Phong Thuỷ…

Phong Thủy- phần cuối

Bài 21: “Gò đất kết” Sơn Quy với chuyện hai bà hoàng

Thật thiếu sót nếu không nhắc đến phong thủy ở vùng đất Gò Công – nơi sinh ra hai người đẹp nổi danh nhất của vương triều Nguyễn là hoàng thái hậu Từ Dụ và hoàng hậu Nam Phương – với câu chuyện còn lưu truyền đến nay về “gò đất kết” Sơn Quy…

Sơn Quy là tên do nhà Nguyễn đặt cho một cái gò có hình dạng như chiếc mai con rùa nổi lên trên đất Gò Công thuở xưa, ở địa phận huyện Tân Hòa, nay thuộc tỉnh Tiền Giang. Dân chúng quen gọi cuộc đất Sơn Quy ấy bằng hai tiếng bình dị dễ nhớ là Gò Rùa.

Điểm lành tuôn nước ngọt ngào

Gò này gắn liền với câu chuyện phong thủy liên quan đến gia thế và cuộc sống đức độ của một bậc mẫu nghi thiên hạ là hoàng thái hậu Từ Dụ (vợ vua Thiệu Trị và là mẹ của vua Tự Đức). Tương truyền sau ngày bà ra đời vào năm Gia Long thứ 8 (1810) nước ở Gò Rùa bỗng trở nên ngọt hơn so với nước thường bị mặn quanh vùng. Dân chúng đồn đãi rồi rủ nhau đến đó múc gánh về dùng và lấy làm lạ về thứ nước ngày càng ngọt, uống vào thấy khỏe ra. Cây cỏ quanh gò cũng trở nên tươi tốt hơn lên và đơm hoa trổ trái bất thường. Vì cớ đó đã truyền đi trong dân gian câu ca: Điềm lành tuôn nước ngọt ngào – Lại thêm phước đức vun cao Gò Rùa (Lệ thủy trình tường thoại – Quy khâu trúc phước cơ). Vậy đó là điềm gì? Và phước đức của ai?

Người quanh vùng để tâm hỏi han như trên và được các kỳ lão giải thích đại khái mỗi lần vùng đất nào có đổi thay về khí sắc nước nôi như vậy ắt đã có một nhân vật kỳ đặc nào đấy vừa xuất sinh ở đó. Mà ở Gò Rùa thì nhà danh giá phải kể đến vợ chồng cụ thượng thư Phạm Đăng Hưng. Theo một số tài liệu, dòng họ Phạm Đăng ở Gò Công vốn từ ngoài Trung đã theo dòng người Việt đổ về phía Nam khai phá vào khoảng thế kỷ 17. Trong những vị đi tiên phong đến vùng đất mới có cụ Phạm Đăng Xương – một nhà nho uy tín đương thời – người gốc ở vùng Phú Xuân, huyện Hương Trà (Thừa Thiên – Huế ngày nay) đã “dẫn cả gia đình vào định cư ở Gò Rùa (giồng Sơn Quy – Gò Công), tại đây cụ chiêu mộ dân chúng khai phá đất hoang, mở mang sản xuất, khiến nơi này ngày càng thịnh vượng” (1).

Lang mo Pham Dang Hung_resize

Lăng mộ cụ Phạm Đăng Hưng nằmg trong di tích quốc gia Lăng Hoàng Gia

Song song với việc ổn định cuộc sống ban đầu ấy, cụ Phạm Đăng Xương đã thâu nhận rất nhiều môn sinh trong vùng để dạy học tạo nên thế hệ trí thức đầu tiên quanh “đất kết” Gò Rùa. Mọi người tôn kính gọi cụ là “Kiến Hòa tiên sinh”. Con trai của cụ là Phạm Đăng Long nối bước làm nghề dạy học. Từ đó trải nhiều đời về sau, họ Phạm Đăng trở thành dòng họ kỳ cựu trên đất Gò Công, với những ngôi mộ cổ táng ở Gò Rùa mà các thầy địa lý thời ấy đã chỉ. Trong số các ngôi mộ đó có một ngôi đặc biệt đã được chôn ở vị trí đại cát và thoáng đãng nhất trên gò. Đến đời thượng thư Phạm Đăng Hưng (ông ngoại vua Tự Đức), đã nhờ các thầy địa lý đến gò Sơn Quy để thẩm định một lần nữa thế đất phong thủy mà các đời trước đã chọn để chôn cất người quá vãng. Các thầy địa lý quả quyết gò Sơn Quy là một gò đất tốt, sẽ mang lại hưng vượng cho con cháu của những người nằm dưới mộ. Tuy nhiên phía sau gò Sơn Quy bị trống trải, không có được một dãy đồi ôm che, thiếu hậu chẩm. Thêm nữa bên phải và bên trái cuộc đất Sơn Quy thiếu các dãy đồi từ xa “triều về” nên cái thế “tả hữu phú chi” không có. Nghĩa là sự hưng vượng chỉ phát lên mạnh mẽ một đời rồi ngưng lại chứ không “truyền đời” cho các chi nhánh về sau được. Một điều nữa, theo các thầy địa lý đương thời đã dựa theo cuộc đất ở gò Sơn Quy thì họ Phạm phát mạnh về phái nữ (âm thịnh) và chỉ thịnh thời trẻ đến trung niên mà thôi, hậu vận sẽ gặp phải không ít trắc trở và buồn lo. Điều đó ứng vào người con gái cụ thượng thư Phạm Đăng Hưng tức cô Phạm Thị Hằng (hoàng thái hậu Từ Dụ) ra sao, chúng ta có thể tham khảo và kiểm chứng qua vài nét chính đã xảy ra trong đời của bà dưới đây.

