít ỏi của người con lớn, người mẹ tằn tiện cho đủ nuôi sống gia đình thì làm sao có tiền mua báo hằng ngày để đọc. Ngay cả mướn báo cũng hông có nữa. Đôi ngày, Xuân đành rề rề ở các sạp báo, liếc trộm để đọc cọp nhựt trình. Xuân biết rất trễ tin nhóm người đảo chánh. Radio transitor còn mắc và ít có gia đình có máy phát thanh điện để nghe tin tức hàng ngày. Cả khu nầy làm gì có điện. Đêm đêm Xuân phải chong đèn dầu để học bài. Cả xóm Xuân ở, lẫn lộn với một số người miền Bắc di cư năm 1954, có được một vài cái radio. Họ biết được tin tức ở đâu? Chỉ có một cách duy nhứt là đọc nhựt trình. Người khá giả, công chức thì mua báo hằng ngày. Còn đọc báo của người nghèo, dân xích lô, xe ba gác, học sinh nghèo…. là đọc báo cọp, hoặc báo mướn.

 

– Ê Sơn! Báo của tụi mình tính chừng nào ra vậy mậy?

– Không biết chừng nào nữa? Còn đợi mầy và Tô Trần Nguyễn lo chạy xin mấy cái vụ quảng cáo. Mầy nghĩ coi tụi mình không có tiền, đi mượn không ai cho hết thì ra tờ báo rất gian nan.

– Tao biết. Mấy hôm rày tao và thằng cận thị nầy (Tô Trần Nguyễn, Nguyễn Khắc Thiệu) đi bộ muốn rã giò đây mầy ơi! Lội vòng vòng chợ Sài Gòn và gần hết con đường Trần Hưng Đạo mà chẳng có được mấy nơi họ chịu. Hai thằng diện bộ áo sơ mi, thắt cra vát bát phố dưới nắng, tháo mồ hôi hột thiếu đều muốn đi tắm luôn.

– Ráng đi. Tờ Thế Kỷ Hai Mươi của bọn mình có bài vở đầy đủ rồi. Giấy phép cũng đã có. Bây giờ chỉ cần tiền nữa thôi.

– Thì Sơn, mầy nói với thằng Kiều Công Nhịn, làm ở nhà in Nguyễn Bá đường Phạm Ngũ Lão, cho mình nợ tiền in đi. Khi nào ra báo bán được thì lấy tiền trả lại.

– Rủi báo bán không chạy thì lấy tiền đâu ra trả. Tụi bây phải xúm lại năn nỉ nó. Nhưng chắc gì?Mình không trả thì nó nai lưng ra trả à?

– Thì mầy gánh hết. Mầy là chủ bút kiêm chủ nhiệm mà. Thằng Tô Trần Nguyễn và tao chỉ là thư ký và thủ quỉ thôi. Mầy lấy bút hiệu là Sao Trên Rừng thì mầy chắc có nhiều sao và nhiều tiền lắm mà.

– Có cái con mẹ họ! Tụi mình chỉ là một nhóm học sinh vừa đậu Tú Tài xong, mon men vào ngưỡng cửa Đại Học, có một chút ít kiến thức, muốn tìm một con đường khác để đi, làm sao bì lại nhóm Sáng Tạo và Bách Khoa là bực thầy mình.

– Ê Thiệu! (Tô Trần Nguyễn), mầy coi cái lỗ mũi lân và cặp môi của thằng Sơn cà. Nó nói một hơi là chảy hết nước miếng ra ngoài bây giờ.

– Thì nó bao giờ chẳng vậy, phải không Xuân? Nó nói là xì bọt mép và cặp mắt lờ đờ, ra vẻ như là một thi sĩ nổi tiếng tới nơi. Ê, sao mầy lại lấy bút hiệu là Sao Trên Rừng vậy mậy?

– Nó hổng nói đâu. Bà già tao hỏi nó, nó chỉ làm thinh nuốt cuộn bánh xèo. Bả vỗ đầu nó và nói thôi cháu lấy tên khác đi. Nó lờ hai cặp mắt ra hỏi, tên gì bác? Má tao mới nói giỡn: Sao Trong ….. Nó ngẩn người một thoáng, mở to hai con mắt rồi tiếp tục ăn hết cái bánh xèo.

Phùng Xuân thoảng nhớ lại. Hông hiểu nó gặp Nguyễn Đức Sơn từ lúc nào ở cái xóm Canh Nông Thị Nghè nghèo nàn nầy, bàn chuyện văn nghệ, văn gừng, ca hát… Sơn học ở Đại Học Văn Khoa. Thằng Thiệu, học ở SPCN, lúc nào cũng hát nhạc Đoàn Chuẩn. Nó mở miệng là: “Tà áo xanh là màu anh trót yêu…”Buổi họp mặt, cùng với các người bạn gái là học sinh trường GiaLong, thường khi là dĩa trái cóc non với muối ớt. Sơn nhập bọn bàn với tụi nầy định ra tờ nguyệt san: Thế Kỷ Hai Mươi.

Xuân và Sơn đều là hai thằng rách túi, thường khi ghé ăn cơm bữa ở chợ Thị Nghè. Cái thằng lạ chưa! Nó chỉ thích ăn có mỗi món tàu hủ dồn thịt. Ở cái thời một thi sĩ chưa nổi tiếng thì nhà thơ thường nghèo mạt rệp. Hôm nào Xuân rảnh thì hay đèo nó đi đây đi đó, còn hông thì nó đi xe buýt. Có khi nó đi đâu mất tiêu hai ba bữa rồi thấy nó ló mặt về, trông vẻ bơ phờ, chui vào một góc nhà của thằng Nhịn, ngủ một giấc đến chiều chưa chịu thức dậy. Đến tối thì nó than đói bụng.Xuân phải lục nồi bới cho nó tô cơm nguội, chan vô chút cá kho rồi đem tới cho nó. Xuân nhìn Sơn ăn ngon lành mà thương cho bạn. Quê nó đâu tận ngoài Phan Thiết hay Phan Rang gì đó. Nó có cái giọng hơi pha sài gòn. Xuân thích nhứt lúc nó nói chuyện. Cái môi thười lười ra và nước miếng xì thành bọt tràn hai bên mép.

Tụi bạn bá vơ của Xuân thường tụ về nhà Kiều Công Nhịn. Toàn là một lũ học sinh chân ướt chân ráo lên Đại Hoc. Vậy mà đòi làm báo? Có máu văn nghệ hông? Xuân cũng hông biết nữa? Ai cũng có một bài thơ: Hồng Nhung, Hồng Lệ, Trois, Thanh Điệp, Kim Quang, Túy Em…. Lê Thạch Tâm (em đạo diễn Lê Dân)… Bài nào cũng na ná giọng TTKH, hơi hướm của nhóm SángTạo, làm ông chủ bút hông biết đường nào mà lần. Còn Xuân thì biết làm báo biếc gì đâu. Hồi còn học đệ lục, đệ ngũ, chàng chỉ theo các thằng bạn làm mấy tờ bích báo hàng tháng.

 

– Ê!Sơn. Mầy liệu báo của tụi mình có sống dai hông? Sao tao thấy bài vở lằng nhằng quá. Phải tìm cho ra một hướng đi mới thì báo mới sống nổi. Thơ của mầy nhiều khi tao hông hiểu. Còn thơ của hai thằng Trường Dzạ và Linh Vũ thì lại còn bí hiểm hơn thơ của mầy. Thơ gì mà làm như viết văn xuôi, lâu lâu lại xuống hàng; rồi lại còn dùng chữ nghĩa  như “phạm trù”. Tao đọc còn điếc con ráy luôn, làm sao bàng dân thiên hạ hiểu nổi? Vậy làm sao bán được, hở Sơn?

Bài vở của báo Thế Kỷ Hai Mươi chất đầy đống, vương vãi ở góc nhà. Rồi hông ai màng chăm sóc đến những trang giấy đó nữa. Sao Trên Rừng đã lâu lắm rồi hông thấy nó quay trở về. Tờ nguyệt san chắc chìm xuồng luôn. Nhưng Xuân và Nguyễn khắc Thiệu (Nguyễn Niên) còn cố gắng đi xin thêm quảng cáo mấy lần nữa, rồi cũng hông có kết quả gì cho lắm. Hai đứa về nằm chèo queo, buồn bã mấy ngày. Đôi lúc nhìn nhau cười trừ. Có lúc vùng nhau ngồi dậy, mặc quần áo lại cho tươm tất, bương bả leo lên xe buýt tiếp tục đi xin quảng cáo…

 

 

*****

 

Tình hình miền Nam bước qua năm 1961 và năm 1962 có thêm nhiều biến động. Sau vụ án Caravelle, sự bất mãn càng gia tăng. Một số trí thức chống đối chế độ Ngô Đình Diệm bỏ thành phố vào trong rừng rậm vùng Bắc tỉnh Tây Ninh, bên kia biên giới Việt-Miên, kết hợp cùng cán bộ nòng cốt Cộng Sản còn cài lại sau năm 1954. Họ tuyên bố thành lập Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam ngày 20 tháng mười hai năm 1960. Và đầu tháng hai năm 1961, lực lượng võ trang Giải Phóng Miền Nam chính thức ra đời. Nhưng thực ra, lực lượng nầy đã hoạt động từ lâu. Họ đã quậy phá các nơi hẻo lánh, giết các viên chức xã ấp. An ninh miền Nam bắt đầu suy sụp. Dân chúng từ từ bỏ các làng mạc xa xôi, tìm ra những vùng yên ổn- gần đồn bót hay những làng ven trục lộ giao thông chính- để làm ăn. Xuân đã đọc ở đâu đó và trong khoảng thời gian nào chàng cũng  hông còn nhớ, về một câu nói của một viên tướng Alexander Papagos đã chiến thắng du kích Cộng Sản ở Hy Lạp năm 1949: “nếu Cộng Sản mở được mặt trận du kích là kể như họ đã thắng được hiệp đầu.”

Một buổi sáng ngày 27 tháng hai năm 1962, Xuân đang đứng chơi cùng gia đình ông Lý. Họ bón phân rau muống. Thình lình Xuân và Chúc nhìn thấy hai chiếc máy bay khu trục gầm rú vòng qua lại trên bầu trời Xóm Mới. Rồi sau đó có nhiều tiếng nổ lớn và tiếng đạn từ dưới đất bắn lên nghe bụp bụp tạo ra nhiều chụm khói đen nhỏ rải rác khi chúng chúc xuống sát lùm cây khu vực Sài Gòn

– Bố ơi! Trông kìa. Có chiếc máy bay bị bắn rơi, bố ơi!

Xuân và Chúc nhìn theo hướng của cái Lan chỉ. Một làn khói đen tuôn ra từ sau đuôi của chiếc máy bay đang bỏ bom khu vực Sài Gòn.Nó đang sà thấp dần xuống  và mất dạng.

– Chắc nó bỏ bom Dinh Độc Lập. Không hiểu Tổng thống có mệnh hệ gì không?

– Không có gì đâu bố! Nó bị bắn rơi rồi.

– Con cái Lan nầy. Làm như mầy ở đó không bằng.

Xuân lật đật chào ông Lý. Và chỉ kịp dơ tay vẫy chào Chúc, cái Lan, cái Huệ rồi thót lên xe, đạp rút về Thị Nghè…

 

 

*****

Kể từ ngày quen thằng Trực, thằng Thọ sửa rađiô ở đầu xóm, Xuân biết được nhiều thứ. Tụi nó thường sửa rađiô trănsito và cũng đôi khi sửa những cái rađiô bằng điện cũ, có cái đèn mắt dơi khi mình bật điện lên.

– Ê! Tụi bây. Tao còn đang đi học, nghèo lắm, có cách nào nghe radio được hông?

– Được chứ. Nhưng mà chỉ nghe một mình mầy.

– Nghe một mình tao? Sao kỳ vậy? Tao hỏi như vậy là cốt ý xin tụi bây cái nào cũ cũ của người ta bỏ ra.

– Hổng có cái nào cũ đâu mầy ơi. Cũ rích mà họ còn đem sửa lại để xài. Tao chỉ mầy một cách. Tao cho mầy một cục galen (galène là sulfur chì (PbS), chất bán dẫn, tách được sóng vô tuyến điện.) và một cái écouter (ê cút tơ). Mầy kiếm một sợi dây điện dài và một cái niềng xe đạp cũ. Quấn dây điện vòng quanh niềng xe đạp rồi đưa lên cao làm như một cột ăngten, hướng về phía Quán Tre. Nối dây từ cột ănten xuống cục galen. Từ hai dây nối của êcúttơ, một đầu mầy nối vào cục galen, một đầu mầy nối với một cái kim tây. Dùng đầu kim tây mầy chích chích vào cục galen mầy sẽ bắt được đài phát thanh Sài Gòn. Ê! mà nhớ trời mưa có sấm chớp, mầy đừng có nghe, nghen! Nó giựt mầy chết thẳng cẳng đó nhen!

Bằng cách đó, Xuân nghe được tất cả chương trình ở đài phát thanh. Mấy thằng bạn đó nói trung tâm phát tuyến ở QuánTre, có công suất rất mạnh, khoảng 500KW, phát sóng biến điệu biên độ (AM amplitude modulation) nên rất dễ bắt. Âm thanh hông qua loa, nên phải cầm ê cút tơ để sát vào lỗ tai. Một vài thằng bạn ở vùng Quán Tre cho biết tụi nó còn dùng ăngten nối vào hai đầu của bóng đèn nê-ông để học bài? Một lần gặp thằng Tưởng ở Châu Hòa (Bến Tre), Xuân chỉ cho nó cách làm như thế. Một thời gian sau gặp lại, nó mừng rỡ ra mặt, nói nhờ mầy mà tao nghe được đài Sài Gòn.

Một buổi chiều tối, khoảng giữa tháng hai năm 1962. Xuân chích vào cục galen. Có giọng nói gì lạ vậy?Đây là tiếng nói của Măt Trận Giải Phóng Miền Nam với giọng nói chát chúa. Sao lạ vậy ta? Ở đâu ra vậy? Xuân cũng ráng nghe thêm một chút. Coi họ nói cái gì? Toàn là tin tức chống đối chánh quyền, nói xấu gia đình Tổng Thống Ngô Đình Diệm…

Sáng ngày, Phùng Xuân nhìn lên, thấy hướng ăngten hông thay đổi. Đài của Mặt Trận Giải Phóng ở TâyNinh? Hông. Nó phải ở nơi xa hơn và an toàn hơn. Ở đâu? Chiến khu D, Biên Hòa?.Nơi có tin đồn bà Ngô Đình Nhu khai thác gỗ. Hông chắc! Nó phải ở vùng Mỏ Vẹt, sát nách Sài Gòn? Đài nầy chắc có công suất cực mạnh, nghe rõ hơn đài Sài Gòn, truyền đi bằng biến điệu biên độ, độ dài sóng rất lớn nên khó phá? Từ đó, ngày nào Xuân cũng nghe, để biết họ nói cái gì, để so sánh. Phần đông là tin xe cán chó, trật lất, ba xạo nhưng rất nóng hổi…

 

Xuân lật đật đạp rút từ Xóm Mới về nhà để nghe tin bỏ bom vào Dinh Độc Lập. Bản tin buổi chiều của đài Mặt Trận Giải Phóng cũng là tin ba trợn. Hông có gì chính xác. Bao giờ cũng giọng điệu chửi rủa xa xả, nghe nhàm chán. Chàng chích vào cục galen, bắt đài Sài Gòn. Ông Diệm và gia đình vẫn bình yên. Một chiếc AD6 bị bắn rơi ở bến Bạch Đằng. Phạm Phú Quốc bị bắt. Nguyễn văn Cử dông tuốt lên Nam Vang.

Có cái gì thúc đẩy sau hai lần toan tính hạ bệ Tổng Thống Ngô Đình Diệm? Gia đình trị? Độc tài? Ngấm ngầm tiêu diệt các đảng phái? Thủ tiêu các đảng viên đối lập? Sự chống đối của Ngô Tổng Thống hổng muốn cho Mỹ đổ quân vào Việt Nam?

 

 

*****

Năm Phèn lui cui chà sột sột cái ruột xe bằng miếng thiếc cuộn tròn đục nhiều lỗ nhỏ. Xong, Năm Phèn mở hộp keo dán xe làm từ cao su non của đế giầy pha với xăng, lấy tay quệt một cái, thoa một lớp mỏng lên chỗ đã chà nhám, rồi thổi cho mau khô.

– Mầy mần gì vậy Phèn?

– Ủa? Dì Ba. Dì về hồi nào vậy. Tui vá ruột xe lôi.

– Dữ hôn. Mầy hổng ở Châu Bình coi vườn tược của mầy hả? Sao lại ra đây chạy xe lôi?

– Ở gì được dì Ba! Mấy ông trời đen ổng dậy lên, giết tùm lum hết dì Ba ơi?

– Giết ai đâu mậy?

– Trời ơi! Dì ở trển dì hổng biết chớ. Mấy tháng nay, mấy ổng quậy tưới hột sen, dậy trời dậy đất. Cái gì là diệt phong đả tề, tôi cũng hổng biết nữa. Ban hội tề dông mất hết. Ba Thông, anh của Tư Báu chết rồi. Chết chém đó dì Ba!

– Gì dữ vậy mậy? Dân tập kết mà mậy?

– Thiệt mà dì Ba. Dân tập kết tập kiết gì họ cũng giết ráo trọi. Ờ, mà thằng Tưởng, bạn của thằng Xuân nhà mình, dì Ba biết nó chớ?

– Sao hổng biết. Con Hai Thiệt ở ChâuThới chớ đâu!

– Cơ khổ. Cả nhà bị giết hết rồi.

– Gì lạ vậy? Cả nhà đó hiền khô mà.Từ hồi nào tới giờ có làm cái gì bậy bạ đâu. Họ còn đi chơn trong nhiều hơn nữa à nghen.

– Có vậy mới nói.Nghe đâu họ nói nhà thằng Tưởng làm gián điệp.

– Làm gián điệp?

– Thì nhà nó có cây ăng ten cao để nghe ra- điô đó mà.

– Sao tụi nó ngu quá vậy? Làm gián điệp? Ai làm lộ liễu vậy?

– Thì có vậy mới nói. Lúc phong trào-à cái gì đó- à, Đồng Khởi từ năm 1960 đến nay- năm 1962- có lớp trẻ toàn là học sinh gia nhập. Tụi nó bỏ học sớm. Nghe lời mấy ông thầy dụ, theo ráo trọi. Phần đông mấy ông thầy nầy ở bưng về, mở các trường tư thục lèng xèng tới đệ lục, đệ ngũ: như các thầy Nguyễn Trường Phương dạy Viêt Văn, thầy Nguyễn văn Mười dạy Pháp Văn… ở trường trung học tư thục Mỹ Lồng và trường trung học tư thục Châu Thới vậy đó…

Đám nầy mới hông hà. Còn trẻ bân, hăng tiết vịt lắm. Sai đâu đánh đó.C ó biết cái con mẹ gì. Nên mấy ổng mới xài được. Cái lớp của tụi mình đây mà xía vô là có chuyện. Thế nào cũng bị chụp là cái nầy cái nọ rồi ban đêm ban hôm, mấy ổng đến gõ cửa, dắt đi. Hổng khỏi mò tôm, chết chém hay cán cuốc bửa vào đầu, chôn bậy đâu đó, mất xác luôn.

Hồi thời Việt Minh, cũng có vậy nhưng còn đỡ hơn bây giờ. Sao bây giờ mấy ổng, mấy ông Việt Cộng nầy, làm dữ quá hổng biết. Họ đổ thừa bên Quốc Gia rê máy chém đi cùng khắp theo luật số 10/59, còn họ phá xóm làng tan hoang tác hoác. Đám Mười Tông và thằng con trai tên Huệ, Cao Đài Tây Ninh, với họ là hai bên hông đội trời chung. Ông Tổng Linh cũng bị giết chết luôn rồi.

– Mầy cũng là dân kháng chiến mà, sợ gì? Vùng Ba Châu lộn xộn vậy. Còn miệt trên nầy, như Lương Quới, Lương Hoà, có yên hông?

– Sợ chớ dì Ba. Mấy ổng nổi hứng lên là mình chạy hông kịp đó. Ở trên nầy đỡ hơn ở dưới. Tại sao tui hổng biết nữa. Nghe nói ông Trưởng Ban Ám Sát ở trên nầy hiền hơn. Hay là tại tui ít dám xù xí với ai lắm, nên hổng biết rõ lắm. Lo chạy xe lôi, kiếm cơm ngày hai bữa; bỏ cho vợ tui đi đi về về, giựt ba cái dừa kiếm chút huê lợi.

– Còn mấy đứa nhỏ đâu hết rồi?

– Tui đưa hết lên BếnTre. Con vợ tui mướn nhà cho tụi nó ở để đi học. Dì Ba về dưới nầy để làm gì vậy?

– Tính về Châu Bình thăm bà già. Lâu quá hổng có tin tức gì bả, hổng biết lúc rày bả sao rồi nữa?

– Chà! Coi bộ khó à nghen. Ở LươngQuới còn đỡ, chớ ở dưới khó khăn lắm. Lúc rày, có cái vụ Ấp Chiến Lược mới thành lập hôm đầu tháng ba năm 1962, nên lính ruồng bố lung tung. Thôi dì Ba ở đây đi. Ngày mơi, tui nhắn vợ tui, kêu bà già lên.

Từ khi phong trào Đồng Khởi nổi dậy, xóm làng bỏ đi gần hết. Vùng Ba Châu kể như là vùng trắng. Máy bay, cà nông, mọt chê bắn bất kể ngày đêm. Bà Ba Hạo vẫn tiếp tục ở lì, hông sợ súng đạn. Cái trăn-xê được tấn rất chắc. Hai ba lớp ván gõ, bốn năm tầng vỏ dừa, đủ để ngăn súng đạn. Nhưng còn bom thì sao, dì Ba? Vợ Năm Phèn hỏi. Bà Ba mĩm cười, chép miệng. Cái đó thì mầy tới số rồi!

– Cơ khổ! Bả tiếc mấy trái dừa, cau, mãng cầu, sa-bô chê, mấy con tép. Khổ ghê vậy đó. Kêu bả bỏ đi mà bả hổng chịu. Lên Sài Gòn ở mấy lần, bả đòi về hoài. Bả nói ở trên nầy tù túng quá, tao hông chịu đươc. Tụi bây phải đưa tao về quê. Kệ nó, sống chết có số. Việt cộng thì bả hổng sợ đâu. Bả già rồi, có làm gì tụi nó đâu. Còn cái đám cháu ngoại bả, con của bà Hai Miều- tụi nó đi theo mấy ổng ở trỏng rồi.Vậy là có đứa nào dám hó hé tới bả?

– Con vợ tui cũng vậy. Tiếc chi mấy trái dừa hổng biết! Kêu lên trển ở với mấy đứa nhỏ, lo cơm nước cho tụi nhỏ đi học. Hổng chịu là hông. Mình đi đi về về hoài. Mấy ổng nghi rồi sanh chuyện nầy chuyện nọ mới chết chớ.

– Lúc rày đường về dưới có dễ đi hông?

– Hổng dễ đâu dì Ba. Hổng dám đi đường lộ lớn đâu. Máy bay nó thấy là nó bắn chết. Qua khỏi cái bửng nhà Năm Phỉ còn nguy hiểm hơn. Đi len lỏi trong vườn dừa hông hà. Mình hổng biết đường, lớ quớ sụp hầm chông của mấy ổng gài là trời cứu.

Trời chưa bửng sáng, bà Ba Hạo đã có mặt ở Lương Quới. Bà gánh hai thúng đủ thứ: tép khô, khô cá kèo, mãng cầu xiêm, sa bô chê và nước màu dừa…..Bà Ba Đầm mếu máo nhìn bà Ba Hạo đang cầm nón lá quạt lia lịa.

– Má quảy mấy thứ nầy chi cho cực Má.

– Thì gánh cho tụi nhỏ nó ăn chớ mậy. Ở Sè Gòn, mấy thứ nầy mắc mỏ. Cây nhà lá vườn, mình đem lên cho đỡ tốn tiền hôn?

Nói vậy chớ bà Ba Đầm cũng túm gọn các thứ cho vào bao cà ròn. Hai mẹ con nói ba điều bốn chuyện một hồi. Bà Ba Đầm hối má trở lại Châu Bình cho sớm, xong vác mấy bao đồ ăn ra xe lôi cùng Năm Phèn đi Bến Tre…

 

 

*****

Ngày hôm đó là ngày Lễ Quốc Khánh, 26 tháng 10 năm 1962. Bữa nay, trước Toà Đô Chánh-Công Trường Lam Sơn- có triễn lãm một số máy bay. Đoàn người lũ lượt kéo nhau đến từ sáng sớm, đông nghẹt từ đầu đường Lê Lợi đến đường Gia Long.

Trung Sĩ Nguyễn Bội Ngọc đang trả lời những câu hỏi cho số đông người bu quanh chiếc trực thăng H34. Phùng Xuân xuống xe buýt ở chợ Bến Thành. Chàng đi bộ tà tà đến nơi. Lần đầu tiên Xuân được ngó thấy chiếc trực thăng. Chàng cố chen chân cho gần hơn để được nhìn rõ chiếc nầy. Chớ các loại máy bay bỏ bom, quan sát-mà Bà Ngoại gọi là Bà Già- thì Xuân đã biết rồi. Hồi đó ở Châu Bình, Xuân thấy máy bay bỏ bom có một chong chóng ở phía trước, bay rất nhanh. Vừa nghe tiếng nó xòe xoè thì thấy nó bay sát gần ngọn dừa, có hình vòng tròn xanh, trắng, đỏ bên hông. Một loạt tiếng súng bắn chát đùng trước, bà ngoại gọi đó là đạn lum đum. Sau đó là bom nổ ầm ầm. Còn cái con Bà Già có cánh đôi, bay mút ở trên, rề rề như đi chợ.

Ông Trung Sĩ đang nói thao thao. Một vật gì đen tròn rơi trước mặt ông ta. Xuân hông hiểu là vật gì? Chợt ông Ngọc cúi nhanh người xuống lượm cục đen tròn, rồi như chớp để vào trong bụng. Ông nằm sấp xuống.Một tiếng nổ đùng kinh hoàng. Một số người té ngã xuống.Một số ùn ùn bỏ chạy.Cùng lúc đó có tiếng hô:  “ Lựu đạn, lựu đạn”.

Phùng Xuân chạy vắt giò lên cần cổ. Chàng chạy cho đến đường Lê Lợi. Đứng lại thở giốc. Đám đông túa ra đủ hướng. Vừa đúng lúc Xuân gặp Tiến Tấn, cùng học Chu Văn An ngày xưa.

– Có chuyện gì đấy cậu?

– Tao hổng biết cái gì nữa. Ai quăng trái lựu đạn vô giữa đám đông đang coi máy bay. Chắc ổng chết rồi.

– Ai chết?

– Ông lính đứng bên chiếc trực thăng. Ổng nằm đè lên trái lựu đan, chớ nếu hông chắc thiên hạ chết nhiều.

– Ông ta gan quá.

– Sao Quốc Khánh có huông vậy?

Cũng vào ngày Quốc Khánh năm 1957, Hội chợ được tổ chức ở khu vườn bông Thị Nghè. Cổng chánh rộng lớn ở phía Thị Nghè. Cổng phụ là chiếc cầu bê tông nhỏ chiều ngang khoảng ba mét, bắc ngang rạch Thị Nghè, nối liền khu vườn bông và Sở Thú. Dân miệt Sài Gòn và Chợ Lớn đều đi từ Sở Thú qua cầu nầy để xem hội chợ. Người ta chen nhau ở cầu nhỏ, dẫm đạp lên nhau, chết khá nhiều. Có nhiều người phải nhảy xuống sông bị chết chìm. Sau đó công binh bắt thêm một cầu nổi tạm dùng để qua lại hai chiều. Tại sao họ hông đi cổng Thị Nghè, rộng thênh thang? Chắc hổng ai nghĩ là dân Sài Gòn, Chợ Lớn đổ vào xem Hội Chợ bằng cầu Sở Thú?

Buổi chiều Xuân bắt đài Mặt Trận Giải Phóng. Cũng giọng ra rả, chát chúa. Nữ chiến sĩ Biệt Động Thành: Mỹ Linh-Con Chim Sắt – đã gan dạ tung quả lựu đạn giết chết một Trung Sĩ Ngụy và đồng bọn, đồng thời phá hủy một chiếc trực thăng HU1A (?) của địch. Phùng Xuân ngao ngán. Chàng biết họ tuyên truyền láo, xạo ke…Lý do là lủy có ở đó.

 

 

 

*****

Cuối tháng mười hai của năm 1962 rồi. Gió bấc bắt đầu thổi mạnh. Bông so đũa nở rộ, khoe một màu trắng toát trên cành khẳng khiu. Bông đậu rồng xanh tim tím chen chúc nhau trong đám lá um tùm ven bên đường. Bông xoài từng chùm lắc lư theo gió, kéo theo đàn ong chăm chỉ bu quanh. Nhờ gió bấc đẩy mà Xuân đạp xe nhẹ nhàng, chạy vùn vụt về Lương Quới.

– Mầy muốn đi vào xóm trong hả? Bây giờ khó đi lắm, chớ hổng phải như hồi xưa. Đường lộ chánh nhiều chông và mìn, hổng đi được đâu. Ra khỏi khu nhà mình, giờ là của mấy ổng rồi.

– Út. Con muốn vô trỏng mà! Làm sao đi.Út giúp con đi.

– Để coi ngày mai, có mấy đứa ở trong xóm trong ra đi chợ hông hả? Tao kêu tụi nó dẫn mầy đi.

– Út biết tụi nó hả?

– Sao hổng biết mậy!

– Sao chú Tám hổng làm gì?

– Ổng còn đi guốc trong bụng họ hơn tao nữa mậy. Nhưng ổng sợ bay cái đầu ổng đi mất nên ổng im re. Nói chung ban Đại Diện xã, ai làm gì trong làng họ đều biết ráo trọi. Nhưng do giây mơ rễ má, do một số còn mê thời kháng chiến, một số sợ bị Việt Minh cho đi mò tôm nên họ hổng nói.

– Trong số đó có Út? Út còn mê cái danh từ Việt Minh quá mà. Vì vậy nên Lương Quới yên lành hơn vùng BaChâu phải hôn Út?

– Mồ tổ cha mầy. Sao mầy biết?

– Má con mới về cách đây mấy tháng. Bả nói cho con nghe.

– Mầy có đi thì về sơm sớm. Về trễ, rắc rối với mấy thằng dân vệ.

Hồi chín năm, bà Út Thừ- người con thứ mười một của ông Hội Đồng Nhượng- còn trẻ, cũng đi kháng chiến chống Pháp đâu trong khu chín. Năm 1954, bà hông tập kết, trở về làng để nuôi đứa con trai. Dân trong làng hông ai nhắc đến người cha của đứa bé, nhưng họ sù sì đó là ông Nguyễn văn Nê, chánh trị viên đại đội 301, tiểu đoàn 310. Cho nên bà cũng còn nhiều cảm tình với những người bên trong- bây giờ là Việt Cộng. Xuân có nghe lời đồn, nhưng chàng hổng dám nhắc đến chuyện của bà, vì nói với người lớn tuổi những việc như vậy: đó là sự cấm kỵ .

Lúc tuổi thanh xuân, khoảng năm 194…, bà rất giỏi giang. Đất chung quanh nhà trồng toàn là cây bông vải và cây dâu tằm ăn. Bà biết cán bông bỏ hột, bung bông, se sợi… rồi kéo go dệt thành vải. Xong bà đem hồ, nhuộm. Những miếng vải thô cứng kêu sột soẹt lúc may thành quần áo. Bà biết nuôi tằm. Tằm sắp kéo kén. Tầm ăn lên nghe rào rào, xong rồi ươm vàng hực trong những cái nia có cắm chà chờ tằm đóng kén và chín. Bọn trẻ bao giờ cũng bu quanh chảo nước sôi kéo tơ để mong chờ ăn nhộng. Vải bằng tơ tằm bao giờ cũng mịn màng và vàng óng ánh. Bà làm việc hông kể ngày đêm. Đến khuya mà bà cũng còn ngồi bên ánh đèn dầu dừa mù mờ, giựt dây, đưa con thoi qua lại lọc cà lọc cọc.

Bà còn biết nung vỏ nghêu trong trấu và vỏ dừa để làm vôi bán cho những người ăn trầu trong làng.

Ngày Tết hoặc ngày giổ quải, một tay bà làm đủ thứ việc: cán bánh phồng mì, bánh phồng nếp; gói bánh tét, bánh ú; quết thịt làm nem; xay lúa, giã gạo…

Rồi sau đình chiến 1954, bà quay lại làng, nuôi con chờ chồng (?) tập kết trở về. Ngày về xa biền biệt và tuổi thanh xuân lớn dần theo cây dừa, cây cau…

Mặt trời chưa ló khỏi ngọn dừa. Chợ đã dần tan. Thằng nhỏ, khoảng 15 tuổi, tên Tri, dẫn Xuân đi. Vừa ra khỏi chợ là một vùng trảng trống. Trường học và khu đình làng vẫn còn đó. Dừa bị đốn bỏ một phần để làm ấp chiến lược. Cổng ra vào sơ sài. Đây là ấp chiến lược? Chàng tự hỏi. Ở Sài Gòn, Xuân có bao giờ biết cái ấp chiến lược là cái gì đâu? Chỉ biết qua báo chí và qua những lời chửi ra rả của đài Mặt Trận Giải Phóng. Và thật sự, đời sống dân tình trong những cái ấp nầy ra làm sao?

Khi gần tới chùa, thằng Tri quẹo phải đi tuốt luốt về hướng sông. Một vài gốc dừa bị dạt một bên. Những dòng chữ nguệch ngoạc: Diệm Nhu bán nước, Đả đảo luật số 10/59… Ngoằn ngoèo, ngoắt ngoéo, trắc tréo, tới lui một hồi rồi len lỏi qua những bập dừa nước sát bờ rạch làm Xuân quên mất là mình đang ở đâu. Chàng đâu có lạ lùng gì những khu vực nầy. Hồi nhỏ chàng lê mòn gót trên những con đường lắc léo xuyên qua bờ dừa khắp làng để bắn chim. Có buổi hông có con chim nào, Xuân buồn tình lấy giàn thun bắn cá nóc nói để chơi kia mà!

Bến Tre là vùng đất của rừng dừa. Đất của những ông “Hội Đồng Dừa” có trên 10 mẫu. Đất của những ông chủ vườn có dừa chất thành đống cao tính bằng thiên. Những ông chủ nầy quanh năm suốt tháng đi ăn đám giỗ từ nhà nầy đến nhà kia, có con rơi con rớt, đánh ỏ thâu đêm, đôi khi thua sặc máu họng, bán từng mẫu vườn dừa.

Đất của những trái dừa kỳ lạ: dừa trăng ăn với cơm dừa nhăn nheo, xốp xộp và béo ngọt; với dừa bông ăn được cả vỏ dòn ngọt khi còn non. Đất của dừa lửa, dừa bị, dừa tam quan, dừa xiêm thiệt, dừa xiêm lai…Đất của những tên gọi từng trái dừa lớn lên theo màu phù sa đục như nước cơm vo: dừa non, dừa váng cháo, dừa nạo, dừa cứng cạy, dừa rám, dừa khô mà chỉ có những người con của Bến tre mới phân biệt được khi lắc nước óc ách  hay nhìn màu da trái dừa. Đất của củ hủ dừa, đuông dừa, chuột dừa, ong rùi dừa( ổ ong rùi nhỏ, chừng bằng bàn tay. Ong thường đóng kèo trong cọng bông dừa. Mật thơm ngon ), nước màu dừa và dầu dừa… Dừa bạt ngàn. Phùng Xuân mòn gót chơn son rong chơi suốt ngày trong rừng dừa rợp bóng mát. Có khi đi từ làng nầy sang làng khác mà hông bao giờ nhìn thấy ánh mặt trời chói chang.

– Ê, Tri . Mầy có lạc đường hông vậy mậy? Sao vòng vo tam quốc hoài vậy? Dẫn tao tới nhà ông Sáu Xe nhen.

– Hổng có lạc đâu anh Ba. Em đi hà rầm hoài, làm sao lạc được. Đi dưới nầy chắc ăn hơn. Ở trên, họ làm hầm nhiều dữ lắm. Đi lớ quớ, sụp hầm, vướng chông cau, chông tre là anh tàn đời luôn.

– Như vầy làm sao lính biết đường mà đi ruồng được.

– Lính dưới quận đi ruồng hả? Họ đâu dám đi theo đường mòn. Họ băng bờ hông hà!

– Sao mầy rành sáu câu quá vậy!

Khi gần đến khu đất nhà của ông Sáu Xe, thằng Tri lấy tay chỉ cho Xuân hướng đi, rồi nó lật đật rẽ qua ngã khác.

Đất vườn vẫn như cũ nhưng cảnh vườn coi vẻ vắng que. Cỏ dại mọc um tùm. Lối vào sân nhà bây giờ cỏ tranh đơm bông trắng xóa. Tàu dừa rụng đầy sân. Mo nang vương vãi khắp nơi. Xuân đứng ngơ ngẩn hồi lâu. Hình bóng Khanh vẫn còn lảng vảng đâu đây. Đôi mắt em bao giờ cũng mơ màng nhìn vào khoảng không xa vắng, hông có được một nụ cười tươi. Còn Vân? Nụ cười chúm chím luôn luôn hiện ra nơi gương mặt rạng rỡ.

Bếp núc trong nhà lạnh tanh. Một cái dóng đựng đồ ăn treo đu đưa ở góc nhà. Bù hống giăng đầy nơi mái lá. Bàn giữa nhà đầy bụi. Bộ ván hông còn nữa. Xuân liếc nhìn vào phòng cũ của Khanh và Vân. Bây giờ là cái trăn xê chất đầy vỏ dừa. Chàng bước ra ngoài, đi vòng căn nhà, hy vọng tìm được một bóng người ở gần đâu đây. Hổng có. Bên kia bờ dừa, cây dâu da vẫn còn đó, nhưng đã qua mùa trái rồi!! Xuân lần bước men theo đường mòn bờ dừa qua nhà chú Chín. Chàng chợt thấy bóng cái nón lá nhấp nhô lên xuống ở cuối bờ. Nghe tiếng Xuân bước sột sạt, người đó đứng lên.

– Thím Sáu, thím làm gì ở đây?

– Bây mới dìa đó hả? Làm sao bây vô được đây? Tao mót bậy bạ ba củ khoai về luộc ăn.

– Con có ghé nhà. Hổng có ai hết. Vân và chú Sáu đi đâu hết rồi thím?

– Ối… Đi công tác hoài mầy ơi. Vân nó đi cả tháng nay rồi.Còn ổng mới đi hồi qua kia.

– Hèn chi. Bếp núc trống trơn.

– Đồ ăn tao để trong trăn xê. Sợ mọt chê, chạy hông kịp.

– Lính đi ruồng thì thím làm sao thím? Sao thím hông ra ngoài chợ, bên trong ấp chiến lược, ở có yên hơn hôn?

– Ối! Tụi nó có bắt bớ gì bà già. Ở để giữ ba cái dừa. Nếu hông bị bẻ trộm, mất hết.

– Hoang tàn như thế nầy mà cũng có người bẻ trộm sao thím?

Nói vậy chớ Xuân thừa biết bả ở đây là lo ăn uống cho chồng và con gái. Ban đêm ban hôm, họ bất thình lình trở về có chỗ nghỉ ngơi, hội họp và cũng để lấy tin tức.

– Con muốn đi thăm Khanh.Có được hông thím?

Bà Sáu Xe ngước nhìn Xuân có ý dò hỏi. Chàng biết vậy, nhưng im lặng, làm bộ ngó ra chỗ khác. Ít phút sau.

– Ừa. Lâu rồi, tao cũng hổng qua bển thăm tụi nó. Tao nhớ hai đứa cháu ngoại quá. Để tao dẫn bây đi. Mau đi, qua đó xà quần hoài, hông tối về hổng kịp. Bây còn trở ra chợ nữa. Độ rày có ấp chiến lược, khó khăn lắm.

Bả dẫn Xuân đi xuyên qua mấy đám cỏ tranh và những bụi lứt rậm ri rậm rịt, cao lút đầu, đến bờ rạch. Có một cái chòi nhỏ gần bờ nước. Có người canh chừng. Bả vô trong nói cái gì đó với người trong chòi. Xong trở ra kêu Xuân bước xuống chiếc xuồng ba lá. Bên kia là Lương Hòa.

Căn nhà lợp lá cà đốp. Chung quanh vừng bằng lá xé. Bên trong trống tan hoang tát hoác. Cái giường tre để kế bên bếp. Mùng túm vắt lên. Mền hông xếp, cuộn tròn vo bên gối.

Hai quày chuối xiêm đen chín bói nằm bù lăng bù lóc ở góc nhà. Có hai ba nải chuối lá hườm hườm. Một quày chuối tiêu, trái thon dài giống như bàn tay búp măng. Và ba quày chuối già hương. Chắc nhà tính gom góp lại đem ra chợ bán. Cũng hông nhiều nhỏi gì! Có lẽ đủ tiền mua gạo?

Hổng có ai. Bà Sáu lui cui lo dọn dẹp. Xuân đi lần theo bờ chuối ra phía sau. Có tiếng con nít ứ é. Và tiếng ru con nhè nhẹ ở đầu bờ.

 

Ầu… Ơơ… Chiều nay ra sông Cái tự ái cho rồi. Sống làm chi biệt ly công tử. Ơ… ơ… Chết cho rồi… chết cho rồi… cho đặng chữ hiếu trung. ơ…

Ơ… Ví dầu cầu ván đóng đinh. Cầu tre lắt lẻo gập ghình khó đi. Khó đi, mượn chén ăn cơm. Mượn ly uống rượu, mượn đờn kéo chơi.

 

-Khanh! Khanh ! Em làm gì ở đây?

– Anh! Anh!! Làm sao anh vô đây được? Ai dẫn anh đi? Ai chỉ em ở đây?

– Nhiều câu hỏi quá! Chỉ biết là anh đến đây được để thăm em. Em có hai con rồi hả?

Khanh hông trả lời, nhìn xuống thằng nhỏ lớn nhứt đang ôm chơn mẹ. Cái bụng chong bóc. Mũi dãi xanh lè xanh lét, chảy lòng thòng. Thằng bé lấy tay quẹt. Cứt mũi hông tuôn ra hết, dính theo bờ má tạo thành một dọc xanh dài. Khanh dùng tay bịt hai lỗ mũi, vít sạch rồi quăng mạnh một cái. Đứa bé nhìn Xuân, khóc ré lên. Đứa con gái Khanh đang ẳm trên tay cũng khóc theo luôn. Khanh bồng con và kéo lê thằng con trai đến gốc dừa mục.

Nàng ngồi xuống, thản nhiên cổi nút áo, phạch ngực, nâng vú cho con gái bú trước mặt Xuân. Còn nàng, tóc tai bù xù nàng hổng màng tới. Con bé thấy vú mẹ, đưa miệng nút chùn chụt, rồi nín khóc ngay và lấy tay mân mê cái vú còn lại. Xuân nhìn thấy cặp vú nổi đầy gân xanh và xề xệ xuống như vú mướp. Hai vú săn cứng như hai trái vú sữa to trắng chín mộng, đã nhiều lần nằm trong tay Xuân và được chàng vân vê, hông còn nữa. Đôi vú tròn trịa săn cứng như hai mộng dừa của thời con gái, của một thời tình yêu trai gái trẻ trung, bồng bột đã qua rồi. Cặp vú bây giờ mềm nhũn và nhão nha nhão nhoẹt chứa đầy sữa mẹ để nuôi con. Ôi! Mùi thơm của mật ngọt ong dúi đâu còn nữa đâu em!

Xuân hiểu rỏ tình cảnh của Khanh. Làm gì có nhiều đồ ăn bổ dưỡng để có được hai bầu sữa to căng tròn. Nhìn căn nhà, cái bếp là chàng hiểu cuộc sống của người mình từng thương yêu. Giờ đây Khanh xơ rơ xác rác, giống như những bà mẹ Viêt Nam thân yêu, nàng làm tất cả  cho đàn con. Con nàng là tất cả. Việc nàng tự nhiên vạch hai vú cho con bú trước mặt Xuân đã nói lên điều đó. Có còn gì e thẹn như thời còn con gái đâu? Bây giờ là mẹ, mẹ của hai đứa con cho nên nàng phải ra sức bảo vệ tụi nó. Phùng Xuân nhìn thấy những điều đó trong đôi mắt nàng. Có lẽ, nàng hông còn nhớ đến mối tình đã qua từ lúc cái đám cưới chạy tang ác nghiệt kia?

– Thằng con trai lớn đúng hai tuổi?

– Ừa!

Một tiếng ừa có vẻ như chắc chắn và nuối tiếc một điều gì đó. Xuân có nên hỏi tiếp hông? Hỏi để khơi dậy sự buồn phiền cho Khanh? Trả lời tức là nhắc lại những lúc ân ái sôi nổi ở Mỹ Nhiên, Cái Bông? Em ơi! Dòng nước trôi đi có bao giờ quay trở lại. Gặp nhau lại trong phút giây ngắn ngủi nầy, biết cuộc sống của Khanh như thế là một sự đau khổ khôn cùng của Xuân. Xuân đành phải đánh trống lãng đi.

– Chồng em đâu rồi? Dượng Ba Đẹn?

– Ảnh ở ngoài đầu bờ dừa lo chặt mấy khúc đinh sét, đập miểng chai…

– Chặt đinh sét? Để làm gì?

– Để bỏ vô súng ngựa trời.

– Súng ngựa trời là súng gì?

– Anh đi tới mà hỏi ảnh.

Từ ngày Ba Đẹn là du kích xã, nó chỉ có một việc là lo làm những cây súng ngựa trời. Ở xã nầy, cả đội chỉ có một cây mút ca tong. Làm súng ngựa trời thì dễ, có gì khó đâu! Hông như mấy ông cán bộ dưới huyện chỉ, nào là phải đi tìm những ống tuýp xe đạp, cưa đi một đầu, còn đầu kia đập bít lại, nhồi đinh sét, miểng chai… ngâm trong cứt và nước đái… Ôi thôi, đủ thứ lu bù, hằm bà lằng quá. Mà ngặt, ống tuýp xe đạp khó tìm lắm! Nó làm theo ý nó. Nó đi kiếm những lóng tre đực thật già, cắt bỏ một mắt, còn mắt dưới dùi một lỗ để chuyền dây. Cái thứ nầy giống như ngày xưa nó hay chơi lúc Tết: ra ngoài tiệm chú Tiều mua cục khí đá bằng ngón chơn cái, cho vô khúc tre đực ướt, đã cắt bỏ một đầu. Chỉ cần lắc mạnh môt vài cái, xong đưa vào ngọn lửa là nó nổ to một tiếng bum dòn tan, còn hơn pháo đại và pháo tre nữa

– Dượng Ba làm mấy cây súng nầy có bắn chết được ai hôn?

– Khỏi nói anh Ba. Hổng chết mà mấy thằng dân vệ sợ chạy té đái. Súng em mà nổ cái ùng hả, tụi nó la oai oái.

– Cây súng nầy dượng làm rồi đó hả?

– Ừa! Xong rồi đó.Anh coi có được hông?

Xuân cầm cây súng ngựa trời dựng bên gốc dừa. Chàng ngó qua ngó lại rồi nhìn vào trong lòng ống tre được nện bít bằng đất sét.

-Dượng bỏ gì trong nầy?

– A.Trước hết là thuốc nổ rồi đến miểng chai ngâm trong nước đái. Cái nầy hổng có đinh sét. Em nện chặt bằng đất sét. Anh coi có được hôn?

Xuân nhìn kỹ một lần nữa. Cây súng nầy bắn chắc chẳng giết được ai, chỉ làm cho người ta trầy trụa xơ xịa ngoài da và hoảng sợ. Xuân đã học về vật lý và cơ học ở lớp đệ Nhứt. Chàng hiểu cây súng có sức phụt hậu và thế nào cũng làm cho người bắn bị thương.

– Làm sao dượng cho nó nổ?

– Em nối dây điện và dùng cục pin dẹp hiệu Con Ó. Rồi chích cho nó nổ.

– Nghĩa là dượng phải nằm từ xa?

– Phải rồi anh Ba. Nó nổ cái oành là mấy thằng dân vệ tá hỏa. Em rút dây điện rồi bỏ chạy.

– Ừa hé! Dượng hông bị súng tống trầy mặt. Dượng có bao giờ trở lại chỗ dượng đặt súng coi nó nổ như thế nào hông?

– Hổng có anh!

– Tôi có nghe mấy ông du kích còn lấy ong vò vẽ đuổi lính chạy có cờ nữa mà.

– Họp xã đội, họ cũng có phổ biến. Nhưng chắc đâu miệt dưới. Ở đây hổng có.

Nói vậy chớ Xuân dư biết mấy cha nầy nói xạo dóc tổ. Kiếm được ổ ong vò vẽ đã là khó. Thỉnh thoảng mới gặp được tụi nó đóng ổ nơi cây cao bụi rậm như bụi tre, bụi đủng đỉnh… Rồi lấy ổ ong càng khó hơn. Phải chờ trời tối, tìm cách leo lên nhè nhẹ và lấy bao cà ròn trùm lại. Mà đâu phải lúc nào cũng có dịp để đuổi lính đi ruồng đâu. Trùm kín ít ngày thì ong chết. Treo lên đâu đó, để dành, lớ ngớ bung ổ ra thì nó đánh có mà chết, chạy đâu cho khỏi. Hồi nẫm, Xuân có nhớ là được ăn cháo ong vò vẽ non. Chàng còn nhớ là đám người lớn đợi lúc tối trời đốt đuốc để ngay miệng ổ ong. Ong bay tuôn ra hết, bị đốt chết, còn lại ong non trong ổ…

– Còn em, Khanh?Sao hông dẫn mấy con ra ở trong ấp chiến lược cho nó đỡ hơn hông?

– Ý đâu được anh Ba! Tụi nó biết em rồi, nó hành vợ em chết!

– Dượng làm dượng chịu, chớ vợ con dượng có làm gì đâu. Có ai bắt bớ gì đâu. Rồi ở trong nầy yên hơn hả? Lúc lính ruồng bố thì làm sao? Ở ngoài xã, thiếu gì người có bà con đi theo bên trong nầy mà có ai nói gì đâu?

– Ảnh có làm cho mẹ con một cái hầm, ở ngoài bờ, dưới củ trối bụi chuối.

– Đất thấp hông bị ngập nước à?

-Cái lu vú bò mà. Có gì ba mẹ con chui xuống đó. Xong ảnh lấp miệng lại. Có một cái ống trúc dài để thở.

– Nóng lắm hả em?

– Hầm hơi và nóng lắm. Nhưng mấy mẹ con ráng chịu. Lính đi ruồng hổng có lâu lắm đâu!

Nghĩ đến đó mà Xuân buồn cho Khanh. Vợ một anh chàng du kích sống một ngày mai vô định. Và biết chừng nào Xuân mới gặp lại Khanh. Chắc hông bao giờ. Bây giờ dòng sông đã chia hai…

Bà Sáu Xe đi tới, vói tay bồng lấy đứa cháu gái, hun chùn chụt. Khanh rảnh tay, bới lại cái đầu tóc cho gọn ghẽ. Bây giờ là đầu tóc của một thiếu phụ, có cái búi to ở đằng sau. Hổng còn mái tóc dài để đến ngang vai như thời nàng đi học. Xong, Khanh nhìn Xuân trân trân. Xuân vội quay mặt đi chỗ khác.

– Anh ở lại đây tối hôm nay?

– Hông. Má và thằng Xuân phải dìa liền bây giờ, để nó kịp ra Lương Quới.

Bà trả lời thay cho Xuân và nhanh nhẩu trả đứa cháu gái lại cho Khanh, rồi ôm hun thằng Hải mấy cái. Tổ cha mầy, mũi dãi tùm lum! Xuân cũng vội hun hai con Khanh, nhưng hun thằng Hải nhiều nhứt, rồi quày quả bước đi, sau khi nói lại một câu nhỏ và ngắn ngủi: anh về nghen em. Phùng Xuân biết đàng sau lưng mình có đôi mắt dõi  theo và một trái tim nghẹn ngào…… Một lần chót gặp nhau?

– Bây ráng coi chừng coi đổi hai đứa nhỏ nhen.

– Tui dìa nghe dượng Ba.

Bà Sáu Xe vừa tấp ghe vào bến thì nghe hai tiếng súng tắc cù từ hướng Lương Quới. Bả lật đật buông dầm, hối Xuân mau lên bờ, đi miết về nhà. Gặp thằng Tri dọc đường, nó báo cho bả biết là có lính đang đi vô gần đến chùa. Và đám du kích, có anh Năm Tấn chỉ huy, đang trông chừng tụi lính. Nhiều khi dân vệ ra khỏi ấp đi bắn chim cu.

– Vậy là bây đâu có đi dìa ngoải được. Tối nay phải ngủ lại đây rồi sáng sớm theo tụi nó ra chợ.

Cái chiếu rách và cái mềm mỏng tanh hông đủ để che tụi muỗi ma đói kêu vo ve như sáo thổi. Xuân hông nằm được. Chàng phải ngồi dựa vào góc cột nhà, lấy tay phất lia lịa. Nhiều năm qua rồi, cái mềm cũ mèm nầy đâu còn hơi hướm của Khanh và Vân? Mùi mốc hăng hăng làm chàng ngộp thở. Xuân nhớ đến mùi rơm ở cánh đồng Mỹ Nhiên… Phải chi bây giờ mình chui vô được đám  lá chuối khô ngủ giống như heo là yên nhứt ?…

 

 

*****

Xuân hông chờ được bắc. Chàng đưa xe đạp cho người phụ việc xếp lên nóc đò máy, rồi chui vào trong khoan, tìm một chỗ khuất, nằm gác đầu lên thành ghế. Nước lớn. Gió thổi mát rượi. Sóng bạc đầu vỗ mạnh. Đò máy chồng chành, rẽ mũi áp sát vào cồn Phụng. Một vài bóng người hiện ra trong cù lao. Nghe nói hình như ông Đạo Dừa sắp về ở nơi đây. Tiếng máy nổ xình xịch ru Xuân vào giấc ngủ chiều ngắn ngủi đầy mộng mị…

 

 

 

*****

Tình hình ở Sài Gòn càng thêm rối rắm. Kể từ khi Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam Việt Nam được thành lập vào năm 1960, số người ra “bưng” càng ngày càng nhiều. Ở Sài Gòn bây giờ đủ mọi thành phần.

Một số là thân hữu của các ông Nguyễn Hữu Thọ, Huỳnh Tấn Phát, Trịnh Đình   Thảo… Một số là những người có học giầu sang, có đầu óc thiên tả đi học ở Pháp về. Một số con những trí thức thành thị, hông theo kháng chiến chống Pháp nên gia đình hông bị ly tán, sa sút. Khi Mỹ tuôn ào ạt vô Miền Nam, họ xoay trở nhanh chóng, tạo thành một thành phần trí  thức ưu tú gầy dựng nền móng dân chủ miền Nam. Hông như những gia đình giàu có miền quê, theo kháng chiến chống Pháp rồi sau đó lầm lẫn theo Việt Minh. Một số là các thành phần già thủ cựu đã từng theo kháng chiến chống Pháp. Họ về thành, giữ các chức vụ trong bộ máy chánh quyền, từ văn hóa, giáo dục, kinh tế, tài chánh… Chính nhóm nầy mới là nguy hiểm vì họ đi hàng hai, hông lộ diện. Họ hông phân biệt được Việt Minh và Cộng Sản? Còn lại là một nhóm thật lớn: các sinh viên học sinh. Nhóm nầy còn trẻ, có tinh thần Quốc Gia, đầy nhiệt huyết, hoạt động ất hăng say. Nhưng còn một nhóm nguy hiểm hơn: thành phần sinh viên học sinh hoạt động nội thành. Nhóm nầy bị các cán bộ ‘trí vận” Cộng Sản cài vào, khuấy động tình hình chính trị, văn hoá, xã hội ngay giữa Sài Gòn.

Ngay như bà Ba Hạo, bà Ba Đầm, Bà Út Thừ… hông hiểu một chút gì về Việt Minh và Việt Cộng. Và lẽ tất nhiên,  những người dân quê mùa chất phác, đâu có phân biệt được rõ ràng đâu là Việt Minh và đâu là Việt Cộng. Năm rồi (1962) Xuân nhớ hình như là chú Mười Tương và chú Sáu Đâu lên ở nhà Xuân mấy ngày. Chắc lúc đó các xã đang thanh lọc để xây ấp chiến lược. Họ bị động. Họ kiếm đường đi vào trong khu. Vậy là bà Ba Đầm cũng vô tình hông hiểu Việt Cộng là gì nữa, nên giúp đỡ họ. Đó chính cũng là một nguyên nhơn mà ViệtCộng lợi dụng để phá hoại miền Nam.

 

 

 

*****

Xuân tần ngần trước cổng nhà rất lâu. Hông hiểu lần nầy họ có hẹn nữa hôn? Hai lần trước, người quản gia cho biết là gia đình đang có công chuyện. Họ đã hẹn hai lần, cách nhau năm, sáu tháng. Chuyên mục rao vặt ở trang trong  tờ báo vẫn còn phần dạy kèm trẻ em tại tư gia của Xuân. Chàng muốn bỏ chỗ nầy đi dạy nơi khác cho rồi, nhưng hông hiểu vì lý do gì, chàng cứ tới nơi nầy hoài. Con đường Hồ Xuân Hương đẹp, êm ả có sức quyến rũ hay nơi đây gần nhà, gần trường Đại Học cho Xuân dễ chạy tới chạy lui bằng chiếc xe đạp cũ xì?

Xuân cũng đã có chỗ dạy kèm, nhưng xa quá. Xa tận chợ Hoà Bình, Chợ Quán. Dạy hai buổi trong tuần, đạp xe lần nào cũng tháo mồ hôi hột. Phùng Xuân cũng tính nghỉ cho rồi. Cô học trò cũng tên  Xuân có tật vì bịnh sốt tê liệt. Hai chơn đi yếu nhưng cô bé thông minh, lại siêng học, dễ mến. Gia đình nói con Xuân cho biết thầy dạy hay lắm. Bài toán số học nào khó cách mấy, thầy giải cũng được và giảng lại cho em một cách rõ ràng. Em nó thích lắm. Nhờ thầy kèm, chắc thế nào cháu cũng thi đậu vào đệ thất Gia Long. Làm sao bỏ cho đành với một người học trò chuyên cần như vậy?

Cánh cửa cổng mở. Xuân đi theo người quản gia vào nhà, bước vô phòng khách khá rộng, sáng sủa. Chậu lan kim điệp đang trổ bông để cạnh cửa sổ. Trên tường treo một bức tranh lớn của Monet. Vài tạp chí bỏ lộn xộn nơi góc bàn nhỏ hình chữ nhựt ở cuối góc phòng. Người quản gia mời khách ngồi. Xuân kéo ghế nhưng còn đứng tần ngần nhìn mấy trang báo đang lật bỏ dỡ, cho đến khi người giúp việc mang ra một ly nước đá chanh, Xuân mới chịu ngồi xuống.

Người đàn bà trung niên hiện ra. Tóc cắt hơi thấp, buông xõa lơi lơi gần bờ vai. Đôi môi trái tim tô hồng. Hai mắt rạng rỡ và nụ cười tươi tắn. Xuân bối rối, đứng lên chào hỏi.

-Xin lỗi để cháu đợi quá lâu. Ngày mai cháu đến kèm dùm hai cháu nhỏ. Hình như ngày trước cháu cũng ở Mỹ Tho phải hôn?

– Dạ. Lâu lắm rồi, vào khỏang năm 1948… Ở trong tòa nhà của ông Jacques Lê Văn Đức, cuối đường Hùng Vương, gần bến đò Thạnh Trị. Cháu còn nhớ đám cháy kinh hoàng ở xóm Lò Heo, năm 1950(?), từ khu nhà gần nơi cháu ở lan cho đến sát hông trường Taberd, thiêu rụi gần cả ngàn căn của đám dân nghèo nữa.

– Bác biết rồi. Vậy là?

Con đường Hùng Vương là con đường chính của thành phố, chạy dài từ Dinh TỉnhTrưởng đến bến đò ThạnhTrị. Có cây dái ngựa “ giá ngự”  dọc đoạn nhà thương, theo thành 11ème RIC, đến sân vận động rồi trường Bà Sơ.Còn lại là me từ nhà Thờ, trường Taberd  đến bến đò. Buổi sáng có những xe ba gác đổ phân thùng và xe xích lô chở người đi chợ. Buổi trưa, trời nắng gắt. Con đường vắng hoe. Hình như sự nhộn nhịp của thành phố nằm ở phía chợ, sát bờ kinh Bảo Định, dài qua cầu Quay, dọc theo con đường bờ sông đến ga xe lửa.

Biệt thự của Ông Jacques Lê Văn Đức nằm trong khu đất khoảng nửa mẫu, chung quanh được bao bọc bằng tường gạch chắc chắn, kế bên trường học của dòng Mến Thánh Giá. Có hai khu nhà riêng biệt. Khu dành cho chủ nhân ở với phòng ốc rộng rãi, đẹp đẽ, ra vào bằng cổng chánh. Còn bên trái là căn nhà to, có nhà bếp, nhà kho và hai khu riêng biệt. Phía bên phải có cây da cao, rễ bu chằng chịt, lá phủ um tùm, che khuất tượng Đức Mẹ nằm bên dưới. Phần sau là vườn hoang, đủ thứ cây cối mọc loạn xạ như chuối, mận, khế, sung… Từ lâu hông có ai dọn dẹp. Chủ nhân là người đàn bà luống tuổi, lại bịnh ho lao, hông mấy khi bước ra khỏi nhà.

Ông Trương Văn Mạnh và ông Nguyễn Văn Bạch mướn căn nhà to nầy. Ông Mạnh là một nha công rất giỏi nghề, nghe đâu bà con với nghệ sĩ PhùngHá. Ông ở Nam Vang về Mỹ Tho, mở phòng trồng răng (cabinet dentaire) ở số 28 đường Ariès, kế bên phòng khám bịnh của đốc tờ Nguyễn Kiểng Bá. Ông Mạnh, thời đó chưa quá bốn mươi, sức khoẻ còn dồi dào nên ông tham gia nhiều chương trình thể thao của thành phố như đua xe đạp, bơi lội, đánh tennis, đua xe mô tô. Ông hy vọng có ngày ông sẽ là Phượng Hoàng Lê Thành Các. Nhà ông có một chiếc Harley Davison và một chiếc xe Traction quinze, một tủ lạnh chạy bằng dầu lửa, một cái radio có cặp mắt thần xanh lét để nghe đài Phát Thanh Pháp Á …

Vào lúc đó, ở những tỉnh lẻ làm gì có nha sĩ, chỉ có nha công thôi. Nha công làm đủ thứ: trồng răng, trám răng bị sâu ăn, nhổ răng, làm răng giả, bịt răng. Ngay như đốc tờ thì mỗi tỉnh chỉ có một. Mỹ Tho có đốc tờ Nguyễn Kiểng Bá. BếnTre có Trần Quới Tử. Ông Mạnh lanh lợi, giao tiếp rộng rãi, nên quen biết nhiều thành phần xã hội trong thành phố Mỹ Tho: từ tỉnh trưởng đến người chủ tiệm báo Nam Cường ở cuối góc chợ, gần cầu Quay, đến bác Ba Phước chủ garage sửa xe… Cho nên công việc làm ăn của ông rất phát đạt.

Bên hông căn nhà là một cây trứng cá gốc to gần khoảng một người ôm, cành lá sum sê. Trưa nào cũng có những bầy chim trao trảo bu đầy, kêu trao tráo, nhảy từ nhánh nầy qua nhánh khác, tìm kiếm những trái chín đỏ. Có những buổi trưa hè, ba đứa – Xuân, Phụng và Yvette – chụm nhum nhau chơi những trò chơi của những đứa con nít khoảng tám, chín tuổi dưới gốc cây trứng cá đó. Những buổi trưa đó qua đi nhanh chóng, nhưng Xuân hông bao giờ quên được hình ảnh của cô bé Yvette Đỗ hớt tóc bum bê. Xuân hay len lén xích lại gần, kê mũi sát đầu Yvette. Tóc thơm mùi bông cau nhà ngoại. Có khi cô bé bất chợt quay đầu lại, bắt gặp. Nàng lấy bàn tay vỗ nhẹ lên đầu Xuân mấy cái, cười cười. Nước da Yvette hơi ngăm ngăm và đôi mắt tròn, đen như hai hột nhãn. Đôi mắt đó đã hớp hồn Xuân từ lúc nào hông biết. Mà cho đến bây giờ, ma mắt của Yvette còn ám ảnh chàng mãi mãi trong cơn mộng mị nằm vun vút nơi tiềm thức vời vợi ở cõi Ngân hà xa xăm.

 

*****

– Cháu kèm cho hai em Trọng và Hùng. Tụi nó đều học ở Saint –Exupéry hết. Tuần bốn ngày được hông cháu? Chỉ buổi chiều thôi, chừng hai tiếng đồng hồ, cho tụi nó khỏi mê chơi, lo làm bài vở. Tụi nó có hai con chị, nhưng mà chị tụi nó hông kèm được. Tụi nó lờn chị, hổng chịu học…

Xuân cẩn thận dựng chiếc xe đạp bên gốc cây mận hồng đào trước nhà. Mặc dầu trời nóng nhưng chàng cũng ráng mặc áo sơ mi dài tay. Tóc chải thêm chút brillantine bóng mượt. Cũng giống như nơi nhà cô học trò tên Xuân, buổi học bao giờ cũng có sẵn ly nước đá chanh để trên bàn. Hai đứa bé rất ngoan. Xuân cố gắng dùng hết vốn liếng tiếng Pháp của mình để chỉ bài cho tụi nó sau giờ học ở trường…

Một giọng nói êm dịu ru nhè nhẹ từ sau lưng Xuân.

– Ông thầy giáo nầy dạy kèm trẻ em bằng tiếng Pháp coi được lắm nhe! Nhưng mà thầy chia verbe aimer có rành hôn?

– Yvette? Yvette?Em ở đây sao? Em làm anh giựt mình!

– Thì em là chị của hai thằng nầy mà!

– Vậy em, em là… con của Tata M…?

Yvette hiện ra từ một tinh vân xa vời. Yvette trở về lại với ước mơ của chàng rồi. Yvette đang cười rạng rỡ, sáng ngời. Mái tóc cắt ngắn và uốn cuộn tròn gọn ghẽ. Đôi má vẫn hồng như mận Hồng Đào MỹTho. Đôi mắt vẫn đen nhánh như hai hột nhãn. Cánh áo trắng mượt mà, cái jupe xanh lơ. Xuân nhìn Yvette mê muội. Hơn mười năm xa rồi, Yvette trở thành một thiếu nữ đẹp, đầy nhựa sống. Chàng mơ màng…

– Em còn nhận ra được anh sao?

– Sao hông? Ê! Hai thằng nhóc này đi chỗ khác chơi để tao nói chuyện với ông thầy của tụi bây một lát coi.

– Em nhận ra anh từ lúc nào?

– Từ lúc đầu tiên anh dạy hai đứa nhỏ. Má cho biết có một anh sinh viên chịu kèm tụi nó. Hình như thằng đó cũng đã ở MỹTho. Em rình xem anh dạy cả tháng chớ bộ. Hóa ra anh cũng hông thay đổi bao nhiêu. Hơn mười năm rồi, em vẫn còn nhớ vóc dáng, cử chỉ của anh. Em vẫn còn nhớ anh. Nhớ anh hay hun trộm tóc em!

– Em cũng vẫn vậy. Anh nhớ đến con bé Yvette hớt tóc bum bê. Da ngăm ngăm. Tóc ngọt thơm bông cau. Cặp mắt tròn xoe đen nhánh. Con bé chơi đánh đũa dở ẹt, chơi búng hột me thua hoài.

– Tại con Phụng chớ bộ! Con nhỏ đó chúa ăn gian.

Cặp môi của Yvette trề ra như hồi xưa, nhưng bây giờ như mời gọi… Chàng nhớ đến ngôi nhà của Yvette ở MỹTho, bên hông con đường của dinh TỉnhTrưởng. Chung quanh có nhiều cây bông sứ cùi màu trắng. Bông rụng bay tơi tả sau những con trốt cuốn tròn. Chàng nhớ đến con nhỏ mặc bộ đồ tắm đỏ chói có đốm bông trắng. Đồ nhát như thỏ đế. Cứ mỗi lần bỏ xuống nước là la choai choái và mặt xanh như tàu lá. Mà nước ở cầu tàu sau dinh Tỉnh Trưởng đâu có gì là lạnh và sâu lắm đâu! Nước ròng còn nhìn thấy lườn tàu, chìm hồi Thế Chiến thứ hai, trồi lên ở kế bên chưn cầu tắm. Cá nóc (Cá nóc sông, nhỏ chừng bằng ngón tay cái ) đâu cắn chim con gái được! ChắcYvette sợ nước và sợ ma da. Cô bé sợ ma da cũng có lý vì nhiều người đã chết chìm ở đây. Rồi sau đó con bé cũng lần lần dạn nước và lội chó cà chủm cà chụp trong cái phao màu mè nhỏ bé…

– Hôm nay anh tính nói với má em cho anh xin dạy ba ngày cuối tuần thôi.

– Còn mấy ngày đầu tuần anh đi đâu?

– Mấy người bạn cũ rủ anh đi Tây Ninh cùng dạy học trên đó.

– Anh hông tiếp tục đi học nữa sao?

– Có chứ! Phải có tiền anh mới  học lên nữa được.

– Anh cẩn thận lúc đi tỉnh xa. Tình hình lúc rày hông yên ổn gì mấy. Em vừa đọc báo sáng nay, thấy có trận đánh lớn ở Ấp Bắc (ngày hai tháng giêng năm 1963).

– Việt Cộng khuấy động. Hổng hiểu tình hình đi đến đâu. Mình sống cũng gần được mười năm an lành ở miền Nam rồi.

Rồi sau đó, có những buổi chiều, hai đứa lang thang trên đường phố. Hai chiếc xe đạp chạy cặp song song nhau, nói chuyện trời đất, mưa nắng… dưới những hàng me lão rụng đầy lá sau cơn gió mạnh. Những ngày bát phố mệt nhoài rồi kết thúc ở tiệm cháo cá trong khu chợ cũ. Đôi khi, hai người ngồi dưới gốc thông già trong vườn Bồ Rô. Cặp môi hôn mọng mềm của Yvette vẫn ngọt ngào như sa bô chê chín, như những trái trứng cá chín đỏ hồng thuở xưa… Yvette lượm những trái thông khô rồi liệng đi tứ phía.

