Trung Cộng tiến ra đại dương

Bài 1: Đối ngoại Trung Cộng

SGTT.VN – Về mặt kinh tế, từ thời điểm 2000, Bắc Kinh đặt chỉ tiêu GDP đến năm 2020 tăng 4 lần trên con số 4.3 ngàn tỷ USD (2000). Nếu với đà gia tăng GDP khoảng 10%/năm hiện nay thì mục tiêu này của TQ có thể đạt sớm hơn 2020.

tau

Trong kế hoạch xây dựng hải quân biển xanh (blue water), Trung Quốc muốn vô hiệu hóa hệ thống chống tên lửa TMD của Mỹ ở Châu Á – Thái Bình Duơng bằng cách phát triển các tàu ngầm hạt nhân.

Những tàu ngầm có vũ khí hạt nhân sẽ phá vỡ hệ thống phòng thủ TMD của Nhật – Mỹ. Trung Quốc sẽ tập trung sâu hơn vào năng lực chiến tranh bất đối xứng để chống lại sự vượt trội về kỹ thuật của Mỹ.

Phong trào đòi độc lập của Đài Loan bị thoái trào qua tuyển cử và sự mơ hồ của Mỹ trong việc đảm bảo an ninh cho Đài Loan, khiến Trung Quốc tin rằng Mỹ sẽ không ủng hộ cho một tuyên bố độc lập chính thức của đảo quốc này.

Dẫu vậy tháng 1.2010, Đài Loan vẫn tìm cách được mua gói vũ khí 6,4 tỷ USD cùng với các tên lửa Patriot và Harpoon tiên tiến nhất của Mỹ, [1] không kể gói 60 chiếc F16.

Đã có nhiều nghiên cứu nhằm làm tối thiểu các khác biệt, hiểu nhầm về quan điểm của hai bên Trung Mỹ về vấn đề Đài Loan đã các bên tiến hành, một phần nhằm tránh các cuộc “cướp cò”[2] cho không chỉ ba phía liên quan.

Trung Quốc sử dụng Bắc Hàn như một sức mặc cả để phi hạt nhân hóa Đông Bắc Á.

Dù tự ưu tiên phát triển năng lực bằng hạt nhân, TQ sử dụng Bắc Hàn theo từng cấp độ của “con ngáo ộp” để hạn chế khả năng tiếp cận kỹ thuật và hạ thấp sự hợp lý của phát triển nguyên tử từ phía Nam Hàn và Nhật Bản.

Như vậy, Trung Quốc nỗ lực để Bán đảo Triều Tiên và vùng biển Nhật Bản là phi hạt nhân nhưng đang vấp phải sự bất kham của Bình Nhưỡng, khi rút ra khỏi Hội Đàm Sáu Bên vào 2009.

Kế hoạch trung hạn của Bắc Kinh ở thời điểm 2012 là duy trì nguyên trạng quan hệ với các nước phương Tây: kiềm chế sao cho không bộc lộ sự đột biến trên bình diện kinh tế, quân sự và ủng hộ các sáng kiến Âu Mỹ liên quan đến vấn đề nguyên tử Iran, giảm nguy nhiễm môi trường, sở hữu trí tuệ.

Chia cắt Ấn Độ và Pakistan trong quan hệ với Mỹ thông qua ngoại giao kinh tế, siết chặt quan hệ với Pakistan để làm đối trọng với sức mạnh hạt nhân Ấn Độ, Trung Quốc phóng đại khả năng nguyên tử của Pakistan để Ấn Độ tập trung sức mạnh đối phó về huớng Tây (Pakistan).

Gần đây, (2012) Trung Quốc quay sang đấu dịu với Ấn Độ và thắt chặt quan hệ kinh tế với Pakistan.

Trong năm 2001, Trung Quốc cam kết viện trợ kinh tế cho Pakistan là 620 triệu USD còn năm 2009 các khoản đầu tư vào năng lượng của Trung Quốc vào Pakistan là 700 triệu USD[3].

Ve vãn Đông Nam Á và Nam Á và Iran bằng hợp tác kinh tế và ngoại giao với một loạt các gói ODA, hoặc thông qua các tổ chức quốc tế, Trung Quốc còn theo đuổi chiến lược “Chuỗi Ngọc Trai” để có đường ra cảng biển từ Đông Nam Á và Nam Á, gia tăng thương mại với Châu Phi.

Năm 2007, tổng giá trị thương mại Trung – Phi Châu là 7 tỷ USD đưa Châu Phi lên hàng đối tác thứ hai của Trung Quốc.

Trung Quốc tập trung vào các nước Châu Phi giàu năng lượng và các nước không dân chủ như Congo, Nigeria và Sudan.

Họ sử dụng quyền phủ quyết ở Hội đồng Bảo An LHQ để bảo vệ các đối tác như Zimbabwe, như ngăn cản quốc tế cấm vận chế độ Mugabe 2008. Trung Quốc đã bỏ phiếu trắng bốn lần về xung đột Dafur vào 2004, 2005 và 2006.

Năm 2009 Trung Quốc đã bỏ phiếu trắng cho cấm vận chống Etrirea, đối tác lâu năm của Trung Quốc. Etrirea cũng như Sudan là khu vực giàu tài nguyên, quan trọng về địa lý chiến lược và là một nước vùng biển Đỏ giáp ranh Sudan.

Tại vùng Vịnh, Trung Quốc có quyền lợi vững chắc khi ủng hộ chế độ hiện thời tại Iran.

