Phong Thuỷ…

Phong Thủy- phần 5

 

Bài 16: Tân Sở – Cuộc đất phi thời

Đã có nhiều phân tích về các ưu điểm khi vận dụng dịch lý và thuật phong thủy để xây kinh thành Huế, ở đây chúng tôi muốn nhắc đến khía cạnh khác mà các nhà nghiên cứu đã nêu ra về vài sự khiếm khuyết tất nhiên của một cuộc đất đúng với lẽ “bất toàn” vốn có trong mọi sự trên đời.

Hoàng đế bị chết đói và điềm lành trên mộ đêm mưa

Tọa lạc trên một cuộc đất “sơn triều” và “thủy tụ” – chung quanh đều được nước bao bọc là điều rất tốt cho kinh thành Huế, song “phía tây kinh thành lại có khí núi xung sát, sông Hương uốn khúc vì thế hành Kim rất vượng. Điều này sẽ có hại cho phía đông, chủ hành Mộc (Kim khắc Mộc). Mộc yếu sẽ dẫn đến sự hạn chế về của cải, dân chúng, thương mại…; Kim động sẽ gây hại cho dương trạch nên dễ sinh tật bệnh, tổn hại gia đạo” (Vĩnh Cao).

Về “dễ sinh bệnh tật” ta có thể liên tưởng đến căn bệnh “không thể có con” của vua Tự Đức khiến nhà vua phải nhận ba người cháu là con của các anh ruột mình làm con nuôi: Ưng Chân, Ưng Kỷ và Ưng Đăng. Chính từ đây đầu mối “tổn hại gia đạo” trong dòng Nguyễn hiện hành. Nguyên trước khi Tự Đức mất (Quý Mùi 1883) đã gọi đại thần phụ chính Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết vào căn dặn việc truyền ngôi theo di chúc:

Trẫm nuôi sẵn ba con, Ưng Chân cố nhiên là học lâu trưởng thành, chính danh đã lâu, nhưng mặt hơi có tật, giống kín không rõ ràng, sợ sau không sáng, tính lại hiếu dâm, cũng rất không tốt chưa chắc đương nổi việc lớn. Nhưng nước cần có vua nhiều tuổi, đương lúc khó khăn này không dùng hắn thì dùng ai” (tài liệu của Quỳnh Cư – Đỗ Đức Hùng).

Trần Trọng Kim cũng viết: “Khi ngài (Tự Đức) sắp mất, có để di chiếu nói rằng: đức tính ông Dục Đức (tức Ưng Chân) không đáng làm vua, mà ý ngài muốn lập ông Dưỡng Thiện nhưng vì ông ấy còn bé, mà việc nước cần phải có vua lớn tuổi cho nên phải lập con trưởng (là Ưng Chân lên ngôi)”.

Tại lễ đăng quang, Dục Đức không muốn đọc đoạn nhận xét về mình trong di chiếu nên đến đoạn ấy đại thần Trần Tiến Thành đọc nhỏ lại để không ai nghe rõ. Hai hôm sau, Nguyễn Văn Tường đọc tuyên cáo phế truất Dục Đức vì tội dám che giấu một đoạn di chiếu của vua cha và các tội khác như không mặc áo tang (màu trắng) mà lại mặc áo thường (màu xanh) khi cử hành lễ tang vua cha, hoặc thông dâm với các cung nữ của cha mình, rồi đưa Dục Đức vào biệt giam trong một phòng riêng tối tăm, bỏ đói nhiều ngày.

Thỉnh thoảng một người hầu cũ của Dục Đức liều chết tìm cách đưa cho vua nắm cơm với một manh áo có nhúng nước để vắt uống. Đâu khoảng non một tháng sau, Dục Đức kiệt sức chết đói, xác bị cuốn trong manh chiếu cột lại để hai người lính cáng ra khỏi kinh thành lúc nửa khuya trời đang mưa.

Họ định sẽ âm thầm đem lên chùa Tường Quang ở vùng An Cựu phía bên kia hữu ngạn sông Hương là ngôi chùa do người họ hàng bên vợ của vua Dục Đức (bà Từ Minh) dựng lên chừng 7 – 8 năm trước đó. Tương truyền, khiêng thi hài của vua đến gần chùa ấy bỗng có tiếng sấm vang kèm theo một lằn chớp ngoằn ngoèo lóe lên ở phía tây làm người lính đi đầu giật mình đứng khựng lại. Liền đó sợi dây bó manh chiếu bị đứt, khiến thi hài của vua lăn xuống một vũng nước lớn ướt đẫm. Quá sợ, hai người lính kia vội chạy vào chùa cấp báo và nhờ xử trí giùm. Nhà chùa có người rành việc cát hung về địa lý phong thủy và mộng triệu lành dữ mới quyết đoán rằng:

– Đây là điềm tốt, hợp với phép “thiên táng” nghĩa là trời giúp chỉ cho biết nơi chôn cất. Cũng là theo lẽ “nhân định” tức ý muốn của vua tự chọn huyệt cho mình. Xét như thế thì hãy cứ để vua an nằm ở nơi ngã xuống đó, lấp đất lại làm mồ cho vua, sau này biết đâu sẽ ứng tới việc phát đạt không chừng…

Vậy là Dục Đức làm vua chỉ được ba ngày, cũng là vị vua đầu tiên và duy nhất của triều Nguyễn bị chết đói trong nhà giam, được chôn cất một cách vội vàng như thường dân trong đêm mưa ở một địa điểm đầy giai thoại như kể trên. Chừng 6 năm sau (1889), trải nhiều biến cố dồn dập và phức tạp, triều đình đưa con ruột của vua Dục Đức là Nguyễn Phúc Bửu Lân lên ngôi, tức vua Thành Thái, đã cho xây mộ vua cha khang trang thành An Lăng, xây thêm điện Long Ân để thờ cúng, lập các dãy nhà quanh đó để các vợ thứ của vua Dục Đức trú ngụ lo hương khói quanh năm.

Nhất giang lưỡng quốc” và cuộc đất Tân Sở

Để kiểm soát mọi việc, ngay thời vua Tự Đức người Pháp đã buộc triều đình Huế phải nhường một khu đất rộng khoảng 40.000m2 để họ xây cơ sở “bảo hộ” đầu tiên với tên gọi Tòa sứ (L’hôtel de la Légation) hoàn thành giữa năm 1878, sau xây thêm nhiều công trình kiến trúc khác và gọi là Tòa Khâm sứ (La Résidence Supérieure de l’Annam) – hoặc Tòa Khâm.

thanhtanso 1_resize

Sơ đồ thành Tân Sở

Về vị trí, Tòa Khâm (của Pháp) nằm bên hữu ngạn sông Hương, đối diện với kinh thành Huế (của Việt Nam) nằm bên tả ngạn. Khoảng giữa của hai cơ sở quyền lực (Việt – Pháp) là con sông Hương – dòng sông với vị thế là một “minh đường” tốt đẹp theo địa cuộc phong thủy của kinh thành ngày trước, đến đó đã phai dần thời vàng son để trở thành một dòng chảy đầy vơi chua xót qua câu đối lưu truyền:

Nhất giang lưỡng quốc” nan phân thuyết

Tứ nguyệt tam vương triệu bất tường

Hai câu trên đại ý nói: Một dòng sông (Hương) có hai quốc gia đóng đối mặt nhau trên hai bờ (nhất giang lưỡng quốc) thật chẳng nói nên lời! Bốn tháng trôi qua (từ tháng 7 đến tháng 10 Quý Mùi) mà có đến ba vua (tứ nguyệt tam vương) thay nhau lên ngôi rồi chết đi (Dục Đức, Hiệp Hòa, Kiến Phúc) đúng là điều chẳng lành (triệu bất tường). Điều “bất tường” xảy đến ngay sau ngày vua Hàm Nghi lên ngôi (kế vị Kiến Phúc) lúc 12 tuổi mà không thống báo trước cho Tòa Khâm biết theo yêu cầu trước đó của Khâm sứ Rheinart nên Rheinart rất bực tức. Đợi đến khi Thống tướng De Courcy đem thêm quân Pháp vào Huế ngày 19.5.1885 cho đòi hai quan phụ chính là Tường và Thuyết sang dinh Khâm sứ để hạch sách lấy cớ gặp nhau bàn việc “yết kiến vua Hàm Nghi”.