– Mình đừng làm như vậy. Hãy chất thành đống cao.

– Tại sao mình?

– Quăng chúng đi lộn xộn, mình sẽ bị chia lìa.

– Ờ hé! Mình  tin dị đoan dữ hôn.

 

 

*****

Trường Trung Học Tư Thục Tiến Đức ở bên kia đường, đối diện với bến xe Tây Ninh. Khoảng năm 1958 đến 1963, học trò đi học càng ngày càng đông. Trường công ở tỉnh hông đủ cung ứng cho số lượng học sinh quá nhiều. Hơn nữa, trường Trung Học Đệ Nhứt Cấp Lê Văn Trung ở gần ngã ba Ao Hồ, trong khu vực Tòa Thánh Cao Đài, đã đổi thành trường bán công. Ở nội ô Tòa Thánh chỉ có một trường Tiểu Học dạy đến lớp nhứt: Đạo Đức Học Đường, ngoài ra hông có một trường Trung học nào khác. Một số thầy cũ của Jumoir Vương Mạnh Tuấn đứng ra xin phép mở trường Đệ Nhứt Cấp. Cũng có một số người có của, đứng ra kinh doanh. Họ bỏ tiền cất trường lớp rồi thuê một người có bằng cấp cao làm Hiệu Trưởng. Xong, kêu gọi các sinh viên đang học Đại Học dạy ăn lương giờ. Điều khá đặc biệt là khi đó hông thấy bóng dáng các bà, các cô đi dạy học ở tỉnh lẻ.

Trường Tiến Đức là một loại trường kể trên. Ông Ysup-một người Ấn ở Việt Nam lâu đời, có vợ Việt- đứng ra xây cất, mướn thầy Lê Thanh Tâm làm Hiệu Trưởng. Trường chỉ có một dãy gồm bốn phòng học, dành cho từ lớp Đệ Thất đến Đệ Tứ. Học sinh gồm các làng gần chung quanh như Thanh Điền, Bàu Sen, Trảng Lớn… hoặc miệt xa hơn Tầm Long, BếnSỏi đều tụ về đây.

Số học trò quá đông. Mỗi lớp nhồi nhét đến 60, 70. Có lẽ Ông Giám Đốc muốn kiếm lời nhiều nên hông phân bớt lớp. Nhiều khi lớp Đệ Thất bên nầy tập đọc Anh Văn hay Pháp Văn to tiếng, những lớp bên kia hổng học được. Thầy HuyThắng hay phàn nàn nhiều nhứt. Đành chịu vậy thôi. Vách ngăn lưng chừng của lớp học chỉ cao khoảng ba mét hông đủ chặn tiếng vang lan ra cả toàn trường. Thầy Hiệu Trưởng Lê Thanh Tâm cũng nêu ý kiến đó với ông Giám Đốc Ysup. Ông nầy cười. Để coi. Người Ấn đã tính toán bỏ vốn liếng ra có bấy nhiêu thì phải lấy lời vô cái đã.

Những ngày nóng nực, học trò đua nhau cầm tập vở quạt sành sạch. Đứa nào đứa nấy mồ hôi mồ kê tuôn ra như lổ mội,  chảy dầm dề. Em trai bị ướt thì cổi nút áo phanh ngực. Còn các em gái thì đâu làm vậy được, chỉ vén tóc lên cao thôi. Tội nghiệp, áo mỏng của các em gái ướt như mắc mưa. Chúng nó đành quạt lia quạt lịa, cố đẩy lùi cái nóng cháy người từ trên mái tôn hắt xuống. Các em xin đi uống nước và đi đái lia chia. Mỗi lần thấy chúng nó dơ tay lên, thầy giáo hông cần biết chúng xin gì, chỉ cần khoát tay là xong. Xuân cầm cuốn sổ điểm danh nóng hổi mà hông đành lòng gọi các em lên đọc bài. Thầy cũng bực bội như em vì cái cravat cứ vướng ở cổ!

Học trò lại còn khổ hơn nữa trong lúc mưa dông. Mây đen kéo tới mù mịt. Trời tối om.Hông có một bóng đèn. Mưa nổ lốp đốp trên mái tôn. Đây là dịp học trò nói chuyện dậy trời đất. Làm gì để trách mắng chúng bây giờ? Hổng học được thì nói chuyện chớ làm gì? Gió mạnh. Mưa tuôn tóe vào lớp. Thầy trò dồn vào một cục về phía cuối góc. Có đứa né tránh hông được, bị ướt như chuột lột. Mưa nhiều khi rí ra rí rích, kéo dài cho đến hết giờ học. Học trò tuôn nhau ra về dưới cơn mưa còn nặng hột.

Trình độ và tuổi tác học sinh cũng chênh lệch nhau quá nhiều. Những em thi rớt vào trung học, những trò đi học trễ vì nhà nghèo… đều vào trường tư. Cha mẹ làm lụng quần quật, mong cho con cái có chút chữ nghĩa, có chút bằng cấp để thoát khỏi cảnh nghèo khó.

Cho nên, có những em ở độ tuổi 15, 16 học lớp Đệ Thất và 17, 18,19 tuổi học lớp Đệ Ngũ, Đệ Tứ. Thầy giáo nhiều khi hông lớn tuổi hơn học trò bao nhiêu. Sự hiểu biết của ông thầy về xã hội bên ngoài đôi khi thua xa những em lớn tuổi.

Một buổi sáng, thầy Đỗ Bá Chúc đang dạy giờ Sử Địa. Đám học trò lớn tuổi ở cuối lớp bu quanh trò Trung Tín, chúi đầu vào nhau đọc cái gì đó và xì xầm bàn tán. Thầy Chúc để ý nhiều lần. Cuối cùng thầy ném cục phấn về tụi nó. Cả bọn lấm lét, thậm thụt chuyền tay nhau một cuốn tập. Thầy Chúc ngưng dạy, đi xuống bàn chót, đến ngay nơi em lớn tuổi nhứt.

– Trung Tín! Đưa cho thầy cuốn tập!

– Dạ. Hông phải của em, thầy!

– Của ai không biết. Đưa cho thầy. Mau lên.

Trò Tín do dự nhưng rồi cuối cùng cũng đưa cho thầy Chúc. Học trò tỉnh lẻ vẫn ngoan ngoản và có lễ phép. Tụi nó rất kính mến thầy, chưa bao giờ tỏ ra vô lễ với thầy. Ngoài giờ học, chúng nó khoanh tay cúi đầu chào khi gặp những giáo sư cùng dạy học ở trường.

Thầy Chúc mở cuốn tập gấp làm đôi, nhầu nát. Cái gì mà tụi nó chuyền tay nhau đọc dữ vậy? A! Cái tựa nghe hấp dẫn: “ Bảy đêm khoái lạc ”. Thầy xếp tập lại, nghiêm nghị nhìn tụi nó rồi làm như hông có gì, thầy tiếp tục giảng bài cho đến cuối giờ học.

– Trưa nay, lúc em Huân đem cơm tới nhà cho mấy thầy. Em Tín nhớ đi theo gặp thầy lấy cuốn tập nầy về.

Trò Tín xanh mặt. Nó nghĩ trưa nay thế nào cũng bị các thầy xạc cho một trận. Mà nếu mét ba má thì nguy hơn. Các học trò gái đều quay mặt nhìn nó. Chắc có gì quan trọng lắm đây, mới đi tới gặp thầy?

 

*****

– Ê! Thắng, mầy có đọc cái tập: “Bảy đêm khoái lạc” chép tay nầy bao giờ chưa?

-Chưa. Hồi nhỏ đi học thì chỉ biết những điều tốt lành trong Quốc Văn Giáo Khoa Thư, đâu có biết gì. Lúc học ở lớp Đệ Ngũ, có nghe tụi bạn nói. Hình như cuốn đó dịch từ tiếng Pháp: “Les sept nuits merveilleuses”, nói về chuyện tình dục vợ chồng trong một tuần lễ hưởng tuần trăng mật.

– Thằng Thắng nói đúng đó. Tao đã đọc qua rồi. Nhưng lúc đó còn nhỏ quá, mới 17 tuổi mà. Học trò tỉnh lẻ mà, còn khờ lắm. Đọc xong rồi cũng quên hết. Đâu có dám đem cuốn tập đó về nhà. Tụi tao chỉ lén đọc trong giờ ra chơi.

– Mầy đọc ở đâu Tuấn?

– Ờ! Để tao nhớ lại, Chúc… A! Lúc đó tao đang học ở trường Lê Văn Trung,Tây Ninh, lớp Đệ Lục E, khoảng năm 195… gì đó. Hông hiểu ở đâu mà thằng Bá Chưởng có. Nó lén lút chuyền tay cho tụi tao. Kể cũng lạ, vì đó là trường đạo, trong vùng Cao Đài mà. Học sinh đều phải đọc kinh trước khi vào học. Tao chỉ  còn nhớ: “Đại từ phụ xin thương khai khiếu.Giúp trẻ thơ học hiểu văn từ”… Ngày nào cũng có chào cờ, sau đó hát bài:’Học sinh hành khúc”. Học trò thời đó ngoan lắm: gặp lúc chào cờ phải đứng nghiêm, bỏ nón xuống; gặp đám ma phải dỡ nón ra; gặp thầy cô cúi đầu chào… Tụi tao đi học còn mặc quần xà lỏn và đi chơn không mà! Gặp con gái còn mắc cỡ thấy mồ tổ. Có bao giờ dám tới gần tụi nó đâu, chỉ cáp đôi tầm bậy tầm bạ chơi chơi vậy thôi. Tụi nó cáp đôi tao với con Thia.Tao sợ gần chết, hông dám ngó nhỏ đó.

Chắc rồi, có lẽ ảnh hưởng của văn minh ngoại quốc tràn ngập vô Việt Nam nên mới có loại sách khiêu dâm như vậy. Vào những năm đó, nhà trường có rất nhiều sách báo của Mỹ cho không cho học sinh như: Thế Giới Tự Do, Sự Thành lập Hiệp Chủng Quốc…

– Còn tao…

– Còn mầy sao hả Thiệu?

– À. Lúc nhỏ tao học Taberd. Cuối tuần chỉ biếtTarzan, Zorro, Charlot, Laurel-Hardy, mấy phim của Mỹ đánh với “mọi da đỏ”và những cưốn hình vẽ: “Tintin”… nhờ số bon points của mấy frères thưởng. Tao vào Sài Gòn năm 1957. Rồi thì mình cũng lang thang ngoài phố. Có mấy tay cứ vò vè bên mình, xòe ra các tấm hình các cô gái ở trần ở truồng và mấy cọc tập giấy nhỏ. Tụi nó lấy tay bung rẹt rẹt, hiện ra cảnh làm tình của cặp nam nữ. Nó cò  mồi để mình mua. Mình mắc cỡ, te te bỏ đi chỗ khác.

– Còn tớ nghĩ trong cuốn tập đó tả còn thua Nguyễn Du nhà mình nữa. Chỉ có bảy đêm thôi. Trong truyện Kiều là: ‘Vành ngoài bảy chữ, vành trong tám nghề”.

– Mầy nói đúng đó, Thuyên. Mà thôi, đừng nói đến chuyện đó nữa. Bây giờ tụi bây nghĩ có nên trả cuốn tập nầy lại cho mấy thằng học trò tinh ma đó hông. Theo tao, nên trả cuốn tập lại cho tụi nó. Giữ lại, mang tiếng là mình cũng đọc như bọn nó. Mà tao nghĩ đám đó hông chỉ có một cuốn nầy thôi đâu. Nhứt quỉ, nhì ma, thứ ba học trò. Chắc còn có nhiều cuốn khác của những thằng trời đánh nào đó cho tụi nó mượn. Mất cuốn nầy rồi tụi nó càng chép thêm nhiều cuốn tập khác nữa. Cũng vậy thôi.

– Thằng Xuân nói nghe có lý. Trả lại cho rồi. Xong nói cho tụi nó là các em còn nhỏ, nên cố gắng học hành, đừng nghĩ lung tung lang tang xao lãng việc học, phí công cha mẹ.

– Thằng nào giỏi thì giảng morale cho tụi nó. Còn tao thì hông được. Tao đã có một cuộc sống bồng bột ở cánh đồng Mỹ Nhiên rồi. Tao đâu có tư cách gì mà dạy dỗ đám học trò xấp xỉ tuổi mình.

Mầy nghĩ coi. Trong đời sống xã hội mình, trai gái vừa mới lớn lên đều phải tự tìm hiểu tình dục. Từ chuyện coi chó nhảy đực, heo bỏ nọc, vịt xiêm cồ quầng con mái cả buổi dưới nước… Rồi bọn mình tưởng tượng ra là mình cũng giống như vậy. Cha sanh mẹ đẻ đâu có ai dạy. Họ coi những điều đó như cái gì cấm kỵ, hông ai dám nói ra. Mẹ sanh con ra ở đâu? Ở bụng mẹ!

Mà có nói ra thì thường ví von. Mầy cũng thừa biết là bọn đàn ông gặp nhau bên bàn tiệc rượu thế nào cũng có những câu chuyện tiếu lâm. Họ nhắc đến cái đó nhiều nhứt. Rồi trong câu đố cũng đầy dẫy đó.T ụi bây xem câu đố nầy có phải cảnh làm tình giữa trai và gái có hơn trong: “Bảy đêm khoái lạc” hông?

 

Mình tròn vành vạnh, đít bảnh bao,

Mân mân mó mó đút ngay vào.

Thủy hỏa tương giao sôii sình sịch.

Âm dương nhị khí sướng làm sao!

(hút thuốc lào)

 

Đám giáo sư trẻ thắc mắc: liệu cái nhóm học trò gái có bị mấy thằng học trò trai quỷ sứ nầy dụ coi những cuốn tập đó hông? Ai mà biết được học trò thời bây giờ. Văn minh Âu-Tây như cơn gió lốc, đang tràn ngập thành phố Sài Gòn. Tuổi trẻ đang bắt đầu bị tiêm nhiễm lối sống thực dụng và hiện sinh… Quần cao bồi ống rộng, đầu tóc bồng bềnh, điếu thuốc ngậm phì phà là cái mốt. Tình yêu của những đợt sống mới nhen nhúm: nhóm CTYở Sài Gòn, tập thơ: Em Là Con Gái Trời Bắt Xấu của Lệ Khánh. Cuốn tiểu thuyết Bonjour Tristesse (Buồn ơi!Chào mi) của Francoise Sagan được dịch ra, bán tràn hè phố Lê Lợi.

Thời mới lớn lên của đám giáo sư trẻ nầy ở thành thị chỉ biết Oh, Bernadine…, La guerre et la Paix (ChiếnTranh và Hoà Bình), Giant (Vĩ Đại), Le riz amer (Hạt gạo cay đắng), Olé! O’ Cangaceiro… ở những rạp Lê Lợi và Vĩnh Lợi. Phim Pháp, chiếu ở màn ảnh nhỏ, toàn phim đen trắng chỉ có Trung Tâm Văn Hóa Pháp.Ở mấy quận hơi xa nội ô, chiếu toàn phim Ấn Độ và đôi khi phim Nhựt Bổn như Bạc Trắng Lửa Hồng…..

Chắc đám học trò gái nầy cũng tiêm nhiểm trào lưu mới nầy nên chúng bám riết các thầy giáo trẻ. KimHoàng đeo thầy Vương Mạnh Tuấn, Ngọc Cúc chận thầy Nguyễn Thiệu lại hỏi bài miết và Bình Quang thường mang trái cây cho thầy Xuân. Thầy Tuấn là thầy đẹp trai nhứt trong đám giáo sư dạy ở trường. Thầy là con lai mang hai dòng máu Ấn-Việt. Hai cặp chơn mày dài đậm. Mũi cao. Miệng rộng, lúc nào cũng chúm chím cười. Thầy luôn luôn sức dầu thơm loại gì mà tụi nầy luôn gọi là mùi cà ri.

 

– Ê! Jumoir. Mầy có tính tới hông. Bọn tớ thấy Kim Hoàng câu mầy mấy tháng nay. Nhất định là nàng hông tha mầy đâu.

– Thằng Chúc nói đúng đó tụi bây. Còn Ngọc Cúc nữa chi. Tao nghĩ tụi bây nên làm đám cưới cho rồi. Đám học trò mà đồn rùm lên, tụi mình cũng khó dạy ở đây.

 

Rốt cục rồi cũng có hai cái đám cưới. Bình Quang càng đeo riết thầy Xuân. Chọn những ngày nào thầy Xuân ở lại và lợi dụng chỗ quen biết với Ngọc Cúc và Kim Hoàng, nàng thường xuyên đem tới đủ thứ trái cây và các loại bánh.

Chiều nay ông Giám Đốc Ysup mời các giáo sư ăn cà ri thỏ. Đã ăn một lần, Phùng Xuân hông thích mùi vị nồng nặc của cà ri Ấn nên ở nhà.

Cả tỉnh Tây Ninh hông có chỗ nào để đi chơi. Sau bốn giờ chiều, cảnh vật vắng lặng. Con sông chia hai thành phố. Một bên là khu hành chánh, có đường sá sạch sẽ, ngăn nắp. Còn một bên là khu buôn bán. Đọan đường ngắn hông đầy năm trăm thước từ cầu Tây Ninh đến ngã tư đi Trảng Sụp-Thanh Điền-Tầm Long có nhiều tiệm ăn, quán sá và rạp chiếu bóng… Còn phía dưới là chợ búa, hàng tạp hóa… Nơi nầy rộn rịp vào buổi sáng, trưa vắng hoe và buổi chiều tối có bán chè, cháo, hủ tiếu và các món ăn vặt…

– Em đem cho thầy nhiều quá vậy?

– Đâu có gì thầy. Chỉ mấy thứ trong vườn của em thôi: đu đủ, chuối, mận, mãng cầu…. Còn bánh thì em làm.

– Bây nhiêu đó thì thầy ăn cũng hông hết. Thầy chỉ ở đây có mấy ngày thôi.

– Thầy đâu có đi chợ mua được trái cây đâu. Thầy chỉ ăn cơm trong gà mên hông hà!

– Mà nè, Bình Quang. Thầy còn thấy trong giỏ đệm em đem ra có thêm một bộ pyjama và mấy cái quần cụt nữa. Bình Quang!

– Dạ!

– Em lập tức lấy bộ pyjama và mấy cái quần bỏ lại trong giỏ đệm.Nếu hông, thầy hổng lấy bất cứ cái gì hết. Mau lên!

Tiếng nói gay gắt của Xuân làm Bình Quang sợ sệt. Nàng vội vàng cầm mớ quần áo đút lại vào trong giỏ. Đôi mắt rơm rớm nước nhìn Xuân.

– Em mới học may. Nên tập may thử mấy cái đó cho thầy.

Xuân quay lại.Trong bóng tối lờ mờ của buổi chiều tàn, hai mắt Bình Quang ươn ướt như hai viên sỏi đen nằm trong lòng suối trong veo ở núi Điện Bà. Thầy ơi, em thương thầy lắm. Sao thầy lại hờ hững với em như thế. Biết bao là công lao khó nhọc, em phải thức đêm thức hôm lén mẹ may những áo quần nầy cho thầy. Thầy hãy nói cho em biết là thầy có thương em hôn? Em khổ nhiều rồi. Sao thầy nỡ khắt khe với em như thế? Hai con nhỏ quỉ kia cứ chế nhạo em hoài. Sao mầy cua thầy Xuân dở thế. Hông giống như tụi tao chút nào.

Hai người nhìn nhau. Xuân biết, bây giờ chỉ cần môt cử chỉ thân mật là mọi việc sẽ thay đổi tất cả. Ông thầy đâu hơn cô học trò  bao nhiêu tuổi. Chắc hai, ba tuổi là cùng. Như thế có được hôn? Đâu có ai cấm cản nó làm điều đó? Nhưng đây hông phải là cánh đồng hoang Mỹ Nhiên. Ở đây, có nhiều người. Ở đây, Xuân là một con người khác-một thầy giáo, đạo mạo trong bộ quần áo tươm tất, đứng giữa một đám học trò ngây thơ, hiền lành, chất phác. Xuân sao dám lợi dụng lòng kính trọng của đám học trò mình thương yêu? Và hơn nữa sự tin yêu của Yvette?

 

– Thôi em đi về đi. Trời sắp tối rồi. Nhớ cẩn thận lúc đi qua cái trảng gần Bàu Sen trước khi quẹo vào nhà em. Đừng có khóc nữa. Hãy lau sạch nước mắt rồi hãy về. Nếu hông, ngày mai thầy gọi lên trả bài Pháp văn. Em hông thuộc, thầy cho em cặp mắt kiếng.

Bình Quang ngoan ngoản lau khô nước mắt, rồi đi xuống nhà sau rửa mặt…

 

 

*****

Yvette đón Xuân ở bến xe Ngã Sáu Sài Gòn. Bữa nay nàng diện một cái áo dài vải mousseline trắng nõn. Tà áo bay nhè nhẹ trong ánh nắng chiều. Nàng có bao giờ bận áo dài đâu. Là dân học ở trường Tây, nên cô nàng hiếm khi mặc áo dài bó sát người. Nàng sợ nhứt là ngày nóng nực, mồ hôi tuôn ướt, áo dài làm rộ rõ những đường cong mềm mại của con gái. Chiều ý mình một lần nầy thôi nhé. Mình hông mặc nữa đâu á! Ừ thì chiều một lần thôi mình. Cũng như mình chìu mình ăn miếng fromage Camenbert hôi mùi  thui thúi.

– Mình có bao giờ mò đến những tiệm chuyên bán đồ ăn Tây đâu.

Mặc dù Tây đã về xứ từ lúc Ngô Đình Diệm còn làm Thủ Tướng, nhưng sót lại một số dân Sài Gòn vẫn sính Tây. Cho con đi học trường Tây, tên Tây, khoái đồ ăn Tây, sà bông Tây, son phấn Tây… Hông hề biết rằng Tây xuống giá rồi và văn hóa Mỹ đang tuôn vào Việt Nam nhanh chóng. Phòng Thông Tin Hoa Kỳ nằm chình ình ở đường Nguyễn Huệ, còn Trung Tâm Văn Hóa Pháp ở mãi cuối đường Gia Long, gần nhà thương Grall.

Phùng Xuân dẫn chiếc Vélo Solex. Hai người đi chầm chậm ra đường Võ Tánh, quẹo trái về tiệm phở 79 rồi tà tà đến đường Bùi Chu. Tiệm Radio Bốn bể, bán radio và những phụ tùng sửa máy thu thanh. Bà cô ba Son của Xuân có ba người con gái. Người thứ hai là chủ tiệm Radio Bốn Bể. Người thứ tư có nhà in ở đường Nguyễn An Ninh. Bà cô ba vướng víu chuyện tình duyên trắc trở phải bỏ làng ra đi từ lâu.

– Mình đi đâu bây giờ? Em có thích ăn kem hôn?

– Có. Nhưng mà mình hông muốn đến Mai Hương và những tiệm kem ở đường Lê Lợi và Tự Do đâu. Ở đó ồn ào lắm.

– Vậy thì mình đến Phi Điệp đi. Nơi đó yên tĩnh hơn.

Hai người ngồi đợi. Xuân nhìn nàng. Yvette hơi thẹn, lấy tay vuốt những sợi tóc mai vào ven tai. Có điều gì nhè nhẹ len lén đi vào tâm hồn. Xuân nhận thấy một niềm hạnh phúc tràn đầy. Niềm hạnh phúc mà từ lâu Xuân hông có được. Đối với những người tình đã đi qua- có sự khác biệt mà Xuân nhận biết được. Khanh có nét hồn nhiên, mộc mạc dân dã. Sự tươi trẻ như thời hoang sơ của Vân làm chàng mê muội. Bồng bột và bất cần của Loan gây cho Xuân biết bao nhớ nhung. Yvette là sự hoài niệm sâu xa từ trong tiềm thức sống lại như thuở đầu tiên.

Yvette từ từ múc từng muỗng kem dâu màu hồng đưa vào miệng. Vị ngọt tươi mát đang lần lần thấm vào cổ họng đi xuống bao tử. Buổi trưa Sài Gòn, nắng hun hút, đầy đom đóm, nhưng ngồi trong đây nàng cảm thấy bình yên. Hình như có một chỗ dựa vững chắc nơi người tình đến từ nơi nào xa vời vợi của tuổi lên tám, lên chín.

– Ghê chưa! Em như tiên nữ đang tắm nơi dòng suối.

– Anh làm em mắc cỡ gần chết. Em ghét mưa SàiGòn.

– Ai biểu em hôm nay mặc đồ trắng mỏng te làm chi. Trời mưa tháng năm mà em. Coi kìa. Người em lồ lộ như một bức tượng. Rõ màu trong ngọc trắng ngà (Kiều). Để anh lấy áo của anh choàng cho em.

– Đồ quỉ anh nè! Tại anh bắt em bận áo dài. Còn xúi em tới Thiết Lập để may áo cho đẹp. Bây giờ anh lại chối!

– Áo dài làm đẹp người con gái Việt Nam mà em!

Trời đầu tháng sáu. Mưa nắng Sài Gòn đột ngột, lạ lùng. Người đứng bên kia đường ướt như chuột lột. Người bên nây đường khô queo, nóng như đứng trong giàn xấy dừa. Mưa tuôn cái rào, rồi lại ngưng. Nắng hừng hực trở lại. Cầu vồng hiện lưng chừng bầu trời. Móng dài thì nắng. Móng vắn thì mưa. Hông hiểu có phải như vậy hông. Nóng bưng lên đầu. Mặt đường tỏa hơi. Đủ thứ mùi vị xông lên. Mùi ống cống, mùi đống rác hôi thúi, mùi người, mùi xăng xe, mùi sình lầy, mùi thức ăn, mùi đờm phun ra phèn phẹt vung vãi khắp đường xá. Tất cả pha lẫn lộn làm cho không khí  sau cơn mưa lại thêm khó chịu.

Sài Gòn oi bức. Sài Gòn thân mến đang ngột ngạt, khó thở vì ảnh hưởng phong trào đấu tranh của Phật Giáo miền Trung do Thích Trí Quang cầm đầu.

– Trời ơi! Trông ghê quá các thầy ơi.

– Cái gì mà ghê dữ vậy, thầy hiệu trưởng?

– Ngày hôm qua 11 tháng 06, lúc từ Tây Ninh về Sài Gòn, gần đến ngã tư Lê Văn Duyệt và Phan Đình Phùng, xe đò bị chận lại. Đợi lâu quá, tôi hỏi anh lơ xe. Có chuyện gì vậy? Hổng biết nữa. Mấy ông sư, đông lắm, vừa đi vừa gõ mõ tụng kinh theo sau một chiếc xe hơi. Mấy ổng bít ở chỗ đó rồi, làm sao chạy được.

Mình nghĩ chắc có chuyện gì đây. Xuống xe. Đi bộ. Chen qua đám người đến ngã tư. Một ông sư đang ngồi im, hông động đậy. Một số đông sư đang tụng kinh gõ mõ vang trời. Cảnh sát chung quanh cũng án binh bất động, hông phản ứng gì cả.

Bất thình lình, có một nhà sư xách một can xăng nhanh nhẹn tưới lên ông sư đang ngồi im. Thôi chết rồi, họ đốt ông sư nầy chắc, tôi tự nghĩ. Mà thật, ông sư rưới xăng vừa ra khỏi là lửa bùng lên.

– Thầy nói sai. Tôi vừa đọc báo sáng nay. Ông sư tự thiêu mà. Ổng tên là Thích Quảng Đức.

– Sao mầy biết ổng tự thiêu hả Thiệu? Tao cũng đọc nhựt trình như mầy. Mà tao hỏi thiệt mầy nhen. Nếu ổng tự thiêu, sao ổng hông tự đứng lên, bưng lấy can xăng đổ vào người ổng, rồi ngồi xuống đàng hoàng tự châm lửa, đốt. Đàng nầy ổng ngồi im như chết, đợi người khác rưới xăng lên mình. Tức là ổng làm sao đó?

– Ổng làm sao đó là làm sao hả Xuân?

– Mầy có cách suy luận khác?

– Thôi, các thầy đừng tranh luận nữa. Đến giờ dạy học rồi.

 

*****

Vì ngày 11 tháng 06 năm 1963 là ngày thứ ba. Phùng Xuân kẹt những giờ dạy. Cuối tuần, Phùng Xuân hối hả về Sài Gòn. Có cái gì liên quan giữa Mỹ-Việt Cộng-Phật Giáo trong mấy tháng nay? Họ tung hứng nhịp nhàng lắm. Ông Diệm hông cho Mỹ đổ bộ vào Miền Nam? Phật Giáo muốn khuynh đảo chính trường, đưa họ trở lại như thời Lê, Lý,Trần? Việt Cộng muốn tấn công miền Nam? Mình hông hiểu nổi. Báo chí thì đăng tùm lum. Họ đang hùa theo PhậtGiáo. Mấy ông sư độ rày có giá.

– Mình có biết tin nhà sư tự thiêu hông, Yvette?

– Có, mình. Đọc nhựt trình. Báo nói theo báo. Ra đi ô nhà nước nói theo nhà nước. Hông biết đâu mà lần?

– Sao lạ vậy? Anh hông hiểu có chuyện gì? Đi dạy ở tỉnh lẻ, cuộc sống buồn tẻ lắm. Chuyện xảy ra ở Sài Gòn gần như hông ảnh hưởng đến đời sống thường ngày của họ.

– Chỉ có nghe một tin duy nhứt, mà hổng biết đúng hay là sai.

– Tin gì vậy em? Có là tin giật gân hông?

– Cũng gần như vậy. Chắc là tin ngoài lề. Bêu xấu nhau. Người ta đồn, có một chú tiểu tên Chấn nào đó, trốn quân dịch. Nói anh ta là người ngồi chờ, cầm móc sắt để vít trái tim của nhà sư Thích Quảng Đức ra ngoài cho khỏi bị cháy thành tro.

– Có như vậy sao? Chắc là tin chó cán xe. Hổng có ai mà tin được đâu, trong tình thế như vầy nè. Em cẩn thận khi nói tin nầy cho người khác biết. Tình hình đất nước mình lúc rày sao nghe nó ngột ngạt quá. Ngoài Trung tự thiêu, trong Nam biểu tình. Hình như có nhóm sinh viên cũng rục rịch xuống đường. Mấy ông sư làm dữ quá. Mà thấy, ông Diệm có đem lính đàn áp đâu? Anh nghe đài Mặt Trận Giải Phóng chửi ra rả, riết rồi cũng phát chán. Cuối tuần mình đi đâu cho khuây khoả đi. Ở trong nầy hoài ngộp thở lắm.

– Mình đi về Chợ Đệm ăn cháo lòng đi mình. Qua khỏi quán Ba Râu ở cầu Bình Điền là tới chớ gì!

– Hơi xa đó. Hay là mình  đi chỗ nầy…

Hai đứa qua ngã tư Hàng Xanh rồi đến Cầu Sơn. Họ dẫn xe lên cầu Kinh, đứng nhìn dòng nước đục ngầu. Cầu Sài Gòn còn mới tinh, nằm vắt ngang qua con sông rộng. Phía trước là Bình Quới. Đạp xe len lỏi qua những hàng dừa mát rượi, hai đứa  tới  bờ sông.

– Cùn đường rồi mình. Bên kia là đâu?

– Đây là bến đò. Bên đó là ThủĐức.

– Mình chưa bao giờ tới chỗ nầy? Sao mình biết ở đây?

– Lúc anh còn học Trung Học. Nhà lúc đó nghèo lắm. Vừa mới từ Bến Tre dọn lên. Đâu có nhiều tiền để đi coi xi nê. Anh phải đi kèm trẻ như bây giờ. Thỉnh thoảng chủ nhựt nào cũng đạp xe cùng một vài người bạn về những vùng ngọai ô để vui chơi. Anh hay tới đây, ngồi ở dưới gốc dừa, đọc các cuốn sách bán dọc vĩa hè. Và những lúc sau nầy nữa, trước khi đi dạy, để đọc những cuốn em cho mượn:Le nouveau classe của Milovan Djilas, La guerre et la Paix (Chiến Tranh và Hòa Bình), Anna Karenine,… của Léon Tolstoi, Le Crime et Châtiment (Tội ác và Hình Phạt),…của Dostoiesky, La mère (Người mẹ) của Maxime Gorky. Và cả cuốn Graziella (của Lamartine) mơ mộng, hồn nhiên, trong trắng. Riêng cuốn La Porte étroite (Cánh cửa hẹp) của André Gide đã dẫn anh tới: Retour de l’URSS(Trở về từ Liên Bang Sô Viết) làm anh miên man nghĩ đến chế độ Cọng Sản. Vốn liếng tiếng Pháp của anh đâu bằng em. Anh cũng hiểu lỏm bỏm thôi em à!

Thế nào em? Có cái gì  trường tồn được với thời gian. Trãi qua từ thế hệ nầy sang thế hệ khác, ước mơ về một cuộc sống công bằng, tự do vẫn là một lý tưởng tuyệt vời. Anh thấy bao giờ lý tưởng đó cũng xa vời vợi. Niết Bàn đâu ở đâu xa, hơn ngàn năm vẫn mù mút mắt. Cõi đời sau an bình nơi nước Chúa xa tít mù xa hơn cả nghìn năm nay. Đừng hy vọng tìm thấy Thiên Đàng ở cõi đời sau mà hãy cố gắng tìm kiếm Thiên Đàng ở cõi đời nầy.

Phùng Xuân ngồi tựa lưng vào gốc dừa, ngó ra dòng sông rộng đang chảy cuồn cuộn, nói miên man. Yvette nằm gác đầu lên hai bắp vế người tình, trìu mến nhìn người yêu dấu. A! Lại có người trai trẻ mơ mộng…..

– Lần sau mình về lại Mỹ Tho đi nghen mình!

– Ờ, hén, mình. Rồi mình chắc chắn sẽ trở lại MỹTho.

– Sao lại chỉ có mình mình. Còn con mình nữa chứ mình?

Chàng thanh niên hông quay lại nhìn người tình. Xuân thầm nghĩ: Có được như vậy hôn?

 

 

*****

Ngọc Tiền là một cây te trong làng bum của nhóm bạn bè đang học Văn Khoa. Gia đình nào có mở tiệc nhảy đầm là có bóng dáng xừ- lũy. Người hơi cao cao, hông bô trai lắm nhưng lũy nhảy cha cha cha, bì bộp, pasodoble… coi thanh thoát. Khi còn học Đệ Nhị, Đệ Nhứt ở PéTrus Ký, lũy đâu có thời giờ nhiều để mà nhảy đầm, còn phải lo gạo nữa chớ. Nếu hông, làm bùi-kiệm thì lúa. Ông bà già nhằn cho sói trán. Sau khi đậu bằng TúTài hai, nó nhảy nhiếc tỏ ra hăng say hơn. Vậy mà năm nào cũng vớ được một cái chứng chỉ. Hông hiểu năm nay ra sao. Mặc kệ. Lũy cứ tiếp tục te cho đả. Ông bà già hăm nó. Năm nay rớt thì cúp tiền. Gặp Xuân và Yvette trong tiệc nhỏ cũng có xập xình kèn trống.

– Ê mầy. Nghe tụi nó nói lúc rày mầy trở về Tây Ninh, dạy ở trển phải hông mậy? Có được nhiều địa hông?

– Làm gì nhiều? Dạy ít giờ để có tiền học thêm vậy mà. Làm nghề bán cháo phổi cũng hông chắc được lâu đâu? Tình hình lúc rày đang hồi rối ren lắm. Biểu tình chống đối tùm lum. Ba bốn thế lực chực lăm le giành giựt. Chiến tranh đang sắp mở màn. Hổng khéo tụi mình sẽ bị động viên hết. Mầy chắc hông có thời giờ để nhảy nhót nữa đâu.

– Tao cũng nghe nói có nhóm sinh viên cũng rục rịch xuống đường. Tụi nó trong nầy cũng bắt chước đám ngoài Trung. Ở ngoải, sinh viên làm dữ lắm. Có Bác sĩ Lê Khắc Quyến và các giáo sư khác cầm đầu.

– Tình hình như thế nầy, hông hiểu sao chính quyền lại cách chức Linh Mục Cao Văn Luận làm gì nữa. Có khác gì chế dầu vào lửa.

– Rồi lại cái ông sư Thích Trí Quang tuyệt thực ở chùa Xá Lợi hôm 18-8-1963 nữa. Lửa sẽ bùng lên.

Lửa sẽ bùng lên. Không khí chánh trị Sài Gòn ngột ngạt. Những cuộc biểu tình và tuyệt thực xảy ra liên tục. Chánh quyền bắt đầu ra tay bắt bớ những người Cọng Sản nằm vùng xúi dục Phật Giáo. Một vài người  bạn gái nhỏ học Gia Long, qua cửa sổ phòng học ngó sang chùa Xá Lợi, xầm xì bàn tán về chuyện cảnh sát ập vào chùa bắt đi những ông sư. Những cô cậu học sinh, sinh viên một lần kinh sợ khi một trái lựu đạn quăng vào đầu cô sinh viên Trần thị Ngọc Loan rồi sau đó mới phát nổ năm 1963. Cô bị điếc và bị mất chơn. Và chắc là cô hông bao giờ dám bén mảng đến rạp hát Vĩnh Lợi nữa. Bọn khủng bố thường dân vô tội sao hông liệng vào rạp Lê Lợi có chết nhiều hơn hôn? Nổ ở rạp Lê Lợi, nằm khuất trong nầy-đường Lê Thánh Tôn- đâu có gây sợ sệt và kinh hoàng bằng ngoài rạp Vĩnh Lợi ?

Ngày mùng một tháng mười một năm 1963 là ngày thứ sáu nhằm vào lễ Toussaint (Các Thánh). Trước đó nửa tháng, ông Hiệu Trưởng trường Tiến Đức đã quyết định tổ chức một buổi du ngoạn núi Bà Đen bằng xe đạp. Cho nên chiều thứ năm Xuân hông về được Sài Gòn. Sáng sớm,  khoảng độ năm mươi em học sinh cùng các thầy ra đi lúc chợ chưa nhóm. Hơi nước còn lượn lờ trên mặt sông. Họ đạp xe theo con đường đất đỏ dẫn lên núi Bà.

Khi còn học trường Lê văn Trung, khoảng năm 1953( ?), thầy Vương  Mạnh Tuấn đã cùng các bạn đạp xe vòng quanh núi Bà. Khởi đi từ TâyNinh, đến Kédol, vòng qua phía sau núi, đến Phan, trở về ngã ba Suối Đá, đi ngang qua TòaThánh, qua Trảng Dài, rồi trở về trường trong vòng một ngày. Cả bọn mệt nhoài, nhưng mà vui vẻ. Các cô bạn gái coi ra cũng khoẻ hông thua gì bọn con trai. Có lẽ nhờ các thầy Âu Quang Nhứt, thầy Thuần, thầy Lê Minh Đạo, thầy Hồ Thái Bạch… nên các em học trò được một ngày học hỏi rất nhiều thứ…

Mặt trời vừa chớm khỏi đầu núi hơn sào. Cả nhóm đã đến mộ Trình Minh Thế. Cho xe đạp lủi hết vào đám tranh, họ ngồi nghỉ, rồi ăn để chuẩn bị leo núi. Trong lúc đó, thầy Hiệu Trưởng mở rađiô transitor lên nghe tin tức. Hông có gì hết, ngoài loạt tiếng nói :  «  sáng nay, Hội Đồng Quân Nhân đã đảo chánh, truất phế Tổng Thống ». Nhóm thầy giáo bàng hoàng. Ngay lập tức thầy Thanh Tâm ra lịnh cho mọi người quay trở về. Họ im lặng. Hông nói với nhau một lời. Cố đạp rút về TâyNinh.

Dân tình ở đây vẫn rộn rịp ồn ào như thể hổng có chuyện gì xảy ra. Chiều hôm đó, hông còn xe đò về Sài Gòn. Mua báo thì tin tức cũ của ngày thứ năm. Xuân lại một đêm mất ngủ, thao thức. Cạn hai ba bình trà rồi mà các thầy giáo vẫn còn băn khoăn. Đứa nào đứa nấy cũng đưa ra những lý do lật đổ chế độ: gia đình trị, đàn áp đảng phái, đảng Cần Lao tự tung tự tác, Phật Giáo khuynh đảo, thế lực Mỹ muốn thay người, Việt Cọng phá rối ?… Rồi mai đây lại xảy ra chiến tranh ? Tình hình sẽ rối ren ? Chắc sẽ có lệnh tổng động viên ? Thầy Tô Trần Nguyễn và thầy Trần Đình Thuyên bàn cãi hăng say nhứt. Bàn ra tán vào thì đã gần hai giờ sáng. Một đêm hông ngủ.

Cả bọn ra bến xe đò để đi chuyến sớm. Có lịnh giới nghiêm. Xe hông tới được Sài Gòn. Đi xe chuyền về Gò Dầu, về Trảng Bàng, về Củ Chi, rồi tìm cách vào Sài Gòn thì cũng đã gần chiều tối. Thủ đô sao im ắng, bình thản lạ lùng. Hết giới nghiêm… Người ta đi lại vẫn như thường. Hình như hông có chuyện kinh thiên động địa xảy ra. Giết chết một Tổng Thống. Giết chết một chế độ Cọng Hòa còn non trẻ. Hy vọng một chế độ mới tốt đẹp hơn nằm trong tay sai khiến của kẻ khác. Miền Bắc sẽ sung sướng, sẽ có ngày chiếm trọn đươc miền Nam, thực hiện giấc mơ thế giới Cọng Sản đại đồng ?

 

 

PHẦN 2

 

 

Nguyễn Ngọc Tiền đột ngột nộp đơn vào trường Võ Bị Đà Lạt. Có phải vì lủy sợ bị động viên đến nơi hay là nó thích nhà binh? Phùng Xuân tìm gặp nó để hỏi về tình hình đảo chánh đã qua. Nó cũng ngớ ra, hông dè xảy ra mau như vậy: nghĩa là họ giết Ông Tổng Thống một cách chớp nhoáng, hông thương tiếc, cạn tàu ráo máng. Ông Diệm đã có ý muốn điều đình rồi mà. Những ý tưởng giành giựt quyền lực, thanh toán lẫn nhau vẫn còn đầy dẫy trong một xã hội phong kiến Việt Nam nhiều hận thù. Trần ThủĐộ chôn sống dòng dõi nhà Lý. Nhà Tây Sơn và nhà Nguyễn giết nhau, đào mộ lẫn nhau… Cải Cách Ruộng Đất miền Bắc của Cọng Sản: chặt đầu, chôn sống, giết oan uổng biết bao nhiêu mạng người… Cọng Sản thanh toán Quốc Gia, máu đổ biết là bao nhiêu !

– Thì tao cũng khoái như Nguyễn CôngTrứ chứ mậy ! Phen nầy lại vòng trời đất dọc ngang ngang dọc, nợ tang bồng vay trả trả vay một chút coi.

– Tao tưởng mầy tối ngày chỉ biết nhông nhông trên chiếc Vespa, hết chạy từ nhà nầy đến nhà khác để có bum mà te cho đả.

– Bây giờ đã đến lúc chàng tuổi trẻ vốn dòng hào kiệt, xếp bút nghiên theo viêc đao cung như trong Chinh Phụ Ngâm. Loạn ly đến nơi rồi mầy !

– Sao mầy biết ?

– Những thằng đi bum bộ mầy tưởng tụi nó chỉ có biết nhảy nhót hông sao ? Tụi nó cũng thông hiểu thời sự lắm. Bàn ra tán vào tối ngày. Còn mầy, Xuân ?

– Còn tao? Chàng tuổi trẻ vốn dòng nghèo kiết( !), xếp bút nghiên theo việc đao cung. Nhà tao lúc nầy cũng nghèo lắm. Sau chiến tranh, hông còn gì cả. Tao nghĩ tao đi dạy bây giờ có lương ba cọc ba đồng để tiếp tục học nữa, nhưng có bằng cấp rồi thì cũng làm nghề bán cháo phổi. Tao hông thích gõ đầu trẻ. Như mầy nói: đất nước loạn ly đến rồi. Rốt cuộc cũng bị động viên vào nhà binh ráo trọi.

– Thì nộp đơn vào Võ Bị như tao đi.

– Để tao đi rủ thằng Nguyễn Bá  Lai. Nó đang học bên khoa học nhưng lại ráng kiếm thêm MG  nữa. Cái thằng sao ôm đồm quá. Hông hiểu nó có chịu đi hôn hay là đợi bị động viên ?

Những thằng trai trẻ sống một thời thanh bình như Ngọc Tiền, Bá Lai, Phùng Xuân… hông biết rằng người chỉ huy trưởng trường Võ Bị Đà Lạt-Đại Tá Nguyễn Ngọc Huyến- đã bị phe đảo chánh bắt ép về phía họ, góp phần xóa đi một thời tươi đẹp của nền Cộng Hoà còn non trẻ ?

*****

Cuộc sống Ngọc Tiền đã biến đổi hoàn toàn sau hai tháng đầu tiên ở quân trường. Mái tóc bồng bềnh kiểu bụi đời đã hông còn. Thay vào đó là cái đầu bị húi cao lên, giống như đầu cá lóc. Lần đầu tiên, thoạt nhìn vào kiếng, nó hơi ngỡ ngàng, cúi đầu nghĩ ngợi. Nhưng có thời giờ đâu để nghĩ tiếp. Tiếng còi lại thổi. Lại phải chạy. Tập hợp, chạy. Đi ăn, chạy. Đi học, chạy. Đi ngủ, chạy… Chạy rút về phòng để còn kịp leo lên giường.

Mầy ngày đầu tiên, tự nhiên nó ôm đầu khóc oà như đứa trẻ. Khóc một mình. Khóc cho đã. Nuốc tiếc một thời ăn chơi vui vẻ, nhớ bồ, nhớ nhà ? Bị cán bộ tân khóa sinh bắt gặp. Chạy hết ba vòng sân. Năm chục cái hít đất và một trăm cái nhảy sổm. Mệt phờ râu. Chỉ kịp bung đôi giầy, nó ngã ỳ ra sàn nằm thở khò. Rồi lại khóc. Rồi lại bị bắt gặp. Tiếp tục ba vòng sân, trăm cái hít đất, năm chục cái nhảy xổm. Đêm nào, anh em sắp sửa đi ngủ, cũng nhìn thấy một mình nó lệt bệt vừa chạy vừa la: Tôi hông nhớ nhà nữa !

Kỷ luật nhà binh làm cho nó khó chịu: ăn ngồi thẳng lưng, bưng chén cơm vuông góc, đi đứng tỏ ra mạnh bạo, hùng dũng, hô lớn tiếng… Rồi mọi việc sẽ qua đi. Thằng Nguyễn Bá Lai nói. Phùng Xuân cũng nghĩ vậy. Đã trôi theo dòng nước thì cứ trôi theo đi. Đôi lúc bị tắp vào bờ rồi lại cũng phải xuôi theo con nước. Chừng mươi hôm hông thấy nó chạy nữa. Chắc nó tởn rồi. Mấy tháng sau, nó tỏ ra cứng cỏi.

– Mầy có còn muốn te nữa hôn ?

– Còn mẹ gì nữa đâu mà te với tét! Bị dợt te tua thì có !

– Mầy chịu cơm nhà binh rồi đó nghen, Tiền.

Quân trường như là một không gian khép kín. Mấy tháng đầu tiên, bọn Xuân mù tịt về tình hình xảy ra bên ngoài. Trong môi trường sống mới, Phùng Xuân đã mất dần tin tức của những người bạn ngày xưa. Xa Sài Gòn là hông còn biết được gì hết. Bây giờ  Sao Trên  Rừng ra sao rồi? Đỗ Bá Chúc, Thắng, Thuyên, Vương Mạnh Tuấn, Nguyễn Niên(Thiệu) có còn dạy ở trường Tiến Đức nữa hôn? Nhóm học trò ngày xưa nay đâu rồi?…Còn gia đình? Còn mấy em sống ra sao rồi ?

Chỉ có còn những lá thư từng tháng của Yvette đầy những lời âu yếm, nhớ nhung dày dằng dặc. Nàng trách móc sao chàng vội vàng nộp đơn vô Võ Bị mà hông cho nàng và gia đình biết. Yvette kể không khí sôi sục ở Sài Gòn. Việt Cộng khủng bố tùm lum. Mìn nổ, lưu đạn quăng tưới hột sen vào đám dân lành. Miễn sao gây được tiếng thì thôi. Phe phái tranh giành quyền lợi. Chỉnh lý rồi Hiến Chương Vũng Tàu. Học sinh, sinh viên xuống đường. Tướng NguyễnKhánh, đã có một lần thăm trường Võ Bị, phải túm nắm đất sống lưu vong.

Hông còn gì để nhớ. Chỉ có những người bạn mặc cùng màu áo, cùng giống nhau ở đôi giầy MAP, cùng giống nhau ở cái nón, cùng giống nhau ở cây súng trường Garant M1, tập hợp cùng một lúc, chạy đi ăn cùng một lúc, cùng ăn giống như nhau ở đôi đũa, cái chén, ly uống nước và cả nước uống…

Nguyễn Tâm Hồng là thằng lý lắc, nghịch ngợm nhứt. Nó là dân ET, Thiếu Sinh Quân mà ! Cuối tuần khám xét: đánh giầy sơ sơ, quần áo nhét, đút lung tung. Nó cào cọ cho có nếp khi xếp mền gối và quần áo. Cây súng trường hông bao giờ lau chùi được sạch sẽ. Vậy mà khi khám xét cuối tuần lại hổng có gì hết. Cái thằng hên thiệt. Rồi nó cũng dung dăng dung dẻ ra phố.

Thằng nào lại hông tán dóc với mấy cô bán hàng trong chợ Hòa Bình, ăn phở Bằng… rồi la cà ở cà phê Tùng, nghe nhạc… trong khói thuốc mờ mịt. Thời gian đầu là lân la nơi các hàng bán đồ đạc ở  chợ Hòa Bình cho đến chiều, rồi theo xe ChiLăng về trường. Có thằng về sớm hơn. Hai ba giờ đã thấy lót tót tới cổng rồi. Có nhiều thằng cũng trời ơi lắm. Tụi nó dò đâu ra địa chỉ của Bà Chín Thái ở đường Trần Hưng Đạo, rồi rỉ tai nhau. Thằng Lai biết thì thằng Xuân cũng biết. Ở Sàigòn lâu năm, chắc thằng Lai là thổ địa. Nó biết những khu ở đường Lý Thái Tổ, khu bến xe Pétrus Ký…. Giờ đây ở Đà Lạt hông hiểu sao nó mò đâu ra chỗ đó. Rồi lại quen các cô nữ sinh Bùi Thị Xuân….

– Đi với tao tới chỗ đó chơi !

– Hông. Mầy dẫn tao tới nhà các cô học ở Bùi Thị Xuân như Trang,  Ngọc, Lệ An…. thì tao tới. Đến các cô còn có trà nước, ăn kẹo. Ngắm các người đẹp rồi tán dóc chuyện trời mây đất nước, có thú vị hơn hông. Còn hơn mầy tới đó, vừa tốn sức vừa tốn tiền.

– Tới đó đỡ hơn. Mầy cà kê hoài với các cô đó, mai mốt mầy sẽ làm rể Đà Lạt.

– Có gì đâu ? Chỉ nghe Trang, Ngọc ca nhạc của Đòan Chuẩn, Lệ An ngâm thơ của Lệ Khánh. Mở rađiô lên nghe tiếng hát cao vút của Thanh Tuyền. Rồi lâu lâu rủ các em đi bát phố Đà Lạt, ăn phở Bằng, uống cà phê Tùng.

– Tập thơ: Em là con gái trời bắt xấu của Lệ Khánh ?

– Chắc cô ta yêu một chàng trai Võ Bị nào đó. Tao hông  biết nữa.

Nói vậy chớ Xuân hông dám lui tới hoài với các cô Trưng Vương. Hình bóng Yvette vẫn lẽo đẽo trong cơn ngủ…

 

 

*****

Tháng mười hai. Trời trở lạnh. Hoa Pensée mọc ngoài vườn chen chúc trong lá xanh những màu đỏ thẩm, tím than, vàng tươi. Hoa đào đỏ thắm nở rộ theo những đường thông thủy. Các cô gái Đà Lạt lại càng đẹp thêm trong những cánh áo lạnh đủ màu. Họ nói bằng giọng ‘HuếĐàlạt’ nhẹ nhàng như chim hót.

 

Đã cầm giấy phép trong tay, Xuân còn ngỡ ngàng. Tại sao có sự lạ lùng nầy ? Xuân hông kịp hỏi Trung Úy Phạm Xuân Thất lý do, chỉ biết rằng có người đang chờ ở ngoài Câu Lạc Bộ Nhữ Văn Hải. Xuân có linh tính biết chắc người ấy là Yvette.

Mở cửa nhìn quanh. Đâu rồi ? Ở đâu rồi ? Kìa kìa. Đúng là Yvette. Nàng ngồi ở góc bàn, khuất sau bóng cửa sổ. Như một thiên thần trong chuyện thần tiên. Em đây rồi. Đứng lên mừng rỡ. Anh như ngộp thở. Dừng lại. Chỉ muốn nhào tới ôm trọn em vào lòng, hun một cái thật lâu trên má, trên môi. Vùi mũi vô những tơ đen mun để hít hít mùi tóc. Mùi bông cau. Bộ quân phục bắt dừng lại. Anh hông muốn ở đây lâu đâu em. Anh hông hun em được. Mình ra taxi đi em. Chắc em neo xe lâu rồi. Mình đi mau ra cửa. Tới xe tắc xi. Tóc vẫn còn thơm ngọt bông cau nhà Ngoại.

– Đúng là dân nhà binh. Mình ôm siết em quá, hun em lâu quá làm em ngộp thở. Em chết bây giờ.

– Thì cho chết đi, để nhớ mãi mãi. Khỏi phải tương tư từ lúc em còn tí xíu, tám chín tuổi.

– Chết đi để nhớ mãi mãi à mình? Còn mai sau, lỡ em xa mình, mình có bao giờ  nhớ em hôn ?

Tình yêu đầu đời nuôi dưỡng cuộc sống. Đời người có thể tàn tạ, già nua héo hắt nhưng mối tình đó vẫn sống mãi. Hãy ấp ủ nó để bao giờ cũng thấy cuộc đời tươi đẹp hơn.

Chiếc xe tắc xi đi vào cửa sau của tòa nhà đồ sộ nằm trên ngọn đồi cao thoai thoải. Mặt trước khách sạn Palace nhìn về núi Liang Biang, núi Voi, trường Yersin và hồ Xuân Hương…

– Trời nhiều sao quá hả mình ?

– Nhiều sao lắm. Sao nào là sao của mình, còn sao nào là sao của anh trong thiên hà tít xa xa ? Mình nhìn về bên trái  đỉnh LangBiang kìa. Chòm Bắc Đẩu đã dẫn đôi sao mình tới đó để mình có ngày gặp nhau đêm nay.

Chiếc giường rộng rãi, sang trọng  vẫn còn chật chội cho hai người. Những cái hun rất lâu, rất lâu đến ngộp thở. Mắt nhìn tận mắt khờ dại. Môi cắn môi rướm máu. Có phải hơn năm rồi anh hông hun em? Những cái hun trả bằng những chữ yêu đương em viết cho anh và anh viết cho em. Hun đến rã rời, đờ đẫn, nghẹt thở đến chết thôi.

– Hai ông bà già hình như hông đồng ý chuyện chúng mình. Ba có vẻ im lặng, hổng có ý kiến.

– Còn mẹ thì sao ?

– Bả hông phản đối. Chỉ nói: Mầy lấy dân nhà binh, rủi nó ra trận, súng bắn cái đùng. Nó trúng đạn. Nó chết ngắc. Lúc đó mầy thành đàn bà góa sớm.

– Thời buổi chiến tranh. Đâu biết được ngày mai. Nếu nghĩ như hai ông bà chắc chẳng có cô gái nào dám lấy chồng lính đâu em.

– Tình hình Sài Gòn hai năm nay hông yên, mình à !Việt Cộng  đánh  bom tùm lum. (Ngày 16-2-64 nổ bom rạp hát Kinh Đô, ngày 25-8-64 ở khách sạn Caravelle, ngày30-3-65 đánh bom Toà Đại Sứ Mỹ ở đường Hàm Nghi, ngày 25-6-65 ở nhà hàng Mỹ Cảnh)

Tệ hại nhứt là ở nhà Hàng Mỹ Cảnh. Dân chúng chết phần đông là những người hay đi hóng mát vào buổi chiều ở bờ sông.

– Mình nên ít lui tới những chỗ đó đi. Việt Cộng bây giờ bắt đầu khủng bố ở SàiGòn để gây tiếng vang. Hồi thời 50, họ giết dân làng như giết cóc nhái, có ai biết đâu. Em có sợ hôn ?

– Mình hả? Mình hổng sợ đâu.

Xuân đợi chờ một câu nói tiếp của Yvette. Im lặng.Im lặng. Xuân nghe tiếng vải sột soạt.

– Mình làm gì vậy?

– Còn mình đây nè. Mình hông sợ thành góa phụ đâu mình ơi. Em yêu mình. Em yêu mình!

Phùng Xuân xoay người, ôm trọn cả thân mình, da thịt mượt mà ngào ngọt hương thơm mật ong rùi bay vút về cõi không gian vô tận, thanh thoát có tiếng đàn dìu dặt. Hông có không gian bốn chiều. Thế giới bây giờ là của Từ Thức và Giáng Hương. Xuân chưa muốn về trần gian. Thinh không lặng tờ. Tiếng nhạc cõi tiên réo rắt suốt đêm trường đầy ánh sao mơ màng trong sông Ngân …

Chiếc taxi rời hồ Than Thở, đi về hướng ấp Thái Phiên rồi đến đồi Bắc. Chàng thanh niên hông vội xuống xe. Xuân nâng bàn tay Yvette lên ngắm hồi lâu, rồi nhìn vào đôi mắt nàng say đắm. Đôi mắt hột nhãn đen lay láy của ngày xưa vẫn còn sâu thăm thẳm. Đôi mắt ngây thơ của quá khứ vút xa vời vợi. Còn ngày mai đôi mắt nầy sao đây em? Vẫn in mãi hình bóng anh. Hay vụt bay về  tương lai, đâu rõi nhìn lại quá khứ? Và đôi mắt em, đôi mắt anh cùng tan biến vào cõi hư vô. Có còn nhìn tận mắt như ngày hôm nay hôn?

Người thanh niên tràn đầy sinh lực ôm ghì mái tóc người yêu. Phùng Xuân vùi mũi hun thiệt lâu, thật sâu vào mái tóc để còn giữ mãi hương vị của những sợi tơ huyền óng ánh. Ôi! Mùi bông cau nhà ngoại! Yvette nấc lên từng cơn. Nước mắt mặn nồng chan chát như màu máu rỉ ra trong đôi mắt đỏ hoe….

– Em thích mùi áo lính của mình.

– Sao vậy mình?

– Nó hòa lẫn mùi người con trai, làm thành một thứ mùi đặc biệt. Em chết vì cái mùi nầy mình ơi!

– Còn anh sẽ chết vì mùi tóc em. Mùi bông cau lẫn mùi hương của những sợi tơ mun ngay ngáy những ngày biếng gội.

Yvette lại nấc lên từng cơn. Hai dòng nước mắt nàng ướt đẫm đôi má, chảy dài xuống áo Jaspé màu nâu sậm. Giọt nước mắt biến thành màu máu đỏ tươi, tan trong thớ vải. Nước miếng môi hôn của mình bào bọt ruột gan anh đau đáu từng cơn, mình ơi !

Chàng thanh niên thẫn thờ dõi theo chiếc taxi chở Yvette khuất sau chân đồi Bắc. Xuân chưa đi vào cổng vội, tần ngần đứng một hồi lâu. Còn gì đâu mà đứng mà nhìn mà mong. Chỉ thông xanh, xanh dày thăm thẳm ngăn cách đôi ta.Yvette đâu rồi? Em đi về đâu? Xa anh mãi mãi, có phải hông. Hàng thông chia rẽ chúng ta rồi!

Ai có từng ngồi trên đồi thông thật cao, thật cao ở vùng Đà Lạt? Ai có nghe tiếng thông reo vi vu trong gió ngàn? Núi trời lồng lộng, chỉ có mình thông. Thông nghêu ngao. Thông dang tay cùng sương gió. Thông thơm ngào ngạt cùng mùi hoa lan .. trên tận đỉnh LangBiang, Lapé Sud, Lapé Nord, Dambé, núi Voi, Ankroet… Thông nằm dài bạt ngàn. Thông ơi là thông. Thông có rụng hết lá làm trơ cành hôn? Hông, hông. Thông có bao giờ rơi hết lá đâu. Thông vẫn xanh mướt, mượt mà. Lá thông  gối đầu ta khi nằm ngòai bãi học. Thông rủ rỉ bên tai như người tình đêm dài của những  buổi thực tập địa hình  đầy sao trời. Ngồi dưới gốc thông mà ngắm sao Bắc Đẩu, sao Ngưu Lang, sao Vua…. Ôi sao Vệ Nữ sao mà giống Yvette nằm vắt ngủ yên lành trên cõi trời sao xa xăm.

Sao trời là niềm an ủi vô tận của những đêm gác đồi Bắc. Sao giăng giăng như những đom đóm ở những xẻo rạch đầy lục bình. Sao băng như những lá thông rơi. Lá thông đầy mủi nhọn như kim nhỏ chích chích vào trái tim lòng nhung nhớ Yvette vô hạn.

Đêm di hành. Đoàn người mệt mỏi dù có tiếng trống thôi thúc tiễn đưa. Sao mà cứ đi đi mãi trong đêm tối thế. Đâu có được ngắm trăng. Đâu có được nhìn sao trời Đà Lạt trong vắt như thủy tinh. Thằng nầy cứ đùn thằng kia mà đi miết vào cõi vô tận trong cơn buồn ngủ nằm nơi ruột gan. Làm sao mà nhìn lên bầu trời để thấy sao giăng vằng vặc mà nhớ tới em đây, hở Yvette ?

Chàng Sinh Viên Sĩ Quan hông buồn theo Nguyễn Bá Lai bát phố trong những ngày Chủ nhựt nữa. Xuân cùng Nguyễn Thanh Liêm vùi đầu vào thư viện.

Thư viện của quân trường cũng có khá nhiều đầu sách, nhưng phần đông bằng tiếng Anh và Pháp. Thanh Liêm chăm chú đọc những quyễn binh thư Đức của Clausewitz, Ludendorff… Gặp nó là nó toàn nói về chiến thuật và chiến lược của các binh gia đó. Còn lại thêm Machiavelli nữa chớ. Xuân nghe mà nhức cái đầu. Chàng hông màng chú ý đến những chuyện đó. Cắm đầu vào chữ nghĩa để quên ngày tháng qua mau. Miệt mài dịch từng trang sách cho Đa Hiệu…

Mới đó mà đã tới ngày mãn khóa rồi. Ngày mà thằng Ngọc Tiền nao nức. Để làm gì? Để nó thoát khỏi cảnh tù túng của quân trường? Hay để nó cầm súng xông pha ngòai chiến trận cho thỏa chí làm trai?

Nó hí hửng ngâm nga:

 

Không ngủ thì cũng Sĩ Quan,

Ngủ hoài thì cũng đàng hoàng gắn lon.

 

– Mầy coi chừng tụi nó giũa mầy.

– Thì cũng có thằng ngủ gục trong lớp học như tao chớ bộ. Có thằng nào khỏe ở ngòai bãi suốt ngày mà về lớp hông ngủ hôn?

Sau lễ mãn khóa, Xuân bồn chồn lo lắng, hông hiểu Yvette có chuyện gì hông mà đến bây giờ Xuân hổng được chút tin tức gì của Yvette. Thư mời Xuân đã gởi từ lâu và Yvette cũng trả lời là sẽ đến dự. Em ở đâu bây giờ? Em ở đâu bây giờ? Biết hỏi ai? Sao em hông đến? Nhiều câu hỏi đó trong đầu chàng mấy hôm nay. Còn thì giờ đâu mà tìm được câu trả lời. Chọn đơn vị để phục vụ. Lo sắp sếp hành trang lên đường ra Dục Mỹ học khóa 23 Rừng Núi Sình Lầy trong sáu tuần lễ. Đêm đêm Xuân nằm mơ  nghe tiếng Yvette gọi mình ơi, anh ơi! Có chuyện gì? Bây giờ em ở đâu?

Ngọc Tiền thích Nhảy Dù, Thủy Quân Lục Chiến…nhưng với thân hình nhỏ con ai mà chọn. Rút cuộc, nó đành chọn Bộ Binh.Một đơn vị xa lơ xa lắc ngòai miền Trung: Trung Đoàn 51 Biệt Lập.

– Sao hông về Sư Đoàn10 như tao mậy? Cho gần nhà.

– Tao hông thích. Đi xa cho thỏa chí tang bồng.

– Con khỉ. Mầy mơ các o Huế thì có. Rồi mấy em hồi thời bum biếc với mầy, mầy cho rớt đài hết rồi chắc?

 

*****

Căn cứ Sình vào tuần cuối ở đèo Rọ Tượng là hắc ám nhứt, sau căn cứ Rừng nhàn hạ, tắm suối nước nóng.Và căn cứ Núi trèo đèo lội suối, ngắm nhìn hòn Vọng Phu.

 

Đường hải lộ từ Nam ra Bắc,

Khỏi Ba Ngòi sắp tới Qui Nhơn.

Gập ghềnh đồi núi chập chùng,

Xa xa trông thấy một hòn núi xanh

Ngay giữa đỉnh hình nhân lộ vẻ,

Tay ẳm bồng một trẻ hài nhi

Đó là hòn núi Vọng Phu….

(Bài tập đọc)

 

Bão ở căn cứ Sình. Bão rớt của miền Trung cuối tháng mười hai. Mưa dai dẳng. Mưa thúi đất. Mưa tối mày tối mặt. Bầu trời lúc nào cũng xám xịt. Giảng viên đứng dưới nước. Đám học viên cũng bị ngập mặn ngang bụng. Có nghe gì đâu! Chỉ lo vuốt mặt. Đứng run cằm cặp. Gà men cơm khỏi cần chan canh. Mặc đồ ướt, cuộn tròn poncho ngủ. Vậy mà cũng ráng kết thúc bài tấn công đảo ban đêm. Hông có sao trời thì có sao biển. Làm gì nhớ được, mơ được Yvette ở đây? Ánh lân tinh lấp lánh từng đợt, từng đợt  theo chiếc dầm bơi trong nước muối mặn đắng chát nơi cổ họng.

Xuân hông nhớ mình đã chạy đọan đường từ Ninh Hoà về Dục Mỹ như thế nào. Cơn nóng sốt miên man. Ăn hông được. Nằm li bì. Nguyễn Bá Lai dìu Xuân lên C-130  từ lúc nào? Và tiếng rù rù của động cơ máy bay vật chàng thanh niên ngã ịch xuống sàn…

 

 

*****

Tháng mười một. Yvette nghĩ mình sắp gặp lại người tình trong ngày lễ ra trường. Nàng mơ đến cảm giác êm ấm được người yêu ôm trong vòng tay, đến nụ hôn ngây ngất. Yêu là gì mà sao nó hành hạ trong nhớ nhung dài vật vã. Ở đâu cũng nhìn thấy hình bóng người tình, cũng nghe lời nói chàng rủ rỉ bên tay. Trong giấc mơ màng, bao giờ cũng thấy người tình hiện ra, khẽ chạm vào đôi môi và hun một cái thiệt lâu dài. Nàng im lặng, tận hưởng đê mê, vội choàng tay ôm thật chặt. Nhưng hông, giựt mình, hông có chàng. Chỉ có đôi tay quờ quạo vào đêm tối im lặng. Nàng buồn rã rượi. Phải chi mình ở đây cùng em,  rong xe cùng phố. Cùng ngồi với em trên chiếc xe Solex để em được vòng tay ôm mình  như ngày hôm nay.

Đến ngã ba Hồng Thập Tự, trong cơn mơ ao ước, Yvette hông nhìn thấy chiếc Citroen màu xám thù lù một đống đang trờ tới. Nàng hông kịp phản ứng. Hoảng loạn. Một tiếng ầm vang lên. Nàng cảm thấy đau nhức dữ dội và chỉ kịp kêu lên một tiếng: Mình ơi. Tỉnh lặng. Nàng ngất đi.

Yvette mở mắt. Nàng mơ hồ thấy mình nằm trong căn phòng rộng. Trên trần, quạt máy đang chạy chầm chậm .Một lúc sau, nàng nhìn rõ mọi vật chung quanh. Nàng đang nằm trên giường phủ toàn đầy vải trắng. Có chuyện gì? Nàng đã chết rồi hả? Hông. Nàng vẫn còn nhúc nhích được hai chơn, nhưng sao có một bên nặng hông dở lên được. Nàng định lên tiếng gọi ai đó. Và cánh cửa phòng xịch mở. Một người mặc đồ trắng bước vào.

– Tui đang ở đâu đây?

– Trong nhà thương.

Ngay lúc đó, mẹ nàng đi vào hối hả

– Con làm má lo gần chết. Nằm bất tỉnh suốt ngày nay rồi.

– Sao vậy má?

– Con bị xe đụng, gãy hai chơn. Rồi có người chở con vào đây.

– Ai vậy má biết hôn?

– Tội nghiệp nó. Lẽ ra nó bỏ chạy luôn thì có ai mà biết. Nhưng mà nó chở con vô đây, rồi báo cho nhà biết. Tội nghiệp. Thằng hiền ghê! Thằng Christophe đó. Nó xin lỗi ríu rít. Con nhìn qua bàn. Ngày nào cũng có một bó hoa mới nó mang vô cho con.

– Một ông Tây?

– Nó còn trẻ lắm, con.