Trung Quốc là nhà cung cấp vũ khí chính yếu của Iran với những thỏa thuận đối tác năng lượng quan trọng, trong đó có dự án dầu khí Yadaravan, 51% của Trung Quốc.

Thỏa thuận có tổng giá trị 100 tỷ USD với giếng dầu được kỳ vọng sản xuất 300.000 thùng dầu mỗi ngày .

Cân bằng lực lượng với Mỹ thông qua trục liên kết với Nga- Iran- Bắc Hàn cũng là một trọng tâm của Trung Quốc.

Trung Quốc hoặc Nga không thể đơn phương đối đầu với Mỹ bằng sức mạnh quân sự. Do vậy, cấu trúc chiến lược chi phối thế kỷ 21 là “đối tác chiến luợc” thay vì đồng minh quân sự có ràng buộc và chính thức.

Bắc Kinh và Moscow vẫn có thể thể hiện mình như những thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế trên các diễn đàn khu vực và đa phương thay vì chỉ là những “kẻ phủ quyết” hay “phá bĩnh”.

Bắc Hàn không thể trực tiếp đối đầu với Mỹ nhưng nước này là một mối nguy hiển nhiên cho bán đảo Triều Tiên và Nhật Bản.

Bắc Kinh đã bỏ nhiều công sức trong quan hệ với Moscow và Bình Nhưỡng và là thành viên trụ cột của nhóm SCO (Shanghai Cooperation Onganization).

Trung Quốc lôi kéo Đông Nam Á ra khỏi vòng ảnh hưởng của Mỹ – Nhật và vào vòng ảnh hưởng của Trung Quốc bằng ngoại giao kinh tế.

Trung Quốc tham gia vào diễn đàn ARF (1993), Hội thảo ASEAN (1996) và Thỏa thuận tự do thương mại (FTA) Trung Quốc – ASEAN (2003) đã cho phép Trung Quốc gắn kết cao hơn với Đông Nam Á.

Khu vực này vốn là nơi tập trung sản xuất công nghiệp do Nhật chi phối và hầu hết các nước ASEAN đang hợp tác với Mỹ về quân sự.

Dù cho Trung Quốc đe dọa đến các năng lực của các ngành công nghiệp sơ cấp và thứ cấp của ASEAN, ngược lại FTA cho phép các nước Đông Nam Á gia tăng khả năng thâm nhập vào thị trường nội bộ lớn nhất thế giới.

Bắc Kinh đã đầu tư nhiều thứ vào ngoại giao tư bản trong hai thập kỷ qua nhằm xử lý các bất đồng với các nước trong Biển Đông như Malaysia, Philippines và Việt Nam.

Bài 2: Chiến lược địa chính trị và triển khai hải quân

SGTT.VN – Tiếp theo những kế hoạch tổng thể trên, giới làm chính sách Bắc Kinh từng có lúc ưu tiên cho sự mềm mỏng ngoại giao, chờ đợi thời cơ, song ảnh hưởng của chủ nghĩa dân tộc đại Hán từ xa xưa và cả thời kỳ Mao Trạch Đông[1] khiến cho chính sách của quốc gia này ngày càng tiến xa hơn trong bước phiêu lưu quân sự và xâm lấn của họ.

Chính sách càng mạnh bạo, phương cách càng bớt đi tính ngoại giao và gia tăng tính quân sự.

Gia tăng quân sự ra ngoài nước trong thế giới hiện đại, tại đây phần của không quân và hải quân sẽ là chính yếu.

Chính giới TQ tác động đến dân chúng TQ nhằm chuẩn bị quân lực và dân tộc hóa các hoạt động lấn chiếm của mình.

Chủ nghĩa dân tộc được đưa lên một mức cao, sẽ chính là nhiên liệu đẩy sự phiêu lưu của TQ đi xa hơn, mang dáng vẻ hợp lý (nội địa) hơn cho lý do hành xử của guồng máy chính quyền.

Hải quân Trung Quốc thừa hưởng chiến lược hải quân cũ của Thống chế M.V.Frunze vào thập kỷ 1920 – trường phái Sô Viết cũ (old school) vốn cho rằng hải quân là một bộ phận của quân đội nói chung và phải hỗ trợ lục quân tại các vùng cận sông biển.

Theo lý thuyết này, lãnh đạo hải quân Liên Xô Vladimir Nikolay đưa ra cách đánh “hạm nhỏ đánh trận nhỏ” vào 1927.

Hầu hết các sĩ quan của trường phái này đã không còn trong quân đội sau cuộc chỉnh huấn 1937 của Stalin. Tuy nhiên, ảnh hưởng của lý luận này vẫn còn đó mãi đến khi Stalin qua đời 1953.

Một thời gian từ 1949 đến 1960, thiết kế dòng chính của hải quân TQ đi theo cách của Nga Sô Viết với các đặc điểm của một chế độ mới là: cần phải trấn áp chống đối nội bộ, sẵn sàng chống lại tấn công của các nước ngoài, lưu dụng nhân sự chế độ cũ, thiếu hụt tài chính và kỹ thuật trong khi các tàu chiến thù địch lừng lững ngoài khơi.

Năm 1950 Liên Xô điều 500 sĩ quan kỹ thuật sang hỗ trợ TQ, đến 1953 con số này là 2000. Ngược lại cũng có hàng ngàn sĩ quan TQ sang Liên Xô học tập trong đó có tướng Xiao Jingguang.

Khi thị sát hải quân tháng 2.1953 trong chiến tranh Triều Tiên, Mao phát biểu “chúng ta cần có hải quân mạnh để chống bọn đế quốc xâm lược”.