De Courcy buộc phải mở cửa chính để quan quân của Pháp cùng vào. Triều đình cho là trái với quốc lễ nên chỉ đồng ý để De Courcy vào cửa chính Ngọ Môn còn quan lính khác phải theo cửa phụ ở hai bên mà vào. Thống tướng không chịu. Hai bên căng thẳng nhau. Đến trưa 22.5, Cơ mật viên phái người qua dinh Khâm sứ để bàn lại việc ấy nhưng De Courcy không tiếp. Bà thái hậu Từ Dũ sai mang lễ vật sang dinh tặng thống tướng nhưng De Courcy từ chối không nhận.

Vua Ham Nghi luc tre_resize

Vua Hàm Nghi lúc trẻ

Trước đòi hỏi vô lễ và nhiều điều ép uổng khác, Tôn Thất Thuyết quyết định khai chiến, nửa đêm 22.5 nổ súng nả sang dinh Khâm Sứ và đánh trại lính của Pháp ở Mang Cá. Mờ sáng 23.5, Pháp phản công mạnh, quân ta thất thế rút chạy, Tôn Thất Thuyết phò vua Hàm Nghi ra Tân Sở… Người ta đã nhắc đến Tân Sở trong khá nhiều tài liệu lịch sử. Để bạn đọc tìm hiểu về cuộc đất Tân Sở mà từ thời Tự Đức đã được bắt tay xây dựng theo hướng một “kinh đô mới”.

Nơi đó vua Hàm Nghi chỉ ở lại chóng vánh trong vài ngày song đã trở thành một trong các sự kiện khó quên. Chúng tôi chọn để trích giới thiệu với bạn đọc một đoạn ngắn phù hợp với việc suy ngẫm về địa lý và cuộc đất Tân Sở qua tài liệu của một người Pháp là H. De Pirey đăng cách đây đã gần 100 năm trên tạp chí BAVH 1914. Tác giả đã đến Tân Sở để thu thập tài liệu và tận mắt mô tả những điều trông thấy:

Kinh thành Tân Sở (tân: mới, sở: nơi cư ngụ) bắt đầu xây như người ta kể cho tôi vào năm Quý Vị tức là 1883, và trước khi vua Tự Đức băng hà. Kinh thành ấy ở cách 10 hay 15km phía Tây Nam huyện Cam Lộ, trên cao nguyên độ khoảng 101m cao và giáp phía Bắc – Tây Bắc làng Bảng Sơn, phía Nam – Tây Nam làng Việt Yên và phía đông làng Mai Đàn. Hình dáng là vuông có cạnh là 180m và có hai lớp thành chính. Đường đi ngày nay từ Cam Lộ đến Mai Lãnh đâm suốt qua kinh thành chênh chênh theo hướng Bắc Nam.

Vòng thành thứ nhất gồm có một dãy cọc đóng sâu vào đất đường kính từ 20 đến 25cm, cao cách mặt đất đến 4m và có cột lại bằng mây. Bốn hàng tre trồng song song và ở giữa có một cái hào sâu và rộng 10m. Các lũy tre này đều được trồng từng cụm do quân lính đảm nhiệm trồng trọt và đào trong các làng của phủ Triệu Phong và phủ Cam Lộ. Phía trong lớp thành này có bốn giếng nước ở bốn góc và miệng giếng vòng quanh đến 7,8m. Các giếng ấy sâu đến 150 thước (như vậy bằng 20m) do các phạm nhân (tù nhân) ở Ải Lao đào và ông Nguyễn Văn Tường ra lệnh đào rộng để làm giếng công cộng. Khi xuống giếng phải đi con đường vòng quanh rất chật hẹp nguy hiểm và mặc dù đã làm công phu nhưng không bao giờ có thể có nước uống được, các tù nhân lại phải đi đến tận làng Bảng Sơn để múc nước dùng hàng ngày để đủ nước cung cấp cho dân trong kinh thành” (Đặng Như Tùng dịch, Bửu Ý hiệu đính). Theo thuật phong thủy và cả sinh hoạt đời sống bình thường, việc xây thành ở vị trí thiếu nước như thế rất không tốt.

Vua Ham Nghi 2_resize

Chúng tôi hy vọng đoạn mô tả vị trí và đặc điểm địa cuộc Tân Sở của H. De Pirey trên đây sẽ cung cấp đến bạn đọc thêm một tài liệu để nhận định về thế đất phi thời, nơi vua Hàm Nghi đến ở ngắn ngày sau đêm kinh đô quật khởi, cũng là nơi Pirey và các dịch giả gọi là một “thủ đô phù du” của triều Nguyễn.

Để rồi sau đó, từ Tân Sở, vua Hàm Nghi phải lánh xa hơn về phía Bắc cùng lúc với lời hiệu triệu Cần Vương cứu nước. Nhưng không lâu, vua bị thực dân Pháp bắt đày sang Alger. Cuộc sống lưu đày của ông được Mathilde Tuyết Trần viết đến với nhiều hình ảnh vừa công bố cuối năm 2011. Chúng ta sẽ trở lại với đề tài phong thủy về Tân Sở, cũng như các cuộc đất khác của các vua triều Nguyễn trong những kỳ tiếp theo…

Bài 17: Điện Hòn Chén – Những ngày vang bóng

Điện Hòn Chén nằm trên vực nước sâu nhất của dòng sông Hương, ở một vị trí khá đặc biệt về địa cuộc phong thủy, nơi tương truyền có một nữ thần hiển linh thường hiện về đó hằng năm khi mùa thu tới…

Một ngọn núi xuất thần

Núi Hòn Chén được tạo hóa sinh ra giữa cảnh sắc mơ màng của sông Hương – nơi dừng chân của một dãy non ngàn xuất phát từ hướng tây bắc của Trường Sơn chạy lại. Đại Nam nhất thống chí mô tả “dãy non ngàn” ấy có dáng dấp “trùng trùng điệp điệp như rồng đi hổ phục” về phía kinh thành Huế, đến tả ngạn sông Hương thuộc làng Hải Cát, huyện Hương Trà đột ngột “nhô cao lên thành một ngọn núi đẹp và tròn như hình cái chén (Hòn Chén) gọi là núi Ngọc Trản (núi Chén Ngọc)”.