Cuối cùng rồi nàng cũng gặp Christophe. Chàng thanh niên người Pháp lịch sự, ân cần. Christophe hông ngờ gặp được cô gái nói trôi chảy tiếng Pháp nên rất vui mừng. Họ nói chuyện với nhau, hiểu nhau rất dễ dàng. Từ đó, ngày nào cũng có một bó bông, khi thì lay-ơn, khi thì hồng, khi thì cúc luôn luôn ở trên bàn. Và cứ hai ba ngày, Christophe vào thăm và nói chuyện với Yvette rất lâu, nên ít khi nàng có thì giờ nghĩ đến Xuân. Nhưng khi hông có ai, nàng lại tự hỏi bây giờ Xuân làm gì? Đã ra trường và đi biền biệt nơi đâu? Làm sao hai người liên lạc được với nhau? Nhờ ai trong gia đình? Hông có ai hết. Và Xuân đang hành quân  trong rừng sâu, bị thương hay sống chết rồi? Những giọt nước mắt  chảy dài xuống đôi má xanh xao. Nàng thở dài…

Nhiều tuần lễ trôi qua, Yvette hông nhận được tin tức gì của Xuân. Nàng càng ngày càng trở nên tiều tụy.Tìm anh nơi đâu bây giờ? Nhưng nhờ mẹ nàng luôn luôn ở bên cạnh, nàng cũng bớt đi phiền muộn. Sau khi ra khỏi nhà thương, gia đình định đưa nàng lên Đà Lạt để dưỡng bịnh. Yvette hông chịu. Nàng nghĩ rằng nếu đi xa khỏi Sài Gòn thì Xuân biết đường đâu mà tìm. Nàng trông ngóng ngày đêm tin tức người yêu. Sao mà như vậy kìa? Một lá thư cũng hông có là sao? Nàng hông đi lại được. Hai chơn còn bó bột. Ngày đêm nàng chỉ ngồi lỳ một chỗ trên giường. Người ngày càng xanh xao, gầy ốm. Cuối cùng, sau khi cắt băng bó bột được đôi ngày, Yvette vẫn chưa đi lại dễ dàng, nhưng gia đình đã quyết định đưa nàng lên vùng đất hoa Anh Đào để nghỉ ngơi…

 

 

 

 

*****

Cơn bịnh thương hàn đã quật ngã người thiếu úy vừa mới ra trường. Xuân phải nằm Cọng Hòa hơn một tháng trời.

– Thưa bác. Cho cháu hỏi thăm cô Yvette Đỗ.

– À! Cô Tư đó hả? Cổ hổng có ở đây. Cổ đi Đà Lạt dưỡng bịnh rồi. Cổ bị đụng xe, bị gãy hai chơn. Gia đình đưa cổ lên trển khoảng hơn tuần nay. Mà cậu là gì của cổ để tôi nói lại.

Biết người quản gia mới có nói lại hay hông? Xuân quay lưng đi mà lòng nặng trĩu. Chỉ ghi lại người bạn hồi nhỏ ở Mỹ Tho. Ôi! Người bạn hồi nhỏ của một thời ký ức xa vời vợi. Người nhà chắc chẳng thèm nói lại vì họ hông thích Xuân?Một cái thằng bạn xa xưa mà ai thèm nhớ làm gì. Gia đình chắc nghe qua rồi bỏ. Xuân buồn bã, đạp xe thửng thờ trên đường về. Làm sao gặp em đây, hở Yvette? Chắc xa nhau vĩnh viễn rồi? Mình đành mất nhau rồi hả em? Làm sao em kiếm được anh? Biết anh ở Sư Đòan nào? Vùng I, Vùng II … ? Em đâu có rành những nơi đó.Em đâu có biết anh rời xa  biền biệt SàiGòn đến một nơi hẻo lánh  nào hôn?

Hông hẻo lánh quá đâu em! Nơi đây, Xóm Cát, vùng ngọai ô của Bà Rịa. Tiểu Đòan 3/43 đang ở đó.

Thượng sĩ nhứt Bậc Cẩm Hom tập họp trung đội 2 trình diện Thiếu Úy mới ra trường. Xuân nhìn những người lính mới của mình. Có vẻ gì  xơ xác. Họ vừa nhìn Xuân vừa đưa tay so hàng. Họ có ý dò xét ông Thiếu úy trẻ Võ Bị Đà Lạt mới tò te ra đơn vị. Chẳng có người nào mặc bộ đồ hơi hơi vừa vặn. Áo rộng thùng thình, quần xúng xính. Quần áo Xuân cũng rộng như họ. Xuân cố gắng thay đổi nhiều lần để tìm một bộ đồ đúng khổ người mình. Cũng khó lắm, trừ phi phải đi sửa lại. Binh nhì Mừng, vừa mới làm ô đô cho chàng, nói Thiếu Úy ráng bận ít bữa, em sẽ đem ra Bà Rịa sửa cho. Họ lộn trái vải rồi may, mặc đẹp hơn.

Trung đội trang bị lộn xộn. Hạ sĩ nhứt Độ mang Thompson. Ông Hom đeo lủng lẳng cây Carbine M2 báng dài. À! sao lại còn cây súng phóng lựu cũ xì nầy đây, cao quá tầm của binh nhứt Nga lùn tịt chưa tới 1 mét 50. Hạ sĩ Hiền, người nhỏ con nhưng trông có vẻ rắn chắc, có lẽ là một nông dân, nhìn Xuân như dò hỏi sao hông  chú ý tới khẩu Trung liên BAR. Phùng Xuân chú tới  cây FM nầy lắm chớ. Linh hồn của trung đội mà. Và, đột nhiên, nhớ anh Năm Nhiên của thời 1948. Tội nghiệp binh nhứt Tô, cao chưa đầy 1m50 mà đeo cây Garant M1 dài khoảng 1m 10. Xuân nhìn thấy báng súng gần chấm đất.Toàn là các loại súng cũ kỹ của thời Đệ nhị thế chiến, cách nay ngót nghét 20 năm.

Ông Hom cho biết trung đội chỉ có 16 người. Hai người đi phép thường niên. Còn 14 người. Quân số chỉ bằng một tiểu đội. Sao ít quá vậy? Ông nói nhiều lần bổ sung, nhưng tụi nó đào ngũ hoài à Thiếu Úy.

– Hông có cách gì giữ họ được sao ?

– Giữ gì được, Thiếu Úy. Về hôm trước hôm sau là tụi nó bỏ súng trốn mất. Ngoài Bà Rịa có trạm gác của Quân Cảnh mà hông biết tụi nó lòn ngã nào. Nhứt là mấy thằng Tàu Chợ Lớn. Chắc tụi nó có đường dây ?

Hôm sau, Xuân đi một vòng nơi đóng quân. Mỗi người một miếng poncho làm lều. Võng  treo tòn teng từ hai đầu, đôi khi là hai nhánh cây, đôi khi là môt cành cây và một cọc gỗ… Dưới đất bày lỏn chà lỏn chỏn nồi niêu, soong chảo đầy lọ ghẹ. Một vài miếng khô kho nước mắm đặc sệt bạc màu muối. Cái trách nhỏ buộc hờ  nơi cọc đầu võng. Khô đã là mặn mà họ còn kho nữa. Bữa cơm chẳng có gì để ăn thêm. Ba cục gạch lượm lặt đâu đó để làm cái bếp, méo mó đen thui. Cái chén, đôi đũa úp trên ba lô. Những người độc thân ở có vẻ bừa bãi hơn người có gia đình.

Súng móc đại trên đầu võng, cũng có khi để bên gốc cây. Cây súng phóng lựu của hạ sĩ Nga cao quá khổ, dựng đứng ngoài cọc lều. Ngày hôm qua Xuân hông thấy mấy cái máy truyền tin ANPRC-6. Hôm nay Xuân chú ý đến những thứ ấy. Người tiểu đội trưởng mang Thompson: Hạ sĩ nhứt Độ.

– Cái thứ nầy còn nghe tốt hôn ?

– Khi được khi không.Thiếu Úy. Nghe ba trật ba duột lắm. Đôi khi em giận em đá nó mấy đá. Vậy mà nghe được.

– Có vậy nữa sao? Ông Hom hổng biết à ?

– Biết chứ.Nhưng ổng nói đại đội kêu cứ giữ. Nhiều khi đụng trận, kêu oang oang mà có nghe cái khỉ mốc gì. Mang nó theo càng thêm cồng kềnh.

Trung đội có 16 người mà lại có tới hai cái ANPRC-6. Có cần hông? Sao lại xài quân dụng quá cũ để làm gì ?

Xuân đi đến nơi ở của Hạ sĩ Hiền. Hai vợ chồng đang ăn cơm, dợm đứng dậy để chào. Xuân ra dấu hai người cứ ăn. Rồi Xuân ngồi xuống nơi cạnh của hố đào cho trung liên.

– Mình đóng quân nơi đây lâu chưa ?

– Cũng gần ba tháng à, Thiếu Úy.

– Hèn chi cái hố anh đào rất công phu.

– Có vợ em phụ nữa. Mỗi ngày tụi em đào thêm một chút. Thành ra cái hố mới được như vậy.

Hiền còn trẻ, như là nông dân. Hai bàn tay to, chai sạn. Tướng lam lũ, chịu khó làm ăn. Nhà quê nghèo lắm sao mà vô lính? Hay là chiến tranh hông làm lụng được ở vùng xôi đậu ? Chị Hiền trẻ hơn, chưa đầy đôi mươi, còn kẹp tóc. Xuân thấy họ như là cặp vợ chồng mới cưới, quấn quít  nhau như đôi chim non. Cô vợ  hơi e thẹn, rụt rè khi biết Xuân đang ngồi nhìn hai vợ chồng ăn cơm. Xuân ngó lơ sang chỗ khác. Hai thùng đạn đại liên 30 cũ chứa đầy nước, chắc để nấu ăn và rửa chén bát. Một vài cái tô đá trong rỗ lót lá chuối. Một cái nồi nấu cơm. Một cái trách nhỏ để kho, chiên, xào hay để luộc rau? Tài sản của những người vợ chồng lính của Phùng Xuân?

Xuân đi trở lại nơi võng của mình, lấy bản đồ gặp Trung Úy Phạm Đức Tú, Đại Đội Trưởng Đại Đội 2. Chắc ngày mai có lịnh đi đâu đây.

Hoà Long là một quận của tỉnh Phước Tuy, cách Bà Rịa độ 6 cây số nằm về phía Bắc trên tỉnh lộ 2 nối liền Long Khánh-Bà Rịa. Đồn điền cao su bạt ngàn từ Long Khánh về đến Xà Bang, đến gần Hoà Long. Có nhóm người Chư’ Rư sống lang thang nơi đây. Tỉnh lộ nằm giữa hai mật khu Mây Tào và Hát Dịch. Có haiTrung đoàn Việt Cộng 33 và 275 hoạt đông thường xuyên ở vùng nầy. Nghe nói người Trung Đoàn Trưởng 33 là một ông già đầu bạc, rất dầy dạn chiến trường, chuyên môn dùng du kích chiến. Chiến đòan Úc Đại Lợi và Tân Tây Lan vừa mới  đóng ở núi Đất, cố ý ngăn chận họat động của hai trung đòan nầy?

Những nơi quen thuộc Bình Ba, Ngãi Giao… Và BìnhGiã nữa, nơi mà thủ khoa khóa 19 VBĐL hy sinh ngay từ lúc đầu. Du kích quậy phá nhiều ở xã Long Phước, sát bên quận và xa hơn nữa: xã Long Tân

Bà Rịa toàn đất cát. Trái lại Hoà Long đất đai rất mầu mỡ. Đất đỏ từ vùng Long Khánh tràn xuống đến Hoà Long, Long Phước, Long Tân, Long Điền và tận cuối quận Đất Đỏ đến xã Phước Lợi. Màu đỏ trộn với màu cát trắng  làm thành một lớp phân thích hợp cho giống lúa gạo Nanh Chồn thơm ngon ở vùng nầy.

– Ông Hom. Ông nhắc chừng anh em là vùng nầy du kích nhiều lắm đó. Mình đóng quân hai ngày nay sau lưng nhà bà Hai Nỉ. Bả có thằng con đi cà xẹo. Chắc là nó bị tật từ hồi nhỏ. Nhưng tôi để ý thấy nó cứ xăm xoi đám lính mình hoài.Hông tin nó được đâu.

– Thiếu úy để tui. Tui cũng có dặn anh em rồi. Nó mà cắc bùm là mình lãnh một con đó nghe.

Bà Hai Nỉ vả lả với anh em lính. Mượn cái gì bà cũng cho. Nhưng thằng con của bả- thằng Ba Xẹo, mấy người lính của Xuân đặt tên cho nó như vậy- hay đổ quạu và nhăn nhó khi một vài người lính vào nhà, ngồi nói chuyện với bả. Nó ngó mấy người lính chăm hẳm.

Trung đội rút đi khỏi nhà bà Hai Nỉ độ mười phút, vào sâu trong xã Long Phước.Thằng Ba Xẹo rướn người lên mái nhà, rút soạt khẩu CKC rồi băng mình qua đám chuối rậm. Nó tót xuống giao thông hào như con sóc, biến mất trong địa đạo tối om.

Lục soát xong chừng hơn hai mươi căn nhà. Có lịnh tạm nghỉ. Bố trí và canh gác kỹ lưỡng. Anh em sẳn sàng ăn trưa. Hạ sĩ Hiền để cây trung liên trên bộ ván gõ trong căn nhà vách lá. Chung quanh chuối dày đặc. Độ chừng ba mươi thước là hông nhìn thấy được. Anh em cùng ngồi bệt xuống đất mở gà mèn ra. Khô cá cơm kho. Khô cá khoai. Khô cá hố, cá nóc… Toàn là khô cho buổi trưa đạm bạc. Món ăn hành quân của đám lính!

– Hông có gì khác hơn là khô hả Mừng ?

– Gấp quá tụi em chỉ đem theo khô cho dễ ăn. Luộc bậy ba cái rau lang hổng kịp, Thiếu úy.

-Còn cái lon gì nữa vậy ?

– Nước mắm kho quẹt. Thẩm quyền ăn hông ?

Xuân cười. Lấy mũ sắt làm ghế, Xuân ngồi xuống cầm gà men cơm của mình. Chàng nghĩ: Cũng còn có mùi vị hơn những bữa ăn ở cánh đồng Mỹ Nhiên…

Ăn xong, Xuân mở bi đông uống chừng mươi hớp. Đứng dậy. Để nón sắt trên ván. Bước ra ngoài hàng hiên. Vừa dừng lại quan sát. Chưa thấy rõ những bụi chuối. Một tiếng bốp gọn nhẹ. Nghe hình như ở giữa trán Xuân. Một phản xạ nhanh gọn. Hông nằm xuống. Xuân xoay người bước vào trong nhà. Hông đầy nửa tích tắc.Một tiếng bốp nữa đuổi theo. Xuân hông nghe tiếng súng nổ ròn tan của các anh em bắn trả. Và tiếng hô xung phong. Chỉ nhìn thấy Hiền nằm ngã vật xuống. Máu từ ngực, từ ngực Hiền phun ra có vòi. Mà hông phải. Ngay tim trái. Xuân nhào tới. Ngón tay cái bịt ngay lỗ sâu hoắm.Đâu có nhằm nhò gì. Máu vẫn tuôn. Xuân kêu lên: Hiền ! Hiền…Vài tiếng kêu nữa. Kêu nữa. Kêu nữa. Hông ! Hông! Hiền. Hiền ặc ặc lên vài cái. Như con vịt bị cắt tiết. Như con gà bị cắt cổ. Như con heo bị con dao nhọn đâm thẳng vô tim, ngoẻo đầu sang bên. Xuân kêu nữa. Ấn tay mạnh vào cái lỗ sâu hun húc quái ác kia. Nhưng Hiền trợn trừng mắt. Trợn trừng mắt nhìn Xuân. Hiền nhắm mắt. Máu hơi ngừng chảy. Rồi dứt hẳn. Xuân rút ngón  tay cái ra. Thẩn thờ nhìn Hiền nằm bất động. Nó chết rồi. Xuân nghĩ chắc chắn như  vậy.

Súng vẫn nổ. Giọng ông Hom oang oang. Tiếng súng  nổ ròn tan. Carbin, Garant, súng phóng lựu, Thompson bắn bất kể. Chỉ thiếu tiếng nổ dòn của cây trung liên. Binh nhứt Hòa hét lên ở đầu máy. Đụ mẹ cái máy mắc dịch. Hông chịu nghe. Nó đá mấy cái vô ANPRC-10. Có nghe được chưa ? Tiếng hô xung phong vang rền. Xuân chạy ra khỏi nhà.Đáng lẽ ra, Xuân phải bình tỉnh chỉ huy ngay lúc đầu tiên. Cái chết của Hiền làm nó hoảng lọan. Có tiếng la hét.

– Kéo nó lên. Nó bị thương rồi.

– Cái gì vậy ?

– Thằng du kích Ba Xẹo, Thiếu úy. Tụi em bắn nó què giò mà nó còn lết được xuống hố.

– Thằng Ba Xẹo? Có phải nó hôn ?

– Chớ gì nữa. Tụi em lấy được cây CKC nè.

Xuân đi đến nơi thằng Ba Xẹo nằm. Chắc nó bị xui xẻo. Hông kịp nhào xuống giao thông hào. Có bao giờ bắn được mấy thằng du kích bắn sẻ đâu? Có chỗ núp đàng hoàng và nhanh như sóc mà. Cặp mắt nó sui xị, hơi lưng tròng. Nó ngó Xuân, hình như van xin điều gì đó? Nó sợ Xuân tức giận bắn nó chết? Xuân có bao giờ cầm súng giết một mạng người hôn? Hông. Lòng nhân đạo vẫn còn ở người sĩ quan mới ra trường. Mà Xuân đâu có quyền giết một thương binh địch. Mất thêm một mạng người. Bà hai Nỉ sẽ khóc con.

Màu đỏ tươi tuôn ướt bắp đùi nó. Có vẻ mất máu nhiều. Y tá đại đội sộc lên tới. Xé toạt quần ra. Quấn băng cứu thương. Cầm máu tạm thời. Nó nhìn Xuân, nhìn trân trân. Nó liếc qua những người lính. Họ thản nhiên nhìn Ba Xẹo và tự hỏi sao nó bắn họ? Có thù hận gì hôn? Họ chỉ lo cứu anh chớ hông có giết anh đâu. Họ nhìn anh có vẻ thương cảm hơn là anh nhìn họ đầy thù hận.

Phùng Xuân ra lệnh anh em lấy poncho võng nó đến gần chỗ Hiền đang nằm. Hai cái poncho. Một cái khép kín và một cái mở ra. Ba Xẹo có biết ai đang nằm bên kia hôn? Chút nữa trong xe cứu thương chạy về tỉnh, kề bên cái poncho đóng kín, nó nghĩ gì? Giết chết một sinh mạng? Giết chết một gia đình son trẻ đang tràn đầy hạnh phúc. Rồi đây ra tới nhà thương, bà hai Nỉ sẽ gặp chị Hiền. Con bà bắn chết chồng tôi. Nhưng Xuân nghĩ chị Hiền sẽ khóc ngất bên xác chồng. Có thời giờ đâu mà nghĩ, mà thù hận người du kích V.C đã giết chết chồng mình.

Hiền ơi! Chết rồi sao? Sao chết dễ dàng quá vậy? Thì mới vừa ăn cơm trưa với mình đây mà. Sao chết dễ quá vậy? Baptême de feu của mình là như vậy sao? Sao viên đạn hông trúng mình mà đi ngay vào tim Hiền? Người du kích VC rõ ràng là nhắm ngay đầu mình. Sao viên đạn lại đi chệch như vậy? Có phải tại số mình lớn, chưa đến lúc chết. Phải có người khác thế mạng.

Viên đạn đầu tiên- chắc nhắm ngay đầu Xuân- chệt xuống, xé rách môt bên vạt áo.Viên đạn thứ hai bắn vói theo, nát các chân ghế. Hai viên đạn ác nghiệt đã né mình. Thằng du kích khôn lanh, nghĩ là Xuân sẽ nằm xuống để tránh đạn. Hông may cho Hiền, còn đang ngồi bệt dưới đất, ăn chưa xong bữa cơm.

Hiền ơi! Mình mắc Hiền một món nợ-món nợ thật to tát- mà có lẽ suốt đời mình hông bao giờ trả  được? Phùng Xuân vẫn nhớ đến đôi mắt Hiền lúc sắp chết trừng mắt nhìn Xuân. Rồi Xuân sẽ gặp mặt chị Hiền. Trời ơi! Xuân sợ. Xuân sợ dòng nước mắt chan hòa của người vợ trẻ khóc chồng. Giờ nầy chắc chị đang hớt ha hớt hải chạy ra nhà thương Bà Rịa để nhìn xác Hiền.

Ôi! Nỗi đau đớn của người vợ trẻ mất chồng chắc là lớn hơn nỗi đau của người chỉ huy mất người đồng đội đầu tiên trong trận đầu đời. Xuân thiếu kinh nghiệm chiến trường? Một sĩ quan vừa mới tò te  ra trường, đâu có bằng một ông Thượng sĩ đánh trận lâu năm. Lẽ ra Xuân hông nên ló mặt ra như vậy. Viên Thiếu Úy trẻ hận mình đã sơ suất gây thiệt mạng của người đồng đội. Lấy gì đền bù lại được?

Sự sống và sự chết hông có lằn ranh phân biệt. Vừa mới ăn cơm, vừa mới nói chuyện với nhau là mất tiêu rồi. Điều Xuân chú ý là hông thấy các đồng đội khóc- dù chỉ hơi rươm rướm mắt-cho người bạn mình vừa chết. Họ thấy cái chết nhiều quá nên họ trở nên chai lỳ với cái chết hay là họ coi cái chết ở chiến trận thật là bình thường? Hoặc là họ xem nhẹ cái chết như là một điều tất yếu phải xảy ra khi chấp nhận cuộc đời lính tráng? Hay là họ nghĩ cuộc đời nầy vô thường như triết lý nhà Phật. Sống ở cuộc đời nầy quá khổ đau nên tìm một kiếp sống khác tốt hơn. Xuân nhìn thấy những gương mặt buồn của họ mà hông biết trong lòng họ như thế nào? Xuân nghe thoáng thoáng đâu đây giọng của một người binh sĩ trả lời: thằng Hiền đi mua muối rồi hay là thằng Hiền nó lên bàn thờ rồi.

Quá dễ dàng cho một cái chết. Nhưng với Xuân thì hông. Chàng ngồi thừ rất lâu, nghĩ đến người đồng đội vừa chết. Những nỗi thương cảm, đau đớn mà gia đình phải gánh chịu. Cha mẹ khóc con. Vợ khóc chồng. Những giọt nước mắt của anh em, của bà con chòm xóm. Một cái chết quá dễ làm cho chàng Thiếu úy mới ra trường buồn ray rứt. Yvette ơi! Em có biết anh vừa thoát chết hôn? May mắn đã giúp anh còn sống để có ngày gặp em. Nhưng thần chết đã cướp đi sinh mạng, hạnh phúc của người đồng đội có người vợ trẻ hơn em. Em ơi! Chúng mình hãy cám ơn Trời đã ban cho chúng mình ân sủng đó. Nhưng anh hông hiểu sao Thượng Đế lại lấy cái của người nầy để ban cho người kia. Có bất công hôn em ?

Chỉ cần một tiếng cắc bùm là giết lẫn nhau.Vũ khí tối tân giết người quá dễ dàng. Một số ít người có thể dùng súng đạn giết chết một số thật lớn người khác. Mà tại sao số đông người khác ngu ngốc như vậy? Đem thân thí mạng cho người ta bắn mình? Thằng Ba Xẹo nó biết gì thù hận? Ai gieo vào đầu óc sự giết chóc kia? Chỉ có những kẻ ăn không ngồi rồi, không tưởng trên tầng lớp chóp bu tận ngoài xa kia tạo ra những sự thù hận để thỏa mãn sự ngông cuồng của họ. Những người dưới họ chỉ là những con cưởng lập đi lập lại lời họ nói như Xuân đã từng nghe khi đi theo Vân dự mít tinh ở Lương Hòa, Bến Tre thuở 1960…

 

Xã Phước Lợi, thuộc quận Đất Đỏ, là một giồng đất gò cát nằm thoi loi. Chung quanh là đồng ruộng. Chỉ có một chút xíu về hướng Đông là giáp với khu rừng chồi có nhiều thú nhỏ như nhím, sóc, thỏ… và trái cây rừng như trái gùi, trái mây…

Tháng năm năm 1966. Nắng nổ đom đóm. Đại đội về đây khoảng một tuần. Đây là xã xôi đậu. Ban ngày, dọc theo đường lộ, lính của Xuân rong cùng khắp đầu trên ngõ dưới. Ban đêm,  VC mò về xóm trong. Thằng Đực và con Sa là hai đứa học trò ngoài chợ, hay lân la đến chơi, cho Xuân những trái gùi chín, ăn chua lè; những trái mây rừng nhỏ bằng ngón tay út, ăn chát ngắt. Tụi nó cũng cho Xuân những trái gùi muối chua. Món nầy chấm mắm ruốc của bà giáo Thảo thì ngon. Rồi từ đó, Xuân lâu lâu cũng dò biết được một vài gia đình trong xóm. Ai thân VC và ai thân Quốc Gia…

Trời nắng chang chang. Chàng sĩ quan Úc và Xuân cùng ngồi tựa lưng vào bờ đất, uống từng ngụm nước đá lạnh. Chàng thanh niên người Úc nầy có giọng nói khó nghe, âm hưởng của tiếng Anh xa dần mẫu quốc.

– Viết cho tôi đi.Tôi hông nghe được giọng Úc của ông.

À! Peter Maurice Arnie. Cấp bậc Trung úy( ?).Tốt nghiệp Royal Military College Duntroon. Chà, cũng là dân nhà binh chuyên nghiệp như mình đây. Có vậy mà Xuân chỉ thoáng nghe left-tenant. Rồi hai ba bữa sau, họ cũng bắt đầu thân thiện nhau, đía nhau tía lia.

Trung đội Peter có khoảng 30, 40 người, ngày ngày cùng Trung đội Xuân đóng cọc sắt từ phía cuối Quận Đất Đỏ băng qua đồng ruộng đến tận xã Phước Lợi.

– Trung đội của anh ít, chỉ có 14 người thôi. Vậy hôm nay, anh lấy phần đất gần đây. Còn đằng xa kia để cho tôi.

– Sao vậy? Cứ làm như cũ. Tôi đi xa có sao đâu?

– Vì anh ít người. Mang cọc sắt và kẽm gai đi xa nặng lắm. Công việc sẽ chậm lại. Chúng ta cần làm xong phần việc nội trong tuần nầy.

– Cám ơn anh.

Xuân ra lịnh cho người mình dừng lại và chỉ cho họ phần hôm nay mình phải làm.

– Hông phải đi xa nữa. Ráng cùng họ làm rút đọan cuối cho đến xã PhướcLợi.

Nhưng một tiếng bùm vang lên cùng một cụm khói ở phần đất trung đội Xuân làm ngày hôm qua. Khỏi nói, tất cả mọi người cùng thốt lên: Có mìn !

– Đứng yên tại chỗ. Đừng chạy nhốn nháo. Ông Hom. Cho anh em lần bước ra theo đường cũ.

Khổ thay cho trung đội của Peter. Một trái mìn nhảy. Ít nhứt phải có hai, ba người chết và bị thương khoảng mươi người. Nếu người của Xuân làm đúng chỗ ngày hôm qua là trung đội bị xóa sổ.

Chỉ hông đầy năm phút. Hai chiếc trực thăng cứu thương đã đáp xuống. Xuân đứng nhìn bạn và đồng đội đang chật vật, hối hả đưa người bị thương lên. Họ hông tỏ vẻ hoảng loạn, tuần tự làm việc. Xuân im lặng đứng nhìn bạn, thương bạn mà hông làm gì được. Bạn từ đất nước xa xôi ở miền Nam Bán cầu đến nơi nầy để đổ xương máu cho lý tưởng mà bạn yêu mến. Vợ của đồng đội bạn mất chồng, gia đình mất người thân. Những giọt nước mắt làm sao cho vơi hết nỗi buồn. Xin chia buồn cùng bạn, người bạn trẻ xa xôi.

Cuối cùng, rồi tất cả lên trực thăng. Peter quay lại. Hai cánh tay cùng đưa lên. Vĩnh biệt. Chúng ta chắc chắn sẽ hông bao giờ gặp lại. Có thể bạn với tôi, bọn mình sẽ thua cuộc trong trận chiến nầy. Và rồi, Phùng Xuân đứng nhìn dòng chữ CBS mờ nhạt trên thân một trực thăng bay về Vũng Tàu…

Lại một sự may mắn  đến với Xuân. Nó đến từ đâu? Hông hiểu được. May mắn của người nầy là xui xẻo cho người kia. Các người lính Úc chết thay cho binh sĩ của Xuân. Sao đến thời điểm đó Peter lại đổi ý. Có một nguyên nhân nào, một động lực nào tác động vào ý định của Peter ?

Ai mà biết Thượng Đế? Ai mà hiểu được Thượng Đế? Thượng Đế là đấng Tối Thượng, Toàn Năng… Hông hiểu được Ngài, nên con người giải thích mỗi người mỗi khác. Có người tin vào quyền lực của thiên nhiên, của đạo Chúa, của đạo Phật, của đạo Hồi, của mệnh trời. Có đúng là Chúa Jésus, Thái Tử Shidarta, Thiên sứ Mohammed, Khổng Tử… cũng hông hiểu gì về Thượng Đế nên lý giải mỗi người mỗi khác?Và thế hệ sau bám vào đó, đặt ra nhiều qui luật, vẽ ra những con đường tìm lấy thanh bình ở cõi đời sau? Chỉ có Cọng Sản là hông cần hiểu Thượng Đế và  hông cần giải thích. Họ muốn biến đổi thế giới nầy bằng bạo lực để tìm lấy Thiên Đàng Cọng Sản. Và, rốt cuộc, cũng hông chắc tìm ra được, chỉ thấy máu đổ thịt rơi, thù hận chồng chất.

Nhưng có một điều chắc chắn là VC đã dò la biết được nơi Xuân và Peter đóng cọc sắt. Chỉ cần một vài ly rượu đế ở độ nhậu là các chú lính bật mí hết…

 

*****

Đồn Mỹ Hội, quận Đất Đỏ, do một Trung Đội của Đại Đội 612 Điạ Phương Quân trấn giữ. Đây là ngõ thông từ Mật Khu Mây Tào, Xuyên Mộc đi về Mật Khu Minh Đạm.Từ đó, VC có thể dễ dàng qua Long Hải, cù lao Long Sơn, Rừng Sát và xâm nhập vào SàiGòn.

Xuân vừa chợp giấc được một chút. Lúc đầu có nhiều tiếng nổ lớn, sau đó là súng AK 47 nổ dòn. Rồi liền đó vang rền đều đủ các loại. Don Porter, Xuân và ông Hom đứng dưới rặng dừa nhìn về phía đồn Mỹ Hội.

– Chết rồi. Nó đánh đồn Mỹ Hội. Súng của VC nổ nhiều hơn. Chắc mộtTiểu Đoàn? Trong đồn bắn trả ra ít quá.

– Sao Thiếu Úy biết?

– D 445 VC hoạt đông thường xuyên ở Mật Khu Minh Đạm mà. Thì chắc thằng Tiểu Đoàn nầy đánh chớ ai. Nó nhổ cái gai chận hộng nó qua lại Xuyên Mộc về Sài gòn. Tui nghĩ chắc có thêm hai đại đội C 25 và C41(Châu Đức) ở cù lao Long Sơn. Trong đồn chỉ có một trung đội à, ông Hom. Còn Đại Đội trừ đóng gần mình đây, ở Bờ Đập.

– À, mà nầy, còn mấy bà vợ lính nữa. Đụng trận mấy bả cũng cầm súng bắn như ai. Còn mấy thằng nhóc, con lính trong đồn. Tụi nó tiếp đạn. Đường cùn thì phải liều chết để mà sống chớ, Thiếu Úy !

– Chắc ông nói đúng đó.Tui nghe  bây giờ súng trong đồn bắn ra nhiều hơn lúc nảy.

Chàng Trung Úy Don Porter cao lớn, đẹp trai, có bộ ria cá chốt giống như Clark Gable. Don ít nói, chỉ lặng lẽ đi theo Xuân hơn tuần nay. Thỉnh thoảng, Xuân có hỏi gì thì Don mới trả lời? Ban đêm, Xuân ngủ chỗ nào là Don và người Trung sĩ mang máy C-25 nằm ngủ kế cận. Vì Don ít nói, nên thường ngày câu chuyện qua lại chỉ là gia đình, con cái và quê hương của Don ở tận nước Mỹ xa xôi. Hông hiểu sao, cách đây mấy hôm, Don đem tặng Xuân nhiều cuốn sách của Clausewitz và Ludendorff. Don biết Xuân là lính nhà nghề hay là muốn Xuân biết về chiến thuật của Tây Phương? Phùng Xuân đã chán ngấy khi nghe Nguyễn Thanh Liêm nói về vấn đề nầy rồi mà? Don có hiểu gì về chiến tranh du kích ở Việt Nam chưa ?

Pháo binh của Tiểu Khu rót xuống thưa thớt, hông đủ sức chận sự tấn công dồn dập của VC. Đồn có lẽ sắp bứt. Trái sáng soi rọi chập chờn. Trong đồn bắn ra càng quyết liệt hơn. Toàn là Garant, Carbine, Trung liên Bar, chắc hông cự lại được với AK 47, B40…

– Rồi! rồi! Hoả Long lên kia rồi!

Những hỏa châu từ chiếc C- 47 bung ra, bay lững lơ như những lồng đèn giấy to trong các ngày Vía của đạo Cao Đài ở Tây Ninh. Bầu trời rực sáng như ban ngày.

– Thiếu Úy, nó khạc đạn như vậy còn gì người và cây cỏ ở dưới.

– Chà ! Nó gầm như bò rống. Ục… Ục… Ông Hom có nghe hôn?

– Tia lửa đạn khạc có vồng giống như mình nhậu say mữa ụa ụa, té ra có vòi.

– Đâu có. Giống như rồng phun lửa.

Chiếc C-47 bay rề rề vòng vòng  quanh đồn, bắn xuống liên tục. Từng vòi rồng lửa hiện ra. Hỏa lực quá mạnh. Chắc cây cỏ dưới đất hông còn gì ?

Don Porter ngồi bệt dưới gốc dừa. Tiếng máy truyền tin C-25 chạy rè rè, lâu lâu vang lên một tiếng Roger. Xuân và ông Hom đứng trên đường làng. Bóng họ đung đưa ngã dài theo những trái sáng trên bầu trời. Những người dân làng tuôn ra đứng trước sân nhà xem chiến trận xảy ra như màn kịch. Tâm trạng mỗi người mỗi khác. Phe thân VC tỏ ra bồi hồi lo lắng. Làm gì họ hông có người thân trong đó. Phe Quốc Gia thì mong cho người trong đồn bình yên, hông bị VC tràn ngập.

Ôi! Cuộc chiến ngộ nghĩnh, giống như tuồng cải lương. Don Porter dửng dưng nhìn đám con nít chạy lăng quăng trên những đồng ruộng khô, la lối om sòm, tranh nhau lượm dù trái sáng. Chắc nó mơ màng nghĩ đến pháo bông ở nơi quê hương thanh bình của nó. Ôi! Cuộc chiến lạ lùng. Hai bên bắn nhau, người người xúm coi!

Khoảng nửa giờ sau, tiếng súng của VC giảm thấy rõ. Súng trong đồn bắn ra cũng thưa dần.

– Hòa! Tiểu Đoàn có gọi gì hôn ?

– Dạ hông. Họ cũng im lặng như mình.

Đúng rồi! Tất cả mọi người đều nín thinh xem hai bên đánh nhau! Súng đạn cổ lỗ sĩ đệ nhị thế chiến của phe tư bản chọi lại với vũ khí tối tân phe cộng sản. Than ôi! Đau khổ cho dân tộc tôi, đem những cái bị thịt làm trò thí nghiệm, giống như những giác đấu thời La Mã, giống như những con thú động đực điên cuồng cấu xé nhau. Xuân biết mình sẽ bị cuốn trôi theo mệnh nước. Mình có thể cố gắng lội ngược dòng để bảo vệ tổ quốc yêu dấu nầy hôn ?

Những chiếc C- 47 thay phiên nhau bao vùng cho đến khi tiếng súng hai bên ngưng hẳn. Dân làng biết trận chiến đã chấm dứt nên đã vào nhà từ lúc nào. Xuân dựa lưng vào gốc dừa, thiu thiu ngủ.

Sáng hôm sau, Tiểu Đoàn 3/43 của Đại Úy Lã Huy Bật chỉ huy lục soát và giữ an ninh cho hồi kết cuộc. Lễ gắn lon và huy chương các binh sỹ trong đồn. Các bà vợ lính, các chú nhóc con họ, được tưởng thưởng.

Khoảng trăm người nằm chết la liệt quanh đồn. Một bị thương còn sống sót, tính quăng lựu đạn vào các ông Sỹ Quan Tiểu Khu, đi quan sát trận địa, nhưng hông còn sức. Ai nấy chết điếng người. Hú hồn…. Nó mà liệng thì…

– Nó mà liệng thì chắc có mầy trong đó, đó Hách. Vì mầy là trưởng ban Ba Tiểu Đoàn. Làm gì hông đi trong đám đó ?

Thiếu Úy Hà Công Hách–cùng khóa với Xuân- vui vẻ cười khì khì.

Trong khoảng thời gian đó, vào một buổi sáng, khoảng tám giờ, VC tấn công một Tiểu Đoàn Biệt Động Quân ở Bắc quận Đất Đỏ, giáp Long Tân. Tiểu Đoàn đóng trong nhà dân chúng, nơi vùng đầy nhóc VC ở lẫn trong dân. Buối sáng, binh lính tuôn đi chợ, ra quận cà phê, cà pháo, hông mang theo súng đạn.VC đột kích. Lính chạy về, ngơ ngơ trên đường, làm mồi cho những tràng đạn vô tình giết người. Ở những nơi như vầy, dân là VC, VC là dân. Làm sao phân biệt được? Hông lẽ giết hết dân khi mà VC dùng dân như cái bia đỡ đạn. Kinh nghiệm sống chết chỉ trả bằng xương máu trong cuộc chiến nầy.

– Thiếu Úy. Ông Ba Tia, ở gần cuối bờ ruộng rià làng, mời Thiếu Úy ngày mai tới nhà ổng.

– Chuyện gì vậy ông Hom? Mà ông tủm tỉm cười.

– Ông mời Thiếu Úy đến làm chủ hôn để ổng gả con gái ổng cho thằng Ơ.

– Ủa! Sao lạ vậy. Tui đâu biết gì ?

– Thì ổng nói. Thiếu Úy là cấp chỉ huy trực tiếp nó, lớn nhứt ở đây. Coi như Ba Má nó thì Thiếu Úy làm chủ hôn được rồi.

– Trời đất! Tui đâu biết gì ?

Mà Phùng Xuân hông biết thiệt. Nhưng đám lính trong đại đội biết. Đêm đánh đồn Mỹ Hội, binh nhì Ơ, cái thằng lù khù ôm cái lu mà chạy, rù rù được cô thôn nữ Tím ra cánh đồng. Nhờ ánh hỏa châu soi sáng, hạ sĩ Độ nhìn thấy hai đứa xà nẹo, nhảy từng tưng ở bờ đê cho đến gần sáng. Mấy hôm nay, đám lính đồn rùm lên. Ông Ba Tía nghe được. Ổng biết là hủ mắm của ông đã bị khui- hay là nói như thằng Mừng, chậu cá lia thia của ổng bị thằn lằn đút đuôi vô quậy rồi- nên ổng mau mau làm đám cưới cho xong. Mà thằng Ơ cũng giỏi lắm. Đóng quân ở nhà ông Ba Tia nó làm đủ việc: quay giếng lấy nước, quét sân mỗi buổi sáng… Lính Sư Đoàn có vậy mà ổng hổng gả sao được!

– Ông Hom. Ông dò hỏi coi nó có vợ con gì chưa? Để đến khi làm đám cưới xong rồi, cô vợ lớn hay được đến đánh ghen là hư đường hư bột hết. Tui với ông cũng có lỗi. Mà sao hổng nhắn hai ông bà già nó lên. Tui còn non chẹt mà đúng ra sui gia với ai.

– Nó nói ông bà già nó ở xa lắm. Dân miệt vườn, quê mùa dốt nát, hông biết đường đi.

Xuân biết nhiều ông lính cũng trời ơi đất hỡi lắm. Đi tới đâu cũng hô chưa vợ. Rút cuộc tùm lum, hai ba bà xúm đánh ghen. Chàng thầm nghĩ, mĩm cười trong bụng: chắc thằng nầy nó cũng giống mình lúc ở cánh đồng Mỹ Nhiên? Đụng trận là bốc hốt liền!

Bảng vu qui treo sơ sài ngoài ngõ, chung quanh những chùm bông vạn thọ đỏ, vàng. Căn nhà cũng đâu có gì, trống hoác từ trước ra sau. Đám cưới chắc tổ chức vội vàng nên chỉ kiếm đâu được hai cái bàn tròn, hơn chục cái ghế đẩu. Bàn thờ ông bà có một cái lư hương. Hai cây đèn cầy lớn màu đỏ để hai bên. Khi Xuân và ba người trung đội trưởng đến đã có hơn bốn năm ông lớn tuổi đang ngồi quanh những tách nước trà nói chuyện huyên thiên. Họ cùng đứng lên chào bọn chàng, kéo ghế mời ngồi. Được hơn nửa chén trà, một ông già trọng tuổi đứng lên nói vài lời về buổi lễ cưới hôm nay và nhờ Phùng Xuân đứng đại diện đàng trai. Chàng sĩ quan mới ra trường, mặt còn búng ra sữa, cảm thấy mình quan trọng cũng làm gan đứng lên nói vài lời. Sau đó, chàng tiến về bàn thờ cùng ông Ba Tia lên đèn cầy bàn thờ ông bà. Cô dâu còn trẻ, chắc chừng16, 17 tuổi cùng binh nhì Ơ chào mọi người…

– Cái kiểu nầy đóng quân ở đây lâu, nếu rút quân, chắc cả làng sẽ đưa đám lính của mình đi quá! Có bao nhiêu thằng sẽ là rể của làng nầy hả?

Ly rượu nhứt của nhà chú Mười Đỏ kháp gạo lứt ở đầu làng, cay thắt họng, tuôn tới đâu là muốn xé đứt ruột gan tới đó. Mỗi người mời một ly làm Xuân choáng váng. Một vài điếu thuốc rê nữa sắp sửa đốn ngã chàng. Xuân có bao giờ biết uống rượu và hút thuốc đâu. Xuân xoay mòng mòng. Lần đầu tiên chàng tiếp xúc với dân làng trong vai một sĩ quan quân đội…

Và cứ thế, sau đám cưới đó, nếu có đám giỗ, đám quảy nhà nhà trong làng cứ tiếp tục mời. Từ một ly, hai ly, đến bây giờ Xuân thành hủ hèm. Nhứt là từ khi có Thọ- Trưởng ban Xây Dựng Nông Thôn- về đóng ở làng, họ bày đặt ra rượu mật nhím.Uống vào đăng đắng, ngòn ngọt, cọng thêm gỏi cá biển, làm ngất ngư con tàu đi luôn. Từ đó, chàng sĩ quan trẻ trở nên hư đốn. Chàng biết thêm: uống rượu và hút thuốc lá.

 

 

*****

Các quân trường đào tạo quân đội, hông bao giờ có được những bài học phân tích có hệ thống về chiến tranh Việt Nam. Chỉ là những giờ“ Lãnh Đạo Chỉ Huy” của Đơn vị trưởng. Cuộc chiến quái ác, kỳ hoặc. Quân trường hông phân tích về quân sử. Học viên chỉ học chiến thuật cấp tiểu đội, trung đội, đại đội và các môn học hổ trợ theo lý thuyết Tây Phương. Hông có một bài giảng hoặc phân tích về chiến thuật, chiến lược của các danh tướng Việt như Ngô Quyền, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Nguyễn Huệ…Và cách ứng sử với dân chúng trong những khu vực hành quân mà chính quyền hông kiểm soát được. Ở đó dân là VC và VC là dân.

Số người chết về bị bắn sẻ, bị mìn bẫy của VC hông phải là ít. Còn du kích chiến nữa chi. Cái gì cũng mù mờ hết. Rốt cục chỉ là kinh nghiệm sống chết của mình trong chiến trường. Nhưng những chàng sĩ quan mới ra trường, còn trẻ, còn hăng say như “dê cỏn buồn sừng húc dậu thưa”( Hồ Xuân Hương) mạnh còn hơn bò đá, dễ đổi lấy sinh mạng mình.

Mưa Long Khánh tầm tả, có khi dầm dề suốt ngày. Đất đỏ sền sệt. Ở những con đường nhiều xe chạy, xe nhà binh tuôn ngang qua là sình văng tứ tung. Nhà hai bên con đường từ quán Ba Tiều vào Sư Đoàn quết đầy màu bùn đỏ loét, vẽ nên bức tranh kỳ hoặc.

Phùng Xuân cẩn thận lần bước theo con đường trơn trợt ở sâu trong xóm vắng cuối chợ Xuân Lộc. Bùn nhão nha nhão nhoẹt quền quệt vào đôi giầy càng làm khó đi. Chàng chầm chậm bước, vừa đi vừa suy nghĩ phải nói gì với chị Kim Sa, người vợ vừa mới cưới của Nguyễn Thanh Liêm.

Căn nhà có vẻ im ắng. Cây ăn trái phủ kín trước sân. Sau khi gạt bùn đôi giầy ở cây ngang, Xuân bước vào. Có bóng người thấp thoáng bên hè. Chàng đứng bên chiếc bàn tròn có bình trà và bốn cái tách. Xuân và Liêm thường ngồi uống trà ở đây. Người đàn bà trẻ hiện ra.

– Chào chị.

Chàng chưa nói hết câu. Nước mắt của Kim Sa tuôn ra theo dòng nước trà màu đỏ sậm chị rót vào trong tách. Xuân sợ những giọt nước mắt đó, nước mắt của những người vợ trẻ khóc chồng chết trận. Những giọt nước mắt đã mang nhiều nỗi bất hạnh cho chị Hiền, cho những vợ chàng binh sĩ Úc, cho vợ những người đã chết trong trận đồn Mỹ Hội…

– Sao lâu quá hông thấy anh tới ?

– Tiểu Đoàn bận ở tuốt BàRịa.

– Anh Liêm, ảnh chết rồi.

– Tui biết.

Chị Kim Sa gục mặt xuống bàn khóc rấm rứt. Mầy cũng như  tao vậy Liêm. Những thằng sĩ quan trẻ hăng tiết vịt, chịu húc càn mà hông nghĩ gì. Mầy rành lắm mà! Clausewitz và Ludendorff của mầy đâu sao hông đem ra xài, để đến nổi mầy bị phục kích trên đường đi phục kích về? Cũng như mầy, tao cũng húc. Mà sao tao hông nghĩ là tao đâu có nhiệm vụ lấy trái mìn to tổ bố gần 20 kg đặt trên đường rầy ở Hưng Nghĩa-Dầu Giây.Vậy mà tao cũng ráng lấy. Tao cho mấy người lính ra xa giữ an ninh. Tao và một hạ sĩ lò mò tìm đường giây bẫy. Tao cắt. Rồi tao còn sợ nó chôn lựu đạn dưới trái mìn, tao lấy giây tao buộc trái mìn. Từ xa, tao kéo được trái mìn lên khỏi mặt đất. Tao thở phào nhẹ nhỏm. Có ngu hôn? Nhiệm vụ đó của Công Binh kia mà. Nhưng hổng hiểu sao tao may mắn hơn mầy, hả Liêm? Để tao còn sống, lấy tiền thưởng 500 đồng-giá trị bằng hai thùng lave lớn và hai ký thịt heo rừng- đãi lính tao một chầu nhậu chưa tới bến.

Những giờ phút đó hình như Yvette đã biến mất trong trí óc Phùng Xuân. Xuân như người ngây dại hoang đàng trong một thế giới khác. Liêm ơi! Có bao giờ một thằng sĩ quan đại đội trưởng như mầy, nghĩ  đến người vợ  trẻ đẹp khi mầy dẫn toán đi phục kích đêm?

Xuân ngồi thừ một hồi lâu tìm câu nói an ủi người đàn bà còn son trẻ vừa mới mất chồng. Và chàng quên tới bàn thờ đốt cho thằng bạn một cây nhang. Nói gì với người đàn bà đang mang bụng bầu. Điều đó sẽ khêu lại nỗi đau buồn hông bao giờ xóa được, như một vết hằn sâu trong trái tim chị… Chàng cứ ngồi im lặng uống hết mấy chung trà. Chị Kim Sa cúi mặt. Nước mắt nhỏ từng giọt xuống bàn…

 

Khi Xuân trở về, cơn mưa đã dứt hột. Con đường trở nên lầy lội hơn. Bùn trền trệt như đám trái lười ươi bị mắc mưa. Chàng bước đi nặng nề. Hai chơn bang bang như đi hàng hai cho đỡ bị trợt té. Rút cuộc chàng cũng cà lê cà lết về tới lều. Hậu cứ tiểu đoàn nhỏ xíu. Hổng có trại gia binh. Các đại đội hông có chỗ trú quân. Họ chia nhau từng khu trong vườn cây cà phê, sầu riêng, mít của dân chúng quanh Xuân Lộc. Vành đai ấp chiến lược vẫn còn, nên đóng quân bên trong rất an toàn. Họ căn lều lụp xà lụp xụp dưới những tàng cây, che mưa che nắng. Độc thân chỉ cần một cái poncho và một cái võng là đủ. Những người lính có vợ phải che thêm những tấm ni lông cho rộng ra. Những ngày nắng ráo, hai vợ chồng nằm dưới đất. Những hôm mưa, họ treo võng kè kè sát bên nhau trong cái lều chật hẹp.

Bùn đỏ bám đầy đôi giầy. Xuân lấy một khúc cây nhỏ gạt bớt đất đỏ. Chàng ngồi trên võng, chật vật tháo đôi botte de saut ra mà hông để tay dính bùn. Cái radio ấp chiến lược màu xanh vang lên tiếng hát buồn trong lúc mưa gió như thế nầy. Mừng luôn luôn bắt đài Quân Đội từ 7 giờ đến 9 giờ tối. Nó mê giọng êm thủ thỉ của cô Dạ Lan. Gần sáng, là gia đình Bác Tám của đài khác. Còn lại là radio ra rả suốt ngày. Xuân nghe riết phát chán.

– Hao pin lắm. Sao hông tắt Mừng ?

– Tui xin pin tép của thằng Hòa. Đâu có hao, thẩm quyền.

Mừng hông biết cách ghép. Lúc thì hai tép, lúc thì ba tép, làm cho cái radio kêu rè rè. Chắc nó bỏ đi đâu rồi.

– Cô Mận ! Tắt rađio đi. Cô vừa ca mà để máy như vậy ai mà nghe được.

– Trung Úy tắt đi. Tui làm biếng đứng dậy quá hà !

Phùng Xuân đi đến chỗ Mừng. Chàng tắt rađio cho bớt ồn. Nghe cổ ca ơ ơ theo cái võng lắc lư, đong đưa còn đỡ buồn hơn.

 

– Mừng! Có phải em gái của mầy thiệt hông hay là bồ bịch đó mậy ?

– Dạ, em tui thiệt mà Trung Úy ?

– Sao cổ hông ở nhà mà đi theo mầy làm gì ?

– Gia đình có hai anh em. Mùa nầy ở quê hông có việc làm. Nó nhớ tui. Nó buồn nó lên thăm tui. Hổm rày, tui kêu nó đi dìa đi mà nó chưa chịu dìa. Hổng biết mắc chứng gì mà nó khoái ở đây hoài. Nó nói lúc rày ở dưới quê chưa có việc, chờ gần Tết, lúa chín. Lúc đó họ mới kêu công gặt.

Cô Mận còn trẻ, khoảng dưới đôi mươi, bới tóc đuôi gà theo kiểu con gái miệt vườn. Má bầu trắng, tròn trỉnh xinh xắn, có duyên con gái. Cổ vui tươi và nói tía lia khi kể chuyện nhà quê. Khi nào tới bữa cơm, là cổ cũng có chuyện để nói.

Hàng ngày Mừng nấu cơm cho Xuân và em nó. Ba người ăn cơm chung. Xì xà xì xụp cho qua bữa: canh rau, cá khô, rau canh, khô cá, mì gói, gói mì! Cô Mận múm mím cười, hơi ló hai cái răng nanh khi nghe Xuân nói như thế. Ăn xong, nhiệm vụ của cô là rửa ba cái gà mên, treo lên đầu võng. Rồi cổ nằm võng đong đưa qua lại, tiếp tục ca nữa. Mỗi lần ư, ư là gân cổ rung lên như gà giò mới biết gáy.

– Ca hoài sao cô Mận? Hổng chán à?

– Tui đâu biết ca tân nhạc. Mà Trung Úy có mê vọng cổ hôn? Tân cổ giao duyên cũng hay lắm à nghen!

– Ơ…ơ… Cũng biết thưởng thức chút chút. Tui nhớ hồi khoảng năm 1958 hay 1959 gì đó, tui có đến rạp hát một lần. Cái rạp đó ở đâu trên đường Nguyễn Trải. Tên là Thủ Đô thì phải.

– Để làm gì ?

– Thì để xem hát chớ làm gì. Thằng bạn học có người quen trong đó. Nó dẫn vô hổng có tốn tiền. Bữa đó, tui hông nhớ gánh hát tuồng tích gì, nhưng tui hổng quên được cô đào Bích Sơn và kép Hoàng Giang. Họ diễn hay lắm. Khán giả vỗ tay  muốn bể rạp luôn. Cô Bích Sơn, người Bắc, còn kẹp tóc, mà ca cải lương mùi lắm.Tiếng nói kép Hoàng Giang cũng rổn rảng.

Tụi tui ở trong cánh gà thấy đủ thứ hết trơn. Xong tuồng, hạ màn. Cô đào Bích Sơn và kép Hòang Giang lên xe hơi về nhà. Sân khấu ngổn ngang.Họ lo dọn dẹp mọi thứ. Chừng đó, cũng đã gần hai giờ sáng rồi mà họ có ngủ đâu. Tui thấy họ tụm ba tụm năm chia nhau đánh bài. Nào cát tê, bài cào, xập xám, phé. Ối thôi, tùm lum.Tiếng cãi cọ vang rền. Đã đời, họ lăn đại ra ngủ trên sàn. Trời nóng, nam trần trùi trụi, ngáy khò khò. Nữ, quần vén lên cao, áo tốc lòi ngực ra, ngủ say như chết.

Gần trưa hôm sau họ mới dậy, rồi quay quần quanh chiếc bàn hình chữ nhựt ăn cơm với chỉ độc nhứt có món mắm chưng hột vịt và những tô rau trộn đủ thứ.

– Cái đó là Trung Úy coi cải lương. Nhưng mà trong cải lương cũng có ca vọng cổ.

– Tui đâu phân biệt được.

– Vọng cổ là một bài hát có 32 nhịp, như hổm rày tui ca cho Trung úy nghe đó. Mùi lắm à nhen! À, mà rồi, Trung Úy có ăn hôn?

– Có. Tụi tui cũng xáp vô ăn luôn. Tui thấy đào chánh, kép chánh họ sung sướng. Chớ những người phụ coi bộ họ sống cũng chật vật lắm.

– Vậy là Trung Úy cũng mê mê vọng cổ rồi đó. Để hôm nào tui ra chợ kiếm mấy bài tân cổ giao duyên thiệt mùi, tui ca cho Trung Úy nghe chơi đỡ buồn.

Dưới võng của cô Mận có đủ thứ những cuốn tập nho nhỏ, chất cho một đống. Buổi sáng, cô đi chợ với anh cô. Hôm nào Xuân làm biếng, hoặc đường bùn lầy trơn trợt chàng hông đi, Xuân nhờ cổ mua một tờ báo. Ở đơn vị chỉ có báo Tiền Tuyến. Đi chợ về, cô lo cơm nước. Ăn rồi, cô nằm ca ít bài. Xong, bỏ võng treo tòn teng ở đó, đi tới chỗ mấy bà vợ lính, nói chuyện ba hồi ba đổi, rồi đi rủ chị Hiền ra suối tắm.

Từ ngày anh Hiền chết đi, chị Hiền hông chịu về quê, ở lại đây, sống cùng với đại đội. Chị đi chợ mua thức ăn nấu cho mấy người lính độc thân. Vì thế, chị cũng có cái ăn cái uống sống đắp đổi qua ngày .Mỗi người lính có một ca gạo (khoảng 600g) mỗi ngày. Họ ăn hông hết. Hai người là dư một phần cơm cho chị. Về quê làm gì? Quê chị đâu miệt Phan Rang, nghèo lắm.

Dòng suối nhỏ, ở cuối đầu sân bay, chảy xuyên qua vườn cà phê ông Đại Tướng Lê vănTỵ. Dòng suối nầy là nơi tắm giặt và cũng là nơi lấy nước ăn uống cho cả đại đội khi về trú quân ở Long Khánh. Hình như có giờ giấc và nơi ấn định sẳn đâu hổng biết. Đàn ông và đàn bà có khu riêng biệt. Đầu nguồn là nơi lấy nước để ăn uống. Chính giữa là nơi tắm giặt của đàn bà, trẻ con. Dưới cùng là của các ông. Vì hông có nhà tắm, các bà và các cô thường mặc nguyên quần áo khi tắm. Có người bỏ áo, kéo quần lên tận ngực. Khi họ đến đó, trời còn nắng. Một đám người đang tắm và giặt quần áo. Thêm mấy đứa con nít đùa giỡn bắn nước tung tóe…

– Ê. Đừng vô chỗ lùm tre thay đồ nghe chị Hiền!

– Sao vậy?

– Chị hổng nghe hôm trước vợ Hạ sĩ Y Clip mang con ra suối đẻ rồi chui vào lùm tre đó. Bả vạt nang tre cắt rún cho con sao? Ý, thấy mà ghê!

– Tội nghiệp. Ông đó người Thượng, ở đâu trên miệt KonTum- PleiKu. Ổng đi lính lâu lắm rồi, trước anh Hiền của tui.

– Sao ổng hông chịu đem vợ vào nhà thương để đẻ?

– Mấy người Thượng họ theo tục lệ của họ. Họ hông đem vào nhà thương đâu. Đẻ xong họ còn đem con xuống suối tắm nữa cà.

Y Clip, hơi lớn tuổi, nói tiếng Việt lơ lớ, thật thà, ít trò chuyện với anh em trong đại đội. Ai có hỏi thì nó trả lời một vài tiếng, rồi mỉm cười. Hai vợ chồng chiếm một góc xa ở cuối bìa vườn, quây lá chuối chung quanh thành một căn lều nho nhỏ. Họ chứa đủ thứ: nồi niêu, xoong chảo, lon guigoz, thùng đạn đựng nước…Cô vợ ở trong đó, ít khi ra ngoài. Thậm chí khi đẻ con rồi, cô hông bao giờ bồng con ra.

Anh chàng người miền núi nầy đi rừng rất giỏi, biết nhiều loại rau ăn được. Và đã nhiều lần đơn vị hông tìm được suối, Xuân quá khát. Y Clip đã cắt dây chìu từng đoạn để lấy từng nắp bi đông nước cho Xuân uống.

– Chị Hiền! Chị có đem nước về hôn?

– Hông. Nhờ trời mưa, tui hứng được mấy thùng và hai ba ống đạn. Chắc nấu cơm, rửa chén cũng được mấy bữa.

– Còn em phải đem hai thùng. Ba người thì cần nhiều hơn. Anh hai em ảnh xài hao nước lắm.

– À. Mà còn cho ông Trung Úy. Ổng  lấy nước tắm nữa chứ gì?

– Hông. Ổng lấy nước rửa chưn hông hè.

– Sao hổng lấy nước nhiều nhiều cho ổng tắm?

– Thôi đi bà. Ổng muốn tắm thì đi ra suối tắm chứ. Tui đâu có hầu ổng. Bà muốn gì vậy? Bộ bà cũng muốn hả? Ổng chưa có vợ đó nghen!

– Ê! Đừng gắp cá bỏ cho người khác nhen! Tui thấy có bữa, trước lều của ổng có một ống nước.

– Hôm nào anh hai em siêng, ảnh vác về cho ổng tắm đó bà! Tui hổng có siêng như vậy đâu!

Hai người vừa thay đồ vừa cười như nắc nẻ. Rồi họ ngắt nhéo, la chí chóe trong lùm cây cà phê. Chị Hiền thầm nghĩ. Coi vậy chớ con nhỏ nầy ghê lắm. Mấy hôm nay, chị thấy nó mắc võng gần ông Trung Úy hơn. Chị hỏi. Nó nói bà chủ vườn kêu đừng cột võng vô góc cà phê. Đung đua hoài, lông gốc, chết cây .Bây giờ nó xê lại gốc soài riêng càng sát ổng hơn. À, mà nó thấy diện hơn lúc trước: chảy đầu bẽ ba gọn ghẻ và mặc áo bà ba bông coi đẹp đẽ. Và nghe nó ca nhiều bài vọng cổ mùi lắm. Cái gì mà yêu anh lính chiến xa nhà… Chị tủm tỉm cười.

– Bà cười cái gì đó bà? Ờ, mà Chị Hiền? Sao chị hông lên phụ với bà Tư Thiệt bán có đỡ hơn hôn?

– Thằng Lưu Anh nó ở trên đó rồi. Nó đeo con Tươi như sam. Hơn nữa con nhỏ sắp đẻ rồi còn gì.

Lưu Anh là người Tàu Chợ Lớn, đi quân dịch đã hai năm nay. Nó hiền từ, tháo vát, cao lớn cũng khá đẹp trai. Hông hiểu sao nó chiếm được cảm tình của bà Tư Thiệt. Chồng bà nầy đã chết trận hơn mấy năm nay. Bả hông chịu về quê, bám theo đại đội mở cái quán nho nhỏ bán đủ thứ như gánh hàng xén. Lính đại đội làm biếng ra chợ-hơn nữa từ chỗ đóng quân cuốc bộ ra chợ cũng xa hơn hai cây số-nên thiếu chút đỉnh đến tiệm bả mua mau hơn. Đôi khi có những món như: mì ăn liền, rượu đế, khô mực nhậu lai rai… rất tiện lợi cho mấy anh chàng lính độc thân. Bả còn cho mua chịu- ghi sổ- đến kỳ lảnh lương thì trả lại.

Bà chỉ có độc một đứa con gái. Năm nay, cô bé cũng được khoảng 15 tuổi.Cô nầy có nước da trắng mượt mà, cặp mắt trong sáng và có nụ cười rất tươi. Cô có da có thịt, cao ráo hơn mẹ. Nhiều chàng lính độc thân cũng ngấm nghé .Bà mẹ, hơi lùn, ít khi cười, có lẽ vì bà hơi lé kim và một mắt bị cườm. Nhưng, bà rất lanh lợi và nói chuyện có duyên.

Từ khi về đại đội, chỉ mươi ngày sau là thằng Lưu Anh đi gánh nước, đi chợ chở nước đá, la ve, rượu đế và các thứ lặt vặt… Lúc đó con bé Tươi mới có 13 tuổi. Mới đầu thằng Lưu Anh còn về võng nó ngủ. Nhưng sau đó, nó ở lì trên tiệm, hông về lều, trừ khi nào có phiên cắt gác. Lần lần nó thay bà Tư cáng đáng mọi công việc. Và cuối cùng, cô bé Tươi có bầu lúc 14 tuổi. Trong đại đội, hông ai nói gì vì bà Tư có thưa gởi gì đâu. Thằng Lưu Anh khôn, lăn chai bám riết rồi cũng được. Còn mấy thằng Bình, thằng Thiện cứ đứng vòng ngoài đưa mắt ngó thì được cơm cháo gì! Và con Tươi thản nhiên mang cái bụng bầu chang bang cặp kè đi chợ với thằng Lưu Anh bổ đồ hàng bữa…

Chiếc GMC chở trung đội vũ khí nặng sắp sửa chuyển bánh. Lưu Anh, mang súng đứng dựa vào thành xe nhìn Tươi vừa ẳm con ra đứng trước cửa quán. Đứa con còn đỏ hỏn, chưa đầy tháng. Tiếng nói om sòm, tiếng la hét của những người lính khác vang lên gần như lấn át tiếng máy nổ của bốn xe nhà binh. Kẻ dặn vợ con, người dặn kẻ ở lại lo dùm công việc nầy, công việc nọ.

Đoàn xe chưa có lịnh di chuyển. Xuân và Chúc còn đứng dưới đất. Hai đứa đang nói chuyện.

– Cuối cùng rồi tao cũng gặp mầy.

– Tớ đâu có ngờ cậu ở Sư Đoàn nầy.

– Ờ! Cái Sư Đoàn có số 10 nầy làm cho ông Hoàng Tử lưng gù mới về khó chịu. Ông tin dị đoan. Số 10 là bù. Thế là đổi thành 18. Chín nút là nhứt rồi. Hổng hiểu rồi đây chín nút có ngon lành hay hông hay là chúng nít???

Đỗ Bá Chúc hông thích đi sĩ quan. Nó hông khai bằng cấp. Để khỏi bị động viên, nó lo nhảy trước. Nghỉ dạy, nó chạy chọt làm anh binh nhì phòng hai của Tiểu khu Tây Ninh, tà tà ở văn phòng. Một ít sau, nó chán lính bàn giấy. Hơn nữa bị các sĩ quan và thượng sĩ ít học hơn nó đì nó. Nó nản. Nó đi lính biệt kích một thời gian. Cuối cùng, chàng ta bèn nộp đơn vào Thủ Đức. Ra trường với cái quai chảo, nó phân vân chưa biết chọn nơi nào. À! Cái Sư Đoàn 18 có số tốt, lại ở gần Sài Gòn.Thế là hắn về đây. Phùng Xuân cho nó về làm Trung đội trưởng Trung đội 3.

Hai đứa gặp nhau, bá vai chửi thề. Tổ cha mầy, sao lại ra tới đây! Họ kịp chưa nhậu một bi đông rượu đế nào. Có lịnh hành quân.

– À. Cậu .Có cái nầy. Hồi tớ ở phòng nhì Tiểu khu Tây Ninh. Tớ có đọc một hồ sơ về một cô gái ở BếnTre.Cô ta bị bắt vì đang cố tìm đường vào cục R để làm gì đó?

– Tên cổ là gì mầy còn nhớ hôn?

– Không để ý. Nhưng có bí danh là Sáu Trân.

– Sáu Trân? Hông lẽ là Vân? Cái nầy phải liên lạc với Thiếu Úy Nguyễn Văn Rài ở phòng nhì Tiểu khu Tây Ninh  thì mới có thể biết được.

 

*****

Sông La Ngà là phụ lưu của sông Đồng Nai, bắt nguồn từ Di Linh. Khi đến bán bình nguyên Gia Rai, sông chảy ngoằn ngoèo, tạo nên những cái hồ bán nguyệt rất đẹp mắt từ những khúc đoạt giang. Đồng xanh bát ngát, trù phú. Thời Tổng Thống Ngô Đình Diệm đã có những khu trù mật Vỏ Xu, Vỏ Đắt dành cho những gia đình từ Trung Phần vào đây lập nghiệp. Nơi đây còn hoang dã. Có rất nhiều thú để săn bắn như nai, min… Voi đôi khi còn đi từng đàn. Cá dưới sông suối còn dẫy đầy. Gần quận Tánh Linh (tỉnh Bình Tuy), có Biển Lạc rộng khoảng 5km2, có rất nhiều loại cá …

Xuân rít một hơi dài điếu thuốc Ruby quân tiếp vụ lỏng le, rồi búng tàn ra xa. Đòan xe bắt đầu đi về Tân Phong, qua Suối Cát. Đến ngã ba Ông Đồn, quẹo trái. Ngọn núi Chứa Chan cao chễm chệ nằm sát đường. Bụi đỏ tung mịt trời. Xe sau hông nhìn thấy xe trước. Gia Ray kia rồi. Hậu cứ của Trung Đoàn 52 trên đồi Phượng Vĩ. Hàng năm Sư Đòan hành quân về vùng nầy khoảng đầu năm, lúc mùa gặt sắp tới, để bảo vệ dân thu lúa, hông cho VC về lấy.

Đại đội đóng quân cuối xã Vỏ Xu, sát những cánh đồng lúa đang ngã màu vàng. Chừng hai hôm sau, gia đình binh sĩ lục đục kéo tới. Họ lại căn lều, làm thành những cái thum nho nhỏ trong những đám chuối. Xuân nhận thấy đó là điều vô cùng nguy hiểm, nhưng làm sau bây giờ. Tiền lương của họ hông đủ để san ra làm đôi cho gia đình, bắt buộc họ phải sống như vậy.

– Chà! Sao mà nhiều đồ ăn quá vậy? Lại có mấy con cá chép nướng to tổ bố nữa.

– Bữa nay 30 rồi. Tất niên mà thẩm quyền hổng nhớ sao?

Thức ăn để một dọc dài trên những tàu lá chuối. Một góc tư nước đá, ba kết lade con cọp lớn ngã nghiêng ở góc chuối. Mấy người vợ lính lên tiếng mời Phùng Xuân. Mọi người bắt đầu. Lai rai ba sợi, tán dóc qua lại. Tiếng nói, cười vang dội. Rồi đến độ ngà ngà, cụng ca cộp cộp. Anh em vui vẻ. Ở cuối đầu kia, các bà lâu lâu cũng thêm vài câu nói tiếu lâm làm buổi tiệc thêm hào hứng. Mận và chị Hiền cũng xúm xít cười nói huyên thiên với mấy bà vợ lính.

Các chàng lính nhà ta hơi mềm môi, bắt đầu gõ chén gõ đũa vô gà men, ca hát vang trời. Đám quỷ sứ đó bắt đầu nói trây.Và rồi thì là rượu nói“Má ơi! con muốn lấy anh thợ bào.Còm lưng ảnh đẩy cái nào cũng sâu.Má ơi! Con muốn lấy chồng.Con ơi! Mẹ cũng một lòng như con” thì mấy bà la lên rần rần. Hông hiểu mấy bà có có thích hông mà Phùng Xuân thấy mấy bả cũng phụ họa thêm. Tội nghiệp, họ bị chê như vậy mà họ cũng ráng lết ra tới ngoài nầy để vui vẻ cùng chồng ba ngày Tết.

Xuân cảm thấy trong mỗi bàn tiệc nhậu của đám đàn ông lúc nào cũng nói đến chuyện trây trúa. Và bao giờ họ cũng lấy đề tài là mấy bà. Những chuyện tiếu lâm luôn luôn chê các bà thậm tệ, coi họ như con cái lúc nào cũng ham hố cái đó của con đực. Trong lúc đó, họ hông bao giờ nghĩ là họ xấu xa hơn, đụng đâu là bốc hốt tới đó. Vậy mà mấy bả cũng vui vẻ phụ họa cùng cánh đàn ông.

