Phiên Tòa Dưới Âm Phủ- 7

19- Vô ác bất tác

– Muốn thay thế bác lên làm tổng bí thư nên tui với chú Sáu vẽ ra cái vụ xét lại chống đảng. Nửa đêm chú Sáu cho công an bắt Vũ Đình Huỳnh, Hoàng Minh Chính, Đặng Kim Giang và nhiều người lắm mà chính tui cũng chả biết họ có tội gì nữa. Ngoài ra chú Sáu sai đàn em lục lạo trong văn khố của thực dân Pháp tìm ra được lá thư của ” thằng lùn ” hồi còn nhỏ làm đơn xin với tụi thực dân cho đi học trường tây. Thế là tụi tui phao truyền để bêu xấu ” đại tướng lùn ”. Sau một cuộc bỏ phiếu mật tụi tui loại Võ đại tướng ra khỏi bộ chín chị và cho ông ta ở nhà nựng cô vợ trẻ. Không có mặt ông tướng lùn, tui với Sáu Búa, anh Năm Thận và tướng Dũng, từ năm 1963 bắt đầu phác họa cuộc Tổng Công Kích Mậu Thân …

Thôi Phán Quan lên tiếng ngắt lời Ba Duân.

– Ông xác nhận chính ông, Sáu Búa, Năm Thận và đại tướng Dũng chính thức chỉ đạo cuộc tổng công kích Mậu Thân…

Quay đầu nhìn về phía Diêm Vương đang ngồi chênh chếch sau lưng của mình, Ba Duân hỏi.

– Bẩm Diêm Vương… Con có phải trả lời câu hỏi này?

Vị vua của âm phủ mỉm cười buông giọng lửng lơ.

– Ngươi nói ra thì tốt, nhược bằng không nói cũng hổng có vấn đề…

Ba Duân hơi có vẻ suy nghĩ về câu nói chứa ẩn ý của Diêm Vương. Liếc qua phía bên kia thấy 9 vị bồi thẫm đang chăm chú nhìn mình để chờ nghe câu trả lời, hắn biết là sớm muộn gì cũng phải nói ra.

– Chủ trương thôn tính miền nam bằng súng đạn nên tui đã lập một ủy ban gồm nhiều đồng chí thân tín. Phe dân sự thì có tui, chú Sáu, anh Năm, anh Tô và anh Tố. Còn phe quân sự thì có tướng Dũng và bộ tham mưu của ông ta. Phải mất thời gian dài, ủy ban mới đúc kết được một kế hoạch tổng công kích và tổng nổi dậy vào đầu năm 1968. Lực lượng tham chiến đa số gồm Giải phóng quân miền nam và một ít bộ đội chủ lực của Quân đội nhân dân Việt Nam. Tất cả cộng lại khoảng 100 tiểu đoàn, tức độ 100 ngàn người, đồng loạt mở cuộc tấn công vào 36 thủ phủ, 5 thành phố và 64 tỉnh lỵ của tụi ngụy…

Nói tới đó Ba Duân ngừng lại uống ngụm nước cho thấm giọng rồi cười nói với Thôi Phán Quan.

– Một điều buồn cười là đám lãnh tụ của ngụy quá khờ khạo, tin vào chuyện hưu chiến. Nó quên mất câu ” binh bất yểm trá ” nên quan lớn, quan nhỏ, lính tráng đều lo ăn tết và say sưa nhậu nhẹt tưng bừng… Bởi vậy khi bộ đội vào thành chúng hoảng hồn la làng chói lọi… Phải nói tướng Dũng với bộ tham mưu của ông ta đã vẽ kế hoạch và thực hiện cuộc tổng công kích và tổng nổi dậy đúng như ý của tui muốn…

Ba Duân ngừng lại như để suy nghĩ và sắp xếp lời nói. Phòng xử im lặng như tờ vì mọi người hầu như nín thở để nghe những chi tiết chưa hề được tiết lộ từ cửa miệng của nhân vật nắm quyền lãnh đạo hai mươi ba năm ở miền bắc từ năm 1963 cho tới 1986.

– Lực lượng tham chiến chính gồm 100 tiểu đoàn của quân giải phóng miền nam được điều động như sau. 35 tiểu đoàn và 18 đại đội tấn công Vùng 1; 28 tiểu đoàn đánh Vùng 2; 15 tiểu đoàn đồng loạt tập kích Vùng 3 và 19 tiểu đoàn quấy phá Vùng 4 chiến thuật của ngụy. Triệt để lợi dụng yếu tố bất ngờ, tụi tui giữ bí mật tới giờ phút chót cũng như dùng kế dương đông kích tây giả vờ pháo kích Khe Sanh và xử dụng bộ đội chính qui tấn công cứ điểm này để đánh lạc hướng của tụi Mỹ Ngụy…

– Tôi nghe nói là chính các ông đề nghị hưu chiến ba ngày tết. Đúng không?

– Đúng… Tụi tui tuyên bố hưu chiến trước và tụi Mỹ Ngụy khờ quá nên tin tưởng vào lời tuyên bố này. Cho tụi nó học bài học mới khôn ra. Sau này Thiệu nói được một câu nghe lọt lỗ tai lắm. ” Đừng có tin những gì tụi tui nói mà hãy nhìn những gì tụi tui làm…”

Ba Duân cười hì hì nhìn Thôi Phán Quan giây lát xong tiếp lời.

– Tui chỉ đạo cuộc tổng công kích nhưng điều động các đơn vị chiến đấu thì thuộc phần của tướng Dũng. Ông muốn biết chi tiết thì phải hỏi ông ta…

Liếc nhanh Diêm Vương thấy ông ta gật đầu, Thôi Phán Quan bèn mời tướng Dũng lên ngồi vào ghế nhân chứng.

– Theo như lời của Ba Duân thì ông là người chịu trách nhiệm về phần quân sự của cuộc tổng công kích Tết Mậu Thân?

– Chính tôi…

Văn đại tướng trả lời gọn.

– Xin hỏi ông lúc đó Võ đại tướng đang ở đâu?

– Ổng đang chữa bịnh ở nước Hung…

Khẽ gật đầu Thôi Phán Quan nói bằng giọng lịch sự.

– Tôi nghe đồn các ông dùng mật lệnh…

Nhẹ gật đầu Văn đại tướng hắng giọng.

– Đúng đêm trừ tịch trước giờ giao thừa, bài thơ chúc Tết của bác được phát thanh trên đài Hà Nội. Nó chính là mật lịnh được truyền đi khắp hai miền bắc nam báo hiệu cuộc tổng công kích bắt đầu…

– Ông còn nhớ bài thơ?

– Thưa tôi nhớ chứ. Đó là bài thơ 28 câu như vầy:

– Xuân này hơn hẳn mấy xuân qua

Thắng trận tin vui khắp nước nhà

Nam bắc thi đua đánh giặc Mỹ

Tiến lên toàn thắng ắt về ta…

Nghe xong hướng về chỗ 9 vị bồi thẫm đang ngồi Diêm Vương nói với Đán.

– Hình Chí Mô cũng dính dáng vào vụ thảm sát thường dân vô tội Tết Mậu Thân à. Vậy mà ta hỏi nó thì nó chối leo lẻo, bảo rằng không biết gì. Nếu không biết thì tại sao nó lại ra mật lệnh tổng tấn công bằng cách đọc bài thơ chúc tết… 9 vị bồi thẫm nên ghi nhớ điều đó khi thảo luận về hình phạt dành cho Hình Chí Mô…

Nói xong Diêm Vương ra lệnh cho Thôi Phán Quan tiếp tục phiên xử. Bước về bàn của mình, cầm lấy xấp hồ sơ dày cộm, vị biện lý của âm phủ tới đứng trước chỗ 9 vị bồi thẫm ngồi. Giọng nói của vị đại diện cho luật pháp của âm phủ vang rền trong phòng xử chứa mấy ngàn người.

– Kính thưa 9 vị bồi thẫm… Âm phủ chúng tôi, sau thời gian tìm kiếm đã sưu tập và đúc kết một hồ sơ về tội ác của đảng cộng sản Việt Nam vào thời gian mà hai tên Ba Duân và Sáu Búa cầm quyền. Tội ác của chúng nếu kể ra thì nhiều vô số kể, cho nên tôi tạm thời qui vào năm biến cố của lịch sử Việt Nam. Đó là vụ thảm sát Tết Mậu Thân năm 1968, vụ bắn giết thường dân ở Quảng Trị được mọi người biết tới qua tên Đại Lộ Kinh Hoàng. Thứ ba là sau khi cưỡng chiếm được miền nam bằng súng đạn, hai tên Ba Duân và Sáu Búa cùng với các đồng chí thân cận đã bỏ tù, đày ải hơn nửa triệu người vào các trại tập trung và cải tạo. Ăn cướp của dân lành, lưu đày dân chúng đi Vùng Kinh Tế Mới, bọn chúng đã khiến cho hàng trăm ngàn người chết vì đói và bệnh tật. Thứ tư là với tham vọng điên cuồng, hai tên Ba Duân và Sáu Búa cùng với đám tướng tá trong quân đội đã nướng hơn 50 ngàn binh sĩ vào cuộc chiến tranh xâm lược nước láng giềng Cao Miên. Thứ năm với chủ trương ăn cướp miền Nam sau năm 1975, với tiêu đề đánh tư sản mại bản, chúng xua, chúng đuổi một triệu dân lành ra đại dương để đi tìm tự do vì họ không thể sống dưới chế độ độc tài vô nhân của cộng sản. Không ai biết đích xác bao nhiêu người đã chết trên biển cả. Danh từ ” thuyền nhân ” trở thành một thảm họa kinh khiếp đồng thời cũng là một vết nhơ cho dân tộc Việt Nam. Hơn bốn ngàn năm dựng nước, giữ nước và mở nước, dân Việt Nam chưa bao giờ phải bỏ nước ra đi một cách ồ ạt và sợ sệt như khi cộng sản thôn tính cả ba miền nam trung bắc. Nói tới cộng sản trước tiên người ta phải nhắc tới tội ác, không phải của cá nhân mà là một ” tập thể các đồng chí ” xem sự giết người như một phương tiện để thực hiện mục đích và tham vọng thống trị của mình. Để dễ dàng cho bồi thẫm đoàn cũng như tất cả mọi người theo dõi, tôi xin nêu ra đây tội ác thứ nhất của hai tên Ba Duân và Sáu Búa…

Ngừng lại giây lát, Thôi Phán Quan cao giọng tiếp.

– Thứ nhất trong vụ tổng công kích đợt 1, 2 và 3, có hơn 100 ngàn người chết bao gồm thường dân vô tội và binh sĩ của hai phe. Đó là tôi chưa kể tới những người bị thương tật và tài sản của dân chúng đã bị hủy hoại…

Ngừng lại uống ngụm nước, Thôi Phán Quan nhìn hai bị can rồi hỏi một câu.

– Tôi nghe đồn là hai ông ghét người miền nam lắm. Đúng không?

Ba Duân và Sáu Búa nhìn nhau. Dĩ nhiên chúng biết mặc dù nói ” nghe đồn ” song Thôi Phán Quan đã biết rõ điều đó. Cuối cùng Ba Duân lên tiếng.

– Tôi nhìn nhận là tôi không ưa dân nam bộ trừ…

– Trừ cái gì?

Thôi Phán Quan gằn giọng hỏi. Ba Duân cười nhẹ.

– Trừ đàn bà con gái… Phụ nữ nam bộ đẹp, hiền, ngây thơ và thành thật. Họ hổng có lém lỉnh nên mình dễ gạt họ hơn… Nói đúng ra thì dân nam bộ hổng có thủ đoạn nên dễ bị tui gạt…

– Trong cuộc tổng công kích năm 1968, hy sinh hơn 100 ngàn bộ đội Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, ông nghĩ là ông thắng hay bại. Ông gặt hái được kết quả gì?

Trầm ngâm giây lát Ba Duân thong thả trả lời.

– Chuyện này xảy ra đã lâu rồi nên tôi cũng chẳng muốn giấu diếm hoặc che đậy làm gì. Tui đã tính kỹ lắm khi mở ra cuộc tổng công kích năm 68. Đó là một mũi tên bắn ba con chim… Đầu tiên là nướng hết bộ đội chủ lực của phe Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam…

– Ông nướng hết các đồng chí nam bộ của ông với mục đích gì?

Ba Duân cười cười liếc nhanh Hình Chí Mô rồi từ từ lên tiếng.

– Tui sợ tụi nó làm loạn với lại đòi chia quyền sau khi lấy được miền nam. Bởi vậy tui với chú Sáu phải tiên hạ thủ vi cường… Sau khi tổng công kích đợt 3 xong là tui đưa quân miền bắc vào thay thế và giám sát chặt chẽ đám Nguyễn Hữu Thọ. Thằng nào lạng quạng là bị chích thuốc chết liền… Thứ nhì là quân của ngụy đánh với quân giải phóng thì đứa nào cũng ngất ngư còn tụi tui đứng ngoài vỗ tay mừng chiến thắng. Phần đế quốc Mỹ thì sau vụ Mậu Thân, phong trào phản chiến lên cao khiến cho dân chúng chán nản chiến tranh không còn muốn chánh phủ Mỹ tiếp tục theo đuổi cuộc chiến tranh xâm lược nữa…

Ngồi bên kia Sáu Búa chợt bật lên tiếng cười thích thú lẫn mỉa mai.

– Mấy thằng Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam khờ ơi là khờ. Còn tụi lính ngụy cũng dễ tin mà tụi đế quốc Mỹ lại còn ngây thơ hơn nữa… Để tôi nói cho ông nghe như thế này. Mặt trận giải phóng miền Nam có hơn 100 ngàn quân. Nếu tụi nó đòi ly khai, đòi độc lập với bác và đảng hoặc khi lấy được miền Nam rồi tụi nó đòi chia ghế chia quyền thì chúng tôi đâu có làm gì được. Bởi vậy chúng tôi mới dàn dựng ra vụ tổng công kích để nướng hết bộ đội miền nam rồi sau đó gởi quân miền bắc vào kiểm soát hết hổng cho tụi nó cục cựa gì được. Còn tụi ngụy thì tuy chúng tôi không gây thiệt hại nặng về quân lực song cũng làm cho nó bị khó khăn nhiều về mặt kinh tế và tinh thần. Ngoài ra vụ tổng công kích đã gây tiếng vang lớn trong dân Mỹ khiến cho họ thôi ủng hộ chính phủ kéo dài cuộc chiến tranh xâm lược phe xã hội chủ nghĩa. Ông thấy cách một mũi tên bắn ba con chim của chúng tôi có kết quả mỹ mãn chưa, mặc dù chúng tôi phải thí hơn 100 ngàn bộ đội của Mặt trận. Cá nhân tôi với anh Ba không ưa mấy thằng nam bộ, do đó dù phải nướng hơn trăm ngàn thằng mà thu được lợi lớn thì tội gì chúng tôi không làm…

Khẽ gật đầu Thôi Phán Quan quay qua hỏi Ba Duân.

– Chắc ông biết vụ Đại Lộ Kinh Hoàng?

Ba Duân cười cười xì tiếng dài.

– Kinh cái gì mà kinh… Tụi ngụy nó thổi phòng lên đó ông ơi… Bộ đội chỉ bắn chết có chừng chục ngàn dân mà tụi nó la om xòm…

– Theo như tôi biết thì chục ngàn dân đó là dân Quảng Trị, đồng hương với ông…

Ba Duân lắc đầu.