Đối chiếu sách địa lý toàn thư của cụ Tả Ao, chúng ta sẽ có những liên tưởng gần gũi với sơn thủy quanh vùng đó. Chẳng hạn cụ Tả Ao chỉ rõ: nếu long mạch chạy từ dãy núi lớn ra, nhấp nhô mềm mại suốt đường đi của mình thì khi kết lại nơi đâu, ở đó sẽ xuất hiện những con người thanh lịch tuấn tú (mạch lai duyên giang duyên khê, ủy đà khuất khúc, tử tôn thanh tú); Cao Trung giải: “Nếu nhìn chung long mạch đi uyển chuyển ven sông, ven suối với dáng thướt tha, khuất khúc (dịu dàng đẹp mắt) cho ta biết nếu có đất kết thì sẽ sinh người thanh tú, không thô kệch”.

Ngược lại, long mạch đi thẳng tuột như con lươn nằm chết, như que củi cứng đơ, hoặc như con cá khô phơi dưới nắng bất động, nếu kết ở đâu ắt nơi đó sẽ thiếu sinh khí (tử thiện tử ngư tối hung). Vậy long mạch phải sống động như “rồng đang uốn lượn, rắn đang phóng mình tới trước” tựa thế trườn đi của dãy Uyển Sơn khi ẩn khi hiện, về tới bờ bắc sông Hương vọt lên thành ngọn Hòn Chén một cách xuất thần hiếm thấy.

Dien Hon Chen-Gia Tien_resize

Núi Hòn Chén

Ngọn núi cũng tiềm ẩn ý nghĩa “âm dương hợp nhất”, viên mãn vẹn tròn (nhất thể) và không hai (bất nhị) ngay trong hai tên gọi về mình. Được gọi Ngọc Trản (theo Quốc sử quán triều Nguyễn) vì trên đỉnh có sẵn khoảng đất trũng xuống trông như hình một cái chén ngửa ra giữa trời, với miệng rộng chừng vài mét đường kính, vào những ngày mưa lớn nước đọng lại trong xanh như ngọc. Được gọi Hòn Chén (theo dân gian) vì thấy xa xa “ngọn núi đẹp và tròn” hiện lên như cái chén úp lưng trời.

Hai cách gọi trên gợi hình ảnh về một cái “chén úp” (đỉnh tròn) và một cái “chén ngửa” (trũng nước trong) của cùng một địa cuộc. Tuy là hai (tên gọi) nhưng dùng để chỉ một thực thể (núi) với tướng trạng hiện hình theo thế “úp” và “ngửa” khác nhau, dẫn đến suy ngẫm về sự tương tác của những cặp đôi khác như: âm và dương, sơn và thủy, sáng và tối, hữu và vô – vốn là những thuộc tính của một “vùng đất sống”: Hòn Chén. Ở đó, ngoài cảnh vật nên thơ còn bao phủ vẻ huyền bí bởi các truyền thuyết và bởi ngôi đền cổ dựng bên sườn núi cheo leo để thờ vị thần tối cao của người Chăm mà Dương Văn An nhắc đến trong Ô châu cận lục giữa thế kỷ 16. Đến đầu thế kỷ 19, vua Gia Long sắc phong nữ thần thờ ở đền là: “Hồng Nhân Phổ Tế linh ứng thượng đẳng thần”. Vua Minh Mạng tu sửa đền khang trang thêm. Vua Tự Đức phong “Thượng đẳng tối linh thần” và thượng thư bộ Lễ đương thời là Phan Thanh Giản ghi lại nguồn gốc, quê quán và hành trạng của nữ thần Thiên Y A Na (thờ ở Hòn Chén) bằng chữ Hán trên tấm bia đá khắc năm 1856 (hiện còn dựng ở tháp Bà – Nha Trang):

Thiên Y tiên nữ ban đầu giáng linh ở núi Đại An, nay là xã Đại An tỉnh Khánh Hòa. Đất này gần thì giáp với cù lao Huân, ngoài xa thông với biển cả, bao bọc núi non, biển biếc, động thiên, đúng là chốn di tích của các bậc tiên linh xưa vậy (…) Có hai vợ chồng ông lão không con, dựng nhà bên triền núi. Hễ ruộng dưa trái vừa chín là bị người hái trộm. Ông lấy làm lạ rình xem thì thấy một bé gái độ mươi mười tuổi ôm dưa chơi ở dưới ánh trăng, bèn đến gần hỏi tới ngọn nguồn. Vì thương bé ít tuổi mà sớm côi cút nên mang về nuôi nấng như con ruột… Một hôm lũ núi, mưa nguồn ập tới, nàng chợt nhớ cảnh cũ Bồng Lai…” (Lý Việt Dũng dịch, Thông tin Khoa học và công nghệ, số 2, Huế 2000).

Nhớ Bồng Lai vì cô gái ấy là tiên nữ giáng trần, đã từ núi Đại An nhập vào khúc gỗ kỳ nam trôi ngược ra Bắc. Ngày kia, một hoàng tử vớt được đem về, thấy có cô gái đẹp bước ra từ thân gỗ kỳ nam với những nét buồn bí ẩn. Hoàng tử không hề biết trước mặt mình là một tiên nữ mà thức ăn hằng ngày thích nhất của nàng là âm nhạc và hương thơm của các loài hoa mới nở.

Thế nhưng nay xuống làm người, nên tiên cũng đồng ý ngồi vào tiệc cưới, kết hôn với hoàng tử theo lời đã ngõ. Ăn ở với nhau có hai mặt con, tiên nữ nhớ nhà về lại phương Nam, đến cù lao Huân tìm cha mẹ nuôi nhưng hai cụ đều qua đời. Tiên nữ ở lại dạy dân làm nghề, khai khẩn ruộng vườn rồi “giữa ban ngày cưỡi chim loan bay lên cõi tiên”.

Hoàng tử nhớ vợ, dẫn đội thủy binh vượt biển đi tìm, khi đến nơi binh lính phía Bắc của hoàng tử tỏ ra hung bạo ngược đãi dân làng, không tôn kính tượng nữ thần để lại, nên đã bị trừng phạt “từ đó bà hết sức hiển linh, thường qua lại nơi đảo Yến, đỉnh Cù cứu nhân độ thế. Ai cầu gì ứng nấy, dân chúng tôn bà là thần, gần xa nhất nhất lập thần chủ cầu cúng… Người xưa gọi bà là Thiên Y A Na Diễn Phi, Chúa Ngọc Thánh Phi” (tài liệu đã dẫn).

Ben do D H C_resize

Đường lên điện Hòn Chén

Sau văn bia trên của Phan Thanh Giản, nhiều tác giả khác như các vị Thái Văn Kiểm, Bửu Kế, Trần Văn Toàn, Nguyễn Thế Anh, Quách Tấn, Hoàng Trọng Miên… bàn đến sự tích Thiên Y A Na phần đông cho đó là dị bản của dạng hình truyền thuyết về nữ thần Poh Nagar – vị thần Sáng tạo, bà Mẹ xứ sở của người Chăm – được tiếp nhận vào hệ thống các thần của người Việt để “hóa thân” thành nữ thần Thiên Y A Na.

