Phong Thuỷ…

Phong Thuỷ- Phần 4

Bài 10: Kim Long – Một cuộc đất trữ tình

Là một cuộc đất cát tường về mặt phong thủy, Kim Long được các chúa Nguyễn chọn làm thủ phủ của Đàng Trong suốt nửa thế kỷ. Là một cuộc đất “sơn thủy hữu tình”, Kim Long còn nổi tiếng có nhiều mỹ nhân, mà đến nay hãy còn để lại câu ca: “Kim Long có gái mỹ miều – Trẫm thương trẫm nhớ, trẫm liều trẫm đi”…

Phong thủy vùng Kim Long

Quốc sử quán triều Nguyễn chép: vào năm 1636 chúa Nguyễn Phúc Lan (tức chúa Thượng) thấy đất Kim Long là nơi “có địa hình tốt đẹp” nên đã dời dinh đến đó và Kim Long trở thành thủ phủ đầu tiên đóng bên bờ tả ngạn sông Hương. Nhìn qua bên kia hữu ngạn thấy đồi Long Thọ hiện lên với thế núi đặc thù “khóa giữ thượng lưu sông Hương và được các nhà địa lý gọi là kiểu đồi “thiên quan địa trục” – nghĩa là trổ cửa lên trời và là trục xoay của các vùng đất(Đại Nam nhất thống chí).

Địa thế phong thủy ấy cũng được học giả Cadière ghi nhận khi ông đứng từ kinh thành Huế nhìn xa xa tới đường chân trời phía nguồn sông Hương thấy những ngọn đồi và đỉnh núi dãy này nối tiếp dãy kia trùng điệp vắt ngang tầm mắt, màu sắc thay đổi theo từng ngày nắng, ngày mưa, khi thì nâu nhạt, lúc xanh thẫm, tựa hồ bức tranh bốn mùa sinh động.

Giữa bức tranh cẩm tú mênh mang ấy là một con sông chạy đến gần đất Huế, trải mình ra giữa hai ngọn đồi: “một bên là ngọn đồi Thiên Mụ (Hà Khê) với tháp Phước Duyên, bảy tầng ngất ngưỡng như chọc thủng trời xanh để đưa xuống những nguồn phúc lộc, và bên kia hữu ngạn là mô đất Long Thọ – trường sinh bất tử. Mô đất này cũng có những đặc tính nhiệm màu kỳ lạ mà sau này các thầy địa lý của triều đình Việt Nam cũng công nhận. Vì nó án ngữ nguồn chảy của sông Hương, tưởng như nó đang gối đầu lên dòng nước và nghiêng nghiêng đối diện với đồi Thiên Mụ tạo thành một thế phong thủy gọi là cánh cửa thông thiên và trục xe địa phủ” (Đỗ Trinh Huệ dịch).

So do phu Kim Long_resize old

Sơ đồ thủ phủ Kim Long, Huế

Như vậy, đồi Long Thọ (hữu ngạn) cùng đồi Hà Khê (tả ngạn) nhô lên khỏi đất bằng để ôm lấy dòng nước sông Hương đang êm đềm đổ xuống, tạo nên cảnh trí thơ mộng cho các vùng đất hai bờ, trong đó có Kim Long. Xét sách địa lý gia truyền của cụ Tả Ao, thì: có núi mà không có nước sẽ thành cảnh “cô sơn” – ngược lại có nước mà không có núi sẽ thành “cô thủy” (Hữu sơn vô thủy, vị chi cô sơn – Hữu thủy vô sơn, vị chi cô thủy).

Tốt nhất vừa có núi vừa có sông nước liền nhau để núi nghênh thủy (sơn cố thủy) và thủy in bóng núi (thủy cố sơn) mới thật là đất tốt (dung kết chi địa dã). Vậy Kim Long có đủ yếu tố “sơn thủy” như cụ Tả Ao nêu. Mà thủy ở đây với thế “tĩnh” và “tụ” nên sinh ra người trong vùng thanh lịch, giàu có (thủy tĩnh nhân tú – thủy tụ nhân phú) khác với chỗ nước xoáy xô bồ ào ạt, hoặc nước chảy rì rào như tiếng khóc tỉ tê suốt ngày sẽ sinh ra kẻ bần tiện, đói nghèo (thủy trọc nhân mê – thủy khứ nhân bần). Thật vậy, cuộc đất Kim Long từ khi trở thành thủ phủ. Sau này, khi thủ phủ dời về Phú Xuân (cũng nằm bên tả ngạn sông Hương), Kim Long vẫn để lại các tên đất gợi nhớ thời lập phủ như: Thượng Dinh, Trung Dinh, Hạ Dinh, Cồn Kho, Mô Súng, vườn Nghênh Hôn … Và vua Thành Thái đã đến đó góp một trang “tình sử”.

Mối tình của vua Thành Thái

Vua Thành Thái là một ông vua yêu nước bị thực dân Pháp quản thúc ở Vũng Tàu (từ 1907), đày sang đảo Réunion 31 năm (từ 1916 – 1947). Ngày còn tại vị, vào những năm 1889-1907, nhà vua rất gần gũi dân chúng, hay cải dạng thành thường dân để rời hoàng cung ra ngoài thành. Có lần dạo qua vùng Kim Long, vua bước xuống bến sông gọi đò về, chợt thấy cô lái đò là một cô gái má hồng như màu cánh sen, dáng bộ tha thướt dẫu ở chốn bình dân mà xem có bề quý phái, ngay lập tức “tiếng sét” vô thanh đã đánh trúng trái tim của hoàng đế. Rồi trong bộ dạng của một “thanh niên bình thường”, vua Thành Thái đến bên thiếu nữ hỏi: “O kia, có ưng làm quý phi không?”. Sau giây phút thẹn thùng và ngỡ ngàng trước câu hỏi lạ, cô bỗng mạnh dạn trả lời : “Ưng !” (đồng ý). Cô ngỡ trả lời bâng quơ như thế cho có, cho xong, ai ngờ chàng “thanh niên” liền đến đầu mũi thuyền giành lấy mái chèo nói: “Hãy để trẫm chèo đưa quý phi đi”. Rồi vua chèo đò xuôi dòng nước đến đậu trước Phu Văn Lâu, lên bến Nghinh Lương, đưa cô vào hoàng cung, đến vườn thượng uyển, khiến cô bàng hoàng như đang “mộng dưới hoa”…

Vua Thanh Thai 1_resize

Chân dung vua Thành Thái

Cạnh đó những cuộc tình dân gian ở Kim Long cũng đã đi vào ca dao với bao lời da diết:“Nước đầu cầu khúc sâu khúc cạn. Chèo qua Ngọc Trản đến vạn Kim Long. Sương sa gió thổi lạnh lùng. Sóng xao trăng lặn, chạnh lòng nhớ thương”. Hoặc: “Kim Luông dãy dọc tòa ngang. Em chèo một chiếc thuyền nan về Sình. Đôi lứa mình lỡ hẹn ba sinh. Có mần răng đi nữa cũng hãy trọn tình với nhau”. Mấy tiếng “dãy dọc tòa ngang” nhắc nhớ đến vùng đất xưa lúc Kim Long là thủ phủ của chúa Nguyễn.

Alexandre De Rhodes với thủ phủ Kim Long

Địa thế phong thủy cùng tài năng chúa Nguyễn đã đưa Kim Long thành trung tâm hành chính, quân sự của đất Nam Hà một thời. Để tìm hiểu điều ấy, thiết tưởng chúng ta hãy xem qua những ghi chép khách quan của người châu Âu đương thời từng đến đó. Chúng tôi muốn nhắc đến học giả, nhà truyền giáo dòng tên (Jésuite): Alexandre de Rhodes – đã có mặt tại Kim Long khoảng những năm 1640 – 1645 dưới thời chúa Nguyễn Phúc Lan. Ông là tác giả cuốn Từ điển Việt – Bồ – La, biên soạn sau ngày đến Kim Long, chứa đựng nhiều sắc thái văn hóa của người Việt thế kỷ 17. Chính ở Kim Long, Alexandre de Rhodes yết kiến chúa Nguyễn Phúc Lan và tận mắt nhìn thấy sinh hoạt trong phủ chúa cũng như ngoài dân chúng và kể lại trong một cuốn sách xuất bản tại châu Âu.

Trong tác phẩm đó, ông mô tả quang cảnh Kim Long như một “thành phố lớn” (cette grande ville) với đông đúc dân cư, nhà cửa, phố xá, chợ búa, bến nước và buổi lễ đón tiếp những người Tây Ban Nha, những nữ tu và ông vào buổi chiều tháng 2.1645 bên bờ sông Hương: “Chúa Thượng (Nguyễn Phúc Lan) và phu nhân trong trang phục quý phái, lộng lẫy cùng đông đảo các vị quan lớn trong phủ Kim Long có mặt tại buổi đón tiếp. Có ngót 4000 lính chia làm 4 đội sắp hàng chỉnh tề, khéo léo, không che khuất chỗ chúa Thượng và phu nhân đang đứng. Những đội cận vệ đứng sát để bảo vệ chúa, ai nấy đều cầm trong tay một thanh đao có gắn chuôi bằng bạc và mặc áo bằng nhung màu tím có thắt đai vàng ngang bụng, đứng nghiêm chỉnh và im phăng phắc. Khi đoàn Tây Ban Nha đến, chúa cho phép hết thảy binh lính của mình ngồi xuống đất, xếp bằng lại để buổi lễ bắt đầu. Chúa sai mang đến cho mỗi người một phần trà đựng trên các khay sơn son thếp vàng bóng loáng”.

Chúa Thượng cũng mời Alexandre de Rhodes và những người trong đoàn bữa tiệc theo cung cách cung đình với rất nhiều món ăn sang trọng. Yến tiệc được bày ra với các vũ nữ Kim Long vây quanh biểu diễn các điệu múa điêu luyện khiến những người Tây Ban Nha có mặt phải trầm trồ khen ngợi. Mãi đến khi trời sập tối, chúa ra lệnh thắp đuốc sáng rực khắp dinh. Các dịp tiếp theo, chúa Thượng đã cho diễu binh trên bộ với khoảng 6000 binh lính và dân chúng tham gia đi rợp cả “thành phố lớn” Kim Long. Cùng lúc dưới nước chúa cho tập trận với 20 chiến thuyền lướt như bay trên mặt sông Hương.

