NHỮNG THIÊN ĐƯỜNG MÙ- Tập 3

nhung_thien_duong_mu__duong_thu_huong

CHƯƠNG 14

Từ lúc ấy, tôi ngong ngóng chờ buổi tối. Chờ sự xuất hiện của cái nhân vật có tên là: thằng cha Đường phó chủ tịch. Buổi trưa, họ mạc tới kìn kìn. Hết mâm này tới mâm khác. Tôi đóng vai trò của một con rối, mặc dù là con rối danh giá. Bất cứ ông chú, bà bác, rồi các thím, các cô, các dì, các già, các chị, các anh… xa gần nào được cô Tâm giới thiệu tôi đều phải tươi tỉnh chào. Trên môi, luôn thường trực một nụ cười giao đãi. Thế mới biết, nghề chiêu đãi viên cực nhọc. Cười cho đủ số lượng cần thiết trong một giờ cũng khổ không kém phải rặn ra những tiếng khóc hờ cho một đám ma có nhiệm vụ khóc. Tôi không ăn được miếng gì, mệt phờ. Ba giờ chiều, tôi húp nửa bát chè đỗ xanh rồi trốn sang nhà hàng xóm ngủ nhờ. Sẩm tối, cô Tâm cho bà Đũa sang gọi.

Tôi về nhà. Cây đèn măngsông đã được thắp sáng. Lần này, nó không đặt trên chiếc đôn sứ men xanh mà treo trên xà dọc. Ánh sáng trắng lóa khắp mấy gian nhà, khắp sân, vướt qua tường hoa tới dãy cau. Cả trong nhà lẫn ngoài sân đều la liệt các bàn cỗ. May thay họ đã ăn gần xong. Tôi theo cô Tâm ra mắt khi các mâm chè đã được bưng lên, thay thế cho cỗ mặn. Và các đĩa xôi gấc đỏ rói đang được chiếu cố rất mặn nồng:

– Xôi gấc thế này là hết ý đấy.

– Vâng, chẳng đám nhà ai nấu được thứ xôi gấc như hôm nay.

– Khó gì đâu, cứ nhiều đỗ xanh, nhiều đường, nhiều mỡ là khắc ngon.

– Đừng nói láo. Có một tạ đỗ với đường vào tay nhà bà cũng thành cháo khê. Có nhớ hồi đi công trường bà cho chúng tôi ăn xôi bánh đúc hay không? Dạo ấy bà còn đang xuân mà tôi cũng là trai tơ hơ hớ.

– Rõ đồ khỉ gió nhà ông.

– Ông ấy nói đúng đấy, xôi ngon tốn công lắm. Gạo nếp vo xong để cho ráo nước. Không khô phải lấy khăn mặt bông mà xoa. Gạo trăm hạt rời cả trăm mới trộn gấc. Mà gấc cũng phải chọn thứ gấc nếp, gai thưa, ruột dầy, màu thắm như son. Nạo ruột xong, bóp lẫn ruợu ngon mùi thơm mới dậy. Hết phần gạo, lo tới phần đỗ. Đỗ xanh đãi sạch vỏ, vẩy kiệt nước mới trộn muối. Rồi chõ đồ chỉ dùng được loại rộng miệng, kín vung. Nồi nước đáy không được đầy, hơi phì lên, ướt gạo là xôi nhạt. Ối dào trăm thứ công mới ra được miếng ăn ngon.

Cô tôi dẫn tôi len lách qua các dãy người. Người nào người nấy mặt đỏ gay, cười nói tưng từng vui vẻ. Từ sân vào nhà, tôi phải trả lời không biết bao nhiêu lần những câu hỏi giống nhau. Đại loại như:

– Cháu mười mất tuổi rồi? Mười tám cơ à?

– Học đại học gì? À… đại học tổng hợp văn? Thế học ra rồi làm nghề gì? Có được ngang chức trưởng phòng huyện hay không?

Tới trước đám người ngồi trên chiếc sập gụ, cô tôi nói:

– Cháu Hằng nhà tôi đây.

Cả đám người ồ ề nói gì tôi không nghe rõ. Tôi cúi chào lia lịa, miệng mấp máy cho phải phép. Rồi cô tôi rẽ rọt giới thiệu:

– Đây là ông Đường, phó chủ tịch xã. Cháu chào ông đi.

Tôi cúi đầu:

– Chào ông ạ.

Hình như ông chỉ hơn cô tôi có vài ba tuổi. Ông ta gật gù:

– Ờ ờ…

Cái miệng hơi méo nhếch sang một bên. Tôi chỉ chờ có vậy, liền ngầng mặt lên, bắt chuyện:

– Ông làm ở xã lâu chưa ạ?

– Cũng khá… ờ ờ…

Tới đó, tôi không tìm được câu nào để hỏi thêm. Tuy nhiên, chỉ trong khoảng thời gian ngắn ngủi ấy, tôi cũng đã kịp quan sát. Đó là một người đàn ông thấp, to ngang. Mặt không ra tròn cũng không ra vuông, đỏ như mắc chứng xung huyết. Cặp mắt lẩn dưới hai mí dày mỡ. Mũi ông ta ngắn, có vết sẹo chém ngang cánh mũi phải. Một cái miệng dẩu ra như thổi lửa, môi đỏ một cách bất thường, trông không đẹp mà rờn rợn. Ông ta nhìn cô Tâm, tươi cười:

– Bây giờ mới thấy bà chủ. Bà chủ ngồi xuống ăn với anh em chúng tôi một hòn xôi, uống với anh em chúng tôi một hớp ruợu chứ. Thời đại chúng ta là thời đại duy vật mà.

Nói xong, ông ta tự thưởng công bằng cách rinh rích cười. Cô tôi đáp:

– Cảm ơn ông. Tôi ăn mỗi mâm mỗi miếng cũng no. Mời các ông tự nhiên cho.

Ông phó chủ tịch ngả người, nắm cánh tay cô Tâm:

– Không ăn bà chủ cũng cứ ngồi đây. Lát nữa tôi có việc phải nhờ cậy bà chủ đấy nhé.

Cô Tâm đáp nhẹ nhàng:

– Vâng. Ông phó chủ tịch sai gì mà chúng tôi chẳng phải làm?

Người đàn ông dãy lên đây đẩy:

– Ấy chết, bà nói thế có kẻ nghe thấy là khổ tôi. Họ không biết chuyện đùa mà tưởng là chuyện thật.

Cô Tâm vẫn cười:

– Gớm, sao ông phó chủ tịch lo xa như vậy?

Ông ta lắc đầu:

– Không lo xa sao được hả bà? Thời này, người ta hại nhau như bỡn.

Cô Tâm vẫn cười cười:

– Thế à? Tôi chẳng mấy khi tới nới hội họp, tôi không biết. Ai dám hại ông phó chủ tịch thế?

Ông ta cũng cười, gượng gạo:

– Có, có chứ. Nhưng bà biết mà làm gì, cho nó nặng đầu óc ra.

Rồi nheo mắt, ông ta nhìn cô Tâm có vẻ thân mến:

– Cứ như bà bây giờ là sướng nhất làng. Cửa cao nhà rộng, thóc đầy bịch, tiền đầy túi. Tháng ngày thanh thản, lời nặng tiếng nhẹ chẳng đến tai.

Cô Tâm vẫn cười:

– Ra tôi sướng thế ư? Thế mà tôi chẳng biết. Kìa, các ông uống rượu nữa đi chứ! Hãy còn quá nửa chai.

Ba bốn người cùng giơ tay:

– Thôi thôi, cơm no ruợu say rồi bà chủ ạ.

Cô Tâm gọi:

– Dưới nhà có ai rảnh giúp tôi cái mâm.

Có tiếng:

– Dạ.

Rồi một người đàn bà to béo nhưng nhanh nhẹn lên, dọn mâm bát đi. Chắc bà ta mới tới buồi chiều, vì tôi không biết mặt. Cô tôi thong thả mang phích nước, ấm chén lại:

– Chè tôi ướp ngâu lấy, các ông uống thử xem.

Phó chủ tịch cười bả lả:

– Bà làm cái gì mà mà chả nhất làng này!

Cô Tâm lại cười:

– Chết nỗi, ông phó chủ tịch cho tôi đi tàu bay giấy.

Rồi cô chăm chú rót nước. Lúc ấy, tôi mới để mắt tới cái góc chéo, đối diện với gian nhà tôi đang ngồi. Góc ấy, khuất lấp sau cánh cửa, có một người ngồi bó gối. Ấy là người đàn bà có vết bớp trên má. Bà ta, xong nhiệm vụ đầu bếp, đã tới đó, ngồi lặng lẽ trong bóng tối, giương đôi mắt âm thầm lên. Cô tôi vẫn tươi cười chuyên trà mời khách. Phó chủ tịch Đường gật gù:

– Ngon quá là ngon. Bà dạy tôi ướp chè nhá. Tôi bảo nhà tôi trồng lấy vài bụi ngâu.

– Chết nỗi, ông quá lời. Sao mà tôi dám dạy ông?

Ông ta hăng hái:

– Không khách khí gì đâu. Tôi nói thật, thật trăm phần trăm bà Tâm ạ.

– Cái thời này con người đểu cáng lắm, tử tế thì ít mà ba que xỏ lá thì nhiều.

Cô Tâm cười:

– Chết nỗi ông lại quá lời. Tôi thấy người làng ta nhũn như chi chi ấy chứ? Chả thế ông sai quân bắt trói nhà Sâm không giấy má gì mà nó vẫn chịu.

Phó chủ tịch gật đầu:

– Đúng. Nó chống lại nghị quyết của chi bộ, tôi không gông cổ nó vào nhà ngục là may.

Cô Tâm vẫn cười cười:

– Theo luật pháp, bắt người phải có lệnh. Nhà Sâm không trộm cắp, không buôn thuốc phiện lậu, không chứa chấp kẻ gian. Nó chỉ mắc tội chửi bí thư chi bộ xã và chửi ông. Không có giấy lệnh nó cũng chìa cho các ông trói, thế nghĩa là dân làng này đệ nhất hiền lành, ông chẳng nên trách họ ba que xỏ lá.

Ông ta cau mày, nói gay gắt:

– Bà bảo những trường hợp cứng đầu cứng cổ như thế, tôi không xử trí nhanh thì còn gì là kỷ cương nữa? Hôm nay nó chửi bí thư chi bộ huyện, rồi ngày kia là… là…

Tới đó, ông ta ngừng lại, giơ bàn tay chém một nhát vào không khí rồi dằn giọng:

– Chính quyền phải chuyên chính. Không chuyên chính là không được. Từ xưa tới nay, nhà nước nào cũng phải có phép tắc, kỷ cương.

Cô Tâm vẫn cười:

– Rước các ông xơi chè. Thuốc đây ạ. Tôi nhờ người quen mua được thứ Du Lịch còn mới.

Đoạn, quay lại phó chủ tịch Đường, cô nhẹ nhàng nói tiếp:

– Tôi không được học chính trị, tôi không hiểu phép tắc, kỷ cương của nhà nước ra sao. Nhưng hồi nhỏ, thầy tôi còn sống, thầy tôi có kể cho tôi nghe chuyện này. Nếu các ông cho phép, tôi xin kể hầu các ông.

Mấy người đàn ông nhao nhao đáp:

– Kể đi, bà kể đi.

– Khoan đã, cho tôi vô phép rít điếu thuốc lào. Lâu lắm mới có dịp rảnh rỗi thế này.

Một ông khách nạp thuốc, châm lửa, rít ro ro. Rồi ngửa mặt lên, nhả khói. Trong khoảng thời gian ấy, cô Tâm đợi chờ, vẻ mặt bình thản. Mấy đám người chơi tú lơ khơ và tổ tôm ngoài sân đã bỏ cuộc vào hiên, hóng chuyện. Trong góc tối bên kia, không chỉ là người đàn bà nhỏ thó có vết bớt trên mặt mà cả một đám đàn bà con gái túm tụm ngồi.

Sau khi đã nhả khói một cách mãn nguyện, ông khách già ngồi bên cô Tâm nói:

– Nào, bà kể đi.

Cô Tâm đặt chén trà xuống, cất tiếng:

– Thầy tôi kể rằng: Dưới triều vua Tự Đức có một ông quan Thượng Thư liêm chính lắm. Ông quê ở Thái Bình, dân thường gọi là cụ Thượng Chính. Vua Tự Đức đã phải có câu đối đề tặng:

Nam phi Bình bất chính.

Bắc phi Chính bất bình.

Hồi tham triều, cụ Thượng đứng ra làm một công trình thủy lợi lớn. Công trình này đem nước tưới cho đồng ruộng khắp vùng. Con kênh đào đi qua ba huyện. Trong ba huyện đó, có huyện quê cụ. Các ông biết rồi, đất đào thủy lợi xưa chạy vào ruộng nhà nào, nhà ấy phải chịu. Không nghiêm, những địa chủ giàu sẽ dẫn hối vàng bạc để con kênh đi xéo qua ruộng nhà khác. Những nhà nghèo, thấp cổ bé họng chẳng biết cầu cứu vào đâu. Cụ Thượng Đính suy ngẫm tìm ra cách thức công bằng nhất khi thực hành việc đào kênh. Đêm tối, cụ cho lính đốt đuốc, rọi theo ánh lửa mà kẻ đường thẳng trên mặt ruộng. Hai hàng lính cầm đuốc đứng hai bên. Người chỉ huy điều chỉnh các cột lửa sao cho chúng thành hai đường song song từ đầu tới cuối. Cứ theo vệt lửa làm mốc mà đào. Tàn lửa đuốc này thắp lửa khác. Không chủ ruộng nào dám kêu ca. Con kênh thẳng thư kẻ mực Tàu, cứ thế dài ra mãi. Tới phần huyện quê nhà, quan chức sở tại bảo rằng theo đường kẻ của dòng kênh, đám đất sắp bị đào chính là mảnh ruộng có phần mộ tổ tiên cụ. Họ xin cụ Thượng hủy lệ, cho con kênh vòng sang hướng khác. Cụ Thượng Chính bảo:

– Ta biết xót phần mộ tổ tiên ta, vậy những kẻ khác không biết xót hài cốt cha ông họ hay sao? Lệ đã định, cứ thế mà làm.

Đám quan chức dưới quyền chỉ biết cúi đầu tuân thủ. Khi đào tới phần mộ của cụ tổ ba đời cụ Thượng, nước phun ra đỏ như máu. Những toán lính đang đào, hoảng sợ nhảy lên, chạy về dinh phi báo. Lại một lần nữa, cụ Thượng ra lệnh:

– Không được làm rối kỷ cương đất nước.

Quan quân rập đầu lạy tạ, tiếp tục đào kênh. Con kênh ấy hoàn thành, chảy suốt qua ba huyện. Khắp vùng no ấm. Người ta đã đặt cả đồng dao, cả tích chèo về nó. Hồi ông tôi và thầy tôi còn sống, chẳng mấy người là không biết chuyện này.

Cô tôi ngừng lại một vài giây, rồi cười:

– Đấy, các ông tính xem, những ông thượng thư thời nay, đếm được bao nhiêu người như cụ Thượng Chính?

Đám người ngồi trong nhà ồn lên, Họ xuýt xoa, bình phẩm. Người lên tiếng trước tiên, là ông phó chủ tịch:

– Ghê thật, các cụ nhà ta ghê thật.

Nhưng tiếng ông ta chìm đi giữa những tiếng xôn xao:

– Quan như thế mới là quan chứ!

– Chuyện nghe như Đông Chu Liệt Quốc ấy. Dân ta thiếu gì người quân tử đâu?

– Bà Tâm nhớ dai thật. Tôi cũng đã nghe chuyện này mấy lần mà quên biến đi mất. Hồi ông cụ nhà tôi với cụ bên ấy đánh cờ, tôi chuyên đứng chầu rìa, xem chơi. Năm ấy, hình như tôi chín, mười tuổi. Bà Tâmn tuổi gì nhỉ? À, tuổi Hợi, vậy thì tôi hơn bà hai tuổi.

Cô Tâm rót nước uống, rồi nói tiếp:

– Thầy u đẻ ra tôi, chẳng được tích sự gì, ngoài cái nét nhớ dai. Dạo ấy, thầy tôi còn kể nhiều chuyện nữa. Trong đó, tôi nhớ nhất chuyện quan huyện Trần Bình.

– Hay quá, hay quá, kể đi dì Tâm.

– Hôm nay thế mà thú vị. Vừa được chén, vừa được nghe chuyện.

– Trời phật ban lộc cho ta.

Ông khách già ngồi bên cô tôi lại cười khà khà:

– Ấy, gượm đã, cho tôi làm mồi thuốc.

Bọn đàn bà ngồi trong góc tối nhao nhao phản đối:

– Thôi thôi, bác Tâm kể đi. Kệ ông ấy.

– Rõ cái nhà ông này, về nhà mà bắt bà ấy chờ.

Lại có giọng đàn ông hòa giải:

– Thôi mà, sao các bà nóng tính thế! Chờ ông ấy một tẹo đã sao?

Nói thế thôi, nhưng người ta vẫn an lòng chờ cho ông khách nghiện rít hết điếu thuốc, và nhả khói một cách thư thả. Tới đó, cô Tâm lại cất giọng kể:

– Thời cụ Thượng Chính về hưu, an nghỉ tại quê nội là phủ Tiên Hưng. Phủ Tiên Hưng giáp huyện Duyên Hà. Dạo ấy tên quan huyện Duyên Hà là Trần Bình đi đón bố về làng, cả đám lính hầu đi theo, trống rong, cờ mở, tán lọng nghêng ngang. Bên đường có hai tên lính lệ khiêng một người nào đó trong chiếc võng xoàng xĩnh, trên đòn nghiêng vắt chiếc chiếu che nắng. Chiếu đã cũ ải. Tên lính dẹp đường của Trần Bình thấy vậy ngứa mắt chạy lên:

– Dẹp, dẹp mau.

Hai người lính khiêng cáng vẫn bước từ tốn. Tên lính huyện thấy vậy lấy roi quất vào chiếc chiếu tre.

– Nghe lệnh chưa? Dẹp cho quan lớn đi, dẹp…

Những cọng cói rụng xuống. Bên trong, một cụ già nằm yên, chiếc quạt lụa phủ lên mặt che nắng. Tên lý trưởng sở tại nghi hoặc giật mình ghé vào tai Trần Bình nói nhỏ:

– Bẩm quan lớn, hình như cụ Thượng nằm trên võng.