Nha tho Duc Quoc Cong-Pham Dang Hung_resize

Đức Quốc Công Tự Gò Công nằm trong di tích Lăng Hoàng Gia

Hoàng hậu duy nhất sống quan 10 đời vua

Theo đoán định về thế đất Gò Rùa như trên, thì hoàng thái hậu Từ Dụ sẽ lên đến tuyệt đỉnh phú quý vào thời thanh xuân. Từ năm 12 tuổi bà đã nổi tiếng là người con có hiếu. Khi mẹ bà bệnh nặng bà đã kề cận bên giường săn sóc từng miếng cơm hớp nước, đến phút cuối khi mẹ qua đời bà đã kêu khóc ngày đêm không dứt. Nghe tiếng bà là người con hiếu để và đoan trang hiền thục nên lúc bà 14 tuổi đã được Thuận Thiên Cao hoàng hậu (vợ vua Gia Long) tuyển bà rời Gò Công ra kinh thành Huế để vào cung hầu hoàng trưởng tử Miên Tông (tức vua Thiệu Trị về sau). Vua Thiệu Trị lên ngôi được 3 năm đã tấn phong bà làm Quý phi (1846). Năm sau (1847) trước khi qua đời, vua Thiệu Trị bảo các quan trong triều rằng Quý phi (Phạm Thị Hằng) là người vợ đầu của vua (nguyên phối) đã có công “giúp trẫm suốt 7 năm trong công việc nội chính, vì thế trẫm đã có ý muốn lập Quý phi làm hoàng hậu nhưng tiếc thay không còn kịp nữa”. Thiệu Trị mất, vua Tự Đức nối ngôi (1848) liền sai triều thần bưng kim sách và kim bảo đến dâng bà để tôn hiệu Hoàng thái hậu. Bà là người nhân từ, ai có lỗi bà ôn tồn chỉ bảo, thậm chí nhận thay lỗi cho người ấy. Sử sách triều Nguyễn và các tài liệu liên quan đều ca ngợi đức độ của bà: “Sống trong lầu vàng điện ngọc nhưng bà Từ Dụ rất cần kiệm – thấy vua Tự Đức (con của mình) trần thiết (bày biện) những đồ vật quý giá trong cung Diên Thọ cho mình, bà không bằng lòng bảo vua: những thứ này đều do trăm họ dâng nộp, mình không làm đặng sự chi lợi ích cho nước thì thôi, sao dám vọng phi (lạm dụng)?. Vua Tự Đức phải đem cất hết những đồ đạc quý giá ấy vào kho” (2).

HoangthaihauTuDu_resize

Sống trên đỉnh cao nhất của quyền quý nhưng rốt cuộc bà lại không được vui vì con trai duy nhất của bà (là vua Tự Đức) đã chết trước bà – mà lại không có người nối dõi. Tiếp đó là quân Pháp tràn vào với một loạt bi kịch trong nội bộ hoàng tộc, kẻ bị giam đói chết, người bị lưu đày xa xứ. Tuy vẫn còn ngồi trên ngôi cao nhưng thực chất quyền hành đều nằm trong vòng chi phối của ngoại bang. Trong giai đoạn chua xót đó của lịch sử nước nhà, cũng là những tháng ngày cay đắng suy tàn dần của vương triều Nguyễn, thì ở xa xa về phía Nam cây cối ở Gò Rùa đang xanh tươi đột nhiên héo tàn dần rất rõ nét vào năm 1859 (Kỷ Mùi). Lạ thay, nước giếng ngọt ngày nào năm đó bỗng trở mặn liên tiếp trong gần một tuần. Và rồi trong tuổi về già, với biết bao biến cố buồn thương dồn dập, hoàng thái hậu Từ Dụ mắt bị mờ và tai bị điếc. Bà qua đời năm 1901, thọ 92 tuổi, để lại một tấm gương sáng về lòng từ ái thương người và mẫu mực đức độ nên tên của bà ngày nay đã được dùng để đặt tên cho một bệnh viện phụ sản nổi danh ở Việt Nam là Bệnh viện Từ Dũ tại TP. Hồ Chí Minh.

Như vậy, bà Từ Dụ là hoàng hậu duy nhất trong lịch sử vương triều Việt Nam đã sống qua 10 đời vua, kể từ lúc bà sinh ra thời vua Gia Long, vào cung thời vua Minh Mạng, làm vợ vua Thiệu Trị, là mẹ vua Tự Đức, trở thành hoàng thái hậu chứng kiến bi kịch triền miên của các triều Dục Đức, Hiệp Hòa, Kiến Phúc, Hàm Nghi, Đồng Khánh và Thành Thái. Bà sống thời thanh xuân rực nắng và thời trung niên cũng như về già hiu hắt phai màu như cỏ cây úa vàng dần trên “gò đất kết” Sơn Quy thuở nào.

Cũng tương tự như bà, sau này hoàng hậu Nam Phương – vợ vua Bảo Đại, cũng sinh ra tại đất “địa linh nhân kiệt” Gò Công – Tiền Giang, cũng sống thời huy hoàng lúc trưởng thành, để rồi rơi vào cảnh cô đơn lúc cuối đời. Điều đó rất rõ ràng khi ta liên tưởng đến đám cưới của hoàng hậu Nam Phương rộn rịp thuở nào trái hẳn với cảnh Nam Phương sống một mình nơi xứ người và phải nhận những tin tức về mối giao du của cựu hoàng Bảo Đại với những người tình mới nhất của ngài mà chúng tôi sẽ đề cập ở kỳ sau.