Kim Long, Hue-photo by Gia Tien (2)_resize Kim Long, Hue-photo by Gia Tien (4)_resize

Kim Long, Hue-photo by Gia Tien (7)_resize

Một ngôi nhà cổ ở Kim Long, Huế

Sau này vị trí của thủ phủ Kim Long mà Alexandre de Rhodes ghi lại được nhiều nhà nghiên cứu định vị, chẳng hạn: “có lẽ thủ phủ của chúa Nguyễn lúc ấy tọa lạc tại vùng đất từ chợ Kim Long lên đến gần làng Xuân Hòa (…) đã được sông ngòi bao bọc cả 4 bề: trước mặt là sông Hương, bên trái là sông Kim Long, bên phải và phía sau là sông Bạch Yến” (Phan Thuận An). Một tác giả khác, nhà nghiên cứu Phan Thanh Hải, trong tài liệu về “Thủ phủ Kim Long và diện mạo của Huế trước 1687” in trong tuyển tập Cố đô Huế xưa và nay (NXB Thuận Hóa 2005) nhắc đến 4 lần chúa Nguyễn dời dựng, thay đổi vị trí thủ phủ trước khi chuyển đến Kim Long, đó là Ái Tử (1558 – 1570), Trà Bát (1570 – 1600), Dinh Cát (1600 – 1626), Phước Yên (1626 – 1636) và nhận định:

Địa danh Kim Long mà chúng tôi nói ở đây là làng Kim Long (chứ không phải phường Kim Long) có diện tích tổng cộng chừng 130ha, nằm ở tả ngạn sông Hương, một vùng đất trù phú màu mỡ, vị trí thuận lợi, cảnh sắc trữ tình. Căn cứ vào các nguồn tư liệu, nhất là gia phả của các dòng họ lâu đời ở Kim Long, thì làng đã được thành lập cách đây trên dưới 400 năm và là kết quả của việc mở rộng và tách ra từ làng Hà Khê (nơi có chùa Thiên Mụ và long mạch nhà Nguyễn) (…) Trong địa phận của làng Kim Long, ngoài sông Hương ở phía Nam còn có sông Kim Long (tức sông lấp) ngăn cách làng Phú Xuân và Vạn Xuân, và sông Bạch Yến chảy ngang qua giữa làng. Cả hai con sông này đều là các chi lưu của sông Hương, chúng vừa tạo nên vẻ đẹp trữ tình của vùng đất này, vừa tạo nên địa thế rất “đắc lợi” của Kim Long là “tứ thủy triều quy”

Nghĩa là bốn dòng nước tụ về dưới chân những trái núi quanh cuộc đất Kim Long phù hợp với điều cụ Tả Ao giảng giải về thế sơn thủy: sơn là chồng, thủy là vợ, khi chồng xướng xuất việc gì thì vợ sẽ phụ theo (sơn vi phu, thủy vi phụ, phu xướng phụ tùy), cùng nghĩa ấy: núi là“trống”, nước là “mái” – núi chạy đến đâu thì nước theo đến đó (sơn vi hùng, thủy vi thư – hệ sơn tắc thủy tòng). Mà sơn mạch chạy từ dãy Trường Sơn hùng vĩ tách nhánh ra đến đất Kim Long được dòng sông Hương, sông Bạch Yến theo về “hợp hôn” – sinh ra một vùng nước xanh thơ mộng – thủ phủ của Nam Hà, cũng là thủ phủ của tình yêu một thuở.

Bài 11: Phú Xuân – Vùng đất xưng vương

Một trong các nguyên do mang đậm yếu tố phong thủy trong việc thiết lập thủ phủ Phú Xuân là sự hiện diện của núi Ngự Bình với vai trò “tiền án” nhằm che chắn bảo vệ mặt trước cho vùng đất xưng vương này…

Ngự Bình và những ngọn núi của hoàng gia

Sau 52 năm tồn tại, Kim Long chấm dứt vai trò thủ phủ của mình vào 1687 dưới thời chúa Nguyễn Phước Thái. Sự kiện trên được một số tác gia thời trước như Bảng trung hầu Nguyễn Khoa Chiêm – người đã gắn bó suốt đời với các chúa Nguyễn ở Đàng Trong – ghi nhận trong Nam triều công nghiệp diễn chí: “lệnh lấy phủ cũ (Kim Long) làm nơi thờ phụng tiên vương, chọn đất làm phủ mới ở đầu nguồn sông cách phủ cũ hơn năm trăm trượng, lấy núi Ban Sơn (tức núi Ngự Bình) làm án, lại đắp đê ở cánh phải để ngăn nước lũ xói bờ. Thế là quân lính, dân phu, thợ giỏi vâng lệnh hưng công xây dựng cung phủ mới” (Ngô Đức Thọ và Nguyễn Thúy Nga dịch và chú thích). Cung phủ mới cũng nằm bên tả ngạn sông Hương và chỉ cách Kim Long khoảng hơn 4 cây số về hướng đông nam, ở đó có núi Ngự Bình cao chỉ độ 104m, song có vị trí hết sức đặc biệt vì nổi vọt lên giữa quãng đất bằng như bức bình phong được chọn làm tiền án để đào hào, đắp tường, xây dựng cung điện trên vùng đất Phú Xuân.

Hinh ve 1_resize1Hình núi Ngự Bình vẽ trong Ngự đề danh thắng đồ hội thi tập (vua Thiệu Trị)

Đặc điểm của địa cuộc Phú Xuân được Lê Quý Đôn mô tả “rộng khoảng hơn 10 dặm với thế đất bằng phẳng như lòng bàn tay, chính dinh được xây ở giữa, bốn bên đều thấp hơn, tức là xây ở chỗ nổi bật giữa đất bằng, ở vị trí Càn (tây bắc) trông về hướng Tốn (đông nam) dựa ngang sống đất, mặt chính của dinh trông xuống bến sông, đằng trước là quần sơn chầu về la liệt” (Phủ biên tạp lục). Vua Thiệu Trị trong một bài thơ cũng viết về núi Ngự Bình với địa thế“quần phong triều củng” (non núi chầu về): “Xuất bình địa chi giao cao khởi, quần phong triều củng. Tráng thùy thiên chi thế đoan lâm, dương khuyết thiên bình, đại ý: giữa đất bằng nổi lên một ngọn cao để các dãy núi từ xa trùng trùng hướng tới chầu về, là nơi tạo bức bình phong ngang trời.

Vậy trong dãy “quần sơn” và “quần phong triều củng” mà vua Thiệu Trị và Lê Quý Đôn nhắc đến có thể kể tên những ngọn núi ấn tượng mà Quốc sử quán triều Nguyễn đã ghi lại như ngọn Ngọc Trản (tức Hòn Chén): “Ở cách huyện Hương Trà 11 dặm về phía nam, có tên nữa là núi Hương Uyển. Mạch núi do các núi ở phía tây bắc trùng trùng điệp điệp, như rồng đi hổ phục, chạy dài chênh chếch về phía nam, đến phía tây sông Hương thì dừng lại, nổi vọt lên một ngọn vừa tròn vừa đẹp như hình cái chén, nên gọi tên ấy. Sườn núi có đền thiêng. Chân núi kề vực sông, nước rất trong ngọt, người ta phải gọi là nước Ngọc Trản, thường lấy dâng ngự dụng”. Về thế phong thủy của Ngọc Trản, một số nhà nghiên cứu cho đó chỉ là “thế nổi” của sơn mạch. Còn “thế chìm” lại luồn qua dưới đáy nước sông Hương (để dòng nước chảy bên trên) rồi lại tiếp tục “trồi lên bờ” ở phía nam, chạy về hướng Nam Giao đến đồng bằng Phước Quả mới đột ngột nhô cao thành núi Ngự Bình. Các núi khác có thể kể thêm gồm: Núi Thụ (vua Gia Long đổi tên là Thiên Thụ) nằm phía nam huyện Hương Trà, có đền thờ thần núi, hai bên tả hữu có núi Thanh và núi Bạch, với 34 ngọn núi khác bao quanh chầu về, như núi Diên, núi Bính, núi An, núi Hưng, núi Hòa, núi Xuân, núi Hoa, núi Hương, núi Bão, núi Cẩm, núi Quý, núi Đoài, núi Bút: “Lại có núi Đại Tượng, núi Ất, núi Thạch Bàn, núi Ngọc Đường, núi Thịnh, núi Kim, núi Lẫm và núi Thành. Những tên núi được phong từ đời vua Gia Long đều là đất lăng tẩm, trọng địa, ngàn ngọn muôn khe chầu về bao bọc, hai ngành Tả trạch và Hữu trạch nước chảy vòng quanh, cao lớn vững vàng, thật là phúc địa, chung đúc khí tinh anh vậy…” (Đại Nam nhất thống chí – Phạm Trọng Điềm dịch, Đào Duy Anh hiệu đính).