– Tôi hổng có quê hương, tổ quốc, đồng bào, đồng hương gì hết. Tui chỉ biết có đảng… Đám dân đó đáng lẽ khi bộ đội về thành thì họ phải ở lại hợp tác và ủng hộ bộ đội. Đằng này bộ đội chưa tới họ đã chạy về phía ngụy. Như thế là họ ủng hộ mỹ ngụy. Bởi vậy bộ đội mới bắn họ… Riêng vụ tù cải tạo thì như thế này. Ông nghĩ coi có ai khờ khạo và ngây thơ như đám quân dân cán chính của ngụy không. Đi ở tù mà tụi nó còn mang theo quần áo, chăn chiếu và tiền bạc. Bộ tụi nó tưởng đi nghỉ hè à…

– Tôi nghe một tin đồn là khi có người hỏi ông xử trí cách nào với những kẻ thua trận của miền nam thì ông làm như vầy…

Thôi Phán Quan đưa tay lên cứa ngang cổ của mình xong nghiêm giọng hỏi.

– Dấu hiệu đó có ý nghĩa gì?

Ba Duân làm thinh giây lát mới cười thốt.

– Tui đùa cho vui vậy mà…

Không cười, Thôi Phán Quan lập lại câu hỏi của mình.

– Tôi hỏi ông dấu hiệu đó có ý nghĩa gì?

Liếc nhanh Diêm Vương đang hầm hè nhìn mình, Ba Duân gắng gượng trả lời câu hỏi.

– Dấu hiệu đó có nghĩa là cắt cổ, là giết chết…

Diêm Vương hừ tiếng nhỏ.

– Giết chết mấy trăm ngàn người. Bộ ngươi điên à?

Liếc nhanh Sáu Búa đang ngồi im suy nghĩ, Ba Duân lắc đầu.

– Bẩm Diêm Vương… Con hổng có điên mà con làm đúng theo lời bác và đảng đã dạy. Chẳng thà giết lầm hơn tha lầm. Chẳng thà bỏ tù lầm một triệu thằng ngụy còn hơn tha lầm mấy chục ngàn. Với lại tụi nó sống tự do và no ấm hai chục năm rồi thì ở tù vài năm đâu có sao…

Nghe Ba Duân nói Diêm Vương lắc đầu ngao ngán. Hướng về phía chín vị bồi thẫm ông ta nói lớn.

– Lũ bây toàn ăn nói ngược ngạo. Ở âm phủ của ta đây thì ” thà tha lầm mười người còn hơn bỏ tù lầm một người ”. Còn ở cái xứ độc tài đảng trị của lũ bây thì lại nói ” chẳng thà bỏ tù lầm mười người còn hơn tha lầm một người ”. Ngươi với thằng Trật Búa hay Sáu Búa gì đó thì tội ác ngập đầu. Tiếng người ta nguyền rủa, than oán về hai ngươi đã động tới thiên đình. Ông trời nghe hoài nhức đầu quá khiến ổng nổi giận mới ra lệnh cho ta bắt ngươi và thằng Sáu Búa xuống âm phủ sớm hơn mười lăm năm…

Tuy muốn nói nữa song bắt gặp cái nháy mắt ra hiệu của Thôi Phán Quan, Diêm Vương cười nhẹ gật đầu phán.

– Sau đây ta xin nhường lời lại cho Thôi Phán Quan…

Hướng về chỗ bồi thẫm đoàn đang ngồi vị biện lý của âm phủ cao giọng.

– Theo luật lệ của âm phủ thì tội giết người được chia ra hai loại. Đó là cố sát và ngộ sát. Ngộ sát hay giết người vì tự vệ hoặc lầm lỡ mà làm thiệt mạng của người khác, tội này tuy bị phạt song cũng được luật pháp giảm án nặng nhẹ tùy theo tội trạng và hoàn cảnh. Riêng tội cố sát hay cố ý giết người thì âm phủ có hình phạt rất khắt khe dành cho những kẻ nào chủ mưu giết người…

Quay nhìn về phía bồi thẫm đoàn, Thôi Phán Quan cao giọng.

– Thú dữ còn không ngoảnh mặt với đồng loại của nó. Như con khỉ, khi con cái chết nó còn biết thương xót. Người xưa có câu ” Con ngựa đau cả tàu không ăn cỏ…”. Hai bị can Ba Duân và Sáu Búa, là người có ăn học; tuy nhiên chỉ vì tuân thủ theo các giáo điều của cộng sản đâm ra mất nhân tính; vì vậy đã dàn dựng cũng như chủ mưu cuộc Tổng Công Kích Mậu Thân gây tang tóc và đau thương cho hàng triệu người khắp hai miền nam bắc. Chúng ra lịnh cho những kẻ thuộc quyền sát hại hàng chục ngàn đồng bào vô tội ở Huế. Căn cứ vào những tài liệu mà âm phủ đã thu thập được, chỉ riêng ở Huế, trong vòng 24 ngày chiếm đóng, hai bị can đã truyền lịnh bắn tại chỗ hai ngàn người. Ngoài ra người ta còn tìm được hơn hai ngàn tử thi thường dân trong những hố chôn tập thể rải rác khắp nơi trong thành phố Huế. Các hố chôn tập thể có từ năm ba người, có hố chôn hơn 400 nạn nhân như ở Khe Đá Mài. Những nạn nhân nầy bị cột chùm lại với nhau và đốt cháy bằng xăng, bị bắt ngồi trên mìn rồi cho nổ tan xác, bị chặt đầu, bị bắn vào ót, bị đập chết bằng bá súng, bị đóng cọc từ dưới bàn tọa lên đến cổ, bị trói tay chân thành từng chùm rồi xô xuống hố chôn sống… Cách giết người dã man như vậy thật xưa nay chưa từng thấy…

– Cái này là đám lính của Mặt Trận hoặc đám cộng sản nằm vùng làm càn chứ hai đứa tui đâu có ra lịnh như vậy…

Ba Duân lên tiếng ngắt lời của Thôi Phán Quan. Cười hực, vị biện lý gằn giọng hỏi.

– Ông nói là ông với Sáu Búa không có ra chỉ thị hả. Ông muốn tôi kêu người lên đây làm chứng…

Ba Duân nín thinh. Thôi Phán Quan hắng giọng tiếp.

– Điều tôi đưa ra đây sẽ chứng minh vụ thảm sát thường dân vô tội là do lệnh của hai bị can Ba Duân và Sáu Búa. Một đảng viên huyện ủy huyện Phú Vang thuộc tỉnh Thừa Thiên, có bí danh Sơn Lâm bị bắt trong cuộc tổng công kích Tết Mậu Thân đã khai rằng, việc thảm sát tất cả dân lành vô tội trong vụ Tết Mậu Thân năm 1968 là do lệnh của Quân Ủy Trị-Thiên-Huế và cơ quan này nhận lệnh từ trung ương đảng. Ngoài ra một quản giáo trong trại cải tạo đã huênh hoang tuyên bố với các tù nhân: “ Các anh may mắn được cách mạng khoan hồng tha tội chết, vào đây thì phải biết ăn năn, học tập tốt để sớm trở về sum họp với gia đình. Tôi nói cho các anh biết, nếu năm Mậu Thân, chúng tôi thắng trận thì ba triệu ngụy quân, ngụy quyền và gia đình các anh đã bị giết theo lệnh của Hồ chủ tịch rồi… ”

Nghe tới đó Hình Chí Mô giẫy nẩy lên.

– Hổng có đâu… Oan cho tôi quá… Tôi đâu có ra lịnh bất nhơn như vậy… Chú Ba và chú Sáu ra chỉ thị hết trơn. Tôi nói mà nó còn bịt miệng hổng cho tôi nói thì sức mấy mà nó để cho tôi ra lịnh bắt giết ai… Ngay cái bài thơ chúc Tết mà tôi đọc trên đài phát thanh cũng của thằng Sáu làm đó…

Quay qua chỗ Diêm Vương đang ngồi, lão Hình nói với giọng như phân trần.

– Bẫm Diêm Vương… Năm 1969 thì con theo ông Mác về thiên đường. Đầu năm 1968, thì con đã già lắm, lú lẫn thêm bịnh hoạn, cho nên con đâu có biết hai chú ấy làm cái gì… Hai chú ác lắm… Ngay cả con mà hai chú còn chích thuốc cho chết sớm thì mấy chục ngàn quân dân của ngụy ở Huế bị hai chú ấy thảm sát thì con nghĩ chuyện ấy cũng không có gì lạ…

Mọi người trong phòng xử nhao nhao lên khi nghe Hình Chí Mô hé mở một vài bí mật.

– Đáng cái đời nhà ngươi…

– Quả báo nhãn tiền mà…

– Hắn giết không biết bao nhiêu đồng chí của hắn thì bây giờ đồng chí em út của hắn chích thuốc cho hắn sớm lên thiên đường cộng sản là phải rồi…

Thiên hạ mỗi người nói một câu ồn ào cả phòng xử khiến cho Diêm Vương phải gõ búa ra lệnh cho mọi người im lặng. Đợi cho trật tự được vãn hồi xong Thôi Phán Quan mới bước tới đứng trước mặt Ba Duân cùng với câu hỏi bật ra.

– Tôi nghe đồn là sau khi cưỡng chiếm được miền nam năm 1945, ông và Sáu Búa có đề ra một chính sách mới lạ. Đúng không?

Ba Duân gật gật đầu cười.

– Chính sách này là một sáng tạo ưu việt của tui. Cái này tui gọi là chính sách Ba Xin…

Nhìn Tố Bồi Bút, Diêm Vương hỏi gọn. Bình nhận xét thấy đối với tám bị can thì ông vua âm phủ có cử chỉ thân thiện với họ Tố hơn bảy người kia.

– Lành… Hắn nói cái gì vậy?

Cười cười họ Tố bắt đầu huênh hoang tuyên truyền.

– Bẫm Diêm Vương… Dưới ánh sáng của tư tưởng Mác Lê cũng như dưới sự chỉ đạo nổi bật của đảng, anh Ba đã đề ra chính sách Ba Xin, áp dụng cho dân nam bộ sau năm 1975… Cái xin thứ nhất là Xin Đi Ở Tù; thứ nhì Xin Đi Vùng Kinh Té Mới và thứ ba Xin Vượt Biên

Thôi Phán Quan và Diêm Vương nhìn nhau rồi sau đó vị biện lý của âm phủ mới lên tiếng hỏi.

– Xin Đi Vùng Kinh Té Mới… Ông nói lầm hay tôi nghe lầm…

Cười tủm tỉm như có điều gì đắc ý, Tố Bồi Bút thong thả đáp.

– Thưa ngài biện lý… Tôi không nói lầm mà ngài cũng không nghe lầm đâu… Sở dĩ tôi nói Vùng Kinh Té Mới là có cái lý do của nó… Tuy nhiên ngài biện lý hãy để cho tôi nói về cái Xin Đi Ở Tù trước nhất. Dưới sự chỉ đạo anh minh và khôn ngoan của anh Ba và anh Sáu, đồng chí Mười Cút đã ra một thông cáo là tất cả quân dân cán chính của ngụy phải trình diện để đi học tập ” mươi ngày ” xong sẽ được cho về xum họp với gia đình…

Ai ai trong phòng xử cũng nghe tên Lành nhấn mạnh hai tiếng ” mươi ngày ”. Ngừng nói hắn bật cười hì hì như có vẻ thích thú điều gì.

– Thông cáo vừa ra xong là đám quân dân cán chính ùn ùn rủ nhau đi ở tù…

Trên môi vẫn còn nguyên nụ cười, Tố Bồi Bút nhỏ nhẹ thưa.

– Bẫm Diêm Vương… Ngài thấy sự khôn ngoan và sáng suốt của anh Ba và anh Sáu chưa. Cái thông cáo của đồng chí Linh đã phỉnh gạt được luôn cả mấy thằng trí thức có hai ba cái bằng tiến sĩ nữa. Ngài cũng biết nếu muốn bắt bỏ tù hết hai ba triệu quân dân cán chính của ngụy không phải dễ. Lộ ra là tụi nó trốn hết bằng không cũng họp nhau làm loạn. Như thế sẽ có đánh nhau to. Để tránh tình trạng ngụy quân, ngụy quyền hô hào nổi dậy chống lại cách mạng, dưới sự chỉ đạo khôn ngoan của anh Ba và anh Sáu, đồng chí Mười Cút chỉ cần ra cái thông cáo nho nhỏ là tụi lính ngụy cụ bị tiền bạc, quần áo, cơm nước xin đi ở tù…

Diêm Vương lắc đầu ngắt lời Tố Bồi Bút.

– Như thế là chúng mày gạt gẫm người ta. Mày hổng có xấu hổ à?

Diêm Vương hỏi. Họ Tố cười hì hì.

– Bẩm Diêm Vương… Gạt gẫm là nghề của đảng con mà. Tụi con gạt người ta nhiều quá rồi riết thành ra mặt dầy hổng có mắc cỡ, xấu hổ hay lương tâm cắn rứt gì hết. Bác đã dạy như thế. Nói láo, nói dóc, nói xạo, lường gạt, chôm chỉa, đối với bác là một nghệ thuật…

Ông vua âm phủ lắc đầu than dài.

– Thằng Lành mày nói chi lạ… Sống mấy ngàn tuổi mà ta chưa bao giờ nghe cái thứ nghệ thuật kỳ cục như bác của ngươi nói… Thôi để cho Thôi Phán Quan tiếp tục phiên xử hai thằng Ba và Sáu…

Được lệnh của Diêm Vương, vị biện lý của âm phủ hướng về Ba Duân hỏi một câu.

– Có bao nhiêu tù cải tạo chết vì cái dấu hiệu cứa cổ của ông?

– Tôi không biết rõ lắm. Đối với tôi chuyện bỏ tù gần nửa triệu ngụy là cái chuyện nhỏ. Tụi nó sống hay chết là điều hổng đáng quan tâm. Tuy nhiên tôi có đọc bản báo cáo của đồng chí Mười Cút thì sơ sơ chắc cũng phải vài chục ngàn… Một số chết vì bệnh tật, một số chết vì kiệt sức do đói khổ hay nhiễm sơn lam chướng khí, còn một số bị bắn bỏ vì chống đối lại đảng và nhà nước… Thằng nào ngoan ngoãn thì tui ra lệnh các anh em đồng chí trực tiếp thụ lý vụ tù cải tạo cho tụi nó ở tù hai ba năm, thằng nào cứng đầu thì nhốt vô khám tối, còn cứng đầu nữa thì bắn bỏ…

Diêm Vương hừ tiếng nhỏ chưa kịp lên tiếng thì Thôi Phán Quan đã nói thay.

– Tôi có nghe người ta kể chuyện ông ra lịnh tử hình những người tù cải tạo…

Hướng về chỗ 9 vị bồi thẫm, vị biện lý của âm phủ cao giọng như muốn nói cho họ nghe.

– Sau đây tôi kính mời Diêm Vương cùng 9 vị bồi thẫm và mọi người nghe một câu chuyện thuật lại những hành động tàn ác của những người trông coi các trại cải tạo dưới thời hai tên Ba Duân và Sáu Búa cầm quyền. Chuyện này do một người tù cải tạo tên Nguyễn Thiếu Nhẫn ghi lại và sẽ được vị lục sự của tòa đọc cho mọi người nghe…

Thôi Phán Quan bước tới trao xấp hồ sơ cho vị lục sự. Giọng nói trầm bổng của ông ta vang vang trong phòng xử khiến mọi người đều nghe rõ.

