NHỮNG THIÊN ĐƯỜNG MÙ-Tập 4

nhung_thien_duong_mu__duong_thu_huong

CHƯƠNG 20

Cánh cửa vừa mở, tôi đứng dẹp sang một bên, cả tốp người đã ào vào như cơn lốc. Họ lần lượt đặt những gói, những hòm, những túi đựng hàng hóa xuống góc phòng, rồi mới ngẩng lên. Ai nấy mồ hôi nhễ nhại. Vẻ mặt họ mệt mỏi và cáu kỉnh.

– Đói quá, xong chưa bố già?

Vẫn cái giọng gắt gỏng ban nãy gào lên. Câu trai lùn nhất trong bọn, vai ngang, lưng to, và khuôn mặt đỏ rực với quai hàm rất nở, vừa gào xong, chợt nhìn thấy tôi bên cánh cửa, cậu ta khựng lại. Cậu Chính đáp.

– Sắp xong rồi. Nem vào xào phải ăn nóng.

Đoan, cậu đứng lên:

– Xin giới thiệu: cháu Hằng. Còn đây là chú Khoa, anh Hải, anh…

Họ chào tôi. Tôi chào lại từng người. Hải, anh chàng thấp lùn quay lại bảo cậu Chính:

– Bố già chơi khăm. Có phái yếu thì phải giới thiệu trước chứ?

Ông nghiên cứu sinh Khoa, cười.

– Phải cho những cô gái chứng kiến cơn háu đói của anh mới thú vị. Khi xuất hiện trước các cô, anh nào cũng như siêu nhân.

Đáp lại lời Khoa, cái anh chàng cao dong dỏng, da ngăm đen khóe miệng đẹp như khóe miệng của vị thần săn đuổi tình ái mỉm cười:

– Đừng chế riễu, ông anh. Chúng em chẳng muốn làm siêu nhân, cũng chẳng muốn làm ma quỷ. Con người là con người. Những ai thích răn dạy thiên hạ, luôn luôn khoác áo thày tu và miệng đọc kinh: Nam nữ thụ thụ bất thân, tới khi tha hóa họ ngủ với con gái không cần đắn đo 15 phút. Những kẻ ấy, đã trượt là trượt tới đáy bùn.

Nói xong, anh ta kéo ghế mời tôi:

– Mời cô.

Rồi anh ta ngồi xuống chiếc ghế đối diện, dáng điệu như chủ nhân chính thức của căn phòng. Còn ông nghiên cứu sinh Khoa thì cười cười như để chống đỡ lực tấn công nào đó, tay lùa vào mái tóc:

– Tôi là con người hành động. Tôi không ưa lý luận đâu.

Anh chàng da ngăm vẫn nhếch môi cười, lộ hai hàm răng trắng như ngọc.

– Đúng rồi, sau khi đã ban phát cho lũ đàn em chúng tôi mọi thứ lý luận cao siêu thì các ông anh phải gấp gấp hành động. Không hành động thì thiệt thòi. Tuổi 50 đuổi sồng sộc sau lưng. Mà cuộc đời còn nhiều thú vui quá, và các cô con gái cứ mỗi ngày là một lạ lùng hơn.

Nói xong, anh ta lại cười. Làn môi thanh tú nhếch lên. Đôi mắt nheo nheo nhìn ông nghiên cứu sinh Khoa lúc ấy giả tảng cúi xuống đẩy những hòm hàng vừa mua được vào gầm giường. Tôi không thể rời mắt khỏi nụ cười ấy. Nó làm tôi nhớ tới một nhân vật trong bộ phim, 108 anh hùng Lương Sơn Bạc. Nhân vật ấy là lãng tử Yến Thanh, một tài nhân siêu việt, cầm kỳ thi họa giỏi mà võ nghệ cũng cao cường. Dáng người thanh tú, gương mặt đẹp, điệu đi uyển chuyển mềm mại, anh ta xuất hiện giữa đám ca công, kỹ nữ cũng như xuất hiện giữa phường lục lâm thảo khấu, hoặc đám hảo hớn cùng với một dáng điệu ung dung tự tại và nụ cười hàm chứa vẻ mỉa mai lẫn sự độ lượng trên môi. Nụ cười đó vừa là nụ cười của con sói già đã vượt qua bao nhiêu hoang nguyên, đã tử sinh qua bao nhiêu cuộc chiến, coi hòn đạn mũi tên như cốc rượu quân cờ, lại vừa là nụ cười của một chàng trai trẻ đang độ thanh xuân, một cánh rừng trinh trắng và quyền rũ. Chưa có người nào gợi cho tôi sự liên tưởng mãnh liệt như vậy.

– Ối giời ơi…

Anh chàng to béo tên Hải lại quát tướng lên:

– Thôi đừng tranh luận nữa. Tôi đói quá rồi.

Đoạn quay sang tôi, anh ta hạ giọng:

– Vả lại, cũng còn phải chiếu cố tới vị khách này nữa chứ? Ông Chính đã mời em ăn gì chưa? Chắc là chưa phải không? Ông ấy có thể ngậm một đồng kôpếch từ sáng đến chiều trong miệng nếu như vì thế mà bớt được hai bữa cơm. Nào bố già, dọn ra đi.

– Xong tất cả rồi. Chỉ ba phút nữa là có thể chạm cốc.

Miệng nói, tay cậu trải miếng nhựa hoa lên bàn. Rồi cậu lần lượt đặt đĩa thị bò xào súplơ, cà rốt, cần tỏi. Sau đó tới đĩa khoai tây rán với bítết. Một đĩa rau sống cùng với dọc tỏi muối, thứ thực phẩm mua ở các chợ nông trường. Một tô canh lớn sườn ninh. Cuối cùng là nem rán, xếp trong chiếc giỏ nhựa màu trắng rất xinh, trông như đồ chơi của thiếu nhi. Nước chấm nem được làm đúng theo kỹ thuật Việt Nam: nước mắm khô, chanh ớt, tỏi giã, mì chính, đường. Mọi người ngồi vào bàn. Cậu Chính lấy bát đũa, cốc thủy tinh cỡ lớn và một chục chai bia. Anh chàng Hải xoa bàn tay, nói.

– Được được. Sau một buổi sáng đi chiến đấu, cứu nước cứu nhà ăn bữa cơm như thế này mới là xứng đáng. Nào, các ông. Kìa bố già chưa mở bia ra sao? Chậm trễ thế. Ông phải nhớ thời buổi này là thời buổi chuyên môn hóa cao độ. Không ý thức được điều ấy sẽ bị loại trừ khỏi cuộc sống. Chúng tôi mà cứ rù rờ như ông có đến Tết cũng không mua nổi 12 chiếc nồi áp suất trong một giờ đồng hồ. Thôi, tôi phải làm cái nem đã.

Anh ta cúi xuống bốc một chiếc nem ăn vã. Hai người kia ngồi im. Trong khoảng thời gian đó, cậu Chính cố thao tác mở bia, rót bia vào các cốc cho tật nhanh. Tay cậu run từng chập. Có lẽ, sức khỏe của cậu cũng không thể phục hồi hoàn toàn sau thời kỳ mắc bệnh. Rót tới cốc của tôi, cậu làm bia rớt xuống bàn. Anh chàng to béo háu đói sau khi nuốt hết chiếc nem ngẩng lên.

– Nào, ta chạm cốc.

Tất cả cầm cốc bia. Anh chàng da ngăm quay sang tôi.

– Mời cô.

Tôi cầm cốc lên, cùng chạm với bọn họ.

– Nào chúc sức khỏe.

– Chúc cho đội quân cứu nước cứu nhà.

Giọng cười bỡn cợt. Tiếng cốc chạm lanh canh. Bia lắng dần lớp bọt trắng phau như tuyết, để lại thứ nước trong suốt màu vàng. Màu của cánh đồng xứ sở, ngày mùa. Màu của nhớ nhung.

Đám đàn ông đã uống cạn. Họ bắt đầu cúi xuống ăn, bình phẩm các món ăn.

– Nem hôm nay hơi mặn đấy bố già nhé.

– Tôi sẽ rút kinh nghiệm.

– Xào thì được. Khá hơn lần trước.

– Lần trước thì là tại thị bò già, thớ nhão mà dai quá.

– Ờ, anh Khoa, bảo anh dúi cho con Irina năm rúp trước ngày mua thực phẩm, sao anh không đưa?

– Tớ quên.

– Đừng có vờ. Anh chỉ quên một thứ: là tên các em dưới tỉnh lên thôi. Anh liệu đấy, không xấu chơi được đâu.

– Hôm ấy tao hết tiền đi taxi.

– Bỏ kiểu ấy đi, lần sau phải đưa tiền trước cho nó nghiêm chỉnh. Nó sẽ giành cho mình thịt loại một. Hôm nọ tôi tặng nó cả một chai Lúa Mới 15 rúp hôm nay mới có thịt ngon như thế này.

– Thế à. Rượu cậu lấy của ai?

– Sứ quán.

Tôi uống ngụm bia. Bỗng dưng tôi thấy căn phòng chòng chành chao đảo. Các chai bia, những cốc thủy tinh màu vàng rơm, những đĩa thức ăn, làn khói bay trên tô canh nóng. Tất cả hòa trộn, quay đảo cùng với các gương mặt đang đỏ dần lên vì men bia. Cô gái Hà Lan ném vào tôi cái nhìn khiêu khích, mái tóc đen bồng bềnh như đám huyền thảo trong thế giới ảo mộng phiêu lãng nào đây. Chiếc quần tắm màu đỏ có các đường ren kim tuyến óng ánh kẻ một lằn thẳng căng trên làn da hồng. Cái chụp đèn gục trên chồng sách. Tất cả bắt đầy quay. Trong tôi, từ từ dâng lên những lượn sóng không màu sắc, không mùi vị nhưng dồn dập hết cơn sóng này tới cơn sóng khác, nhấn chìm tôi xuống, làm tôi nghẹn thở. Tôi cố gắng chống ta đứng dậy.

– Có lẽ…

Tiếng chàng trai da ngăm cất lên:

– Cô ấy ốm rồi. Mặt tái xanh thế kia.

Tôi thấy bóng anh nhào tới. Bàn tay anh đặt trên vai tôi, dìu tôi lại chiếc giường. Lúc gương mặt anh sáp gần, tôi chớt thấy hiện lên một gương mặt của quá khứ. Nhất định tôi đã gặp anh ta. Nhất định thế… lãng tử Yến Thanh, tôi đặt cho anh ta cái tên đó, và chìm trong cơn sốt…

Tôi không rõ mình đã nằm mê bao lâu. Lúc tôi tỉnh dậy, ánh đèn sáng chói rọi vào mắt khiến tôi vội nhắm mắt lại. Ánh đèn chói như kim đâm. Lúc ốm, mọi cảm giác đều sai lạc và khủng khiếp. Tôi kéo chăn, trùm kín đầu. Tuy thế, vẫn ngửi thấy mùi khói thuốc, toàn thuốc N.B. hôi khét, khiến đầu tôi nặng như chì. Nhưng cảm giác chòng chành như say sóng không còn nữa. Tôi thấy rõ rệt là mình đang nằm trên giường, bằng phẳng và chắc chắn, không bị các con sóng đu đẩy. Tiếng máy quay đĩa văng vẳng bên tai. Chợt, giọng anh Hải béo oang oang:

– Tính xong chưa mày?

– Xong.

Đó là chàng lãng tử đáp lại. Lại giọng ông nghiên cứu sinh Khoa:

– Tớ phải trả cậu bao nhiêu nữa?

– 120 rúp chẵn.

– Gay quá nhỉ. Kỳ này bà xã thúc gửi hàng ráo riết, lương hết nhẵn như chùi.

– Thôi, anh không cần nhăn nhó, tôi cho anh chịu.

Chàng lãng tử ngừng lại một chút rồi nói tiếp:

– Nhưng tiền ăn phải nạp cho sòng phẳng. Tuần này mỗi người hết 28 rúp.

Ông nghiên cứu sinh kêu thảng thốt:

– Sao lại những 28 rúp?

– Nghe đây, 84 rúp rưỡi, không phải mỗi người 28 rúp thì bao nhiêu? Cái phần nửa rúp đương nhiên tôi chịu cho.

– Còn ông Chính.

– Anh ngu quá…

Giọng anh chàng lãng tử rành rọt:

– Ông ta đã tới làm thuê cho mình, lại còn bắt nộp tiền ăn. Anh thấy đời nào có chuyện ấy không?

Anh Hải cười khanh khách:

– Đúng quá. Các ông anh toàn giỏi những lý luận trên trời dưới biển, luật sống tối thiểu thì không chịu biết. Quên, còn tiền công của bố già Chính, góp vào thanh toán luôn.

– Lão ấy đòi à?

– Phải, ông ta đòi trả ngay tức khắc.

Chàng lãng tử cười:

– Ông ta thích cầm chắc đồng rúp trong tay. Nào các vị, mỗi người hai rúp bỏ lên bàn cho tôi. Được rồi, lát nữa ta sẽ chứng kiến nụ cười của lão Grăngđê tái sinh. Ông ấy đang làm gì? Bát đĩa rửa sạch từ nãy cơ mà?

– Ông ấy đang giặt nốt hai cái áo Pantô của ông và tôi.

– Sao lại giặt? Phải chải xăng chứ?

– Đúng. Nhưng tôi bước vào phòng tắm đã thấy ông ấy đập bồm bộp, bọt xà phòng bắn tung tóe lên. Đành chịu chứ sao. Khi nào khô phải đem chải và hấp lại lần nữa.

– Đúng là mua việc.

– Lần trước ông ấy cũng làm cháy cái áo thun của tôi. Hàng Ý xịn hẳn hoi. Hôm nhờ cắt khẩu hiệu cũng không cắt nổi. Ông anh tôi cùng học trong trường Aôn bảo ông ấy lên lớp toàn ngủ gật. Nhưng về tới nhà, nhanh như cắt đi lùng mua hàng căngtin. Thứ nào quý, ông ấy mua được trước tiên. Có lẽ, khả năng vĩ đại nhất trong con người ông ta là khả năng đầu bếp.

– Phải, nhờ khả năng ấy ông ta chiếm được lòng cấp trên, nhờ được lòng cấp trên ông ấy nhảy lên cấp lãnh đạo.

Lúc ấy, có tiếng bước chân lẹt xẹt. Chắc của cậu Chính. Cậu thở hào hển, kêu:

– Khiếp, vắt hai cái áo nặng quá. Mỏi nhừ cả tay.

Chàng lãng tử cười.

– Một chiến công. Xin chúc mừng ông. Đây, sáu rúp tiền công, mời ngài cầm lấy.

Tôi nghe cậu hẹ hẹ, không rõ ra tiếng cười hay tiếng hắng giọng. Rồi, cậu bảo:

– Hôm nay các anh tiến bộ thật.

Chàng lãng tử hỏi.

– Tiến bộ gì?

– Không mở nhạc nhảy. Từ ngày tới đây mới có buổi tối yên tĩnh. Tôi cứ nghe thứ chát sình ma quỷ ấy là điên đầu. Chẳng hiểu hay ho ở chỗ nào mà các anh nghiện như nghiện thuốc lá?

– Ra thế. Trong con mắt ông, chúng tôi là lũ trai hư hỏng, phải không?

– Thời chúng tôi, không ai thích những thứ nhạc nhẽo trụy lạc như vậy.