Dinh lang Phu Xuan_resize 1Đình làng Phú Xuân được giữ lại trong kinh thành Phú Xuân – di tích lịch sử quốc gia

Có nhà nghiên cứu cho rằng, trong loạt núi trên có riêng núi Ngự Bình là tiền án của Phú Xuân, ngoài công dụng che chắn uế khí còn có tác dụng lưu giữ gió tốt, nguồn khí tốt cho vùng đất trên (tàng cát phong). Để giải thích nội dung liên quan đến “khí” trong thuật địa lý phong thủy thiết tưởng cần nêu ra đây một số phân tích của dịch giả, nhà nghiên cứu Nguyễn Tôn Nhan trong công trình biên soạn Bách khoa thư văn hóa cổ điển Trung Quốc (NXB Văn hóa thông tin 2002), như sau: “Phép coi phong thủy, hơn hết là đắc thủy, kế đó là giữ gió. Như thế có thể biết trong thuật coi đất thời cổ có hai yếu tố lớn. Trọng tâm của nó là sự tiến hành tuyển chọn và xử lý đối với nơi cư trú của loài người (…)chia ra hai loại là Dương trạch (nhà ở khi sống) và Âm trạch (nhà ở khi chết). Nghiên cứu phong thủy, từ cơ bản là để đáp ứng nhu cầu tìm tốt tránh xấu của loài người. Một khi nhu cầu ấy tồn tại là quan niệm về phong thủy còn tồn tại. Trong phạm vi liên quan đến Địa lý phong thủy, chúng tôi chỉ giải thích một số khái niệm căn bản như Khí là khái niệm thường được nhắc đến và được nhấn mạnh. Trong đông y và khí công, khí được hiểu như một dạng năng lực lưu thông trong cơ thể theo 12 kinh và 8 mạch. Nếu dòng khí này luân lưu điều hòa thông suốt thì cơ thể khỏe mạnh. Trái lại, có nghĩa là dòng khí trong cơ thể bị bế tắc hay thiếu hụt. Trong môn địa lý, nguồn năng lượng nằm trong lòng đất (địa khí) được đặc biệt khai thác bằng một số kỹ thuật nhằm tập trung hay điều hòa dòng khí lưu chảy trong lòng đất kết vào căn nhà (hoặc công trình kiến trúc, kinh thành, thủ phủ) nhằm đem lại cuộc sống hài hòa may mắn cho chủ nhân. Ngày nay, với sự tiến bộ của ngành vật lý lượng tử và nhiều ngành khoa học khác, khái niệm về vật chất và năng lượng được xem như một dạng của sự chuyển hóa. Vật chất chuyển hóa thành năng lượng và năng lượng chuyển hóa thành vật chất. Mọi vật thể trong vũ trụ đều tương quan tương tác mật thiết với nhau. Môn địa lý đã vận dụng những điều này trong việc tạo nên một lý luận về kiến trúc xây dựng”. Chúng tôi hy vọng nội dung trên phần nào có thể gợi mở tìm hiểu thêm về thuật phong thủy trong việc định thủ phủ, định đô đề cập đến trong loạt bài này. Bây giờ xin trở lại với những ghi chép sát sườn về núi Ngự Bình và đất Phú Xuân…

Những dấu ấn lịch sử

Nhà văn, học giả Phạm Quỳnh trong một bút ký về Huế đăng trên tạp chí Nam Phong, số 10 tháng 4.1918, đã viết: “Thường cẩn đọc trong sách Đại nam nhất thống chí, thiên Kinh sư, có tả địa thế cùng lược lịch sử nơi kinh thành Huế (đất Phú Xuân xưa) như sau: “Chốn Kinh sư gồm cả núi bể trong nước mà ở vào giữa khoảng Bắc Nam, khí hậu hòa bình, sơn thủy kỳ tú. Đường bể thì có cửa Thuận An, cửa Tư Hiền làm hiểm, đường lục bể thì có ải Quảng Bình, ải Hải Vân làm trở. Sông nhớn bao mặt trước, núi cao chắn mặt sau. Ba nguồn Bồ Trạch bọc bên tả bên hữu. Đầm Tam Giang, đầm Thanh Lam, đầm Hà Trung làm then làm chốt. Thực là một nơi hổ chồm rồng cuốn, địa thắng hình cường; đất hiểm yếu của giời đất, làm thượng đô cho đế vương”. Tôi tin những nơi sơn thủy kỳ tú có ảnh hưởng đến vận mệnh một nước. Người ta đối với cái ngoại cảnh không phải là không có quan hệ. Người đồng bằng biệt ra tính cách đất đồng bằng, người rừng núi biệt ra tính cách nơi rừng núi; thói ăn cách ở, đường sinh kế, lối tư tưởng, không gì là không tùy theo cái ngoại cảnh mà khác nhau. Huống chi là những bậc đế vương mở đất dựng nước, những nơi sông núi xinh đẹp lại không có quan hệ với cái lòng hoài bão nhớn nhao hay sao? Đã có sông Hương lại có núi Ngự nữa, cái cảnh mới thực là toàn xinh”.

Hinh 4_resize 1Hình ảnh “Ngự Bình” đúc nổi trên Cửu Đỉnh

Từ cuộc đất “đại cát”, Phú Xuân trở thành nơi xưng vương và chuyển mình phát triển thành kinh đô của nước Việt Nam thống nhất (Huế) với 3 sự kiện lớn trong lịch sử sau đây:

1. Phú Xuân là nơi chúa Nguyễn Phước Khoát xưng vương (Võ Vương) năm Giáp tý (1744) lập chế độ và định triều nghi, chính thức tạo riêng một cõi Đàng Trong độc lập với chúa Trịnh ở Đàng Ngoài. Đây là thời kỳ hoàn thành cuộc Nam tiến của dân tộc.

2. Phú Xuân là nơi vua Quang Trung lập đền tế lễ để lên ngôi hoàng đế tại địa điểm được nêu rõ trong cuốn Địa danh du lịch Việt Nam do Nguyễn Thị Thu Hiền biên soạn, NXB Từ điển bách khoa 2007: “Núi Bân là một ngọn đồi trọc, cấu tạo bằng sa phiến thạch, có độ cao 41m, diện tích 80.000m2, nằm ở thôn Tứ Tây, xã Thủy An, thành phố Huế, cách núi Ngự Bình 620m về phía tây, cách thành phố Phú Xuân thời Tây Sơn hơn 3km về phía Nam. Đàn tế trời của Quang Trung – Nguyễn Huệ được xây dựng thành ba tầng đồng tâm tạo thành 3 khối núi nón cụt chồng lên theo chiều cao. Hơn 200 năm đã trôi qua, với bao lần mưa san, gió tạt, mặt núi đã bị xói mòn nhiều, nhưng hiện nay vẫn còn thấy rõ được 3 tầng nền của đàn tế”. Tài liệu trên còn cho biết các tầng nối với nhau bằng bốn con đường dốc thoai thoải để lên xuống và xưa kia hàng vạn binh sĩ cùng nhiều voi ngựa và đại pháo có thể tập trung ở đây trước giờ ra trận.

3. Phú Xuân là nơi vua Gia Long làm lễ tế trời đất và lên ngôi năm 1802, đổi Thăng Long làm Bắc thành và chọn Phú Xuân làm kinh đô. Dấu ấn mạnh nhất trong lịch sử kiến trúc Việt Nam ở đây là vua Gia Long đã khởi công xây dựng kinh thành Huế trên vùng đất Phú Xuân bằng sự kết hợp các yếu tố phong thủy có sẵn trong thiên nhiên với nghệ thuật kiến trúc do con người thực hiện để tạo nên những giá trị văn hóa tuyệt vời.

Chiều trên sông Hương

Đất Phú Xuân ngoài núi Ngự, còn có sông Hương được chọn làm “minh đường” của Phú Xuân – Huế. Mà theo cụ Tả Ao, minh đường phải trũng và đáng yêu như bàn tay để ngửa, cho nước chảy vào và thành nơi “chứa ngọc” (tích thủy vị chi tích ngọc). Sông Hương minh đường ấy hòa hợp với núi Ngự tạo nên “bốn mùa trân quý, ngọc ngà” (tứ thời sơn thủy, tứ thời trân), đã âm vang vào tâm thức của người dân xứ Huế: Đi mô cũng nhớ quê mình – Hương giang gió mát, Ngự Bình trăng thanh, cũng như tồn tại trong hồn thơ vang bóng của Bùi – đại – ca thi sĩ: “Dạ thưa xứ Huế bây giờ – Vẫn còn núi Ngự bên bờ sông Hương”…

Bài 12: Vua Gia Long với phong thủy kinh thành Huế

Sau ngày lên ngôi, vua Gia Long đích thân nghiên cứu tìm hướng tốt và cuộc đất thuận tiện xây dựng kinh thành Huế với đề án di dời 8 ngôi làng để lấy mặt bằng thực hiện…

Đáp ứng lòng người trước khi định đô

Dân cư của 8 làng phải di dời đi nơi khác gồm: Phú Xuân, Vạn Xuân, Diễn Phái, An Vân, An Hòa, An Mỹ, Thế Lại, An Bửu, trong đó đất làng Phú Xuân hầu hết đều nằm gọn trong phạm vi kinh thành sẽ xây. Vì thế, vua Gia Long đã cấp 30 mẫu ruộng, 3 khoảng đất để dựng nhà và 1000 quan để giúp dân Phú Xuân – 7 làng còn lại theo tài liệu của Tả tham tri Bộ binh Võ Liêm mỗi nhà “được cấp 3 lạng và mỗi ngôi mộ dời đi được cấp 2 lạng”. Nhà vua nghĩ rằng việc đền bù nhà cửa, ruộng vườn cần phải chu đáo, giữ yên lòng dân để bắt tay xây dựng trên tổng diện tích 520ha và chu vi 9.889m. Huỳnh Đình Kết nhận định đây là đợt giải tỏa lớn, triệt để và khẩn trương, tiến hành trong vòng 2 năm, riêng phần mộ vắng chủ quy tập về nghĩa trang Ba Đòn có đến 10.000 ngôi.