Đó là một buổi chiều ảm đạm vào khoảng tháng 06/1977 ở trại giam Suối Máu thuộc thành phố Biên Hoà. Vào khoảng tuần lễ cuối tháng 03/1977, trung đoàn 775 tổ chức đợt học tập chính trị cho toàn thể trại viên Suối Máu. Giảng viên là tên trung tá chính uỷ với khuôn mặt xương xương, cặp mắt láo liên, đôi môi xám xịt che kín hàm răng ám khói thuốc lào. Năm ngày đầu tuần với những lên lớp, xuống lớp, thảo luận, thu hoạch làm cho những tù binh mệt mỏi, đầu óc trống rỗng. Những luận điệu một chiều cũ rích : « Ta nhất định thắng, địch nhất định thua. Lao động là vinh quang. Bàn tay ta làm nên tất cả. Với sức người sỏi đá cũng thành cơm » lúc bổng, lúc trầm mà chính người nói cũng không hiểu mình định nói cái gì. Nhưng mà có cần gì, bởi lẽ tên trung tá chính uỷ cũng chỉ là một con ốc trong cái guồng máy cộng sản sắt máu. Ngày cuối tuần là ngày giải đáp thắc mắc về bài học vùng kinh tế mới. Dưới cái nóng hầm hập phả ra từ mái tôn, các tù binh mệt mỏi ngồi im như những pho tượng, mặc tình tên chính uỷ múa may hò hét, khoa tay khoa chân. Với điệu bộ lấc cấc, gương mặt đầy vẻ tự mãn, tên chính uỷ nhìn xuống đám đông qua chiếc kính đeo trễ gọng trên sóng mũi, rồi cất giọng the thé :

– Thế này nhé : Trong thời gian gần 20 tháng qua các anh đã được đảng và nhà nước khoan hồng tạo điều kiện cho các anh học tập, lao động cải tạo, các anh cũng đã được gia đình thăm viếng, mỗi ngày các anh được xem « ti-di », sách báo. Nói tóm lại các anh đã được tiếp xúc và đã biết được phần nào về chủ nghĩa xã hội tốt đẹp. Là nguỵ quân, các anh đã lớn lên và sống trong chế độ tư bản xấu xa thối nát của miền Nam. Nay qua các bài học, các anh đã được sáng mắt, sáng lòng. Nếu anh nào còn có điều gì thắc mắc nêu lên tôi sẽ giải đáp…

Toàn thể hội trường im phăng phắc. Tên chính uỷ thụp xuống chiếc bục. Mọi người nghe rõ tiếng sòng sọc của chiếc nõ cầy. Khói thuốc bay lên mù mịt. Tên chính uỷ đứng lên cho lệnh giải lao. Một sợi khói thuốc lào còn sót bay qua kẽ răng lúc y nói.

Qua giờ thứ hai, khi lớp học tập hợp xong, bỗng từ phía cuối hội trường có tiếng xầm xì. Tên chính uỷ đứng trên bục giảng, gương mặt rạng rỡ như cô gái giang hồ đêm khuya ế khách bỗng chợp được một khách làng chơi say rượu thèm tình, y ngúc ngúc cái đầu với vẻ tự đắc :

– Anh nào có gì thắc mắc thì cứ tự do phát biểu. Thế mới dân chủ bàn bạc. Tôi cho phép các anh nêu thắc mắc về mọi vấn đề ngoài bài học.

Y đưa tay chỉ thẳng vào một người tù đang đưa tay che mũi :

– Anh gì đấy, có gì thắc mắc cứ đưa thẳng tay lên xin phát biểu, có gì mà phải rụt rè thế. Nào, thắc mắc gì thì cho biết ?

Người tù vừa được nói tới lúng túng đứng dậy, gương mặt anh ta nhăn nhó rất là khó coi :

– Thưa cán bộ tôi không có gì thắc mắc. Nhưng …

Tên chính uỷ khuyến khích :

– Cứ mạnh dạn phát biểu, chả ai bắt tội anh đâu.

Người tù đưa tay gãi gãi đầu, khịt khịt mũi, nói :

– Thưa cán bộ thiệt tình là tôi không có điều gì thắc mắc. Nhưng tôi có điều muốn trình bày nếu cán bộ cho phép…

Tên chính uỷ cười hể hả :

– Cứ nói đi, có gì mà phải phép tắc.

Người tù lại gãi gãi đầu :

– Thưa cán bộ, tôi nghĩ là cán bộ hiểu lầm tôi đưa tay xin phát biểu ý kiến. Sự thực là tôi đưa tay che mũi vì không biết có anh nào chột bụng hay sao đã đánh rắm thối quá, chịu không nổi.

Cả hội trường cười một cái rần. Tên chính uỷ tẽn tò nhưng y cũng không nín được cười. Y lầm bầm : « Thật chẳng ra làm sao cả ».

Đợi hội trường yên lặng, anh ta lại hát bài hát cũ :

– Thế nào ? các anh chẳng có gì thắc mắc cả sao ? Sĩ quan cả, có ăn học cả, chắc chắn các anh phải biết phân biệt tốt xấu giữa hai chế độ. Đảng ta là đảng chủ trương dân chủ bàn bạc. Các anh cứ nêu những ý kiến, thắc mắc. Giải đáp được tôi sẽ giải đáp. Không giải đáp được tôi sẽ trình lên trên. Cần thiết tôi sẽ gặp đồng chí Lê Duẫn xin ý kiến để giải đáp cho các anh. Với danh dự của một người cộng sản, tôi xin hứa sẽ không có sự trù ếm, trả thù…

Mặc y lải nhải, cả hội trường vẫn im phăng phắc. Tên chính uỷ vừa định ngồi thụp xuống bục gỗ kéo điếu thuốc lào, bỗng từ cuối hội trường một người đứng dậy và một giọng nói cất lên :

– Tôi xin có ý kiến…

Mọi người đều quay lại nhìn người vừa lên tiếng. Tên chính uỷ thở phào như người vừa trút xong gánh nặng:

– Thế chứ. Thế nào, mời anh lên đây phát biểu…

Người tù chậm rải tiến lên bục hội trường với vẻ mặt tự tin. Anh ta nhìn tên chính uỷ, nhìn khắp hội trường, rồi quay sang nhìn tên chính uỷ :

– Tôi xin tự giới thiệu tôi là Nguyễn Ngọc Trụ, Tiến sĩ Công Pháp Quốc Tế, cấp bậc: Trung Uý, chức vụ: giảng viên trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt, một vợ, hai con, thân sinh tôi là một trung Tá trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà hiện đang bị tù cải tạo tại miền Bắc…

Anh ta ngừng nói. Cả hội trường im phăng phắc. Tên chính uỷ nhìn anh ta gật gù :

– Anh có ý kiến gì cứ nêu lên. Với danh dự của một người cộng sản tôi xin hứa là sẽ không bắt tội anh đâu, dù tôi không trả lời được những ý kiến, thắc mắc của anh…

Nói xong, y quay về đám đông :

– Thế mới dân chủ chứ, phải không nào ?

Cả hội trường vẫn im phăng phắc trong cái im lặng đầy bất trắc. Nguyễn Ngọc Trụ hắng giọng, lên tiếng. Giọng nói của anh rõ ràng, mạch lạc:

– Như cán bộ đã trình bày, cá nhân tôi đã sống và lớn lên trong sự cưu mang của chế độ yư bản miền Nam. Tôi cũng đồng ý với cán bộ là xã hội miền Nam đầy dẫy những xấu xa, bất công, thối nát, những kẻ lãnh đạo bất tài tham quyền cố vị…

Nguyễn Ngọc Trụ ngừng nói. Cả hội trường vẫn im phăng phắc. Tên chính uỷ gật gù với ý nghĩ trong đầu: « Có thế chứ ! ».

Giọng nói của người tù trên bục lại vang lên:

– Cũng như cán bộ đã trình bày, qua gần 20 tháng, tôi đã tiếp xúc với xã hội chủ nghĩa miền Bắc. Tôi đã được gia đình thăm nuôi nên biết được phần nào đời sống thực tế bên ngoài. Tôi cũng đã được đọc sách báo, được xem vô tuyền truyền hình. Thậm chí, tôi còn được sống gần gũi với những con người của chủ nghĩa xã hội miền Bắc là các cán bộ …

Cả hội trường vẫn im phăng phắc. Những người ngồi kế bên như nghe rõ tiếng nín thở của người bên cạnh. Tên chính uỷ bắt đầu đi qua, đi lại. Giọng nói rõ ràng, mạch lạc của người tù trên bục giảng vang lên như một mũi dao nhọn xoáy vào một vết thương đang sưng tấy:

– Qua tiếp xúc giữa hai chế độ, tôi thấy chế độ xã hội chủ nghĩa miền Bắc cũng không tốt đẹp gì hơn chế độ tư bản miền Nam …

Tên chính uỷ há hốc mồm. Cả hội trường im phăng phắc, sững sờ.

Giọng nói người tù trên bục giảng lại vang lên:

– Tôi không tin tưởng là đất nước sẽ tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội với những cái gọi là cách mạng giáo dục đi dôi với cách mạng khoa học kỹ thuật.

Anh ta nhìn thẳng vào mặt tên chính uỷ:

– Tôi xin tạm mượn một hình ảnh để thí dụ: Con ngựa và chiếc xe. Người đánh xe đã tước đoạt mất tự do của con ngựa. Ông ta đã đóng móng vào chân ngựa, đã bịt mắt ngựa, tra hàm thiếc vào miệng ngựa, buộc ngựa vào xe và dùng roi quất vào mông ngựa để ra lệnh kéo cái xe. Chúng tôi và những người dân bây giờ cũng giống như những con ngựa. Đó là ý kiến của tôi về hai chế độ. Xin hết.

Tên chính uỷ xanh mặt. Y thọc mạnh hai bàn tay đang run lên vì tức giận vào hai túi quần màu cứt ngựa. Y nghiến răng lẩm bẩm một điều gì đó không phát ra thành tiếng. Cả hội trường có tiếng xì xào, rì rầm. Nguyễn Ngọc Trụ bình tĩnh trở về chỗ ngồi. Một người nào đó nói nhỏ với anh ta:

– Anh nói làm chi những điều như vậy…

Nguyễn Ngọc Trụ mỉm cười trả lời:

– Tôi phải nói những Sự Thật dù biết là sẽ nguy hiểm đến tính mạng của mình.

Tên chính uỷ ra lệnh giải tán lớp học mặc dù còn phải 2 giờ nữa mới hết giờ. Y hấp tấp quảy cái sắc-cốt lên vai, đi như chạy ra khỏi hội trường với cái dáng đi hai hàng của y.

Ngay sáng hôm sau, Nguyễn Ngọc Trụ được hai tên vệ binh có võ trang vào gọi anh lên trình diện Bộ Chỉ huy Trung Đoàn. Và ngay buổi chiều hôm đó anh bị biệt giam vào conex.

Ba tháng sau. Vào một buổi chiều, một vài người tù đang thơ thẩn ở sân cát cạnh hàng rào kẽm gai bỗng kêu lên :

– Thằng Trụ ra kìa.

Tin tức lan nhanh. Mọi cắp mắt đều đổ xô về chiếc conex. Nguyễn Ngọc Trụ đôi mắt trũng sâu trên đôi má hóp, tóc phủ ót, phủ mang tai, râu ria tua tủa. Hai ống chân ốm tong teo chỉ còn da bọc xương, đứng không nổi phải vịn tay vào thành conex.

Tên chính uỷ quảy cái sắc-cốt, bên hông lủng lẳng khẩu K.54, đứng hỏi Nguyễn Ngọc Trụ những điều gì đó rất lâu. Kế bên là hai tên vộ binh cầm súng trong tư thế nhả đạn. Có lúc Trụ ngã xuống rồi lại cố gắng vịn thành conex đứng lên. Mọi người đều thấy sau mỗi lần tên chính uỷ hỏi một điều gì đó Trụ lại lắc đầu. Những câu trả lời chỉ là những cái lắc đầu.

Tên chính uỷ có vẻ hằn học, quay lại ra lệnh gì đó với hai tên vệ binh và bỏ đi với cái dáng đi hai hàng của y. Trụ nhích từng bước, từng bước rồi khuất hẳn vào conex. Một tên vệ binh đóng sầm cửa conex, khoá lại rồi cũng bỏ đi.

Sáng hôm sau kẻng báo động, còi tập hợp vang lên. Ban chỉ huy trại ra lệnh tập hợp tất cả tù nhân ở hội trường. Người chủ tọa không phải là tên trung tá chính uỷ mà là tên thiếu tá chính trị viên tiểu đoàn. Y nhe răng cười một cách rất vô duyên rồi đi thẳng vào vấn đề:

– Các anh biết đó, hôm nay trại mời các anh lên về chuyện của anh Nguyễn Ngọc Trụ. Thực hết biết anh này. Trung tá chính uỷ đã nhiều lần thuyết phục, yêu cầu anh ta nhận những điều phát biểu trong buổi học là sai. Vậy mà anh ta vẫn khăng khăng không nhận. Anh ta nhất định giữ vững ý kiến và không chịu ra trước mặt anh em nhận là mình sai lầm. Cái chết là anh ta đã nói những điều đó trước mặt anh em để tuyên truyền. Phải chi anh ta chỉ trình bày những ý kiến đó với chúng tôi thì cũng còn được đi…

Tất cả mọi tù nhân ở hội trường đều sững sờ trước sự gian trá, lật lọng của tên thiếu tá chính trị viên nhưng không một ai dám lên tiếng. Và mọi người đều đau nhói khi nghe tên chính trị viên tiểu đoàn tuyên bố :

– Vì anh Nguyễn Ngọc Trụ tiếp tục ngoan cố, chống đối lại đảng và nhà nước nên bộ tư lệnh quân khu quyết định xử tử hình anh ấy. Lệnh sẽ được thi hành chiều nay…

Đó là một buổi chiều tháng Sáu ảm đạm. Nguyễn Ngọc Trụ bị bịt mắt, miệng bị nhét chanh trái, hai tay trói ké ra sau, hai tên vệ binh kéo thốc anh ra pháp trường. Anh ngã quỵ xuống khi được tháo băng bịt mắt, cởi dây trói và lấy quả chanh ra khỏi miệng. Tên sĩ quan Việt Cộng phụ trách việc hành quyết hỏi anh có điều gì yêu cầu không, anh chỉ nói:

– Tôi đã nói lên những Sự Thực và không còn có điều gì yêu cầu…

Anh quay lại mỉm cười với các tù nhân bên trong hàng rào kẽm gai:

– Vĩnh biệt anh em !

Và bình tĩnh chờ dợi. Mười hai tên vệ binh nhắm mắt bắn xối xả những tràng đạn AK vào người Nguyễn Ngọc Trụ, người tù dũng cảm, người đã dám nói lên Sự Thực ngay trong ngục tù cộng sản và mỉm cười bước vào cõi hư vô…

Căn phòng xử chứa mấy ngàn người lặng trang rồi sau đó có tiếng thở dài hòa lẫn trong tiếng khóc nghẹn ngào của vài người nào đó. Có thể là những chiến hữu của anh cũng đã bỏ mình trong trại cải tạo. Có thể họ là cha mẹ, vợ con hoặc anh em của người lính tù cải tạo bất khuất và anh hùng đã chọn cái chết để mắng vào mặt lũ cán bộ cộng sản vô nhân tính. Ông ta đã chọn ” Ta thà làm ma của nước Việt Nam Cộng Hòa hơn là làm người dân trong xứ cộng sản ”. Hành động của người lính Nguyễn Ngọc Trụ tương tự như Trần Bình Trọng hét vào mặt Thoát Hoan câu nói bất hủ ” Ta thà làm quỉ nước Nam còn hơn làm vương đất bắc...”

Thật lâu Diêm Vương mới lên tiếng.

– Chuyện kể thật buồn mà cũng thật hào hùng. Người như vậy mà lại chết sớm trong lúc mấy thằng trật búa như thằng hình thằng hồ, thằng lành, thằng thận, thằng vàng thì lại sống lâu làm chi cho chật đất… Thôi thằng Ba hãy nói tiếp về kế hoạch ngủ luôn của ngươi đi…

Được lịnh của Diêm Vương, Ba Duân hớp ngụm nước lạnh xong hắng giọng tiếp.

– Sáng tạo ưu việt khiến cho tui ưng ý nhất chính là làm cho đám dân ngụy Xin Đi Vùng Kinh Té Mới…

Thấy Thôi Phán Quan mấp máy môi định nói, Ba Duân biết ý nên tiếp liền.