Trần Bình tái mặt, vội quát bọn lính dẹp hết cờ quạt, võng lọng, còn chính hắn nhảy xuống đường, quỳ lạy. Nhưng chiếc võng gai cũ kỹ vẫn lướt qua.

Nghe đâu, sau đó tên quan huyện hống hách đã tới nhà cụ Thượng lễ tạ tội “Nghi thức lộng hành.” Cụ Thượng ra lệnh cho lính rút vồ nọc nện hắn hai vồ. Tới vồ thứ 3, người con cả của cụ chạy ra quỳ lạy cha, xin tha tội cho hắn. Người con cả của cụ Thượng Chính là ông cử Ái, một người hiếu đễ, tốt bụng, học khá. Ông đã đỗ cử nhân, được nhà vua vời ra làm quan, nhưng cụ Thượng Chính đã bác bỏ việc tiến cử con trai mình. Cụ bảo vợ:

– Thằng này tốt bụng nhưng gàn, để cho nó làm quan là hại dân…

Cụ bà nghe ra, không dám than thở nửa lời. Ông Cử Ái tuân lời cha, ở nhà dạy học, tham gia việc nông tang, không màng danh lợi.

Lại nói về tên quan huyện Trần Bình. Thầy tôi kể không biết bao nhiêu chuyện về hắn. Đại để, chuyện hắn xui dân lành kiện tụng để có dịp moi tiền, khiến cả hai bên khuynh gia bại sản. Nào là chuyện hắn ám hại kẻ khác. Nhưng lâu quá tôi không nhớ rõ. Riêng chuyện quan huyện vời hát xẩm, là tôi nhớ như in.

Cô tôi dừng lại, rót nước uống. Cả đám cử tọa im phăng phắc, chờ đợi. Mắt họ dán như dính vào gương mặt hao gầy, có vẻ đẹp úa tàn. Cô tôi, không nhìn ai, rẽ ràng kể tiếp:

– Trần Bình có một ông bố mù và đứa con trai duy nhất cũng mù. Hắn dán yết thị trước cửa công đường: “Ai chữa cho ông thân sinh và công tử của quan huyện khỏi bệnh, sẽ có thưởng lớn.” Yết thị dán được nửa năm, mới có một thầy lang dưới thành Nam lên xin chữa bệnh cho nhà quan huyện. Ông lang này chưa phải danh y, nhưng là người tài cao học rộng biết đủ nho, y, lý, số. Ông cho bố và con trai Trần Bình uống non hai chục thang thuốc, bệnh đã đỡ hẳn. Từ chỗ mù hoàn toàn, cả hai người đã nhìn thấy mọi vật. Ông bố tên quan huyện bảo hắn:

– Tao trông thấy hai thằng Bình.

Còn đứa con trai độc nhất của hắn, cũng thế. Người ta bảo nó ngồi trong buồng tối, không cho ánh sánh bên ngoài lọt vào, cũng không thắp đèn, để thằng bé không thể nhận biết vật gì. Rồi, chính Trần Bình cầm cây nến, mở cửa vào phòng. Thằng bé reo lên:

– Con nhìn thấy hai bố Bình, hai cây nến…

Tên quan huyện tủm tỉm cười, không nói gì thêm. Sáng hôm sau hắn đưa cho thầy lang một đồng bạc, để thầy tiếp tục đi lấy thuốc ở thành Nam. Ông thầy thành thực, không nghi hoặc. Tới cửa hàng thuốc, mới vỡ lẽ là đồng bạc giả. Thầy lang trở về, thưa với gia chủ:

– Bẩm quan lớn, con không lấy được thuốc cho cụ với công tử. Dưới thành Nam, người ta chê đồng bạc ngày hôm qua là bạc giả.

Trần Bình cười nhạt:

– Thầy nói thế nào? Tôi là quan, người lo việc nước là lại chứa bạc giả trong nhà hay sao?

Nói xong, hắn chắp tay sau lưng, lững thững vào buồng. Ông thầy lang ngớ người, quay về nghĩ ngợi. Càng nghĩ càng toát mồ hôi. Ông biết Trần Bình bày kế quỵt tiền công. Quyền lực trong tay, hắn khép tội chứa bạc giả ông có chạy lên rừng cũng không thoát hình ngục. Ba giờ sáng hôm sau, ông thày thu xếp áo quần, khăn gói. Chờ bọn gia nhân mở cổng sau cho tá điền đi làm ông thày cũng lẻn đi luôn. Trước khi rời huyện, ông ta chạy ra chợ. Ở chợ, có một gia đình xẩm sống dưới mái lều chúa. Người ta gọi như vậy vì mái lều được cất lên làm phúc, cho những kẻ nhỡ độ đường trú thân. Một ông xẩm già, hai vợ chồng xẩm với đứa con trai lên bảy. Tất cả đều mù. Tất cả đều có giọng hát đủ kiếm miếng cơm độ nhật. Mới mờ sương, nhà xẩm đang lục đục trở dậy luộc khoai ăn sáng. Ông thầy lang tới gọi:

– Này, quan huyện sai tôi tới gọi cả nhà cụ tới công đường. Hôm nay, có ngày lễ lớn. Quan muốn nghe hát xẩm.

Ông xẩm già mừng quá, run lập cập:

– Thật phúc đức quá, có thật không thầy?

Ông lang bảo:

– Tôi là gia nhân của quan huyện. Quan sai tới gọi nhà cụ sớm để lo sắp đặt ăn uống, rồi ôn luyện bài vở cho chu đáo. Hôm nay, có các quan khách tỉnh bên sang chơi.

Cả ông xẩm già, cả vợ chồng nhà xẩm cúi rạp đậu cảm tạ:

– Nhà con xin đội ơn thầy. Cuối giờ mão, chúng con sẽ có mặt tại cổng công đường, không dám sai.

Thày lang chào cả gia đình nhà xẩm rồi ra bến xe, chuồn thẳng.

Lại nói tới nhà xẩm. Nào ông nội, nào cháu đích tôn, nào vợ chồng xẩm ra công mà ôn luyện bài vở. Nấu khoai ăn xong, tất ta tất tưởi, dắt nhau tới công đường. Đám lính gác cản lại, gia đình xẩm kêu la ầm ĩ.

Trong dinh, Trần Bình thức giấc, nghe ồn ào, sai người ra hỏi. Người nhà bẩm có đám hát xẩm chờ trước cửa công đường, bảo là gia nhân của quan huyện ra chợ gọi họ từ sớm. Hôm nay quan huyện có lễ, rước khách các tỉnh sang chơi, muốn nghe hát xẩm. Trần Bình hỏi thầy lang, ông ta đã không cánh mà bay. Hắn biết ông lang chơi xỏ, sai lính phóng khắp nơi tìm. Nhưng thầy lang có phép tàng hình đã biến mất. Chỉ khổ cho ông cháu, cha con nhà xẩm, bị Bình sai tụi lính giã cho một trận đòn, rồi tống ra cửa.

Ông thày lang thành Nam đi mất, nhưng lời nguyền của ông ta với Trần Bình đã thành sự thực. Bạ cắt thuốc, chẳng bao lâu bố hắn, con trai hắn mù trở lại. Bảy năm sau, hắn cũng mù nốt. Đi đâu cũng phải có người dắt. Riêng đánh tổ tôm, chả cần ai nhắc, hắn vẫn đọc vanh vách tên các quân bài. Nhưng cảnh ông mù, cha mù, con mù… tam đại mù đã trở thành câu chuyện truyền khẩu cho nhân gian. Thầy tôi bảo Trần Bình không có ham thú nào hơn thú kiếm tiền. Các đời quan trị nhậm địa phương, có người tốt, có người xấu, nhưng ngay cả những người xấu nhất cũng không ai đạt tới mức độ tàn bạo và vô liêm sỉ như hắn. Sau, người ta đem hắn đối với một ông quan thanh liêm đời trước, tên là Phạm Thụ. Câu đối như thế này…

Phạm Thụ hữu tồn, dân hữu khố

Trần Bình bất khứ, hộ vô mao…

Đám cử tọa nhếnh mắt lên, vừa nghe vừa nhìn miệng cô tôi. Khi cô đọc xong vế đối, đám đàn ông ồ lên. Người cười, người vỗ đùi bồm bộp. Đám dàn bà, có người cười rúc rích, có người ngơ ngác nhìn quanh. Rồi một thiếu phụ vẻ bạo dạn, cất tiếng:

– Mọi người cười gì thế?

Người ta vẫn ồn ào tán chuyện không ai trả lời chị. Chị nhắc lại lần thứ 2, cao giọng hơn:

– Câu đối ấy nghĩa thế nào? Các ông phải giảng giải cho bọn đàn bà chúng tôi chứ?

Ông khách nghiện thuốc lào đang ngửa mặt lên trời há miệng phô hai hàm rắng đen xì khói thuốc mà cười. Thấy thế, ông đáp lời:

– Này nhé, nghe cho rõ: Phạm Thụ hữu tồn, dân hữu khố. Nghĩa là quan Phạm Thụ còn trị nhậm, dân còn khố mà mặc. Trần Bình bất khứ, hộ vô mao. Nghĩa là: quan Trần Bình chưa đi, thì… đến cái con ba ba nhà các chị cũng chẳng còn râu…

– Úi giời ơi.

Đám đàn bà con gái rú lên, người nọ đấm người kia thùm thụp. Họ cười, cười ngặt nghẽo, cười giàn giụa nước mắt, cười ré từng hồi, nức từng cơn:

– Ối cha mẹ ơi, phải gió cái nhà ông này.

– Có nhà bà phải gió ấy. Không biết, người ta giảng cho. Đã chẳng cảm ơn lại còn nói láo.

Đám đàn ông gật gù, liếc nhìn nhau:

– Giỏi thật, giỏi thật… Thật là tuyệt.

– Mấy ông đồ nho thâm thúy. Chịu các ông.

Trong khóe mắt, trong nụ cười của họ, dù ồn ào hay thầm kín, đều hàm chứa những ẩn ý. Tôi lại đưa mắt về phía bóng tối đồi diện với mình. Người đàn bà có vết bớt trên má vẫn ngồi lọ thỏm trong đám phụ nữ. Nhưng đôi mắt sâu của bà ánh lên như hai hòm than. Nóng và dữ dằn. Tôi không quên được đôi mắt ấy. Giữa đám người ồn ào cười nói, tôi thấy ông phó chủ tịch Đường cũng cười. Chiếc miệng thổi lửa hơi lệch của ông ta nhếch lên, phô những chiếc răng nhỏ. Hai gò má ông ta sạm đi, không còn giữ được màu đỏ ban đầu.

Rồi như không chịu được không khí ấy, ông giơ đồng hồ đeo tay lên xem, cao giọng:

– Nào bà chủ còn gì cho ăn uống nữa không?

Cô Tâm vẫn cười tươi:

– Ông phó chủ tịch muốn ăn uống gì, tôi vẫn còn đủ sức phục vụ ạ.

Ông Đường cười:

– Đùa thôi. Có cỗ yến bây giờ cũng lèn vào đâu được. Thôi, tôi về bà chủ nhé.

Cô Tâm nói:

– Lúc nãy ông có bảo rằng…

Ông ta gật đầu:

– Tôi nhớ… tôi nhớ rồi.

Rồi đưa mắt liếc quanh, ông hạ giọng:

– Thôi để khi khác.

Cô tôi cười, giọng gạn gùng:

– Có gì khúc mắc đâu mà phải để khi khác. Ông cứ nói luôn cho xong.

Ông phó chủ tịch hơi cúi đầu, vẻ như ngại ngần, rồi ông ta nói:

– Tôi vừa cho cháu lớn ra ở riêng. Nghe bà chủ có nghề, lại vẫn giữ được bộ máy ép miến, muốn phiền bà cho cháu học.

Cô Tâm vẫn cười:

– Không khó gì chuyện ấy. Chẳng cứ con ông phó chủ tịch, con ai tôi cũng giúp được. Chỉ ngại nỗi là việc làm miến trông tưởng nhàn nhưng còn mất sức hơm làm ruộng. Cô bên nhà xưa nay có lấm chân lấm tay đâu. Hồi còn ăn công điểm, cô ấy làm trong đội tuyên truyền văn nghệ. Sau lên tỉnh học. Từ thời khoán việc đến nay, ông bà vẫn phải nuôi không.

Hai gò má ông phó chủ tịch lại đỏ rực lên. Ông ta gật đầu:

– Phải, phải, nhưng kỳ này tôi nhất quyết tống cổ nó ra ở riêng. Tay làm hàm nhai, đói no kệ xác.

Những tiếng cuối cùng, ông ta vội vã đến nuốt cả lời. Rồi giơ đồng hồ lên xem lần thứ 2, ông bảo:

– Gay quá, thế mà đã gần 10 giờ rồi. Tôi còn phải họp một lát. Thôi chào cả nhà nhé.

Lác đác, có tiếng chào lại:

– Vâng, chào ông.

– Chào ông.

Tấm thân đậm, thấp của ông ta lách rất nhanh qua đám người. Ánh đèn pin quét lóe ngoài sân, rồi tiến ra ngõ. Cô Tâm tôi nói với ra:

– Ngoài ấy có ai mở cổng cho ông phó chủ tịch không?

– Tôi đây.

Giọng bà Đũa đáp lại. Ngoài cổng, có tiếng chó sủa. Rồi mỗi lúc, tiếng chó sủa mỗi xa hơn. Trong nhà, tiếng cười đùa ồn ĩ:

– Hôm nay có đứa bị trát gio vào mặt nhé. Thật ác giả ác báo.

– Này, nói thế mà nghe được. Làng này mới chỉ có ác giả, đã làm gì có ác báo?

– Rõ ông thật hàm hồ. Còn thế nào nữa hở ông?

– Bà mới thật hàm hồ, bà tưởng nghe vài câu chuyện thế là mọi việc sẽ đâu vào đâu vào đấy sao? Loại người đã xoay thừ bữa chén xoay đi thì làm gì còn liêm sỉ. Lại quyền hành, dấu má nắm trong tay. Rồi mà xem, nhà chị Hài đố có thoát!…

– Chị ấy đang kiện trên huyện. Chẳng nhẽ giữa thời buổi này, lại thanh thiên bạch nhật.

– Tôi với bà cược nhé!

– Ờ thì cược. Cái gì nào?

– Ít thôi. Một cổ lòng ngon với ba lít rượu. Đích thứ rượu gạo nhà ông cả Từu đấy nhé.

– Thôi. Cám ơn bà chủ, được bữa no ruột no cả lòng. Các ông các bà, về đi thôi. Cho khổ chủ còn dọn dẹp.

Mọi người lần lượt ra về. Cô Tâm tôi bê chồng thúng không của các bà đầu bếp lên phản, chuẩn bị cho mỗi người một phần cỗ. Một đĩa xôi gấc, một khoánh giò nạc, một mảnh chả ống, chừng ba lạng thịt luộc, dăm quả chuối tiêu. Mỗi phần được bọc gói cẩn thận bằng lá chuối tươi hơ lửa, đặt vào thúng. Các bà bưng thúng quà, trông như đi lễ chùa về. Người đàn bà có bết bớt trên mặt nói:

– Đội ơn chị Tâm. Đáng lẽ tôi còn phải đem lễ tạ chị.

Cô tôi bảo:

– Có gì đâu. Lòng vả cũng như lòng sung. Chị Hài bị bức hại, ít nhất cũng nửa dân làng đau ruột. Thôi, chị đem phần cỗ về cho các cháu.

Cô tôi tiễn các bà đầu bếp ra ngõ. Đám người giúp việc đã dọn dẹp gọn gàng. Người nào nhận phần xôi thịt của người nấy, lũ lượt kéo về luôn. Cô Tâm chào người này, trò chuyện hỏi han người kia, dịu dàng và kiên nhẫn. Dáng người bé nhỏ, lưng mỏng, vai mỏng, lại mặc quần áo thẫm màu, trông xa cô như đứa bé gái. Lúc cô tiễn khách cuối cùng, đóng cổng rồi quay vào, đã quá nửa đêm. Trời mát lạnh. Sương xuống, thấm ướt hàng hiên. Cô thở dài khoan khoái, kéo tôi ngồi xuống bậc tam cấp:

– Thế nào, có mệt không con?

Tôi nói:

– Cô mệt hơn nhiều. Cháu có đụng tay vào việc gì đâu?

Cô cười:

– Con chẳng phải mó tay vào việc gì hết. Còn cô, cô đã quen.

Nói xong, cô bóp chặt tay tôi. Tôi không muốn nói gì thêm, để nguyên bàn tay mình trong bàn tay nhỏ bé xơ xác của cô. Từ lớp da thịt ấm nóng và thô nháp ấy, truyền sang tôi niềm yêu thương dịu nhẹ. Chúng tôi ngồi như thế, giờ lâu. Trăng hạ tuần nhô khỏi vườn cam, đính một mảnh ngọc xanh xao, trên bóng tối dày đặc của vòm lá.

CHƯƠNG 15

Tàu đỗ lại đột ngột khiến người đàn ông răng bạc và tôi cũng bật ngửa về phía sau. Nó chạy thêm vài chục thước nữa, rồi dừng hẳn lại. Ga mới đứng sừng sững dưới ánh đèn. Ga này vắng khách. Trên đường kè xi măng, chỉ có dăm người đủng đỉnh lên tàu. Những chiếc vali nhỏ nơi tay họ giống như hộp đựng đồ hóa trang của diễn viên. Ga không lớn, nhưng kiểu kiến trúc nặng nề. Chúng giống những tảng đá xếp xô lệch, chồng chất lên nhau. Và những cây cột đèn đứng thành hàng đều đặn trên khoảng sân rộng, trông trơ trọi, chẳng ăn nhập vào đâu. Tuyến đường này, tôi đã đi vài lần. Tên các nhà ga, tôi không nhớ hết. Những cái tên Nga, dài lòng thòng, trúc trắc đối nghịch tâm hồn giản dị của họ. Nhưng bù vào đó, địa thế và kiến trúc các nhà ga, tôi nhớ như in. Ga này xấu xí. Không hiểu vì sao, cứ nhìn thấy nó tôi đã có cảm giác nặng nề, u uất. Dường như những dáng thô lậu, thiếu hài hòa ấy hăm dọa con người, đem cho họ những dự cảm không may mắn.