– Ở cùng số nhà với bố mẹ tôi, có một ông phó giám đốc, cỡ tuổi gần như ông. Ông ấy mặc quần ống rộng, đũng rộng và dài. Không phải thứ quần bó chịt, làm nổi mông nổi đùi như lũ chúng tôi. Áo kiểu Tôn Trung Sơn gài khuy tận cổ, cũng không giống thứ áo xẻ bụng, xẻ nách in hình chim cò sặc sỡ như áo tụi tôi. Ông ấy được tiếng là nghiêm nghị. Mở miệng là nói lời giáo huấn. Đầu óc toàn nghĩ tới chuyện cao cả: Nào là tinh thần cách mạng, nào là ý thức tổ chức, nào là nghĩa vụ quốc tế và nghĩa vụ công dân. Số nhà tôi ở gồm sáu hộ, 27 nhân khẩu lớn nhỏ, không ai có bộ mặt quyền uy như ông ấy. Ông ấy có hai đứa con gái và một đứa cháu ngoại. Bà vợ kém ông ta vài tuổi, hai ngày một lượt leo lên xe con đi chợ, mắt chẳng bao giờ ngó xuống đám láng giềng. Rồi bỗng một hôm, chúng tôi đi đá bóng buổi trưa về, cả lũ tắm truồng lông nhông ngoài sân. Nghe có tiếng kêu vang trong nhà tắm công cộng. Một đứa giật cửa, nhưng cửa gài chặt. Mà tiếng kêu ú ớ bên trong cứ vẳng ra. Lũ chúng tôi bèn công kênh nhau, ghé mắt qua lỗ thông hơi sát nóc nhà tắm, nhìn vào. Ông phó giám đốc tôn kính đang ở trong đó, trần như nhộng, trên một con bé 14 tuổi. Con bé ấy vẫn ú ớ kêu, còn ông ta ông ta vẫn tiếp tục làm việc. Lũ mất dạy chúng tôi, thoạt đầu thích chí cười rinh rích. Hết thằng nọ tới thằng kia đổi nhau, xem trò vui. Nhưng con bé giãy giụa mãi, chắc nó đau. Ông ta bịt chặt miệng nó lại không thể kêu to. Đó là một con bé mắc chứng tâm thần. Nó học hết lớp năm thì phải bỏ về nhà. Nó cũng là một đứa mồ côi. Cha nó làm nghề lái tàu điện bị chứng hậu bối chết từ khi nó lên ba. Mẹ nó ở sát số nhà tôi, làm nghề bán dưa chua cà muối. Hồi nhỏ, lúc nó chưa mắc chứng tâm thần, chúng tôi vẫn chơi trò ú tim, trò nhảy dây, trò đá cầu với nhau. Nó không đẹp, nhưng mũm mĩm xinh xắn, lại thảo ăn. Có quả nhót, quả ổi nào cũng chia cho bạn. Lúc ấy tôi chợt thấy mình dã man. Tôi chợt nhớ rằng con bé bị hãm hiếp kia cũng 14 tuổi như mình, cũng chỉ là một đứa bé con, không có gì che chắn và bảo vệ, dù một mảnh chai sắc hay nắm đấm của một gã đàn ông thô bạo cũng chẳng đủ sức chống đỡ. Tôi không tham gia trò đùa nhẫn tâm ấy. Tôi chạy sang nhà bà hàng xóm, gọi bà Cứ đang thái dưa cải, nghe tin, thét lên như bị chọc tiết. Cứ thế, vẫn con dao nhọn trong tay, chạy sang…

Chàng trai ngừng lời. Không ai lên tiếng. Gian phòng im phăng phắc. Tôi chỉ còn nghe tiếng đồng hồ tích tắc kêu. Rồi lát sau chàng lãng tử hắng giọng nói tiếp.

– Thế đấy ông Chính ạ. Cái lão hiếp dâm ấy không tới sàn nhảy bao giờ. Chắc chắn cũng răn dạy công nhân xí nghiệp của hắn là nhảy nhót là trụy lạc, rằng thế hệ của hắn không bao giờ tham dự những trò vui hư hỏng như thế, rằng cuộc đời hắn chỉ là để phục vụ cách mạng cao cả cho tới hơi thở cuối cùng. Hắn cũng cùng quan niệm và sở thích như ông. Nói thế, tôi không muốn xúc phạm ông. Tôi biết ông không phải là kẻ hám gái. Nhưng những người như ông và hắn có gì đó rất giống nhau.

Cậu Chính hỏi, giật giọng.

– Anh nói cái gì?

Chàng trai đáp, bình thản.

– Ông cứ bình tĩnh. Và nếu ông định dọa nạt tôi ở đây thì ông sẽ phí công. Cho dù ông có tới tòa đại sứ nịnh hót, tố cáo, vu khống tôi đủ điều. Cái trò đó, nhiều kẻ đã diễn rồi. Hãy ngồi xuống ghế, uống đi một cốc kơvát, và tôi sẽ tiếp tục hầu chuyện ông.

Lại một khoảng khắc im lặng. Rồi giọng chàng trai cất lên.

– Chính những người như hắn hoặc như ông ra lệnh săn đuổi chúng tôi trên đường phố, cắt ống quần loe khi các ông không mặc quần loe, cắp ống quần tuýp khi các ông không mặc quần tuýp. Phẩm cách con người được các ông định khuôn bằng chiều rộng của ống quần. Nếu các ông mặc quần ống 23 thì 18 triệu thanh niên chúng tôi phải mặc ống quần cỡ 23. Chật hay rộng hơn đều là phản Đảng, phản quốc. Tôi không bao giờ quên được cảnh tượng ấy, khi tôi còn nhỏ, tôi đã nhìn thấy anh chị tôi và đám bạn của họ bị rượt đuổi, bị chặn đứng ở các ngả tư đường phố, bị soát xét hạch lạc như những kẻ trốn tù. Vẻ mặt nhớn nhác của họ, con mắt bạc nhược hay hờn căm của họ, những lời họ van xin hoặc gào thét phản ứng. Lúc ấy, tôi đứng nép vào chân cột điện, tôi nhìn họ và tay chân tôi run bắn. Dường như chính tôi cũng sắp bị lấy dao xẻ rách ống quần. Tại sao con người lại bị đọa đầy vô lý thế? Vết thương ấy không thành sẹo trong tim tôi. Nhát chém nào trong tuổi thơ cũng không thể lành. Tôi lớn lên. Và dần dần tôi chứng nghiệm rằng những con người từng có sức khống chế lũ chúng tôi như lão phó giám đốc kia hoàn toàn không giống hình ảnh kinh sợ và cao cả mà chúng tôi đã hình dung. Họ là những diễn viên đại tài. Họ định ra bao nhiêu niêm luật khắt khe. Nhưng trong bóng đêm, họ sống cuộc sống nhầy nhụa không đạo lý và luật tắc. Này ông Chính, ông vẫn cứ bảo thứ nhảy nhót của chúng tôi là trụy lạc. Đã bao giờ ông chứng kiến những cuộc nhảy nhót vô hình còn trụy lạc gấp triệu triệu lần thế không?

Cậu Chính đáp, giọng khô khan.

– Anh đừng nói tầm phào. Làm gì có những cuộc nhảy nhót vô hình?

Chàng lãng kử cười khe khẽ nói.

– Có đấy. Tôi đã chứng kiến vài lần. Những kẻ cao sang, sau một thời gian bày mưu tính kế hãm hại các đối thủ, chạy chọt, o bế quan trên, đã tới được cái đích của họ, một chức tước nào đó đủ cả quyền uy và bổng lộc. Đêm hôm cuối cùng của cuộc hạ sát ấy, họ ngồi hút thuốc lào sòng sọc hoặc đốt thuốc lá cho tới buổi sáng mà quyết định bổ nhiệm họ được đọc lên. Đêm ấy, chắc chắn tim óc họ sẽ nhảy nhót. Chúng tôi nhảy thì ôm bạn gái. Còn họ ôm cái bóng của chính mình, ôm cái ghế mà họ khao khát. Ấy là điệu nhảy vô hình mà tôi muốn nói. Theo ông, điệu nhảy ấy có trụy lạc hơn điệu nhảy của chúng tôi không?

– Tôi không nói chuyện ấy với anh. Các hiện tượng tiêu cực trong xã hội, cơ quan chúng tôi không có.

– Cứ tin là cơ quan ông không có. Vậy khi cơ quan ông không có, ông cũng không thèm để tâm tới các hiện tượng xã hội? Thế các ông làm gì?

Cậu Chính gay gắt.

– Anh lạ thật. Chúng tôi làm công tác tư tưởng.

Lúc ấy, có tiếng gõ cửa. Chàng lãng tử hỏi.

– Ai đấy? Kìa anh Khoa ngồi gần mở cửa xem ai?

– Thôi tớ đang viết dở, Hải ra hộ vậy.

Hải béo đáp.

– Được.

Tiếng bước chân anh ta huỳnh huỵch. Cửa kẹt mở. Giọng rụt rè của một cô gái.

– Cho em hỏi anh Khoa.

Hải hỏi.

– Cô tên gì?

Giọng đáp lại e dè.

– Em là Chương. Em ở Kiép.

– Chờ nhé.

Đoạn anh ta quay vào.

– Anh Khoa.

Tiếng ông nghiên cứu sinh thì thầm.

– Bảo tớ vắng nhà. Bảo cô ta đi đi.

– Được rồi.

Tiếng chân anh ta ngay đầu giường tôi nằm. Chợt, giọng chàng lãng tử vang lên.

– Khoan đã.

Hải dừng lại. Nghe tiếng anh ta thở ngay đầu giường tôi nàm. Rồi anh hỏi, ngạc nhiên.

– Có chuyện gì vậy?

Chàng lãng tử đáp.

– Chờ đã.

Rồi anh ta cười khảy và nói.

– Này anh Khoa. Anh đuổi một đứa con gái giữa lúc đên khuya dễ dàng như thế sao?

– Không đuổi thì để nó vào làm gì? Có cho nó ngủ nhờ cũng chẳng còn chỗ. Cậu treo nó lên đầu cậu được không?

– Nếu cần, treo cô ta lên đầu anh. Bất cứ người con gái nào anh chưa lừa được lên cái giường của anh đều có giá. Và ngược lại… Chí ít anh cũng phải có một chút lương tri chứ?

Khoa cười nhạt, phì một tiếng, đáp:

– Cậu ít nhời đi. Còn đủ thời gian lý luận.

– Tôi không tranh cãi. Nhưng anh phải để cho cô ta vào. Mười giờ đêm cô ta biết đi đâu?

Khoa quát.

– Cậu ra lệnh cho tôi phải không? Tôi là chủ căn phòng này.

Chàng trai cười khảy.

– Anh là chủ căn phòng này. Đúng. Nhưng tôi lại là chủ thứ khác có giá trị hơn. Nói chung, anh thích nghe những lời thô lỗ. Giờ, muốn sao?

Trong phòng im lặng. Chỉ còn nghe tiếng tích tắc của đồng hồ. Rồi, giọng ông nghiên cứu sinh nặng nề.

– Thôi được. Hải, gọi cô ta vào hộ tôi.

Hải bước ra khỏi cửa. Rồi quay vào oang oang nói.

– Biến rồi.

Chàng lãng tử bảo.

– Cậu đuổi theo cô ta. Chắc cô ta còn ở phòng trực.

Anh chàng to béo mở cửa, đi ra. Tiếng bước chân nặng nề mất hút dần ngoài hành lang. Căn phòng yên lặng. Không ai nói với ai nữa. Tôi lơ mơ như muốn ngủ lại. Nhưng chừng 10 phút sau, tiếng chân ồn ĩ của anh chàng to béo đã khua ngoài cửa. Anh ta vào, nói.

– Biến rồi. Tôi trễ thang máy. Xuống phòng trực, họ bảo cô ta vừa lấy giấy tờ xong. Chạy ra cửa không thấy bóng dáng ai. Có lẽ cô ta đã vớ được chuyến xe buýt cuối ngày.

Không ai nói gì. Chừng năm phút sau, anh chàng Hải béo lại lên tiếng.

– Thôi đi ngủ các vị. Mai tiếp tục cuộc chiến đấu. Được ngày nào vét ngày ấy không tới kỳ thi lại đâm đầu vào học.

Anh ta ngáp thật to rồi nói.

– Ối giời ơi, thế này mà ở bên nhà mọi người cứ nghĩ mình đi học nước ngoài là sung sướng lắm đấy. Thật là thân trâu cày ngựa cưỡi… Oàm oàm…

Anh ta lại ngáp thật to, nghe như tiếng gầm của một con hổ bị nhốt trong cũi sắt. Sáng hôm sau, khi tôi thức dậy, căn buồng trống vắng. Nhưng lúc tôi quờ tay, làm rớt vật gì đó xuống sàn, anh chàng da ngăm chợt xuất hiện ở cửa thông sang khu vực phụ. Anh ta hỏi.

– Tỉnh rồi hả?

– Vâng.

Mặt và đầu anh ta ướt ròng. Chắc vừa ở trong phòng tắm. Hôm nay anh ta mặc sơ mi carô nâu nhạt và quần jin nhung. Tôi chợt nhớ một hình ảnh đã gặp. Tôi ngơ ngác. Anh ta nhìn tôi, tủm tỉm cưới.

– Có phải cô đang nghĩ xem đã gặp tôi ở đâu, phải không?

– Sao anh biết?

– Tôi đang học nghề phù thủy hiện đại. Nói đúng hơn, tôi đang muốn thử nghiệm khả năng ngoại cảm của mình. Cô đã nhớ ra chưa?

Tôi lắc đầu.

– Chịu.

Chàng lãng tử cười.

– Trí nhớ tồi quá. Hôm khai trường, cô mặc chiếc áo đầy những dây và khóa cài màu tím nhạt, và đi đôi guốc trắng vẽ hoa.

Tôi bất chợt reo lên.

– À! tôi nhớ rồi.

Anh ta ở nhóm sinh viên lớn đã đùa cợt tôi.

– “Ai vẽ cho em kiểu áo đẹp thế?”

Nhưng dạo ấy, anh gầy hơn bây giờ, trông như cây lau.

– Tôi là sinh viên khóa Sử. Lúc cô vào, tôi vừa học xong một năm ngoại ngữ, chuẩn bị sang đây.

– Anh vẫn học?

– Tất nhiên. Phi vụ này là công việc của tụi tôi. Trách nhiệm với gia đình. Còn cô tại sao bỏ học?

– Mẹ tôi bị tai nạn giao thông, cụt chân. Tôi đành bỏ trường để kiếm sống.

– Làm gì?

– Thợ dệt.

Anh ta lắc đầu.

– Còm nhom thế chịu sao được rét. Kiếm được miếng cơm ở xứ này cũng nhọc nhằn lắm cô bạn ạ.

– Tôi biết. Nhưng không còn cách nào khác.

Anh ta xoa mạnh chiếc khăn mặt lên đầu, đôi mắt thờ thẫn nhìn đâu đó. Mắt anh ta màu hạt dẻ, mơ màng. Rồi chợt thở một hơi mạnh, hỏi.

– Còn ông Chính là thế nào với cô?

– Cậu ruột.

Chàng trai nhún vai.

– Thế à?

Tôi im lặng. Anh ta lại hỏi.

– Cô lên chơi với ông cậu? Nhưng tôi thấy cô còn đang ốm.

– Tôi vừa ở bệnh viện về được 10 hôm. Cậu ấy điện cho tôi lên.

– Điện thế nào?

– Điện là: “Cậu ốm. Hằng lên ngay.”

Anh nhếch môi cười. Lúc ấy tôi thấy như chàng lãng tử Yến Thanh hiện về, với tất cả vẻ kiêu mạn trẻ trung đầy quyến rũ. Anh thong thả vắt khăn mặt lên ghế, kéo ghế tới gần giường, ngồi đối diện với tôi.

– Cô biết ông cậu của cô gọi cô lên Mátxcơva làm gì không?

Tôi không đáp, nhìn anh chờ đợi. Anh nói tiếp:

– Ông ta chuẩn bị đóng hòm gửi biển. Việc ấy, cần phải giỏi tiếng Nga và giỏi chi tiêu. Cả hai thứ ông ta đều kém.

Chàng lãng tử ngừng lại, suy ngẫm hồi lâu rồi tiếp.

– Đám người như thế, tôi soi kính lúp vào tận ruột họ. Nhưng dù sao, tôi cũng không thể hiểu được, với một cô gái mảnh khảnh yếu ớt như cô.

– Boong…

Chuông ngân nga. Đã chín giờ rưỡi. Chàng lãng tử nói.

– Ông ấy đi ra cửa hàng thực phẩm sắp về.

Rồi móc trong túi một xấp bạc, đưa cho tôi.

– Cô cầm lấy.

Tôi kêu lên.

– Không được. Sao anh kỳ cục thế?

Chàng lãng tử nhếch mép cười.

– Không kỳ cục đâu, cô bạn. Nghe tôi nói đã. Cô không thể ở đây giúp ông cậu gửi hàng vì việc đó tốn sức và tốn tiền. Mặt cô xanh mét, và tiền chắc cũng không dư dả. Lát nữa, khi ông ta ngỏ lời nhờ cậy, cô hãy đưa nắm tiền này ra và nói: Cháu phải về làm việc, không thể ở lâu. Cháu giúp cậu tiền cước.

Tôi lắc đầu.

– Không phải vậy.

Anh chàng quả quyết.

– Không phải, cho cô chặt đầu tôi. Cứ cầm lấy. Ông ấy về ngay bây giờ.

Dúi nắm tiền vào tay tôi xong, anh ta quay đi luôn. Tôi nhét số tiền ấy dưới gối. Chàng lãng tử pha một cốc sữa nóng với mấy viên trợ lực đưa cho tôi.

– Uống đi.

Tôi cầm cốc sữa, không dám nói lời cảm ơn vì thấy rõ sự nhạt nhẽo của ngôn từ. Uống sữa xong, người tôi nóng dần lên, mồ hôi rịn ra hai bên thái dương và trên trán. Chừng năm phút sau, lúc tôi nằm trùm chăn, chàng lãng tử cạo râu trước gương, cậu Chính về. Ném làn thực phẩm xuống sàn, cậu hỏi.

