THÉP ĐEN tập 1

1. Cuộc Họp Đầu Tiên

Vào một buổi tối cuối Xuân 1959, trời thật nhiều gió. Những hàng me trên đường “16” vật vờ, nghiêng ngã theo từng đợt gió mạnh. Từng đám lá me khô nhỏ dảy dụa cuốn đuổi nhau như đám ong vàng, gây nên những tiếng xào xạc, trên mặt đường.

Buổi tối đó là ngày thường nên khu nhà thờ Tân Sa Châu, gần Lăng Cha Cả Tân Sơn Nhất Sài Gòn rất vắng vẻ. Xa xa một vài ánh điện từ ngoài đường Trương Minh Ký hắt vào, càng làm cho khu vực nhà thờ mập mờ, chỗ sáng chỗ tối.

Nhìn sang phía bên kia nhà thờ, tôi thấy thấp thoáng trong một góc tối mấy người cũng có vẻ như chúng tôi, nghĩa là cùng chờ giờ hẹn với một người.

Mãi 8 giờ 15, từ đầu đường “16”, một chiếc xe “díp” thường dân đi tới và từ từ đỗ lại, trong bóng tối của một cây me bên đường, cách xa nhà thờ một khoảng.

Một bóng người bước xuống và đi về phía nhà thờ. Chúng tôi chả ai nói ra, nhưng cùng hiểu đó là người chúng tôi đang đợi. Lẩn trong bóng tối, chúng tôi chỉ thấy người đó mặc áo blouson xám, đội mũ “phớt”. Ông ta đi vào khu buồng cha Khuê phía đầu nhà thờ.

Chừng 10 phút sau, một chú bé giúp lễ ra sân mời chúng tôi vào. Cha Khuê không giới thiệu, nên chúng tôi chỉ biết gật đầu chào. Sau khi ông ta nói với Cha Khuê, xin mượn một phòng học ở trên lầu, ông quay lại phía chúng tôi với giọng Huế nặng chình chịch:

– Mời tất cả các anh em lên trên gác!

Chúng tôi nhìn nhau, chẳng ai nói một lời lục tục bước theo ông lên trên lầu.

Trong phòng, chúng tôi gồm 8 người, kể cả ông chú họ tôi. Chính tôi lúc này cũng không hiểu vì sao chú tôi cũng vào ấy ngồi. Hầu hết chúng tôi đều ở lứa tuổi thanh niên; chú tôi trông riêng biệt hẳn không những về tuổi tác, mà còn vì dáng dấp phong độ như một “chính khách” nữa. Chính sự hiện diện của chú tôi, cũng đang làm cho ông người Huế không ít băn khoăn. Ông nhìn chú tôi, nửa như muốn hỏi, nửa như e ngại đắn đo. Có lẽ chú tôi cũng thấy vậy, nên ông đã đứng dậy, rồi cùng ông người Huế đưa nhau ra chỗ ban công nói gì với nhau một lúc. Sau đó, chú tôi xuống lầu.

Tôi nhớ lại hơn một tuần trước, thằng em trai đi phố về, gọi tôi rối rít:

– Chú Thường gọi anh ra gặp cô chú có việc cần.

Ông Thường là một người từ trước tới giờ tôi vẫn kính nể, ông những ông là bậc cha chú, mà vì kiến thức uyên bác trong nhiều lãnh vực, và sự giao thiệp rộng rãi của ông trong xã hội. Vì vậy, tôi đã vội vàng ra nhà chú tôi ngay.

Sau những phút ân cần thăm hỏi thằng cháu về học hành, thi cử, mắt ông sáng thêm ra nhìn tôi, nói:

– Hiện nay, Phủ Tổng Thống tổ chức một lớp học đặc biệt chỉ dành cho mươi người. Những người phải được bảo đảm với Phủ Tổng Thống bởi những người có thế lực. Vậy nếu cháu thích, chú sẽ giới thiệu cho.

Những năm tháng mài đũng quần trên ghế nhà trường, kết hợp với thực tiễn cuộc sống đã dần hình thành trong tôi một nhân sinh và thế giới quan. Một người con trai được sinh ra trong đời này, lớn lên, lấy vợ, đẻ con, già, bệnh rồi … chết. Như vậy đi không rồi cũng trở về … không; có khác gì con người chỉ là cái mắc áo, và là cái nơi để hàng ngày đổ cơm vào? Tư tưởng hào hùng đầy lửa sống của cụ Nguyễn Công Trứ đã cuốn hút, thấm đậm vào tâm hồn non trẻ của tôi; đã luồn lách vào từng tế bào của trái tim nóng hổi; để rung lên những điệu nhạc tang bồng vẫy vùng ngang dọc của người con trai. Cho nên, mới nghe chú nói, tôi đã vồ vập nhận lời ngay, và nhờ chú tôi giới thiệu.

Ngày hôm sau, chú đã dẫn tôi sang gặp linh mục Mai Ngọc Khuê để giới thiệu tôi với người.

Cha Khuê đã hỏi nhiều về thân thế, gia đình, quá trình cuộc sống, và một số quan điểm của tôi đối với xã hội, đối với quê hương dân tộc.

Người rất chú ý, khi chú tôi giới thiệu từ bé tôi đã có nhiều năm luyện tập võ thuật. Cuối cùng người tỏ ra hài lòng nhìn tôi vừa gật gù:

– Như vậy là một thanh niên văn võ toàn tài.

Câu khen quá đáng của người đã làm tôi đỏ mặt. Khi từ giã cha Khuê, trên đường về nhà, tôi hỏi chú tôi có biết gì về lớp học đặc biệt này hay không?

Thực ra, chú chỉ là một người quen thân với Cha Khuê qua nhiều lần trao đổi về chính trị, thời cuộc… chứ về lớp học này, chú chẳng biết gì hơn những điều tôi nghe Cha Khuê nói.

Khi chú tôi đã xuống dưới lầu, ông người Huế trở lại lớp học. Ông quay nhìn tôi, nở một nụ cười thiện cảm trong lúc tay ông mở chiếc cặp đen để trên bàn. Sau đó, ngững lên nhìn tất cả chúng tôi, nét mặt nghiêm trang, ông nói rành rọt:

– Các anh là những người được giới thiệu bảo đảm để theo lớp học này. Tôi rất hân hoan, tin tưởng, vậy trước hết các anh hãy điền, ghi vào tập lý lịch sau đây.

Ông vừa giơ một tập giấy, vừa nói nội dung và cách thức ghi chép vào những chỗ trống theo câu hỏi. Tập lý lịch in sẵn này cũng như nhiều tập lý lịch khác, ngoài phần đề cập về bản thân và cuộc sống, còn thêm hai mục:

– Quan điểm tư tưởng, hoài bão. – Kể 3 người bạn thân nhất, ghi rõ tên tuổi và địa chỉ.

Gần 1 giờ sau, khi chúng tôi làm xong thủ tục lý lịch, ông căn dặn mấy việc:

– Trở về nhà, chỉ được nói với gia đình, bạn bè là chuẩn bị để đi dự một lớp huấn luyện, về thanh niên Cộng Hòa.

– Mỗi người hãy chờ ở nhà! Ông sẽ đến tiếp xúc riêng từng người theo địa chỉ trong bản lý lịch. Nếu có việc gì cần kíp phải đi đâu, viết giấy ghi rõ nơi đến và khi nào trở về, để lại dặn người nhà.

– Lúc đầu phải nhờ người giới thiệu là trung gian; nhưng bây giờ tuyệt đối không nói là nhận được hay không. Nếu người giới thiệu có hỏi, chỉ nói vẫn chờ, chưa thấy gọi.

Khi chúng tôi ra về, đã 10 giờ 30 tối. Chú tôi đã về nhà. Cha Khuê đã vào phòng đọc kinh. Đến lượt tôi chào ông người Huế, ông tiến lại bên tôi, nói:

– Bình, tí nữa theo tôi ra xe nói chuyện nhé!

Hơi ngạc nhiên, nhưng tôi chợt hiểu. Hẳn là Cha Khuê, hoặc chú tôi đã có lời nhắn nhủ.

Lúc ra tới đướng 16, ông đi thong thả bên tôi, đặt tay lên vai tôi ra chiều thân mật, ông hỏi tôi về cuộc sống, về học hành, v.v… Cuối cùng, ông nói:

– Tôi rất mến và tin tưởng ở Bình. Do đó, tôi muốn Bình giới thiệu cho tôi một người bạn thân, đồng chí hướng như Bình.

Là một thanh niên hãy còn nhiều bồng bột; nghe ông nói tôi thấy lòng tự hào và nghĩ ngay tới Nguyễn Vĩnh Lý, một người bạn rất thân học ở Chasselop Laubat. Anh vừa đậu phần I Tú Tài Pháp, anh cũng có một số hoài bão, ước mơ như tôi.

Sau khi ông ghi xong số nhà, đường phố của Lý do tôi nói, ông lại đặt tay lên vai tôi, giọng tình cảm dịu dàng:

– Tôi sẽ tiếp xúc với Lý, bây giờ Bình về, chúng ta sẽ gặp lại.

Trên đường về nhà và cả đêm hôm đó trước khi đi ngủ, tôi miên man suy nghĩ về diễn tiến của buổi tối ở nhà thờ Tân Sa Châu. Mặc dù chưa biết chút gì về lớp học, nhưng những hiện tượng mà tôi đã nhìn và nghe cả buổi tối hôm trước, đã làm tôi triền miên tưởng tượng viễn ảnh của một ngày mai, trong giấc ngủ muộn.

Sáng hôm sau, tôi phóng xe sang nhà Lý ở khu Đa Kao Cầu Bông rất sớm. Tôi kể cho Lý nghe về sự việc tối trước và nói đã giới thiệu với ông đó rồi. Lý rất mửng rỡ và hỏi liên tiếp những câu mà tôi cũng mù tịt:

– Lớp này là lớp gì? Học ở đâu và học gì? Thời gian bao lâu? Học xong, làm gì?

Tuy vậy Lý rất vui và tin tưởng tôi nên Lý sẽ chờ ông người Huế đó đến gặp. Tôi dặn Lý:

– Mày tiếp xúc với ông ấy, thử moi thêm, may ra biết rõ hơn.

Chừng 10 ngày sau, Lý xuống nhà cho biết: Đã gặp và hoàn tất lý lịch. Lý có hỏi tên, được ông bảo cứ gọi ông là Hương (tôi cho là tên giả). Ngoài ra Lý không biết gì hơn những điều tôi đã biết.

Chúng tôi phải chờ hơn một tháng trời. Có lẻ đây là thời gian sắp xếp chuẩn bị lớp học. Cũng có thể có những người đã bí mật đến xóm giềng, thẩm tra về từng người của chúng tôi. Một hôm, Lý xuống nhà tối với một vẻ phấn khởi:

– Ông Hương bảo tối nay mày đến nhà tao ngủ, 8 giờ sáng mai (tức là ngày 28 tháng 4), ông sẽ đến đón đi tham dự lớp học. Phải chuẩn bị quần áo, sinh hoạt trong một tuần.

Chúng tôi, hai đứa xốn xang bàn tán rất nhiều nhưng vẫn chẳng hiểu được gì hơn. Đêm hôm ngủ ở nhà Lý, hai anh em nằm bên nhau trong căn gác hẹp, nhỏ to rì rầm rồi đi dần vào giấc ngủ nhiều mộng mơ, về ngày mai của cuộc đời.

2. Cuốn Sổ Tay Tai Hại…

Sáng hôm sau, trời Sài Gòn thật đẹp. Một vài vầng mây trắng lững lờ trên nền trời xanh nhạt.

Đúng 8 giờ, ông Hương đậu xe ở một góc phố, đi bộ lại (đó là cách thận trọng thường xuyên của ông ta). Chúng tôi đã nhìn thấy, mỗi người một túi xách ra xe. Một cái bắt tay, vài nụ cười, không một lời nói, chúng tôi cùng lên xe.

Xe ra khu Bạch Đằng, đón một người cuối đường Hai Bà Trưng, quẹo về Trương Minh Giảng, lên khu Vườn Lài đón thêm hai người nữa. Không kể ông Hương, xe đã năm người, như vậy là hết chỗ.

Trong khi xe lao về phía Chợ Lớn, cả năm chúng tôi không biết xe sẽ đi về đâu.

Khi xe ra tới đầu Quốc Lộ số 4 đường xuống Mỹ Tho, một trong ba người kia tỏ vẻ hiểu biết nói nhỏ:

– Chắc đến trường Cây Mai.

Tôi chẳng biết trường Cây Mai dạy cái gì nên đưa mắt hỏi, anh đó khẻ giải thích:

– Đào tạo tình báo cảnh sát.

Thực tế không phải vậy, khi đi tới ngã tư Phú Lâm, xe đi chậm lại, rẽ vào chiếc cổng có hai cánh cửa sắt đóng im ỉm mang số: 365.

Như đừng chờ sẵn ở phía trong, một người quần áo bà ba nâu vội vàng ra mở cổng. Xe đi thẳng vào, đến cửa một ngôi nhà to thì ngừng lại. Chúng tôi xuống xe theo ông Hương lên gác.

Trên lầu đã có chín người nữa, trong đó, một người đã lớn tuổi vào khoảng ba mươi lăm, bốn mươi, làm tôi chú ý nhiều hơn vì hâu hết chúng tôi từ hai mươi đến hai mươi lăm.

Trong căn nhà rộng có nhiều buồng nhỏ, nhưng một phòng thật to, có lẽ là phòng khách đã kê sẵn 14 chiếc giường vải, có mùng, chăn, gối của quân đội thứ tự theo từng giường. Điều này nói lên số người đã được đón đủ.

Một người mặc pyjama xanh nhạt, đeo kính trắng, chừng ba mươi tuổi, từ dưới nhà lên. Ông Hương quay lại phía chúng tôi giới thiệu:

– Đây là ông Lâm Giám thị, một người sẽ thường xuyên ở với các anh em, khi có điều gì cần thiết, các anh đến gặp ông sẽ được giải quyết.

Ông Lâm mỉm cười và bắt tay mọi người, ông cũng là người miền Trung. Sau đó, lại có hai người mặc đồ nâu nữa từ dưới nhà lên. Ông Hương cho biết họ sẽ phục vụ chúng tôi về cơm nước. Tất cả ba người này nói tiếng miền Trung.

Theo ông Hương và ông Lâm, đây là một lớp học tập thể. Bất cứ tập thể nào cũng có nội quy để ổn định trật tự. Vậy, trước hết chúng tôi phải tự đặt bí danh, và từ nay, trong mọi sinh hoạt học tập cũng như ăn ở, chúng tôi sẽ bắt buộc gọi nhau theo bí danh đó. Tôi là J. hay John. Lý là K. hay Karl. Giới hạn tối đa việc ra ngoài phố. Ra ngoài, nếu gặp ai hỏi, chỉ trả lời, chúng tôi là một số sinh viên Kinh Tế và Chính Trị, vì muốn tìm hiểu chủ nghĩa nhân vị, nên mượn căn nhà này để nghiên cứu học hành trong mấy tháng Hè.

Đây là một ngôi nhà hai tầng, rất kiên cố, có nhiều phòng. Chung quanh có tường xây, dây thép gai bao bọc.

Theo dân chúng ở chung quanh, ngôi nhà này trước đây thuộc Phòng Nhì của Pháp, nay thuộc về Phủ Tổng Thống. Cuối cùng, ông Hương nhìn chúng tôi, gợi ý:

– Để thuận tiện trong sinh hoạt, có lẽ các anh nên chọn bầu ra một người trưởng toán.

Chúng tôi toàn những người chẳng hề biết nhau. (Điều này ông Hương biết nên đã có dụng ý). Làm sao biết được đạo đức và khả năng của nhau, cho nên tất yếu đều nhìn về người lớn tuổi nhất. Ông Hương đồng ý ngay. Anh đó tên Đạo.

Qua những bữa cơm, và trong tủ lạnh luôn luôn có đầy đủ nước ngọt, bia, chanh, đường để giải khát thoải mái, tất cả chúng tôi đều phấn chấn tin tưởng vào viễn ảnh ngày mai của lớp học.

Tối hôm đó tôi xuống buồng của giám thị, theo lời hẹn của ông ta. Ngay buối nói chuyện đầu này, ông đã có vẻ có cảm tình với tôi như một người em, tên ông là Cao Đình Tiệu, tu xuất, vào quân đội. Qua ông, tôi đã biết được nhiều chuyện chung quanh lớp học.

Sáng hôm sau, cà mười bốn người chúng tôi lên một chiếc xe “Dodge 4” mui phủ kín mít. Xe đi lên phía Sài Gòn, nhưng chẳng ai biết sẽ đi về đâu. Cuối cùng, xe đi thẳng vào một tòa nhà to lớn chẳng khác gì một tòa lâu đài, có hai cổng to hai bên để xe ra vào, không có lính gác. Trong sân, vài con ngỗng kêu í ới, sân có trồng cỏ và hoa, êm đềm như một tư gia. Đó là căn nhà số 2 đường Jacques Rousseau. Sau này, tôi biết là nhà của Cựu Trung Tướng Nguyễn Văn Hinh, Tham mưu trưởng Quân đội Quốc Gia thời 1954 về trước.

Chúng tôi được hướng dẫn vào một phòng phía bên phải. Trong phòng, đã có mặt ông Hương và mấy người lạ đóng bộ đàng hoàng. Họ chạy lăng xăng chuẩn bị bàn ghế, cờ quạt. Vách tường, cửa của văn phòng đều được bọc da, để ngăn cản âm thanh với bên ngoài. Trên cao, giữa tường, treo một lá cờ Tổ Quốc lớn, và ảnh cụ Ngô, phía trên đình hương trầm nghi ngút. Bên cạnh, phía dưới, có máy ghi âm. Chúng tôi 14 người ngồi mấy hàng ghế phía cuối.

Đúng 9 giờ, một người đi vào. Có tiếng hô nghiêm, chúng tôi đứng dậy. Người đó bước lên bục. Sau khi làm thủ tục chào cờ hát quốc ca, mặc niệm, ông ta với cặp mắt như tỏa ánh sáng sau đôi kính trắng thật dầy, và bằng giọng Huế ấm và nặng, ông vừa tha thiết nhắn nhủ, vừa nghiêm nghị ra lệnh. Nội dung:

– Các anh là những thanh niên, sẽ trở thành rường cột của Tổ Quốc trong tương lai. Bởi thế, hãy ra sức cố gắng học tập, công tác, để không phụ lòng tin tưởng và thương yêu của Tổng Thống. Lúc này, đang đi công cán đặc biệt, nên Tổng Thống không kịp ra dự buổi khai giảng lớp học hôm nay. v.v..

Ba mươi phút sau, người đó về ngay.

Chiều hôm đó, ông Minh (Phó giám đốc lớp học) giảng về Chủ nghĩa Nhân Vị.

Giờ sau, ông Hương giảng về Chủ nghĩa Cộng Sản.

Lần đầu tiên chúng tôi được nhìn hai tấm nình to tướng khổ 40×60 phân của Engels và Karl Max. Ông lướt qua những nét chính vể Chủ nghĩa Cộng Sản với những diễn tiến theo thời gian từ Đệ Nhất Quốc Tế đến Đệ Ngũ là Tito Nam Tư, (dĩ nhiên là đứng từ goc độ của thế giới tự do để nhìn về Chủ nghĩa Cộng Sản). Ông Tạo, Chủ sự Phòng Thương Mại, giảng về Kinh Tế và Xã Hội. Ông Đức giảng về tự do và con người, v.v…

Tất cả chỉ là mở ra một bức tranh khái niệm về từng lãnh vực. Tuy vậy, chúng tôi vẫn phải làm bài với những đề tài như:

– Con người và Xã Hội. – Chủ nghĩa Cộng Sản và con người. – Nền Kinh Tế chỉ huy và tự phát. v.v…

Chúng tôi được tha hồ tham khảo sách báo ngoài xã hội. Phải nói, lúc đầu tôi cũng hơi ngạc nhiên, tại sao lại cho chúng tôi học những món như vậy. Phải hơn một tháng sau, tôi mới hiểu rõ.

Hằng ngày đi học bằng xe bít bùng, bọc kín như bưng… Tôi để ý, thường thấy những chiếc xe du lịch ra vào đậu trong sân số 2 Jean Jacques Rousseau, lại phải lấy vải bịt số xe. Những người trên xe hầu hết là ngoại quốc, nam cũng như nữ. Thái độ của họ tỏ ra nhanh nhẹn và cũng kín đáo khác thường.

Trong những giờ giải lao, chúng tôi lang thang ngoài sân, khi gần ra phía cổng thì bị giảng viên gọi vào. Họ nói:

– Các anh không nên ra ngoài đó, có thể bị chụp ảnh.

Những điều như vậy, càng gợi trí tò mò của tôi. Tôi suy đoán, có thể không chừng đây là một chỗ tới lui của nhiều tay điệp viên quốc tế chứ không chơi đâu, do đó, tôi tìm mọi cách để mong biết được tên thật của các giảng viên. Tôi hiểu họ dùng toàn tên giả. Thí dụ: Ông Minh giảng về Chủ nghĩa Nhân Vị lại có cái thắt lưng mang chữ K. Hoặc ông Đức, có lần thoáng trong lần giải lao, ông Minh lại gọi là ông Thái. Tôi muốn biết rõ tên thật và chức vụ thực của họ. Phần khác, tôi còn ghi tất cả những số xe, bất kể loại gì ra vào ngôi nhà số 2 này. Tôi cho rằng rồi đây ở Sài Gòn, hay ở đâu, nếu tôi gặp những chiếc xe đó, địa điểm và chủ nhân ấy đều có dính dáng đến tình báo. Điều đáng trách của tôi, là ghi tất cả tên cũng như số xe vào một cuốn sổ tay, mà tôi thường bỏ trong người.

Trong những buổi lên lớp cũng như những bài làm ở nhà, nhiều lần tôi được khen là có những ý kiến sâu sắc; nhất là ông Hương, Giám đốc, càng tỏ ra thân mật quý mến tôi hơn.

Hàng tuần, trưa thứ Bảy, chúng tôi được nghỉ học, về nhà. Tối Chủ Nhật trở lại.

Qua chuyện trò sinh hoạt, sau nửa tháng, tôi đã biết trong số 14 người này có nhiều anh đã có phần I, phần II Tú Tài. Đa số là con ông cháu cha, con cháu Tỉnh Trưởng, Chủ sự,v.v… Vì vậy, tôi và Lý càng hoan hỉ tin tưởng vào tương lai của mỗi người.

Học được hơn nửa tháng, một hôm, tôi không thấy cuốn sổ tay nhỏ của tôi đâu, tôi thắc mắc tìm hoài mọi chỗ, hỏi cả Lý, cũng không thấy. Tôi cho là, có thể nhiều lần đi trên xe, xe vừa đông lại vừa xóc, cuốn sổ rơi xuống đường rồi chăng, chứ tôi đã tìm hết mọi chỗ rồi. Tôi cũng đã hỏi toàn thể anh em, nhưng không một ai biết. Mãi rồi cuốn sổ tay đó cũng đi vào lãng quên.

Một buổi tối, sau khi học và làm bài vở xong, tôi chợt nhớ tới cuốn sổ tay, tôi quyết định mở va li tìm hết lại một lần nữa may ra thấy chăng. Lục lọi, tìm mãi cũng không thấy. Tôi chợt nhìn thấy gần nửa bánh pháo “Đại Quang” ở trong góc va li, thứ pháo nổ xác tan nhỏ như vảy ốc. Bánh pháo này hồi Tết còn thừa, tôi định để dành cho Tết sang năm.

Sẵn tinh nghịch ngợm ngang tàng, tôi rút ra một chiếc pháo trước mặt Lý và mấy anh em còn thức. Miệng đang ngậm điếu thuốc, tôi bình thản từ từ đưa ngòi pháo vò đầu điếu thuốc đang cháy; khi ngòi đã xì lửa, tôi vẫn lạnh lùng nhìn chiếc ngòi xì dần rồi nổ ngay ở tay, ngang ngay trước mặt tôi chừng hai mươi phân, chỉ vì tính ngông cuồng tỏ với mọi người là mình gan lì.

Mọi người ngồi đó không ai nghĩ là tôi dám đốt pháo như vậy, mà chỉ cho tôi đùa bỡn, nên không kip có ý kiến can ngăn.

Tiếng nổ dữ dội, âm vang trong ngôi nhà như tiếng lựu đạn khiến mọi người xanh mặt, kể cả tôi! Anh em đứng cả dậy. Ba người bếp ở dưới nhà cũng hộc tốc chạy lên, mặt mày nhớn nhác. Sau khi biết nội vụ mấy người làm bếp và tất cả anh em giúp tôi nhặt từng mảnh pháo vụn. Giám thị Lâm hôm đó tình cờ lại đi chơi vắng. Lúc đó đã 10 giờ tối.

Tôi liếc nhìn xuống đường chỗ ngã tư Phú Lâm, thấy một người quân cảnh và hai cảnh sát, đều ngước nhìn lên lầu tòa nhà 365, rồi một người lây xe gắn máy chạy về phía Sài Gòn.

Tôi xuống nước năn nỉ ba người bếp và các anh em đừng để sự việc này cho ban Giám Đốc biết.

Dọn xong, tất cả đều đi ngủ lại. Riêng tôi nằm bồn chồn lo lắng. Tôi cảm thấy sự việc sẽ không đơn giản. Tôi không yên lòng, với tay sang lay Lý dậy, thì thầm:

– Tao thấy sự việc này sẽ không phải lộ từ phía dưới lên, mà có khi từ phía trên xuống.

Lý trấn an tôi:

– Không sao đâu, hãy đi ngủ đi!

Tôi nằm, tuy có lo lắng, nhưng tuổi trẻ, nên dễ đi vào giấc ngủ lúc nào không hay.

Tôi đang say mê ngủ, ai đó đến lay người tôi, tôi mở mắt: Cao Đình Tiệu. Ông nhớn nhác, mắt không kính, tóc rối bù, chắc cũng bị đánh thức dậy, ông nói hổn hển:

– Dậy, mặc quần áo xuống ngay dưới nhà gặp ông Hương!

Thật là chết! Tôi ngồi bật dậy. Xuống đến lưng cầu thang, đã nhìn thấy ông Hương, ông Minh, quần áo lôi thôi, dáng vẻ còn ngái ngủ. Lúc đó đã 2 giờ đêm.

Tôi hồi hộp nhìn các ông ấy. Điều làm tôi buồn khổ, hổ thẹn nhiều là ông Hương, ông Minh, ông Tiệu, nghĩa là cả Ban Giám Đốc, cũng như giám thị, trước đây đề cao và quý tôi nhất, cho nên tôi chỉ biết cúi đầu.

Chắc hẳn ông Hương đã hỏi ba người bếp chi tiết sự việc rồi. Ông Tiệu không biết gì vì đi chơi. Câu đầu tiên ông Hương hỏi tôi:

– Bình có biết hôm nay là ngày gì không?

Tôi tường ý của ông muốn hỏi như vậy để tôi phải trả lời. Hôm nay là ngày tôi đã gây ra một việc đáng tiếc, nên cứ cúi đầu, ngồi im.

Có lẽ ông Hương (45 tuổi) đã hiểu cái bồng bột quá trớn của một người thanh niên, ông nói luôn:

– Hôm nay là ngày 15 tháng 5, sinh nhật của Karl Marx. (Thảo nào ngã tư Phú Lâm được tăng cường thêm hai cảnh sát và một quân cảnh). Ông Hương nói tiếp:

– Bình có biết việc Bình làm đã chấn động nhiều cơ quan, kể cả Phủ Tổng Thống không?

Vì là ngày sinh nhật của Karl Marx, nên các cơ quan an ninh tăng cường hoạt động để ngăn chận, những manh nha của Cộng Sản. Khi nghe tiếng nổ, nếu ở một chỗ bình thường, cảnh binh chỉ việc vào điều tra tìm hiểu; và thấy do đốt pháo thì chỉ phạt 20 đồng theo quy định hồi ấy.

Ở đây, tiếng nổ lại phát ra từ ngôi nhà 365. Cảnh sát nũng như quân cảnh đều hiểu ngôi nhà đó thuộc trung ương, nên không dám vào khám xét. Nhưng vì sự việc xảy ra trong khu vực trực tiếp trách nhiệm của họ, nên bắt buộc họ trình báo cáo cấp trên. Đồn trưởng báo Quận, Quận hỏi ý kiến Nha Giám Đốc. Nha Giám Đốc cho căn nhà đó là của An ninh Quân đội, thuộc Phủ Tổng Thống. Lời tường trình được báo về cấp cao nhất, và cuối cùng truyền ngược xuống Ban Giám Đốc lớp học.

Mặt của ông Hương, Minh, Tiệu như bàn tay bà già. Mặt tôi có lẽ dài ra gấp rưỡi ngày thường.

Ông Hương chậm rãi nói:

– Không thể dùng quyền để ém nhẹm vụ này, vì như vậy càng làm cho các cơ quan khác nghi ngờ. Cho nên, ngày mai cảnh sát sẽ vào đây lập biên bản. Vậy, hãy nói với họ đây là một số sinh viên, học tập Chủ nghĩa Nhân Vị trong dịp Hè. Một người trong lúc vui chơi đã nghịch, gấp một chiếc pháo giấy đập mạnh bằng tay, vì ở trong tòa nhà, nên nó đã vang to như vậy.

Ông Hương bắt ông Tiệu lấy giấy gấp thành một cái pháo, mà học sinh vẫn chơi. Tôi phải thực tập, cũng nổ. Nhưng làm sao bằng pháo thật!

Đến đây, tôi cũng suy nghĩ. Tại sao ông Hương không nói thẳng với cảnh sát là tôi nổ pháo, mà phải làm trò như thế, cảnh sát tin sao được. Tôi cho rằng, có lẽ một phần ông Hương muốn cho đỡ khuyết điểm cho tôi với trên, phần khác cho chính ông ta (tại sao lại tuyển mộ một học viên có những hành động nhố nhăng như thế).

Sáng hôm sau, một xe “díp” cảnh sát chở ba người, kể cả Đồn trưởng, vào gặp ông Tiệu và tôi. Thái độ cảnh sát rất nhã nhặn, dè dặt, và tỏ ý, đây chỉ là nguyên tắc, vì vậy, họ cũng không bắt tôi phải đập pháo giấy. Nghĩa là họ không tin, nhưng việc phải làm, cho nên họ ghi đầy đủ sự việc theo lời khai vào sổ trực.

Ông Tiệu còn nhăn nhó nói:

– Địa điểm học này đã bị lộ, có thể sẽ phải chuyển đi nơi khác.

Sóng gió lại bình lặng! Chúng tôi lại tiếp tục học hành. Tuy vậy, từ đấy tôi rất ngượng nên thường tránh mặt, không muốn gặp ông Hương và ông Minh nữa.

Hơn một tuần sau, vào lúc 7 giờ tối, một anh bếp gọi tôi xuống gặp ông Giám thị. Khi xuống tới buồng ông Cao Đình Tiệu, tối thấy trên bàn một chai rượu mạnh. Mặt ông đỏ gay và thật buồn. Thấy tôi, ông hất hàm ra hiệu cho tôi ngồi xuống. Rồi quay mặt nhìn ra cửa sổ, chậm rãi:

– Bình có một quyển sổ tay nhỏ phải không?

Thoáng nghe tim thót lại, tôi gật đầu lo lắng nhìn ông.

– Bình có biết quyển sổ đó hiện nay đang ở đâu không?

Tôi nói trong đắn đo, dè dặt:

– Đã mất hơn nữa tháng nay và tìm mãi không thấy.

Ông quay ngoắt lại, nhìn thẳng vào mặt tôi, dõng dạc:

– Hiện giờ, nó đang nằm trên Phủ Tổng Thống!

Ôi chao, sao tôi có nhiều việc thế này! Lòng tôi hoang mang, hoảng sợ nhìn ông. Ông hỏi tiếp:

– Ai là người giới thiệu và bảo lãnh Bình vào lớp học này?

– Cha Mai Ngọc Khuê.

Mặt ông buồn thiu, thổ lộ:

– Tôi không có em trai, từ ngày tôi gần Bình, tôi rất mến và coi Bình như em trai của tôi. Chiều nay tôi đã tham dự một cuộc họp hai tiếng đồng hồ. Tôi đã vận dụng nhiều lý luận để binh vực cho Bình, nhưng địa vị và quyền của tôi chỉ có giới hạn. Cuộc họp đã quyết định xong vể Bình rồi. Họ sẽ giao Bình sang An Ninh Quân Đội, Bình sẽ bị sát hạch, khai thác, có khi bị tra khảo nữa. Vậy ngay bây giờ, Bình vể khẩn khoản nói với Cha Khuê, may ra uy tín của người sẽ cứu được Bình.

Ông còn hỏi:

– Có tiền đi tắc xi không?

Ông mở ví móc đưa tôi 50 đồng.

Tôi như ngồi trên lửa, khua tay rối rít cám ơn nói là đã có tiền rồi. Tôi đứng lên chuẩn bị đi ngay sang khu Lăng Cha Cả, ông còn kéo tay tôi lại:

– Tại sao Bình ghi hơn chục cái số xe để làm gì? Cả tên thật và chức vụ của các giảng viên nữa?

Mặt tôi buồn rười rượi. Tôi thú thật với anh là vì tò mò. Anh giục tôi đi ngay, về thú thực hết với cha Khuê. Trên đường về, tôi nghĩ ngay tới Đạo, ngưởi Trưởng toán. Mục đích ở trên đưa nó vào để theo dõi chúng tôi về tư tưởng. Nghĩ cho cùng, tôi chỉ giận mình ngu xuẩn, nhố nhăng, không thể trách Đạo được vì đó là nhiệm vụ của anh ta.

Những năm tháng sau này, nhiều khi suy nghĩ lại sự việc trên, tôi thấy, trong cuộc đời, chuyện may rủi không một ai dám phủ nhận, nhưng cũng phải thừa nhận là “bản tính tạo nên cuộc đời”. Thực tế, tính một người ưa động, coi thường nguy hiểm, thích đấm đá, dao búa, buôn lậu, hoặc hoạt động chính trị, làm cách mạng, v.v… Đời người ấy, nói chung, sẽ nổi chìm bất thường. Ngược lại, một người sợ chuyện nguy hiểm, rụt rè trước những việc mới lạ, cá biệt không kể, nói chung, đời người đó trôi đều phẳng lặng. Cho nên, bản tính của tôi đã như thế, tôi phải gánh lấy hậu quả tất yếu, kêu trời làm chi!

Về gặp Cha Khuê. Trước đây người vồn vã vui tươi với tôi, bây giờ, sau khi tôi trình bày sự việc, mặt người thật lạnh lùng xa lạ. Người chỉ nói một câu: “Làm như vậy đấy!” Tôi thật buồn và thẹn. Nếu không vì chuyện cấp bách, tôi chẳng đến người làm chi nữa.

Trở về, hôm sau tôi vẫn tiếp tục đi học ở số 2 Jean Jacques Rousseau, nhưng là những ngày đầy lo âu, nghe ngóng.

Buổi học cuối tháng đó, chúng tôi đến lớp nhưng không học. Chúng tôi được lệnh ngồi chờ. Từng người được gọi vào một căn buồng phía trái để làm việc, khá lâu. Mỗi khi một người mở cửa buồng bước ra, tôi hỏi, họ đều lắc đầu. Mãi tới lúc Lý ra, tôi hỏi, hắn chỉ vắn tắt:

– Lấy tiền, và viết giấy cam đoan, ông ấy dặn tao tuyệt đối không nói gì với người khác.

Gần về cuối, tôi mới được gọi. Gặp ông Hương, tôi ngượng ngùng, nhưng ông lờ đi. Nội dung sinh hoạt riêng từng người là:

– Ký vào mấy tờ giấy và lĩnh 2,500đ.00 một tháng (học, được nuôi ăn ở lịch sự, lại còn có lương!) – Một tờ cam đoan đã đánh máy sẳn. Tuyệt đối không kể một sự việc gì vể lớp học cho một ai khác, kể cả gia đình. Nếu vi phạm, sẽ phải chịu trách nhiệm hoàn toàn. – Về nhà chờ, khi nào có người tới đón, sẽ đi học tiếp tục.

Sau đó, chúng tôi ra về. Tôi những tưởng tai qua nạn khỏi, nhưng không phải vậy. Thỉnh thoảng, tôi vẫn đến nhà Lý chơi để xem tình huống gọi, đón như thế nào. Một hôm, tôi đến nhà Lý như mọi lần, được người nhà Lý cho biết, sáng sớm đã có người đến đón Lý đi rồi. Thôi, thế là tôi đã bị thải. Để cho sáng tỏ hơn , tôi phải liều. Tôi vội vàng phóng xe xuống 365. Lúc đó đã là giờ trưa, rất im vắng. Tôi lên tuột trên gác thấy Lý và 9 người nữa đang ngủ. Tôi lay vai Lý dậy, rồi chúng tôi cùng xuống dưới nhà. Lý nói, mặt buồn buồn:

– Ông Hương đến đón tao đi ngay, nên không kịp viết giấy để lại cho mày. Tao có hỏi ông Hương về mày. Ông trả lời “Hãy biết phận mình thôi”.