NamPhuong 4_resize

Nam Phương Hoàng Hậu

(1) Nguyễn Phúc Nghiệp – Nam Bộ xưa và nay (nhiều tác giả), Tạp chí Xưa và Nay, NXB TP. HCM, 1998, trang 340.

(2) Nguyễn Viết Kế – Kể chuyện các đời vua nhà Nguyễn, NXB Đà Nẵng 2001.

Bài 22: Cung An Định và nỗi lòng hoàng hậu Nam Phương

Cung An Định xây năm 1902 bên bờ sông An Cựu – một con sông chứa nhiều “cổ tích buồn” trong chuyện đời của hoàng hậu Nam Phương…

Phong thủy với màu nước sông Hương và sông An Cựu

Sông An Cựu dài hơn 30km, là một chi lưu nổi danh của sông Hương, đã mang theo dòng chảy của mình những tố chất “di truyền” về tâm cảnh lẫn màu nước từ dòng sông mẹ. Vì thế cần nói về sông Hương trước.

Tính từ nguồn ra biển, sông Hương chỉ dài khoảng 100km, nhưng “kích thước lịch sử” của con sông này lại lớn hơn rất nhiều lần con số ấy – bởi các biến cố trọng đại xảy ra ở đôi bờ. Về vị trí phong thủy, sông Hương được chọn làm Minh đường của kinh thành Huế, là nơi“trăm dòng hợp phái, vạn nhánh qui về” (bách xuyên hợp phái – vạn hác triều tông) như vua Thiệu Trị ca ngợi. Có thể tham khảo thêm sách địa lý Tả Ao: “Trường thủy sở dẫn, trường sơn sở tòng, chân thị đại quý chi địa” (nước dài dẫn lối, núi dài chạy theo, thực là đất đại quý).Cao Trung luận:

Khi nước chảy chiều nào thì sơn mạch đi chiều đó nên gọi là nước dài dẫn lối. Đó là điều kiện nước tốt. Nếu có “dãy núi dài dài” đi theo “nước dài” nữa là điều kiện tốt thứ hai. Nếu huyệt kết ở “núi dài” theo “sông dài” và “sông dài dẫn núi dài” thì chắc là cho huyệt kết lớn. Trái lại chỉ có một dòng nước nhỏ dẫn lối và một chi sơn nhỏ đi theo thì chỉ là tiểu địa”. Đã có những cuộc đất “đại quý” được các nhà địa lý chọn xây lăng mộ cho các vua Nguyễn.

Cũng có ngọn đồi thiêng của vương triều như đồi Hà Khê, hoặc núi Ngọc Trản bên dòng (đã viết ở các kỳ trước). Ngay cả màu nước sông Hương cũng được Quốc sử quán triều Nguyễn chép đến: “Hồi đầu quốc triều ta, nước sông Hương đã chuyển sang màu đỏ và đục ngầu trong biến cố năm Giáp Ngọ 1774” – là năm tướng Hoàng Ngũ Phúc từ phía Bắc kéo quân Trịnh tràn vào đánh chiếm Thuận Hóa, đẩy chúa Nguyễn chạy lánh về đất phương Nam. Rồi cũng dòng Hương giang ấy lại xanh trong tuyệt vời vào “mùa hè năm Tân Dậu 1801 lúc đại binh (của chúa Nguyễn Phước Ánh) tái chiếm lại thành đô – thiên hạ đều cho nước sông đổi màu là điềm thái bình vậy” (Đại Nam nhất thống chí).

Nguoc dong Huong Giang-photo Truong Vung_resize

Sông Hương

Trên đoạn chảy qua khu vực kinh thành về phía hữu ngạn (bờ nam sông Hương) có sông An Cựu, được hình thành sau những chuyến vua Gia Long xa giá đến vùng Thanh Thủy xem xét địa thế, đoán định về phong thủy và triệu các vị phụ lão địa phương đến hỏi việc lợi hại khi đào sông mới. Ai nấy đều đồng tình. Vua sai đào sông dẫn nước tưới cho hàng ngàn vạn mẫu ruộng đất bị ngập mặn năm 1814 (Gia Long thứ 13) và làm đập ngăn nước mặn ở cửa Thần Phù.

Nhờ đấy vùng đất nam sông Hương khởi sắc, thuận lợi cho việc gieo cấy, trồng trọt. Chính vì kết quả lợi lạc ấy nên sau này vua Minh Mạng đặt tên sông là Lợi Nông và sai khắc hình ảnh của sông vào Cửu đỉnh (Chương đỉnh). Tuy vậy dân chúng kinh thành Huế vẫn quen gọi tên cũ của sông là An Cựu.

Cung An Định nằm bên bờ sông An Cựu ấy – một con “sông con” của Hương Giang với màu nước có “một chút gì trúc trắc”, tựa những mối tình chợt đổi màu theo nắng mưa, mà ca dao ghi lại: núi Ngự Bình trước tròn sau méo – Sông An Cựu nắng đục mưa trong – Vì thầy mẹ bên anh lắng đục tìm trong – Nên duyên chàng nợ thiếp cứ long đong rứa hoài… Được xây bên một dòng sông như thế, nên cung An Định dường như cũng “đẫm buồn” theo – và là nơi hoàng hậu Nam Phương đã rơi nhiều nước mắt.