Tàu dừng ở ga khá lâu, có lẽ do bảng điều phối chung của ngành đường sắt. Trong khoảng thời gian chờ đợi, tôi móc trong túi được một nắm kẹo. “Chìa khóa vàng.” Tôi mời khách đồng hành. Ông ta cười váng lên:

– Răng tôi sắp hỏng hết rồi. Kẹo là kẻ thù số một đấy.

Tôi nhí nhách bóc kẹo, mong cho con tàu nhanh nhanh rời ga.

Rồi cũng tới lúc tàu rời ga thật. Những khối đen nặng nề từ từ trôi về phía sau. Cả các cột đèn trơ trọi, với những bình thủy tinh chụp hình trái anh đào lộn ngược. Cả cái bồn hoa hẹp và dài, chạy dọc theo kè xi măng, rùm ròa loài cây gai đầy hoa nở.

Người đàn ông mở sổ ra xem, và nói:

– Còn ba ga nữa thôi. Khoảng một giờ bốn mươi phút nữa ta sẽ tới Mátxcơva.

Tôi đáp,

– Vâng.

Ông ta hỏi,

– Có người chờ cô ở đấy chứ?

Tôi lúng búng đáp,

– Không biết. Có thể có.

Ông khách liếc nhìn tôi, rồi nhún vai:

– Một con chuột nhắt như thế này mà không có ai ra đón ư?

Tôi mỉm cười, thay cho câu trả lời. Còn ông ta rung đùi nhìn tôi, mắt nheo lại đầy hoài nghi. Lúc ấy, có tiếng mở cửa. Hai gã trai trẻ bước vào. Một gã cao to, lưng gấu, tóc vàng. Gã kia tóc đen, lông mày đen, ria mép đen, kiểu như người xứ Grudia. Toa tàu tràn ngập mùi rượu. Người đàn ông ngồi bên tôi ngả người ra phía sau, duỗi dài đôi cẳng chân. Rồi ông ta đưa mắt nhìn hai gã trai trẻ. Ngược lại, hai gã không nhìn ông ta mà nhìn tôi:

– A…

Gã tóc đen cất tiếng reo rồi xô tới:

– Mày có quần bò mốc không? Tao mua.

Tôi lắc đầu,

– Không có.

Dường như gã không nghe tôi trả lời, gã cao giọng nhắc lại lần thứ hai.

– Quần bò mốc, quần bò hoa. Tao mua cho.

Tôi đáp lại, to tiếng hơn.

– Không có.

Gã tóc vàng, lưng gấu cúi đầu xuống:

– Tao trả 130 rúp, bán đi. Ở Mátxcơva chúng nó mua rẻ hơn. Chỉ 115 rúp thôi.

Tôi đáp,

– Tôi đã bảo là tôi không có.

Gã tóc đen cau mày, hàng ria mép đen đụng đậy,

– Mày không muốn bán cho chúng tao, phải không?

Gã móc túi, chìa ra một nắm bạc,

– Chúng tao không ăn cắp, chúng tao trả tiền. Nhìn đây.

Hơi rượu phả vào tận mũi tôi. Tôi thấy óc não bắt đầu quay cuồng, hai thái dương nóng rừng rực.

– Tôi đã bảo là tôi không có. Mấy người điên hay sao?

Mắt gã trai tóc đen long lên, tức giận. Gã nhét tiền vào túi, tiến lên một bước, đứng chặn ngay trước mặt người đàn ông răng bạc. Rồi gã xỉa ngón tay vào trán tôi:

– Mày không chịu bán, phải không? Tụi Việt Nam chúng mày không bán, còn ai bán. Lần trước, một con bé giống mày bán cho tao chiếc áo phông tồi. Đem về nhà, em gái tao mặc. Một lần, đã rách hết đường chỉ. Ở đường phố Áccbát ấy, biết không, chỉ có chúng mày và tụi digan bán hàng rong.

Nước mắt và muối cùng lúc tràn lên che kín mắt tôi. Người đàn ông răng bạc đứng lên, làm gì đó, hình như túm cổ gã trai. Tôi nghe tiếng ông ta hét:

– Cút ngay, cút ngay, không ta cho chúng mày xuống đường tàu.

Tiếng ông ta bập bùng như gõ trống bên tai. Hình ảnh ông cũng lờ mờ, bị lủi chìm trong màn nước mắt. Tôi trùm tấm khăn len lên đầu, khóc nức nở, khóc như bị đòn oan, không còn kiềm chế được. Người khách đồng hành vỗ vai tôi nhẹ nhẹ, ra chiều an ủi. Rồi sau đó, ông ta khoanh tay, ngồi im lặng với vẻ mặt của một người từng trải, kiên nhẫn chờ đợi.

Bây giờ, tôi không hiểu vì sao tôi đã khóc như thế. Nhưng lúc ấy, nước mắt như dòng lũ không ngăn được. Lần đầu tiên, trong đời, tôi khóc trước một người khách lạ. Ông ta lại rút thuốc ra châm. Còn tôi, khi đã khan hết giọng, tôi rũ xuống như tàu lá héo, ngã vật vào góc toa tàu. Bên ngoài, những thị trấn, những phố lẻ lác đác ánh đèn trôi qua. Giống như những đốm lửa lạnh lẽo, xa cách, chúng nhắc nhở sân ga Mátxcơva năm trước.

Năm ngoái, cũng bà Vêra trao cho tôi bức điện:

“Hằng đến ngay Mátxcơva. Khách sạn Ratxia. Phòng 607.”

Tôi biết cậu Chính đã sang Nga, vì từ ba tháng trước, mẹ tôi viết thư báo. Tôi cũng ngồi trên con tàu này, vượt qua hàng ngàn cây số để tới Matxcơva vào một sớm lạnh lẽo. Tuyết chưa rơi, nhưng những đám lá vàng cuồi cùng của mùa thu đã ngả sang nâu sạm. Trên hè, những mảnh lá úa tàn bị gió lùa theo gót khách vãng lai. Trên không, thỉnh thoảng lại có vài chiếc lá vàng hiếm hoi bay lượn, như mảnh ước mơ của mùa thu bay lượn trước cửa ngõ mùa đông. Áo mỏng quá, tôi rét. Tôi phải giở bản đồ thành phố, nhanh chóng tìm bến xe điện ngầm gần nhất để xuống. Dưới các đường hầm ấm hơn trên mặt đất nhiều. Tìm được bến, tôi cắm đầu cắm cổ chạy. Lúc ấy, dân Mátxcơva chưa đi làm. Đường phố vắng, chỉ có những cảnh sát giao thông đứng trực trên các ngã tư, và trên quảng trường. Vừa chạy, tôi vừa ước ao một chén chè nóng pha đường. Nhưng lúc ấy, có tài thánh cũng không kiếm nổi một chén chè. Chưa tới giờ các quán ăn công cộng cũng như các bútphét mở cửa. Xuống ga, tôi ném đồng năm xu vào cửa tự động rồi bước qua hàng rào, vào trong. Tuyến đường tôi đi ngay gần đó. Hai phút sau, tôi đã ngồi trong toa, tở dồn dập vì mệt và lạnh. Da dẻ tôi dần dãn ra trong bầu kkhông khí ấm. Ngả người ra phía sau, tựa vào lưng ghế, tôi nhắm mắt lại, lắng nghe tiếng bánh xe nghiến lúc tới các bến đỗ, tiếng của các hành khách mới lên. Khách vắng, cả toa chỉ dăm người. Tuy thế, tôi không thấy côi cút, tôi mong mỏi giờ gặp gỡ. Tôi sẽ biết tin mẹ tôi, và mọi chuyện bên nước nhà.

Mỗi ga, người phát thanh viên lại xướng lên trong loa phóng thanh. Nhờ đó tôi có thể mở mắt đứng dậy vào đúng ga cần tới.

Tàu dừng hẳng, tôi bước lên bờ kè. Ở đó, phải nhảy một lúc cho ấm người, tôi mới đủ dũng khí ra đi. Từ ga tàu điện ngầm tới khách sạn rất gần, chỉ qua vài khúc phố với một vườn cây nhỏ, ngả nghiêng những thân liễu mềm, thân bạch dương trắng óng. Cỏ đã trụi, đất phơi ra màu đen xỉn như xỉ than nghiền vụn. Những con chim câu già lông cánh xác xơ kiếm ăn sớm, kéo lê bộ đuôi bẩn thỉu dọc hè phố. Dưới bờ sông đào, con sông đang ngủ, làn nước màu chì phẳng lặng, không gợn sóng xao. Có một người đàn ông cao lớn, thọc hai tay vào túi, đi dọc theo bờ kênh. Vừa đi, ông ta vừa huýt sáo khe khẽ. Đó là giai điệu một ca khúc đang được ưa chuộng “Tình Yêu Màu Xanh.” Tôi đi sau người đàn ông, lắng nghe tiếng huýt sáo vọng trong không gian yên tĩnh như mơ ngủ. Tiếng sáo làm tôi bớt lạnh. Giờ này, có tới, người gác khách sạn cũng không cho vào. Vì lẽ đó, tôi đã mê mải đi theo thứ âm nhạc dân dã kia. Tôi đuổi theo nó mãi, tới khi người đàn ông dừng lại trước một tòa nhà cao tầng, ngẩng lên tìm kiếm một địa chỉ nào đó, và ông ta thôi không còn huýt sáo nữa. Sang đường, tới khách sạn, tôi phải đợi hơn nửa giờ sau mới được vào. Cậu tôi đã chờ tôi ở phòng khách tầng dưới, cùng với một chàng trai. Anh ta là phiên dịch của đoàn. Nhờ anh ta năn nỉ với người gác phòng, tôi được đưa lên tầng gác thứ sáu, nơi cậu tôi ở. Hành lang trải dạ thẫm màu, vắng tanh. Khách còn đang ngủ. Cậu Chính nói oang oang:

– May quá, nhờ cậu chú cháu tôi khỏi phải đứng dưới nhà. Thôi nhé, lúc nào cần tôi sẽ gọi.

Tôi nói.

– Cậu khe khẽ thôi. Có phải ở nhà mình đâu?

Cậu há miệng.

– Ờ ờ…

Rồi đưa tay chào người phiên dịch. Tôi thấy anh liếc tôi, mủm mỉm cười trước khi mở cửa phòng mình. Chúng tôi còn phải đi xa nữa, người phiên dịch ở phía đông, cậu Chính ở phía tây. Qua gian sảnh chung, tôi thấy hai phụ nữ trẻ đang ngồi đan áo. Cậu bảo:

– Giá cháu giỏi tiếng Nga, bán được mấy chiếc áo len cánh dơi cho các cô này thì tốt.

Tôi nhìn cậu, không nói gì. Tới trước cửa phòng, cậu rút chìa khóa, mở cửa.

– Vào đi cháu.

Tôi vào trước, cậu vào sau. Cậu khóa cửa cẩn thận rồi mới đưa tôi vào phòng. Tôi hỏi:

– Cậu ở một mình?

– Ờ, tiêu chuẩn của cậu.

Ngẫm nghĩ tí chút, cậu nói thêm:

– Ở một mình là tiện nhất.

Nói xong, cậu đưa mắt liếc ra ngoài cửa sổ. Nơi đó, những mái nhà thành phố hiện lên trong làn ánh sáng trắng như sữa của bình minh. Cậu ngó nghiêng lần nữa, vẻ yên tâm. Lúc đó, cậu nói:

– Cháu đem giải quyết mớ hàng này.

Rồi quì xuống, cậu lôi chiếc túi du lịch nhét trong ngăn dưới cùng của chiếc tủ gỗ ra.

– Hàng mợ chuẩn bị đầu đủ lắm cơ.

Kéo phécmơtuya roạt một tiếng, cậu sắp sửa lôi các thứ hàng xếp bên trong ra. Tôi vội nói:

– Từ từ đã cậu.

Cậu bảo.

– Nhưng lát nữa cậu còn phải họp đoàn, còn làm việc với bạn.

Tôi bảo.

– Chẳng đi đâu mà vội, ở đây, người ta không thức dậy sớm như bên mình.

Cậu băn khoăn.

– Nhưng lỡ tay phiên dịch nó sang.

Tôi nói.

– Chẳng sang người ta cũng thừa biết.

– Hằng..

Cậu quát lên, mặt tái mẹt.

– Mày nói gì thế!

Tôi đáp:

– Cháu nói thật.

Cậu gằn giọng.

– Cháu mấy chắt, đồ mất dạy.

Tôi lặng im. Cậu hùng hổ đi tới trước cửa sổ, vén tấm rèm lên, chẳng hiểu cậu tìm thấy gì trong khung cảnh của thành phố sớm mai yên tĩnh? Hai tay chống nạnh, đôi vai nhô lên, chắc cậu đang trút những hơi thở dài, bực bội. Lát sau, cậu quay vào, giọng hiền từ hơn.

– Thôi… Nhưng lẽ ra, cháu cũng không nên nói thế.

Tôi lặng im, không đáp. Cậu khẽ nói.

– Hằng này, cậu không muốn nhờ người khác, hoặc họ dìm giá, hoặc họ thóc mách, đồn thổi. Cháu giúp cậu.

Tôi bỗng thấy mỏi mệt đến nỗi muốn lăn ra giường ngay. Các đầu khớp xương nhức buốt. Da nổi gai ốc đầy lưng, và những cơn ớn lạh liên tục chạy dọc theo xương sống. Cảm giác giá lạnh cộng với cơn đói dày vò, khiến các cơ bắp như chảy lan ra, không có cơ hồ giữ lại. Tủi cực chăng? Khóc chăng? Nước mắt đã cạn. Tôi nhìn cậu, nói khe khẽ:

– Đáng lẽ, cậu nên thông báo cho cháu tình hình gia đình, sức khỏe mẹ cháu ra sao? Đáng lẽ, cậu nên cho cháu một chén nước chè. Cháu từ hàng nghìn cây số tới đây.

Cậu đứng ngẩn người ra, rồi ờ ờ… những tiếng vô nghĩa, tay cậu trở nên thừa thãi. Lát sau, cậu đi đến tủ lạnh, mở cánh cửa. Bên trong, lổng chổng một đống bánh mì tròn, thứ bánh mì bán trong các bútphét, hai xu một chiếc.

Tôi nói:

– Cám ơn cậu.

Nói đoạn, tôi đứng lên.

– Cậu làm ơn mở khóa cửa cho cháu.

Cậu mở cửa. Tôi đi dọc hành lanh, tới gian sảnh. Hai người phụ nữ trẻ vẫn đang đan. Tôi hỏi họ bútphét ở đâu? Họ chỉ đường cho tôi. Đi tới cuối mút hành lang, xuống tầng thứ 3. Bútphét đã mở. Khách ăn còn vắng. Chỉ vài ba người đàn ông to béo ngồi ăn dămbông với phomát. Bàn trong cùng, một cặp trai gái cao gầy, tóc bạch kim, có lẽ người Bắc Âu đang uống bia. Tôi mua một phần tư con gà, một đĩa trứng ốplếp với một chiếc bánh ngọt phết mứt dâu. Chừng ấy, đủ cho tôi chống cơn rét mệt. Ăn sáng xong, tôi trở về phòng, mang theo túi hoa quả. Trong phòng, chừng non một chục người ngồi. Đó là đoàn công tác của cậu tôi sang họp. Anh chàng phiền dịch ngồi sát cửa, ghé mắt nhìn xuống phố xá. Những người khác, vừa nghe vừa nặn trứng cá hoặc gãi mụn ruồi. Người nào cũng có vẻ bồn chồn. Chắc chắn họ đang tính cách nào bán hàng hóa nhanh nhất và nhờ ai mua được nhiều hàng hóa nhất. Cậu Chính đang cao giọng nói:

– Tôi yêu cầu các đồng chí nêu cao tinh thần gương mẫu trên đất nước bạn. Tất cả phải có ý thức tổ chức.

Tôi lặng lẽ quay ra. Tới gian sảnh tôi ngồi vào một góc ghế bành, chờ đợi. Nhưng trong góc chiếc ghế bành êm ái bọc nhung đỏ, tôi thấy côi cút. Tôi thấy cực nhục. Cơn đói và rét qua rồi, chỉ còn lại cơn xâm kích của các làn sóng tê tái. Chúng giống như các làn sóng biển thực sự, cứ ào tới rồi lại rút ra xa, lặp đi lặp lại triệu triệu lần. Nhưng không phải nước mặn, mà một thứ muối xót xa, một nỗi đau quằn quại, một mỗi buồn thê thảm, không thể cắt nghĩa.

– Mẹ ơi i i…

Gương mặt mẹ hiện lên, trong khoảnh khắc ấy. Một gương mặt hiền dịu, tươi cười. Vừa thân yêu, vừa xa cách.

CHƯƠNG 16

 

Dẫu sao, mẹ cũng vẫn là mẹ của tôi. Tôi yêu người. Từ biệt cô Tâm, với làng quê, với bao nhiêu ưu ấp, tôi trở về thành phố. Mẹ đang ngồi chải đầu. Hình như mẹ vừa gội đầu xong, tóc chưa kịp khô. Tôi chạy ào tới mẹ:

– Mẹ… Mẹ nhớ con không?

Mẹ ngẩng lên, đôi mắt chớp chớp xúc động. Nhưng qua giây phút ấy, mẹ lại dằn dỗi, nói:

– Nhớ! Chỉ có con nhiều thú vui, con mới chẳng nhớ ai.

Tôi ôm mẹ cười:

– Chẳng nhớ ai thật. Nhưng chỉ nhớ riêng mẹ thôi.

Rồi tôi nói thêm, khẽ khàng:

– Mẹ buồn cười lắm. Chẳng ai thay thế được mẹ.