Ngo mon Hue 1_1

Ngọ môn Huế

Di dời xong, Gia Long chọn ngày tốt vào tháng tư âm lịch, nhầm 9.5.1804 dương lịch để bắt tay xây dựng vòng trong thành (vòng trong của Đại Nội) với tổng chu vi 4 cạnh là 307 trượng, 3 thước 4 tấc (1.229m), thành bằng gạch cao 9 thước 2 tấc (3m68) và dày 1 thước 8 tấc (0m72) – theo Võ Liêm. Sau đó, công việc tiếp tục qua nhiều giai đoạn, song nhìn toàn cục kinh thành Huế quay mặt về hướng Đông nam (Tốn) thay vì hướng chính Nam như các vua chúa thường chọn theo thuật phong thủy để xây cung điện của mình. Vì sao vua Gia Long lại quyết định chọn hướng như thế? Nguyễn Đăng Khoa đề cập đến trong Kỷ yếu Bảo tàng mỹ thuật Việt Nam, số 7 1991 rằng, những công trình kiến trúc của kinh thành Huế được tiến hành theo một hệ thống các quy tắc hết sức nghiêm ngặt của các hình thế núi sông, long mạch “mặt bằng và độ cao thấp của địa hình được người xưa quan niệm đó là văn của đất, có cao, thấp, là có sông, suối, đầm, núi, tạo ra những nhịp điệu riêng của từng vùng – những nhịp điệu lớn chung của nhiều vùng nhỏ tạo ra những đại cuộc đất”. Cụ thể hơn, Trần Đức Anh Sơn qua tài liệu về tư tưởng quy hoạch kinh thành Huế thời Gia Long giới thiệu trên tậpCố đô Huế xưa và nay do Hội Khoa học lịc sử Thừa Thiên – Huế và NXB Thuận Hóa ấn hành 2005, đã cho biết nội dung cuộc trao đổi với một người trong hoàng tộc uyên thâm về dịch học, lý số, phong thủy là học giả Vĩnh Cao theo 4 ý chính, nguyên văn:

  1. Kinh đô, theo quan niệm phong thủy ngày xưa đều hướng về Nam nhưng ngay tại vùng Thừa Thiên, mạch núi Trường Sơn, đặc biệt là quần sơn kề cận kinh đô cho đến dãy Bạch Mã đều chạy theo hướng Tây bắc – Đông nam. Dựa vào thế đất ấy, kinh thành nhìn về hướng Đông Nam là tốt nhất.

  2. Theo thuật phong thủy thì bất cứ một ngôi nhà hay cung điện gì thì ở phía trước gọi làchu tước (chim sẻ đỏ) thuộc hướng Nam, hành hỏa. Phía trái (từ ngoài nhìn vào) gọi làbạch hổ (hổ trắng) thuộc hướng Tây, hành kim. Phía phải gọi là thanh long (rồng xanh) thuộc hướng Đông, hành mộc. Phía sau gọi là huyền vũ (rùa đen) thuộc hướng Bắc, hành thủy. Đặt kinh thành dựa theo hướng thiên nhiên, dùng ngũ hành mà sinh khắc chế hóa để sửa đổi, tạo thế quân bình, rồi dùng ngũ hành mà tạo lục thân để đoán vị và quy hoạch, bố tri cung điện.

  3. Phong thủy cũng quan niệm rằng: phía Tây thuộc về chủ; phía Đông thuộc về thê thiếp, bạn bè ti bộc, vật giá, châu báu, kho đụn, vật loại… tức là những thứ mà chủ sai khiến, sử dụng; phía sau thuộc về tử tôn, môn sinh, trung thần, lương tướng. Từ đó, việc bố trí các cung điện, dinh thự… trong Kinh thành, Hoàng thành và Tử cấm thành cũng dựa vào nguyên tắc này mà phân bổ chức năng.

  4. Kinh thành Huế xây dựng ở vùng đất có nước phủ bốn bề, theo phong thủy là nơi tụ thủy, đất phát tài. Nhưng phía Tây kinh thành lại có khí núi xung sát, sông Hương uốn khúc vì thế hành kim rất vượng. Điều này sẽ có hại cho phía Đông, chủ hành mộc (kim khắc mộc). Mộc yếu sẽ dẫn đến sự hạn chế về của cải, dân chúng, thương mại…, kim động sẽ gây hại cho dương trạch nên dễ sinh tật bệnh, tổn hại gia đạo. Vì thế phải xây chúa miếu ở phía Tây để trấn. Đó là lý do ra đời Văn Miếu, chùa Thiên Mụ ở phía Tây kinh thành Huế.

So do Kinh Thanh Hue_1_resize

Sơ đồ kinh thành Huế

Vận dụng dịch lý và thuật phong thủy bên bờ sông Hương

Bốn điều do học giả Vĩnh Cao lưu ý trên đây, theo nhận định của Trần Đức Anh Sơn đều xuất phát từ sự vận dụng dịch lý và thuật phong thủy vào địa hình cụ thể của Huế. Trước hết, hướng của kinh thành Huế quay mặt về Đông nam là do địa hình chi phối, vì nếu quay về hướng chính Nam như thường thấy Huế sẽ “lập với con sông Hương chảy theo hướng Tây nam – Đông bắc, ngang qua kinh thành một góc ước khoảng 45 độ, các yếu tố phong thủy như Minh đường, Thanh long, Bạch hổ… sẽ không còn giá trị. Trong khi đó, quay mặt về hướng Đông nam, kinh thành Huế sẽ có con sông Hương làm yếu tố Minh đường và hưởng được tính chất tốt của hai hòn đảo nhỏ tức Cồn Hến và Dã Viên. Thật vậy, theo GS. Nguyễn Thiệu Lâu, đảo Thanh Long và đảo Bạch Hổ cùng quay đầu về kinh thành để các luồng âm và dương thổi qua bảo vệ”. Nói rõ hơn, Nguyễn Đăng Khoa qua tài liệu đã dẫn, nhận xét: “Sông Hương theo cách nhìn địa lý cổ, là một dòng sông chảy ngược từ phía Nam lên phía Bắc. Theo quan niệm trong Kinh dịch thì gốc của thủy phải ở phía Bắc và chảy về Nam (khởi từ Khảm và tụ về Ly). Tất nhiên, ở Huế, dòng chảy của sông Hương do địa hình quy định, phía Nam sông Hương là vùng đồi núi cao, hợp lưu của hai nhánh sông Tả và Hữu trạch. Hai dòng nước này hợp lại ở thượng nguồn sông Hương, giữa 3 khu núi cao là Kim Phụng, Thiên Thọ và núi Vưng. Nhìn rộng ra thì cả khu vực đồi núi này bắt nguồn từ Trường Sơn, tạt ngang ra biển, tạo nên một đại cuộc đất là Hoành Long. Dòng sông Hương trong lặng tỏa rộng về phía Bắc ra cảng Thuận An. Dòng nước uốn lượn nhiều lần qua đồi Vọng Cảnh, chảy về phía Nguyệt Biều, rồi lật trở lại chảy qua mặt thành. Theo sách Địa đạo diễn ca của Tả Ao thì long mạch uốn lượn gấp khúc càng nhiều thì càng chứng tỏ đất có nhiểu sinh khí. Mặt đất nhược dần về phía kinh thành tạo ra một vài thế đất kết tụ gọi là Thũy Hử (phần đất được sông đổi hướng chảy ôm lấy tạo thành). Những loại mạch sơn cước như vậy khi xuống thấp thấy hiền hòa hơn, chính là nơi tạo ra những huyệt địa kết phát. Vua Gia Long đã chọn được khu vực tốt cho việc xây thành, lập kinh đô. Thành có án, có tả thanh long, hữa bạch hổ triều củng, có “thủy đáo điện tiền” và đoạn sông trước thành đồng thời đóng vai trò minh đường cho thành”.

.

Bờ thành kinh thành Huế

Day sung dai bac truoc Ngo mon_1

Dãy súng đại bác trước Ngọ môn

Đến đây, thiết tưởng chúng ta cần tham khảo thêm tài liệu của một học giả uy tín người Pháp qua cuốn Văn hóa, tôn giáo, tín ngưỡng Việt Nam dưới nhãn quan học giả L.Cadiere, bản dịch của Đỗ Trinh Huệ, tài liệu này đưa ra giả thuyết vua Gia Long “khi bắt đầu xây dựng Hoàng thành và Tử cấm thành ngày 9.5.1804, ngày “Kỷ Vị” thì vào ngày 1.5.1803, ngày “Ất Vị”, ông ta đã phân định La thành, ngày “Quý Vị” 28.5.1805, nhà vua cho dựng lên thành lũy, ban đầu bằng đất rồi dần dần bằng gạch. Bằng những việc làm trên, có lẽ Gia Long đã hết sức củng cố thêm những phòng thủ ma thuật thiên nhiên mà tiên chúa Ngãi Vương đã dùng tớiCác cung điện của kinh thành đều có ghi rõ ràn các can chi, ngày khởi công xây dựng. Các bảng ghi ngày tháng xây dựng đều có ghi ngày tốt giờ tốt. Hẳn rằng Gia Long khi cho xây dựng đều cho tuân thủ các tập tục này: họ chọn ngày tốt và ngày hôm đó họ cũng thực hiện một thao tác quan trọng bậc nhất, đó là việc thượng lương. Trước hôm đó, họ cho chuẩn bị kỹ lưỡng: ban đất, chuẩn bị nền móng, trụ cột, bào đẽo các cột kèo…. Cũng như ở Tây phương, người ta tổ chức long trọng lễ đặt viên đá đầu tiên, nhưng ngày hôm đó không chính xác là ngày khởi công. Vì thế nên hiểu ý nghĩa của ngày tháng được nêu trong văn bản về các việc xây dựng kinh thành Huế”. Công trình kiến trúc kinh thành được tiếp tục vào thời vua Minh Mạng ra sao ?

Bài 13: Lăng Thiên Thọ và những “ẩn số vàng” ở cửa Ngọ Môn

Nếu lăng Thiên Thọ là “ngôi nhà vĩnh cửu” đã chôn cất nhục thân của vua Gia Long, thì cửa Ngọ Môn là kiến trúc mỹ thuật đặc sắc vừa đánh thức tên tuổi của vua Minh Mạng – vì cả hai nằm trong quần thể di tích đầu tiên của Việt Nam được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới và trong quá khứ đều được thiết kế thi công nghiêm ngặt theo phương hướng của dịch học và phong thủy học phương Đông dưới triều Nguyễn…

Nhà địa lý Lê Duy Thanh dò tìm long mạch Huế ra sao?