Nước mắt của hoàng hậu Nam Phương

Người chứng kiến những giọt lệ đầu tiên của Nam Phương ở đó là ông Phạm Khắc Hòe (1) lược kể dưới đây. Nguyên sau ngày đọc Chiếu thoái vị vào trưa 30.8.1945, cựu hoàng Bảo Đại nhận được công điện từ Hà Nội gởi vào mời ông làm cố vấn tối cao cho chính phủ của cụ Hồ Chí Minh, ông nhận lời và sắp xếp ra Hà Nội.

Vào 6 giờ sáng 2.9, ông Phạm Khắc Hòe cùng Bộ trưởng Lê Văn Hiến đến cung An Định “xe chúng tôi đã vào đậu ngay trước phòng khách mà trong cung vẫn tối mò mò, im phăng phắc – chỉ nghe có tiếng gõ mõ niệm Phật từ trên lầu vọng xuống”. Lát sau hoàng hậu Nam Phương trong sắc phục màu xanh da trời, từ trong nhà đi ra cùng con trai là Bảo Long và ba con gái là Phương Mai, Phương Liên, Phương Dung, cựu hoàng Bảo Đại “tới hôn vợ, hôn các con với những lời âu yếm bằng tiếng Pháp, đây là lần đầu tiên trong đời mình, ông Vĩnh Thụy đi xa mà không ai tiễn đưa ngoài vợ con”.

Nam Phương với sắc mặt buồn “đưa tay trái lên cổ sửa lại sợi dây vàng đeo thánh giá lấp trong áo, tay phải cầm mùi xoa lau nước mắt” trong tiếng mõ tụng kinh của bà Từ Cung (mẹ Bảo Đại) từ “trên lầu vọng xuống đều đều buồn bã”. Cựu hoàng “khóe mắt hơi ướt, nhưng miệng vẫn mỉm cười, bế Phương Dung lên hôn một lần nữa, rồi bỗng nói to: Thôi đi!”. Bà Nam Phương mở to mắt “nhìn theo như muốn níu ông chồng lại, nhưng ông này không quay lại”…

Nam Phuong hoang hau

Nam Phương hoàng hậu

Ra đến Hà Nội, cựu hoàng ở tại biệt thự dành riêng cho cố vấn chính phủ số 51 đại lộ Gambetta, tức số 51 Trần Hưng Đạo sau này. Chính ở đó, khoảng 10 ngày sau, khi ông Phạm Khắc Hòe đến thăm vào một đêm trăng đẹp, bỗng thấy “trên đầu cầu thang có một người đàn bà đang bước rất nhanh”.

Ông chạy theo, nhưng lên đến gác thì “chỉ còn phảng phất mùi nước hoa” của vũ nữ Lý Lệ Hà. Những lần sau cũng vậy, mỗi khi ghé lại biệt thự của cựu hoàng, lần nào ông Hòe cũng gặp những người hào nhoáng đi ra đi vào trong phòng khách và từ trong đó vọng ra “tiếng mạt chược lọc cọc, tiếng cười nói ầm ĩ, có cả tiếng đàn bà” nữa.

Vào một buổi trời vừa sập tối, bất ngờ Bảo Đại tự lái xe đến chỗ ở của ông Hòe nói: “Hôm ra đi, tui chỉ mang theo có một nghìn bạc, nay tiêu hết cả rồi. Tui muốn nhờ ông về Huế đưa cái thư này cho “ngài hoàng” (tức hoàng hậu Nam Phương) lấy một ít tiền đưa ra cho tui”. Cầm thư về Huế, ông Hòe đến trước cung An Định vào 8 giờ rưỡi sáng mà “tòa nhà này vẫn không có một cánh cửa nào mở, sân ngập lá rụng, tường mốc rêu xanh, tôi bấm chuông và lên tiếng gọi mấy lần, trong nhà vẫn im phăng phắc, không ai trả lời”.

Định quay về, ông chợt thấy hoàng hậu Nam Phương từ phía Bến Ngự xuống…Vào phòng khách, bà Nam Phương mở bức thư viết bằng chữ Pháp trên ba trang giấy màu xanh ra xem. Xong, bà ngẩng đầu lên “nhìn tôi với hai giọt nước trong suốt trong đôi mắt – môi bà run run như muốn nói một điều gì (…) bà đứng vụt dậy trào nước mắt ra”…

Chiều hôm sau, ông Hòe quay lại cung An Định lúc 16 giờ, bà Nam Phương đã có mặt chờ sẵn ở phòng khách với “bộ mặt buồn thiu, nhưng vẫn cố làm ra vẻ bình tĩnh” – để rồi vào câu chuyện ngay sau đôi lời hỏi han: “Tôi muốn ông cho biết tất cả sự thật về việc ông Vĩnh Thụy mê con Lý”. Ông Hòe trả lời rất tiếc là mình không biết rõ chuyện ấy, chỉ nghe người ta nói cựu hoàng “có mèo tên là cô Lý”. Bà Nam Phương chăm chú hỏi:

Ông có biết con Lý nhiều không? Và con ấy người như thế nào?”. Ông Hòe đáp chưa thấy mặt bao giờ, song nghe đồn cô ấy đẹp. Tiếng “đẹp” làm hoàng hậu đỏ mặt lên ngay”. Qua các lần gặp gỡ ấy, ông Hòe nhận định: tôi thấy bà biết rất rõ mọi mặt sinh hoạt của ông Vĩnh Thụy (cựu hoàng) ở Hà Nội – điều ấy bà Vĩnh Thụy (Nam Phương) chỉ có thể đạt được qua một mạng lưới săn tin và thông tin thành thạo và trung thành với bà ta. Tất nhiên, những tin tức càng cụ thể bao nhiêu, càng làm cho bà ta đau khổ, uất ức bấy nhiêu”.