Bà thường đứng trên đám mây trắng nõn như lụa hiện lên giữa nền trời cuối thu, hoặc theo bóng cầu vồng ngũ sắc xuống lưng chừng núi, hoặc ngồi trên lưng con bạch tượng mang theo hương thơm của kỳ nam từ rừng sâu đi ra. Không chỉ dân chúng thờ kính, mà cả loài vật cũng vậy, cứ hàng năm vào một ngày đặc biệt bỗng có “nhiều loài thú rừng kéo đến, cùng các loài cá ngoài khơi bơi vào, tất cả nằm chầu yên lặng trước đền thờ của nữ thần như chừng chúng rủ nhau đến dự ngày kỵ giỗ bà theo cách của chúng” (Đào Thái Hanh – BAVH 1914).

Một trong những nơi bà xuất hiện là làng Hải Cát với đền thờ dựng trên núi Ngọc Trản, phía trước có “một cái vực sâu hoắm, dưới đáy vực ấy tương truyền là hang của thủy tộc, và có một con rùa to lớn cỡ bằng chiếc tấm chiếu, mỗi lần nó trồi lên mặt nước là gây nên sóng to gió lớn mà người ta cho đó là sứ giả của Hà Bá phái lên” (ĐNNTC).

Chanh dien-Edit_resize

Chánh điện

Vua Đồng Khánh với âm vang của cuộc đất thiêng

Theo chỉ dẫn của khoa địa lý gia truyền ở Việt Nam, có thể xét hình thế những ngọn núi hoặc điệu chảy các dòng sông để rút ra nhận định về một cuộc đất tốt hay xấu dưới góc độ phong thủy. Như nhìn ngọn núi có đầu tròn như cái hốt mà các vị quan thường cầm khi đứng chầu vua, hoặc thấy một dãy đồi nhấp nhô kết liền nhau như một xâu chuỗi bằng đá quý, hoặc ngọn núi có hình như nửa mặt trăng với thanh khí sáng sủa bao quanh, thì biết nơi ấy sẽ sinh nên những người con gái đẹp vào hạng cung phi (châm hốt hoặc liên châu, bán nguyệt, nữ xuất cung phi).

Hoặc trong ngọn núi giống như đầu một con người có cái búi tó đằng sau, tức là đỉnh có hai gò, một gò cao lên tựa đỉnh đầu, một gò thấp hơn nằm kề bên, trông xa như người có búi tóc kết lại, thì nơi ấy sẽ sinh nên trạng nguyên, phò mã (hoặc như cáo trục, trạng nguyên, phò mã)… Những điều cụ Tả Ao nêu trên giúp chúng tôi một cách nhìn về Hòn Chén với vùng phụ cận trải dài đến gò Hà Khê (nơi chùa Thiên Mụ tọa lạc) để bắt gặp trong ký ức những hình ảnh vàng son của dinh trấn Phú Xuân, những phủ đệ oai nghiêm với các nhà vườn đặc trưng, cùng những mỹ nhân Kim Long đã đi vào giai thoại.

Nhưng giờ đây, hãy trở về với điện Hòn Chén, nơi nhà Nguyễn sửa sang tôn kính kế tiếp nhau suốt hơn trăm năm, như thời vua Duy Tân đầu thế kỷ 20 sắc phong: “Thiên Y A Na Ngọc Diễn Phi tối cao đẳng thần”.

Vua Dong Khanh nam 1886_resize

Vua Đồng Khánh (1886-1889)

Song, qua các vua đời Nguyễn, vận hội mới huy hoàng nhất đến với núi Ngọc Trản và điện Hòn Chén là vào thời vua Đồng Khánh (1886 – 1889). Vua đã nghe kể về một số linh ứng của nữ thần, như chuyện hoàng phi của vua Thiệu Trị vô ý đánh rơi chiếc ống nhổ bằng vàng xuống vực sâu trước điện Hòn Chén bèn van vái thánh mẫu Thiên Y A Na giúp mình. Ngay đó điều kỳ diệu xảy đến: chiếc ống nhổ bằng vàng bị chìm dưới đáy sông đã trồi lên mặt nước. Nhưng tác động mạnh nhất vào niềm tin của vua Đồng Khánh đối với nữ thần là việc mẹ ông (bà Kiên Thái Vương) đến cầu đảo xin mách bảo việc con bà có được lên ngôi vua hay không và nữ thần cho biết ông sẽ làm vua nay mai.

Sự việc xảy đến đúng như thế nên sau ngày lên ngôi (năm 1886), Đồng Khánh đã nâng “đền Hòn Chén” lên thành “điện Huệ Nam” (ân huệ cho nước Nam), cho xây cả chục công trình với Đệ nhất cung Minh Kính cao đài để thờ thánh mẫu Thiên Y A Na (sau năm 1954 thờ thêm thánh mẫu Vân Hương tức Liễu Hạnh công chúa), mỗi năm tế lễ hai kỳ vào mùa xuân và mùa thu. Có nhận định cho rằng nữ thần Thiên Y A Na được đồng hóa với sơn thần Ngọc Trản (vốn có trước đó trong thần tích địa phương) như:

Sự xuất hiện của nữ thần Thiên Y A Na trong hệ thần ở điện Huệ Nam (Hòn Chén) có liên hệ đến sự ra đời của ngôi làng Hải Cát bên cạnh. Theo truyền thuyết, Thiên Y A Na là thần đỡ đầu của làng Hải Cát. Chính vì muốn có một ngôi đền lớn trên núi Ngọc Trản nằm ở bìa làng, cho nên nữ thần quyết định mỗi năm trở về một lần vào mùa thu với những đám rước nhộn nhịp bằng đường bộ và đường thủy” (Nguyễn Hữu Thông – Thông tin Khoa học và công nghệsố 4, Huế 1995).

Những kỳ tế lễ như thế được vua Đồng Khánh nâng lên hàng quốc lễ do đại diện của triều đình làm chủ lễ. Về cuộc rước Nghinh thần vào mùa thu những tác giả trong và ngoài nước như ông H. Délétie cùng ông Nguyễn Đình Hòe đều có bài tường thuật khá sinh động trên BAVH 1915, đại ý ghi nhận những đêm trăng lên đồng ở điện Hòn Chén đã “tỏa sáng một góc trời tâm linh để chúng ta có thể nhìn thấy một chút gì bí ẩn vẫn giữ kín lâu nay ở cõi xa vời vợi”.

Sau ngày tôn tạo “đền” (Hòn Chén) thành “điện” (Huệ Nam) khoảng hơn hai năm, vua Đồng Khánh qua đời vào 27 tháng chạp Mậu Tý (28.1.1889) lúc mới 25 tuổi, ở ngôi 3 năm. Con của vua có 6 hoàng nam và 4 hoàng nữ, trong đó con trai trưởng sau này lên ngôi là vua Khải Định (1916 – 1925). Ảnh của vua thờ ở Đệ nhất cung Minh Kính cao đài. Tên của vua lấy đặt cho một trường nữ trung học ở Huế và trường này trở nên nổi danh khắp miền Nam giữa thế kỷ 20.