– Anh thấy con cháu tôi nó tỉnh chưa?

– Quái lạ, đã uống thuốc mà cứ sốt li bì. Lẽ ra, nó phải dậy rồi mới đúng.

– Chỉ có mấy viên cảm làm sao đủ trị sốt. Ông phải cho cô ấy ăn uống gì nữa chứ? Không ăn, mẻ cũng chết.

– Ờ ờ… Tí nữa tôi sẽ nấu mì cho nó ăn.

Tôi nghe chàng lãng tử thu dọn đồ vật gì đó, rồi chừng năm phút sau, anh ta bảo cậu Chính:

– Tôi đi. Một giờ tôi về.

Cánh cửa mở rồi đóng, rung sàn. Tôi ngồi lên. Cậu Chính mừng rỡ bảo.

– Cháu khỏe rồi hả? Có ăn gì không?

– Cháu không muốn ăn gì.

– Ừ, tới bữa ăn cả thể cũng được.

– Bao giờ cậu về trường?

– Ngày mai.

– Cậu gọi cháu lên đây có việc gì?

Cậu gật đầu ờ ờ… Rồi bước tới gần tôi cậu nói:

– Cậu sắp về, chỉ hai tuần nữa thôi. Cháu còn ở lại lâu, cháu có khả năng làm kinh tế. Cậu muốn nhờ cháu giúp cậu…

Tôi lặng im, cậu tiếp.

– Khi đi, mẹ mày dặn: khó khăn gì đã có con Hằng. Cháu giỏi ngữ. Cậu chẳng biết tiếng tăm.

Tôi vẫn ngồi im, cậu hắng giọng, lại tiếp.

– Hàng họ cậu đã chuẩn bị hòm. Nhưng gay go nhất là khoản cước.

Tôi lại muốn nằm, tôi muốn kết thúc nhanh chóng. Tôi rút nắm tiền dưới gối.

– Đây, cậu cầm lấy.

Cậu nhìn, ngần ngừ hỏi:

– Bao nhiêu? Sao nhiều thế?

– Cậu cứ cầm lấy, cháu chưa đếm.

Cậu cầm nắm bạc, bắt đầu đếm. 134 rúp. Cậu xếp nắm tuyền thứ tự: tờ 50 rúp ngoài, tới tờ 25 rúp bên trong, tới tờ 10 rúp, năm rúp, một rúp. Một công việc cẩn trọng và say mê. Khuôn mặt cậu hiện ra lồ lộ trước mắt tôi: đường lượn của quai hàm, tràng mày, đường cong đuôi mắt, sống mũi. Những dáng nét quen thuộc từ phút giây gặp gỡ đầu tiên. Phút giây ấy, tôi đã yêu cậu với một tình yêu sung sướng.

– A à à…

Cậu bỗng buông tiếng thở dài khoan khoái, đoạn bỏ số tiền đã xếp gọn ghẽ vào túi áo. Tôi trùm kín chăn để khỏi nhìn thấy cậu. Trong bóng tối, hình ảnh một ngày quá vãng trở về.

Sớm hôm ấy, tôi thức dậy sớm. Tôi pha sữa cho mẹ uống, giặt giũ mớ áo quần bẩn, mua hoa quả, bánh trái và đặt sẵn những dụng cụ cần thiết trên bàn. Xong xuôi tôi gửi mẹ cho mấy người nuôi bệnh nhân cùng phòng để đi báo tin cho cậu Chính. Mẹ tôi đã yêu cầu khẩn thiết từ buổi tối đầu tiên tôi vào ngủ trong bệnh viện. Nhưng tôi khất lần cho tới hôm nay. Mẹ bảo.

– Chủ Nhật, thế nào cô cậu ấy cũng ở nhà.

– Vâng, mẹ cứ yên tâm. Nhưng mới có sáu giờ sáng, chưa thể đi ngay được. Ở những khu tập thể, họ thường ngủ muộn.

Mẹ lặng im, nhưng nét mặt bồn chồn. Sáu giờ 15, tôi xách làn đi. Trước hết, ra cổng viện, tôi kiếm hàng xôi lúa làm một đĩa đầy rồi mới thủng thẳng dắt xe đi. Tới Quốc Tử Giám, gặp gánh xiếc miền Nam có biểu diễn trò xe leo vòng, tôi lại ghé vào xem một lúc. Tôi tới nhà cậu Chính lúc non 9 giờ. Cậu đang buộc lại cánh cửa chuồng nuôi thỏ. Thấy tôi, cậu cười.

– A, cái Hằng. Mẹ cháu đâu?

– Mẹ cháu bị xe chẹt.

– Có làm sao không?

– Cụt một chân.

– Thế còn là may. Hôm qua ở đường Triệu Việt Vương có thằng bé 15 tuổi bị xe chẹt cưa cụt cả hai chân. Không chịu chấp hành nghiêm chỉnh luật lệ giao thông. Sống mà vô tổ chức vô kỷ luật thì thế nào cũng chết, chẳng sớm thì muộn. Thôi, vào nhà đi. Cậu rửa cái tay đã.

Tôi vào nhà. Cậu Chính thu dọn kìm búa, mấy đoạn giây thép, vài cái đinh rồi đi rửa tay. Mợ Chính đang bận gì đó trong buồng. Thấy tôi, mợ ló đầu ra, đôi mắt sáng rỡ.

– A, Hằng đến chơi hả cháu? Mẹ đâu?

Tôi chưa kịp trả lời, cậu Chính đã nói vọng vào.

– Mẹ nó bị xe chẹt, cụt chân rồi.

Mặt người đàn bà đần ra, đôi mắt tắt ngấm. Mợ ta lắp bắp.

– Thế hả?… Thế hả?

Sau đó, mợ bảo.

– Ngồi chơi với cậu nhé, mợ đang tìm cho em Tú chiếc áo len cũ.

Rồi mợ thụt đầu vào trong buồng. Cậu Chính lau khô tay, tới ngồi trước mặt tôi.

– Mẹ mày nằm viện nào?

– Mẹ cháu nằm trong viện Bạch Mai. Mẹ cháu có ý nhắn cậu từ thứ tư tuần trước, nhưng cháu bận.

Tới đó cậu lặng ngắt. Tôi cũng lặng ngắt. Để ý nhìn, gian phòng của cậu đã khang trang hơn xưa. Nơi đặt chiến trạn gỗ đã thay bằng chiếc tủ lạnh hiệu Xatatốp mới tinh. Trên nóc tủ đứng, đặt một chiếc máy truyền hình Nhật 19 inh. Máy phủ tấm lụa in hoa sặc sỡ. Sau một lát im lặng, Cậu Chính cất tiếng gọi.

– Thành ơi.

Từ trong buồng có tiếng đáp.

– Có chuyện gì, anh Chính?

– Ra đây tôi bàn tí việc.

Trong buồng có tiếng đáp.

– Thì cứ nói, đang dở tay tìm cái áo cũ cho thằng bé.

– Cần một ít tiền gửi vào cho chị Quế. Nhà mình có không?

Mợ Thành đáp vọng ra:

– Có hay không anh còn phải hỏi hay sao? Lương kỳ một trả hết tiền căngtin rồi, vừa xà phòng, mì chính vừa xăm lốp xe đạp và hai cái xoong nhôm.

– Rút tiết kiệm.

– Anh thật quan liêu. Sổ tiết kiệm nhà mình là loại có định kỳ, năm năm nữa mới rút ra được. Còn hàng tháng lấy lãi phải tới mồng 7 tháng sau.

– Có vay tạm ai được không

– Đoạn ấy thì chịu. Xưa nay mình chẳng vay ai một xu.

Cậu Chính thở dài. Đoạn, cậu làu bàu.

– Có cái gì đem bán đi nhỉ?

Cậu nói nhỏ, như hụt hơi. Nhưng mợ Thành nghe thấy. Mợ lao từ trong buồng ra, tay cầm một chiếc áo len trẻ con màu đỏ, có lẽ là hàng viện trợ chiến tranh. Mợ thảng thốt nhìn chồng.

– Bán cái gì?

Cậu Chính lằm bằm.

– Ấy là tôi nói thế.

– Chiếc Xalatốp kia là tiền của tôi, tôi mua, trong đợt tham quan Liên Xô đấy nhé. Nhà này, anh chỉ mua được cái TV thôi. Anh có bán thì bán. Nhưng bán thì con anh mất xem.

Tôi lẳng lặng bỏ ra về. Cả hai vợ chồng đang cúi gằm mặt suy tính. Có lẽ, họ không nhìn thấy tôi. Hoặc nhìn thấy nhưng họ cố tình giả tảng?

Tôi trở lại phòng bệnh của mẹ tôi lúc gần ngọ. Mẹ đang nằm, mặt quay ra cửa. Thấy tôi, mẹ cười tươi.

– Hằng về hả con?

Nụ cười tươi tắn trên vành môi nhợt và gương mặt trắng như giấy ngâm. Hai mắt mẹ hau háu nhìn tôi, có ý chời đợi, phấp phỏng. Ánh mắt ấy là ánh mắt của con chó trung thành chờ âm huệ ban thưởng. Tôi nhói lòng. Tôi quay đi. Mẹ có ý nhắc.

– Thế nào còn?

– Cậu Chính đi công tác mẹ ạ.

Mẹ hỏi, mụ cười vẫn ngời sáng trên môi.

– Cậu đi công tác xa hay gần hở con?

– Xa.

– Thảo nào, hôm qua mẹ nghe đài nói có đoàn đại biểu Liên Xô vừa sang trao đổi với Đảng mình về công tác tư tưởng. Chắc cậu con đưa đoàn ấy đi tham quan các tỉnh miền Nam.

– Vâng.

Có một bàn tay đập rất mạnh vào vai tôi.

– Dậy, dậy đi Hằng. Cậu nấu trước bát mì, ăn đi cho mau khỏe.

Tôi co mép chăn, để cậu khỏi giật ra được, và tôi đáp.

– Không, cháu không muốn ăn, cậu để cho cháu nằm.

Trong bóng tối ấm áp của tấm chăn, tôi được tĩnh lặng Tôi quên mọi gương mặt, tôi xóa mọi âm thanh. Trí nhớ như căn phòng hoang vắng. Và tôi chìm vào giấc ngủ.

Hôm sau, chàng lãng tử ngỏ ý đưa tôi ra ga thay cậu Chính. Không một phút đắn đo, tôi gật đầu ưng thuận, dù trong thâm tâm tôi biết rắng người con gái cư xử như thế thật chẳng hay ho gì. Tôi không muốn trước khi bước lên tàu, chịu đựng một cuộc hành trình buồn tẻ lại phải nhìn thấy ông cậu ruột. Chàng lãng tử đã mua sắm đồ ăn đường và mua vé cho tôi. Anh cũng mua cho anh tấm vé vào ga để đưa tôi ra tận kè đá chờ tàu. Tôi thấy anh ta nói tiếng Nga giỏi chẳng kém gì người đàn ông tóc muối tiêu đã đưa tôi tới căn buồng của ông nghiên cứu sinh Sinh Hóa. Với ngữ điệu đặc sệt Nga, nước da rám đen và gương mặt thanh tú anh chàng khiến cho nhiều cô gái Nga chú ý. Họ ném theo những ánh mắt hoặc vội vã thầm lén, hoặc công nhiên và dai dẳng. Chàng lãng tử giữ vẻ mặt phớt tỉnh Ănglê. Tôi thầm cười anh ta vì dẫu sao, anh cũng chỉ hơn tôi vài tuổi. Chúng tôi đứng bên nhau chờ tàu, nói đủ thứ chuyện, trừ chuyện về bản thân. Giờ từ biệt, cuối cùng cũng tới. Tôi xiết chặt tay anh.

– Cảm ơn anh. Cảm ơn anh rất nhiều.

Chàng lãng tử cười.

– Đừng, cảm ít thôi còn để dành cho lần sau.

Mắt anh lóe lên tia lửa tinh nghịch, ranh mãnh. Tôi bật cười theo. Anh hỏi.

– Có gửi gắm gì cho cậu không?

– Không.

Rồi sau chút đắn đo, tôi hỏi.

– Cậu ấy làm thuê cho các anh từ bao giờ?

– Mấy tháng nay. Trước, chúng tôi thuê một ông khác. Ông ấy về nước và giới thiệu ông Chính. Hai người này có quen biết nhau. Ở đây chúng tôi coi là việc hợp lý hóa lao động.

Tôi lắc đầu.

– Dù sau, tôi cũng không thể hiểu. Ngày hôm qua, sự việc diễn ra đúng như anh dự đoán.

Chàng lãng tử đưa tay kéo món tóc xòa xuống mắt tôi lên, rồi nói.

– Người ta nên hiểu biết hết mọi sự trên đời cô bé ạ, dù cho là sự thực đau buồn. Ông cậu của cô giống như một loạt người tôi từng gặp. Họ là những kẻ đã phung phí gần hết đời sống của mình vào việc vẽ nên một thiên đường dưới trần ai, nhưng trí khôn ngắn ngủi của họ lại không đủ để hiểu thiên đường ấy ra sao và con đường nào đưa tới nó. Vì thế khi biết công việc ấy hão huyền thì họ hối hả tìm kiếm những miếng ăn thực, nhặt nhạnh những hạt ngũ cốc thực trên mảnh đất bùn lầy, Họ làm việc ấy, bất kể bằng cách nào. Họ là tấn thảm kịch cho chính họ, tấn thảm kịch cho thế hệ chúng ta.

Tàu đến, anh xiết chặt tay tôi lần nữa, rồi xách túi đưa tôi lên toa. Khi tôi ngồi vào chỗ, anh trở lại bờ kè. Ở đó, anh đứng chờ cho con tàu tư từ lướt qua và hình bóng anh nhòa dần sau ô cửa kính.

CHƯƠNG 21

Đường về, sao dài quá. Con tàu cứ đi, và nhịp điệu buồn tẻ của nó gieo vào tâm trí tôi. Thành phố đã lùi về phía sau, rừng bạch dương loán lên màu sa tanh trắng. Những vòm lá mềm rũ, đung đưa uể oải, lười nhác khiến cảnh vật như được dệt bởi vô số giấc mơ thư nhàn. Trên ngọn cây, lá còn xanh ướt. Nhưng ở tầng dưới, lốm đốm đã có những chiếc lá vàng. Chẳng bao lâu nữa, các đám lá vàng sẽ lan ra. Rừng cây được tắm trong một cơn mưa rực rỡ và xao động. Lúc ây, cả bầu trời, cả mặt đất mênh mông đều trở thành những tấm gương, phản quan thứ nhan sắc kỳ bí mãnh liệt của cây cối mùa thu. Những rừng cây Nga, rừng bạch dương, rừng tùng, rừng hoàn diệp liễu… với các màu đậm nhạt uyển chuyển pha trộn giữa vàng và đồng thau, tạo nên vẻ đẹp không gì thay thế được ờ nơi đây… Vẻ đẹp xứ người… sau cái mùa lộng lẫy ấy là tuyết trắng. Tuyết bạt ngàn. Cái giá buốt khủng khiếp của mùa đông bám quanh vành tai, chui trong găng tay, vây bọc chúng tôi bằng một tấm lưới chắc chắn. Con đường từ khu cư xá tới nhà máy rất dài. Và tuyết ùn ùn ở những chỗ đỗ xe. Sau những giờ đứng máy căng thẳng, mệt bã người vì tiếng ồn của cỗ máy chuyển động, vì quãng đường di động, vì làn không khí vẩn bụi bông… chúng tôi trở về căn phòng của mình. Bữa cơm tối được chờ đón như một niềm hạnh phúc cỏn con, sự bù trả cho một ngày lao động. Trong bữa cơm ấy, phải tính thật chính xác số tiền bỏ ra mua bơ, mua phô mai, mua thịt… sao cho đủ sức làm việc, sao cho khỏi ngã quỵ trên những ngả đường băng giá. Ngoại trừ phần ấy, là phần dành dụm để gửi về nuôi người ở nhà…

– Xình xình xình….