– Đám ngụy quân ngụy quyền xin đi ở tù rồi thì ở nhà vợ con nheo nhóc, đói khổ nên đâm ra ta thán đủ điều. Tuy nhiên đảng và nhà nước đâu có ngu mà lo cho đám dân ngụy này. Dân miền bắc còn bị nhà nước bỏ đói dài dài thì sức đâu mà tụi tui lo cho mười triệu dân nam bộ, nhất là dân ở thành phố lớn như Sài Gòn, Đà Nẳng, Huế, Nha Trang, Cần Thơ. Phải thức đêm với mấy bà vợ lớn, nhỏ, bé và bồ nhí tui mới nghĩ ra cái vụ Xin Đi Vùng Kinh Té Mới… Với lại bộ đội về thành chưa có đủ chỗ ở nên nếu dụ dỗ hoặc ép uổng đám dân ngụy ở thành thị đi vùng kinh té mới thì tui giải quyết được hai trở ngại lớn. Thứ nhất là đày ải dân ngụy đi vào vùng hoang vu để tăng gia sản xuất. Thứ nhì là cứ mỗi gia đình dân ngụy đi là bộ đội nhào vô xí chỗ liền. Ngài biện lý thấy tui dốt mà khôn không?

Thôi Phán Quan gật gù cái đầu tóc bạc rồi hắng giọng.

– Ông tuy dốt, khôn mà còn thêm ác nữa… Hồi nãy ông Lành có nói về từ ngữ Vùng Kinh Té Mới, rồi bây giờ ông cũng có nhắc tới Vùng Kinh Té Mới. Xin ông vui lòng giải thích cho tòa rõ…

– Muốn làm cho đám dân ngụy tin tưởng và tình nguyện hiến nhà dâng của cho đảng, tui phải chỉ đạo cho cơ quan của nhà nước tuyên truyền là bất cứ gia đình nào đi vùng kinh té mới, họ sẽ được nhà nước cấp phát nhà cửa mới, ruộng đất và dụng cụ để họ tự canh tác và tăng gia sản xuất. Nông phẩm của họ làm ra sẽ được nhà nước mua lại với giá cao…

– Rồi ngươi có mua lại không?

Diêm Vương xen vào. Ba Duân lắc đầu cười.

– Bẩm Diêm Vương… Ngu sao mua… Vả lại nhà nước tiền đâu mà mua… Sau chiến tranh tụi con nợ còn hơn chúa chổm… Đám dân ngụy cũng khờ nên hồ hởi ới nhau đi vùng kinh té mới. Tới nơi họ mới biết thì đã muộn rồi… Hai tiếng kinh té có ý nghĩa đặc biệt của nó thưa ngài biện lý. Kinh là kinh sợ, còn té là té xỉu. Đám dân thành thị của ngụy quen hưởng thụ tiện nghi tư bản, ăn ngon mặc đẹp, bây giờ đối mặt với vùng đất mới hoang vu chúng kinh sợ quá té xỉu hết trơn nên mới gọi là Vùng Kinh Té Mới

– Tổ cha nó… Thằng đó với thằng Sáu Lừa nói láo như Vẹm… Cái quân cộng sản là cái đồ ăn cháo đá bát, gian xảo lọc lừa… Nhà tui ba đời ủng hộ cách mạng với mặt trận mà khi chiếm được miền nam rồi bọn chúng nó bắt tui đi cái vùng kinh té chết đói…

Tuy nghe những lời mắng chửi trên song Ba Duân làm lơ. Hớp ngụm nước lạnh cho thông cổ hắn tiếp liền.

– Nhiều gia đình không chịu được kham khổ, bệnh hoạn lại lén lút trở về thành thì nhà cửa đã bị bộ đội xí rồi nên chúng Xin Làm Ăn Mày

– Ta chưa đi Vùng Kinh Té Mới mà chỉ nghe ngươi kể không cũng đủ kinh sợ mà té xỉu rồi…

Diêm Vương lên tiếng. Cười cười Ba Duân nói tiếp.

– Diêm Vương mà nghe con nói về kế hoạch ” ngủ niên ” thời ngài sẽ nín tè luôn…

Tới phiên Thôi Phán Quan vì không dằn được tánh tò mò nên vội xen vào.

– Tôi nghe có người gọi kế hoạch ngũ niên của ông là kế hoạch ngủ luôn. Tại sao họ lại gọi như vậy?

Ba Duân cười hực lên tiếng.

– Chỉ có mấy thằng Việt Kiều phản động và dân nam bộ chống đối chế độ mới gọi như thế…

Ngừng lại giây lát Ba Duân nói nhỏ.

– Nghĩ đi nghỉ lại thì mấy thằng phản động nói cũng đúng phần nào. Hổng biết tại sao mà tụi nó lại đoán ra cái ý của tui. Khi đề ra kế hoạch ngũ niên là tui muốn bỏ đói dân nam bộ để tụi nó khỏi làm loạn. Bị đói dài người ra thì tụi nó lo chạy gạo đổ mồ hôi còn hơi sức đâu mà chống đối. Thằng nào đói quá thì ngủ luôn hổng dậy nữa….

– Tôi nghe đồn về kế hoạch ngũ niên 2 do ông ban hành từ năm 1976 tới 1980 mà chưa được tận tường lắm…

Căn phòng xử chứa mấy ngàn người im phăng phắc lắng nghe vị tổng bí thư của đảng cộng sản Việt Nam nói về kế hoạch ngũ niên, một thành quả mà dân miền nam nghe tới đều đổ mồ hôi vì phải chạy gạo ăn mỗi ngày.

– Ngài biện lý cũng như mọi người hổng có hiểu cái ý của tui. Tên của nó là ngủ niên chứ không phải ngũ niên. Ngũ niên là năm năm còn ngủ niên của tui là ngủ nguyên năm… Hết năm này dang năm khác…

– Ngươi nói sao nói lại cho ta nghe coi…

Diêm Vương lên tiếng. Tủm tỉm cười Ba Duân giải thích.

– Bẫm Diêm Vương. Cái kế hoạch ngủ niên của con chủ ý bỏ đói dân nam bộ làm cho tụi nó đói triền miên rồi ngủ nguyên năm luôn để quên cái đói cái khổ…

– Ông làm cách nào để bỏ đói mười mấy triệu dân miền nam?

Thôi Phán Quan lên tiếng hỏi. Ba Duân cười cười trả lời.

– Dễ ợt… Kinh tế của chủ nghĩa xã hội đặt nặng vào kỹ nghệ để hổ trợ cho nông nghiệp gia tăng sản xuất từ đó nông nghiệp sẽ giúp ngược lại để kỹ nghệ nặng được phát triển. Con tính là trong kế hoạch ngủ luôn này kỹ nghệ sẽ phát triển từ 16 đến 18% mỗi năm, còn nông nghiệp sẽ tăng từ 8% tới 10%. Lợi tức của dân nam bộ hàng năm sẽ tăng từ 13% tới 14%…( Trích Sau Bức Màn Đỏ- Hoàng Dung )

– Xạo ke…

– Nói láo như Vẹm…

– Thằng cha đó xạo Diêm Vương ơi…

– Tôi nghe lời của thằng chả chết để lại vợ con hổng ai nuôi…

– Sau năm 75, tiền của già Hồ chùi đít hổng ai thèm…

Thiên hạ la rầm trời. Nghe giọng nói Bình biết mấy người đó là dân miền nam. Họ là nạn nhân của kế hoạch ngủ luôn hoặc vùng kinh té mới của đảng cộng sản Việt Nam mà hai tên cầm đầu chính là Ba Duân và Sáu Lừa. Có lẽ cũng thông cảm cho sự uất ức của các nạn nhân do đó Diêm Vương cũng không gõ búa bắt họ im lặng. Lát sau mọi người mới ngưng khi giọng nói của Ba Duân cất lên.

– Tui giao cho đồng chí Mười Cút biến kinh té miền nam rập theo khuôn mẫu của miền bắc. Dụ dỗ nông dân vào hợp tác xã mà hổng có ai chịu vào, cuối cùng cán bộ cưỡng bách bằng cách tịch thu ruộng đất, dụng cụ nghề nông thì họ giết hết trâu bò để ăn, còn cày bừa thì phè phè, chơi nhiều làm ít hay chỉ làm đủ ăn mà thôi. Vì vậy mà miền nam bị đói vào năm 1978 và 1979. Mới đầu còn có cơm trắng, sau đó độn khoai rồi sau nữa ăn độn với bo bo…

– Bây giờ ta mới biết là tại sao dân Việt Nam xuống đây đứa nào đứa nấy ốm hơn cò ma, toàn xương bọc da… mở miệng là đòi cơm cơm tối ngày… Hóa ra họ bị xuống đây là vì kế hoạch ngủ luôn của ngươi…

Diêm Vương lên tiếng. Ba Duân cười hì hì tiếp.

– Vì kế hoạch ngủ luôn làm cho dân nam bộ đói quá nhưng mà con với anh Sáu cũng chưa thỏa dạ… Anh Sáu bảo con cho đồng chí Lành lên làm chức phó thủ tượng đặc trách kinh té…

– Trời đất… Bộ hết người sao mà hai đứa bây lại cho thằng Lành làm phó thủ tượng đặc trách kinh té… Ta nghe còn té ngửa té ngang huống chi dân miền nam…

– Bẫm Diêm Vương… Con biết đồng chí Lành mà đặc trách về kinh té thì dân miền nam sẽ té dài dài, té đủ kiểu, như ông già bà lão sẽ té xuống mồ, con nít té xuống sàn, đàn bà té chổng mông, đàn ông té ngửa té xấp… Nhưng cái này là chủ ý của con với anh Sáu và luôn cả các anh em đồng chí trong bộ chín chị. Trong kế hoạch ngủ luôn 2, con với anh Sáu còn bày thêm cái gọi là đánh tư bản và mại sản. Nó là cách lấy của nhà giàu chia cho các anh em đồng chí xài…

– Rồi thằng Lành ở chức vụ phó thủ tượng đặc trách kinh té mà nó có làm được cái gì không?

Nghe Diêm Vương hỏi, Thôi Phán Quan quay nhìn về ghế Tố Bồi Bút đang ngồi. Biết ý, vị phó thủ tượng đặc trách kinh té của nước Việt Nam Dân Chửi Cười Trừ cười hí hí.

– Bẫm Diêm Vương… Với sự hội ý của hai Ba và anh Sáu, sau khi nắm chức phó thủ tượng con ra cái kế hoạch ngủ niên 3 mà mấy thằng phản động đầy ác ý gọi là kế hoạch ngủ khò…

Thiên hạ bật cười cái rần. Ngay cả Thôi Phán Quan vốn tính nghiêm nghị mà cũng phải tủm tỉm cười. Nhẹ lắc đầu Diêm Vương phán.

– Lại nữa… Thằng Hình viết văn thì chữ nào cũng ấy… Ngươi làm thơ thì có chục tiếng thương rồi bây giờ đi làm kinh té lại lòi ra tiếng ngủ… Tụi bây là quan lớn nhà nước mà tối ngày cứ lo ba cái vụ thương, ấy, ngủ thì làm sao mà lo cho nước cho dân được… Bởi vậy mà dân của ngươi nghèo càng nghèo thêm; nước đã yếu càng thêm yếu…

Bị Diêm Vương lên lớp, Tố Bồi Bút cố gắng bào chữa.

– Bẫm Diêm Vương… Cái này hổng phải lỗi của con đâu ạ… Trước khi con nhận chức đặc trách kinh té, thì anh Ba đã rỉ tai dặn con là cứ làm cho tụi dân nam bộ kinh với té thì nó mới sợ mà bán nhà cửa và của cải để tìm đường vượt biên. Như thế thì tụi con mỗi đứa chia nhau được vài ngàn cây vàng để dưỡng già… Mấy chú ba ở Chợ Lớn vàng cây nhiều chọi lổ đầu người ta. Biết được chú ba có vàng, nên anh Ba, anh Sáu và tất cả quan lớn của bộ chín chị và nhà nước tìm cách tống cổ chú ba về nước… Đó là kế hoạch quan trọng mà tụi con gọi là phương án 2 mà mấy thằng phản động gọi là phương án ăn cướp 2…

Nghe tới đó Diêm Vương lắc đầu than dài.

– Thôi để cho mọi người dùng cơm chiều chứ nghe tụi bây nói riết chắc họ kinh với té hết trơn mắc công âm phủ kêu xe cứu thương chở họ vào nhà thương…

Nói xong Diêm Vương tuyên bố tạm ngưng phiên tòa cho mọi người nghỉ ngơi và sáng mai sẽ tiếp tục.

20- Người làm cách mạng ” đè ”

Kính thưa Diêm Vương. Kính thưa 9 vị bồi thẫm. Kính thưa quí khán thính giả của ba tầng chín cõi. Hai ngày qua quí vị đã nghe Ba Duân và Sáu Búa thuật kể về những hành động giết người của chính mình. Quí vị cũng đã nghe lời khai của các nhân chứng cũng như các tài liệu mà âm phủ đã trình bày…

Thôi Phán Quan ngừng nói. Ánh mắt rực hào quang của kẻ có mấy ngàn năm tu vi quét một vòng, bắt từ chỗ chín vị bồi thẫm xong xuống tới chỗ khán giả rồi cuối cùng dừng lại nơi bàn tám bị can đang ngồi. Ai ai cũng im lặng chờ nghe lời buộc tội của vị đại diện cho luật pháp của âm phủ.

– Nắm lấy quyền bính trong tay dài hơn hai mươi năm, hai bị can Ba Duân và Sáu Búa đã gây ra tang tóc điêu linh, thống khổ cho vạn vạn người dân vô tội. Những oan hồn chết bởi hai tên này chật đất âm phủ. Tiếng oán than vọng thấu thiên đình. ” Độc ác thay trúc rừng không ghi hết tội… Dơ bẩn thay nước biển không rửa sạch mùi...” Câu nói của người xưa cũng chưa đủ để nói lên tội ác của hai bị can. Nào tổng công kích Mậu Thân. Nào mùa hè đỏ lửa. Nào đại thắng mùa xuân. Nào tù cải tạo. Nào vượt biên. Nào Vùng kinh té mới. Nào kế hoạch ngủ luôn. Nào kế hoạch ngủ khò. Nào đổi tiền. Nào đánh tư bản mại sản. Nào Phương án 2. Nào chiến tranh Miên Việt. Nào chiến tranh Trung Việt. Nào vụ án xét lại. Bao nhiêu người chết? Bao nhiêu người ở tù? Máu của các người lính trẻ chảy thành sông. Thây của họ chất thành núi vì tham vọng quyền lực của hai tên đồ tễ họ Lê. Thế mà trên dương thế, lại có kẻ có mắt như mù, đem tặng cho tên Sáu Búa cái giải thưởng Nobel Hòa Bình. Tại sao họ không đem hắn ra xét xử như tên đồ tể khát máu, một đại tội phạm chiến tranh. Ở Việt Nam, lại có những kẻ muối mặt, không biết xấu hổ, tạc hình, dựng tượng, đặt tên đường cho hai kẻ sát nhân này. Hành vi của họ là phạm tội với trời đất, với tổ tiên. Hành vi dung dưỡng, bao che tội ác, sẽ khuyến khích người ta gây thêm tội ác. Kẻ cầm quyền ở cấp trên ăn cắp thì nhân viên cấp dưới cũng sẽ ăn cắp. Kẻ có chức mà ăn hối lộ thì nhân viên cũng tham nhũng. Kẻ có quyền giết người mà không bị trừng trị thì người dân cũng theo gương đó mà giết người. Kẻ cầm quyền cưỡng hiếp phụ nữ mà không bị kết tội thì đàn ông trong nước cũng nhân đó mà làm chuyện hiếp dâm đàn bà. Kẻ lãnh đạo một nước mà có năm bảy bà vợ thì người dân trong nước sẽ trở thành đa thê hoặc có lắm nhân tình, bồ nhí. Tôi muốn nói tới ” tấm gương đạo đức ” của kẻ cầm quyền…

Ngừng nói Thôi Phán Quan chiếu ánh mắt nghiêm nghị của mình xuống ngay chỗ lão Hình Chí Mô rồi sau đó chuyển sang bảy bị can đang ngồi.