Tôi thấy Lý cũng không biết gì hơn, tôi hẹn Lý cuối tuần về sẽ nói chuyện. Tôi vào buồng anh Tiệu, anh cho biết: “Không gọi, có nghĩa là loại rồi” và “Lớp học bây giờ chỉ còn mười người!”

Như vậy là tôi đã hiểu. Mục đích của một tháng học đó chỉ là để tìm hiểu và để lọc người. Trừ anh Đạo trưởng toán có nhiệm vụ riêng không kể, 3 người đã bị loại.

Ruột tôi thật là héo úa! Anh Tiệu thây tôi buồn, anh đặt tay lên vai tôi, vừa như tâm tình vừa như an ủi:

– Dù học lớp này hay không, Bình hãy đến với tôi. Nhưng không nên đến đây nữa. Bây giờ là giao thiệp giữa cá nhân tôi và Bình.

Anh cho tôi số nhà riêng và hẹn gặp vào những ngày cuối tuần.

Trên đường về nhà, tâm tư tôi nặng chĩu trái sầu. Tôi nghĩ đến lời anh Tiệu khi nãy: “Trong lớp học đó, Bình được Ban Giám Đốc khen ngợi là trội nhiều mặt, tháo vát, nhanh nhẹn, nhưng …”

Vâng, trong cuộc sống con người, chữ “nhưng” và chữ “nếu”, hai chữ quái quỷ này có lúc làm cho con người sung sướng ngất ngây bao nhiêu, thì nhiều khi chúng cũng làm cho người ta đau khổ chất chồng, đầy máu và nước mắt bấy nhiêu. Đôi khi tàn lụi cả cuộc đời cũng vì chúng.

3. Vào Ngành Tình Báo…

Tôi về nhà nằm buồn mấy ngày. Lại đúng vào mấy ngày mưa. Mưa thật nhiều, mịt mờ cả đường phố. Tôi nằm nghe mưa rơi trên mái nhà, những hạt mưa rơi xối xả âm vang như tiếng cười đùa trêu chọc. Nhưng, có lúc lại như tiếng reo hò, hối hả thúc giục người con trai không thể nằm buồn tiêu cực trong cuộc sống, phải dậy và nổ lực với những khó khăn trước mặt! Thế là tôi ngồi bật dậy và nỗi buồn của tôi đã như áng mây, trôi về phương trời xa mất hút…

Ít ngày sau, tôi được biết Bộ Tổng Tham Mưu thông báo thi tuyển vào lớp Sĩ quan trừ bị Thủ Đức khóa 11. Tôi nộp đơn, ngoài những thủ tục cần thiết, tôi còn nộp kèm theo giấy chứng chỉ của trường Cao Đẳng Quân Sự (giai đoạn đó, học sinh đệ nhị cấp, đều phải qua lớp huấn luyện quân sự này) chứng nhận tôi là Chuẩn Úy trừ bị.

Do một số tin tức tôi thâu lượm được, không kể Cần Thơ và Huế, riêng Sài Gòn đã có hơn 1.000 người xin dự thi, trong khi tôi được nghe đồn, khóa Thủ Đức 11 này đặc biệt sẽ lấy 800, vì nhu cầu tình hình chính trị đòi hỏi. Dù thế nào, tôi vẫn phải đem sách vở ra miệt mài học lại. Tuy tôi cũng tự tin vào khả năng của mình.

Một ngày cuối tuần, tôi đến Tiệu chơi, anh hỏi tôi:

– Bình có thích hoạt động tình báo không? Với khả năng như Bình, nếu Bình thích, tôi sẽ giới thiệu qua ngành quốc ngoại, vì tôi có quen biết.

Vừa qua, tôi đã nếm mùi vị tí chút về tình báo, nên tôi gật đầu. Tôi cho anh địa chỉ nhà tôi, và sẽ chờ người đến gặp.

Qua những buổi trao đổi với Cao Đình Tiệu, tôi đã hiểu tình báo quốc ngoại ở đây là tình báo ngoài miền Bắc. Lúc đó, quan điểm tư tưởng của tôi thật là đơn thuần. Con người của tôi tự bản tính không sợ những chuyện nguy hiểm, nên luôn luôn ôm ấp một hoài bão, phải làm được một cái gì đó hữu ích cho cuộc đời này, mặc dù tôi chưa hề định hướng việc đó là việc gì. Lý tưởng chống Cộng Sản của tôi, lúc đó vẫn còn lẩn quất chưa rõ mầm. Tôi chưa ý thức được vì sao, tôi một người con trai Việt lại phải ra miền Bắc, vào đất kẻ thù để chống Cộng Sản. Lỗi này là do những người lãnh đạo chế độ miền Nam đã hời hợt sao nhãng, việc giáo dục trong học đường đối với thanh thiếu niên về vấn đề Cộng Sản.

Hơn một tháng sau, đến ngày thi tuyển vào trường Thủ Đức. Sau mấy ngày thi, bài vở so với mọi người chung quanh, tôi làm được, nhờ hai bài toán Hình, Đại thì một bài trúng tủ. Thầy Phú đã ra trước đây ở trường Hưng Đạo. Còn bài

Việt, tôi hơi vững dạ, vì trong các môn học, môn Việt Văn của tôi vẫn thường có chỗ đứng tạm được. Dù vậy, khi chưa công bố, ai dám cho là mình đã qua. Chính vì thế, trong khi chờ đợi kết quả tôi vẫn cần phải lo chuyện khác nữa.

Tôi thi được hơn mười ngày, một hôm có một người chừng ba mươi lăm tuổi tìm tới nhà. Lại là người Trung nữa! Sao trên trung ương nhiều người miền Trung thế? Ông ta tự giới thiệu tên là Cẩn, Ngọc Cẩn, mặc thường phục. Ông ta nói:

– Được ông Lâm (tên giả của Cao Đình Tiệu ở lớp học) giới thiệu và nói nhiều về anh. Hôm nay, tôi đến gặp anh. Chúng ta sẽ trao đổi vài câu chuyện.

Câu chuyện xoay quanh mấy vấn đề quan điểm, hoải bão, trách nhiệm của người thanh niên đối với dân tộc, Tổ Quốc v.v…

Buổi nói chuyện kéo dài chừng hai tiếng đồng hồ, Sau đó, ông Cẩn hẹn buổi khác sẽ đến.

Ông đến gặp tôi hai ba lần nữa. Một hôm, ông mang theo một tập lý lịch, bảo tôi ghi điền vào chỗ trống theo yêu cầu. So với tập lý lịch làm ở nhà thờ cha Khuê, lần này thêm một vài chi tiết nữa. Riêng chỗ bạn thân phải 5 người.

Lúc ra về, ông nhìn tôi, tình cảm:

– Trong khi chờ đợi sự sắp xếp ở trên, tôi hàng ngày cũng rỗi, vậy thỉnh thoảng anh em mình đi chơi phố hỉ?

Tôi đồng ý. Chúng tôi có lúc ra bờ sông ngồi chơi, có khi vào quán uống. Một hôm, ông đến bằng xe Lambretta, chở tới vài khu trung tâm Sài Gòn chơi. Trong khi đi đường, ông hỏi chuyện về nhiều lảnh vực khác nhau. Một lần đang đèo đi chơi, bất chợt ông nói:

– Quên, có chút việc chúng mình phải sang khu Cầu Cống Khánh Hội.

Khi sang tới đó, ông lái xe vào sâu mãi trong một ngỏ hẻm, qua nhiều ngóc ngách ngang dọc, rồi ông để tôi đứng ở ngoài chờ. Ông vào một căn nhà, chừng 5 phút ông trở ra.

Khi trở về Sài Gòn, chúng tôi vào nhà hàng Thanh Thế uống nước. Lúc tôi và ông đang cầm ly uống, chiếc mũ của ông để trên bàn, bất ngờ rơi xuống nền gạch chỗ giữa ông và tôi.

Ông nhìn tôi, và tôi cũng nhìn ông, cùng đang cầm ly nước. Tôi vẫn thong thả uống và từ từ đặt ly nước xuống bàn. Tôi tiếp tục nói hết câu chuyện và ung dung dụi tàn thuốc lá, rối mới cuối xuống nhặt mũ lên bàn cho ông. Tôi nghĩ, mũ của ông rơi đã rơi rồi, chẳng cần phải vội vàng nhặt ngay, kẻo nó bị hư hỏng hơn. Cho nên, tôi vẫn đường hoàng làm xong việc tôi đang làm giở.

Phải nói, lúc đó tôi chưa biết là ông thử sự bình tĩnh của tôi. Lần thứ hai, tôi đã thấy dụng ý của ông.

Một lần đang ăn uống, ông rót bia rồi, còn già nửa chai ông đặt ghé lên chiếc khăn lau tay để trên bàn. Lát sau, như vô tình, ông rút chiếc khăn để lau miệng, chai bia tất yếu nghiêng đổ. Phản xạ cấp thời, tôi chộp lấy được.

Một lần khác, chúng tôi đang ngồi ở Hòa Hưng, như chợt nhớ ra điều gì, ông quay lại tôi:

– Nhờ Bình một chút, tôi ngồi ở đây chờ, Bình lấy xe tôi xuống chỗ công “piscine” Cộng Hòa mua hộ tôi 5 bao thuốc Pall Mall với một bao Capstan, họ bán phía trong cổng ấy.

Trên đường đi, tôi thấy vô lý, từ Hòa Hưng xuống Ông Tạ có biết bao nhiêu hàng thuốc lá, tại sao lại xuống mãi hồ bơi Cộng Hòa? Dù suy nghĩ như vậy, nhưng tôi vẫn đến chỗ đó mua cho ông. Khi ông và tôi trở về, ông làm như băn khoăn hỏi:

– Mai Bình có rỗi không?

Nhìn ông tôi dè dặt:

– Tôi chưa biết rõ, nhưng ông cần cái gì ông cứ nói.

Ông rút trong túi áo ra một lá thư dán kín, bì thư để trống trơn, đưa cho tôi ông căn dặn:

– Ngày mai, Bình có solex, hãy đưa hộ tôi lá thư này cho cái nhà mà hôm nọ Bình với tôi đến, ở trong chợ Cầu Cống đó.

Đã gần nửa tháng rồi, vô tình ai để ý làm gì, nhưng do cá tính hay để ý của tôi, tôi đã nhớ. Hôm ấy, tôi thấy ông Cẩn vào một ngôi nhà, tôi nghĩ ông là một người làm tình báo của chính quyền. Như vậy, ngôi nhà đó có dính dáng ít nhiều đến tình báo; nếu không, ít ra chủ nhân cũng quen biết thân thuộc đến đời riêng của ông Cẩn, nên tôi chú ý hơn. Vì vậy, hôm sau tôi đáp ứng được việc ông nhờ, không khó khăn gì cả.

Tóm lại, thời gian đó, có thể ông đã thử thách tôi nhiều, nhưng tôi chỉ thấy được 4 lần:

– Về đức tính bình tĩnh. – Về tính chấp hành kỷ luật nghiêm chỉnh. – Về trí nhớ cần thiết để hoạt động. – Về phản xạ bén nhậy, chính xác khi sự việc xẩy ra bất ngờ.

Về việc mua thuốc lá, nếu ông muốn kiểm tra, chỉ cần trở lại chỗ bán thuốc lá ở hồ bơi Cộng Hòa, hỏi người bán hàng.

Một vài phương pháp thử thách như trên, chưa đủ xác định khả năng của một con người. Vì vậy, sau này trong quá trình đào tạo, huấn luyện, còn nhiều thử thách khác nữa.

Sau đó, cứ dăm ba ngày, lại một lần ông Cẩn đến đón tôi đi chơi cho tới một hôm, sau buôi đi chơi về, ông thân mật dặn dò:

– Kỳ này, tôi có một số công việc bận, vậy Bình về nhà hãy đợi chờ nhé!

4. Nghiệp Dĩ…

Tôi về nhà nằm chờ đợi. Hàng ngày, tôi vẫn lấy sách vở ra miệt mài xem lại để sang năm, bằng mọi giá tôi phải lấy xong phần I Tú Tài. Tôi đã ăn vỏ chuối 2 năm rồi! Chỉ vì sự suy nghĩ của tôi chưa đủ chín chắn, còn ham chơi. Chỉ có những quyết tâm nửa vời, thiếu hẳn ý chí kiên nhẫn, cho nên, tôi đã phải trả một giá đích đáng cho sự học vấn của tôi. Tôi nhớ lại những năm tháng trước đây, vì hoàn cảnh cuộc sống, vì đất nước chia đôi, tôi di cư vào miền Nam và gián đoạn việc học hành.

Trước kia, tôi đã biết nghề kim hoàn từ hàng Bạc, Hà Nội. Vào Nam, do gia đình và họ hàng giúp đỡ, cuối 1956 tôi đã mở hiệu bán vàng bạc “Bảo Tín” ở chợ Cây Điệp. Khách hàng là quân nhân trong Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung và mấy làng người miền Nam quanh vùng. Sau gần một năm, càng ngày cửa tiệm càng phát đạt, dù người chủ tuổi đời chỉ mới mười tám, mười chín (bố mẹ và các em tôi ở cùng nhà). Khi ấy, đồng tiền đối với tôi thật dễ dàng. Thỉnh thoảng, một vài người bạn từ Sài Gòn xuống chơi, nói chuyện về các giáo sư, về học hành, về xã hội… Với đầu óc còn quá non dại, tôi nhìn cuộc đời cũng quá đơn giản. Vì thế, tôi cũng đi vào cái chung của mọi người là coi thường những gì mình đang có, và hướng tìm về những cái mình chưa có. Nghĩa là, trong tôi đang dần hình thành những suy nghĩ về cuộc sống của con người trong xã hội.

Khi ấy, tôi nghĩ thật đơn giản. Xã hội và con người mỗi ngày mỗi tiến bộ. Vậy, một thanh niên sống trong thời đại đó, ít nhất phải có một kiến thức nhất định nào đó để hiểu biết được , ít ra là khái niệm, về tất cả lãnh vực trong thời đại mà mình đang sống.

Hãy tạm thời lấy sự học vấn làm ý niệm đo lường. Những năm 50 trước đây, chỉ cần mức độ là Trung Học Đệ Nhất Cấp là tạm đủ, cho kiến thức của một con người. Nhưng, thập niên 60 phải cần có Tú Tài; chứ Trung Học Đệ Nhất Cấp đã là lạc hậu rồi, không theo kịp đà tiến triển chung của xã hội. Và tới thập niên 70, nếu không đáp ứng được yêu cầu tương đối ấy, người thanh niên sẽ không đủ kiến thức để hiểu biết, dù không cần quán triệt, những sự việc xã hội xẩy ra chung quanh mình.

Vậy, bây giờ tôi có tiền để làm gì, khi đầu óc tôi còn mơ hồ về chuyện đất nước và thế giới. Hơn nữa, con người được sinh ra trên thế giới này, phải ít nhất biết một số nơi danh tiếng của nó. Nếu không, thì cũng sẽ chỉ sống một cuộc đời tầm thường, thiếu thốn, chưa đủ ý nghĩa của cuộc sống.

Từ những suy nghĩ lẩm cẩm ngây thơ trên, tôi quyết định thôi hiệu vàng. Bố mẹ cũng như họ hàng, trước đây ca ngợi tôi bao nhiêu, bây giờ trách móc tôi bấy nhiêu. Tôi còn nghĩ rất đơn giản là, bây giờ mình còn trẻ hãy gắng học đã, rồi phải đi đây đó để biết nhiều về thế giới này. Đến khi nào ba, bốn mươi tuổi, lúc đó lại trở về mở hiệu vàng (vì ít ra mình đã có kinh nghiệm về mở hiệu vàng rồi). Thật là những suy nghĩ ấu trĩ! Chuyện đời không đơn giản như suy nghĩ của một cậu thanh niên mới lớn.

Sau đó, tôi đến ở Trại Học Sinh Di Cư Phú Thọ, Chợ Lớn (Pavie La Mothe) và tiếp tục đi học. (Bao nhiêu kỷ niệm, bạn bè ở trại học sinh này! Sau 30 mươi năm, không biết bây giờ số phận của mỗi người như thế nào?).

Tôi ngồi nhà học và chờ ông Cẩn mãi, đã hai, ba tháng rồi mà chẳng thấy ông đến. Vì thế, tôi không còn tin tưởng mấy vể chuyện tình báo ngoại quốc. Tôi nghĩ rằng, trong khi chờ đợi, nếu Thủ Đức có trước thì đi Thủ Đức. Nghĩa là, cái nào có trước tôi sẽ đi cái đó. Cuối 1960, tôi nhận được giấy báo trúng tuyển Thủ Đức và hẹn ngày đi khám sức khoẻ.

Thôi, giã từ tình báo miền Bắc! Tôi sẽ đi theo đường binh nghiệp! Về lãnh vực này, tôi cũng có một số khả năng. Sau mấy ngày đi khám sức khoẻ ở bịnh viện Cộng Hòa, rồi đến ngày nhập trường. Hơn một tuần lễ với bao nhiêu sự việc, người mới, sinh hoạt mới của đời quân ngũ! Bỗng một hôm, tôi được gọi lên văn phòng chỉ huy.

Tôi vừa đi vừa băn khoăn không hiểu có chuyện gì. Khi tôi vừa bước chân vào cửa phòng, tôi giật mình ngạc nhiên: Ông Cẩn đang ngồi ở một chiếc ghế, đăm đăm nhìn tôi. Hôm nay, ông mặc quân phục, mang lon Đại úy. Chẳng biết ông Cẩn đã chuẩn bị trước với nơi đây như thế nào, ông dẫn tôi sang một phòng trống. Khi tôi vửa ngồi vào ghế, ông cau có, hỏi giật giọng:

– Sao Bình lại đi Thủ Đức? Không thể được!

Ông lặp đi, lặp lại hai, ba lần câu “Không thể được”.

Tôi hơi ngượng ngùng trả lời:

– Vì chờ ông lâu quá! Hơn nữa, tôi nghĩ rằng, tôi vào Thủ Đức thì cũng là phục vụ dân tộc, Tổ Quốc vậy.

Tay ông khoáng lên lia lịa, ông nói một thôi một hồi:

– Không thể được! Không trẻ con như thế được! Thủ Đức thì hàng trăm người có thể vào, còn việc này, không phải ai cũng được. Bình có biết là từ 4 tháng nay, đã bao nhiêu người phải bận rộn về việc này không? Kế hoạch đã đặt xong, nhà cửa đã mướn, mọi việc chuẩn bị đã sẵn sàng. Trên Phủ Tổng Thống đã quyết định có lệnh lấy Bình về bằng bất cứ giá nào.

Tôi vô cùng bối rối, lúng túng chẳng biết trả lời thế nào cho xuôi, vì ngay trong thâm tâm tôi cũng ưa đời binh nghiệp. Cuối cùng, tôi mạnh bạo nói:

– Thôi, hay ông để theo quân đội cũng thế!

Ông ta mở mắt to nhìn tôi, vừa như ngạc nhiên về thái độ từ khước của tôi, vừa như bất mãn khó chịu. Cuối cùng, mắt ông dịu xuống, ông nói một cách cởi mở:

– Bình muốn có lon à! Được, nếu Bình muốn, về Sài Gòn sẽ có. Bình cũng sẽ là quân đội vậy.

Có lẽ lúc ấy ông sợ hỏng kế hoạch, sẽ bẽ mặt với câp trên, nên ông xuống nước hết mình với tôi. Và, chẳng biết ông Cẩn có lệnh can thiệp như thế nào, ngay hôm đó, tôi đã phải theo ông về Sài Gòn. Tôi vội vàng từ giã mấy người bạn mới lý do “Bố sắp chết nên được phép về ngay”.

Sau này với những năm tháng đau thương chất chồng, nhiều lúc tôi ngồi nghĩ lại, nếu lúc ấy tôi cương quyết ở lại Thủ Đức – “Lại chữ nếu quái ác” – có lẽ cuộc đời tôi sẽ thay đổi hoàn toàn trong tương lai. Sai một ly đi một dặm! Những giai đoạn đầu của cuộc đời, ở những chỗ rẽ, nếu chỉ cần xê dịch khác một chút, kết quả sau này sẽ khác nhau một trời một vực. Âu cũng là do nghiệp chướng của đời tôi.

5. Huấn Luyện Tình Báo…

Ngay tối hôm đó, tôi về tới Thành Đô. Nhìn cảnh phố phường đầy mầu sắc, lòng tôi vẫn vời vợi, bâng khuâng với nhiều nẻo đi của cuộc đời. Hồn tôi đang chìm ngập trong nỗi ngơ ngác đầy vơi thì xe ngừng lại ở một góc đường Võ Tánh. Ông Cẩn móc túi lấy chùm chìa khóa trao tôi, thân mật dặn dò:

– Đây là chìa khóa đã ghi sẵn số phòng ở tầng ba, số 8 đường Nguyễn Văn Tráng.

Trước khi chia tay ông còn căn dặn thêm:

– Nhớ đừng về nhà, sáng mai tôi đến sẽ nói chuyện.

Sau một lúc lò dò tìm kiếm, tôi đã đến được căn phòng đó. Trong phòng đã có sẵn một chiếc radio transitor với một số sách báo ngoại ngữ, cũng như Việt ngữ.

Sáng hôm sau ông Cẩn đến. Nội dung những điều ông căn dặn hướng dẫn:

– Tôi sẽ đóng vai trò là một sinh viên Văn Khoa, gia đình tôi thuộc loại khá giả, từ Bắc di cư vào miền Trung. Tôi vào Sài Gòn trọ học. Đó là đối với tất cả người chung quanh, kể cả với người quản lý building.

– Còn riêng với gia đình, một tháng chỉ nên về một hoặc hai lần. Nói là: Khi lên tới trường Thủ Đức, họ khám sức khoẻ lại, thấy có bệnh yếu tim, nên không thể theo học quân sự được. Hiện nay, đã chuyển sang ngành công tác xã hội, phải đi học tập một thời gian.

– Ít đi ra phố, chỉ ra khi đi ăn cơm. Hàng ngày, sẽ có người đến huấn luyện. Chiều Thứ Bẩy và Chủ Nhật nghỉ.

– Trong thời gian huấn luyện, mỗi tháng tôi sẽ được lãnh 2500 đồng. (Lại cũng giống như số lương ở số 2 Jean Jacques Rousseau!).

Thời gian đầu, chính ông Cẩn, sáng cũng như chiều, mang tài liệu sách vở đến giảng dậy cho tôi.

Lúc đầu, ông đưa tài liệu ra giảng cho tôi về:

* Thế nào là một tổ chức bí mật. Lãnh đạo những tổ chức này, có khi do một cá nhân, một tập thể, hoặc một quốc gia. * Xác định bạn và thù. Những người cùng chung một công tác là bạn.

Ngoài ra, tất cả là thù; kể cả bố mẹ, vợ con, anh em, bè bạn và các cơ quan khác như cảnh sát, công an, an ninh quân đội. v.v… (Theo ý nghĩa ngăn cách, bí mật).

Tôi rất ngạc nhiên về điểm này. Ông Cẩn giải thích, đại ý:

– Về lãnh vực tình báo trên thế giới, từ xa xưa cho tới bây giờ, biết bao sự việc lắt léo ly kỳ đã xảy ra. Trong hòa bình cũng như lúc chiến tranh, có khi hai quốc gia chống nhau, hoặc có khi hai khối quốc gia chống nhau. Bên nước này, cũng như bên kia đều đầy dẫy những nhân viên tình báo của đối phương. Những nhân viên này, tùy theo điều kiện và nhiệm vụ, có thể ở mọi nơi, mọi lãnh vực, thậm chí đôi khi còn nằm ngay trong chính quyền trung ương của nước sở tại. Nhiệm vụ của họ có nhiều khía cạnh khác nhau, nhưng có một cái chung là tìm tòi, nghe ngóng để biết trước được những âm mưu, ý đồ về tình báo của nước nọ đối với nước kia, ngõ hầu có những biện pháp thích ứng để ngăn chận, hoặc lợi dụng, có khi tiêu diệt. Vậy, điều quan trọng là người điệp viên cần phải biết những ai là nhân viên tình báo của đối phương, nhất là những nhân viên bí mật.

Thời đại ngày nay là thế giới tự do và Cộng Sản. Một thí dụ:

– Một người đang được bí mật đào tạo huấn luyện để nhận một nhiệm vụ bí mật vào đất địch, phá một công xưởng sản xuất vũ khí chẳng hạn.

Anh này có vợ, vì anh là tình báo nên đi về thất thường, nguyên tắc không được nói với vợ, nên anh này thường nói dối quanh. Người vợ càng nghi ngờ có lẽ chồng đã đi với cô này, cô nọ, cho nên đã làm cho anh ta nhiều lần khốn đốn. Anh này vì chưa đủ ý thức về bí mật, an ninh công tác nên có ý nghĩ:

– Tuy nguyên tắc là như thế, nhưng vợ của mình, đấu gối tay ấp trọn cuộc đời với nhau, chẳng lẽ lại hại nhau, chẳng lẽ vợ mình lại là Cộng Sản ư?

Và một đêm, anh đã thú thực với vợ, không quên căn dặn vợ là tuyệt đối không được nói với bất cứ ai. Người vợ lại có một người mẹ, thỉnh thoảng nàng hay sang nhà mẹ chơi. Bà mẹ thường bảo:

– Này, cái thằng chồng của mày độ này nó làm ăn cái gì mà tao thấy nó đi suốt ngày, có khi cà đêm nữa? Mày ngốc, mày không để ý theo dõi xem thế nào, biết đâu nó chẳng mèo chuột, v.v…

Người vợ tuy đã nghe chồng dặn kỹ, nhưng lại nghĩ:

– Mẹ đẻ ra mình chứ ai, chẳng lẽ mẹ lại hại vợ chồng mình? Mà mẹ mình là Cộng Sản hay sao?

Và, rồi một hôm nào đó nàng đã nói thực với mẹ, cũng không quên căn dặn mẹ: Đừng, chớ có nói chuyện này với một ai mẹ nhé!

Bà mẹ lại có một người bạn chí thân. Trong một lần nào đó, bà bạn hỏi thăm về thằng con rể của bà bạn mình. Bà mẹ không được học về nguyên tắc bí mật, nên muốn khoe với bà bạn thân:

– Ấy, chẳng hiểu nó làm cái gì bí mật lắm, ở mãi trên Phủ Tổng Thống cơ! v.v…

Bà bạn chí thân này lại có chồng, có con thân mật ruột thịt khác. Cứ như thế, đến lúc nào đó, tình báo của đối phương sẽ đánh hơi thấy (cái này nó thính lắm) truy nguyên ra được tông tích và hành tung của anh chàng không kín miệng. Nếu anh đó, dùng bất cứ hình thức nào để xâm nhập đất địch, nếu không hai năm mươi thì cũng vào trong ấp mà nằm.

Như vậy, nguyên nhân vì đâu mà anh ta bị như thế? Rõ ràng, xuất phát từ vấn đề người vợ, khiến anh ta đã thất bại.

Hơn nữa, người ta đánh giá một công tác, thường chỉ căn cứ vào thành công hay thất bại mà thôi. Còn nguyên nhân tại sao, lý do thế nào, xét sau. Bất kể nguyên nhân ra sao, do đối phương ngăn chận không thể thực hiện được công tác, hoặc tư tưởng của nhân viên muốn lẩn trốn không dám thi hành công tác, v.v… dù nguyên nhân khách quan hay chủ quan thì cũng dẫn đến chung một kết quả là công tác đó bị thất bại, không thực hiện được.

Qua thí dụ trên, về một khía cạnh nào đó, người vợ cũng như là một kẻ thù, một đối phương vậy.

Từ những vấn đề trình bày ở trên, tôi nhớ lại trước đây khi xem những phim tình báo gián điệp của Thế Chiến I và II, những tiểu thuyết tình báo trong đó có Z 28 chẳng hạn. v.v… Tôi cho rằng những điệp viên quái kiệt đã được đào tạo ở những trường điệp báo khét tiếng như: Hắc Long, Intelligent Service, Gestapo, CIA hay KGB, v,v… đều bắn các loại súng như máy, cưỡi ngựa như gió, sử dụng máy bay, xe hơi một cách điêu luyện tinh vi. Tôi thật ấu trĩ! Từ những nguyên tắc bí mật và ngăn cách, chẳng có một trường nào công khai đào tạo điệp viên cả. Nếu có một trường như vậy, chẳng khác gì những điệp viên ấy đã tự trình bầy với đối phương, thưa các ông: “Chúng tôi đang ở trong bụi rậm này!” Cho nên thực tế, có nhiều vấn đề chẳng giống như tiểu thuyết và phim ảnh.

Trở lại Ngọc Cẩn. Sau đó, tôi tiếp tục được giảng dạy nghiên cứu và mổ xẻ các loại nhân viên: Nhân viên giữ nhà an toàn, nhân viên trung gian, nhân viên đi hoạt động bí mật, nhân viên liên lạc, nhân viên công khai và bán công khai, nhân viên nhị trùng hay hai mang, v.v…

Trong khoảng bốn tháng, ông Cẩn đến với tôi hàng ngày như vậy. Tôi nhớ một hôm, vào cuối tháng 4 – 1960, ông Cẩn vào phòng tôi với một người nữa. Ông này cao, lớn con, đầy phong độ. Ông Cẩn quay lại tôi, rồi nhìn về phía người cao lớn vừa như dặn dò bàn giao, vừa như giới thiệu:

– Tôi bận một số công tác đặc biệt khác, nên đây là ông Phan, Ông cũng như tôi, người của Cục, ông sẽ thay tôi phụ trách Bình. Tôi bắt tay và nhìn ông Phan. Ngay từ buổi đầu, chỉ vài câu chuyện trao đổi, tôi đã thấy ông dễ mến vì thái độ cởi mở. Qua tiếng nói, tôi hiểu ông là người miền Nam.

Sau đó, ông Cẩn thân mật bắt tay từ giã chúng tôi.

Còn lại một mình ông Phan và tôi. Qua ánh mắt và nét mặt, ông nhìn tôi như muốn trao cho tôi nhiều thiện cảm. Đúng như tôi nhận xét về ông từ lúc đầu, ông Phan thật xuề xòa và tỏ ra là một người rất phóng khoáng. Nghe ông nói chuyện, tôi có cảm tưởng như đã quen ông thân mật từ lâu rồi.

Ông Phan đến tủ sách của tôi, lật xem vài quyển, rồi quay lại nói:

– Từ nay, tôi sẽ tiếp tục đào tạo và huấn luyện Bình.

Rồi ông quay hẳn lại, đến bàn ngồi trước mặt tôi, giọng đầy gần gũi, thân mật:

– Bình có biết không? Trong Cục tôi nghe nói, Bình là một nhân viên mới có nhiều khả năng, tôi đã tìm mọi cách để xem hồ sơ của Bình, mặc dù theo nguyên tắc ngăn cách thì thật khó. Tôi thấy rằng, nếu trao cho Bình một công tác khác thì hơn. Bình làm công tác này hơi…phí.

(Phải nói, lúc đó tôi không hiểu câu nói này của Phan, mãi về sau, khi ra miền Bắc rồi tôi mới hiểu) Phan nói tiếp:

– Vì thế, trong những ngày tới, tôi sẽ bàn với Bình sau. Bây giờ, Bình hãy tiếp tục học hành, nghiên cứu. Nhưng, ở đây lâu không tiện. Vậy ngày mai, tôi sẽ đem xe đến chuyển Bình về Kỳ Đồng.

Về building Kỳ Đồng, tôi tiếp tục học các môn:

– Các loại chữ bí mật. – Cách viết thư bí mật. – Mật mã. – An ninh cá nhân và công tác. – Hộp thư sống, chết. – Hội kiến. – Vỏ học. – Tuyên truyền, phản tuyên truyền. – Cách lấy tin tức, moi tin. – Ngăn cách. – Đánh giá nguồn tin.

Mỗi môn đều phải nghiên cứu, mổ xẻ từng chi tiết lắt léo nhất, đồng thời thực tập nhiều lần. Phan cũng thử thách tôi liên tục, lợi dụng mọi hoàn cảnh, điều kiện để biết rõ về khà năng cũng như khuyết điểm của tôi.

Càng ngày, Phan càng có thiện cảm với tôi hơn, thường gọi “toa” xưng “moa”. Có những buổi sau giờ học, Phan và tôi bên nhau chuyện trò tâm tình. Từ đấy, tôi biết được ít nhiều về Phan. Phan đã có 15 năm nghiệp vụ tình báo. Trước đây, Phan đã ở Phòng Nhì của Pháp nhiều năm. Theo Phan nói, 1952, Phan đã bị Cộng Sản ám sát ở Cân Thơ. Tên Cộng Sản đặc công bắn Phan từ khoảng cách 25 mét nhưng rất chính xác. Y đã ghim viên đạn vào ngực phía trái, chỗ trái tim của Phan. Phan có vạch ngực cho tôi xem vết sẹo. Phan may mắn thoát chết là do hộp thuốc lá bằng kim loại đắt tiền ở túi áo ngực. Dù vậy, viên đạn cũng găm vào ngực Phan, tuy không vào sâu. Tất nhiên, tên Cộng Sản đó bị bắt. Rồi, tính quân tử và lòng hào hiệp của Phan đã lôi cuốn được trái tim của tên Cộng Sản ấy. Chính Phan đã bảo đảm và lãnh tên đó từ trong tù ra. Cho tới khi Phan đến huấn luyện cho tôi, tên đó vẫn là tay chân đắc lực của Phan.

Theo nguyên tắc, Phan không được kể những chuyện như vậy với tôi, nhất là về đời tư của mình. Nhưng, vì Phan là người cởi mở, và là người Nam, nên nói chung đã không quá kín đáo như người Trung hay Bắc.

Một buổi vào đầu tháng 10 – 1960, Phan đến nói với tôi:

– Hiện nay trong vùng bưng biền, tụi Cộng Sản đang chuẩn bị thành lập một “mặt trận”, rồi có thể sẽ tiến tới thành lập một chính phủ lâm thời. Do đấy, tôi

muốn chuẩn bị cho Bình đóng vai là một sinh viên bất mãn với chế độ gia đình trị Ngô Đình Diệm. Một mặt Bình sẽ tiếp tục đi học ở trong trường, lớp, Bình sẽ tổ chức ra một số vụ chống đối, để dẫn bắt mối với một sớ phần tử thực của Cộng Sản ở trong sinh viên và học sinh. Mặt khác, chính quyền sẽ tạo nên một cú bao vây, rượt bắt. Bình sẽ nhân thế đó, chạy vào bưng, v.v…

Sau khi nói xong, Phan hỏi ý kiến tôi.

Tôi hiểu, nói chung, vào “vùng giải phóng” thì ít nguy hiểm hơn ra ngoài Bắc. Nhưng đối với tôi, vấn đề nguy hiểm nhiều hay ít không phải là điều đầu tiên tôi quan tâm. Điều tôi nghĩ đến trước hết là công tác ấy có hào hứng và kỳ thú hay không. Vì thế, tôi chậm rãi trả lời:

– Tùy sự quyết định ở trên.

Có thể Phan thấy sự trả lời của tôi không dứt khoát, hoặc có những tính toán thay đổi trong Cục, hay tình hình diễn biến có khác; những ngày sau đó, không thấy Phan nhắc nhở gì về vấn đề vào bưng nữa.

Hàng ngày, Phan vẫn đến tiếp tục giảng dậy cho tôi. Một thời gian sau, tôi lại được chuyển về building ông Thọ.

Một mặt, tôi vẫn theo học, mặt khác, tôi xem lại bài vở nộp đơn thi Tú Tài I. Chính Phan cũng khuyến khích tôi.

Một hôm, Phan dẫn đến hai người Mỹ, giới thiệu tên là Brown và Dale, để huấn luyện thêm một số môn khác. Cả hai đều mặc thường phục, ông Brown đeo kính trắng. Tuy mỗi người dạy những môn khác nhau, nhưng hai người hay thường xuyên đi cùng.

Thế là từ đấy ba người, Phan Brown và Dale liên tục giảng dạy cho tôi về các môn:

– Phương pháp tổ chức. – Điện đài. – Theo dõi và chống theo dõi. – Phương pháp tuyển mộ. – Huấn luyện, đào tạo nhân viên. – Vũ khí, mìn. – Tự mưu sinh (núi, rừng, biển).

– Phân tách tâm lý, khả năng từng dạng người trong xã hội. – Phương pháp hình thành một mạng lưới hoạt động bí mật.

Thời gian này thực vất vả. Lý thuyết rồi thực hành. Tiếng Anh của tôi viết hay đọc thì còn được chút ít, nghe và nói thì thật là cập quạng, nên Phan thường xuyên phải thông dịch vì có rất nhiều từ chuyên môn.

Một điều thật phấn chấn cho tôi, kỳ thi Tú Tài phần I năm đó tôi lại đậu. Vì thế, Phan và hai người Mỹ dự tính một công tác dài hạn rất chi tiết để tôi vào miền Bắc hoạt động. Nội dung, kế hoạch tổng quát:

Cộng sản miền Bắc thường ve vãn, mồi chài, lôi kéo những sinh viên du học tốt nghiệp ở ngoại quốc về miển Bắc xã hội chủ nghĩa để xây dựng (!) đất nước, tổ quốc, v.v…

Do đấy, tôi sẽ nhận một học bổng đi du học Hồng Kông, hay Singagore về Điện hay Hóa theo năng khiếu của tôi. Khi tốt nghiệp rồi, Cộng Sản sẽ tìm đến. Lúc ấy, tùy theo hoàn cảnh thích ứng mà theo họ về miền Bắc; rồi từ đấy, sẽ bí mật hoạt động cho Sài Gòn.