Tháng 10.1953, Mao lệnh cho Hải quân các nhiệm vụ chống can thiệp của Quốc dân đảng bảo đảm thông biển, chuẩn bị chiếm Đài Loan và đề kháng tấn công từ biển.

Sau đó TQ đã chiếm được các đảo nhỏ từ Đài Loan trừ Kim Môn, Mã Tổ. Giai đoạn này vẫn là giai đoạn của phòng thủ bờ biển (coastal defense) cho Hải quân TQ.

Đến năm 1954, TQ mới nghĩ đến phát triển hải quân nước xanh (blue water), và vẫn chưa nói đến sự độc lập của hải quân với lục quân.

Giai đoạn những năm 1950 và 1960 Bắc Kinh tập trung vào võ khí hạt nhân và tàu ngầm để phóng hạt nhân.

Ảnh hưởng lớn của trường phái Sô Viết “hạm nhỏ đánh trận nhỏ” ngày đó cũng vì lý do cơ sở vật chất và tài chính của Trung Quốc còn yếu kém.

Khi sang Liên Xô năm 1958 học tại Voroshilov viện Hải Quân ở Leningrad, Lưu Hoa Thanh[2] chịu ảnh hưởng nặng Tổng Tư Lệnh Hải Quân Liên Xô S.G.Gorshkov (1956-1985).

Giai đoạn này Gorshkov tranh cãi với Krushev (người đề cao vai trò võ khí hạt nhân) bằng học thuyết thống lĩnh biển (sea supremacy) quyết tâm thu hút một phần nguồn lực vốn lý ra đã đành trọn cho võ khí nguyên tử.

Gorskov khẳng định “Nhằm bảo vệ quyền lợi Liên Xô trong thế giới, hải quân cần có vai trò chiến lược và độc lập không chịu sự chỉ huy của một bộ chỉ huy lục quân – hải quân chung nhất, và hải quân phải có khả năng hoàn tất các công việc chiến lược vì quyền lợi quốc gia trên biển”.

Giai đoạn 1960 đến 1976, TQ có nỗi lo sợ từ phía Bắc do đã có những cuộc đụng độ trên bộ. Giai đoạn này hải quân TQ vẫn hoạt động như một trợ thủ của lục quân một khi có nguy cơ từ Liên Xô.

Trở về Trung Quốc, Lưu Hoa Thanh trở thành Tổng tư lệnh Hải Quân và mau chóng phát triển những ý tưởng của Gorshkov trong khoảng thời gian thập kỷ 1980, khi người Trung Quốc mở của và phát triển kinh tế.

Đến đầu năm 1982, Lưu Hoa Thanh ra lệnh cho Học viện Nghiên cứu Hải quân tìm hiểu về phòng thủ ngoài khơi (offshore defense) và vẽ lên hai phòng tuyến.

Phòng tuyến 1 đi qua quần đảo Kurile, Nhật Bản, quần đảo Ryukyu, Đài Loan, Philippines, Borneo và Natuna Besar.

Phòng tuyến 2 bao trùm ra ngoài phòng tuyến 1 một diện tích khoảng 80% phòng tuyến 1 đã bao phủ.

Từ đó trở đi, hải quân TQ đã có hẳn một không gian giả định cho việc phòng thủ ngoài khơi (offshore defense) thay hẳn khái niệm phòng thủ bờ từ thời Liên Xô.

Năm 1986, Trung Quốc tổ chức hàng loạt hội thảo để bàn luận giữa trường phái cũ (old school), hải quân nước nâu (brown water navy) phòng thủ bờ biển (coastal defense) thành ra hải quân nước xanh (blue water navy) vào tháng 2.1987.

Nhật báo Quân đội Giải phóng đăng bài của Cai Xiaohong, lần đầu tiên khẳng định Hải Quân là “công cụ chiến lược” và các biển và đại dương là “không gian chiến lược mới”.

Trung Quốc từ đó đã tách hẳn Hải quân ra khỏi nhiệm vụ phụ thuộc quân đội nói chung và lục quân nói riêng và khẳng định “nhằm chiến thẳng các cuộc chiến hiện đại trên biển, chúng ta phải phối hợp không quân, tàu chiến và tàu ngầm và tạo thành một mũi tiến công tổng hợp”[3].

Theo niên giám Anh: “The Military Balance” trong 10 năm lục quân Trung Quốc đã giảm tỷ lệ võ trang từ 80,9% (1980) xuống 77,97% (1985) và đến 75,9%(1992) trong khi các năm tương ứng đó (1980, 1985 và 1992) Trung Quốc tăng từ 11,01% lên 12,85% và 15,55% (cho hải quân) và 8,09% lên 9,11% và 8,58% (cho không quân).

Chi tiết không được công bố nhưng theo số lượng võ khí nhập từ nước ngoài về, ưu tiên Trung Quốc dành cho hải quân và không quân là điều không khó nhận ra.

Các võ khí mới có bốn khu trục hạm Sovremenny, bốn tàu ngầm lớp Kilo, 48 máy bay SU27SK, một giấy phép sản xuất 200 chiến đấu cơ tương tự và thêm 55 chiếc SU30MKK. Trung Quốc đã nhập cả dàn S300PMU1 và Sam TorM.

Tỷ lệ mua sắm cho lục quân, hải quân và không quân là ngót ngét 2:3:5. Các chuyến ra đại dương của Hải quân Trung Quốc trong vòng 10 năm (1992-2002) là 30 lần so với tổng các chuyến đi 30 năm trước cộng lại.

Giữa thập kỷ 80, Trung Quốc đã gia tăng yêu sách chủ quyền cho vùng lãnh hải từ 12 hải lý lên 200 hải lý.