Xuân ngồi xếp bằng dưới đất quá lâu. Chàng thấy ê hai chơn. Chàng duỗi dài chơn trái.Vô tình, chơn này xé rách một vài miếng lá chuối khô.Một chồng giấy báo cũ lộ ra.Phía trong chồng báo cũ là một mớ giấy tờ lộn xộn. Chàng đưa mắt liếc coi. Có những thiệp đám cưới.” Sao thiệp báo tin đám cưới Yvette có ở đây? Lại có đến hai ba cái?”

Phùng Xuân cầm lên một cái thiệp in rất trang nhã. Xuân lẩm nhẩm đọc.Đầu óc chàng quay cuồng.

– Ai có mớ nhựt trình cũ nầy đây.

– Dạ. Của em Trung Úy.

– Làm sao chị có được những thiệp báo tin đám cưới nầy.

– Dạ. Nhà em vựa ve chai. Chắc mấy người mua lẻ họ đem đến. Có gì hông, Trung Úy?

Xuân hông trả lời. Chàng ngồi im, ngồi im thật lâu, hổng biết đến bao lâu. Cho đến khi Chúc nhắc đến phiên Xuân phải uống. Chàng cầm ca lên, thò vào nón sắt múc cho thật đầy rồi đưa lên ực mạnh một hơi hết sạch.

– Hết tua chưa? Mau mau đến phiên tui.

– Sắp hết lade rồi còn đâu đến Trung Úy.

– Mới bây giờ mà hết mậy! Sanh! Lên bà Tư Thiệt kêu thằng Lưu Anh xách một kết nữa.

– Bữa nay tất niên nên đại đội nào cũng lấy lade. Bả hết sạch rồi. Còn có đế hông hè!

– Chơi đế luôn!

Chúc quay nhìn Xuân. Hông dè mới hơn năm nay thôi mà Xuân thay đổi nhanh chóng. Thời thầy giáo hiền lành đạo mạo ở Tây Ninh đã qua rồi? Nó liếc một lần nữa. Có gì vậy Xuân? Có gì cậu thay đổi dữ vậy? Đâu có lẽ là đời lính tráng làm cậu khoác một cái áo khác?

Sanh xách hai xị đế về. Chỉ quay một vòng là muốn hết. Riêng phần Xuân uống hơn nửa xị. Rồi lại thêm hai xị nữa. Nhóm người ăn uống lần lần bớt đi. Chỉ còn lại Xuân, Thiếu Úy Thanh, Chúc. Cuối cùng là đế pha xá xị hông đá, đầy một nón sắt. Thiếu Úy Thanh e dè hơn, uống cầm chừng. Ông Thượng sĩ Danh Sơn, lúc đầu thì tố dữ lắm, bây giờ lẳng lặng rút lui đâu mất tiêu.

– Thanh! Mầy uống ít. Tối nay coi chừng đại đội dùm tao. Trung đội Nghĩa trực đêm nay, dặn Nghĩa cẩn thận mấy toán tiền đồn.

– Bây giờ cũng sắp giao thừa rồi. Sau giao thừa thì hưu chiến đó, Trung Úy.

– Tin VC là bán lúa giống .Nó phản thùng. Nó đột kích thì mình chết mẹ hết.

Xuân cầm ca lên, tự động múc liền ba ca rồi nốc một hơi hết sạch, hông còn một giọt nào. Cuối cùng, mọi người còn nghe một tiếng ót trơn tru. Chàng lật ca ngược xuống, lắc lắc một vài cái. Nhưng sau đó, Xuân gục mặt xuống, ụa ụa.

– Mừng! Coi chừng ổng say quá rồi mầy.

– Chưa say đâu anh Thanh! Tui say tui biết mà.

Nhưng rồi Xuân quay mặt qua bên, ụa lên một cái. Một vòi rồng nước đục đồ ăn lẫn rượu bắn tràn qua sau. Sau đó, là thêm hai ba hơi rồi chàng gục đầu xuống. Hông có một tiếng nói. Cõi không vắng lặng. Đầu óc quay cuồng. Thời gian ở đâu? Không gian ở đâu?.. Đêm đã khuya. Xuân mơ màng nghe văng vẳng: Yvette!Yvette!

Hình như có tiếng trách móc thì thầm bên tai.

– Uống gì mà uống dữ vậy hôn hè? Cho chó ăn chè. Í ẹ! Chua lè chua lét! Tanh ói! Dơ quần dơ áo hết chơn hết chọi!

Một cái khăn ướt đắp lên mặt Xuân, xoa xoa nhiều lần. Mát rười rượi. Đôi bàn tay mềm mại lật nghiêng Xuân qua lại, cổi áo dính đầy đồ ăn và rượu. Và rồi, từ từ tháo đôi botte de saut ra. Và rồi, cái quần dài…

– Chèng đét ơi! Sao mà cứng ngắc cứng ngơ  như khúc củi đước vậy nè chời!

Đôi tay đó khừng khựng, mần mân, về vê, tưng tiu…

Rồi cơn mưa dông bất ngờ ập xuống tới ta tới tấp. Nước tuôn chảy dầm đề, đẩy khúc củi ra suối, ra sông. Khúc củi bắt đầu phiêu lưu, leo lách trôi theo dòng suối nhỏ, va vào đá, đập vào cây. Rồi lên thác xuống ghềnh tuôn ra dòng sông lớn, đổ ào ra biển khơi, bập bềnh theo sóng vỗ…

Mái tóc dài ngào ngạt mùi lúa thơm phủ trùm lên mặt Xuân.Và hai tay mềm dịu trở nên cứng rắn nắm tóc chàng cà nghịt, cà nghịt như muốn bứt ra từng sợi…Yvette!Yvette!

Đêm ba mươi Tết. Trời tối như bưng. Giao thừa đã qua. Gà gáy canh hai…

Phùng Xuân mở bừng mắt ra. Trời đã bửng sáng. Đầu óc còn quay mòng mòng. Chàng nằm im một lúc. Xong ráng chống hai tay ngồi dậy. Chàng ngó qua ngó lại.Im lặng. Cái gì đã xảy ra đêm hôm qua? Thiệp báo tin mừng của Yvette. Uống rượu. Uống thật nhiều la de. Rồi đế. Đế pha xá xị. Mữa. Mữa. Mữa tới mật xanh luôn. Say hông còn biết trời trăng… Bộ quần áo dính đầy đồ ói tanh nằm kia. Ai đã thay chúng? Ai đã làm gì mình đêm qua? Da thịt Xuân còn ướt rít trịt. Ai? Ai? Xuân vụt đứng dậy. Chàng ngó quanh quất. Vắng teo. Đại đội đi đâu? Lều võng còn kia mà!..

Mừng chợt hiện ra, nhìn chàng. Nó cười cười.

– Đêm qua thẩm quyền say quá. Uống dữ à nhen. Hết lade rồi đế.

– Tôi uống nhiều lắm hả? Ủa. Sao ở đây im lặng quá vậy?

– Anh em trong nhà dân chúng đang hô dô dô, vui vẻ ăn Tết. Bữa nay mùng một mà Trung Úy.

– Đêm qua hổng có gì hả? Thằng Lanh có trực máy hay bỏ đi đâu rồi. Thiếu Úy Thanh có cắt một trung đội ứng chiến hôn?

Chàng đứng lên, vươn vai, bẻ người qua lại cho tỉnh táo. Xong xuôi đâu đó, chàng đi một vòng xem lại nơi đóng quân Đám nầy tụm ba tụm bảy đang cười nói um sùm bên xị đế và mấy con khô cá khoai nướng. Họ mời Xuân. Chàng lắc đầu từ chối. Đêm hôm qua xỉn quá rồi. Đám kia chùm nhum bên sòng bài cát tê hay xập xám chướng. Chàng biết vui ba ngày Tết, nhưng có anh em ra giêng sạch túi. Cấm cản cũng hông được. Mấy đại đội khác đều như vậy. Mấy bà vợ nhiều khi cũng có máu đỏ đen như chồng. Qua mùng ba, hết Tết, hết hưu chiến. Tất cả phải trở lại như cũ. Đêm đêm phải di chuyển chỗ ngủ, hết binh, hết tố. Hông còn cù lủ, đồng hoa, suốt, ba tây, bù, chín nút gì ráo trọi…

Cái lều của cô Mận hổng còn ở góc bụi chuối gần sát bên Xuân. Đồ đạc được tem tém.Buối ăn trưa chỉ còn hai thầy trò.

– Ủa! Cô Mận đâu rồi? Mừng.

– Nó với mấy bà vợ lính về quê ăn Tết. Họ theo xe đò đi từ khuya.Nó nói đi sớm về đến Cần Thơ cho khỏe, với lại gởi lời chào Trung Úy. Ra giêng, họ kêu công gặt rồi.

Xuân ngưng đũa, cầm chén cơm nghĩ đến chuyện đêm qua. Cô Mận chớ hổng ai trồng khoai đất nầy. Cô gái miệt vườn nầy ghê thiệt! Hông hiểu cổ để ý mình từ lúc nào. Các cô nầy nhiều khi vượt ra ngoài lề lối. Cũng giống như Loan, Khanh, Vân.

Nhưng hông như Yvette, còn nhiều ràng buộc của gia đình. Mình hông trách gì được Yvette. Cuộc tình giờ đây như hông còn nữa. Nàng đã lấy chồng Pháp. Nàng về bên tận thành phố Arles xa xăm. Ở đó có vùng Camargue. Khoảng năm 1939-1941, những người lính thợ Việt Nam bị Pháp mang sang để trồng lúa và làm muối. Yvette ơi! Em hãy ở đó đi, để em còn nhớ mùi thơm hương lúa và vị muối mặn chát đắng của Việt Nam. Hương thơm của lúa vẫn còn mùi ViệtNam đó em. Yvette ơi! Xa em rồi. Xa em mãi mãi. Chắc hông bao giờ gặp lại. Đúng thế. Chắc chắn hông bao giờ gặp lại. Ngày qua ngày, hành quân rồi lại hành quân, có thể anh thua trong cuộc chiến nầy và yên ngủ trong lòng đất lạnh mà em hông bao giờ hay biết! Rồi có khi nào Mỵ Nương nhỏ giọt nước mắt trong chén ngọc khóc Trương Chi hông em!

– Trung Úy! Ông ăn đi chớ. Xong rồi khoảng xế chiều qua bên nhà bà Sáu kế bên.

– Để làm gì mậy?

– Ậy. Thẩm quyền qua bên đó rồi biết.

Đủ thức ăn bày lộn xộn trên bộ ván. Một tô lớn cà ri gà. Một thau gỏi cây chuối hột trộn thịt gà. Một tô bún. Một dĩa bánh tét cắt khoanh tròn. Con cá lóc nướng vàng ươm. Một tô thịt kho tàu… Nhiều quá làm Xuân choáng ngộp. Ngày Tết sao mà ăn loạn xà ngầu vậy nè? Hoá ra sẳn dịp Tết nhứt, bà Sáu nói đãi lính Sư Đoàn. Lính Sư Đoàn mà ngon vậy hả? Đi đến đâu là dân tình cảm mến. Mới đóng quân mấy hôm, đứa con gái bả-Út Lâm-đã quấn quít bên chàng Trung sĩ Hơn ở Trung Đội 2 của Thanh. Chàng nầy trắng trẻo, đẹp trai, ăn nói nhỏ nhẹ, dáng vẻ thư sinh. Bà Sáu khen nó. Nó hiền lắm. Chàng lính học trò hớp hồn Út Lâm. Cô bé 16 tuổi, đang học lớp đệ Tứ, mơ mộng làm người yêu anh chiến sĩ miền xa!

– Tụi bây làm sao chớ kỳ nầy tao hông đứng ra làm chủ hôn nữa đâu nghen.Uống rượu hoài mệt lắm.

Chàng tự trách mình đêm qua uống quá chén.Trách nhiệm của người sĩ quan với gần một trăm sinh mạng hông phải là chuyện nhỏ. Còn gia đình họ, con cái họ. Gia đình của chàng là những người lính thân yêu sống chết với chàng. Chàng nên biết điều đó. Nên hôm nay Phùng Xuân chỉ đưa ly nhép môi cho có lệ, lấy cớ đêm qua, chàng uống quá nhiều nên còn mệt. Hơn nữa, ngày mai, đến phiên đại đội Xuân phải đi tuần tiểu đến những cánh đồng xa gần sông La Ngà…

Đại đội đi ven theo rừng chuối. Rồi dừng lại trong khu rừng cây rậm rạp. Gió mơn man những ngọn lúa vàng uốn ỏng ẹo vút tận bờ sông. Gié lúa rung rinh, lúc lắc vân vê hạt lúa. Những đàn chim lững lờ bay lượn về cuối rặng núi xa. Buổi ăn trưa đầu năm của lính cũng hông có gì hơn thường ngày. Xuân nhìn đồ ăn đồng đội và nhìn lại của chàng. Hôm nay cũng cá khô nướng và cơm gui-gô. Chỉ toàn là món ăn rẻ tiền và dễ làm. Đã có hai người lính Thượng gốc ở Lộc Ninh chết vì khô cá nốc. Hông ai biết đây là loại cá có mật rất độc. Họ ăn vô rồi nằm ngủ ly bì cho đến xế chiều. Trung sĩ Can gọi họ thức dậy, nhưng đã trễ. Hai binh sĩ nghèo nàn, hông vợ con, chết trên đường tới nhà thương. Mừng cũng đã nhiều lần khoe khi còn ở Phước Lợi: cá nốc tươi xào ăn rất ngon. Hông hiểu chàng có ăn chưa và Mừng cũng hông bao giờ nói. Đóng quân ở những nơi như thế nầy, lính tráng tìm cái ăn cái uống dễ hơn. Đôi khi, chàng thấy họ bắt được những con cá chép lớn, con cá lóc có râu dài…

Còn ở Xuân Lộc hông được. Dân chúng nghèo nàn lắm, toàn là dân làm rẫy. Mọi thứ đều phải ra chợ. Riêng chàng, chàng lại muốn trở về. Mỗi buổi sáng đến quán BaTiều hay ra chợ ngồi nhâm nhi ly cà phê đen, hút vài điếu, thả khói mơ màng nhìn người qua lại; và nếu có may, gặp được người bạn cùng khóa để biết được thằng nào còn sống hay chết. Hoặc đến thăm chị Kim Sa, vợ của Liêm.

Mua báo đọc để biết tin tức Sè Gòn giờ ra sao? Sè Gòn giờ ra sao? Chỉ cách nhau có 90km mà sống ở đây chàng hông biết bây giờ nó thay đổi như thế nào. Dân chúng ở tỉnh lẻ sống bình thản quá. Hình như đời sống ở thủ đô hông ảnh hưởng tới họ? Ngày qua ngày, tiếng đại bác ầm ì, tiếng máy bay lên xuống rền vang, tiếng súng ì xèo, tiếng xe nhà binh chạy rầm rầm trong bột cát đỏ mù mịt như là nhịp thở của cư dân Xuân Lộc…

Đội trực thăng rời khỏi phi trường đầy bụi đỏ vần vũ, chập chờn như đàn chim, đảo qua đảo lại, lượn lên lượn xuống trên những đồn điền cao su bát ngát: Suối Tre, Dầu Giây, Cẩm Mỹ, Cẩm Đường… Những ngôi nhà ngói đỏ hiện ra chen lẫn với hồ bơi nước trong xanh, sân tennis và sân bay nhỏ. Mỗi đồn điền là một vương quốc khép kín. Các chủ nhơn liên lạc cả hai bên để sống yên lành. Tây đã về từ lâu nhưng Tây vẫn có sâm banh, sữa bò, phô mai Roquefort, Camembert…, Cognac, Whisky, Rhum… ăn uống phè phỡn đều đều giữa đám phu cạo mũ nghèo nàn. Và hơn nữa, họ còn sản sinh ra những đứa con lai đẹp đẽ. Nổi tiếng nhứt là những cô gái ở đồn điền Suối Tre.

Phùng Xuân ngồi bên hông trống trải, nhìn xuống những đám rẫy chung quanh Xuân Lộc. Từng cụm khói đen, trắng lan tỏa lên, là đà trên những đám chồi xanh. Trực thăng dần bổng  lên cao, chen trong  mây trắng, trắng tơ bồng bềnh. Rồi những con chim sắt thình lình uốn vòng hướng thẳng về Bình Tuy. Mịt mù nước biển trong xanh xa tít, tít mù mù. Chỉ còn tiếng ù ù của hai cánh quạt. Có phải mình bay lên cõi tiên rồi hôn, bình bồng trong mây nước vời vợi?… Rồi sau đó, phi đội quay ngắt trở lại, lần lần xuống thấp, bay gần sát là là đầu ngọn cây rừng. Trảng trống vụt hiện ra. Đàn chim chơm chớp ầm ì trên những đám cỏ tranh, sát cánh rừng của Mật khu Mây Tào. Binh sĩ ào tuôn ra, chạy nhanh vô trong những chùm cây rậm…

Trở về Xuân Lộc, Tiểu Đoàn ứng trực hành quân trực thăng vận. Thằng 1, 2, 3 thay phiên nhau nhảy môt ngày thì nghỉ hai ngày. Mục tiêu thường là chung quanh thị xã, trong tầm đạn yểm trợ của pháo binh 105, 155. Đôi khi lục soát được vài cái máy may, đôi khi vài chục bao gạo, thuốc tây… Đó là kết quả của đám gian thương tuồn hàng cho VC. Đến gần xế chiều, cha con lục tục kéo ra quốc lộ, lên GMC trở về…

Xuân cầm quyễn sách bỏ túi: Le Don paisible ( Sông Don êm đềm) của Mikhail Cholokov lật tới lật lui. Chàng đọc hông biết bao nhiêu lần trong những ngày ứng trực nhàn nhã. Thanh đã vù cái ù cho đúng 24 giờ phép. Nghĩa, bà xã và hai người khác tối ngày lo điều binh khiển tướng dưới bụi chuối. Còn Chúc cứ ngày nào trên cái bàn ọp ẹp của nó cũng có bình trà với một vài cái ly cũ đóng đáy màu vàng khè, nhâm nhi trọn buổi. Gần xế chiều, thế nào cũng có một chút đế hay rượu nếp than của Bà Tư Thiệt. Hông nhiều, chỉ một hai chung nhỏ.

Lương sĩ quan có năm, sáu ngàn một tháng, đừng nói chi đến lính, hông đủ để mua Black& White, Jim Bean, Johnnie Walker nhản đỏ, nhản đen… hay Martell, Courvoirsier đâu.(So ra Martell $600 hay $700 thì cũng hông mắc lắm.Mà mấy ông thần nầy uống thứ rượu ngon uổng tiền. Khi mà mềm môi rồi thì đâu có phân biệt được rượu ngon hay dở. Tới nước đó, ba cái đế nước nhì nước ba lạt nhách lạt nhơ mà tụi nó cũng uống nghe tron trót. Đệ tử lưu linh thì một hai chai Martell thấm tháp gì ).

Lương lính đâu phải xài có một mình. Thằng nào độc thân hoặc gia đình khá giả,  rủng rỉnh “địa”  còn đỡ. Thằng nào có vợ con, một cảnh hai quê thì mỗi tháng phải“ chai hia”. Có nhiều thằng còn khổ hơn, lớp nuôi vợ, nuôi con, còn phải nuôi cha mẹ. Nên“đi lính” thì đâu phải lo cho lính. Phần đông vợ ở nhà phải lo kiếm ăn thêm. Thành thử, nhiều khi đại đội như là một gánh hát nho nhỏ. Vợ con lính  lẻo tẻo đeo theo để có thể sống đủ với đồng lương ít ỏi mấy ngàn một tháng.

Thằng Dẫu, ô đô của Chúc, là dân miền Tây, nên làm mồi giỏi lắm. Một hai trái cóc, vài miếng khô cá sặc trộn với mấy cọng bạc hà là cũng đủ đưa cay với một hai chiêu. Hai thầy trò khề khà rất lâu rồi mới tới cơm nước. Khi nào có mồi ngon thì Xuân cũng tới, ngồi vào cái ghế thấp, cà sịt cà sọt đóng bằng gỗ thông. Chúc, giờ đây coi bụi đời hơn Xuân nhiều. Nó ở gần thằng Dẫu riết rồi giọng Bắc kỳ của nó cũng có nhiều chữ r. Đôi khi rượu vào, chàng cũng nghe một vài tiếng địt mẹ và Chúc văng tục đủ thứ chuyện trời mây đất nước. Thời hai đứa là học trò, sinh viên và thầy giáo đạo mạo đã qua rồi. Cuộc sống nhà binh biến đổi Xuân và Chúc. Khi đụng trận, hai đứa cũng đụ mẹ, địt mẹ, đéo bà ỏm tỏi với đám lính đơ dèm cùi bắp mới tò te. Nếu hông, tụi nó nằm ì ra đó thì chết cả đám. Xong rồi, thầy trò vui vẻ cả làng.

Ngôn ngữ nhà binh là vậy. Có thằng nào lại hông chửi thề. Thằng nào hiền lắm như cục bột, rồi nhiều lúc ra trận cũng trở thành thằng ba gai, ba trợn, chửi thề tùm lum. Mà đâu phải ở lính mình đâu. Lâu lâu Xuân nghe mấy thằng Mẽo tụi nó cũng “Damn, shit, f..k” như thường. Có phải hở đi lính là như vậy hôn?

Thời làm trung đội trưởng, Xuân cảm thấy mình gần gủi với đám binh sĩ thân thuộc hơn. Bây giờ lên làm đại đội trưởng, chàng thấy có vẻ gì hơi xa cách, và thân tình cũng mất đi một chút. Đông con cái quá chàng hổng ngó ngàng hết được.

Trung Úy Trần Công Điềm, khóa 19, đại đội trưởng đại đội 3, mướn một căn nhà gần nơi đóng quân. Thỉnh thoảng anh Điềm và chị Liên mời Xuân ăn cơm. Bữa cơm có tô canh củ cải trắng và tép chín đỏ ngọt ngào do chị nấu bao giờ cũng ấm cúng tình thân gia đình. Chị Liên làm cho cơ quan Mỹ ở Xuân Lộc. Người chị nhỏ, lanh lợi, giọng nói nhỏ nhẹ. Ngôi nhà gọn gàng, ngăn nắp, sạch sẽ. Những đôi giày MAP da đen bóng lưỡng do ô đô đánh bằng Kiwi nằm ngay ngắn bên góc tường. Thật là một mái ấm gia đình lý tưởng cho người lính xa nhà. Anh Điềm ít nói, ít cười, đạo mạo, có vẻ như kiểm soát ông thượng sĩ thường vụ đại đội chặt chẽ. Còn Xuân, mỗi tháng chàng cũng biết số gạo dư ra của lính đào ngũ. (Thượng sĩ thường vụ Dương Thông nghĩ Xuân hông biết?).Nhưng mà làm gì với số dư đó? Chàng thích ngủ bờ ngủ bụi, lây lất cùng những binh sĩ thân yêu hơn là, để hông được nhìn ánh trăng xuyên qua lá sầu riêng, lá cà phê hay tiếng mưa rơi lộp độp trên poncho, để hông có đươc tiếng chào mời thân yêu khi đi  ngang qua độ nhậu đang xôm tụ: Lỳ lam ( Nói lái: Làm ly ) thẩm quyền! Đó có phải là một sự thiệt thòi hôn?

– Dạ thưa Trung Úy có thư. Cái thư nầy tôi vừa lên Tiểu Đoàn lấy về.

Bao thư đã cũ lắm rồi. Nhiều dòng chữ ghi nguệch ngoạc tùm lum lên đó. Nó đã chuyền đi qua ấy trạm quân bưu, từ KBC 4027 đến KBC 4511. Chắc Yvette hông biết Xuân ở nơi đâu nên gởi về trường. Nàng hy vọng là lá thơ sẽ đến tay chàng trước ngày đám cưới. Màu mực trên bao thơ cũng phai mờ.

Trung sĩ Trương Xuân Thu, thư ký đại đội, cầm lá thư nhăn nhúm, hơi ái ngại đưa cho Xuân. Tên người gởi vẫn chưa nhòa nhẹt. Hông phải Yvette Đỗ mà là Đỗ thị Đ… Sao kỳ lạ? Bao nhiêu tháng rồi.Tưởng chừng như lá thư hông bao giờ tới.Xuân cầm lá thư trên tay xoay qua xoay lại nhiều lần. Anh tìm dấu vết gì của em quanh bao thư nầy, hả em? Hông vội vàng, chàng lấy lưỡi lê rọc nhè nhẹ, rồi từ từ rút những tờ giấy ra…

Em ơi. Yvette Đỗ ơi!! Còn đâu nữa ngày chợt mưa chợt nắng làm ướt áo dài trắng em? Còn đâu nữa buổi trưa hè bên bến đò Bình Quới? Còn đâu nữa những ngày lang thang trên đường Tự Do? Còn đâu nữa những lúc hai đứa ở lỳ suốt ngày trong rạp Eden, chỉ xem có một phim? Còn đâu nữa những ly kem mát rượi? Còn đâu nữa? La vie en Rose? Mà em say mê giọng cao vút của Edith Piaf? Còn đâu nữa? Ngày hẹn sẽ trở về Mỹ Tho: Sao lại chỉ có mình mình? Còn con mình nữa chứ mình? Ôi! Còn đâu nữa? Còn đâu nữa?… Em ơi! Bây giờ thì chỉ còn có: Bóng hồng lẽo đẽo đi về chiêm bao! (Kiều)…

 

 

*****

– Thưa Trung Úy. Có Thiếu Úy Kha mới về trình diện Trung  Úy.

Xuân đang nằm trên võng, vụt ngồi dậy. Người thanh niên hơi lớn tuổi hơn Xuân đang ở trước mặt chàng. Đầu đội nón sắt mới tinh, có lưới ngụy trang; quần áo cáo cạnh ủi hồ thẳng nếp; hai bông mai vàng sáng giới; giây ba chạc một bên có gắn đèn pin màu cứt ngựa, một bên có địa bàn Lensatic bỏ trong bao; giây TAB đeo hơi lỏng, trễ tràng cây Colt 12 xề xệ hơi giống hình ảnh chàng cao bồi mỹ  mà Xuân đã coi từ lúc bé (chỉ khác là khẩu Rouleau), Thiếu Úy Kha đứng nghiêm chào, trình diện rồi bỏ tay xuống. Xuân nhìn vào sự vụ lịnh: Ngô Kha. Có phải Ngô Kha của vụ biến động miền Trung hông mà chàng đã từng biết tên qua báo chí? Sao lại lưu lạc đến tận nơi nầy?

Ngô Kha cũng là một cây đánh tứ sắc. Hoằng, khạp, đôi, lúc nào cũng có đều đều trên tay nó. Nó tới hoài. Hai vợ chồng Chuẩn Úy Nghĩa bứt từ chến nầy đến chến khác. Anh chàng lại có món ớt xào kiểu huế cay điếc con ráy. Mỗi lần ăn cơm là vít ra một miếng dèo dẽo hòa vô nước mắm. Trong đại đội hông có người gốc Huế, nhưng lần hồi, Ngô Kha cũng sống vui vẻ với anh em.Cũng treo võng tèng tèng dưới poncho.

Vậy chớ còn đỡ hơn Chuẩn úy Nghĩa. Hai vợ chồng luôn luôn ăn chay nằm đất. Mà có nằm giường thì kiếm đâu ra. Còn nằm ghế bố xếp nhà binh nhỏ tí tẹo, hẹp té làm sao đủ cho hai người. Phải bỏ tiền túi ra mua ghế bố chớ. Thiếu úy Thanh ngạo: “ nè hai ông bà có ngủ ghế bố thì nhè nhẹ thôi nhen, mạnh quá gãy chơn hết à nghen! ”. Tới phiên vợ Thiếu Úy Thanh ra thăm chồng nhơn dịp bãi trường, ở mươi ngày, thì cũng phải hạ thổ. Bà vợ Chuẩn Úy Nghĩa ghẹo lại: “ Kỳ nầy bà thế nào cũng có bầu. Ra thăm chồng mà cứ ăn chay nằm đất, Trời Phật chứng giám cho bà có con trai! ”

Ở một thời gian, thấm đời nhà binh, nụ cười Ngô Kha hông còn có vẻ khinh khỉnh ngạo mạn nữa.Nhưng bộ dạng vẫn vậy: cà xàng cà xàng. Giọng huế của Ngô Kha cũng giống các bạn thời 60 làm báo Thế kỷ Hai Mươi như Linh Vũ, Trường Dzạ.

– Giọng nói khó nghe quá. Mới đầu tui cứ ư ư hả hả với ảnh hoài. Cái gì mà ngụy chưa tề, ốt dột? Tui hổng hiểu gì ráo!

– Chị Nghĩa.Chị hông biết chớ giọng huế là giọng cổ xưa, còn rặc ròi của tiếng Việt. Chớ giọng Bắc thì lai Tàu Quảng Đông và Nam như mình đây thì lai Miên, lai Thái… một ít rồi. Giọng cô gái huế trầm bổng nghe ví von lắm đó chị!

Chỉ có anh chàng Chúc Bắc kỳ là còn hầm hừ hậm hực như chó giành xương. Rượu vào lời ra.Nó nói phang ngang bữa củi, “dọc ngang nào biết trên đầu có ai” (Kiều).Nó cứ nói Ngô Kha là người đâm sau lưng chiến sĩ.Trong lúc ở ngoài đơn vị lo chống giữ VC thì hậu phương kết bè kết đảng, nay ủng hộ người nầy, mốt lo ủng hộ người khác tranh giành quyền lợi, địa vị cá nhân. Họ làm cho hậu phưong rối tung lên. Tranh đấu cái gì? Tranh đấu để tiêu diệt lẫn nhau thì đâu phải vì quyền lợi quốc gia, đâu phải để cho dân tộc được trường tồn. Đó là những nhóm người ích kỷ, chỉ thỏa mãn tham vọng cá nhân. Trí thức cái gì? Trí thức mà còn ngu muội, bị mấy thằng VC nó xí gạt. Rốt cuộc thì cũng tàn đời luôn.

– Thôi mầy ơi. Chắc nó cũng bị đì dữ lắm rồi mới ra tới đây đó.

– Mông sừ nầy chơi không được. Cho lủy đụng mấy trận để lủy biết thế nào là gian khổ của lính.

– Sao hôm nay đột nhiên mầy sổ tiếng tây bồi vậy? Thì cũng sắp sửa hành quân rồi đây. Chiều nay tao có lịnh lên Tiểu đoàn họp. Bây giờ, ba thằng con có đầy đủ hết rồi, nên lủy làm đại đội phó, đi theo kè bên tao. Dù sao nó cũng là từng là thầy giáo như tụi mình, còn cà ngơ cà ngáo trận mạc lắm, đẩy nó ra tận cùng thì rủi nó chết cũng tội nghiệp. Mầy cũng nên chuẩn bị đi. Chắc kỳ nầy lủi vô rừng lâu đó.

– Tớ cam đoan với cậu là lủy không ở với mình lâu đâu. Cái phe Phật giáo lúc rày mạnh thế lắm đó, khuynh đảo đủ thứ chuyện. Ít hôm rồi họ cũng móc xừ lủy về cho mà xem!

Vì là hành quân lớn, chuẩn bị rầm rầm rồ rộ, nên có thể kế hoạch hành quân bị lộ hay bị nội tuyến(?). Cũng may là ngày hôm đó, hông hiểu sao Trung đoàn 11 kỵ binh Hoa Kỳ (đóng quân ở Black Horse, Hàng Gòn) lại tiến lên trước, chớ nếu hông thì hổng hiểu Tiểu Đoàn 3/43 đang di chuyển bằng xe có còn nguyên vẹn hôn?

VC đã độn thổ phục kích trên một đoạn đường dài khoảng hơn một cây số từ cuối ấp Bảo Vinh đến Suối Cát. Vài M113 và M41 bị đốt cháy. Thiệt hại hai bên đều đáng kể. Sau nhiều giờ Cobra quần thảo, chiến trường tạm yên. Xuân còn nhìn thấy những chiến binh VC ngụy trang đầy rơm bị chết cháy đen, có khi xác hông còn nguyên vẹn, còn nằm rải rác hai bên đường, bên miệng hố, và những người lính Mỹ còn gục trên pháo tháp M41 và bên hông M113. Có lẽ nhìn thấy lần đầu nên Ngô Kha hơi nhăn mặt. Chiến tranh có tàn ác hôn? Tại sao những người lính Mỹ bỏ mạng nơi xứ người xa lạ và những binh sĩ VC bị bùa mê thuốc lú  nằm bên nhau? Bạn cũng hên đó Ngô Kha! Nếu hông, Tiểu Đoàn đi đầu ngày hôm nay thì có thể bạn đã phơi xác dưới tay các đồng chí của bạn?

– Tụi mình chui vào rừng mấy hôm rồi?

– Hôm nay là bảy ngày.

– Vậy mà không thấy bóng dáng VC nào hết. Lội trong rừng ba ngày bị muỗi đốt, vắt cắn, khát nước.

– Cũng may cho mình. Có thể thằng 275 bị bể rồi khi đụng với Trung đoàn 11 kỵ binh Hoa Kỳ. Chắc nó rút đi xa, ngoài tầm pháo binh. Mầy đừng than. Còn tiếp tế dài dài, thêm nhiều đợt ba ngày nữa để lùng sục Mật Khu Mây Tào nầy. Tội nghiệp Ngô Kha. Chắc lầu đầu tiên nó lội rừng nên hông biết gì hết. Hôm trước có dặn phải đổi bông mai đen và đừng đeo ở hai bên cổ áo. Chỉ cần một bông mai đen gắn ở trước ngực là đủ rồi.

– Cậu có dặn ô đô chỉ cho nó cách mắc võng, căng poncho, quét sạch chung quanh chỗ ngủ để rắn rít không bò vô….

– Cái đó hông cần. Thằng tà lọt nầy lính cũ. Nó rành mấy vụ nầy. Dạo nầy, lính đào ngũ khá nhiều. Về 10 thằng thì đào ngũ hết 5, 6. Riết rồi, toàn thứ sút tay gãy cán, hổng đánh đấm gì được.

Thằng Ca, lính đơ dèm cùi bắp, hông trung đội nào chịu chứa. Nó là thằng ghiền mà hông hiểu sao phòng tuyển mộ lại nhận. Mỗi lần nó lên cơn là bày ống chích nhựa và kim cũ xì, dơ dáy ra. Nó lấy lon sữa bò rỉ sét, bỏ cục gì màu đen vô, đổ chút xíu nước, hơ đèn cầy, nấu cho sôi lên. Xong nó lấy ống chích hút vào độ 5cc. Rồi nó lấy ngón tay trỏ xoa xoa nơi cánh tay nổi u nần đầy gân xanh. Chỉ cần một tay thôi, nó cầm ống chích lanh lẹ bơm vào mạch máu.Thế là, a lê hấp, nó đứng dậy, vươn vai, lấy hai bàn tay chà chà cùng khắp mình mẫy ra vẻ sảng khoái. Bây giờ ai kêu nó làm cái gì nó cũng làm. Khổ hơn nữa là bà vợ lại cũng ghiền như nó. Mỗi ngày hai vợ chồng phải có đều hai cử như vậy, nếu hông, bọn họ ngồi cú rủ như hai con gà nuốt dây thun. Như thế thì làm sao mà đi đánh giặc được?

– Ngày hôm nay, tớ thấy nó “ngã bàn đèn” dọc đường. Ai đi qua cũng mặc kệ. Chừng xong rồi, nó ôm súng, vọt lên trước, tuôn bờ tuôn bụi ào ào, bất kể gai góc… Rủi đụng trận mà nó đang lên cơn như vậy thì chết cũng tội nghiệp.

– Tao biết làm sao bây giờ, hả Chúc? Mầy với tao thực ra còn biết Cộng Sản một chút ít qua sự tìm tòi riêng ở sách vở. Nhà trường thì chỉ có những giờ Công Dân Giáo Dục. Còn đám lính mình có hiểu rõ gì đâu? Khi mầy ở Thủ Đức, có giờ học về chánh trị. Có ai trình bày cho mày rõ ràng về sự nguy hiểm của chủ nghĩa Cọng Sản hôn?…

Chúc im lặng, lấy ra điếu thuốc quăn queo, ngửi ngửi. Trăng đã lên gần khỏi ngọn cây. Ánh sáng nhợt nhờ xuyên qua kẽ lá chập chờn rung theo cơn gió nhẹ. Nhiều cây cao nghều nghệu, thẳng tắp hình như những người khổng lồ vươn tay nắm lấy mặt trăng. Những cây thấp nằm lũng la lũng lẵng im lìm như ngủ say trong đêm ngà vắng lặng.

Đêm dần khuya. Hai đứa ngồi trên nón sắt gần bên nhau. Xuân thò tay vào túi, lấy bao thuốc Ruby Quân Tiếp Vụ xẹp lép ra, để vào lòng bàn tay, phà một hơi dài cho ấm, đưa lên mũi, hít một hơi thật đầy lồng ngực. Mùi thuốc thơm nhè nhẹ len rần rần vào phổi làm cho chàng tỉnh người. Đêm khuya. Rừng âm u, bí hiểm  say ngủ như chết. Thỉnh thoảng có tiếng tắc kè vang lên một hồi gần nơi đóng quân. Rồi, sau đó, từ xa xa, tiếng vượn hú đêm một hơi dài.

– Mình ở trong rừng sâu lâu quá. Gần hai tuần rồi. Thằng Nghĩa ngày hôm qua nó nói với tớ nó bắn máy bay ướt quần hết trơn.

– Nó có vợ đeo nó như đĩa mà còn vậy.

– Cậu đừng có cười. Khuya thức dậy, tớ đi đái xong rồi, mà nó còn không chịu xìu, cứ ngổng lên hoài.

– Thôi đi cha nội, ráng mà chịu. Ai lại hông như vậy… Thôi đi ngủ đi. Ngày mai, thằng Thanh đi đầu…

Đại đội đi khỏi nơi đóng quân khoảng ba tiếng. Có tiếng súng nổ dồn dập và tiếng hô xung phong vang rền. Xuân cùng hai người lính mang máy và Ni, Lang tuôn, vẹt cây đi nhanh lên trước, đến trung đội của Thanh. Tiếng súng vẫn còn nổ dòn và tiếng la hét vang dội kêu các người dưới hầm lên mau.

– Còn mấy người dưới hầm hông chịu lên Trung Úy.Hình tiếng đàn bà con gái hông hà. Lúc tụi tui chạm súng, họ có chống trả lại sơ sài, bắn vài ba phát đạn rồi rút xuống hầm.

– Anh có cho lục soát và bố trí chung quanh đây hết chưa? Để tui cho thằng Nghiệp lên phía bên trái phụ anh.

– Còn mấy người dưới hầm. Tôi nghe tiếng chí chóe, hình như tiếng con gái nhiều hơn. Kêu mỏi miệng rồi mà họ hông chịu lên. Hình như có một người bị thương.

– Dễ mà.Anh cho kêu ít lần nữa đi. Anh hăm hổng lên là ton lựu đạn xuống. Mà khoan, mình hăm vậy thôi chớ ton lựu đạn xuống là họ chết hết. Anh có lựu đạn khói hông? La hét cho dữ nó, rồi bắn ít phát bên ngoài. Hổng được rồi anh hãy cho tụi nó ton lựu đạn khói xuống.

Làn khói phủ trùm miệng hầm. Nhóm người dưới hầm lần lượt ngoi lên lóc nhóc như cá kèo trong bùn non. Ai nấy đều ho sặc sụa. Toàn là các cô gái trẻ bân, mặc đồ bà ba. Thanh cho gom cả đám lại, bắt để hai tay lên đầu. Mặt cô nào cô nấy xanh như tàu lá chuối. Một cô mạnh dạn la lên: còn một cô dưới hầm bị thương nặng ở chơn. Thanh nghĩ chắc có thể là cô du kích, chống cự lúc chạm súng đầu tiên.

Màn khói vừa tan. Cô gái cuối cùng lóc lách như cá rô, lên vừa khỏi miệng hầm. Một người lính nhanh tay bước tới tước lấy khẩu AK. Cô bộ đội áo quần sốc sết, đầu tóc rối nùi, hông bò nổi nữa, nằm bệt ngay ra đó. Hai người lính kéo cô ta lên. Dòng máu đỏ tươi rỉ ra ướt bắp đùi.Xuân cho y tá đại đội lên băng bó.

Các cô gái nhìn đồng đội của họ bị thương nằm im lìm. Họ tỏ vẻ lo sợ. Đám binh sĩ đột nhiên đi qua đi lại nhìn chầm chập vào bầy con gái. Đầu tiên, Xuân hông để ý, nhưng cuối cùng chàng nhận ra có một cô mặc áo bà ba đen đứng trên hàng đầu. Áo cô ta bị bung ra, tuột ba nút. Cái vú hơi lớn có núm hồng nhô ra nơi làn da ngực trắng ngà nõn nà. Hèn gì mà tụi nó…

– Tự nảy giờ anh hổng thấy gì hả anh Thanh?

– Hông. Tui đang lo cho cô gái bị thương.

– Đám lính của anh ngó chăm hẳm vô ngực cô gái bận bộ bà đen kia kìa.

Chắc cô gái hổng biết. Xuân bước tới, kêu cô ta bỏ hai tay xuống, gài ba nút áo lại.Và, chợt nhận ra, hai má cổ đỏ bừng bừng.

– Giống đực người khi nào thấy vú mớm cũng trở thành trẻ con đòi mân mê và bú vú mẹ. Hơn nữa lính mình ở trong rừng gần hơn mười ngày rồi Trung Úy.

– Cho nên tui sợ đám đực rựa mình làm ẩu. Mình ngừa vậy thôi, chớ mấy thằng cốt đột đó biết chỗ tụi nó quậy. Có khám mấy cô đó chưa?

– Có đứa nào dám khám đâu thẩm quyền?Chỉ có Trung sĩ Nhẫn làm bộ gan gan, tới sờ sờ sau lưng và bóp bóp bắp chuối mấy cái. Mấy cổ đã la oai oái rồi. Tui nghĩ đây là mấy đứa con gái cạo mũ ở vùng đồn điền Cẩm Mỹ, Cẩm Đường. Phải có nữ quân nhơn mới mò tới sú chiêng và xì líp mấy cổ coi có giấu gì trong đó hông, chớ có thằng đực rựa nào rớ tới được!

– Thôi, cho tụi nó lấy mấy cuộn vải xé ra trói mấy cổ rồi chút nữa giao cho Tiểu Đoàn. Có lịnh trên rồi. Tuôn mấy bao gạo đổ hết đi. Luôn thuốc tây nữa. Toàn là đồ của mấy gian thương Long Khánh bán cho họ hông đó, chớ ai đâu.

– Còn cô bị thương sao, thẩm quyền? Cô ta bị thương hơi nặng. Có tải thương được hông?

– Tôi báo lên Tiểu Đòan rồi. Chỗ nầy là rừng già. Cây cao to cồ. Trực thăng hông đáp được. Hông biết làm sao. Để lâu chắc hư chưn. Tiểu đoàn có cho trợ y lên chăm sóc thêm. Bây giờ cổ nằm im hổng rên nữa.

Ít lâu sau, hai người cố vấn Mỹ lên đến chỗ Xuân. Tiểu đoàn báo là họ sẽ cố gắng xin trực thăng tải thương. Khoảng một giờ sau, một chiếc trực thăng bay đến, nhưng bay vòng vòng hoài gần mười phút. Rừng già, nhiều cây cổ thụ quá rậm rạp. Họ đã thả mấy trái khói màu rồi mà trực thăng hông tìm ra được. Cuối cùng, họ bắn một trái sáng. Trực thăng bù cắt ( bù cắt hay bồ cắt: môt loại chim giống như ó, diều hâu… thường hay chớp chớp hai cánh bay một chỗ rất lâu trên đồng ruộng ở miền Nam khi săn mồi.) trên ngọn cây, thòng xuống một cái ghế ngồi. Người Mỹ ẳm cô gái đặt lên ghế, buộc dây cho chắc. Cô gái từ từ được rút lên cao. Các bạn của cô ta ngạc nhiên nhìn hai chàng mũi lõ mắt xanh. Họ có biết ơn và hiểu thế nào là lòng vị tha của những kẻ đang đối đầu với họ hôn?

Ngô Kha lên vừa đúng lúc y tá băng bó cô bộ đội. Nó ngạc nhiên đứng nhìn những cử chỉ lanh lẹ và sốt sắng của người lính cứu thương. Rồi, nó quay lại nhìn những cô gái đang ngồi xổm hai tay trói thúc ké. Nó đưa mắt nhìn Xuân như ngầm nói lên điều gì đó mà nó hông ngờ có thể xảy ra được. Khi người Mỹ ân cần bồng ẳm cô gái để lên ghế, Ngô Kha càng ngạc nhiên hơn nữa. Thang dây cuốn cô gái từ từ lên cao. Ngô Kha ngước nhìn theo. Gương mặt nó đăm chiêu. Xuân hổng biết có một sự thay đổi nào hông về cách nhìn của nó đi với người lính quốc gia và những người lính nước ngoài tham chiến ở Việt Nam hông?

Khi đại đội vừa giao xong các cô gái cho Tiểu đoàn thì trời bỗng nhiên tối sầm lại. Sấm chớp nổi lên. Cơn mưa lớn bất thình lình đổ ập xuống. Mỗi người trùm lên một cái poncho lầm lũi tuôn vẹt rừng cây đi âm thầm trong tiếng mưa rơi lộp độp. Chẳng ai nói với ai một lời. Mưa vẫn rơi. Màu nước đục trắng xóa xen trong lá cây. Tiếng mưa ào ào vang lên cùng tiếng gió lộng giống như tiếng thác đổ.

Thanh nhìn những người lính trùm poncho mang trên lưng ba lô nặng nề đi như những người gù. Trong những ba lô đó chứa đủ thứ vật dụng cho những cuộc hành quân dài ngày. Lại còn cái ruột tượng đựng gạo vắt ngang trên vai. Ô đô của chàng còn vất vả hơn với phần ăn hai người. Trong ba lô của Thanh chỉ có một cái poncho, một cái võng nylon, một bộ quần áo và một đôi vớ sạch để thay ngủ trong đêm (còn ban ngày bận lại bộ đồ dơ đi tiếp), một cuốn sổ nhỏ để ghi chép, một lọ thuốc muối, một bình Calamin thoa cho khô chơn, một bình nhỏ thuốc trừ muỗi và vắt. Đầu tiên, Thanh sợ những con vắt tí hon nầy. Chúng nhỏ hơn con đỉa, sống vật vờ trên cành lá. Chúng búng vào lỗ tai, chui vào quần áo len lỏi đến tận nách, háng mà mình hông biết. Cho đến khi cảm thấy ngứa, thò tay vào, đụng một cục nhầy nhớt bằng ngón cái, bốc đem ra mới biết là con vắt hút đầy máu. Vết cắn của con vắt cũng độc như con mòng, nhiều khi làm thành một lỗ sâu nhầy nhụa, phải chữa trị một thời gian dài mới hết.

Mưa càng ngày càng lớn. Những người lính mang trên lưng ba lô nặng nề và súng đạn cộc kệch. Họ di chuyển càng khó khăn và chậm lại. Đường trơn trợt. Thanh cố gắng đi gần lên đầu để dễ quan sát và hướng dẫn đi đúng hướng.

Tiếng súng nổ dòn vang lên. Hình như AK nhiều hơn. Xuân giựt mình chợt nghĩ chắc trung đội của Thanh đã lọt sâu vào căn cứ địch. Chắc do trời mưa mù mịt, lính mình trùm kín poncho hông quan sát được rõ ràng.

– Báo cho thằng 2 biết là có thằng 3 đang lên ở phía trái của nó. Anh Kha, anh đừng nằm xuống. Nằm xuống anh hổng thấy gì đâu, hơn nữa lính nó chê anh nhát. Anh cứ đứng như tui đây. Đạn đang đi hơi thấp mà. Anh nằm, đạn trúng đầu anh. Súng đạn ở chiến trận nó hông chừa ai đâu. Anh cứ từ từ theo tôi. Anh hổng né được đạn đâu, chỉ có đạn nó né anh thôi.

– Trung Úy!

– Gì đó anh Kha? Anh đừng nằm nữa. Tiếng đạn kêu chíu chíu là nó đi lên cao lắm đó. Còn chừng nào anh nghe nó sẹt sẹt là nó đi thấp trong rừng cây. Mà anh đừng sợ. Gần 30 lính chết mới có một sĩ quan chết. Từ đầu năm tới giờ mình chưa có người lính nào chết mà. Vậy là chưa tới phiên anh và tui đâu!

Xuân nói vậy chớ chàng thấy tay chơn Kha cũng rung bây bẩy làm tấm bản đồ cũng rung theo, môi lập cà lập cập và mặt xanh lét như tàu lá. Nó cố gắng đi càng sát Xuân càng tốt, làm như chàng là bùa hộ mệnh, có lá chắn cho Kha.

Garant M1, carbin M1, Thompson và trung liên nổ cũng dòn tan, nhưng hông bì được AK nổ chát chúa hơn. Lại thêm B40, B41 lấn át M79. Khói bay mù mịt hoà lẫn trong màn mưa đục ngầu. Thằng 2 bữa nay cũng lì đòn, càng ngày càng bắn rát và dữ dội. Nhiều tiếng lựu đạn M26 nổ đùng đùng. Thanh đang hò hét, thúc anh em hung lắm. Hổng hiểu có chuyện gì đây. Xuân lên bên Thanh. Chàng cho toán trinh sát của Ni, Lang tiến sát trung đội Thanh.

Đôi khi Xuân bực bội với trung đội vũ khí nặng. Cây đại liên 30 khó bề xoay trở. Một người mang nòng. Một người xách càng đi theo. Một nhóm kè kè các thùng đạn lề mề, lúp xúp bám đít. Lắm lúc hay kẹt đạn. Có bắn được gì nhiều để uy hiếp địch. Lại còn cối 60 ly. Nhiều khi hông làm được việc gì. Cũng lại một người vác nòng, một người ôm chân đế, môt nhóm đeo khoảng chục trái đạn. Trong rừng già nầy, đại liên 30 và cối 60 hông hữu dụng bằng trung liên gọn nhẹ. Hạ sĩ A trẻ, to con cốt sì tô coi toán đại liên và ông hạ sĩ già Hanh điếc ù ù cạc cạc coi toán cối 60. Họ làm cho Xuân bối rối. Rừng cây dày đặc. Súng cối bắn đi đâu? Ôi! Súng đạn cổ lổ sĩ thời đệ nhị thế chiến, trang bị cho người lính thân yêu của tôi, cũng như là trói tay họ trong cuộc chiến kỳ quái nầy!

Nhờ thằng 3, trung đội Thanh đã cố gắng tràn lên chiếm được hai hầm, lấy được xác của Ơ và dìu trung sĩ Hơn rồi rút về. Mưa nhiều quá.Trời chiều. Rừng già tối thui. Pháo binh bắt đầu TOT ( Time on Target ). Rừng cây rung động, đổ cành lá ào ào…

Đại đội lui về, bố trí lại, cho canh gác cẩn thận, nghỉ qua đêm. Thằng Ơ và trung sĩ Hơn nằm sát bên Xuân, chung quanh là những thân cây ngã. Mọi người có vẻ mệt mỏi sau cơn mưa tầm tã vì hông ăn được cơm chiều .Quần áo ai nấy cũng đều ướt nhèm nhẹp. Hông căn được lều. Hông mắc được võng. Hông củi lửa. Thằng Sanh chuyền cho Xuân một ít mì vụn nhưng chàng trả lại, đổi lấy bịt gạo xấy ta. Gạo xấy mỹ lạt nhách, ăn như bã mía. Hông có nước nên hông thể ăn mì vụn mặn. Xuân lấy tay nhón một nhúm gạo xấy dòn rụm bỏ vô miệng. Chàng đợi một lúc lâu cho gạo thấm nước miếng mềm đi rồi chắp chắp một vài cái và nuốt. Hổng có mùi. Chỉ có vị hơi đăng đắng nơi cổ họng khô nước. Mình như vầy thì hông hiểu mấy thằng lính của mình như thế nào? Chàng nhổm dậy, rón rén đi lần qua Nghĩa. Tụi lính thằng nào thằng nấy nằm xui cò gối đầu lên ba lô, miệng nhóm nhép. Chắc chúng cũng đang gậm gạo xấy. Đêm nay hông đèn đóm. Hông căng poncho. Hông võng. Mặc sức cho muỗi cắn, cho vắt búng.

Ngô Kha cầm bịch gạo. Nó hông biết làm gì, trở qua trở lại. Xuân thấy nó có vẻ thẩn thờ. Có sự chuyển biến trong đầu của nó? Từ hồi Kha về đại đội đến giờ, anh em tránh hông bao giờ tranh luận với nó về vụ biến động miền Trung, về cuộc chiến Quốc Cộng đang xảy ra, về lòng yêu nước. Xuân biết nếu có tranh luận xảy ra thì thế nào cũng mất lòng anh em với nhau. Người Việt hay tự ái, hay tranh hơn thua và ít khi chịu hòa đồng.

– Anh ăn đi. Đêm nay hông có củi lửa đâu. Nhai mấy nhúm cho đỡ đói. Đừng ăn nhiều quá. Mình hông có nước. Ráng qua đêm.

Trái sáng pháo binh thỉnh thoảng nổ bụp. Vùng sáng lung linh làm bóng cây rừng ngã nghiêng như bóng ma quỉ quái múa may nơi địa ngục. Rồi đột nhiên màn đêm trở lại.

Người lính chiến chết nơi trận địa thật dễ dàng. Thằng Ơ và vợ xin 48 giờ phép về Phước Lợi thăm gia đình. Chưa hết phép đã thấy hai vợ chồng lót tót lên.

– Ơ, sao mầy lên sớm vậy? Chưa hết phép mà.

– Dạ. Ông già vợ ổng hối đi. Ở đây tụi bây cũng đâu có làm gì. Đừng để trễ phép Trung Úy phạt. Con vợ tui nó khoái ở đây hơn, có chị em trong đại đội nó được nói chuyện suốt ngày. Hơn nữa, ở đây gần nhà thương.

Con Tím mang cái bụng chình ình mà hông chịu về dưới chờ ngày đẻ, cứ quấn quít bên thằng Ơ hoài. Tối ngày Tím xề qua xề lại với các bà vợ lính để mặc thằng Ơ lo đi chợ, cơm nước cho nó. Hôm sắp sửa hành quân, Thiếu Úy Thanh dặn thằng Ơ là phải ở nhà vì nó chưa hết hạn phép, nhưng nó cứ nằng nặc đòi đi.

Đêm đã khuya lắm rồi. Hồi lúc chiều, rừng bị động. Thú hoảng sợ, chắc chạy thẳng cẳng. Hông còn nghe tiếng nai tác, mễm chép… chỉ có nghe được tiếng cành gãy rớt nhè nhẹ trong đêm. Thằng Ơ nằm im lặng bên Xuân. Con Tím chắc chưa biết chồng chết. Cổ mà biết rồi thì hổng hiểu cổ khóc đến cỡ nào. Còn Hơn lâu lâu rên khe khẽ.

Phùng Xuân hông ngủ được. Suốt đêm chàng nhìn lên bầu trời đầy sao lẫn trong rừng lá cây. Có một tí xíu của chòm sao Cày. Thằng Ơ nằm im lặng, như một giấc ngủ sâu ngon. Nó và Phùng Xuân giờ đây ai sung sướng hơn ai? Đâu ai biết được vì hông có ai có kinh nghiệm về sự chết. Một người hông còn thở được là chết. Có như thế mà Xuân lẩm cẩm. Nhưng thằng Ơ còn nằm bên chàng. Ơ ơi, mầy có ngậm được gạo xấy hôn?

Bây giờ là mấy giờ rồi. Đêm sao dài quá. Những lá cây khô có ánh sáng như lân tinh chập chờn như những bóng ma trơi. Thỉnh thoảng có tiếng xù xì nho nhỏ. Xuân chắc là mấy người lính kêu đổi gác.

Sáng ngày hôm sau, trực thăng bỏ xuống một bao đựng xác. Thằng nào cũng giành để thằng Ơ vô trong bao. Hổng thằng nào chịu kéo khóa lại. Tụi nó đứng nhìn thằng Ơ một hồi lâu. Phùng Xuân hông hiểu tụi nó nghĩ gì? Mầy chết là mầy thoát nợ nghen mậy. Tụi tao còn phải lội rừng dài dài?

– Mau lên đi. Còn phải khiêng lên Trung Đoàn mới có bãi đáp. Vừa đi vừa về cũng mất cả buổi. Anh Thanh cho bốn đứa. Hai đứa khiêng xác thằng Ơ, còn hai đứa võng thằng Hơn. Mình ở đây chắc trọn ngày hôm nay. Phi cơ oanh tạc cũng nửa buổi…

 

*****

Phùng Xuân đi vòng quanh mấy lần chỗ ở của thằng Ơ và con Tím. Hổng còn gì hết. Chắc vợ nó tóm sạch đồ đạc rồi gởi đâu đó. Giờ nầy chắc con Tím đang ôm quan tài của thằng Ơ khóc ngất. Rồi nước mắt của những người vợ trẻ khóc chồng cứ tiếp tục .Ôi chiến tranh! Nước mắt chiến tranh triền miên đong đầy được bao nhiêu? Có làm được một dòng sông hông?

Tội nghiệp con Tím sắp sanh. Thằng Ơ hông kịp thấy mặt con. Lều võng của Trung sĩ Hơn cũng mất tiêu. Có lẽ gia đình lên mang về. Hổng hiểu Út Lâm có tới bịnh viện Cọng Hòa thăm nó hông. Hy vọng nó được phân loại hai để về Vỏ Xu làm đám cưới.

– Buồn quá, Chúc. Xúi quảy tận mạng. Mấy thằng lính có vợ trẻ sắp đẻ là bị ngủm củ tẻo hông à? Có gì lai rai chút cho đỡ buồn hôn mậy?

– Để tớ cho thằng Dẫu nướng con khô mực. Có rau càng cua trong mấy bụi chuối. Hái rồi, trộn trộn thành gỏi cũng dô được vài xị.

Bữa ăn cũng đâu có gì. Và bàn ăn, bằng ván thông vụn nối lại xập xệ, kê dưới bụi chuối. Ghế ngồi lặt lìa. Nắng chói chan. Thế mà bọn họ, năm thằng sĩ quan, cũng cù cưa cù nhầy, đưa qua đưa lại cho hết hai bi đông rượu đế đậu nành Gò Đen rồi tới nếp than. Mặt thằng nào thằng nấy buồn so. Nhứt là Thanh, nó ngồi bí xị, chắc nó thương thằng Ơ lắm.

Mọi người xé khô mực nhai ngồm ngoàm với ba cái rau tiêu để đưa cay. Lần đầu tiên Ngô Kha nhẩm món đế cay xè nầy. Nắp bi đông đầu tiên, nó nhăn mặt, nhíu mày. Nhưng qua đến nắp thứ năm thứ sáu, có lẽ y hơi thấm. Anh chàng uống vào rồi khà một tiếng nghe có vẻ điệu nghệ. Các “ông nội” uống rượu lộ ra tính khí: có người mới nhậu vài ly là quậy phá; có trự móc colt ra chĩa lên trời bắn pằng pằng; thằng thì đỏ mày đỏ mặt, tía tai; đứa thì ngồi gục gà gục gặt như gà nuốt dây thun- gà chết-; có me sừ hừng chí nói tía lia, có chuyện gì cũng phun ra hết; có chàng đía trên trời dưới đất, khoe ta đây đánh giặc giỏi…

Còn Kha ngồi im lặng. Rồi nó cũng tỏ ra dân nhà binh “chịu chơi chớ hổng phải chơi chịu”, vói lấy điếu Ruby lỏng le vỗ vỗ xuống bàn cho chặt lại. Ngô Kha trề môi ra, nhăn mặt, ngậm điếu thuốc một bên mép rồi thò tay lấy Zippo, để ngón cái, búng một cái trốc. Một ngọn lửa xanh lóe lên. Nó bập bập một vài cái rồi ngước mặt lên trời, phà một làn khói xám bạc dài. Gương mặt thoáng suy tư. Có phải nó muốn nói điều gì? Và rồi, đúng như Chúc nói. Sau đó, khoảng năm 1967, Ngô Kha ( Một vài người cho Phùng Xuân biết rằng sau năm 1975, ở Huế, đã làm lễ truy điệu thiệt lớn cho Ngô Kha.Có phải Ngô Kha đã từng ở đại đội 2 TiểuĐoàn 3/43 với Phùng Xuân? ) có sự vụ lịnh trở về Sư Đoàn.

Lính ở đại đội Xuân có ba thành phần. Đông nhứt là những nông dân chất phác, hiền lành, ít học. Đến tuổi quân dịch, họ bỏ ruộng vườn, trình diện vào quân ngũ. Và họ siêng năng, chăm chỉ, ít quậy phá, ráng cố gắng thi hành nhiệm vụ cho hết hạn rồi trở về lại với miếng vườn của họ giống như binh nhì Ơ, binh nhứt Mừng…

Thứ hai là những người lao động nghèo ở thành thị, có trình độ học vấn kém. Họ biết xoay trở và lanh lợi, thích quậy phá, thường hay đào ngũ. Có những chàng là dân Cầu Ông Lãnh hoặc là dân chơi cầu Ba Cẳng như Ni và Lang.Còn nếu họ học khá, thường chạy chọt vào những nơi văn phòng – nơi ít va chạm với súng đạn. Nếu họ có ra đến đơn vị tác chiến thì trước sau gì họ cũng đào ngũ.

Còn lại là thỉnh thoảng có một ít lao công đào binh. Họ chiến đấu giỏi, gan dạ, lì lợm, cũng thích quậy phá sau những cuộc hành quân. Và nếu chán ngấy với đời sống ở đơn vị nầy, họ sẳn sàng đào ngũ đi qua đơn vị khác.

Còn một thành phần hơi ngoại lệ. Những người lính quân dịch gốc Hoa. Họ siêng năng, chăm chỉ, hay đút lót, chạy chọt để về những chỗ an nhàn. Họ ít khi trụ được lâu như Lưu Anh.

Đám trốn quân dịch rồi bị bắt đi lính thì mấy khi ở lâu nơi tác chiến. Trước sau gì, họ cũng trốn. Chiến cuộc càng ngày càng khốc liệt thì có nhiều cách luồn lách để trốn quân dịch: lính ma, lính kiểng… Có những chàng thanh niên cố huỷ hoại một phần thân thể để mong khỏi đi lính, nhưng vì nhu cầu chiến trường, họ cũng bị bắt đi.

Hạ sĩ quan phần đông là học sinh thành thị. Có loại hông thích đi sĩ quan, có loại học kém nên phải vào lính. Cũng có hạ sĩ quan ba gai giống như một vài sĩ quan mới ra trường, thường gan lì, có vẻ như ta đây, coi trời bằng vun. Nhưng nói chung, ba gai cách mấy cũng hông bằng những chàng lính ở những đơn vị ” vào sinh ra tử ” dám chơi trò Russian roulette…

Tiếng súng trung liên nổ dòn tan trong đêm khuya ở khu Hoàng Diệu. Khu nầy có nhiều quán ba. Lính thường hay nhậu nhẹt say sưa và đánh lộn sau mỗi lần hành quân về. May là ở Xuân Lộc chỉ có lính của Sư Đoàn nên ít khi đổ máu. Mấy chàng GI thường hay né trong những dịp nầy. Hơn nữa Xuân hông hề thấy có sự đụng chạm nào xảy ra. Nói đúng ra, đó là khu quán ba yên lành.

– Trung Úy ơi! Trung úy xuống đó lôi đầu tụi thằng Ni, thằng Lang về. Mau đi, chớ để Quân Cảnh hốt là sáng mai mình mắc công đi lảnh tụi nó. Rồi còn bị ký củ nữa.

– Mấy thằng quỉ nầy. Lần nào cũng vậy. Hành quân lâu ngày về là có phá làng phá xóm .Kỳ nầy, lôi tụi nó về là tui cắt cu mấy thằng quỉ sứ nầy cho tụi bây hết quậy nữa.

Nói vậy chớ chàng cũng thấy thương và tội nghiệp cho lính của mình. Họ lội trong rừng sâu, chịu đói, chịu khát, muỗi, mòng cắn chích, vắt búng, trân mình giữa lằn tên mũi đạn, sống chết hông biết lúc nào, quanh năm suốt tháng hông biết thế nào là bữa cơm ngon. Nhiều khi ăn được tô hủ tiếu nước lèo lạt nhách, uống được ly lade, ly xá xị… bên quán xập xệ ven đường, sau cuộc hành quân dài ngày trong rừng sâu là niềm sung sướng vô biên. Từ  trong rừng chui ra gặp được quán lèng xèng, uống được ly lade con cọp có đá, hút điếu nút chuồn, Thiếu Úy Thanh nhiều khi phán cũng bạt mạng lắm: ”Trời ơi, con đĩ mẹ nó, người nó tăng tăng rần rần,  sương sướng và đa đã còn hơn thảy lỗ!”

Nhiều thằng lính hông có tiền, cầm ly đá lạnh, lắc leng keng, thỉnh thoảng nhấp một chút cho đã thèm. Đôi khi, bọn họ ngậm cục đá lạnh trong miệng cho khoái rồi nhai rôm rốp. Ni và Lang coi vậy chớ cũng dân bị gậy lắm. Khi mậu lúi, tụi nó đi qua đi lại. Thấy tội nghiệp, Xuân kêu lại, cho hai thằng một chai lớn, kêu tụi nó chai hia. Làm gì Xuân có đủ địa, chi cho mỗi thằng lính của mình một chai con cọp!

Lính xa nhà thiếu thốn đủ thứ. Đơn vị hông có cái gì để giải trí. Radio cũng hông. Báo chí cũng hông. Ti Vi cũng hông tuốt. Chỉ có báo Tiền Tuyến nhưng hổng có thằng lính nào ngồi đọc. Tụi nó xài cho việc khác. Sức của thanh niên biết xài đâu cho hết, thành thử tụi nó quậy là phải. Ăn thua là mấy ông sĩ quan trung đội trưởng còn trẻ dặn dò tụi nó. Thỉnh thoảng cũng chịu chơi với tụi nó. Đừng để tụi nó chơi chịu, mất mặt bầu cua rồi dân chúng hổng ưa.

– Sao mình hổng có văn nghệ văn gừng gì vậy hết, Trung Úy?

– Tụi bây ở gần Sài Gòn, ráng lết về dưới mà coi. Biệt đoàn Văn Nghệ ưu tiên cho lính tiền đồn.

– Nói thiệt, hông có, còn khoẻ gà. Chớ có, nhiều khi, sau khi xem trình diễn, tụi em còn nắng cực thêm.

– Giỡn mặt mầy Ni. Sao vậy tụi bây?

– Hồi tụi em có đứa ở Biệt Động Quân, “năm khi mười quạ” mới có văn nghệ. Tới hồi cuối, có mấy cô trẻ bân bận xú cheng, xì líp, nhảy sexy cà hẩy cà hẩy. Coi đã con mắt. Nhạc cà rậm cà rựt. Chơn tay cà giựt cà giựt. Vú mớm cà tưng cà tưng. Phao câu cà xàng cà xịt. Đèn chớp lung tung loạn xà ngầu. Trống đánh rậm rật điếc con ráy. Một lúc, bất thình lình, bốn năm đứa đồng loạt tháo xú cheng một cái rụp. Chưa kịp thấy vú lớn vú nhỏ gì hết, có ngon lành hôn, đèn phựt tắt. Xú cheng bay ù xuống. Tụi nó tranh nhau giành giựt, khoái chí la om sòm. Tụi tui càng nóng máu thêm. Tụi nó la hét thiếu điều muốn bể hội trường. Bis!… Bis!… Bis đâu nữa mà bis. Chỉ có mấy cái xú cheng mà thôi mà cũng la cho rảng họng. Có thằng đứng ị ra đó, bần thần. Hổng biết nó làm cái mồ tổ cha gì đó. Chắc ướt quần quá?

– Rồi tụi bây làm gì?

– Làm gì hả Trung Úy? Trung Úy muốn biết hả? Thằng nào độc thân hổng có tiền, nhờ chị năm. Thằng nào có tiền thì đi gặp chị em ta. Mấy thằng có vợ, về lều thả poncho xuống.

– Nè. Tụi bây cẩn thận hen. Tụi bây hút sái hông à nhen. Thằng nào có gì lên Trợ Y Tiểu Đoàn xin thuốc liền nghen. Để đi xà bát xà bát khó coi lắm đó.

– Thẩm quyền khỏi lo vụ đó. Tụi nó rành sáu câu.

– Tao nhớ mình hông có văn nghệ gì hết mà tụi bây cũng xin 24 giờ phép lia chia.

– Mấy thằng đó có vợ đó, thẩm quyền. Thẩm quyền mà cho nó đi phép nhiều là dân số tăng đều đều.

Nhiều khi có đứa kèo nài xin 48 giờ phép. Hai mươi bốn giờ hông đủ. Sao hổng đủ? Bài hát của Trúc Phương vừa đủ đó! Con vợ em nó đi buôn nhiều khi về hổng kịp. Đủ thứ chuyện. Nhà ở tuốt trong làng xa, quê em trong đồng sâu…

– Cho tụi bây đi lâu quá. Trở ra đơn vị hết xí quách rồi còn đâu nữa mà đi hành quân.

Mà cơ khổ. Nói nào ngay, thầy trò ở đây đâu có xa xôi gì đâu, mà nhiều khi như mấy thằng mán, mọi cà răng căng tai. Họ chẳng biết ở Sài Gòn thay đổi như thế nào, văn nghệ văn gừng bây giờ ra sao, phòng trà, vũ trường… ai hát hay, ai hay hát, ca sĩ nào ăn khách. Mai ông nầy lên, mốt ông nọ xuống. Cả một nồi canh hẹ. Tranh ăn nhau từng ly từng tí. Họ mù tịt tất cả.

Giải trí của lính là gì?Cờ bạc là chính:Cát tê, bài cào,  tứ sắc, sập xám chướng, xì dách, đô mi nô…Ít khi có gió Đông, gió Tây.Vì cái món đó lâu ăn thua, hông hồi hộp, hông xôm tụ, vì chỉ có bốn trự ăn thua đủ thôi, rồi phải có bàn ghế đâu ra đó thì xoa mới đã.Chỉ có các ông nhàn rổi mới thích ù.