Nhịp điệu buồn tẻ của con tàu tốc hành rót bên tai. Sự xô lắc êm nhẹ của nó ru tôi vào giấc ngủ. Tôi lấy tấm khăn len của bà Vêra, choàng qua vai. Rồi tựa đầu vào thành ghế. Bên tôi, người đồng hành cũng đã trùm chiếc áo khoác nhẹ bằng vải simili trắng nhạt lê, nhắm mắt. Đó là một người đàn bà trạc ngoại tứ tuần, gương mặt đẹp tàn phai với những nếp nhăn hằn dưới đuôi mắt và hai khóe mép. Bà ta rất diện. Vẻ đơn côi. Tôi tin chắc bà ta sống độc thân. Có lẽ, giờ đây trên một phần ba trái đất, ngập tràn những người đàn bà độc thân. Tuy thế, sự ít lời của bà ta đem lại cho tôi không ít điều thú vị. Tôi cũng đang cần yên tĩnh… Chúng tôi im lặng ngồi bên nhau, im lặng ngắm cảnh vật bên đường, và bây giờ im lặng chìm vào giấc ngủ…

Khi tôi thức dậy, đã quá nửa đêm. Người đàn bà đồng hành thức trước tôi, thay bộ váy áo khác. Lúc lên tàu, bà ta mặc một chiếc sơ mi kẻ ô xám có cầu vai và túi lớn trước ngực, váy trắng hàng tít xuy. Giờ, bà tay mặc một chiếc váy áo liền thân cắt bằng sa tanh dày màu tím đỏ. Nhiều đường đăng ten màu hồng chạy nhẹ quanh cổ áo xếp thành hình lượn sóng trên bộ ngực nở nang, đã sệ xuống vì thời gian. Tóc bà cũng đã được chải cẩn thận, quấn giải băng nhung tím, điệp với màu áo. Trên gối người đàn bà trải tấm khăn ăn dùng lúc đi đường, bằng vải trắng thêu, khá rộng. Bà ta đang ăn bánh bì nhỏ với phô mai Hà Lan và dồi.

– Xin mời.

Thấy tôi ngồi dậy, bà ta cất tiếng mời.

– Cảm ơn. Tôi cũng đã chuẩn bị đồ ăn theo.

Tôi đáp, cuốn tấm khăn của bà Vêra, bỏ vào túi du lịch. Rồi tôi vào phòng vệ sinh. Bồn rửa mặt nhem nhếch, vòi nước còn ri rỉ chảy. Có lẽ hành khách nào cẩu thả vừa từ đây đi ra. Tôi rửa mặt, thay quần áo. Một bộ đồ màu xám nhạt có pha từng mảng trắng tang nhã nhưng đã lỗi mốt từ lâu. Tuy nhiên, mặc một bộ áo quần lỗi mốt nhưng sạch sẽ còn hơn mặc bộ đồ hợp thời trang mà nhàu nát bẩn thỉu. Đi đường, dù tàu có hiện đại, tiện nghi đến đâu, cũng không tránh được bụi bặm. Tôi ngắm mình trong gương. Sau giấc ngủ ngon, thần sắc đã khá hơn. Rửa chân tay cẩn thận, tôi trở về chỗ ngồi, giở túi thức ăn đường ra. Chàng lãng tử đã mua cho tôi. Có lẽ, vì cái khoảnh khắc gặp gỡ tại sân trường đại học năm xưa mà anh ta chú ý tới một cách nhiệt thành như thế. Trong túi có một gói sandwich, một hộp các tông đựng bánh ngọt. Trên bìa, vẽ mấy cây nấm nâu được đắp bằng sô cô la. Bên trong là bánh kem nhỏ, hình tròn, trên mỗi chiếc bánh dấp nổi một cây nấm bằng sô cô la hệt như hình vẽ. Một thứ bánh ngọt xa xỉ, quá xa xỉ so với cuộc đời công nhân xuất khẩu chúng tôi. Một gói bánh trứng lớn, bên ngoài bọc giấy bóng mờ. Năm thanh sô cô la hiệu Sport. Tôi mở túi, lần lượt đặt từng thỏi lên bàn. Rồi, tôi ăn miếng sandwich. Đoạn, tôi mời người đàn bà bánh trứng với bánh kem nhỏ. Bà ta gật đầu:

– Cảm ơn…

Rồi đưa những ngón tay trắng mũm mĩm lấy bánh ngọt ăn. Bà có vẻ khoái những đồ ăn ấy. Nhưng trong ánh mắt nhìn tôi ẩn giấu nỗi kinh ngạc: – Cô mà dám mua những thứ này sao?…

Ánh mắt bà ta nói lên điều đó. Tôi lẳng lặng ăn, gạt những vụn bánh vào mảnh giấy để ném vào thùng rác. Rồi tôi bóc một thanh sô cô la:

– Xin mời.

Lần nữa, người đàn bà đáp:

– Cảm ơn.

Lần này, kèm theo một nụ cười. Xong bữa, tôi thấy khát. Chàng lãng tử đã quên mua cho tôi một chai nước có ga hoặc nước khoáng đem theo. May sao, một người đàn bà mặc áo tím có cả một túi hoa quả và một bình sữa ướp lạnh trong chiếc giỏ đan bằng sợi ni lông giả cành hoàn diệp liễu. Chúng tôi uống thỏa thuê, ăn trái cây rồi người đàn bà rút một quyển truyện trinh thám trong túi ra đọc. Tôi ngồi dán mũi vào cửa kính, nhìn bên ngoài… Cứ thế, cho đến lúc xuống ga. Chúng tôi chào nhau, chúc sức khỏe rồi mỗi người đi mỗi ngả. Lúc ấy, khoảng hai giờ ba mươi chiều, các cửa hàng mở cửa, người ra vào tấp nập. Tôi sực nhớ cần mua món gì đó khả dĩ làm quà cho cho bà Vêra, với hai cô bạn cùng phòng, túi thức ăn của chàng lãng tử còn lại là đủ. Nhưng với bà gác dan tốt bụng…

Tôi lượn đi lượn lại mãi trước các quầy hàng, sau cùng quyết định mua một chai cô nhắc Nga mười rúp. Túi tiền của tôi chịu được món quà ấy. Vả chăng, tôi biết những người đàn bà cô đơn, lúc trở về già thường thích uống rượu một mình…

Mua xong, tôi thả bộ dọc theo cửa hàng, tới công viên. Qua công viên này tới trạm xe buýt đi về khu cư xá nhà máy dệt. Gọi là công viên, kì thực đó chỉ là một khuôn viên nhỏ so với các khuôn viên đầy rẫy trong những thành phố nước Nga. Nhưng bù lại, nó có vẻ hoang dại lạ lùng. Dường như những người làm vườn ở đây quanh năm bị thần Lưu Linh rủ rê vào quán rượu. Họ đã bỏ cuốc xới cỏ, dao kéo cắt xén cây trong xó xỉnh một quán rượu nào đó và không tìm thấy. Khắp khuôn viên, cỏ cây, hoa lá, dây leo, bụi rậm mặc sức chen chúc, mặc sức thả phóng nguồn sinh lực tràn trề. Bên những cây lững thững tán lá xanh là những dây leo lòng thòng thả xuống những chùm hoa tím, những vòi dây mềm mại phủ đầy lông. Giữa những bồn hoa, cỏ kim và cỏ tầm ma ngất nghểu vẫy gió. Trên các luốn đi rải sỏi, thi thoảng lại có một đám cỏ mọc xuyên qua lớp sỏi dày, vươn lên đâm mầm nhọn và cứng của chúng. Dương xỉ và rêu cùng bám từng đám quanh các bồn đá trắng hoặc đá hồng, trước đây người ta dùng trồng loài cây không hoa, nhưng lá xoăn màu đỏ…

Tôi đi tắt qua công viên, vừa để rút bớt một đoạn đường, vừa ngắm cảnh. Khuôn viên này là nơi chúng tôi thường rủ nhau tới chơi. Những chiếc ghế gỗ cũ ải, chìm lút trong đám cỏ rậm kia lũ chúng tôi thường ngồi suốt buổi chiều chủ nhật, sau khi uống nước kơ-vát và chung tiền mua hai xâu thịt cừu nướng. Người đi trong công viên không nhiều, không vội vã, họ cùng bước những bước trễ nải như tôi. Chợt, bọn họ ngoái cả về chiếc kiot bán văn hóa phẩm và vật lưu niệm ngay giữa ngã tư đường, dưới một vòm cây lớn. Trong ánh mắt họ, tôi đọc thấy nỗi tò mò lẫn sự kính nể. Các cặp trai gái thôi không trò chuyện, im lặng đưa mắt nhìn. Những người lỗ mãng hơn thì đứng hẳn lại, giương mắt ngắm nghía. Bất giác, tối cũng lây nỗi tò mò ấy. Tôi quay về phía kiot. Ở đấy, khoảng sân lát đá trắng, một nhóm thanh niên Nhật đang đứng trò chuyện. Họ còn trẻ, cũng trạc tuổi như tôi. Ba chàng trai, hai cô gái. Chàng trai cao nhất vừa từ kiot bước ra, khẽ nhún vai nói gì đó với cả bọn. Cử chỉ đó như báo rằng anh ta không tìm được vật đáng quan tâm trong cái kiot nhỏ bé, sơ sài. Anh ta cao tới một thước bảy lăm, không khác biệt bao nhiêu chiều cao trung bình của người phương Tây. Sống mũi anh ta cũng thẳng. Nhưng mắt vẫn là thứ mắt của châu Á. Hai anh chàng kia thấp hơn. Họ hơi giống nhau cả về chiều cao lẫn khuôn mặt. Nhìn họ, thấp thoáng hình ảnh của các võ sĩ karate trên các áp phích quảng cáo của thập kỷ năm mươi. Tuy thế, họ cũng đẹp. Cả ba người mặc đồng phục trắng, cà vạt xám. Hai cô gái xấu hơn. Cả hai cô đều mặc váy ngắn, áo vét thả vạt bên ngoài. Tóc cắt bằng. Mỗi cô đeo một chiếc vòng nạm kim cương. Mỗi cô cầm một chiếc ví màu kem nhẹ. Nhìn mặt những người trai trẻ ấy, thấy họ tự tin lắm. Họ không để tâm tới sự chú ý của đám đông xung quanh. Có lẽ với họ: Sự chú ý hay ngưỡng mộ của đám đông là đương nhiên. Họ nói với nhau khe khẽ, cười cũng khẽ như thế, cái nhìn giữa hai mi mắt hẹp thật bình tĩnh và an nhiên. Làn da họ hồng hào, trơn bóng. Làn da của những người no đủ… Người Nhật, dường như chỉ cái tên gọi quốc gia họ đã là tấm giấy bảo lãnh cho quyền tự hào… Dường như chỉ cái tên ngắn ngủi ấy, là tấm thẻ tùy thân cho họ bước tới bất cứ xó xỉnh nào trên trái đất một cách ung dung thanh thoát. Có gì khác biệt giữa họ và chúng tôi?… Và cũng ngay lúc ấy, trong trí nhớ của tôi hiện lên hàng trăm những khuôn mặt bạn bè, những trai tráng thế hệ chúng tôi. Những gương mặt bị nỗi lo âu làm cho cằn cỗi tiều tụy, cau có, bụi bặm… Những gương mặt nhớn nhác vì sợ hãi. Biết bao nhiêu nỗi sợ hãi có thể xảy ra… Nỗi sợ không mua được hàng hóa về, nỗi sợ một ông bố già hay một bà mẹ già có thể lao lực hoặc ốm nặng trong thời gian chờ đợi món tiền viện trợ còm cõi của đứa con, nỗi sợ một vị quan chức nào đó trong nhà đại sứ… Những gương mặt tàn úa, ủ dột vì suy tính. Suy tính món tiền đủ duy trì sự sống và món tiền nuôi dưỡng người thân. Suy tính thù lao công của một ngày hái táo hay một ngày quét dọn trên các toa tầu. Suy tính phương tiện mưu sinh cho cuộc sống tương lai, tương lai bấp bênh như sa mù trên mặt biển… Trên đường phố, gương mặt ấy không thể nào hòa trộn với những gương mặt khác, những gương mặt của một nhân loại an hưởng, hòa bình, hạnh phúc và tự do… Vầng trán hai mươi hằn lên những nếp nhăn, mái tóc đen đổ xuống quầng mắt xanh tím. Cái nhìn đăm đắm sâu thẳm. Vẻ quyết liệt thô bạo, man dại khi tranh giành trước các quầy hàng.. Nỗi mặc cảm tủi hổ trước ánh mắt người xứ lạ. Cuộc vồ xé tâm can không lúc nào ngơi…

Tôi đưa mắt lần nữa liếc nhìn đám người Nhật. Bòn họ có gì khác với chúng tôi?… Nếu như có kiếp luân hồi, chắc chắn kiếp trước không có gì đảm bảo họ có phẩm chất trội bật. Cả về trí thông minh, cả lòng kiên nhẫn, cả sự chịu đựng mà đám dân châu Á dư thừa. Nhưng số phận đã ưu đãi họ. Họ đã được đầu thai dưới một mái nhà bằng an, ít bão gió…

Đã tới khúc đường rẽ. Ở đây các bụi gai trổ đầy hoa. Hoa lấm tấm xanh màu ngọc lưu li. Tôi vượt qua bụi hoa, bước xuống các bậc thang gỗ. Những bậc thang này đã được làm lâu lắm. Phần giữa mỗi phiến gỗ, vết chân người qua lại mài mòn trũng như trái cây bị chim khoét. Hàng lan can hai bên có trổ hoa văn. Nhưng đường hoa văn đã mòn. Ngay ở bậc thang cuối, một con đường trải nhựa dẫn tới trạm xe buýt. Đã thấy đám khách chờ…

Kể cả thời gian đứng chờ, lẫn thời gian xe chạy, hai mươi bảy phút sau tôi đã về tới khu cư xá. Trong gian sảnh, bà Vera ngồi lừng lững như trái núi. Đôi que đan ngoáy nhoay nhoáy trong tay. Bà lại đan. Lần này là một chiếc áo khoác. Tôi vui vẻ chào bà và rút chai cô-nhắc ra:

– Cảm ơn bà Vera, không có chiếc khăn của bà, chắc cháu chết rét trên tàu… Đây là quà của người đi xa…

Tôi đặt chai cô-nhắc trước mặt bà, hy vọng nhìn thấy nụ cười vốn hiếm hoi trên gương mặt bà. Nhưng ngược với dự kiến của tôi, bà lại lắc đầu buồn bã:

– Chuột nhắt, mày là một con bé quá ít may mắn…

Nói đoạn, bà cúi xuống mở ngăn kéo:

– Lại có một bức điện chờ mày đây.

Bà đưa tờ giấy gập làm tư cho tôi. Tôi mở:

“Hằng về ngay. Cô Tâm sắp chết.”

Không có tên người gửi. Con dấu bưu điện Hà Nội, Matxcơva, rồi tới lên tỉnh lị của chúng tôi. Tôi bỗng muốn ngã, ngã xuống ngay lúc ấy, ngủ một giấc ngủ vĩnh viễn, không bao giờ còn phải ngồi dậy. Tôi liếc tấm sàn lát gỗ cũ kỹ của gian sảnh, đầy những vết xước và vết ố bẩn, nơi hàng vạn dấu giày đi qua… Tôi sẽ nằm xuống đó. Người ta phủ một mảnh vải lên… Thế là xong… Người đàn bà Nga vẫn nhìn tôi sau mắt kính, một cái nhìn già lão, hiền từ. Tôi chợt hình dung lại những gương mặt hồng hào thanh thản, của đám người Nhật trong khuôn viên, giữa vòm lá xanh hoang vu, con đường rải sỏi, những bụi gai trổ đầy hoa, lũ bồ cô đậu khắp các bồn hoa đá hồng và đá trắng…

Một mũi kim nhọn chích vào tim. Tôi bước tới gần người gác dan, mỉm cười:

– Cảm ơn bà Vera, cháu về phòng…

Tôi đưa tấm khăn trả bà rồi bước lên cầu thang, về phòng. Phòng khóa, hai cô bạn tôi đi làm. Cô ta, con người hèn mọn có cái mũi tẹt cũng đi làm. Tôi mở khóa, thay quần áo. Đáng lẽ, chui vào chăn ngủ vùi, tôi ra bồn nước rửa mặt rồi quay vào bàn, ngồi suy tính. Tấm khăn phủ giường sạch sẽ, phẳng phiu như mời chào. Tôi phải chống lại ham muốn đó, nêu như tôi đã không ngã gục trước mặt bà Vera trong gian sảnh nghĩa là là tôi không được quyền ngã. Những biến động và giày vò của đời sống xô ngã con người chính vào khoảnh khắc họ nghĩ rằng mình có thể quy hàng. Đã vượt qua giây phút đó, không có quyền thoái lui.