Trong lần gặp tiếp theo, Nam Phương đã rút hai tờ bạc ngân hàng Đông Dương loại 500 đồng giơ lên cho ông Hòe thấy rồi “bỏ trở lại vào giữa những tờ giấy màu hồng đặc sệt chữ Pháp dán lại” đưa cho ông Hòe. Chẳng biết hoàng hậu viết gì trong thư ấy. Thư đến tay cựu hoàng, thì ngày 16.3.1946 (khoảng 6 tháng sau khi ra Hà Nội), cựu hoàng sang Trung Quốc, sau đó qua Hồng Kông cùng người đẹp Lý Lệ Hà – để lại hoàng hậu Nam Phương với nỗi lòng chua xót ở cung An Định xa vời…

Đức Từ Cung,Bảo Đại,Nam Phương,Hoang Tu Bao Long_resize

Hoàng hậu Nam Phương, hoàng tử Bảo Long, Đức Từ Cung thái hậu, vua Bảo Đại

Biết rõ mối quan hệ thắm thiết của chồng mình với cô Lý, hoàng hậu với tư thế của một “người chị” đã viết một bức thư gởi “em Hà” mà hơn 50 năm sau Lý Lệ Hà vẫn còn giữ, như sau: “Em Lý Lệ Hà thân quý. Chị ở xa đức cựu hoàng hàng mấy vạn dặm trùng dương, nhưng chị biết rằng em đang hết lòng hết sức chăm sóc cựu hoàng ở Hồng Kông. Chị cầu mong lịch sử mai đây không buông rơi cựu hoàng, còn gặp lại nhau. Đức Từ Cung thái hậu và chị trọn kiếp nhớ ơn em. Chị Nam Phương”.

Bức thư trên được nhà văn Lý Nhân Phan Thứ Lang (Phan Kim Thịnh) trích dẫn từ hồi ức của Ngọc Giao (2) và in lại trong cuốn Bảo Đại – vua cuối cùng triều Nguyễn (NXB Đà Nẵng 2004). Còn Lý Lệ Hà đã nói gì về mối tình của mình với Cựu hoàng?

Không một ông vua nào có tiền trong túi

Lý Lệ Hà kể: “Lão ta rất buồn (Lệ Hà lúc nào cũng gọi cựu hoàng Bảo Đại là “lão ta”). Lão ta chỉ thở dài, không nói năng gì hết. Ăn uống, cho gì nhận cả không hề kêu ca, nhăn nhó. Ngày ấy là 30 tết âm lịch. Lão ta, càng lì lợm, ra bao lơn (của biệt thự 51 Trần Hưng Đạo – Hà Nội) đứng nhìn xuống phố. Lão khẽ vỗ vai tôi: “Buồn lắm Hà ơi! Biết làm sao được bây giờ?” (…)Rồi Lý Lệ Hà kéo cựu hoàng đến đền Ngọc Sơn làm lễ giao thừa. Qua cầu Thê Húc chật nức người, vào tới trấn Ba Đình, cựu hoàng bảo Hà vào đốt một nắm hương đem ra, rồi trịnh trọng quay mặt về hướng Nam khấn lạy. Đến chân Bút Tháp thấy có ông thầy bói, chẳng biết mù thật hay mù giả, bảo hãy xem “cho lão”:

Lão vua không chịu đưa bàn tay ra, sợ bẩn – mình phải nài ép, kéo bàn tay lão đặt vào tay ông thầy – ông mù này, vừa nắm bàn tay mềm nhũn như bông (của Cựu hoàng), giọng ông thều thào rất nhỏ: “Ngài là quý nhân – tôi không muốn nói gì hơn – chỉ xin thưa rằng ngài sắp đi xa, xa lắm”. Không lâu sau đó, cựu hoàng cùng Lý Lệ Hà đi xa thật, tới đất Hồng Kông giàu có mà hoàn cảnh lúc đó của hai người thật quá bi đát:

bởi không có nhiều tiền nên lão và mình thuê một khách sạn tồi tàn (…) có một đôi lần thấy lão quá buồn mình dắt lão vào cái bar nho nhỏ, loay hoay tìm một cái bàn tối tăm, kín đáo. Thế mà, chưa kịp ngồi, làm sao mà ban nhạc bar nhận ra cái bộ mặt rầu rĩ của ông vua xa nước.

Tức thì một bài “valse royale” (bài nhảy nghênh giá, theo phong tục phương Tây). Ban nhạc sống vô cùng trang trọng chơi bài đó, đồng thời ông chủ khách sạn bước ra cúi rạp đầu, cung nghinh vị phế vương (…) ngồi mấy phút, mình kéo lão rời phòng nhảy ra đường, mình toát mồ hôi lạnh, sốt ruột vì món tiền vừa phải xổ ra trả giá chai sâm banh thượng hạng và tiền thừa trên dĩa “đức Vua” rộng thưởng cho ban nhạc.

Đói quá, trong túi mình không còn lấy một xu, lão thì chẳng bao giờ có một tí tiền. Thì vào thời xưa cũng vậy, chưa có một ông vua nào có tiền trong túi. Nhưng khủng khiếp nhất là phải nhịn đói, đội rét, bò được về tầng thứ 13 của khách sạn…” (3).