Mẹ cúi đầu im lặng. Có lẽ, đó là nỗi im lặng sung sướng. Tối hôm ấy, mẹ nấu chè sen cho tôi ăn. Suốt đêm, tôi ôm mẹ ngủ. Chỉ còn ba ngày nữa là tựu trường. Đã bước vào năm học, tôi sẽ chẳng còn thời giờ nhõng nhẽo. Vừa từ giã đám bạn học cũ, tôi đã có những bạn gái mới, những nữ sinh viên đại học tương lai. Suốt ba ngày liền, họ kéo đến, sắm sanh quần áo, sách vở, tính toán trước những khoản tiền phải nộp cho nhà trường. Giá một đôi guốc bây giờ cũng đủ cho các bà mẹ có con gái lớn lo thắt tim. Có một cô, trong đám nữ sinh ấy, phải rửa bát thuê cho hàng phở, gánh nước suốt một vụ hè mới sắm nổi một bộ quần áo thường và một đôi guốc. So với các bạn, tôi phong lưu hơn. Cô Tâm sắm cho tôi một sấp vải các loại, từ thứ hàng kaki, hàng len ngoại may quần với các thứ phin nõn pha nilông, pôpơlin màu, vải sợi bông thô, lụa tằm pha sợi tổng hợp. Cứ sấp vải ấy, tôi có thể may quần áo đủ mặc suốt bốn năm. Nhưng mẹ tôi lại kỳ cục tìm mua cho tôi một mảnh phin nõn Nhật màu hoa cà, điểm những chấm trắng lấp lánh như chấm tuyết. Rồi mẹ lặn lội xuống tận Hàng Bông may cho tôi một chiếc sơmi kiểu mới, tại một hiệu may đang có tiếng là thời trang.

– Cô Loan bảo bây giờ đang có mốt áo Đan Mạch. Mẹ may cho con kiểu ấy.

Tôi ôm cổ mẹ.

– Mẹ trở thành một tay chơi chính hiệu rồi đấy. Hơn con nửa cây số cộng mười lăm phân.

Mẹ cười sung sướng. Chiếc áo trông rất kỳ khôi, với các mảnh vải đan chéo, bổ ngang, các thứ quai và khóa sáng loáng. Mặc lên, tôi hóa thành một nữ ca sĩ trong băng nhạc da đen, da đỏ nào đó ở châu Mỹ Latinh. Nhưng tôi đã mặc nó trong ngày tựu trường. Mẹ tôi nắc nỏm khen.

– Đẹp lắm, con ạ. Hiện đại lắm.

Chắc những danh từ ấy mẹ nghe lỏm của thiên hạ, đám người ngày ngày vẫn tới hàng của mẹ mua măng khô, miến, đỗ, lạc, đường… Mấy anh chàng sinh viên khóa trên nhìn tôi cười nhăn nhở.

– Ai vẽ cho em cái áo mốt thế?

Tôi im lặng. Và bọn họ cười ré lên. Nhưng tôi vẫn mặc cái áo tím kỳ khôi ấy, để thấy mẹ tôi cười. Người lớn, đôi khi cũng không khác con nít là bao. Những cơn mưa thu lại rơi, rổn rảng trên mái tôn. Nhưng gia đình tôi đã trở lại vui vẻ. Tối tối, mẹ ngồi đan áo. Chiếc áo len màu hoàng yến sẽ cho tôi diện dịp Tết Nguyên Đán này. Còn tôi, tôi cắm cúi trên các trang sách, thấy nhịp điệu đời sống xiết bao êm ái, thanh bình. Trong ngõ nhỏ, tiếng hát của anh què lại rống lên:

Rồi thu sang lá vàng rời đầy…

Nhưng tôi không còn thấy tim tái tê vì nỗi buồn thống thiết, vì một thất vọng che chắn cuối chân trời. Tôi chỉ cảm nhận trong những âm thanh ấy, một nỗi xót xa mơ hồ khiến ta phải não lòng, một niềm thương cảm trìu mến, ý muốn được che chở cho ai đó, được ủ ấp một mái đầu nào đó, được đưa bàn tay cho một bàn tay chới với giữa dòng nước xiết.

Tôi vào trường được hơn hai tháng, một chủ nhật, mẹ rủ tôi tới nhà cậu Chính. Không muốn làm mất lòng mẹ, tôi nhận lời. Thế là, sau mấy năm trời, tôi trở lại khu tập thể K. Khu nhà ấy đã cũ nhiều. Con đường chạy qua các trục chính đã tróc lở nhiều khúc. Các khoảng sân, các bậc thềm cũng như vậy. Người ta tự tu tạo bằng nhiều thứ vật liệu khác nhau, trông như nhiều mụn và khác màu trên một mảnh áo. Các bức tường vôi nhạt màu, hoen mưa gió, in những hình vẽ loằng ngoằng thô tục của bọn trẻ hư. Không khí oi nóng, quẩn tụ một thứ khói lạ, rất khó gọi tên. Có lẽ, nó là tổng hợp của khói thuốc lào, thuốc lá, khói các bếp dầu vừa tắt, khói ngún từ các bếp lò đun mùn cưa, và khói từ các đống rác nhỏ rải rác khắp các ngóc ngách khu nhà. Rất nhiều nhà mở đĩa hát và máy nghe băng nhạc. Nhạc Rock, nhạc trữ tình, nhạc tiền chiến xen lẫn điệu hát chèo và cải lương. Thanh niên tụ thành từng nhóm trước hè, miệng phì phèo thuốc giương những cặp mắt thô lỗ nhìn người qua đường, buông lời chòng ghẹo. Tất cả đã thay đổi. Trạm gác gỗ ngoài cửa cũng không còn. Những mảnh ván đã được dọn trơ trụi, chỉ còn cây tre làm gạt chắn vẫn ngơ ngất chọc lên trời.

Cậu mợ Chính đang ngồi vặt lông vịt trong nhà. Thấy mẹ con tôi, mợ Thành rửa tay chạy vào, niềm nở chào hỏi. Hai đứa con trai họ Đỗ đã lớn lên nhiều, so với hồi tôi gặp. Nhờ thực phẩm của bà bác trợ cấp, chúng hồng hào béo tốt hẳn lên.

– Cháu chào bác. Em chào chị Hằng.

Lần này, không cần mệnh lệnh của ông bố, chúng cũng cất tiếng đồng thanh. Mẹ chúng liếc nhìn tôi, cười hớn hở.

– Cháu Hằng lớn lên, xinh quá nhể.

Mợ ta béo ra nhiều, mặc bộ quần áo lụa xanh hoa dây hồng, lại đính thêm một hàng đăngten lòe xòe dưới gấu áo. Mợ xăng xái đi lại, pha trà, rót nước, cả hai lườn, cả đôi mông lặc lè mỡ. Mặc dù đon đả mời nước, đôi mắt hẹp của mợ vẫn liếc về chiếc làn thực phẩm của mẹ tôi đặt dưới sàn nhà, gần góc tủ. Tuy vậy, lúc ấy trong mợ vẫn dễ chịu hơn lúc ngồi trước bàn, vừa ngậm tăm vừa đọc tuyển tập của Lênin. Sau lần đến nhà mợ đầu tiên, tình cờ tôi được nghe một đứa bạn kể. Bố mẹ nó là giảng viên trường đại học, được trưng tập về giảng dạy ở trường Đoàn. Họ phải làm việc dưới quyền mợ Thành vì mợ là Đảng viên lâu năm. Cả hai khốn khổ 8 năm ròng vì bị trù úm. Vốn là những người có kiến thức, giàu lòng tự trọng, họ không thể chịu được một người ngu dốt, lại chỏng lỏn. Mợi ta vừa tự ti, vừa cường hào một cách phi lý. Có lẽ, bởi vì mợ mới học hết cấp hai trong trường bổ túc công nông, mà lại có trọng trách duyệt toàn bộ chương trình triết học.

– Kìa, cháu uống nước đi. Em mời chị.

Mợ ta vỗ vai tôi, rồi chỉ chén trà nóng, tươi cười. Khi cười, những nốt rỗ có bớt phần nguy hiểm. Tôi hỏi mợ:

– Hồi trước, cháu thấy mợ có bộ tuyển của Lênin mới tinh. Đâu rồi?

– Trong tủ, mợ cất trong tủ.

Người đàn bà trả lời hăng hái, tay chỉ chiếc tủ gỗ mới, nước sơn vécni còn mùi thơm.

– Cháu có cần, mợ cho mượn. Mợ đã nghiên cứu xong chủ nghĩa Mác-Lênin rồi. Giờ, mợ đang phải nghiên cứu các văn kiện.

Nói tới đó, chợt mợ đổi giọng kêu:

– Ấy, chị để em… để em.

Vừa nói, mợ vừa lao tới, đỡ gói đường trên tay mẹ. Miệng túi nilông bị sút sợi thun buộc, chỉ chút nữa đường đổ tung tóe. Mợ Thành cười hỉ hả.

– May thật là may.

Tới đó mợ quên bẵng câu chuyện về chủ nghĩa Mác-Lênin với các văn kiện, mợ quay sang cái làn thực phẩm. Cùng với mẹ tôi, mợ lần lượt dỡ từng túi đường, đổ vào những chiếc thẫu thủy tinh cao cổ miệng loe, những chiếc thẫu dùng ngâm rượu rắn cho đàn ông, ngâm mơ, ngâm táo cho đàn bà con trẻ. Xong xuôi, mợ lấy thịt và giò, thứ đem cất, thứ đem thái rim, thứ đem bày ra đĩa. Hai gò má mợ hồng hào, nhoáng mỡ.

– Gớm, bác cho hai cháu nhiều đường thế! Uống tới mùa thu sang năm cũng chưa hết. Anh Chính ơi! Xong chưa? Nhớ hãm tiết canh đúng kỹ thuật đấy nhé. Chị Quế chỉ thích mỗi món tiết canh vịt thôi.

Nói xong, mợ cười, hai mắt tít lại. Mẹ tôi cũng cười, hồn nhiên, thành thật. Giờ đây, mẹ đã có vị trí xứng đáng trong gia đình người em trai. Mẹ hoàn toàn mãn nguyện. Cái khoảng thời gian me bị khinh khi, ghẻ lạnh đã qua rồi. Giờ đây, mẹ trở thành người bảo trợ. Mẹ gom góp từng xu để bù trì cho đứa em trai.

Và mái nhà cũ kỹ của chúng tôi sẽ không thể nào thay đổi. Mái nhà như hai mảnh vá khác màu. Trưa hè bỏng rãy, mùi nhựa đường khét lẹt bốc lên. Và mưa thu, gõ, gõ, gõ, gõ trên mảnh tôn đã lốm đốm thủng. Quá vãng đã được chôn vùi trong tro trấu. Món cháo lú của tinh thần hào hiệp và đức hy sinh. Đầu óc những người đàn bà nói chung là ngắn ngủi. Họ chỉ sống với khoảng khắc đang sống…

Đột nhiên, cậu Chính cao giọng gọi tên tôi.

– Cháu Hằng,

– Dạ.

– Vào bưng cho cậu đĩa tiết canh.

Tôi chạy vào buồng, bưng đĩa tiết canh theo chỉ thị của cậu. Tới mâm, tôi đặt xuống, ngắm nghía. Tiết canh đông cứng như khối thạch, chân đĩa không có ngấn nước long. Bên trên, gan vịt thái mỏng, lạc rang vừa lửa vàng rươm rắc đều cộng với tỏi nhánh đập vụn. Cậu lại gọi:

– Còn đĩa rau thơm ăn kèm, bưng lên nốt.

Một đĩa rau húng chó, húng láng, răm, ngổ, hành sống, mùi ta, mùi tàu. Không thiếu thứ gì. Cậu giải thích.

– Gia vị mỗi người mỗi sở thích. Ai thích gì, lấy thứ nấy.

Rồi cậu xoa tay.

– Hồi trên chiến khu Việt Bắc, chỉ nhờ tài đánh tiết canh vịt mà đại đội trưởng yêu cậu đấy.

Mợ Thành hể hể, đế thêm.

– Bây giờ cũng thế. Thủ trưởng của cậu Chính, có giỗ có Tết có tiệc tùng đều gọi cậu tới làm món tủ: tiết canh với hầm ba ba.

Cậu Chính hỏi vợ.

– Chai rượu mùi đâu Thành nhỉ?

Mợ Thành đáp.

– Trong tủ, ở góc trái ấy nhé.

Cậu mở tủ, lấy chai rượu cam ra. Mâm cơm đã dọn trên giường, sau khi khép hai cánh cửa và kéo tấm màn che một cách kỹ lưỡng. Vịt luộc, vịt rang gừng, tiết canh, chả quế và giò mẹ tôi vừa đem tới. Cậu Chính rót rượu.

– Nào, cả nhà ta vui vẻ.

Mọi người nâng cốc. Tôi cũng nâng cốc, chạm cốc với họ.

– Nào, hãy vui vẻ.

CHƯƠNG 17

Sự vui vẻ ấy kéo dài thêm một năm. Qua năm sau, cậu Chính bị bệnh đái đường. Căn bệnh oái oăm, nhất là thời buổi gạo châu củi quế. Cậu phải ăn toàn thịt, mà lại toàn thịt nạc, không được lẫn một tí ti mỡ nào. Cậu là chuyên viên hai, lương gốc 115 đồng, nhà nước bao cấp không thể chiêu đãi cậu cho tới nơi tới chốn. Khi tôi đến viện, cậu ngồi bó gối trên giường, hai hốc mắt sâu hoắm, da xanh nhớt như da nhái.

– Mẹ đâu?

Cậu hỏi tôi, mắt hướng về phía cửa phòng, có ý trông ngóng. Tôi đáp.

– Mẹ cháu còn mua thêm cân cam.

Cậu rên rỉ.

– Cam với quít. Có ăn được đâu mà mua.

Tôi nói.

– Mẹ cháu vẫn tưởng cậu được phép ăn hoa quả.

Cậu nói cấm cảu.

– Kiêng. Kiêng tất. Bác sĩ bảo thế.

Nói xong, cậu ngồi thừ ra, trong ánh mắt hằn lên nỗi âu lo. Đúng lúc ấy mẹ tôi bước vào phòng. Mẹ cúi chào mọi người rồi rón rén ghé ngồi bên giường bệnh.

– Cậu xanh quá.

Mẹ rền rĩ, nước mắt ứa vòng quanh. Cậu Chính cau mày nhìn mẹ quát.

– Đã chết đâu mà khóc? Chị gỡ bỏ mẹ đi.

Lần đầu tiên, tôi thấy cậu văng tục, nói năng không còn nghiêm túc và thanh lịch như mọi bận. Trong đôi mắt hoảng loạn của cậu, lóe lên những tia sáng hãi hùng. Cậu sợ chết. Những ngón tay cậu run run. Cả những sợi râu thưa thớt lởm chởm đâm dưới cằm cũng run run. Mẹ tôi cắn môi, nhìn cậu.

– Bác sĩ bảo sao?

Quay mặt vào tường, cậu đáp trống không.

– Kiêng tuyệt đối, hoa quả cũng không được ăn. Và phải dùng thêm thuốc ngoại, thuốc của Mỹ.

Mẹ tôi cúi mặt, nhìn những ngón chân đen đủi xỏ trong đôi dép kiểu Thái Lan đã cũ, đế bẹt hẳn ra. Hồi lâu, mẹ thở dài và nói.

– Cậu cứ yên tâm chữa bệnh. Trước sau, chị cũng sẽ có…

Nói xong, mẹ xắp đặt những thứ thuốc bổ, những thứ thực phẩm cần thiết cùng hoa quả lên bàn. Mẹ nhờ cậy gửi gắm cậu cho những người bệnh xung quanh, rồi cúi chào họ trước khi dắt tôi ra về. Dọc đường, hai mẹ con cùng im lặng. Khi đã vào nhà, cất túi, mẹ bảo tôi.

– Sông có khúc, người có lúc. Đời người, ai cũng có đận gian truân. Vả chăng, cậu chỉ còn mẹ là người thân duy nhất. Con hiểu không?

– Vâng, con hiểu.

Tôi đáp. Và sau một lát đắn đo, tôi nói thêm.

– Mẹ yên tâm.

Từ dạo ấy, bữa ăn của chúng tôi rút xuống. Thoạt đầu, từ mức có vài lạng thịt quay hoặc vài khúc cá rán giảm xuống món đậu om cà chua hành trường kỳ hoặc nhộng rang. Sau đó món đậu om cà chua biến thành cá thầu dầu hoặc cá riếc răm kho khô. Còn món nhộng rang xuống cấp thành tép biển rang muối. Cả những thứ rau độn bình thường cũng chạy theo sơ đồ của sự xuống dốc: từ súplơ, đậu hà lan, su hào, đậu đũa, dưa chuột chúng tôi trượt qua các loại cải xanh, lá bắp cải già muối dưa răm, cải soong và cả rau chuối thái ghém….

– Mát lắm con ạ, ăn cho nó giải nhiệt.

– Thứ rau này lành lắm, ăn nhiều da dẻ đỡ mụn nhọt.

Mẹ lý giải như thế, mỗi bận mẹ vác về một thứ rau mà chỉ nhìn đã đủ chán ngắt. Đang mùa đông, bệnh của cậu tăng lên, đòi hỏi lượng thuốc mua ngoài tăng gấp đôi. Thực phẩm bồi dưỡng cho cậu cũng nhân lên theo cấp độ đó. Mặt mẹ tôi quắt queo. Không hỏi, nhưng tôi biết mẹ đã phải nhịn bữa quà trưa ở chợ, lúc tôi học trong trường. Hai gò má mẹ nhô lên, những nếp nhăn kéo dầy dưới hai đuôi mắt. Những nốt tàn nhang hai bên cánh mũi và trên gò má lan rộng, kết liền thành từng mảng nâu sạm trên gương mặt mẹ, khiến nó u ám và xấu xí.

Bữa ăn của mẹ con tôi chỉ còn dưa cải muối trường kỳ với với su hào kho mỡ. Món su hào thái hình khẩu mía, kho mặn với tương rồi rưới mỡ nước lên giả làm thịt kho hoặc cá kho tôi nhớ mãi. Tôi đã ăn nó suốt một mùa đông. Tôi sẽ nhớ nó cho tới lúc xuống mồ. Tôi sẽ nhớ cả cảm giác tái tê của những buổi tối, khi đạp xe từ trường về, hai lỗ mũi đặc kịt bụi, bụng đói đến teo tóp lại trong lưng quần, tôi đã thèm một miếng thịt ra sao khi đi qua nhà bà Miều hoặc nhà chị Lan, hoặc nhà anh Hợp, mùi thịt kho tàu thơm lừng bay ra, khiến tay chân tôi run lên, mắt mũi tối tăm lại. Tôi sẽ nhớ mãi những buổi đêm như thế, đi học thêm ngoại ngữ về, tôi đã đạp đi đạp lại ba vòng quanh một hàng phở, điệu như rong chơi, nhưng thực chất để hít thở mùi vị ngon lành của nó lan tỏa trong không gian. Tôi sẽ nhớ cảm giác hổ thẹn của mình, lúc quay đi để nuốt nước bọt trước một người đàn bà mập mạp ngồi tuốt xâu chả nướng bỏ vào bát bún…

Một tối, không chịu nổi, tôi nói với mẹ.