Bài 18: Huyền bí Hải Vân Sơn

Vào cuối mỗi mùa xuân, từ trên vùng núi Hải Vân cao ngất, gió thổi rụng xuống mặt biển một loại hoa ngãi thần bí mà loài cá nào ăn lá ấy sẽ được hóa thành rồng…

Nhắc đến “Hải Vân sơn” người ta có thể mường tượng không chỉ “một ngọn” (Cao An Lĩnh) mà là cả “một dải” núi cao (Ngãi Lĩnh), trùng trùng lừng lựng đứng bên bờ biển Đông, trên đoạn đường thiên lý từ kinh đô Huế vào Đà Nẵng ngày xưa. Ở đó thể hiện rõ nét nhất sự kết hợp tiêu biểu của 3 yếu tố sống động: phong + thủy + sơn của duyên hải miền Trung…

Một loài cá mang “bào thai” như người

Cũng ở đó, khi đến xứ Đàng Trong vào thế kỷ 17 theo lời mời của chúa Nguyễn Phúc Chu (Hiển tông hoàng đế), hòa thượng Thích Đại Sán đã đi thuyền ngang qua và ghi lại một chi tiết mà đến nay các nhà nghiên cứu vẫn thường nhắc: “Từ Thuận Hóa vào Hội An đường bộ tất do Ngãi Lãnh (đèo Hải Vân).Sách Dư ký bảo rằng: Khoảng tháng hai, tháng ba, hoa ngãi nở, trôi ra biển, cá ăn hoa ấy hóa rồng – tức là hoa ngãi núi này vậy” (1). Nhưng theo các bô lão, không hẳn bất cứ loài cá nào “ăn hoa ngãi” cũng hóa rồng.Vậy loài nào có đủ sức cảm ứng và hóa thân để bay lên khỏi sóng thần?

Để tìm hiểu, chúng tôi thử điểm lại một số loài cá sinh sống ở sông biển nước ta ghi trong Đại Nam nhất thống chí qua bản dịch của Phạm Trọng Điềm – do Đào Duy Anh hiệu đính – như cá gáy (lý ngư) là loại cá quý với 36 chiếc vẩy chạy thành một đường dài dọc theo xương sống, trên mỗi chiếc vẩy lại có điểm một chấm đen nhỏ.Hoặc cá chình (man lễ ngư) uốn éo như con rắn dài và có bốn mắt thì không được bắt ăn, vì nếu ăn thịt nó sẽ trúng độc chết.Lại có loại cá sấu (ngạc ngư) với “mồm rồng, móng hổ, mắt cua, vẩy kỳ đà, đuôi dài vài ba thước, to như lá cờ, có gai như móc câu, lặn dưới nước, thấy người hoặc súc vật đi qua, thì vung đuôi lên chụp bắt cũng như loài voi dùng vòi (cuốn lấy) vậy”.Cá ông voi hiền lành hay cứu người, có loại Bạch ngư dài 20 trượng, loại Hải thu phun nước lên trời “gió bay đi như mưa”, đầu đời Minh Mạng ban tên là Nhân ngư – đến đời Tự Đức ban tên Đức ngư.Cá lờn bơn (điệp ngư) thân mình gồm hai mảnh, khi bơi phải ghép hai mảnh ấy vào nhau mới bơi được, miệng ở gần dưới bụng.Cá nóc (giang đồn) thường nhởn nhơ làm dáng, ra vẻ ham chơi, lấy mỡ của nó để thắp đèn “khi chiếu vào chỗ cờ bạc thì sáng, chiếu vào chỗ đọc sách thì tối”… Cả mấy chục loài cá được nêu, chưa biết loài nào có linh tánh để “ăn hoa hóa rồng”? Chỉ nghe kể chuyện cá giao ngư gần với câu trả lời như dưới đây.

Giao ngư vốn là một loài cá lớn nhất trong hệ cá hải sa (cá nhám – vì trên da lưng có cát) to lớn dị thường và dài tới vài trượng “mắt đỏ, miệng to, tính nanh ác, hay ăn thịt người”. Khi chúng giao hợp nhau sinh con bằng bào thai (thai sinh) chứ không phải bằng trứng (noãn sinh) như các loài cá khác (chúng cũng có loài hung dữ tên là Hải đầu sa có thể hóa thành hổ). Một con giao ngư như vậy đã sinh ra một con thủy quái lớn nhanh như thổi.Thủy quái chiếm một hang đá làm sào huyệt dưới chân núi để tìm ăn những bông hoa lạ từ rừng rơi xuống.Loài hoa này cũng thuộc loại “kỳ hoa” theo gió rụng xuống các dòng suối để trôi ra sông biển.Ăn hoa xong, con thủy quái biến thành một quái vật đầu rồng, miệng lúc nào cũng há rộng với hai chiếc nanh nhọn.Từ đó nó tu luyện thêm, hóa thành người và bay lên đỉnh núi, đằng sau dãy núi cao ngất kia có một “nữ vương Chăm-pa” đang trị vì xứ sở nhỏ bé thanh bình của mình.Nó bay đến đó với đoàn tùy tùng mang sính lễ theo sau để ép nữ vương làm vợ.Từ cõi trời, thần hộ mạng của nữ vương được Shiva cho phép đã giương cung bắn những mũi tên với đầu lửa Agni sáng rực đốt cháy bùa phép của quân ma khiến chúng hiện nguyên hình những con cá sấu, cá gáy, cá chình, xà ngư, rùa và cả mãng xà, trăn đốm nữa. Ngay thủy quái tóc cũng dựng đứng chạy dọc sống lưng thành một cái bờm dài, với những chiếc vẩy cứng sắp lớp và…biến mất!

Tuong thuy quai Makara tai Bao Tang dieu khac Cham Da Nang_1

Tượng thuỷ quái Makara tại Bảo tàng điêu khắc Chăm – Đà Nẵng

Về hình tượng, thủy quái “ăn hoa ngãi” hóa rồng trong chuyện trên giống với “thủy quái Makara” trong nghệ thuật điêu khắc Chăm mô tả qua một tượng thế kỷ 12 (trưng bày ở Bảo tàng Chăm – Đà Nẵng): Makara “hóa thành rồng” với “mình và chân sư tử, đuôi của rắn Naga” và với “lòng hai bàn chân trước mở ra như tay người, hai chân sau giấu dưới bụng – đầu Makara có bờm tóc cứng (…) miệng có hai răng nanh dài nhọn chìa ra ngoài (…), hai hàm răng nhiều chiếc nhô ra, miệng có lưỡi uốn cong lên phía trên hàm, hai tai thể hiện thành hình chiếc lá mềm mại – Makara là loài thủy quái, nguyên thủy đó là một con cá sấu Ấn Độ to lớn nhưng sau lại là một con cá heo Hy Lạp” (2).

Về nội dung, chuyện nữ vương Chăm-pa trên từa tựa như một truyện cổ khác được kể ở vùng núi cách rất xa Hải Vân sơn về hướng tây bắc, giáp Lào, xưa có “một con thuồng luồng sống trăm ngàn mùa lũ, nó biết nhiều phép, đã hóa ra 100 mâm vàng bạc, 100 mâm ngọc trai, ngà voi, da báo đem đến hỏi cưới nữ vương làm vợ” nhưng bị từ chối nên đã tức giận dâng nước ngập kinh thành, rồi kéo “bao nhiêu quân ma tướng quỷ đến tàn phá xóm làng”.Giữa lúc nguy ngập bỗng một chàng trai xứ Việt mặc áo choàng xanh xuất hiện đánh bại Quỷ vương rồi lặng lẽ biến đi mất: “Thần dân thành Mahuân tưởng nhớ công ơn dựng đầu núi đất Mường một pho tượng người trai mặc áo choàng rách bươm vì trận chiến ác liệt – nữ vương suốt ngày đêm ngóng chờ, thương cảm vô cùng, nước mắt tuôn thành suối, chảy uốn quanh chân núi, dồn đọng vào văng Ca Phúc (vực Anh Phúc).Đến nay dân tộc Lào Ngam vẫn được các mỏ lăm (tức thầy hát dạo) kể chuyện về sự tích mỏm đá Áo Rách với vực Anh Phúc là tượng trưng tình nghĩa Việt – Lào.Hai di tích huyền thoại này ở mường Sê-pôn đang là điểm du lịch kỳ thú của tỉnh Savanakhet – Trung Lào” (3).