1898bc7034946dbbb410a6ead5dd127d

Hai tuyến phòng thủ số 1 và số 2 của TQ tự dựng. Nguồn www.globalsecurity.org

Trung Quốc đòi hỏi điện tích 4,7 triệu km2 trong biển Nhật Bản, Hoàng Hải và Biển Đông.

Trung Quốc cho rằng 30% trong tổng số 800.000 km2 Biển Đông (South China Sea) “của Trung Quốc” đã bị nước khác lấn chiếm, trong đó khoảng 420.000 kmlà do Philippines, 70.000 km2 là do Việt Nam, 270.000 km2 (Malaysia), 50.000 km2(Indonesia) và 3.000 km2 (Brunei).

Tại Biển Đông Trung Quốc (Biển Nhật Bản), và Hoàng Hải, Trung Quốc tranh chấp 30.000 kmvới Bắc Hàn, 170.000 km2với Nam Hàn.

Với Nhật Bản, Trung Quốc có vùng tranh chấp 65.000 km2, trong đó có Điếu Ngư/Senkaku và 5 đảo nhỏ cùng bãi San’an.

Ngoài ra Trung Nhật còn bất đồng ở vùng thềm lục địa, liên quan 770.000 kmmặt biển. Không muốn chia sẻ thềm lục địa với Nhật, Trung Quốc muốn lấy đường biển đi qua Okinawa làm đường ranh giới.

Trong khi Nhật chấp nhận chia thềm lục địa với Trung Quốc và lấy đường trung gian của Đảo Nanniu làm đường ranh giới. Để phản đối điều này, từ năm 1998 đến 2002 Trung Quốc đã cho tàu vào vùng EEZ của nhật đến 40 lần!

Lý do tranh giành của Trung Quốc ở biển Nhật Bản và Biển Đông là vì lợi ích kinh tế ở khu vực này.

Hải quân Trung Quốc đã tuyên bố khảo sát toàn bộ Biển Nhật Bản, Hoàng Hải và Biển Đông.

Trong đó một trữ lượng 45 tỉ tấn khí tự nhiên và dầu mỏ là nằm ở Biển Đông (trị giá 1.500 tỉ USD).

Khu vực Trường Sa và Biển Nhật Bản là khu vực giàu dầu mỏ nhất – 13,7 đến 17,7 tỉ tấn dầu, trị giá 500 tỉ USD. Theo China Daily 13.12.1992, từ 1995 Trung Quốc đã nhập khẩu dầu. Trung Quốc đang chạy đua với thời gian để giành các vùng này.

90ef0a52952d463b9ed1642a8d9135ca

Lược đồ xung đột biển giữa TQ với 29 nước xung quanh từ 1949 đến đầu thập kỷ 2010. Ảnh: theinternationalpolicy.com

Âm mưu vừa chạy đua thời gian, nhưng TQ cũng vừa sử dụng thời gian kéo dài để gia tăng vị thế.

Theo khái niệm “hiệu lực thời gian” (time effect) trong luật Quốc tế, nếu một quốc gia quản lý thực tế một lãnh thổ tranh chấp trong một thời gian nào đó, quốc gia đó sẽ có thể tuyên bố làm chủ vùng lãnh thổ đó. Thông thường thời gian đó là 50 năm.

Một số học giả tại viện Hàn lâm khoa học xã hội Trung Quốc còn kêu gọi nếu Trung Quốc không nhanh chóng “giải quyết” Trường Sa, đây sẽ là mối nguy cho Trung Quốc[4].

Họ còn dự đoán chắc chắn rằng từ 10 đến 30 năm nữa sẽ phải có đụng độ lớn tại Biển Đông. Ngược lại sự gia tăng căng thẳng tại Biển Đông sẽ làm giảm nguy cơ đối đầu của Trung Quốc và Đài Loan vì có thể hai nước này có chung kẻ thù, miễn là Đài Loan không tuyên bố độc lập.

Tại đây nổi bật sự hung hãn có toan tính sao cho cả trên phương diện quân sự và tận dụng luật pháp để họ có lợi tối đa.

Bài cuối: Mộng bành trướng và tiềm lực quân sự

SGTT.VN – Tháng 10.1992, tại đại hội Đảng lần thứ 14, Tổng bí thư Giang Trạch Dân nhấn mạnh “nhiệm vụ của quân đội Trung Quốc từ đây trở đi là bảo vệ thống nhất đất nước, toàn vẹn lãnh thổ và quyền lợi trên biển”.

Đây là lần đầu tiên một chủ tịch quân ủy Trung Quốc (TQ) nói về “quyền trên biển”. Nếu như “toàn vẹn lãnh thổ” trong vùng không bị phá vỡ bởi ý muốn độc lập của Đài Loan, thì mục tiêu chiến đấu để tranh biển của TQ sẽ là nhằm đến các đối tượng đe dọa quyền lợi biển của TQ, tức Philippines, Việt Nam, sau đó là Nhật, Ấn.

Các hạm đội

TQ còn đi xa hơn khi dự liệu Nhật và Ấn sẽ đưa hải quân vào Biển Đông để hỗ trợ các quốc gia chống lại TQ nếu xảy ra sự cố ở Biển Đông nhằm giảm áp lực của TQ ở Biển Nhật Bản và bảo vệ các khu vực mà Ấn đã khai thác cùng Malaysia và Việt Nam ở Biển Đông.

hoa tien

Các tầm bắn của của tên lửa đạn đạo đối hạm của TQ Nguồn: Tạp chí Stratford 2010

Trong thời quan chiến tranh lạnh, Hạm đội Bắc Hải (NSF- đóng tại Thanh Đảo) có nhiệm vụ ngăn chặn hạm đội Thái Bình Dương của Liên Xô nam tiến, do vậy phải phối hợp chặt với lục quân.