CHƯƠNG 22

Trời im gió. Những ngọn cây cao im phăng phắc. Tôi mở hết các cửa kính. Làn không khí mát ùa vào phòng. Một chút nắng chiều và hơi thở man mác – dấu hiệu sơ khởi của mùa thu. Giã biệt mùa thu vàng của nước Nga. Mùa thu chưa hội ngộ đã xa cách. Có lẽ, số phận chỉ cho tôi một lần, một lần gặp gỡ và chiêm nghiệm vẻ đẹp ấy. Tôi tính đến các thủ tục cần làm ở Matxcơva. Sớm nhất cũng hai tuần nữa mới có thể lên máy bay. Lúc ấy, cây cối ở Matxcơva chưa thay màu…

Tính hai tuần nhưng rút cục chỉ mười hôm tôi đã ra được sân bay. Tất cả nhờ ở anh chàng lãng tử. Về Matxcơva, tôi tránh mặt ông cậu. Tôi ở nhờ một người quen. Chị họ một trong hai cô bạn cùng phòng với tôi. Một người đàn bà dưới bốn mươi tuổi, nhan sắc không mặn mà nhưng rất tốt bụng. Chị đánh máy cho một nhà máy xuất bản, sang đây theo ký kết hợp tác trao đổi văn hóa. Căn phòng chị ở là một căn hộ khép kín, đã cũ nhưng còn đầy đủ tiện nghi. Chị làm việc ở nhà, còn tôi đi xuôi ngược suốt ngày. Tối về, tôi ngủ trên chiếc đi-văng tiếp khách của chị. Vào buổi chiều ngày thứ tư, tôi thất thểu từ bến xe điện ngầm về, buồn rười rượi vì công việc trục trặc. Ở tòa đại sứ, có hàng trăm thứ rắc rối, phiền não hành hạ con người. Nhất là với một cô gái từ miền xa lắc, xa lơ đến… Đang đi, tối sực nhớ tối nay là sinh nhật của chủ nhà. Chị đã dặn tôi về sớm tham dự. Lẽ ra, tôi phải mua hoa hoặc một gói quà gì đó, socola hoặc một lọ nước hoa ngoại. Tôi đã quên. Giờ, chỉ còn cách duy nhất là nhảy lên xe điện, tới chợ nông trường mua hoa quả… Đang ngẩn ngơ tính toán, chợt bóng một chàng trai hối hả vượt qua đường, đi tới. Anh tiến lại gần tôi, chìa tay ra:

– Xin chào.

Tôi buột miệng kêu:

– Chàng lãng tử.

Anh ta cười:

– Cô bạn nói gì mà kỳ quái thế?…

Tôi cũng cười. Sau đó tôi giải thích cho anh hiểu xuất xứ cái biệt hiệu kia. Chàng lãng tử cười ngất, mắt không rời khỏi mặt tôi. Tôi vừa ngờ vực vừa hân hoan vì ánh mắt trìu mến ấy… Có lý gì anh ta lại chú ý tới tôi?… Một cô bé còm nhom, xanh bủng. Chàng lãng tử đưa tôi tới nông trường ma trái cây và hoa tươi. Hóa ra, anh cũng thân thiết với chị chủ nhà và tới dự sinh nhật chị tối nay. Trái đất, cuối cùng vẫn chật hẹp… Trong buổi tối vui vẻ ấy, tôi kể cho mọi người nghe những phiền não tôi phải chịu, chàng lãng tử cười:

– Cuối cùng, bạn cũng chỉ là một cô bé chíp hôi… Thôi, đưa tất cả giấy tờ đây…

Anh ta cầm lấy đống giấy má của tôi. Ba hôm sau anh quay lại, chìa ra tấm vé máy bay:

– Ngày kia bay. Chuyến mười một giờ bốn mươi lăm phút… Còn bây giờ tôi sẽ đưa nàng đi cửa hàng. Cần gì, và thiếu những gì, hãy khai ra cho đủ. Không còn thời gian để mà ngượng ngùng nữa đâu…

Chưa có một thanh niên nào áp chế người khác với dáng vẻ quyền uy và êm dịu thế. Anh ta đã giúp tôi rất nhiều trong chuyến đi quá chật vật ấy. Lần đầu tiên trong đời, tôi chịu nhận sự giúp đỡ ấy từ một người không liên quan máu huyết. Mọi thủ tục trôi qua xuôi xẻ, chàng lãng tử đã đưa tôi ra sân bay. Và nụ cười trẻ trung, kiêu mạn của anh sáng bừng lên ngoài khuôn cửa phòng hải quan, là hình ảnh sau chót của quãng đời ấy, quãng đời lao động trên xứ lạ, quãng đời đã dạy cho tôi bao điều phải suy ngẫm, những giọt lệ buồn tủi và sướng vui…

– Xin thông báo, còn hai phút năm mươi giây nữa, chuyến bay Matxcơva – Hà Nội sẽ được thực hiện… Xin thông báo…

Giọng chiêu đãi viên vang lên. Người đàn ông ngồi bên tôi đang loay hoay sắp xếp lại những thứ đồ trong chiếc túi xách tay. Nào bóng đèn, nào phích nước Trung Quốc, nào con lật đật, nào các gói thực phẩm lớn nhỏ và táo… Mồ hôi ông ta vã đầy mặt. Cổ áo sơ mi một bên cụp xuống, một bên vểnh lên. Chiếc cà vạt nhăn nheo như khúc ruột gà…

– Xin thông báo…

Tôi rút bông trong túi, vo viên nhét vào hai lỗ tai. Rồi, sau khi đeo dây an toàn tôi ngả người về phía sau nhắm mắt ngủ… Cả chuyến bay là những giấc ngủ li bì nối tiếp nhau. Các giấc mơ đan xen, các hình ảnh chồng chéo… Nhưng trên tất cả mọi hình ảnh, mọi ý nghĩ là một nỗi lo khắc khoải. Tôi e rằng cô Tâm đã không đủ kiên nhẫn chờ tôi…

Sau gần hai ngày, một đêm, máy bay tới Nội Bài. Không có ai đón tôi, như tôi dự tính. Lên xe buýt hàng không tôi trở về Bờ Hồ. Từ đó tôi thuê một chuyến xích lô về nhà. Mẹ tôi đang ngồi ngủ gật sau quầy hàng lơ thơ vài chiếc bánh chưng, bánh gai và mấy trái chuối chín nẫu. Chiếc chân gỗ tháo ra, đặt một bên. Nhìn thấy tôi mẹ định đứng lên, chạy ra ngõ. Nhưng khi sực nhớ tới khúc chân giả, mẹ lại ngồi xuống. Mẹ khóc. Tôi nói:

– Nín đi mẹ, dẫu sao con đã về được tới nhà.

Chúng tôi đóng cửa hàng, nghỉ sớm. Tối hôm đó, nhà chật khách. Theo thói quen, bà con chòm xóm đổ tới hỏi han. Sắp tới, nhiều nhà xin cho con em đi xuất khẩu lao động. Họ muốn biết chúng tôi sinh sống bên ấy ra sao?… Mẹ tôi pha hai bình nước chè lớn. Chúng tôi mời mọi người uống nước chè, ăn nho khô và kẹo. Thứ kẹo “Chìa khóa vàng” rất hợp khẩu vị ở Việt Nam. Chàng lãng tử đã chuẩn bị cho tôi khá đầy đủ. Cuộc hàn huyên thật vui, không khí quen thuộc của ngoại ô lại tràn vào cảm quan của tôi, với vẻ ầm nồng lam lũ. Chỉ còn thiếu một cái gì đó… Con Trắng Xồm và giọng hát cuồng dại của anh quê. Tôi hỏi cô Vị:

– Dạo này anh con trai bà Miều không hát nữa hả cô?…

Cô bĩu môi:

– Khỏi phải mong. Chắc lúc này nó đang đánh tam cúc với lũ trẻ con. Tẹo nữa mày lại váng óc lên, tao chớ kể…

Tôi cười:

– Con Trắng Xồm thế nào ạ?

Bà hàng xôi lúc lắc đầu:

– Lại con Trắng Xồm. Lũ trẻ trong ngõ này đến lạ. Thằng con trai tôi đi học ở Đức viết thư về cũng hỏi con Trắng Xồm. Thằng con trai bà Hoan đi bộ đội đóng tận biên giới về phép cũng chỉ hỏi con Trắng Xồm. Giờ con Hằng nhà bà Quế cũng hỏi con Trắng Xồm. Nó chết rồi. Chết mùa đông năm ngoái. Là chó chứ là người chắc nó phải lên chức cụ. Già quá rồi còn gì?

Mọi người cười. Và lúc ấy, giọng hát khàn khàn của anh què bất chợt rống lên:

Mùa thu sang lá rụng ven đường

Cô Vị hất hàm bảo tôi:

– Đã thấy chưa?…

Tôi gật đầu, cười, trong lòng muốn rơi nước mắt. Sau quãng thời gian xa cách, giờ đây tôi mới đủ khôn lớn để hiểu nỗi buồn thẳm sâu của tiếng hát trùng phùng. Nó vẫn vang trong không gian nhàm chán của phố nghèo. Nó, điệp khúc buồn tẻ chẳng thay đổi một luồng sinh khí tù đọng không có cơ hội giải thoát. Nó, giai điệu ám ảnh của một cõi đời thiếu hụt, của cuộc tồn tại mà chẳng tồn sinh, của một dòng sông thối rữa nhiều rác rển và bèo bọt…

Hàng bạch dương xác xơ ven đồi

Màn sương trắng buông rơi lững lờ

Mà không thấy bóng người mong chờ…

Chàng què rống lên. Không còn là âm nhạc mà là tiếng kêu thoát ra từ con tim bị bóp nén, là làn hơi độc thoát ra như thứ lửa bỏng trên đầm lầy, là tiếng gầm của một con thút què quặt cả tâm hồn lẫn thể xác nhưng lại dư đủ trí không để hiểu cuộc đời thỏa thuê ngang dọc chốn rừng thẳm, dưới ánh chói mặt trời…

– Hằng, xem lại siêu nước sôi chưa con?…

Mẹ tôi gọi. Tôi giật mình, xuống bếp lấy siêu nước. Chắc nó đã sôi một lúc lâu. Đổ nước vào phích, tôi pha tiếp tuần chè thứ hai. Đám xóm giềng đang rôm chuyện.

Mẹ tôi bảo:

– Tiếp nho ra đĩa đi con.

Tôi đáp:

– Vâng ạ.

Rồi đi lấy túi nho, xẻ ra các đĩa. May sao là trước ngày lên máy bay, chúng tôi đã mua được thứ nho không hạt, rất ít sạn trong một cửa hàng gần ga xe điện Miacốpxki. Mọi người chiếu cố tới nho nhiều hơn kẹo. Một ông già, trước từng làm đầu bếp cho cơ quan công sứ Pháp, vừa khề khà ăn vừa nói:

– Lâu ngày không ăn cũng thèm… Nhưng mà nói các vị bỏ qua cho, thứ này thua xa nho trắng Pháp…

Giọng cô Vị át đi:

– Thôi thôi bác ơi, của ngon vật lạ thời sài lang chúng cháu đâu có được hưởng mà so sánh… Với chúng cháu thì nho này cũng ngon rồi.

Ông già nói:

– Đấy là tôi bảo cho mà biết…

Ông làu bàu gì đó, không rõ. Cô Vị đã quay sang kể cho mẹ nghe về vụ đánh ghen vừa xảy ra ở ngõ Hàng Bông sáng nay.

Bỗng nhiên, điện phụt tắt. Mọi người hỏi nhau:

– Sao lại cắt điện giờ này nhỉ?

– Biết đâu được?… Sở “điên” mà…

– Đừng có nói oan cho người ta. Dây nhợ mục hết không có tiền thay…

– Con bà là nhân viên sở “điên” có khác, bênh ra mặt… Thôi, giải tán. Mỗi người bốc nắm nho bỏ túi rồi về cho mẹ con cô ấy nghỉ.

Tôi thắp cây đèn dầu. Mỗi người bốc nắm nho hoặc dăm bảy chiếc kẹo bỏ vào túi rồi ra về… Lúc tôi đóng cửa, đồng hồ đã gõ thong thả mười một tiếng. Mẹ tôi ấu yếm vuốt tóc tôi, rồi bảo:

– Kệ đấy, mai hẵng dọn… Mẹ con mình ngủ đi con…

Chúng tôi lên giường. Mẹ gối đầu tay cho tôi, kể lể với tôi về mọi chuyện nhà. Sau, lại tới lượt tôi kể lại cuộc sống của mình bên kia, quãng đời nơi xứ lạ…

– Thế tuyết có giống cái bọt đá trong tủ lạnh nhà bà Hoan không con?

– Gần như thế. Con đã mua cho nhà mình một chiếc tủ lạnh. Hãng minxơ hẳn hoi.

– Thế, mùa hè có thể làm đá bàn chè đỗ đen?

– Vâng.

– Con đi làm lạnh lắm hả? Nghe nói mùa đông bên ấy, đường toàn nước đá.

– Vâng. Chỗ con ở lạnh lắm, thường xuyên âm bốn mươi độ

– Chắc mẹ sang bên ấy mẹ sẽ chết.

– Nếu khỏe. Rồi cũng quen. Nhưng những người nhiều tuổi chịu rét khó khăn hơn. Đường trơn, thanh niên như chúng con cũng ngã xoành xoạch, xương đau tê tái. Những ông già, bà già Nga tới cửa hàng thực phẩm cũng ngã. Chắc họ đau lắm. Cứ nhìn họ, con lại nghĩ đến mẹ ở nhà…

Tôi thấy mẹ lấy cánh tay lau nước mắt. Rồi mẹ sụt sịt:

– Mẹ biết con vất vả chỉ vì mẹ…

Tôi ôm chặt mẹ, và dỗ dành như dỗ dành một em bé gái. Quả thực lúc ấy, tôi thấy mẹ nhỏ bé và yếu đuối làm sao?…

– Mẹ ơi, đừng khóc…

Chúng tôi xiết chặt tay nhau, trong niềm hạnh phúc. Khoảnh khắc ấy, quá khứ bị xóa nhòa. Chỉ còn lại mẹ con tôi với tình yêu không thể san sẻ…Tiếng đồng hồ tích tắc reo trong không gian đều đặn, êm đềm. Thi thoảng một con thạch sùng tặc lưỡi trong bóng tối. Ngọn đèn hoa kỳ vặn nhỏ bằng hạt đỗ đặt trên bàn chốc chốc lại bùng lên vì một cơn gió lùa. Tôi vỗ nhè nhẹ lên lưng mẹ:

– Ngủ đi mẹ nhá…

Mẹ tôi trở mình đáp:

– Ừ, ngủ đi con…

Tôi buông mẹ ra, lấy chăn đắp bụng cho mẹ. Lúc tôi xoay mặt lại với mẹ, mẹ hỏi:

– Bên ấy, con có gặp cậu không?…

– Có.

Tôi đáp. Nhưng cũng ngay lúc đó, cơn giận dữ đột ngột trào lên, xâm chiếm tôi. Tôi thấy mình nghẹn thở, một luồng khí nóng xộc vào lồng ngực, lùa lên óc. Trong giây lát tôi tưởng mình có thể điên lên, đập phá một cái gì đó tức khắc. Có thể rời xa vĩnh viễn mái nhà này, không nuối tiếc. Có thể gào lên rồ dại. Có thể nghĩ ra những lời lẽ bạo tàn… Nhưng rồi tôi vờ ngáp, và nói:

– Thôi, ngủ đi mẹ ạ… Mai con phải đi sớm…

Đó là cố gắng cuối cùng của tôi. Mẹ tôi im lặng. Cái vết nứt giữa chúng tôi hé miệng ra, như vết nứt trên mặt ruộng khô nẻ, như vết chém trên một thứ đồ gỗ quý.

Suốt đêm tôi không ngủ. Tôi nằm cứng đơ như hình nhân. Mẹ tôi chỉ trằn trọc chừng vài phút, rồi cất tiếng ngáy ngon lành.

Tôi bỗng căm ghét tiếng ngáy của mẹ. Sao nó an nhiên một cách bạo tàn. Bốn giờ rưỡi sáng, tôi nghe tiếng cô Vị xoe xóe bên tường:

– Nhóm cho cô cái lò.

Tôi bật dậy, chuẩn bị quần áo, tư trang vào chiếc tui đi đường. Rồi tôi viết mảnh giấy đặt trên bàn:

Con về quê. Thời gian chưa tính được.

Mẹ hãy giữ gìn sức khỏe.

Lẽ ra, phải ở với mẹ một ngày nữa. Nhưng giờ đây, tôi không còn ăn năn. Tôi khép cánh cửa lại sau lưng, bước ra đường với tâm trạng nhẹ nhõm. Có ai đó đi ngược lại phía tôi?… Một người mù. Ông già cao lớn, mặc bộ quần áo vải, đeo túi vải nâu. Chiếc gậy trong tay ông khua lọc cọc dò đường. Một người ăn xin chăng? Tôi định hỏi nhưng chính ông già lên tiếng trước:

– Ai đấy?

Tôi hỏi ông:

– Ông đi đâu?

– Tôi tìm đứa con gái tôi. Trong ngõ này có nhà ai tên là Nhị không?