– Bất cứ kẻ cầm quyền nào cũng đều mắc phải một cái bệnh mà tôi gọi là bệnh lãnh tụ. Nghĩ mình là kẻ có chức, có quyền, có tiền, nắm quyền hành trong tay nên muốn làm gì thì làm, chẳng có ai kiểm soát hoặc chế tài họ được. Ở các nước dân chủ và tự do thì cái bệnh lãnh tụ của các kẻ lãnh đạo nhẹ hơn vì hai lý do. Người dân có quyền và có thể xử dụng cái quyền của mình bằng cách bỏ phiếu bất tín nhiệm kẻ cầm quyền. Thứ nhì vì có luật pháp nghiêm minh do đó kẻ cầm quyền có thể bị bãi chức hoặc bị truy tố ra trước tòa án nếu phạm luật. Riêng trong các nước độc tài cộng sản, cái bệnh lãnh tụ của kẻ cầm quyến rất nặng và rất nhiều. Nó lưu hành theo máu huyết của kẻ cầm quyền. Nó ăn sâu vào trong xương tủy của kẻ cầm quyền. Nó như là cái dịch. Do ở chế độ độc tài đảng trị, luật pháp không được thực thi một cách nghiêm minh, kẻ cầm quyền tha hồ muốn làm gì thì làm. Họ biết nếu vi phạm luật pháp; họ sẽ được đàn anh che chở, bằng không chạy chọt đút lót rồi tội ác của họ sẽ được giấu diếm. Điển hình như chế độ độc tài đảng trị ở Việt Nam. Ngồi ở danh vị Bí Thư Xứ Ủy Nam Kỳ mà cưỡng hiếp phụ nữ thì bảo sao thuộc cấp không chê cười và đàm tiếu. Bản thân Ba Duân với Sáu Búa vốn đã không có thứ ” đạo đức cách mạng ”, lại nắm quyền bính trong một chế độ không có luật pháp công minh vì vậy mới buông lung làm theo thú tính của mình. Xem sinh mạng của dân như cỏ rác bởi vậy chúng mới cưỡng bức thanh thiếu niên nam nữ của miền bắc đi vào nam, đi qua Miên để chết cho tham vọng bá quyền của chính chúng và các lãnh tụ của hai nước đàn anh Nga Tàu. Giết người là thú tiêu khiển của hai bị can. Phải thấy máu chảy, người chết thì hai bị can mới ăn ngon ngủ yên được. Bỏ ngoài tai lời than oán vọng thấu trời xanh, mặc cho tiếng đời mai mỉa cười chê; chúng cứ làm điều gì mình muốn. Mặc cho chuyện lưu xú vạn niên, nhơ danh dòng họ; chúng thi hành bất cứ thủ đoạn tàn độc để củng cố quyền lực, bởi vì chúng thừa biết chẳng có ai làm gì chúng được. Tuy nhiên, hôm nay, nhân dân Trời và luật pháp của âm phủ, Thôi Phán Quan tôi, xin chín vị bồi thẫm xét nghiệm theo luật pháp và công tâm của quí vị, sau đó cho hai bị can Ba Duân và Sáu Búa một hình phạt tương xứng với các tội ác của chúng mà tôi nêu ra đây.

1- Dụ dỗ gái vị thành niên.

2- Cưỡng hiếp và gian dâm phụ nữ.

3- Giết người có dự mưu với trường hợp gia trọng.

4- Gây thiệt hại về vật chất và tinh thần cho các nạn nhân của tổng công kích Tết Mậu Thân, mùa hè đỏ lửa năm 1972 ở An Lộc, đại lộ kinh hoàng, tù cải tạo và người vượt biển. Tôi xin nhấn mạnh với 9 vị bồi thẫm là hai bị can không phải giết một, hoặc hai ba người mà họ đã giết hàng triệu người… Hình phạt dành cho hai bị can phải triệu lần nặng hơn…

Thiên hạ vỗ tay rào rào sau khi nghe xong lời buộc tội của Thôi Phán Quan. Lát sau Diêm Vương mới gõ búa ra hiệu cho mọi người im lặng. Nhân danh chủ tịch bồi thẫm đoàn, Đán bước tới thì thầm với Diêm Vương. Nghe xong ông vua âm phủ gục gặt đầu tỏ vẻ hài lòng rồi tuyên bố hình phạt dành cho hai bị can Ba Duân và Sáu Búa sẽ được tuyên xử trước khi phiên xử của Hình Chí Mô chấm dứt. Phán xong ông ta ra lịnh cho Thôi Phán Quan tiếp tục phiên tòa.

Bước tới đứng trước mặt của Hình Chí Mô, vị biện lý của âm phủ cao giọng.

– Kính thưa quí vị. Hôm nay tôi sẽ mở phiên xử cuối cùng. Đó là phiên xử đặc biệt dành cho Hình Chí Mô. Từ già tới trẻ, từ đàn ông tới đàn bà, từ đông sang tây, từ nam xuống bắc không ai không biết hoặc nghe danh của bị can. Có đám trí thức thiên tả ca tụng bị can là kẻ yêu nước. Đám trí thức phòng lạnh tây phương khen bị can là một anh hùng. Có kẻ nói bị can là một lãnh tụ vỉ đại. Ai muốn khen, muốn ca tụng là quyền của họ. Khi Hình Chí Mô chết, có rất nhiều người như giáo sư đại học, tiến sĩ, kỹ sư, bác sĩ hay nhiều lãnh tụ các quốc gia bày tỏ lòng thương tiếc bị can. Số người tán tụng, thương tiếc bị can nhiều lắm. Tuy nhiên có một điều rất lạ, đáng ngạc nhiên là, đại đa số dân Việt Nam lại không nhỏ một giọt nước mắt nào để khóc, để tiếc thương lãnh tụ của mình. Không tiếc thương, không khóc đã đành mà họ còn mắng thầm, còn nguyền rũa, còn phỉ nhổ bị can, một kẻ mà đám trí thức thiên tả của tây phương ca tụng là một vĩ nhân. Tại sao?

Nhấn mạnh hai tiếng ” tại sao ? ”, Thôi Phán Quan ngừng lại cho mọi người suy nghĩ về lời nói của mình

– Những ai, nhất là giới trí thức thiên tả của các nước tự do dân chủ ca tụng, tiếc thương Hình Chí Mô bởi vì họ có may mắn không sống ở đất nước Việt Nam. Họ không là nạn nhân của Hình Chí Mô. Họ không bị cai trị bởi một chế độ tàn bạo, không tôn trọng những quyền căn bản của người dân. Họ không bị công an bịt miệng không cho nói trước tòa. Họ không bị công an đạp vào mặt khi đi biểu tình phản đối chính phủ. Họ không bị cảnh sát chìm tới nhà hỏi thăm sức khỏe vì viết báo tố cáo tham nhũng. Họ cũng không bị công an bắt giam vì tội chế diễu kẻ cầm quyền. Họ không bị đưa ra toà với bản án đã được định sẵn. Nếu họ là dân Việt Nam, sống dưới chế độ độc tài đảng trị của cộng sản, họ sẽ thôi, sẽ ngưng lời tán tụng một kẻ không từ bất cứ thủ đoạn, hành động gian ác nào để đạt được mục tiêu tối hậu là biến quê hương của bị can thành một công cụ của đệ tam quốc tế, giúp cho hai nước cộng sản đàn anh thực hiện mộng thống trị lân bang và toàn thế giới. Bị can bán đứng Phan Bội Châu cho Tây. Bị can làm chó săn cho mật thám tây bắt Lê Hồng Phong. Bị can đưa tin cho phòng nhì thực dân Pháp bắt Hà Huy Tập, Trần Phú, Nguyễn Văn Cừ, Nguyễn Thị Minh Khai, Phùng Chí Kiên. Những người đó là ai? Họ là đồng chí của bị can. Hình Chí Mô là kẻ ăn cướp công lao cách mạng của Phan Bội Châu, Hồ Học Lãm, Nguyễn Hải Thần và các đảng phái quốc gia. Hình Chí Mô báo tin cho Pháp biết Nguyễn Thái Học và Việt Nam Quốc Dân Đảng sẽ khởi nghĩa ở Yên Bái. Ai giết Tạ Thu Thâu? Hình Chí Mô? Ai giết Bùi Quang Chiêu? Hình Chí Mô. Ai giết Huỳnh Phú Sổ? Hình Chí Mô. Ai giết Nguyễn Bình? Hình Chí Mô. Ai giết Diệp Văn Kỳ? Hình Chí Mô. Ai giết Trương Tử Anh? Hình Chí Mô. Ai giết Lý Đông A? Hình Chí Mô. Ai giết Khái Hưng? Hình Chí Mô. Ai giết Hồ Tùng Mậu? Hình Chí Mô. Ai giết Lâm Đức Thụ? Hình Chí Mô. Ai giết Phạm Quỳnh? Hình Chí Mô? Ai giết Ngô Đình Khôi? Hình Chí Mô. Còn nhiều lắm… nhiều lắm kể không hết. Có thể nói danh sách những người bị Hình Chí Mô trực tiếp hoặc gián tiếp ra lịnh cho thuộc cấp thủ tiêu dài như cuốn sách mấy trăm trang giấy. Có thể nói cuộc đời cách mạng của Hình Chí Mô gắn liền với hành động giết người. Kẻ nào chống đối, hắn giết. Kẻ nào hắn không ưa hắn thủ tiêu. Hắn giết dân lành vô tội. Hắn đạp lên xác người chết để thi hành nghĩa vụ mà đệ tam quốc tế hay đúng hơn đàn anh Stalin đã giao phó là biến các nước nhược tiểu như Việt Nam, Lào, Cao Miên, Thái Lan thành nước cộng sản. Tôi sẽ trình bày các việc xấu xa, nhơ bẩn; các tội ác tày trời của bị can trong phiên xử sau đây cho 9 vị bồi thẫm và tất cả mọi người ở ba tầng chín cõi được biết hầu có một nhận xét đúng đắn về con người hai mặt Hình Chí Mô. Muốn có một cái nhìn ” y như thị ”, ta phải xé nát hào quang mà bị can và các đồng chí của hắn đã cố tình giấu diếm và che đậy để lừa dối dân chúng Việt Nam và toàn thế giới. Thừa lệnh của Trời và Diêm Vương, nhân danh công lý của vũ trụ, Thôi Phán Quan tôi sẽ cố gắng lột trần sự thật bao quanh huyền thoại Hình Chí Mô. Tôi muốn cho dân Việt Nam thấy rõ Hình Chí Mô là một tên phản quốc thay vì là kẻ yêu nước. Tôi muốn cho 80 triệu dân Việt Nam biết Hình Chí Mô là kẻ bán nước. Vì quyền lợi của đảng, cá nhân hoặc phe phái, hắn không ngần ngại dâng hiến đất đai, biển đảo, rừng núi cho đàn anh Trung Cộng để giữ vững chức vị của mình.

Sau thời gian dài tìm kiếm, âm phủ đã sưu tập nhiều hồ sơ, tài liệu được lưu trữ trong văn khố của các quốc gia như Pháp, Tàu, Nga và Việt Nam, sách báo hay các bài viết của các cá nhân đăng tải trên các trang mạng về đời tư của Hình Chí Mô. Bị can có bao nhiêu nhân tình nhân ngãi tôi chẳng màng. Việc bị can có mấy vợ tôi cũng chẳng quan tâm. Chuyện bị can có bồ nhí, đào tơ không làm tôi bận lòng. Tuy nhiên điều khiến cho tôi bất bình là sự lừa dối, bịp bợm của bị can đối với toàn dân Việt Nam. Sự dối trá và lừa bịp này là một tính toán, một cố tình của chính bị can và đảng cộng sản Việt Nam để lường gạt những người dân hiền lành, chất phát và ngây thơ. Bị can và băng đảng của hắn cố tình vẻ ra hình ảnh một ông tiên, ông thánh, vị thần linh hay đúng nghĩa nhất một lãnh tụ đầy đủ đạo đức cách mạng để dân chúng yêu mến, tuân phục và hy sinh cho lãnh tụ. Chủ đích của bị can là gì? Tất cả đều phục vụ cho lãnh tụ. Tất cả đều trở thành nô lệ cho lãnh tụ. Vừa thoát khỏi cái ách đô hộ của thực dân Pháp, thì liền sau đó Hình Chí Mô và băng đảng cộng sản của hắn lại tròng vào cổ dân chúng Việt Nam một cái ách nô lệ mới còn tàn bạo và khủng khiếp gấp trăm lần. Với uy quyền tuyệt đối, lãnh tụ muốn làm gì thì làm ngay cả đem đất nước vốn đã chịu nhiều điêu linh thống khổ hiến dâng cho đệ tam cộng sản hầu thực hiện mộng thống trị toàn thế giới. Dân chết mặc dân. Người chết mặc người. Bị can và băng đảng của hắn vẫn sống phây phây trên xác người. Bị can vui cười trên tiếng khóc của hàng triệu thanh niên nam nữ yêu nước. Bằng bộ máy tuyên truyền xảo trá với những danh từ hoa mỹ như không gì quí hơn độc lập tự do, bị can và băng đảng của hắn đã giết hàng trăm ngàn trí thức, tương lai và rường cột nước nhà xuyên qua cuộc cải cách ruộng đất, cuộc chiến tranh Đông Dương 1, 2 và 3. Với chủ trương diệt hết nhân tài của đất nước, bị can nói câu ” tri, phú, địa, hào; đào tận gốc, trốc tận rễ ”. Tại sao cộng sản phải tiêu diệt trí thức? Giản dị lắm. Những người có ăn học này mới khám phá ra cái giả trá của bị can. Kẻ có trình độ học vấn mới đủ khả năng hoặc cơ hội tiếp xúc với thế giới bên ngoài để tìm ra hồ sơ, giấy tờ, tài liệu chứng minh sự lừa dối và lường gạt của bị can…

Ngừng lại, bước trở lại bàn của mình, uống ngụm nước cho thông cổ, Thôi Phán Quan hắng giọng tiếp.

– Tôi sẽ trình bày cùng 9 vị bồi thẫm và khán, thính giả của ba tầng chín cõi về tội ác của Hình Chí Mô. Từ đó 9 vị bồi thẫm có thể lượng định để cho hắn một hình phạt tương xứng với tội trạng của hắn. Đối với luật pháp của âm phủ thì Hình Chí Mô đã phạm vào 8 trọng tội sau đây.

1- Lừa dối: đàn bà con gái

2- Lường gạt: dân chúng và các đồng chí.

3- Ăn cắp

4- Gián điệp: được đệ tam quốc tế huấn luyện thành một điệp viên. Nhờ vậy mà Hình Chí Mô có đủ khả năng tuyên truyền, chiêu dụ, lũng đoạn, xâm nhập vào các đảng phái đối lập.

5- Giết người: có dự mưu, gia trọng, cố sát…

6- Bán nước ( bán đất, bán biển, đảo, núi non, rừng rú, quặng mỏ )

7- Phá hoại tổ quốc và dân tộc ( phá hoại gia đình, phong tục, truyền thống, nông nghiệp, công thương và kỹ nghệ )

8- Phản quốc: biến Việt Nam thành 1 chư hầu của Nga Tàu

Hướng về ghế của Diêm Vương đang ngồi đoạn quay qua bồi thẫm đoàn, Thôi Phán Quan cao giọng.

– Kính thưa quí vị bây giờ phiên xử Hình Chí Mô bắt đầu…

Thôi Phán Quan phất tay áo rộng. Vị lục sự cất tiếng mời Hình Chí Mô lên ngồi vào ghế bị can. Điều khiến cho mọi người thắc mắc là ông ta không đọc tiểu sử của bị can giống như bảy người trước. Đợi cho bị can an vị xong xuôi, Thôi Phán Quan mới bước tới đứng trước mặt và câu hỏi đầu tiên của ông ta là:

– Xin lỗi ông… Tôi mạn phép hỏi ông bao nhiêu tuổi?