Lê Duy Thanh (con trai của nhà bác học Lê Quý Đôn) là nhà nghiên cứu dịch lý và địa lý học nổi danh đầu thế kỷ 19, được vua Gia Long chỉ định tìm một cuộc đất tốt để làm chỗ xây lăng sau này cho nhà vua. Nhận mệnh lệnh, Lê Duy Thanh phóng tầm nhìn ra xa khỏi kinh thành Huế, đi thực địa và đã 7 lần gieo quẻ, cuối cùng tìm được một vị trí tốt nhất là vùng núi Thọ Sơn có 5 triền uốn khúc như rồng cuộn từ dưới vươn lên, có 34 ngọn núi cao thấp chầu về, rải đều hai bên với 14 ngọn bên phải, 14 ngọn bên trái và 6 ngọn che chở hầu cận đằng sau. Nghe tường trình như thế, Gia Long đích thân cưỡi voi đến tận nơi xem xét và được Lê Duy Thanh chỉ địa điểm chính thức để xây lăng mộ, Gia Long nhìn bao quát toàn cảnh, ngẫm nghĩ một lúc rồi lắc đầu, nói đây không phải nơi thích đáng mà phải tìm chỗ đất khác. Và sau đó chính nhà vua chọn cho mình một huyệt địa nằm cách đó không xa, cũng trong vùng núi Thọ Sơn, rồi cùng Lê Duy Thanh gieo quẻ. Quẻ gieo xong, nhà vua quay nhìn thẳng Lê Duy Thanh, nghiêm mặt trách, đại ý:

Xét về long mạch và cuộc đất cát tường thuận theo cung mệnh đế vương thì nơi đây mới hợp, chẳng lẽ nào khanh không biết mà lại chọn cho trẫm một nơi không thuận hợp như trước kia. Hay là khanh đã biết mà muốn dành để cải táng hài cốt của cha ông mình vào đó?.

Lăng vua Gia Long

Bị quở trách, Lê Duy Thanh sợ hãi sụp lạy hồi lâu, Gia Long tha cho, không nói gì nữa và sai thái tử Đảm tức vua Minh Mạng sau này, bói quẻ bằng mu rùa lần nữa, để biết thêm về thế đất phong thủy trên. Quẻ được giao Thượng thư bộ Lễ là Nguyễn Hữu Thân giải đoán với kết quả là “cuộc đất rất tốt và thuận hợp” nhất để xây lăng mộ vào ngày 22.3 âm lịch nhằm 11.5.1814 (trước khi vua Gia Long qua đời 6 năm). Khoảng 300 quân Sanh thiết và 274 nhân công thuộc đạo Thủy quân được điều động để xây lăng ở núi Thiên Thọ ấy. Chung quanh núi có nhiều ngọn đồi được mang các tên cát tường do nhà vua ban cho tương ứng với địa thế và thuật ngữ phong thủy. Trong vùng có 2 con suối chính đưa nước từ cao xuống. Theo mô tả của học giả Cadière cách đây gần một thế kỷ thì con suối thứ nhất tập hợp các dòng nước chảy xuống phía bên trái của lăng, vòng qua trước mộ và trước điện Minh Thành rồi chảy ngược lại trước mộ Gia Long để “tiếp tục chảy cho đến chiếc hồ vuông nằm trước mộ mẹ Gia Long, chảy tiếp trước mộ tháp của người chị và như thế con suối liên kết hết các thành viên của gia tộc trước khi đổ đến Môi Khê nhập lại với con suối thứ hai. Nó được gọi là Hồ Dài”. Con suối thứ hai có tên Trường Phong dẫn nước từ núi Nhuệ về Thiên Thọ, chảy dọc theo mộ Trường Phong thành hình vòng cung, nhập với Hồ Dài để “cả hai con suối đều không chảy thẳng trực diện đến mộ, mà lại thoải mái chảy vòng vòng tạo thành những hình cát triệu – chúng kéo đi xa những ảnh hưởng xấu có thể phương hại đến sự yên tĩnh của những người quá cố” (Đỗ Trinh Huệ dịch).

vua Gia Long_resize_1

Thế Tổ Cao Hoàng Đế Gia Long (1729 – 1820)

Những điều trên cho thấy vị vua đầu triều Nguyễn không chỉ quan tâm đến vai trò địa lý, dịch học và phong thủy học trong việc tìm đất và định hướng cho các công trình kiến trúc của kinh thành Huế mà còn hết sức cẩn thận coi trọng việc xây cất lăng mộ cho mình trước khi qua đời vào ngày 3.2.1820 tại điện Trung Hòa, thọ 59 tuổi. Ông là vị hoàng đế ứng dụng phong thủy để quyết định xây kinh thành Huế xoay mặt về hướng Đông nam, đồng thời bắt tay thực hiện nhiều công trình kiến trúc đầu tiên của đất thần kinh (kinh thành tuyệt diệu) như Thái Miếu, Triệu Miếu, Hoàng Khảo Miếu, các điện Cần Chánh, Thái Hòa, Quang Minh, Trinh Minh, Trung Hòa (Càn Thành), Hoàng Nhân (Phụng Tiên), các cung Trường Thọ (Diên Thọ), Khôn Đức (Khôn Thái) và Viện Thái y… Nối ngôi Gia Long là vua Minh Mạng với 20 năm trị vì (1820 – 1840) đã tiếp tục hoàn chỉnh công cuộc quy hoạch, bố trí hợp lý hơn nữa khu vực Hoàng thành và Tử cấm thành, xây cung Trường Ninh (Trường Sanh), Thế Miếu, Hiển Lâm các, đúc Cửu đỉnh… Một trong các công trình do vua Minh Mạng xây được xem là tiêu biểu cho kiến trúc mỹ thuật Huế xưa và trở thành một biểu tượng của Huế là cửa Ngọ Môn.

Giải mã những “ẩn số vàng”

Trước ngày xây Ngọ Môn, vua Minh Mạng hỏi Bang tá bộ Công là Nguyễn Trung Mậu về việc chọn hướng. Nguyễn Trung Mậu tâu các kinh đô của bậc vua chúa từ xưa đều phải hướng đến phía Tây bắc – Đông nam (và Đông bắc – bắc và Tây nam – nam). Các học giả phương Tây khi đề cập nội dung liên quan đã dẫn chứng bản đồ của Ban địa lý đầu thế kỷ 20 tỷ lệ 1/25.000 để chứng minh các điện chính của kinh thành Huế đều có trục hướng về một trong các đường Càn – Tốn, chếch gần hướng Tây bắc – Đông nam, là một trong các hướng thích hợp theo truyền thống dịch lý học và phong thủy học phương Đông. Ngoài ra, việc chọn ngày khởi công cũng rất kỹ lưỡng. Theo sử sách triều Nguyễn ghi lại , ngày bắt đầu xây cất cửa Ngọ Môn nhằm 9.3.1833.

Lang vua Minh Mang-Edit_resize

Lăng vua Minh Mạng

Đây không phải là một cửa ra vào thông thường, mà được sử dụng như một lễ đài uy nghiêm vào bậc nhất triều Nguyễn, mang tổng thể kiến trúc mỹ thuật có thể chia làm hai phần. Phần trên với lầu Ngũ Phụng là nơi đọc tên các tiến sĩ đỗ đạt thời trước, nơi diễn ra các đại lễ thường niên, nơi triều đình ban lịch vào mỗi năm mới, nơi nhà vua hiện diện trong các cuộc duyệt binh và chính nơi đây cựu hoàng Bảo Đại đọc chiếu thoái vị tại lễ trao ấn kiếm cho chính quyền cách mạng vào tháng 8.1945. Phần dưới được xây trên một nền đài vững chắc, cao gần 5m, bằng đá Thanh và gạch vồ, đáy dài gần 58m và rộng hơn 27m. Đến nay điều nhiều người vẫn muốn biết: hai chữ “Ngọ Môn” nghĩa là gì? Có giải thích cho chữ “Ngọ” nhằm chỉ lúc mặt trời đứng bóng giữa trưa (thời gian). Nhưng nhà nghiên cứu Phan Thuận An bác bỏ ý đó, để cho rằng hai chữ “Ngọ Môn” mang nội hàm khác về phương hướng (không gian), vì khi xây kinh thành Huế các nhà kiến trúc thời Nguyễn đã đặt hệ thống thành quách cũng như cung điện ở vị thế “tọa càn hướng tốn” (Tây bắc – Đông nam), hướng này cũng như hướng bắc – nam.

Chân dung vua Minh Mạng in trong cuốn sách của John Crawfurd (1783-1868), xuất bản tại Luân Đôn 1828

Từ đó “đối với ngai vàng trong điện Thái Hòa được xem như vị trí trung tâm của mặt bằng tổng thể, Ngọ Môn nằm ở phía nam của nó – căn cứ trên la kinh (la bàn) của khoa địa lý phong thủy Đông phương, phía nam thuộc hướng “ngọ” nên trục “tý – ngọ” (nghĩa là bắc – nam – do đó cái cổng mới xây ở mặt trước Hoàng thành được đặt tên là Ngọ Môn”. Đồng thời Phan Thuận An nêu ra những con số liên quan đến kiến trúc Ngọ Môn đã được các kiến trúc sư và các nhà dịch học, phong thủy học triều Nguyễn ứng dụng, tiêu biểu như con số 5 tượng trưng cho Ngũ hành hiện diện ở đây qua 5 lối đi gồm: một cửa dành cho vua đi ở giữa, hai cửa hai bên dành cho các quan văn võ, hai cửa tả dịch môn và hữu dịch môn dành cho binh lính với ngựa voi theo hầu. Con số 9 ở hào Cửu ngũ ở Kinh dịch thể hiện ở 9 nóc lầu Ngũ Phụng. Con số 100 thể hiện ở 100 cây cột nhà ứng với số cộng của Hà đồ và Lạc thư: “Số của Hà đồ là 55 (do các số từ 1 đến 10 cộng lại: 1+2+3+4+5+6+ 7+8+9+10); số của Lạc thư là 45 (do các số từ 1 đến 9 cộng lại: 1+2+3+4+5+6+7+8+9). Như vậy, số thành của Hà đồ và Lạc thư cộng lại (55+45) là 100. Và nói đến Dịch học là phải nói đến âm dương, vì “Nhất âm nhất dương chi vị Đạo”. Số dương của Hà đồ là 25 (do các số lẻ từ 1 đến 10 cộng lại: 1+3+5+7+9); số âm của Hà đồ là 30 (do các số chẵn từ 1 đến 10 cộng lại: 2+4+6+8+10). Và, số dương của Lạc thư là 25 (do các số lẻ từ 1 đến 9 cộng lại: 1+3+5+7+9); số âm của Lạc thư là 20 (do các số chẵn từ 1 đến 9 cộng lại: 2+4+6+8 ). Hai số dương của Hà đồ và Lạc thư cộng lại là 50 (tức là 25+25); hai số âm cộng lại cũng là 50 (tức là 30+20). Thành ra âm và dương của Dịch là bằng nhau, đều 50. Nghĩa là: (25+25) + (20+30) = 100”. Trên thực địa, nếu dùng đường trục chính của Hoàng thành là Dũng đạo để chia mặt bằng lầu Ngũ Phụng ra làm hai phần thì chúng ta thấy mỗi bên có 50 cột đối xứng nhau. Đạo Âm dương Ngũ hành của nền triết học Đông phương đã biểu hiện thật cụ thể trên kiến trúc Ngọ Môn. Cho hay, trong các công trình kiến trúc cổ của ta, người xưa đã gửi gắm nhiều ẩn số, ẩn ngữ, ẩn ý rất sâu xa. Ngọ môn xứng đáng được liệt vào hàng những công trình kiến trúc nghệ thuật xuất sắc nhất của triều Nguyễn nói riêng và của nền kiến trúc cổ Việt Nam nói chung” (Quần thể di tích Huế, NXB Trẻ 2007).