Tôi thấy công tác này quá lâu dài, có khi hàng chục năm, cho nên tôi không tỏ ý thích lắm, tôi cũng nói thẳng ý nghĩ đó với Phan. Thực ra, lúc đó tôi không biết, hoặc cũng chẳng chú ý đến việc lợi dụng cơ hội để đi du học trước đã, để dù có thế nào thì cũng có một mảnh bằng. Phan thấy thái độ ơ hờ của tôi như vậy nên lại thôi.

6. Công Tác “Columbus”…

Thời gian trôi qua, thấm thoát đã lại tới tháng Tám, cái tháng của Sài Gòn nắng thật nhiều. Tôi lại được chuyển về số 62 đường Trần Hưng Đạo.

Đây là một phòng rất rộng, có hai buồng, với đầy đủ tiện nghi của một khu có nhiều người ngoại quốc ở. Như vậy mới tạo vẻ bình thường, khi có những người Mỹ thường xuyên ra vào phòng của tôi.

Thời gian này, vừa tiếp tục đào tạo huấn luyện tôi, vừa chuẩn bị kế hoạch công tác tung ra Hà Nội.

Công tác trực tiếp ra Hà Nội:

Bí danh công tác: COLUMBUS Bí danh từ khi tôi vào ngành: X20. Thời hạn: 25 ngày (công tác ngắn hạn). Nội dung:

Chính:

1. Tài liệu X cho Z5 (Hoàng Đình Thọ). 2. Tài liệu M cho … (theo quy ước). 3. Mang 3 tâm thư bằng máu của linh mục Hoàng Quỳnh cho các linh mục A, B, C. 4. Tuyển mộ huấn luyện.

Phụ:

Theo dõi với khả năng và điều kiện tối đa những hiện tượng:

– 6 Cầu Gỗ, 1 Đường Thành, 27 Hàng Đường.

– MIG 15, 19

– Về chính trị, văn hóa, kinh tế, quân sự, tư tưởng chung của quần chúng, cán bộ, bộ đội v.v…

Vỏ bọc:

– Học sinh lớp 10 Phổ Thông Vĩnh Linh, đau tim ra Hà Nội

– Chữa bệnh.

– Buôn lậu.

– Mang thư của sư bà Đàm Hướng chùa Phước Hải về sư Tuệ Chiếu với Thẩm Hoàng Tín.

– Theo dõi sư đoàn 308, phòng thủ Thủ Đô Hà Nội do Thiếu tướng Vương Thừa Vũ làm sư trưởng.

Giai đoạn chuẩn bị:

– Một kế hoạch nghiên cứu tỉ mỉ thấu đáo, phòng hờ mọi tình huống, suốt hơn một năm trường cho tới tháng 4/1962. – Hết thực tập lại nghiên cứu. Brown, Dale, Phan và tôi thường xuyên làm việc, theo phương châm: Càng học tập, nghiên cứu kỹ lưỡng trong “giai đoạn chuẩn bị” thì đường vào đất địch càng rộng, càng bằng phẳng.

Chi tiết toàn bộ công tác:

Bí danh X20 (ngay khi là nhân viên chính thức của Cục họ đã đặt bì danh cho tôi là X20, và bây giờ, trong công tác COLUMBUS, vẫn duy trì bí danh đó).

Nhiệm vụ chính:

1- Tài liệu X cho Z5 Hoàng Đình Thọ.

Vì là đích danh, nên tôi đã được cầm tấm hình bán thân (4×6) của ông Thọ một tuần lễ, thỉnh thoảng lấy ra xem cho quen mặt và ghi dần vào tiềm thức của tôi.

Theo tin tức của Cục cho: Lúc đó, Hoàng Đình Thọ là bác sĩ Nội Khoa bệnh viện Phủ Doãn cũ (bây giờ đổi lại là Việt Đức).

Khi về tới Hà Nội, có giấy giới thiệu để khám bệnh tim. Tìm thời cơ thuận tiện để trao “tài liệu X” cho Thọ.

Mật khẩu: “Nhờ bác sĩ chữa bệnh tim nhịp đập một trăm hai mươi”. Đúng 12 chữ.

Trả lời: “Tôi chỉ chữa tim nhịp đập một trăm ba mươi”. Đúng 10 chữ.

Tài liệu X: bọc ny lông đen, dầy 2 ly, dài 4 phân rưỡi, rộng 2 phân. Kín, không thấm nước. Tôi không được phép biết gì về tài liệu này.

Nếu Hoàng Đình Thọ không còn làm ở bệnh viện Việt Đức. Hủy tài liệu ngay.

2- Tài liệu M theo quy ước.

Giờ và ngày quy định:

Từ 8 giờ đến 10 giờ sáng (2 tiếng). Ngày 16 và 18 (phòng hờ nếu trục trặc ngày16 thì ngày18).

Địa điểm: Trên cầu Thê Húc (cầu bằng gỗ) của đền Ngọc Sơn, hồ Hoàn Kiếm.

Tôi quần xanh, áo trắng xắn tay, đi dép Thái Lan, đội mũ xanh công nhân. Tay cầm tờ báo Quân Đội Nhân Dân.

Đối tượng: (Bất cứ ai) mặc quần ka-ki xám, áo nâu, dép Bình Trị Thiên (dép râu). Tay cầm 3 quyển vở học trò.

– Khi tôi nhìn thấy bất cứ ai vào giờ ấy, ngày ấy, trên cầu Thê Húc. Chờ người ấy nhìn thấy, tôi đang cầm tờ báo gấp đôi, bây giờ tôi gấp thành tám.

– Người ấy trả lời bằng cách: Chuyển 3 quyển vở từ tay này sang tay kia. (Luôn luôn ở cách xa ít nhất 10 mét). Sau đó, tôi cứ đi, chính tôi phải chủ động tìm một địa điểm thuận tiện như công viên chẳng hạn. Tìm ghế đá, hoặc chỗ ngồi nào đó để đối tượng, từ xa 50 mét trở lên, có thể dễ dàng quan sát được tôi.

Tôi sẽ ngồi bình thường ở một cái ghế xi măng nào đó. Mở báo xem, che trên hai đùi, rồi (tùy cơ ứng biến) chờ đối tượng nhìn thấy. Gãi khuỷu tay, tuy gãi nhưng một ngón tay chỉ thẳng vào chỗ bỏ tài liệu. “Gãi” là dấu hiệu đã bỏ tài liệu, bây giờ là chỉ chỗ.

Khi thấy đối tượng “gãi đầu”, tức là đối tượng đã nhìn thấy. Chừng 5, 10 phút sau, với một thái độ bình thường, tự nhiên đứng dậy đi (nếu có đuôi, dẫn đuôi đi). Nhưng phải kín đáo, dùng phương pháp nghiệp vụ quan sát, kiểm tra khi đối tượng lại lấy tài liệu. Chỗ để tài liệu tùy theo cái kẹt hay cái góc nào mà người ta vô tình không thể nhìn thấy nhưng phải tạo thuận tiện cho người ấy.

Tài liệu M:

Bọc ny lông nâu, dầy 3 ly, dài 4 phân, rộng 3 phân; kín, không thấm nước. Cũng như tài liệu X, tôi không được phép biết gì về tài liệu này.

Về mục tài liệu M này, tôi phải nhắc đi nhắc lại. Học thuộc lòng những mật khẩu, và những quy ước phải thực tập nhiều lần. Bây giờ đã 23 năm rồi, tôi vẫn còn nhớ.

Tôi nhớ thời gian này, những lúc tâm sự hoặc đi chơi với Phan (theo đúng nguyên tắc, tôi không bao giờ được đi với Phan ngoài phố, vì Phan đã bị lộ, là một cán bộ của cơ quan tình báo miền Nam, tôi mà đi với Phan thì cũng gần như bị lộ). Lúc đó, tôi là một thanh niên mới vào nghề, làm sao tôi có ý thức quán thấu mọi mặt, vậy lỗi này do Phan). Phan nói, trong cơ quan hiện nay, đang hình thành hai phe:

a) Gồm Cục Trưởng và đa số: Quan niệm tình báo theo lối cổ, bào thủ, rập theo nguyên tắc cứng ngắc. Thí dụ: Sai một người đi chợ mua một ký táo chẳng hạn. Phải dặn: Lấy xe đạp đi, lúc đi phải đi sát lề phía phải đường đi, phải đi từ từ, chú ý xe cộ ở ngã ba, ngã tư, khi quẹo, nhớ phải giơ tay làm hiệu. Khi đến chợ, khóa xe thế nào, gửi ở đâu, vào chợ thì mua loại táo nào, mặc cả ra sao, cách thức chọn táo; cũng như trên đường vể v.v…

b) Gồm Cục Phó và một số ít người, trong đó có Phan là người điển hình. Quan niệm, tình báo phải sống động linh hoạt, khích lệ cho nhân viên có óc sáng tạo, bén nhậy trong mọi tình huống. Cũng là sai một người ra chợ mua một ký táo, chỉ cần dặn: Nhớ mua, mặc cả táo ngon, đi đường phải cẩn thận. Nhưng, với khả năng khôn khéo sẵn có của anh, tôi tin rằng anh sẽ mua được táo ngon và rẻ.

Theo tôi nghe và nhận định: Tuy tôi chẳng phải là loại người ba phải, tôi thấy cả hai quan niệm trên đều có cái ưu và khuyết. Vậy cần trộn lẫn, rồi nhặt những cái ưu ra dùng, không cần biết của phe nào cả. Đó cũng chỉ là ý nghĩ của tôi, chứ không dám phát biểu với Phan. Tôi chỉ hỏi: Vậy hiện nay, kết quả phe nào có ưu thế? Phan nói: Thực tế bây giờ đánh giá bằng những kết quả của công tác; theo lối cổ điển thì thành công nhiều hay ngược lại, từ đấy phe này sẽ phải theo phe kia.

Do quan niệm trên, Phan nhiều lần giảng dậy cho tôi rất phiến diện, hời hợt. Vì thế, nhiều vấn đề tôi cần sáng tỏ, rõ ràng thì lại phải yêu cầu.

Chẳng bù với Ngọc Cẩn, hoặc sau này là Hoàng Công An, lại quá ư chi tiết, nhàm chán, đôi khi thành lẩn thẩn. Riêng Brown và Dale, thì tôi hiểu là của CIA, tui tôi chưa hiểu lắm, vì trình độ Anh văn của tôi. Nhưng qua một số hiện tượng, phong cách, thái độ của họ, tôi thừa nhận họ có nhiều cái đúng. Nghĩa là, cái nào họ cần chi tiết, thì rất tỉ mỉ từng ngóc ngách một, đoạn nào không cần thiết thì họ cũng phiến diện, khái quát.

Trong thời gian học tập và chuẩn bị công tác này, tôi được cung cấp một radio transitor với cả ống nghe. Tôi được toàn quyền nghe đài miền Bắc, và có rất nhiều sách báo của miền Bắc gồm đủ loại: tuần báo, nguyệt san, nhật báo, sách vở v.v… Mục đích là để tôi quen sự sinh hoạt, cũng như ngôn từ của Cộng Sản miền Bắc.

Vào khoảng tháng 9/1961, một hôm Phan dẫn một người đeo kính trắng đến giới thiệu là ông Hoàng Công An. Vì Phan có một số công tác đặc biệt không ở Sài Gòn, nên ông An sẽ thay Phan phụ trách tôi. Ông An là người miền Trung.

Qua sự huấn luyện và học tập, và kinh nghiệm từ số 2 Jean Jacques Rousseau, tôi đã hiểu đầy đủ về sự tò mò tìm hiểu những điều mình không cần biết, một nguyên tắc ngay trong cuộc sống, thường thường đã là không tốt rồi và bất lợi rồi. Vì vậy, ngay những người đến giảng dạy huấn luyện cho tôi gần 2 năm trời, tôi chẳng, hoặc không cần biết tên thật của họ, chức vụ của họ. Họ ở đâu đến, xong họ đi đâu, tôi không biết.

3) Mang 3 tâm thư của linh mục Hoàng Quỳnh.

Đây là một vấn đề phức tạp và nghiêm trọng. Nó có liên quan ảnh hưởng đến toàn bộ Thiên Chúa Giáo miền Bắc. Có lẽ vì vậy mà Cục đưa Hoàng Công An, một tu sĩ gần thành linh mục, đến phụ trách tôi.

Nội dung: Tôi sẽ mang tâm thư của cha Hoàng Quỳnh cho:

– Linh mục A ở nhà thờ X (Hà Nội).

– Linh mục B ở nhà thờ Y (Hà Nội).

– Linh mục C cũng ở nhà thờ Y (Hà Nội).

Tôi đã được xem 3 bản giấy đánh máy, nói rõ về thân thế đặc tính của từng linh mục trên, kèm theo 3 tấm hình bán thân (4×6).

a) Linh mục A.

Đã có bằng tiến sĩ ở Pháp. Tháo vát, cương quyết, tinh thần chống Cộng Sản rất cao. Có nhiều thành tích và uy tín với giáo dân. Lời hẹn ước xưa với cha Quỳnh. Do tình trạng thiếu linh mục nên linh mục A còn phải phụ trách thêm Phúc Xá Thượng và Phúc Xá Hạ nữa.

Yêu cầu của cấp trên nói rõ:

Sau khi Cha A xem xong thư của Cha Quỳnh, đồng ý tự nguyện hoạt động cho thế giới tự do, điều đó là thành công nhất. Khi đó, tôi sẽ nằm luôn tại nhà xứ trong một nơi an toàn, theo sự sắp xếp của Cha A. Hàng ngày, chính tôi sẽ huấn luyện cho người những nét chính yếu, cơ bản về hoạt đống tình báo. Trong vòng 10 ngày, phải xác minh được tinh thần, năng khiếu, hoàn cảnh, điều kiện của người. Giao mật khẩu và mật vật là nửa đồng bạc 1 đồng miền Bắc xé đôi: một nửa giao cho người, một nửa tôi sẽ mang về miền Nam. Sau này, bất cứ thời gian nào đó, hoặc nơi chốn nào, có một người nào đó, đến gặp Cha, nói đúng mật khẩu và đưa mật vật, người đó chính là đại diện của Sài Gòn, và sẽ cung cấp những nhu cầu cần thiết cũng như nhiệm vụ cho Cha.

Nếu vì một lý do nào đó, Cha vẫn có tinh thần chống Cộng Sản, nhưng lại không đồng ý hoạt động trực tiếp cho Sài Gòn, yêu cầu Cha giới thiệu người tin cẩn, thân tín nhất, có khả năng và tinh thần. Lúc đó, tôi sẽ trực tiếp gặp riêng, rồi tùy theo hoàn cảnh và điều kiện của người đó, sẽ quyết định nơi huấn luyện. Nếu không có điều kiện thuận lợi, yêu cầu Cha giúp đỡ rồi cũng bí mật nằm im 10 ngày để huấn luyện.

Tuyển mộ nhân viên: Không phân biệt tuổi tác, thành phần, nữ hay nam, nếu là người của chính quyền địch thì càng tốt. Tìm hiểu kỹ thân thế, quan hệ họ hàng, hoàn cảnh, điều kiện sống của người nhân viên mới đó. Cân nhắc xác đáng, phù hợp để cho họ hai địa chỉ ở Pháp và Campuchia để liên lạc.

Địa chỉ ở Pháp: Paul Lạng, 14 rue du Four, Paris 6è, France. Cung cấp cho nhân viên đó rõ thực tế: Paul Lạng, 42 tuổi. Pháp lai có vợ là Marie Nguyễn cũng là Pháp lai. Trước năm 1954 ở Sài gòn. Đầu năm 1954 cùng vợ và 5 con gái về Pháp trên chuyến tàu Espérance. Hiện y đang làm chủ một hiệu giặt ủi máy lớn ở cùng địa chỉ.

Địa chỉ ở Kamphuchea (tên và địa chỉ đánh máy thiếu)… Phnom Penh, 28 tuổi là nhân viên làm trong maternité. Vợ là người miền Nam, quốc tịch Kampuchea, có đứa con trai 4 tuổi.

Lý do phải tương đối hợp lý về quan hệ họ hàng cũng như quan hệ xã hội để nhân viên mới đó giao thiệp thư từ với 2 địa chỉ nói trên: có thể là anh em chú bác bạn bè v.v…. thỉnh thoảng vẫn thư từ thăm hỏi sức khoẻ của nhau từ trước. Có thư từ giao thiêp một thời gian sau đó lẫn vào những lá thư sẽ có những câu hỏi an ninh thí dụ như:

1) Anh dạo này có khoẻ không? – Trả lời vẫn khoẻ, là bị theo dõi. Trả lời ốm bịnh là vẫn bình thường, không ai theo dõi cả.

2) Anh có ước mong có tiền để mua một chiếc xe đạp mới không? – Trả lời không thích tự do.

3) Anh có thích nhạc Phạm Duy không? – Không thích là bị theo dõi. Thích nghe là tự do.

4) Anh thích ăn thịt gà không? – Trả lời thích là bị theo dõi. Không thích là tự do.

5) Người dân dưới chế độ xã hội chủ nghĩa, sống có thoải mái không? Thoải mái là bị theo dõi. Không thoải mái là tự do.

Ngoài ra, còn hai quy định nữa trong những thư viết cho hai địa chỉ trên để báo cho Sài Gòn biết là mình đang bị công an cưỡng bức ngồi viết thư:

1) Đầu lá thư viết ngày tháng, nếu không để chữ “Ngày” là bị theo dõi. Thí dụ: 20-10-1963: bị theo dõi. Ngày 20-10-1963: không bị theo dõi.

2) Tuy có viết ngày hay không, mà dưới niên hiệu năm không có “dấu chấm” là bị theo dõi. Có “dấu chấm” là tự do. Thí dụ: 20-10-1963: bị theo dõi; 20-10-1963.: tự do.

Bắt nhân viên đó học thuộc lòng. Cần nhớ nguyên tắc 5 câu hỏi trên là: Hợp lý: bị theo dõi. Không hợp lý: tự do.

Bởi vì, nếu không có ai để ý theo dõi, hoặc ngồi trong phòng: công an dí súng bắt viết báo cho Sài Gòn, thì viết ngược cũng không thành vấn đề.

Quy ước có hàng nghìn kiểu, chỉ có trời biết, nhưng với điều kiện phải nhớ, không được lẫn lộn.

b) Linh mục B.

Là một người rất trầm tĩnh, ít nói. Làm việc hết khả năng, dù gặp trở ngại cũng tìm mọi cách để hoàn thành công việc. Có óc tổ chức. Còn nặng về tôn giáo hơn xã hội. Theo Cục cho biết cha B vẫn ở trong nhà thờ Y.

c) Linh mục C.

Cũng ở nhà thờ Y, Hà Nội. Cha năm nay đã già. Tuy vậy, tinh thần của ông rất cao. Ông rất có uy tín với giáo dân Hà Nội, cũng nhưn hàng giáo phẩm Việt Nam.

Theo ý của Cục:

– Cần nhất là linh mục A. Nếu vì lý do nào đó mà người không còn ở nhà thờ X; hoặc lý do nào khác mà người từ chối thì hãy tới linh mục B.

Nếu vì lý do nào đó mà không thể được linh mục B, thì mới tới linh mục C.

Theo Hoàng Công An cho biết. Ba linh mục trên, không những cùng hàng giáo phẩm thờ Chúa, chăn chiên như linh mục Hoàng Quỳnh, mà còn là những người thân, những đồng chí đã có nhiều hẹn ước khi cha Hoàng Quỳnh từ giã theo đàn chiên di cư vào Nam. Tuy vậy, đã 8 năm rồi, dưới chế độ Cộng Sản tàn bạo, chẳng hiểu tinh thần của các người bây giờ thế nào. Hơn nữa, sức khoẻ cũng là một vấn để đối với ba linh mục kể trên.

Riêng tôi, tôi đã suy nghĩ nhiều: Tôi thấy và hiểu rằng công tác này quá nặng nề và nghiêm trọng, đòi hỏi phải một người có khà năng 10 mà tôi chỉ có 2, nghĩa là không có trâu thì phải bắt nghé đi cầy. Vì thế, tôi đã mạnh dạn nói ý này với An.

An nói:

– Trên Cục đã nghiên cứu về vấn, đề này rất kỹ, nhất là về tôn giáo. Không phải ai cũng giao được công tác này, bởi vì, nếu thất bại, Cộng Sản sẽ lấy đó để hạ uy tín của công giáo và tăng cường kìm kẹp giáo dân cũng như các hàng giáo phẩm hơn nữa. Không những thế, công tác còn đòi hỏi rất nhiều mặt, nhất là địa bàn hoạt động lại là thủ đô của Cộng Sản. Bình yên tâm, Cục đã cân nhắc, tìm tòi nhiều, cuối cùng mới quyết định Bình đấy chứ.

Dù An nói sao, tôi vẫn tự nghĩ thầm. Những người đầy đủ khả năng thì không ai dám đi, vì đầy nguy hiểm, chết chóc trước mắt. Vì thế, trong số những người liều bất tử, dù không đủ yêu cầu thì cũng đành chọn vậy.

Tuy trong lòng tôi đầy vơi nghĩ suy như vậy. Nhưng nhìn lại, thế của tôi đã ngồi lên lưng cọp rồi. Quan điểm của tôi là đã trót ngồi lên lưng ông Ba Mươi, phải thúc gót thêm cho ông phóng mạnh, rồi muốn ra sao thì ra.

Một hôm, Hoàng Công An đến nói với tôi:

Theo ý cha Hoàng Quỳnh, trước khi người viết thư, người yêu cầu được gặp chính người lãnh sứ mạng đặc biệt đó ra Hà Nội. Cục đã chấp nhận. Vậy, sáng mai, 9 giờ tôi đến, chúng ta cùng đi.

Tôi hỏi đi đâu, có xa không?

An nói:

– Ở xứ Bình An, bên Bình Xuyên.

Tôi nhớ lại ngày xưa, ngày tôi còn là cậu bé, cha Hoàng Quỳnh là trưởng đoàn võ: Đinh Bộ Lĩnh mà tôi là một võ sinh tí hon theo đoàn đi các nơi biểu diễn những bài song kiếm hoặc Mai Hoa Quyền trêm một võ đài. Chắc giờ đây tôi có nói ra thì cha mới nhớ được, vì tôi lúc này đã lớn rồi. Bởi thế, tôi đã định, nếu khi gặp, cha không nhận ra thì tôi cũng không nhắc lại.

Hôm sau An đến, chúng tôi cùng đi xe tới xứ Bình An. Tôi và An ngồi chờ cha ờ phòng khách. Một lát sau, cha ra. Ôi, mới hơn 10 năm trời mà khi tôi nhìn thấy người, tôi rất ngỡ ngàng. Da mặt người đã nhăn nheo, tóc người đã điểm sương. Chỉ còn dáng dấp quen thuộc, nhanh nhẹn của người thì vẫn như ngày nào.

Hơn một giờ chuyện trò, Cha thường nhìn tôi, nói: “Dũng cảm nhỉ!”. Lúc tiễn An và tôi ra cổng, cha nói:

– Cha rất cảm phục con. Trước ngày con đi, cha muốn ăn cơm với con một bữa, để thỏa lòng cha, gọi là trách nhiệm của một người tiễn đưa một tráng sĩ mang tinh thần oanh liệt của Phạm Hồng Thái, con có đồng ý không?

Tôi không dám trả lời và nhìn sang An. An nói:

– Con xin lĩnh ý cha. Con về xin ý kiến, rồi sẽ điện đến cha ngay.

Trên đường về, An nói:

– Chưa chắc cấp trên đã đồng ý, vì Bình còn nhiều việc lắm.

Tôi biết uy tín của cha Quỳnh không phải là nhỏ. Người đã làm cho Hồ Chí Minh bẽ mặt một lần, khi người còn là Phó Chủ Tịch Mặt Trận “Liên Tôn Diệt Cộng” hiển hách năm nào ở ngoài Bắc, mà sư Tuệ Chiếu là Chủ Tịch; cái thời cáo Hồ còn bịp bợm ve vãn, mua chuộc, quỳ gối trước Đức cha Lê Hữu Từ xin chịu rửa tội nhập đạo.

4. Tuyển mộ huấn luyện:

Nếu do lòng nhiệt tình và ý thức dân tộc nên các cha đồng ý, tối sẽ huấn luyện. Nếu không, xin các cha giới thiệu những người tin cẩn và thân tín, lúc đó, chính tôi sẽ tuyển mộ và huấn luyện họ. Đối với tôi, điều này không khó khăn gì lắm. Ban đầu, chỉ cần nói những nét cơ bản về nghiệp vụ. Điều khó khăn là tìm biết được khả năng và bản tính của mỗi người, phát hiện ngay được cái ưu, cái khuyết của họ.

Tuy tôi cũng đã được học tập gần 2 năm, Dale, Brown và An vẫn nhấn mạnh:

– Bản tính con người ta vô cùng phức tạp, có rất nhiều vấn đề khác biệt. Nhưng nói chung, con người gồm ba loại:

a)Loại bộp chộp, ruột để ngoài da. Vui, buồn hay có vấn đề gì, chung quanh ai cũng biết. Loại ngưòi này ta ít phải quan tâm.

b)Loại thâm trầm, ít nói. Họ ghét hay họ yêu mình, họ đồng ý hay không đồng ý việc mình làm, thái độ của họ không thay đổi. Loại người này, khi sống gần, ta phải luôn luôn cảnh giác, giữ ý và coi chừng. Nếu họ bắt đầu có hành động hay thái độ gì không bình thường, ta đã chuẩn bị đối phó. Nhưng họ không nguy hiểm bằng loại thứ ba.

c)Loại người này, họ vẫn cười nói với mình, đôi khi lại tỏ ra thắm thiết thân mật hơn, ta có khó khăn gì họ sẵn sàng giúp đỡ, chia xẻ. Khi họ chiếm được lòng tin của ta, bất ngờ cho một mũi dao vào tim ta. Loại này thường làm mất cảm giác của ta. Gây cho ta sự chủ quan rồi hại ta v.v…

Tóm lại: Để có thể phân loại được bản tính của đối tượng, ta phải có sự nhận xét tinh tế và bén nhậy. Dù đối tượng nói gì, nấp dưới bất cứ hình thức nào, ta vẫn phải nhìn rõ bản chất, nghĩa là con người thực của họ. v.v… Người đi tuyển mộ phải biết.

Bản tính con người khó thay đổi. Vì vậy, trong giai đoạn thử thách, tùy theo hoàn cảnh, điều kiện cho phép có thể ngắn dài, nếu thấy người mình định tuyển mộ có những khuyết điểm về cơ bản thuộc bản chất, ta phải loại bỏ ngay. Khác với các lãnh vực khác còn có thể sửa chữa được, bản chất thì không.

Một người có tính huênh hoang, có thể đã bị đời đập cho méo mặt vì cái tính huyên hoang, khoác lác này, cũng chỉ chừa được ít ngày, rồi sau đó, đâu lại hoàn đấy.

Một người có tính tự ái cao, thì suốt đời cũng không thể bỏ được tính đó. Chính vì tính tự ái này, họ đã bỏ lỡ nhiều cơ hội thăng tiến, lỡ lầm nhiều chuyện tình cảm, để phải ân hận lâu dài.

Ông bà ta đã chẳng từng nói: “Cái nết đánh chết không chừa”. Phương tây cũng có những câu chuyện về “Ông vua và chiếc tai Lừa”, hoặc “Con mèo và ông quan đại thần”… Ông cha đã dậy con cháu là chúng ta: Giang sơn dễ đổi, bản tính khó chừa!

7. Những Chuyện Tình Báo…

Nhiệm vụ phụ :

Ngoài những nhiệm vụ chính mà tôi phải đem hết nghị lực, khả năng để phải thực hiện bằng được, trong quá trình sống và di chuyển ở Hà Nội, tôi phải để ý tới những hiện tượng dưới con mắt nghiệp vụ những số nhà sau đây:

– Số 6 phố Cầu Gỗ.

– Số 1 phố Đường Thành.

– Số 27 phố hàng Đường

Theo nguồn tin tình báo, ba nơi này thường xuyên đào tạo, huấn luyện gián điệp rồi tung vào miền Nam hoạt động. Tình báo miền Nam đã bắt được hai vụ nổi tiếng, và Cục đã cho tôi biết chi tiết để rút ra nhiều kinh nghiệm như một bài học. Dưới đây là hai vụ điển hình. Tất nhiên còn nhiều vụ khác nữa:

1. Khoảng 1957, do nhân dân bí mật tố cáo, tình báo miền Nam đã bố trí bắt được một nhân vật có hạng về tình báo của miền Bắc. Khi đem về khai thác, điều tra. Sau hơn một năm trời, dùng mọi khả năng của những nhà chuyên môn, ta cũng đành chịu khuất phục trước sự kiên trì, lì lợm của y.

Nếu ở trong tay công an dưới chính quyền miền Bắc, nhận tội hay không, tội nhân cũng cứ bị tù cho tới khi nào cơ thể không chịu được nổi, hoặc cho tới già, rồi về với ông vải, thì thôi.

Nhưng chính quyền miền Nam, nếu thiếu chứng cớ cụ thể, chỉ giam tội nhân tới một mức quy định, rồi cũng phải thả ra. (Cụ thể như Nguyễn Hữu Thọ, Nguyễn Thị Bình v.v…)

Anh ta, trước sau chỉ một mực chối lá vô tội. Ta đã dùng nhiều biện pháp tinh vi hơn như: Khổ nhục, tra tấn, dụ dỗ, khích lệ v.v… cũng đều vô hiệu. Việc này đã làm điên đầu những người có trách nhiệm của Cục tình báo miền Nam.

Sau nhiều phiên họp gay cấn, chính ông Cục Trưởng đã đưa ra một kế hoạch, và ông xin chịu trách nhiệm thực hiện kế hoạch đó.

Vào một buổi cuối Đông, bầu trời Huế xám xịt, những cơn gió mùa Đông Bắc về muộn mang theo những trận mưa rả rích, nhạt nhòa … Từ cổng nhà lao Thừa Thiên, hai chiếc xe Dodge 4 phủ mui kín mít, lao về quốc lộ 1 hướng về Nam, chuyển tù vào Sài Gòn.

Xe trước, băng sau chở 4 phạm nhân bị khóa tay, trong đó có tên Cộng Sản lì lợm nói trên, và hai người mặc quân phục có vũ trang áp tải. Băng trên, ngoài tài xế, còn có một trung úy và một hạ sĩ. Ông hạ sĩ này chính là ông Cục Trưởng mà tên Cộng Sản đó chẳng lạ gì.

Xe sau, chở một thiếu úy và nửa tiểu đội, tất cả đều mặc quân phục và có vũ trang. Hai chiếc xe theo nhau chạy mãi vào đêm tối. Hơn 4 tiếng đồng hồ sau, lúc đó khoảng 11 giờ khuya, giữa quãng đường dài vắng vẻ, hai bên là triền rừng; bất chợt hai loạt trung liên nổ ròn rã phía trước xe. Đạn réo lên ngay phía trên mui. Ngay lúc đó, tài xế và mọi người đều đã nhìn rõ một chướng ngại vật là một thân cây to nằm chặn ngang đường. Biết là đã lọt vào ổ phục kích, các quân nhân trên hai xe vội vàng nhẩy xuống đường, tìm địa thế cấp thời để chống trả.

Nhưng, tất cả đã nằm gọn trong vòng vây, với đầy mũi súng tua tủa của đoàn quân phục kích. Chỉ sau 10 phút, tất cả quân nhân trên hai xe đều bị tước hết vũ khí, bị trói gô và bắt ngồi tập trung vào một chỗ. Một người, có lẽ là chỉ huy đoàn quân phục kích, ra lệnh lục soát trên hai xe, tịch thu một số đồ cần thiết, trong đó có cả giấy tờ, hồ sơ, v.v…

Riêng 4 phạm nhân, tay vẫn bị khóa, bị dẫn xuống bắt ngồi cùng với đám quân nhân, sau khi biết họ đều là tù hình sự can tội an cướp hoặc giết người.

Người chỉ huy đoàn quân phục kích nhìn những quân nhân đang bị trói, dõng dạc tuyên bố:

– Các anh là ngụy quân, lầm đường lạc lối, làm tay sai cho đế quốc Mỹ bắn lại nhân dân, làm hại đồng bào, lẽ ra chúng tôi bắn bỏ hết. Nhưng, theo chính sách khoan hồng của đảng (lúc đó chưa có Mặt Trận Giải Phong Miền Nam), chúng tôi sẽ tha hết, kể cả 4 phạm nhân hình sự. Các anh hãy trở về cải tà quy chính. Riêng hai tên sĩ quan, vì đã có nhiều nợ máu với nhân dân, chúng tôi phải mang vào bưng xử lý.

Rồi người đó ra lệnh cởi trói cho hết các quân nhân, còn bắt đưa chìa khóa mở còng cho 4 người tù. Giữa lúc đó, tên tù Cộng Sản lì lợm, đứng bật dậy, rút ở trong ve áo ra một miếng vải đỏ hình vuông mỗi bề 4 phân, ở giữa có hai ngôi sao vàng nằm trên sọc trắng. Y đưa cho tên chỉ huy đoàn quân phục kích xem và nói:

– Các đồng chí, tôi là Trưởng K 10 nội thành Sài Gòn, thuộc cục R. Hôm nay, vô tình các đồng chí đã lập được một kỳ công vô cùng to lớn. Các đồng chí hãy trói ngay tên hạ sĩ kia, nó chính là tên Cục Trưởng Trung Ương tình báo của Sài Gòn.

Cả đoàn quân phục kích sáng mắt hân hoan. Bốn, năm mũi súng đều chĩa vào ông hạ sĩ và trói nghiến lại.

Thay vì đưa vào bưng, người chỉ huy mặc áo bà ba đen ra lệnh tất cả lên xe trở về miền … sông Hương, núi Ngự.

2. Sự việc xẩy ra vào năm 1959 ở ngôi nhà, hình như mang số 126 hay 128 (tôi không nhớ rõ), đường Phan Đình Phùng Sài Gòn.

Ngôi nhà này có cửa sắt, tuy ở mặt phố nhưng không bao giờ thấy mở, trừ đôi lúc có người ra vào. Chủ ngôi nhà là một quả phụ, gần 60 tuổi. Trước đây, bà có một người em trai ở cùng. Ông này học hành đã thành đạt, nên hiện đang làm việc trong Phủ Tồng Thống. Người ta chẳng biết ông làm gì, chỉ nghe đồn ông rất có uy thế, thường gần gũi với ông cố vấn Ngô Đình Nhu. Có thể do đòi hỏi của công việc, hoặc vì lý do nào khác, ông đã được cấp một căn biệt thự ở đường Công Lý, gần dinh Độc Lập, để đi vể được thuận tiện. Và vì vậy, ngôi nhà ở Phan Đình Phùng càng vắng vẻ đìu hiu. Ngoài bà Hân là chủ nhà, trong nhà chỉ còn một bà giúp việc cũng họ gần xa với gia đình bà Hân.

Những người mới đến ở dãy phố này không biết chồng con bà ra sao, chứ những người đã ở lâu gần đó đều hiểu hoàn cảnh gia đình bà. Bà Hân rất hiền lành phúc hậu, bà thường hay đi chùa đền để niệm phật ăn chay và làm việc phúc đức. Theo câu chuyện bà kể lại với những người quen biết, vợ chồng bà đều là con những gia đình giàu có thế phiệt trước đây ở Huế. Bà hiếm hoi, chỉ sinh được một cậu con trai duy nhất, đúng vào lúc xẩy ra những biến cố lớn lao của đất nước 1945. Khi Việt Minh cướp chính quyền, ông Hân là một thành phần đảng phái, ông đã hiểu rõ sự hiểm độc của Việt Minh nên cương quyết không hợp tác trong Chính Phủ Liên Hợp của cáo Hồ bịp bợm. Ông đã bị chúng bí mật thủ tiêu ngay thời gian ấy. Giữa cảnh hỗn loạn Nhật, Pháp, Anh, Tàu, và Việt Minh thời đó, dân chúng đã phải trôi dạt, đẩy đưa khắp nơi, và bà đã thất lạc đứa con trai yêu quý, niềm an ủi độc nhất của đời bà. Sau đó, theo giòng đời, bà đã trôi dạt về Sài Gòn với người em trai nói trên.

Do của cải trước đây để lại, hiện bà là người giầu có, thừa thãi tiền tài, nhưng lại rất thiếu nghèo tình đầm ấm của gia đình. Bà đã mất biết bao tiền bạc, tâm lực để thăm dò, tìm kiếm người con thất lạc, nhưng đều bặt vô âm tín. Nỗi nhớ thương buồn phiền của bà suốt 14 năm càng ngày càng cô đọng lại, dồn nén dần vào chỗ sâu kín nhất của tâm hồn bà. Nhũng người quen biết bà đều hiểu rõ như thế. Nhưng, Cộng Sản lại đào sâu, nghiên cứu kỹ, nên đã hiểu biết hơn thế nữa. Chúng đã triệt để lợi dụng, khai thác bối cảnh này. Chúng thấy đây là cơ hội để chúng đưa người lọt vào ở sát nách cơ quan đầu não của chính quyền miền Nam.