AnDinhResidence5_resize

Cung An Định

Khi đó, hoàng hậu Nam Phương vẫn sống âm thầm ở cung An Định mà theo người đời tên gọi ấy thời mới khánh thành mang một ý nghĩa tốt đẹp, an vui, đại định – nhưng về sau người ta nhắc đến với ý nghĩa khác, thành nơi “an bài” theo “định mệnh” của hoàng hậu cuối cùng triều Nguyễn. Kể cả sau ngày ra nước ngoài, định mệnh vẫn buộc bà phải chứng kiến mối tình mới của chồng mình với một vũ nữ xinh đẹp – còn sâu đậm hơn cả Lý Lệ Hà năm xưa nữa…

Bài 23: Đà Lạt, thủ phủ của “Hoàng triều cương thổ”

Thành phố Đà Lạt có lịch sử 120 năm phát hiện và phát triển (1893 – 2013) đã từng là thủ phủ của Hoàng triều cương thổ (1950 – 1954) – nơi còn in đậm những kỷ niệm hồi hương của cựu hoàng Bảo Đại.

Yếu tố ” núi” và “nước” trong mưa tuyết Đà Lạt

Nhà Nguyễn phóng tầm nhìn đến Đà Lạt để xây một hành cung của mình trên đó. Chứng cứ được ghi lại qua việc triều đình phái đại thần Đoàn Đình Duyệt, Thượng thư bộ Công, Cơ mật đại thần, kiêm Quản đốc Đô sát viện lên đường đến Đà Lạt giữa tháng 7 năm 1918. Đường sá đi lại hồi đó không thuận tiện như bây giờ. Khởi hành từ Huế bằng xe lửa, Đoàn Đình Duyệt xuống ga Đà Nẵng, đi bằng đường thủy về phương Nam đến Qui Nhơn, cảng Ba Ngòi, Phan Rang, rẽ hướng lên cao nguyên Lâm Viên, vượt qua “đỉnh Eo Gió (Bellevue) ở độ cao 1.045 thước tây” và mô tả “hai bên đường cây cối rậm rạp tuyệt nhiên không có dân cư (…) chốn rừng rú u tịch, đường đá gồ ghề khó đi – khiêng kiệu phải dùng người Thượng mới đi được”,từ đó đi thêm theo “đường bộ dài 61km” lên tới Đà Lạt lúc “trời vào tiết đầu thu (…) xem khí hậu thấy giống như đầu xuân – theo lời quý quan trú ở đây thì vùng đất này tới mùa đông hàn thử biểu có lúc xuống một, hai độ, giống như khí hậu miền Nam châu Âu – đôi khi cũng có mưa tuyết – quả là điều kỳ lạ trên đất nước Lĩnh Nam vậy” (1).

Hai ngày sau trời mưa liên tục, đến ngày thứ ba ông mới bắt đầu dạo quanh, thấy dinh thự, khách sạn cho đến nhà ở của dân “thảy đều xây cất trên đồi núi với cảnh đẹp giống như tranh vẽ”.

Cuối cùng ông cũng tìm được một cuộc đất có thế địa lý ưng ý để chọn làm nơi xây hành cung cho nhà vua trên ngọn núi có “đỉnh bằng phẳng rộng chừng trên 10 mẫu nằm gần ngọn núi xây cất Phủ toàn quyền, hiện đang có những cây thông già xanh tốt (mọc tự nhiên) mỗi cây cao 6, 7 thước tây, mọc thành hàng như do người trồng, cảnh trí rất tự nhiên (…) một dòng suối lượn quanh bao bọc từ bên phải ra đến phía sau núi. Thật là một địa điểm cao ráo quang đãng” phù hợp với yêu cầu về phong thủy cho một hành cung tọa lạc.

Luôn tiện ông cũng mô tả suối Cam Ly “chảy quanh co như một con sông, đến chỗ Cẩm Lệ (Cam Ly) thì có một khối đá lớn chắn ngang, dưới chân khối đá có một cái hồ lớn, từ mép hồ lên tới đầu khối đá cao độ 30 thước tây. Mặt khối đá có hai khe hở, nước từ khe hở chảy vọt xuống như hai cầu vồng dài. Giữa hồ nhô lên một cái gò như bãi trâu tắm” – trên gò có xây lầu bát giác, đứng ở lầu nhìn ra bốn phía thấy nước chảy vòng quanh, trăm hoa vây bọc “quả là chốn bồng lai tiên cảnh”(2).

Những mô tả trực quan của đại thần Đoàn Đình Duyệt gợi đến những chỉ dẫn của khoa địa lý phong thủy với hai phần: loan đầu và lý khí. Trong đó phần loan đầu là những gì một thầy địa lý có thể dùng mắt để trực tiếp quan sát được từ hình thể bao quát của một cuộc đất. Phần lý khí gồm những ứng dụng của lý học phương Đông vào việc xem xét chỗ đất kết. Ở đây Đoàn Đình Duyệt dùng kỹ năng sẵn có để thực hiện giai đoạn loan đầu rồi ghi vào bản trình tấu bằng chữ Hán lên vua Khải Định được dịch ra tiếng Việt đăng trên Tạp chí Nam Phong số tháng 3 và 4 năm 1918 (3).

3_19

Dinh thự, khách sạn, nhà dân ở Đà Lạt đều xây cất trên đồi núi với cảnh đẹp như tranh vẽ

Đến nay phong thủy học được kết hợp bởi địa chất học để tham cứu thêm về một cuộc đất nào đó. Riêng Đà Lạt, theo Võ Đình Ngộ:

các khối nham biến tính lẫn hoa cương đều bị các mạch thạch anh, thạch bích cắt ngang”(4). Các mạch thạch anh này chạy song song dưới các ngọn đồi hoa cương ẩn hiện quanh thành phố, theo thế nghiêng, hoặc thẳng đứng,hoặc cắt nhaumột vài nơi như ở ngọn đồi Pin Thouard, trên đường Đà Lạt – Suối Vàng và ngọn đồi ở Trường Adran (ấp Xuân An) các mạch thạch anh lớn và chằng chịt”(…) một vài dữ liệu quan trọng có thể viết lại lịch sử của vùng này” trong đó có kết quả nghiên cứu khoa học về các lớp sa thạch và diệp thạch đã bị gấp nếp (plissement) theohướng chính là Đông bắc – Tây nam, hoặc Đông – Đông bắc, Tây – Tây nam – hoặc từ Bắc chí Nam.