Hạm đội Đông Hải (ESP-đóng tại Ninh Ba) chủ yếu tiếp trợ hậu cần và huấn luyện. Sau khi mối nguy Xô Viết không còn nữa, đã có dấu hiệu TQ đầu tư cho ba hạm đội này đồng đều nhau.

Khí tài trọng yếu nhất là các khu trục hạm lớp Luhai 112 và 113 vẫn ở Hạm Đội Bắc Hải. Nhưng đã có chỉ dấu của việc chuyển hướng xuống phía Nam.

Năm 2002, khu trục hạm lớn nhất Luhai 6000 tấn đã chính thức về biên chế Hạm đội Nam Hải (SSF- đóng tại Trạm Giang).

Cũng trong giai đoạn 2002, Hạm đội Bắc Hải vẫn là hạm đội trang bị tốt nhất. Ít nhất ba trong số năm tàu ngầm hạt nhân lớp Ha và một SSBN (tàu ngầm hạt nhân có tên lửa đạn đạo) nằm trong biên chế NSF.

Theo bố trí thì Hạm đội Đông Hải và Hạm Đội Bắc Hải sẽ đảm trách chặn Nhật Bản tiến về nam. Đồng thời hạm Đội Đông Hải chịu trách nhiệm tiếp vận cho Hạm Đội Nam Hải hoạt động ở biển Đông và Ấn Độ Dương và Hạm Đội Đông Hải sẽ nhận nhiệm vụ tấn công Đài Loan.

Đặc biệt hải quân TQ đã thành lập một căn cứ tàu ngầm quy mô lớn tại đảo Hải Nam, cho phép Hạm Đội Nam Hải triển khai nhanh hơn các khu vực phía Nam, trong đó có Biển Đông.

TQ có cổng chính hướng ra Thái Bình Dương và cổng sau lưng nằm trong Nội Á. Suốt lịch sử, bạn và thù của TQ không đến từ cổng chính. Người Mông Cổ, Tartars, Thổ và các bộ lạc đã đến và tấn công TQ từ cổng lục địa, không phải biển.

Sự thịnh vượng và các mối phiền nhiễu đến từ cả hai cổng. Tuy nhiên, chỉ ở cổng giáp biển mà TQ đã bừng tỉnh và cải cách, và cũng chính bởi sự bừng tỉnh này đã khiến TQ tìm mọi cách để thống trị Biển Đông, qua Ấn Độ Dương bằng nhiều cách.

Các chiến lược chuỗi ngọc trai, chiến lược phong tỏa biển, phòng tuyến hai lớp tranh giành biển và đảo với Nhật, Bắc Triều Tiên, Hàn Quốc, các nước Đông Nam Á, cộng với đe dọa các đối tác khai thác biển của Việt Nam và phớt lờ luật pháp quốc tế chính là những mảnh nhỏ của bức tranh tổng thể. Bức tranh của một cường quốc mới nổi bị ám thị về quá khứ, lo âu về vị thế mới và được đốt nóng bởi chủ nghĩa dân tộc cực đoan vốn thường xuất hiện sau thời gian dài trong vị thế nhược tiểu.

 hoa tien1

Các khu vực lâm chiến giả định của ba hạm đội hải quân TQ Nguồn: Tạp chí Stratford 2010

Những bất cập kỹ thuật

Cho dù là một lực lượng hải quân mạnh nhất nhì châu Á với tầm ảnh hưởng lớn ở Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương, hải quân TQ vẫn đang đứng trước những bất cập kỹ thuật mà giới hải dương học gần đây từng đề cập đến.

Chính hải quân TQ nhận ra các thiếu sót về khí tài và những khó khăn để điều chỉnh mặt thiếu sót này.

Tướng Tào Cương Xuyên, chủ nhiệm Tổng cục Quân khí và sau này là bộ trưởng bộ quốc phòng TQ đã từng than phiền rằng lương bổng thấp đã khiến quân đội nước này khó giữ các nhà khoa học và nghiên cứu giỏi và ông này cũng cho rằng công việc phát triển khí giới là một công việc không dễ dàng[1]

Công tác bảo trì và cung ứng khó khăn vì có nhiều hạng mục nhập từ nước ngoài, theo đó gieo ảnh hưởng về thiết kế đối với các tàu mới đóng. Do vậy huấn luyện nhân sự để bảo trì, tiếp liệu và kể cả thử vận hành đều gặp các thách thức không nhỏ. Những thiếu sót này làm giảm hiệu năng của hệ thống tàu chiến và càng trầm trọng hơn khi TQ có thói quen xây dựng các lớp tàu nhỏ từng loạt từ hai đến bốn chiếc.

Giới hải quân TQ đang ra sức cải tiến tính phù hợp của hệ thống và mẫu số chung để bảo trì thiết bị cũng như các hệ quả của mua sắm trong hạn chế ngân sách, xây dựng tàu với thiết bị hỗn tạp và hạn chế bảo trì đại trà do lượng sản xuất các lớp tàu quá ít.

Sự cố tàu ngầm lớp Ming 361 làm tổn thất 70 thủy thủ nằm 2003[2] cũng được quy cho công tác bảo trì chưa đạt chuẩn.

Khả năng đối chọi trên không

Muốn được xem là siêu cường biển hiện đại thì phải mạnh về không lực, cả máy bay có và không người lái, cũng như về tên lửa hành trình và tên lửa đạn đạo.