Chúng đã tìm và tuyển mộ được một thanh niên theo ý chúng muốn. Chúng ra sức đào tạo, huấn luyện, từng động tác, thái độ, lời ăn tiếng nói, kể cả về tình cảm để đóng vai trò người con thất lạc của bà Hân.

Nói về ngôi nhà của bà Hân. Ngôi nhà này thường đóng cửa, cho nên ở phía trước sát vỉa hè, một người đàn bà nghèo trong xóm đã kê một chiếc ghế dài nhỏ và một cái phản gỗ con, trên bày ít kẹo, chuối, nước sôi…bán cho các bác xích lô…ít tiền.

Tên điệp viên là một cậu trai 19- 20 tuổi, khôi ngô, quần áo lam lũ; thuy khoẻ mạnh đầy sức trai, nhưng bộ mặt lúc nào cũng đăm chiêu mang nặng một nỗi niềm. Hàng ngày, sau những cú xe đường dài mệt nhọc, anh thường ghé chiếc xích lô đạp sát lề, uể oải ngồi vào ghế, gọi mua nước trà, nhấm nháp, lúc thì cái kẹo, lúc thì quả chuối…anh tỏ ra rất ít nói. Dần dần, hà hàng quen mặt. Bà cũng để ý và đôi khi nhìn bằng ánh mắt thương hại người còn trẻ, mặt mũi sáng sủa mà đã phải lam lũ cuộc đời! Trước, còn là những câu hỏi bâng quơ:”Hôm nay chạy khách có khá không?”, “Trời này, lại sắp mưa!”, “Sao hôm nay cậu đến muộn?” v.v… Cậu trai càng tỏ ra rất ít nói. Mặt lúc nào cũng buồn như che dấu một tâm sự riêng tư. Khi đã có thiện cảm với một cậu bé nghèo, cái tính tất nhiên của người đàn bà là sẽ dần dà thăm hỏi đến gia đình, thân thế, bố mẹ ra sao? v.v…

Lúc đầu, cậu tỏ ra không muốn nói về cuộc đời bất hạnh hẩm hiu của mình, sau thấy bà già nghèo tử tế nên dần dần kể sự tình…

Cậu chẳng biết bố mẹ là ai cả. Ngay từ lúc 4- 5 tuổi đã đi làm con nuôi cho người ta. 9- 10 tuổi phải đi ở , hầu hạ nhiều người. Rồi phiêu bạt đi làm đồn điền cao su đầy gian chuân, cực khổ. Cuối cùng, trôi dạt về Sài Gòn thân cô, thế cô, phải đi đạp xích lô mưu sinh.

Bà bán nước, đã biết về câu chuyện của bà chủ nhà, nên cũng hơi nghi, vì vậy hỏi tới:

– Thế cậu có nhớ ngày xưa bố mẹ cậu như thế nào không?

Cậu trả lời, mường tượng, lúc nhỏ sung sướng, được mặc quần áo đẹp, được ngồi xe với bố có người kéo…Bà bán nước càng hỏi tiếp, hình như chạnh nỗi niềm đau buồn, cậu không muốn trả lời nữa, và trả tiền, đứng dậy đi.

Bà bán nước tưởng tượng, càng suy nghĩ, biết đâu đây chả là chuyện cơ trời, nên chiều đó, sau khi gửi phản, ghế, bà nói với người giúp việc muốn gặp bà Hân.

Khi gặp bà chủ nhà, bà bán nước thuật lại câu chuyện về người đạp xích lô trẻ tuổi. Đến đây ai cũng hiểu. Có bệnh thì vái tứ phương. Khi nỗi lòng của bà Hân như vậy, hỏi sao lòng bà chả xốn xang, bồi hồi, mong sớm gặp người xích lô đó để hỏi rõ đầu đuôi. Vì thế bà Hân vồn vã dặn:

– Khi nào cậu ấy đến, bà dẫn vào đây ngay cho tôi hỏi chuyện.

Ngày hôm sau, và cả mấy ngày sau nữa; bẵng đi bốn năm ngày không thấy cậu xích lô đó lại, khiến bà hàng nước lẫn bà Hân càng nôn nóng, bồn chồn mong đợi.

Mãi tới hơn một tuần sau; vào một buổi chiều mưa giăng ẩm ướt, cậu xích lô ướt át ghé lại bà hàng nước. Bà hàng tíu tít hỏi:

– Sao mấy bữa nay cậu không ghé đến?

Sau khi rót ly nước trà để đó, bà hàng vội vàng bấm chuông vào nhà bà Hân. Chừng 5 phút sau, bà hàng nước hơ hải ra bảo:

– Này cậu, mời cậu vào đây chơi một tí đã!

Y tỏ vẻ không muốn vào, nên lắc đầu. Bà hàng nước lại vồn vã như níu kéo:

– Cậu vào đây một chút thôi mà, đàng nào trời cũng đang mưa, cho bả chủ ở đây hỏi thăm cậu một câu chuyện.

Rồi đến lúc bà hàng nước phải cầm tay lối kéo, y mới miễn cưỡng đi theo. Ngay khi bà Hân thấy người xích lô bước vào nhà, ánh mắt của bà hình như đã tràn đầy tình thương yêu, mặc dù bà chưa thấy dấu hiệu nào chứng tỏ người con trai ấy là con bà. Lòng bà bồi hồi xốn xang, đến nỗi bà quên cả mời người xích lô đó ngồi. Khi bà mời, cậu xích lô ấy dè dặt ngồi xuống chiếc ghế gụ cạnh bàn, đầu cuối gầm. Bà hàng xóm cũng thấy lòng không yên, bỏ cả quán nước để mong được chứng kiến cái giây phút hồi hộp rấp ranh này. Mãi sau, như dằn được lòng xốn xang, bà Hân mới hỏi với một giọng còn xúc động:

– Cậu bây giờ có họ hàng thân thích gì không?

Y lắc đầu mà không nói.

– Cậu có nhớ ngày xưa, gia đình cậu như thế nào không?

Y vẫn đăm chiêu im lặng. Bà lại hỏi, trong niềm nghẹn ngào dâng trào:

– Có phải cậu nhớ, lúc nhỏ cậu đi xe với bố có người kéo phải không?

Y gật đầu. Bà Hân nôn nóng, tiếp tục hỏi:

– Cậu cố nhớ lại xem, lúc nhỏ cậu hay chơi gì, làm gì?

Y nhìn ra phía cửa sổ, mắt như dõi về một phía trời xa, về những quãng đời ấu thơ. Tới khi bà Hân nhắc lại câu hỏi, y mới chậm rãi:

– Cháu chẳng nhớ gì rõ lắm….Cháu chỉ nhớ láng máng lúc nhỏ, cháu được bố mua cho con cù, con cù có cái đinh rất dài…..

Bà Hân mắt sáng lên long lanh, hỏi như hết hơi:

– Gì nữa?

– Cháu có một quyển sách, có hình con rùa, bố cháu dạy cháu tô theo bằng bút chì màu đỏ.

– Còn gì nữa không cháu?

Y càng cúi gằm, trong khi không khí căn buồng như rên lên, căng đầy xúc động đợi chờ, cuối cùng y giơ ra ngón tay cái trái, chỉ vào một cái sẹo nhỏ, ngập ngường nói:

– Một lần ở bếp với mẹ, cháu nghịch dao, đứt tay chảy máu. Mẹ đã khóc.

Không kìm được nữa, bà Hân xô đến, ôm chầm lấy cậu xích lô, nước mắt chan hòa, nức nở:

– Ôi, con ơi!

Y cũng khóc, cả bà bán nước người ngoài cũng nước mắt vòng quanh. Hình như bao nhiêu niềm thương nỗi nhớ của tình mẫu tử thiêng liêng bây giờ cuồn cuộn chảy ra theo giòng nước mắt, bà hổn hền tưởng như xỉu đi, dù vậy bà vẫn cố gắng lôi tay đứa con yêu:

Con ơi! Con cù và quyển sách của con má vẫn giữ, vì đó là di vật duy nhất của con, má vẫn để ở ngăn tủ đầu giường má.

Bà vừa nói vừa kéo người con trai lên gác. Bà rối rít hết sờ mặt, xoa tay, lại vuốt lưng cậu xích lô thân yêu, trong khi bà bán nước cũng lây nỗi vui mừng, cứ chạy lăng xăng hết đầu này, đầu kia chẳng biết làm gì cả.

Ngay chiều hôm ấy, bà Hân báo tin gọi người em trai về. Thôi thì cậu cháu, mẹ con hàn huyên nỗi niềm máu mủ ruột thịt, của buổi trùng phùng nước mắt đầy vơi.

Thương bà chị cả cuộc đời cô đơn heo hút, ông cậu nhìn thằng cháu khoẻ mạnh, khôi ngô, ông hứa sẽ đem hết khả năng dạy dỗ, nâng đỡ đứa cháu yêu đến khi thành đạt. Ông bàn, nào là đón giáo sư về kèm cặp, nào là tập lái xe để chở mẹ đi chùa,v…v…Ngôi nhà giờ đây tràn ứ đầy sự sống, sự ấm cúng và niềm vui tươi.

Riêng tên điệp viên, ngay khi vào Sài Gòn đã được cấp trên y chỉ định phải thường xuyên liên lạc, cặp bồ với cô Ngân làm chiêu đãi viên cho một quán cà phê ở ngã Bảy, để dự phòng, nếu sau này bà Hân và ông cậu bắt lấy vợ thì phải cương quyết đòi lấy cho bằng được cô Ngân. Dĩ nhiên, cô Ngân cũng trong mạng lưới hoạt động của Cộng Sản ở Sài Gòn.

Đến đây, mọi việc tường êm xuôi trôi lọt như ý Việt cộng mong muốn, nhưng không, trái lại đã bắt đầu trục trặc. Nguyên nhân cũng chỉ vì diễn viên đã không khéo đóng trọn vai trò.

Bà Hân tin tên xích lô là con nên tình bà vẫn thắm thiết thương yêu. Ngược lại, y biết y không phải con bà. Mẹ y hiện đang ở ngoài Bắc. Lúc đầu, vì cố gắng nổ lực để công tác thành công, nên y đã xuất thần thủ đúng vai trò. Sau một thời gian, những biểu lộ thương yêu với người mẹ giả trở nên cứng ngắc, không có hồn. Nỗi buồn của bà càng ngày càng khoét sâu, càng lớn. Bà thổ lộ với người thân quen và tất yếu, cả với em trai.

– Tôi không hiểu sao, tôi thương yêu nó như trời biển, nhưng hình như có cái gì ngăn cách, tôi chỉ cảm thấy sự tẻ nhạt, gắng gượng ở bên trong của nó.

Sự phàn nàn, ca thán của bà dần dần đến tai những nhân vật phản gián. Một sự việc không bình thường! Tình mẹ con ruột thịt là sự thiêng liêng, phải có những chiếc dây vô hình gắn bó. Thấy một sự không bình thường thì phải đặt vấn đề. Mà nguyên tắc tình báo cũng như công an, nếu đã đặt vấn đề thì phải tìm mọi cách để biết rõ hư thực của vấn đề đó, cho nên, họ đã dùng chính ông cậu trong nhà làm tấm bình phong để bí mật theo dõi và phanh phui sự việc.

Gần một năm sau, trọn ổ gián điệp vùng đó đều bị sa lưới.

Trở lại nhiệm vụ phụ:

Dale và Brown mang đến hai chiếc máy bay MIG –15 và MIG- 19 dài chừng 20 phân, nhưng thật tinh vi, sắc sảo như máy bay thật, thu nhỏ; với đầy đủ cả động cơ, phù hiệu, cờ quạt…..Hai ông đã giảng cho tôi rõ ràng tính năng từng loại; để suốt quá trình thời gian tôi ở miền Bắc, nếu thấy loại máy bay đó trên bầu trời, về báo lại.

Ngoài hai máy bay MIG, hai ông còn đưa tôi xem hai cuốn sách có hình mầu: lon, phù hiệu các binh chủng, từ lính cho tới nguyên soái; cả y phục mùa Đông cũng như mùa Hè của quân đội Trung Cộng và Bắc Triều Tiên.

Ngoài ra, trong thời gian ở Hà Nội, tôi phải quan sát các hiện tượng ngoài đường phố. Theo dõi các báo chí, phát thanh những đơn vị nhỏ tập tành. Tiếp xúc quan hệ với mọi từng lớp người dân, v.v…Để từ đấy đánh giá (nếu ghi được số lượng cụ thể càng tốt) những điều tai nghe mắt thấy, nói chung về chính trị, kinh tế, văn hóa, quân sự, xã hội…và tư tưởng chung của quần chúng, cán bộ, bộ đội.

8. Những “Vỏ Bọc”…

Vỏ bọc I

Tôi sẽ đóng vai là một học sinh trường trung học Phổ Thông cấp III ở Vĩnh Linh với tên là Lê Viết Hùng, lý lịch giả như sau: gia đình bố mẹ tôi, do đói kém, loạn ly năm 1945, đã phiêu bạt từ Nam Định vào lập nghiệp ở xã Vĩnh Quan, Vĩnh Linh. Bố tên là Lê Văn Thông, mẹ là Vũ Thị Sàng. Tôi có 3 anh chị em: chị Lê Thị Thu, em trai Lê Tuấn. Tôi phải nhớ tên: Giám hiệu trưởng Phổ Thông cấp III Vĩnh Linh, chủ tịch và phó chủ tịch huyện V.L., chủ tịch và phó chủ tịch xã Vĩnh Quang. Và, vì tôi cũng là đoàn viên thanh niên, nên tôi cũng phải biết tên của bí thư và phó bí thư chi đoàn. Ngoài ra, tôi phải biết một số sự kiện lớn xảy ra ở Vĩnh Linh, nhất là ở xã tôi, vùng giáp ranh khu phi quân sự.

Qua những tin tức cố định trên, tôi sẽ tùy theo trường hợp để ứng biến sao cho hợp lý.

Tôi (Lê Viết Hùng) có nhiều triệu chứng mắc bệnh tim đã lâu, bây giờ càng ngày càng trầm trọng hơn, nên đã xin được giấy giới thiệu của thị trấn Vĩnh Linh về Hà Nội nhân dịp He để đến nhà thương Việt Đức điều trị.

Tôi mang theo đủ giấy tờ hợp lệ: Giấy giới thiệu chữa bệnh, thẻ học sinh, giấy nghĩa vụ quân sự, thẻ đoàn viên, giấy thông hành thời hạn một tháng, có chữ ký của công an trưởng huyện Vĩnh Linh.

Vỏ bọc này, tôi phải nghiên cứu và học thuộc lòng, sao cho từ nếp suy nghĩ đến hành động, coi như mình là Lê Viết Hùng có thực bằng xương bằng thịt.

Để thực tập, tôi phải đến gặp ba, bốn lần một người lạ rất hách dịch, đóng vai công an Cộng Sản, lúc thì ở khách sạn Catinat, lúc thì ở Majestic. Ông ta hạch sách, nạt nộ tôi đủ điều, hỏi những câu bất chợt lắt léo, xem tôi có trả lời hợp lý hay không. Tôi còn nhớ lần cuối cùng, khi nói chuyện vãn, ông tự giới thiệu tên là Đang đã từng sống và làm việc cho Cộng Sản nhiều năm, (ông không nói, nhưng tôi đoán hẳn ông đang làm việc cho Cục), ông nói:

Tôi nói thực với Bình, cái chính là đừng để cho công an của Cộng Sản nghi ngờ. Khi nó đã đặt thành vấn đề nghi mà sát hạch thì “mả bố ở đâu, mà nó bảo đào đưa cho nó, thì cũng phải đào.”

Kể ra, ông không nên nói câu đó, nhất là với một nhân viên sắp vào đất địch, chỉ làm hoang mang tinh thần của người đi. Sau này càng nghĩ, tôi lại càng thấy những người huấn luyện mình thiếu ý thức, thiếu tinh thần trách nhiệm, vì thiếu lý tưởng thực sự!

Vỏ bọc II

Trong trường hợp bị Cộng Sản bắt giữ. Nếu vì lý do nào đó, Cộng Sản không tin hoặc đã xác minh giấy tờ đều là giả mạo và tôi không phải là Lê Viết Hùng ở Vĩnh Linh. Lúc đó, tôi sẽ khai:

Gia đình bố mẹ, gốc tích thực, nhà nghèo. Học hành thi hoài không đậu, chán chường, nhưng tính thích làm những việc táo bạo, không sợ nguy hiểm miễn việc đó có tiền để giải quyết cuộc sống và giúp đỡ bố mẹ già. Do bạn bè giới thiệu, tôi gặp một ông tên là Lân. Vì là nhân vật tưởng tượng, nhưng lại cần nhớ chi tiết để đề phòng sau này công an hỏi lại, do đấy, tôi phải lấy một người có thật để mô tả, và tôi đã lấy hình dáng một ông cậu to lớn, béo tốt, chủ một hảng xuất nhập cảng ở Sài Gòn, để tả về ông Lân.

Ông Lân thường hẹn gặp tôi ở một quán nước. Sau một, hai lần thăm dò, nói chuyện, biết về con người và tâm nguyện của tôi, ông đi thẳng vào vấn đề: Ông có “truy- ô” nhiều thuốc Tây quý cần tiêu thụ. Ở ngoài Bắc, các loại thuốc này vô cùng hiếm nên giá rất cao. Vậy, nếu tôi muốn làm giầu, phải mạo hiểm. Ông sẽ lo giấy tờ giả cho. Tôi sẽ bí mật, lén lút lội qua sông Bến Hải, đem theo hơn một chục mẫu loại thuốc quý, móc nối, mua bán đặt hàng với những con buôn bí mật có thể lực ở Hà Nội. Sau này, lời lãi sẽ chia đôi, ông đó một nửa và tôi một nửa. Còn bây giờ, tốn phí ông đài thọ và cho tới khi đi sẽ trả trước cho tôi 10.000 đồng.

Một hôm, Dale và Brown dẫn đến một người Mỹ khác khoảng 40- 45 tuổi, giới thiệu là bác sĩ Harry. Ông Harry đưa gần 20 lọ thuốc Tây, chỉ dạy cách dùng và tính năng của từng loại. Theo ông Phan, cho tới ngày tôi đi, Harry cũng sẽ là bác sĩ riêng của tôi để săn sóc sức khoẻ và những cần thiết về y lý cho chuyến đi.

Vỏ Bọc III

Sau khi khai vỏ bọc II, nếu Cộng Sản vẫn không tin, hoặc tìm ra được những chứng cớ cụ thể là tôi nói láo, không đúng, có thể chúng sẽ cùm kẹp tra tấn, tôi không thể chịu đựng nổi, lúc bấy giờ tôi sẽ dùng vỏ bọc III. Vẫn chưa là chuyện chính trị.

Phần thân thế, gốc tích gia đình cũng như vỏ bọc II, vì đó là thực tế. Cảnh học hành, thi cử cũng chỉ ăn vỏ chuối nên chán chường, và tính tình thích làm những chuyện mạo hiểm cũng vậy. Phần khác biệt. Do quan hệ xã hội, đã được một người quen giới thiệu với sư bà Đàm Hướng ở chùa Phước Hải, khu Vườn Chuối, Phan Đình Phùng Sài Gòn, nội dung như sau:

Trong thời Pháp thuộc trước 1945. Sư bà Đàm Hướng và sư ông Tuệ Chiếu là hai sinh viên yêu nước thiết tha, nhục nhã đau lòng trước cảnh dân tộc bị thực dân Pháp thống trị. Hai ông bà nối chí những bậc cách mạng tiền bối như Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Nguyễn Thái Học v.v… Đã bí mật hoạt động trong giới sinh viê ở Hà Nội, gây nên nhiều vụ chống đối sôi động, với bọn cầm quyền thực dân và đã bị chính quyền thực dân, ra lệnh truy lùng ráo riết.

Hai ông bà không những là đồng chí mà còn là đồng sàng, vì cùng nhau đã trải qua nhiều gian nan nguy hiểm nên hai trái tim đã cùng rung đều một nhịp. Trước sự truy nã lùng sục của mật thám, để che mắt chúng, và cũng để tỏ với chúng là mình đã chán chường cuộc đời, hai người đều xuống tóc, núp bóng cửa thiền. Ông thì tu ở chùa Quan Thánh Hà Nội, pháp danh là Tuệ Chiếu; còn bà tu ở đâu, tôi không biết, chỉ biết pháp danh là Đàm Hướng, hiện trụ trì ở chùa Phước Hải, Vườn Chuối Phan Đình Phùng Sài Gòn.

Sau khi Việt Minh cướp được chính quyền, chúng lòi ra ý đồ diệt tôn giáo. Bề ngoài cổ vũ “Lương Giáo đoàn kết” để chống Pháp, xây dựng đất nước. Bên trong thì chúng ngấm ngầm tìm mọi điều kiện, lợi dụng mọi mâu thuẫn tôn giáo để kích động, khơi sâu mối chia rẽ. Nghĩa là, luôn luôn đổ dầu vào những đốm lửa mâu thuẫn, dị biệt của tôn giáo. Nhìn rõ trái tim đen bẩn thỉu của Cộng Sản, sư ông Tuệ Chiếu và sư bà Đàm Hướng đã dùng khả năng và uy tín vạch trần ý đồ nham hiểm của Cộng Sản trước tín đồ, và còn ngấm ngầm trao đổi bàn luận cùng bên Công giáo, lập ra Mặt Trận Liên Tôn Diệt Cộng mà chủ tịch là sư ông Tuệ Chiếu và phó chủ tịch là linh mục Hoàng Quỳnh cùng nhiều nhân vật lãnh đạo trong Mặt Trận.

Sư ông Tuệ Chiếu và nhiều người khác đã bị Cộng Sản bí mật thủ tiêu ngay. Chỉ vì khi đó phía Phật giáo chưa có sự đoàn kết thống nhất, nên chưa có áp lực mạnh với Cộng Sản. Còn linh mục Hoàng Quỳnh, trước áp lực sức mạnh của quần chúng Công giáo, chúng đã không dám giết ngay. Công giáo khi ấy đã là một tổ chức thống nhất nên Cộng Sản ít nhiếu kiêng nể. (Tôi nói thời gian đó thôi, vì lúc đó chúng chưa mạnh, chúng còn cần sự giúp đỡ hoặc không chống phá của Công giáo. Chứ sau 1975, chúng không còn e dè nể nang gì cả.)

Chúng chỉ dám quản thúc linh mục Hoàng Quỳnh ở nhà thờ Lạc Đạo, thuộc địa phận Bùi Chu. Con chiên vẫn được phép thăm nuôi bình thường, theo quy định.

Sư bà Đàm Hướng nghe tin chồng chết, quá đau thương, chỉ còn đành tìm xác người chồng bất khuất, chết anh hùng, oanh liệt hy sinh cho dân tộc, bí mật đem về thành Hà Nội, vùi lấp ở nghĩa trang Hợp Thiện Bắc Việt.

Hội nghị Genève chia đôi đất nước, bà cùng đứa con trai di cư vào Nam.

Vào Nam, tuy vẫn ở trong cửa Phật, nhưng bà vẫn không quên quê hương dân tộc, nên ngay trong chùa cũng như ngoài xã hội, bà diễn thuyết cổ vũ, khích lệ, tổ chức đoàn thể với mục đích chống kẻ tử thù Cộng Sản. Ngoài ra, từ ngày vào Nam, bà cũng còn ấp ủ trong trái tim một điều thầm kín nhất, là bà ước mong có cách gì đó, hay có ai ra miền Bắc, bà sẽ không tiếc tiền để xây cho ông một nấm mồ yên ấm. Gọi là chút lòng của người đồng chí, của người tình, của người vợ, đối với người ngàn đời kính yêu đã ra về nơi ngút ngàn mây gió, hy sinh vì Tổ Quốc.

Chính với nỗi niềm ấy của bà, nên khi gặp tôi, một thanh niên, cành đời đã làm cho bất đắc chí, và sau nhiều lần tìm hiểu, bà rất mừng rỡ. Bà sẽ lo liệu giấy tờ giả cho tôi để vượt tuyến. Bà sẽ trả cho tôi 100.000 đồng sau khi hoàn thành công việc. Trước khi ra đi, bà sẽ đưa trước cho tôi 10.000 đồng để giúp đỡ gia đình bố mẹ già. Tôi sẽ trốn qua sông Bến Hải về Hà Nội, mang theo một lá thư của bà gửi cho ông Thẩm Hoàng Tín, thị trưởng thành phố Hà Nội hồi 1954. Ông là dược sĩ, trước có hiệu thuốc Tây ở Hàng Da Hà Nội.

Ông Tín là bạn chí thân của hai ông bà. Nội dung lá thư nhờ ông Tín vì tình bạn thiêng liêng đứng trông nom xây cho ông Tuệ Chiếu một ngôi mộ gọn ghẽ khang trang.

(Sau hội nghị Genève 1954, lý do tại sao một đương kim thị trưởng của thủ đô Hà Nội vẫn ở lại với Cộng Sản, không di cư vào Nam sẽ được đề cập ở chương “Những bài học xương máu với Cộng Sản”.)

Chính Hoàng Công An đã dẫn tôi đến chùa Phước Hải gặp sư bà Đàm Hướng mấy lần, để tôi nhìn rõ cảnh sinh hoạt của chùa và con người của bà. Tôi cũng đã gặp người con trai của sư bà, lúc đó 19 tuổi, đang theo phần II Tú Tài, năm 1961.

Vỏ Bọc IV

Đến đây, thì đành phải nhận ra Bắc vì chính trị. Theo chỉ thị của Cục, vỏ bọc IV, đồng thời cũng là vỏ bọc cuối cùng, dù tôi có phải nhận mã tấu hay ăn kẹo đồng.

Đến giai đoạn này, Cộng Sản đã cùm kẹp tra khảo, khai thác nhiều. Chúng đã nêu ra đầy đủ băng cớ những điều tôi khai báo là sai. Vậy, nếu bị đánh đập, hành hạ đến lúc cơ thể không thể chịu đựng được nữa, lúc đó sẽ khai theo vỏ bọc IV: Là trung sĩ trong đại hội thám báo của sư đoàn 7, thích làm những chuyện mạo hiểm và coi thường những việc khó khăn mà nhiều người khác e sợ, v.v… Trong quân ngũ, lần lần quen biết Trung úy Xương nên nha an ninh quân đội. Ông này đã giới thiệu với bên tình báo. Cuối cùng, tôi được về Sài Gòn dự lớp đào tạo và huấn luyện trong 3 tháng ở một ngôi nhà thuê trong xòm Cầu Cống, khu Khánh Hội (nếu nói ở khách sạn, building, Cộng Sản sẽ để ý những nơi ấy, sẽ gây khó khăn cho những lớp huấn luyện sau này.) Chỉ nói một số lớp học hợp lý, thời gian huấn luyện ngắn và học tập sơ sài để địch đánh giá sai mức độ, khả năng của nhân viên tình báo miền Nam.

Chỉ một người huấn luyện duy nhất, định tả ai phải nhớ người ấy. Chớ nói tới Mỹ, vì năm 1961 Mỹ chưa vào miền Nam nhiều. Huấn luyện nặng về lãnh vực quân sự, tính năng và các loại vũ khí của bộ đội miền Bắc thường dùng, v.v… Nhiệm vụ:

– Theo dõi sư đoàn 308 phòng thủ Thủ Đô Hà Nội. Do tên Thiếu tướng Vương Thừa Vũ làm tư lệnh.

– Tên tuổi, tính tình các cấp chỉ huy, càng xuống sâu càng tốt, nghĩa là đến cấp đại đội.

– Các loại vũ khí trang bị của sư đoàn.

– Những nơi bố trí đại pháo và xe tăng.

– Các phương tiện vận chuyển.

– Cách bố trí trại, địa hình chung quanh với các đường giao thông.

– Cách sinh hoạt học tập, huấn luyện.

– Các trang bị, quân trang, quân dụng.

– Tinh thần của bộ đội và sĩ quan.

– Khả năng chiến đấu và tinh thần chiến đấu.

Muốn biết được những tin tức này chính xác, tôi phải làm quen, chuyện trò, tâm sự với bộ đội trên đường phố Hà Nội. Tóm lại, khai gì, nói gì thì nói, nhưng không bao giờ được nói tới nhiệm vụ thực của mình cả.

9. Thăm Giòng Bến Hải…

Để phục vụ cho công tác COLUMBUS, tôi phải học và thực tập cũng như nghiên cứu về cách tiếp xúc với các linh mục. Trong một xã hội với bao chế ngự trong chính sách kìm kẹp của Cộng Sản đối với người dân, các linh mục đã có nhiều kinh nghiệm xương máu, cho nên dù trong lòng có muốn tiêu diệt Cộng Sản đến đâu chăng nữa, cũng không thể vội vàng lớ ngớ tham gia vào những chuyện không mấy tin cẩn để thiệt thân, chết lây. Do đó, là một cán bộ tình báo miền Nam, trước hết tôi phải tỏ ra điềm đạm, bình tỉnh, đủ khả năng, bản lĩnh xoay chuyển tình thế nếu gặp sự bất thường. Thêm nữa, các linh mục là những người có địa vị, có học, vậy ít ra tôi phải có kiến thức về nhiều mặt của xã hội, cộng với tư cách, tác phong. Có như vậy, tôi mới khả dĩ lôi cuốn được các linh mục. Thế mà tôi lại không đủ sức, cho nên tôi rất băn khoăn.

Sau đấy, tôi thực tập rất nhiều buổi tiếp xúc với một, đôi người lạ, đóng vai các linh mục ở miền Bắc. Ông An cũng như ông Phan, và cả những người tôi phải tiếp xúc thực tập, đều nói:

– Thế là Bình làm được rồi!

Tôi nghĩ, bắt buộc họ phải nói “được rồi,” chả lẽ nói “không hay chưa được,” làm sao tôi đi!

Tôi yêu cầu cho tôi được tiếp xúc với một người nào đó đã ra ngoài Bắc vửa mới trở về để học hỏi kinh nghiệm. Sự yêu cầu này đã không được đáp ứng, và cũng không được trả lời. Lúc đó, tôi ngây thơ nghĩ rằng, có thể vì sự ngăn cách an ninh về cả hai phía, cho nên lời yêu cầu của tôi đã không được giải quyết. Sau này khi ra miền Bắc, có điều kiện nhìn được thực tế, cũng như có thêm được một số kiến thức để phân tích và lý luận, tôi thấy những điều tôi nghĩ trước kia là không đúng.

Để đáp ứng lời yêu cầu của tôi, thay vào đó, Cục cho tôi gặp 4 người vượt tuyến mới nhất. Thậm chí có người chỉ mới vào nửa tháng, ở Trung Tâm Tiếp Đón đồng bào vượt tuyến bên Gia Định. Tôi và An đóng vai nhân viên Phòng Báo Chí phủ Tổng Thống cầm giấy giới thiệu sang gặp Thiếu tá (tôi quên tên) Trưởng trại.

Tôi sang hai lần, mỗi lần gặp hai người, mỗi người gặp vào một giờ khác nhau. Hôm đầu, chúng tôi tiếp xúc với một người là bộ đội và một người là giáo viên cấp III, trường Thăng Long Hà Nội. Hôm sau, một người tài xế xe đò, một người là giáo viên cấp II ở Thanh Hóa. Dĩ nhiên, tất cả những người này kể cả trưởng trại; không thể hiểu ý đồ thực của chúng tôi. Để đánh lạc hướng, thỉnh thoảng chúng tôi mới xen vào giữa những câu phỏng vấn thông thường, vô bổ là một số câu hỏi câu hỏi cần thiết mà chúng tôi muốn tìm hiểu. Bốn cuộc gặp gỡ này đã giúp chúng tôi hiểu biết nhiều vấn đề, rất hữu ích khi tôi ra Bắc.

Trên tấm bản đồ quân sự loại lớn, bằng giấy dầy, bóng. Từng miếng 40×60 phân, ghép lại kín cả nền một căn phòng rộng. Hàng ngày, Brown và Dale hướng dẫn tôi nghiên cứu về quốc lộ 1 (từ Vĩnh Linh ra tới Hà Nội,) khu phi quân sự; thành phố Hà Nội, tỉ mỉ, chi tiết; nhất là khu phi quân sự Bắc và huyện Vĩnh Linh. Để phòng hờ biết bao tình huống có thể trục trặc không đón được tôi; tôi phải về bằng đường bộ. Vì thế, tôi đã hai lần phải ra tận bờ sông Bến Hải; dùng ống nhòm quan sát thực tế các điểm chuẩn, của khu phi quân sự Bắc.

Một điều tôi không quên, một lần tôi và Hoàng công An xuống trường bay Phú Bài. Người trách nhiệm đón chúng tôi không ai xa lạ, lại chính là ông Hương. Ông Hương và tôi nhìn nhau ngỡ ngàng, ngạc nhiên. Chính An cũng ngạc nhiên không ít, không hiểu sao tôi lại biết ông Hương từ trước.

Từ ngày tôi bị loại ra khỏi lớp học đặc biệt, tôi chỉ nghe Lý nói loáng thoáng là ông Hương sau này mắc khuyết điểm gì đó về tài chính, nên không còn làm Giám Đốc lớp học đó nữa. Có lẽ do ý thức nghề nghiệp cho nên khi bắt tay tôi, ông Hương chỉ nói:

– Bình vẫn như xưa, tay hay gầy, nhưng vẫn đẹp trai!

Ông không hề nhắc nhở đến những chuyện cũ ở số 2 J.J. Rousseau. Ông Hương sau đó, lái xe đưa chúng tôi về một khách sạn ở Huế. Những ngày ở đây, đêm ngủ, luôn luôn có người canh gác tôi. Cũng từ đó cho đến gần cuối cuộc đời, lúc thức cũng như lúc ngủ; lúc nào tôi cũng có người canh gác. Cứ nghĩ đến, tôi lại nhếch mép tự mỉm cười.

Ông Hương lái xe đưa chúng tôi vào khu phi quân sự. Trong rừng bên này bờ Nam, tôi thấy đó đây có những người mặc đồ nâu, gài một miếng vải đỏ bằng hai đốt ngón tay ở khuy áo, lầm lũi canh gác. Có lẽ họ đã giấu súng trong người. Qua ánh mắt và thái độ của họ, tôi hiểu ông Hương là người chịu trách nhiệm chỉ huy toàn bộ hệ thống canh gác bờ phía Nam.

Tôi ngắm giòng Bến Hải. Con sông đã đi vào lịch sử đau thương của dân tộc, vẫn lững lờ chảy xuôi về phía cầu Hiền Lương. Đây đó, một vài chiếc thuyền nan chài lưới phía bờ bên này, cũng như phía bờ bên kia. Tôi biết những người dân “chài lưới” này, dứt khoát không phải là dân bình thường. Bởi vì theo thỏa hiệp Genẻve giữa hai bên: Ranh giới hai miền là giữa giòng sông Bến Hải, và giữa cầu Hiền Lương. Vậy, vì lý do vô tình hay hữu ý, những thuyền này lấn sang khỏi ranh; phía bên kia có quyền bắt giữ. Lúc đó, những người dân chài này không còn thuộc quyền kiểm soát của bên bờ cũ nữa.

Tôi đi sát dọc bờ sông, có chỗ hai bờ cách nhau chỉ chừng ba chục mét. Nhìn thấy cô gái áo nâu, phía bên kia bờ, quần đen lăng xăng, chạy ra, chạy vô tưới mấy luống rau. Lòng tôi bỗng bâng khuâng, mắt dõi về hướng Bắc xa vời, nơi có Hà Nội cam go đợi chờ. Bất chợt, các cô ấy rối rít vẫy tôi, miệng cười duyên. Ý các cô ấy muốn tôi lội xuống nước, bơi sang. Thấy vậy, ông Hương nói với tôi:

– Tất cả những người dân tron khu phi quân sự Bắc, đều bị Cộng Sản bắt rời khỏi, ra ngoài 5 cây số, kể từ bờ Bến Hải. Rồi chúng đưa toàn công an mật vào, làm nhà cửa, cầy cấy, trồng tỉa như thường dân. Bình hãy dùng ống nhòm nhìn kỹ vào trong rừng sẽ thấy có những vật di chuyển; thậm chí còn có người bí mật ngồi trên cây canh gác nữa.

Đúng như vậy! Sau này, tôi thấy biết bao người vượt tuyến, bị bắt với bao nhiêu tình huống cười ra nước mắt ở trong nhà tù Cộng Sản.

Nhìn chéo xa xa phía bên kia, ngôi nhà thờ Hải Cụ bị rêu phong và cây cối che phủ, chỉ còn là một hình thù xám xịt, nhô lẫn trong lùm cây xanh. Cảnh hoang liêu cô tịch của nhà thờ khiến lòng tôi tím thẫm. Tôi hình dung đến cảnh sống của người dân Công giáo miền Bắc; hẳn không khỏi khắc khoải tối tăm.

Ông Hương bổng nói:

Sông Bến Hải, đi ngược quá vào phía trong; mùa nước cạn, nhiều chỗ chỉ cần xắn quần lội qua cũng được.

Giòng sông nhỏ bé và nông cạn như thế! Vậy mà nó đủ sức ngăn đôi một dân tộc, trong bao nhiêu năm trường! Đối với một dân tộc có truyền thống thương yêu, đùm bọc của người cùng một nước:

Nhiễu điều phủ lấy giá gương.

Người trong một nước phải thương nhau cùng.