Còn dân lính ngủ bờ ngủ bụi, hông à nghen! Đánh phé mới đã! Phé là xôm tụ nhứt: cháy túi mau và đứng tim, toát mồ hôi hột. Chỉ cần banh poncho là gầy sòng được. Thông thường thì bốn, năm tụ chính đặt tiền. Quanh đó là một mớ tiền của nhiều tay con ăn ké cũng có máu đỏ đen, cờ cơm bạc gạo, hông có gan làm giàu. Nặn phé là khoái chí tử nhứt. Mỗi lần bắt lên một con bài, tay chủ nặn lên chầm chậm như rặn đẻ. Các tay ăn ké ghé mắt nhìn con bài lộ ra từng tí. Xong cha con bỏ xuống. Thấy bài tốt thì tố.Hông tốt thì im re. Nhà cái biết, nhiều khi cũng thấu cấy, xét bài trước. Cò con thì tố ké, nhí nhí. Nhiều tay chủ tụ bạo gan, chơi mạnh, cầm nguyên xấp tiền vừa mới lãnh lương, hông cần đếm, đặt cái cụp ra trước mặt. Mấy thằng đó ngon, dám ta pi.(Mà hông hiểu sao lần nào lãnh lương cũng toàn là tiền mới gắt chỉ. Nhà nước in tiền lậu chắc!) Nhà cái chưa vội coi bài, liếc sơ qua các tụ. Xong nhà cái nặn từng lá, rồi đánh xẹt bài ra xuống poncho, trình làng. Nhiều tiếng chửi thề xì ra. Đụ mẹ, bị thấu cấy rồi. Nó có cù lủ sất mà ăn bứt. Ba Tây mà hổng dám kéo nữa! Nhà nào ăn tiền mới, nhà cái cứ chung nguyên xấp tiền mới đo đo cho bằng, hông cần đếm. Còn lại, a lê hấp, vừa coi vừa vùa. Vậy mới đã. Coi vậy chớ đến vận xui, nhà cái cũng bứt rả họng. Thế là xong một canh phé trong khói thuốc mù mịt: Ruby, Cotab, Capstan, Basto, Nút chuồn, Salem, Malborow, Camel… Đám chầu rià được dịp bàn tán um sùm. Canh bài nhiều khi thâu đêm suốt sáng mỗi kỳ đầu lương. Có thằng cháy túi, đổ mồ hôi hột, mất trắng tháng lương, ăn cơm kho quẹt. Hông biết tiền đâu gởi về cho vợ. Nói láo là thượng sách. Nhiều bà vợ biết mánh. Tới kỳ lương, chận nơi chỗ phát… Có nhiều ông trự biết làm ăn, tổ chức một đêm đánh bài có cháo gà, cháo vịt, thêm đồ nhấm rồi lấy xâu. Đêm đêm cũng kiếm bộn bạc..

Sau đó là toán thích nhậu nhẹt, quậy phá. Buồn lòng, nhớ em út thì đi làm một quả. Mà ở Xuân Lộc đâu có nhiều chỗ, chỉ có hai nơi: khu Hoàng Diệu ở dọc đường rầy và khu sau chợ. Có vậy thôi. Lính dễ thôi. Hành quân đến chỗ nào có nhậu nhẹt, đĩ điếm là lính biết liền. Hình như lính đánh hơi được “ cái mùi đó ”. Giống như ong rùi vậy. Hay thiệt. Xuân cũng phục mấy thằng tay chơn bộ hạ của mình. Hỏi là tụi nó chỉ liền. Chỗ đó đó, ông thầy. Ngon hơn! Ngon cái gì tụi bây? Ông thầy hổng biết thiệt hả? Lồn lạ bằng một tạ vàng đó ông thầy! Phùng Xuân cười hả hả.“Mấy thằng bây, thằng nào cũng có con lợn lòng bự tổ cha!”.

Ôi thôi! Mình hư quá rồi! Tụi nó dạy mình toàn những câu rượu dạy hông hè!.“Cầm tay em như ăn bì nem gỏi cuốn. Dựa lưng nàng như uống chén rượu ngon. Gái một con trông mòn con mắt. Gái hai chồng nắc nổ con ngươi!”…

Thằng học sinh, thằng sinh viên, thằng giáo sư rồi giờ là thằng lính bụi đời, hoang đàng đĩ điếm trong thời chiến tranh, ăn tục nói tĩu, bạt mạng. Mà mình hư đốn cho đến bao giờ, hả Chúc? Cho đến khi chiến tranh chấm dứt? Chiến tranh nầy biết bao giờ mới hết? Miền Bắc điên cuồng cứ đánh cho thoã mãn tham vọng, cứ nướng quân theo lệnh xúi quẩy của Tàu Cộng mưu mẹo. Miền Nam gồng mình chống đỡ. Súng ống, bom đạn thời đệ nhị thế chiến trong kho tuôn cho hết thì cuộc chiến tàn? Mình còn sống sót nỗi hông?

Phần đông lính đi phép đều phải đi xe đò Nam Thành, chạy đường Long Khánh- Sài Gòn. Loại xe Renault tôn tư cũ kỹ, chạy cà rịt cà tang. Từ Xuân Lộc qua Cua Heo, đèo Mẹ Bồng Con, Dầu Giây, Hưng Lộc, Hưng Nghĩa- Trại chăn nuôi-, Ngã ba Sông Thao, Vườn Cam, Trảng Bom, Hố Nai…về đến Sài Gòn mà cũng mất nửa ngày. Sĩ quan cấp nhỏ sợ bị bắt dọc đường nên thường thay đồ xi vin cho an toàn. Còn lính trơn cứ để vậy mà đi.

Đời sống lính tráng là như vậy. Cấp nhỏ bay bướm quá nên nhiều khi bướm bay mất tiêu.

 

 

*****

Khi thấy ánh đèn xe Jeep 606, đám lính biết có chuyện nên  tản đi mất hết. Ni và Lang chắc xách súng lủi ngõ nào về đại đội. Ngày mai, biết thế nào Xuân cũng cho tụi nó vô chuồng cọp, nên có khi họ trốn biệt đâu đó.

Phùng Xuân bước vào ba. Trống vắng. Một cái bàn ngã nghiêng nằm đó. Vài cái ghế lăn lóc. Chàng tính hỏi xem có chuyện gì xảy ra. Chợt một người đàn bà  trẻ hiện ra.

– Trung Úy, muốn uống gì hôn?

– Mấy thằng quỉ hồi nảy quậy quán chị phải hôn? Có bị hư hao gì hông?

– Thì mấy ông thần đó mà. Hành quân về là vô đây uống đã đời rồi khích tướng, đập bàn đập ghế tính oánh lộn. Nghe tiếng xe, mấy ông nội đó vọt mất rồi.

– Có phải Ni và Lang hôn?

– Ủa?Lính của Trung Úy à? Mấy người đó trời thần đất đỏ lắm đó. Còn Trung Úy, sao coi hiền quá vậy?

– Sức mấy! Tui mà hiền hả? Chưa gì hết sao chị biết tui hiền? Hồi mới ra trường, lon lá còn nhỏ, hông có hiền đâu! Cũng bán trời hông mời thiên lôi. Ký củ hoài.

Một người thiếu nữ mang ra cho Xuân một chai lade và một ly đá. Chàng ngước nhìn lên. Đôi mắt tròn, đen. Chợt một tia sét chớp trong đầu chàng. Nhanh. Thật nhanh làm chàng choáng váng. Đúng rồi. Chắc chắn là phải. Hông ai khác hơn. Nụ cười nầy. Gương mặt nầy. Đôi mắt nầy.

– Xin lỗi cô. Cho tui hỏi chút nhen? Cô tên là Loan?

– Tui… tui… tui…

– Cô ở Cái Bông, Giồng Tre, Bến Tre.

– Sao… sao Trung… Úy biết?

– Tư Én. Loan trào đờm. Anh Ba đây mà!

– Chèng ơi! Anh … Anh… Anh Ba!

Bà chủ quán ba lấy làm lạ. Con nhỏ nầy quen với chàng Trung Úy như thế nào mà bá vai ôm cổ ổng khóc mùi mẫn. Loan lính quýnh láng quáng quơ tay. Chai lade đổ. Nước rượu chảy tràn trên bàn, sủi bọt lan xuống đất.

Hai người đi bộ. Bóng họ mờ nhạt, chập chờn theo ánh đèn nhà hai bên đường om lòm. Trời đêm hun hút cao đầy sao. Hông có trăng. Trăng đâu rồi, hở Loan? Ánh trăng suông của đồng Mỹ Nhiên? Chút chút, Loan dừng lại, cứ ôm chặt người thanh niên như sợ mất đi. Hàng mấy năm, Loan hông tin mình tìm lại được anh Ba của mình. Nàng bắt chàng ngừng  lại, đứng trước mặt chàng, nghiêng đầu ngó qua ngó lại, coi có đúng là Anh Ba của nàng của mấy năm về trước. Anh Ba của nàng giờ đây coi có vẻ khác hơn năm xưa. Hình như oai hùng hơn là phải? Chàng bật cười rồi dang hai tay ôm lấy nàng, ôm thật chặt, hun một hồi lâu, làm nàng muốn nghẹt thở, hụt hơi. Hông còn mùi nắng khét, mùi bồ bồ, mùi bùn sình của cánh đồng Mỹ Nhiên nữa. Loan bây giờ trắng trẻo, xinh xắn. Mái tóc dài uốn quăn bỏ lơi xuống bờ vai. Nét đẹp của nàng sắc sảo hơn, mặn mà hơn như trái vú sữa trắng đã chín mùi. Vẻ ngây thơ hồn nhiên của đồng hoang ruộng vườn hông còn nữa. Loan nói huyên thiên, về những ngày ở trong cánh đồng đầu tiên Loan gặp Xuân…

Họ về tới chỗ đóng quân. Thật khuya. Xuân banh poncho cho thêm rộng. Hai người nằm xuống nhìn lên bầu trời đầy sao. Chỉ có một cái ba lô anh làm gối. Em nằm lên cánh tay anh vậy. Họ chưa vội nói một lời nào. Loan muốn Xuân mở lời nói trước. Nàng e ngại sợ anh Ba hông hiểu mình tại sao lại trở thành gái bán ba như vậy? Còn Xuân, chàng đợi Loan, đợi một cử chỉ âu yếm của nàng. Bây giờ Xuân cũng đã có gia đình rồi. Hai người hổng còn như thuở ở Mỹ Nhiên nữa. Cái thời hăng say, bồng bột của tuổi trẻ đã đi qua. Có một khoảng gì xa cách mà họ hông hiểu được. Họ hông còn tự nhiên như ở giữa đồng không mông quạnh thuở xưa. Nàng choàng tay qua người Xuân trước tiên, rồi rúc đầu vào ngực chàng, xong chồm người lên hun vào má. Ôi! Mùi thuốc lá ngây ngấy, một chút cay nồng, một chút ngọt thơm nồng nàn như tiêu lốt ( tiêu lốt: khi chín màu hơi đỏ, trái thon dài, hột chi chít ). Loan kề môi hun, say sưa thưởng thức những gì nàng chưa tìm được ở người tình lúc thời còn nơi đồng hoang.Chàng xoay người qua, đắm đuối ôm siết Loan. Má, môi, ngực chạm ngực. Nàng hiểu rõ phải như thế nào. Loan chậm rải, hông còn mạnh bạo và ồ ạt như xưa. Qua bao năm, Loan dày dặn hơn.

Trời sắp hừng đông. Ai cũng mệt rã rời… Loan vội vàng bận lại quần áo, vuốt lại mái tóc cho suông sẽ. Nàng hối Xuân trời sắp sáng rồi đừng nằm chần chờ nữa.

– Anh có mắc cỡ hôn, khi ngủ với gái bán ba hông? Anh có nhớ em hôn? Em cố gắng tìm anh trong mấy năm nay mà hổng gặp.

Xuân hơi ngạc nhiên. Lời nói và thái độ của Loan rất chửng chạc. Tư Én bây giờ đã trưởng thành. Nàng tỏ ra hiểu biết nhiều hơn và hông còn vẻ quê trất của cô gái đồng ruộng chuyên chăn vịt chạy đồng.

– Hông có gì anh phải xấu hổ. Gái bán ba thì có gì đâu mà phải dấu diếm. Em bán ba chớ có phải bán thân đâu mà em mắc cỡ? Mà dẫu em có bán thân, gặp em trong tình cảnh nầy anh lại càng thương em. Vì anh mà em nên nỗi nầy!

Sao lại hông nhớ em. Anh tìm em ở nhà thương Bến Tre rồi Mỹ Tho. Về sau, còn xuống tận Cái Bông. Thôi em đừng khóc nữa. Giờ mình gặp lại nhau rồi. Sao lúc rời đồng về nhà em hông hú một tiếng cho anh biết. Nè em, còn con của mình ra sao rồi?

– Sao anh biết? Bữa đó má vô rước, làm sao ghé chòi cho anh và Vân biết. Chuyện còn dài lắm. Khi nào có dịp, em sẽ kể anh nghe.

Buổi khuya sau, Xuân đón Loan về rất trễ. Hai người nằm nghỉ một chút thì trời đã sáng. Sau khi đi ăn, Loan dẫn Xuân đi vô con hẻm bùn sình. Một xóm nhà “ ổ chuột ” ở đầu sân bay Xuân Lộc. Xuân biết khu xập xệ nầy. Chỉ có những gia đình lính nghèo nàn mới ở đây, chung đụng với nhóm người buôn gánh bán bưng ở chợ Xuân Lộc.

– Vào đây làm gì hở em?

– Thì đi với em đi. Em gởi con ở trong xóm nầy. Anh có muốn gặp nó hông?

Xuân hy vọng gặp lại đứa con tính ra nay cũng đã sáu, bảy tuổi. Xuân nghĩ đến đứa con chắc giống chàng từ gương mặt, cái càm, lỗ mũi. Còn hai mắt chắc giống Loan. Người ta nói đứa con của những trai gái yêu nhau rồi xa nhau, khi sinh con, đứa trẻ rất giống cha? Tới căn nhà ở cuối sân bay, hai người bước vào.

– Sao mấy hôm nay cô Tư hổng tới.Thằng nhỏ nó nhớ cô, nó khóc quá chời.

Người đàn bà bồng xốc nách thằng nhỏ bước tới. Xuân nhìn thấy, hơi ngỡ ngàng. Một đứa trẻ lai: tóc màu bạc, mắt xanh, da trắng ngà. Loan đoán biết Xuân đã hiểu gì rồi. Nàng xoay nhìn Xuân ngại ngùng. Nhưng đứa con đòi mẹ nên Loan vội vàng đưa hai tay ra ẳm con. Đứa bé gặp mẹ, mừng rỡ. Hai tay, hai chơn nó vung vẫy. Xuân lấy tay xoa xoa lên đầu, nó cười hắc hắc.

– Anh có khinh em hông? Em là con me Mỹ. Em thấy ai cũng coi rẻ em. Em trốn tránh mọi người. Em hông cho ai biết em có con mỹ lai.

– Hổng có gì đâu. Tội nghiệp cho em. Anh hiểu rõ tình cảnh của em.

– Anh có muốn thỉnh thoảng mình đến thăm thằng Ken hôn?

Hông có thời giờ cùng Loan đến thăm Ken. Hành quân lùng và diệt địch lại tiếp tục. Vào sâu trong Mật Khu Hát Dịch. Cả bầu đoàn thê tử ì ạch kéo vào cánh rừng âm u để kiếm bóng dáng của Trung Đoàn 33VC muốn đánh mình lúc nào thì đánh. Cũng cảnh mưa rừng, cũng đói khát rã rời. Lần nầy chẳng thấy bóng ma nào hết. Cuộc chiến du kích mưu mẹo, tinh quái. Chỉ có một cách thắng là bày thế trận để VC chấp nhận giao tranh với mình. Như vậy chắc chắn là VC sẽ thua. Như trận đánh Long Tân với Chiến Đoàn Úc ngày 18 tháng 8 năm 1966. VC dàn trận đánh với đội quân thiện chiến, hoả lực mạnh, vũ khí tối tân thì kể như lượm xác…

Xuân mệt mỏi, ngã lưng nằm xuống ghế bố. Chàng ngạc nhiên thấy đồ đạc được sắp xếp gọn gàng. Lại có thêm mấy gói Ruby xanh. Chưa kịp tháo đôi giầy ra thì Trung sĩ Trương Xuân Thu đi đến, đưa cho chàng một bao thư dán kín.

– Của ai đó anh Thu?

– Của cô Loan đó Trung Úy. Mấy ngày thẩm quyền đi hành quân, cổ hay tới đây, nấu nướng ăn uống một mình và dọn dẹp đủ thứ. Cách đây hai ngày, cổ đưa cho tôi cái thư nầy nhờ tôi trao lại cho Trung Úy. Rồi hông thấy cổ tới nữa.

 

Anh thương mến,

Chắc anh hông ngờ là em viết được những dòng chữ nầy? Con Tư Én hay con Lon trào đờm ngày nào bây giờ đã thoát xác rồi,  phải hôn anh?

Lúc anh đi khỏi Cái Bông, chừng hai tháng sau là em thấy người em lạ lùng. Em bù trất, ngu dốt lắm. Em đâu biết là mình đã có chửa. Tới chừng Sáu em biết được, ổng nổi lôi đình, ổng đánh em một trận gần chết cha mồ tổ. Em biết rồi đây em cũng hông thể sống ở làng được. Dân làng họ sẽ rêu bếu người con gái chửa hoang. Đêm đó, em tóm gọn quần áo. Em bỏ nhà trốn đi như một con điên.

Em lang thang ở chợ Bến Tre hơn nửa ngày. Em sợ lắm. Em biết đi đâu bây giờ? Sực nhớ tới dì chín Mạo, bà con họ xa với Má em, ở Vang Quới. Em đón xe về Bình Đại, xuống xe Vang Quới, em hỏi thăm lần nhà dỉ, tính xin dỉ ở nhờ. Tới gần chiều tối, em mới tìm được nhà. May hồn, dỉ ở có mình ên. Con cái đi làm xa. Mới đầu em hông dám nói cho dỉ biết là em có bầu. Sợ dỉ biết dỉ tống em đi. Em chỉ nói là em gây lộn với Sáu em. Ổng giận ổng đuổi em đi. Em ở đó chừng một tháng, em thấy dỉ coi bộ cũng thương em, cần em để hủ hỉ với dỉ. Tới chừng đó em mới thú thiệt. Dỉ chỉ chửi em: “Tổ cha mầy, đồ con gái đĩ ngựa, mê trai” rồi thôi.

Mang cái bụng bầu, em đi làm thuê làm mướn để sống qua ngày. Lắm khi ngồi làm cỏ mướn trong vườn vắng lặng, em thầm khóc một mình. Bây giờ anh ở đâu? Có biết tên anh đâu mà kiếm anh? Bụng mang dạ chửa em sống cu ki? Sao em khổ thế nầy? Mai đây em sẽ sanh đẻ ra sao? Rồi làm sao nuôi con? Rắm rối quá, em khóc và hỉ ướt cả cánh tay áo.

Tới ngày sanh, em đành bán sợi giây chuyền để có tiền trả cho bà mụ vườn. Dì chín Mạo cũng tốt bụng, chăm lo cho mấy ngày đầu em đẻ. Rồi đầy tháng, em cũng lết đi làm để có chút đỉnh tiền, mong ăn uống khá hơn để có sữa cho con bú. Dì chín nhắc em ra làng để làm khai sinh cho đứa nhỏ. Vì là con hông cha, nên làng bắt phải khai họ mẹ. Em đặt tên con là Trần Anh Thương, để mãi nhớ tới anh. Anh có quên hôn? Lúc khuya đó, ở sau chòi, em nói là em sẽ đẻ cho anh đám con và sẽ đặt tên là  thằng hai Thương, thằng ba Anh, con tư Quá, thằng năm Trời.

Bà mụ mát tay mà thằng nhỏ cũng dễ nuôi, mau sổ sữa. Những khi em đi làm hơi xa nhà, hông về kịp cho nó bú. Dì chín quậy nước cơm với đường tán cho nó uống, vậy mà nó cũng uống ừng ực. Gặp em là nó mừng quýnh và cười hăng hắc.

Có cô bạn cùng làm cỏ mướn rủ em lên Sài Gòn làm thợ ở mấy hãng xưởng có tiền hơn. Nhưng kẹt thằng Thương còn nhỏ quá em bỏ con đi hông đành. Hơn nữa dì chín có chịu nuôi nó hôn. Em tính khi nào thằng Thương biết đi lẩm đẩm, em dứt sữa nó, em sẽ năn nỉ dỉ chịu khó coi sóc thằng nhỏ. Em lên Sài Gòn làm có tiền đem về cho dỉ nuôi con dùm em.

Có lẽ Trời Phật phù hộ cho em và con, anh à. Dì chín cũng thương thằng Thương, tối ngày hai bà cháu quấn quít nhau. Ngày em bỏ con đi lên Sài Gòn làm việc, hai mẹ con ôm nhau, em khóc ngất. Bỏ nó ở lại, em như đứt ruột vì nó là máu mủ của anh. Anh ơi! Em thương nhớ con và nhớ anh lắm. Biết tìm anh ở đâu? Em thầm vái có ngày Trời còn thương em, sẽ cho em gặp lại anh.

Những ngày đầu tiên ở Sài Gòn em lạ nước lạ cái, hông biết gì hết. Con nhỏ bạn có người quen xin được việc làm trong hãng dệt ở Thị Nghè. Em với nó mướn một chái nhà cũ, ọt ẹp gần trường tiểu học Thạnh Mỹ Tây. Hai đứa nấu cơm ăn chung nhau, cũng chỉ là rau muống chấm tương chao, trứng vịt, đôi khi là cá mòi hộp, nhưng còn đỡ hơn ở dưới quê… Em dành dụm được chút ít. Hàng tháng em về Vang Quới đưa tiền cho dì Chín và thăm con.

Lần hồi em mua chiếc xe đạp, tập chạy và đi được đây đó. Chời ơi! Sài Gòn sao mà rộn rịp. Phố phường đông đúc. Thật là một đời sống an bình. Biết kiếm anh ở đâu giữa rừng người ồn ào náo nhiệt, hở anh?

Phong trào văn hóa bình dân nở rộ. Tụi bạn rủ đi học lớp đêm miễn phí ở bên Gia Định. Từ nào giờ Tư Én nầy có biết gì, một chữ cắn làm hai hổng bể, nên nghe nói được đi học miễn phí, em liền theo các con nhỏ bạn ghi tên học. Đêm nào cũng vậy, cả toán tụi em, bốn năm đứa, đạp xe từ Thị Nghè đến ngã ba Hàng Xanh theo đường Ngô Quyền qua Gia Định. Đi học như vậy em thấy vui vẻ, đỡ nhớ thằng Thương và anh.

Thầy giáo khen em sáng dạ. Học tới đâu nhớ tới đó. Mấy nhỏ bạn thấy vậy súi em học nhảy. Kỳ đầu em học nhảy hai lớp: năm, tư. Năm sau ba lớp: ba, nhì, nhứt. Đến bậc trung học em học một năm hai lớp: đệ thất và đệ lục, đệ ngũ và đệ tứ. Em học kịp những đứa bạn đã học trước em hai năm. Có lần lớp đêm phải nghỉ học vì đảo chánh lật đổ Tổng Thống Ngô Đình Diệm. Sau đó, em có ghi tên học tư thêm lớp đệ tứ để luyện thi Trung Học Đệ Nhứt Cấp. Có bằng cấp thì đi làm khá lương hơn, phải hôn anh? Nhưng có lẽ vì học nhảy quá nhiều, em hông có căn bản nên bị trượt vỏ chuối. Mà cũng phải, chỉ  lo học tủ và gạo hông thì làm thế nào mà giỏi được, trở thành bùi kiệm thôi. Em buồn quá, bỏ học luôn.

Khi khổng khi không đưa đẩy em làm sở mỹ ở Long Bình. Cũng là do mấy đứa bạn rủ ren, cho là làm ở đó khá và nhàn nhạ hơn. Nóng lòng làm việc có tiền nhiều để nuôi con sau nầy, em đi theo tụi nó. Sau những đợt làm giấy tờ và  kiểm soát lý lịch kỹ lưỡng, em được nhận. Buổi sáng và buổi chiều xe buýt đưa đón ở Ngã ba Hàng Xanh. Công việc cũng hông có gì khó khăn và cực nhọc: chỉ là quét dọn, làm sạch sẽ những căn phòng của các binh sĩ. Dãy trại làm bằng gỗ, có nhiều phòng cho các người lính. Mỗi phòng nhỏ, vừa đủ cho một cái giường, một cái bàn và những món đồ lặt vặt mà em hổng biết là những thứ gì.

Chàng sĩ quan Mỹ kỳ lạ, cứ đeo bám em như đỉa đói. Mới đầu em tưởng ông ta chỉ giúp mình như mọi người khác, nhưng hông, ông ta lo cho em mọi thứ thật đàng hoàng vậy đó. Đưa em từ chỗ làm ra đến cổng; rồi sáng, đứng chờ từ cổng chở em đến chỗ làm. Hông hiểu làm sao ổng biết được ngày sanh của em. Đến ngày đó ổng mua tặng em một phần quà. Và kết quả, sau những tháng đeo đuổi em, em biết ra Biu cũng yêu em một cách tha thiết. Rồi tụi em đã sống chung với nhau như vợ chồng.

Nhưng em đâu biết rằng mấy người bạn em từ đấy nhìn em với con mắt khác. Tụi nó bắt đầu ít chơi thân với em. “Thứ đồ lấy Mỹ” là giọng nói thường thường em nghe thấy. Xã hội đã ruồng bỏ, khinh khi em, cho em là hạng gái vô học, chạy theo vì mê đồng đô la xanh, đô la đỏ. Họ cho những người lấy chồng mỹ là hạng gái mạt rệp. Mà thực ra, cũng có những người lấy chồng mỹ cố tình bòn rút, thậm thụt buôn bán chợ trời đủ thứ. Chiều nào ở chợ Tam Hiệp cũng ồn ào náo nhiệt bán đủ các mặt hàng chui từ căn cứ Long Bình ra. Họ còn cố tình tạo ra những tiếng ba rọi để khi dễ các bà me mỹ. “Ai đồng nai tổ bị chợt”( I don’t like to be touched ) là thứ tiếng em thường nghe thấy khi họ trêu ghẹo các cô gái bán ba.

Nhưng Biu rất thương em và càng chăm sóc em như một người chồng tốt. Em nghĩ như vậy là cũng đủ cho em. Em là cô gái quê nghèo nàn mà giờ đây được ấm no là hạnh phúc lắm. Cuộc sống em dư dã nhờ Biu cung cấp cho em mọi thứ. Em đem về dì chín để nuôi Thương được đàng hoàng hơn.

Từ khi có bầu thằng Ken, em hông cho dì Chín biết là em có chồng mỹ. Dỉ tin rằng em đã lấy chồng việt nam. Dỉ nói mai mốt mầy đừng bỏ thằng Thương cũng đừng dẫn nó theo mầy. Dỉ sợ mất nó. Nhiều khi lâu quá em hông về, thằng Thương nó nhìn em trân trân và còn làm mặt lạ. Anh ơi, biết làm sao bây giờ? Con hông cha mà mẹ ít khi ở gần. Có thể lớn lên nó hổng nhìn em quá.

Sau khi đẻ thằng Ken, rất lâu em mới về Vang Quới một lần. Gởi con lai rất khó. Ít có ai chịu giữ con lai. Họ lấy cớ là cái thứ đồ lai khó nuôi, khó dạy, hay phá phách… Tìm được người coi chừng thằng Ken một ngày, chạy về thăm thằng Thương rồi lên liền chớ đâu có dám ở lâu để nựng nịu nó, chơi giỡn với nó.

Biu đươc đổi về Long Khánh. Biu muốn em phải bồng con theo.Tụi em mướn môt căn nhà ở đầu sân bay gần chỗ Biu làm việc. Cách đây mấy tháng, chồng em bất thình lình được chuyển về Bến Tre. Nghe thấy thế em sợ lắm. Em nói với ảnh xin đi chỗ khác đi, đừng về đó. Ai cũng nói Bến Tre là cái ổ VC, anh cũng biết mà! Nhưng Biu nói để anh về quê hương em cho biết. Thế là chồng em nhứt quyết đi. Và còn dặn khi nào yên chỗ, Biu cho hay, em hãy bồng thằng Ken xuống.

Hai tháng trôi qua. Mất tin tức Biu. Em hết tiền. Biết mần gì để mà có tiền nuôi hai mẹ con. Gái lấy chồng mỹ lại dốt trâng, đâu có nghề ngỗng gì. Đường cùn, em xin đi bán ba. Những quán đó là nơi xô bồ xô bộn. Phần đông khách vô ăn nhậu đều tưởng gái bán trong tiệm đều là gái đĩ điếm hay loại hư hỏng. Họ giả bộ ngà ngà say  bốc hốt sàm sỡ: xoa xoa lưng, sờ sờ đít, bóp bóp vú, ngắt nhéo má… và ăn nói bộp chộp, lỗ mãng, trây trúa. Nhậu đã đời, họ còn cà chớn hỏi có đi hôn? Nhứt là mấy tay ba sồn ba sựt,  hay già khú đế. Khi mềm môi, hổng hiểu có sướng ích mà hai tay họ bươi móc còn liều lĩnh hơn, cứ tìm mấy chỗ hiểm hóc mà mò mà thọc riết tới? Em biết làm sao? Chỉ cười nói vả lả và ngậm đắng nuốt cay để có tiền nuôi con. Hơn năm tháng rồi em chưa về thăm thằng Thương. Tội nghiệp cho con em. Hai đứa bây giờ biết thương đứa nào bỏ đứa nào.

Gặp lại anh, em vừa mừng vừa tủi. Mừng là gì mấy năm nay cố gắng tìm anh để cho anh biết là mình còn có đứa con. Tủi là gì em hông còn xứng đáng với anh nữa. Em đã có chồng khác: người chồng mỹ và một đứa con lai. Mấy hôm anh đi hành quân, một mình em ngồi ở lều trống vắng, em tủi thân em khóc và hông còn hy vọng gì ở mãi với anh. Anh còn có gia đình và em còn có Biu và Ken, nên em quyết định đi về Bến Tre tìm Biu. Chỉ xin anh một điều: anh ráng lo coi sóc thằng Ken dùm em độ mươi ngày. Khi tìm được Biu, em sẽ quay trở lại ẳm con đi theo.

 

Con Lon trào đờm thương anh hoài vậy đó.

 

  1. Nhờ Trung sĩ Thu, nên em bây giờ mới biết tên anh. Anh Xuân của em. Anh có biết là anh mất cái áo sơ mi sọc rằng lúc ở Mỹ Nhiên hông. Tay em đã lấy đó. Nếu sau nầy, có dịp thăm con ở Vang Quới, anh hỏi dì Chín Mạo. Dỉ sẽ đưa cho anh cái áo đó.

 

Mấy ngày sau, ngày nào Xuân cũng tới thăm Ken. Thằng bé thấy chàng cũng quấn quít. Nhưng chàng nghĩ hông thể kéo dài tình trạng như thế nầy mãi. Rủi bất thình lình, Xuân bận hành quân xa, lâu ngày, người chủ nuôi họ sẽ đem cho Ken vô cô nhi viện, hoặc bán hay cho ai đó. Nên sau khi năn nỉ chị Hiền ráng trông coi Ken một thời gian, chỉ đồng ý. Chàng đón Ken về đại đội.

Ở đại đội kêu nó là thằng mỹ lai, chớ hổng kêu tên. Tối ngày nó lẩn quẩn bên mấy người vợ lính, chọc phá, bươi móc đồ đạc, nhứt là moi mấy cái vớ hôi rình trong mấy đôi botte de saut thúi hoắc. Nhiều khi họ la om sòm nhưng hổng dám đánh nó. Một thời gian sau, chị Hiền tính trả nó lại cho Xuân. Chỉ sắp sửa lấy chồng ở trong rẫy xa. Còn Loan đi đâu tới giờ hông thấy trở lại? Chỉ còn có một cách là đem nó về sống với gia đình. Người thư ký đại đôi đã xuống quận Xuân Lộc làm khai sanh cho Ken, khai bớt đi hai tuổi…

 

 

*****

Út Thèm đã 17 tuổi rồi. Từ ngày chị Tư Én nó bỏ nhà ra đi, nó phải thay chị nó, mỗi năm một mùa, chăn vịt chạy đồng. Rồi còn làm đủ mọi công việc nhà. Ông Sáu Lục đã bị bịnh dai dẳng một hai năm nay. Tối ngày ngồi một chỗ, ổng ho sù sụ. Lúc ở trong đồng Út Thèm tụ tập đàn ca hát xướng với mấy thằng ở những chòi kế bên. Lâu ngày hông hiểu bị dụ khị như thế nào, nó trở thành du kích xã. Rồi mấy tháng sau được sung vào tỉnh đội. Nó cùng Út Nhạy, em của Ba Đẹn ở Lương Quới, hoạt động rất hăng say. Đôi khi đấp mô ở đoạn đường Mỹ Lồng- LươngQuới nhầm phá rối. Những hàng me xanh tốt hai bên đường lần lần bị cốt đi hết. Có khi đặt mìn giữa lộ  để giật nổ xe nhà binh của Quận chạy lẻ tẻ. Khỏang từ  năm 1966- 1967, các toán Thám Sát Tỉnh (PRU) được thành lập, hoạt động từng nhóm nhỏ, khoảng từ 5 đến 10 người, thường hay đột kích lúc trời gần sáng vào những căn cứ của tụi nó. Nhiều lần, Út Nhạy và Út Thèm chạy sất bất xang bang, trối chết, trốn chui trốn nhủi mới hổng bị tóm được .

Bill về BếnTre để huấn luyện các toán PRU. Hôm nay nó có việc đi xuống Giồng Trôm. Hông hiểu sao Bill hông muốn có đoàn xe hộ tống. Nó biết vùng nầy có nhiều du kích mà? Nó muốn đi một mình để nhìn thấy quê hương của vợ? Chiếc Jeep lùn A2 của Bill chạy ngon trớn trong bụi đỏ mù mịt đến Giồng Trôm. Vừa qua khỏi cầu Bình Chánh, đến ngang Cá tLỡ, Bill thấy một đám khói lẫn cát đá tung bay rồi nghe một nổ thật lớn. Chiếc xe bị nhấc bổng lên cao, nhào lộn, lật qua bên kia đường. Hình như có tiếng hô lớn của một nhóm người. Bill bị văng ra khỏi xe. Nó mơ hồ biết xe bị mìn. Súng đâu rồi? Văng đi đâu mất tiêu? Người tài xế chắc chết? Cả một đám người lố nhố tràn lên.

Bill bị trói thúc ké dẫn đi trong những vườn cây ăn trái rậm rập ra tới bờ sông Bến Tre. Hai chơn bị lột mất vớ nên bị trầy sướt tùm lum. Có lúc nó phải đi cà nhắc. Bọn họ đẩy nó xuống xuồng, xong chèo qua bên Đông Ngô. Trực thăng bắt đầu bay lượn vòng trên ngọn dừa và thỉnh thoảng bắn đạn rốc kết xuống những lùm cây bần dọc theo bờ sông.

– Con mẹ họ, nó biết rồi. Làm sao đây?

– Chắc thằng đế quốc nầy có bỏ máy gì trong người nó nên con chuồn chuồn nầy theo hoài. Bắt nó lột quần áo ra hết trơn đi Út Thèm.

Nhưng trực thăng vẫn vòng vòng trên trời. Bây giờ lại có thêm hai chiếc võ trang bay đến yễm trợ. Bill đau chơn quá hông chạy mau được.

– Chết mẹ. Hai con cồng cộc tới rồi. Chắc tụi nó thả mấy thằng rằn ri xuống ví tụi mình quá.

– Làm thịt thằng đế quốc đó đi, để rảnh nợ, chạy cho lẹ. Lè lẹ đi.

Út Thèm đưa súng lên, bắn liền hai phát vào sau lưng Bill. Bill đang chạy. Thân hình nó bay nhấc khỏi mặt đất rồi rớt xuống. Hai dòng máu đỏ trào ra ở ngực. Nó chúi mũi ngã vô đám ô rô và mái dầm dày đặc bên sông, dẫy dụa một vài cái rồi chìm lĩm vào nước sâu…

Loan lật đật xuống xe lôi, tìm đường đến bến về BaTri. Một ngày nay nàng loang quanh ở BếnTre để hỏi thăm tin của Bill, nhưng hông có ai trả lời rõ về Bill. Bên toán cố vấn Mỹ họ hông cho biết chi tiết. Chỉ biết là chồng nàng mất tích. Người ta chỉ đại cho nàng qua Phòng Ba Tiểu Khu. Ông Trung Úy Nguyễn Tấn Nghiệp trả lời có biết vụ nầy, nhưng cách đây hơn tháng rồi. Quận Giồng Trôm có cho một đại đội Địa Phương Quân truy tìm nhưng hông tìm được gì hết. Bên cố vấn Mỹ có thả mấy toán PRU để cố tìm Bill, nhưng hông có kết quả. Nàng buồn xo, suôi xị ngồi xe về Cái Bông.

Con đường làng như xa lạ. Những cành cây de ra hai đường che khuất lối đi. Nàng thấy như mình lạc đường về nhà. Sao lạ vậy? Mới có sáu bẩy năm thôi mà? Cây cỏ khác đi. Và cảnh vật cũng khác đi. Cái gì cũng lạ quắc lạ quơ. Nhà mình có lạ đi hông. Hàng cây bụp có còn hông. Bụi chuối sau nhà trổ được bao nhiêu quày rồi?

Sáu nó lừ mắt nhìn nó. Chắc ổng còn tức giận, hông nói hông rằng. Tưởng nó bỏ nhà đi theo trai tới bây giờ mới ló mặt về.

– Mồ tổ cha bây. Bỏ nhà đi biệt hé. Con bây bây lớn rồi. Sao hổng dẫn nó về thăm tao.

– Nó mắc đi học má à. Ví lại ở Sài Gòn xa quá. Lúc nào rảnh con dẫn nó về thăm ông bà ngoại. Mà Sáu ổng còn giận con hè má?

– Ổng nghe con nhỏ nào đó. Nó học với ổng là nó thấy bây đi làm sở Mỹ đâu trên Long Bình, Long Biếc gì đó. Nên mấy tháng nay, ổng hầm hè hoài quỉ. Nè con, đừng có đi làm sở Mỹ nữa nghen con. Đừng làm cho mấy thằng đế quốc đó nữa. Nó đem quân qua đánh giết dân mình đó nghen con. Gia đình mình bây giờ là gia đình cách mạng đó con. Thằng Út Thèm nó là bộ đội huyện. Còn chị ba mầy nghe đâu cũng vô làm cái gì vận vận đó tao cũng hổng rành nữa.

– Sao nhà mình tối tối phải đốt đèn chong ve chai ở trước vậy má?

– Ơ. Mấy bữa có lính đi kích đêm. Tao đốt đèn lên để mấy ông du kích mình biết.

 

 

*****

Loan ngán ngẩm cho cuộc sống của nhà mình: nàng lấy chồng mỹ, em mình là du kích VC… Khuya hôm sau, nàng đón xe đi Bến Tre, rồi định ghé Vang Quới thăm thằng Thương. Chiếc xe đò chạy sớm đầy nhóc bạn hàng, gióng gánh chồng chất. Tiếng người nói chuyện om sòm. Họ hông nghe một tiếng nổ ầm rất lớn. Sau đó im lặng. Đám cháy phựt lên. Tiếng la hét, rên rỉ trong đêm tối…

 

 

*****

Ông Mười Năng là chủ trại cưa ở xã Phước Thiền, Long Thành, Biên Hoà. Nhà có hơn bốn năm đứa con gái. Đám lính dân vệ, địa phương quân, ban hội tề làng xã thường hay lui tới nhậu nhẹt hà rằm. Nhiều khi chén anh chén chú cho đến khuya lơ khuya lắc. Đồ nhậu nhiều khi hông có gì. Mồi chỉ là khô mực, khô cá hố, cá sặc, mấy trái cóc muối chua. Quan trọng là mấy chai xị đế. Cha con đến độ là nói chuyện trên trời dưới đất, tào lao thiên đế, mà hay nhứt là cái vụ nói trây, hông biết chừng nào mới hết. Chỉ có cái nói là hết rượu rồi, khuya quá quán đóng cửa. Tới chừng đó, bợm nhậu mới nằm sóng soài trên bộ ván gõ. Có tay vừa ngã lưng là ngáy khò khò, có trự cho chó ăn chè.

Ông chủ trại cưa đâu có vừa. Ổng là chủ xị nên chơi tới bến luôn. Khi cả làng nhào xuống bộ ván, ổng còn tỉnh bơ. Ổng lật đật bước xuống sau nhà, lấy hột quẹt đốt cây đèn bão treo trước cửa trại: đêm nay có lính với lại cô hồn các đẳng ở đây nghen! Thế là mấy tay du kích VC biết rồi, hổng có lớ quớ về nhen! Đâu đó cũng giống như nhà ông Sáu Lục ở Cái Bông, Bến Tre.

Cho nên, đại đội Xuân đóng đồn ở Bến Cam có bao giờ kích được một tên VC nào đâu. Cũng như chàng Trung Úy Manas của Sư Đoàn Mãng Xà Thái Lan, ở căn cứ Bear Cat-Long Thành, có bao  giờ biết mặt được một móng VC nào ở vùng nầy. Nhiều khi, họ bắn pháo binh ào ào vào vùng Phước Lai, rồi xua lính tấn công cho phí sức, phí đạn; hoặc là lâu lâu hành quân vào Tam An kiếm thử  du kích. Trung Úy Manas nói sỏi tiếng Việt giọng Huế cho Xuân biết như vậy, trong lúc họ chỉ làm sương sương một vài ly ở nhà ông Mười Năng. Quân đội Thái hông rành về du kích VC. Họ chưa hành quân vô những vùng VC là dân mà dân cũng là VC. VC mánh mung, xài cái mửng đưa dân đỡ đạn cho họ rồi khóc thét lên: má ơi, tụi nó giết con.

Ấp chiến lược thời Tổng Thống Ngô Đình Diệm ấy vậy mà hay. Chắt VC ra khỏi dân như lấy nò, dùng sa bắt cá. Hông hay sao mà Ăng- Lê giúp Mã Lai thành công? Con cá lớn Chin Peng sống khốn đốn vì nhà cầm quyền dồn dân vô ấp. Đến nổi mua đồ hộp phải khui liền ngay tại chỗ. Bây giờ Chánh phủ thay bằng Cán Bộ Xây Dưng Nông Thôn hông hiệu quả vì các chàng áo đen nầy đi tới đâu là phải có lính yểm trợ. Hông hiểu họ tối ngày lân la ở Xóm Hố, Phú Hội ra sao, mà thỉnh thoảng bị cắc bùm hoài. Một đại đội của Xuân đóng ở Nỗng Vang Lò bị cầm chân vì các chàng áo đen. Lính Sư Đoàn mà đi yểm trợ Cán Bộ XDNT! Cũng như trước khi về Phú Hội, đại đội đóng đồn ở Quán Chim, ngày ngày đi lên đi xuống, mở đường an ninh QL 15 từ Quán Chim đến Phú Mỹ. Hông có gì. Chỉ có thấy con gầm gừ ( Con gầm gừ là con chim cu xanh.Nó hông biết gáy chỉ cà rù cà rù nên dân vùng Quán Chim-Phú Mỹ (Long Thành) gọi là con gầm gừ.) là nhiều nhứt.

– Chúc. Tao chán ba cái ông nội áo đen nầy quá. Tối thì chui vô chính giữa đại đội mình ngủ. Ban ngày thả rong vô xóm, ghi chép cái gì đó mà hơn tháng nay, tao thấy VC vẫn về hoài.

– Sao cậu biết?

– Tao quen mấy cô giáo dạy ở Phú Hội. Thỉnh thoảng lúc nói chuyện, tao thấu cấy, mấy cô đó xì ra hết. Mấy tay du kích băng qua Hang Nai về Xóm Hố hoài chớ gì. Nhà vườn ông Mười Năng cũng ở dưới đó.

– Sao mình hông cho kích ở dưới?

– Xóm Hố giống như cái màng nhện. Mình biết chỗ nào chắc chắn đâu mà kích. Ban ngày, mầy ruồng ở dưới đó, mầy biết rồi chớ gì?

 

 

*****

– Ê, Nghiệp. Mày làm ở phòng ba Tiểu khu. Mầy chấm tọa đô bắn pháo binh về Ba Châu hoài. Coi chừng tụi nó thịt mầy.

– Thịt gì? Tui hổng khoái VC. Phá quá mà! Nát làng xóm, gia đình, nhà cửa. Hổng để dân yên mà!

– Mầy chấm tọa độ bắn vào vùng Ba Châu coi chừng chết bà con của bác Ba mầy. Họ toàn theo VC hông đó? Năm Khuẩn, con Bác Ba mầy cùng học một lớp với mầy, lúc Ba mầy là thầy giáo ở Châu Hoà, mầy hổng nhớ à! Ờ tao nhớ ra rồi, còn có Sáu Y và Sáu Luốc nữa. À mà, Sáu Y đi lính Biệt kích, đi mua muối rồi, đâu ở trên Đà Lạt năm 1964.

Vùng quê hứng chịu bom đạn quá trời. Hông như thời trước, quan Tư Lầu chỉ có cây mọt chê nhỏ xíu, đặt trước chợ Lương Quới bắn ba xí ba tú một vài trái vô xóm trong, hổng chết thằng Tây nào hết. Vậy mà dân làng cũng sợ điếng hồn. Còn cà nông ở bên Bình Đại lâu lâu xọt qua Châu Bình làm dân sợ té đái. Máy bay thì năm thuở mười thì mới xẹt qua, bắn đì đùng, thả ào bậy một trái bom rồi dông mất.

Bây giờ thì khác rồi. Bom đạn quá nhiều. Lớp máy bay bắn phá, lớp pháo binh diện địa 105 ly bao phủ cùng khắp, hay bắn bất tử nên hổng biết chỗ nào mà tránh. Hổng có chỗ nào an toàn hết. Lại thêm nạn thuốc khai quang làm trắng. Những toán PRU nhảy đột kích lúc khuya hoặc hừng sáng, làm cha con VC chạy muốn sút quần luôn. VC mất ăn mất ngủ. VC và dân hết đường sống ở làng mạc xa xôi. Hầm chông và súng ngựa trời đâu còn nghĩa lý gì.

Từ khi đứa con trai thứ ba –Ba Nữa- bị toán PRU giết chết, gia đình ông Sáu Xe tìm cách vọt về Sài Gòn. Họ hông dám ở Bến Tre, sợ cảnh sát điều tra sẽ biết được dễ dàng. Họ len lỏi, chạy chọt xin vào làm công chức nhà nước. Đó là những nghề hông ai để ý. Bắt chước người anh Năm Lân, Khanh và Ba Đẹn xin được làm giáo viên dạy tiểu học ở Quận 8. Bộ máy công quyền hông chú ý hay là họ hông điều tra kỷ nên VC và những thành phần có cảm tình với VC ở đầy nhóc. Hơn nữa nhà nước cho rằng ai làm nấy chịu, hông có cái kiểu đì cả gia đình, họ hàng… nên VC lợi dụng đào hang, kẽ ngách gần hết các quận đô thành. Họ rỉ tai, chuyền miệng, phao tin đồn… Họ làm “ giao liên” đưa đón những tay VC gộc vào trú ngụ ở những nơi họ đào hang trú ẩn sẳn. Phần đông là những người Phật Cộng và Giáo Cộng lợi dụng danh nghĩa tôn giáo giúp đỡ họ nhiều nhứt: cha lấy xe chở vũ khí dấu vào nội ô; chùa chiền chứa chấp sư và ni cô VC, các thanh niên trốn quân dịch… Nhiều khi họ cũng bị bắt, nhưng như cóc bỏ dĩa. Họ đút lút cho những thành phần hối lộ của chánh quyền, nên vừa mới bắt xong là ít hôm thấy họ ló mặt ra. Hoặc là, nay họ ở chỗ nầy mai ở chỗ khác, khó mà lần ra họ. Và có lẽ, VC cho thời cơ đã đến. Họ tin là có thể cướp được miền Nam nên ra lịnh tổng tấn công. Ngày 29 tháng giêng năm 1968(Tết Mậu Thân) là một thảm họa cho dân  miền Nam.

 

 

*****

– Hải. Mầy xuống ngồi đàng sau với Chuẩn Úy Nghĩa. Để tao lái. Hồi chiều, có đem theo hai Carbin hông?

– Dạ có. Trung Úy say chưa?

– Có thấm gì đâu mậy. Mới sương sương ba sợi từ chiều đến giờ. Phải nói, bữa nay tất niên, ông Hiếu, ổng đào đâu ra được ba chai Johnnny đen, nhậu đã hết cỡ thợ mộc. Trung Úy Tài nhím môi, chỉ ngồi phá mồi. Chúc, mầy ngồi đằng trước thủ sẳn cây Carbine M2 báng cụt của tao. Có gì mầy chơi hết hai băng là vừa đủ. Dẹp ba cái vụ Colt đuôi (12) đi. Tao chạy hổng có đèn nhen. Tắt hết đèn mũi, đèn lái luôn.

– Có được không đó thẩm quyền. Bữa nay, cuối năm. Không có trăng đâu đó.

– Mầy khỏi lo, Chúc. Gần giao thừa rồi, chắc mấy ông nội VC cũng nghỉ ăn Tết chứ. Đường Phú Hội về tới Bến Cam, tao thuộc lòng như trong bàn tay. Ví lại, hông có đèn, mấy ổng nghe tiếng xe ù ù thì mình biến rồi. Thêm bụi bay mù mịt thì tổ cha nó cũng chịu thua luôn.

Pháo bắt đầu nổ râm ran. Nhưng súng đủ loại ngoài Long Thành ì ục lấn át tiếng pháo.

– Chết mẹ! Mấy cha VC nầy phản phé rồi. Năm nào mình lại hông có công điện đề phòng. Năm nay nó chơi thiệt.

– Tới đồn, pha đèn lên. Nếu không, cái xe không đèn lù lù chạy vô, tụi nó tưởng là cái gì, nó phơ một băng đại liên là mình bỏ mẹ.

Thằng Hải sợ quá. Nó lật đật nhảy xuống xe hối trong đồn kéo concertina.

– Tụi nó ra hầm hố hết chưa anh Thanh.

– Xong rồi. Tui cũng kêu toán tiền đồn rút về.

Ngồi gục gà gục gật. Chưa đầy sáng. Có công điện. Chuẩn bị trưc thăng vận, giải tỏa Định Quán. Có nếm được khoanh bánh tét, miếng thịt kho tàu nào đâu. Tội nghiệp mấy bà vợ lính. Chuẩn bị đồ ăn đùm đùm đề đề, dắt con lếch tha lếch thếch đem ra cho chồng ăn Tết. Bây giờ ba cái món đó làm sao bây giờ. Thiếu Úy Thanh bực bội chửi thề: “ Đụ mẹ! Ba cái thằng VC mắc dịch ”. Nó lo cho bà vợ ở lại đồn. Vợ Xuân cũng vậy. Đường sá bứt rồi. Làm sao về. Xuân giao thằng Hải: mầy liệu lo chở mấy bà vợ lính. Bỏ đồn. Bỏ tất cả ở lại. Xa rồi Phú Hội, Bến Cam, Phước Thiền…

 

 

*****

Định Quán là một quận nhỏ nằm bên QL 20, có hòn đá chồng cao lớn và những hòn đá lớn nhỏ rải rác, ngó cũng đẹp mắt. Dân cư sống dọc hai bên đường, phần đông là người miền Bắc.Tiểu đoàn nhảy xuống ở sân banh, từ từ tiến vào quận thì VC đã dông mất. Lại lùng sục. Tìm ra tận Tà Lài, bờ sông Đồng Nai; mò vào những cánh rừng sâu từ quận đến rừng Giá Tỵ, Phương Lâm; vượt La Ngà cũng chẳng thấy bóng ma nào hết. Sốt rét rừng ác tính quật đi mấy mạng. Họ ngu gì ở những nơi sát quốc lộ trong tầm pháo binh…

– Nè, tụi bây sắp hàng ăn uống đàng hoàng nhen. Đừng để mấy thằng Mẽo nó khi mình, nghen.

– Lần lượt rồi cũng đến phiên mình mà. Đồ ăn hổng thiếu đâu. Mang từ LongBình lên đó. Ngày nào cũng vậy, còn nóng hổi. Đúng là đánh giặc theo kiểu nhà giàu.

– Dặn mấy ông thần của mình lấy ăn từ từ.Nếu còn đói có thể đi thêm một vòng nữa.

– Thanh. Tao thấy trực thăng câu từng xì -tẹt nước, rồi móc lên cao cho lính tắm. Sướng tổ mẹ. Còn mình xuống suối hằng bữa.

– Chưa đâu, mầy Nghĩa. Đóng quân giữa rừng, cũng có W.C. Lâu lâu tụi nó đổ dầu đốt lên, hôi mùi cức khô tổ mẹ. Còn tụi mình đi láng trong rừng, mạnh thằng nào thằng nấy kiếm lá rừng thiệt bự để chùi. Ngày nào tao cũng thấy họ thay đồ mới, giặt ủi phẳng phiu. Cứ cổi đồ dơ bỏ đống đó, rồi mặc đồ sạch vô. Tụi mình chỉ có mỗi một bộ. Lâu ngày hông giặt được, đứng gần hôi rình. Nhiều khi mùi vớ với quần áo tanh ói. Tao thấy họ còn lãnh lương nữa chứ. Tụi mình đến kỳ lương, bận lội rừng thì còn lâu mới được lãnh.

– Mình còn tùng thiết với họ cho đến khi nào?

– Hổng biết nữa. Chỉ biết bây giờ tụi mình ngày nào cũng đi chung với họ. Rồi chiều về, cơm nước xong, ngủ vòng ngoài, bảo vệ căn cứ pháo binh của Lữ Đoàn BB 199 HK.

– Mấy anh chàng nầy đóng quân ở đâu là rình rang tới đó. Trực thăng lên xuống hà rầm. Ban đêm, lát lát lại bắn trái sáng. Ngủ hổng được con mẹ gì hết. Có khác gì lạy ông tui ở bụi nầy.VC nó biết, nó chạy mất mẹ nó rồi. Còn nếu nó hổng chạy, nó lừa thế, nó đột kích là cũng lãnh đạn. Sao họ hổng rành du kích hả? Đặt căn cứ pháo binh vào tuốt trong rừng sâu nầy làm cái gì?

– Mỗi nước có một lối đánh trận riêng. Cũng như Úc và Tân Tây Lan có một Chiến Đoàn, họ đánh theo lối của họ làm cho VC vùng Bà Rịa xất bất xang bang luôn. Còn mình đánh theo lối đánh của mình mà tiếp liệu của họ nên nhiều khi bị cầm chơn hoài.

– Ê cậu. Chắc tư bản vũ khí đem xài cho hết rồi mới tính chuyện khác.

– Mầy nói đúng đó Chúc. Tư bản nào cũng là tư bản, chuyên môn bốc lũm. Vì thế Marx ghét tư bản thậm tệ, có đúng hôn?

– Nghỉ nói chuyện triết lý đó đi. Bây giờ tớ thèm ly lade có đá.

Rút cục mấy thằng sĩ quan cũng được vừa lòng. Hết thời gian tăng phái, Tiểu Đoàn về Định Quán đóng dọc QL 20 nghỉ dưỡng quân. Ngày ngày ngồi quán cà phê chỉ nhìn mấy chiếc xe chạy đò chạy lên chạy xuống. Con đường nhựa đen trưa đổ lửa, ngút nắng ngầy ngật bóng nước. Xe Peugeot 403 Minh Trung chạy đường Sài Gòn -Đà Lạt, thường tấp vào đây để khách nghỉ. Hông hiểu khi đi thăm Xuân, Yvette có đi xe Minh Trung hôn? Chàng thấy bác tài nhét khách đầy nhóc, ngồi chật bó.Và, Yvette ơi, em đi lên đi xuống mấy lần để tìm anh?

Tiền đâu mà uống lade hoài. Giết ngày tháng của tuổi trẻ bằng bài bạc, nhậu nhẹt, nói chuyện trây trua tầm phào, ba xí ba tú, từ đầu trên xuống xóm dưới, ngoài ra thì lính đánh trận biết làm gì bi giờ ở cái quận nghèo nàn nầy? Quán cà phê hông có Ti Vi. Mà làm sao có được? Ăng ten phải đưa cao nghều nghệu chưa chắc gì bắt được. Chỉ có ra điô ra rả tối ngày các bài hát về lính.

Đêm tối, mấy thằng ra ngồi ngoài QL, ngắm trăng sao, tán dóc, hút hết từ điếu nầy tới điếu khác cho đến khuya. Đường nhựa đen hun hút trong đêm đầy sao trời. Đầu đêm sao Hôm, sao Bò Cạp, sao Cày, rồi sao Vệ Nữ. Cuối hôm sao Mai. Sao Bắc Đẩu ở cuối đường chơn trời, xa vời vợi. Đường nhựa đen mơ màng chập chờn ngà ngật mông lung theo từng đêm trăng.

– Mình nhong nhong ở cái quận nầy hoài sao? Tớ thấy ngày tháng trôi chán chường. Nghe nhạc ca tụng lính tráng nhiều khi mà phát chán. Toàn là đưa mình lên tận trời xanh. Mấy tay tổ nhạc sĩ toàn là mơ.

– Phải vậy thôi. Đó là món ăn tinh thần phải có. Vậy chớ nhiều khi mầy nghêu ngao thì cũng thấy đỡ buồn, phải hôn?

Khi Chúc và Xuân đến thì thức ăn đã bày ra sẳn trên bàn dài. Khách đã ngồi và sắp cầm đũa. Một chai rượu đế  trong vắt cở chừng hai lít nằm chình ình ngay giữa bàn. Ai nấy trông có vẻ háo hức với buổi tiệc sắp mở màn. Hai người sĩ quan trẻ được mời ngồi vô hai ghế giữa. Xuân nhìn thấy ngay trước mặt mình những miếng thịt nướng xỏ xâu dài thơm phức, một dĩa đựng những khúc dồi dài màu hơi đen đen có những miếng đã cắt lát mỏng, và sau cùng một cuộn thịt luộc trắng kế bên những lát riềng. Còn một chén mắm tôm với dĩa rau thơm. Xuân chưa biết là món ăn gì. Tới lúc đó, anh chàng Chúc mới nói cho Xuân là thịt chó. Và Chúc bắt đầu chỉ: chả chìa, thịt luộc, dồi, rựa mận, tiết canh và cuối cùng là cháo. Mọi người nói chuyện rôm rã và khoảnh khắc chai rượu đã vơi đi một nữa.

Một số ít người miền Bắc thường nuôi nhiều chó trong nhà. Và họ đợi khi có đám tiệc là giết một con. Hông giống như mọi người Bắc, những chàng hạ cờ tây nam kỳ là những tay bợm nhậu. Đàn bà con gái trong Nam hổng khi nào rớ đến món “cây còn” đó.

Xuân chỉ ăn món chả chìa vì chưa bao giờ chàng ăn thịt chó. Khi món ăn cuối cùng là cháo được mang ra, Xuân bắt chợt nhìn thấy cái đầu chó dính những miếng da thui đen, vàng có hai lõm sâu trắng hếu nổi lên. Chúc lật đật đứng dậy định múc cho chàng một chén, nhưng Phùng Xuân đưa tay khoát lấy cớ đi ra ngoài. Xuân hông chịu nổi khi nhìn lõm sâu của hai con mắt…

Con chó mực một năm tuổi tối ngày lẩn quẩn bên mình Phùng Xuân. Chàng xin nó khi nó chưa dứt sữa mẹ, nên tối nào nó nhớ mẹ nó cũng kêu ăng ẳng. Đến chừng nó lớn thì nó khôn lắm. Xuân rút mác vắt bên vách là nó nhổm dậy, chạy trước mở đường. Rắn rít đều sợ nó. Anh chàng Mực nầy săn chuột mới tài. Chuột mà rớt tỏm xuống nước là thế nào trự cũng nhảy ùm theo, ráng bắt cho được chú tí. Nó mà đánh hơi, quàu quàu hai chơn thì hông chuột cũng rắn hay chim. Nó còn là bạn tắm sông của bọn anh em Xuân. Ê, Ê Mực. Nó nghễn tai. Môt khúc cây quăng tuốt ra giữa rạch là Mực phóng theo bơi chó chủm chủm cắn khúc cây đem vào bờ, nhả ra rồi kêu ăng ẳng ngồi đợi.

Việt Minh kỵ chó vì họ sợ tiếng chó sủa làm lộ tung tích của họ nên vùng Việt Minh tự trị cấm chó. Hông hiểu sao con Mực khôn lắm. Khi Tây ruồng bố, nó cùng chạy trốn với gia đình thì nó im thin thít, hông sủa hay kêu. Nhưng mà nó gặp Việt Minh là nó sủa.Chắc Việt Minh có mùi lạ nên họ hông cho nuôi chó.

Tội nghiệp. Con Mực khôn mà hông lanh nên bị anh Ba Thực dụ nó rồi tròng cổ nó lôi đi sền sệt.Tới chừng nó biết, nó dẫy dụa nhìn Xuân với cặp mắt van lơn và rươm rướm nước mắt thì đầu nó đã bị ấn vô cái bao bố tời rồi. Lúc đó nó bắt đầu quậy rồn rột. Hai người thanh niên trẻ lôi bao bố quăng xuống nước một cái ùm. Tới chừng đó, Xuân khóc ré lên, đòi trả lại con chó. Chắc con Mực nghe được nên nó ực ực mấy cái.Một đống bọt nổi lên.Bao bố tời chìm nghĩm.

Hai ông già đã thủ sẳn hai ba nồi nước sôi. Vừa lúc đó, một nhóm đàn ông khác cũng động dao động thớt bầm hành, xả, tỏi… và nạo dừa sồn soạt. Họ thay phiên nhau cạo sạch lông, chớp nhoáng đã xong. Con Mực bây giờ trắng muốt.  Xuân nghe họ bàn tán con chó mực nầy ngon. Câu thiệu của bợm nhậu “ cờ tây ”: Nhứt mực,  nhì khoan,  tam vàng , tứ đốm, cùng cực mới ăn chó cò.

Rồi cuối cùng con Mực của Xuân trở nên vàng rụm trong đống lửa rơm. Đứng nhìn từ xa, Xuân chợt thấy hai hàm con mực banh ra như tức giận, trách móc chàng tại sao hông cứu giúp nó. Hai cặp mắt lồi ra, nhe hàm răng như nhát chàng. Xuân lật đật chạy đi chỗ khác. Chàng hông bao giờ quên được hình đầu con Mực…

Tháng 05 năm 1968. Trời nắng chang chang muốn điên cái đầu. Quây quần tối ngày ở cái vùng Định Quán có làm gì được đâu. Dẫn đại đội đi lên đi xuống mở đường, an ninh trục lộ. Định Quán –Phương Lâm, Phương Lâm -Định Quán. Xe đò đi lên đi xuống. Tối ngày chỉ thấy xe đò và rừng cây hai bên đường. Ngày tháng trôi qua, chiến cuộc càng mù mịt. VC tấn công hôm Tết rồi rút lui đi đâu hết. Chắc họ đang chuẩn bị cho một đợt mới?

– Ê, Chúc. Thằng Nghĩa đã đi rồi. Có Chuẩn Úy An mới ra. Trung đội 3 có mấy que, để nó về kể như làm tiểu đội trưởng.

– Thì hồi đó tớ cũng vậy thôi.

Chuẩn Úy An và Trung sĩ Nhi lót tót ra theo xe tiếp tế Tiểu Đoàn. Còn chơn ướt chơn ráo thì có lịnh hành quân.

Khuya phải nổi lửa nấu cơm để trưa mai có cơm ăn. Nhưng có được ăn trưa đâu.Tiểu Đoàn bị Trung Đoàn 274(?) phục kích giữa đoạn đường Định Quán-La Ngà. Mình đi lùng kiếm VC cả tháng nay mà hông thấy bóng dáng nó đâu. Trái lại nó biết mình ở đâu, làm gì để đến giờ nó thừa cơ nó dếnh cho mình một trận, nhưng VC hông ngờ Tiểu Đoàn vừa được cấp phát AR- 15 nên quật lại một đòn chí tử. Tại sao lại hành quân mở đường Định Quán-La Ngà? Mấy ngày trước đã rụt rịt có tin Tiểu Đoàn trở về Long Khánh bằng xe rồi mà? Chắc là có nội tuyến mới biết rõ ràng như vậy?

Chuẩn Úy An mới ra trường, còn lạ nước lạ cái nên mất mạng. Và Trung Sĩ Nhi cứ chằn chằn trở về cho đúng ngày phép. Để đến bây giờ hai người vợ trẻ đầu phải quấn khăn tang. Tiểu Đoàn rối lên giống nồi canh hẹ. Mấy bà vợ lính chạy đầu nầy đầu kia hỏi thăm tin tức chồng. Mặt ai nấy đều tỏ lo âu sợ hải. Nhưng mà làm sao biết rõ được ở ngoài kia, có anh còn bị thương ngoắc ngoải, chưa tản thương được, hông biết sống hay chết. Có người bị thương nhẹ, nhưng đợi chờ hoài, hông được băng bó, máu ra nhiều, rốt cuộc rồi cũng chết. Bị phục kích từ sáng mà đến gần chiều mới có đơn vị tiếp cứu và tản thương thì làm sao mà hổng thiệt hại nhiều?

Hồi Tết Mậu Thân, VC thất bại nặng nề sau khi đánh chiếm tỉnh lỵ Bến Tre. Để gây tiếng vang trở lại, họ khuấy động bằng khủng bố. Nhờ hoạt động “tích cực”, Út Nhạy được “điều động” về Trúc Giang và “biên chế” vào đơn vị biệt động dưới quyền chỉ huy của Năm Khuẩn. Cô ta có nhiệm vụ đặt mìn trong rạp hát, chợ búa hoặc nơi đông người tụ họp. Ngày ngày, cổ giả người buôn gánh bán bưng la cà các rạp hát Casino, Bờ Hồ, Cảnh Xuân, Cọng Hoà, Lạc Thành  để tìm cách len lỏi đem chất nổ vô trong rạp. Cuối cùng Út Nhạy cặp bồ với một anh chàng trong rạp hát LạcThành nên ra vô dễ dàng. Hôm đó, ngày 21 tháng 07 năm 1968, rạp chiếu phim Rivière Sans Retour(???), có cô đào văm Marilyn Monroe và Robert Mitchum  đóng nên chàng Thiếu Úy Không Quân rủ người vợ sắp cưới của mình đi coi. Nhằm ngày Chủ Nhựt, NgọcThiền và Bon tính coi xuất sáng, nhưng vì phim hay, đông người, nên mua vé hông được. Hai người đành coi xuất hai giờ chiều. Họ vô tình ngồi vào hai  chỗ có giỏ xách của cô biệt động để dưới đít ghế, vì Út Nhạy ngồi sau lưng họ. Cô ta nói láo với anh bồ là mua đồ đem về quê, sẳn dịp coi hát xong xách về luôn. Nhưng mới vô phim chừng một chút, cổ bỏ giỏ  đó rồi lật đật đi ra. Khi Út Nhạy vừa ra khỏi rạp, một tiếng nổ thật lớn bùng lên. Thiên hạ trong rạp tuôn chạy, dẫm đạp lên nhau.Cùng lúc nhiều tiếng  gào thét vang dội…

Thoạt đầu, người mẹ hông nhận ra xác con mình và chàng rể. Nhưng sực nhớ lại màu sắc của chiếc áo dài bông đỏ thắm mà Ngọc Thiền bận và đôi giày của thằng Bon mang trước khi đi, bà vụt té xỉu. Một lúc sau, bà tỉnh lại. Bà già khóc ngất bên hai thân thể nát bấy nhão nhoè nhão nhoẹt. Gương mặt Sáo Sậu hông còn nữa. Đôi mắt u buồn của em ở đâu rồi? Trong vũng máu và óc lền lền? Trái mìn tự chế bằng nhiều cục sắt chặt nhỏ đã băm cái đầu người con gái nát như tương bằm…

 

*****

Rồi Thanh lại thuyên chuyển về Tiểu Khu Cần Thơ. Đại đội vắng đi những người sĩ quan nhiều năm lặn lội trong rừng sâu cùng Phùng Xuân. Chuẩn Úy Dồi ít nói, thật thà, chắc là một anh chàng học sinh miệt tỉnh. Trái lại Chuẩn Úy Khang cao ráo, khoảng một thước bảy, còn trẻ bân, mặt còn búng ra sữa, có vẻ thích thú đời lính tráng. Trên đầu nó luôn luôn là cái bê rê màu cứt ngựa, hay cái nón đi rừng kiểu của binh sĩ Úc. Miệng hay hút gió  những bản nhạc của Trần Thiện Thanh và bản “24 giờ phép” của Trúc Phương.

Đi ra chợ Long Khánh cua các em thì trên đầu là cái nón đi rừng. Miệng lúc nào cũng phì phà cái ống vố, khi thì to, khi thì nhỏ, lúc cong, lúc thẳng. Đôi lúc nó tỏ ra điệu nghệ, lấy ống vố gõ đôm đốp vào đế giày cho tàn thuốc Half and Half rớt ra. Thuốc hút bíp như No 79 hay Half and Half đâu có rẻ. Thời buổi bây giờ, những loại  hàng  dù ra từ PX của Mỹ như thuốc lá, lade lon, xà bông thơm… phần đông do các bà vợ Mỹ hoặc do những tay chuyên buôn lậu tuồn ra, chớ ai mà có được đô la đỏ để mua. Người ta chuộng uống lade lon sang hơn nhưng thiệt ra đâu có ngon bằng lade con cọp của Pháp ở Chợ Lớn.

Có hôm, nó gò đâu được môt đám nữ sinh, rủ rê nhau về đại đội ca hát, tán dóc. Kể ra cũng vui với anh chàng Khang người Hố Nai nầy. Nhiều anh em trong đại đội cũng vui lây.

– Khang, anh lớn con như vầy sao hông đi vô Nhảy Dù hay Thủy Quân Lục Chiến cho nó oai hơn hôn?

– Thưa Trung Úy, nhà có ba anh em. Một người chết trận. Một người là phế binh. Lẽ ra tôi được miễn. Nhưng tôi không thích, tôi muốn vô Nhảy Dù. Ông Bố năn nỉ: thôi con đi lính Sư Đoàn nào ở gần nhà đi.

Còn trẻ, khoẻ, yêu đời, Khang như là hình ảnh của lớp trai trẻ của miền Nam trong thời chiến tranh. Chính vì lẽ đó mà Phùng Xuân hông bao giờ kềm giữ số hạ sĩ quan trẻ trong đại đội. Có dịp, Xuân sẳn sàng ký giấy cho họ theo học các khoá sĩ quan trừ bị Thủ Đức. Mà thiệt vậy, khi họ ra trường, tròm trèm ít năm, nếu súng đạn chê, lon lá họ cũng gần bằng Xuân.