Tôi điểm mặt những người tôi biết… Không ai tên là Nhị… Tôi nói:

– Xóm này không có ai tên là Nhị… Còn đầu ngõ, cháu không được biết.

Ông già ngước đôi mắt đen kịt lên, ngẫm nghĩ, nói:

– Bà Nhị bán bánh giầy giò chả từ thời Pháp. Nghe đâu bây giờ học được người Tàu nghề làm “cháo quẩy”… Bà ta là dì ruột con bé nhà tôi.

– Trong xóm này chỉ có chị Dược bán bánh dày giò chả thôi ông ạ… Hay ông cứ hỏi thử xem?

– Ừ, tôi sẽ hỏi…

Ông đáp, ngẩng đầu cao, vẻ cương cương không che giấu. Tuy mù, nhưng giọng nói sang sảng, hoàn toàn trái ngược với những người mù ủ rũ, e dè tôi đã gặp:

– Cô cứ đi đi… Đừng quản ngại. Tôi khắc tìm được đường đi. Tôi đã đi từ làng lên huyện. Từ huyện lên tỉnh. Từ tỉnh đi ô tô lên đây… Tôi không ăn mày lòng thương của thiên hạ…

Nói đoạn, ông ngẩng đầu kiêu hãnh, tiếp tục đi sâu vào ngõ, lọc cọc, lọc cọc… chiếc gậy khua dẫn đường. Tôi đứng nhìn theo ông một lát rồi bước đi. Với người như thế, không hy vọng giúp đỡ họ. Có lẽ, đứa con gái ông gặp một chuyện phức tạp, có thể là lỡ dở với một người đàn ông nào đó, có thể phản đối một cuộc hôn nhân không ưng ý, có thể vì hoang thai… Và cô ta phải lẩn trốn xóm làng, ra đi. Và người cha đeo túi hành trang đi tìm con, có thể do tình thương, có thể do lòng ân hận… Nhưng dù lẽ nào, ông ta vẫn là một người cha. Bỗng dưng tôi nhớ tới cha tôi, người đàn ông chưa bao giờ tôi gặp mặt, một tình yêu nung nấu trong hoang tưởng. Có thể chăng, giờ này ông cũng đang lang thang trên các nẻo đường dưới âm thế, cô đơn, nhẫn nại, đi tìm đứa con gái mà ông đã trót sinh ra mà không bao giờ hiểu được nỗi đau khổ của nó khi thiếu vắng ông trong cõi đời…

CHƯƠNG 23

Tôi bước hối hả. Chuông nhà ai bên đường điểm năm tiếng. Cái xóm bắt đầu nhộn nhạo. Tiếng gọi cái, tiếng vo gạo, tiếng múc nước xen lẫn tiếng gà gáy báo bình minh. Ngay khúc đường đổ ra phố chính, một ông lão đạp xích lô đang ngồi há mồm ngáy. Tôi gọi ông. Vừa tỉnh dậy ông đã nhỏm lên hỏi:

– Đi đâu?

– Cho cháu ra bến xe ngoại tỉnh.

Tôi đáp. Ông xích lô lúc ấy mới mở được đôi mắt kèm nhèm ra:

– Nào, ngồi lên.

Ông vặn lưng răng rắc vài cái rồi nhảy phóc lên yên đạp. Tôi ngồi trên xe, ngắm phố xá lúc tinh sương. Nhưng tôi cảm thấy lo ngại: Nhỡ ra cô Tâm không chờ được mình…

– Ông đạp dấn cho cháu với.

Ông xích lô quát:

– Đạp thế này là hết sẩy rồi. Mấy thằng trai trẻ cũng không đạp được nhanh như tôi.

Tôi nài:

– Cháu có việc gấp lắm.

Ông lại quát:

– Đã bảo là rất nhanh. Bảo đảm với cô là kịp chuyến xe thứ nhất… Tôi đành im, chờ đợi. Những đường phố lùi lại phía sau. Qua ngã tư, tôi lại nhẩm tính quãng đường còn lại. Ông xích lô nói đúng. Tôi tới bến xe khi nhà xe chưa thức, mà chỉ có chừng dăm khách chờ. Phải nửa tiếng sau, xe mới từ từ vào bến. Tôi đưa cho người phụ lái một số tiền gấp năm lần giá vé quy định. Tôi được ưu tiên ngồi ghế trên. Chuyến đi chóng vánh. Xuống bến, tôi gặp may lần nữa. Một đám xe đạp thồ đang ngồi chầu hẫu chờ. Tôi gặp lại người xe thồ lần trước đã thồ mẹ con tôi. Ông ta già đi nhiều quá. Tôi ái ngại nhìn ông:

– Bác có đèo được cháu tới bến sông không?

Ông đáp:

– Đèo được.

Thấy ánh mắt lo âu của tôi, ông nói thêm:

– Mỗi ngày tôi đưa những năm chuyến khách ra sông. Cô ngồi lên đi…

Lưng áo ông loang từng đám mồ hôi muối. Có lẽ, nhiều ngày không thay. Mùi mồ hôi theo gió tạt lại. Con đường năm xưa lăn dưới bánh xe. Những giải cát trắng và những ổ gà. Con mương nhỏ luồn qua nhịp cầu gỗ. Thi thoảng, một gò đất ven đường nổi lên bóng dáng cổ kính của một cây gạo hoặc một gốc si. Vẫn những đồng lúa bị phân cắt bởi các bờ vùng, bờ thửa, những ao hồ, những kênh thủy lợi hoặc những mảnh ruộng hoang lun phun cỏ dại… Vẫn như xưa…

Những buổi chiều ấy, lần đầu tiên về quê, tôi đã nép vào lòng mẹ với tất cả niềm yêu thương và tin cậy. Lúc ấy, tôi là một bé con, lúc ấy, tôi chưa biết cô Tâm… Một thiên đường bé xíu nở ra dưới chân cây buồm. Cánh buồm trắng rách vá, nhưng huyền diệu, cả người đàn ông đi đò thô lỗ, cả bộ mặt dửng dưng của người lái đò, cả dáng điệu nhu mỳ, nhẫn nhịn của người đàn bà gánh khoai. Tất cả,… tất cả hòa điệu lại, tất cả là một góc cái thiên đường bé xíu nở trong buổi chiều tuổi thơ. Gió sông thổi lạnh buốt. Tiếng sóng nước dạt dào. Màu tím rịm của ráng chiều là nơi chân mây. Và những đám xác vờ trắng nổi lềnh bềnh ven mép nước… Mẹ ơi… cái thiên đường ngây ngất của thời quá vãng…

– Tới nơi rồi…

Người đạp xe thồ nhảy xuống, rút khăn mặt quàng quanh cổ lau mồ hôi mặt. Ông nói tiếp:

– Cô cho tiền.

Tôi trả tiền ông, rồi từ từ đi xuống bến đò. Viên đá cũ đã mất. Thay vào đó là một ống cống xi măng vứt lăn lóc. Có lẽ khách chờ đò ngồi luôn nên mặt trên nó trở nên nhẵn bóng. Tôi đưa mắt tìm con thuyền với cánh buồm trắng năm xưa…

Có tiếng động cơ nổ. Từ bến sông bên kia, con thuyền quay mũi. Rồi chừng mười phút sau nó đã tiến đến trước mặt tôi, tiếng máy đuôi tôm ròn rã. Người lái thuyền có bộ mặt vô cảm không còn nữa. Con thuyền cũ được sửa sang lại, gắn máy, một chú bé trạc mười lăm tuổi điều khiển. Đám khách dưới thuyền nối đuôi nhau bước lên cây ván gỗ. Chờ họ lên hết, đám khách chờ xuống đò. Tôi là người cuối cùng. Cậu thiếu niên mặc quần Jin, áo sơ mi kẻ ô tóc để dài như kép hát:

– Các vị nộp tiền cho.

À, ra bây giờ đi đò trả tiền trước. Đám khách quá giang đã chuẩn bị sẵn bạc lẻ. Tôi phải nài nỉ mãi một bà mới đổi cho. Thu tiền xong xuôi, cầu lái đò giật dây cho máy chạy. Chỉ một loáng sau, chúng tôi đã tới bờ bên kia. Tôi bước lên cây ván gỗ, lần nữa ngoái nhìn dòng sông, thay cho một lời chào. Rồi tôi hối hả bước.

Cô tôi đang chờ tôi… Giơ tay đập cánh cửa, tim bỗng đổ dồn. Bao nhiêu phỏng đoán cùng lúc xô tới. Căn nhà im như ngôi miếu hoang. Cái im lặng khiến tôi dừng lại. Tôi nắm cả bàn tay đập cửa thình thình, chừng hai phút sau, có giọng nói cuống quýt bên trong:

– Đây… Nghe rồi… nghe rồi..i.. i..

Tiếng lách cách mở cửa then ngang hối hả, lập cập. Cánh cửa vừa hé, tôi đã xô vào:

– Úi giời ơi…

Bà Đũa cất tiếng kêu hớt hải, rồi nói:

– Ra là cô, mong cô mãi.

Tôi hỏi ngay:

– Cô tôi đâu?

Bà Đũa đáp:

– Trong nhà.

Và giây lát, bà nói thêm:

– Bà ấy vẫn chờ cô.

Tôi nhẩy qua bậc tam cấp, chạy xộc vào buồng. Các cửa lớn cửa nhỏ đều mở toang. Cô tôi ưa ánh sáng, khác nhiều nhà ở nông thôn, nhà cô có nhiều cửa sổ. Cô đang nhắm mắt như thiêm thiếp ngủ, đầu gối trên gối mây.

Tôi bật kêu:

– Cô.

Tức khắc, cô mở mắt. Một thoáng ngỡ ngàng, rồi đôi mắt sâu và đen chăm chắm nhìn tôi.

– Cô ơi, con về với cô đây…

Tôi nói.

Cô lặng im, mắt vẫn mở thao láo. Rồi từ hai hố mắt đen mênh mông, những dòng lệ nối nhau tuôn:

– Hằng…

Cô thì thầm:… Mày ra thế đấy hở con?… Người ngợm lép như con mắm, vú vế chẳng có, còn đâu là da thịt con gái?…

Khổ thân cháu tôi, đem thân làm cu ly tận nước người…

Cô nức lên từng cơn, đôi vai lép và bộ ngực lép run rẩy. Hai gồ xương mắt nhô cao trên bộ ngực gầy. Nước mắt, dòng nọ nối dòng kia, tuôn chảy mãi từ tấm thân khô kiệt. Tay cô đặt trên lưng tôi rơi thịch xuống giường. Cô yếu lắm, nhưng mắt cô như hai hòn than, không chịu tàn. Cô nói, thì thầm nhưng rành mạch từng tiếng:

– Tao ghét mẹ mày… Nó không thương đứa con rứt ruột đẻ ra. Nó đầy đọa tấm thân mày…

Tôi không dám cãi. Tôi vuốt nhẹ hai bàn tay cô, nói:

– Con xin cô. Cô đừng nói nhiều mất sức. Cô nghỉ đi…

Cô lặp lại, bướng bỉnh:

– Tao ghét nó… đứa em dâu trời đánh… nó…

Tôi vỗ nhẹ vào vai cô, kiên nhẫn dỗ dành:

-Con xin cô, nói nhiều mất sức lắm… Cô nghỉ đi…

Môi cô mím chặt. mắt chan chứa lệ nhìn đăm đăm vào một điểm giữa không gian vô ảnh. Trong đáy mắt, lóe lên ngọn lửa thù hận, rực rỡ và giá buốt. Tôi bất chợt rùng mình. Tôi gọi:

– Cô ơi…

Gương mặt cô như chùng xuống, mở mắt đi. Cô cất tiếng nấc và gọi:

– Hằng.

– Dạ.

– Cúi xuống với cô…

Tôi quỳ xuống bên giường, cúi sát mặt cô. Cô đưa bàn tay gầy héo rờ vai tôi. Khi chạm chiếc xương quai xanh trỗi trên bộ ngực khốn khổ của tôi, cô lại bật tiếng nấc to hơn, nước mắt trào ra đầm đìa:

– Khốn nạn thân con, Hằng ơi…

Lúc ây, mắt cô chìm trong bóng tối. Tia nhìn trở nên đứt đoạn run rẩy. Trong đáy hồ thăm thẳm, lướt qua chút ánh sáng yếu ớt khiến tôi se lòng… Cô ăn năn chăng?… Cuối cùng, cuộc chiến tranh giữa cô với mẹ tôi chỉ mình tôi gánh chịu. Trận đọ sức bất phân thắng bại chỉ đem lại nỗi bất hạnh cho số phận của riêng tôi…

Cô gọi:

– Hằng.

– Dạ.

– Cô thương con.

– Vâng ạ.

Cô giơ tay, cố xoa đầu tôi:

– Cô thương con… con biết không?…

Tôi nắm giữ bàn tay khô nhẹ như chiếc lá cuối đông lìa cành, nói:

– Con biết cô ạ… Cô an tâm.

Giọng cô bắt đầu chơi vơi, nhưng ánh mắt tỉnh táo:

– Cô đã cố chờ con… Cô phải nhìn thấy mặt con.

Tôi đáp:

– Con về, con sẽ chăm sóc cô… Cô sẽ khỏe mạnh như bình thường…

Mắt cô nhìn đâu đó, chứng tỏ cô không thèm nghe lời tôi nói, như đó chỉ là những điều nhảm nhí. Cô tiếp tục những ý nghĩ của mình:

– Cô chỉ có con, một mình con… trên đời…. Cô muốn con được sung sướng.. Hồi xưa, cô yêu bố con… như con bây giờ. Cô cõng nó trên lưng, bón cháo, ôm nó ngủ lúc bà đi cấy… Bố con không còn… Nó ở dưới cõi âm, lạnh lẽo…

Tới đó, cô rùng mình, nhắm mắt lại. Tôi xiết chặt tay cô, ghì riết tấm thân xương xẩu, teo tóp của cô vào mình. Tình yêu, sự đồng cảm, mối liên kết mơ hồ trong bóng tối âm u của máu huyết, niềm xót xa thâm hậu… tất thảy cùng một lúc vặn thắt con tim.

– Bố con ở dưới kia…

Cô lại tiếp tục thì thầm, mắt vẫn nhắm nghiền, chỉ hai lằn mi tím thẫm khẽ rung rẩy:

– Cõi âm lạnh lắm… nó không được như ở trên đời…Cô muốn ủ ấp con, che chở con… Vậy mà chính cô lại đày đọa con, cô hại con… Hằng, con có oán cô không?

Tấm thân nhỏ bé, khô kiệt run lên, theo từng hồi nấc nghẹn. Nước mắt cô lại tràn trên gò má, chảy xuống hai bên thái dương sâu hõm. Tôi ôm cô, nói:

– Cô ơi, đừng nói nữa, cô ngủ đi một lúc…

Cô không nghe tôi. Cô cất tiếng gọi:

– Hằng.

– Dạ.

Cô nói:

– Con ra xem bà Đũa đâu? Bảo bà ấy nấu cho cô nồi nước tắm.

Tôi chạy ra sân. Bà Đũa đang ngồi nhặt kê lép và cỏ hạt lẫn trong kê ra vừa đãi. Ở vùng này, người ta hay ăn kê nấu với đường cát và bánh đa. Có lẽ, thấy tôi về, bà Đũa chuẩn bị quà đãi khách.

Tôi nói:

– Bà nấu cho cô tôi nồi nước tắm.

Bà Đũa ngẩng lên:

– Quái lạ, tôi vừa tắm cho bà ấy hôm qua.

Đoạn bà bỏ rá kê, xăm xăm chạy vào buồng:

– Thưa bà, bà mau quên, tôi vừa đun nước tắm cho bà chiều qua.

Cô Tâm mở mắt, nói rành rọt:

– Tôi không quên… Bảo bà nấu nước thì bà cứ nấu, không cần hỏi lại… Nhớ bỏ cho tôi thật nhiều hương nhu.

Bà Đũa đáp:

– Vâng.

Rồi bà đi ra.

Cô tôi bảo:

– Con đóng kín cửa lại.

Tôi đóng kín các cánh cửa rồi tới ngồi bên giường. Cô tôi rút dưới gối vật gì đó, đặt vào lòng tay tôi. Vì tối, lát sau tôi mới nhìn ra hai chiếc chìa khóa được nối bằng một đoạn dây sa tanh chắc cắt ra từ chiếc quai nón.