(Ca dao)

Vậy, lỗi này do ai?

Sau khi về tới Sài Gòn, cũng đã gần tới ngày lên đường, do đó, một số công việc còn lại cần phải làm khẩn trương và dồn dập hơn. Tôi phải tập xử dụng một số loại thuốc hóa trang, hồng ngoại tuyến…..

Một điều tôi quên. Khi đi vào đất địch, tất yếu tôi sẽ gặp muôn ngàn điều chưa thể biết. Vì vậy, để phòng hờ; từ hơn hai tháng trước, Phan đã đưa cho tôi một chiếc nhẫn bạc mặt vuông có khắc chữ thọ. Chiếc nhẫn này, cũng như trăm ngàn chiếc khác; chỉ khác một điểm là, mặt trong có đóng chìm xuống con số 42. Phan bắt tôi đeo, nhìn cho quen mắt và phải nhớ nhập tâm. Phan cũng còn đưa cho tôi một tấm hình cỡ 6×9, hình chùa Một Cột ở Hà Nội. Phía sau lưng và góc trên của tấm ảnh, có ghi con số 1618 nhỏ xíu bằng bút chì. Tôi nhớ được con số 1618, vì nó liên quan đến ngày tôi trao tài liệu M.

Hơn một tuần sau, Phan lấy lại và hỏi:

– Bình đã nhớ chưa?

Tôi gật đầu, Phan nói tiếp:

– Nếu sau này, bất cứ ở đâu, thời gian nào và bất cứ ai đưa tấm hình này ra; thì người đó chính là người sẽ trao lệnh của Sài Gòn cho Bình.

Một hôm, Dale và Brown đến gặp tôi, bảo:

– Hôm nay, Bình sẽ tập xử dụng bút chì mật.

Họ giải thích:

– Đây là một loại dụng cụ mới nhất trong ngành tình báo. Bút chì mật nhỏ bằng 2/3 của lõi bút chì thường. Dài độ 6 – 7 phân, mầu đen xám, không mùi vị. Một đầu hơi vát, nhờn nhợn, giống như một mẩu sợi ni lông thường. Brown và Dale nói là: Mẩu bút chì này hiện nay nếu muốn bán cho Cộng Sản hàng triệu nó cũng mua. Nó sẽ phân chất và sẽ biết cách phát hiện những chữ ta ghi, từ đó nó sẽ tìm ra được nhiều sự việc.

Bởi vì, khi ghi chép, nét chữ không có dấu vết. Muốn đọc, phải dùng một loại hóa chất đặc biệt bôi lên mặt giấy, chữ mới hiện ra. Điệp viên ghi tài liệu mật vào những khoảng trống trên ngay sách báo của địch. Thấy trước mặt, chúng cũng không biết; kể cả mẩu bút chì cũng vậy.

Tôi phải tập viết bằng mẩu chì mật này nhiều lần, trong nhiều ngày. Sao cho khi viết, không để lại vết gợn nào trên mặt giấy. Nghĩa là tờ giấy vẫn bình thường, và cũng không được mất nét chữ; sau này, khó đọc và khó đoán ra. Khi tôi ra tới miền Bắc, thực tế cho thấy, là thời gian này Cộng Sản chưa hế biết gì về bút chì mật. Tôi đã giấu mẩu chì này tới 1975, khi miền Nam thất thủ, tôi mới tiêu hủy.

Tôi đã biết rất nhiều loại mực để viết thư mật, nhưng tôi thừa nhận, loại chì mật là đơn giản và thuận tiện nhất. Có thể ngày nay, điệp viên của nhiều nước vẫn còn dùng.

10. Chọn Điểm Đổ Bộ…

Sau khi đã tập sử dụng thuần thục bút chì mật. Tôi bắt đầu phải nghiên cứu về phương tiện ra ngoài Bắc, và địa điểm tôi sẽ xâm nhập.

Ngay từ giai đoạn đầu, khi tôi mới tiếp xúc với ông Cẩn cũng như sau này gặp Hoàng Công An. Các ông đều nói, tôi sẽ phải đi dự một khóa huấn luyện về dù. Nhưng dần dần ít tháng sau; có thể do những diễn biến của điều kiện phòng thủ Bắc, Nam. Hoặc vì lý do gì khác tôi không rõ. Ông Phan nói rằng tôi sẽ ra Bắc, với bao nhiêu đại hình thiên nhiên phức tạp. Tụi Cộng Sản không thể giăng người ra canh gác suốt ngày đêm được. Hơn nữa, hiện nay hải quân của tụi Việt cộng hầu như rất yếu. Tầu tuần tiễu của chúng chỉ quanh quẩn gần bờ. Ít khi chúng dám lảng vảng ra ngoài khơi.

Theo ý kiến của Cục, chính tôi phải chọn vùng tôi sẽ đổ bộ. Vì như vậy, ít nhiều tôi đã quen thuộc địa hình, địa vật, bớt ngỡ ngàng hơn ở một vùng lạ. Đối với tôi, đây cũng là một vấn đề hơi nan giải. Vì khi ở miền Bắc, tôi còn quá bé; không biết được, hoặc nhớ được một vùng biển nào rõ ràng cả. Dĩ nhiên, điểm đổ bộ phải ở một vùng hoang vắng, xa thủ đô Hà Nội, nơi có địa bàn hoạt động của tôi. Tôi nghĩ ngay đến Đồ Sơn. Kỳ Hè 1953, tôi theo một số bạn bè xuống bãi biển Đồ Sơn Hải Phòng tắm, đến chiều tối mới về Hà Nội.

Khi tôi vừa nêu lên địa điểm Đồ Sơn, cả ba người: An, Dale và Brown đều lắc đầu, hoặc xua tay. Đó là cửa biển Hải Phòng, Cộng Sản canh gác rất cẩn mật, gắt gao; không thể đổ bộ được. Tôi moi óc nghĩ mãi, mới nhớ ngày xưa, khi tôi còn học tiểu học ở quê nhà (lúc ấy tôi mới lên 10), có lần nhà trường tổ chức cắm trại ở một miền rất xa, đó là Cồn Vạn. Chúng tôi phải đi qua một con sông rất to, sau này, tôi biết là sông Đáy. Tôi chỉ nhớ mơ hồ chỗ đó mọc rất nhiều thông, như rừng vậy.

Tôi tìm trên bản đồ chi tiết. Sau một lúc, tôi xác định được vị trí. Brown và Dale hẹn sẽ trả lời tôi sau. Họ còn nghiên cứu thẩm tra. Khoảng 3 ngày sau, họ đến cho tôi biết, vùng đó không thể đổ bộ được. Phía ngoài miền biển đó có đất bồi và những bãi sình lầy, lún thụt lẩn ra ngoài biển đến 5- 6 cây số. Hơn nữa, chỗ rừng thông phía bên trong. Hiện là mấy nông trường lớn, đã và đang xây dựng.

Với quãng đời thơ ấu của tôi, tôi chỉ biết có nơi đó, nên cuối cùng tôi nói:

– Tùy ở trên chọn cho tôi một địa điểm nào gần đấy, khoảng vài chục cây số cũng được. Tôi sẽ mò mẫm tìm vào quốc lộ Một để về Hà Nội.

Mấy ngày sau, Brown đến chỉ cho tôi trên bản đồ lớn. Chi tiết một vùng, thụt lùi về phía Nam:

Chỗ này đã được sưu tra, xác định, cách khoảng 30 cây số so với vùng Bình biết. Nằm giáp ranh giữa hai huyện Kim Sơn của tỉnh Ninh Bình và huyện Nga Sơn của tỉnh Thanh Hóa.

Tôi còn đang quan sát để nắm được một cách khái niệm về những tuyến đường, và những điểm chuẩn của khu vực, Brown lại nói tiếp:

– Nơi đấy là khu rừng non, dài hàng mấy cây số, lau sậy um tùm. Do đó, khi Bình đổ bộ lên, nếu thấy mệt mỏi có thể nghỉ ngơi tùy ý hàng tuần cũng được.

Nghe Brown nói vậy, tôi cũng yên tâm. Tuy nhiên, nhìn trên bản đồ, gần vùng đổ bộ. Trên đường về quốc lộ Một, có một con sông không to lắm. Tôi hơi băn khoăn, chỉ chỗ sông tôi sẽ phải vượt qua, hỏi:

– Chỗ này có cầu không?

Theo quan điểm của tôi khi ấy. Kế hoạch của một công tác bao gồm nhiều khâu. Nhiều khi chuẩn bị kỹ những khâu lớn, khâu khó khăn; nhưng đôi khi chính những việc nhỏ, rất vạch vãnh, lại quyết định sự thành bại. Chẳng hạn, điệp viên chỉ cần qua khúc sông ấy không có cầu, đò. Phải mò mẫm thăm hỏi, để rồi bị bắt ngay chỗ đó. Như vậy, những chuẩn bị chính yếu công phu ở Hà Nội để làm gì?

Tôi đã phát biểu ý kiến này với họ. Sau khi Hoàng Công An dịch lại, mắt Brown sáng lên, nhìn tôi vừa gật đầu, vừa nói:

– Đó là một ý kiến cần thiết, rất hay!

Họ hẹn sẽ trả lời sau, câu hỏi này. Thật là nhanh, tôi không ngờ. Chỉ 3 ngày sau, Brown và Dale đưa đến cho tôi 16 tấm không ảnh loại 40×60 phân. Hình chụp rõ ràng khu vực tôi yêu cầu. Con sông có một chiếc cầu và rất nhiều thuyền bè lớn nhỏ trên sông. Đồng thời cả hình quốc lộ Một và đường xe lửa từ Thanh Hóa về đến Hà Nội.

Lúc đó, chính sự việc này đã làm cho tinh thần tôi được nâng cao thêm qua hai yếu tố:

* Tin tưởng kỹ thuật khoa học chụp hình mà Hà Nội chưa biết.

* Ý niệm được mức độ quan tâm đến công tác của Cục cũng như của Mỹ.

Thời gian này càng gần tới ngày đi, một ngày đi đầy rẫy những hiểm nguy đang đợi chờ. Với muôn ngàn tình huống đang đợi chờ. Với muôn ngàn tình huống chưa biết. Nhiều lúc đi trên đường phố Sài Gòn, tôi nhìn cảnh tấp nập náo nhiệt xe cộ của đường phố, Nhìn dòng người quần áo đủ mọi mầu sắc ngược xuôi, với những nét mặt đầy vẻ hân hoan, háo hức nỗ lực đi vào cuộc sống ngày mai; mà tôi biết rằng sẽ đầy hương vị và tình người, tôi bâng khuâng. Tôi nhìn từng mái nhà, từng chòm cây, góc phố quen thuộc. Cảnh vật và con người như luyến lưu, như hẹn ước và cũng như giã từ.

Tâm trạng của người sắp từ giã cảnh sống này để đi vào đất địch. Như là đi sang một thế giới khác với những cảnh đời hoàn toàn xa lạ và những tình huống bất trắc, bạn bè thân thuộc không ai hay.

Càng gần ngày đi, tôi càng nhiều lần về với bố mẹ và các em.

Bố ơi! Mẹ ơi! Các em bé bỏng thương yêu ơi!

Những lúc vui đùa hàn huyên với các em. Nhìn dáng thơ ngây, hồn nhiên thân mật của các em. Tự nhiên, một nỗi niềm đã nén chặt trong lòng tôi, như muốn trỗi dậy đầy vơi. Để rồi thì, chỉ còn là những cái nhìn đắm đuối, nghẹn lòng như thần căn dặn: Rồi đây nếu anh ra đi không trở lại. Các em hãy thay anh trông nom, săn sóc bố mẹ. Ai có hỏi anh, các em hãy nói: Anh đã đi xa để trả nợ quê hương rồi, nhé! Nhưng, cả hai đứa em gái và một đứa em trai của tôi thật vô tình. Chúng vẫn cứ cười vui, đùa bỡn với tôi như thường. Các em không biết rằng trong lòng tôi sóng gió tơi bời. Thôi đành! Thời gian sẽ nói rõ với các em những gì lòng tôi muốn nói lúc này.

Buổi chiều cuối cùng, trước ngày lên đường, dù công việc chuẩn bị bề bộn. Tôi vẫn quyết dành ra hai tiếng về thăm bố mẹ và các em một lần nữa.

Khi tôi về, chỉ có bố tôi ở nhà, mẹ tôi đã đi nhà thờ chầu. Các em, đứa xin phép đến nhà bạn, đứa xin phép đi xem phim, không còn đứa nào ở nhà. Cảnh nhà vắng vẻ càng làm tăng nỗi niềm đang đè nâng tim tôi. Bố tôi, tuổi đã gần ngũ uần, dáng dấp còn nhanh nhẹn, cường tráng như người 40, nhờ vẫn thường xuyên ôn luyện quyền thuật. Người tưởng tôi về thăm nhà như mọi khi, nên người chỉ quan tâm nhắc nhở tôi một câu, mà người vẫn nói, ngay khi tôi còn nhỏ: “Văn ôn, võ luyện, mày phải thường xuyên luyện tập, để tay chân cứng chắc; tinh thần minh mẫn.”

Đến đây, tôi phải trình bày vài nét sơ lược về bố tôi. Khi chưa di cư, còn ở ngoài Bắc. Ông là một võ sư nổi tiếng của huyện. Có lẽ trong đời võ nghiệp, ông đã nhiều lần phải gục mặt, uất hận trước đối thủ. Vì vậy, người đã kỳ vọng vào đứa con trai đầu lòng. Mong rằng sau này nó sẽ làm được những điều mà người chưa, hoặc không làm được trong ngành võ thuật. Ngay từ khi tôi mới lọt lòng mẹ (bố mẹ kể chuyện lại.) Người đã ngâm, tắm tôi nhiều lần bằng những bài thuốc gia truyền, mà người đã dày công sưu tầm được. Người đã bắt tôi, một đứa bé 3 – 4 tuổi, tập đứng Trung bình tấn, Xà tấn, Đình tấn; tập những bài Quý Châu, Mai hoa và Hùng quyền; bắt đứa bé đó phải chịu bao nhiêu khổ luyện suốt mùa Đông rét mướt, cũng như những ngày Hè nóng nực; năm nay qua năm khác. Khi tôi 10 tuổi, người đã gửi gấm tôi cho nhiều võ sư mà người cho là có thực tài. Vị võ sư cuối cùng là Lã Giang Sơn (1948) với hỗn danh “Bạch Tượng.” một danh thủ có hạng của Trung Hoa. Âu đó cũng là một cơ may, cơ thể dẻo dai của tôi, sau này mới chịu đựng nổi những gian khổ trong cái nghiệp chướng của đời tôi.

Tôi nhìn vào đồng hồ đã một tiếng rồi, mãi không thấy mẹ tôi đi chầu về. Tôi đang băn khoăn chưa biết phải nói với bố tôi như thế nào, may quá, bố tôi đã bỏ lên lầu; tôi vội vàng xin phép để ra gặp mẹ tôi ở nhà thờ.

Trên đường đi, tôi miên man nghĩ đến mẹ tôi. Tôi vẫn chưa hiểu tại sao hình ảnh người mẹ vẫn đậm nét hơn hình ảnh của người bố ở trong tôi. Khi tôi vào đến cuối nhà thờ, nhìn thấy dáng mẹ tôi đang quỳ, tay lần tràng hạt, miện lẩm bẩm đọc kinh, đôi mắt người vươn cao trên bàn thờ, một mối xúc động đã dồn ứ trong tim tôi. Nhà thờ chỉ còn lại mươi ông già, bà cả ở lại cuối buổi chầu. Tôi tiến lên quỳ cạnh mẹ tôi. Người quay lại mở to mắt nhìn tôi ngạc nhiên. Ôi! Mắt mẹ tôi nhìn bao la mênh mông như đại dương! Tôi cảm thấy như bé nhỏ lại trong cái nhìn của bà mẹ. Mẹ ơi! Ôi, tình mẫu tử! Tôi nghĩ rằng, tất cả những ngôn từ đẹp nhất, cao quý nhất của loài người cũng không diễn tả hết được sự cao quý thiêng liêng của tình mẫu tử. Mẹ tôi biết là tôi có việc muốn gặp, nên người làm dấu thánh giá rồi hai mẹ con ra khỏi nhà thờ.

Vừa ra đến ngoài, người đã hỏi ngay, giọng băn khoăn:

– Mày lại có chuyện gì, lại về thế?

Chắc người thấy dạo này tôi về nhà luôn. Tôi nhìn xuống bàn tay mẹ tôi vẫn lần cỗ tràng hạt. Lòng tôi nghẹn lại. Làm sao tôi nói được, tôi về giã từ để đi vào nơi đầy bất trắc đang chờ đợi (có thề thuyền bị đắm ở biển khơi, bị công an, bộ đội kẻ thù bắt ngay trên biển và rồi trong đất liền. Có thể, còn lắm chông gai trên đất địch…) Mẹ ơi! Con sắp chia xa cùng mẹ. Có thể chẳng bao giờ con còn được nhìn thấy mẹ nữa.

Có lẽ vì thái độ của tôi, mẹ tôi cảm thấy một chuyện gì bất thường, nên người đặt tay lên vai tôi, giọng lo lắng:

– Con có chuyện gì, hãy nói thực với mẹ đi!

Chỉ một phút yếu lòng khiến mẹ tôi phải lo sợ, tôi vội vàng tươi nét mặt và cười toét:

– Có gì đâu, mẹ! Con về nhà không thấy, nên ra đây gặp mẹ. Vậy thôi!

Nét mặt lo âu của mẹ tôi biến ngay, người đập vào tay tôi mắng yêu:

– Bố mày, thế mà làm tao hết hồn!

Rồi mẹ tôi nói tiếp:

– Chủ nhật này, mày về đưa tao sang khu Bàn Cờ thăm bà bạn nhé!

Tôi chợt hiểu, lại vấn đề cô Nga, Thu Nga. Đã nhiều lần, bố mẹ tôi muốn tôi lập gia đình với con gái của bà bạn này. Làn nào tôi cũng khất lần với lý do sự nghiệp vẫn chưa thành, v…v…Điều chính khiến tôi, thoái thác là, tôi tự nghĩ, trong khi đất nước đang chia hai, xẻ ba, tôi không thể vội vã tìm chuyện ấm êm. Hơn nữa, đã thích nghiệp gió sương, tôi không được quyền làm bận rộn cuộc đời của một người khác. Tôi vẫn thích những câu thơ của Lưu Trọng Lư:

Em là gái trong song cửa

Anh là Mây bốn phương trời.

Anh theo cánh gió chơi vơi,

Em vẫn nằm trong nhung lụa.

Tôi hiểu, ngày Chủ nhật tôi không có lý do gì để từ chối ý kiến của mẹ. Vả lại, chủ trương của tôi là trước khi ra đi, tôi không muốn làm một điều gì, dù nhỏ nhặt, để phật ý mẹ tôi. Cho nên, sau khi mẹ tôi nói, tôi chỉ vâng nhẹ một tiếng. Tiếng “vâng” như còn nằm trong cuống họng. Nếu tinh ý, mẹ tôi sẽ nhận ra tiếng “Vâng” rụt rè đó của tôi. Nhưng có lẽ người cho rằng tại nói đến nhà cô Nga, nên tôi mới ngập ngọng như vậy. Người đã không biết rằng, rồi đây, mãi mãi tôi vẫn không thực hiện được lời hẹn của người. Đứa con trai của người đã ra đi biền biệt, không về. Để rồi mấy chục năm sau, đứa con trai đó may sống sót, mang được tấm thân về, mọi vấn đề, từ đất nước, đến con người, đều đã đổi thay, tang thương, vũng thành đồi.

Ánh nắng chiều phía Tây đã nhạt dần. Không gian cảnh vật cũng đổi mầu tím sậm. Dùng dằng mãi, cuối cùng tôi cũng phải chào và xin phép mẹ về trường. Bất chợt, tôi cầm lấy tay mẹ tôi, nghẹn ngào muốn nói: “Lạy mẹ con đi,” nhưng không thốt ra thành lời. Đúng là chân bước đi mà đầu còn ngoảnh lại. Tôi đã ngoảnh lại nhiều lần nhìn bóng dáng nghiêng nghiêng đã thẫm mầu của người phía sân cuối nhà thờ cho tới khi bị khuất hẳn.

11. Sửa Soạn Lên Đường …

Theo những quy định thời gian ấy, tôi phải làm một số thủ tục về giấy tờ. Trong đó, tôi phải viết một giấy ủy quyền cho thân nhân.

Đã từ 6, 7 tháng trước, mỗi tháng lương của tôi là 5.000đ không kể công tác phí như thuê nhà, xe cộ.v.v… Vì vậy, nếu vì lý do nào đó mất liên lạc, như bị bắt, chết, v.v… đều được coi như là mất tích, nhà nước sẽ trả lại cho thân nhân 12 tháng lương. Đó, nếu ai đi ra vì tiền, thì 60.000đ là một sinh mạng của một con người.

Thực ra, tất cả những người trong Cục Tình Báo miền Nam đều hiểu, đối với những người ra đi, nếu không vì một lý do nào khác cao đẹp hơn, như non sông, đất nước, thì làm sao số tiền đó có thể mua được họ?

Cục cũng hứa hẹn thật nhiều. Nếu công tác thành công trở về, chính phủ sẽ cho đi nghỉ ở Nhật mấy tháng. Nếu công tác trở về, sẽ v.v… và v.v… Vậy, còn nếu không trở về, thì sẽ được… mất tiêu!

Tôi hiểu đây cũng chỉ là những thủ tục giấy tờ về lương lậu. Vậy mà phải nghe, phải làm những vấn đề này, mặt tôi cứ nóng dần lên. Thật lòng, tôi nghĩ thàt đừng có cái mục này, tôi lại còn thấy lòng nhẹ nhàng thích thú hơn, cho nên tôi rất uể oải, lần thần không muốn viết. Mấy lần tôi định nói thẳng với ông An:

“Hay thôi, không phải viết nữa. Nếu tôi vào đất địch, bị chết, hay bị mất tích, Cục cứ nói như không có tôi.”

Chắc An cũng hiểu những nỗi niềm thầm kín của tôi, nên ông đặt nhẹ tay lên vai tôi, thân mật:

– Tôi hiểu lòng Bình lắm và cả Cục cũng hiểu con người Bình cho nên họ rất quý nể Bình. Bây giờ Bình hãy nghe tôi, viết vài chữ ủy quyền lại cho bất cứ ai như bố mẹ, bạn bè thân thuộc v.v… chỉ là một thủ tục phòng hờ, chứ người ta ra ngoài miền Bắc, đi về chợ ấy như đi chợ ấy, có sao đâu!

Để khỏi phải nói nhiều, tôi ngồi viết nghuệch ngoặc giấy ủy quyền cho bố tôi, tâm tư thầm nghĩ, thôi, nếu có bề gì thì gọi là một chút đền công các đấng sinh thành!

Họ mang đến cho tôi một chiếc ba lô của Nhật, bên trong đựng sẵn một đôi “bốt-đờ-sô” để lội bùn và đi trong rừng, quần áo và một vài trang bị vặt, hầu hết đều sản xuất từ Nhật, riêng cái túi “dết” màu xanh nước biển là của miền Bắc (tôi đoán chắc chiếc túi này của một đồng bào vượt tuyến.) Những thứ trang bị đều dùng để đi từ ngoài biển vào, và sống ở trong rừng, còn quần áo, dép, mũ v.v… để sử dụng trong những vỏ bọc thì chính tôi phải lo liệu lấy.

Tôi nghĩ đến dép “râu” (Bình Trị Thiên.) Nó làm tôi thật vất vả. Tôi phóng xe chạy đôn đáo suốt Tân Định, ông Tạ, Cầu Ông Lãnh tìm mua mà không có. Thậm chí tả kiểu ra đặt thợ làm giầy, họ lại không có nguyên liệu và không biết cách nào. Mãi mới gặp được một ông thợ giày di cư đã từng sống ờ vùng Việt Minh làm cho. Tay ông làm, nhưng mắt ông nhìn tôi đầy thắc mắc. Tôi phải nói đây là một “mốt” mới ra lò của học sinh, của tay chơi. Đi dép râu mà lại ngồi trên solex hay vespa thế mới hách. Ông thợ giầy làm sao có thề hiểu được, nên ông tin quá!

Tôi còn phải đi hớt tóc theo kiểu nông thôn miền Bắc, và ra Cấp mấy ngày phơi nắng cho da ngâm đen. Trong khi tôi phải làm những công việc bình thường này. Đầu óc tôi lửng lơ nghĩ về xã hội và con người trong thời đại ngày nay. Vào đất Cộng Sản, hoạt động tình báo cho thế giới tự do, khổ thật. Phải trở về một dạng anh nông dân, quê mùa cục mịch. Ngược lại, Cộng Sản vào đất tự do hoạt động, thì lại lên “complet,” kính trắng, phong độ hào hoa. Càng ra vẻ trí thức càng dễ hoạt động. Chính một điều này đã đủ nói lên mức sống của hai xã hội; tương phản cảu hai cảnh đời.

Trong ngày ra Cấp với Hoàng Công An; một buổi tôi đang ngồi đôi mắt nhìn ra biển cả bao la về mãi phía chân trời. Tai đang nghe đài phát thanh Hà Nội, thì chợt một giọng the thé của xướng ngôn viên miền Bắc, tuyên bố về phiên tòa xử vụ C- 47. Nghe loáng thoáng, chiếc phi cơ hoạt động tình báo đã xâm nhập bầu trời miền Bắc. Bị bắn rơi tháng 7 năm 1961 ở Cồn Thơi, Ninh Bình, nhiều người đã chết v.v… Còn mấy người sống sót bị thương nặng. Điệp viên Đinh Như Khoa bị 15 năm tù (mới chạm vào đất liền đã bị bắn rơi, chưa hoạt động gì,) phi công phụ Phan Thanh Vân bị 7 năm tù.

Cái tên Phan Thanh Vân nghe thật quen thuộc, nhưng lúc đó tôi không thể nhớ ra vì còn đang bận tâm về việc xử điệp vụ kể trên. Từ vụ án này, giòng suy tư của tôi cứ len lỏi chảy dài, đẩy đưa về công tác của chính mình.

Tôi vào đất địch một mình, tôi phải quyết định nhiều vấn đề với bao cảnh huống khác nhau chưa thề biết trước. Từ ý nghĩ này, tôi cần phải đặt ra giả thuyết về một số tình huống, để hỏi ý kiến giải đáp của Cục. Có như vậy, khi đã ở trong đất địch; tôi nắm vững để dễ dàng, mạnh bão xử lý. Tôi đưa ý kiến này ra với Hoàng Công An, ông ta vồn vã khuyến khích tôi:

– Ý kiến của Bình rất có giá trị thực tiễn. Bình hãy suy nghĩ; đặt ra những trường hợp bất ngờ, tôi sẽ đưa ngay về Cục để đáp ứng yêu cầu của Bình.

Cuối cùng, tôi đã mầy mò viết một bản 30 câu hỏi để đưa về Cục. Thí dụ:

* Nếu trong hai ngày 16 và 18 theo quy ước. Tôi không gặp đối tượng để trao tài liệu M. Vậy tôi sẽ hủy ngay tài liệu M?

* Cũng làm như vậy với Z5 Hoàng Đình Thọ?

* Nếu trên đường trở về, tôi bị ốm nặng, bị kẹt vì tụi công an truy lùng. Hoặc vì lý do nào đó, tôi không thể đến được điểm hẹn theo thời gian quy định, thì sao?

* Nếu bị bắt tù, sau 2 – 3 năm, tôi trốn được về Nam, thì sao? v.v…

Mấy ngày sau, khi 30 câu hỏi của tôi được đưa về Cục. Hoàng Công An trở lại với bác sĩ Harry trả lời:

Trên Cục chỉ giải đáp một số, còn hầu hết những câu hỏi khác để tôi tự quyết định, tùy theo tình hình tại chỗ, sao cho thỏa đáng.

Mãi ngày hôm đó, họ mới trao cho tôi những giấy tờ tùy thân mang theo. Tôi nhìn tờ giấy thông hành mới, với chữ ký phòng công an huyện Vĩnh Linh; thời hạn một tháng. (thời gian công tác của tôi là 25 ngày) tôi đoán rằng, tất cả những giấy tờ đưa cho tôi phải giống hệt như thật. Tôi nhìn, từ con dấu cho đến nét chữ, thật sắc sảo. C.I.A. làm giả, hết chê!

Ngoài mấy bao thuốc lá “Dại Tiền Môn” và hộp quẹt của Trung Cộng (điều này đã nói lên nhiều khía cạnh yếu, kém của C.I.A. và tình báo miền Nam) Anh còn đưa cho tôi 400đ tiền miền Bắc, gồm giấy 5đ, 2đ, 1đ, 5 hào. Bằng cái nhìn về tiền bạc ở miền Nam, tôi cầm 400đ với thái độ không thỏa mãn lắm, vì thấy quá ít ỏi. An đã hiểu ý tôi ngay, nên nói:

– Bình yên tâm, ở trên Cục đã nghiên cứu kỹ. Với 400đ này trong một tháng, Bình có thể bao quát, phòng hờ hết cả. Tiền không thiếu, nhưng nếu Bình mang đi nhiều, đôi khi lại làm ảnh hưởng ngược lại cho công tác. Thông thường, tiêu ở miền Bắc chỉ có giấy 5đ là lớn nhất đấy.

Sau đó, bác sĩ Harry đưa cho tôi một số thuốc bệnh, lọc nước, chống muỗi, và một số hộp lương khô, tăng sức v.v… khi sống trong rừng.

Trước khi về, An còn nhắc tôi xác định lại rõ ràng những quy ước, mật khẩu, tín hiệu v.v…

* * * * *

Ngày 20 tháng 4 năm 1962, ngày tôi rời Thành Đô dịu hiền và nhiều tình nghĩa.

Tôi lên đường theo thời gian và lộ trình quy định như sau:

2 giờ chiều ngày 20/4, tôi sẽ rời Sài Gòn, đáp máy bay ra Huế. Tôi sẽ ở lại đấy 2 ngày để ra Bến Hải nghiên cứu và xác định lại một số địa điểm chính của địa hình bên kia bờ khu quân sự Bắc. Sau đó, ngày 22/4/62, sẽ trở về Đà Nẵng, điểm xuất phát, để đến điểm đổ bộ thuộc Nga Sơn Thanh Hóa.

Buổi sáng ngày 20/4, ở số 62 đường Trần Hưng Đạo, Dale và Brown báo cho biết: Khoảng 12 giờ trưa, sẽ có một nhân vật cao cấp trong ngành của Mỹ ở Sài Gòn, đến chào vả tiễn đưa tôi.

Đúng buổi trưa hôm đó, một người Mỹ to lớn, bệ vệ cùng đến với bác sĩ Harry. Ngay từ lúc ông ta bước vào phòng, tuy tôi không nhìn trực diện, nhưng tôi biết ông ta không rời một cử chỉ thái độ nào của tôi trong lúc tôi cùng Brown, Dale và An chuẩn bị lại một số trang bị của chuyến đi. Qua đôi kính trắng thật to, mắt ông ta vừa lộ vẻ hân hoan tươi sáng, vừa như tò mò quan sát. Tôi chẳng biết ông ta đang nghĩ gì về tôi, nhưng tôi có một điều chắc chắn, ông ta không thể nghĩ được rằng, người thanh niên trước mặt sắp bước vào đất thù của thế giới tự do – có thể sẽ hy sinh cả mạng sống – đã là chủ một hiệu vàng, nghĩa là từng ngồi trên hoặc cạnh đống tiền. Nếu ông ta biết được như vậy, ông ta mới đánh giá được đầy đủ ý nghĩa chuyến đi của tôi. Cuối cùng, ông ta nắm tay tôi thật chặt, chúc tôi thành công và hẹn gặp lại.

Lần lượt sau đó, Dale, Brown, Harry đều bắt tay tôi, nói rằng không thể ra trường bay đưa tiễn, vì lúc đó ờ Sài Gòn rất ít người Mỹ, đi ra đây là điều bất tiện.

Như tôi đã nói, trình độ Anh ngữ của tôi còn thấp, phải nói bằng tay nhiều hơn bằng miệng, đồng thời để hiểu được họ tôi phải dựa vào sự phán đoán là chính. Vì thế, tôi chả nói hết được những điều tôi muốn nói với họ lúc chia tay.

Những thứ dụng cụ trang bị của tôi đều được mang đi trước. 1 giờ 30 tôi và An ra phi trường. Trên đường đi, tôi nhìn lại Đô Thành, có thể là lần cuối, mắt đăm chiêu, lòng ngập ngừng thăm thẳm.

Khi xe tới đường Công Lý, tôi thoáng thấy một anh bạn quen đang song đôi hai chiếc solex cùng với người bạn gái rẽ vào phía đường Yên Đổ. Âm vang của một bài hát quen thuộc từ đâu ùa đến với tôi, như trỗi dậy thành lời:

Rồi đây, mai này ai hỏi đến tên tôi,

Bạn ơi! Hãy nói đã đi xa rồi…

Phải chăng đó là điềm báo trước một lần đi không trở lại? Tôi cũng nghe và thuộc nhiều bài hát, nhưng không hiểu tại sao lúc ấy lại chỉ nhớ mấy câu này!

Suốt từ lúc đó ra phi trường, tôi im lặng không nói một lời, lòng vương vấn nặng nề như cái nóng chiều Hè oi ả của Thành Đô. Tôi liếc nhìn sang An, trong cặp kính trắng, mắt An cũng đăm chiêu như đang nghĩ ngợi điều gì.

Xe tới trường bay, tôi thấy ông Lý và ông Cục Trưởng đã có mặt. Đó là lần thứ ba tôi gặp ông Cục Trưởng. Người ta nói “quá tam ba bận,” chẳng lẽ tôi không còn lần nào gặp ông nữa ư? Mà đúng, sau đó không bao giờ tôi gặp lại ông.

Nhìn hàng ria mép rậm xì to tướng của ông Cục Trưởng, nhất là đôi mắt dù đã được che khuất sau chiếc kính râm mầu đen bóng, tôi vẫn thấy hai luồng nhỡn tuyến phát ra, có thể những ai là đối thủ sẽ không yên lòng khi phải đứng trước cặp mắt ấy.

Thấy tôi xuống xe, ông nhanh nhẹn chạy lại, nắm chặt tay tôi, niềm nở chào đón, sau đó ông ân cần hỏi:

– Trước khi anh ra đi, anh có yêu cầu bất cứ điều gì không?

Tôi bâng khuâng nghĩ ngợi, tôi cần cái gì nhỉ? Nếu tôi ra đi, thành công chẳng nói làm gì, còn như bị bắt, hay bị chết, tôi cần cái gì? Nếu như vậy, tôi chẳng cần cái quái gì cả. Điều tôi cần, tôi hiểu, kể cả chính phủ miền Nam cũng không làm gì được, đó là, nếu tôi bị bắt, tôi cần được cứu ra. Cho nên, nhìn ông ta, tôi cám ơn và lắc đầu. Cuối cùng, khi bắt tay lúc tôi bước lên máy bay, ông Cục Trưởng đặt nhẹ tay lên vai tôi, dịu dàng thân mật:

– Bình đi vào thực tiễn, biết đâu khi thành công trở về. Bình lại mang kinh nghiệm huấn luyện bổ sung cho chúng tôi.

Tôi hiểu, đó cũng chỉ là một câu xã giao để động viên, khích lệ người ra đi thôi. Nhưng, phải thừa nhận rằng, đó là một câu nói có giá trị thực tế của một người có nhãn quan tiến bộ. Tuy nghĩ như vậy, nhưng tôi chỉ cười, không nói gì. Thấy tôi im lặng tư lự, ông Cục Trưởng nói tiếp giọng sôi nổi:

– Nếu Bình đi công tác thành công trở về, tôi sẽ ra tận Đà Nẵng đón Bình ngay khi còn ở trên hải thuyền.

Tôi ngước mắt, nhìn thẳng vào mắt ông, miệng tôi hơi mỉm cười để làm giảm độ căng sắc của mắt mình. Thì ra, tôi chỉ có giá trị khi thành công! Còn lúc này, chỉ là tiễn đưa lấy lệ! Tuy nhiên, nghĩ cho cùng “Đời là thế!” Nên tôi cười to hơn và bàn tay tự nhiên cũng nắm chặt tay ông Cục Trưởng hơn khi từ giã.

Khi tôi và Hoàng Công An xuống trường bay Phú Bài, lại vẫn chính ông Hương lái chiếc xe “díp” dân sự ra đón. Ông đưa chúng tôi về một khách sạn ở Huế.

Hôm sau, chúng tôi lại ra Bến Hải, nhưng lần này dịch về gần phía cầu Hiền Lương. Tôi ngước mắt đăm chiêu nhìn hai lá cờ đang phất phới tung bay trong gió lộng. Một lá đầy mầu máu, sặc mùi tử khí, giết chóc phía bên kia. Và một lá mầu vàng với ba sọc đỏ hiền hòa phía bên này, tự nhiên lòng tôi suy ngẫm. Hai lá cờ đứng bên nhau đang cùng tung bay trước gió dưới cùng một bầu trời Tổ Quốc, thế mà muôn đời không bao giờ có thể sống chung. Chỉ vì một lá cờ muốn trên trái đất này, chỉ còn lại một mầu duy nhất là mầu của nó. Nghĩa là tất cả mọi mầu cờ khác phải bị tiêu diệt. Ai cũng hiểu đó là lá cờ nào rồi.