Hải quân TQ đã cố gắng nâng cấp bằng cách đưa vào hoạt động tàu Luyang II lớp DDG. Hệ thống dạng Aegis của con tàu này là loạt đầu tiên của hải quân TQ có thể cung cấp năng lực không đối không trên diện rộng tốt hơn cho họ.

Những chiến hạm đời trước chỉ có khả năng tự vệ điểm. Hệ thống phòng thủ điểm (point-defense) được thiết kế để tự vệ đối với chính các con tàu trang bị hệ thống còn hệ thống phòng thủ diện (area-defense) sẽ có khả năng bảo vệ một nhóm các con tàu.

Khác biệt nằm ở chỗ hệ thống phòng thủ diện có tầm và khả năng phát hiện, tiến đánh nhiều mục tiêu cùng lúc.

Các tàu lớp Luda và Jianghu không có hệ thống đối không (surface to air); và bốn con tàu lớp Sovremenny mua từ Nga có hệ thống SA-N-7 phòng thủ điểm.

Các tàu lớp Luhu, Luhai, Jiangwei trang bị tên lửa Crotale của Pháp hay phiên bản TQ, tức HQ-6/7 cũng là những hệ thống phòng thủ điểm.

Còn các tàu lớp Luyang I và Luzhou rồi Luyang II dù có tên lửa AAW, nhưng cũng thiếu khả năng phòng thủ diện rộng.

Khả năng đánh tàu ngầm (ASW)cũng là một điểm yếu của hải quân TQ. Khả năng phát hiện tàu ngầm, đặc biệt là từ phía tàu trên mặt nước là không đơn giản. hải quân TQ chưa có khả năng tận dụng các kỹ thuật ASW có sẵn, đặc biệt trong điều kiện phát hiện thụ động dù các kỹ thuật này đã có mặt 40 năm.

Ngoài ra hải quân TQ cũng không có các nguồn lực chống tàu ngầm trên không (airborne ASW), họ chỉ có vài chục máy bay theo nhiệm vụ này. Các thông tin cho thấy hải quân TQ chưa triển khai hệ thống dò âm thanh tại vùng biển của họ.

Trong hai thập kỷ qua, TQ đã cố gắng cải tiến hạ tầng thông tin. Các cải tiến kỹ thuật đã tạo động lực cho thương mại hóa khoa học và họ đã cố kết hợp những tiến bộ này với thương mại, ngân hàng, vận tải và gia tăng sức vận hành của các mạng thông tin hàng không, hàng hải, tàu lửa trên cơ sở điện toán. Công nghiệp điện tử phục vụ chiến tranh của TQ dành ưu tiên cho radar trên tàu, các thiết bị và hệ thống thám báo điện tử đi cùng tàu chiến. Công ty xuất nhập khẩu điện tử và công ty xuất nhập khẩu cơ giới chính xác phải hỗ trợ đặc biệt cho phát triển tên lửa cho hải quân TQ.

Kết luận:

Tính từ khi vẫn còn trao đổi khoa học kỹ thuật với Liên Xô và ứng dụng học thuyết phòng thủ bờ biển (coastal defense) đến nay, TQ đã lập ra một hệ thống lý luận liên quan đến hải dương, hải quân bao gồm kỹ thuật, tầm bắn, lý do kinh tế, địa chính trị, tuyên truyền để ủng hộ cho việc khống chế biển và cả các đại dương.

Trong đó, TQ cũng chuẩn bị những công việc liên quan pháp luật và cử học giả bảo vệ ý đồ của mình, dẫu rằng các lý lẽ về đường chữ U và quyền lịch sử là hoàn toàn không phù hợp với UNCLOS. Không giấu việc muốn ngoi lên vị trí một siêu cường bằng kinh tế, quân sự, địa chính trị và cả sức mạnh mềm, TQ đã tự cho phép mình vẽ lên và thực hiện những vành đai trên biển, trên không và trên bộ sao cho đạt được các mục đích họ đã đề ra.

Chủ nghĩa dân tộc được đề cao, làm nhiên liệu thúc đẩy và làm có vẻ hợp lý cho các hoạt động bất chấp luật pháp quốc tế nhìn từ trong nội bộ TQ.

Điều này cực kỳ nguy hiểm vì TQ đang trượt trên một con đường khác với đa phần thế giới, lại thiếu sự chấp nhận phản biện, nên cuộc phiêu lưu đó sẽ vẫn tiếp diễn.

LÊ VĨNH TRƯƠNG (TỔNG HỢP)

Tham khảo

– Tư liệu Hội thảo Biển Đông KS Sheraton, TP Hồ Chí Minh, Việt Nam, 18-21/11/2012

– Tướng Daniel Schaeffer, Quá trình chiếm đoạt Biển Đông của TQ thông qua việc hiện thực hóa đường chín đoạn, 12/2012

– Geoffrey Till and Patrick C. Bratton, Sea Powers and the Asia Pacific, Routledge 2012

– Shiping Hua, Sujian Guo, China in Twenty First Century,Palgrave , Macmilan, 2012.