Cô nói:

– Chiếc chìa khóa đồng là khóa tủ đứng. Trong đó cô cất tiền mặt để con lo lễ tang, cúng cữ ba ngày và bốn mươi chín ngày. Còn chiếc chìa khóa bằng kền của Mỹ là khóa chiếc hòm gian gỗ lim cô cất phía sau lưng tủ. Trong hòm, cô để ít đồ tư trang đã đánh sẵn cho con và giấy vẽ sơ đồ nơi chôn của. Rồi con sẽ rõ…

Nói xong, cô nhắm mắt. Tôi vuốt nhẹ tóc cô:

– Cô ngủ một lát cho dễ chịu… Cô ngủ đi…

Những nếp nhăn trên mặt cô giãn ra. Gương mặt cô trở nên thơ thái. Cô thở đều đều, hơi rất khẽ. Và cô thiếp đi thật… Tôi xuống bếp, ngồi bên bà Đũa:

– Cô tôi ốm lâu chưa?

– Bốn tháng hơn rồi.

– Ai đánh điện cho tôi?

– Ông Tám, người đi xe máy lần trước đón cô về.

– Cô tôi mắc bệnh gì thế?

– Tôi không rõ. Cả lang Tây lẫn lang ta tới nhà như chuột vọc mà chẳng biết bệnh gì. Bà ấy cứ héo dần đi…

– Cô tôi ăn gì thế?

– Bây giờ thì chẳng ăn gì cả. Hồi mới ngã bệnh, bà vẫn ăn cơm. Qua tháng thứ hai chỉ ăn cháo. Tháng thứ ba uống sữa bò với thỉnh thoảng đòi ăn chè đỗ xanh nghiền. Mấy tuần lễ nay, bà chỉ uống sâm… Ăn gì cũng nôn hết…

– Cô tôi trông vẫn tỉnh táo.

– Phải, bà ấy tỉnh lắm. Mà sạch sẽ đến kinh người. Cứ hai ngày bắt tôi đun nước tắm một lần. Có vài con ruồi bay vào phòng là bà ấy bắt tôi đuổi cho kỳ được.

– Cảm ơn bà nhé. Chắc bà vất vả nhiều vì cô tôi.

– Không. Việc gì cũng quen. Mà chẳng có bà ấy hồi trước tôi cũng đến bị gậy đi xin xứ người… Này, nước sôi ùng ục rồi đấy…

– Vâng. Bà để tôi tắm cho cô tôi…

Tôi sắp sửa để tắm gội cho cô. Tôi không tin lắm vào linh cảm, nhưng ý muốn của người ốm nặng cần phải tôn trọng. Cô Tâm, sau giấc ngủ đã thức dậy. Cô ngoan ngoãn để cho tôi tắm gội, thay quần áo. Sức yếu, nhưng tôi vẫn bê được cô một cách dễ dàng. Cô nhẹ bỗng như đứa bé. Mùi nước lá thơm tỏa khắp mấy gian nhà, thật dễ chịu. Tuy ốm, nhưng giường chiếu cô được thay giặt luôn nên không có mùi hôi lưu cữu như giường của những người bệnh khác. Tôi mặc cho cô một bộ đồ lụa trắng. Tôi lục thấy nó trong tủ. Cô đã may mà chưa bao giờ mặc. Bộ đồ ấy nằm giữa các xấp vải và các bộ quần áo khác, cũng nguyên nếp gấp. Tôi nói:

– Cô buồn cười thật, cất mãi làm gì?… Mùa này mặc quần áo nhạt màu cho đỡ nóng.

Cô im lặng, mỉm cười. Khoảnh khắc ấy, nỗi buồn sâu thẳm lướt qua đáy mắt cô. Nỗi thương tiếc mùa hè… Tôi cắt lát sâm chưng cách thủy với mật ong cho cô uống.

CHƯƠNG 24

Tối hôm đó, nhà chúng tôi đầy khách. Những người quen thuộc và đám họ mạc nghe tin tôi về sang chơi. Tôi bảo bà Đũa nấu một nồi chè đỗ xanh đãi khách. Cả kê nấu với bánh đa cũng được đem ra. Người làng trò chuyện rầm rĩ. Họ không hề bớt nhời và hạ giọng chút nào, mặc dù người ốm nằm cách có một bức tường. Khoảng chín giờ, người đàn ông đeo kính xanh chai bữa trước bước vào:

– Bà đỡ chưa cô nương?

Ông ta hỏi tôi.

– Cô tôi đang ngủ.

Tôi đáp.

– Ngủ được là tốt…

Ông ta nói oang oang và khoe: Hôm nọ tôi phải phóng lên tận Hà Nội điện cho cô mới nhanh thế…

Tôi đáp:

– Vâng, cảm ơn ông.

Ông ta ngồi xuống phản:

– Bà Đũa, phần chè của tôi đâu?… Bà định cắt xuất của tôi à?…

Bà Đũa trả lời:

– Có chứ. Cắt xuất ông làm sao được?…

Nói đoạn, bà xuống dưới bếp lấy bát lên múc chè mời ông ta. Có lẽ, dạo này phải tiếp khách nhiều, bà Đũa ăn nói hoạt bát hẳn lên. Tôi hỏi bà:

– Không thấy ông phó chủ tịch Đường sang chơi?

Mọi người cười ồ:

– Ông ta đang dạo chơi dưới âm phủ…

Thấy tôi ngơ ngác, người đàn ông đeo kính màu xanh chai giải thích:

– Ông ta không thể từ bỏ âm mưu cướp vườn của bà Hài. Bà chị cái bà có vết bớt trên má sang nấu ăn giúp bà Tâm hồi ấy… Ông ta đã tranh thủ mọi thế lực từ huyện xuống xã để hợp lý việc chiếm đoạt mảnh vườn. Giấy má vừa xong tuần trước, tuần sau thợ đến đào móng, đổ gạch xây nhà. Vôi không kịp tôi, phỉa mua vôi tôi sẳn của đám gác công trường trên huyện. Ô tô chở xi măng vào tận cửa, ném huỳnh huỵch bao lớn, bao nhỏ… Chỉ vài tuần sau, ba gian nhà đã mọc lên giữa vườn hồng xiêm, cứ như mơ. Ông phó chủ tịch vênh váo lắm, đi đâu cũng nhơn nhơn cười nói. Bà Hài thành người trắng tay. Chiều chiều bà ấy đi vòng quanh chiếc ao đầu đình. Rồi lặn mặt trời, lại ngược thôn Hà, đến nghĩa trang liệt sĩ. Bà ấy tới mộ con trai, ngồi cả đêm. Thằng bé chết ở Tây Ninh, ba năm trước bạn nó cải táng đem về… Mấy người chị gái, thoạt đầu còn cắt người theo khuyên nhủ. Sau thấy mọi sự cũng thường, bèn thôi. Anh em nhà ấy biết thương nhau, họ góp tiền góp gạo chu cấp cho bà Hài… Sự đời, chuyện nóng sốt đến đâu lâu cũng nguội, mọi người quên đi. Qua tết, một chiều ông chủ tịch đang ngồi cho bầy chó con ăn cháo. Bà Hài lừng lững vào sân. Vô phúc, mọi ngày nhà ông ta cửa đóng then cài. Hôm ấy, thằng con trai đi đá bóng quên không gọi người ra khóa. Cứ thế, như bóng ma, bà Hài đến sau lưng ông phó chủ tịch. Rút búa giấu trong bụng, bà đập một nhát trúng đỉnh đầu ông ta. Ông Đường ngã vật ra tức khắc. Búa thợ rèn, ngựa bị đánh trúng huyệt còn ngã quỵ. Bà Hài về nhà, đổ thùng dầu hỏa xung quang rồi kiếm sợi dây thừng treo cổ ngay xà giữa. Lửa cháy từ ngoài vào. Xóm giềng chạy tới vây xung quanh mà bó tay. Bà ta cứ đu đưa, lơ lửng như thế, cho tới khi lửa đốt cháy dây thừng mới rơi xuống…

Tôi rùng mình, mắt tối sầm lại.

Người đàn ông kể xong, cúi xuống húp chè. Mọi người chuyện trò lúc nữa rồi ai về nhà nấy. Người đàn ông đeo kính màu xanh chai nán lại, ghé tai tôi thì thầm:

– Cô nương đưa tôi ra ngõ, tôi có câu chuyện…

Tôi đi theo ông ta ra tới cổng. Ông ta nói:

– Chiều nay, tôi nghe thằng cháu báo tin cô đã về làng…

Tôi ngạc nhiên hỏi:

– Ai nhỉ?

Ông ta giải thích:

– Đứa con trai tôi, nó chạy thuyền máy ngoài bến sông… Lúc cô quá giang, nó biết… Thằng ấy mới mười lăm tuổi, nhưng làm ăn giỏi, tính tình cẩn thận, có chí lắm… trước sau tôi cũng phải lo gầy dựng cho nó. Nó còn lấy vợ, sinh con, phải có dinh cơ riêng. Nhà này, đằng nào cũng vào tay cô. Khi bà Tâm đi rồi, cô không ở xin cô chiếu cố đến tôi…

Ngừng một lát, ông ta nói tiếp:

– Dẫu sao, đối với bà Tâm, tôi cũng là chỗ gần gụi, thân tình… Vả lại, về vấn đề tiền nong, tôi là người biết điều, xin cô yên trí…

Tôi nói:

– Vâng, vâng… nhưng hiện giờ tôi chưa hề nghĩ tới điều ấy. Xin ông để cho tôi yên…

Ông ta cúi đầu ngập ngừng:

– Cô còn ít tuổi, ít biết việc đời. Nhưng mệnh trời, không ai tránh khỏi…

Tôi im lặng. Ông ta lẩm bẩm điều gì đó rồi bước đi. Tôi mệt rũ, hai chân bải hoải. Tới lúc người đàn ông đi khuất, tôi gục đầu vào tường. Bà Đũa, vẫn đứng âm thầm cách đó vài bước chân, chạy tới:

– Thôi chết khéo không cô lại đổ bệnh theo bà… Để cửa cho tôi đóng… Cô vào nghỉ đi…

Tôi vào nhà, không kịp thay quần áo, lăn xuống giường như cây gỗ… Lúc ấy, tôi lịm đi như chết. Nhưng một đêm ngủ no giấc đã trả lại cho tôi sức khỏe và sự tỉnh táo. Hôm sau, tôi tỉnh dậy lúc trời vừa rạng, tôi vào buồng cô Tâm. Cô đã thức dậy từ lâu, đưa mắt nhìn chăm chăm ra cửa, có ý chờ đợi. Tôi nói:

– Cháu mệt quá không biết gì, sao cô không sai bà Đũa gọi.

Cô lắc đầu, ngửa một bàn tay ra. Tôi nắm bàn tay ấy, nó nhẹ bỗng, khô xác và lạnh. Đường mạch chạy li ti như thực như ảo.

Cô nói:

– Con chải đầu cho cô.

– Vâng. –Tôi lấy lược, nương nhẹ từng nhát chải. Những sợi tóc đã hết màu mỡ, giống một bó đay tước nhỏ. Lớp da đầu, mỏng dính vào xương sọ, khiến đầu cô tóp lại như đầu một con rối. Không có một con chấy, dù trứng lép. Không có một mảnh gầu. Tôi ít thấy người đàn bà nào sạch sẽ như cô, dù cô sống ở làng quê. Sau khi chải mượt mớ tóc, tôi tết lại thành con sam. Cô lắc đầu:

– Đừng. Búi cho cô… Tết tóc giống người Tầu.

Tôi búi cái búi tóc cỏn con, nhỉnh hơn củ tỏi một chút. Cô có vẻ hài lòng. Cô bảo:

– Xong việc rồi… Giờ, ngồi xuống với cô…

Tôi bỏ chiếc ghế tựa, ngồi lên giường. Tấm thân khô héo của cô chạm vào tôi. Trong cái đụng chạm ấy, tôi bỗng rùng mình, một dòng điện lan truyền qua lớp vải mỏng. Ngọn sóng thâm sâu của máu huyết dâng cuồn cuộn, xóa nhòa mọi ngăn cách, mọi ranh giới. Tôi bỗng muốn nguồn sinh lực của tôi, tuổi trẻ của tôi là thứ vật hữu hình, tôi có thể chia sẻ cho cô.

– Bao giờ…

Cô cất tiếng, thì thào:

– Bao giờ cô chết… Con ở đây trông nhà… Bàn thờ tổ phụ…

Vườn cam sắp sửa thay giống… còn…

Trong đôi mắt sâu hoắm của cô, lờ đờ một làn nước trôi qua. Như dòng sông nhỏ, làn nước ấy in bóng những vòm cây, khóm lá, hàng cau ngất ngây lay động, mái nhà râm mát, làn mây trắng lãng đãng qua… Hình ảnh thu nhỏ của một thế giới thần tiền suốt đời cô tạo dựng. Một gia tài được đắp đổi bằng tuổi xuân không tình ái. Một chiến thắng được ký bằng cả cuộc đời không có sự tồn sinh…

– Con hãy ở đây… mái nhà của tổ tiên…

Tôi cúi xuống van vỉ:

– Cô đừng nói nữa… Cô chịu khó uống sâm, cô sẽ khá lên dần… Con chăm sóc cô…

Ánh mắt xa vắng của cô chứng tỏ cô hoàn toàn không nghe lời tôi nói. Cô tiếp tục dòng suy nghĩ. Chắc nó cũng đứt đoạn những những câu nói run rẩy, đoản hơi, cất lên từ khuôn miệng trắng nhạt. Tôi thấy cô thở dốc lên, nhắm mắt một chặp rồi lại mở đôi mắt đã nhạt ánh tinh quang. Cô níu tay tôi. Cô níu tay tôi, nói lên một hơi:

– Cô không nợ ai trong làng. Còn những người nợ cô, sau đám tang con xóa cho người ta… Nhớ chưa?

– Con nhớ.

Cô lại nhắm mắt, thở khó nhọc. Tôi đẩy nốt hai cánh cửa sổ cho thoáng khí. Mảnh trời xanh lơ với ngọn cau hiện ra. Mùi thơm êm nhẹ của hương cau tỏa. Cánh mũi cô bớt phập phồng:

– Hằng ơi.

– Dạ.

– Cô thương con.

– Dạ.

– Cô thương con… côi cút…

Nói xong nước mắt cô từ đôi mắt nhắm nghiền chảy ra giàn giụa.

Tôi òa khóc:

– Cô đừng nói, cô ơi, con sợ…

Không gian bao quanh tôi hóa dài rộng và lạnh lẽo. Như không phải ngôi nhà này, với vườn cây, xóm mạc quen thuộc mà là một miền hoang đảo cô liêu, trập trùng. Và nơi trú náu duy nhất của tôi là người cô ruột, tấm thân bé nhỏ, tiều tụy kia. Nếu người đó không còn nữa, không còn gì che chắn cho tôi trong đời…

Cô nấc lên, rồi nói đứt quãng:

– Tội nghiệp… cho con… Cô… không làm sao… được…

Tôi ôm chặt hai vai cô:

– Cô ơi, đừng thế.

Cô từ từ mở mắt ra. Nước mắt hoen đầm đìa trên mi, trên hai gò má nhăn nheo. Cô nhìn tôi, rồi rất khó nhọc, cô đưa mắt về phía cửa sổ:

– Trời màu gì?

Cô hỏi. Tôi không hiểu cô định nói gì. Tôi cúi xuống:

– Cô bảo gì con?

Cô thì thầm:

– Ngoài kia, trời màu gì?

Tôi đáp:

– Trời đẹp lắm cô ạ. Trời xanh. Hôm nay nắng.

Cô mỉm cười:

– Cô nhìn thấy trời đỏ như lửa cháy. Cô đang thoát dương.

Tôi kêu:

– Cô nói gì thế?

Vẫn thoáng một nụ cười trên lằn môi nhợt, cô bảo:

– Cô đã nhìn thấy cõi âm…

Rồi cô khép mắt lại, không nói thêm lời nào. Tôi chờ lúc lâu, nhè nhẹ bỏ ra sân. Cô đã thiếp ngủ. Chiều đó, hai giờ, tôi vào đổ sâm cho cô. Có mùi rất khẳn bốc lên. Cô đi đồng, vài cục phân màu đen, mùi khẳn lạ lùng. Ba giờ rưỡi, cô hoàn toàn tắt thở…

Tôi không nhớ cụ thể tôi đã lo đám tang ra sao. Khi nghe tin cô chết, họ hàng xóm giềng đổ tới. Cả người đàn ông đeo kính màu xanh chai. Ông ta rất tháo vát. Mỗi người một chân một tay giúp tôi lo tang lễ chu tất. Họ giúp tôi mua được một cỗ áo quan bằng gỗ quý, dày tám phân, với thời buổi này thật là một cỗ áo quan lý tưởng. Tôi mặc cho cô tôi bộ quân áo bằng tơ màu mỡ gà. Trong chiếc túi đi đường tôi có một hộp màu hóa trang. Mặc quần áo cho cô xong, tôi đánh phấn, bôi son cho cô. Đám phụ nữ trong làng xúm đến xem, trầm trồ:

– Bà Tâm đẹp quá… Chưa bao giờ tôi thấy bà ấy đẹp như bây giờ.