Sáng ngày 22/4, ông Hương đưa tôi và An trở vào Đà Nẵng.

Đà Thành với thời tiết bốn mùa của Hà Nội năm xưa đây rồi. Cái lành lạnh của cuối Xuân đầu Hè càng làm cho thành Đà thêm nhiều mầu sắc. Xe đã đi sâu vào giữa phố phường. Do thói quen từ trước, tôi không hỏi và cũng không cần biết khi đến Đà Nẵng sẽ ở đâu, và ai sẽ đón. Chính vì vậy, khi xe ngừng lại trên đường Độc Lập, chéo xa xa phía bên kia là một “bar” giải khát, mang cái tên mỹ miều gợi nhớ “Hà Nội,” cả ông Hương và Hoàng Công An đều bắt tay tôi từ biệt, hẹn gặp lại ngày tôi từ bên kia vĩ tuyến trở về. Sau đó, ông Hương chỉ sang quán Hà Nội:

– Bình xách va li váo quán đó chờ, lát nữa sẽ có người đến đón. Từ lúc này, Bình thuộc quyền hạn của người khác.

Vai khoác chiếc ba lô to mầu vàng của Nhật, tay khệ nệ xách chiếc va li, tôi tiến về phía “bar” Hà Nội. Bước chân vào quán, nhìn thấp thoáng qua mấy chậu cảnh hoa lá tốt tươi, tôi thấy bàn này vài sĩ quan Thủy Quân Lục Chiến, bàn kia mấy người Bộ Binh ngồi chung với những người bận Không Quân và thường phục. Sâu phía trong, chỗ sát quầy “buvette” trên những hàng ghế cao, là mấy quân nhân Dù cổ áo óng ánh một vài chiếc mai vàng. Tại một đầu quầy, ba người mặc thường phục, kính trắng đạo mạo, đang ngồi trầm ngâm bên những “phin” cà phê sáng bóng. Quang cảnh trong quán, nổi bật vẫn là ba bộ mặt giai nhân duyên dáng, lả lướt trong những tà áo dài bó chẽn những thân hình căng đầy hương sắc.

Tôi hơi ngỡ ngàng băn khoăn, tiến vào một chiếc bàn trống ở trong góc. Chính cái dáng dấp “không giống ai” của tôi đã làm cho hầu hết những người trong quán đều quay lại với những ánh mắt tò mò. Tôi coi như không biết, lựa thế đặt va li và ba lô. Tôi hiểu đây là một trong những tụ điểm gặp gỡ của những giới son trẻ tài hoa nơi Thành Đà, tuy khác nẻo đường nhưng cùng chung sở thích những âm thanh du dương trầm bổng đưa đẩy bên những mầu sắc mơ hồ chìm nổi chung quanh. Một tà áo mầu hoa khế tiến lại nhỏ nhẹ giọng của đất văn vật ngàn năm:

– Dạ thưa anh dùng gì ạ?

Nghe giọng nói của một giai nhân, tuổi trạc đôi mươi, với bối cảnh của chiếc quán, tự nhiên tôi nổi hứng gió sương:

– Một ly Martel “sếch”, một Capstan.

Khi cô chiêu đãi đưa rượu và thuốc lá ra, nhìn đôi bàn tay thon dài, óng chuốt duyên dáng khẽ để ly rượu trước mặt tôi. Gợi trí tò mò, tôi ngước lên. Đôi mắt long lanh thăm thẳm soi mói nhìn tôi ngập ngừng:

– Chắc anh mới đến Đà Nẵng?

Hơi mỉm cười như để thừa nhận, tôi hỏi lại nhẹ nhàng:

– Thế cô đoán tôi là dạng người gì đến đây?

Cô cũng mỉm cười, liếc nhìn vào chiếc ba lô và va li rồi dè dặt:

– Chắc anh là nhà chuyên môn, tới mỏ than Nông Sơn…?

Đầu tôi gật gật, nhìn cô như tỏ vẻ thán phục. (Lời đoán của cô, làm tôi chợt nhớ đến tên bạn thân của tôi là Lê Đức Bình, hiện cũng đang trông coi mỏ than Nông Sơn, tôi nghĩ nếu có dịp sẽ tạt vào thăm hắn.) Tuy vậy, tôi cũng lơ đãng phà hết khói thuốc, rồi quay lại khẽ cảm ơn cô, lửng lơ để tùy cô suy nghĩ.

Về sau, tôi mới biết cô này tên là Hiếu. Cô cũng là nguyên nhân trong vụ một anh trung úy Thủy Quân Lục Chiến đã tát cảnh cáo một ca sĩ khá nổi danh của Sài Gòn ngay tại “bar” nay hơn một tháng trước đó.

Ngay từ lúc bước vào quán, tôi đã thắc mắc, suy nghĩ không hiểu sao người nào ở trên Cục lại cho hẹn đón tôi ở cái quán này? Chừng nửa giờ sau, thắc mắc của tôi đã được trả lời. Tôi thoáng thấy bóng ai như dáng dấp của Phan, ngồi trên chiếc xe “díp” dân sự chạy tới và đỗ lại chéo phía xa bên kia đường. Người trên xe bước xuống, đúng là Phan. Tôi hơi ngạc nhiên, ngỡ ngàng. Thì ra từ bốn, năm tháng trước, Phan nói bận công tác xa, chính là ra Đà Nẵng này.

Giữa tôi và Phan đã quen cảnh gặp nhau bất ngờ, tôi thong thả thanh toán tiền, rồi khoác ba lô, xách va li đi ra. Khi tôi vừa khuất xa cửa quán, chiếc “díp” đã chồ tới sát ngay cạnh tôi. Một cái bắt tay thật chặt, bốn mắt mở to, hoan hỷ nhìn nhau.

Trên đường đi, sau những phút hàn huyên của giai đoạn xa cách. Phan quay sang tôi dặn dò:

– Bây giờ “moa” đưa “toa” đến trọ ở một khách sạn. Tên chủ khách sạn là bạn quen của “moa.” “Moa” sẽ giới thiệu “toa” là bạn. Con trai của một chủ tiệm vàng ở Sài Gòn, ra đây tìm địa điểm mở chi nhánh. Như “toa” biết đấy, người ta dự đoán là thành phố này Mỹ sẽ vào nhiều, cho nên con buôn các nơi, nhất là tụi ba Tầu, đang đổ xô về đây làm ăn.

Tiếp xúc với Phan từ lâu, tôi đã hiểu tính làm việc quá phóng khoáng của Phan, nhiều khi trở thành tùy tiện, thiếu sự điều nghiên thấu đáo. Có thể cho tới khi gặp tôi, nhìn lại con người tôi, Phan đã nghĩ ra là tôi cần phải đóng một vai như vậy mới hợp. Tuy biết vậy, tôi vẫn gật đầu đồng ý, vì Phan hiện đang là người chỉ huy trực tiếp của tôi.

Lát sau, xe tới đậu trước khách sạn Hồng Phát, một khách sạn 6 tầng lầu mới xây; tầng một chuẩn bị mở “buvette.” Phan chạy vào một lúc, rồi cùng trở ra với một người đeo kính trắng, đóng bộ đàng hoàng, khoảng 40 tuổi. Phan giới thiệu tôi, rồi chỉ ông đó:

– Đây là anh Yến, chủ khách sạn này, đồng thời anh còn là chủ một khách sạn lớn nữa ở Sài Gòn.

Phan cười, hất hàm về phía tôi, nói với anh Yến:

– Đó, bạn “moa,” “toa” liệu sắp xếp cho một buồng tiện nghi.

Ông Hồng Phát rất niềm nở cởi mở, ông gọi người quản lý ra hỏi một lúc, rồi quay lại nói với tôi:

– Tôi rất vinh hạnh được quen biết anh. Ở đây buồng số 5 là tiện nghi nhất, nhưng một “xừ” đại tá Mỹ đã ở hơn một tháng rồi, hai ngày nữa y đi. Tôi sẽ ưu tiên dành cho anh. Bây giờ, anh hãy ở tạm phòng 8 cùng lầu 3.

Trong khi hai anh bồi mang va li và ba lô của tôi lên lầu, ông Yến tự tay lấy chìa khóa từ ông quản lý, dẫn Phan và tôi lên theo.

Ngay buổi chiều hôm đó và những ngày hôm sau nữa, tôi hơi ngạc nhiên thấy ông Yến hay chuyện trò, tỏ ra thân mật muốn kết thân với tôi. Nào là sẽ hướng dẫn tôi đi thăm thú thành phố, vân vân… và vân vân.

Khi ông đại tá Mỹ rời đi, tôi đã chuyển về phòng số 5. Những buổi gặp Phan và Yến sau này, tôi đã hiểu họ. Phan hiện là người chịu trách nhiệm tung người ra Bắc, gồm Biệt Kích, người Nhái và những người đi lẻ như tôi v.v…Điểm xuất phát là Đà Nẵng. Một mình Phan một chiếc “Cadillac” mới toanh. Đối với thành phố Đà Nẵng nhỏ hẹp này, Phan là người rất có thế lực. Các giới chức từ Tỉnh Trưởng trở xuống đều nể vì. Ông Yến, tức Lương Hồng Yến; người Tầu. Là một thương gia giầu có, chồng của Thái Lệ Chi, một giai nhân của đất thần kinh. Khổ người và dáng dấp bà Chi hao hao giống bà Trần Lệ Xuân. Chính qua người vợ hương sắc này, ông Yến đã lọt qua nhiều cửa chính quyền, để tiến mãi trên bực thang tiền bạc.

Thấy tôi là bạn của Phan, ông ta nghĩ tôi không những là người có tiền bạc, mà còn có thần thế nữa, cho nên ông ta đã hết mình săn đón. Những buổi chuyện trò thân mật, chính ông đã tâm sự:

– Loại chúng mình luôn luôn là đối tượng mà Cộng Sản muốn tiêu diệt!

Qua câu chuyện và cách ăn nói, mặc nhiên ông ta đã nghĩ tôi cũng trong giới giầu sang như ông ta. Tôi cười thầm, tôi chỉ là loại dân nghèo cùng đinh, làm sao được ờ giai cấp giầu sang như ông bạn! Tuy nghĩ thế, vì vỏ bọc, tôi cũng cười tỏ sự đồng tình với ý kiến của ông ta.

Tôi ra Đà Nẵng được 3 ngày, Phan đưa tôi đến một căn nhà ở gần phía cầu Hàn. Ở đây, tôi lại gặp Brown và Dale. Vì có một số diễn tiến mới, hai ông ra đây trực tiếp thông báo cho tôi. Tôi ngồi nghe và sau đó cùng nghiên cứu, thảo luận lại một số vấn đề về tình hình cũng như tin tức. Ngoài ra, hai ông còn cho tôi biết thêm là hải thuyền tôi đi, phía bên ngoài khơi, sẽ có một tầu của hạm đội 7 đi hộ tống. Hoặc, đang có sự nghiên cứu; lần sau. Nghĩa là trong tương lai, sẽ dùng tầu ngầm, khi đến điểm đổ bộ, dùng xuồng cao su, nhẹ nhàng bí mật tiến vào bờ v.v… Phải nói rằng, ngay lúc đó, tôi chẳng hề tin theo lời Phan. Tôi vẫn nghĩ, đó chỉ là những hình thức dùng để động viên, nâng cao tinh thần, tin tưởng cho người đi hoạt động mà thôi.

Tới hai hôm sau, Phan đưa tôi sang phía biệt khu Hải quân, vào một nơi riêng biệt. Dùng “ca nô” chạy ra phía sau ngọn Sơn Trà để thực tập đổ bộ và chôn dấu vật dụng.

Phần vì đêm khuya, sóng gió lớn ở vùng cửa biển. Phần vì lề lối, tác phong làm việc hời hợt, chiếu lệ. Kiểu “cỡi ngựa xem hoa,” nên khi thấy bị ướt át, run lạnh, Phan cũng giục đi về dù tôi chưa làm xong. Tuy cũng có thực tập về hồng ngoại tuyến vài lần, nhưng cũng chỉ là hời hợt thiếu sự mẫn cán thực tế.

Một tuần lễ ở Đà Nẵng, tôi cũng có ý định gặp lại bạn Lê Đức Bình trong mỏ than Nông Sơn. Nhưng rồi công việc bề bộn cho đến phút chót, nên tôi đã không thực hiện được ý định này. Phan thường căn dặn tôi, để tránh nguy hiểm, không nên đi về phía đầu đường Bạch Đằng từ Grande Hotel trở lên. Vì ở đấy, nhiều người Mỹ thường lui tới có thể xẩy ra những vụ lộn xộn gài mìn, gắn lựu đạn v.v… sẽ nguy hiểm cho mình. Trong thâm tâm, tôi hiểu rằng phía ấy là nơi làm việc của cơ quan tình báo. Phan không muốn tôi đến, chứ giai đoạn đó, hầu hết những building mới xây. Thậm chí, ngay khách sạn Hồng Phát, Grand Hotel, v.v… đã đầy rẫy những người Mỹ từ Hạm Đội 7 mặc thường phục vào mướn thuê phòng rồi.

12. Bão Tố  Ngoài  Khơi…

Theo quy định, 7 giờ chiều ngày hôm sau. Ngày 28 tháng 4, tôi sẽ xuống hải thuyền đậu ở một nơi riêng biệt bên Biệt khu Hải Quân.

Bên ngoài trời mưa gió. Khung trời Đà Nẵng, chung quanh toàn biển, nên gió thật nhiều. Không gian ẩm thấp, xám xịt. Từng đợt gió mạnh đẩy bạt những hạt mưa nho nhỏ qua khung cửa sổ, hắt vào mãi giường tôi nằm. Cũng chẳng hiểu tại sao, tôi vẫn không muốn đóng khung cửa sổ lại. Cứ nằm đón nhận từng làn hơi ẩm ướt của gió mưa, buông lơi tâm tư bồng bềnh ngược xuôi chìm nổi.

Đã hơn 10 giờ tối, nằm mãi không ngủ được, đầu óc tôi lướt nhanh soát lại tất cả các vật dụng sẽ mang theo. Tôi đã để lại nguyên chiếc va li cồng kềnh với tất cả hành trang của một đời trai độc thân, với bao ân tình kỷ niệm: Từ chiếc đồng hồ đeo tay (đi công tác, tôi đã được cung cấp một đồng hồ khác, loại chống nước của Liên Xô). Chiếc dây chuyền 3 chỉ vàng chưa hề bao giờ đeo. Tiền bạc, toàn bộ giấy tờ; chiếc ví da, cho đến những thư từ, hình ảnh gia đình và bạn bè. Tôi cảm thấy một Đặng Chí Bình như được lột xác, trút bỏ hết tất cả. Nay cả đến hơi hướng của những cảnh đời đầy hương sắc, để trở thành một Lê Viết Hùng, sẽ ngược xuôi trong một cảnh đời khác. Một cảnh đời lầm than cực khổ của những con người lôi thôi lếch thếch. Làm việc như những con vật, quần quật suốt ngày đêm.

Tâm tư tôi đang chìm đắm trong những cảnh sống của khung trời miền Bắc đang đợi chờ, chợt văng vẳng một giọng hát nho nhỏ cao vút đâu đây: “…Mai anh đi rồi, làm sao em ngăn được, thà vui cho trót đêm nay…” Tôi giật mình, bâng khuâng. Câu hát trùng với hoàn cảnh của tôi làm sao! Không hiểu ai đó lại ca vào đúng lúc này? Không thể dằn được sự tò mò. Tôi bật dậy, tiến tới cửa sổ, nhô hẳn đầu ra ngoài nghe ngóng. Tôi xác định được tiếng hát ở lầu trên. Chẳng rõ nguyên nhân nào thúc đẩy, tôi mở cửa, nhẹ chân rón rén lên lầu, bước dần lại căn phòng vẫn còn tiếng hát lả lơi nho nhỏ. Tôi dựa tường, yên lặng lăng nghe. Giọng ca có lúc như nghẹn ngào than van, nhưng có lúc lại vút cao, lanh lảnh tràn đầy mộng ước.

Nhìn đồng hồ, đã gấn 11 giờ đêm, tôi cảm thấy đứng như thế này là một hành động bất nhã. Chỉ vì một bản hát nào đó tôi không biết tên, đã hợp đúng tâm trạng của tôi. Lần bước xuống hẳn dưới nhà. Người bồi và ông quản lý, đang ngồi hút thuốc nói chuyện, thoáng thấy tôi xuống, đều đứng dậy, tưởng tôi cần việc gì. Đắn đo một lúc, tôi hỏi:

– Này, trên phòng 12, ai hát hay thế nhỉ?

Người bồi tên là Lụa, đẩy hẳn cái ghế ra, quay lại. Mắt sáng lên nhìn tôi, giọng Quảng Nam săn đón:

– Trời ơi! Hôm nay thầy mới hỏi, cô là em nuôi tên là Dạ Lý Hương, ca sĩ tài tử đó! Nếu thầy muốn làm quen, mai cháu sẽ giới thiệu cổ cho thầy. Cồ nổi tiếng là cao kỳ, nhưng với thầy, cháu thấy hai người hợp lắm. Cháu bảo đảm, ăn chắc!

Tên Lụa nói líu lo một hồi, cướp hết cả lời ông quản lý. Tôi nghĩ, phần vì hoàn cảnh và điều kiện không cho phép, phần vì còn đang phải dấn thân vào những phương trời giông bão. Không được quyền đa mang những chuyện bận tâm, nên tôi nghiêm hẳn nét mặt, cố nói giọng thật lạnh lùng:

– Cảm ơn anh! Cô ấy đã làm tôi mất ngủ, vì hát giữa đêm khuya!

Nói xong, tôi trở lên phòng, trước 4 con mắt mở to của họ. Lúc này, tiếng hát đã im bặt, nhưng lời ca và giọng hát ấy đã theo tôi về phương trời miền Bắc xa xôi, suốt dài theo năm tháng. Nhất là vào những đêm mưa buồn, không ngủ.

5 giờ chiều hôm sau, Phan đến đưa tôi sang biệt khu Hải Quân. Khi đến gần, một chiếc thuyền đâu khuất trong một vụng nhỏ vắng vẻ. Tuy Phan chưa nói, nhưng qua một số hiện tượng, tôi đã hiểu, đó là chiếc thuyền tôi sẽ đi. Nhìn bề ngoài, chiếc thuyền trang bị như một thuyền đánh cá ở các vùng ven biển. Nhưng theo Phan nói, máy móc được thiết kế thật tốt, có thể chạy từ 10 đến 12 hải lý một giờ. Lúc Phan dẫn tôi xuống thuyền, tôi đã thấy lố nhố 5, 6 người, đa số là thanh niên, mặc toàn quần áo nâu. Hai người làm tôi chú ý hơn cả, đó là một ông già chừng 50-55 tuổi. Dáng mặt đen ròn mạnh khoẻ. Và một người khoảng 40 tuổi mặc may ô tay còn cầm cái mỏ lết, vừa chui từ hầm tầu lên. Thân hình anh ta trông lực lưỡng, to, cao với những bắp thịt cuồn cuộn, chắc nịch như một lực sĩ.

Sau khi cả 6 người dưới thuyền có mặt đầy đủ, Phan chỉ ông già rồi quay lại tôi:

– Đây là bác thuyền trưởng.

Rồi Phan chỉ tiếp anh chàng có thân hình to lớn, khi nãy:

– Đây là anh thợ máy.

Sau đó, Phan khoa tay nói rằng, những người còn lại đều là thủy thủ. Theo lệnh Phan, một anh chạy lên chỗ xe “díp” mang vật dụng của tôi xuống thuyền. Tôi thấy các anh, các bác dưới thuyền, người nào cũng đen xạm, rắn chắc, khoẻ mạnh. Họ đều là người Công Giáo, vì tôi thấy ai cũng đeo tượng Chúa. Và nhất là ở mé thuyền, mấy cỗ tràng hạt còn đang rung rinh theo đà lắc lư của con thuyền. Tất cả đều là người miền Trung. Khi cả Phan và tôi đã chui vào trong khoang thuyền, Phan quay lại hỏi toàn thể:

– Tất cả những đồ cần thiết đã chuẩn bị đầy đủ chưa, anh em?

Bác thuyền trưởng dõng dạc trả lời:

– Thưa đủ!

Phan hất hàm về phía anh thợ máy:

– Tình trạng máy móc thế nào?

Anh ta trả lời, giọng Quảng Bình chắc nịch:

– Thưa, bình thường!

Bây giờ, Phan mới hướng về tôi, nói với toàn thể những người dưới thuyền:

– Đây là ông cán bộ, đi công tác đặc biệt. Các anh em có trách nhiệm phải đưa ông đến điểm đổ bộ đã quy định. Suốt trên đường đi đến mục tiêu, ông có toàn quyền bảo thuyền quay lại, các anh em phải theo lệnh.

Nghe Phan nói, tôi hiểu, nếu lúc đó, bắt đầu vào thực tế, tôi mất tinh thần, tôi sợ, (một điệp viên vào đất địch mà sợ hãi, dứt khoát chỉ làm hư việc,) thì quay về là đúng. Nếu không, đôi khi còn tác hại hơn, không thể nào mà lường được. Anh sợ, anh quay về, chỉ có một điều hại là công tác chưa thi hành được, chứ địch chưa biết gì cả, và anh chỉ bị kỷ luật như đã định mà thôi, chứ nếu anh đã sợ mà anh cứ vào đất địch, chắc chắn anh sẽ không hoàn thành được công tác và dễ bị địch phát hiện. Địch sẽ khai thác những tài liệu anh mang theo, sự di hại còn to lớn biết chừng nào.

Sau đó, tôi theo Phan lên bờ, Phan đặt tay lên vai tôi, thân mật:

– Tinh thần của “toa” thế nào?

Tôi mỉm cười, đập mạnh vào tay Phan một cái, đùa cợt:

– Đấy, tinh thần tôi đấy!

Phan siết chặt tay tôi, rồi không biết Phan nghĩ thế nào, tự nhiên dang tay ôm chặt tôi, không một lời từ giã, hẹn gặp lại hay chúc thành công. Đó cũng là cá tính của Phan khi chia tay.

Trời đã chập choạng, thuyền bắt đầu rời bến. Xa xa, thành phố Đà Nẵng đã lên đèn. Hơn một tuần lễ ở đây, tôi chưa biết nhiều về Đà Thành, vậy mà tôi cũng thấy vương vấn bâng khuâng. Tôi có cảm tưởng con thuyền rời xa dần khung trời tươi sang để đi sâu vào vùng đen tối mịt mù. Thực sự, con thuyền đã khởi hành lúc 7 giờ chiều, trời còn sáng, để đi dần vào màn đêm. Và từ một vùng yên tĩnh trên sông Hàn, để tiến dần vào vùng sóng gió của biển khơi. Con thuyền đã bắt đầu lắc lư, vật vã với những vạt sóng bạc đầu vùng cửa biển.

Tôi đứng dựa mui thuyền. Đã gần nửa đêm, bầu trời rất thấp, hàng trăm ngàn vì sao nhấp nháy. Tôi đưa mắt nhìn một vòng chung quanh. Tôi có cảm tưởng, bầu trời như một chiếc vung khổng lồ úp xuống mặt nước bao la cùng chiếc hải thuyền cô độc, đang âm thầm rẽ song. Giữa mầu xám xịt mênh mông của biển khơi, là những tảng trắng đục của những lớp sóng bạc đầu trông như đá hoa cương. Chiếc thuyền nhấp nhô nghiêng ngả, đập vào đầu những ngọn sóng, gây lên những tiếng bộc bạch chắc nịch. Làm cho con thuyền rung lên, phát ra những tiếng cọt kẹt…cọt kẹt…

Dù tôi đã uống trước hai viên thuốc chống say sóng do Phan đưa, thế mà tôi vẫn thấy người nôn nao khó chịu. Tôi đành phải chui vào trong khoang nằm nghỉ. Đang vật vờ nửa thức nửa ngủ, tôi bỗng nghe tiếng rổn rang, nặng chình chịch của ông thuyền thưởng:

– Buộc lá cờ vàng, đen lên!

Dù người rất mệt vì say song và đã nôn ói hai ba lần, tôi vẫn phải cố bò lên xem chuyện gì. Trời đã sáng, mọi người đang hướng nhìn về phía mặt trời mọc. Một chiếc tầu mầu trắng toát, cách xa khoảng chừng 5 cây số, đang chĩa mũi về chiếc hải thuyền. Quá xa, và cũng do ánh nắng, tôi không trông rõ mầu cờ của chiếc tầu đó. Thấy anh thợ máy đang quỳ phía mũi thuyền, dán mắt vào chiếc ống nhòm. Tôi cố lần ra, khẽ đặt tay vào vai anh. Anh quay lại, hơi ngạc nhiên khi thấy tôi, anh tươi nét mặt:

– Tầu của ta, không sao!

Rồi anh trao ống nhòm cho tôi. Qua ống nhòm, tôi đã nhìn rõ mầu cờ vàng ba sọc đỏ phía cuối tầu. Và, đó cũng là lúc chiếc tầu đang chuyển mũi về phía trái, tức vào bờ. Tôi nhớ chiều hôm trước, lúc ở biệt khu Hải Quân. Phan đã đưa cho ông thuyền trưởng mấy loại giấy tờ, nói là khi nào có tầu của ta kiểm soát, xuất trình giấy lệnh công tác đặc biệt của trung ương. Nhưng, sao lại còn phải kéo lá cờ hiệu, con con mầu đen vàng? Tôi vào hỏi ông già, thì ra đó cũng là mật hiệu của thuyền đi công tác đặc biệt nữa. Mật hiệu này, luôn luôn thay đổi, có khi hàng ngày, có khi hàng tuần.

Mặt trời đã lên cao, nền trời trong xanh, mặt biển thật yên lành. Tuy vậy, phần vì bị nôn mửa, phần vì tôi không hề ăn uống gì, nên người rất mệt. Mặc dù cảnh biển trời rất đẹp, thật hùng vĩ, nhưng tôi vẫn phải chui vào khoang nằm.

Tôi nằm chập chờn, lúc tỉnh lúc mê, nhưng tôi vẫn theo dõi được những diễn tiến của con thuyền. Khoảng gần trưa, thái độ của mọi người có vẻ thận trọng, dè dặt hơn. Cứ 5, 10 phút, lại một người mang ống nhòm ra phía mũi thuyền quan sát một vòng. Từ ông già thuyền trưởng, cho đến các anh thủy thủ, ai nấy đều trầm tư im lặng, ít nói chuyện hẳn đi. Tôi hiểu, con thuyền đã đi vào vùng biển cùa miền Bắc.

Ánh nắng đã nhạt dần, một ngày nữa đã trôi qua. Tôi đã biết, từ bác thuyền trưởng đến các anh thủy thủ, trước đây họ đều là dân chài lưới chuyên môn ở Nghệ An. Họ đã chối bỏ bạo quyền vô nhân, khát máu Cộng Sản, di cư vào miền Nam. Họ là những người dân hiền lành chất phác, suốt đời chỉ biết cặm cụi làm ăn. Họ đã ra đi thoát khỏi bàn tay sắt máu của lũ cộng. Họ tìm đến được thế giới tự do. Nhưng, họ còn thấy trách nhiệm của họ với những bà con, thân thuộc còn ở lại, nên họ đã tình nguyện làm công việc này, để góp phần nhỏ bé, giới hạn do cuộc sống đơn giản, ít học thức của họ. Do đấy, tình cảm thương yêu đồng bào, đồng chí thật chân phương thắm đượm gần gũi. Thấy tôi bị say sóng, không ăn uống gì được, người nào cũng săn sóc, giúp đỡ như ruột thịt anh em. Họ nấu từng bát cháo nóng, đưa từng hộp dầu cao với những cử chỉ thật đậm đà, gần gũi, làm tôi vô cùng xúc động. Lại một đêm nữa trôi đi bình lặng.

Sáng hôm sau, mặt trời phía Đông loé sáng được hơn một tiếng đồng hồ, thì mạn phía Tây Bắc, từng cụm mây đen to tướng đùn lên, dần dần che lấp cả bầu trời. Không khí tự nhiên oi nồng khác thường. Mặt biển óng 1ên mầu vàng nhợt.

Mấy ngày này, tôi chỉ húp được sữa, ngồi một lúc hoa mày chóng mặt, tôi lại phải nằm. Gần về chiều, trời vẫn oi ả, giữa biển khơi mà im gió như trong buồng. Nét mặt mọi người đều lộ vẻ lo âu với những hiện tượng không bình thường của thiên nhiên.

Đột nhiên, một anh thủy thủ tay đang cầm ống nhòm ở mũi thuyền, quay lại mặt nhớn nhác, tay chỉ trỏ phía xa xa, miệng nói léo nhéo, nghe không rõ, vì tiếng máy nổ ồn ào. Mọi người, ngay cả tôi, linh cảm thấy một điều bất thường. Dù mệt, tôi cũng cố cùng mọi người đổ xô ra phía mũi.

Xa xa, từ phía trái, tức phía trong bờ, có hai chấm đen đang tiến dần về phía chiếc thuyền. Tôi giằng lấy ống nhòm từ tay anh thủy thủ. Rõ ràng hai chiếc ca nô đen xì. Vì còn quá xa, nên chưa trông rõ cờ hiệu, nhưng ai cũng hiểu rằng, còn chệch vào đâu được nữa, đó chính là ca nô của bộ đội hải quân biên phòng của Cộng Sản. Không nói ra, nhưng mặt người nào cũng tái đi, lấy cái gì để chống đỡ bây giờ? Chịu trận, như con cá đã nằm trên thớt. Tôi liếc nhanh những vật dụng mang theo, tay tôi sờ trong người, mân mê mấy bọc tài liệu con con. Đầu tôi loé lên quyết định, phút cuối cùng sẽ gửi chúng vào lòng biển cả. Dứt khoát, bằng mọi giá không để tài liệu này lọt vào tay kẻ thù.

Những bước chân chạy khẩn trương rầm rập. Những tiếng nói to dằn mạnh của mấy ngưòi í ới:

– Mở tốc lực tối đa!

– Bẻ lái chạy theo hướng phải!

– Bỏ lưới lên mui, căng ra!

Hai chấm đen càng lúc càng to, càng rõ ra. Qua bản thân mình, tôi hiểu rằng trống ngực của mỗi người đều tăng nhịp đập theo tiếng máy tầu.

Sau khi những xốn xang chuẩn bị của mỗi người tạm ổn, tuy không ai bảo ai, nhưng cứ thỉnh thoảng, mọi người lại quay nhìn về phía hai chấm đen với những đôi mắt trắng nhợt. Anh thợ máy chui vào khoang, lấy bức hình Đức Mẹ treo cao lên phía vách thuyền. Rồi cũng không ai bảo ai, trừ ông già thuyền trưởng đang lái thuyền, mọi người, anh thợ máy và các thủy thủ, đều ngồi xếp chân bằng tròn làm dấu, nguyện kinh. Tôi cũng ngồi dậy đọc kinh cùng mọi người. Tiếng cầu kinh râm ran theo tiếng máy vang rền. Tuy đọc kinh, nhưng thỉnh thoảng một cái đầu, lại ngoảnh về phía hai chấm đen, lúc này đã to bằng hai con trâu mộng.

Mây đen mù mịt, trời càng thẫm dần. Bỗng nhiên pằng, pằng, pằng pằng! Bốn tiếng súng như xé màng tai mọi người, làm cả 7 cái đầu đều quay về phía hai chấm đen một lượt. Tiếng đọc kinh càng to, càng cấp bách hơn. Mọi người đọc kinh “dọn mình chịu nạn.” Khoảng cách của hai chiếc ca nô và chiếc thuyền càng lúc càng ngắn lại. So sức máy của con thuyền với sức máy của hai chiếc ca nô, tôi có cảm tưởng như sức chạy của con gà đối với hai con chó sói.

Đột nhiên, một làn chớp xanh lè nháng lên. Một tiếng nổ làm rung rinh mặt biển, rồi như tiếng gầm của đại bác, rền vang ngang dọc trên bầu trời. Những hạt mưa lạch tạch ngoài mũi, trên mui thuyền. Gió bắt đầu lồng lộn nổi thổi. Sóng cuồn cuộn nổi lên, mưa gió xoáy mịt mù. Chiếc thuyền dựng lên, ngụp xuống, nhấp nhô giữa muôn ngàn núi sóng. Biển trời gầm rú át cả tiếng đọc kinh và tiếng máy của thuyền. Mọi người đều nhìn lại, hai chiếc ca nô đã mờ mịt trong gió mưa.

Thoát cái nạn kẻ thù, lại gặp cái nạn cuồng phong, bão tố của biển khơi. Thuyền đã bẻ lái quay về hướng cũ, vì khi nãy sợ quá nên đã chạy ra hướng đại dương. Mưa bão càng cuồng loạn, tiếng đọc kinh càng lớn. Nhiều lúc, tôi tưởng như chiếc thuyền chìm nghỉm, hoặc vỡ tan ra từng mảnh. Ngồi trong khoang mà mọi người ướt đẫm. Cả chiếc thuyền, chẳng chỗ nào còn khô. Người tôi lúc xô sang góc này, lúc đập vào góc kia. Bác già thuyền trưởng đang xệch miệng gò người đẩy lái thuyền. Một cơn sóng đánh trùm lên, đánh bật văng bác váo trong góc. Ba anh thủy thủ đổ xô ra, một người đỡ bác, hai người kia chộp lẹ vào cần tay lái. Bác già đã vươn ngay dậy được, xông đến tiếp tay cho hai anh thủy thủ đang nghiêng ngả với chiếc bánh lái.

Người tôi lạnh run, mệt lả, vì mấy ngày không ăn. Tôi tưởng chắc phen này sẽ về lòng đại dương, chấm dứt một cuộc đời chìm nổi mưa gió.

Chừng nữa giờ sau mưa tạnh, gió dịu dần, biển khơi đất trời nguôi cơn giận. Màn đêm đã bao phủ cả bầu trời. Tôi đưa mắt nhìn khắp chung quanh, chỉ một mầu xám xịt, chẳng còn thấy bóng dáng hai con trâu điên đâu nữa. Chính chúng cũng đã phải chạy thoát thân, và có lẽ chúng nghĩ rằng, chiếc thuyền bé nhỏ của chúng tôi hẳn đã làm mồi cho cá biển.

Thuyền chạy được 5-6 giờ nữa, lúc này đã gần 12 giờ đêm. Trời lại bắt đầu nổi gió, và mưa cũng trở lên đầy hạt. Gió thật mạnh, quay cuồng, gió quất vào những khe ngách con thuyền. Gầm rít lên như muốn xé tan con thuyền bé nhỏ, cô đơn, giữa sự giận khùng của đại dương bao la.

Trận bão này thật là khủng khiếp. Người nào cũng phải ôm ghì lấy khung thuyền. Ai cũng thấy nếu lỏng tay, không bị gió dữ thì cũng bị những cơn sóng thần sầu như trái núi hất tung người xuống biển. Chung quanh, mọi người chỉ còn nghe thấy tiếng ầm ầm của sóng gió thét gào. Tiếng máy thuyền như im bặt. Có chăng đây đó, thỉnh thoảng là tiếng kêu Chúa, hoặc gọi cha mẹ, ré lên rồi tắt ngủm trong màn đêm.

Giữa lúc cái sống và cái chết ở cạnh nhau này, tôi thấy ông già thuyền trưởng vung cánh tay như vẫy tôi, miệng của ông há to, tôi không nghe thấy tiếng gọi. Tôi vận sức, nắm chặt khoang thuyền, lết lần từng bước về phía ông. Tôi cảm thấy, ông gọi tôi chắc có việc nan giải. Phần vì người ướt như chuột trong cống, lạnh run, phần khác vì sức tôi quá yếu (hai ngày hai đêm không ăn) nên tôi trượt chân, chới với tưỡng đã lao xuống biển nếu tôi không nhanh tay, chộp được một cái cọc ở mé thuyền và cùng lúc đó, hai anh thủy thủ vồ được hai chân tôi kéo lại.

Có lẽ, vì thấy quá nguy hiểm, nên ông già thuyền trưởng vừa gào, vừa ra hiệu cho hai anh thủy thủ khác ra giữ lái thuyền thay ông. Khi ông và tôi đã bò vào được trong khoang, ông nhìn tôi giọng hổn hển ngắt quãng vì rét và vì mệt:

– Đã đến điểm đổ bộ rồi. Chỗ này còn cách bờ khoảng 20 cây số. Với kinh nghiệm chài biển của tôi, trời đang giông bão thế này, nếu thuyền vào bờ, sẽ bị đắm. Vì thông thường, sóng cách bờ 5-10 cây số dữ dội hơn ngoài biển khơi nhiều. Cơn bão hiện nay chưa biết bao giờ sẽ dứt. Vậy hoàn toàn do cán bộ quyết định đi vào hay đi … về?

Thật là một vấn đề nan giải giữa sống và chết. Bao nhiêu công lao khó nhọc, đã đến đây, chả lẽ quay về? Để có thể quyết định được dứt khoát, tôi hỏi lại ông:

– Hay bỏ neo tại đây, chờ hết bão ta vào?