– Con không đủ sức ngồi nghe giảng nữa. Mẹ bán một chiếc nhẫn đi lấy tiền mua thức ăn.

Mẹ tôi cau có.

– Nhẫn của cô Tâm, không bán được.

Tôi cố gắng ôn tồn.

– Nhưng cô đã cho con. Con phải sống, phải học được trước khi cần đeo nhẫn.

Mẹ tôi đáp.

– Không.

Tôi muốn khóc. Nhưng tôi cố ghìm giữ cho nước mắt khỏi trào ra.

– Con đói.

Mặt mẹ tôi tím lạnh, hai mắt tối sầm, dữ dằn. Mẹ đột ngột đứng đật, hét như người động kinh.

– Không. Tao đã bảo không là không.

Chưa bao giờ tôi thấy mẹ khủng khiếp như thế. Chưa bao giờ tôi thấy mẹ xưng hô với tôi thô lỗ thế. Tôi im bặt, lủi ra ngoài sân. Cơn đói tan biến. Các nỗi thèm khát cũng tan biến. Chờ mẹ nguôi ngoai, tôi lên giường trùm chăn ngủ sớm. Tôi đã ngủ một giấc rất dài, rồi thức dậy khoảng hơn hai giờ sáng. Một cảm giác lạnh lẽo khiến căn nhà trống trải thêm. Tôi nhìn sang giường mẹ tôi, không thấy mẹ nằm ở đó. Chiếc chăn bông vẫn cuộn tròn, xếp gọn ghẽ cuối chân giường. Lúc ấy, có tiếng nức nở rất khẽ vẳng tới. Tiếng khóc của mẹ tôi. Không bật đèn, chờ cho mắt quen với bóng tối, tôi hé cửa ra sân. Mẹ tôi ngồi trong bếp, gục đầu lên hai cánh tay. Cánh cửa bếp nửa khép nửa mở, tôi nhìn thấy bóng đôi vai mẹ run rẩy từng cơn. Tiếng khóc bị nén trong họng, chỉ bật ra những cơn nức nghẹn, ngắt quãng, nghe tủi cực và ấm ức. Tôi đứng giờ lâu, phân vân giữa ý muốn vào an ủi mẹ và nỗi sợ hãi. Trong cơn giận dữ bùng nổ buổi tối, có nguyên cớ nào đó rất lạnh lùng, không thể cắt nghĩa. Nó khiến tôi ghê rợn. Thời khắc trôi qua, sương xuống ướt đầm mái tóc. Tôi run lên vì rét. Tôi sực nhớ mình chưa kịp mặc áo ấm. Tôi trở vào nhà nằm thao thức chờ mẹ lên. Nhưng chờ mãi vẫn nghe những tiếng nấc, như một ảo thanh vẳng bên tai. Lâu dần, tôi ngủ quên…

Sáng hôm sau, tiếng xe máy ồn ĩ bên ngoài đánh thức tôi. Cửa đã mỡ. Ngay giữa sân, người đàn ông đi chiếc Honda 67 đen trùi trũi đang ngồi chễm chệ. Ông ta vẫn đeo cặp kính mắt xanh chai như bữa trước. Và nụ cười nham nhở như bữa trước đọng trên môi.

– A… a… Cô nương dậy muộn quá. Ở nông thôn chúng tôi mà lười thế là không lấy được chồng.

Ông ta nhìn thấy tôi, liền nói chõ vào nhà. Sau lưng ông ta, một người đàn bà vừa nhảy xuống: cô Tâm. Tôi choàng áo bông, chạy ào ra đón cô. Toàn thân cô, hai tay cô, cả hai gò má và cằm cô lạnh buốt. Cô mỉm cười.

– Cháu của cô.

Nhưng rồi, chưa kịp ôm tôi vào lòng, cô đã lại đẩy bật tôi ra nhìn chằm chằm.

– Hằng làm sao thế?

Tôi cười.

– Có sao đâu cô?

Nhanh như sóc, cô luồn hai bàn tay vào trong áo len, vuốt dọc theo sườn và lưng tôi.

– Làm sao mà cháu trơ xương sườn, xương sống ra thế này?

Cô hỏi, giọng khẽ khàng, nhưng âm diệu khác lạ, nghe như thất thanh. Tôi chưa kịp trả lời, mẹ tôi đã từ trong bếp đi ra. Hai mắt mẹ tôi sưng mọng, gương mặt héo hon nhuốm vẻ hoảng hốt, sợ hãi.

– Chị vừa lên. Chị vào nhà chơi.

Mẹ quay sang người đàn ông.

– Mời bác vào nhà chơi.

Tay mẹ tôi cầm siêu nước. Chắc mẹ đã nấu cơm xong và đun được siêu nước đầu tiên. Từ chiếc vòi nhôm, làn khói bay ra. Người đàn ông đeo kính, đáp lại lời chào mời của mẹ tôi bằng một cái gật đầu rất hiên ngang, đoạn quay sang cô Tâm.

– Mấy giờ em dón chị?

Cô tôi bảo.

– Nửa tiếng nữa nhé. Giờ chú đi đi. Nhà chúng tôi có câu chuyện hàn huyên.

Người đàn ông đeo kính giơ một ngón tay sần sùi nâng gọng kính lênm cúi chào mẹ con tôi.

– Cảm ơn cô nhé. Lúc khác tôi vào chơi.

Nói xong, ông ta cho xe nổ máy lượn ra đường. Chiếc mũ lông Mông Cổ to xù như chiếc rế đại trên đầu. Tiếng máy Honda dội giữa các bức tường trong ngõ hẹp làm rạn vỡ bầu không gian yên tĩnh. Vào giờ này, những hàng xôi lúa, xôi đậu đen, bánh dày, bánh rán, bún gánh, phở gánh… đã ra đi hết. Chỉ còn lại tiếng nước chảy ồ ồ vào một chiếc thùng tôn ai đó đang hứng ở vòi công cộng. Cô Tâm bảo.

– Ta vào nhà.

Rồi cô dắt tôi vào, tay bên kia xách chiếc làn tre nặng trĩu. Mẹ tôi cầm siêu nước đi theo. Hai mí mắt mẹ tôi thâm quầng, tròng trắng vằn những tia máu. Mẹ đổ nước sôi vào phích rồi sai tôi.

– Lấy cho mẹ gói trà.

Tôi hỏi.

– Ở đâu ạ?

Mẹ nói.

– Bốc trong thúng hàng vậy. Hôm nay bận quá.

Tôi mở thúng hàng, lấy thứ bình dân mẹ vẫn bán, pha nước. Trước đây, mẹ tôi không bao giờ dùng tới nó. Đôi mắt sắc như dao cau của cô Tâm nhìn theo, lặng lẽ. Chờ cho tôi pha nước, và mẹ tôi đã yên vị lên chiếc ghế đối diện với cô, cô Tâm nới cất giọng rẽ ràng.

– Con Hằng nó đói ăn, sao không nói cho tôi biết một lời?

Mặt mẹ tôi đỏ ửng, mẹ lắp bắp.

– Em bận quá, tối ngày em ở ngoài chợ.

Cô quay sang tôi.

– Sao cháu không viết thư cho cô?

Tôi đáp.

– Tối qua cháu xin mẹ cháu bán một chiếc nhẫn đi mua thức ăn, nhưng mẹ cháu không cho.

Cô Tâm hỏi day lạ.

– Mẹ cháu không cho?

– Vâng. Mẹ cháu bảo của cô, không được tùy tiện dùng. Dạo này, hàng họ ở chợ khó khăn.

Cô Tâm cười, bảo mẹ tôi.

– Chẳng lẽ tôi quý của hơn người. Cô thừa biết con Hằng sẽ thừa hưởng toàn bộ gia sản nhà này? Để nó thành mớ xương khô rồi đeo vàng vào cổ hay sao?

Mẹ tôi đáp.

– Tuy là của chị cho cháu nhưng… em nghĩ là quyền ở chị. Chị chưa cho phép.

– Thôi được, giờ tôi cho phép. Có cả mẹ cả con cô ngồi đây, cô lấy đôi nhẫn với cặp hoa tai cho tôi.

– Vâng.

Nhưng mặt mẹ tôi tái ngắt. Ngập ngừng một lát, mẹ tôi đứng dậy, vào buồng trong. Mẹ lục rất lâu. Trong khoảng thời gian ấy, cô tôi thong thả bước tới bàn thờ. Cô lấy tấm ảnh của bố tôi xuống, rút mùi xoa trong túi, lau sạch, rồi đặt lên. Cô đứng trầm ngâm nhìn. Lúc đó, tôi chợt hiểu. Chàng thanh niên trong tấm ảnh mờ nhạt ấy, với đường ngôi thẳng tắp trong trắng, với nụ cười thẹn thùng, đường cong của vành tai và vẻ tươi tắn ngời lên trong ánh mắt… sao giống người đàn bà nhỏ thó da nâu sậm, đôi vai mỏng và gầy, những nếp nhăn khắc khổ hằn hai bên khóe mép. Hai chị em giống nhau lạ lùng. Một người dưới cõi âm và một người trên dương thế. Một thiếu niên và một người đàn bà khô héo, sắp bước lên bục lão làng. Có lẽ, đó là sức mạnh bí ẩn của huyết thống.

– Chị…

Mẹ tôi từ trong buồng bước ra, một tay nắm chặt, mặt bỗng dưng nhợt nhạt như người phải cảm. Cô Tâm quay lại. Bước những bước khoan thai, cô đi lại bàn nước, ngồi xuống ghế. Cầm chén chè đã bắt đầu nguội, cô đưa lên môi nhấp và hỏi mẹ tôi.

– Có chuyện gì thế, cô?

Mẹ tôi vẫn đứng lom khom, không dám ngồi xuống ghế. Một tay nắm chặt, tay kia vịn vào mép bàn.

– Em định nói với chị… là…

Cô Tâm im lặng, nhìn thẳng vào mắt mẹ tôi. Từ đôi mắt cô bắn ra những tia sáng lạnh, nhọn sắc, dường như chúng có màu tím. Tôi có cảm giác mẹ tôi sắp ngã quỵ trước những tia nhìn giá buốt ấy. Tôi định chạy tới đỡ mẹ. Nhưng một sức mạnh không cắt nghĩa được đã kiềm chế lại. Mẹ tôi vẫn đứng, môi trắng như giấy ngâm nước, cô gắng nói cho hết câu.

– Cặp nhẫn của chị, em cho người bạn mượn làm vốn buôn đường xa. Vì… họ hứa… chia lãi…

Tôi biết mẹ nói dối. Cô Tâm mỉm cười:

– Một tháng họ chia cho cô bao nhiêu?

Mẹ đáp, lần này trơn tru hơn.

– Năm phân.

Cô tôi vẫn cười, nói từ tốn.

– Nếu thế, một tháng, riêng tiền lãi đã đủ hơn 10 cân thịt, làm sao con bé lại gầy trơ xương thế này?

Mẹ tôi đáp, lần này rất nhanh.

– Nhưng em mới cho họ vay ba tháng nay. Ba tháng, họ chưa nhờ cậy được ai quen thuộc và tín cẩn để gửi tiền ra. Em có nhắn cho họ biết, cứ chồng tiền lại, tính lời, nửa năm em lấy một lần, cho ra tấm ra món…

– Họ ở đâu vậy?

– Minh Hải. Hai vợ chồng đem nhau vào tận trong đất mũi làm ăn. Đó là nơi tụ tập dân tứ xứ.

Tôi không ngờ mẹ tôi ứng biến mau lẹ thế. Những người dối trá, chỉ khó khăn nhất khi vượt qua ranh giới đầu tiên. Khi đã qua ranh giới ấy, không còn cái chốt nào hãm họ lại. Cô tôi đứng dậy đi xuống bếp. Vẫn dáng đi thong thả như thế. Rồi cô trở lại với mâm cơm đậy lồng bàn. Cô đặt mâm cơm lên, và lật chiếc lồng bàn ra: một đĩa dưa cải củ muối xổi, với một đĩa xu hòa kho tương. Thực đơn quen thuộc từ ba tháng nay. Cô nhếch môi cười. Mẹ tôi rùng mình, rồi cúi gằm mặt xuống. Mặt mẹ, hai bàn tay mẹ, cổ mẹ tất cả đều tím như người bị tụ huyết sau trận đòn. Cô Tâm nói.

– Cô ngồi xuống ghế.

Lúc này, mẹ tôi giống như kẻ mất hồn, đờ đẫn làm theo lời sai khiến của cô. Mẹ tôi ngồi, đối diện với cô nhưng không ngẩng đầu lên. Cô lại bảo.

– Đưa đôi bông tai đây.

Mẹ tôi đặt bàn tay vẫn nắm chặt lên bàn khẽ xòe ra, để rơi một gói lụa nhỏ màu xanh. Cô Tâm nhặt gói lụa đó lên, không thèm mở ra xem, mà gạt nó về phía ấm trà, như người ta gạt một bao thuốc lá hay một chiếc bật lửa. Cô nói.

– Cô Quế này, trước kia tôi vẫn thương cô. Dù những ngày oan khổ, cũng chưa phút nào tôi oán trách.

Giọng cô Tâm đều đều, như người đọc kinh, hàm chứa sự bình thản tột vời. Nghe cô nói, mẹ tôi rùng mình như bị lạnh, rồi mẹ cúi đầu thấp hơn, nhô vai lên cao như để tránh cơn gió buốt.

– Cô có nhớ ngày cô giả bộ móc cua để gặp tôi không?

Cô Tâm nói, và dường như mỗi lời nói là một lằn roi quất lên đầu mẹ tôi.

– Ngày ấy, lúc cô đi theo bờ ruộng, tôi cắp rổ quần áo ướt về làng, nước mắt hai hàng lai láng. Tôi thương thân, thương chú Tốn, thương cô. Làm sao còn nỡ dày vò nhau, những con người oan khổ. Tất cả nông nỗi ấy là số kiếp…

Mẹ tôi không gượng được, gục đầu xuống mép bàn. Giọng cô tôi rót đều đều.

– Bao nhiêu đêm ròng tôi thức trắng. Những đêm ấy, tôi thấy oan hồn mẹ tôi, tôi thấy hình bóng lang thang vật vờ của chú Tốn, tôi thấy gương mặt cô, cái buổi trưa trời nắng tóe lửa, mà cô khóc ngôi khóc nghê như mưa dầm. Tôi biết vợ chồng cô thương yêu nhau. Lạy trời cho vong linh em tôi mát mẻ…

Cô ngừng lại, mắt nhìn xa xăm. Rồi cồ nói tiếp.

– Tôi nhớ vụ mùa năm ấy. Ba giờ sáng tôi thức dậy, luộc một nồi khoai sọ, nửa ăn, nửa đùm vào giỏ đem theo. Thắt lưng buộc cho chặt, đi cấy thuê cho thiên hạ. Non trưa, cơn đói đã réo như sôi trong dạ, phải bấm bụng cấy một mạch tới đúng trưa mới dám giở giỏ khoai ăn. Mùa đông rét cắt ruột, người ta cấy xong lui về nhà làm vườn, chăn con lợn con gà chờ lúa chín. Đèn lửa, cơm tối ấm bụng, vợ chồng con cái họ kéo nhau lên giường. Tôi vác nón lội qua hai cánh đồng làm miến thuê. Mười một giờ đêm còn ngồi ôm cối quay bột. Gà gáy nửa đêm mới đội nón về nhà. Qua đồng, lửa ma trơi chập chờn như bóng đèn bay đuổi. Có bữa ở điếm canh thôn Đông, một thằng đàn ông xô ra. Nó đè sấn tôi ngay vệ cỏ… Giá như bây giờ cứ mặc, lại có đứa con nuôi. Nhưng lúc ấy, thì sống chết vật lộn, cào cấu. Đồng không mông quạnh, kêu cũng chẳng ai nghe. Mà có nghe, người trong xã tìm đến nơi, nhận ra mình là con địa chủ, họ cũng chẳng thèm cứu. Không biết chừng họ còn vu cho tội gian dâm. Cứ nghĩ vậy, mà liều mạng giằng giật. Hồi ấy đang xuân, tôi còn hăng lắm. Tôi cắn cổ thằng khốn nạn máu nó phọt ra mặn mà ấm như tiết gà. Nó kêu rống lên thả tay ra. Còn mình cũng vớ chiếc nón đâm đầu mà chạy. Vừa chạy vừa nhổ phì phì. Vị máu đọng trên đầu lưỡi, vừa tanh vừa mặn, đến nhà, gà gáy canh một, phải nhảy ùm xuống ao tắm, giặt áo, tẩy uế mùi hôi. Lóp ngóp lên bờ, gà đã gáy canh hai. May sao đêm hôm đó tôi không cảm hàn mà chết.

Cô lại ngừng. Hai bàn tay cô đặt lên bàn, như hai mảnh rễ cây chồng lên nhau, bất động. Những chiếc móng tay nhỏ nhưng xù xì, sừng dày và nổi những rạch thẳng như đường ray. Trên lớp da nhăn nheo hiện lên những chấm tròn nâu sậm. Đó là những vệt đồi mồi. Chúng đã được tạo thành quá sớm, so với những người đàn bà khác, ở lứa tuổi cô. Sau một hồi lơ đãng nhìn vào hư không, cô nói tiếp.

– Cô Quế, cô còn nhớ hồi sửa sai không nhỉ? Cái buổi tối những người oan ức trong làng đã tụ tập lại, đến trước cổng đập phá, đòi rạch miệng…

– Thôi, thôi…

Mẹ tôi bật kêu to:

– Thôi, thôi… Em xin chị, em lạy chị…

Rồi mẹ tôi khóc rưng rức, đầu gục xuống mặt bàn toàn thân run bần bật từng cơn. Tôi đến bên mẹ tôi, van vỉ.