Như vậy, hướng gấp nếp này không giống hướng gấp nếp của Trường Sơn mà thuộc vềNam Sơn (…)”. Gần đây việc định tuổi tuyệt đối của hoa cương Đà Lạt là 191 triệu năm (theo Géochronologie du Vietnam méridional – Faure, Cl., et Fontaine, H., 1969).

Quá trình xâm thực đã làm hình dạng của mặt đất thay đổi mà “yếu tố quan trọng nhất là dòng nước (…) để lại vô số thung lũng và đường đỉnh nằm song song với nhau”. Đến nguyên đại cận sinh (cénozoêque) về sau, chuyển động Hymalayen tạo nên những đường toạc, đưa loại dung nham khác trào lên đã nâng cao địa thế của vùng này thêm một lần nữa khiến“các đỉnh núi bị mài mòn hoặc bị phá hủy, làm cho hình thể mặt đất, càng lúc theo thời gian, càng bị san bằng để tạo thành một bán bình nguyên như ngày nay”.

Trên “bán bình nguyên” ấy mây mù bao phủ, che kín bầu trời từ 5/8 đến 6/8 vào mỗi mùa mưa. Về mùa đông đôi khi ẩm độ xuống quá 10% lúc trời sập tối. Sáng ra, không khí ẩm tăng lên do “sự tăng động của gió mùa Tây Nam trên triền núi”. Còn sương mù Đà Lạt thuộc loại“sương mù bức xạ do sự hóa lạnh ban đêm của mặt đất”. Phần lớn “các dãy núi cao đều vây quanh thành phố Đà Lạt và chính những núi cao này đã làm tăng thêm vẻ quyến rũ của miền đất này”.

Về nguồn nước, phía Tây bắc Đà Lạt có thác Suối Vàng đưa nước chảy trên nền đá hoa cương. Phía Tây có thác Cam Ly. Phía Nam có thác Datanla và tháp Prenn danh tiếng đưa nước chảy trên nền nham huyền vũ. Về hướng Nam trên đường đi Sài Gòn có thác Liên Khàng nằm cách Đà Lạt 30km. Do ở độ cao hàng nghìn mét nên nước của Đà Lạt không thể “thủy tụ” mà luôn có xu hướng đổ về xuôi, tức là “chảy xuống”. Cả những nơi “thủy tụ” như hồ Than Thở vẫn có không gian chứa đựng những huyền thoại tình yêu buồn man mác…

ho than tho

Hồ Than Thở, nơi chứa đựng những huyền thoại tình yêu buồn man mác

Đến Đà Lạt, hoàng đế cũng mộng mơ !

Bảo Đại “có duyên” với “thành phố mộng mơ” ngay từ hồi chưa thoái vị. Ông đã “mơ mộng” có ngày lên đó làm ăn (như dân thường). Nên chưa đầy 24 giờ trước ngày rời khỏi ngai vàng vào cuối tháng 8.1945, ông đã gọi Ngự tiền văn phòng tổng lý của mình là Phạm Khắc Hòe vào tâm sự. Ông muốn sau khi trao ấn kiếm cho chính quyền, hai người sẽ rời kinh thành Huế lên đường “làm ăn chung” trên cao nguyên. Hoàng đế muốn làm gì ? Làm thợ săn ! Vì dạo ấy ông và hoàng hậu Nam Phương vừa tậu sẵn một đồn điền trồng chè ở Blao nằm trên quốc lộ 20 đường Đà Lạt – Sài Gòn. Ở đó ông lại sẵn có hai chiếc xe cam-nhông còn khá mới:

– “Ông nói sẽ cho tôi (Phạm Khắc Hòe) thuê một chiếc để tôi đóng lại làm nghề chạy xe đò sinh sống, vì trước kia trong những năm 1927 – 1928 tôi cũng đã từng làm giám đốc một xí nghiệp chạy xe đò và sửa chữa ô-tô tại Quy Nhơn. Còn nghề săn bắn của Bảo Đại thì không những ngày nào ông ta cũng sẽ có thịt gà rừng, heo rừng, nai, thỏ v.v… để ăn và đem ra chợ bán, mà ít ra mỗi tháng còn có thể kiếm được vài con hổ nữa…”.

Nhắc đến hổ, ông Phạm Khắc Hòe kể thêm trong hồi ký : Nếu Bảo Đại săn được hổ thì da hổ, thịt hổ, răng hổ, móng chân hổ đều là những món hàng hái ra tiền cả. Nhất là xương hổ Bảo Đại sẽ giao cho ông Hòe để “cho tôi nấu cao hổ cốt bán chia lời” (vì gia đình ông Hòe sành nghề nấu cao hổ nổi tiếng thời ấy mà thành phẩm của họ được dùng để chữa nhiều bệnh). Bao nhiêu chuyện đời nói như đùa nhưng “đều có cơ sở thực tế khiến Bảo Đại rất vui trong khi một không khí buồn tẻ lạnh lùng bao trùm lên cả Đại Nội” trước ngày thoái vị.

thumb Da Lat

Dinh Bảo Đại

Nhưng chỉ là “giấc mơ thôi”. Vì rời ngai vàng song cựu hoàng vẫn là đối tượng tranh thủ của người Pháp, của các chính khách trên chính trường đương thời, trong đó có hai nhân vật “cự phách” là Lưu Đức Trung và Lưu Bá Đạt tung tiền bao bọc để cựu hoàng sống với người đẹp Hoàng Tiểu Lan (người Hoa lai Pháp với tên: Jenny Woong) tại Hương Cảng với giá 15 đô la ở khách sạn mỗi ngày, thêm món tiền khác để cựu hoàng ném vào các sòng bạc, hoặc đến vũ trường với Lan.