So sánh chuyện “Nữ vương Chăm-pa” nghe được ở vùng Hải Vân với chuyện ở Mường Sê-pôn trên, chúng tôi thử hỏi phải chăng có một “mạch” văn hóa Việt – Chăm – Lào ứng theo thế núi “từ các núi Đại Tu Nông, Tiểu Tu Nông, núi Tía và núi Kiền Kiền ở phía biên giới Ai Lao về phía tây, từng đợt kéo đến ngọn núi trùng điệp, cao vót tầng mây thẳng đến sát biển” (ĐNNTC).

Thiên hạ đệ nhất hùng quan

Nằm ở phía đông nam huyện Phú Lộc, vùng núi Hải Vân với nửa đèo phía bắc thuộc địa phận Thừa Thiên – nửa đèo phía nam thuộc Quảng Nam: “phía tây (núi Hải Vân) là núi Bà Sơn, phía bắc là núi Hải Sơn; ba ngọn núi ấy liên tiếp xen nhau, trên cao vót đến tầng mây, dưới chạy giăng đến bờ biển, đường đi chín khúc vòng mới vượt qua đèo, hai bên cây lớn um tùm, người đi như vượn leo chim vượt, thật là hiểm trở” (ĐNNTC).

_D7N4938_resize

Đèo Hải Vân

Trường hợp ba ngọn núi cận kề và “liên tiếp xen nhau” như vậy, theo các nhà dịch lý và phong thủy học Việt Nam cần được xem xét theo các bối cảnh khác nhau.Nếu ba ngọn nằm dưới vùng đồng bằng có hình tam thai hoặc hình chữ phẩm đều quý vì “như hình tam thai, phẩm tự, vị chi thượng thư”, Cao Trung giải thích: “Ba trái núi nhọn đầu, ngọn giữa cao, ngọn hai bên thấp, là hình tam thai – còn ba trái núi tròn đầu là hình chữ phẩm – nơi ấy (sẽ có người) làm tới thượng thư”.Nếu núi có hình như chiếc mão, đứng tựa, đất kết nơi ấy sẽ có người làm tới đông cung thị giảng, dạy các hoàng tử trong cung vua “hình như tịch mạo, ỷ lập đông cung thị giảng“.Nếu núi có hình như tòa lâu đài, ngọc bộ, sẽ sản sinh người làm chức ngự sử đảm nhận quyền can gián vua “hình như lâu đài, ngọc bộ, chức cư ngự sử“.Nếu núi rời rạc, tán loạn, gia đình sẽ chia lìa, cha con phân ly “hình như tán loạn phụ tử phân ly“… Nhưng ở đây là cả một dải núi liên hoàn dồn tụ nên khí lực phong thủy không chỉ ảnh hưởng mạnh mẽ đến một hai số phận mà chung cho cả cộng đồng (gọi là cộng nghiệp) Từ đặc điểm ấy, trong lịch sử, vùng Thuận Hóa với dải Hải Vân là “đất phên giậu” của nước ta một thời.Hải Vân cũng là danh sơn được viết đến bởi nhiều tác gia Việt Nam như Dương Văn An (1555), Lê Quý Đôn (1776)…

4_resize

Thiên hạ đệ nhất hùng quan

Đến thời chúa Nguyễn Phúc Chu tuần du qua núi Hải Vân có thơ ngự đề với câu mở đầu “Việt Nam hiểm ải thử sơn điên” (Núi này ải hiểm đất Việt Nam) và Quốc sử quán triều Nguyễn chép: “về phía bắc chân núi kề bãi biển có hang Dơi, có bãi Cháy, tương truyền xưa có sóng thần, thuyền đi qua đây hay bị đắm nên dân gian có câu ca rằng “đi bộ thì sợ Hải Vân – đi thủy thì sợ sóng thần hang Dơi” là chỉ chỗ này”.Vua Minh Mạng cũng sai xây cửa Hải Vân năm 1826, cửa hướng về phía kinh đô Huế đề 6 chữ “Thiên hạ đệ nhất hùng quan” và cửa hướng về phía Quảng Nam đề 3 chữ “Hải Vân quan” – bằng đá thanh – và cho khắc nổi hình Hải Vân sơn và Hải Vân quan vào Cửu đỉnh (Dụ đỉnh).Vua Minh Mạng cũng sai lập đền thờ thần núi Hải Vân trên đất xã An Cư (Phú Lộc) là một trong các đền thờ sơn thần lớn nhất với điển lệ cúng tế riêng (4).

Đặt núi Hải Vân (cùng Bạch Mã và Đèo Ngang) trong bối cảnh chung của các vùng văn hóa trên toàn quốc để xem xét: “từ bắc tới nam ta thấy nơi đây có nhiều mạch núi ăn ra tận chân sóng biển (…) Ngô Thì Trí trong bài văn Đăng Hải Vân quan phú đã mô tả cảnh sắc hùng vĩ của Hải Vân: Ngọn núi này khí át sông Ngân, thế nuốt bờ biển, tầng đá trập trùng khó vịn, cây cối xum xuê rợp bóng, sóng vỗ ầm ầm như tiếng sấm vang trời, suối chảy rào rào như mưa từ lưng trời đổ xuống”.Kỹ sư Nguyễn Hữu Đính trong một tờ trình năm 1962 đã ghép Hải Vân với Bạch Mã vào tên gọi “Lâm viên quốc gia Bạch Mã – Hải Vân”.Ở độ cao 1.000 – 1.444 m, Bạch Mã có một quần thể kiến trúc gồm 139 biệt thự nghỉ mát được xây từ nửa đầu TK 20, mỗi biệt thự có một dáng riêng về tạo hình mỹ thuật, tạo thành một góc phố núi nhỏ nhắn êm đềm bên dải Hải Vân hùng vĩ.Nhưng rất tiếc, khu biệt thự trên bị triệt phá bỏ hoang trong thời chiến và Bạch Mã trở thành “nàng công chúa ngủ trong rừng” nằm mơ màng cô độc ở cuối dãy Trường Sơn bắc…

(1) Hải ngoại ký sự – Viện Ðại học Huế, Ủy ban Phiên dịch sử liệu Việt Nam, 1963

(2) Huỳnh Thị Ðược – Ðiêu khắc Chăm và thần thoại Ấn Ðộ, NXB Ðà Nẵng 2005

(3) Nguyễn Việt Phương – Trường Sơn, đường Hồ Chí Minh huyền thoại, NXB Trẻ

(4) Xem Nguyễn Văn Ðăng – Hải Vân sơn trong sử sách triều Nguyễn, Tập san TT Khoa học và công nghệ, Huế số 2 (28) – 2000