Câu hỏi mở đầu của Thôi Phán Quan dành cho bị can rất lịch sự nếu không muốn nói kiểu cách. Câu hỏi này cũng làm cho khán thính giả tham dự thắc mắc. Ngay cả 9 vị bồi thẫm cũng có cử chỉ ngạc nhiên bằng cách thì thầm với nhau.

Hơi do dự giây lát Hình Chí Mô mới trả lời.

– Thưa ngài biện lý… Tôi sinh ngày 19 tháng 5 năm 1890. Tính đến năm 2012 thì tôi được 101 tuổi dư…

Gục gặt đầu cười, hướng về nơi 9 vị bồi thẫm đang ngồi, vị biện lý của âm phủ cao giọng.

– Căn cứ vào những tài liệu mà tôi có được trong tay thì:

1- Trong đơn xin học Trường Hành Chính Thuộc Địa năm 1911, ông tự ghi là sinh năm 1892…

Không để cho bị can mở miệng biện bạch, Thôi Phán Quan tiếp liền.

2- Năm 1920, ông khai với một quận cảnh sát tại Paris ngày sinh của mình là 15 tháng 1 năm 1894…

3- Theo một tài liệu do Phòng nhì Pháp lập năm 1931, có sự xác nhận của một số nhân chứng của làng Kim Liên, quê nội của ông, thì ông sinh tháng 4 năm 1894…

4- Trong tờ khai của ông tại Đại sứ quán Liên Xô ở Berlin vào tháng 6 năm 1923, thì ngày sinh là 15 tháng 2 năm 1895…

Diêm Vương gục gặt đầu có vẻ chịu cách tra hỏi bị can trước tòa của Thôi Phán Quan. Bây giờ người ta mới hiểu ra cái thâm ý của vị đại diện luật pháp âm phủ. Người ta được cha mẹ sinh ra có một lần, do đó cũng chỉ có một ngày sinh tháng đẻ thôi. Riêng lão Hình Chí Mô thì lại có tới 4 ngày-tháng-năm sinh khác nhau. Điều này đủ cho bồi thẫm đoàn biết lão nói dối, từ đó họ có ấn tượng xấu với lão.

Chắc cũng biết điều đó nên lão Hình hướng về chỗ bồi thẫm đoàn nói như phân trần.

– Thưa tôi làm cách mạng nên không thể tiết lộ lai lịch của mình… Tôi khai như thế vì lý do an ninh để khỏi bị mật thám tây bắt…

Cười cười Thôi Phán Quan hỏi tiếp.

– Ông tên gì?

Đã bị bể mánh về ngày sinh tháng đẻ nên lần này lão Hình không lọt vào bẩy của Thôi Phán Quan nữa.

– Tên cúng cơm của tôi là Nguyễn Sinh Cung…

– Ông còn tên gì khác nữa không?

Biết nếu nói dối thì sẽ lòi ra cái bản mặt xấu trước bồi thẫm đoàn, do đó Hình Chí Mô phải khai thật.

– Sau này tôi còn có tên Nguyễn Tất Thành. Khi ở bên Pháp tôi lấy tên Nguyễn Ái Quốc. Khi hoạt động cách mạng ở bên Tàu tôi lấy tên Hình Chí Mô…

– Ông lấy tên… Là người của âm phủ nên tôi không thông tiếng Việt lắm. Xin ông vui lòng giải thích tiếng ” lấy ” của ông có nghĩa như thế nào?

Hình Chí Mô ấp úng hồi lâu mà chưa chịu trả lời. Hướng về bồi thẫm đoàn, Thôi Phán Quan cao giọng.

– Theo như các tài liệu mà âm phủ thu lượm được thì ông bắt đầu có tên Nguyễn Tất Thành năm 1901. Đúng không?

Hình Chí Mô trả lời bằng cái gật đầu. Điều đó không làm thỏa mãn Thôi Phán Quan lập lại.

– Trước tòa, tôi yêu cầu ông trả lời đúng hoặc không đúng…

Liếc thấy Diêm Vương đang hằm hè nhìn mình, rồi ngó qua thấy 9 vị bồi thẫm cũng đang ngó mình, Hình Chí Mô trả lời.

– Đúng… Tôi xác nhận là tôi bắt đầu dùng tên Nguyễn Tất Thành từ năm 1901…

– Ngày 5 tháng 6 năm 1911, từ Bến Nhà Rồng, ông lấy tên Văn Ba, lên đường sang Pháp với nghề phụ bếp trên chiếc tàu buôn Amiral Latouche-Tréville. Đúng không?

– Đúng…

Hình Chí Mô trả lời gọn một tiếng. Khẽ lắc đầu Diêm Vương lên tiếng.

– Sao mà ngươi nhiều tên vậy… Mới có 21 tuổi mà ngươi đã có ba tên rồi. Nào Sinh Cung, Tất Thành rồi bây giờ lại thêm Văn Ba…

Hướng về chỗ bồi thẫm đoàn Thôi Phán Quan hỏi tiếp.

– Sau khi tới Pháp thì ông làm gì?

– Tôi làm cách mạng chống thực dân Pháp…

Có tiếng vỗ tay lác đác để khen tặng cho Hình Chí Mô. Cười cười Thôi Phán Quan vặn.

– Tôi cũng được đọc tin tức của đảng cộng sản Việt Nam nói là ông sang Pháp làm cách mạng để giải phóng cho nước ông khỏi ách đô hộ của thực dân Pháp. Tuy nhiên tôi cũng nghe tin đồn hoặc cũng được đọc tài liệu về việc ông đi qua và sinh sống ở Pháp. Càng đọc tôi càng mù mờ và bán tín bán nghi. Nay tôi xin được hỏi ông một câu trước tòa là ông sang Pháp để làm gì?

Hình Chí Mô do dự trong thoáng chốc rồi gật đầu.

– Tôi xuống tàu sang Pháp là để làm cách mạng… Tôi xác nhận điều đó trước tòa…

Mỉm cười Thôi Phán Quan chìa tờ giấy đã cũ và vàng ra trước mặt bị can.

– Chắc ông còn nhớ vật này?

Hình Chí Mô thay đổi sắc mặt khi thấy tờ giấy đó. Bước tới chỗ chín vị bồi thẫm đang ngồi, Thôi Phán Quan đưa tờ giấy cho Đán. Xem song anh trao cho Bình rồi chuyền tay đi vòng vòng hết 9 vị bồi thẫm.

– Bị can lấy tên giả là Văn Ba, xuống tàu đi sang Tây nói để làm cách mạng giải phóng dân tộc khỏi ách đô hộ của ngoại bang là nói dối và lừa gạt mọi người. Thực ra hắn sang Pháp để tìm đường mưu sinh và xin làm quan cho thực dân Pháp. Đây là bằng chứng hiển nhiên…

Vị đại diện cho luật pháp của âm phủ nháy mắt ra hiệu cho hai vị sứ giả đang đứng sau lưng của Diêm Vương. Hiểu ý Bạch y sứ giả phát tay áo. Trên bức vách rộng phía bên trái lộ ra màn ảnh truyền hình rồi sau đó hiện lên một vật mà mọi người đều bật lên tiếng kêu ồ sửng sốt khi thấy nó.

don xin

Marseille le15 Septembre 1911

À Monsieur le Ministre des Colonies

Monsieur le Ministre

J’ai l’honneur de solliciter de votre bienveillance la faveur d’être admis à suivre les cours de l ‘ École Coloniale comme interne.

Je suis actuellement employé à la Compagnie des Chargeurs Réunis pour ma substance à soi de l’Amiral Latouche Tréville.

Je suis entièrement dénué de ressources et avide de m’ instruire . Je désirerais devenir utile à la France vis à vis de mes compatriotes et pouvoir en même temps les faire profiter des bienfaits de l’ instruction.

Je suis originaire de la province de Nghê-an, en Annam.

En attendant votre réponse que j ‘ espère favorable, agréez, Monsieur le Ministre , mes plus respectueuses hommages et l ‘ assurance de ma reconnaissance anticipée.

Nguyễn-tất Thành,

né à Vinh, en 1892, fils de Mr Nguyễn sinh Huy, sous docteur es-lettre

Étudiant Francais , quốc ngữ, caractère chinois

 

Tạm dịch:

Marseille ngày 15 tháng chín 1911

Kính gởi ông Bộ Trưởng bộ Thuộc Ðịa

Kính thưa ông Bộ Trưởng,

Tôi xin trân trọng thỉnh nguyện lòng tốt của ông ban đặc ân cho tôi được nhận vào nội trú trường Thuộc địa.

Tôi hiện làm công nhân trong công ty Chargeurs Réunis để mưu sinh ( trên tàu Amiral Latouche-Tréville).

Tôi hoàn toàn không có tài sản và khao khát được học hỏi. Tôi mong ước trở nên hữu ích cho nước Pháp đối với đồng bào tôi, đồng thời có thể làm cho họ hưởng được lợi ích giáo hóa.

Tôi gốc tỉnh Nghệ An, xứ An Nam.

Trong lúc chờ đợi sự trả lời mà tôi hy vọng là thuận lợi, xin ông Bộ Trưởng nhận nơi đây lòng tôn kính và tri ân trước của tôi.

Nguyễn Tất Thành, sinh tại Vinh năm 1892 , con của ông Nguyễn sinh Huy, Phó Bảng. Học sinh pháp văn, quốc ngữ, chữ hán…

– Hóa ra là thế…

– Hắn nói làm cách mạng mà tại sao lại xin vào học trường thuộc địa…

– Bác Hình ơi sao kỳ vậy bác…

– Trường thuộc địa là trường gì vậy anh Bảy?

Một giọng nói già nua vang lên như để trả lời câu hỏi.

– Trường thuộc địa là trường do chính phủ Pháp lập ra để dạy cho các học sinh của các nước thuộc Pháp ra làm quan ở tại xứ sở của mình… Sau khi tốt nghiệp thì họ trở về nước để làm quan cho Pháp…

Sau khi xem xong Đán trả lại lá đơn xin học trường thuộc địa của Hình Chí Mô cho Thôi Phán Quan. Cầm lá đơn trong tay, vị biện lý của âm phủ cao giọng.

– Đọc lá thư của bị can chúng ta thấy những gì. Trước nhất là ý tưởng phụng sự mẫu quốc của bị can. Thứ nhì là tính cách qui lụy và bợ đỡ của bị can. Điều đó đã được minh chứng qua những dòng chữ:

Tôi xin trân trọng thỉnh nguyện lòng tốt của ông ban đặc ân cho tôi được nhận vào nội trú trường Thuộc địa…

– Tôi mong ước trở nên hữu ích cho nước Pháp…

– Trong lúc chờ đợi sự trả lời mà tôi hy vọng là thuận lợi, xin ông Bộ Trưởng nhận nơi đây lòng tôn kính và tri ân trước của tôi…

Phòng xử im lặng như mọi người còn đang suy nghĩ về những lời của Thôi Phán Quan đã nói. Lát sau vị biện lý của âm phủ quay sang bị can hỏi một câu.

– Ông xác nhận lá thư này chính là lá thư tự tay ông viết để xin nhập học trường thuộc địa tại Ba Lê?

Hình Chí Mô trả lời bằng cái gật đầu. Cau mày vị biện lý của âm phủ gằn giọng.

– Tôi xin nhắc lại lần nữa là ông phải trả lời đàng hoàng chứ không thể gật đầu…

Liếc nhanh Diêm Vương, Hình Chí Mô lên tiếng.

– Tôi xác nhận lá thư này do chính tay tôi viết và gởi…

Thôi Phán Quan hỏi tiếp.

– Ông viết bao nhiêu lá đơn để xin vào học trường thuộc địa?

– Hai… Tôi có viết hai lá đơn; một gởi cho tổng thống Pháp và một gởi cho bộ trưởng thuộc địa, nhưng họ đều bác đơn không nhận tôi vào học…

– Phải trong đơn gởi cho tổng thống Pháp ông lấy tên là Paul Tất Thành không?

Hình Chí Mô nhẹ gật đầu thay cho câu trả lời.

– Sau khi đơn xin học bị bác thì ông làm nghề gì để sống?

– Tôi vẫn làm phụ bếp trên tàu buôn Amiral Latouche-Tréville một thời gian rồi đi qua Mỹ sau đó trở lại Luân Đôn, thủ đô của nước Anh…

Thôi Phán Quan ngắt lời Hình Chí Mô bằng câu hỏi.

– Tôi nghe đồn ông là người có số đào hoa nhất trong đảng. Đúng không?

Hình Chí Mô hơi có vấn đề khi nghe Thôi Phán Quan nói tới hai tiếng ” nghe đồn ”. Ở trong chế độ độc tài chuyên chế của cộng sản Việt Nam thì không có tự do ngôn luận. Không có tự do báo chí, truyền thanh truyền hình gì hết, thành ra dân chúng chỉ còn mỗi cách để thông tin với nhau. Đó là tin đồn hay nói cách khác là tuyên truyền rỉ tai. Dù là tin đồn song rất xác thực bởi vì người tung tin chính là kẻ có chức, có quyền ở trong nội bộ đảng. Bởi vậy mà Hình Chí Mô phải giật mình khi nghe Thôi Phán Quan nói tin đồn.

Lắc đầu mấy lượt, Hình Chí Mô quay nhìn Diêm Vương đoạn nói với giọng như phân trần.

– Bẫm Diêm Vương… Con cả đời đi đây đi đó làm cách mạng giải phóng nước con khỏi ách đô hộ của thực dân Pháp. Con đâu có thì giờ nghĩ tới chuyện bồ bịch lăng nhăng…

Đưa tay lên vuốt râu Diêm Vương cười cười buông giọng lửng lơ.

– Ta cũng nghĩ như ngươi, tuy nhiên…

Hình Chí Mô có chiều suy nghĩ về câu nói của ông vua âm phủ.

– Thế thì cô đầm trẻ đẹp Marie Brière ông bỏ cho ai?

Thôi Phán Quan lên tiếng. Liếc nhanh bồi thẫm đoàn Hình Chí Mô làm thinh không trả lời. Vị biện lý của âm phủ cười nói tiếp.

– Tôi còn nhớ ông làm thơ tặng cho cô ta mà… Ông Tố đã đọc bài thơ đó trước tòa…

– Cô Marie không phải là bồ mà chỉ là người quen. Đúng hơn cô ta là thân chủ của tôi. Tôi chụp ảnh cô ta vì cô ta chơi đẹp với tôi…

Nói tới đó Hình Chí Mô vội ngưng bặt vì biết mình lỡ lời. Không khi nào chịu bỏ qua cơ hội, Thôi Phán Quan bèn khai thác triệt để câu nói của bị can.

– Xin ông vui lòng giải thích cho 9 vị bồi thẫm biết cô ta chơi đẹp với ông như thế nào? Cô ta có hành động, cử chỉ hoặc thái độ gì mà ông lại nói cô ta chơi đẹp?

Thôi Phán Quan hỏi liền một lúc hai câu hỏi. Hình Chí Mô im lặng. Hắn biết đã lỡ lời nên im lặng suy nghĩ để bào chữa cho câu nói của mình. Liếc thấy 9 vị bồi thẫm đang chăm chú nhìn chờ nghe câu trả lời của mình, hắn gắng gượng thốt.

– Thì… thì… Tôi chụp ảnh cô ta đẹp…

– Tôi biết ông chụp ảnh đẹp tuy nhiên câu hỏi của tôi là…

– Cô ta thấy tôi cũng sạch nước cản… Cô ta khen tôi đẹp giai… Cô ta phục tôi vì biết tôi làm cách mạng chống Pháp…

– Tôi nhìn nhận là hồi trẻ ông trông cũng đẹp giai. Đây là bức ảnh ông chụp tại Nga Sô năm 1923… Chắc ông còn nhớ?