– Mẹ, đừng khóc, đừng khóc…

Nhưng tôi biết việc tôi làm thật vô nghĩa. Mẹ tôi buông những lời nói đứt đoạn trong cơn nức nở.

– Em lạy chị, em lạy…

Cô Tâm ngồi im lặng. Đôi mắt tròn của cô cũng bất động, không thoáng qua chút ánh sáng nào. Dường như lúc ấy, trong đôi mắt đen của cô, bóng tối và ánh sáng đã hòa trộn để tạo nên một trạng thái âm u, mờ đục của khoảng khắc sau chót buổi hoàng hôn. Cô chờ cho mẹ tôi ngớt cơn nức nở, lại nói tiếp, vẫn giọng đều đều không âm sắc.

– Trên đời, chẳng ai gian dối được với ai. Cái kim trong bọc cũng có ngày lòi ra huống hồ chuyện nhân gian, sờ sờ trước mắt thiên hạ. Ở quê tôi cũng biết được một số việc cô làm, mọi đồng tiền cô tiêu. Tôi chẳng trách cô, ai ai cũng máu mủ ruột rà. Tôi thương em tôi thế nào, người đời cũng biết thương em họ như thế. Nhưng trong chuyện này, tôi phải rành mạch cho cô hiểu, em trai cô là kẻ tử thù của gia đình tôi. Nó đã đẩy em tôi vào cõi chết. Tôi không cho phép ai dùng đồng tiền của tôi để nuôi dưỡng nó.

Nói xong cô đứng lên.

– Từ nay, cô cũng không được quyền thờ cúng em tôi.

Nói xong, cô bước tới bàn thờ, lấy tấm khung kính lồng ảnh cha tôi. Tìm một mảnh nilông, cô bọc lại cẩn thận. Sau đó, cô dỡ trong làn những thứ quà đem theo: nào giò, nào chả, nào đường, sữa, nào bánh trái… Tất cả, chất ngồn ngộn trên bàn. Cô Tâm bỏ tấm ảnh của cha tôi vào chiếc làn đã rồng không, bảo:

– Những thứ này của cô mua, đồng tiền của cô, mô hôi nước mắt của cô. Đem cho cháu chứ không cho quân sát nhân đâu nhé…

Tôi không dám trả lời cô, chỉ im lặng gật đầu. Mẹ tôi đã thôi khóc, không ngửng đầu lên, nhưng chắc chắn nghe rõ từng lời của câu nói riết róng ấy. Vừa lúc, tiếng xe Honda nổ ròn trước sân. Cô Tâm nhìn ra.

– Đừng tắt máy. Tôi ra ngay đây.

Cô cầm gói lụa xanh bọc đôi hoa tai trên bàn, bỏ vào túi, rồi bảo tôi.

– Cô cất cho con. Của con không chỉ có đôi hoa tai này. Còn trăm nghìn thứ nữa, Nhưng cô không muốn nó lọt vào tay kẻ khác.

Nói xong, cô bước ra cửa, không chào ai. Người đàn ông đeo kính màu xanh chai giơ tay lên mũ, nheo mắt cười với tôi. Rồi ông ta phóng xe đi. Cô tôi ngồi phía sau, bé nhỏ, gầy gò. Như con nhái bén bám vào quả dưa ếch.

Tôi quay vào. Mẹ ngẩng đầu lên, nhìn tôi. Mắt mẹ mọng nước, xa lạ và hằn thù. Tôi gọi.

– Mẹ…

Nhưng mẹ không trả lời. Bỏ cơm, mẹ gánh gánh hàng ra chợ. Từ hôm ấy, quan hệ giữa chúng tôi trở nên tồi tệ. Tôi không cắt nghĩa nổi vì sao. Tôi đã hết sức cố gắng, hết sức nhường nhịn, nhưng không cứu vãn được. Thoạt tiên, là thái độ lạnh nhạt, xen lẫn mỉa mai. Bữa ăn, tôi dọn ra, mẹ cúi đầu xăm xăm gắp dưa cải. Tôi gắp giò chả bỏ vào bát mẹ, mẹ hất xuống mâm.

– Mời chị. Tôi không dám đụng đũa vào phần người khác.

Tôi van vỉ.

– Mẹ lạ thật. Cô Tâm giận cô nói thế, mẹ để bụng làm gì?

Mẹ cười nhạt.

– Đồng tiền của người ta, mồ hôi nước mắt của người ta, tôi không dám.

Tôi cười xí xóa.

– Mẹ buồn cười thật. Ai mà chấp nê như trẻ con thế. Mẹ ăn con mới ăn.

Mặt mẹ lạnh như tiền, giọng kéo dài ra chế riễu.

– Ấy chết, chị phải tẩm bổ cho khỏe mà học cho thành tài. Người nhà chị nuôi dăm bảy con lợn để chờ ngày chị đỗ trạng nguyên mổ khao làng, khao nước.

Tôi vẫn cười.

– Con chỉ sợ không phải người ta mà chính là mẹ mong con đỗ trạng thôi.

– Không dám. Tôi đâu được quyền xếp hạng với người ta?

Nói xong, một lần nữa, mẹ hất miếng giò tôi bỏ vò bát mẹ xuống mâm. Tôi cố cười.

– Thế mẹ muốn con xếp mẹ vào hạng nào? Con thì con chỉ xếp được mẹ vào hàng lãnh tụ thôi.

– Đừng cho tôi đi tàu bay giấy. Chị đem người khác đặt lên bàn thờ thì hơn.

Dầu sao, tôi cũng chỉ là một cô gái 19 tuổi. Tôi không chịu đựng được thêm. Cơn tức giận bùng nổ. Tôi nói.

– Dù mẹ đẻ ra con, con cũng phải nói sự thật. Chính mẹ sai lầm. Mẹ đã dối trá. Xưa nay, chỉ một lần con nói dối mẹ. Hồi lên bảy, mẹ sai đi mua ba lạng thịt quay. Con đã mua hai lạng rưỡi, bớt tiền để đi thuê truyện. Lần ấy, mẹ đánh con lằn hết hai mông. Con đã đau, con đã nhục, con đã hiểu rằng dối trá là thói xấu và không bao giờ con lập lại.

Mặt mẹ tôi đỏ bừng lên. Hai mắt mẹ đảo lia lịa. Rồi bỗng dưng mẹ quăng đũa xuống, hét.

– Mày bước đi, bước khỏi nhà này… theo bà cô của mày.

Tôi đứng dậy, thu xếp quần áo, buộc lên xe. Mẹ tôi lấy cái bị cói, bỏ tât cả những thứ thực phẩm, quà bánh cô Tâm mua cho tôi vào, treo lên ghiđông, miệng nói.

– Đi đi… bước cho khuất mắt.

Tôi đạp xe vào trường. Hôm ấy là một ngày đẹp trời. Mùa đông chưa qua, nhưng trời đã ấm. Nắng rực rỡ một cách bất thường, như tấm khăn choàng thiếu nữ. Người ta đi phố tưng bừng, vui vẻ. Không ai biết tình cảnh của tôi.

CHƯƠNG 18

Tôi vào trường, xin ở nội trú. Quản trị tạm ghép cho tôi ngủ cùng với một cô bạn người Tày quê Lạng Sơn. Cô ta to béo, hai má luôn đỏ như trái đào chín, cười nói suốt ngày. Cô giúp tôi thu xếp đồ đạc, rồi xẩm tối, cô trang điểm kỹ càng, ra đi.

– Đằng ấy cứ buông màn ngủ trước nhé. Còn khuya tớ mới về.

Nói xong cô nháy nháy mắt nhìn tôi.

– Thông cảm. Người yêu đang chờ ở cửa ký túc xá.

Cô đi. Mùi nước hoa nội địa tạt lại, sực nức. Mấy cô trong phòng cũng lần lượt đi nốt. Tôi ngồi bó gối, nhìn ngọn đèn điện sụt thế tối lù mù như một thứ đèn hoa kỳ hạng bét treo lơ lửng giữa phòng. Nó giống con mắt màu da cam nhìn vào mắt tôi, bệnh hoạn, tăm tối. Bên ngoài, gió rất nhẹ, reo vi vút. Trời không rét, chỉ lành lạnh. Tôi nhớ căn nhà, ngọn đèn với cái chao bằng sứ trắng, giá sách cỏn con của tôi. cái lọ sành cắm mấy bông cúc vàng đặt ở góc cửa sổ… Giờ này, chắc mẹ tôi cũng ngồi bó gối trong căn phòng trống vắng, giá lạnh như tôi. Nước mắt tôi rơi từng giọt. Khi con người có quá nhiều lòng tự trọng, mà buộc phải hành động thiếu lương tâm, họ không đủ can đảm nhìn vào tội lỗi. Liêm sỉ, ở khía cạnh tiêu cực, là một sợi thòng lọng không có cơ hội tháo gỡ. Tôi biết mình thất bại…

Cuộc sống trong ký túc xá bắt đầu bằng một kỷ niệm vui vẻ. Những chuỗi ngày tiếp theo cũng không nhiều sóng gió. Có vài ba cuộc va chạm nhẹ, nhưng bản tính tôi không chấp nể, nên mọi kết thúc cũng tốt đẹp. Cô bạn người Tày rất đáng yêu. Một người dễ tính, tốt bụng và có đôi phần ngốc nghếch. Cô học rất kém, tôi luôn luôn phải chép bài cho cô. Bù lại, cô có nhiều anh chàng theo đuổi, toàn những chàng trai đẹp mã, thân hình như tượng thần Apôlông. Chàng này tặng thơ, chàng khác làm bài hát tặng cô. Và cô đánh số thời gian thư từ, các nhạc phẩm và thi phẩm thành bộ. Bộ sưu tập ấy cứ một tháng một lần được đem ra khoe tôi. Tôi giúp cô làm những bài thơ họa lại, viết những tình ca vớ vẩn tặng lại, khiến đám nhân tình của cô lăn lóc mê cô như phải bùa. Tóm lại, chúng tôi quý nhau. Về phần kinh tế, ngay từ tuần lễ thứ hai tôi vào khu nội trú, người đàn ông đeo kính màu xanh đã đèo cô Tâm tới nơi. Từ đó, cứ hai tuần, cô lên chơi. Tiền nong, thực phẩm cô cung cấp cho tôi thừa mứa. Phải nói thực thà là, cả năm cô nữ cùng phòng với tôi và hội nam sinh nội trú bên cạnh được nhờ cậy ít nhiều vào cái kho thực phẩm của tôi. Người vác bát sang xin mỡ, người bưng ca nước sang xin đường. Có nhóm tới bữa cơm cầm chiếc camen gõ coong cong trước cửa lán. Tôi lại phải đem nồi thức ăn mặn của mình ra san sẻ.

– Hằng ơi, viện trợ bát nước mắm.

– Hằng ơi, tớ xin thìa mỡ.

– Hằng ơi, cơm nhạt khó nuốt quá. Nồi cá kho của cậu xem chừng cần san bớt đi. Chủ nghĩa cộng sản được xây dựng trên tinh thần tương thân tương ái.

May mắn hơn nhiều bạn sinh viên khác, tôi không phải lo lắng vì miếng cơm, manh áo. Nhưng tôi bị phân tâm vì mẹ tôi. Bất kể sự ngang trái nào, bất kể sai lạc nào, tôi cũng là con. Và tôi yêu mẹ. Qua tin tức của những người quen, tôi biết những nỗ lực của mẹ tôi đã có kết quả. Cậu Chính khỏi bệnh, trở lại làm việc. Một lần mẹ tôi ốm, cậu mợ ấy đã đèo nhau tới chơi. Lần ấy, mẹ cũng bày biện trà thuốc, bánh kẹo, mời cô Vị và đám láng giềng sang để giới thiệu vợ chồng người em trai.

– Cậu ấy là cán bộ tư tưởng của Đảng và mợ ấy là giáo sư trường Đoàn.

Đứa con gái cô Vị kể lại với tôi, mẹ đã sung sướng biết bao khi giới thiệu những người ruột thịt của mẹ như thế, trước đám dân lao động trong ngõ phố. Nghe chuyện, tôi tạm yên tâm. Tôi mừng cho mẹ. Dầu sao, con người cũng nên có một cái lý để tự hào. Nhưng tôi không thể nén cảm giác tủi cực, có đôi phần uất ức. Chính họ, chính những người đem cho mẹ niềm vinh hạnh ấy là duyên cớ sự chia rẽ trong gia đình chúng tôi. Và, chui vào một góc tối trong học đường, ngồi giữa những hàng ghế thênh thang, bụi bặm, tôi mơ đến mái nhà vá víu của mình. Tiếng mưa rỉ rách gõ trên mái tôn. Âm điệu xôn xao của buổi lê minh, khi chân trời chưa rạng, khi tiếng gọi í ới, tiếng mắng chửi con cái, tiếng sai bảo công việc cùng lúc vang lên, ném qua các bức tường, hòa với mùi thơm của các món ăn sáng, tạo nên bầu không khí quen thuộc với tôi từ thuở ấu thơ. Tôi mơ tới giàn hoa đăng tiêu cháy như lửa, ngạo nghễ và chói chang giữa khóm nhà lô nhô, giữa những bức tường cắm mảnh chai bẩn thỉu và gớm ghiếc, như một bài ca khát vọng quá mãnh liệt trào lên trên ngọn triều bèo bọt của đời thường. Tôi mơ đến tiếng hát khàn và sai lạc của anh què, nghe như tiếng đổ vỡ, tiếng kêu, lời mời gọi. Tôi mơ tới một que kẹo mạch nha…

Học kỳ ấy tôi được xép hạnh sinh viên ưu tú, Cô Tâm may cho tôi hai chiếc áo bằng hàng mútxơlin ngoại, một chiếc màu lòng tôm, một chiếc xanh da trời. Ai cũng khen tôi mặc áo mới, trông trẻ và xinh hẳn ra. Cô Tâm im lặng nghe những lời khen ấy, với vẻ mặt đăm chiêu. Chắc cô đang tính xây cho tôi một thiên đường ngay ở cõi trần ai này. Cô đổi chiếc xe nữ Thống Nhất cũ rỉ tôi vẫn đi bằng chiếc xe Mifa mới. Cô định mua xe Pơgiô cho tôi nhưng may sao, người đàn ông đeo kính màu xanh chai đã kịp gàn.

– Không phải em tiếc cháu. Nhưng con gái đi xe đắt tiền chỉ làm mồi cho bọn bất lương.

Cô nghe theo, nhưng cô vẫn đánh một sợi dây chuyền vàng tây bắt tôi đeo.

– Nam vô tửu bất thành nam, nữ bất điểm trang bất thành nữ.

Cô nói thế. Rồi cô xuống một làng ngoại thành đóng cho tôi một lúc ba đôi giày. Thứ có gót, thứ hở gót, thứ quai tết không khóa cài. Nhưng có một nguyên tắc, không bao giờ cô đưa quá nhiều tiền cho tôi. Vàng cũng thế. Tôi ít ra thành phố, thường lúc rỗi tôi chúi mũi vào thư viện đọc sách. Chưa nhận lời yêu ai, tôi không ham đi xem chiếu bóng, xem xiếc, rong chơi. Tiền đối với tôi dường như không cần thiết. Và thế, món trợ cấp hàng tháng của cô cứ dồn tích lại. Tôi định khi nào mẹ nguôi giận tôi sẽ đem món tiền ấy về, thay lại mái nhà cũ. Nếu không đủ đổ mái bằng, tôi cũng lợp ngói Tây. Nhưng trái với dự tính của tôi, món tiền ấy đã được dùng vào việc khác.

Ấy là một chiều xuân, tháng hai, mưa phùn rắc đầy trời. Ánh chiều tím sẫm, lọc qua mưa, bảng lảng như khói. Chúng tôi ngồi trong phòng, vừa tí tách ăn hạt bí, vừa tán chuyện hôm trước, lớp trưởng của chúng tôi cưới vợ. Anh ta là bộ đội chuyển ngành, 33 tuổi, xấu mã nhưng rất tốt bụng. Một người chính trực, công bằng. Trong lớp, kể cả những chàng trai ngang ngược nhất, kể cả những cô gái chỏng lỏn, hoặc lười học ham chơi, hoặc đôi co mách lẻo, hoặc có thói ăn cắp vặt… những người bị anh đề nghị kỷ luật cũng không thù ghét được anh. Sáng qua, mưa phùn dầm dề. Cả lớp đội mưa, bì bõm lội qua một khúc đường sống trâu để vào dự đám cưới. Làng anh ở Vĩnh Phú, vùng đồi xinh tươi nhưng nghèo khó. Đám cưới có cả kẹo nuga, kẹo Hải Hà, cả kẹo bột và chè lam nhà tự nấu. Hạt bí anh phải mua từ Hà Nội đem về. Cô dâu ở làng, một thôn nữ khỏe mạnh, lưng to chân to. Hai má không cần đánh phấn cũng đỏ rực. Đám cưới vui.

Chừng bảy tám giờ tối, lũ chúng tôi mới mò mẫm ra ga, trở về Hà Nội. Cô dâu chú rể quần xắn ngang bắp chân theo ra ga đưa tiễn. Hai người dúi cho chúng tôi một gói hạt bí, một bọc chè lam, lại cả một đùm bánh khoai bánh nếp. Con tàu chạy suốt đêm. Chúng tôi vừa phải chống đỡ đám hành khách lôi thôi tràn trên các ga lẻ, vừa rôm rả chuyện trò.

Gần sáng, tàu mới tới thành phố. Kéo nhau về khu học xá, cả bọn lăn ra ngủ. Nhưng khi cơn buồn ngủ đã được thỏa mãn, chúng tôi lại cảm thấy phấn khích, lại tụ tập nhau cắn hạt bí, tán chuyện. Đối với tuổi thanh xuân, đám cưới, hôn nhân, tình yêu là đề tài bất tận. Một cô nàng chợt hô lên.

– Sắp hết hạt bí rồi.

Cả đám nhao nhao nói.

– Đề nghị tiếp tục trợ cấp.

– Tới lượt ai?

– Ninh, tới lượt cái Ninh. Ba lần trước nó đều đánh trống lảng. Ê, Đào Thị Ninh, xùy tiền ra. Nay đã tới phiên nhà ngươi nộp thuế thân.