Bài 20: Khải Định với những bí quyết phong thủy thời Nguyễn

Mặc dầu đã sẵn sàng ­tiếp nhận phong cách kiến trúc mỹ thuật mới mẻ đến từ phương Tây nhưng vua Khải Định vẫn giữ gìn và tuân thủ truyền thống ứng dụng dịch lý và phong thủy vào việc xây lăng cho mình như các đời vua trước đã từng làm…

Điều đó thể hiện rất rõ qua việc vua Khải Định sai các thầy địa lý cùng các quan chuyên trách đương thời khảo sát kỹ lưỡng địa thế và đặc điểm sơn thủy ở nhiều nơi trong vùng Nam sông Hương (hữu ngạn). Và họ đã tìm được một thế đất nằm cách kinh thành Huế khoảng 10km về phía tây nam, trên một sườn núi có độ dốc vừa phải dường như “sinh ra để làm nơi ngả lưng cho một linh hồn quyền quý”

Thế núi Châu Chữ với lăng Khải Định (Ứng Lăng)

Núi có tên Châu Chữ mà theo Đại Nam nhất thống chí nằm về phía tây bắc của huyện Hương Thủy, có một con suối kề cận từ phía nam chảy về, đó là suối Châu Ê. Núi không cao lắm song nằm giữa khung cảnh thiên nhiên thoáng đãng, có dòng nước uốn mình qua chân núi, có các dãy đồi nhấp nhô xa xa dưới tầm nhìn và một rừng cây xanh bao bọc.

Vua-Khai-Dinh_resizeVua Khải Định

Như vậy, yếu tố nước (thủy) và núi (sơn) kết hợp cùng các chi tiết cát tường về mặt phong thủy khiến nhà vua hài lòng, chấp thuận và ra lệnh huy động hàng ngàn nhân công lên vùng núi Châu Chữ vào mùa thu năm 1920 để phát quang mở đường, làm lộ ra dưới ánh nắng một cuộc đất nằm nghiêng theo sườn núi, mà sau này lăng Khải Định tọa lạc ở đó với diện tích khoảng 111m bề dài và 49m bề ngang. Diện tích đó tuy nhỏ so với lăng của các vua tiền nhiệm song lại phải tốn thời gian xây dựng lâu nhất: liên tục trong 11 năm. Các lăng vua Nguyễn xây trước đó không kéo dài bằng như lăng Gia Long xây trong 6 năm, lăng Minh Mạng trong 4 năm và lăng Tự Đức 3 năm.

Đi từ hướng suối Châu Ê chảy trước mặt lăng vào núi Châu Chữ sẽ thấy lăng Khải Định hiện ra với các bậc cấp đầu tiên dẫn lên điện thờ (tả hữu tùng tự) và một sân chầu có đặt nhiều tượng quan văn võ và tượng ngựa voi (bái đình), nhà bia (bia đình) với trụ biểu rất cao thuộc dạng Stupa dựng hai bên. Tiếp đến là nhiều bậc cấp khác nối lên chỗ cao nhất (cung Thiên Định) có nơi đặt án thờ vua (điện Khải Thành) và nơi đặt thi hài vua (điện Chính Tâm) cùng Tả hữu trực phòng xây ở hai bên các điện trên. Từ dưới lên đến chỗ cao nhất của lăng có tất cả 127 bậc cấp với 5 tầng sân.

The Mieu - HueLăng Khải Định

Ngày nay, nhiều nhà nghiên cứu đánh giá cao về nghệ thuật trang trí nội thất, tạo hình mỹ thuật tại công trình kiến trúc chính của lăng là cung Thiên Định. Ở đây, các nghệ sĩ ngày trước đã thể hiện qua các họa phẩm vẽ trên trần cũng như trên tường bằng những nét sinh động về cảnh trí thiên nhiên với hoa lá, chim muông, mai trúc, hạc rùa. Những bức họa chiếm hàng chục mét vuông có giá trị mỹ thuật cao. Nghệ nhân thời ấy cũng đã sử dụng hàng vạn mẫu sành sứ và thủy tinh nhiều màu để đắp nổi hàng ngàn hình ảnh về cảnh vật trong cung đình lẫn ngoài dân gian Việt Nam, cùng những bức tranh tứ thời, bát bửu… Điều đặc biệt khiến nhiều tác giả nhắc tới là lăng này có một pho tượng bằng đồng tạc hình vua Khải Định đang ngồi trên ngai vàng tạo tác tại Paris năm 1920 bởi hai người Pháp là P. Ducuing và F. Barbedienne. Tượng được chở về Việt Nam và được mạ vàng tại kinh đô Huế, đặt giữa cung Thiên Định (ở điện Chính Tâm). Phía trên ngai vàng vua đang ngồi có che một bửu tán bằng xi măng “nặng cả nghìn cân” được gia công kỹ thuật khéo léo đến nỗi trông y hệt một chiếc lọng lớn bằng lụa gấm vậy. Sau lưng tượng có chạm hình “mặt trời lặn”, bên dưới ngai vàng là nơi đặt thi hài vua Khải Định – qua đời năm 1925 sau 9 năm ở ngôi, thọ 40 tuổi. Lúc ấy lăng xây đã 5 năm nhưng chưa xong và phải tốn thêm 6 năm nữa mới hoàn thành dưới thời vua Bảo Đại (vào 1931).

Tượng vua Khải Định trong lăng

Nhìn tổng quát, lăng Khải Định có dạng như một lâu đài cổ của châu Âu được xây bằng nhiều vật liệu mới lúc ấy như ngói ardois, gạch vuông, cùng những hình ảnh lạ mắt đối với thời bấy giờ như chiếc đèn dầu hỏa, cột thu lôi, cửa sắt…. Qua đó cho thấy vua Khải Định muốn có những kiểu cách đa dạng trong bày trí mỹ thuật, trang trí lăng tẩm. Nhà vua đã “đặt làm đồ sứ phục vụ yến tiệc kiểu Pháp tại lò sứ Sèvres ngày 14.8.1922, toàn bộ gồm 694 món phủ men xanh thẩm giống men pháp lam Huế (Prussian blue) nổi bật hoa văn màu vàng rực rỡ” (Trần Đình Sơn).

Đến nay nhiều nhà sưu tập cổ vật vẫn nhắc đến đồ sứ ký kiểu có nền sứ men tím thẫm sang trọng thời đó. Trở lại với lăng Khải Định, điều đáng ghi nhận là các nghệ nhân Huế xưa đã kết hợp sáng tạo giữa chất liệu mới từ Pháp đưa sang với mỹ nghệ truyền thống Việt Nam trong các công trình của mình, họ dùng màu xanh sẫm “vẽ lên mặt xi măng láng làm cho các bức tường trông giống như xây bằng đá cẩm thạch” (Trần Ngọc Bảo). Nhiều nhà nghiên cứu kết luận, lăng Khải Định là bằng chứng sống động về giai đoạn đầu của sự tiếp nhận kiến trúc Tây phương trên nền tảng của truyền thống tâm linh Đông phương vì “tất cả núi đồi khe suối của một vùng rộng lớn quanh lăng đều đã được dùng làm các yếu tố phong thủy gồm tiền án, hậu chẫm, hổ phục, rồng chầu, minh đường, thủy tụ – tạo ra được cho lăng Khải Định một ngoại cảnh thiên nhiên hùng vĩ và tráng lệ” (Phan Thuận An).