Tượng voi đá trong lăng vua Minh Mạng

Nhiều năm trước ngày xây Ngọ Môn rất lâu, vào 1826, vua Minh Mạng đã nghĩ đến cái chết của mình nên triệu tập những thầy địa lý cùng các quan giỏi về phong thủy học đương thời để tỏa ra đi coi đất tìm nơi xây lăng thích hợp cho mình. Nhưng mãi đến 14 năm sau, khi Ngọ Môn đã tượng hình, vị quan giỏi về dịch lý phong thủy là Lê Văn Đức mới tìm ra được cuộc đất cát tường vào tháng 4.1840 và trình lên. Vua Minh Mạng đích thân đến xem cuộc đất ấy ở vùng núi Cẩm Kê (Hiếu Sơn) rất vừa ý nên đã thăng cho thầy Lê Văn Đức lên hai cấp và sai các đại thần Trương Đăng Quế và Bùi Công Huyên tiến hành khảo sát địa thế, vẽ sơ đồ chi tiết về sơn thủy, đo đạc đất đai để huy động hơn 3.000 thợ thầy xây vòng đai của lăng mộ vào mùa thu 1840. Công việc đang tiến hành hợp với quy củ của tiến trình kiết giới và an bình địa cuộc thì vua Minh Mạng qua đời ngày 20.1.1841 giữa tuổi 50, để lại tất cả thân quyến với hoàng hậu, các phi tần mỹ nữ và 142 người con chính thức gồm 78 hoàng tử và 64 nàng công chúa…

Bài 14: Vua Thiệu Trị với Thế đất Xương Lăng

Vua Thiệu Trị (tức hoàng thái tử Miên Tông) lên ngôi tháng giêng năm Tân Sửu 1841 và mất 6 năm sau đó (vào 1847) – chưa kịp tự tìm cho mình một cuộc đất tốt để xây lăng…

Đối chứng với địa lý gia truyền của cụ Tả Ao

Vua Thiệu Trị

Định mệnh đã đem tới những điều không vui cho vua Thiệu Trị vào hai thời điểm lớn trong đời: lúc sinh ra và khi mất đi. Ông sinh ngày 11.5 Đinh Mão (nhằm 16.6.1807) ở nhà ông ngoại của mình là Hồ Văn Bôi nằm phía đông kinh thành – chỉ 13 ngày sau đó, mẹ ông là bà Hồ Thị Hoa qua đời ở độ tuổi 17. Sau này ông đã cho xây ngôi quốc tự Diệu Đế tọa lạc tại địa điểm đầy nỗi niềm trên. Ông là con trưởng đứng đầu trong số 78 hoàng tử của vua Minh Mạng và là vị vua thuần hòa, yêu chuộng văn chương và dùng nhiều thuật ngữ địa lý phong thủy trong các sáng tác của mình. Như bài tựa cuốn “Ngự đề đồ họa thi tập”ông viết đại ý: “Nhìn lên trời cao để xem thiên văn, ngó xuống đất rộng để xét địa cuộc, ngẫm về thế đất cát hung và cảnh chim muông tụ tán, lấy chứng cứ gần gũi nơi mình cũng như đưa tầm mắt để quán sát vạn vật từ xa, thấy rõ trăm dòng sông cuộn chảy như lụa là và núi đồi trùng điệp vươn cao như ngàn xanh đúc sẵn. Đất ấy, trời ấy, vật ấy, sông ấy, núi ấy vốn từ một nguyên khí tản mác, có duyên tụ lại nơi ngòi bút để thành đồ họa dưới tay người”. Ông nhắc đến vùng đất xưng vương của họ Nguyễn với linh mạch trào lên thành dòng nước ấm ở huyện Hương Trà bên nguồn tả trạch (doanh doanh linh mạch triều phiên nhất hoằng ôn thủy), ca ngợi đồi Hà Khê có thế rồng quay đầu nhìn lại (long bàn hồi thủ) và hổ rống trên cao (hổ khiếu cao tôn) cũng như núi Ngự Bình làm nơi chầu về của muôn núi (quần phong triều củng) hoặc sông Hương với trăm dòng đổ về (bách xuyên hợp phái)…

Lúc vua cha mất, ông điều động cả vạn dân binh để tiếp tục hoàn tất lăng Minh Mạng theo đề án để lại. Nhưng đến lượt ông, thì ngay cả việc tự tìm một cuộc đất cát tường vừa ý mình để xây lăng cũng không kịp. Ông lâm bệnh mất lúc mới 41 tuổi, để lại hơn 30 người vợ, với 64 người con gồm 29 hoàng tử và 35 hoàng nữ. Giờ hấp hối, ông gọi hoàng tử thứ hai là Hồng Nhậm (bấy giờ mới 19 tuổi, tức vua Tự Đức sau này) đến dặn dò việc xây lăng cho ông. Tự Đức lập tức triệu tập các thầy địa lý đi khảo sát quanh vùng Phú Xuân tìm ra một cuộc đất tốt cách kinh thành không xa lắm, thuộc địa bàn làng Cư Chánh, huyện Hương Thủy, trên một vùng núi thấp (Thuận Đạo). Đến đây, để tìm hiểu thêm về địa thế phong thủy nơi các lăng vua Nguyễn, trong đó có lăng Thiệu Trị (gọi Xương Lăng), được xây ở các vùng đồi núi ngoài kinh thành, thiết tưởng cần tham khảo Địa lý gia truyền nổi danh của cụ Tả Ao. Theo đó, trên núi đá thường không có huyệt (phàm thạch sơn bản vô huyệt), song nếu phát hiện thấy núi đá nào có những vụng đất mềm tức chỗ ấy có thể được (nhược kiến oa hình, thổ nhuận nghi điểm chi, giác thư vi quý). Còn nếu trên núi đá không thấy có khí mạch lưu thông hãy tìm xuống phía dưới, thấy chỗ nào có đất mềm mới điểm (nhược vô thạch mạch tụ, tựu hạ ư thổ xứ điểm chi).

Lang Thieu Tri photo Gia Tien_2237_resize_1Lăng vua Thiệu Trị, thuộc huyện Hương Thủy, thành phố Huế

Cụ Tả Ao bảo núi đá cũng như xương người, phàm thô cứng không có huyệt, song nếu thấy hai bên tả hữu, phía trước hoặc phía sau núi đều phân minh và có khí lành chung tụ, thì có thể xem kỹ để chọn. Nếu thấy trước mặt toàn là đá mà không có đất ắt phải cẩn thận không nên dùng búa hoặc các vật dụng cứng như đinh, như đục để đào khoét xuống sâu làm huyệt, vì như thế sẽ không tốt. Mà phải dùng phép đặt quan tài trên mặt đá, xong lấy đất chỗ khác chở về đắp cao độ năm thước ta, như thế có thể biến nơi ấy thành phúc địa (Bất nghi phủ đinh quật chi – kỳ pháp, trí quan ư thạch thượng, dĩ khách thổ bồi chi – cao hậu ngũ xích diệc phát phúc dã). Đến lúc điểm huyệt, cụ Tả Ao nhắc nhở: “long bản quý khí tại tỵ – Nghi điểm chỉ Quy bản huyệt tại kiên, vật dụng ư sát dã – long điểm ư thần, tận khí dã”, được nhà nghiên cứu địa lý và phong thủy học Cao Trung luận: “Rồng vốn quý ở nơi mũi (chỗ thở ra thở vào tức là nơi khí chung tụ) nên phải điểm vào mũi, chứ đừng điểm thấp xuống miệng rồng (là chỗ tận khí, không tốt). Rùa, nếu huyệt ở vai hãy nên điểm vào vai, chứ đừng điểm cao lên chỗ mai rùa (là chỗ không tốt)”

Đưa quan tài đến Xương Lăng

Chọn đất xong, vua Tự Đức sai đại thần Vũ Văn Giải đôn đốc dân binh bắt tay xây gấp lăng Thiệu Trị vào giữa tháng 2.1848. Đến đầu tháng 5 năm ấy, một số công trình chủ yếu trong lăng đã xong và không xây La thành bọc ngoài (như lăng Minh Mạng) mà lấy những dãy đồi nhấp nhô quanh vùng làm thế vây bọc tự nhiên. Mặt trước nhìn ra một vùng đất rộng thoáng đãng về hướng Tây Bắc, xa xa đồi Vọng Cảnh hiện lên phía hữu và núi Ngọc Trản nằm phía tả – hình thành thế “tả long hữu hổ” hộ lăng. Mặt sau dựa vào núi Thuận Đạo. Trong lăng đào các hồ Nhuận Trạch, hồ Ngưng Thúy, hồ Điện, trổ dòng nước chảy thông ra ngoài bằng những đường cống ngầm dưới đất, xây lầu Đức Hinh, điện Biểu Đức, cầu Chánh Trung, cầu Đông Hòa, cầu Tây Định bên trên… Xem xét cuộc đất và thế phong thủy của lăng Thiệu Trị, các nhà nghiên cứu nhận định lăng này ở vào vị thế “sơn chỉ thủy giao” với ngọn núi Chằm làm tiền án nhô lên cách đó chưa đầy 10 cây số, núi Kim Ngọc từ xa và mô đất lớn được đắp đàng sau làm hậu chẩm.