– Jurgen Schwarz, Wilfried A.Herrmann & Hanns- Frank Seller, Maritime Strategies in Asia, White Lotus, 2002

– Vijay Sakhuja ,Asian Maritime Power in the 21rst century, 2011, SEAS

-Bernard D Cole, The Great Wall at sea, Naval Institute, 2012

– Michael K.Connors, Remy Davidson and Jorn Dosch, The new global politics of the Asia pacific, Routledge 2012

– Gavin Menzies,1421 The year China discovered the world, Bantam Books, 2007

– Peter Nolan, Is China buying the world, Polity 2012


[1]Defense white paper, 2008, http://xinhuanet.com/english/2009-01/20/content_10688124.htm(17/6/2009)

[2]http://news.bbc.co.uk/2/hi/asia-pacific/3001099.stm

Những sai lầm chiến lược của Trung Quốc trên Biển Đông

Đối với Trung Quốc, tranh chấp Biển Đông sẽ là thách thức quyết định Trung Quốc có đủ khả năng vươn lên vị trí siêu cường hay không. Đáng tiếc, Trung Quốc vẫn chưa nhận thức hết mức độ tổn hại đến quan hệ với các nước láng giềng do thái độ hung hăng của họ trên Biển Đông gây ra.

Cách đây chưa đầy một thập kỷ, Trung Quốc mới chỉ là nền kinh tế lớn thứ năm thế giới. Từ đó đến nay, tốc độ tăng trưởng kinh tế cao đã đưa Trung Quốc vượt Nhật Bản trở thành nền kinh tế lớn thứ hai trên thế giới và sắp vượt qua Mỹ để trở thành nền kinh tế lớn nhất thế giới trong vòng 10 đến 20 năm tới. Với dân số khổng lồ và một nền tảng kinh tế năng động, chúng ta có đủ lý do để tin rằng đến một ngày nào đó Trung Quốc có thể trở thành nền kinh tế lớn nhất thế giới. Tuy nhiên, sức mạnh kinh tế vượt trội chưa hẳn là sự đảm bảo cho vị trí siêu cường. Ngay cả Mỹ cũng cần tới hơn 75 năm và hai cuộc chiến tranh thế giới để trở thành một siêu cường toàn cầu có sức mạnh vượt trội về kinh tế và quân sự.

Điều này cho thấy rằng ngay cả khi Trung Quốc vươn lên để trở thành nền kinh tế lớn nhất thế giới, chưa chắc Trung Quốc sẽ trở thành quốc gia mạnh nhất. Bài học then chốt đối với Trung Quốc là họ cần phải xây dựng một nền kinh tế tiên tiến, công nghệ cao được thúc đẩy bằng sự điều hành, quản trị tốt, việc hoạch định chính sách hiệu quả và sự tôn trọng từ các quốc gia khác bởi một nền ngoại giao điềm đạm. Duy trì vị trí siêu cường cũng là một thách thức không hề nhỏ. Lịch sử đã có rất nhiều ví dụ về các siêu cường chìm vào quên lãng do bị các đối thủ cạnh tranh vùi dập, do phạm sai lầm chiến lược dẫn đến lãng phí tài nguyên, làm tổn hại lợi ích của công dân nước họ hoặc đánh giá sai ý đồ của đối thủ.

Đối với Trung Quốc, tranh chấp Biển Đông sẽ là thách thức quyết định Trung Quốc có đủ khả năng vươn lên vị trí siêu cường hay không. Điều đáng tiếc là Trung Quốc vẫn chưa nhận thức hết mức độ tổn hại đến quan hệ với các nước láng giềng do thái độ hung hăng của họ trên Biển Đông gây ra.

Trước hết, tranh chấp chủ quyền với một số nước láng giềng ASEAN đã làm suy yếu nghiêm trọng vị thế của Trung Quốc trong và ngoài khu vực. Bắc Kinh rất cần được nhắc nhở về các sai lầm nhận thức chiến lược đã khiến quan hệ của họ với phương Tây xấu đi ra sao sau sự kiện Thiên An Môn năm 1989. Trong suốt giai đoạn đó, ASEAN đã đóng vai trò quan trọng như một cầu nối giữa Trung Quốc với thế giới bên ngoài. Thực vậy, phần lớn là nhờ vào mối quan hệ tốt với ASEAN mà Trung Quốc đã dần khôi phục lại quan hệ ngoại giao bình thường với phương Tây.

Sự cứng rắn hiện nay của Trung Quốc ở Biển Đông đang dần dần làm xói mòn hình ảnh tích cực của Bắc Kinh trong mắt các nước láng giềng ASEAN về sự trỗi dậy hòa bình của nước này. Tất cả các quốc gia trong và  ngoài khu vực Đông Nam Á đều đang tỏ ra thận trọng trước sự trỗi dậy của Trung Quốc. Ngay cả khi nền kinh tế và vị thế quốc tế của Trung Quốc tăng lên thì ảnh hưởng, hình ảnh và “quyền lực mềm” của họ lại suy giảm một cách đáng kể.

Thứ hai, sự hung hăng của Trung Quốc đã đưa đến việc Mỹ tái xác định các ưu tiên chiến lược toàn cầu của mình theo hướng “xoay trục” hay “tái cân bằng” đối với Châu Á-Thái Bình Dương. Sự điều chỉnh chính sách này của Mỹ đã làm cho các nhà hoạch định chính sách Trung Quốc thực sự lo ngại và gây ra nỗi sợ hãi rằng Trung Quốc có thể sẽ bị kiềm chế tương tự như cách Liên Xô từng bị kiềm chế trong suốt thời kỳ Chiến tranh Lạnh.