Thôi Phán Quan chìa bức ảnh ra trước mặt Hình Chí Mô. Ngắm nghía bức ảnh của mình giây lát hắn cười cười.

– Lúc mới gặp tôi lần đầu tiên, cô Marie có thiện cảm với tôi liền… Cổ khâm phục khi biết tôi bỏ nước ra đi làm cách mạng…

– Ủa ông không nói cho cô ta biết là ông làm đơn xin vào học trường thuộc địa để sau này làm quan cho Pháp à?

– Ngu sao nói… Chuyện đó tôi giấu biệt luôn… Mới đầu thì chúng tôi chuyện trò rất tâm đầu ý hiệp. Sau nhiều lần đi chơi, cô ta mời tôi về nhà ăn cơm tối mấy lần rồi sau đó thấy tôi tứ cố vô thân, nghề ngỗng cũng hổng có, cô thương quá nên ngõ ý rước tôi về nhà của cô ở…

– Rồi ngươi có nhận lời về nhà cô ta ở?

Diêm Vương vọt miệng hỏi. Hình Chí Mô tủm tỉm cười.

– Dạ con đâu có nỡ lòng nào phụ cái hảo ý của cô Marie. Diêm Vương nghĩ coi con đang bữa đói bữa no, lại thêm thằng chủ nhà trọ sắp tống cổ con ra vì thiếu mấy tháng tiền phòng chưa trả, thì bây giờ có ” cơm no bò cỡi ” thì ngu cách mấy con cũng hổng chịu bỏ qua dịp may, huống chi cô Marie thì vòng 1, 2 và 3 đều hội đủ tiêu chuẩn cách mạng vô sản…

– Lành, nó nói cái gì ta hổng hiểu?

Diêm Vương lên tiếng hỏi Tố Bồi Bút. Biết hắn là bút nô văn hay thơ giỏi lại học nhiều biết rộng về những chuyện ” thâm cung bí sử ” của các lãnh tụ cao cấp trong đảng nên có thắc mắc ông ta hỏi hắn liền. Họ Tố cười cười.

– Bẩm Diêm Vương… Tiêu chuẩn của cách mạng vô sản là người ta hổng có cái gì hết. Cô Marie mà cởi quần áo ra cho bác của con cân đo và chụp ảnh thì cô trở thành kẻ vô sản. Bởi vậy bác con mới nói là đủ tiêu chuẩn cách mạng vô sản… Để con giải thích cho Diêm Vương hiểu thêm về cách cân đo của bác. Thời ấy chưa có thước dây như bây giờ nên bác con phải dùng tay để đo vòng 1,2 và 3 của cô Marie. Bởi vậy tụi con mới bắt chước bác rồi gọi là tiêu chuẩn cách mạng vô sản…

Diêm Vương lắc đầu lẩm bẩm.

– Bác của ngươi phun ra toàn lý thuyết cách mạng cao xa quá thì ai mà hiểu được…

Nói tới đó ông ta vội ngưng lại khi nghe tiếng tằng hắng của Thôi Phán Quan.

– Ngoài lý do ” cơm no bò cỡi ” ông còn lý do nào khác hơn để trở thành tình nhân của cô Marie và nhiều người khác…

Hình Chí Mô tủm tỉm cười khi nghe câu hỏi của Thôi Phán Quan. Liếc nhanh về chỗ bồi thẫm đoàn đang ngồi, hắn thong thả thốt.

phien-toa-duoi-am-phu-3_img_2

Hình cô Marie Brière chụp chung với Hình Chí Mô ở Hà Nội.

– Thưa ngài biện lý… Tôi có lý do chứ, một lý do đặc biệt mà tôi tạm gọi là lý do cách mạng. Đó là tôi thay mặt dân tôi để trả thù…

Hình Chí Mô dừng lại như muốn cho mọi người suy nghĩ về câu nói của mình. Lát sau hắn mới cười lên tiếng nói với Diêm Vương và cũng cốt ý cho mọi người nghe.

– Bẫm Diêm Vương… Nước Việt Nam con bị thằng Tây đô hộ cả trăm năm. Nó ỷ mạnh nó đè, chèn, ép dân con. Bởi vậy chủ ý của con đi qua Tây là để đè mấy cô đầm trẻ đẹp. Đó là con đại diện dân con làm cách mạng hay là trả thù cho dân tộc của con… Rồi khi qua tới Nga, bản thân con cũng bị mấy đồng chí trong đảng cộng sản Liên Sô ăn hiếp. Vì vậy mà còn đè cô Véra Vasiliera để trả thù…

Diêm Vương và Thôi Phán Quan liếc nhau rồi tủm tỉm cười. Hướng về chỗ 9 vị bồi thẫm đang ngồi chăm chú nghe mình kể chuyện, Hình Chí Mô nói như phân trần.

– Dù chính kiến bất đồng song 9 vị và tôi đây đều là dân Việt. Nước mình, dân mình đã bị các đồng chí Tàu đô hộ cả ngàn năm. Mỗi lần đọc lại lịch sử nước nhà, tôi rất bất bình và ấm ức cho dân mình. Bởi vậy khi được sang Tàu hoạt động, có dịp là tôi cứ đè mấy con xẩm ra để giải tỏa nỗi ấm ức của mình…

Nghe tới đó Huyền quay sang thì thầm vào tai Bình.

– Ổng đi làm cách mạng mà sao tôi nghe ổng cứ nói đè không vậy anh Bình…

Đán vọt miệng xen vào.

– Thì ổng làm cách mạng đè mà chị… Nếu sinh ra cùng thời với ổng thì tôi cũng theo ổng đi làm cách mạng đè cho sướng cái thân…

Bình cười gật đầu.

– Anh nói có lý… Mấy đồng chí theo ổng đi làm cách mạng đè thì người nào cũng vợ cả, vợ lớn, vợ bé, vợ nhỏ, đào trẻ, bồ nhí tùm lum…

Dù ba vị bồi thẫm thì thầm với nhau mà Hình Chí Mô cũng nghe được. Hắn chỏ miệng vào câu chuyện.

– Tụi nó học nghề của tôi đó… Hồi còn ở Ba Lê, làm nghề phó nháy không đủ ăn tôi phải kiêm thêm nghề thợ đè…

Nghe tới đó Diêm Vương vội lên tiếng.

– Ta sống mấy ngàn tuổi, làm đủ trăm nghề mà chưa nghe ai nói làm nghề thợ đè. Thôi đã tới giờ rồi. Vậy hãy để cho mọi người ăn trưa chứ ở đây mà nghe thằng Hình nó kể về chuyện đè chắc ta lên máu chết…

21- Con dê cụ của đảng

Thôi Phán Quan tiếp tục phiên xử buổi chiều bằng câu hỏi.

– Ông có mấy vợ?

Tủm tỉm cười Hình Chí Mô trả lời.

– Tôi chưa hiểu ý của ngài. Vợ là nghĩa làm sao. Vợ cả, vợ lớn, vợ bé, vợ nhỏ, vợ mọn, vợ hờ… Vợ có hôn thú hay vợ không chính thức… Nếu tính hết các bà vợ mà tôi vừa kể trên thì nhiều lắm…

Hình Chí Mô đưa ngón tay lên nhẫm tính một hồi mới quay qua Diêm Vương.

– Bẫm Diêm Vương… Ngài có máy tính cầm tay không cho con mượn một cái. Nhiều quá mười ngón tay con đếm hổng đủ…

Hừ tiếng nhỏ Diêm Vương lắc đầu. Thôi Phán quan lên tiếng hỏi.

– Ông có vợ lớn vợ nhỏ, nhân tình bồ nhí cả tá mà sao trong hồ sơ của ông lại ghi là không có vợ?

– Tôi không muốn cho người ta biết tôi có vợ…

Diêm Vương chợt lên tiếng.

– Thằng này lạ… Đàn ông thanh niên lớn lên là phải có vợ. Chuyện đó có gì đâu mà ngươi phải giấu diếm…

– Bẫm Diêm Vương… Trường hợp của con thì khác… Con đi làm cách mạng đè mà nếu biết con có vợ thì mấy cô đâu dám cho con đè… Với ai con cũng nói là con chửa vợ…

Tằng hắng tiếng nhỏ Thôi Phán Quan ngắt lời Hình Chí Mô.

– Tôi nghe đồn là khi chân ướt chân ráo tới Ba Lê ông có gặp cô Bourdon…

Hình Chí Mô có vẻ buồn khi nghe nói tới tên Bourdon. Lát sau hắn thở dài nói nhỏ.

– Cô Bourdon là cô gái đầu tiên tôi quen ở Paris…

– Hình như ông có thư từ qua lại với cô ta?

Thấy bị can do dự chưa chịu trả lời, Thôi Phán Quan cười tiếp

– Theo như lời đồn thì ông đã viết một bức thư tỏ tình và cầu hôn với cô Bourdon. Ông xác nhận điều này…

Hình Chí Mô cau mày suy nghĩ. Hắn biết hai tiếng ” lời đồn ” vị đại diện cho luật pháp có một nghĩa đặc biệt. Đó chỉ là một cách nói để tỏ cho bị can biết là ông ta đã nắm được chứng cớ hoặc giấy tờ trong tay.

– Bức thư ông viết cho cô Bourdon đề ngày 10 tháng 5 năm 1923. Sau đó hơn 1 tháng sau tức ngày 11 tháng 6 năm 1923, cô ta viết thư hồi âm từ chối lời cầu hôn của ông…

Hình Chí Mô lặng thinh. Tủm tỉm cười Thôi Phán Quan tiếp.

– Cô Bourdon là người tình đầu tiên của ông?

– Đúng như vậy… Tôi có làm thơ tặng cho cô ta…

– Phải bài thơ mà thằng Lành đã đọc cho ta nghe…

Nghe Diêm Vương lên tiếng hỏi, Hình Chí Mô sắm nắm trả lời.

– Bẫm Diêm Vương… Thằng Lành nó nhớ bài thơ trừ vài chữ…

Em Bourdon ơi

Anh thấy trong mắt em

Một thân hình thiên tả

Anh thấy giữa đùi em

Một giai cấp vô sản…

Em Bourdon ơi

Nhìn vào mắt em

Anh thấy

Chiều Paris mưa rơi tầm tả

Nhìn sâu xuống chút nữa

Anh chợt cười ha hả

Ôi thế giới đại đồng

Ôi thiên đường cộng sản

Cũng chưa đã bằng cái đó của em yêu…

Dù đã nghe bài thơ một lần rồi song Bình nhận thấy giọng đọc của chính tác giả truyền cảm và trầm bổng hơn. Liếc qua Huyền anh thấy cô bạn gái đang tủm tỉm cười.

– Cũng vì bài thơ này mà cô Bourdon từ chối lời cầu hôn của tôi. Trong thư hồi âm cô bảo tôi có quá nhiều tư tưởng ủy mị của tư bản…

Trong lúc mọi người lắng nghe Hình Chí Mô nói thì không biết nghĩ sao mà Thôi Phán Quan bước tới thì thầm với Diêm Vương những gì không ai nghe được. Người ta chỉ thấy ông vua âm phủ gật gật đầu nói lớn.

– Ta cho phép khanh làm việc đó…

Được lệnh của Diêm Vương, Thôi Phán Quan trở lại bàn của mình. Cầm xấp giấy dày cộm, bước tới chỗ 9 vị bồi thẫm ngồi, ông ta giơ cao xấp tài liệu lên đoạn cao giọng thốt.

– Kính thưa 9 vị bồi thẫm. Đây là những gì tôi thu thập được về các người đã là tình nhân hoặc vợ của Hình Chí Mô mà tôi tạm gọi là hồ sơ về cuộc đời tình ái của lãnh tụ.

1- Cô thợ làm nón ở Paris: Tuy không có hôn thú song cô với Hình Chí Mô có một người con gái tên Louise.

2- Cô Bourdon: Hình Chì Mô viết thư tỏ tình ngày 10 tháng 5 năm 1923, cô có thư từ chối lời cầu hôn ngày 11 tháng 6 năm 1923. Bức thư này được lưu trữ trong văn khố Solotfom.

3- Marie Brière: Hình Chí Mô gặp cô ta vào năm 1920 . Đây có thể là người có con gái với ông như lời ông viết trong di chúc ngày 14/8/1969: “ Trước khi viết phần cuối của tờ di chúc này, tôi xin thú nhận, tôi là một người không phải thần thánh gì nên khi tôi còn sống cũng đủ ” bảy tính ” như kinh nhà Phật đã đề cập. Tôi không có vợ chính thức, nhưng cũng có được đứa con gái lai Pháp. Tôi ước mong con gái tôi, khi đọc tờ di chúc này sẽ tha thứ cho tôi đã không đủ bổn phận làm cha, nhưng phụ tử tình thâm, tôi luôn nhớ tới con gái tôi với muôn vàn âu yếm“. Marie Brière được sử gia Daniel Héméry ghi là người tình cũng là đồng chí.

Theo lời đồn đại thì khi Hình Chí Mô về Hà Nội cầm quyền 1945-1946, người Pháp có đưa một số cô đầm từ Pháp sang gặp họ Hình, trong đó có cô Brière chụp ảnh chung với Hình Chí Mô.

4- Một người vợ tại Moscow: Người này do nhà cầm quyền Liên Xô cung cấp. Người đàn bà này có thể là Véra Vasiliera. Con gái của Vera Vasilieva, lúc ấy được 10 tuổi, còn nhớ rằng Hình Chí Mô thường nằm ngủ trên chiếc ghế trường kỷ trong ngôi nhà gỗ mà cô đang sống tại trung tâm Moscow. Lúc đó Hình Chí Mô đã dính líu tới nhiều vụ bắt bớ gây tổn thất nặng nề cho Phân Bộ Viễn Đông lẫn đảng cộng sang Trung Hoa trong năm 1931. Vasiliera là một người đàn bà ngây thơ từng được biết đến là đã bảo vệ những bạn bè bị tố cáo về những tội danh chính trị. Manabendra N. Roy, lãnh tụ Cộng Sản Ấn Độ, ủy viên chính trị của Đệ Tam Quốc Tế, bị khai trừ năm 1928, trong cuốn sách mang tên Men I Met, có nhắc sơ đến Hình Chí Mô như sau: ” Vào những năm 1920, cuộc sống ở Mạc Tư Khoa rất buồn chán và kham khổ vì thế mà Hình Chí Mô đã tìm thú vui nơi đàn bà. Đó là các cô gái giàu có của chế độ tư bản sa đọa hay các cô gái theo cộng sản nhưng lại lãng mạn và phóng đãng vì thế họ bị thu hút mãnh liệt bởi những khóa sinh Á châu “.

5- Lý Huệ Khanh là em gái của Lý Huệ Quần, vợ Lâm Đức Thụ. Từ năm 1925 đến năm 1927, Hình Chí Mô tá túc với Lâm Đức Thụ. Vì vậy mà vợ chồng Thụ đã mối mai cô em gái cho Hình Chí Mô. Hai người yêu nhau say đắm và có với nhau một đứa con gái. Lý Huệ Khanh về sau gia nhập đảng cộng sản Trung Hoa, rồi bị Quốc Dân Ðảng Trung Hoa giết trong vụ biến Quảng Châu Công Xã ngày 12 tháng 12 năm 1927.

6- Cũng theo tin đồn thì sau này khi hoạt động tại Hồng Kông, Hình Chí Mô cũng có một người vợ Tàu và có một con gái. Hồi năm 1950 hắn có nhờ chi bộ đảng cộng sản tìm giúp nhưng không tìm ra tông tích của người này

7- Tuyết Lan: Thời gian hoạt động ở Thái Lan, Hình Chí Mô có yêu một cô gái tên Tuyết Lan, đây cũng chính là tên T. Lan mà hắn đã dùng để viết sách, như cuốn Vừa Đi Đường Vừa Kể Chuyện.