Lang Thieu Tri photo Gia Tien_2239_resize

Ngói l_p _ bình phong Khu L_ng Thi_u tr__resize

T__ng _á l_ng Thi_u Tr_ 6_resize

Cảnh quan trong lăng vua Thiệu Trị

Vì đợi xây lăng xong mới đưa đi an táng nên quan tài của vua Thiệu Trị phải quàn tại điện Long An (cung Bảo Định) ròng rã trong 8 tháng trời, tức hơn 200 ngày kể từ khi mất (vào 4.11.1847 đến 21.6.1848). Theo tài liệu của R. Orband trên tạp chí Bulletin des Amis du Vieux Hué số ra năm 1916, Đặng Như Tùng dịch, thì chương trình thọ tang và chôn cất do quan Thiên giám triều Nguyễn chọn các ngày tốt để làm đám, dân chúng không được làm lễ cưới, lễ hỏi và không được mặc áo đỏ trong suốt thời hạn tang lễ. Đúng 10 giờ sáng (giờ Tỵ) ngày 21.6 làm lễ cúng đầu tiên (khải điện). Đến giờ Ngọ (mặt trời đứng bóng) dâng lễ lên các tiên vương tức lễ cúng các hoàng đế nhà Nguyễn đã qua đời gồm 5 trâu, 5 dê, 5 lợn, 5 mâm nếp, 5 mâm thức ăn, 1 mâm cơm, 1 mâm bánh, 10 mâm hoa quả, 15 bầu rượu gạo, hương, đèn, vàng bạc giấy, trầu, trà v.v… Ngày 22.6 vào 6 giờ sáng (giờ Dần) bắt đầu lễ rước quan tài (thiên tử cung), xế chiều đưa xuống thuyền rồng Long Châu để theo sông Hương di chuyển chầm chậm trong 3 ngày mới đến Xương Lăng. Một tài liệu cho biết đoàn thuyền tổng cộng có đến hơn 30 chiếc lớn với nhiều đò nhỏ hộ tống. Có chiếc chở tượng Phật A-di-đà và tượng Địa tạng vương Bồ tát, chiếc chở mô hình điện Cần Chánh, chiếc chở mũ áo thêu rồng và mũ áo tế lễ Nam Giao, cùng sách vàng ấn ngọc, kiệu và xe song mã của vua… Đến chỗ huyệt chôn (huyền cung), người ta làm lễ chuyển quan vào giờ tý ngày 24.6. Mãi 4 giờ chiều hôm sau 25.6, mới hạ huyệt (an huyền cung).

Nhà truyền giáo Pellerin, đang có mặt tại miền Trung lúc bấy giờ, tường thuật theo lời kể của những người Huế tận mắt chứng kiến tang lễ rằng thuyền chở quan tài của vua được che kín, không thể nhìn thấy bên trong. Ngót mấy chục chiếc thuyền khác đi theo, có chiếc chở các nhà sư tụng kinh vãng sanh, chiếc chở đoàn người rước linh với gương mặt sơn đủ màu xanh, đỏ, vàng, đen, luôn nhảy múa với tay cầm kiếm hoặc chùy bằng gỗ, một số cầm đuốc quơ lên thành các vòng lửa xua đuổi ma quỷ và tà khí để chúng không đến gần quấy nhiễu. Đến gần lăng, từ dưới sông thoáng thấy một ngôi nhà khá xinh hiện ra trong tầm mắt ở lưng chừng núi làm nơi trú ngụ của những người giữ mộ và cúng cơm hàng ngày cho linh hồn nhà vua. Ở vị trí quanh ngôi nhà đó người ta đào một cái hầm chạy ngầm dưới mặt đất đến chỗ đặt quan tài vua Thiệu Trị. Rời thuyền lên bờ, con đường dẫn tới Xương Lăng được lót sẵn chiếu hoa để đón đám tang đi qua. Tang lễ kết thúc, chiếc thuyền sơn son thếp vàng vua Thiệu Trị đã dùng khi còn sống cũng như một chiếc thuyền khác dùng để chở quan tài nhà vua được đem đốt cháy phừng phực dưới sông. Ngọn lửa bừng lên, những vệ sĩ hộ tang lại một lần nữa múa kiếm gỗ và thắp đuốc đỏ rực trời. Lửa tàn, vua Tự Đức cùng các quan cận thần quay về kinh thành, còn một số cung phi mỹ nữ và những người được giao trách nhiệm hộ lăng phải ở lại trên ngọn đồi giữa lúc chiều vơi…

Bài 15: Tự Đức với nỗi niềm“vạn niên đại cát”

Sau nhiều biến động thời cuộc bất lợi cho đất nước và triều Nguyễn, vua Tự Đức nghĩ đến “nơi an nghỉ cuối cùng” của mình nên đã sai các quan chuyên trách về dịch lý phong thủy dò tìm một cuộc đất “vạn niên đại cát” để xây lăng sẵn…

Vạn niên đại cát” với nước nguồn thủy ngọc

Vua Tự Đức sinh giữa mùa thu, ngày 25.8 năm Kỷ Sửu (22.9.1829), thể chất vốn yếu ớt, lại hay ốm đau từ nhỏ, lớn lên không thể có con được, nhà vua buồn bã nghĩ đến lẽ tử sinh của đời người như chính vua nêu trong phần mở đầu của một bài ký dài, đại ý:

– Mây bay trên trời không có hình tướng cố định nhưng tồn tại mãi. Còn những thứ có tướng trạng rõ ràng, to lớn như mặt trời mặt trăng, cứng chắc như núi cao rừng thẳm, hoặc vàng đá đất đai, song tất cả đều phải chịu cảnh sáng – tối, tròn – khuyết, lành – vỡ, huống chi con người “sống nay chết mai” chẳng biết khi nào. Sống thì mỗi người mỗi khác nhưng chết thì đều giống nhau ở chỗ tấm thân mục rữa, nên cần chôn cất tươm tất, vừa khác với loài vật ở chỗ có lễ, lại vừa do cái tình mà nên như thế. Hãy ngẫm lại từ xưa các vị hoàng đế sau thời đăng quang đã sai đóng trước quan tài cho mình. Rồi cứ mỗi năm một lần đem quan tài ấy ra sơn mới lại, tự nhắc nhở mình trong 100 năm của đời người thì có 1 năm “đã chết” – đã trôi qua mất. Nay ta không thể trái lệ xưa của các tiên vương được. Vả lại những người cường tráng sức khỏe dồi dào còn phải lo lúc qua đời đột ngột, huống là ta thể trạng vốn không khỏe khoắn gì mà lại dám hờ hững xem thường chuyện ấy sao?

So do lang vua Tu Duc_resizeSơ đồ Lăng Tự Đức

Vì lẽ đó, Tự Đức muốn xây lăng mộ cho mình và tìm được một nơi có mạch nước tự nhiên từ trong lòng đất chảy ra (hữu thủy tự địa trung lưu xuất). Nước chảy khoan thai, từ tốn, êm đềm, nhỏ nhẹ, tránh được điều tối kỵ theo thuật “sơn thủy pháp” mà cụ Tả Ao cảnh báo: núi gồ ghề chứa ác khí là không tốt – nước chảy bộc phát rộn ràng thành tiếng kêu như khóc là rất xấu (Sơn tha nga, ác khí, bất cát – Thủy bộc lộ, khấp khốc, tối hung). Màu nước nơi đó lại trong xanh như thủy ngọc, ứng với phép địa lý: nước chảy dạt dào mà trong suốt (thủy dương dương nhi triều cực thanh). Chảy như vậy ngày đêm chẳng lúc nào ngừng (nhật dạ bất đình)có thể ví như một “thủy khẩu” đưa nước từ trên bờ đá đổ xuống khoảng ruộng trũng nằm trên địa bàn làng Dương Xuân Thượng (sau thuộc xã Thủy Xuân – TP. Huế).

Dựa vào thế tự nhiên sẵn có ấy, các nhà địa lý và ứng dụng phong thủy cho đào sâu xuống thành một cái hồ giữ nước rất rộng, xem tựa như chỗ “thủy tụ”. Đào đến nửa chừng bỗng đâu có nhiều đàn cá đến quần tụ sinh sống, chưa cần tay người thả nuôi, vua cho là một trong các điềm lành của “thủy hồ” nên sai tiếp tục đào sâu hơn. Hồ được tạo dáng khác với mực thước vuông hoặc tròn thường thấy ở các công trình trước đó, mà phá thể trông tựa như hình trái tim với các cuống tim và động mạch chủ từ phía bên phải đang vươn về phía bên trái để ôm lấy khu lăng mộ xây bằng gạch đá trên bờ. Nhìn bao quát, mặt nước không bị đóng khung thẳng tắp theo các cạnh hình chữ nhật của các hồ thường thấy, mà chảy uốn khúc khiến người ta liên tưởng đến dạng “thủy lưu” theo phép địa lý: “nước chảy uốn khúc quanh co mà đến là chỗ đất quý” (thủy quý kỳ khuất khúc nhi chi).