Bí quyết phong thủy trong việc chọn hướng dựng nhà và xây vưởn ở kinh thành Huế

Tính đến thời vua Khải Định, kinh thành Huế đã qua hơn 110 năm xây dựng. Cạnh các công trình kiến trúc thành quách, cung điện và lăng tẩm, thì hệ thống nhà vườn của Huế cũng đã thật sự hình thành trong thời gian ấy đủ để Huế xứng đáng với biệt danh “thành phố nhà vườn” mang đậm yếu tố phong thủy. Đó là điều khẳng định của nhiều tác giả – như GS.TS. Ngô Đức Thịnh và GS. Lê Văn Hảo chẳng hạn: “Kiểu kiến trúc khuôn viên nhà – vườn tạo nên kiểu thành phố vườn”. Hoặc GS. Trần Quốc Vượng gọi Huế là “một thành phố nhà vườn”. Nhà vườn Huế khác với các đô thị khác trong nước bởi vẻ đẹp có phần huyền bí do các đặc điểm phong thủy tạo nên. Để bạn đọc rõ hơn về nét đặc biệt này dưới thời các vua Nguyễn, chúng tôi trích dẫn một vài nét chính trong tài liệu khá chi tiết của hai ông Vĩnh Cao và Phan Thanh Hải về “Phong thủy trong vườn Huế” giới thiệu trên Tạp chí Nghiên cứu và phát triểnSở Khoa học và công nghệ Thừa Thiên Huế số xuân Bính Tuất 2005 dưới đây:

Việc đầu tiên trong các động thái quy hoạch phong thủy là phải xác định hướng cho một khu vườn: “Người Huế quan niệm, sơn hướng hay địa thế, là vị trí của cả cuộc đất mà trên đó sẽ dựng cơ nghiệp lâu dài nên nhất thiết phải xem sông ngòi, đường sá, để biết thủy tụ nơi nào, hướng gió lợi hại ra sao”. Sơn hướng gồm 24 phần và phải dùng thiên can, địa chi và bát quái để xác định. Các nhà phong thủy học lưu ý cần phải phối hợp với cửu cung để biết sự xoay chuyển của vận khí và phù hợp với bản mệnh của chủ nhà.

Tiếp theo là xác định vị trí của ngôi nhà, được nhắm tùy theo từng cách lý giải khác nhau. Như người thì chọn trạch chủ, người thì lấy từ trung tâm ngôi nhà tính ra theo cách hình học. Người lấy hiên nhà làm chính dựa vào câu “khai môn phóng thủy” trong khoa địa lý. Và có ngươi dựa vào mục tiêu của chủ nhân để “đưa nhà sang trái hay phải, lấn về trước hay lùi về sau – đây là phép tắc dựa vào địa thế và ngũ hành”. Nói chung người ta có xu hướng thích quay mặt nhà về hướng nam: “lấy vợ hiền hòa làm nhà hướng nam”.

The Mieu - HueLăng vua Khải Định và kinh thành Huế xứng đáng với biệt danh “thành phố nhà vườn” mang đậm yếu tố phong thủy

Giai đoạn thứ ba trong quy hoạch phong thủy là cần xác định những cấu trúc phụ xung quanh ngôi nhà như bình phong, non bộ, hồ nước mà các nhà chuyên môn cho rằng sẽ ngăn chặn những điều bất lợi có thể đến với chủ nhân cùng gia quyến: “Như bức bình phong, người thì quan niệm sử dụng để tránh lối đi thẳng vào nhà (nhất là nhà thờ vì như vậy không đúng lễ ngày xưa), người thì cho rằng tránh được trực xạ vào nhà, người thì bảo tránh dẫn hỏa vào nhà, người dùng ngũ hành lại nghĩ rằng đó là cách tạo một hành trung gian để tùy cơ mà điều tiết (như cần làm vượng hỏa lên thì làm bằng hàng cây – thuộc mộc – để kích hỏa lên; cần làm giảm bớt hỏa khí thì bình phong làm bằng đất đá – thuộc thổ – để khắc bớt hỏa )… Các thầy địa lý còn hướng dẫn để chủ nhân xem xét nơi đào hoặc đặt hồ nước để “tụ thủy tích phúc” – mà nhiều người quan niệm phải đặt trước nhà làm nơi ngăn cản luồng “hỏa khí” nóng bức không tốt từ ngoài có thể xâm nhập vào nhà. Một số các yếu tố phong thủy khác thường được chú ý, trong đó có việc đặt các tảng đá lớn, các hòn giả sơn, hoặc hòn non bộ sao cho hợp lý. Việc đặt các dạng đá như vậy là nhằm tạo sự cân bằng cho ngôi nhà mình sẽ ở “như nhà nặng về mặt đông thì cần có những non bộ hoặc đá tảng lớn ở mặt tây để tạo cân bằng”.Nhưng cũng có người cho mục đích đặt đá nhằm ngăn chặn những tương khắc tồn tại quanh nhà “để cản những vật bên ngoài như góc nhà người khác, trụ điện, cây to… bắn khí vào nhà. Việc chọn đúng vị trí để đặt các cấu trúc nói trên còn có ảnh hưởng tốt hoặc xấu đến các phần của ngôi nhà, vì “tác động vào chúng sẽ có ảnh hưởng trực tiếp đến chủ nhân và các thành viên trong gia đình. Sách địa lý có câu: “Phá tiền đường hại gia trưởng”.

Mà đứng đầu phần đất ra vào tiền đường là chiếc cổng chính của vườn – có ảnh hưởng quan trọng nhất đến khu nhà vườn. Vì thế các thầy địa lý đã đưa ra nhiều quan điểm khác nhau trong việc xác định vị trí cho chiếc cổng. Chẳng hạn cổng trổ theo cung hợp với mệnh của chủ nhân, như chủ hợp với cung Ly thì trổ cửa về hướng nam. Hoặc dựa vào ngũ hành để điều tiết vị trí dẫn khí vào nhà. Hoặc “phối hợp giữa môn (cổng) hoặc hộ (cửa) theo câu “Môn đăng hộ đối”đây là quan điểm phổ biến nhất”. Nếu chủ nhân của ngôi nhà nào khó sửa được hướng cố định nhưng hướng nhìn ra sông, ra đường “cần sửa cửa để làm lệch hướng cổng- lại có thể chuyển cửa lên tầng gác nếu tầng dưới không sử dụng để sinh sống”.

Ngoài cổng chính, theo các nhà phong thủy cũng cần mở cổng hậu phía sau để “lấy khí từ mặt sau nhà hoặc để thủy khí có nơi thoát”. Mặt khác người ta quan niệm phần sau nhà là“biểu tượng cho con cháu (tử tôn) nên vị trí của cổng hậu cũng phải theo hướng phù hợp chủ nhân, hoặc phù hợp ngũ hành – trong dân gian vùng Huế cũng thường có quan niệm làm nhà cho có phần hậu”. Còn nhiều điều khác như chọn loại cây trồng, chọn cách kết cấu nhà và phương pháp đo đạc các bộ phận kiến trúc nữa liên quan đến bí quyết “phong thủy nhà vườn Huế”vốn có nền móng tạo tác dưới thời các vua chúa nhà Nguyễn với mốc cuối cùng vào thời Khải Định và Bảo Đại sẽ viết rõ phần sau.

phần cuối

hvln