8- Tăng Tuyết Minh:

phien-toa-duoi-am-phu-3_img_3Young_zengxueming

Old_zengxueming

phien-toa-duoi-am-phu-3_img_4phien-toa-duoi-am-phu-3_img_6phien-toa-duoi-am-phu-3_img_7phien-toa-duoi-am-phu-3_img_5

Tăng Tuyết Minh: thời xuân sắc và lúc tuổi già mòn mỏi đợi chờ (với ảnh vẫn trên tường) Nguồn: http://www.dprk-cn.com/

Thư Lý Thụy gởi cho Tăng Tuyết Minh do Nha Liêm Phóng (Công an) Đông Dương phát hiện ngày 14/8/1928
Nguồn: Daniel Hémery, Ho Chi Minh, de l’Indochine au Vietnam.

Sau đây là bản dịch lá thư của Hình Chí Mô ( lúc đó có tên Lý Thụy ) gởi cho Tăng Tuyết Minh do Nha Liêm Phóng Đông Dương phát hiện ngày 14-8-1928: Dữ muội tương biệt, Chuyển thuấn niên dư, Hoài niệm tình thâm, Bất ngôn tự hiểu. Từ nhân hồng tiện, Dao ký thốn tiên, Tỷ muội an tâm, Thị ngã da vọng. Tịnh thỉnh nhạc mẫu vạn phúc. Chuyết huynh Thụy. Tóm dịch: Cùng em chia tay nhau, Thấm thoát nháy mắt đã hơn năm, Nhớ nhung tình sâu, Không nói cũng tự biết. Nay nhân gởi tin hồng nhớn, Xa xôi gởi lá thư mang tấm lòng, Mong em yên tâm, Là điều anh trông ngóng. Cũng xin vấn an nhạc mẫu vạn phúc. Người anh vụng về Thụy.

Năm 1959, khi Đào Chú, uỷ viên thường vụ bộ chính trị đảng cộng sản Trung Hoa kiêm phó thủ tướng sang thăm Việt Nam, Hình Chí Mô bí mật nhờ một người thân tín trong hàng ngũ lãnh đạo Hà Nội đến nói riêng với Ðào Chú rằng hắn ta muốn tái hôn với một người vợ cũ ở Quảng Ðông. Ðào Chú đã vui vẻ nhận lời, không ngờ hết thời gian Đào Chú điều dưỡng, hy vọng của ông cũng tan thành mây khói. Thủ tướng Chu Ân Lai sau khi nghe vị phó thủ tướng dưới quyền kể lại, đã thận trọng đưa ra nhận định: ” Phải đề nghị phía Việt Nam xem xét đã “. Mặt khác, Lê Duẩn không muốn làm hỏng hình tượng của “Cha già dân tộc”, của Đảng quang vinh. Do đó chuyện… tái ngộ đã không xảy ra.

Theo Hồ Chí Minh sinh bình khảo của Hồ Tuấn Hùng (Đài Loan), Phần 4 cũng nhắc đến Tăng Tuyết Minh: “ Năm 1925, Hình Chí Mô ( lúc này mang tên Nguyễn Ái Quốc ) tại Quảng Châu quen người con gái Trung Quốc tên Tăng Tuyết Minh. Năm 1926 kết hôn, sau khi cưới cả hai cùng ở trong căn biệt thự của Mikhail Borodin, có báo cáo nói rằng kết quả cuộc hôn nhân này là một bé gái “.

 

 

 

Quí vị nào muốn biết thêm chi tiết xin mời vào 2 trang mạng có tên: HCM với người vợ Trung Quốc Tăng Tuyết Minh của Hoàng Tranh (Huang Zheng), Phó Viện Khoa Học Xã Hội, Quảng Tây, Trung Quốc, đăng trên tạp chí Ðông Nam Á Tung Hoành (Trung Hoa) tháng 11-2001. Báo Diễn Ðàn, Paris, số 121, tháng 9-2002 dịch đăng lại, tt.17-20; ” Hồ Chí Minh và người vợ Trung Quốc Tăng Tuyết Minh” của Khổng Khả Lập.

9- Lâm Y Lan: Năm 1930, Đào Chú sắp xếp để cô gái này cùng Hình Chí Mô đóng giả vợ chồng nhằm bảo vệ cho hắn ta trong lúc phong trào ở Quảng Đông nói chung và khu hành chính Bạch Sắc bị khủng bố. Thời gian sau hai người đã thương nhau. Lâm Y Lan mất vào năm 1968. Trước lúc lâm chung bà ta cũng không quên lấy ra quyển “nhật ký tình yêu” mà người yêu đã tặng cho mình và nhờ người chuyển cho Hình Chí Mô với lời nhắn nhủ khuyên người tình không nên quá buồn phiền.

10- Nguyễn Thanh Linh: Hình Chí Mô đã có đoạn tình duyên ngắn ngủi với cô gái này; tuy nhiên bây giờ không nghe ai nhắc nhở tới cô ta.

11– Nguyễn Thị Minh Khai: cũng như Tăng Tuyết Minh, Minh Khai là người vợ chính thức nghĩa là có giấy hôn thú đàng hoàng. Trong hồ sơ lưu trữ của ban chấp hành đảng cộng sản Nga-xô, người ta tìm ra giấy hôn thú giữa Hình Chí Mô và Nguyễn thị Minh Khai mặc dù đảng cộng sản Việt Nam cứ khăng khăng tuyên bố Nguyễn Thị Minh Khai là vợ của Lê Hồng Phong…

minh khai

Nhìn thẳng vào mặt bị can Thôi Phán Quan hỏi.

– Tôi nói điều này có đúng không thưa ông…?

– Bẫm Diêm Vương… Con có bị bắt trả lời câu hỏi này không?

Nghe bị can hỏi câu trên, Diêm Vương cười cười trả lời.

– Ngươi trả lời thì tốt mà không trả lời thì hơi có vấn đề…

Tủm tỉm cười Thôi Phán Quan cao giọng nói.

– Tại sao lại có chuyện tréo cẳng ngỗng như vậy. Sau đây là câu trả lời. Số là trước khi rời Việt Nam qua Nga-xô thì Nguyễn thị Minh Khai là hôn thê của Lê Hồng Phong. Việc này đương sự có báo với trung ương cộng sản lúc đó. Thế rồi khi cả hai được triệu tập qua Nga-xô để học thì Lê Hồng Phong đi trước, còn Minh Khai qua ngã Hồng-kông để được Hình Chí Mô (dưới bí danh Lý Thụy) dạy vỡ lòng tiếng Nga và chính trị sơ đẳng để dễ dàng khi nhập học trường Đại học Phương Đông (Nga). Chẳng biết hắn dạy Minh Khai học ra sao mà chữ chẳng vào “đầu” mà vào “ đầy bụng ”. Câu chuyện đổ bể khi Minh Khai tới Nga-xô nên Lê Hồng Phong đành nuốt hận nghe lời lãnh đạo Nga-xô, nhường hôn thê cho Hình Chí Mô và có giấy giá thú làm bằng để sau này Lê Hồng Phong khỏi lôi thôi. Vì sự thiệt thòi đó và thái độ vâng lời cấp trên mà Lê Hồng Phong được cho làm ủy viên dự khuyết trung ương quốc tế 3. Đó là nhân vật cộng sản Việt Nam duy nhất được giữ vị trí gọi là “ lãnh đạo của cộng sản quốc tế ”. Còn Hình Chí Mô, thực ra chưa bao giờ là thành viên trung ương của cộng sản quốc tế. Hắn chỉ công tác ở Cục Phương Đông, một bộ phận của quốc tế 3 mà thôi, giữ nhiệm vụ liên lạc giữa đảng cộng sản Đông-Đương với quốc tế 3. Câu chuyện tình bi ai giữa Hình Chí Mô, Lê Hồng Phong và Nguyễn Thị Minh Khai được giữ bí mật ngay cả đối với các thành viên cộng sản Đông-Dương. Bởi vì trước đó ai ai cũng biết Minh Khai là hôn thê của Lê Hồng Phong. Hình Chí Mô là một tên gián điệp có năng lực của Nga-xô trong vùng Đông-Nam-Á; còn Minh Khai và Lê hồng Phong đang được đào tạo để thành “lãnh tụ” của cộng sản Đông-Dương, tức đạo quân thứ 5 của Nga-xô tại Đông-Dương. Nếu để lộ việc Minh Khai chửa hoang, Lê Hồng Phong bị Hình Chí Mô cắm sừng vợ của đồng chí mình thì hậu quả sẽ làm hại tới danh tiếng của các lãnh tụ cộng sản. Cuộc tình tay ba đó đã khiến Lê Hồng Phong ngã ngựa. Chẳng là, sau khi được là ủy viên dự khuyết trung ương của quốc tế 3, Lê Hồng Phong được Nga-xô chỉ định về làm tổng bí thư của đảng cộng sản Đông-dương. Khi ấy Hình Chí Mô là phái viên của cục Phương Đông, nên trước khi đáp tàu thủy về Chợ-lớn (Sài-gòn) giả dạng trong vai thương gia người Tàu, Lê Hồng Phong phải ghé qua Thượng-hải (Tàu) để nghe Hình Chí Mô báo cáo tình hình ở Đông-dương lúc đó, cách thức đi cũng như mật khẩu bắt liên lạc với trung ương cộng sản Đông-dương. Chuyện đó chỉ có Lê Hồng Phong và Hình Chí Mô biết với nhau; vậy mà khi Lê Hồng Phong vừa bước chân tới Chợ-Lớn đã bị mật thám Pháp thực dân bắt. Nhớ lại vụ Hình Chí Mô bán cụ Phan Bội Châu cho thực dân Pháp thì tình huống vụ Lê Hồng Phong cũng như vậy. Nghĩa là Hình Chí Mô tìm mọi cách mượn tay thực dân Pháp hãm hại tất cả những ai là đối thủ của hắn bất kể quốc gia hay cộng sản . Đối với Lê Hồng Phong, hắn còn sợ với chức vụ ủy viên dự khuyết trung ương quốc tế 3, kiêm nhiệm tổng bí thư đảng cộng sản Đông-dương, Lê hồng Phong với cái hận hắn cắm cho cặp sừng dê trong vụ Minh Khai, thế nào cũng chờ dịp “ thiến sống ” mình, vì vậy mà hắn phải ra tay trước. ( Trích dẫn từ hồ sơ Con Yêu Râu Xanh của Việt Thường. Có sửa đổi vài chỗ ). Sau này Nguyễn Thị Minh Khai bị mật thám Tây bắt và xử tử hình mà theo lời đồn thì Hình Chí Mô đã báo cho mật thám Tây bắt giết vợ để ém nhẹm chuyện xấu xa của mình.

12- Nông Thị Xuân: Trong phiên xử của Trần Nước Hòn, tôi đã đề cập tới người vợ này của Hình Chí Mô.

13- Đỗ Thị Lạc

Sau đại hội Moscow ngày 25-7-1935, Lê Hồng Phong (1902-1942) được Quốc tế Cộng Sản gởi về nước hoạt động, còn Nguyễn Tất Thành (hay Lý Thụy, Nguyễn Ái Quốc) bị thất sủng và bị giữ lại ở Liên Xô cho đến cuối năm 1938, Thành được gởi về Trung Hoa dưới một tên mới là Hồ Quang, điều khiển ban Hải ngoại đảng Cộng Sản Đông Dương.

Đầu năm 1940, Lê Hồng Phong bị bắt ở Phan Thiết, đưa vào Sài Gòn, bị đày đi Côn Đảo rồi chết ở ngoài đó năm 1942. Trong khi đó, cuối năm 1940, Nguyễn Tất Thành bắt đầu sử dụng thông hành mang tên Hồ Chí Minh, ký giả của một tờ báo do Cộng Sản Trung Hoa điều khiển.

Vào đầu năm 1941, Hồ Chí Minh về nước, đặt căn cứ ở hang Pắc Bó, châu Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng. Sau khi củng cố nội bộ, huấn luyện đảng viên, phát triển cơ sở, và tổ chức hội nghị trung ương đảng Cộng Sản Việt Nam lần thứ 8 (tháng 5-1941), đưa Trường Chinh Đặng Xuân Khu (1909-1988) lên làm Tổng bí thư đảng, Hồ Chí Minh qua Trung Hoa tiếp tục hoạt động, đánh phá các cơ sở cách mạng không cộng sản, và kiếm cách xin Trung Hoa viện trợ. Cuối tháng 8-1942, Hồ bị chính quyền Trung Hoa Quốc Dân Đảng bắt giữ đến tháng 9-1943.

Ra khỏi tù, Hồ luôn luôn kiếm cách lấy lòng các tướng quân Trung Hoa ở Liễu Châu như Trương Phát Khuê, Tiêu Văn. Lúc bấy giờ, phía Trung Hoa đang có sự hợp tác quốc cộng để chống Nhật. Tướng Tiêu Văn áp lực các tổ chức cách mạng Việt Nam hợp nhất với nhau. Dầu bị Việt Nam Quốc Dân Đảng và Việt Nam Cách Mạng Đồng Minh Hội phản đối, Tiêu Văn vẫn cho tiến hành đại hội tại Liễu Châu ngày 28-3-1944 gồm đại biểu của tất cả các tổ chức chính trị Việt Nam. Các phe phái không cộng sản và cộng sản tranh luận gay gắt, nhưng cuối cùng cũng bầu ra được một ban chấp hành mới gồm có bảy ủy viên chính thức và một ủy viên dự khuyết là Hồ Chí Minh, và ba ủy viên giám sát.

Trong danh xưng mới, Hồ khéo léo ẩn mình, rất được Tiêu Văn tin cậy. Hồ đề nghị Tiêu Văn cho mình về nước cùng một số cán bộ đã được Trung Hoa huấn luyện, và một số súng đạn, thuốc men và tiền bạc. Tiêu Văn đồng ý cho Hồ về Việt Nam với 18 cán bộ vừa mới tốt nghiệp khóa huấn luyện quân sự Đại Kiều (gần Liễu Châu), cọng thêm 76.000 quan kim, tài liệu tuyên truyền, bản đồ quân sự và thuốc men, nhưng không cấp vũ khí. Hồ về tới Pắc Bó (Cao Bằng) vào gần cuối năm 1944.

Trong số 18 cán bộ theo Hồ về nước lần nầy có Đỗ Thị Lạc tức “chị Thuần.” Nhân thân của Đỗ Thị Lạc không được rõ ràng, chỉ biết rằng vào năm 1942, khi tướng Quốc Dân Đảng Trung Hoa là Trương Phát Khuê tổ chức lớp huấn luyện chính trị và quân sự cho các tổ chức cách mạng Việt Nam ở Đại Kiều (gần Liễu Châu), Đỗ Thị Lạc theo học lớp truyền tin. Khi về Pắc Bó, Đỗ Thị Lạc sống chung với họ Hồ một thời gian, lo dạy trẻ em và vận động vệ sinh ăn ở của dân chúng ở Khuổi Nậm gần Pắc Bó. Sử gia Trần Trọng Kim, trong sách Một cơn gió bụi đã cho biết Đỗ Thị Lạc đã có một người con gái với Hồ Chí Minh.

Do tình hình biến chuyển, Hồ rời Pắc Bó đầu năm 1945 qua Trung Hoa, bắt liên lạc và hợp tác với tổ chức OSS dưới bí danh Lucius vào tháng 3-1945. Đầu tháng 5-1945, Hồ về Việt Nam, ghé Khuổi Nậm (Cao Bằng) thăm Đỗ Thị Lạc một thời gian ngắn rồi đi Tân Trào (Tuyên Quang). Từ đó không còn ai nghe nói tới Đỗ Thị Lạc.

Cuộc đời tình ái của Hình Chí Mô còn dài lắm tuy nhiên tôi xin tạm dừng lại ở đây. Trong phiên xử sáng mai tôi sẽ trình bày cùng quí vị về tội lường gạt của Hình Chí Mô.

Advertisement