Giới tai mắt nhận định những món tiền không nhỏ kia do trùm mật thám Pháp Cousseau đứng sau lưng chi trả. Mục đích của Cousseau nhằm giữ cựu hoàng trong tay để dùng khi cần thiết. Dịp tốt đã đến, Cousseau đóng vai trò không nhỏ trong việc khôn khéo tác động để có cuộc gặp mặt chính thức giữa cựu hoàng và Tổng thống Pháp Vincent Auriol vào giờ ngọ 8.3.1949 tại điện Elysée của thủ đô Paris.

Tiếp sau là một loạt sự kiện dẫn đến việc Pháp đưa cựu hoàng về nước với tư cách Quốc trưởng và thành lập Hoàng triều cương thổ “gồm những vùng cao nguyên có các sắc dân thiểu số từ Trung ra Bắc, là xứ bảo hộ cũ, mệnh danh là Hoàng triều cương thổ, để riêng cho con cháu nhà Nguyễn, xứ Thái Lai Châu và miền Tây Kỳ là đất dành cho Cựu hoàng. Thủ đô của Hoàng triều cương thổ là Đà Lạt và bất cứ ai đặt chân tới lãnh thổ này, kể cả dân Việt Nam đều phải xin phép của Nha Công an Hoàng triều cương thổ thuộc văn phòng Quốc trưởng ở Hà Nội và Sài Gòn, đặt dưới quyền cố vấn của Công an Pháp. Đà Lạt trở thành một kinh đô của những kẻ giàu sang quyền quý, ăn chơi. Phòng trà, tiệm nhảy, nhà ngủ, sòng bạc, đua nhau mọc lên. Cảnh rừng đồi thơ mộng cao nguyên với thông xanh, hoa anh đào đỏ ửng, biến ra làm nơi hò hẹn của những chính khách, bộ trưởng tương lai, hí trường mua chức bán tước hồi toàn thịnh của Bảo Đại. Cựu hoàng đã phải thốt lên: Tôi cần có một chục ngàn ghế bộ trưởng mới đủ ban cho bao nhiêu người tỏ dạ trung thành” (5).

Bà Mộng Điệp chụp với cựu hoàng Bảo Đại tại Pháp._1_resize

Bà Mộng Điệp ( áo đen bên phải) và cựu hoàng Bảo Đại

Từ Đà Lạt, cựu hoàng mở những bữa tiệc linh đình, những cuộc đi săn cọp trên lưng voi, những buổi đi câu cá có người Thượng xua mồi, có ngự lâm quân đi trước, có những người đẹp làm chiêu đãi viên dâng rượu thịt. Những lúc cao hứng, cựu hoàng tự mình lái xe jeep từ Buôn mê thuột băng rừng về Đà Lạt giữa đêm khuya.

Nhưng nơi mà cựu hoàng thích lui tới vào ban đêm nhất là biệt thự Myrba của vũ nữ Mộng Điệp. Được cựu hoàng quyến luyến, Mộng Điệp tự xem mình như là đệ nhất phu nhân ở thủ đô Hoàng triều cương thổ (…) vào ngay văn phòng Quốc trưởng gọi đích danh viên bí thư và đại úy Nguyễn Chánh võ phòng ra mà chửi mắng:

Chém cha đồ khốn nạn! Chúng bây có biết vì ai mà chúng bây có cơm ăn, có áo khoác vào người, có biệt thự để ở, có xe hơi để đi không? Chúng bây không biết ơn thì chớ, chúng bây lại lên mặt với anh bà! Để rồi Bà tống cổ chúng bây ra khỏi đây cho biết tay bà!. Mộng Điệp một tay chống nạnh, một tay xỉa xói vào mặt hai nhân viên cao cấp văn phòng Quốc trưởng đang cúi gầm, im lặng chịu đựng cơn thịnh nộ của “cục cưng” cựu hoàng”.

Ở Đà Lạt, cựu hoàng biến biệt điện của mình “trở thành một thứ A Phòng cung tân thời, với các mỹ nữ đủ màu da, Bảo Đại nghiễm nhiên sống trong thế giới khoái lạc của một hoàng đế giữa bao nhiêu cung nữ một thời. (…)Thủ hiến Trung phần Phan Văn Giáo đứng ra phụ trách công việc cung cấp gái cho cựu hoàng, đưa các thiếu nữ Trung Hoa từ Hồng Kông đến, các cô gái Huế từ đất cựu đế đô lên, các cô đầm từ Paris qua … và nhiều người đẹp khắp các phương trời” (6).

Cựu hoàng dành biệt thự khang trang trên cảnh đồi thơ mộng ở Ban Mê Thuột cho người đẹp Mộng Điệp ở – rồi dành riêng một chuyến máy bay thời ấy để chở 2000 con vịt trắng phau chọn mua ở Chợ Lớn đưa về thả từng đôi từng đôi trên mặt hồ trước biệt thự ấy cho thêm phần lãng mạn…

HẾT