– Nhưng mà đến hôm nay mỗ lại hết tiền… Ha ha ha… may thật là may.

Đào Thị Ninh, một cô gái quê Hải Phòng, to béo, đen mập, sống mũi gồ to như con trai nhâng nháo nói. Nói xong, cô nàng lại đứng phắt lên, ngay giữa đám đông lộn hết các túi áo túi quần. Mấy cậu bạn trai nhăn mũi.

– Hắt xì hơi, mất vệ sinh.

– Thôi, ngồi xuống, đàn bà con gái gì mà…

Ninh liền túm tóc cậu con trai vừa nói lên.

– Mà làm sao, nói tiếp?

Cậu bạn cười cười, cố gỡ mái tóc uốn quăn chùm nho khỏi bàn tay cứng như thép của nữ lực sĩ. Ninh hỏi.

– Nói mau, không ta cho một chưởng.

Cậu bạn chớp mắt, rồi đánh liều.

– Mà mà… thơm như hoa nhài vậy.

Cả bọn rũ ra cười, nước mắt giàn giụa, cười xong, chừng vẫn nhớ rằng hạt bí sắp hết, mà câu chuyện đang giòn. Tất cả quay lại Đào Thị Ninh.

– Mày đích thị là đồ hủi. Lần nào phải nộp phạt mày cũng hết tiền.

Ninh cười ha hả.

– Số mỗ luôn luôn may. Thần tài phù trợ cho mỗ.

Đoạn Ninh khoa chân múa tay, hát tuồng.

– “Như ta đây, chẳng phải dân Nghệ An, Hà Tĩnh nhưng thánh keo cũng gọi bằng cụ tổ. Năm một hội, tháng hai kỳ, dân con miền Trung xì xụp khói hương, lễ bái ta, ta phù hộ độ trì cho muôn dân xứ… keo…”

Một cô bé quê ở Hải Hưng rú lên trước, rồi cả bọn cứ thế mà cười theo. Lần này, đứa nào đứa nấy ôm bụng bò lóp ngóp trên giường, lũ con trai chổng cả vó lên, giãy đành đạch. Từng cơn cười kéo tới, không kiềm chế nổi, từ người nọ lây lan sang người kia. Phải 10 phút sau, chúng tôi mới hoàn hồn. Tích, một anh chàng quê Nghệ An, vừa lau nước mắt vừa nói.

– Tổ cha mi, mi vào quê tao xem mi có dám hát thế không?

Ninh đáp lại liền.

– Tổ cha mi, tau mà vào quê mi tau thành triệu phú.

Tích thật thà quay lại hỏi.

– Sao vậy?

– Tau thuê thợ tiện, tiện một ngàn con cá gỗ. Đem sơn vàng, sơn đỏ, vào quê mi bán giá thắt cổ, tau thành triệu phú liền.

Tích vỡ lẽ, giơ nắm tay đấm Ninh. Ninh chạy. Hai người đuổi nhau mấy vòng liền. Rồi, sau đó, Ninh giơ tay đầu hàng.

– Kéo cờ trắng.

Cả hai về chỗ ngồi, thở hổn hển. Lúc ấy, Đào Thị Ninh quay sang bảo tôi.

– Ê, nhà tài phiệt mặc quần thâm, xì tiền đi mày.

Tôi bảo.

– Cũng được. Nhưng mày phải đi mua. Trời mưa, tao ngại lắm.

Ninh liền trợn mắt quát:

– A, ra mày cậy có tiền, mày muốn ngồi nhà phải không?

Tôi đáp:

– Tất nhiên, ông mất của kia, bà chìa của nọ.

Cô gái lực sĩ liền túm lưng áo tôi, nhấc bổng lên.

– Này, đây là luật của bạn bè, nghe không? Mặc áo mưa vào và đi ngay tắp lự. Mày giở thói bà chủ ra, mày sẽ bị tống cổ khỏi hội ngay.

Tôi nghĩ, Ninh cũng có lý. Vả lại, không ai có thể khuất phục cái con bé nặc nô ấy. Bụng tức, nhưng tôi vẫn phải trùm áo mưa đi. Ở cổng trường, có một dãy hàng quán. Tới đó, có thể mua từ hộp sữa ngoại tới vài cái kẹo vừng hoặc mấy nắm bỏng ngô.

Sân trường lầy lội. Khu nội trú càng lầy lội hơn. Những viên gạch ném trên lối đi chìm nghỉm trong lớp bùn nhão. Đám cỏ loi phoi nhú ngọn lên. Tôi bước từ viên gạch lát này sang viên gạch lát kia, cố gắng không trượt chân dẫm xuống nước. Chú tâm vào việc đó, tôi không biết có một người đang đi ngược lại phía mình.

– Hằng!

Tiếng gọi giật giọng khiến tôi giật nảy, ngẩng mặt lên. Cách tôi vài bước chân là cô Vị. Cô trùm tấm nilông xám, dài ngang khoeo chân. Quần đen xắn tới bẹn. Đôi chân trần lội trong bùn. Một tay cô giữa tấm vải che mưa, tay kia xách đôi dép.

– Cô tìm cháu suốt từ lúc tan tầm.

Tôi nhìn gương mặt đầm đìa nước của cô.

– Lâu quá cháu chưa về nhà… Có chuyện gì thế cô?

Cô cũng đăm đăm nhìn tôi, rồi thay vì trả lời, cô nói một câu chẳng ăn nhập gì vào câu chuyện.

– Mày có lớn mà chẳng có khôn, Hằng ạ…

Xung quanh chúng tôi là khoảng sân láng nước, mấp mô các gờ đất, các lối đi rải sỏi. Không nơi nào trú chân được. Tôi nói với cô.

– Cô quay ra cổng trường với cháu. Ở đó, có quán hàng.

Cô gật đầu.

– Ờ.

Rồi chúng tôi im lặng đi về phía cổng trường. Mười phút sau, tôi đưa cô vào quán bà Nhu, một bà chủ quán quen thuộc. Nhiều lần cô Tâm lên, cô cháu tôi thường ra ăn quà ở đó. Bà Nhu đang ngồi ngáp, đon đả cất tiếng chào. Rồi bà chỉ cho chúng tôi khúc tre thừa đầu quán, để móc mấy tấm vải che mưa. Những chiếc ghế băng lấm bùn. Tôi mượn bà Nhu mảng giẻ lau. Bà hỏi.

– Cô Hằng ăn gì?

– Cháu xin bà hai chén chè nóng với đĩa bánh đậu xanh.

Bà Nhu rót hai chén chè Thái xanh vào chén vại, rồi đặt một gói bánh đậu xanh lên chiếc đĩa hoa Hải Dương.

– Bà với cô tự nhiên nhé, cho tôi vô phép…

Sau khi nói một cách lịch sự, bà co hai chân lên ghế tựa lưng vào vách, ngủ gà ngủ gật. Cô Vị uống một hơi hết cả chén nước, có lẽ cô đang lạnh. Rồi cô hỏi.

– Sao hôm đi, không rẽ vào cô?

– Mẹ cháu đuổi cháu đi tức khắc. Vả lại, lúc ấy cháu không nghĩ ra.

– Lúc ấy, cô còn ở nhà. Hàng chưa đủ gánh. Giá cô biết thì không đến nỗi.

Cô thở dài sườn sượt. Tôi ngồi im. Tốt nhất là im lặng và đợi. Những năm tháng sống cô đơn dạy tôi điều ấy. Cô Vị lại uống nốt chén chè thứ 2, và nói.

– Mẹ mày khổ lắm.

– Nhưng cháu cũng có sung sướng gì đâu?

– Đã đành, nhưng mẹ vẫn là mẹ.

– Bao giờ cháu cũng yêu mẹ cháu.

– Trời đầy bà ấy.

– Chính mẹ cháu đã đuổi cháu đi.

– Phải, cô biết… Nhưng mẹ mày không muốn thế.

– Không muốn?

– Phải, không muốn, nhưng vẫn cứ làm. Ở đời, nhiều khi như vậy. Bao giờ cháu lớn lên, từng trải hơn khắc biết. Chẳng phải đương nhiên, nhân gian có câu: ma đưa lối, quỷ đưa đường.

Tôi mở chiếc nắp bông ủ trên tích nước chè, rót chén thứ ba cho cô. Chén chè nóng giãy. Cô đưa hai bàn tay ủ chén nước cho đỡ rét. Tôi nói.

– Cô bán hết hàng chưa?

Cô gật đầu.

– Bán hết hàng vừa tan tầm. Cô gửi quang gánh cho người quen rồi đi ô tô tới đây.

Uống nốt chém chè thứ ba, cô đứng dậy.

– Đi đi cháu.

Tôi ngạc nhiên hỏi.

– Đi đâu?

– Mẹ mày què chân rồi. Bị ô tô chèn sáng nay, khi gánh hàng qua đường. Lúc cô biết tin trời đã non trưa, người ta đã đưa bà ấy vào viện. Bác sĩ phải tháo khớp gối. Đi đi cháu, bà ấy nằm trong bệnh viện Bạch Mai.

Tôi không nhớ mình đã làm gì lúc ấy. Chân tay tôi giá lạnh, như bị chuột rút, tôi ngã vào bàn bày bát chén, bánh trái của bà chủ quán. Cô Vị đỡ tôi lên, trả tiền, nói gì đó thì thầm với bà chủ quá. Rồi bà chủ quán đội áo mưa le te chạy đi. Lát sau, bà quay về với chiếc xích lô. Chúng tôi cùng lên xe. Người lái xe kéo chiếc nón lá già che kín mắt, cắm cúi đạp. Đường gồ ghề, xóc nảy, mỗi lần xe xóc, lại vòng hào quang nảy ra trong mắt tôi. Một cơn rét run từ xương tủy lan tỏa ra da thịt. Cô Vị ôm tôi, khẽ đập vào vai.

– Khóc đi, khóc đi cho nhẹ.

Tôi không khóc được. Dường như tiếng khóc vón thành cục nước đá nằm trong họng. Dường như máu cũng đông thành một thứ tiết đặc trong các huyết quản tôi. Mắt tôi tối dần, cùng với bóng tối. Trời vẫn mưa. Mưa xiên lệch cả đất trới. Cái cổng vào viện trống toang hoác như cửa nhà mồ. Cô Vị đã phải năn nỉ mãi, người gác mới cho chúng tôi đi qua. Hành lang… Những giường bệnh… Những gương mặt xa cách và sầu não… Sau cùng là mẹ tôi…

– Mẹ ơi!

Tôi gọi. Và nước mắt trào ra như nước suối, nóng hổi, mặn, chảy tràn trên hai gò má, lan xuống cằm, rơi thánh thót. Bỗng dưng, khối tiết đông đặc trong tôi tan chảy thành các dòng máu. Cục đá trên tim tan chảy thành từng giọt lệ. Người tôi nhẹ bổng đi.

– Mẹ ơi!…

Mẹ tôi quay ra, giơ một bàn tay cho tôi, mỉm cười. Nhưng môi mẹ méo xệch. Rồi nước mắt cũng tuôn đầm đìa trên gò má những vết nám và những vết tàn nhang. Chân mẹ quấn đầy băng cụt ngang gối.

CHƯƠNG 19

Có tiếng ai gọi trong sương mờ. Sao giọng nói xa lạ? Tôi định mở mắt nhưng không được. Tiếng gọi lặp lại lần thứ hai:

– Dậy đi cô bé, tới nơi rồi.

Bàn tay cứng cáp của một người đàn ông nào đó lắc vai tôi. Tôi choàng dậy:

– Chào cô bé, hết khóc chưa?

Người đồng hành cười, những chiếc răng bạc lóe lên. Chiếc mũi khoằm của ông ta giờ đây không còn làm tôi khó chịu. Giơ ngón tay trỏ, ông quệt nhẹ vào má tôi:

– Hãy còn nước mắt đọng đây nhé. Tôi hy vọng là ra ngoài gió nó sẽ khô.

Tôi sực nhớ cảnh toa tàu đêm qua, hai gã trai thô bạo, cơn tủi cực tràn đầy con tim nhỏ bé của tôi. Tôi đã nức nở mãi trong mơ. Người đàn ông sắp xếp hành lý:

– Chuẩn bị xuống ga đi, cô bé. Chỉ còn một hai phút nữa thôi.

Mátxcơva đã ở bên ngoài. Qua ô cửa, tôi thấy khung cảnh quen thuộc của nhà ga. Các đường ray, các mái trú tạm, kè xi măng đón khách chạy giữa các tuyến đường. Các cụm đèn tín hiệu. Các nhân viên nhà ga lặng lẽ đi lại. Trên một mái nhà lợp đá đen xa xa, lũ bồ câu đứng hiền lành.

Tiếng còi tàu rú lên. Ở nơi nào trên trái đất, tiếng còi tàu cũng thế. Người đồng hành nắm cánh tay tôi:

– Mặc áo vào cô bé. Và đưa chiếc túi tôi đeo cho.

Không chờ tôi trả lời, ông ta khoác luôn chiếc túi du lịch của tôi vào vai, trông ông thật giống một con ngựa thồ. Thứ ngựa vùng sa mạc, gân guốc và thanh mảnh. Chúng tôi cùng đi ra ga, trông như hai cha con người Trung Á về thủ đô, hòa vào dòng người đông đúc. Thỉnh thoảng, người đàn ông cúi xuống nhìn tôi, vẻ như ủ ấp và che chở. Cái nhìn của ông ta khiến tôi nao lòng. Trong ký ức của tôi, biết bao lần ánh mắt che chở như thế đã hiện về, giữa những trưa hè oi ả, giữa đêm lạnh gió mùa đông bắc ù ù thổi, giữa những cơn mưa thu dầm dề… khoảng thời gian dài rộng đã được đan nối bằng quá nhiều giấc mơ non yểu viển vông và quá nhiều nỗi khao khát. Thỉnh thoảng, người đàn ông lại cầm bàn tay tôi, bóp nhẹ. Tôi nhìn ông ta với lòng biết ơn.

Nhưng phút giây hạnh phúc ngắn ngủi rồi cũng hết. Chúng tôi chia tay nhau trước sân ga. Người đàn ông cúi xuống, nói dịu dàng:

– Rất tiếc, cô bé nhé. Tôi phải đến nơi hẹn bây giờ. Tôi không thể đưa cô đi.

– Cảm ơn ông rất nhiều. Tôi biết tất cả các ga xe điện ngần của thành phố.

Ông ta nghiêng đầu cười:

– Cô bé nói tiếng Nga giỏi hơn tôi. Tôi ở…

Ông ta đọc một tên thành phố nào đó chưa từng biết. Có lẽ, nó không được ghi trên bản đồ.

– Một lần nữa, chào nhé. Hãy đi, và đừng để ai bắt nạt.

Ông ta ghì lấy tôi, hôn lên tóc rồi quay đi. Ông ta qua đường hối hả. Tôi cũng bước đi, hối hả. Tôi tới ga xe điện ngầm gần nhất.

Đừng bao giờ quay lại nhìn, dù một thoáng.

Vì phút giây hạnh phúc sẽ vỡ tan.

Vì phía trước, con đường sẽ trở nên lạnh lẽo…

Những câu thơ tự dưng vang dội trong óc tôi. Như có thi sĩ nào đó, vớii giọng ngâm bốc lửa đang đọc chúng trong một căn phòng vắng.

Tới ga xe điện ngầm, tôi đáp chuyến đi thứ hai trong ngày. Toa tôi ngồi có chừng trên một chục khách, Họ vừa đọc báo, vừa nhai bánh mì kẹp thịt. Có lẽ họ từ một nhà máy nào vừa đi ra, Tới ga thứ ba, bọn họ xuống hết. Còn một mình tôi. Tôi ngắm mình trong tấm kính đối diện, lấy lược ra chải lại tóc. Rồi rút bánh trứng trong túi du lịch, ăn. Lần này khôn ngoan hơn, tôi phải chuẩn bị đồ ăn từ nhà. Giá có một chén chè nóng với lát chanh thì tốt. Ăn xong, tôi mở sổ ra xem địa chỉ. Năm trước, cậu Chính cùng đoàn công tác đi ngắn ngày, ở khách sạn năm Rátxia. Lần này cậu xin đi tập huấn bốn tháng, ở trường Đảng Aôn, ngoại thị. Không hiểu sao, người ta cho một ông già ngót nghét 60 tuổi như cậu đi học? Có lẽ, đó là một trong những chính sách tuyệt diệu nhất. Sực nhớ gương mặt cậu trong lần gặp gỡ trước, tôi không khỏi mỉm cười.

Chuyển tàu mấy lần, tôi mới tới được nơi cậu ở. Aôn đây là trường học được biệt ưu ở nước Nga. Không có một trường học nào được dành cho mọi sự thuận tiện về sinh hoạt, phương tiện học tập và giao tiếp như ở đây. Tôi đã nghe nói nhiều về nó. Tôi biết ở đây, mỗi học viên được sử dụng một phòng, điều mà sinh viên các trường khác, kể cả đại học Lômônôxốp không dám mơ ước. Tôi hy vọng được vào căn phòng riêng của cậu, để uống một chén chè nóng pha đường. Nhưng người ta báo cho tôi biết cậu không có nhà. Tôi hỏi:

– Cậu tôi, ông Đỗ Quốc Chính nằm bệnh viện?

Người trực ban ngạc nhiên nhìn tôi:

– Viện nào? Đồng chí ấy gửi cho chúng tôi mảnh giấy này.

Một mảnh bìa nhỏ, trên đó ghi vài dòng chữ Việt:

“ Hằng có đến, tìm cậu ở nhà anh Khoa, nghiên cứu sinh ở…”

Giờ, tôi không nhớ rõ địa chỉ ấy. Nó ở gần đại lộ Lômônôxốp mang tên nhân vật có họ Ulivanốp, có lẽ là em của Lênin. Một tòa nhà cao tầng, kiến trúc tầm thường, kiểu kiến trúc phổ thông sau thế chiến thứ hai. Cửa chính tòa nhà giáp một cửa hàng bách hóa cỡ nhỏ. Trong đó, người ta bán một số đồ dùng lặt vặt như cốc chén, thìa nĩa, xoong nồi, bàn chải răng, các loại xà phòng thơm và xà phòng giặt… Có cả bơ, cả phómát. Nhưng lớn nhất là quầy bia rượu. Người bán hàng, một ông già cao lớn, vạm vỡ, mặc áo blu trắng, đội mũ trắng. Ông đi đi lại lại sau các quầy hàng, lấp lánh đủ thứ chai rượu và các giấy trang kim, trông như một trái núi tuyết di động. Khách mua hàng rất đông, từ chai nước quả chục kôpếch đến chai cônhắc nhãn năm sao mấy chục rúp. Ông giao hàng và nhận hàng cùng với dáng vẻ vô cảm như nhau. Đôi mắt của ông còn rất trong, xanh lơ, đưới hai tràng mày bạc trắng. Hai bàn tay to, rắn rỏi, với những vết đồi mồi lớn và các đường tĩnh mạch nổi phồng lên. Tôi đã đứng sau lưng đám người mua hàng, nhìn ngắm ông rất lâu.