Anh chàng Khang hông bao giờ chịu ngồi yên một chỗ, xẹt nầy xẹt chỗ kia, đía dóc vui cười hồn nhiên. Hể hô có lịnh di chuyển là a lê hấp tập họp lính tráng đầy đủ, sẳn sàng lên đường. Hôm chuẩn bị hành quân xa tuốt tận Tây Ninh, anh ta mừng ra mặt…

Hành quân Toàn Thắng 71 là cuộc hành quân rầm rộ và qui mô, vượt qua biên giới Việt Nam, tiến sâu vô xứ Chùa Tháp, dọc QL 7 để truy sát Trung Ương Cục Miền Nam của VC. Quân đội Việt Nam Cọng Hoà gồm nhiều binh chủng, càn quét một vùng rộng từ Snoul, Mimot, Krek, Kandal Chrum, qua tận đồn điền Chup, phía bắc lên tới Dambe, Chlong và định tiến vào Kratié… Trước đó Sư Đoàn 25 BB Mỹ cùng các đơn vị khác –Hành Quân Jonction City-đã cày nát mật khu Dương Minh Châu, vùng Mõm Chó, Lò Gò… càn quét VC và đẩy Trung Ương Cục Miền Nam chạy tuốt về bên đất Miên.

Sân bay đất đỏ Tây Ninh, nằm cạnh Bộ Tư lịnh Tiền Phương Quân Đoàn III, rộn rịp hẳn lên. Máy bay lên xuống hà rằm. Bụi bay mù mịt. Phóng viên chiến trường chầu chực để lấy tin tức. Bộ Tư Lịnh tiền phương của Sư Đoàn 18 đóng trong căn cứ Trảng Lớn có vẻ yên ắng hơn. Ngày ngày, vị Tướng Tư lịnh Lâm Quang Thơ, sáng nghe thuyết trình về diễn tiến hành quân.Thỉnh thoảng, trưa thấy ông ngồi im lìm, bên ly Martell, sau chuyến bay thị sát các đơn vị.

Hổng hiểu tìm và diệt được mấy tay tổ TƯC hông mà chỉ thấy đoàn xe vận tải chạy nườm nượp ngày đêm từ Tây Ninh- Trà Vong- Mỏ Công- Trại Bí- Cần Đăng- Bổ Túc- Xa Mát trên QL 22 để lo tiếp tế cho các đơn vị hành quân. Chuyến đi cũng đầy mà chuyến về cũng đầy!

Tỉnh lỵ nhỏ bé trở nên ồn ào. Bình thường chỉ có lèo tèo các anh lính của Tiểu khu. Bây giờ, đâu đâu cũng thấy bóng dáng đủ sắc màu áo lính. Xe nhà binh tuôn ào ào tấp nập, bụi bay mịt trời, qua tỉnh lỵ, theo Quốc Lộ 22 lên Trà Vong, Thiện Ngôn qua bên Miên. Chiếc cầu hồi trước rộng thênh thang, giờ hẹp té. Sinh hoạt bổng nhiên rộn rịp. Quán ăn uống tấp nập, toàn lính là lính. Lính ăn sáng, ăn trưa, ăn chiều. Tiếp theo đó là các cô tre trẻ ăn mặc lượt là tự nhiên ở đâu tới nhiều hơn, lượn qua lượn lại trong các quán ba mọc theo ven đường, ngã ngớn với nhóm quân nhơn từ chiến trường mới vừa về, khiến cho các nữ sinh tỉnh lỵ e thẹn cuối đầu khi vô tình đi ngang qua. Đời sống dân chúng bị xáo trộn, thôi thúc theo nhịp sống nhà binh. Họ bàn tán về cái chết của vị sĩ quan pháo binh Sư Đoàn: Xe jeep của Thiếu Tá Cường, bị bỏ lựu đạn trong bình xăng, phát nổ khi chạy ngang qua Bàu Sen, Trảng Lớn…

Các đoàn văn nghệ liên tục tổ chức các buổi trình diễn cho các đơn vị hành quân. Phần đông là các đơn vị tiền phương hưởng, chớ mấy khi mà các anh lính chiến đấu ngày đêm tuốt bên kia biên giới được nhìn thấy bóng dáng các nàng ca sĩ. Chỗ người ta đang đánh trận rầm rầm, sáng ăn ở chỗ nầy, tối ngủ ở chỗ khác. Ngày đêm cái chết rình rập sát bên, làm sao mà các đoàn văn nghệ dám tới đó.

Nhưng trong khu Tòa Thánh Cao Đài vẫn im lặng. Mọi việc như thường lệ. Chợ Long Hoa vẫn bán đồ chay. Tín đồ áo dài trắng ngày ngày vẫn ê a theo nhịp song lan các bài kinh kệ điệu thơ song thất lục bát. Họ sùng đạo, tin tưởng nơi Đáng Chí Tôn cao cả như trong quyễn Le CaoDaisme của Gabriel Gobron mô tả. Và, Trung Úy Nguyễn văn Rài, ở phòng Hai Tiểu Khu, vẫn bình thản lái xe Honda đi làm ngày hai buổi từ Cực Lạc đến Tây Ninh.

– Anh có còn nhớ hồ sơ một cô gái ở Bến Tre hôn? Khoảng  ba bốn năm về trước. Cổ có bí danh là Sáu Trân đó mà. Nhớ hôn?

– Lâu quá rồi. Đâu có nhớ nổi.

– Cổ lên đây tính đi vào mật khu Dương Minh Châu, đó mà.

-À. À. Nhớ rồi. Hình như có ai can thiệp, nói cổ hông có tội tình gì nên thả mất rồi.

– Đúng là thả hổ về rừng!

Khu Toà Thánh của anh an lành, nhưng cọp dữ ngủ trong đó, anh có biết hôn?

Chiếc xe ngừng trước sân nhà. Bao năm qua ngôi nhà vẫn như cũ. Hàng dừa cao lớn hơn trước, đầy trái. Nắng trưa xuyên qua kẽ lá cau, đong đưa theo làn gió.

Cô học trò nhận ngay ra ông thầy dạy mình ngày xưa. Sau một tiếng la lớn: “Thầy!” mừng rơn, rồi đứng nhìn ông thầy trân trân, hơi rươm rướm nước mắt. Có điều gì nuối tiếc hả Bình Quang? Em bây giờ đã có một bầy con đang đứng lóc nhóc khoanh tay chào ông thầy trong bộ đồ nhà binh đây nè. Thầy hông còn là thầy khả kính, đạo mạo như ngày xưa nữa đâu Bình Quang. Dưới lớp áo nầy, thầy đã biến thành nếp người ăn nói ba trợn, phang ngang bửa củi rồi.

Bình Quang hông nói, chỉ mỉm cười, nhìn chàng trai “thầy giáo” có vẻ “phong trần hơn xưa” với ba bông mai đen gắn trước ngực. Được một lúc, nàng bắt đầu kể huyên thiên về chuyện hay cúp cua giờ hoá học của bạn nàng, của những người ở trường xưa mà quên kéo ghế mời ông thầy ngồi và rót nước cho ông thầy uống. Lớp thầy ngày xưa và học trò trai lớn lên đều đã đi lính hết rồi. Nàng kể có nhiều bạn trai trang lứa lần lần mất đi hết.

– Sao vậy?

– Tụi nó có thằng nào chịu đí lính Tiểu Khu hay lính Sư Đoàn đâu thầy. Tụi nó chê. Hùa nhau đăng lính Biệt Cách, Nhảy Dù, Thủy Quân Lục Chiến hay cùng lắm là Biệt Động Quân. Tụi nó nói một là xanh cỏ hay là đỏ ngực.

– Em có còn nhớ Trung Tín hôn?

– Em còn nhớ. Hồi đó, tụi nó đồn rùm lên. Và mấy con nhỏ quỷ cái đó ở đâu mà tụi nó cũng có cuốn tập đó. Rồi tụi em cũng chuyền nhau lén lút coi.

– Em cũng có đọc?! Bây giờ mới khai ra! Hèn gì mà!… Thằng Tín đâu có đi mấy binh chủng dữ dằn đó đâu. Có lần thầy đi hành quân với Thiết Giáp. Nó ngồi trên xe đội bề rê đen, kêu “Thầy” một tiếng làm thầy giựt mình. Lúc đó học trò cũng lon lá đâu thua gì thầy. Nó là Chi Đội phó rồi. Còn mấy thằng khác đi chi binh chủng ngầu dữ vậy?

– Trời ơi! Tụi nó khoái đồ rằn ri, oai hơn, phong sương (?) hơn, coi có vẻ người hùng hơn, thầy ơi. Ngồi ở quán nhậu, mặt thằng nào thằng nấy còn búng ra sữa, mà miệng phì phà đầy khói. Áo trận toàn là đồ bông hông. Hùng dũng hiên ngang lắm! Hùng đâu hổng thấy, mà lâu lâu em nghe tin thằng nầy chết ở ngoài Trung, thằng kia mất tích ở Đồng Tháp. Bây giờ nếp sống nhà binh thay đổi tụi nó nhiều lắm thầy ơi. Con nhỏ em bà con cũng vậy. Nó mê lính.Nó là lính rồi thầy.

Một cô nữ quân nhơn từ dưới nhà sau bước lên. Chơn đi giày cao gót, nhún nha nhún nhảy. Miệng cười chúm chím.Tay cầm ly nước dừa, mời Xuân.

– Chào Đại Úy.

– Em bà con bạn dì của em đó thầy. Nó tên Ngọc Tuyết, đi lính truyền tin của Tiểu Khu ở trong căn cứ Trảng Lớn. Nó đó, cũng khoái lính lắm. Lúc trước, nó lấy một anh chàng Thiếu Úy Lực Lượng Đặc Biệt, bạn học. Rồi thằng đó cũng đi bán muối. Nó buồn quá. Sau đó là một anh chàng Thiếu Úy Địa Phương Quân. Cơ khổ, bị đánh đồn rồi cũng lên bàn thờ luôn.

– Rồi cô Tuyết định lấy lính nào cho hổng chết đây.Thời buổi nầy sống chết biết đâu mà rờ. Gặp đó chết đó. Bom đạn nhiều quá. Biết đâu mà tránh bây giờ. Súng đạn tránh mình chớ mình có tránh nó được đâu.

– Nó còn trẻ lắm. Chưa đầy hai mươi mà đã hai đời chồng. Hình như mấy hôm rày có hành quân qua bên Miên lớn lắm hả thầy? Em thấy chồng em làm ở nhà thương về kể có chết và bị thương nhiều lắm. Thầy ở đây có lâu hông?

– Hông. Thầy cũng hổng biết bao lâu. Đời lính tráng rày đây mai đó, có ở chỗ nào lâu đâu.

 

Buổi trưa. Nắng nóng đổ lửa. Đường trong căn cứ nhiều chỗ lồi lõm. Ngọc Tuyết đạp xe len lỏi qua từng khu đóng quân mà Xuân đã chỉ cho nàng. Ngọc Tuyết hông muốn Xuân đến rước cô ta hoài. Mấy con nhỏ quỷ cái đó hay xì xào lắm!.. Cuối cùng cô ta cũng tìm ra được đúng bunker nơi chàng ở.

Nàng dựng chiếc xe đạp bên hông rồi tự nhiên chui vào. Ánh sáng từ những lỗ châu mai soi rọi yếu ớt. Bên trong hơi tối nhưng đỡ nóng hơn bên ngoài chút ít. Xuân đang ở trần trùng trục, nằm trên cái sạp đóng bằng những miếng ván thông vụn ghép vụng về. Người ở trước chắc là cũng ở tạm bợ nên lượm lặt ván đâu đó rồi gá ghép cho có chỗ nằm.

– Dữ hôn. Trưa nắng như vầy mà cũng ráng chạy tới đây. Mồ hôi mồ kê chảy tùm lum tùm la.

– Biết anh cả mấy tuần nay mà hổng biết chỗ mới anh ở như thế nào. Mấy chỗ cũ thấy anh nằm võng lắc lư sụt sà sụt sịt. Bữa nay xuống ca, chạy tới coi thử anh ở “băng kơ” có đỡ hơn hông?

– Thì về đây đóng tạm. Có mấy cái hầm của đơn vị cũ thì chui vào. Đâu như em vậy.Có doanh trại đàng hoàng.

Xuân lấy bi đông rót cho nàng một ly nước lạnh. Ngọc Tuyết uống chừng nửa. Còn lại một ít, cô nàng ngưng lại, nhìn Xuân một lúc. Cổ rót nước vào lòng bàn tay rồi bụm lại đưa lên rửa mặt. Nước bắn tung tóe, chảy xuống ướt vạt áo trước. Ngọc Tuyết tự nhiên vói lấy cái khăn nhỏ vắt đầu sạp lau mặt.Và, từ từ mở hai ba nút áo ra, rồi lau vào trong ngực.

– Áo em ướt hết rồi. Em muốn thay áo. Anh có áo khác hông?

Xuân lấy cái áo của mình đưa cho cổ. Ngọc Tuyết cầm lấy áo, rồi làm như hông có ai, quay lưng lại cổi áo và luôn cái xú cheng ướt vứt xuống đầu sạp. Xuân ngó thấy, chưng hửng. Gì lạ vậy? Mấy tuần nay, hai đứa chỉ đi tới lui gặp nhau ở nhà Bình Quang và ở ngoài lều võng. Cô học trò cũ tinh quái, nhiều khi cũng nói ra nói vào những lời bóng gió  giữa Tuyết và ông thầy. Xuân cà rỡn ỡm ờ cho qua câu chuyện. Thế mà hôm nay…

Sau khi mặc áo khô, gài sơ sịa hai nút dưới, nàng quay lại đưa mắt nhìn Xuân, miệng  chúm cha chúm chím, cười cười. Một sự mời mọc đáng yêu? Xuân bước tới. Một cái hun thật lâu cho đến khi Ngọc Tuyết ngã dài trên cái sạp hẹp té hông đủ cho hai người nằm…

Cô nầy thuộc làu làu câu Kiều: “Vành ngoài bảy chữ, vành trong tám nghề”. Hông có trậm trầy trậm trật. Thiệt bài bản. Sít rịt. Mồ hôi họ tràn như lỗ mội, thay phiên tắm cho nhau, chảy chèm nhẹp trên ván thông khô đến hai ba lần. Bên ngoài nắng nổ đom đóm. Vắng lặng…

Ngọc Tuyết vẫn còn nằm trên mình Xuân. Nàng rướn lên, vói tay lấy bao thuốc Ruby Quân Tiếp Vụ màu xanh,  nắm lắc mạnh một vài cái cho một điếu thuốc ló ra. Xong nàng đưa bao thuốc lại gần miệng, mím môi ngậm lấy một điếu.Nàng bỏ bao thuốc lại, lấy tay cầm điếu Ruby lỏng le vỗ vỗ tạch tạch xuống ván một lát cho chặt. Hai ngón tay se se phần giấy còn dư trở nên giống như tim đèn cầy. Ngọc Tuyết ngậm điếu thuốc rồi cầm lấy Zippo bung nhẹ một cái trốc. Ngọn lửa xanh bùng lên. Nàng bập, bập, bập. Đầu điếu thuốc đỏ rực. Ngọc Tuyết rít rít hai ba hơi, xong phà thiệt mạnh làn khói thuốc xám dài lan tỏa khắp căn hầm.

Nàng gục mặt xuống ngực Xuân, hun lấy hun để mồ hôi nhem nhép. Rồi lại lần khân cà mấp cà máy, cà tưng cà tiu. Sau đó, nàng nằm im re. Chắc cổ say thuốc hay…? Phùng Xuân chợt nhớ đến câu nói của mấy thằng lính quỉ sứ: “Gái hai chồng n…c  nổ con ngươi”. Chàng cười thầm.

– Em học ở đâu được cái mửng đó vậy?

– Ở ông chồng lính Biệt Cách của em, chứ ở đâu! Mỗi lần tụi em ngủ với nhau xong, ảnh đều làm như vậy đối với em. Ảnh cũng hút Ruby Quân Tiếp Vụ như anh. Nên lúc gặp anh ở nhà chị Quang, em nghe mùi thuốc Ruby nầy của anh, em nhớ tới ảnh. Ảnh chết mất xác đâu đó, trong mật Khu Dương Minh Châu, lúc nhảy toán. Lúc đó, em mới mười bảy tuối. Từ đó, em khoái đến phát ghiền mùi thuốc Ruby Quân Tiếp Vụ, và đôi khi cũng cụng vài ly lade để nhớ lại ông chồng chịu chơi của em. Hình như ngày xưa, chị Bình Quang cũng yêu anh dữ lắm, phải hôn?

– Ờ! Lúc đó chị em còn học trò, chắc cũng khoảng mười sáu, mười bảy.Tình yêu thầy trò mơ mộng như tiểu thuyết. Chắc chị em nghĩ như vậy. Nhưng anh đâu có  quyền yêu Bình Quang được vì anh còn trách nhiệm của người thầy giáo. Hơn nữa lúc đó, anh có người yêu rồi.

– Nhưng mà bây giờ anh cũng có vợ rồi. Sao anh còn ve em làm gì?

-Xí! Thì em cũng cua anh chớ bộ. Nhưng mà dù sao, đây cũng là sự phản bội của anh. Phản bội của thằng lính thời chiến tranh, có cái tội là sống xa nhà, nay đây mai đó, thiếu vắng mùi đàn bà như chàng nhạc sĩ Trúc Phương ví von. Biết làm sao bây giờ? Có một mớ ông lính hông chung tình? Họ luôn luôn tìm cách “ăn chè Nhà Bè”. Và họ cũng hông dám nói với vợ là họ đã bồ bịch với các cô gái khác hoặc đi chơi đĩ. Họ dấu biệt vợ nhà đang ngày đêm trông nom con cái… Còn như em bây giờ, người nữ quân nhơn yêu mùi thuốc súng anh lính chiến pha áo trận như các ông nhạc sĩ vẽ vời? Nhưng thực sự, có khi nào có mùi thuốc súng đâu? Có mùi mồ hôi của áo quần, của vớ, của botte de saut thì có. Em ghiền mùi thuốc lá. Mai đây, anh đi rồi, em lại yêu một mùi thuốc lá khác, có phải vậy hôn?

– Mấy ông lính hay trở treo như bánh phồng. Anh có nước hôn?

– Ờ! Có. Ở bên ngoài. Mỗi ngày ô đô xách tới hai thùng đạn đủ để tắm và đánh răng rửa mặt.

– Hổng có nhà tắm hở anh?

– Lính tráng như tụi anh làm gì có nhà tắm hả em. Đi trong rừng hai ba bữa gặp được con suối là mừng. Còn về đây anh đứng tắm ngoài trời hông à.Thôi em ráng đứng trong nầy tắm đi. Anh nhắm mắt lại, được hôn?

– Thôi khỏi đi. Ai mà tin lính được.

Nàng cứ tự nhiên lấy lon thịt hộp, dè xẻn múc từng lon, nhè nhẹ đổ từ ngực xuống. Rỉ rả rọc rạch nước tuôn qua những làn cong cơ thể, len qua khe, rồi nhễu lịch bịch xuống nền sàn thông khô. Ngọc Tuyết đã xài gần hết một thùng nước để lau mình. Xong, nàng chưa chịu bận quần áo vô, lấy tờ báo quạt lia lịa.

– Trời nóng quá. Em hổng muốn bận đồ nữa.

– Thôi đi cô. Tôi hết xí quách rồi!

– Mới có chút síu sìu siu. Anh sò rồi phải hôn?

– Sò hay là hổng sò gì chút nữa thì biết. Một, hai lần nữa là hổng còn nước để lau mình đâu. Mà thôi để dành nước, vì em ở đây suốt đêm, phải lau mình nhiều lần nữa. Còn anh, chắc anh phải tắm búng quá!

Thân thể lồ lộ của một người đàn bà trẻ trung ở tuổi đôi mươi, đã hai đời chồng lính trong thời chinh chiến, đầy đủ sức khêu gợi, nhởn nhơ  trước mặt chàng hông chút thẹn thùng. Còn hơn “Dày dày sẳn đúc một tòa thiên nhiên” của cô Kiều. Sao cô nữ quân nhơn nầy dạn quá vậy hay là cô ta lẳng lơ? Hông có đâu? Ngọc Tuyết sống thực đó mà. Nhiều khi chàng hông hiểu tình cảm của những cô gái ở miền quê lúc chiến tranh. Họ mất chồng thường xuyên, nên sằn sàng yêu những người lính mà họ cảm thấy gần gủi với cái chết giống như chồng họ? Cũng hông phải? Thế còn cô Mận thì sao?

Bom đạn quá nhiều, giết chết thanh niên ngoài chiến trường làm cho các em hụt hẫng, hay là các bài ca mùi mẫn đã làm cho các em yêu lính xả láng? Ai mà biết được? Ai mà biết được cô nữ sinh Xuân Lan yêu tha thiết chàng sĩ quan trẻ đẹp Trần Công Điềm như thế nào?

Trăng sáng màu đất xám đỏ ngật ngờ. Ánh trăng núp lấp ló bên những đống gò mối. Mút đằng kia là sân bay mập mờ trong màu sáng ngà ngà. Hai đứa ngồi nhìn chân trời trăng khuất đằng xa. Những doanh trại cũ kỹ do Mỹ giao lại nằm im lìm trong màu ngà đục đục. Ánh trăng gật gù óng ánh màu nâu đỏ trong chung rượu nếp than. Sương trăng thơm thoang thoảng, tan nhè nhẹ, lập lờn theo khói thuốc Ruby mờ mờ.

– Ngày mai, em sẽ đổi ca với con nhỏ bạn. Em sẽ làm ca ngày suốt tuần. Tối tối, em tới với anh.

Đâu có được như ý của nàng. Ngọc Tuyết chỉ đến có ba đêm. Đơn vị Xuân phải vội vã đi thay thế cho đơn vị bạn. Chàng hông kịp nói một lời từ biệt.

 

 

*****

Đại Úy Lê Th… Đ… ngày hôm đó cùng Tiểu Đoàn tiến vào đồn điền Chup, hông thấy một bóng ma VC nào hết, chỉ thu được mười ngàn tấn gạo. Nấn ná một thời gian rồi rút về, Tiểu Đoàn bị VC tấn công nên tổn thất nặng. Một tháng sau, Trung Tướng Đỗ Cao Trí bất thình lình tử nạn trực thăng ngày 27 tháng 02 năm 1971. Sau đó, cuộc hành quân Toàn Thắng 71 hổng đạt được kết quả như mong muốn. Các đơn vị lục tục rút quân về. Và VC thừa cơ đuổi theo chận đánh. Nhờ lực lượng Lữ Đoàn 3 Kỵ Binh với sự điều khiển đầy mưu trí của Đại Tá Trần Quang Khôi, nên một số đơn vị rút lui bảo toàn được lực lượng, còn một số bị tổn thất nặng.

Sĩ Quan quân đội Việt Nam Cọng Hoà tốt nghiệp ở các quân trường trong hay ngoài nước thấm nhuần chiến thuật hành quân của Tây Phương. Ra trường, noi theo những gì họ học được, họ thường áp dụng lối đánh như vậy. Hỏa lực, quân số… quyết định chiến trận. Nhưng nhờ thêm tài thao lược un đúc từ lòng chống ngoại xâm phương Bắc, lòng gan dạ và có khi may mắn, họ lập được nhiều chiến công lẫy lừng.

Lịch sử nước Việt, trải qua ngàn năm Bắc Thuộc, là những thời kỳ chống ngoại xâm. Vào những lúc đó, hông có những lực lượng bên ngoài giúp đỡ, cha ông chúng ta đã tự mình nghĩ ra nhiều cách đánh mưu mẹo để tống kẻ cướp nước Bắc Phương ra khỏi bờ cõi. Hiển hách nhứt là những trận đánh của Lý Thường Kiệt, của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn và Quang Trung Nguyễn Huệ. Khi nghiên cứu những trận đánh đó, chúng ta hông khỏi khâm phục những lối điều binh của các vị danh tướng này.

Thời kỳ Tổng Thống Ngô Đình Diệm, với chính sách Ấp Chiến Lược, đã đẩy lùi VC trong Nam đến gần chỗ dãy chết. Chúng ta đã tách dân chúng ra khỏi địa bàn họ sinh sống. Họ đã dãy dụa kêu la phao vu đủ mọi thứ nhằm phá hỏng chính sách đó. Chúng ta hông cần nhiều bom đạn, hông cần nhiều nhân lực nhưng đã đẩy họ vào thế bị động và dần dần bị tiêu diệt. Nếu cứ tiếp tục, những cán bộ gộc lần lần bị sa lưới và lực lượng nòng cốt họ bị tan rã hoặc đầu hàng. Và họ hông có cơ hội xâm nhập vào Sài Gòn để phá rối như hiện nay.

Vào năm 1970, Việt Nam tiếp nhận một số người Việt hồi hương từ Kampuchia mà hông thanh lọc kỹ càng. Các cán bộ VC, trong đó có Trần Văn Thành và Marin Pla ( bây giờ với bí danh là Sáu Ngọc ) đã len lỏi cùng đám người Việt hồi hương xâm nhập vào Sài Gòn, tạo nên nhiều sự rối ren cho thành phố.

Nhưng vận mệnh nước đổi thay. Những kẻ bán nước lấy tiền đô, với sự tiếp tay của nước ngoài đã lật đổ vị nguyên thủ thời Đệ nhứt Cọng Hoà. Rồi sau đó lợi dụng sự rối ren của đất nước thời Quốc Trưởng Phan Khắc Sửu và Thủ Tướng Phan Huy Quát, tháng 3 năm 1965, họ ào ào đổ quân vào mảnh đất Việt thân yêu mà hông có sự yêu cầu nào của nước chủ nhà. Họ sử dụng hoả lực tối đa để cày bừa, để xài cho hết ba cái thứ cổ lổ sỉ của thời Đệ Nhị Thế Chiến. Và Ấp Chiến lược bị dẹp bỏ, cũng như bờ đê bị vỡ. VC đã thừa cơ núp vào trong dân, dần dần xoá bỏ hạ tầng cơ sở làng xã và đẩy lùi chúng ta vào thế bị động. Và chúng ta bị động thật. Mai họ đánh chỗ nầy, mốt họ phá chỗ khác rồi dông mất. Chúng ta đem quân ùn ùn tới, nhưng biết họ ở chỗ nào mà tiêu diệt. Và càng ngày sức lực chúng ta hao mòn, co lại một chỗ để giữ chặt các vị trí  quan trọng. Họ tung quân bao vây chúng ta… Chúng ta đã bị thua ở hiệp hai.

 

 

*****

Bây giờ Xuân hông còn gần Chúc nữa. Ở vị trí mới, chàng xa rời thằng Bắc Kỳ dốn thân yêu. Đôi khi, ngồi một mình, bên ly cà phê đen nơi quán cốc nhỏ nào đó, dưới tàn cây, một buổi trưa hoặc ban đêm vắng lặng nhìn ánh trăng suông mờ, chàng bổng nhiên nhớ đến Chúc. Nhớ lần chia tay, hai đứa nắm chặt nhau một hồi lâu. Lần đầu tiên chàng thấy thằng Bắc Kỳ nầy rơm rớm nước mắt, khác những lúc bình thường đù má, địt mẹ liên tu bất tận. “Rán giữ gìn nghen mậy!”. Nói thì nói vậy, chớ biết đường đâu mà rờ hả Chúc. Miễn súng đạn nó chê mình là được. Rồi có ngày, tao và mầy nhìn thấy non sông nước Việt nầy rạng rỡ!

 

 

*****

Lợi dụng thời cơ và sức lực chúng ta mệt mỏi sau những cuộc hành quân Lam Sơn sang Nam Lào và Toàn Thắng sang Miên năm 1971 cộng với những rối ren ở Thủ Đô; VC tổng tiến công. Mùa hè 1972: Quảng Trị, Kontum và Bình Long.

Ngay từ ngày đầu tiên, ngày 12 tháng 04 năm 1972, VC dồn tất cả lực lượng tấn công như vũ bão, quyết chiếm cho được An Lộc. Thành phố bị pháo tan tành gần như bằng phẳng. Nhiều lần VC cố tấn công vào tỉnh lỵ bằng xe tăng và bộ binh, nhưng hông được. Sư Đoàn 5BB và các đơn vị tăng phái chống trả quyết liệt, tiêu diệt gần hết chiến xa VC.

Cuối cùng, sau gần một tháng mở nhiều đợt tấn công, quần thảo với quân đội VNCH mà hông chiếm hoàn toàn được An Lộc, ngày 11 tháng 05 năm 1972, những đơn vị bộ binh VC hờm sẳn phía bắc Bình Long tiến vô, chực tràn ngập tỉnh lỵ nhỏ bé trong lần cuối cùng. Nhưng thời may đã đến, B52 đã dọn sạch những đơn vị nầy trước khi họ vui mừng chiến thắng. Tướng Lê Văn Hưng thở phào, nhẹ nhõm người. Từ đó, mộng chiếm An Lộc của VC bể như bọt nước.

Ngày 22 tháng 06 năm 1972, Sư Đoàn 18 BB (-) gồm Trung Đoàn 43 và 48, trực thăng vận vô An Lộc, lúc cuộc chiến sắp tàn. VC đã lui quân ra xa. Thỉnh thoảng đì đùng vài tiếng pháo của họ để thị uy. Trực thăng bắt đầu ngày ngày bay đi bay lại từ Long Bình, Biên Hòa lên An Lộc.

Ngày 07 tháng 07 năm 1972, khi Tổng Thống Nguyễn văn Thiệu vào thăm An Lộc thì kể như VC đã thất bại hoàn toàn. Và Đại Tá Trần văn Nhựt, Tiểu Khu Trưởng Bình Long cùng Trung Tá Lê Xuân Hiếu, Trung Đoàn Trưởng Trung Đoàn 43 ung dung nhâm nhi ly Martell lắc len ken đá cục dưới tầng hầm kiên cố của Tiểu Khu.

Phùng Xuân thận trọng bước qua những con đường hông còn nhà, những khu phố hông còn phố. Tất cả đều tan tành. VC hổng chú ý đến người dân đã sống ở đây. Họ cố ý tiêu diệt hết thảy miễn sao chiếm được An Lộc. Toàn gạch vụn và gạch vụn. Hổng biết có bao nhiêu xác chết của những người dân vô tội bị chôn vùi dưới những đống gạch. Đại lộ Hoàng Hôn bây giờ hông còn nữa. Xe tăng VC nằm la liệt.

Xuân mon men đến khu chợ đổ nát. Nhà dân chúng về phía bắc hổng còn. Nhưng những nấm mồ nhỏ bé của các anh chiến sĩ Biệt Cách 81 Dù nằm uy nghi trong cảnh đổ nát hoang tàn trước cửa chợ. Hổng còn ai ở  đây. Xuân đứng yên lặng một hồi lâu, bùi ngùi tiếc thương cho những người nằm xuống vì nước Việt mến yêu. Ai có còn nhớ đến họ? Dân Việt sẽ mãi nhớ đến hai câu thơ viết bằng sơn trắng trên hai miếng gỗ đơn sơ cắm trước nghĩa trang: “An Lộc địa sử ghi chiến tích. Biệt Cách Dù vị quốc vong thân” ( Mấy chục năm sau Xuân biết được, tác giả hai câu thơ trên là của cô giáo Pha, giáo viên trường Tiểu Học Bình Long). Và, đột nhiên, Phùng Xuân nhớ đến bài ám đọc chàng đi thi tiểu học từ lúc nhỏ, khoảng năm 1951, 52…: “Họ là những anh hùng không tên tuổi. Sống âm thầm trong bóng tối mênh mông…”( Anh Hùng Vô Danh.Hùng Nguyên Nguyễn ngọc Huy)

Đồng bào Thượng quyết chí hông đi. Mảnh đất nầy là của họ, rời xa là họ chết. Họ lang thang lếch thếch ở trạm xe lửa cũ, ăn mặc tồi tàn, đôi mắt u buồn, xin từng miếng ăn của binh sĩ. Xuân hông hiểu làm sao họ sống sót qua trận chiến tàn khốc vừa rồi.

Trong những ngày tháng bị vây hãm, thức ăn của chiến sĩ ở An Lộc hông có gì, ngoài thịt hộp, gạo sấy… và những loại lương khô khác được thả từ những chiếc phi cơ vận tải liều mình bay vào vùng lửa đạn để cứu trợ cho bạn. Có nhiều chiếc bị cháy và phi hành đoàn đều hy sinh. Sau này, C-130 bay cao mút trời xanh. Những bành tiếp tế vừa ra khỏi máy bay nhỏ bằng đầu tăm, từ từ lớn dần. Những kiện hàng bung dù cách mặt đất độ 500 m, lơ lững trên không trung, rơi đúng vào sân banh Tiểu Khu. Khi hông bung dù, kiện hàng rít lên như tiếng máy bay phản lực, xuyên thấu qua mấy từng hầm.

Ôi! Chiến tranh. Chiến tranh tàn phá đất nước thân yêu của tôi cho đến khi nào mới chấm đứt. Vừa mới tuổi thơ, Phùng Xuân đã biết chiến tranh. Nhưng ngày đó, vũ khí hông tối tân như bây giờ. Được mấy năm sống đời thanh bình thời Đệ nhứt Cọng Hòa, rồi lại chiến tranh. Ôi chiến tranh!

Chỉ có nhóm người hiếu chiến ở miền Bắc quyết chiếm miền Nam cho được bằng vũ lực. Mùa hè 1972, họ đã thất bại hoàn toàn. Quân đội Việt Nam Cọng Hoà cũng chịu nhiều thiệt hại đáng kể. Và có thể kho vũ khí khổng lồ thời Đệ nhị Thế Chiến đã hết? Nhóm tư bản tạo ra phong trào phản chiến rầm rộ, buộc chính phủ phải chấm dứt chiến tranh??? Người Mỹ đã rục rịt rút quân từ năm 1970 với danh từ mỹ miều: Việt Nam hóa chiến tranh. Không quân Hoa Kỳ oanh tạc ồ ạt miền Bắc vào dịp Giáng Sinh 1972. Miền Bắc thấm đòn. VC bắt bưộc phải ngồi vào bàn hội nghị.

Trớ trêu và mĩa mai, Hiệp Định đình chiến Paris ký ngày 27 tháng 1 năm 1973 ở đâu đâu, người chủ nhà hông hề biết rõ đến nội dung. Kẻ nhảy vào gây chiến tranh hông có ký một hiệp ước lộn lưng nào với nước chủ nhà. Và kẻ hưởng lợi lại ngang nhiên đi đêm, tiêu lòn với nhau xé nát mảnh đất Việt thân yêu, toa rập sắp xếp coi ai có quyền hưởng nhiều hay ít? Cọng Hoà Miền Nam thoát thai từ Mặt Trận Giải Phóng miền Nam, được thành lập vào năm 1960 của các dân trí thức mơ mộng ảo huyền thiên đàng Cộng Sản, con đẻ hoang của Hà Nội, là cái đếch (sic) gì mà cũng được hưởng phần ngồi vào bàn hội nghị? Và kẻ mang quân xâm chiếm miền Nam lại ngang nhiên hông chịu rút quân về, giữ nguyên trạng những vùng đất đã chiếm được để cho hơn 150 ngàn quân BắcViệt tiếp tục trú đóng.

Bất hạnh cho nước Việt mến yêu. Những người lãnh đạo Viêt Nam Cọng Hoà, bị cuốn vào vòng xoáy quyền lực của các nước lớn, hông thể đương đầu với tình thế. Cộng thêm tình hình rối ren trong nước do VC giựt dây khuấy phá. Nhạc phản chiến Trịnh Công Sơn, những bản tình ca ủy mị, tham nhũng tràn lan, sinh viên biểu tình, báo chí xách bị, gậy đi ăn mày… góp phần làm hao mòn sinh lực người lính ngoài trận tuyến. Đủ thứ trò hề ngây ngô. Họ hông nghĩ đền quyền lợi tổ quốc.

VC ma mãnh. Biết là Mỹ hông còn muốn dính líu vào Việt Nam, nên họ ngang nhiên vi phạm Hiệp Định Paris ngày 27 tháng 1 năm 1973 mà họ đã ký kết. Họ coi Hiệp Định đó như tờ giấy lộn, muốn xé lúc nào thì xé. Và VC bắt đầu mở những trận đánh nhỏ để thăm dò trong hai năm 1973 và 1974. Trung Cộng cũng hùa theo: đánh chiếm Hoàng Sa ngày 19 tháng 01 năm 1974.

Và đúng như Bắc Việt tiên liệu, Mỹ có dấu hiệu bỏ rơi Việt Nam Cọng Hòa thực sự. Họ bắt đầu “thử lửa” chúng ta với trận đánh đồn Đức Huệ do Tiểu Đoàn 83 BĐQ trú đóng. Nhưng hông ngờ Lữ Đoàn 3 Kỵ Binh của Chuẩn Tướng Trần Quang Khôi lợi dụng đêm tối, vượt qua biên giới Việt- Miên, đã “ bứng gốc ” nguyên cả Sư Đoàn 5 VC ngày 28 tháng 04 năm 1974 tại khu Mỏ Vẹt.

Nhưng sau đó viện trợ bị bớt dần. Biết được, VC thừa cơ tấn công. Ngày 06 tháng 01 năm 1975 họ đánh chiếm Phước Long. Tiểu Đoàn của Thiếu Tá Lưu văn Cầm nổ lực cầm cự, nhưng hông chống được, đã tìm cách thoát khỏi vòng vây. Ngày 07 tháng 01 năm 1975, Bình Long thất thủ. Và ngày 08 tháng 01 năm 1975, họ bắt đầu xua quân tiến chiếm vùng I và II chiến thuật. Quân đội Việt Nam Cộng Hoà bị bỏ rơi, hông còn đủ súng đạn để phản công, bắt đầu gom lại để đỡ đòn. Nhưng than ôi! sức lực đã mòn. Thế trận bắt đầu vỡ tan. Cuối tháng 03 năm 1975, toàn bộ vùng I và II, rơi vào tay VC. Chúng ta bị nốc ao nhưng còn đợi trọng tài đếm. Viễn ảnh mất nước ở trong tầm tay.

Lỗi tại ai? Lỗi tại tôi mọi đàng! Dựa vào thế lực kẻ xông vào nhà mình, nói lời ngon tiếng ngọt mà mình cũng nghe theo, như gái thơ ngây bị Sở Khanh dụ. Tới lúc mang cái bụng chửa, nó đá đít mình nó tháo chạy. Có phải Chánh phủ Mỹ cố tình đổ xương máu để giúp Việt Nam Cọng Hòa chống Cộng Sản hay nuôi dưỡng Cộng Sản? Vì trong trận chiến Bình Long, ít ra là có ba lần họ cố tình từ chối hông đánh B52 vào Bộ Chỉ Huy Tiền Phương VC và Bộ chỉ Trung Ương Cục Miền Nam. Hay là họ quá thực dụng, bỏ miếng mồi nầy bắt mồi khác ngon hơn? Ai mà biết được?

Buổi sáng ngày 09 tháng 04 năm 1975. Trời còn mờ mờ. Phùng Xuân vừa hút xong điếu thuốc, lấy tay búng mạnh, tàn thuốc văng ra xa. Chàng miên man nghĩ ngợi. Bỗng có nhiều tiếng tum tum vang lên từ hướng Đông Bắc Xuân Lộc. Binh lính quen chiến trận, biết có pháo kích, đồng loạt hô lên: “Pháo kí…ch” rồi mạnh ai nấy chui xuống hầm hố.

Có lẽ VC nhắm vào Tư dinh của vị tướng Tư lệnh Sư Đoàn 18BB, gần như đối diện với chợ Xuân Lộc. Chỉ có khỏang bốn trái là lọt vào Tư dinh, còn bao nhiêu là rớt xuống chợ. Đêm hôm đó, Chuẩn Tướng Lê Minh Đảo hông có ở trong dinh. Tiền sát viên nầy dở, chắc là mấy tay VC nằm vùng cở hạ sĩ quan, học hành hông bao nhiêu. Chớ nếu lấy được tọa độ chính xác là YT 458092 thì điều chỉnh giỏi, pháo sẽ dập nát dinh hông còn miếng gạch vụn! Hay là bọn họ hông có không ảnh tỷ lệ 1/25.000? Chúng lần đâu ra được? Lập tức, Bộ Chỉ Huy Hành Quân Sư Đoàn đã dọt về rừng cao su bên hông quận Xuân Lộc, ở Tân Phong, cách nơi cũ độ 5km!

Sau đó, đặc công VC xâm nhập vào thị trấn đốt cháy một chiếc V-100 của Tiểu Khu Long Khánh ngay gần ngã ba vào Sư Đoàn, nhưng toán nầy bị tiêu diệt. Cũng giống như An Lộc, VC pháo tối đa vào những khu dân cư, hòng gây gánh nặng cho quân đội trong việc cứu giúp dân lành.

Tỉnh lỵ Xuân Lộc nhỏ bé, đầu trên xóm dưới khoảng hơn một cây số. Nhưng lợi thế của Xuân Lộc là còn vòng đai Ấp Chiến Lược bao bọc được một phần thành phố về phiá Đông, Đông Bắc, hướng Nam và một phần phía Tây. Bờ đất cao khoảng 2m, dầy khoảng 3m, còn thêm hàng kẽm gai lên chừng 2m nên rất an toàn cho đơn vị phòng thủ. Chiến xa VC tấn công rất nhiều lần ở hướng Đông nhưng đều bị đẩy lui. Mặt Tây Nam, những đơn vị VC bị Tiểu đoàn 1/48 của Thiếu Tá Trần Cẩm Tường và chiến xa của Thiết Đoàn 5 KB tiêu diệt trong rừng cao su.

Liên tiếp mấy ngày tấn công, nhiều đơn vị cấp Sư Đoàn VC hông vô được tỉnh lỵ. VC chỉ còn có nước là pháo dữ dội vào các nơi đóng quân các đơn vị của Sư Đoàn. Phùng Xuân ngờ rằng có nội tuyến nằm trong đơn vị. Có những lần Xuân rảo bước kiểm soát trong đêm, chàng bắt được một người lính đang nghe đài Hà Nội. Vị Tiểu Đoàn Trưởng trước- Đại Úy Đỗ Trung Chu- rời nhiệm sở mà hông bàn giao cho Xuân những điều quan trọng đó. Vị sĩ quan ban hai- Thiếu Úy Dư- còn quá trẻ, chắc cũng hông nắm vững hết tình trạng binh sĩ Tiểu Đoàn trong lúc nầy.

Quân phòng thủ tỉnh lỵ gồm có các đơn vị Địa Phương Quân, Nghĩa Quân và Trung Đoàn 43(-) với hai Tiểu Đoàn 1 và 3, được tăng phái thêm Tiểu Đoàn 1/52 hình như của Đại Úy Nguyễn văn Út là phải(?) và sau nầy, thêm Tiểu Đoàn 82 Biệt Động Quân của Thiếu Tá Vương Mộng Long, quân số còn được một số ít. Anh chàng Long nầy lanh lợi. Đầu tiên là đơn vị đặt dưới quyền xài xể của Tiểu Khu, phòng thủ khu vực hậu cứ Tiểu Đoàn 183 PB, hướng Đông Xuân Lộc. Nhưng anh chàng thấy ở với Tiểu Khu hông ổn (tăng phái Tiểu Khu là bị xài tơi tả như cái mềm rách?), nên xin nhập vào với Trung đoàn 43, về phòng thủ nơi đầu sân bay.

Tiểu đoàn 2/43 do Thiếu Tá Nguyễn Hữu Chế chỉ huy, ở ngoài tỉnh lỵ, phòng thủ Núi Thị. Nơi đây, từ lâu đã có Pháo đội 150 và 155 ly sẳn sàng yểm trợ cho Sư Đoàn. Ngọn núi nhỏ nầy có hình móng ngựa, có một dinh thự của Pháp rộng rãi, khang trang và mát mẻ. Khu nầy từ trước, khoảng năm 1966, 67… là Trung Tâm huấn Luyện của Sư Đoàn. Phùng Xuân đã dẫn Đại Đội về nơi đây để học cách bắn súng chống chiến xa M-72. Xuân còn nhớ đến Trung Úy Wanatabe, người Mỹ gốc Nhựt. Sau khi đã dạy cho đại đội của Xuân xong, Wanatabé đã cùng chàng và ba thằng trung đội trưởng uống hết hai chai đế “Ông già chống gậy”. Wanatabe hông về đơn vị, lăn phè ra ngủ cho đến sáng hôm sau. Anh chàng chịu chơi thiệt. Bây giờ, những người từng gặp mặt Xuân, ra sao rồi? Họ có còn sống sót trong cuộc chiến ác liệt nầy hông, hở Manas, Don Porter, Wanatabe và Peter Maurice Arnie?

Ngày 12 tháng 04 năm 1975, Tiểu Đoàn 1/43 của Phùng Xuân vẫn giữ vững phòng tuyến hướng Đông Bắc và lấy được một số súng cùng một phóng đồ các đơn vị của Sư Đoàn 18. Vậy là có nhiều nội tuyến của VC đã nằm vùng trong Sư Đoàn. Chàng di chuyển Bộ chỉ huy Tiểu Đoàn liên tục. Buổi sáng ở gần quán Ba Tiều, buổi chiều ở đầu chợ. Ban đêm ngủ trong tiệm chụp hình Xuân Sơn. Ban ngày trở về nhà thờ Tin Lành…

So ra trận đánh Xuân Lộc hông có đẫm máu bằng trận An Lộc: cường độ pháo kích, tấn công hông nhiều và VC hông chiếm được một góc nào của tỉnh lỵ. Phi pháo đã dập nát những vị trí xuất phát của VC trước khi họ có ý định tấn công vào Xuân Lộc. Hình như những vị chỉ huy của họ hơi kém cõi và binh sĩ hông được huấn luyện kỹ càng?

Hơn nữa, Chuẩn Tướng Lê Minh Đảo, ngay ngày đầu, đã di chuyển toàn bộ Bộ Tư Lịnh Sư Đoàn ra khỏi Xuân Lộc, trú đóng trong rừng cao su bên quận Xuân lộc, ở ngã ba Tân Phong, đối diện vườn cây chôm chôm và soài riêng của bác sỹ Sử.

Buổi chiều ngày 16 (?) tháng 04 năm 1975, Phùng Xuân cảm thấy đất rung chuyển mạnh dữ dội. Đồng thời chàng nhìn thấy một chiếc C-130 vừa rời khỏi vùng hướng Đông Đông Bắc Xuân Lộc. Bom CBU quái ác đã tiêu diệt hầu hết bộ đội VC ở gần núi Chứa Chan. Họ hông còn khả năng tiến vào tỉnh lỵ. Thành phần còn lại lần lần bị Lữ Đoàn 1 Dù thanh toán. Bắc Việt hông còn hy vọng chiếm lấy Xuân Lộc nữa. Một phần cũng là nhờ Biệt Đội Kỹ Thuật Sư Đoàn của Đại Úy Phát đã xác định được các vị trí đóng quân của VC, nhờ đó phi pháo hoạt động rất hữu hiệu. Từ ngày 14 tháng 04 năm 1975, bên trong tỉnh lỵ hoàn toàn yên tỉnh. VC chỉ còn quấy rối bằng pháo kích.

Đầu con trăng. Ánh sáng mờ nhạt vừa vươn lên khỏi ngọn cao su, len len qua những đống đổ nát hoang tàn. Những ụ gạch vụn nhấp nhô trong sương trăng như những ngôi mồ hoang đầy mùi chết chóc. Khói điếu thuốc sắp tàn bay mông lung hoà lẫn hơi trăng lạnh. Xuân rùng mình. Hình như oan hồn những kẻ vừa mới chết còn lãng vãng đâu đây, nương theo ánh trăng về thăm lại nơi chốn cũ.

Hơn hai ngàn năm trước, Kinh Thánh cho đến nay vẫn là một. Hơn hai ngàn năm trước, kinh sách nhà Phật cho đến nay vẫn là thế. Những giáo điều trên được xem là bất di bất dịch. Nhưng, dòng thời gian trôi chảy. Từ thế kỷ XVIII cho đến nay, nhiều phát minh khoa học được khám phá. Người ta giết nhau càng nhiều hơn. Hưởng thụ vật chất càng sa đọa hơn. Thiên đàng Xã hội Cộng Sản ma quái hơn, mê muội những con người mơ tưởng đến thế giới an bình.

Khoa học đã giúp xã hội tiến bộ hông ngừng. Và mọi người mong muốn thay đổi. Niềm tin bị xoáy mòn. Liệu Thiên Chúa Giáo, Phật Giáo, Hồi giáo, Khổng Giáo có còn đứng vững mãi với thời gian? Một ngày nào đó, con người biến thành ánh sáng để di chuyển trong không gian đi về một thế giới hiện hữu khác thì cái gì sẽ xảy ra trong cuộc sống nầy? Phùng Xuân hông nghĩ đến được. Mấy hôm nay chàng hút quá nhiều, từ điếu nầy châm đến điếu khác. Ngón tay cái và trỏ trở nên vàng nghịt.

Nhà dân chúng dọc theo đường rầy xe lửa sập tan tành hết. Doanh trại Bộ Chỉ Huy Trung Đoàn 43 cũng ngã nghiêng. Nhiều căn phố ở chợ hông còn nguyên vẹn. Rạp hát Đồng Tâm còn trơ bảng hiệu. Chắc ngay phút đầu tiên, dân chúng khu vực chợ bị trúng đạn pháo bị thương và chết cũng khá nhiều. May là ngày hôm đó, VC pháo kích vào tỉnh lỵ rất sớm. Chưa họp chợ đông. Nếu trễ chừng một giờ nữa thì số dân chúng chắc chắn là chết rất nhiều.

Trung Úy Trần Văn Thân, Trưởng Ban ba Tiểu Đoàn hay lùng sục từ những căn nhà đổ nát tìm người sống sót, nhưng dân chúng đã hoảng sợ bỏ chạy từ những ngày đầu tiên. Một hôm, Trung Úy Thân đưa cho Phùng Xuân một xấp hình.

– Thẩm quyền xem cái nầy cho đỡ buồn!

Chàng cầm lấy. Một cọc dày hình 6×9 đen trắng in trên giấy láng, chụp đủ kiểu. Hông có một miếng vải nào hết,  truồng như những con nhộng trắng bông bốc, lăng quăng trong nồi nước sôi ươm tơ. Tư thế rất khêu gợi: ngồi ngữa, nằm nghiêng, chổng mông, chổng khu, hẩy người, banh hai chơn, khép hai tay che đậy, giơ cao hai tay. Mình mẫy chè bè trơ trẽn. Chè hẻ đì đóc nhơ nhớp.Thấy nguyên hết bộ sậu. Những gương mặt còn non choẹt chịu chơi mà lại “chơi chịu” như thế nầy? Chắc có lẽ, có một nhóm nữ sinh yêu tinh đã lập cái hội “CTY” ở cái tỉnh nhỏ bé nầy?

– Tôi đoán chắc là các cô ở Xuân Lộc đây, chớ hông có ai khác hơn đâu. Xung quanh đây toàn ruộng rẫy, dân nhà quê. Làm gì họ có dư dã để “ ngựa” như vầy.

– Còn một tấm nầy.Mê lắm Thiếu Tá ơi! Bà L…

Thân kêu anh chàng Hậu mang máy C-25 chìa ra cho Xuân một tấm hình chụp khổ 9×12 đen trắng in trên giấy “soa” đã “rờ tuốt”. Một người đàn bà còn trẻ, nằm dài trên nệm trắng, nuột nà như con đuông chà là. Thân thể cực kỳ sung mãn, rất cân đối. Vẻ đẹp đang thời sắc sảo, mặn mà. Tất cả những gì trên cơ thể đều lộ ra trong tư thế nằm nghiêng.

– Anh moi ra những thứ nầy ở đâu vậy?

– Mấy thằng nhỏ tụi nó lục lạo rồi đưa cho tôi. Sấp hình 6×9 là ở tiệm chụp hình Xuân Sơn. Còn cái hình người đàn bà nầy là bà L… ở tiệm thuốc tây … cuối chợ.

– Vậy mà tự nảy giờ, hai thằng mang máy tụi bây cứ thậm thà thậm thọt, như là quí lắm vậy? Tụi bây có quen cô nào trong sấp hình đó hông? Tao thấy, tụi mình thằng nào thằng nấy, khi coi hình, trái cấm trồi lên tuột xuống, nuốt nước miếng đã đời.

Phùng Xuân đưa hết hình cho Đại Úy Ngô văn Đấu, Tiểu Đoàn Phó. Chàng thẩn thờ nhìn qua phía bên kia đường. Nắng tháng tư ngùn ngụt trong không khí chiến tranh. Thoáng đâu đây tiếng người than khóc trong bom đạn. Họ, những người được sống an bình nơi hậu phương lại bày trò ăn chơi như thế nầy à? Ở cái tỉnh lẻ còn như vậy thì hông hiểu ở Sài Gòn như thế nào? Hổng lẽ, Sài Gòn lại còn hơn như thế nữa? Chàng tin là chắc như thế. Phòng trà, ca nhạc đầy ấp những bản tình ca ủy mị chìm trong khói thuốc, trong những ly cà phê. Chẳng có ai nhớ tới hình bóng người lính, họa chăng thỉnh thoảng có một vài bài hát của Chiến Tranh Chánh Trị.

Bấy lâu nay Xuân hông được về Sài Gòn thường, nhưng có những tin tức phong phanh qua lời đồn: Sài Gòn bây giờ ăn chơi dữ lắm ông ơi, tham nhũng tràn lan, hông những ở ngoài mà còn ở trong nhà binh nữa! Rồi còn nạn bè phái nữa! Nhưng như thế nào là dữ? Mình chỉ đọc qua báo chí vụ còi hụ Long An thôi mà!

Tội nghiệp cho những người lính thân yêu của tôi. Ngày đêm ở tuyến đầu, liều mình sống chết, họ hông có biết về một lớp người phía sau họ hưởng thụ, xa xỉ đàng điếm. Có phải tầng lớp ăn trên ngồi trước họ cho là họ có đặc quyền đó hông? Lính ở đây bao nhiêu người chết và bị thương rồi? Gia đình của họ có bình yên hôn? Chàng hông còn thấy bóng dáng một người vợ lính nào ở đây. Đường sá vắng teo. Họ chạy đi mất rồi, mang theo nổi lo sợ cho tính mạng của người chồng .Hông hiểu gia đình chị Hiền ở trong rẫy có bị gì hôn? Loan hông còn bán ba ở khu đường rầy từ lâu. Hổng hiểu Loan đi đâu mất, hông thấy nàng trở lại để rước thằng Ken?

Xuân tính đi vào khu xóm nhà phía sau chợ, tìm đến nhà chị Kim Sa, vợ của Nguyễn Thanh Liêm, nhưng ngỗn ngang gạch vụn và la liệt cây ngã bín kín tất cả mọi đường. Bao nhiêu người dân hông chạy thoát khỏi trong những đợt pháo kích?

Cơn mưa đầu mùa chưa đến. Nắng nổ xé tóe mắt. Không khí bay mùi tanh lợm giọng trong nắng chói chan. Phùng Xuân mơ màng nghĩ đến tuổi thanh xuân của mình đã cống hiến cho nước Việt mến yêu sắp hông còn nữa. Và những thằng bạn mình sẽ ra sao? Thằng Chúc ở bên Tiểu Đoàn 3/43 với Thiếu Tá Nguyễn văn Dư trấn giữ hậu cứ Sư Đoàn có bị gì hôn? Thằng Nguyễn Bá Lai đã chết từ lâu rồi. Và Sư Đoàn 18 chống giữ nơi nầy được bao lâu vì trọng tài trên võ đài đã đếm đến gần số mười?

17:00H ngày 20 tháng 04 năm 1975, Phùng Xuân đi họp ở Trung Đoàn. Lịnh rút lui là 20:00H. Bỏ lại mọi thứ. Mà lính có gì bỏ lại, ngoài ba lô và súng đạn và gánh hàng xén của họ.

Hông hiểu dân chúng ở đâu và làm thế nào biết được quân đội rút đi, họ ùn ùn kéo theo. Trên đường đông nghẹt Cảnh Sát và dân. Họ đùm túm mang theo những thứ gì có thể mang được. Mẹ, tay xách nách mang. Cha, lưng đeo con nhỏ, lóc nhóc dắt theo một đàn con. Họ hối hả bước theo những người lính Sư Đoàn bỏ lại thành phố thân yêu. Những chiếc Lô Bồi của công binh nhóc nhách người ngồi. Và họ cũng tự động leo lên mấy chiếc GMC khác. Nhiều ngàn dân sợ VC. Họ đi theo lính Sư Đoàn rời bỏ Long Khánh trong ngày hôm đó. Tiểu đoàn 1/43 có một GMC chất đủ mọi thứ -nhiều nhứt là gánh hàng xén của Đại Đội Chỉ Huy( Trung Úy Nguyễn văn Thành) và của Ban Tư ( Trung Úy Nguyễn văn Phẩm)-nối đuôi theo đoàn xe của những đơn vị yễm trợ chạy theo Liên Tỉnh Lộ 2  xuôi Nam về Bà Rịa.

Liên tỉnh lộ 2 nối liền Quốc Lộ 1 tại ngã ba Tân Phong và Quốc Lộ 15 tại Bà Rịa, dài khoảng 50km ( từ Xuân Lộc đến Hậu cứ Trung đoàn 48 khoảng 12km. Từ Hậu cứ Trung Đoàn 48 đến Núi Đất khoảng 28km. Từ Núi Đất đến Bà Rịa 12km ). Đoạn đường nằm trong địa phận tỉnh Long Khánh, chạy giữa Mật Khu Mây Tào và Hát Dịch, có hai Trung Đoàn 275 và 33 của VC thường xuyên hoạt động. Từ ngã ba Tân Phong đến Cẩm Mỹ tương đối an ninh, có nhiều đồn điền cao su, do Tiểu Đoàn 323(?) Địa Phương Quân bảo vệ an ninh. Từ đồi Con Rắn, xã Cẩm Mỹ, xuống đến ranh giới tỉnh Long Khánh và Bà Riạ, từ lâu hông có đơn vị nào của quân đội VNCH kiểm soát, gần như bỏ ngõ cho VC hoạt động. Từ Bình Giã về Bà Riạ tương đối an toàn vì nằm trong vùng trách nhiệm của chi khu Đức Thạnh do Thiếu Tá Giao làm Quận Trưởng.

Rút lui về Bà Riạ ban đêm bằng Liên tỉnh lộ 2 là một hành động bất ngờ, táo bạo và liều lĩnh. Và VC cũng hông ngờ là Sư Đoàn 18 thối lui về ngã nầy. Cho nên đoàn xe các đơn vị yễm trợ Sư Đoàn vượt thoát một cách an toàn. Khoảng hai, ba giờ sáng, Tiểu Đoàn 18 Công Binh của Thiếu Tá Nguyễn văn Nên đã đến Bình Giã. Đại Úy Nguyễn Trí Dũng một mình lái chiếc Jeep A2 của Phòng Ba Sư Đoàn chạy một mạch đến Chi Khu Đức Thạnh lúc một giờ sáng mà hông có một người lính nào đi theo. Nếu tin tức lộ ra, chỉ cần một trung đoàn VC khóa đầu khoá đuôi rồi tấn công vào giữa là Sư Đoàn 18 tan tác. Mà cũng khó lộ ra. Vì Trung Tướng Nguyễn văn Toàn, Tư Lịnh Quân Đoàn III, đích thân đáp xuống Tân Phong cho lịnh miệng rút quân. Và chính Đại Úy Nguyễn Trí Dũng ở P3/SĐ cầm từng tờ công điện rút lui đến giao cho các đơn vị trưởng và các đơn vị trực thuộc trong tiếng pháo đì đùng của VC.

Vị Tư Lịnh Sư Đoàn cũng cuốc bộ với anh em. Một bầu đoàn thê tử đầy nhóc đi theo, máy truyền tin được lịnh im lặng vô tuyến, chạy lè xè. Và tiếng nói chuyện của Chuẩn tướng Lê Minh Đảo với Đại Tá Lê Xuân Hiếu râm ran khi đi ngang qua chỗ Phùng Xuân. Một lời thăm hỏi và khích lệ. Xong rồi, tất cả hối hả bước theo những bước đàng trước.

Rừng cây cao su bên trái bạt ngàn. Mỗi cây to lớn như những hình nộm núp trong bóng đêm trăng suông mờ nhạt, chập chờn ma quái như hù dọa. Bên phải là rừng già, cây cao to cồ nghều nghệu, chen lẫn dây rừng  đan cao thấp như những màn lưới sắp quăng một mẻ chụp cả đoàn người đi. Và đoàn người đi và đi, và đi cắm cúi, đi lầm lũi trong đêm trăng non yên lặng, bỏ lại đàng sau những đồng đội đã chết, có khi chôn vùi sơ sài đâu đó, có khi hông kịp chôn nằm vất vưởng bên đường và trong rừng…

Đoàn xe Thiếu Tá Đoàn Hữu Mỹ di chuyển cùng Trung Tâm Hành Quân, Bộ Chỉ Huy Sư Đoàn đến Bình Giã khoảng bốn giờ sáng. Và khi Phùng Xuân qua khỏi Nhượng Địa Xa Bang, bỏ lại sau lưng rừng cao su mờ mịt thì trời vừa hừng sáng. Chàng nghe nhiều tiếng nổ của đủ loại súng. Chàng biết VC đang truy kích những lực lượng đi sau cùng: Điạ Phương Quân và Liên Đoàn 1 Dù. Hông hiểu Tiểu Đoàn 324 Điạ Phương Quân của Thiếu Tá Hà Công Hách đóng ở Bảo Định rút lui có an toàn cùng với Nhảy Dù hôn? Và chắc chắn là dân chúng vùng Bảo Vinh, Bảo Bình, Suối Cát thế nào cũng ùn ùn đi theo. Họ đã biết cái hoạ Cộng Sản từ năm 1954 rồi mà!

Riêng Tiểu Đoàn 2/43 của Thiếu Tá Nguyễn Hữu Chế, hông thể đi về Nam cùng rút lui theo Sư Đoàn, đành chọn một lộ trình gian nan và nguy hiểm: băng rừng về hướng Tây đến Long Thành, Biên Hoà

Vào trong khu ấp Bình Giả, ngủ môt đêm, Xuân vẫn còn chập chờn nhớ nhung những hình ảnh bỏ lại sau lưng. Tỉnh lỵ nhỏ bé hơn mười năm gắn bó có nhiều kỷ niệm: nắng bụi và mưa sình. Những con đường lầy lội, bùn đỏ văng tóe lên mình người đi một cách tàn bạo, lốm đốm như rẫy mực. Mùa hè bụi bay mù mịt hông thấy người đi khi xe tuôn qua. Áo trắng biến thành áo màu đỏ. Nhiều khi khịt mũi đầy màu đất đỏ.

Ai mà thích đất trời như thế? Vậy mà có người trả lời là em hông muốn đi khỏi nơi đây. Cô Nguyễn thị Kiều, nữ sinh trường trung học Xuân Lộc, nói hình như bụi và bùn đỏ đã tan vào chén cơm và tô canh của em. Hơn nữa ba em đã hy sinh ở nơi đây. Em hông muốn đi đâu đâu. Thế mà bây giờ em ở đâu rồi hở Kiều? Biết bao giờ nhìn thấy lại những người lính năm xưa. Có người chơn chất thật thà, có người khôn lanh lém lĩnh, nhưng đều là những người hăm hở, gan dạ đứng đầu trước tiếng súng.

Ngày 21 tháng 04 năm 1975, đoàn xe chở Tiểu Đoàn qua Bà Rịa trở về Long Bình. Rồi lại được nghỉ một ngày. Ngày 23 tháng 04 năm 1975, Phùng Xuân và Đấu gắn lon lên một cấp bực cho các anh em trong đơn vị.

Ngày 25 tháng 04 năm 1975, Tiểu Đoàn được lịnh phối trí lực lượng từ vườn ươm cây Trảng Bom vào sâu đến tận đường rầy xe lửa. Sau mấy ngày khao quân, cha con lại đùm túm dắt díu nhau vào vùng hành quân với một lô M72 đế chống xe tăng. Bây giờ phía trước Phùng Xuân là Trung Đoàn 48 của TrungTá Trần Minh Công và Thiết Đoàn 5 Kỵ Binh của Trung Tá Nguyễn văn Nô, bố trí trong rừng cao su ở cua chữ C, trên QL01, cách Trảng Bom khoảng 6km.

Buổi chiều ngày 27 tháng 04 năm 1975, hông hiểu từ đâu hai chiếc Skyraider bay thật thấp, làm một loạt bom rồi dông mất. Người la và kẻ khóc. Xuân hét lên với đề lô. Hông liên lạc được với ai. Khuya hôm đó, Trung đoàn 48 và Thiết Đoàn 5 Kỵ Binh bị tấn công dữ dội. Lực lượng phòng thủ bị chọc thủng. Trận tuyến tan vỡ. Còn lại một mình Phùng Xuân trên tuyến đầu. Ăng ten kéo lên cao nghều nghều để cố nghe một tiếng trả lời của Trung Đoàn. Tất cả đều im lặng. Chạy đi đâu mất tiêu hết. Chắc có lẽ xa lắm rồi, khỏi Biên Hoà, nên ăng ten dài hông bắt được. Xuân nhìn nồi chuối nấu. Chàng nuốt mắc nghẹn! Mình ăn như vầy thì người lính của mình ăn với cái gì?

Và rồi, buổi sáng ngày 28 tháng 04 năm 1975. Súng  nổ và đạn bay. Đâu ai còn biết mình đã can đảm như thế nào? Cho đến khi hông còn đạn mới biết mình đã buông súng giơ hai tay đầu hàng trong ngỡ ngàng. Đại Úy Trần văn Thân bị thương bể ngay đùi nằm im lặng. Máu đổ tràn lan. Hông một tiếng rên. Đôi mắt Thân nhìn Xuân như có điều gì muốn nói, nhưng bộ đội VC hối thúc Xuân đi mau. Xuân quay lại nói với người lính nầy xin cho chàng và Đấu võng Thân đi. Người cán binh gầm mặt, quát lên một tiếng. Khi Xuân vừa đi khỏi chừng hai phút, chàng nghe một loạt đạn nổ dòn. Vậy là họ giết Thân rồi. Thương binh của họ, họ còn hông mang đi được. Họ kể sá gì đến thương binh của kẻ thù!

Phùng Xuân đi đầu trong toán tù binh. Hai tay bị trói ra sau, bằng dây điện thoại, dính chùm với binh sĩ. Khi chàng bước lên đỉnh đồi, nhìn về phía Trảng Bom, đoàn T54 ào ào tuôn vô Biên Hoà. Chàng nghẹn ngào. Nước mắt lưng tròng.

Bỏ lại sân trường Đại Học, đem cuộc đời thanh xuân để chiến đấu mong nhìn thấy non sông gấm vóc Việt Nam trở nên rạng rỡ, bây giờ tan thành mây khói. Mình có tài cán gì? Đánh đấm có ra gì? Khoảng thời gian lính tráng chỉ có từng ấy năm đã làm được những gì? Chỉ là mơ ước thôi. Việt Nam thân yêu giờ đây hông còn nữa. Rồi đây, đất nước sẽ ra sao? Chàng chỉ biết cái họa Cộng Sản trong sách vở, ở phim ảnh. Một tương lai mù mịt cho đất nước, cho gia đình.

Xuân cúi gầm mặt đi, đi, đi trong đau đớn tủi nhục của người thua trận. Xuân cảm thấy mình hèn và nhát và bất tài hông xứng đáng là một cấp chỉ huy, hông đủ sức bảo vệ cho hơn 400 người binh sĩ dưới quyền (Mà có khi nào tiểu đoàn đầy đủ quân số 6, 700 đâu?Lính ma, lính kiểng ở đâu đâu, chìm sâu trong cái xã hội thời ly loạn!! ). Sao mình hông rút đi từ chiều hôm qua, theo chơn Thiết Đoàn 5 Kỵ Binh có hơn hông? Nấn ná làm chi với số binh sĩ bị thương sau đợt oanh kích của hai phi tuần khu trục? Chút nữa, nếu có ngừng lại, quây quần bên đám lính của mình, mình có xứng đáng nhìn mặt họ hông? Sao mình hông cầm súng bắn vào mình để tự sát đi cho rồi? Sao lại phải bị nhục nhã như thế nầy?

Phùng Xuân ngồi riêng một mình trong đám rừng cây nhỏ. Chàng đoán đây là khu rừng sâu sau ấp Bàu Hàm. Chỗ ngồi đã được dọn dẹp sạch sẽ. Một người bộ đội mang ra một ly nước trà còn nóng và một phong lương khô bằng hai ngón tay. Sau đó có hai người sĩ quan mang cấp bực Thiếu Tá(?) đến ngồi trước mặt Xuân. Chắc có lẽ là sĩ quan Quân Báo. Họ lấy một điếu thuốc Ruby đỏ mời Phùng Xuân. Xong họ trãi bản đồ tỷ lệ 1/250.000 và hỏi chàng bây giờ những đơn vị của SưĐoàn 18 và những đơn vị khác ở đâu? ( Chắc họ vội vã quá nên hông có bản đồ 1/100.000 hay 1/50.000? Bản đồ 1/250.000 đâu phải là bản đồ hành quân chiến thuật? Chỉ có cấp Quân Đoàn trở lên mới xài bản đồ tỷ lệ 1/250.000. Vậy đơn vị nào bắt được Xuân? Nếu Quân Đoàn còn ở đây thì Sư Đoàn và Trung Đoàn của họ chắc đã tiến khỏi Biên Hoả rồi?)Thật ra cho đến giờ phút nầy Xuân cũng hông biết đơn vị bạn mình ở đâu? Chạy mất tiêu hết rồi!!

– Có mấy đường vào thành phố Hồ Chí Minh(?). Đường nào đi vào thành phố dễ dàng nhất?

– Có ba. Ngã cầu Xa lộ Đại Hàn ở nhà máy nước Hoá  An. Ngã Cầu Ghềnh xuyên qua thành phố Biên Hoà. Ngã xa lộ Cầu Đồng Nai. Tui hông hiểu các anh hỏi dễ đi là như thế nào? Cho chiến xa hay cho bộ binh. Có lẽ Cầu xa lộ Đồng Nai là dễ đi nhứt cho chiến xa.