Cô Tâm vốn là người đẹp. những đường nét trên gương mặt cô ít người đàn bà nào đạt được. Khi phấn son phủ đi làn da bị hủy hoại, cặp môi bị tử thần nhiễm tím, gương mặt cô phô bầy những dáng nét thanh tú, dưới màu sắc tươi thắm… Tóc cô búi sau gáy, độn thêm chiếc khăn nhung đen. Chân cô đi tất trắng. Tôi lại đặt mua một bó hông trắng đặt trên ngực cô. Tôi cũng mua một yến chè Thái Nguyên đổ quanh xác cô theo kiểu mai táng của dân miền Nam. Trong đám tang, tôi mặc áo xô, mặc áo rơm, chống gậy đi trước. Tôi không tin vào sự linh thiêng của các thủ tục nghi lễ, nhưng tin vào sự linh thiêng của tình cảm giữa con người. Nấm mộ cô phủ đầy hoa trắng. Ở vùng này không có người bán hoa. Họ mạc phải cử hàng chục người tầm khắp nơi để mua hoa dại, hòa nhài, mẫu đơn trắng, hải đường trắng, cúc trắng và những đóa sen trắng muộn màng… Buổi chiều, mọi người trở về vào nhà ăn cỗ. Cỗ đám mà cũng do người đàn bà nấu bếp bữa trước đảm nhận. Người có vết bớt trên mặt gầy bằng nửa hồi tôi về lần trước, khuôn mặt bà quắt lại nên vết bớt như loang ra và trở nên khó nhìn. Các bà chủ động mua sắm, bàn tính món ăn. Tôi bảo bà Đũa:

– Mọi việc đã có người đảm nhận chu tất. Bà về trước đi.

Bà Đũa ngần ngừ:

– Cô cũng nên về đi, đồng không mông quạnh thế này…

Tôi lắc đầu:

– Đừng ngại…

Bà ta chần chứ vài giây rồi cắp nón về theo đám dân làng. Giờ này chắc những người giúp việc đang rầm rập bưng cỗ lên dẫy bàn nhà đám. Mình tôi ngồi lại nghĩa trang. Nói đúng hơn là ngồi lại bãi tha ma, một khoảng đất hoang lô nhô những nấm mộ. Con đường lượn ngoằn ngoèo giữa các hàng mộ chí, cái cũ, cái mới, cái bia gỗ, cái bia đá lộn xộn nghiêng ngả. Xung quanh bãi tha ma, hàng cây dứa dại và dãy song bao quanh. Các góc, cỏ mọc um tùm. Người ta kiêng không chôn người chết vào sát gốc dứa dại hoặc dây mây, dây song, vì e rằng linh hồn họ dưới cõi âm không thể đi lại một cách dễ dàng. Trẻ con chăn trâu làng không bén bảng tới đây. Trong bãi tha ma, nấm mồ cô Tâm mới nhất. Ở các nấm đất khác, chỉ còn vài nắm chân hương. Gió thổi chúng xiên lệch. Rải rác, giữa các rạch cỏ, thoi vàng giấy bị giẫm bẹp, sắp mục ải. Trong đám tang cô tôi, người ta cũng đốt nhiều vàng thoi và tiền âm phủ. Họ bảo:

– Bà ấy sống sang cả, chết cũng phải được tiêu pha cho đàng hoàng.

Họ khen tôi hiếu thảo. Khen đám tang linh đình, trọng thể. Lúc ấy, tôi mãn nguyện. Nhưng khi mọi người ra về, chỉ mình tôi người trước nấm mộ đầy hoa trắng, trong buổi chiều ấm nắng, hoang vu và trong suốt, tôi thấy sự an tâm đó giả dối và ngắn ngủi. Cô tôi đã ra đi, vĩnh viễn lìa xa, không thể vãn hồi… Người đàn bà ấy đã đem theo cái chết, cả niềm trìu mến, cả tình yêu khắc khoải với người cha xa cách của tôi. Cả nỗi thắc mắc khôn nguôi về bí ẩn của kiếp người…

Theo tục lệ, tôi phải làm ba lượt giỗ: giỗ ba ngày, giỗ bốn mươi chín ngày, giỗ một trăm ngày. Tôi quyết định ở lại làng cho tới lúc xong mọi việc. Tôi nhờ người làng nhắn với mẹ. Mẹ tôi giận, trả lời: “Chị ấy muốn ở ba năm cũng được…” Tôi đã đủ khôn để im lặng, không đối đáp. Tôi lặng lẽ tính toán những gì cần làm: mỗi lượt giỗ ít nhất cũng ba mươi mâm. Tính xô bồ, cả phần gói cho người giúp việc là một trăm mâm. Tiền cô tôi để lại không đủ. Khi mất đi, cô không ngờ rằng đồng tiền trượt giá nhanh như thế. Có lẽ tôi phải bán bớt một ít tư trang hoặc vài thứ đồ đạc trong nhà để lấy tiền lo liệu. Từ ngày đưa cô tôi ra đồng, hôm nào cũng đầy nhà khách. Đám người giàu có mới nổi lên: ông thuế vụ trên phố huyện, bà trưởng cửa hàng hợp tác xã, ông phó bí thư, ông chủ nhiệm khóa trước, ông chủ nhiệm đương kim, vài tay lái buôn lợn, vài tay chủ xe bò, hai gia đình có con ở nước ngoài viện trợ… Họ hỏi mua nhà, mua sập gụ khảm trai, mua tủ đứng ba buồng bằng gỗ lát, gỗ cẩm lai, mua tủ chè gỗ chạm đàn dơi vảy chùm nho… Đụng tới của cái một cách cụ thể, tôi mới hiểu nổi công sức cô tôi đã bỏ ra để kiến tạo cơ ngơi này. Cái cơ ngơi mà từ bể chứa nước mưa tới dãy tường hoa, từ chiếc lư đồng tới bộ chân nến… nhất nhất vật gì cũng là tột đỉnh cái lý tưởng thẩm mỹ và sang giàu của dân quê…

CHƯƠNG 25

Sau giỗ bốn mươi chín ngày, tôi mở chiếc hòm gian gỗ lim sau lưng tủ. Hòm nặng khủng khiếp. Bốn góc được bịt đồng lá, tán đinh. Nắp hòm dày ước tới bảy ly. Bên trong, có lượt nhung kẻ Trung Quốc lót. Lật lớp nhung kẻ đã lấm chấm vết nhạy, lại tới lần vải láng hoa đỏ. Bỏ lớp vai láng đi, tôi sững sờ: Cả một bộ đồ cô dâu trong đó. Một chiếc váy đầm liền thân hàng voan trẳng mỏng, chiếc mũ đội đầu gắn ngọc giả. Đôi găng trắng đeo tay. Bông hồng trắng cài tóc. Dây vạn thọ xâu chuỗi để gài vào bó hoa chú rể tặng cô dâu… Xếp bộ đồ cưới tân kỳ ấy sang một bên, tôi thấy một bộ đồ cưới của những năm về trước: Áo dài trắng thêu kim tuyến, quần sa tanh ống rộng, trâm nạm ngọc giả cài đầu. Dưới nữa, là một sấp áo dài. Thứ hàng gấm, thứ hàng sa tanh, thứ hàng lụa. Đủ màu, đủ hình thêu: thêu hoa, thêu công phượng, thêu chữ Thọ, thêu đục mặt vải… vài hộp son đã khô két, hai lọ nước hoa, một hộp phấn con Én Thái Lan, một hộp phấn Coly đã mục, thứ hàng từ trên ba mươi năm trước…

Cuối cùng, là chiếc hộp gỗ bề ngang chừng gang rưỡi bề dọc hơn hai gang. Tôi mở hộp: Một gói lụa đỏ. Mở gói, lại gói nữa bên trong. Hết ba lượt lụa bọc, có một nắm bông, lấp lánh ánh kim loại: một chiếc dây chuyền mặt trái tim đúc. Một cặp hoa tai, chính cặp hoa tai cô đã đòi lại mẹ tôi. Dưới món đồ tư trang, có tờ giấy gấp tư. Thứ giấy kẻ dòng của học trò. Trong đó, cô tôi viết nắn nót:

Của cô để cho Hằng: cách tường bếp bên trái ba bước chân, cách cây cau đầu tiên (kể từ bể nước) hai bước chân rưỡi. Đào sâu một mét tây sẽ thấy. Nhớ đào đêm sáng trăng, sẽ có bóng che của cây cam.

Dưới những dòng chữ, là sơ đồ vẽ nguệch ngoạc. Một ngôi sao vẹo vọ, với các khoảng cách được ước định tới vật chuẩn: nào bể nước, nào tường bếp, nào cây cau… Nét bút vụng dại, nhưng quyết liệt… Có lẽ, khi cô đào hố chôn của trong một đêm mù mịt, hay khi viết những dòng chữ này, cũng giống hệt như mấy chục năm trước – đặt con dao dưới đầu, hai tay chắp trước bụng ngủ giấc ngủ giữa màn sương để nuôi chí phục thù… Cô tôi, người đàn bà xinh đẹp có đôi mắt nhung huyền, lẽ ra…

Tôi nhìn ngắm, lần nữa rồi lần nữa, những bộ đồ cưới, những tấm áo dài rực rỡ, những phấn son đã được sắm sanh thầm lén và thầm lén nhốt trong bóng tối của chiếc hòm. Và tôi hiểu, khi tôi đưa chiếc quan tài chở xác cô ra bãi tha ma, thì tôi lại bật mở một chiếc quan tài khác, chiếc quan tài quấn xác chết của tuổi xuân, xác chết của những giấc mơ son trẻ, của cô…

Tôi sập nắp hòm, chạy khỏi căn phòng. Tôi khóc. Khóc đớn đau….

Ngày hôm ấy, tôi không thể làm được gì. Chiều, ăn cơm xong, tôi bảo bà Đũa trong nhà. Một mình tôi lững thững ra đồng. Trời còn sáng. Lũ trẻ chăn trâu đuổi nhau dọc bờ mương. Người đi làm từng tốp hối hả về. Chỉ các cô gái là vừa đi vừa chọc ghẹo nhau, cười như bị thọc vào nách. Tôi đến bãi tha ma, thắp hương mới cho cô. Hoa xưa đã tàn, gió bay tứ tung. Tôi đặt trên mộ vài chùm mẫu đơn vừa hái. Rồi ngồi đó, tôi ngắm khoảng đồng mênh mông vàng thẫm ánh chiều… Những ngày còn sống bên Nga, đã bao lần tôi hình dung tới cảnh này, như một hồi niệm, như ước mơ. Sao giờ đây nó đè nặng tim tôi với vẻ đẹp huy hoàng không suy suyển?… Giờ phút êm đềm sau những oi ả, nồng nực. Ánh chiều thếp vàng lên ngọn cỏ, bờ cây. Cánh chim ảo giác vụt lướt qua. Lớp hơi nước bồng bềnh, uốn lượn, đan xuyên trong ánh tà dương như khói… Đã bao lần bên đó, sau cánh cửa, nhìn tuyết trắng xóa, tôi mơ tưởng tới khoảng đồng xanh thắm này, bồi hồi nghĩ tới lúc nó trở thành một tấm thảm vàng dạt dào trong gió. Nhớ tiếng chim kêu lúc rạng đông, nhớ bóng cô lặn lội soi mình đáy nước, nhớ âm điệu xào xạc của bờ tre.. những vẻ đẹp đã vĩnh định trong hồn ta, trong thẳm sâu ký ức…

-Cú..ú…ú..

Một con cú mèo thét lên bên tai. Tôi giật mình đứng lên. Phải về làng. Không bóng người, chỉ có đôi chim đêm bay mải trên khoảng đồng quạnh quẽ. Tôi đi dọc con đường mòn lách giữa các hàng mộ chí. Chừng trăm thước sau, tới đường làng. Hai bên đường, tiếng ếch nhái, chẫu chuộc ì ọp vang lên. Vài nhà đã lên đèn. Những con nghé gọi mẹ trong chuồng. Tiếng bính boong của chuông chùa làng bên văng vẳng.

Bà Đũa đón tôi ở cổng:

-Có người chờ cô.

Tự dưng, tôi gắt vô cớ với bà:

-Mua đồ chứ gì?… Tôi không bán.

Trong bóng tối, một người đàn ông tiến lên, mặt dài ngoẵng như ống bơm:

-Thưa cô.

-Tôi không bán gì hết. Đồ đạc nhà này giữ nguyên tớt lượt giỗ trăm ngày.

-Tôi không mua đồ gỗ.

-Vậy ông cần gì?

-Tôi biết cô cần tiền làm giỗ trăm ngày cho bà Tâm.

-Việc ấy chẳng liên quan gì tới ông.

-Có ạ…

Ông ta cười, răng trắng nhởn như xương lợn khô trên khuôn mặt đen xì:

-Không bán đồ gỗ, cô phải bán vàng. Tôi biết vàng bà Tâm mua toàn vàng Kim Thành ngày xưa. Cô bán cho tôi. Tôi trả giá cao so với mọi người.

Gã đàn ông này là phù thủy chăng?… Tôi đứng đần mặt, không biết nói năng sao. Sau một lát, tôi tìm được cách từ chối:

-Lúc khác… Giờ tối tăm, tôi không thể đưa ông thử vàng.

Ông ta điềm nhiên đáp:

-Vàng bà Tâm không cần thử. Tôi mua ngay bây giờ.

Rồi, sau chút đắn đo, ông ta nói thêm:

-Cô đừng sợ, tôi không phải kẻ trộm cắp, tôi cần mua cho con gái tôi ít của hồi môn…

Nói xong, ông ta bước lên bậc tam cấp, vào nhà. Tôi bất lực, đành bước theo. Mua bán xong, ông ta ra về, đem theo mùi hôi khét của cái đầu lâu ngày không gội. Tôi ra hiên, nhìn theo. Bà Đũa đã đóng cửa, quay vào, tôi vẫn thấy ông ta còn đứng đấy, giữa khuôn cổng hình bán nguyệt tối om. Nỗi ám ảnh màu đen. Bóng ma của diệp lục. Những chiếc chiếc ao tù đọng, thối rữa, ảnh chiều loang đỏ như máu con vật tế lễ. Những quân bài tổ tôm cáu ghét quật xuống mảnh chiếu làng. Hang hốc của dục vọng. Tiếng cười và tiếng khóc sau lũy tre. Hình ảnh người đàn bà tím đen, đung đưa dưới sợi dây thòng lọng, giữa bốn bề lửa cháy…

Nhờ gã đàn ông ấy, tôi hiểu được những gì bóp nghẹt tim tôi. Gã vô tội, nhưng gã là cái cớ khai tổ những ý nghĩ mù mờ trong cõi vô thức. Tôi hình dung lại khuôn mặt dài như ống bơm, chẳng rõ đường nét, chẳng rõ màu mắt, khuôn miệng… Cần cảm ơn gã… Tôi ngồi xuống hiên. Trong nhà, bà Đũa vừa ngáp vừa nói vọng ra:

-Sương xuống, dễ cảm hàn lắm cô ạ… Các cô ở thành phố bấy như cua lột…

Tôi đáp:

-Cháu vào bây giờ, bà ngủ đi…

Trăng thượng tuần chập chờn trên vòm lá đen huyền bí của vườn cam. Rải rác quanh vành trăng, vài ngôi sao lớn. Tôi đăm đăm nhìn chúng. Hơn bao giờ hết, tôi thấy rõ đường đi của thời gian đang lướt qua khung trời. Như vệt đuôi sao chổi. Chúng xóa đi từng thời khắc của cuộc đời. Chúng xóa đi… mà trí nhớ con người lại không xóa nổi. Nhưng dĩ vãng chỉ là dĩ vãng. Những đồng tiền âm phủ không tiêu được trong phiên chợ trần ai. Tôi sẽ xin với vong linh cô tôi cho tôi bán nhà. Tôi phải đi. Ý muốn của những người quá cố chỉ có giá trị như vòng hoa trang trí trên các nấm mồ. Không thể tiêu phí cuộc sống bởi những cánh hoa tàn héo, những tối tăm, lầm lạc của quá khứ, mà phải hướng tới ngày mai.

Vành trăng thượng tuần lên cao hơn, tách khỏi vòm lá đen. Những ngôi sao không còn im lìm mà tỏa ánh lấp lánh. Chúng làm bắn tóe ra xung quanh từng chùm kim bạc. Tôi kéo vạt áo, tì cằm vào lòng bàn tay. Phút ấy, tôi mơ tới bóng mát của giảng đường. Tôi mơ tới phi trường xa xôi, nơi những chuyến bay cất cánh và hạ cánh.

DƯƠNG THU HƯƠNG

Hà Nội 10-6-1988