Ông cười, miệng méo xệu, trong khi ba anh thủy thủ mở to mắt nhìn tôi như nhìn một con quái vật. Cuối cùng, ông già nói gằn giọng như ông đang cãi nhau:

– Không thuyền nào bỏ neo ở giữa biển, dù có bỏ neo cũng không tới, mà nếu có tới, trời đang gió bão thuyền sẽ lướt đi theo sóng không đứng yên. Đậu lại, hoặc chết máy lúc này thì chỉ một cơn sóng cũng chìm nghỉm. Chưa nói, nếu sáng mới hết bão, lúc đó ban ngày, đậu đây, chẳng khác nào chiếc mồi mời tầu công an ra mang vô.

Tôi nhìn ông, tuy mệt và rét mà ông vẫn phải nói nhiều, nói dài. Ông đã gợi hết đường ngõ cho tôi rồi. Vì vậy, sau một phút đắn đo, tôi khoát tay, dõng dạc hai tiếng:

– Quay về!

Óc tôi lướt nhanh, nếu chỉ một mình tôi, sống chết cũng vào, vì đã đi thì dứt khoát chẳng quay về. Nhưng ở đây, còn 6 sinh mạng nữa, mỗi người là một chùm liên hệ gia đình, tôi không được quyền liều lĩnh.

Ba anh thủy thủ cùng ngồi trong khoang nghe tôi nói quay về, mắt họ sáng lên, ngực họ như xẹp xuống vì được xì hơi ra. Ông thuyền trưởng quay lại phía lái, chụm hai bàn tay trước mồm làm loa, gào to:

– Bẻ lái quay về miền Nam. Phải coi chừng chiều gió và sóng.

Các anh thủy thủ đúng là đi biển có kinh nghiệm. Chiếc thuyền nhẹ lướt, quay nghiêng, rồi trực chỉ mũi về hướng Nam. Bây giờ, thuyền lại xuôi gió và sóng. Riêng tôi, vì mệt mỏi và những suy tư, nặng chĩu trong lòng, tôi nằm liệt ở trong khoang, chẳng muốn biết gì nữa ở bên ngoài. Tôi nằm thiếp dần, mê man. Sáng hôm sau, trời yên biển lặng, tôi vẫn chỉ mơ mơ màng màng, rồi tôi lại thiếp đi. Mãi cho tới khi anh thợ máy lay tôi dậy. Tôi nhìn miệng anh nói, nhưng giọng Nghệ An thật khó nghe, có lẽ vì mệt quá nên tai tôi ù lên chăng? Thấy tay anh cầm bát cháo con con đang bốc khói, và qua ánh mắt, tôi hiểu anh muốn bảo tôi cố ngồi dậy húp bát cháo này! Thái độ của anh, đã xoa dịu phần nào những nỗi niềm nặng chĩu u buồn trong lòng tôi. Tôi chống tay ngồi dậy, đón nhận tình anh. Tôi chỉ biết nhìn anh bằng ánh mắt biết ơn.

Bên ngoài, ánh nắng chiều đã xiên khoai vào khoang thuyền. Sau khi húp hết được bát cháo nóng, người tôi như thêm phần sinh khí. Tôi bò dậy, chui ra ngoài mũi thuyền, ngồi dựa vào mui. Tôi đưa mắt nhìn ra phía chân trời xa xa, nơi có miền Nam thân yêu đang đợi chờ. Đột nhiên, một ý nghĩ len vào hồn, làm tôi tư lự đăm chiêu. Tôi đã bỏ dở công tác phải quay về. Đường đi không đến, dù rằng chẳng phải do mình muốn, tôi vẫn cảm thấy như có áng mây buồn vương vấn trước mắt.

Cảnh chiều tàn trên đại dương làm cõi lòng tôi sầu nặng. Thêm nữa, đây vẫn còn là đất địch, nên tôi lại chui vào khoang.

Một đêm, một ngày nữa trôi qua. Đến đêm thứ năm, kể từ ngày đi, thuyền mới về vĩ tuyến 17, đến phần đất của miền Nam tự do. Như đã nói trên, vì mang một tâm sự không vui, phần khác vì say sóng không ăn uống gì được, làm người càng mệt, nên trên suốt đường về tôi cứ nằm li bì. Mãi tới gần nửa đêm, tôi nghe loáng thoáng nhiều tiếng ồn ào quát tháo. Một vài vệt đèn “pin” chiếu lấp loáng vào trong khoang thuyền. Một chiếc tầu tuần nào đó thuộc Hải Quân của ta, đến kèm sát để hỏi giấy tờ, dù thuyền đã đánh tín hiệu bằng đèn “pin” trước rồi. Một chiếc ca nô nhỏ, trên lố nhố một số người, cặp vào phía mũi thuyền. Tôi không muốn họ nhìn thấy, tôi kéo chiếc chăn đơn che mặt và vẫn nằm yên. Một lúc sau, thuyền lại tiếp tục đi. Mờ sáng hôm sau, thuyền về tới bến cũ trong Biệt Khu Hải Quân.

13. Chuẩn Bị Chuyến Sau…

Gần hai giờ sau, khoảng 8 giờ sáng, mặt trời đỏ như một miếng tiết bò to tướng, ở dưới nước từ từ chui lên, làm cảnh vật sáng lung linh một mầu đỏ ửng.

Phan đã đỗ xe trên đường ngay phía trước thuyền, đang đứng nói chuyện với ông già thuyền trưởng và mấy anh thủy thủ. Tôi mở cửa khoang chui ra. Phan quay lại nhìn thấy tôi, mắt Phan mở to rồi nhấp nháy. Dù đã được nghe báo trước, nhưng chắc Phan cũng không ngờ người tôi xuống nhanh như vậy, khi mới chỉ có cách 5 đêm 4 ngày. Lý do chính là trong 4 ngày 5 đêm đó, tôi chỉ húp được ba, bốn bát nước cháo, và lại trải qua nhiều giờ phút căng thẳng. Phan tiến lại nắm nhẹ tay tôi, chỉ hỏi một câu:

– “Toa” có mệt không?

Cho tới lúc lên xe, Phan thấy tôi ít nói hẳn đi. Nếu là người khác, có thể sẽ tưởng rằng, sau một chuyến đi căng thẳng, tinh thần tôi bị xuống. Nhưng, có lẽ Phan đã hiểu nét trầm tư của tôi, nên đã đập vào vai tôi, vừa cười vừa nói:

– Ồ, “L’homme propose, Dieu dispose”(*) mà! “Toa” nghĩ ngợi làm gì!

Đã 5 ngày không rửa mặt, lại đang mặc bộ quần áo miền Bắc, dép râu, mũ cối, nên tôi chui ra băng sau. Mở chiếc va li của tôi, mà Phan đã mang theo từ cơ quan sang cho tôi, để thay đồ.

(*) “Mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên.”

Trên đường về thành phố, Phan nói:

– Bây giờ “toa” chưa thể về Hồng Phát được. “Moa” đã tạm thuê cho “toa” một phòng trong khu vắng vẻ; “toa” hãy về đấy tắm rửa, cạo râu, ăn uống cho lại sức. Chiều mai, “moa” sẽ trở lại đón “toa” về Hồng Phát.

Buồng số 5 đã lại có một người Mỹ khác đến thuê. Nghe quản lý nói họ chỉ ở vài ngày, nên tôi phải tạm ở buồng 14 trên lầu tư. Tầng này cũng có vài anh Mỹ ở mấy buồng, tuy thỉnh thoảng gặp nhau ở lối đi khi ra vào. Họ và tôi cũng chỉ mỉm cười để chào nhau, chứ không nó năng gì.

Hai ngày sau Phan cho biết:

“Công tác sẽ lại tiến hành vào ngày 28 tháng 5.”

Như vậy, tôi có gần một tháng để nghỉ ngơi, để lấy lại sức và tinh thần. Theo quy ước, ngày đi thường phải là những ngày cuối tháng. Tôi băn khoăn hỏi Phan vì sao đài khí tượng của ta, lại không biết gì về những cơn bão đột xuất?

Phan trả lời:

– Với trình độ và phương tiện của đài khí tượng của mình hiện nay, mình chỉ dự đoán tương đối chính xác về thời tiết trong một thời gian 30 giờ và trong một phạm vi bán kính 300 cây số. Mà điểm đổ bộ lại ở ngoài tầm quá xa và thời gian cũng cách hàng 50-60 giờ, nên thật khó!

Sau khi tôi làm báo cáo gửi đi được 3 ngày, tường trình những nét diễn tiến cơ bản của chuyến đi, có lẽ ở Sài Gòn, những người trên Cục cho rằng cần phải khích lệ, động viên tinh thần tôi, nên một hôm Phan đến bảo sẽ đưa tôi đi gặp một nhân vật của Cục muốn tiếp xúc. Phan đưa tôi tới quán nước “Diệp Hải Dung” khi gần tới nơi, Phan dặn:

– “Toa” vào một mình, tìm một bàn trống, cứ gọi theo ý mình. “Toa” ngồi chờ, sẽ có người đến gặp.

Tôi vào quán, một lúc sau, thoáng nhìn chéo góc đường, tôi thấy một người mặc áo sơ mi trắng ngắn tay, thắt cà vạt. Ông ta khoảng ngoài 40, lái một chiếc xe “díp” dân dự còn mới, bên cạnh là ông Lý, một người miền Bắc tôi có gặp vài lần.

Đậu xe ở một góc xa, người đó và ông Lý xách chiếc cặp đen theo sau, tiến vào quán. Trong quán, cũng đã đông người, hầu hết là thành phần trẻ.

Do sự hướng dẫn của ông Lý, hai người đến bàn tôi. Vì không muốn người chung quanh để ý, nên họ chỉ cười nhẹ và bắt tay tôi, chứ không nói gì cả. Khi đã ngồi, gọi thức uống xong, ông Lý hơi cúi ra giữa bàn nói nho nhỏ nhưng ra vẻ quan trọng:

– Đây là ông Cục phó, có nhã ý muốn ra gặp anh. Vậy, anh cần giải quyết hay đề bạt ý kiến gì, anh cứ nói?

Sau khi nghe ông Lý giới thiệu, tôi nhớ lại qua vài câu chuyện với Phan ở Sài Gòn lúc trước. Tôi đã biết đây là ông Nguyễn Khắc Bình, vì vậy, một lần nữa, tôi hơi nghiêng đầu tỏ vẻ được vinh hạnh gặp ông. Với hàng ria mép xén tỉa cầu kỳ, đôi mắt sâu long lanh thật sắc và làn môi hơi mím lại của ông làm tôi thấy toát ra từ ông ta một nét cương nghị. Có lẽ vì thấy tôi mãi chưa nói gì, ông mỉm cười thân mật:

– Trong người anh có được khỏe không?

– Cảm ơn ông, tôi bình thường.

Tôi chậm rãi trả lời. Mặt ông nghiêm lại, nhưng mắt ông sáng lên, ông nói rành rọt:

– Đọc bản báo cáo tường thuật chuyến đi của anh; chúng tôi thấy anh quyết định quay về như vậy là đúng. Điều đó, chứng tỏ anh là người thận trọng, cân nhắc. Vậy, sau chuyến đi vừa rồi, anh có những cảm nghĩ gì?

Tôi nhìn ông ta:

– Thưa ông, cảm nghĩ thì nhiều, nhưng có một ý nghĩ đã lấn át tẩt cả. Chuyến đi không thành, phải quay trở lại, dù rằng ngoài ý muốn, lòng tôi vẫn nằng nặng không vui.

Ông ta gật gật đầu, mấy ngón tay để trên bàn cũng đập nhè nhẹ theo nhịp gật. Ông mỉm cười, quay lại ông Lý như chia xẻ nhận xét:

– Chính điều đó đã thể hiện chí khí của anh. Lâu nay, chúng tôi nhìn về anh đã không sai! Bây giờ anh cần gì không? Cục sẽ sẵn sàng giải quyết cho anh!

Tôi còn đắn đo nhìn ông ta, chưa muốn trả lời vội, ông Lý đã nhỏ nhẹ thúc đẩy tôi:

– Tiện có ông Cục phó ở đây, anh có gì khó khăn, dù là còn trong ý nguyện, anh đừng ngại gì cả.

Tôi ngần ngừ là vì chưa muốn trả lời ngay, chứ không phải tôi muốn nói mà còn rụt rè. Tôi nghiêm trang nhìn hai ông:

– Tôi xin ghi nhớ sự quan tâm của hai ông đối với tôi. Hiện nay, về mặt cá nhân tôi, tôi không cần gì cả. Nhưng, về công tác, tôi muốn đề nghị với ông một vấn đề.

Mắt ông Bình hơi sáng lên, những bắp thịt phía hai quai hàm của ông động đậy liên hồi, rồi như ông khích lệ:

– Anh nói đi.

Tôi im lặng, thận trọng một lúc nữa, rồi nhìn thẳng ông:

Qua thực tế của chuyến đi phải quay về vừa rồi, tôi thấy rằng: Sự quan sát theo dõi khí tượng của ta chỉ giới hạn trong một phạm vi nhất định, mà điểm đổ bộ của tôi lại vượt quá xa về cả không gian lẫn thời gian. Do đó, chúng ta không chủ động thực thi được công tác, không những bởi ngăn chặn của đối phương đã đành, mà còn bởi cả thiên nhiên nữa. Vì vậy, tôi xin đề nghị ta kéo lùi điểm đổ bộ vào Nghệ An hay Hà Tĩnh. Tuy đất lạ và sẽ gặp nhiều khó khăn hơn, nhưng tôi tự thấy, tôi có thể vượt qua. Tôi chỉ cần tìm về được trục chính Quốc Lộ 1 là tôi có thể về tới Hà Nội.

Sau này, tôi đã thấy hậu quả về lời đề nghị đó, chưa nói gì về nội dung, ngay qua thái độ đề nghị của tôi, tôi bắt đầu rơi vào cái bệnh chủ quan, coi thường địch rồi.

Trong khi nghe tôi nói, ngón tay của ông Cục phó vẫn nhẹ đập trên mặt bàn càng lúc càng mau hơn; ông gật nhẹ đầu, rồi như nhiệt huyết của ông được tăng độ, ngón tay ông miết dài trên mặt bàn như dứt khoát:

– Đó là những ý kiến đi sát vào vấn đề, rất thực tế. Anh hãy về viết ngắn gọn, trình bày mạch lạc những ý kiến anh đề nghị, rồi đưa cho ông Phan hay ông Lý đây chuyển về Cục. Chúng tôi sẽ nghiên cứu ngay để giải đáp sáng tỏ đề nghị hữu lý của anh.

Ông nhìn tôi một lúc, rồi gặn hỏi lần nữa:

– Ngoài ra, anh cỏn cần đề nghị gì cho cá nhân anh?

Tôi vẫn lắc đầu nhè nhẹ:

– Xin để khi công tác trở về.

Dù tôi đã nói như vậy, nhưng ông Bình muốn thể hiện thiện cảm của ông cũng như Cục đối với tôi, ông vừa đứng dậy:

– Tôi đã chỉ thị cho ông Lý đây, bất cứ lúc nào anh gặp khó khăn gì muốn được giải quyết, anh cứ nói với ông.

Trong khi ông Lý vào quầy trả tiền nước, ông Bình bắt tay tôi thật chặt và nói nho nhỏ nhưng rất thật tình:

– Khi được báo cáo anh đi công tác trở về, tôi sẽ ra đây đón anh!

Tôi mỉm cười vì thoáng nhớ lại lời nói của ông Cục trưởng ở trường bay Tân Sơn Nhất hơn 20 ngày trước đây. Sao lại giống nhau thế! Một ông thì tận hải thuyền, một ông thì ở Đà Nẵng. Một vương vấn buồn len lỏi vào lòng tôi.

Trên đường trở về khách sạn Hồng Phát, và cả đêm hôm ấy, lòng tôi vẫn đầy vơi nhiều chuyện về đất nước và con người. Để gạt đi những nỗi niềm nặng trĩu trong lòng, nhớ đến anh bạn Lê Đức Bình. Sáng hôm sau, tôi đến số 80 đường Độc Lập, văn phòng đại diện của mỏ than Nông Sơn, gửi một lá thư nhờ chuyển ngay. Cuối tuần đó, Bình ra Đà Thành liền. Anh đến Hồng Phát gặp tôi, anh mang theo hai người bạn, giới thiệu là Xuân và Sỹ. (Bình với tôi cùng tên, khi còn ở trại Pavie la Mothe, để phân biệt, anh em gọi tôi là Bình “Follis”, vì lúc đó tôi thường đi chiếc xe máy dầu của Đức hiệu này. Còn Lê Đức Bình vì có mái tóc quăn, nên anh em gọi là Bình “Xuân”.)

Phải nói, tình bạn bè đã sưởi ấm lòng tôi. Sau mấy ngày đây đó bên nhau tâm sự anh nằng nặc đòi tôi phải vào mỏ, đê thăm nhà và vợ con anh. Anh phải về làm việc ngay, vì chỉ xin nghỉ được có 1 ngày. Tôi làm sao có thể nói cho anh biết được chuyện gió mưa của tôi, nên đã hẹn với anh vào dịp khác, cái dịp “Tết Công Gô” sau này.

Ở lại Đà Thành còn Xuân, Sỹ với tôi. Một mình Xuân một chiếc Vespa đời 62 của Ý và một chiếc Peugeot 203. Các anh cũng là những người trong giới tài hoa son trẻ của Thành Đà. Điều thích thú là, các anh và tôi đồng một sở thích: Thiên nhiên. Cho nên từ đấy, hết đi Cửa Đại, Lăng Cô, Mỹ Khê, Thăng Bình để ngắm biển cả bao la, những hoàng hôn lộng gió, những bình minh điệu kỳ mang nhiều sức sống; lại đến Ngũ Hành Sơn, Tam Kỳ, để chiêm ngưỡng cảnh núi đồi hùng vĩ. Bao nhiêu những thắng cảnh của Hòn Ngọc miền Trung! Ôi, quê hương ta, tuy nghèo nàn, lam lũ đạm bạc nhưng muôn đời vẫn đẹp mãi trong lòng tôi!

Năm ngày sau khi tôi nộp bản báo cáo đề nghị, một buổi sáng, Phan đến cho tôi biết là đề nghị của tôi đã được Cục chấp nhận. Rồi, Phan hân hoan nói tiếp:

– Như vậy thì trở ngại giảm đi rất nhiều, lần này “toa” chỉ phải đi một ngày rưỡi và một đêm rưỡi, nghĩa là trong khoảng 36 tiếng thôi.

Thấy tôi ra dáng băn khoăn muốn hỏi ở đâu, Phan liền vỗ vai tôi, nói rành rọt:

– Yên tâm, vùng này là cuối tỉnh Nghệ An, giáp giới Hà Tĩnh. Đó là quê hương của đám thủy thủ, họ là thổ công ở đấy. Họ sẽ đưa “toa” vào một chỗ hoàn toàn an ninh, tha hồ “toa” nghỉ ngơi thỏa đáng cho khoẻ, rồi mới tìm vể Quốc Lộ 1.

Một phần do bản tính làm việc theo lối đại cương của Phan, phần khác, chính tôi cũng đã bắt đầu chủ quan, lơ là với những công việc mà đáng lẽ tôi phải nghiên cứu thấu đáo, cho nên tôi đã không hỏi kỹ là thuộc huyện nào, xã nào, địa hình, địa vật ra sao…Những điều cần được sáng tỏ, tôi lại không hỏi Phan, mà lại chú ý sang một điểm khác:

– Này, những người đưa thuyền họ thật chất phác. Họ phụng sự lý tưởng một cách đơn giản như lời của họ vậy, không cần phải hò hét ồn ào.

Phan cười ré lên, rồi bệ vệ đứng dậy, vừa tiến lại chiếc tủ của tôi vừa nói:

– “Toa” nhận xét đúng đấy!

Rồi như lơ đãng, cầm lọ thuốc bổ, Phan quay lại hỏi tôi:

– “Toa” uống cái loại thuốc này, thấy người khoẻ không?

Thấy tôi gật đầu, Phan rút bút ghi tên thuốc, nói:

– “Moa” sẽ bắt chước “toa” uống một trăm viên xem sao.

Sau đó chỉ là những chuyện phiếm, không còn liên quan gì đến công tác nữa. Hình ảnh của những người đưa thuyền vẫn vương vấn trong tôi, một lần nữa tôi lôi Phan về với họ:

– Ông Phan này, cái người thợ máy, trông tay chân như lực sĩ ấy nhỉ?

Phan lại cười, giơ ngón tay cái ra trước mặt:

– Y là số “dách” đấy, “moa” vẫn gọi y là “Tạc giăng”. Bất kể ngày đêm, nguy hiểm thế nào, hễ yêu cầu, y xông vào ngay.

Rồi như để ngắt câu chuyện ở đấy, Phan đứng dậy và bắt tay tôi ra về.

14. Chuyến Đi Định Mệnh…

Sớm, muộn, rồi ngày tháng cũng đến mức ấn định. Sau một trận mưa đêm hôm trước, sáng hôm 28/5, khung trời Đà Nẵng không một vần mây. Phố phường cảnh vật như được lau chùi, rửa sạch từ đêm. Khí hậu đầu Hè dịu mát như mùa Thu.

Đã hẹn trước, 11 giờ Phan đến đón tôi, tôi đã lại lột xác của Đặng Chí Bình, một thanh niên của miền Nam tự do đầy hương sắc, để trở thành một Lê Viết Hùng, học sinh lớp 10 bằn xương bằng thịt của vùng Vĩnh Linh khô cằn, lạc hậu, mảnh đất tuyến đầu của cái gọi là xã hội chủ nghĩa.

Hôm đó, cũng là buổi ra đi, buổi giã từ Đà Thành và cả miền Nam hiền hòa nhiều ân tình, để đi về một phương trời đầy chông gai nguy hiểm, lòng tôi thật nhẹ nhàng lâng lâng, Có lẽ một phần vì là chuyến đi thứ hai, đã giảm đi sự xốn xang hồi hộp của buổi ban đầu, nhưng vì còn một phần nữa, nằm sâu kín trong tâm tư tôi. Đêm hôm trước, nằm nghe tiếng mưa rơi, tôi đã liên tưởng đến những quãng đời khi tôi còn sống ở Sài Gòn. Từ hình ảnh những người ruột thịt thân thương, những bạn bè đầy nghĩa tình, đến những người trong Cục, tất cả đều rõ ràng như một cuốn phim lướt nhanh trước mặt. Tôi hiểu, ít nhiều đã có một số người trông chờ nơi tôi. Rồi, như một niềm thúc đẩy, ngay từ hồi đêm, tôi đã nâng quyết tâm và tự nhủ thầm, phải làm được một điều gì để không ngượng với tấm thân trai, khi đất nước còn trong cảnh chia hai xẻ ba như thế này. Đã ra đi, bằng mọi giá, mọi cách, phải đến bờ: Dù chẳng hay ho, thì cũng phải húng hắng được một vài.

Khi chúng tôi ra đến bến cũ, trong biệt khu Hải Quân, đã 11 giờ 30, mặt trời gần đứng bóng. Chiếc hải thuyền vẫn đậu bến xưa một mình trong chỗ hẻo lánh của Biệt khu.

Ngay từ còn xa, thoáng thấy xe Phan và tôi đến, dưới thuyền đã lố nhố mấy anh thủy thủ quen mặt, quần áo nâu sồng, nét mặt người nào cũng tươi tỉnh như khung trời Đà Nẵng. Khi xe ngừng hẳn, một anh đã quen như lần trước, vội chạy lên bờ, xách chiếc ba lô và vật dụng của tôi xuống. Chỉ mới một lần cùng chia xẻ hiểm nguy mà tình thân thương đồng đội đã nhanh chóng nẩy mầm giữa tôi và các anh các bác. Những chiếc bắt tay nồng hậu, những ánh mắt long lanh gần gũi như ruột thịt anh em! Bến cũ người xưa, công việc làm lại.

Nhớ lại ban sáng, khi tôi đưa bản quy ước đón tôi (Cục và Phan muốn chính tôi viết, tôi sẽ nhớ lâu. Cục sẽ giữ bản viết này), tôi đã khẳng quyết vào ba đêm: 22, 23, và 24 của tháng Sáu. Mỗi đêm hai tiếng, từ 1 giờ đến 3 giờ sáng. Đổ bộ ở điểm nào, sẽ đón ở điểm ấy. Phải phòng hờ ba đêm để dự trù trước những trục trặc trở ngại về phía tôi là chính. Có thể nhỡ xe, nhỡ tầu, trốn chạy, v.v… nghĩa là trăm nghìn thứ chưa thể biết trước. Theo quy định, cứ từ 1 giờ đến 3 giờ sáng, trong ba đêm ước định, tôi sẽ dùng chiếc máy con hồng ngoại tuyến, hình dạng giống như cái ống nhòm hai ống kính, chạy bằng pin, dùng máy ngày nhìn ra biển. Chiếc máy cứ 30 giây, nháy sáng lên một lần, ánh sáng màu hồng xanh. Tia sáng máy này thật nhỏ, thậm chí trong đêm tối, nếu có người chỉ đứng cách xa 10 mét cũng không thấy gì. Thuyền ở ngoài khơi, cách xa hàng chục cây số, trong đêm tối, cũng dùng loại máy này nhìn vào bờ, sẽ nhìn thấy điểm sáng loé lên xanh như làn chớp, từ đó, thuyền theo điểm nháy sáng mà vào. Tôi có cảm tưởng, chúng tôi như những cô nàng và những anh chàng đom đóm bật tín hiệu để tìm nhau trong đêm khuya. Chỉ có khác là khoảng cách quá gần và quá xa.

Tôi đang bần thần nghĩ ngợi, đưa mắt nhìn những người thủy thủ đang mỗi người một việc chuẩn bị cho con thuyền sắp rời bến. Ông Phan đứng nói chuyện với ông già thuyền trưởng quay lại khẽ đập lên vai tôi, cười:

– Làm gì mà mặt thần ra thế?

Tôi quay lại, cũng cười, nói với Phan mà cũng như nói với ông già:

– Tôi linh cảm thấy chuyến này đi dứt khoát, phải đến bờ.

Cả hai, ông già và Phan, cùng cười. Rồi không ai bảo ai, đều ngửng lên nhìn trời, đầu hơi gật như thừa nhận lời tôi nói là có giá trị. Chẳng hiểu vì quên hay cố ý, lần này Phan lên bờ không bắt tay tôi, chỉ đứng giơ tay vẫy vẫy, khi con thuyền từ từ quay mũi rời bến.

Tâm lý của con người thật cũng lạ! Mới khi ra đây, tôi thấy lòng thanh thoát lâng lâng, thế mà lúc con thuyền rời bến, thấy Phan đứng trên bờ với chiếc xe díp. Bóng dáng Phan mặc quần áo trắng nốp, nổi bật giữa mầu xanh của cỏ cây, tôi cảm thấy ngút ngàn xa vời vợi, như hình ảnh của cả miền Nam cũng mất dần, mất dần; nhất là lúc đó một giọng hát trữ tình của một người con gái phát ra từ chiếc radio nào đó của mấy dẫy doanh trại phía mé sông, đang nỉ non réo rắt, trải dài trên sông nước buổi trưa Hè. Tôi không biết bản nhạc này, nhưng không hiểu tại sao, tôi đã nghe bản nhạc đó không bằng tai mà bằng nội tâm, lúc như tha thiết nhắn nhủ, lúc như oán trách giận hờn giống một bài ca tôi thuộc:

“Bến ấy…ngày xưa…người đi…vấn vương…biệt ly…

“Ra đi … bến xưa…ngày ấy…

“Anh như… bóng mây…hồng trôi…

“Về chốn xa vời…lòng nặng…nhớ thương…”

Thuyền đã ra xa. Tiếng hát của chiếc máy phát thanh chỉ còn văng vẳng lẫn vào tiếng máy thuyền. Tự nhiên, mắt tôi nhắm lại, tay tôi bấu chặt vào mui thuyền, rồi như có tiếng hát khác âm vang từ đáy lòng, tôi tưởng tai tôi nghe rõ:

“… Quên đi … sầu biệt ly, anh còn … đi theo gió,

“Hát buồn … nữa chi … để nhớ … người đi …”

Mặt trời đã xế về hướng Tây, vài con hải âu trắng toát đang chao đảo ngang dọc trên nền trời xanh lơ. Thỉnh thoảng, một con lại bay sà xuống, lướt qua mạn thuyền, chiếc mỏ ngúc ngắc nghiêng ngó, nửa như muốn ngừng đáp xuống, nửa như muốn chào tiễn biệt con thuyền … viễn xứ.

Nhìn về phương Nam mờ mờ chân mây, vài vạt mây màu vàng óng nằm phơi dài trên mặt nước. Không khí chiều Hè trên đại dương vẫn ẩm sệt, hăng hăng, mằn mặn. Bóng chiều của chiếc thuyền ngã dài và nhọn hoắt như một con dao, đang phạt băng băng những ngọn sóng bạc đầu. Gió càng về chiều càng lộng, khiến con thuyền càng nhấp nhô lên xuống. Trong sách vở trước đây, các văn nhân thi sĩ tả cảnh hoàng hôn trên biển cả thật là tuyệt vời. Tôi có ý định sẽ cứ đứng thế này mãi mãi, để chờ cho mặt trời chìm dần và lặn sâu xuống nước, xem thế nào. Nhưng, người tôi đã nôn nao ngất ngư bởi con thuyền rồi, vì vậy, tôi đành bỏ cái dịp ngàn năm một thuở đối với tôi này, để chui vào khoang thuyền nằm bẹp. Lúc tôi đang chuẩn bị cái thế để nằm sao cho đỡ say sóng, thì anh thợ máy, hai tay đen nhẻm dầu mỡ, từ dưới hầm thuyền chui lên. Nhìn chiế lưng và đôi bàn tay đồ sộ của anh, tôi đanh định nở một nụ cười để chào anh “Tạc giăng” dễ mến lần trước. Tôi ngạc nhiên đến ngỡ ngàng, khi anh quay lại nhìn tôi. Anh có một khuôn mặt trẻ măng với một thân hình lực lưỡng đầy sinh lực. Anh ngập ngừng hơi mất tự nhiên. Một anh thủy thủ đang ngồi dựa một góc khoang đọc sách, có lẽ vừa nãy đã thấy vẻ ngạc nhiên của tôi, nên dù tôi chưa hỏi, anh đã hất hàm về phía anh thợ máy, giọng Nghệ An nghe như hát:

– Anh lần trước, vì có chuyện gia đình, nên không đi, đây là em trai anh ấy.

Thảo nào! Như cùng đúc trong một chiếc khuôn, không những giống nhau về cơ thể mà lại còn cả về nét chất phác hiền lành. Tôi mỉm cười và gật đầu chào, như muốn trao anh niềm cảm mến. Tôi muốn nói chuyện với anh nhiều, nhưng một con sóng giật chiếc thuyền làm tôi đổ nằm xuống. Tôi đành nằm bẹp luôn! Một đêm rồi lại một ngày nữa trôi qua, tôi vẫn rã rượi nằm yên trong khoang, vừa say sóng vừa không ăn gì, tôi chỉ uống được hai ly sữa. Tôi chỉ nhớ mơ hồ vào lúc buổi trưa hôm nay, tuy thuyền đi trên mặt biển chỉ có trời với nước mênh mông, thế mà không khí oi nồng, mồ hôi của tôi ra ướt cả quần áo làm người tôi càng bứt rứt khó chịu.

Những tiếng hò hét quát tháo làm tôi tỉnh hẳn người ra, tôi bò giật dậy, định cố bò ra xem có chuyện gì, nhưng người tôi lảo đảo, hoa mày chóng mặt. Một anh thủy thủ thấy tôi như vậy nên nhanh chân lại đỡ. Tôi vịn tay anh, hỏi giật giọng:

– Chuyện gì thế?

– Có một chiếc thuyền lạ cùng đi hướng mình, nhưng cách xa từ phía trong bờ, nó bám mình hơn hai tiếng đồng hồ rồi!

Để sáng tỏ thêm tôi hỏi tiếp:

– Mắt thường có nhìn thấy không?

– Nhìn kỹ thì chỉ thấy một điểm trắng xám lẫn vào trong sóng, nhưng nhìn bằng ống nhòm, thì rõ là một chiếc thuyền có vẻ to hơn thuyền mình.

– Vừa rồi ông thuyền trưởng hò hét cái gì thế?

Anh thủy thủ nhìn tôi một lúc, rồi dè dặt:

– Anh thợ máy muốn quay mũi thuyền chạy tránh ra khơi nhưng ông già quyết định vẫn thẳng tiến!

Nghe qua sự việc, nếu tôi không mệt mỏi, chóng mặt, tôi phải quan sát cụ thể, rồi có ý kiến. Nhưng, phần vì quá mệt nhọc (ngay từ hôm trước, những khi lịm thiếp đi không kể, lúc nào tỉnh dậy, nôn oẹ mật xanh, mật vàng. Tôi chỉ mong làm sao cho chóng tới điểm đổ bộ, để tôi lên bờ, dù là nguy hiểm. Chứ cứ dập dềnh với sóng gió suốt ngày đêm như thế này, tôi còn thấy sợ hơn.) Phần khác, thấy hiện tình chưa quan trọng lắm, nên tôi nằm vật ra sàn. Tuy vậy, vì sự sống còn, tôi nằm mà bao tâm trí vẫn tập trung nghe ngóng, theo dõi thái độ của ông già thuyền trưởng và các anh thủy thủ.

Mãi đến gần 1 giờ, vẫn chẳng thấy động tĩnh gì khác. Tiếng máy thuyền vẫn bành bạch nổ rền lẫn vào tiếng ì ào của sóng biển. Để cho yên tâm khỏi khắc khoải nghe ngóng, tôi cố chống tay bò dậy, ra hiệu cho một anh thủy thủ đang ngồi gần đấy, anh tưởng tôi muốn ăn, nên đến hỏi:

– Ông muốn uống sữa?

Tôi lắc đầu, hỏi ngay điều tôi muốn:

– Chiếc thuyền lạ bây giờ ra sao?

Anh sáng mắt lên, nói gọn lỏn:

– Nó biến vào bờ rồi.

Chỉ vì lòng thấp thỏm về chiếc thuyền lạ, nên tôi mới nhỏm dậy hỏi, nghe anh nói xong như vậy, tôi lại vật ra nằm. Trời tối đã lâu, lúc này đã chín giờ, tôi vẫn vẩn vơ nghĩ lại chuyện buổi trưa. Tuy nằm mà người cứ lắc lư, nhấp nhổm như đưa võng. Kể cũng lạ, tôi rất khoái cưỡi ngữa phi nước kiệu, mà lại không nằm võng được. Tôi nghĩ có lẽ khi xưa bố mẹ đẻ ra và lúc nhỏ đã không cho tôi nằm võng chăng?

Tiếng máy vẫn đều như một bản nhạc đơn điệu đưa dần tôi vào giấc ngủ mê man vì mệt mỏi. Mãi cho đến khi có ai lay chân, tôi choàng dậy. Ông thuyền trưởng già, vẻ mặt khẩn trương, thì thào:

– Dậy đi, ông cán bộ, đã đến nơi rồi, chuẩn bị để vào bờ!

Tôi tỉnh hẳn ra, trời vẫn còn xám xịt, mịt mờ. Con thuyền vẫn nhấp nhô, tiếng sóng đập vào mạn thuyền bành bạch chắc nịch. Phía ngoài mũi thuyền, 4, 5 anh thủy thủ đang lúi húi người bơm chiếc xuồng cao su, người nắp máy nổ. Tôi hiểu giờ phút nghiêm trọng đã đến. Tôi muốn đứng dậy chui ra ngoài, mà người lảo đảo xiêu vẹo. Bác già đã đỡ cho tôi, trong khi cả hai anh thợ máy và 4 anh thủy thủ đang hạ chiếc thuyền cao su xuống nước. Giữa mặt biển bao la, ánh sáng chỉ lờ mờ, không trông rõ mặt người. Thái độ của mọi người đều vội vã, lộ hẳn nét lo âu, căng thẳng.

Ba anh thủy thủ và anh thợ máy đã xuống xuồng cao su. Do sóng lớn, thuyền cao su và hải thuyền cứ nhồi lên thụt xuống ngả nghiêng, nên mọi người phải đỡ tôi và chuyển những vật dụng tôi mang theo đưa xuống xuồng cao su. Người tôi vẫn mệt lả, đến nỗi trong lúc đỡ tôi xuống xuồng cao su, bác thuyền trưởng già và anh thủy thủ còn lại trên hải thuyền đã nắm chặt tay tôi thầm thì: “Chúa phù hộ cho anh,” mà tôi không trả lời đáp lại ân tình của họ.

Xuồng cao su đang tiến dần vào bờ. Tiếng máy ro ro rất nhỏ, lẫn vào tiếng sóng, dù ở cách mươi mét cũng không nghe thấy, nhưng có sức đẩy thật mạnh. Chiếc thuyền vẫn lướt sóng tiến dần vào đất liền. Do giờ phút quyết định đã đến, và cũng do nước biển bắn vào mặt tôi, tôi tỉnh hẳn lại, không còn thấy mệt như trên hải thuyền. Tôi muốn biết khoảng cách đến bờ còn bao xa, nên quay lại hỏi một anh ngồi cạnh. Các anh đều khoắng tay rối rít ra hiệu đừng lên tiếng, rồi một anh nghé vào tai tôi thì thầm:

– Hải thuyền xa bờ khoảng 5 cây số.