Xuân biết họ hỏi để xác nhận điều chàng khai ra có đúng như thế hông. Chứ thiệt ra khi chàng bị bắt, phòng tuyến Trảng Bom bị tan vỡ thì chiến xa đã ào ào tuôn vô Biên Hòa. Giờ nầy có lẽ họ đã qua khỏi Biên Hoà. Và chiến xa đâu có ngu dại gì đâm đầu vô con đường chật hẹp vào thành phố Biên Hoà. Chắc chắn là họ thấy đường xa lộ rộng thênh thang thì họ tin chắc là đường đến Sài Gòn.Và nếu Xuân có chỉ thì với bản đồ 1/250.000 cũ xì, hông có những chi tiết mới, như đường Xa lộ Đại Hàn và Xa lộ Đồng Nai, họ cũng hông lần ra được. ( Lúc sau nầy khi đi ở tù, Phùng Xuân gặp lại Thiếu Tá Đoàn Hữu Mỹ, Trưởng Toán Trung Tâm Hành Quân SưĐoàn vào lúc cuối cùng và Thiếu Tá Nguyễn văn Nên, Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn Công Binh SĐ.Hai người nầy cho biết đã có lịnh giựt sập cầu Xa Lộ Đồng Nai để hông cho VC tiến vô SàiGòn.Nhưng Thiếu Tá Mỹ nghĩ rằng làm sập cầu Xa lộ Đồng Nai thì các đơn vị bạn còn kẹt lại làm thế nào để rút về và còn dân chúng nữa chi.Hơn nữa sập cầu rồi có thể xây lại tốt như thế hôn??(sic).Nên chàng ta hông có truyền lịnh lại cho Thiếu Tá Nên.)

– May cho anh đó. Nếu để mấy Sư đánh Xuân Lộc bắt được anh thì họ bắn anh rồi.

Với đơn vị hành quân cấp nhỏ Tiểu Đoàn như Phùng Xuân ( và mất liên lạc với Trung Đoàn) nên hiện giờ Xuân cũng hông biết đơn vị VC nào đã bắt chàng và những Sư Đoàn nào của họ bị thiệt hại nặng nề ở Xuân Lộc vừa rồi.

Buổi khuya, trăng sáng vằng vặc. Xuân nằm im trên miếng tôn, nhìn thẳng vào mặt trăng. Vầng trăng xám xịt. hông đưa vô miệng được. Hai bên hàm cứng ngắc và nước miếng tuôn như khai đập và trào ra hai bên mép. Phải một hồi lâu, Xuân mới mở miệng được để thưởng thức hương thơm ngọt ngào của cơm trắng.

Cho đến trưa, tiếng ra lịnh đầu hàng của vị Tổng Thống Dương văn Minh vang vang lên từ những máy thâu thanh của dân chúng. Phùng Xuân gục mặt, ứa nước mắt. Có cái gì chận ngay cổ họng. Còn đâu nữa “Đời thanh bình cửa thường bỏ ngõ”? ( Nguyễn Công Trứ ).

 

 

 

 

 

 

 

 

 

PHẦN 3

 

Vào những ngày cuối tháng 04 năm 1975, Sài Gòn hổn lọan. Quần áo lính quăng bỏ ngổn ngang cùng đường. Những người dính líu với chế độ cũ, giống như cá ở trong nơm, hốt hoảng tìm đường chạy trốn. Không quân lo lấy máy bay vù lên trời… Hải quân kéo cả đoàn ra khơi… Máy bay quân đội Hoa Kỳ liên tục chở số người ra đi, nhưng hông thể đáp xuống được nữa vì VC bắt đầu pháo kích vô sân bay Tân Sơn Nhứt. Và cuối cùng, họ chuyển về Toà Đại Sứ ở đường Thống Nhứt, di tản một số ngưới còn lại bằng trực thăng. Cảnh chen lấn để vô được bên trong vô cùng khổ sở và đau khổ. Hông đi được bằng máy bay, số còn lại chỉ có một con đường duy nhứt là xuống tàu thoát ra biển.

Trưa ngày 30 tháng 04 năm 1975, Bộ Tư lịnh Sư Đoàn 18BB, chạy tán loạn tan hàng. Thiếu Tá Đoàn Hữu Mỹ cùng anh em ở Trung Tâm Hành Quân hông liên lạc được với ai, tự động bỏ súng đạn, xe cộ và máy móc tuyền tin ở trường đua Phú Thọ. Đại Tá Lê Xuân Hiếu cùng Tướng Lê Minh Đảo thay thường phục ở cư xá Thanh Đa rồi chia tay mạnh ai nấy về nhà.

Mặc đầu có lịnh đầu hàng của Đại Tướng Dương văn Minh nhưng quân đội Bắc Việt khi tiến vào Sài Gòn cũng gặp một số chống cự quyết liệt của các đơn vị Quân đội VNCH. Hổng thể giải quyết được tình trạng đã hầu như hông còn cứu vãn được nữa, một số người quá tuyệt vọng đã tự sát. Làm gì được nữa? VC đã phản bội Hiệp Định Paris năm 1973 cộng thêm sự tiếp tay của ngoại bang, họ đã thừa cơ tiến công. Cũng còn một số trí thức mơ mộng, và một số người ngây thơ tin tưởng VC. Ở đó mà mơ tưởng chính phủ Ba Thành Phần nên sẳn sàng mở cửa Dinh Độc Lập toác hoác để đón xe tăng nghêng ngang vào. Đúng là cái vòng danh lợi cong cong. Kẻ hòng ra khỏi người mong muốn vào. Con cá trong nôm đỏ lừ con mắt. Con cá ở ngoài ngúc ngắc muốn vô. Và VC lại lường gạt. Cắm cờ Mặt Trận Giãi Phóng Miền Nam lên nóc dinh! Nhóm người trọng tuổi thân Việt Minh (?) được dịp, lập tức ló đầu, vui mừng ra mặt, hoan hô đoàn quân “Giải  Phóng” tiến vào Sài Gòn. Nhóm thân Cộng, hoặc do Cộng Sản giật dây xuất đầu lộ diện. Nhóm 30 tháng tư, trở cờ nhanh  chóng, tay đeo băng đỏ hò hét vang trời. Và từ ngôi nhà ở đường Ký Con của ông Tư Phước, Trần văn Thành và Sáu Ngọc (Marin Pla), vội vàng tiếp xúc với thành phần nằm vùng bấy lâu nay, đón mừng quân giải phóng vào Sài Gòn. Gia đình ông Sáu Xe cũng vậy. Họ vui mừng “cách mạng thành công”, đánh cho Mỹ cút, Ngụy nhào. Nhứt là Vân (Sáu Trân), tỏ ra hăng say hoạt động để “giành thắng lợi mới!”. Cả nhà “hồ hởi, phấn khởi”.

Bà Phùng Xuân sợ sệt, hông biết tìm đường trốn đi đâu vì chồng mình tới giờ phút cuối vẫn biệt tăm, hông biết sống hay chết như thế nào? Bà chỉ biết chở ba đứa con nhỏ lên chiếc Honda chạy vào nhà Ông Bà Ngoại…

*****

Rốt cuộc rồi cũng lại trở về nơi chốn cũ: Long Giao, Long Khánh. Nó còn có tục danh là Hàng Gòn, cách Xuân Lộc khoảng 12 km. Nơi đây đầu tiên là căn cứ Black Horse của Trung Đoàn 11 Thiết Kỵ Hoa Kỳ (11th Armored Cavalry Regiment) từ năm 1966 đến năm 1969. Sau đó giao lại cho Lữ Đoàn 199 Bộ Binh Mỹ. Khi quân đội Mỹ rút đi vào năm 1971, giao lại cho Sư Đoàn 18 BB. Sau khi bỏ bớt sân bay, Trung Đoàn 48 BB và Trung Tâm Huấn Luyện của Sư Đoàn 18 đảm trách phòng thủ căn cứ nầy ( tọa độ YS 450970) ( Bây giờ, năm 2012 là căn cứ của Sư Đoàn 302VC, thuộc Quân Khu 7 ). Rồi cuối cùng, khi Trung Tâm Huấn Luyện dời về Long Hải (Bà Riạ) thì căn cứ trở nên quá rộng. Những kho đạn do quân đội Mỹ để lại còn đầy dẫy trong những đám cỏ mọc hoang tàn…

Những ngày đầu tiên hai vệ binh dẫn đám tù vác cuốc xẻng đi trồng khoai lang. Những thằng tù, từ hồi nào tới giờ chuyên môn giơ tay năm ngón để chỉ huy thiên hạ, bây giờ bị hai người bộ đội trẻ bân ăn mặc bộ đồ kaki lèng xèng màu cứt ngựa, đầu đội nón cối và hai chơn đi dép râu lẹp xà lẹp xẹp, kèm theo hai cây AK ra lịnh, nên họ có vẻ quê độ, tỏ ra ngỡ ngàng. Nhưng là thân phận tù binh thì họ có làm gì hơn được? Buổi tối, tù binh được một anh tổ trưởng đưa cho tờ giấy để khai lý lịch trích ngang. Hông anh nào biết khai như thế nào. Cán bộ kêu kê khai tới đời ông nội và tất cả bà con dòng họ nội ngoại. Từ hồi cha sanh mẹ đẻ tới giờ chưa có cái vụ nầy. Đâu có ai mà nhớ hết dữ vậy. Anh nào anh nấy mỗi anh kiếm một góc nhà dưới ánh đèn cầy mù mờ nặn óc viết ra. Chừng nào nộp? Chưa biết. Cứ ráng mà viết cho đầy đủ “Thành khẩn mà khai báo, cách mạng sẽ cứu xét cho về sớm”.

Ở trong doanh trại rộng mênh mông, bộ đội kiểm soát cũng hông có gì nghiêm nhặt lắm. Buổi trưa, sau những bữa ăn no với tép cá đầy đủ, tù binh còn ngồi tụm ba tụm bảy đấu láo với nhau. Xuân vẫn còn e dè, ngồi im lặng nghe. Toàn là những người bạn tù lạ, hông quen biết. Làm sao mà dám nói rõ những ý nghĩ của mình. Một vài người cho chàng biết. Khi chưa sập tiệm, còn là hạ sĩ quan làm việc rất siêng năng. Sau khi bể dĩa, thì hỡi ôi, cái ông thượng úy VC ngồi chình ình một đống tiếp nhận mình chính là anh chàng hạ sĩ quan trong đơn vị mình lúc trước. Nó biết rõ mình nên nó hạch sách đủ điều.

Tù binh vẫn còn tin tưởng là sau khi “thành khẩn khai báo” đầy đủ, nộp giấy trích ngang là họ được trở về sum họp gia đình. Ủy ban quân quản đã có giấy tờ là đi học tập chỉ có một tháng mà! Một vài người nói với Xuân như vậy. Chàng hông biết. Họ đưa cho chàng xem tờ kêu gọi đi “học tập cải tạo” của Ủy Ban Quân Quản. Té ra VC ma giáo chơi chữ, nên tù binh miền Nam ngây thơ bị chữ chơi! Người ta in rõ ràng trên giấy trắng mực đen là: “ đem lương thực và thực phẩm( hiện vật hoặc tiền)  đủ dùng trong một tháng ”. Đủ dùng trong một tháng chớ nào phải đi học tập một tháng rồi về đâu! Nếu đi “học tập cải tạo đúng một tháng” thì VC phải viết rõ ràng ngày đi và ngày về chớ. Xuân nhớ lại đến những gì chàng đã đọc trong một vài cuốn sách của Hoàng văn Chí và phim : “Chúng tôi muốn sống”, “Ánh sáng miền Nam” được coi lúc còn nhỏ. VC bao giờ cũng lật lọng, mập mờ đánh bài ba lá.

Tờ khai lý lịch trích ngang được trả đi trả về mấy lần. Lý do: các anh khai báo chưa thành khẩn. Thời gian một tháng sắp hết. Tù binh lại còm lưng viết lại. Bây giờ thấy ai ngồi viết cũng trầm ngâm nghĩ ngợi, phải làm sao viết cho đúng đây.

Xuân hông buồn viết chi cho nhiều. Tờ khai được trả đi trả về mấy lượt, chàng cứ như thế viết y chang như lần trước, ngắn và gọn. Dài dòng quá mình dễ quên. VC có biết gì về lý lịch của mình đâu mà viết chi cho nhiều. Tụi nó bắt thóp mình đó. Hồ sơ đâu còn nữa. Họ hông có đủ nhân sự để lùng sục đọc từng hồ sơ của mình đâu! Hơn nữa, Phùng Xuân để ý mấy anh chàng cán bộ nầy làm trời làm đất chớ một chữ cắn làm hai hông bể! Có nhiều anh chàng cán binh cầm giấy ngược thì làm sao đọc nổi, hở trời!

Còn dư thời gian, Xuân lấy cuốc vun giồng trồng khoai lang và mấy cây cà tô mách lấy hột từ sau nhà bếp. Một vài người nhìn thấy, cho Xuân làm chi cho mệt. Đúng một tháng là mình về rồi mà! Chàng mỉm cười: “ Tôi với mấy anh sẽ có khoai và cà ăn đó”.

Hết khai lý lịch trích ngang. Bây giờ tới khai phần bản thân. Mỗi người phải viết ra và đầy đủ “quá trình hoạt động” từ lúc nhỏ cho đến bây giờ. Lại cắm cúi ngồi nghĩ ngợi, miệng cắn viết suy nghĩ mông lung. Làm sao mà nhớ hết cho nỗi đây? Lại trả tới và  trả lui. Lại viết đi và viết lại.

Nhiều tay biạ ra viết lẹ đi cho rồi. Còn dư thời giờ, hông biết làm gì, có một vài nhóm buồn tình, dưới trưa nắng chan chan, xách cuốc xẻng đào khoai mài (trong Đông Y tên là hoài sơn). Củ khoai mài đâu phải dễ đào. Nó thuộc loại củ khoai rừng, mọc ở vùng đất cao. Củ của nó thường đi thẳng sâu xuống đất. Đâu có phải như củ nừng đâu mà nằm khơi khơi trên mặt đất! Với một chút tinh ý, nhìn vào giây leo, chúng ta biết rõ củ lâu hay ít năm. Củ lâu năm thường to dài đâm thẳng xuống đất sâu chừng ba, bốn thước. Phần non ở cuối có nhiều bột, luộc ăn rất ngon. Phần già  trên ăn chai và cứng.

Trong thời gian nầy, tù binh chưa bị đói. Họ được cho ăn phủ phê để còn dốc bụng ra khai nữa chứ. Cho nên họ đi đào khoai để ăn chơi thôi.

Gần đến hết hạn một tháng, nhiều người tù tỏ ra bồn chồn lo lắng. Nhưng rồi, hết thời gian ban ngày được thoải mái. Buổi sáng vừa ăn xong là phải lên họp tổ. Trưa nghỉ một chút rồi lại họp. Chiều cơm nước xong là đến họp. Họp cho đến tối. Tù binh có thằng buồn ngủ tỏ ra hết kiên nhẫn. Bất cần, đây là lúc con mồi sập bẫy, khai tầm bậy để cho yên thân.

Bắt đầu cuộc hành trình gian nan cho những người tù binh miền Nam còn ngây thơ như cừu non. Trong lúc đó VC như những con sói. Những người cán bộ VC dạn dày kinh nghiệm trong việc khai thác tim óc con người. Chỉ có cái chén sỏ dây và đôi đũa buộc cứng, treo tòn teng bên quần kaki màu cứt ngựa và hai chơn mang dép râu và túi sắc quàng vai và đầu đội nón cối, đôi khi có tăm xỉa răng ngậm miệng, “cán bộ” đi đến đâu nghe lộc cà lộc cộc đến đó, nhưng trong đầu chứa nhiều mưu mẹo quỉ khốc thần sầu. Trải qua Cải Cách Ruộng Đất kinh hồn, họ biết thế nào là đấu tố và buộc tội kẻ thù. Toán tù binh lần lượt khai ra từ đời cố hỉ cho đến bây giờ. Nhưng rồi cũng bị kiểm điểm. Chưa thành khẩn. Tù ngớ ra. Thế nào mới là thành khẩn? Khai riết cho đến khi nào cách mạng buộc anh có tội là thành khẩn chớ gì?

Khoai lang được đào lên và rồi nấu cho bạn tù ăn. Và cà chua chia nhau mỗi người ít trái. Đám tù bây giờ buồn xo. Mặt mày bí xị. Họ hết bàn tán một tháng là trở về nhà. Ai cũng có vẻ nôn nóng. Và vợ con ở nhà chờ mong, yên chí chồng chỉ đi “học tập cải tạo có một tháng”

Những cơn mưa dông xối xả đến. Hông có đi ra ngoài trồng khoai, dọn cỏ. Sau mỗi lần kiểm điểm, mỗi thằng đứng nhìn mưa rơi, trầm ngâm. Mưa nổi bong bóng. Mưa dai dẳng và hoài hoài hông chịu dứt. Nước ngập láng sân. Bong bóng trôi chảy về cuối dãy nhà. Mưa đến gần khuya, còn rỉ rả kêu tách tách trên mái tôn. Trăng suông hiện ra. Ánh sáng mờ nhạt ôm dài trên luống khoai, lan ra bụi chuối như sương sa. Phùng Xuân ngáp dài. Mấy tháng nay, hông có được một điếu thuốc Ruby Quân Tiếp Vụ…

Trong lúc đó, tháng 8 năm 1975(?), nhóm tù gồm toàn cấp úy “ác ôn, có nợ máu với nhân dân”, đã âm thầm rời khỏi căn cứ Long Giao lúc đêm đày đi Bắc. Nhóm tù còn lại hông hề hay biết(?)

Bài kiểm điểm cứ nhai đi nhai lại. Đêm nào cũng như đêm nào, chỉ có những danh từ đó lập đi lập, như nước đổ lá môn. Có phải như thế hông? Như đờn khải tai trâu thì đúng hơn. Nước đổ lá môn hông thấm, nhưng đờn gảy tai trâu thì trâu nghe riết rồi cũng lập lờ yên lặng, thấm vào lỗ tai, trâu đành đứng một chỗ. VC là học trò của Liên Xô nên họ rành thí nghiệm Palov. Nên cuối cùng bọn tù cũng đành nói theo.

Hai ngày liền, tù được nghỉ xả hơi. Ai nấy cũng mừng. Chắc xong rồi. Và hy vọng được về nhà. Đến đầu hôm ngày 10 tháng 11 năm 1975, trăng đầu tháng vừa lặn,  tù binh được lịnh thu dọn đồ đạc. Đám tù mừng rỡ. Tất cả đều lên xe bít bùng, có vệ binh mang súng đi theo. Gương mặt họ hầm hầm.

Đoàn xe di chuyển trong đêm hông trăng, tối đen. Ngồi trong xe, hông nhìn ra được bên ngoài, Xuân ước lượng đoàn xe đi như thế nào. Ra cổng, quẹo trái. Đi về Xuân  Lộc. Đến ngã ba Tân Phong, đi thẳng. Quẹo cua Heo. Đi về hướng Tây. Đến ngã ba Dầu Giây. Lại đi thẳng. Về đâu? Về SàiGòn? Đi đâu đây?

Đến khuya, đám tù bồn chồn lo sợ. Nhưng đoàn xe dừng lại. Mọi người được lịnh xuống xe đứng yên tại chỗ. Có người nhận ra. Ôi thôi rồi! Trại Suối Máu, Tân Hiệp.Trại giam tù binh Cộng sản hồi trước. Sao mình lại có duyên vô đây? Trước năm 1975, Xuân đã bao lần mình đi qua đây. Và có bao giờ chàng nghĩ mình sẽ là tù binh bị nhốt vào đây. Đúng là một giấc mơ. Giấc mơ đi tù một tháng trở về của đám tù tan như bọt nước. Vào trại nầy biết bao giờ trở về? Trại có 05 K nhốt từ bò nhứt, bò nhị, bò tam cho đến bò lục…

Mười bài mà đám tù phải học là mười bài viết của kẻ chiến thắng, tự mình vỗ ngực cho mình là tài giỏi. Nào là “Ba dòng thác Cách Mạng”, “Ngụy quân, ngụy quyền”, “Tội gì mà trời không dung, đất không tha”… Rồi sau đó mạt sát người thua thậm tệ, gọi họ là Mỹ- Ngụy. Có phải Miền Nam là Ngụy hông?

– Đâu có anh Lượng! Đồng Minh của miền Bắc là Nga, Tàu, Bắc Hàn, CuBa. Họ yêu cầu những nước “anh em xã hội chủ nghĩa” đến. Họ mới là Ngụy đó. Còn miền Nam có yêu cầu “đồng minh của mình” tới giúp đâu? Hông.

– Sao anh biết?

– Chính phủ Ngô Đình Diệm hông có kêu gọi ai tới. Ổng nói để nước tôi tự chiến đấu. Ông Mỹ phù phép giết Tổng Thống của Đệ nhứt Cọng Hòa rồi a thần phù ngày 09 tháng 03 năm 1966 đổ bộ vô Cam Ranh kéo theo Úc, Tân Tây Lan, Nam Hàn, Thái Lan, Phi Luật Tân, Đài Loan, Tây Ban Nha và réo lên giúp miền Nam tự do chống miền Bắc Cộng Sản!

– Ôi thôi! Miền Bắc rêu rao đánh thắng ba đế quốc Nhựt, Pháp, Mỹ đó.

– Nhưng họ có đánh thắng đế quốc Nhựt bao giờ đâu? Đó là công của chính phủ Trần Trọng Kim mà! Họ cướp của người ta nói là của mình. Vừa ăn cướp vừa la làng. Hông lẽ lịch sử viết sai sự thực?V à người viết cuốn: “Đem tâm tình viết lịch sử” lại viết hông đúng à? Và có phải Mỹ cút hông anh Lượng?

– Nhưng cái độ lượng của Chánh Phủ Trần Trọng Kim là thả hết tù chính trị. Trong số đó có nhiều “ông cố nội” VC lúc bây giờ, để đến nay họ quậy nát tùm xèng cái nước Việt nhỏ bé nầy!

Thiếu Tá Nguyễn văn Lượng, Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 2/52 Sư Đoàn 18 mấy hôm rày ăn trúng cái giống gì mà bị tiêu chảy re. Hắn ta cứ ngồi chực chờ trước cầu tiêu. Người càng ngày càng ốm tong teo.

– Chắc ông bị kiết quá. Có đem theo thuốc uống hôn?

– Có con mẹ gì! Nói đi có một tháng rồi về mà. Ai đem thuốc men nhiều làm gì!

– Ở trong nầy dễ gì mà kiếm được mấy viên thuốc than. Tìm ra Ganidan lại càng khó. Tui thấy xung quanh đây có nhiều cỏ mực và rau sam, để ngày nào tui cũng hái cho anh một mớ. Cỏ mực thì anh có thể nhai sống rồi nuốt, nhưng rau sam thì anh phải luộc chín. Tui lấy than ở dưới nhà bếp tán nhuyễn ra. Anh có dám uống hôn?

Trong tù, lúc đầu thằng nào cũng tưởng về sớm, thường tỏ ra hào phóng cho thuốc men bạn tù. Từ khi hông biết được ngày về, tù thường thường để dành lại một chút ít thủ thân. Từ đó, châm, cứu là phương pháp trị bịnh của tù. Nhức đầu cũng châm, cảm sốt cũng cứu…

Thiệt ra, lên hội trường học xong bài nào, vừa phủi đít đứng lên là tù binh quên hết bài đó. Đó là những điều hổng đáng phải cho mình nhớ. Nhớ chi cho mệt. Họ đày đoạ, dầy vò tinh thần mình mà! Mà có gì đâu để phải nhớ những lời lập đi lập lại như con cưỡng, con sáo. Điều đáng nhớ là tới giờ chia cơm. Họ như đám ong bể ổ. Thằng nào tới phiên đi lãnh cơm cũng lo về mau, quăng cái xẹt cuốn tập rồi lẹ lẹ xách thao nhôm xuống nhà bếp lấy cơm và đồ ăn. Mấy thằng còn lại, bày tô chén để chia phần!

Học xong một bài, tù binh được chia thành từng tổ để thảo luận. Có cán bộ ngồi nghe, đánh giá, phê bình. Có những người tù tinh ý. Mầy muốn vậy, tao nói theo ý mầy, cho mầy chết luôn! Làm sao mà cải tạo được họ. Đầu thằng nào thằng nấy đều có sạn. VC cũng biết vậy, nhưng họ tin vào Palov. Nói riết thế nào cũng có thằng nghe. Nhưng cũng có cha nói nghe sao được, khi mà cán bộ nói anh là công binh, anh cũng có tội với “cách mạng, với nhân dân”. “ Sao vậy cán bộ?Anh xây nhà cho bọn ngụy nó ở cho ấm cúng, lắp đặt ống nước cho ngụy nó tắm cho mát”. Anh tù binh “Nam Kỳ” ngẩn tò te, chửi thề trong bụng: “Đụ mẹ, xạo ke tổ cha! Nói vậy mà cũng nói cho được”.

Buổi trưa nắng cháy da. Thiếu Tá Võ Long Tôn, Thiết Đoàn Phó Thiết Đoàn 5 Kỵ Binh/Sư Đoàn 18 BB, cứ mình trần trục, đi lên đi xuống mấy dãy nhà. Mới có mấy tháng mà ốm cà tong cà teo như cò ma, lòi xương sườn. Thân mình gần như bộ xương cách trí.

Phùng Xuân biết Tôn. Người quê Bến Tre, em Dân Biểu Võ Long Triều. Tôn hở ra là toa toa moa moa với Xuân. Cho nên chàng nói chuyện với Tôn mà hổng cần giữ mồm giữ miệng. Hơn nữa, hai người cũng đã ở lâu nơi Sư Đoàn nên biết nhau.

– Thì anh cũng biết mà. Anh cũng như tui đều biết bài thơ ngụ ngôn: “Con chó sói và con cừu” của La Fontaine. Lý kẻ mạnh bao giờ cũng phải. Họ là kẻ chiến thắng thì họ nói sao cũng được.

Những ngày chủ nhựt, tù binh được nghỉ. Tù đói nên đi vòng vòng quanh, kiếm được thứ gì ăn thì ăn thứ đó. Con cắc ké chạy cũng hông khỏi. Cọng rau sam cũng trụi lủi. Con chuột cũng bị thui cháy. Thậm chí có thằng nói trùn ăn được. Thằng Tuấn tây lai nói nấu cháo ăn ngon lắm! Xuân hông biết. Xuân chỉ lo tom góm mấy cái nang mực. Phòng có ngày bị đày lên rừng, Xuân sẽ dùng nó để vò lá sâm.

Buổi trưa ngày 07 tháng 04 năm 1976. Thứ Tư. Trại Suối Máu ngùn ngụt hơi người tù binh, bốc lên trong nắng. Người tù nào cũng ở trần. Sau buổi cơm trưa, ai nấy đều mệt mỏi. Họ lim dim mắt, ngái ngủ sau những giờ lên lớp bị nhồi nhét bởi những con két biết nói tiếng người. Bổng nhiên, súng nổ. Tiếng la hét. Chạy rần rần. Tù được lịnh vào nhà, đứng ngay chỗ mình ngủ, điểm danh. Vậy là có người trốn rồi. Ai đây? Tại sao lại trốn vào lúc nầy? Bên ngoài dân chúng trở cờ đang ùn ùn tiếp đón họ. Khí thế kẻ chiến thắng đang  lên. Hông còn ai bên ngoài hổ trợ mình thì làm sao trốn cho thoát? Đành rằng tù binh được dịp là trốn. Nhưng lúc nầy hông phải là lúc để trốn.

Chừng một giờ sau, anh em biết được Thiếu Tá Trần văn Bé và Thiếu Tá Phạm văn Tư ở K3 đã vượt ngục. Hai người đều là Khóa 19 VBĐL. Nhưng súng đã nổ, chắc có người hông thoát được rồi. Anh Bé là Trưởng Phòng 2 Tiểu Khu Định Tường. Chắc họ hông tha đâu. Và sau đó, một người chết và một người bị bắt lại. Tin tức sốt dẽo ai cho biết? Làm gì trong tù hông có anh Ba?

Buổi sáng sớm ngày 10 tháng 04 năm 1976, anh Hòa, nhà trưởng nhà 08, cùng với các nhà trưởng khác ở K3, được lịnh đi ra ngoài họp. Lối khoảng gần trưa, có những tràng AK nổ dòn dã. Khi anh Hoà trở về, gom anh em lại, cho biết họ đã xử bắn anh Bé. Gương mặt mọi người thẩn thờ, buồn bã. Con cọp nhe răng đầy máu, dờn móng vuốt hù dọa trước khi ăn thịt con mồi. Tội nghiệp, hai người tù bị điều về Quân Đoàn V quá tàn nhẫn và sớm sủa. Họ hông còn có dịp học xong hết mười bài, để kịp biết mình có tội như thế nào, hòng mong “cách mạng” khoan hồng được mau về sớm!? Mà nếu họ còn sống chắc cũng hông về được. Tội gì mà “trời không dung, đất không tha” thì ở tù cho biết chừng nào ra, hở trời!

Ở trong tù riết rồi cũng muốn điên cái đầu. Tối ngày cái “ô bạc lưa” (haut parleur) ré ré bài hát: “Bóng cây K’nia” với hai giọng hát miền Trung và miền Bắc.Tiếng hát “opera” cao ngất ngưỡng, nhanh và mất lời của cô ca sĩ “Cô gái vót chông” lần lần trở nên chát chúa. Dân miền Nam quen thưởng thức giọng hát rõ lời, luyến láy.Nên hở ra khi nghe “cấy cớ nía, ớ lá cấy cớ nía”, tù đều ré lên như tiếng gà lôi trống: “cà lốc cốc”. Cây K’Nia là cây gì mà xưng tụng dữ vậy? Phùng Xuân hổng biết cây gì. Té ra rồi Xuân cũng biết. Cây K’Nia là cây cầy. Trái giống như trái cốc, cũng chua nhưng xơ hông hè! Có rất nhiều ở khu rừng Thiên nhiên trong Thánh Thất Cao Đài và trong rừng TâyNinh ( Mãi về sau, hơn ba chục năm, Phùng Xuân biết hai giọng ca đó là của ca sỹ Tường Vi và Măng thị Hội ).

Buổi sáng ngày 02 tháng 07 năm 1976, tù binh nhìn lên cột cờ hàng ngày ở K3.Ủa! Đâu mất lá cờ Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam rồi. Mọi ngày nó vẫn vỗ phành phạch kia mà. Hôm nay nó mất tiêu rồi. Cờ đỏ sao vàng ngạo nghễ. Giờ nầy chắc lá cờ Mặt Trận Giải Phóng ở nóc dinh Độc Lập cũng bay mất rồi. Và cái tên Sài Gòn cũng hông còn nữa. Thôi thôi, tiêu vong đứa con hoang rồi. Bây giờ, mầy đâu được ngồi cùng chiếu với bọn tao để giành phần. Tao bóp mũi cho mầy chết hông kịp ngáp. Mấy người trí thức miền Nam ngu ngơ, khù khờ (?), háo danh và mấy chàng sinh viên, học sinh… trốn vô “bưng”, tưởng VC là VM(?), đánh cho “Mỹ cút, Ngụy nhào” để giành độc lập cho đất nước. Đâu biết rồi đây cái họa Cộng Sản, cái họa kẻ thù phương Bắc, Tàu cộng siết cổ dân mình!

Thôi thôi vốn liếng đi đời nhà ma”(Kiều). Kỳ nầy bọn họ đi đứt, hộc máu, tức cành hông ra mà chết. Mai mốt đây, chỉ ngồi chầu rìa thôi. Cho những người dân Tây, chữ nghĩa cùng mình, hết còn mơ thiên đàng Cộng Sản. André Gide cũng còn chào thua! Mà thiệt, VC còn xí gạt dân miền Tây nữa mà! Có người bạn tù nói với Phùng Xuân: Ngày “giải phóng” thành phố CầnThơ, VC cho mở nhạc thời kháng chiến chống Pháp: “Mùa Thu rồi, ngày hăm ba, ta ra đi sơn hà nguy biến….” “Và,Tiểu Đoàn 307…” “Bên hàng dừa cao, dòng sông mờ soi bóng…” vang rân đầu đường xóm chợ. Người miền Tây sướng như điên. Việt Minh trở về rồi! Được mấy ngày, tiếng hát tắt tịt, đổi qua giọng khác. Họ tiu nghĩu, xìu yểu. Dân miền Nam xét đoán người khác theo cảm tính nên dễ bị lường gạt!(?)

Phùng Xuân ngồi buồn thui thủi một mình. Có còn ai ở kề bên mà chuyện trò như thời còn ở đơn vị với Chúc. Vào đây mình biết nói với ai đây? Hổng hiểu lúc nầy thằng Chúc nó đang ở trại giam nào. Hay là nó dọt đi được rồi?

Trăng khoe trăng tỏ hơn đèn. Màu ngà ngà loang dại cùng quanh trại. Vướng hàng rào kẽm gai, màu trăng nhạt nhòe vàng nhợt hôi mùi nước đái khai ngấy. Chị Hằng khờ khệt, chập chùng chúi xuống trên con đường cát nhòe nhoẹt mùi cứt cầu tiêu của đám tù binh. Hơi tù bốc lên, làm màu trăng chập chờn trên mái tôn, phảng phất hồn trăng trong hơi lạnh của hai người tù vừa bị xử bắn.

Những đêm tối đen. Bầu trời đầy sao. Sông Ngân nằm dài trên bầu trời. Đầu hôm là sao Hôm, rồi sao Cày dần dần lên cao, nằm ngất ngưỡng giữa dãy Ngân Hà, cùng với chòm sao Vua. Tháng tám Sao Bọ Cạp vương hai càng khều khệu. Trời gần về sáng, chòm Vệ Nữ ngủ mơ màng trong hơi sương lạnh với hạt ngọc sao Mai long lánh.

Ôi! Vũ trụ mến yêu. Vũ trụ  vô hạn, vĩnh hằng. Vũ trụ là muôn năm trước, là muôn năm sau. Người là một tấm lòng bao la mở rộng. Ai mà cảm thấy nhiều lo lắng, đau buồn. Đêm đêm, ngó lên trời cao, vũ trụ sẽ gột rửa mọi ưu phiền.

Phùng Xuân ngước nhìn bầu trời đầy sao. Lòng nhẹ nhàng lâng lâng. Sao đi rồi sao lại về. Cuộc đi về của bầu trời đầy sao đêm như là một giấc ngủ bình thản của cuộc đời. Và rồi mình lại trở về như lúc ban đầu thôi. Nhưng mà là khi nào? Hãy để lòng ngủ miên man trong vũ trụ bao la thì sẽ cảm nhận được điều đó sao? Hãy bình tâm, coi mọi việc như có như không, chắc chắn mình sẽ vượt qua được giai đoạn khó khăn nầy.

Thời gian trôi qua bao lâu rồi? Bị khép kín bốn hàng rào kẽm gai chung quanh, chàng hông biết được thời gian trôi đi như thế nào. Đầu hôm chỉ ngó sao Hôm là biết một đêm đến. Ngày chỉ ngắm mặt trời lặn là biết một ngày qua. Nhìn thấy được trăng rằm sáng vằng vặc là biết một tháng qua. Hôm nay, trăng non yếu ớt e thẹn như cô gái mới lớn thơm mùi lúa bồng bồng, nằm ngữa mình tắm trong  sông sao. Mùng một lưỡi trai, mùng hai lá lúa, mùng ba lưỡi liềm, mùng bốn câu liêm… cứ thế mà biết  được ngày qua tháng lại. Văng vẳng âm thanh “Bài Thánh Ca Buồn” của Nguyên Vũ nương theo gió chướng đưa vô trại. Trời trở lạnh. Chắc là Noel rồi. Một năm sắp trôi qua!

 

 

 

*****

Trại tù A20 Xuân Phước, Đồng Xuân, Phú Khánh, ở sâu trong Mật Khu Đồng Bò. Nó là một liên trại: A, B, C, D, E, nhốt nhiều loại tù khác nhau, chạy tuốt vào dãy Trường Sơn. Từ ga LaHai vào trại hông có đường xe đưa khách, dài khoảng 15 km. Vợ con tù “Cải Tạo” muốn đi thăm nuôi phải lội bộ, lần theo con đường đất. Trong phân trại B có nhốt một nhóm tù sĩ quan cấp tá và các loại tù khác.

Tội nghiệp cho hai ông Đại Tá già, bận hai cái áo tù màu xám lợt có in hai chữ cải tạo bự ở sau lưng đi lụm khụm. Ngày nào cũng như ngày nấy, Đại Tá Ông văn Nghĩa và Nguyễn văn Hiền phải lui cui thò đầu vào sâu trong các hầm cầu tiêu lấy ra các thùng cứt. Gặp thùng phân đặc thì đỡ khổ. Bữa nào anh em ăn món nước mắm thúi bị ỉa chảy thì thùng cứt lỏng le. Anh em tù hông có giấy để đi cầu. Có những người cẩn thận, cắt từng miếng vải nhỏ để chùi. Riết rồi hết vải, chỉ có cách là rửa bằng nước. Mỗi buổi sáng, anh em tù đứng sắp hàng trước cửa cầu tiêu. Người nào trên tay cũng cầm một ly hay lon nước hông phải để đánh răng xúc miệng mà để rửa đít (!).

Hai ông già phải đi nhè nhẹ và chậm chạp, nếu hông cứt văng đổ ướt quần áo. Nhưng khổ nỗi, hai ông già rồi nên phải đi khòm khòm, nên thùng cứt càng lắc lư. Cứt và nước đái bắn ra tung tóe. Mùa hè thì khoẻ re. Hai ông cứ bận quần áo dính cứt đái, nhảy ùm xuống suối, mặc sức tắm giặt. Mùa lạnh thì giặt sơ sịa rồi lật đật đi lên. Vậy mà hai ông cụ cũng run bây bẩy như thằn lằn đứt đuôi.

Từ chỗ lấy cứt, hai ông già khệ nệ khiêng thùng cứt ra cổng. Đến cổng để thùng xuống, hai ông Đại Tá già bỏ nón ra, đứng nghiêm, la lớn lên, báo cáo xin ra khỏi trại. La nhỏ là hông được, phải la lại. Hai ông già thay phiên nhau, mỗi người la một ngày. Chớ nếu để một người la hoài, rát cổ họng, khan tiếng.

Sau đó, họ thủng tha thủng thẳng khiêng đến chỗ khu rau xanh. Một ông đi xuống suối múc nước để đổ đầy thùng. Ông còn lại lấy tay bóp bóp cho cứt nát vụn ra. Ngày đầu tiên, ông Nghĩa lấy khúc cây thò vô để quậy cho nhừ. Một cán bộ công an râu mép còn lông măng đi qua.

– Anh kia. Làm gì thế?

– Dạ. Báo cáo cán bộ pha cứt để tưới rau.

– Anh không được làm vậy, nghe chưa? Lấy tay bóp cho nó nát nhừ vào. Anh lấy cây trộn không có năng suất, nghe chưa?

– Dạ. Báo cáo cán bộ. Nghe rõ.

– Hai anh báo cáo lại.

Hai tiếng nói cùng vang lên

– Dạ. Báo cáo cán bộ. Nghe rõ.

Thế là ngày nào, hai ông già cũng phải thay phiên nhau lấy tay bóp cứt cho nát nhừ. Gặp thùng nào lỏng le thì đỡ khổ. Trúng thùng nào có đầy cứt su, hai ông già hôm đó trúng mối. Bóp thật lâu, cứt mới tan.

Thùng cứt nát nhừ. Hai ông già lụi hụi lấy thùng nhỏ múc cứt lỏng đổ tràn lên những luống rau muống vừa mới cắt. Cứ thế mà từng đám rau muống tưới toàn cứt tươi thúi rùm nuôi tù năm nầy sang năm khác. Vậy mà có năm, trời bão lụt. Hông có rau muống ăn, tù phải ăn đọt khoai mì luộc. Đọt khoai mì phải luộc cho thật kỹ. Luộc sơ sơ là ăn bị say. Có khi chết. Tội nghiệp có một vài trự hình sự đói quá, đào trộm, phủi sạch, nhai ngấu nga ngấu nghiến. Trúng loại khoai mì H34. Chết thẳng cẳng vì có quá nhiều arsenic.

Rau muống cắt về, hông cần lặt sạch. Tù nhà bếp đem xốc nước ào ào, rồi bỏ vô chảo đụn, nấu cho sôi. Xong chia cho tù ăn hàng ngày với mấy lát khoai mì phơi khô nấu chín đen thui đen thít như cục cức su. Có hôm, một người tù ăn trúng phải vỏ khoai mì ở trong phân cứt nằm trong nhúm rau muống chín. Nó la lên. Nhưng mà đâu có bỏ rau muống được. Bỏ là đói. Thôi ráng nuốt cho qua con trăng nầy. Ráng nuốt để đợi đến ngày thanh tra, ngày Tết có được một tẻo thịt heo đầy mỡ bằng ngón tay út. Thằng tù nào gan lắm mới dám nuốt liền, vì hông biết mùi vị miếng thịt mỡ ngon cỡ nào!

Tù tắm là rộn ràng nhứt. Ngày mùa hè, hôm nào có đi “lao động” bên ngoài, nếu là cán bộ dễ dãi sẽ dẫn tù đến suối. Khi có lịnh của trưởng toán báo hôm nay cán bộ cho tắm. Tù lập tức bỏ cuốc xẻng, cổi quần áo. Tù truồng như nhộng, ào ào tuôn xuống suối như bầy vịt, vẫy vùng trong dòng nước suối trong, mặc sức mà kỳ cọ. Hô lên về. Tất cả vọt nhanh lên, hông lau chùi, mặc nguyên quần áo vô. Đầu cổ tóc tai còn nước ướt chảy nhỏ giọt. Chỉ có toán “rau xanh” là  mặc sức tắm, mặc sức mà vùng vẫy trong dòng suối tuôn chảy ào ào, hì hụp mò những con chem chép trong khe đá, len lén mấp mấp từng miếng thịt mềm mùm mụp ngon ngọt.

Mỗi nhà có một hồ nước. Nhưng ít khi đầy. Nước bôm từ suối. Ngày nào hông có đi lao động, tù tắm nước trong hồ. Tù canh. Nghe tiếng máy bơm nổ xình xịch, tù biết có nước. Hô lên cái rần. Thế là cha con ào ra, đứng sát thành hồ. Đủ thứ để múc: lon, thùng, tô, chén… Tù xối ào ào, hông kịp chà xà bông (Mà đâu phải thằng tù nào cũng có xà bông). Thằng nào thằng nấy truồng dòng dõng, cu dái lòng thòng, la hét, cười nói, đùa giỡn đả đời. Cũng có thằng sợ thấy cu, mặc quần xà lỏn. Nhưng phải cho mau. Có tù chưa kịp xối tan hết xà bông. Hết nước. Trên mình còn bột bèo trắng xóa.

Bữa ăn tù rất đơn giản. Chỉ có ba thau nhỏ gồm thau nước muối cá, thau rau muống, thau khoai mì khô đen thui đen thít như cục cứt su của trẻ con rặn hoài hổng ra hay khoai lang, tùy theo mùa. Hông có thau nào đầy, chỉ lưng lưng mà chia cho tám người. Nên tù đói triền miên. Vào những ngày lễ lớn hay Tết, tù được nghỉ một ngày, có được khoảng lưng lưng chén cơm và một miếng thịt heo bầy nhầy bạc nhạt chút síu sùi siu, chừng một ngón tay cái. Đó là những lúc huy hoàng trong tù. Thằng nào thằng nấy chắp chắp, mút mút. Có những thằng kín đáo hơn, đem miếng thịt heo vào trong góc khuất, bần thần nhìn hồi lâu, nhớ ông nhớ cha gì hổng biết.

Ở trước cửa trại có một hầm xi măng xây nổi lên trên, có mấy tấm tôn đậy sơ sài. Muối và cá đổ chung nhau, pha thêm nước suối. Lúc mùa mưa bão, nước mưa tràn vô hầm ngập đầy. Bây giờ nước muối bị pha loãng, cá ươn sình lên. Nước muối thúi hoắc. Anh em tù phàn nàn. Mới đầu, viên Trung Úy trưởng trại Phân Khu B bảo các anh là tù, các anh phải ăn như vậy. Hông có ý kiến.Các nhà trưởng “phản ánh” lên trên nhiều lần mới được ăn nước muối trở lại.

Xuân nằm giữa hai ông già. Bữa nay hai bàn tay của hai bố sao mà nghe mùi thum thủm hoài. Hôm nay trúng cứt tụi bây ăn gì mà ỉa ra cứng ngắc, tụi tao bóp hoài hông nhuyễn. Đâu có xà bông thơm để hai ổng rửa tay cho hết thúi. Đêm tối, hai ba nằm im lặng, ngẫm số phận mình.“Khi sao phong gấm rũ là? Giờ sao tan tác như hoa giữa đường? Mặt sao dày gió dạn sương?Thân sao bướm chán ong chường bấy thân?”.( Kiều )

Ông Hiền ít khi nào thổ lộ chuyện mình. Ông Nghĩa, người Huế, có vẻ thích nói chuyện với Xuân. Hai người dặn nhau là ai về trước tới báo cho nhà biết. Nhà ông ở đường Trần Bình Trọng, bên hông nhà thờ Chợ Quán. Nói vậy chớ biết khi nào về. Ở trại giam nầy quá kiên cố, tường xây 220, song cửa sắt lớn bằng ngón chơn cái thì làm sao ra được? Ở giữa rừng núi trùng trùng điệp điệp, muốn vượt ngục, phải có ý chí mạnh mẽ và sức khoẻ dồi dào.

Hơn nữa, VC đầy đọa tù binh cả thể xác lẫn tinh thần thì dễ rục xương nhanh. Cả ngày đi “lao động” thiếu điều muốn ngắc ngư rồi mà tối nào về cũng phải họp tổ, phê bình, kiểm điểm, bình bầu anh hùng thi đua, học tập gương tốt. Rồi lâu lâu lại có màn học tập chánh trị. Nỗi ám ảnh người tù vẫn còn: thỉnh thoảng vẫn lại phải ngồi thức, cắn răng viết lại bản tự khai. Ai có còn nhớ gần sáu, bẩy năm về trước, hồi mới vô tù mình đã khai những gì hôn?

Trong phân trại cũng có những nhóm anh em thân tín hoạt động bí mật, chia sẻ nhau những tin tức bên ngoài,  sinh hoạt  văn nghệ, ra báo chuyền tay. Nhưng thỉnh thoảng bị “ăng ten” tố giác. Họ bị bắt, cùm xà lim, “kiên giam”…

Hai ổng cũng đói lắm vì chưa thăm nuôi được. Nằm bên, Xuân nghe hai ổng nói thèm đủ thứ. Ổng gặp một củ khoai mì đẹt rơi rớt dọc đường, đưa mắt nhìn tới nhìn lui, hổng có ai. Ông già nhanh nhẩu cúi xuống, lượm lấy rồi đưa tay phủi phủi bỏ mau vô miệng. Nhưng hông nhai được, nước miếng trào ra làm hai hàm ổng cứng ngắc. Đừng nói đến cục đường, miếng thịt mỡ. Đó chỉ là nằm mơ thôi. Cho nên tù nằm gần nhau hay nói về các món ăn cho đả thèm. Như thế là ăn hàm thụ.

Ở tù nghe được nhiều món ăn lạ. Vì tù có bao giờ ở chung với nhau có lâu đâu. Mai trại nầy, mốt trại khác. Bữa nay nhà nầy, bữa kia nhà khác. Mỗi người lạ là kể một món ăn. Mỗi lần thay đổi là mỗi lần tù phải bày đủ thứ gánh hàng xén nhỏ của mình để khám xét. Đây là dịp để mấy ông cán bộ lấy cớ cướp của tù. Một con dao nhỏ có cán đẽo giũa thật đẹp, có khắc rồng rắn cũng bị lấy. Một lon lò nhỏ, đốt bằng vải tẩm đèn cầy, đủ để nấu một ly nước sôi uống trà cũng bị tich thu. Cái gì ông cán bộ thích là ổng lấy. Lại thêm mấy ông thần nước mặn hình sự giữ trật tự xía vô kiếm chác. Riết rồi, tù chỉ còn mấy các chén nhựa là an toàn nhứt.

Cũng có những lúc thoải mái vào dịp lễ lớn. Tù được sắp hàng xem chiếu bóng. Đó là lúc trông thấy được bóng dáng các “cán bộ gái”. Phùng Xuân nghe nói, nhưng hổng biết có hay hông: có một vài cô cán bộ mê tù cải tạo rồi giúp cho vượt ngục an toàn và cũng có thằng tù đẹp trai, còn “phong độ” lớ quớ chộp được một mối tình(!) “cho không biếu không”, ọt ẹt chớp nhoáng  nơi rẫy bắp, bìa rừng…? Chỉ biết là có những khi đi “lao động”, qua khu các cô thì các cô cũng nhìn bọn tù dữ lắm. Và nghe được toàn  giọng của Lệ Thu, Thanh Thúy… , hát những bài  lúc trước năm 1975, vang rân trong phòng.

Có một lần, nhà tù tổ chức đánh bóng chuyền giữa đội tù và đội công an trại. Đội tù lựa ra toàn là những kiện tướng. Đội công an tưởng bở, chừng như dễ sơi tái tù ốm đói. Đội tù đánh cho đội công an thua siểng niểng. Một trái banh đập thật mạnh của bác sĩ Nhứt ở trại A qua lưới, đội công an hông đỡ được. Được dịp, anh em đứng bên ngoài hò hét: “Đập đi!Đập thật mạnh cho chết nó đi!”. Trả thù bằng miệng!

Trăng rằm. Trời đã khuya. Mọi người tù đã ngủ. Phùng Xuân nằm sấp, rụt cổ như con rùa, nhìn ra sân qua những song sắt. Hông thể ngồi ngắm trăng được. Thỉnh thoảng công an đi rỏn, ngó vô thấy mình ngồi chong ngóc nhìn ra ngoài thì có chuyện. Sáng ra thế nào cũng bị làm kiểm điểm.

Ánh trăng hông còn lung linh nữa, chỉ là một màu xám xịt. Ngó ra tòan thấy kẽm gai bao bọc chung quanh và những dãy nhà giăng giăng. Làm sao ngẩng đầu lên thấy ánh trăng như sương sa và cúi đầu xuống nhớ quê nhà?“Cử đầu vọng minh nguyệt. Đê đầu tư cố hương” như Lý Bạch, trong tư thế nằm giống như con rùa? Ánh trăng như đám mây mù bao phủ những người tù.

Trăng suông trên cánh đồng Mỹ Nhiên đâu còn nữa. Trăng rừng lung linh huyền ảo trong những đêm hành quân đã xa rồi. Trăng bàng bạc ngủ dài trong căn cứ Trảng Lớn đã mất tiêu. Tất cả trôi đi thực mau. Có bao giờ trở lại?

Mọi sự biến đổi hông lường được. Có một bàn tay của Thượng Đế sắp sẳn hay là sự chuyển dịch của không-thời gian? Thời còn đi dạy học, đã có một vài lần Phùng Xuân liếc sơ qua những cuốn sách viết về “Kinh Dịch”. Nhưng thực ra họ viết về Bói Dịch. Xuân khó hiểu thấu đáo thế nào là “Dịch”?

Người Việt từ thuở xa xưa, nơi vùng sông Hoàng Hà, hông tin có Thượng Đế, chỉ tin vào sự biến đổi vũ trụ ảnh hưởng đến con người. Hở ra là kêu ông Trời, rủa Trời, trách Trời, chớ nào có tôn thờ ông Trời? Vậy thì những quẻ bói Dịch có còn đúng hôn?T ừ sướng đến khổ rồi từ khổ đến sướng. Tất cả có phải là một vòng lẩn quẩn? Thế thì mình đang bị giam cầm khổ sở trong tù, chừng nào mình được thả ra?

Có một vài người tù, do sự mặc khải của Thiên Chúa, đã được linh mục trong trại tù làm phép rửa tội. Và sau đó, họ có được một niềm tin vững vàng dựa vào Chúa. Họ hy vọng đến ngày mai tươi sáng.

Phùng Xuân suy nghĩ miên man. Bất chợt, hai chơn người ngừng lại đứng chắn trước khung cửa sắt. Công an đi rỏn canh đêm. Bóng trăng tự nhiên bị chẻ ra làm hai. Một vừng khối đen che lấp song cửa như hai bóng đen ma quỉ. Xuân rụt cổ, úp mặt xuống, hi hí mắt ngó lên. Hai khối đen sì. Màu trăng hông còn nữa, bị biến thành màu xám nơi sân thềm, đọng lại ở hai ống quần vàng ngóe…

 

 

*****

Nhơn dịp bãi trường, bà Phùng Xuân xin được giấy phép phường cấp. Lần theo những lời viết ẩn ý của chồng, bà đoán được chồng đang ở nơi nào và làm thế nào để đi tới trại Xuân Phước. Đường đi thật gian nan. Xe đò hông còn như trước. Bây giờ mọi thứ đều phải vô quốc doanh. Chủ và lơ xe coi hành khách hổng ra gì. Và nỗi chầu chực mua được một cái vé xe thật là khổ nhục. Phải đứng sắp hàng từ đêm hôm trước mới mua được cái vé xe cho ngày hôm nay. Xuống ga La Hai từ sáng sớm, đi bộ lần theo con đường mà người ta chỉ vào trại Xuân Phước.

Bà dẫn theo ba đứa con, lếch thếch lội bộ, đùm túm mang theo đủ thứ cho chồng. Hai đứa con gái nhỏ đi theo hông kịp mẹ, chạy lúp xúp. Đồ mang theo tới hai ba giỏ đệm, hông xách một lần được, bà phải đi theo kiểu chân chim. Thằng Ken cũng phải quảy một giỏ đựng quần áo. Đồ ăn tom góp lại trong những lần đứa con gái lớn đứng xếp hàng cả buổi mới mua được. Khoai lang xấy khô, mắm ruốc kho đặc… Và mấy bánh thuốc rê là quí lắm rồi. Gần đến chiều tối mới tới nơi. Hết giờ làm việc. Bốn mẹ con quây quần ngủ trong nhà tiếp khách trống bốc.Gió thổi hù hù. Cả bốn mẹ con đều run sợ.

Cán bộ trại nhìn thằng Ken, rồi nhìn vô giấy tờ, lật đi lật lại, lật lên lật xuống, lật qua lật lại. Bà Phùng Xuân sốt ruột, hông hiểu “ông công an” làm gì mà săm soi giấy tờ lâu quá vậy. Bà sợ sệt. Đã có những lần bà trông thấy các “ông cán bộ” cầm giấy ngược. Họ hông biết đọc. Hiệu Trưởng của trường bà dạy đã từng đọc nước I- Răng thành nước Một- Răng. Ai nấy ngồi nghe, cười bể bụng.

Hông hiểu ông nầy có đọc được hay hông? Bộ họ hông tính cho thăm nuôi? Vì bà đi ra đây là đi đại, chớ hông có giấy cho thăm nuôi của trại.

-Cái thằng Mỹ lai kia là con của bà?

– Dạ. Nó là con nuôi của tôi. Tôi nuôi nó từ hồi nhỏ.

– Bà nuôi làm gì thứ đồ con đế quốc đó. Tôi không cho nó thăm nuôi. Bà dẫn nó ra tuốt ngoài đường lộ, bỏ nó ngoài đó.

Bà Phùng Xuân ái ngại nhìn Ken. Biết hông thể năn nỉ được, bà nói nhỏ nhẹ với nó. Rồi dắt con đi.

Hông có giấy phép của trại. Cán bộ công an nói “nhờ sự khoan hồng của cách mạng” nên cho Xuân được gặp mặt vợ con. Nên thời gian thăm nuôi đâu có bao lâu. Chỉ vỏn vẹn có 20 phút, đủ để vợ chồng nói về cuộc sống gia đình. Hơn nữa người công an ngồi sát đầu bàn ghi ghi chép chép. Làm sao nói được cái gì? Xuân ôm hun hai đứa con gái, hỏi vài câu. Thằng Ken ngồi tuốt ngoài đường, liếc mắt nhìn vô, khóc thút tha thút thít. Xuân đưa tay vẫy vẫy, chào nó. Tội nghiệp, mấy năm nay rồi, hông thấy mặt con. Hổng biết Loan đi đâu mất rồi. Mà giờ nầy, nếu nàng có trở lại cũng hông biết đường đâu mà tìm.

– Anh làm cái gì đó? Liên lạc với thằng con đế quốc Mỹ của anh hả? Tôi tuyên bố lần sau anh không được thăm nuôi.

Phùng Xuân ngước nhìn người công an, hổng nói một lời. Mà thực ra Xuân cũng hông muốn vợ chàng thăm nuôi một lần nào nữa hết. Mỗi lần đi là các con phải nhịn ăn đủ thứ để cho ba. Xuân nhìn thấy những món đồ so ra ngày trước hông có gì đáng giá, nhưng lúc rày phải chạy đôn chạy đáo để kiếm tiềm mua những món đó. Thịt, cá… bây giờ là thứ xa xỉ. Ở ngoài chỉ ăn độn với khoai mì, khoai lang.

Đã hết giờ. Bà Phùng Xuân lui cui thu dọn những thứ gì cần đưa cho chồng, dồn nhét thành một bao nhỏ. Xong rồi đứng nhìn chồng lủi thủi đi vô trại.

Con đường về ga LaHai hun hút nắng trưa. Gần hơn mấy năm trời nàng mới có dịp gặp lại người chồng thân yêu mà nàng ngỡ đã bị chết mất ở đâu rồi. Ngày 01 tháng 05 năm 1975, hông thấy chồng trở về. Nàng thấp tha thấp thỏm mong đợi từng giờ. Bặt tin tức. Bà nghĩ rằng chồng mình đã chết. Bà cùng người em gái đến từng xác người lính nằm khắp nơi trên đoạn đường xa lộ Sài Gòn- Biên Hoà. Hy vọng được thấy mặt chồng, nhưng hông có. Chết mất xác ở nơi nào? Làm sao biết được. Bà hông nghĩ những người đồng đội của chồng cũng còn sống.Nhưng mấy hôm sau, nàng được tin chồng bị bắt. Và rồi, hông biết ở đâu?

Cho đến khi được thư chồng, nàng vui mừng. Hông ngại đường sá xa xôi và đường đi nước bước như thế nào, nàng liều mình đi để thăm chồng. Đâu ngờ đường đi gian nan như thế nầy. Nàng lại còn cả gan dẫn ba đứa con nhỏ theo.

Đầu tiên, xin giấy nghỉ phép của nhà trường để đi thăm nuôi chồng. Sau đó, cầm giấy nghỉ phép và hộ khẩu đem ra phường để xin giấy chứng nhận đi đường, đồng thời xin phường yêu cầu trại cho được thăm nuôi. Rồi tiếp đến, đứng chờ chực để mua được vé xe lửa đi Nha Trang đến Chí Thạnh-La Hai. Mấy mẹ con ngủ vật vờ vật vưởng trên xe lửa, bo bo giữ mấy giỏ đồ ăn sợ bị mất. Sau năm 1975, xe lửa chạy tuyến đường Bắc Nam đông nghẹt người đi nên trộm cắp lộng hành hông ai kiểm soát nổi.

Nàng cố gắng đi để được gặp chồng vì hông hiểu chừng nào chồng về. Nàng nghe người ta nói là khi nào “học tập tốt” thì được về. Mà biết thế nào là “học tập tốt”. Phùng Xuân cũng hông thể nói cho nàng chừng nào học tập tốt. Thời gian là bao lâu? Năm năm, mười năm, mười lăm năm ai mà biết được? Nhưng từ cuối năm 1981, 82 có một số người được thả về. Có người được về thì thế nào lần lượt cũng đến phiên mình. Có biến chuyển thì làm gì mà hông có thay đổi?

 

 

PHẦN 4

 

Phùng Xuân đứng trước nhà. Chàng lấy tay đẩy mạnh cửa cổng. Ván đóng xiêu vẹo, nhiều miếng mục sút ra. Lá mận rụng đầy sân. Cửa nhà bỏ trống. Chàng bước vô nhà. Nền gạch bông hông còn nữa, bị cạy bung lên, trơ ra những dề xi măng loang lỗ. Ghế ngồi gãy chơn, ngã chổng gộng. Cửa tủ sách sút bản lề bung ra. Sách trong tủ nằm lọn chọn, mất bìa ngã tứ tung. Quần áo bày tùm lum trên bàn, góc giường. Một con gà mái, đang chui rúc trong đống mùng mềm, thấy bóng Xuân đi vô, vội vàng tung cánh bay lên, kêu quang quác rồi cục tát vang nhà.

Đứa con gái chạy lên, trố mắt nhìn cha mình tưởng như người xa lạ từ đâu tới với bộ quần áo xám.

– Em đâu rồi con?

Tới chừng đó, đứa con gái mới biết là Ba mình ở tù về, nhưng hơi ngỡ ngàng với hai chữ “CẢI TẠO” ở sau lưng. Lối xóm hay được chạy tới hỏi thăm. Và đứa con nhỏ từ đâu ù về nhìn người tù đã biệt tăm từ lúc nó còn bé. Nó nhìn Ba nó, miệng cười chúm chím. Nó hông rõ mặt Ba nó vì lúc đi thăm nuôi, nó còn nhỏ. Hơn nữa 20 phút gặp mặt làm sao nó nhớ nỗi ông tù đó…

Xuân đi xuống nhà dưới. Con heo đang ủn ỉn ủi từng miếng xi măng bể bung lên. Nó quậy qua quậy lại rồi nằm ịch xuống trong đám bùn lầy lội. Chén bát để xô bồ xô bộn, chưa kịp rửa. Vòng ra bên nhà, bầy gà  nhảy nhót trên cành cây táo, kêu cục tát om sòm.

– Chừng nào mẹ và anh Ken về.

– Con hổng biết. Tối lắm mẹ mới về.

Sau giờ dạy học, bà Xuân còn phải chạy vạy đổi bán đủ thứ mới bù đấp nuôi nổi ba người con. Đồng lương “dứt cháo” sau năm 1975 hông nuôi được một người chớ đừng nói chi tới hai. Đã vậy lâu lâu còn phải bỏ dạy đi làm “công tác thủy lợi”, xẻ kinh để “nghiêng đồng đổ nước, thay trời làm mưa” biến “sỏi đá thành cơm”. Cơm đâu hổng thấy, chỉ thấy ăn độn, ăn bo bo. Mẹ con đói rã họng.

Tháng 04 năm 1975, Ken đang học lớp ba. Sau khi “giải phóng”, nhà trường “xã hội chủ nghĩa” có nhiều thay đổi. Học trò được xếp theo nhiều “diện”. Thành phần con “Mỹ-Ngụy” và thành phần “con lai đế quốc Mỹ”  được xếp hạng chót, hông có quyền lợi gì hết.

Học được một năm, thằng Ken hông muốn đi học nữa. Mới đầu, bà Xuân đưa nó đến trường. Hiệu trưởng xếp nó vào “diện con lai đế quốc Mỹ”, hông được ưu tiên, nhưng nhờ “cách mạng khoan hồng, chiếu cố” nên cũng tạm thời xét nhận. Nhưng nó có học được đâu. Học trò trong trường lêu lêu nó là con “đế quốc”, hông chơi với nó. Hồi trước năm 1975 đâu có cái trò đó. Cũng tại chế độ mới nhìn nó với con mắt tội phạm nên xã hội ruồng bỏ nó.

Nó học cũng khá giỏi nhưng hông được giấy khen, hông được đeo khăn quàng đỏ. Nó buồn, bỏ học. Bà Xuân năn nỉ hoài nó hông chịu tới trường. Đâu muốn để con mình dốt, nhưng bà biết làm sao bây giờ. Con lai bao giờ cũng bị “đối xử phân biệt” Hở miệng ra là: “ Ê!thằng con đế quốc”. Rồi cuối cùng, bà Xuân cho nó đi học vá xe được hơn tháng. Xong bà tìm mua cho nó bộ đồ vá xe đạp. Ngày ngày sáng ra, nó bày đồ nghề ở đầu ngõ, gõ lộc cộc được ít hôm. Đám con nít ngày nào cũng tới phá, chọc ghẹo nó.Có hôm có đứa nghịch ngợm liệng một bịch cứt vào chỗ nó làm. Nó nhịn hổng được nên xảy ra đánh lộn. Công an khu vực xử ép nó, nó khóc. Biết cho nó làm cái gì bây giờ? Đi bán vé số? Nó sẽ lang thang tối ngày đầu đường xó chợ cùng đám du thủ du thực bắt chước nhiều tính xấu. Bà hông đành để con như vậy dù nó là con nuôi. Thằng Ken coi chớ hiền tánh, hông như  người ta tưởng. Bà nuôi dạy nó từ nhỏ, bà biết tánh nó nên bà rất thương nó. Nhờ người quen, bà xin được cho nó chạy xe ba gác phụ giao xi măng, tôn… ở tiệm bán đồ xây dựng.

Buổi cơm sum họp chỉ là trứng và rau lang luộc. Và là bữa ăn ngon miệng nhứt của Xuân từ mấy năm nay. Có đủ mùi vị của nước mắm, của cơm dù là cơm độn.“Gạo tổ” đầy bông cỏ được cấp phát hông đủ ăn phải mua thêm ở ngoài. Lúc trước có khi độn thêm củ mì và khoai lang. Bây giờ vẫn còn “ngăn sông”. Hàng hóa hông được đem đi từ tỉnh nầy sang tỉnh khác. Tệ nạn buôn bán chui đầy dẫy. Quản lý thị trường mặc sức mà bắt bớ. Và lẽ tất nhiên, đút lót xảy ra. Lần lần VC học được nhiều thói xấu của một xã hội quản lý kém hiệu quả.

– Anh Lang! Đi bán cá dạo hả?

– Ông thầy! Lâu rồi hông gặp. Ra tù hồi nào vậy ông thầy? Tui ở tù lớn. Ông thầy ở tù nhỏ. Ông thầy thấy đó. Tui bị mất một chơn. Hồi trước 1975 có tiền phụ cấp. Tui sống cũng khoẻ. Sáng còn có cà phê cà pháo. Mấy “anh ba giải phóng” vô. Tui mất hết trơn hết trọi, hông còn đồng ten nào. Buổi sáng, thậm chí kiếm hổng được một ly xây chừng, chớ đừng nói đến một cái ca phé nại. Lúc đầu, tui đi thồ than từ Bình Dương về bán lại. Cũng kiếm được chút cháo. Nhưng mà bị bắt hoài, riết rồi mất vốn. Xoay qua thồ lu. Mỗi lần đi hai cái, lời được một cái. Nhưng rồi cũng hông xong. Bị bắt quá. Bỏ nghề. Bây giờ đi bán cá phụ bà xã mới nuôi được đám con. Tụi nó bị bắt đi làm thủy lợi hoài ông thầy ơi. Hổng biết xẻ kinh làm cái giống cha gì mà mười năm nay vẫn cứ đói nhăn răng.

– Còn Ni đâu?

– Nó với tui đánh trận Chà Rày, vùng Tam Giác Sắt. Hai thằng hăng quá, bị mìn. Nó tan xác.Tui mất một chơn. Khi tỉnh dậy ở Cọng Hoà, biết nó chết, tui khóc cả buổi. Tội nghiệp. Hai thằng sống chết có nhau. Lúc ông thầy đi rồi, tụi tui lang bang. Thằng Ni nó nói ông thầy đi sao hổng kéo tụi mình theo?

– Tui đi qua bên chỗ khác. Đâu kéo hai anh đi theo được. Nói thiệt, thời tui làm trung đội trưởng và đại đội trưởng là cái thời tui thích nhứt. Tụi mình được gần gủi sát bên nhau, chia sẽ ngọt bùi nhiều hơn. Sống gần được anh em, tui biết tính tình từng thằng một.

– Biết tụi em quá nên ông thầy nhốt chuồng cọp hoài!

– Lúc đó mấy anh say xỉn quá thì phải nhốt cho đỡ quậy, chớ nếu hông, mấy cha phá làng phá xóm ai mà chịu nổi.

– Nghĩ vậy chớ hồi còn trẻ, coi mà vui hén ông thầy! À, mà ông thầy còn nhớ cô Xuân Hồng hôn?

– Cô Xuân Hồng nào?

– Ông thầy mau quên. Bồ của ông thầy ở quán ba cô Tư Hà đó. Đêm mà tụi em quậy ở đó.Ông thầy xuống rồi ông thầy rước cổ dià đó.

– Ờ ờ. Cổ tên là Loan. Bạn cũ. Sao?

– Ủa. Vậy chớ ông thầy hổng biết hả? Cổ đi về BếnTre thăm ba má cổ, bị mìn VC chết rồi.

– Sao anh biết? Chắc hôn? Hồi nào?

– Sau khi hành quân ở Hát Dịch về, tụi em tới quán nhậu, mấy con nhỏ làm ở đó nói.

– Hôm nào tui với anh đi thăm vợ con anh Ni. Gia đình nó sống có đỡ hôn?

– Đỡ gì ông thầy ơi. Bả sống dở chết dở với mấy “ông cách mạng”.Mới đầu nghe lời ngon ngọt mấy ông nội đó, bả bỏ nhà ở Cầu Sơn, ngã ba Hàng Xanh, đi vùng kinh tế mới. Ở một thời gian chịu hổng thấu, đói lên đói xuống xính vính. Mẹ con đùm túm dắt nhau về. Nhà bị mấy anh ba vô chiếm. Thưa gởi lên phường lình xình cả năm trời mới lấy lại được nhà. Bây giờ, bả bán cá ngoài chợ với đứa con gái lớn như con vợ tui. Còn mấy thằng con trai, có đứa chạy ba gác, có đứa vác đồ mướn ở chợ Bà Chiểu.

– Tội nghiệp. Con đông quá làm sao nuôi nổi. Tui nhớ hồi đó, sau khi anh và Ni có hai con rồi, bà xã mấy anh hông còn đi theo nữa. Tui cũng ít cho các anh đi phép mà sao bây giờ có cả bầy vậy?

– Thì tụi em dù. Ông thầy đâu có biết. Vừa hành quân về, bỏ ba lô súng đạn, đeo xe đò Nam Thành về Sài Gòn rồi sáng lên sớm. Vợ lính mắn đẻ lắm ông thầy ơi. Rờ đụng giường là nó có bầu rồi! Ở ngoài đơn vị, nhậu nhẹt say sưa, phá làng phá xóm chớ cũng trung thành với bà xã tụi em lắm chớ bộ.

– Ủa? Chớ hồi đó mấy anh nói mấy anh rành mấy ổ đĩ lắm mà! Hổng nhớ là tui hỏi mấy chỗ đó ở đâu, mấy anh nói ở chỗ đó đó. Mấy anh còn nói: L… lạ bằng một tạ vàng, và dạy tui những câu rượu nói trời ơi đất hỡi!

– Tụi em xạo với ông thầy chơi vậy mà. Thằng Ni nó nói với em ổng hỏi vậy chớ có đời nào ổng mò tới đó đâu. Tướng ổng hiền tổ mẹ! À, ông thầy lấy ít cá về ăn. Ông thầy coi bộ còn te tua hơn em nữa. Đi ở tù có lâu hông? Có mấy ông đi lâu, bà xã ở nhà đi lấy chồng khác.