Trung Quốc giờ đây nhìn thấy rõ “bàn tay Mỹ” trong cả vấn đề đối nội và đối ngoại của họ. Có rất nhiều ví dụ về ảnh hưởng của Mỹ trong các vấn đối nội của Trung Quốc trong năm nay như việc Cựu Giám đốc Công an Trùng Khánh Vương Lập Quân chạy vào Lãnh sự quán Mỹ tại Thành Đô xin tị nạn chính trị và việc luật sư khiếm thị Trần Quang Thành chạy trốn tới Đại sứ quán Mỹ tại Bắc Kinh. Trong khu vực, tất cả các đồng minh của Mỹ bao gồm Nhật Bản, Hàn Quốc và Philippin đều nâng cấp quan hệ hợp tác quân sự vốn đã rất chặt chẽ với Mỹ. Nếu Trung Quốc tiếp tục phớt lờ lợi ích hoặc các mối quan ngại của các nước láng giềng liên quan ở Biển Đông, thì sự hung hăng của Trung Quốc chính là áp lực khiến các nước này thúc đẩy tăng cường hợp tác khu vực với Mỹ.

Thứ ba, rắc rối với các nước láng giềng gần gũi cũng ảnh hưởng đến hình ảnh và vị thế của Trung Quốc trên thế giới. Điều kiện quan trọng nhất đối với bất kỳ quốc gia nào có tham vọng vươn lên vị trí siêu cường toàn cầu là duy trì mối quan hệ tốt đẹp với các nước láng giềng. Tuy nhiên, nếu Trung Quốc không thể hoặc không muốn duy trì một mối quan hệ thân mật với các nước láng giềng gần gũi nhất, thì làm sao các nước ở xa hơn có thể tin tưởng và tôn trọng siêu cường đang lên này? Chừng nào Trung Quốc không thể duy trì được mức độ tin cậy nhất định và tình hữu nghị với các nước láng giềng thì vị thế siêu cường toàn cầu đối với Trung Quốc có thể sẽ mãi mãi chỉ là một ước vọng viễn vông.

Thứ tư, việc Trung Quốc đơn phương khẳng định mạnh mẽ của chủ quyền của mình trên Biển Đông đã tác động tiêu cực đến môi trường hòa bình mà Trung Quốc đang rất cần để trở thành một siêu cường toàn cầu. Nếu xung đột nổ ra, nó có thể gây ra tác động bất lợi, lâu dài và lan rộng đến môi trường kinh tế và an ninh của toàn bộ khu vực. Bản thân Trung Quốc cũng sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng vì gần 80% lượng dầu nhập khẩu và phần lớn hàng hóa, cả xuất và nhập khẩu của họ, đều đi qua eo biển Malacca và các tuyến hàng hải khác trên Biển Đông.

Trung tâm của tranh chấp Biển Đông là yêu sách đường chữ U mà Trung Quốc tuyên bố là được thừa hưởng từ chính phủ Quốc Dân Đảng và chỉ mới được Trung Quốc đệ trình chính thức lên Ủy ban Ranh giới Thềm lục địa của Liên Hợp Quốc vào năm 2009. Vì đường chữ U này không dựa trên bất kỳ cơ sở pháp lý nào và không có tọa độ địa lý cụ thể, Trung Quốc luôn đưa ra những cách giải thích không nhất quán. Cần lưu ý rằng đưòng chữ U mà Trung Quốc đòi hỏi chủ quyền chiếm đến 80% diện tích Biển Đông trong khi Trung Quốc chỉ quản lý 15% khu vực đó.

Tuyên bố chủ quyền đơn phương của Trung Quốc ở Biển Đông trong những năm qua đã làm cho phần lớn người dân Trung Quốc nhầm tưởng rằng Trung Quốc thực sự sở hữu toàn bộ khu vực bên trong đường chữ U và đường chữ U chính là đường biên giới phía nam của Trung Quốc. Tuy nhiên, bản đồ mới được phát hiện được vẽ từ năm 1904 vào thời nhà Thanh lại không có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Thay vào đó, các bản đồ này chỉ đảo Hải Nam là điểm cực nam của Trung Quốc. Và giờ đây, đường chữ U bây giờ lại giống như một miếng xương trong cổ họng của Trung Quốc, nhổ ra không được còn nuốt thì không trôi.

Điểm đáng tôn trọng ở một siêu cường toàn cầu thực sự là khả năng thừa nhận và vượt qua những sai lầm của chính mình trong quá khứ. Chẳng hạn như nỗ lực của Mỹ để bình thường hóa quan hệ với Việt Nam. Trung Quốc là một nền văn minh lớn, đã sản sinh ra những con người vĩ đại như Lão Tử, Khổng Tử, Lý Thời Trân… và luôn làm theo những chỉ giáo của những các bậc hiền triết nổi tiếng đó. Do vậy, Trung Quốc hoàn toàn có thể vượt qua những sai lầm chiến lược của mình trong chính sách Biển Đông.

Trước hết, Trung Quốc cần phải tiến hành các bước đi mang tính xây dựng để đưa đến kết quả tích cực cho các cuộc đàm phán về Bộ Quy tắc ứng xử (COC) ở Biển Đông. Đồng thời, Trung Quốc cần thực thi chính sách giữ thể diện cho mình bằng việc dứt khoát từ bỏ yêu sách đường chữ U. Chắc chắn, đây sẽ là một quyết định khó khăn cho Trung Quốc. Tuy nhiên, lợi ích từ sự trỗi dậy hòa bình thực sự của Trung Quốc sẽ vượt xa phạm vi của các nước láng giềng và ranh giới trên Biển Đông.

TS. Hoàng Anh Tuấn là nhà nghiên cứu tại Học viện Ngoại giao Việt Nam và là cộng tác viên nghiên cứu của Chương trình Hòa bình Đông Á tại Đại học Uppsala. Bài viết này được đăng lần đầu tiêntrên Asia Pacific Bulletin.

Thiên Hương (dịch)

hvln

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s