Trong khoảng thời gian đó, tôi bị giằng co giữa ý nghĩ bước vào khu nhà xa lạ kia và trở lại ga, lên tàu về tỉnh lỵ của chúng tôi. Rõ ràng, cậu Chính không ốm. Cậu đã bịa ra cớ ấy để gọi tôi lên Mátxcơva. Không lẽ bên nhà có tin đột xuất? Nếu có, hẳn mẹ tôi đã đánh điện thẳng cho tôi. Từ ngày bị cụt một chân, không còn đi lại xông xáo được. mẹ đã ngồi ở nhà, mở quán bán chè chén. Khung cửa sổ của chúng tôi đã được đục to thêm, trát xi măng phẳng phiu. Để tạo thành một khoảng không gian rộng rãi. Ở ô cửa ấy, mỗi sáng mẹ ngả tấm ván gỗ có chân chống xuống, biến thành chiếc bàn bán hàng. Gánh hàng khô xưa đã bán hết. Vốn buôn cụt dần đi, chỉ còn đủ mua vài chiếc lọ thủy tinh lớn nhỏ đựng lạc, kẹo vừng, thuốc lá cuốn rẻ tiền, bánh đậu xanh và bánh rán không nhân bán dỗ trẻ con, chừng một chục chiếc chén vại Bát Tràng. Dăm túm bánh chưng và bánh gai của các hàng bán đem gửi. Một ấm chè Thái ủ trong giỏ lót bông. Thêm chiếc điếu cày là đủ lệ bộ. Khách đa phần là dân trong ngõ. Họ bán hết gánh bún xong, trở về ngồi ăn chiếc bánh chưng, hoặc bán chè rồi tới ăn chiếc kẹo vừng cho lạ miệng. Họ đi nhặt những đồng bạc lẻ, nhàu nát của dân thành phố, rồi đem về ngõ xóm nuôi nhau. Có khi, uống một chén chè chiếu lệ, họ ngồi chuyện vãn với mẹ tôi cả buổi. Và mẹ tôi, cũng bòn những đồng bạc lẻ của họ, bỏ vào chiếc bị cói nhỏ, như người ta làm một nghĩa vụ không hào hứng bao nhiêu. Số tiền lời ấy, mẹ có thể mua đủ xuất gạo. Dương nhiên, tiền ăn tiêu trông cả vào những hòm hàng gửi qua tàu biển hoặc bưu kiện của tôi. Cuộc đời sinh viên của tôi đã kết thúc, kể từ buổi chiều xuân mưa dầm dề, khi người hàng xóm tới báo cái tin độc địa…

Giờ đây, tôi tới thăn cậu Chính làm gì? Người mà tôi bị trói bởi một mối liên quan không thể tháo gỡ. Ông già bán rượu vẫn đi lại trước mặt tôi, luôn tay giao hàng. Dáng đi của ông bồn chồn như con gấu đợi mồi. Tia nhìn chậm rãi, nhưng đôi mắt còn rất trẻ, rất xanh. Những người khách mua hàng xong đều lặng lẽ ra đi. Ngay trước cửa hàng, là bến xe buýt. Xe tới, xe đi, hầu như không có tiếng động. Khác hẳn Hà Nội, một thành phố luôn luôn bị lên cơn co giật thần kinh bởi những tiếng còi xe hỗn độn, man rợ. Thêm vào đó, là tiếng pháo nổ bất thường, không cần luật lệ và tiếng rú thất thanh của một gã say rượu hứng chí hoặc của một vụ cãi cọ, đánh đấm nhau. Những người dân Nga im lặng xếp hàng, mua hàng, im lặng ra bến xe chờ đợi, im lặng lên xe. Những con người hiền lành, tuân thủ luật tắc. Trong cái trật tự của đời sống ở xứ này, hàm chứa cái gì đó trì đọng. Một thứ an bình của làn nước hồ không gió bão, không luân chuyển. Một thứ êm ả của núi cao, của cỏ cây trong thung lũng, làn không khí trong trẻo nhưng thiếu dưỡng khí cho sức triển nở, sức sáng tạo và sự thăng hoa của con người. Nhưng dẫu sao, nhìn những người dân với vẻ mặt êm hòa, nhiều chịu đựng ấy, tôi vẫn thấy họ đã được nhào nặn qua một từ trường của văn hóa, của một xã hội chí ít cũng tạo nên những thành trì của văn minh vật chất và tinh thần.

Xe buýt đã tới. Đám người đứng chờ trong trạm ghép gỗ nối nhau lên. Họ không chen lấn, xô đẩy. Lúc này, tôi phải quyết định: nhảy lên xe buýt ra ga hoặc vào khu nhà kia. Một chàng trai từ trong cửa hàng chạy bổ ra, va phải tôi. Anh ta ngoái cổ lại:

– Xin lỗi nhé.

Rồi sải những bước chân rất dài, anh ta lên xe. Hai nách kẹp hai chai rượu. Chai thứ ba thò thò lên từ miệng túi quần. Tôi đang nhìn anh, xe đã lăn bánh. Tôi thầm nghĩ:

– Trễ rồi.

Vậy là trời đã bắt ta phải gặp cậu Chính thêm lần nữa. Tôi đi ngược lên chừng 50 thước. Ở đó, cổng ngôi nhà đã khép kín. Tôi đành đi vòng lại cổng sau, ở phố bên kia. Trước cổng này, có một đám đông thanh niên. Họ đứng túm tụm lại, nhưng rất ít chuyện trò. Hóa ra họ ăn kem. Quày bán kem ngay gần đó thụt sâu vào một khu vườn. Có khoảng trên một chục người đang xếp hành trước khuôn cửa gỗ hình tổ tò vò, chờ mua kem. Đa số là người Việt. Tôi chắc họ là những nghiên cứu sinh hoặc cán bộ thực tập trong ngôi nhà kế đó. Tôi chọn người đàn ông tóc muối tiêu, mặc complê màu xám nhẹ, sơmi trắng có đường thêu hoa văn dọc từ vai xuống gấu để hỏi thăm:

– Thưa chú, trong nhà này có anh Khoa, nghiên cứu sinh năm thứ hai không?

Người đàn ông tóc muối tiêu ăn mốt miếng kem cuối cùng, rút mùi xoa lau miệng, lau tay rồi hỏi lại:

– Khoa nào? Trong nhà này toàn các nghiên cứu sinh cả. Người nhà em làm luận án về môn gì?

Tôi im lặng. Lúc ấy, tôi chưa kịp nghĩ tới địa chỉ cụ thể của cái ông nghiên cứu sinh tên là Khoa kia. Tôi vẫn nghĩ, đám người làm luận án phó tiến sĩ chắc không bao nhiêu và họ quen biết nhau cả. Người đàn ông chăm chú nhìn tôi và hỏi:

– Em ở xa mới về Mátxcơva, đúng không?

– Vâng. Xa lắm.

– Tiếc cho em quá. Ở đây có Khoa Điện-cơ, Khoa Sinh-Hóa, Khoa Ngữ-văn. Nghĩa là chừng ấy ông Khoa được gắn liền với môn khoa học làm luận án thành biệt hiệu.

– Cháu có địa chỉ của anh ấy.

Tôi đáp và đưa cho người đàn ông tấm bìa. Ông ta đọc, rồi đưa mắt nhìn tôi rất nhanh. Tôi không đoán được ý nghĩa của cái nhìn đó. Nhưng tôi biết chắc chắn nó hàm chứa một hiện thực không bình thường. Người đàn ông nói:

– Khoa Sinh-Hóa. Tôi có thể đưa em đến tận nơi. Em có mang đủ giấy tùy thân theo không? Ở đây, người ta nguyên tắc máy móc lắm.

Tôi gật đầu:

– Cảm ơn chú. Cháu chuẩn bị rồi.

Người đàn ông giúp tôi xách túi du lịch. Ông ta bước lên bậc tam cấp, đẩy cánh cửa gỗ luôn khép kín cho tôi vào. Qua một phòng gỗ hẹp ngăn cách giữa cửa lót bên trong, như kiểu kiến trúc thông dụng các tòa nhà ở đây, chúng tôi bước vào gian tiền sảnh. Đó là một căn phòng rộng, có những chiếc ghế gỗ cũ và xoàng xĩnh kê sát tường cho người lên xuống ngồi chờ. Một tấm bình phong giá ghép bởi các khung gỗ có căng vải sơn vẽ hình trang trí, ngăn cách gian tiền sảnh chính rộng hơn. Bên trái gian tiền sảnh, một phòng trực ghép gỗ, khung cửa vuông. Một ông già ngồi trực bên trong. Ông đang đọc sách chăm chú, mái đầu trắng phơ cúi xuống, những chòm lông bạc đâm tua tủa từ hai lỗ tai lớn ra hai bên. Người đàn ông tóc muối tiêu bước tới gõ gõ vào khuôn cửa gỗ. Tôi chắc ông lão nặng tai. Quả nhiên, người đàn ông gõ tới lần thứ ba, ông mới ngẩng lên:

– A… Có việc gì vậy?

Ông hỏi với giọng nặng và trầm, không giống giọng nói của dân Mátxcơva. Thay vì trả lời, người đàn ông hỏi lại, với cách phát âm và ngữ điệu Nga một trăm phần trăm.

– Bố già lại vùi đầu vào sách. Ai vậy?

Ông già lật tấm bìa lên. Đó là cuốn Chàng Ngốc của Đốtxtôiépxki. Người đàn ông tóc muối tiêu xốc cổ áo nói:

– Con người khổng lồ của nước Nga.

– Đúng, đúng.

Ông già dật đầu tán thưởng với một niềm hân hoan sâu sắc. Ông chìa bàn tay hồng như bị cước, đầy những vết đồi mồi ra bắt tay người đàn ông tóc muối tiêu. Họ gật gù nhìn nhau. Sau đó, người dẫn đường của tôi nói:

– Có một cô bé từ tỉnh xa tới, cần gặp anh Khoa Sinh-Hóa. Giấy tờ của cô ta đây. Bố già vào sổ giúp cho.

Ông ta đưa giấy tùy thân của tôi cho ông già. Rồi quay lại vẫy tôi lên:

– Cô bé ấy đây.

Ông già đưa mắt nhìn tôi một cách nghiêm khắc. Sau đó ông lấy cuốn sổ trực to tướng, cẩn thận mở ra, ghi tên họ và số giấy tùy thân của tôi vào những hàng cột dọc. Ghi chép xong, ông bỏ tất cả vào ngăn kéo và gật đầu nhìn tôi:

– Đi đi.

Tôi cúi chào ông, bước đi. Ánh mắt của ông vẫn đuổi theo, tôi linh cảm thấy điều đó. Nhưng tôi không dám quay lại nhìn. Chúng tôi vào buồng thang máy, lên tầng tư, tới tận cửa sổ nhà của ông nghiên cứu sinh tên là Khoa.

– Đây rồi.

Người đàn ông tóc muối tiêu nói. Chúng tôi cùng đứng lại. Một lần nữa ông ta đưa mắt nhìn tôi, cái nhìn hàm chứa điều bí ẩn nào đó. Hình như ông ta định nói, nhưng sau phút giây lưỡng lự, lại thôi.

– Tôi đã làm xong phận sự với em rồi. Thôi, xin chào.

Ông ta chìa tay ra:

– Và chúc mọi sự bình an.

Đó là lời nói sau chót. Người đàn ông quay đi, và biến mất ở khúc rẽ của hành lang.

Tôi gõ cửa, chuẩn bị tinh thần để gặp một người đàn ông xa lạ. Nhưng người mở cửa chính là ông cậu tôi.

– Cháu Hằng, vào đây. May quá, cậu mong cháu từ chiều hôm qua. Ở đàng Aôn, người ta có nhắn gì cậu không?

Tôi bước vào, lẳng lặng treo áo, lẳng lặng ngồi xuống ghế rồi đáp:

– Cháu không gặp ai cả. Người trực ban đưa cho cháu mảnh giấy này.

– Thế hả, thế là tốt.

Cậu nói, và thở phào. Lúc ấy, tôi mới nhìn cậu. Một tay cậu cầm con dao lưỡi to bản, chắc đang thái thịt. Bụng cậu quấn tạpdề làm bếp. Chân cậu đi dép lê của đàn bà, thứ dép thêu từ Việt Nam xuất khẩu sang, bán có hai đồng rúp một đôi. Căn phòng vắng, chủ nhân nó đã để lại chiếc giường với đống chăn gối nhàu nát, chưa thu dọn. Tấm vải trải xiên lệch, bên mép đầy những vét chùi chân. Đầu giường treo tấm áp phích quảng cáo quần lót phụ nữ của HàLan. Một cô gái, đứng ưỡng rốn vào mặt khách, ở cái vị trí dễ thấy nhất trong căn phòng. Cô gái có đôi mắt đen hoang dã, riềm mi dày và mái tóc uốn xù đổ xuống lưng. Góc tấm áp phích ấy là tấm ảnh cỡ chín-sáu của chủ nhân, dược dán ép vào cùng với dòng chữ: “ Mùa đông đầu tiên ở Mạc Tư Khoa. Nhớ em Nga của anh.” Cuối giường, một chiếc bàn cao chân, trên để các chồng đĩa hát ép nghiêng giữa đống sách báo và tường nhà. Vài bông cẩm chướng khô héo. Vài chiếc dao cạo râu vứt bừa bãi với chiếc mùixoa bẩn và dụng cụ tránh thai của đàn ông.

Tôi nóng mặt. Tôi chợt hiểu ánh mắt người đàn ông tóc muối tiêu, Tôi chợt hiểu cái nhìn nghiêm khắc thầm lặng của ông già dưới gian tiền sảnh. Tiếng nói của cậu Chính vang lên:

– Hằng uống gì nào? Bia hay nước quả?

Tôi chưa kịp trả lời, cậu nói thêm:

– Uống nước kơvát nhé. Ở đây tha hồ xả láng.

– Cho cháu chén nước chè.

Cậu cười:

– Con bé này giản dị nhỉ!

Nói rồi cậu đi pha trà nóng cho tôi. Chưa pha xong chén nước, đồng hồ treo tường đã thong thả điểm nhịp. Mười một giờ ba mươi. Con chim cúc cu thò mỏ gỗ ra mổ làm nảy bật một âm thanh trong như tiếng hạc. Cậu Chính kêu:

– Chết thật, đến giờ rồi.

Nói đoạn, cậu hấp tấp bưng chén trà tới đặt trước mặt tôi:

– Cháu uống nước, ngồi chơi nhé. Cậu đang dở tay một tí. Chúng nó về bây giờ.

– Cậu nói ai cơ?

Thay vì trả lời tôi, cậu lặp lại như cái máy:

– Chúng nó về bây giờ.

Và cậu ngồi xuống, thái tiếp miếng thịt bò đang thái dở. Hai cái bếp điện đang cháy, thanh cácbon đỏ rực. Một nồi áp suất đang sôi. Bếp kia, vẫn để không. Cậu Chính thái thịt nhanh như một tay bán phở. Cậu đập tỏi, gia thêm mì chính, muối tinh ướp thịt. Sau đó, cậu quay sang thái khoai tây. Khoai tây đã gọt vỏ, cậu xắp hình con chì. Còn súplơ cậu cũng xắt lát dày trên năm li. Con dao đưa thoăn thoắt dưới bàn tay cậu, chắc chắn còn khéo léo và thành thục hơn 50 phần trăm số đàn bà Việt Nam thời nay. Còn lại hai củ cà rốt, cậu lách mũi dao tỉa sơ hình chiếc lá rồi thái sao. Cả cần và tỏi tây cũng được tỉa chè hình hoa một cách cầu kỳ. Xong các động tác chuẩn bị, cậu đặt chảo mỡ lên chiếc bếp để không. Chừng hai phút sau, mỡ đã sôi. Cậu thả mớ khoai tây vào. Tôi hỏi:

– Khoai tây xào thịt bò hả cậu? Sao lại thái hình con chì?

Cậu bảo:

– Ngốc. Khoai tây thái con chì mời dòn dều. Để ăn kèm với rau sống và thịt bò rán. Còn bát thịt ướp tỏi kia để xào súplơ và cần tỏi tây.

Trong lúc chờ khoai tây chín, cậu vừa đảo đều lên bằng chiếc bàn sảm, vừa lôi trong gậm bàn một chiếc xoong nhôm mới. Hóa ra xoong đựng đầy nhân nem, bao gồm thịt băm trộn với miến vụn, rau bắp cải thái, trứng, hành tiêu cùng ướp. Mở ngăn kéo, cậu rút ra vài tập bánh đa nem, như người làm ảo thuật. Và trước cặp mắt ngỡ ngàng của tôi, cậu cuốn nem thoăn thoắt. Tôi trầm trồ:

– Cậu giỏi thật. Ai dạy cậu thế?

Trán cau lại, cậu làu bàu đáp:

– Ai dạy? Không biết làm thì có mà…

Tới đó, cậu ngừng lại. Ngoài hành lang, vang lên những bước chân ồn ĩ. Có vật gì đó va đập rất nặng nề. Cậu Chính ngừng tay, ngẩng lên nghe ngóng:

– Chúng nó về đấy.

Cậu nói, lần này là lần thứ ba. Ngay tức khắc sau đó, tiếng gõ cửa vang lên. Cậu nói to:

– Có đây.

Đoạn bảo tôi:

– Ra mở cửa đi cháu.

Tôi ra chưa tới cứa, đã nghe tiếng một cậu con trai gắt bên ngoài:

Mau lên chứ! Ông ngủ trong ấy à!