– Lấy chồng khác lo làm ăn nuôi con cái thì có sao đâu. Chớ đi tù VC biết chừng nào mà về. Tui hông lấy cá của anh đâu. Anh  đã nghèo, đông con tui lấy sao đành. Bà xã tui đi dạy học cũng có chút đỉnh.

– Nói như ông thầy nghe cũng được đi. Nhưng mà đàng nầy bả lấy chồng cán bộ, bộ đội. Rồi ông đó đi tù về bị bả đì xất bất xang bang. Bả tố cáo nào là ổng còn âm mưu “phản cách mạng”, lấy hình Hồ Chí Minh đem xuống xỏ đui hai con mắt, đêm đêm nghe đài VOA, BBC… Ổng chạy xe ba gác bị làm khó làm dễ, bị phạt liên miên. Rút cuộc bỏ xứ mà đi hay vượt biên, hổng biết nữa? Mà giáo chức bây giờ là “dứt cháo”, có cái gì đâu mà ăn ông thầy.

– Thì cũng có.“Nhu yếu phẩm” chia ở trường phần nhiều là loại hông tốt. Có người hổng ăn, bán rẻ lại, bả mua về ăn cũng được. Nếu coi đi coi lại, có thể bán được thì đem bán kiếm lời.

Lúc mới về,  vợ tui đã nuôi hai con heo. Ngày ngày bỏ mấy cái thùng nhỏ ở chỗ bán hủ tiếu, phở. Họ đổ nước cặn thừa vô đó. Tui đem về nấu với cám hoặc bí rợ vụn cho mấy con trư ăn.Nhờ đó tui có số tiền để xoay qua làm nghề khác.

Xập tiệm rồi đâu có gì, chỉ còn hai bàn tay trắng. Thằng Bé, công an khu vực, bước vào nhà tui, đi từ trước ra sau thấy trống bốc. Nó nhìn lên mái tôn giống như cái rổ quảo. Nó nói nhà “ Thiếu Tá Ngụy” sao mà nghèo tổ mẹ. Vậy mà nó còn hành tui. Cứ hai ba hôm, khoảng một hai giờ khuya, vợ chồng con cái đang ngủ ngon giấc, nó cùng mấy thằng phường đội, gõ cửa rầm rầm, ào vô xét nhà, tự do đi từ trên xuống dưới, vạch mùng, ngó kẹt tủ. Mình thì hông sao, đã quen cái cảnh đó rồi. Chỉ tội mấy đứa con, đang ngủ mơ mơ màng màng, hoảng hốt giựt mình thức dậy, ngó quanh ngó quất hổng biết chuyện gì.

Bây giờ, mình chưa phải là công dân nữa. Mình đâu có phải là dân đá cá lăn dưa, đứng đầu cầu thổi ống tiêu đâu mà họ coi mình như là đồ rác rưới trong cái xã hội nầy. Họ có quyền dày xéo, mạt sát mình thậm tệ. Đến nỗi, một thằng công an còn con nít, mặt búng ra sữa, uống một vài chai lade Sài Gòn, gặp tui, chỉ vào mặt, hét lên:“ Ê, mầy là thằng Thiếu Tá Ngụy hả mậy!”. Anh coi có được hôn? Tui giận run lên. Xém chút xíu là tui ăn thua đủ với nó rồi. Nhưng nghĩ lại còn vợ con tui, nên tui nắm chặt hai bàn tay, nén giận. Suy cho cùng cũng hông phải tại nó. Tại cái chế độ VC thối tha sản sinh ra những con người vô đạo đức.

Tui thương vợ tui. Vợ của một người lính chiến, luôn luôn sống xa nhà, hông bao giờ biết được đời sống người lính ở đơn vị chiến đấu như thế nào. Anh cũng đã thấy đó, thời gian tui ở đơn vị với các anh, ít có khi nào anh gặp vợ tui ra thăm tui. Thảng hoặc chỉ có kỳ nghỉ hè, bả ra thăm tui một vài bữa, rồi lại phải trở về lo dạy thêm.

Có khi gặp xui, vợ lính ra thăm chồng bị VC đột kích. Cô vợ bị trúng đạn chết. Như vợ của thằng bạn tui tên Nguyễn Bá Lai.Vợ nó ra thăm nó ở LongĐiền, Bà Rịa. Bị VC tấn công bất thình lình lúc gần sáng. Cô vợ đâu biết nhào ra hố cá nhân, nên bị tử thương.Anh thấy mấy bà vợ lính khổ sở chưa?

Tui đi lính, hông biết việc nhà như thế nào, chỉ một mình bả lo quán xuyến nhà cửa. Còn bả cũng chẳng biết việc nhà binh như thế nào? Cấp bậc lính tráng ra sao, bả bù trất. Tối ngày, tui ở ngoài đơn vị chỉ lo hành quân. Bù đắp vào chỗ trống là cùng mấy thằng làm sương sương vài ba chung đế hay rượu nếp than với khô mực cho hết ngày. Đôi khi có mấy thằng phát chứng: đánh phé. Rồi còn còn tệ hơn, có thằng phản bội vợ nhà:  hoang đàng đĩ điếm hay cặp bồ cặp bịch với các cô gái trẻ… mê lính chiến trận? Anh cũng như tui. Nghĩ lại mình thương vợ mình trong thời gian đó quá, phải hôn anh? Thành thử, mình đi ở tù, vợ nhà có bỏ mình đi lấy chồng khác thì cũng là đáng cái đời mình. Trách họ làm chi!

– Ông thầy còn khổ hơn tui. Tui chỉ đi “học tập tại chỗ có ba ngày” rồi về sống với vợ con. Lúc ông thầy đi ở tù, ở ngoài nầy, tui cũng có nghe phong phanh mấy ổng tuyên bố là: “nhà chúng nó chúng ta ở, vợ chúng nó chúng ta lấy, con cái chúng nó chúng ta sai, còn bản thân chúng nó chúng ta đày lên rừng sâu nước độc cho chúng nó chết lần chết mòn.”

– Có thiệt vậy à? Sao anh biết nhiều dữ vậy?

– Nghe nói có chiến dịch “Hoa Hồng gì đó để dụ dỗ mấy bà vợ mấy ông thầy bỏ chồng lấy cán bộ.” đó ông thầy. Ờ! Tui biết nhiều là nhờ lúc thồ than và lu. Tui gặp mấy ông sĩ quan đi tù về cũng thồ lu và than như tui. Gặp nhau, bàn tới bàn lui đủ thứ chuyện của mấy anh ba nầy, nên ai cũng biết ráo trọi.

– Tui hông biết chiến dịch đó. Nhưng trong số bạn bè của tui, có nhiều người bị vợ bỏ lấy chồng cán bộ.

– Tui là lính trơn nên cũng đỡ hơn ông thầy, nhưng cũng hông thoát cảnh đói meo. Mấy ổng làm cho đời sống dân chúng vô cùng khốn đốn.

– Anh đã vậy. Tui chắc vợ con tui ở nhà còn tệ hơn. Tui về thấy bả cạy gạch bông bán, sợ tụi nó lấy nhà. Hông có tiền mua xăng, mua vỏ xe. Rồi chiếc HonDa cũng bán. Ôi thôi, cái gì bả bán được là bán.

Lại thêm cái tệ nữa là tủ sách nhà tui. Hổng biết mấy thằng ôn dịch “đả đảo văn hóa đồi trụy”có biết tiếng Anh tiếng U gì hổng biết mà tụi nó vô nhà tui, tụi nó bươi mấy cuốn sách vạn vật có hình người trần trụi đem ra đốt mẹ nó hết. Rút cuộc vợ tui hoảng quá đem sách nhúm lửa hết trơn.

– Nhà cửa ông thầy vậy. Chớ sau “giải phóng”, mấy thằng chả ở trong rừng về ùn ùn kéo lên Sài Gòn lo chiếm mấy căn nhà của mấy người di tản chạy bỏ lại. Nhiều nhà ngon lắm đó ông thầy! À, ông thầy, tui nghe nói có chương trình Mỹ sẽ rước hết tù cải tạo, hông hiểu có vậy hôn ông thầy? Nếu có đi qua Mỹ, ông thầy đừng quên em út nhen ông thầy!

Cái nhà lụp xụp của Ngô Ngọc Lang ở sâu tuốt trong hẽm của đường An Dương Vương. Từ đầu ngã ba Mũi Tàu, chạy xe đạp vô, gặp cái chợ chòm hổm đông đúc. Phùng Xuân hỏi thăm lần hồi, quanh đi quẹo lại hai ba cái “suỵt”, rồi tới một cái vũng đầy sình rác mới đến nhà sàn của “thằng lính quậy”. Nó đứng trước cửa đợi từ lúc nào. Xuân cẩn thận bước nhè nhẹ trên những miếng ván thông cũ. Cái nhà trống bốc, hông có vách ngăn. Quần áo, mùng mền, chiếu gối để bừa bãi, mỗi nơi một cái. Hai ba đứa còn nhỏ nheo nhóc ngồi trơ mắt ra nhìn Xuân. Bây giờ hông còn lade la diếc gì hết. Hai thầy trò ngồi nhâm nhi hai ly trà nước đỏ đậm lạt nhách lạt nhơ, mơ màng nghĩ ngợi…

 

 

*****

Sau  ngày 30 tháng 04 năm 1975 khoảng vài tháng, toàn bộ gia đình ông Sáu Xe dời lên Sài Gòn. Năm Lân lúc trước là cán bộ nội thành, còn bây giờ là ủy viên văn hoá của thành phố Hồ Chí Minh. Sáu Trân lúc trước hông hiểu học y tá từ lúc nào, bây giờ đang “học chuyên tu” để trở thành y sĩ. Sau khi trở thành y sĩ, nàng hy vọng học thêm một lớp “chuyên tu” khác thì sẽ được cấp bằng bác sĩ? Năm Lân được cấp phát cho một “căn hộ”rộng ở đường Phan Thanh Giản đủ chỗ ở cho cả gia đình. Sau khi “giải phóng”, nhà cửa bị bỏ trống rất nhiều. Phần đông là nhà của những gia đình di tản, và sau nầy vượt biên hay đi vùng kinh tế mới, nên Đảng và Nhà Nước “nghiệm thu” những căn nhà đó cho cán bộ có công với “cách mạng”. Sáu Trân cũng vậy, nàng có một căn nhà ở đường Tô Hiến Thành.

Phùng Xuân đang đạp xe lang thang ở khu chợ Trương Minh Giảng. Mấy ngày hôm nay, chàng mong gặp được các thằng bạn cũ để hỏi có thêm việc gì làm khá hơn hông?

– Vân! Em đang làm gì ở đây?

Vân đứng im lặng, đang tính quay xe HonDa, nhưng bị Phùng Xuân chặn ngay đầu xe gắn máy, nên nàng hông lui được. Cũng giống như những người cán bộ VC, họ hông muốn “liên hệ” những bạn bè, bà con có dính líu tới chế độ “Mỹ-Ngụy”. Bây giờ họ là thành phần cách mạng tiến bộ nên hông muốn chơi và gặp mặt bà con thân thuộc dính líu tới “Mỹ Ngụy”. “Mỹ Ngụy” bây giờ như bọn phong cùi, ghẻ lỡ, nên tránh xa. Vợ Ngụy hông xài. Con Ngụy hông được đi nghĩa vụ quân sự… Chị hai của Phùng Xuân đã nói với chàng rằng: “ Cơ khổ, Sáu Quảng và Năm Khuỷnh hể thấy bóng dáng mình là tụi nó làm ngơ đi tuốt luốt hoặc ngó chỗ khác. Còn giỗ quảy mình mời tụi nó. Mấy thằng mắc dịch đó có bao giờ tới đâu. Kẹt con tao dính mác Mỹ-Ngụy hông được lên lớp 10, nên tao mới hạ mình cầu cạnh nó để xin cho con nhỏ  được đi học nữa. Sáu Quảng bây giờ làm lớn lắm. Trưởng Ty Thông Tin Văn hoá ở Tỉnh Bến Tre đó mầy. Chỉ cần nó viết mấy chữ trên tờ giấy nhỏ đưa tao cầm về cho ông Hiệu Trưởng trường huyện Giồng Trôm là con nhỏ được lên lớp 10 liền”.

Phùng Xuân chưa bao giờ gặp mặt mấy người đó. Có đi ra khỏi Sài Gòn được đâu. Từ lúc đi ở tù về, ba ngày Xuân phải cầm sổ ra trình diện phường một lần. Mỗi tuần Xuân cùng toán dân phòng thay phiên nhau canh gác đêm trong khu vực phường. “Anh chưa có quyền công dân. Anh ráng làm tốt.“ Cách mạng” sẽ cho anh mau được phục hồi quyền công dân ”. Mình có bán nước đâu mà mất quyền công dân?

– Tui đang đi chợ, tính mua vài thứ lặt vặt. Anh tránh cho tui đi để người ta ngó coi kỳ lắm.

Xuân biết cô ta trả lời nhát gừng nên hông buồn hỏi thêm. Xuân biết thân phận mình.Và chàng hông nhắc gì đến chuyện ngày xưa. Chuyện của Xuân và Vân ở cánh đồng Mỹ Nhiên giờ đã xa lơ xa lắc rồi. Nhắc mà làm gì? Nhắc để ăn bòn lại mối tình sôi nổi của một thời trai trẻ bồng bột mà người đối diện hiện đang ở một giai cấp khác. Một giai cấp thắng cuộc chiến nầy. Xuân ráng xuống nước vì chàng cần biết về Khanh.

– Em cho anh biết Khanh hiện giờ ở đâu?

– Hai vợ chồng chị Năm tui đang ở Mỹ Tho.

– Làm gì ở dưới? Sao hổng về trên nầy có việc tốt hơn hôn?

– Ở dưới làm trưởng phòng thương nghiệp, có sướng hơn hông? Thôi tui đi nhen.

Vân vọt nhanh như chớp, sợ Xuân níu kéo lại, hỏi nơi Vân ở? Xuân ngao ngán thở dài. Con người gì mà trở quẻ mau thế. Mới ngày nào, dưới  ánh trăng suông,  toan tính  nhiều thứ, vậy mà bây giờ quên mất hết. Chỉ còn có Loan. Hông hiểu anh Lang nói vậy mà có đúng hôn? Bây giờ làm sao về Bến Tre?Thế nào cũng phải dẫn thằng Ken về Cái Bông…

Con đường Sài Gòn- Bến Tre, khoảng 90 km.Từ Bến Tre về Cái Bông độ 20 km. Tất cả là 110km. Phùng Xuân nhẩm tính làm thế nào đạp xe đi từ khuya thì mình mới có hy vọng đến Cái Bông giữa trưa.

Từ bốn giờ sáng hai cha con đã đèo nhau đi.Trời còn tối. Sao đầy như những viên ngọc trai. Chòm Venus nằm ngã nghiêng khêu gợi giữa bầu trời.

Thằng Ken còn trẻ, khỏe nên hai chơn nó đạp lia lịa. Xe đi vùn vụt trong đêm tối. Thỉnh thoảng vài chiếc xe đò ngược chiều, pha đèn sáng trưng. Ken hông thấy đường, vội tắp sát vô lề có đá lổm chổm. Hai cha con suýt té. Đạp xe đường khuya thiệt nguy hiểm. Phùng Xuân cũng biết vậy. Nhưng, đi xe đò, hai cha con đi về hông kịp trong hai ngày. Xuân lên xin phép về quê thăm gia đình. Suy nghĩ như thế nào, chủ tịch phường Nguyễn văn Sương cho được từng ấy ngày. Ráng mà đi cho kịp. Phùng Xuân còn tính lúc về ghé qua Vang Quới tìm gặp dì chín Mạo và thăm thằng Thương.

Tiền đâu có nhiều để đi xe đò. Hơn nữa đi xe đò chầu chực mua vé lâu lắm. Còn vé chợ đen thì hông mua nổi cho hai cha con. Thời gian mua vé xe bằng thời gian mình đạp xe qua khỏi Long An.

Đoạn đường Bến Tre về Cái Bông là đoạn đường gian nan. Đã hơn mười mấy năm rồi mà đường sá vẫn còn bệ rạc, chưa sửa được một đoạn nào hết. Chỉ đổ toàn đất đỏ lên, vá víu tạm bợ, nên mỗi lần xe đò chạy qua là bụi hồng bay mù mịt. Quần áo, đầu cổ của hai cha con như bị nhuộm phẩm đỏ. Phải mất một thời gian để phủi, để khịt khẹt cho ra hết màu bột đỏ đóng đầy hai lỗ mũi. Mà đâu phải chỉ có xe đò. Xe lôi, xe gắn máy cũng tạo nên vầng mây đỏ phủ kín con đường. Ở những khu có vườn tược hay cây cối, hai cha con dễ núp hơn. Còn gặp đoạn đường trống ngoài đồng ruộng thì hông thể tránh né vào đâu được. Cho nên đến gần trưa khi họ đến Cái Bông, quần áo và mình mẫy giống như hai con gà xước vùi mình trong cát.

Phùng Xuân đứng nhìn vào khoảng đồng không mông quạnh giữa trưa nắng chang chang. Một thời yêu đương nông nỗi và bồng bột của tuổi trẻ đi qua. Phùng Xuân nhớ lại từng cử chỉ, lời nói đối đáp của con Tư Én còn quê mùa, cục mịch. Con Lon còn thơm mùi rơm rạ, nắng khét của đồng trũng ngập nước. Lời đối đáp bốp chát lúc Xuân giúp cổ thay đồ khi cổ bị bịnh sau cây mưa dông trong đêm khuya. Và những lời tình tự ngây thơ của cô gái đồng quê vừa mới lớn lên đã thương bồng bột chàng trai học sinh thành thị. Loan đã cho Xuân thứ quí nhứt trong đời mà hông nuối tiếc. Trong thời gian ở đồng Mỹ Nhiên, cả ba người con gái phút chốc đi qua đời Xuân, có lẽ Loan yêu Xuân nhiều nhứt. Và có phải như vậy hôn? Và nếu Loan hông có bầu, nếu Loan hông rời xa ngôi làng nầy, nàng cũng sẽ bị cuốn hút vô vòng xoáy của chiến tranh. Nàng cũng sẽ trở thành một cô du kích VC. Và nàng cũng sẽ quên Xuân như Khanh và Vân vậy thôi. Có phải hôn? Phùng Xuân hông hiểu được?

Cái vòng xoay vần của thiên nhiên như là một điều bí ẩn hông ai có thể cắt nghĩa được. Đâu có ai nhìn thấy được tương lai và đâu có ai kéo ngược quá khứ. Và cũng hông có hiện tại. Hiện tại chỉ là một cột mốc con người đặt ra. Khoảng không-thời gian trôi vùn vụt, hông giới hạn, đi vô một màn đen tối kềm hãm sự hiểu biết của con người. Những lời giải thích chỉ là ý nghĩ vu vơ làm cho sự tin tưởng sai lệch.

– Con có muốn tới nhà của mẹ con thăm ông bà ngoại hông?

Hỏi là hỏi vậy, chớ Xuân hông hiểu cha mẹ Loan là như thế nào, biết hai ông bà có muốn gặp thằng cháu lai “đế quốc Mỹ” nầy hôn? Hơn nữa họ sẽ truy ra Xuân là người đã ngủ với Loan, làm con gái họ mang bầu phải bỏ xứ mà đi. Đó là điều nguy hiểm cho Xuân. Họ có thể làm khó dễ Xuân đủ mọi chuyện. Nhưng Phùng Xuân chấp nhận để cho Ken biết mặt ông bà ngoại của nó một lần.

Tìm nhà của ông Sáu Lục rất dễ dàng, nhưng dân trong làng chăm chú đến thằng nhỏ lai nhiều hơn. Khi họ đến nhà của Loan, ba con bốn con cờ tây chạy ra sủa inh ỏi.

– Thằng lai nầy là thằng nào? Chú mầy nói nó là con của con Tư Én. Nhà tui hông có ngữ “con lai đế quốc Mỹ” đó. Con Én nó hông phải dòng họ nhà tui. Thứ đồ con gái hư, bỏ nhà đi lấy Mỹ.

– Còn anh là ai? Sao anh biết cái nhà nầy của chị Tư Én. Anh quen với chỉ hồi nào? Chỉ  chỉ cho anh quê chỉ ở dưới nầy hả? Chắc anh thân thiết với chỉ lắm hả?

Phùng Xuân ậm ừ. Sau đó chàng cố gắng nói cho họ nghe mình quen Loan ở tuốt ngoài Long Khánh. Cổ gởi gắm đứa con lai cho mình để về quê thăm nhà. Và rồi hông trở lại để gặp thằng Ken.

– Mà sao tới bây giờ cậu mới dẫn nó dìa đây? Hơn mười năm rồi.

– Dạ thưa bác gái. Cháu hông có dịp dẫn nó về đây.

Đôi mắt ông Sáu Lục ngó Xuân săm soi. Còn người thanh niên, mà Phùng Xuân biết chắc là Út Thèm ngày xưa, lừ hai con ngươi như muốn ăn tươi nuốt sống chàng và Ken. Xuân biết họ hông bao giờ nhận thằng Ken là cháu họ. Xuân chào họ rồi buồn bã xin ra về.

Phùng Xuân vừa ra đến đầu làng. Hai người mặc sắc phục công an đã đúng chờ sẳn, mời Xuân và Ken về đồn. Họ cầm giấy tờ của Phùng Xuân, lật qua lật lại, coi tới coi lui. Họ nhìn thằng Ken một hồi lâu.Sao họ thù ghét Ken đến như vậy?

– Anh mới vừa đi cải tạo dià?Anh còn trong thời gian quản chế, sao anh đi ra khỏi thành phố được. Còn thằng lai Đế quốc Mỹ sao hông có gì tờ gì hết ráo trọi?

– Dạ. Nó chưa đúng tuổi lấy chứng minh nhân dân. Có giấy chủ tịch phường cho cha con tui đi phép hai ngày.

– Thằng đó bự con vậy mà chưa có giấy tờ gì hết. Khai gian tuổi hả?

Rồi, họ hông nói gì thêm, cứ lẳng lặng đút giấy tờ vô ngăn kéo bàn. Mọi người đi ra ngoài. Xuân và Ken đứng đợi. Rất lâu. Một người công an trở vô, báo cho Xuân biết là chàng bị tạm giữ đêm nay. Đến sáng mai sẽ có người giải quyết. Xong họ đưa hai cha con qua một căn phòng trống bốc. Hông ai trở vô. Hai cha con đành ngồi bệt xuống đất.

Nắng chiều tắt lần. Và trời đột nhiên tối sầm. Mây đen từ hướng Tây Nam kéo đến. Một lát sau tiếng nổ rôm rốp từ trên máy tôn vang dội xuống. Cây mưa ào ào như lấy gào tát nước. Mái nhà dột nát. Nước mưa tuôn xuống. Nền đất lầy lội.

Tội nghiệp thằng Ken nôn náo. Nó có vẻ đói bụng và khát nước. Họ đã lấy tất cả. Vắt cơm trộn muối đậu ăn trong ngày, mì gói, đồ phụ tùng vá xe đạp và cái bi đông nhựa nhà binh. Bà Phùng Xuân chuẩn bị rất kỹ. Mọi thứ được bỏ vô cái túi đeo lưng. Xuân hy vọng họ sẽ trở lại giao cho hai cha con những vắt cơm. Và hông chắc gì họ đưa lại, vì đã xế chiều. Chắc họ bỏ đói hai cha con đêm nay.

Trời tối lần. Đàn muỗi bắt đầu kéo đàn cò.Mới đầu, thằng Ken giơ tay đập lia lịa, nhưng một lúc sau hông nghe nó đập nữa. Nó mệt mỏi, dựa đầu vô gốc cột ngủ ngon lành. Xuân hông hiểu chừng nào hai cha con mới được thả. Xuân nghĩ chắc là có lịnh từ gia đình ông Sáu Lục, vì lúc chiều, khi  hỏi thăm nhà của Tư Én, dân làng hỏi lại Xuân có phải muốn tìm nhà ông Bí Thư xã hông? Nếu đúng như vậy thì hông biết bao giờ họ thả mình ra?

Mưa đã tạnh từ lâu. Căn phòng hông có đèn đuốc gì ráo. Trời tối om. Muỗi e e như tiếng ong bầu kẹt dĩa ( Trò chơi con nít: bắt ong bầu bỏ trên đít thùng thiếc, xong lấy dĩa nhỏ dằn lên. Ong bầu phát ra liên tục tiếng kêu e e.). Hông biết đường đâu mà đập. Một ánh trăng đầu tháng yếu ớt lung linh theo tàu lá dừa, lọt qua khe cửa, đong đưa qua lại trên nền đất ướt. Trăng suông như ngày xưa ở đồng Mỹ Nhiên? Một ngày qua mệt mỏi. Phùng Xuân chán nản nằm bệt xuống nền đất ướt. Qua khe ván chàng nhìn thấy những cây bần tỏa rực đom đóm. Chàng nhớ lại căn nhà lá đơn sơ dọc bờ rạch. Những cây bần đầy đom đóm vào những ngày hông trăng. Đom đóm thi nhau đốt đèn, lấp la lấp lánh cùng những vì sao trên trời, sáng rực cả một khúc rạch.

– Cậu có quen biết con Tư Én phải hôn? Cậu nói thiệt đi. Hồi nẫm, nó ở trong đồng với cậu phải hông? Vậy bây giờ cậu có biết thằng con đó ở đâu hôn?

Bà Sáu Lục hạch hỏi Phùng Xuân. Bà vô phòng rất sớm, có lẽ đi theo các người đi chợ. Nhìn vẻ mặt của bà hông có vẻ gì hung dữ, Phùng Xuân đành thiệt lòng nói rõ mọi chi tiết của chàng và Loan. Bà ngó thằng Ken, cháu ngoại lai mỹ, có vẻ hơi ái ngại. Bà đưa tay vuốt tóc nó. Bà trả lại cái túi đeo lưng.

– Hai cha con bây đi rút, giờ tới sáng ra khỏi Giồng Trôm nhen. Có gì để qua lo.

May là Ken còn sức. Hơn nữa nó sợ bị bắt lại. Nó đạp vùn vụt. Trời hửng sáng. Họ đã tới Bình Chánh. Qua khỏi Lương Quới, đường lầy lội. Hôm qua, trời mưa. Bùn đỏ bám vô bánh xe, hông chạy được. Thằng Ken vác chiếc xe đạp trên vai đi một mạch tới Mỹ Lồng. Đến bến ghe, hai cha con xuống tắm và rửa sạch bùn bám đầy nghẹt vè xe. Xong họ tìm một gốc cây me lớn, ngồi nghỉ. Lục lọi trong túi còn lại chút cơm vắt, Phùng Xuân chia cho con một chút. Tội nghiệp cho con. Về quê mẹ mà bị nhốt và trốn chạy. May nhờ có bà ngoại còn chút thương tình, chớ nếu hông, hai cha con chắc hổng biết khi nào họ thả ra…

Tới ngã ba Thới Lai, họ quẹo con đường về Bình Đại, đến Vang Quới. Mặt trời đứng bóng. Nắng chói chan. Ken bước xuống mương ruộng múc đầy bi đông nước rồi tu ừng ực. Họ hông còn đồng xu dính túi. Số tiền ít ỏi mang theo đã bị lấy mất sạch. Phùng Xuân hy vọng tìm được nhà dì chín Mạo. Chỉ còn cách đó mới có được chút cơm dằn bao tử cho qua cơn đói.

– Cơ khổ! Tui đợi chờ cậu hơn chục năm nay rồi. Mấy lần về đây, con Én nó cứ nhắc tới cậu hoài. Nó nói khi nào cậu tới thì đem cái áo sơ mi sọc rằn đưa gởi lại cậu. Hồi trước nó nuôi thằng Thương, có lúc nó đem cái áo nầy túm thằng nhỏ mấy bận, rồi ngồi khóc một mình.

– Rồi thằng Thương bây giờ ra sao rồi dì?

– Mấy năm sau nầy, con Én nó lấy chồng nên ít khi về thăm con. Tao đâu coi chừng coi đổi nó nhiều được.Nó lớn lên cặp bè cặp bạn rồi vô trong bưng theo mấy ổng. Nghe nói bây giờ nó làm “giáo dục” gì trong quận sáu ở ChợLớn.

– Tính ra giờ nó cũng khoảng trên hai mươi.

– Chắc đâu đó. Lúc con Én qua tao ở, cái bụng còn nhỏ xíu. Nó ốm nghén mà nó còn giấu tao. Hóa ra bây “lẹo tẹo” với nhau lúc ở trong đồng. Nó nói với tao nó thương bây lắm nên mới trao thân gởi phận cho bây. Mà bây giờ con Én ra sao rồi bây có biết hôn? Có lúc nó về thăm tao nó nói có chồng Mỹ. Nó nói hông biết đời nào gặp được bây. Nó cho tao nhiều thứ lắm: quần áo, đồ hộp, bánh kẹo ngon lắm. Còn đưa thêm tiền để nuôi thằng Thương nữa. Rồi nó bặt tin từ dạo đó đến nay, cũng hơn chục năm. Tao nghĩ nó sau 1975 nó theo chồng về Mỹ.

– Dì hổng biết hả? Loan bị mìn VC ở gần Giồng Trôm chết lâu lắm rồi, đâu năm 66 hay 67 gì đó. Còn đây là Ken, đứa con với người chồng Mỹ.

– Trời đất! Vậy tao nghi oan cho nó.

Dì chín Mạo khóc mùi mẫn. Bả kể lể đủ thứ chuyện về Loan trong thời gian nàng ở với bà. Nước mắt hoà với nước mũi chảy thấm ướt cái khăn rằn bà vắt vai. Ken đứng gần bà Mạo. Bà lấy tay vuốt tóc nó. Những sợi tóc quăn màu ngà ngà dài ra theo mỗi lần bà vuốt tóc Ken. Rồi bà nắm tay nó, nhắc lại đủ điều về Loan. Thỉnh thoảng bà nhìn nó rồi ngó bộ dạng thằng con lai, bả có vẻ ngạc nhiên sao mà nó giống Mỹ quá.

– Con Én nầy nó sao khổ vậy. Nó mà còn sống, hổng biết hai thằng con nầy có hợp nhau hôn? Mà bây có về trên đó, tìm gặp được thằng Thương thì đừng cho hai anh em nó biết nhau nghe chưa? Cách mạng hông ưa mấy thằng con lai nầy…

Con đường trở về thấy sao mà nặng nề và xa hun hút. Cây cối hai bên đường tiêu điều. Cảnh vật khác xa khi trước. Cồn Phụng hông còn rộn rịp. Đám nhà tu trốn quân dịch của ông tu sĩ kỹ sư Nguyễn Thành Nam đã bị giải tán. Ông Đạo Dừa gầy gò ốm yếu, có lần ra tranh cử Tổng Thống vào năm 1967, ôm ấp mơ mộng hão huyền đòi ra gặp Hồ Chí Minh để thương thuyết hoà bình!! Sau năm 1975, bị VC cho đi tù rồi chết ở khám Cần Thơ (?).

Hông hiểu ông có lý thuyết gì mới lạ mà John Steinbeck đến thăm cồn Phụng vào năm 1968. Bây giờ chiếc thuyền Bát Nhã của ông, lúc trước ổng nói dùng nó để làm nơi gặp gỡ hai nhà lãnh tụ Nam Bắc, bị VC kéo về Bến Tre làm nhà hàng nổi! Chớp mắt đấy mà đã hơn 20 năm. Cửa Đại bây giờ có thêm một cái cồn nhỏ, nhỏ nhú nhú tít mù xa.

Phùng Xuân hông thấy thành phố MỹTho còn có một chút gì thân thuộc với mình như khi xưa. Con đường chạy bên hông dinh Tỉnh Trưởng ngang nhà Yvette hông còn nữa. Chắc trước sân ngôi nhà của Yvette giờ là những vồng khoai mì, những luống rau muống, những đám rau lang. Chủ nhơn  mới chắc có lẻ “tận dụng” miếng đất để “cải thiện” đời sống trong thời buổi khó khăn hiện nay.

Đâu rồi những chùm bông đại rơi đầy sân cuốn tròn theo con trốt! Người xưa giờ ở tận trời Tây, con đùm con mang, chắc hông còn nhớ đến vị nước sông ở cầu tàu trước dinh tỉnh trưởng! “Ờ, hén, mình. Rồi mình chắc chắn sẽ trở lại Mỹ Tho. Sao lại chỉ có mình mình? Còn con mình nữa chứ mình!”. Tiếng nói của Yvette như ngân dài gần suốt hai mươi năm qua, vang vang trong lỗ tai Phùng Xuân.

Chàng hối Ken chạy mau tránh khỏi những con đường mang nhiều kỷ niệm. Mau mau về Sài Gòn đi con.Mình đi lâu lắm rồi.Chàng trình bày rõ ràng lý do về trễ. Hông có chuyện đó đâu. Anh đào đường mương dài hơn 100 mét vòng quanh chợ và một tuần canh gác dân phòng.

Phùng Xuân thầm nghĩ: Làm sao tìm gặp được Thương. Hông dễ gì mò lên chỗ công an làm việc. Kiếm cớ để gặp nó, chàng cầm lá đơn xin đi dạy học lên quận.

– Anh nộp xin đi dạy học? Anh vừa đi học tập cải tạo về hả?

– Thưa… anh…!

– Anh hông được quyền gọi tôi bằng anh. Anh nhờ ơn cách mạng khoan hồng tha cho về sớm. Anh chưa phải là một công dân. Anh phải nói với tôi: “Thưa cán bộ, nghe chưa”?

– Dạ. Thưa cán bộ. Tui đi học tập cải tạo về hông có việc làm. Hồi trước tui có đi dạy học.

– Cách mạng hông có xài ngụy quân ngụy quyền. Tư tưởng anh chưa “đã thông”. Anh chưa có quyền công dân. Chúng tôi hông có lịnh cho các anh đi làm trong các cơ quan cách mạng.

– Dạ. Xin phép cán bộ cho tui hỏi. Cán bộ có phải người Bến Tre hôn?

– Anh hỏi làm gì? Tính điều tra tui hả?

– Dạ. Hông. Tui thấy cán bộ hao hao giống người tui quen ở Vang Quới. Nhà bà chín Mạo đó cán bộ. Bả có người cháu gọi bả bằng bà Chín, tên là Trần Anh Thương. Và tui cũng biết cô Loan-Tư Én-, má của cháu Thương nầy nữa.

Người cán bộ ở phòng Giáo Dục quận 6 nhìn trân trân Phùng Xuân một lúc.

– Hông. Tui hông có ở Bến Tre. Tui cũng hông biết bà chín Mạo và bà tư Én nào nào hết. Anh nhận lầm rồi. Tui nhắc lại cho anh biết một lần nữa. Tui hổng có quen biết các loại người ngụy quân như anh, làm tay sai đế quốc mỹ, chống lại nhân dân, có tội trời hông dung đất hông tha… Anh đừng có nhận bá vơ như vậy nghe chưa?

– !!!???

Phùng Xuân ngán ngẫm, lật đật đứng dậy chào người cán bộ(? sic), cố ngăn giọt nước mắt ưá trào ra. Ôi! Sao chủ nghĩa Cộng Sản biến con người đến mức độ tàn nhẫn như vậy? Cải cách ruộng đất, Nhân văn giai phẩm đày đọa biết bao nhiêu người ở miền Bắc. Bây giờ đến miền Nam phải chịu tai ương thù hận, cốt nhục tương tàn. Sau cuộc chiến năm 1975, biết bao gia đình ly tán chia rẽ vì một người bên nây, một người bên kia. Biết bao giờ hàn gắn được…???

Xuân mệt nhọc bước xuống cầu thang. Chắc hông bao giờ Ken và Thương có thể gặp nhau và bắt tay chào hỏi mừng rỡ. Loan có sống lại thì cũng hổng hàn gắn được tình thương của hai đứa con. Và nàng sẽ sống làm sao?

Buổi trưa bến xe Chợ Lớn đầy nhung nhúc người. Và xe tới bến. Rồi xe đi. Hông bao giờ ngớt. Cuộc sống có nhiều cơ cực vì ngăn sông cấm chợ, nhưng người ta cố tìm đủ mọi cách luồn lách để mà sống. Chỉ có cái là đi buôn lậu.Họ tìm mọi cách qua mặt quản lý thị trường. Giấu hàng đủ mọi nơi trong xe chở khách, mọi chỗ trong thân người. Đút lót, quà cáp khi qua mỗi trạm.

– Mừng! Mừng! Anh đi đâu đây?

– Trời ơi! Ông thầy còn sống hả?

– Chết hồi nào đâu? Còn sống nhăn răng đây.

– Vậy mà sau năm 1975, tui ở miền Tây, người ta đồn Sư Đoàn 18 bị tiêu tan ở trận Long Khánh hết rồi. Tui nghĩ chắc ông thầy cũng hông chạy đâu khỏi. Rồi ông thầy đi cải tạo có lâu hông?

– Đủ nếm mùi tù VC. Bây giờ anh làm gì?

– Đang làm lơ xe đò. Xe lúc nầy vô quốc doanh ráo trọi thành thử đói lắm. Xe tui chạy chui. Tui phải bán thêm thứ khác đủ nuôi mấy đứa nhỏ và thằng cháu nầy.

– Thằng cháu nầy con của ai?

– Con của con Mận đó ông thầy!

– Cổ ra sao rồi. Chồng cổ chết rồi hả?

– Em tui có chồng con gì đâu! Đầu năm đó, Mận ở Long Khánh về. Mấy tháng sau thì cái bụng nổi lên chình ình. Ở nhà hỏi: có chửa với ai. Em tui hổng nói. Mặt mày buồn so. Tới kỳ sanh đẻ xong rồi ở vậy nuôi thằng nầy cho đến trọng tuổi thì bị ban cua chết. May là lúc đó tui đổi về gần nhà nên mang thằng nhỏ dìa nuôi cho đến bây giờ. Nó theo tui phụ lơ kiếm chút đỉnh sống qua ngày. À, mà ông thầy, ngộ nghen! Lúc nghe tin đồn Sư Đoàn 18 bị thua trận, em tui buồn rũ rượi. Ngày ngày, Mận nó đốt nhang khấn vái hoài.

Phùng Xuân giựt mình ngó qua thằng nhỏ cũng cở trạc tuổi hai mươi. Từ năm 1966, 1967 đến giờ cũng tròn trèm hai mươi năm. Nó có vẻ cũng hao hao giống mình. Mà biết có phải con mình trong cái đêm hôm mình say rượu hông? Chàng bán tín bán nghi ngó nó một hồi lâu.

– Ông thầy làm cái gì nhìn thằng Phùng dữ vậy? Bộ nó  giống ông thầy lắm hả?

Phùng Xuân thót mình quay lại, ngó thấy Mừng chum chím cười. Xuân đoán Mừng nghi ngờ điều gì. Cái gì cũng có thể được, nhưng có cái hông có thể được? Sao cuộc đời nhà binh mình đa đoan nhiều quá vậy? Xuân gây buồn phiền cho bao nhiêu người? Từ lúc mới ra đơn vị đã nhìn thấy Hiền chết ngay trước mặt mình. Chuyện của Mận có phải tại mình hông? Cái hông thể biến thành cái có thể. Thằng Phùng đang trờ trờ trước mặt mình đây mà! Xuân có nên nói thiệt câu chuyện đã xảy ra cho Mừng nghe hôn? Mà chắc gì Mừng tin. Nó đâu có nghĩ là em mình dám làm điều đó. Có khi nó còn nghĩ ngược lại. Ông thầy coi em tui như gái qua đường, chơi rồi bỏ. Như thế lại càng khổ cho mình nữa. “Làm sao đây hở cô Mận? Tui đành có lỗi với cô. Dù sao cũng cám ơn cô. Những ngày tháng nằm kế bên võng của cô, nghe những bài ca vọng cổ mùi mẫn của cô cũng làm cho tui đỡ buồn. Tình yêu thời chiến tranh của cô quá bồng bột, hông tính toán. Thiệt tình tui hông ngờ được”.

Phùng Xuân theo Mừng đi vô sâu một ngõ hẽm. Quẹo tới quẹo lui nhiều lần rồi họ vô một căn nhà rộng. Khoảng ba bốn người đang tuôn thuốc lá từ trong người ra. Người mập ù bây giờ trở nên ốm tong teo.Một người cụt một chưn đang ngồi trên ghế, lấy từng điếu thuốc lá dấu trong ống chưn giả, rồi vỗ vỗ và vuốt lại cho ngay thẳng. Đầu kia, trong gốc khuất, một cô gái còn trẻ, tự nhiên cổi bỏ hai ba lớp áo.Sáu bảy cây thuốc Jet bó vòng quanh người tuôn xuống, lộ thân mình trắng ngần dầm dề mồi hôi. Rồi sau đó cô bé thò tay vào sâu trong bụng, lần xuống háng và bắp vế, lần lượt lấy thêm bốn năm cây thuốc nữa. Xong, cô gái bận áo lại, lấy hai tay chẻ đôi mái tóc rối lại cho suông sẽ. Hông ai nói ai một lời. Đầu nậu nhìn những cây thuốc lá mà họ tin chắc là những cây thuốc thiệt chứ hông phải giả, chậm rải đếm tiền đưa cho những con buôn lậu. Thuốc điếu thì rẻ hơn thuốc cây. Nhưng buôn thuốc cây thì cũng năm ăn năm thua. Rủi bị quản lý thị trường bắt thì kể như mất vốn. Người cụt một chưn trên kia là anh thương phế binh VNCH. Sau năm 1975, hông còn tiền phụ cấp nữa, nghèo đói, hông có nghề ngỗng, hông biết làm gì. Bây giờ chỉ biết buôn lậu cò con, bỏ từng điếu thuốc vào ống chưn giả, kiếm cơm sống qua ngày.

– Tui đạp xe cà tàng cà tàng từ Củ Chi xuống đây, ngày một bận, chung lại cũng được 5 gói Jet. Làm sao mà để nguyên gói được, nên phải nhét từng điếu vô ống chưn.

Còn cô gái buôn đường dài, từ Tây Ninh xuống đây. Mỗi ngày theo chuyến xe, chủ ăn chịu với công an, quản lý thị trường.Gần tới trạm, chủ ngừng xe, con buôn xuống, luồn vô trong xóm.Họ đi đường tắt ra lộ cái. Chủ xe đón họ ở đầu kia. Cứ thế mà lần lượt đến ChợLớn.

Thuốc lá là chất bắt mùi nhanh chóng. Để lâu trong ống chưn giả có mùi tanh. Dấu trong nách, háng, thuốc bắt nặng mùi mồ hôi. Dìm trong thùng mắm ruốc, thuốc có mùi thum thủm. Thuốc bán mùi trở nên lạt nhách. Dân sành hút luôn luôn cho là thuốc giả.

Những người Tàu Chợ Lớn là những người biết cách làm ăn trong mọi trường hợp. Họ luồn lách qua đủ ngõ ngách để buôn bán trong cái xã hội chủ nghĩa man rợ nầy. Từ những viên kẹo nhỏ đỏ đỏ xanh xanh cho đến những phụ tùng xe hơi, xe Honda, xe đạp…, họ đều có. Những chuyến hàng to lớn lọt qua công an đều là xuất xứ từ Chợ Lớn. Chợ Kim Biên là một thí dụ rõ ràng. Ai dẹp được nó?

Phùng Xuân lùng xục mọi nơi trong Chợ Lớn. Những điếu thuốc vấn bằng tay làm bằng lá đu đủ hay lá khoai mì phơi khô tẩm hoá chất mua từ chợ Kim Biên rồi thêm chất dẫn cháy bằng diêm sinh đến những lò sản xuất cà phê đủ loại bằng bắp, đậu nành từ rẻ đến mắc. Thuốc Mai giả cũng có. Jet, Hero giả cũng có. Cái gì họ cũng có. Tại sao vậy?

Những người VC hông phải là những nhà quản lý kinh tế giỏi, nhưng họ tự kiêu, hông chịu sử dụng những nhân viên chế độ cũ. Xã hội miền Nam rối ren như nồi canh hẹ. Thành phần trí thức lần lượt bỏ đi. Dân chúng bắt đầu ra biển, đi đường bộ tìm đường trốn thoát. Nguyễn Ngọc Tiền và Nguyễn văn Nghiệp vượt biển mấy lần đều hông thoát. Mỗi lần đi là mất mấy cây vàng và có khi bị tù lại. Ngọc Tiền mấy lần thất bại về trốn ở nhà Phùng Xuân. Xong rồi lại vượt biên nữa. Có nhiều người lần lần mất hết của cải. Và cũng có nhiều người làm mồi cho cá hoặc bị hải tặc giết chết. Để cho bọn “Mỹ-Ngụy” tiêu vong hết, họ sẽ dễ dàng chiếm dụng tài sản của bọn “bán nước” đó. Có phải đó là chánh sách của họ hông?

Thiếu Tá Tuệ, bạn tù cũ, có hôm dẫn đến nhà Xuân một thanh niên nói năng lưu loát. Biết Phùng Xuân hông có cây nào để vượt biên. Nếu Xuân chịu vượt biên một mình, “Mật Trận” sẽ lo liệu hết, với điều kiện anh sẽ ở lại làm việc cho “Mật Trận”. Xuân nghĩ đây là một tổ chức gì? Một tổ chức giả hiệu của VC để gài người bắt cho hết những lực lượng đang nổi dậy chống đối có liên lạc với Mặt Trận Liên Hiệp của Trần văn Bá. Tin tức thầy cũ Hồ Thái Bạch và Trần văn Bá bị tuyên án tử hình ngày 08 tháng 01 năm 1985. Phùng Xuân ra đi một mình bỏ vợ con lại trong nhà tù to lớn. Có đành lòng hông? Xuân từ chối. Ở lại để khổ cực có nhau còn hơn vướng vào cái bẫy kia.

Tù cải tạo bây giờ rơi xuống tận cùng đáy xã hội nên trở nên là thằng mạt rệp. Những thằng “tù cải tạo” nầy tìm mọi cách để sống còn trong cái “nhị thiên đường” cộng sản. Họ làm đủ nghề. Thằng làm khí đá, thằng làm bột mì, thằng làm bánh in, thằng giữ xe đạp, thằng làm yaourt, thằng chạy xích lô, thằng chạy ba gác…

Gia đình Phùng Xuân cũng bị cuốn hút vô trong vòng xoáy đó, quay cuồng ngày đêm để kiếm sống. May là nguời vợ đảm đang gánh vác, đỡ đần mọi công việc để nuôi chồng cho đến ngày ra tù. Rồi bây giờ lại cùng chồng bươn chải nhọc nhằn. Chỉ tội chị Sâm khi trước là một cô giáo, vợ anh Võ Long Tôn ở gần nhà. Bây giờ cô giáo còn một thân một mình, như con cò mà đi ăn đêm. Anh Võ Long Tôn chết trong tù ở ngoài Bắc. Phùng Xuân gặp chỉ luôn cò cò trên chiếc xe đạp.

Thằng Ken cũng còn may mắn. Nếu khi trước Phùng Xuân hông đem nó về nuôi thì biết đâu nó chết trong “Opération Baby lift” ngày 04-04-1975. Rồi bây giờ, năm 1987, Phùng Xuân nghe tin ở đài VOA có chương trình Amérasian Home Coming Act.

– Ken, có chương trình Mỹ rước mấy người con lai, để ba làm giấy tờ cho con đi.

– Ba, mấy hôm nay cái bà ngoại gì ở Cái Bông gặp con mấy lần ở chỗ con chạy xe ba gác.

– Bả làm gì?

– Bả hỏi con có muốn đi Mỹ hôn?

– Con coi chừng nghen. Lúc rày có những người đang lùng con lai để đem bán cho những người muốn đi Mỹ.

Mà thực, chương trình ra đi với con lai rộ lên như núm mối tháng bảy. Ai ai cũng hối hả tìm ra một đứa con lai. Lai đen hay lai trắng đều được. Những đứa nhỏ có hình dáng giống người Âu da trắng đều được nhìn nhận là đứa con lai. Làm ra đứa con lai đen có khi dễ dàng hơn đứa con lai trắng. Họ lên miệt Kontum-Pleiku tìm trẻ em người Thượng hơi to con, da ngăm đen, tóc quăn. Họ đem em bé đó về Sài Gòn phù phép với công an phường, quận. Tùy theo số chi nhiều hay ít, hồ sơ sẽ hoàn tất mau hay lâu. Những trò ma quỉ đó qua mặt được nhân viên toà Lãnh sự Mỹ. Trường hợp lai trắng cũng vậy.Trẻ em ở các đồn điền cao su lai Pháp cũng được xem là con lai trong thời chiến tranh ViệtNam.Và có những gia đình, dòng họ có con lai Pháp từ đời cố hỉ nào hông biết, cũng hô lên là có con lai. Thế là ùn ùn làm hồ sơ. Nước Mỹ thật bao dung. Cứ nhắm mắt nhắm mũi nhận con lai của ai cũng là con của mình. Và một số trẻ em lai đen, trắng được qua Mỹ mà chẳng bao giờ tìm ra được cha của mình!

Anh chị năm bán bột ở chợ Bình Tây có bà chị câm đi làm cho Mỹ, sinh ra đứa con gái lai trắng rất đẹp. Hồ sơ cháu ra đến tòa lãnh sự. Gia đình trình bày chi tiết.Sau năm 1975, bà chị câm hông đi làm được, nên anh chị phải mang cháu và bà chị về nuôi. Những anh chàng Yanke thương người phán một cái rụp. Làm hồ sơ cho mọi người trong cả hai gia đình đi hết. Anh chị năm quýnh qua quýnh quáng tìm gặp Phùng Xuân xin dạy gấp “Ăng- lê” để đi Mỹ. Trời ơi! tiếng Anh tui còn chưa rành làm gì dạy nổi tiếng Mỹ cho cả nhà trong vòng hai ba tuần! Số hồ sơ con lai thiệt thực ra nhiều hơn hồ sơ con lai giả nên ông Mỹ khó mò ra.

– Ba. Con hông muốn đi một mình.

– Vậy là để ba làm hồ sơ cho cả nhà cùng đi.

Hồ sơ của Ken cũng hồ sơ thật, nhưng hông hiểu sao nằm ỳ trên quận lâu lắm rồi. Dò tìm được đường dây chạy chọt cũng hông khó. Khổ một cái là phải có “khoen”. Mỗi lần như vậy cũng mất vài khoen. Phùng Xuân cũng mất vài “khoẻn” ở quận, nhưng sao hồ sơ cứ nằm ỳ ở đâu đó. Hai cha con mõi mòn trông ngóng, hỏi thăm mà hông thấy tăm hơi. Hồ sơ người ta nộp sau mình mà họ lên máy bay đi từ lâu rồi. Mòn mõi nhưng Xuân dò tìm đâu còn đường nào nữa. Một lần đưa một khoen cho một ông công an là xong việc rồi họ biến, mình có gặp lại cũng hông dám hỏi thêm…

– Anh có biết tui mời anh ra đây có việc gì hôn?

– Dạ thưa cán bộ, tui hổng biết. Chỉ nhận giấy mời của công an khu vực đưa cho tui, biểu tui cầm giấy mời ra gặp công an thành phố.

Người công an cũng trạc tuổi Phùng Xuân, nước da hơi xạm đen, tóc chẻ đôi đồng đều làm hai bên, ngước nhìn chàng một hồi lâu.

– Hỏi để kiểm tra anh lại một lần nữa, coi anh khai có đúng hông?

– Bao nhiêu bản tự khai tui đều “thành khẩn khai báo” hết trong thời gian tui đi “cải tạo” rồi cán bộ.

– Còn thiếu. Năm 195…, anh có đi Miên gặp một người con trai tên là Trần văn Thành và một cô gái tên Marin Phla có đúng hông? Anh ngập ngừng rồi. Chứng tỏ rằng anh chưa khai hết.

– Dạ có. Nhưng lúc đó còn nhỏ lắm. Chúng tôi biết nhau có lẽ lúc khoảng 15 tuổi.

– Bây giờ anh biết họ ở đâu hôn?

– Dạ hông. Cách biệt nhau hơn ba mươi năm rồi. Hơn nữa tui hông biết nhiều gì họ. Khi đó chỉ là trẻ con gặp nhau thôi rồi quên.

– Nhưng họ hổng quên anh. Tui chính là Trần văn Thành mà anh đã gặp.

– Có thiệt vậy hôn cán bộ?

– Năm 1970, chúng tôi được lịnh trở về SàiGòn, lãnh nhiệm vụ công tác nội thành. Em gái tui nó còn nhớ anh, mà hình như nó có cảm tình nhiều với anh là phải. Nó sục sạo lần hồi mò ra được anh đi lính Sư Đoàn 18. Anh có còn nhớ có lúc anh nhận được hai lá thư của một cô gái bán trong Câu Lạc Bộ Sư Đoàn ở LongBình hông?

Phùng Xuân giựt mình. Có một dạo, Phùng Xuân làm Trưởng Ban Hành Quân Phòng Ba Sư Đoàn. Thường ngày, chàng ăn cơm ở Câu Lạc Bộ. Cô gái tên Ngọc ngồi quày thâu tiền thường mỉm cười nhìn chàng và hay nói giỡn: “ Cho anh mắc nợ rồi khi nào trả cũng được nhen! ”. Và cô ta hông đưa biên lai tính tiền.Làm sao chàng biết bao nhiêu để trả? Phùng Xuân sợ nợ cơm vướng nợ tình. Sau những buổi cơm trưa vắng khách, chàng hay ngồi nán lại nhâm nhi ly trà cho hết thời giờ. Cô Ngọc thường tới ngồi nói chuyện cùng chàng. Khoảng một thời gian sau, chàng nhận được hai lá thư dầy viết bằng giấy học trò của cổ. Phùng Xuân phân vân. Có nên trả lời hôn? Mắc phải thêm một cái nợ nữa thì làm sao? Nhưng may mắn, chàng rời khỏi Phòng Ba.

– Anh hông trả lời gì cho nó hết phải hôn?

– Tôi còn đang lưỡng lự thì phải dời đi nơi khác. Sao cổ hông nói cho tui biết cổ là Marin Pla?

– Đâu có được. Nó đâu được quyền để lộ tung tích. Có như vậy mới khổ cho nó. Sau năm 1978, nó trở về Miên trong cuộc “chiến tranh biên giới Tây Nam”. Rồi tới bây giờ nó chưa được quay trở lại. Nó kêu tui là cố gắng gặp anh và cho nó biết tin tức về anh. Sau năm 1975, có rất nhiều chuyện tui phải làm và quên mất anh. Anh có hồ sơ đi Mỹ theo diện con lai, nhưng công an quận đề nghị giữ lại. Anh có biết gì sao hôn?

– Hông rõ lắm. Nộp đơn lâu rồi, nhưng hổng thấy trả lời.

– Lý do là anh hông chấp hành đúng nội quy. Anh bị bắt lúc anh về Cái Bông, Bến Tre, có dẫn theo đứa con lai. Có đúng hông?

Theo lời kể của Ken, nó có gặp bà ngoại. Phùng Xuân nghĩ là đúng rồi. Chuyện nầy chắc do Anh Thương theo lời xúi dục của gia đình giữ hồ sơ lại. Họ muốn đem Ken đi bán để kiếm tiền hay làm công chuyện gì khác. Chớ chuyện dẫn Ken về Cái Bông đâu có ảnh hưởng gì đến hồ sơ con lai của Ken.

– Anh đi “cải tạo có tốt” hôn?

– Thì anh cũng biết rồi đó. Khi nào học tập tốt thì về!

– Đó  là chính sách của cách mạng. Anh hổng biết chớ tụi tui đã “tiếp cận” với ba của anh. Ổng quen với ông Tư Phước ở đường Ký Con. Họ cũng là  “dân già kháng chiến” còn cảm tình với Việt Minh. Họ hoạt động trong cụm lưới điệp báo kinh tài khi ở Miên.

– Còn bây giờ thì sao. Tui thấy họ chửi tùm lum.

– Đó là các ông già lẩm cẩm. Bây giờ, họ làm gì được nữa chớ?

Phùng Xuân nhớ lại. Quanh bàn ăn đám giỗ gồm có ông Sáu Trạch, ông Bảy Mi, Tư Chà, Tám Khước và Phùng Xuân ở Lương Quới. Câu chuyện xoay quanh mấy anh Mặt trận Giải Phóng Miền Nam. Ông Sáu Trạch và Tám Khước là dân tập kết. Một người-Sáu Trạch- về hưu, một người-Tám Khước- đang làm Trưởng Phòng Thương Nghiệp tỉnh.

– Mầy làm cái khỉ gì vậy Khước?Mua dưa hấu về cho cả đống, để cho thúi rồi đem đổ.

– Trời ơi! Khổ lắm chú Bảy ơi. Dân trúng mùa. Cấp trên kêu xuất tiền ra mua. Nhưng mà mình đâu có đem bán qua tỉnh khác được. Mình chỉ đổi thôi. Họ cũng trúng mùa dưa hấu như mình. Họ đâu chịu đổi dưa hấu với mình. Bán ra trong tỉnh thì hông hết. Trời ơi. Cái “cơ chế thị trường xã hội chủ nghĩa” gì mà kỳ cục vầy mà hổng biết. Hồi ở ngoài Bắc tui đâu có học mấy cái thứ nầy!

– Khước! Mầy đi tập kết mấy chục năm học hành cái đách gì mà về làm sao dân chúng kêu trời hổng thấu. Họ chưởi cha, chưởi mẹ tụi bây. Đụ mẹ, tao có mấy con tôm càng xanh tát mương xong, mang lên cho con nhỏ trên tỉnh. Đi ngang qua Cầu Kinh, xét cũng bị lấy. Tụi bây đi tập kết học hành cái con mẹ gì. Ra ngoải tụi bây bị đì cho chết con mẹ hết chớ học đách gì. Tao gặp thằng Hai Thẹo. Tao hỏi nó mầy tập kết ra Bắc có học hành được gì hông. Nó trả lời tỉnh bơ:“ Có học được con mẹ gì, anh Tư. Tối ngày tui đi chăn nợn không à!”

Tám Khước biết ông anh của mình-Tư Chà- hay nói móc lò, xỏ xiêng và phang ngang bửa củi, nên đành ngồi im, xoay qua xoay lại nhìn ông Sáu Trạch và ông Bảy Mi. Nó thấy hai ông nầy cũng ngồi im nên lẳng lặng lấy đũa gắp con tép luộc bỏ vô miệng nhai tóp tép, nhìn ra sân.

Ông Sáu Trạch ngồi im lìm, thỉnh thoảng ngó qua ông Bảy Mi. Hình như hai ông cảm thấy mình bị phản bội. Thời trai trẻ theo Thanh Niên Tiền Phong, theo Việt Minh chống Pháp, bây giờ hóa ra công cóc! Và họ cũng bắt đầu rủa đám VC cắc ké. Rủa thì rủa vậy chớ họ làm gì được. Họ bị cho ra rìa hết rồi. Chỉ ngồi đó mà mơ ước lại thời “Việt Minh huy hoàng”?

Phùng Xuân hông can dự vào câu chuyện. Chàng rời khỏi bàn ăn, bước ra đứng trước sân nhà. Cây mai vàng có từ lúc Xuân còn nhỏ, bây giờ già cỗi, nên ai đã đốn sát tận gốc. Những tược non đã vươn mạnh lên. Rồi đây, mai mốt cây mai nầy sẽ tốt sum sê, đâm chồi cho nhiều bông. Trước sân nhà lại có cây mai vàng mới.

Mỗi người có một lý tưởng. Đời người có thể tàn tạ, nhưng lý tưởng tốt đẹp bao giờ cũng sống mãi với thời gian. Hai ông già đó nuôi dưỡng lý tưởng của các ổng cũng tốt đẹp chớ đâu có xấu xa gì, chỉ vì bị VC dối gạt nên đành hối tiếc…

Phùng Xuân nhìn Thành. Chàng hông muốn dây dưa với nó. Nhờ vả làm gì? Biết đâu trong đầu người bạn chỉ quen sơ sơ hồi nhỏ đang tính toán điều gì? Nhưng dù sao Xuân cũng biết được một điều là hồ sơ con lai của Ken khó lòng đi trót lọt. Hồ sơ sẽ nằm vĩnh viễn ở quận hoặc có thể bị tiêu hủy.

Những người tù “cải tạo” như cá nằm trên thớt. Làm sao mình có thể đối chọi lại được với họ. Mình phải tìm cách ra đi. Nhưng bằng cách nào? Đường biển hay đường bộ? Đường biển thì có thể đi nhiều người. Có những gia đình ra đi hông bao giờ được tin tức, mất xác trên biển cả vì giông bão hay vì cướp biển giết sạch sau khi lấy hết của cải và hãm hiếp phụ nữ. Đường bộ băng qua đất Cao Miên rồi đền Thái Lan cũng rất nguy hiểm, chỉ có thể đi một mình, hông thể dẫn cả một gia đình đi được. Kim Lệ, con của ông Mười Năng ra đi đã từ lâu mà vẫn bặt tăm, có thể bị bắt và bị hãm hiếp rồi vùi thây nơi rừng sâu. Chiến tranh giữa VC và Khmer Đỏ sẳn sàng giết những người băng rừng. Chắc Thành và Marin Phla cũng là những kẻ góp phần gây ra tội ác đó.

Phùng Xuân còn đang quần quật ngày đêm làm kiếm tiền để có dịp đến cũng vọt thì chiến tranh Việt-Miên chấm dứt năm 1989. Tiếp theo bức tường Bá Linh bị phá sập ngày 09 tháng 11 năm 1989 và rồi Cọng Hoà Dân chủ Đức sụp đổ năm 1990. Người ta hông nghĩ là điều gì sẽ xảy ra nữa. Nhưng “thành trì” của Quốc tế Vô Sản: Cọng Hoà Liên Bang Xô Viết cáo chung năm 1991 làm mọi người ngỡ ngàng…

Rồi Vân cũng gặp Xuân nhiều lần. Cô nàng hông còn cố tránh né chàng mà lại còn tỏ ra săn đón chàng. Tình cũ hông rủ cũng tới! Hay Vân đã nhìn thấy những gì  tệ hại của  chế độ nàng tôn thờ bấy lâu nay? Hay là những sự sụp đổ gần đây của thế giới Cộng Sản làm nàng thay đổi “lập trường”. Ở tuổi sồn sồn năm mươi, cô nàng vẫn còn xuân sắc. Hơn nữa người chồng vừa mới chết. Nhưng Phùng Xuân hông còn có gì để hối tiếc nữa. Lửa rơm thường cháy rụi và hông bao giờ để lại chút than ủ ngấm ngầm nào hết…

“ Lần sau mình về lại Mỹ Tho đi nghen mình. Ờ hén, mình. Rồi mình chắc chắn sẽ trở lại Mỹ Tho. Sao chỉ có mình mình? Còn con mình nữa chớ mình!”. Tiếng nói Yvette vẫn còn ngân vọng và hương bông cau ngào ngọt vẫn còn đượm nơi những sợi tóc hớt bum bê. Than đước nồng ủ có khi nào tắt ngúm được đâu.

Con đường lên nhà Chúc vẫn như mọi ngày, nhưng hôm nay Xuân thấy xa hơn vì đây là lần cuối chàng lên từ giã Chúc để đi Mỹ. Căn nhà cũng còn xập xệ. Mùa hè mái tôn hắt nóng, nóng điên người. Mùa mưa tiếng mưa nổ, nổ rang như tiếng pháo Tết.

Cô Huệ mang ly nước mía mời Xuân. Cổ bây giờ đã gần ngoài bốn mươi. Tuổi xuân của cổ lớn lên là ăn đói triền miên và làm việc cực nhọc. Người hơi già nhưng ngó cổ cũng còn đượm chút hương sắc.

– Cô Huệ có muốn đi Mỹ hôn?

– Có muốn cũng không được. Làm sao đi được anh?

– Có nhiều người bạn của tụi tui đi ở tù về bị vợ bỏ đi lấy chồng khác hay cũng có đứa chưa vợ. Bây giờ tụi nó cũng rắp ranh tìm một người đàn bà giỏi giang, cưới hỏi đàng hoàng rồi đi qua Mỹ. Chúc, trong đám bạn của mình làm gì hông có người. Mầy ráng tìm cho cổ một người chồng đàng hoàng để bù cho cổ những ngày khổ cực phụ vợ mầy để nuôi mầy.

– Cậu khỏi lo.Đã có mối mang đâu đó hết rồi. Nay mai gì đây rồi cũng sẽ lên đường bây giờ.

– Mầy nhứt định hông nộp hồ sơ đi Mỹ hả Chúc?

– Không. Tớ còn cha mẹ già hai bên. Vợ tớ không chịu đi. Hơn nữa tớ cũng muốn sống chết với cái xứ sở nghèo đói nầy.

Chúc lấy cái Lan, con bác Trần, lúc cô bé khoảng 18 tuổi nên bây giờ có một bầy sáu đứa gái nheo nhóc. Mấy năm nó đi ở tù, gia đình bác Trần đùm bọc đàn con nó. Cô Huệ bương chải giúp chị nuôi đàn cháu để chị có tiền đi thăm nuôi chồng. Sau khi đi tù về, nó hông chịu về Bàu Sen ở Trảng Lớn, Tây Ninh. Bên vợ ky cỏm mua cho căn nhà ván thông ộp ẹp lợp tôn. Khi Phùng Xuân lên gặp nó thì thấy trước nhà có một xe nước mía. Cha con đang quay quần sống nhờ cái xe đó.

– Mầy hổng sợ cọp Cọng Sản sao? Mầy còn nuốm níu làm gì?

– Liên xô sụp rồi chắc cũng sắp tới phiên nó.

– Còn tao hông nghĩ vậy. Cọng Sản Việt Nam ác độc, thâm hiểm khôn lường hơn chắc nó sống dai. Nó giết đồng loại hông gớm tay thì nổi dậy chống nó hơi khó.

– Nhưng có ngày rồi nó cũng chết.

– Biết chừng nào mậy?

– Mầy đi Mỹ thì sướng cái thân mầy. Mầy sẽ sống một đời ly hương nơi xứ lạ quê người. Tớ nói thật với cậu nhen. Rút cuộc rồi cậu sẽ như Hồ công Trừng hay Lý Long Tường thôi. Tớ ở đây, đói tớ có nồi canh rau đay, có cà dầm tương tớ ăn. Có gì tớ sẽ nói bọn trẻ cái thời thanh bình đã qua. Nói mãi rồi chúng nó cũng biết mà!

– Tao cũng chưa biết cái xứ Mỹ xa xôi đó như thế nào nữa. Nhưng ra đi là chấp nhận vì ở đây con cái tao học hành hông được. Tụi nó học đến tú tài rồi khựng lại, đâu có tiến lên được. Riêng thằng con lai thì bị đì còn dữ hơn nữa.

Hà chính ư mãnh hổ” nên mỗi người phải liều mình ra đi. Biển Đông sóng gió hung hiểm, giết chết biết bao nhiêu mạng mà người Việt vẫn liều mình vượt biển cả.

Đành rằng tao sẽ nhớ xứ dừa của tao, nhớ Sài Gòn của tao. Nhưng ở đâu an cư lạc nghiệp là quê hương mình ở đó. Mầy nói tao như Hồ Công Trừng hay Lý Long Tường cũng phải, nhưng chỉ đời tao thôi. Con cháu tao ở thế hệ F2, F3, F4… thì hông như tao. Tụi nó sẽ hông bao giờ nhớ về quá khứ xa xôi và chúng nó sẽ coi nơi sinh ra, cưu mang tụi nó như là quê hương của tụi nó. Cái quê hương mình học trong Quốc Văn Giáo Khoa Thư đã xa lơ xa lắc rồi mầy ơi!

Mầy đừng bao giờ sống trong quá khứ, sống trong kỷ niệm. Những thứ đó sẽ làm cho mầy sống dở chết dở trong đời sống. Mà có bao giờ có quá khứ, hiện tại và tương lai đâu mậy? Đó là ý niệm thôi. Không-thời gian trôi vùn vụt. Hãy nhìn về phía trước.Có cái gì tồn tại ở phía sau đâu mậy?

Bây giờ, Phùng Xuân cũng hông còn muốn đấu lý với thằng bạn đã có một thời cùng sống chết với mình. Mấy lần trước hai thằng tranh cãi sôi nổi về Chiêu Lỳ Phạm Thái. Sau một thời gian đi tù về, mỗi thằng có cái nhìn cuộc sống hiện tại khác đi. Hai đứa ngồi im lìm một hồi lâu. Đột nhiên Chúc đứng lên, đến cái bàn kế bên mang bát điếu ra.

– Mời bác!

Phùng Xuân nhìn Chúc, mỉm cười nghe giọng điệu Bắc Kỳ của nó. Hồi ở tù, hông có thuốc, quá thèm, Xuân đã thử một điếu, say lăn quay mòng mòng, chút nữa đút đầu vô bếp. Và còn bây giờ, Xuân đã bỏ hút từ lâu. Và nể tình thằng bạn lâu năm và hơn nữa, có lẽ chẳng khi nào gặp lại nó, Xuân kéo bát điếu về mình, ve ve viên thuốc… Và rồi vói lấy nang tre đốt cho cháy… Tiếng nước trong bình kêu ro ro. Phùng Xuân chưa kịp thả hơi dài tuôn ra thì đã thấy trời đất ngã nghiêng. Đâu đây văng vẳng tiếng Chúc ngâm nga(?)

 

Thế sự du du nại lão hà.

Vô cùng thiên địa nhập hàm ca.

Thời lai đồ điếu thành công dị.

Vận hãm anh hùng ẩm hận đa…

 

Đúng rồi… Đới nguyệt ma… Đặng Dung. Mài gươm dưới trăng sáng ngà! Đâu phải là trăng suông đâu! Mệnh nước nổi trôi, lúc thịnh lúc suy. Có một ngày, có người mài gươm vung lên giúp nước. Nước Việt gấm vóc sẽ huy hoàng.

 

 

Việt Nam năm 1966

Florida năm 2016

 Lê Phùng Xuân

 

 

 

 

 

 

 

 

Lời cuối sách

 

– Bản thảo và tài liệu bị mất, môi trường sống bị xáo trộn mấy bận, nên người viết phải viết đi viết lại nhiều lần. Vì thế thời gian kéo dài từ năm 1966 đến năm 2016 mới có thể viết xong.

– Một vài tên người trong truyện nếu có trùng tên là ngoài ý muốn của người viết.

– Phần viết về đời lính có nhiều chữ tục tĩu. Nếu bỏ, hông lột trần được hết  đời sống của họ, nên giữ lại. Xin bỏ qua cho.

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s