Xung_Khiêm_Tạ,_Lăng_Tự_Đức_resize

Sung Khiêm Tạ, nơi thư giãn của vua Tự Đức

Đào xong, vua Tự Đức đặt tên là hồ Lưu Khiêm, bên hồ dựng hai nhà mát Sung Khiêm Dũ Khiêm, đắp hòn đảo lớn Tịnh Khiêm giữa hồ, bắc ba cây cầu Tuần Khiêm, Tiễn Khiêm, Do Khiêm và trồng sen hồng trong hồ. Trên bờ, ở khu lăng mộ cho xây các công trình để đời như: Minh Khiêm đường được xem là nhà hát xưa nhất Việt Nam tồn tại khá nguyên vẹn đến nay, Hòa Khiêm điện như một bảo tàng cung đình chứa đồ ngự dụng cùng một số tác phẩm tạo hình mỹ thuật thời Nguyễn. Ngoài khu vực lăng, long mạch được các núi đưa từ xa đến gần địa cuộc, mỗi ngọn núi được đặt tên riêng như Long Khiêm, Dần Khiêm, Lao Khiêm, Đạo Khiêm, Cư Khiêm, Lý Khiêm. Ngọn núi nằm phía bên phải có mở một cửa thông thoáng gọiKhiêm Cung môn. Nằm phía sau để làm chỗ tạm dừng chân nghỉ ngơi những lúc du ngoạn gọi Lương Khiêm. Nhà để các đồ dùng của vua khi đi dạo ghé qua, nằm về phía Tây gọi Ôn Khiêm. Lại có bốn nhà khác để các quan cũng như thợ thầy trú ngụ gọi Công Khiêm, Cung Khiêm, Lễ Khiêm, Pháp Khiêm. Lại lập bốn viện để phi tần mỹ nữ tháp tùng theo nhà vua có nơi ăn ngủ gọi Tùng Khiêm, Dụng Khiêm, Y Khiêm, Trì Khiêm. Dựng một căn lầu ở vị trí cao để có thể phóng tầm mắt ngắm nhìn cảnh vật quanh vùng gọi Ích Khiêm. Lại có nơi để hương khói cho các cung nữ đã qua đời gọi Chí Khiêm…

lăng vua tự đức-1_resizeBi đình, với tấm bia bằng đá thanh, nặng 20 tấn, có khắc bài Khiêm Cung Ký do vua soạn thảo

Gần 50 chữ “Khiêm” cho một cuộc đất

Trên cuộc đất rộng khoảng 12 hecta của lăng Tự Đức có gần 50 công trình kiến trúc và tạo dáng phong thủy bao gồm mấy chục tòa nhà lớn nhỏ hợp thành một hệ thống cung điện và khu lăng mộ đều được đặt tên có chữ “Khiêm”, vì sao vậy? Chuyện liên quan đến những chuyển biến của thời thế xảy đến khi nhà vua lên ngôi được khoảng hơn 10 năm như: Đà Nẵng bị thực dân Pháp tấn công (năm 1858), đánh chiếm Gia Định (1859), lấn tới các tỉnh Nam Kỳ (1862). Ông mệt mỏi và cho bắt tay xây lăng tháng 10.1864, dự tính trong 6 năm sẽ xong và giao biện lý Nguyễn Văn Chất, thống chế Lê Văn Xa cùng trông coi. Cả hai vị ấy muốn rút gọn thời gian xây lăng khoảng 3 năm là xong.

Vì gấp gáp như thế, nên 3.000 lính thợ ở công trường Vạn niên bị thúc bách, dẫn đến cuộc nổi dậy do Đoàn Trưng và Đoàn Trực lãnh đạo, tiến đánh hoàng cung nhưng bị chặn đứng và dập tắt (1866). Vua Tự Đức thoát hiểm, song uy tín của triều đình vốn bị mất mát nhiều sau những tổn thất trước thực dân Pháp thì bấy giờ lại xuống thấp hơn nữa. Vua thừa nhận:“Quân nổi loạn đã tìm cách lôi kéo dân binh dám xâm phạm tới cửa ngõ hoàng cung, ấy là do ta không có tài, không có đức, nên mới bị trời trách và người oán, vì thế ta phải khiêm thôi” và đổi tên công trình trên đất “Vạn niên đại cát” Khiêm cung (sau gọi Khiêm lăng) cũng như các kiến trúc trực thuộc của lăng đều lấy chữ“Khiêm” để đặt tên với giải thích của vua, hàm nghĩa:“Khiêm” là khiêm nhường, kính cẩn, có địa vị cao hơn kẻ khác mà không lấy đó làm điều, chỉ muốn tự đặt mình khiêm tốn ở dưới vị thế của người mà thôi.

i-5654606348465636753-5654617657721146642_resize

Cá chép hóa rồng trên mái ngói của Sung Khiêm Tạ

Khiêm lăng hoàn tất tháng 8.1867, ngày nay đã cùng các lăng vua Nguyễn khác trở thành một phần sống động trong quần thể di tích Huế thuộc Di sản văn hóa thế giới đầu tiên của Việt Nam. Địa cuộc phong thủy và yếu tố nhân văn ở những nơi ấy được các tác giả nước ngoài như Henri Guibier nhận xét: “Các lăng tẩm ở Huế thường nép mình dưới các bóng cây cổ thụ, hoặc được bao quanh bởi sắc hoa và màu cỏ mượt trên các đồi núi xa xa, tất cả đã trở thành chứng tích không những thuộc quá khứ mà còn tác động đến hiện tại, chứa đựng trong đó sức mạnh siêu nhiên và bí ẩn từng ảnh hưởng sâu đậm đến con người và cảnh vật nơi đây”(BAVH 1916).

Hai năm sau, nhà văn học giả Phạm Quỳnh khi đến thăm lăng các vua Nguyễn đã viết:“Không những mấy nơi đó là những thắng tích đệ nhất của nước ta, mà lại có thể liệt vào bậc những nơi thắng tích của cả thế giới nữa” (Tạp chí Nam Phong số 10, tháng 4.1918). Đến cuối thế kỷ 20, nguyên Tổng giám đốc UNESCO Amadou Mahtar M’Bow đã phát biểu: “Giữa lòng Huế, Thành Nội lịch sử là mẫu mực về cấu trúc cân đối, mà sự hài hòa rất tự nhiên đến nỗi người ta quên bàn tay con người đã sáng tạo ra nó. Phía Nam, các lăng tẩm của các vua nhà Nguyễn, rải ra dọc hai bờ sông Hương. Là tác phẩm của những người dân lao động và những thợ thủ công khéo tay nhất trong nước, những hệ thống kiến trúc ấy biểu hiện những biến tấu độc đáo trên một chủ đề thống nhất. Mỗi một lăng vua, với tính cách riêng biệt của nó, là một thành tựu tuyệt mỹ của nền kiến trúc cảnh vật hóa; và mỗi lăng tẩm khêu gợi trong cảm xúc của khách tham quan một âm vang đặc biệt. Lăng Gia Long giữa một khu rừng thiên nhiên bao la gợi lên một ấn tượng hùng tráng và thanh thản; lăng Minh Mạng đầy vẻ trang nghiêm; và lăng Tự Đức gợi cho khách du ngoạn hồn êm thơ mộng” (bản dịch của văn phòng Việt Nam cạnh UNESCO).

Đúng vậy, lăng Tự Đức mang “hồn êm thơ mộng” như chính tâm hồn đa cảm của nhà vua, vốn là tác giả của hơn 4000 bài thơ chữ Hán, 100 bài thơ chữ Nôm với bài “Khóc Bằng phi”nổi tiếng trong đó có hai câu: “Đập cổ kính ra tìm lấy bóng/ Xếp tàn y lại để dành hơi” sau này còn âm hưởng trong ca từ của tình ca vượt thời gian như “đập gương xưa tìm bóng” (Gửi gió cho mây ngàn bay) và thống thiết ở hai câu cuối: “Mối tình muốn dứt càng thêm bận. Mãi mãi theo hoài cứ chẳng thôi” nhắc nhớ một Nỗi lòng: “Yêu ai yêu cả một đời”.

Thơ văn của ông không chỉ thể hiện nỗi buồn và bi kịch của một hoàng đế đương quyền bị sa sút, mà còn của một nhà văn hóa, một trí thức thất vọng trước mọi dự tính và mưu sự không thành. Ông nhận lỗi của mình qua các bài như: Sầu ngâm nhị thủ, Muộn tác nhị thủ, Bệnh nhị thủ, Tự vấn, Hư sinh…

2494982723_2ae4b6e1c8_o_resize

Tượng voi đá, ngựa đá trong sân lăng

Ngày nay, văn hóa tâm linh và nhu cầu tìm hiểu phong thủy khiến chúng tôi đứng trước sơ đồ lăng Tự Đức không khỏi suy ngẫm đến những chỉ dẫn của cụ Tả Ao với lời bàn của nhà nghiên cứu dịch lý và phong thủy học Cao Trung sau đây:

Nơi nước tụ trước huyệt thì chỗ ấy gọi là Minh Đường… điều đáng kỵ là mùa thu mà Minh Đường cạn nước… Thực ra thì nước chảy theo chiều Tây Bắc, Đông Nam nên huyệt quay về hướng Tây Bắc, đã thu được tất cả thủy từ cao xa về lòng rồi. Tuy nhiên phương Đông Nam thiệt có thủy tụ, nhưng nếu sâu quá cũng đáng kỵ, mà thông thoáng rộng lớn, chảy xuôi cũng đáng kỵ”.

Cũng cần nhắc lại, trong bài Khiêm cung ký dài gần 5000 chữ do vua Tự Đức viết và sai khắc vào tấm bia đá nặng khoảng 20 tấn dựng ở Bi đình của lăng có đề cập đến hồ Lưu Khiêmmùa hè không cạn, mùa thu không tràn bờ, do nước được dẫn thông ra bên ngoài bằng các ống cống nằm dưới những con đường lót đá thanh. Bọc quanh khu vực lăng có vòng la thành được xây chạy dài thuận theo thế núi ở đó. Lại có thêm vòng “la thành tự nhiên” khác gồm những ngọn núi nhấp nhô tựa hồ như rồng lượn xa xa để che chắn bảo vệ cho lăng Khiêm.Vua Tự Đức qua đời ở tuổi 54, sau 35 năm ở ngôi (1848-1883) với nhiều nỗi sầu muộn chưa tan…

phần 5

hvln