Tôi nhìn cả 4 anh, chẳng rõ mặt người nào. Tôi chỉ biết anh thợ máy, qua dáng dấp to lớn của anh đang cầm lái. Mặt nước lấp lánh như có trăm ngàn con đom đóm đang đùa bỡn trong những ngọn sóng bạc đầu, lung linh như hàng ngàn những đóa kim cương khổng lồ.

Nhìn về phía bờ xa xa chỉ một mầu đen kịt, tôi tự hỏi trong chỗ đen tối mịt mùng ấy, cái gì đang chờ tôi? Trăm ngàn cái chưa thể biết, ai trả lời được? Tôi cúi nhìn đồng hồ, 01 giờ 15 phút. Quả các anh là những người đi biển đêm có kinh nghiệm. Trước mắt, tôi vẫn thấy chỉ là một mầu đen bao la, thế mà các anh đã tắt máy, rồi hai anh một bên, dùng bốn mái chèo con, nhẹ nhàng đều nhịp đẩy chiếc xuồng đi. Chừng 10 phút, tôi đã thấy mờ mờ phía trước một vệt trắng to, thuyển đã vào bãi cát.

Hai anh đã lội xuống nước. Tôi một tay xách vội chiếc ba lô nặng trĩu vật dụng, một tay xách đôi dép râu. Nhanh nhẹn, một anh phía sau đã đỡ chiếc ba lô cho tôi, còn hai anh phía dưới đã giúp tôi (phải nói, hai anh đã bế tôi đặt hẳn lên chỗ cát khô) để tôi khỏi lội vài mét nước sát bờ. Khi họ giao chiếc ba lô cho tôi xong, bỗng một anh nắm chặt cánh tay tôi, thì thào:

– Anh đi, chúng tôi về!

Rồi các anh vội vàng lên xuồng, quay mũi chèo ra. Mãi lúc tôi định được thần trí, chiếc thuyền cao su chỉ còn mờ mờ phía ngoài đại dương.

15. Vào Đất Địch…

Đã bước chân lên bờ, mà người tôi vẫn còn quay cuồng mệt lả, tôi nằm luôn tại chỗ ngoài bãi cát trắng dăm phút cho lại sức. Bây giờ chỉ còn một mình, tôi nhìn vào phía trong, vẫn đen kịt một mầu, không thấy một hình dáng nhà cửa, cây cối. Tuy người chưa hết rã rượi, nhưng theo cái bản tính tự nhiên của sự sinh tồn, tôi vội vơ chiếc ba lô, tay xách đôi dép râu, chúi đầu tiến vào phía trong, chỗ mầu đen, để ẩn nấp nằm nghỉ. Chứ đây là giữa bải cát trắng lồ lộ, nằm làm sao yên. Chạy được vào chục mét, tôi thấy bãi cát có những khoảng, đốm loang lổ mầu đen. Tôi bước chân lên, thì ra là cỏ! Chẳng biết là thứ cỏ quái quỷ gì mọc trên cát lại toàn là gai, đâm vào chân tôi đau nhói. Vội vàng ngồi xuống, tôi thụt chân vào đôi dép râu, rồi tiếp tục lần mò chạy vào sâu nữa, qua hết bãi cát, đất sỏi càng lúc càng dốc lên. Bỗng, tôi bước hụt chân, cả người lẫn chiếc ba lô nặng chịch đều lộn tùng phèo xuống một hố đầy lá và cành cây khô. Sườn tôi đập vào một hòn đá đau điếng, nhưng vì hốt hoảng, căng thẳng, tôi vẫn thục mạng bò lên khỏi hố. Tôi cứ tưởng chiếc hố là cái bẫy của kẻ thù có gài mìn, nó sắp nổ.

Cứ ôm chiếc ba lô lúi húi xê dịch sâu mãi vào phía trong cho đến một lúc người quá mệt, tôi ngồi thụp xuống, ghé sát mặt đất, căng mắt ra nhìn vào màn đêm đen kịt. Nhìn lên nền trời xam xám, bóng mờ mờ của một cây to trước mặt. Tôi lầm lũi tiến về chiếc cây. Tôi đã tỉnh dần, nhìn đồng hồ đã hai giờ hơn. Trời vẫn tối như mực, giơ bàn tay trước mặt không nhìn thấy. Tôi chỉ còn dùng tai, vểnh lên nghe ngóng. Chỉ nghe những tiếng xào xạc của lá cây lẫn vào tiếng rì rào của sóng biển xa xa.

Dựa gốc cây mươi phút đã đỡ mệt, tôi lần mò lấy tay sờ soạng mặt đất chung quanh, xác định điạ hình, đào chôn những thứ tôi không cần mang theo. Đất cát nên tương đối mềm. Tôi lần mò lấy chiếc xuổng con trong ba lô. Đã mấy lần thực tập chôn giấu vật dụng trong đêm, tôi hiểu điều quan trọng nhất là không để rơi ra ngoài một hòn đất mới nào. Một chiếc túi to may sẵn, bao nhiêu đất cát đào lên, đều đổ vào đấy.

Trong lúc loay hoay làm việc, tôi nghĩ đến các vỏ bọc trong kế hoạch khai báo khi bị rơi vào tay địch mà Sài Gòn đã huấn luyện cho tôi. Ngay từ khi đó, tôi thấy Cục Tình Báo miền Nam đã đánh giá cộng sản thật ngây thơ. Vỏ bọc 2 và 3 làm sao cộng sản tin được. Sài Gòn không thấy làm như vậy sẽ gặp hai khuyết điểm: thứ nhất, nó sẽ không tin vào một vỏ bọc nào hết. Thứ hai, chắc chắn thân tôi sẽ nhừ đòn của chúng. Cho nên, lúc này tôi quyết định bỏ hẳn vỏ bọc 2 và 3. Tôi đã chôn mấy chục lọ thuốc Tây của vỏ bọc 2, cả lương khô, bi đông lọc nước, chiếc máy hồng ngoại tuyến, 200 đồng tiền miền Bắc, thuốc lá “Đại Tiền Môn”, diêm quẹt. Những thứ này xét ra không thực tế, lại vừa kềnh càng lỉnh kỉnh, vừa càng dễ bị phát hiện. Tôi chỉ mang theo hai trăm đồng với một chiếc túi dết, cùng một số quần áo lót, nghĩa là những thứ đã cũ của miền Bắc. Những tài liệu, đựng trong một cái túi tí con, tôi đã khâu phía bên trong quần lót. Tài liệu này, ngay từ khi rời Đà Nẵng tôi đã luôn mang theo trong mình. Dù vậy, tôi vẫn thỉnh thoảng phải cho tay vào sờ, vì đó là linh hồn của chuyến đi.

Vì đã có kinh nghiệm, nên chỉ hơn một tiếng đồng hồ tôi đã chôn giấu hoàn hảo. Làm xong, đưa tay sờ độ dày của lá khô bên cạnh, tôi xoa chỗ chôn vật dụng cho bằng như cũ.

Nhìn đồng hồ 3 giờ 30 phút, quá hồi hộp, căng thẳng thần kinh trong khi làm việc tôi không để ý, bây giờ tôi mới thấy chỗ sườn đau ê ẩm, nhoi nhói. Tôi sờ tay vào không thấy sưng. Tôi tự nhủ, kệ nó, rồi nó sẽ khỏi. Lúc này, tôi mới thấy đói và thấm mệt. Tôi gối đầu lên túi dết, dự định nằm một tý để lấy sức. Vừa mệt, vừa thiếu ngủ tôi thiếp đi lúc nào không hay. Khi tai tôi thoáng nghe tiếng người gọi nhau í ới, tôi giật mình thức giấc. Bò nhổm dậy, tôi mở to mắt, vểnh tai lên, hướng về có tiếng người khi nãy. Tôi nhìn đồng hồ mới 4 giờ 30. Trời vẫn còn tối đen. Tôi ngạc nhiên, hay là tôi mơ. Tôi vẫn nhớ đinh ninh lời ông Phan nói: “Nơi đây có thể nghỉ ngơi hàng tuần thoải mái,” nghĩa là khu vực này không có người ở. Với khả năng thính giác của mình, tôi tin là đã nghe đúng, vì vậy tôi tiếp tục nghe ngóng. Nhưng chỉ là tiếng gió rì rào lẫn vào tiếng xào xạc của vài chiếc lá khô rời cành.

Mãi chả thấy gì, vẫn cái im lặng của đêm trường. Một tiếng cú ở đâu xa rúc lên trong đêm khuya, nghe dài lê thê như tiếng thở than của những kiếp người nhiều cực nhọc gian khổ. Tôi lại nằm xuống như cũ. Chưa được mười phút, đột nhiên một tiếng cười dòn ngặt nghẽo của một người con gái, lẫn vào trong gió làm tim tôi thắt lại. Tôi nhỏm bật dậy, tiếng một người đàn ông nghe rõ mồn một:

– Để cái liềm đấy cho tui!

Không còn nghi ngờ gì nữa, với phản xạ tự nhiên, tôi vội vơ lấy cái túi dết và lủi dần, xa hướng có tiếng nói.

Trời sáng dần, mờ mờ, tôi đã nhìn ra cảnh vật. Ngay chỗ tôi ngồi là một chỗ nghĩa địa, lưa thưa một số ngôi mả, lác đác chung quanh vài bụi cây nhỏ cành lá khô cằn như thiếu nước, bụi nào cao nhất cũng chỉ chừng 2 mét. Cả một khu vực, chỉ có một cây to duy nhất chỗ đêm qua tôi đã lần mò tới được. Lướt tầm mắt về những phía xa xa, bao quanh phía trong, toàn là những lũy tre làng ngang dọc. Như vậy, ở đây thật gần xóm làng!

6 giờ, xa xa phía làng, một đoàn người trai gái, liềm hái đang đi về phía tôi. Nhìn quanh, chẳng còn chỗ nào kín đáo để ẩn núp. Gần chỗ tôi đang đứng, chỉ có duy nhất một bụi cây nhỏ, đường kính chừng 2 mét và cao cũng khoảng 2 mét là cùng. Cấp bách quá rồi, tôi đành chui vào đấy, trong khi đoàn người vẫn đang đi tới. Con đường mòn đi qua chỉ cách chỗ bụi cây tôi nấp chừng 6 mét. Trong bụi lại có một ổ kiến vàng to tướng, kiến bò vào chân, vào người tôi cắn nóng ran. Tôi chỉ dám lấy hai tay xoa khe khẽ, không dám làm mạnh vì sợ rung cành lá.

Khi đoàn người đi ngang qua bụi cây, tôi tường như nghẹn thở. Nếu có ai đó buồn đi tiểu, rẽ vào bụi cây này, ôi thôi, cuộc đời tôi sẽ… đi đứt! Điều làm tôi hoang mang không ít nữa là họ nói tiếng ríu rít như chim, nhiều tiếng tôi không hiểu được. Tiếng Nghệ An tôi đã biết; ở đây, không phải tiếng đó. Như vậy, đây chỉ có thể là Hà Tĩnh. Thực ra, tôi cũng chỉ suy đoán chứ chưa dám khẳng quyết, vì Phan đã nói rõ ràng:

“Chỗ Bình đổ bộ thuộc tỉnh Nghệ An giáp với Hà Tĩnh. Đây là vùng quê hương của họ, họ là thổ công của vùng này. Bình hãy yên tâm!”

Còn một điều nữa, một phần do tinh thần tắc trách của Phan, nhưng phần chính là do tôi. Do tinh thần chủ quan xem thường địch. Tự tin vào khả năng của mình sẽ qua mặt chúng được, cho nên tôi đã không hỏi vùng tôi đến là làng nào, xã nào, huyện nào khi quyết định thay đổi điểm đổ bộ khác. Đó là một khuyết điểm trầm trọng của tôi, người đi vào đất địch để hoạt động.

Nhưng qua thực tế, dù tôi có hỏi kỹ để biết rõ chăng nữa, tôi vẫn bị tình trạng hoang mang như lúc này. Nghĩa là, tôi cảm thấy hải thuyền đã không đưa tôi đến đúng chỗ quy định, mà Phan đã giao ước với họ. Ngồi trong bụi cây, càng suy nghĩ mặt tôi càng nóng lên. Như thế này, thật là đầy cam go, gay cấn: Một người trai Bắc lạ, ở giữa một vùng mà chưa biết đích xác thuộc tỉnh nào, chứ đừng nói làng xóm địa phương.

Lúc này, đoàn người đã xuống ngay một thửa ruộng cách chỗ tôi nấp chừng 200 mét để gặt lúa. Họ cười nói, chuyện trò ầm ĩ. 7 giờ, rồi 8 giờ. Mặt trời chói chang, đỏ như lửa đang bò lên cao từ hướng Đông. Đến đây, tôi mới nhớ lại chiếc mũ cối, vì vội vàng, lại rũ rượi vì say sóng, tôi đã để quên trên hải thuyền. Thật là lúng túng nhiều mặt. Ở trong bụi mãi đâu có được. Trời nắng, khi họ nghỉ gặt, giải lao, họ sẽ kéo vào nơi bóng mát nghỉ ngơi. Tôi bấn cả người lên, ngó ngấp chung quanh. Giá có cách gì bới đất để chui xuống! Phần bị kiến cắn nhiều, lại còn sợ hãi, nên căng thẳng làm tôi tê người đi.

Nhìn lại phía cây to, chỗ tôi chôn giấu vật dụng, cách bụi cây tôi đang nấp chừng 30 mét. Do đêm tối sờ soạng, tôi đã để rơi mấy hòn đất ra ngoài, mà tôi không biết. Hơn nữa, lá phủ ngụy trang chỗ chôn cũng chưa ổn như mình nghĩ. Người tinh ý nhìn thấy, sẽ tò mò, phát hiện ra ngay. Làm sao đây? Đây cũng là chuyện sống chết, tôi phải tìm mọi cách để giải quyết. Tôi lựa một góc khuất do bụi cây che với nơi ruộng của đoàn người đang gặt. Tôi bỏ túi dết lại trong bụi, nằm sấp, bò về phía cây to.

Tôi nhặt những hòn đất vương vãi đút dần vào túi quần, xáo lại những chỗ lá khô cho đồng nhất, rồi tôi bò về bụi, móc những hòn đất bỏ ra.

9 giờ rồi. Mồ hôi tôi ra ướt đẫm áo, vừa vì tinh thần căng thẳng, vừa vì cái nóng oi nồng của mùa Hè. Mới còn sớm mà sao gió thổi từ hướng Tây nồng nực, gió cũng nóng. Lúc này tôi phải quyết định, dù có bị bắt liền tại đây. Muốn hay không tôi cũng phải chui ra ngay khỏi cái bụi cây quỷ quái này. Vì còn một điều gay cấn nữa, khi sớm, vì sợ và vì bị kiến cắn, tôi không để ý. Bây giờ, trời sáng rõ tôi mới thấy trên đầu và chung quanh tôi, toàn là sâu róm! Trong cuộc đời tôi, không hiểu sao loại này tôi ghê sợ nhất. Tôi chẳng biết sợ thứ gì, dù trong rừng gặp hổ hay rắn. Ngay khi còn đi học ở Sài Gòn, có lần tôi đã trèo vào chuồng cá sấu để sờ da nó. Một vài người bạn thân chẳng có thể làm gì được để bắt tôi phải chiều theo ý họ, trừ khi họ có con sâu róm. Chính tên Đặng Trí Hoàn đã cầm một cành điệp có con sâu róm, đuổi tôi chạy dọc suốt mấy phố chung quanh trại học sinh, để xẩy ra một tai nạn giữa hai người đi xe đạp, trên đường phố, đầu năm 1957.

Nghĩ lại lúc ngồi trong bụi cây, bây giờ tôi còn nổi gai ốc lên. Sau này, lúc cộng sản khai thác cung, nếu chúng biết được nhược điểm ấy của tôi, cứ đưa sâu róm dí vào người, không biết lúc ấy tôi sẽ như thế nào. Tôi chui ra khỏi bụi cây ngay! Tay vuốt lại quần áo ngay ngắn, khăn mặt vắt vai, một bên khoác túi dết, tôi đường hoàng đi ra.

Tôi đã có chủ định, cứ phải vào làng. Hiện giờ, tôi chưa xác định được Quốc lộ 1 nằm về hướng nào phía bên trong. Tôi đưa mắt nhìn khắp phía xa xa, trong cái màu xanh bạt ngày của cây và núi, tôi cố chú ý, cũng chẳng thấy vật gì di chuyển. Lúc đó khoảng 9 giờ 30 sáng. Nhìn về phía đoàn người đang gặt, tôi tươi mặt, vừa cười, vừa giơ tay ra hiệu chào và tiến về phía họ. Vài cô gái tự nhiên cười ré lên, tay vẫy vẫy gọi:

– Anh ơi! Đi đâu đấy, xuống đây gặt lúa với chúng em!

Một số thanh niên cũng cười. Tôi cứ tiến bước về phía họ, rồi tay khoắng lên lia lịa, nói to:

– Chào các bạn, vui quá, lúa năm nay có khá không?

Tôi đi đến nữa chừng, rồi vờ chợt xem đồng hồ tay, tôi ngửng lên, tay chỉ về phía làng:

– Chết đã 9 rưỡi rồi, tôi phải vào gặp ông chủ tịch đã!

Mồm nói, chân tôi quay lại phía làng, vừa đi tới vừa ngoái lại, đưa tay vẫy vẫy:

– Chiều nhé, tôi còn ở lại đây đến chiều!

Các cô rối rít léo nhéo, vẫy gọi tôi. Đi dăm chục mét, tôi quay lại cũng vẫy, mấy chiếc bàn tay giữa ruộng cứ giơ mãi lên vẫy tôi. Đã đi xa, qua được “ca” này, tôi cũng thêm phấn chấn tinh thần. Làm sao họ có thể biết được rằng, tôi vừa ngoài biển vào đây đêm vừa qua. Từ nơi bụi cây, dẫn vào làng là một con đường đất đỏ, dài chừng độ 700 mét. Trời nắng chang chang, đầu lại không mang mũ nón, thật là bất tiện. Trên đường đi tới, sẽ càng khó khăn thêm ra.

Vào tới gần làng, tôi thấy trước một chiếc cổng tre là một người đàn ông cởi trần, mặc chiếc quần đùi đen, khoảng năm chục tuổi, ngồi ngay xuống vệ cỏ. Tay ông ta cầm chiếc roi tre, đập đập vào cây khoai nước dưới ruộng như đùa nghịch chơi một mình. Ngay từ xa còn cách khoảng 200 mét, tôi đã thấy lão nhìn phía tôi rồi, thế mà giờ đây tôi đi gần đến, lão vẫn coi như không biết. Thái độ của lão già làm tôi hơi chờn. Theo lẽ thông thường, trong một xóm làng vắng vẻ, thấy một người lạ đi đến, phải trố mắt ra nhìn mãi mới phải. Khi tôi tới, còn độ 2, 3 mét, tôi phải lên tiếng trước xem sao:

– Chào bác, bác ngồi chơi? Cháu vừa ngồi ngoài đó! (tay tôi chỉ về hướng đoàn người đang gặt phía xa) nói chuyện với các anh chị vui quá. Ở ngoài đó cháu mới uống nước đấy, thế mà vào tới đây đã khát rồi. Cháu vào xin bác ngụm nước nhé?

Miệng tôi nói, chân như có vẻ định đi vào cổng. Tôi đã thấy một căn nhà tranh con lụp xụp, với vại nước để bên cạnh chiếc cầu ao bằng 3 thân tre ghép lại. Tôi chào và nói bấy nhiêu lời, mà lão chẳng trả lời tôi một tiếng. Lão ngước nhìn tôi, rồi đứng dậy đi về phía trong làng, nói mấy tiếng cộc lốc:

– Uống nước thì đi theo tui!

Tôi đã tưởng lão câm, bây giờ lão mới nói. Vậy, từ nãy giờ lão là con người tôi đáng sợ. Lão cứ im lặng đi trước, tay vẫn cầm cái roi tre vung vẩy. Tôi phải phá tan cái không khí nặng nề này:

– Vụ mùa năm nay có khá hơn năm ngoái không bác? Năm ngoái cháu về, chỉ thấy tương đối thôi, bác nhỉ?

Im lặng một lúc, rồi lão trả lời tôi, giọng nhát gừng:

– Cũng khá!

Thật khó bắt chuyện! Thôi cứ đành đi theo lão, rồi sẽ tùy cơ ứng biến. Mà lão dẫn đi uống nước xa thế! Mãi gần giữa làng. Tới nơi, tôi nhìn thấy một sân gạch rất rộng, trên đó mấy người đang gò lưng kéo con lăn lúa bằng đá. Mấy đống khoai lang to tướng bên cạnh sân. Mấy thanh niên nam nữ đang chọn khoai từ đống này sang đống kia. Tôi hiểu ngay, thằng cha già này dẫn tôi vào chỗ chết.

Tôi bỏ lão, sà ngay vào chỗ đống khoai to. Tôi trầm trồ khen những củ khoai lớn và hỏi chuyện mấy người thanh niên đó. Tuy tôi nói chuyện, mắt vẫn không rời lão già chó chết. Lão đi vào căn nhà con phía bên kia sân, trong đó, tôi thấy mấy thanh niên mặc quần áo nâu, mấy khẩu CKC dựng ở mé vách. Tôi đoán là du kích! Lão già ghé tai một người nói gì đó, và người này nhìn về phía tôi. Phải chủ động, tôi chào mấy người nhặt khoai, rồi đi về phía nhà du kích. Lão già mắc dịch trở ra đường cũ, về ngay. Khi đi qua sân lúa, tôi cúi xuống nhặt một bông lúa lên nhấm. Tôi biết mấy tên du kích đang theo dõi, không bỏ sót một hành động nào của tôi. Tôi vẫn đủng đỉnh ở giữa sân, toi còn nói như đùa với mấy người kéo lúa:

– Như thế này là đốt giai đoạn đấy!

Tôi và mấy ngưòi ấy cùng cười vang. Tôi vừa đi vào nhà, vừa gật đầu chào mấy anh du kích. Thấy thái độ tự nhiên của tôi, một anh có vẻ là chỉ huy, cầm cái tích sứt vôi, rót vào một trong 3 cái chén mẻ, cáu ghét đen xì, đang để lỏng chỏng trên chiếc bàn mộc bám đầy bụi đất. Anh vừa cười vừa nói:

– Mời đồng chí uống nước!

Tôi cầm chén nước và xách luôn cả tích nữa. Uống hết, tôi rót tiếp, miệng như nói một mình:

“Tại anh Đạt đây! Hôm qua, tôi đã bảo tôi không uống được nữa, anh cứ cố ép, làm từ sáng đến giờ uống bao nhiêu nước. Còn ngủ nhỡ giờ nữa chứ!”

Anh du kích chỉ huy (trong 3 người, tôi chỉ thấy anh ta nói, nên đoán vậy) chừng độ 25 tuổi, nhìn tôi có vẻ hơi ngập ngừng:

– Thế này không phải, đề nghị đồng chí cho chúng tôi xem giấy tờ?

Tôi tươi nét mặt, nhìn anh, tay cho vào túi sau rút ví, miệng nói:

– Hoan nghênh tinh thần cảnh giác cao của các đồng chí!

Tôi mở ví, rút tờ giấy thông hành, nhưng cố ý dềnh dàng cho họ xem thấy bìa giấy nghĩa vụ quân sự, và một số giấy tờ khác. Anh ta cầm xem, tôi coi như không để ý, chỉ tay ra sân nói với hai anh kia:

– Năm nay, vùng mình khá hơn năm ngoái nhiều!

Trong khi đó, tôi thấy thái độ của anh xem giấy tờ có vẻ ngần ngừ. Thực ra, lúc này ruột tôi cũng đang co thắt lại, chả biết giấy tờ có chính xác không, và tình huống này sẽ dẫn tới đâu. Tuy vẫn nhìn ra sân, nhưng tôi không bỏ sót một cử chỉ nào của họ. Tôi thấy anh đó nói nhỏ gì với một anh du kích khác, hình như có nói đến xã trưởng, rồi anh kia nói không có nhà. Sau đó lại nói đến cơ quan, lại nghe hôm nay Chủ Nhật, rồi tôi chỉ nghe thoáng thấy tiếng “Phong”. Lúc tôi quay lại, anh du kích chỉ huy cầm giấy, mỉm cười nói với tôi, có vẻ ngài ngại:

– Tôi đề nghị anh (bây giờ y gọi tôi là anh, vì giấy tờ là học sinh) theo anh này lên gặp ông chủ tịch.

Tôi sáng mắt lên, vẻ ngạc nhiên, nói:

– Có phải lên nhà ông Phong phải không?

Anh đó mở mắt to nhìn tôi, rồi gật đầu. Tôi quay lại, vừa kéo tay anh du kích sẽ dẫn tôi đi, vừa nói to:

– Hay quá! Tôi cũng đang định đến nhà ông ấy đây. Vậy thôi, nào ta đi!

Thái độ này của tôi đã làm không khí cởi mở hơn. Anh du kích cầm giấy tờ đi trước, không mang súng. Tôi thấy tình hình không căng lắm.Trên đường đi, tôi tìm mọi cách để kể chuyện trò vui vẻ với anh du kích. Chủ đích trong lòng, tôi chỉ muốn hỏi anh ta đây là làng gì, xã gì, huyện hay tỉnh gì mà thấy điều kiện không thể cho phép. Đã nhiều lần lên tiếng ngập ngừng lên đến cổ họng, rồi lại đành kìm nuốt xuống, chỉ sợ hở cái đuôi ra thì nguy. Đường trong làng vắng vẻ quạnh hiu, lác đác đây đó vài mái nhà tranh trông lụp xụp tiêu điều lẫn vào lũy tre, nghe thật vắng lặng hiu hắt. Trái ngược với trái tim tôi, đang đập thùm thụp như trống làng vào đám.

Tới gần một chiếc ngõ có cổng gạch, anh du kích rẽ vào, tôi biết ngay là nhà tên chủ tịch (không biết là huyện hay xã). Nhìn vào trong, tôi thấy một cái sân gạch, một bà cụ mặc váy nâu, đang khòm lưng hý hoáy cầm chiếc chổi quét ở góc sân. Hai căn nhà làm nối vào nhau thành hình thước thợ, tuy cũng là nhà tranh nhưng rất khang trang sạch sẽ so với những nhà khác trong làng, vỉa hè bó gạch. Khi vào tới sân, một con chó mực con bé tí từ trong nhà bếp ra hè, đứng ngửng đầu lên sủa húng hắng. Bà cụ vừa ngửng lên, mắt hấp háy nhìn chúng tôi, mồm vừa xùy chó. Tôi sà đến chỗ bà cụ, để một tay lên vai cụ, rồi niềm nở:

– Thưa cụ, cụ còn nhớ cháu không ạ, cụ dạo này có được khoẻ không?

Tôi nói to cho tên du kích cũng nghe thấy. Bà cụ đưa đôi mắt kèm nhèm nhìn tôi ngập ngừng:

– Không dám, chào anh, anh đến chơi!

Trong khi đó, mắt và tâm trí tôi còn đang bám sát từng thái độ, cử chỉ của tên du kích. Đó mới là chính, thái độ của y ảnh hưởng trực tiếp đến sinh mạng của tôi. Tên du kích bước lên nhà trên, rồi đi vào trong buồng. Tôi hỏi bà cụ:

– Ông Phong còn ngủ à cụ?

Bà cụ nói chậm rãi, một cách mệt nhọc:

– Nó, hôm qua đi họp mãi khuya mới về!

Tôi bỏ bà cụ, lên ngay nhà trên để tranh thủ thời cơ. Khi tôi bước vào nhà, thấy tên du kích đang kéo cái điếu bát định hút thuốc. Tôi chưa từng bao giờ hút thuốc lào trước đây, nhưng bây giờ, để tạo không khí chan hòa quen thuộc, tôi cũng sà đến, vê một điếu và hỏi:

– Ông Phong hãy còn ngủ kia à?

Y đã ngậm miệng vào chiếc se điếu, tay đang bật lửa, nên y chỉ gật đầu. Khi y hút xong, thì một người khoảng 35 tuổi, mặc quần đùi màu xám bộ đội đã bạc, đi chân đất, áo sơ mi cháo lòng, da cũng trắng mai mái (chứng tỏ ít ra nắng) đang ở trong buồng bước ra. Mắt còn ngái ngủ, tay đang cầm tấm giấy thông hành của tôi. Tôi quay lại, mặt tươi lên, lớn tiếng:

– Anh Phong, chà bây giờ còn ngủ kia à? Hôm qua tôi ghé xuống Đạt, uống say quá, bây giờ mới ra đây!

Phong như tỉnh hẳn, mở to mắt nhìn tôi, rồi anh ngập ngừng, ngọ nguậy rồi toét thành nụ cười, giơ tay bắt tay tôi. Ánh mắt anh ta thoáng chút ngỡ ngàng. Chắc anh đang băn khoăn lục óc, chả biết đã gặp anh này ở đâu. Rồi có lẽ đổ tại trí nhớ của mình tồi, mặt anh bình thường trở lại, nói một cách xuề xòa:

– Hôm qua họp khuya quá!

Anh ta để tờ giấy xuống bàn, rồi co hai chân lên, ngồi xổm trên ghế. Tên du kích thấy thái độ của tôi với ông Phong như vậy, nên anh ta chào Phong và tôi trở về sân hợp tác xã. Tay đã cầm điếu thuốc, nên tôi đành kéo cái điếu lại, cố gắng hút. Dù tôi không dám rít mạnh, phải kìm ghê lắm, nếu không thì ho, thế mà cũng say đáo để. Phong kéo điếu, bắt đầu hút. Hết say, mặt tôi xụ hẳn xuống nói như phân trần:

– Đấy, anh xem, trước đây tôi khoẻ như vậy, thế mà gần một năm nay, cứ tự nhiên xây xẩm mặt mày.

Thấy nét mặt y trầm tư, tôi nhẹ giọng vẻ thân mật nói tiếp:

– Anh Phong à, tôi học hành như anh đã biết đấy, rất chăm mà cứ học trước quên sau. Cái bệnh tim chó chết này như vậy. Nhiều lúc tôi không muốn sống nữa.

Phong vẻ cảm động, quay lại nhìn con người phờ phạc mệt mỏi (mấy đêm ngày say sóng, không ăn) của tôi, nói như an ủi:

– Làm gì mà bi quan thế! Có bệnh, khoa học ngày nay tiến bộ chữa, sẽ khỏi.

Tôi cười buồn:

– Thực thế! Mới hôm qua ở bến xe, thấy đông người, tự dưng tôi xây xẩm mặt mày. Nếu không có người đỡ, tôi đã ngất, ngã vỡ đầu rồi. Có cái mũ thì cũng lại để quên trên xe. Anh Chí bí thư đoàn đã giục tôi nhiều lần, thậm chí, chính anh phải xin giấy giới thiệu cho tôi ra Hà Nội chữa bệnh, nhân kỳ hè này.

Phong hút thuốc xong, chả để ý gì đến tấm giấy thông hành để trên bàn. Phong vừa cho chân xuống đất định đứng dậy, vừa nói:

– Này, để tôi gửi tiền mua hộ tôi 3 cục “pin” nhé!

Tôi khẽ đập vào tay y, cười:

– Ồ! Anh lạ! Tôi có tiền đây, để tôi mua về rồi hãy tính. Có cần mua gì nữa không, tôi mua một thể?

Phong nghĩ ngợi một lúc rồi lắc đầu. Tôi chậm rãi nói, như thân tình quen thuộc:

– Lúc về, thế nào tôi chả phải ghé vào đây (nhưng thực ra lúc đó, tôi chưa biết đây là đâu), tôi vừa nói vừa cầm tờ giấy thông hành cho vào ví.

Phong còn tiễn tôi ra hè, bắt tay. Tôi chạy lại chỗ bà cụ, cầm tay bà cụ nói:

– Cụ ơi! Cháu đi đây!

Bà cụ lại ngừng quét, ngửng đôi mắt nhập nhèm:

– Phải, anh đi!

Sau này nhiều lúc nghĩ lại, tôi cũng thấy buồn cười. Phong chờ cái thằng chó chết, mãi chả thấy mua “pin” về. Tôi ra khỏi cổng, thấy con đường trước mặt thì cứ đi, chứ cũng không biết con đường sẽ dẫn đến đâu.

Lúc này đã gần 12 giờ trưa, mặt trời càng chói chang như thiêu đốt. Nóng hừng hực, không một ngọn gió, thế mà lòng tôi mát rượi nhẹ nhàng. Chỉ một chút xíu nữa thôi, thì đời tôi đã tịch ở ngay mảnh đất này, nơi tôi đổ bộ. Cho tới nay, tới lúc tôi đang ngồi viết những giòng nỗi niềm này, tôi cũng vẫn chưa biết rõ ràng đấy là đâu. Trên con đường đất trắng bệch vì lâu ngày không mưa, hai bên toàn là ruộng đã gặt rồi, đất cũng đã khô nứt nẻ. Xa xa ngược chiều, một bà cụ đầu đội bó củi đang đi lại. Giữa cánh đồng vắng buổi trưa, tôi quan sát trước sau chả thấy một bóng người, vì thế khi gặp bà cụ, tôi chào vồn vã:

– Trời ơi! Nắng quá cụ ơi! Các cháu đâu không đi làm cho cụ; mà cụ phải vất vả thế này?

Bà cụ thật già, tội nghiệp! Bà cụ này còn già hơn bà cụ nhà tên chủ tịch. Bà cụ hổn hển nói khi tôi đỡ bó cây thanh hao con khô đã rụng hết lá:

– Chúng nó đi hết rồi. Ngày nào tôi cũng phải vào núi để lấy củi đun bếp.

Thấy bà cụ đã quá già, tôi đánh bạo:

– Cụ ơi, cứ đi thẳng đường này là ra đường cái hở cụ?

Bà cụ quay lại, nhìn về phía xa xa, tay cụ vẩy vẩy:

– Cứ đi một thôi nữa là tới đường cái.

Tôi hỏi tiếp:

– Đường nhựa chứ cụ?

Bà cụ gật đầu. Tôi thấy không nên hỏi thêm nữa, sợ khi bà cụ vào làng, lão Phong hoặc du kích hỏi bà cụ là tên đó hỏi cái gì, bà cụ nói ra thì chết. Tôi phải phòng hờ như vậy, vì chỗ này tuy đã xa làng, nhưng giữa đồng trống, biết đâu chả có những con mắt đang theo dõi. Cẩn tắc vô ưu, không chơi dại! Vì vậy, tôi đỡ bó củi lên đầu cho bà cụ, chào rồi đi lẹ.

Bây giờ tôi mới chú ý, xa xa đã nhìn thấy ô tô chạy. Nhìn trải dài cánh đồng bao la xa tắp, tôi thấy vài người đang đi dưới ruộng khô hướng ra phía đường cái, có người đội cái “rương” mà đỏ cạch. Họ đi tắt qua cánh đồng. Tôi cũng bắt chước họ, xuống ruộng nhắm thẳng phía đường cái, bước tới. Một mình lang thang trên cánh đồng rộng, óc tôi miên man nghĩ ngợi. Tôi nghĩ đến lão Phong chủ tịch. Chắc bây giờ lão đang lục óc xem đã gặp tôi ở đâu! Vậy lão chỉ còn trách cái óc tồi tệ của lão, lão ta đã gặp tôi trong lúc nào đó mà quên rồi. Hội hè họp hành, thiếu gì trường hợp.

16. Đường Ra Hà Nội …

Trời trong xanh, vài vầng mây trắng lờ lững trôi về phương Nam, hình như muốn ngừng lại nói với tôi:

– Chào mừng chú mày, ta sẽ về Nam báo cho mọi người biết, chú mày đã thoát được một “ca” đặc biệt!

Hai con cò trắng từ phía núi bay sà đỗ xuống mảnh ruộng trước mắt. Tôi đưa mắt nhìn đây đó. Thỉnh thoảng giữa ruộng khô cũng có một vũng nước con đục ngầu. Tôi vục tay mò thấy mấy chú cá rô con, dăm mười con tép nhẩy loi choi. Nếu mà nhà gần đây, tôi đi khắp cánh đồng, chắc sẽ được một bữa ê hề tép kho.

Tôi cứ tung tăng, chân nhẩy choi choi nhởn nhơ trên cánh đồng một mình. Gió thoảng mùi nồng nồng của đất, của những gốc rạ còn lại. Lòng tôi thênh thang mở rộng như cánh đồng này. Chân tôi bước đều, đầu tôi lan man nghĩ đến chiếc bi đông và những viên thuốc lọc nước của Harry cho. Tôi chẳng cần! Chôn tại chỗ, đeo theo càng lỉnh kỉnh. Lúc này, tôi đã thấy khát nước thật sự, nhưng tôi vẫn bằng lòng.

Đã gần tới đường cái, đã nhìn rõ dăm ba mái nhà rải rác dọc theo con đường. Thỉnh thoảng một đám bụi mù cuộn tung, đẩy một chiếc xe đi phía trước. Mặt đường nhựa nhưng đầy ổ gà bụi đất. Gần tới đường cái, tôi phải đi vào con đường nho nhỏ sau mấy căn nhà, mới lên đường nhựa. Những căn nhà ở sát mặt đường cũng lụp xụp nghèo nàn, không hơn gì những căn nhà trong làng. Nhiều nhà vắng người, những tấm phên liếp bằng nứa che kín cửa. Những cây cà cây ớt, vài đám rau muống cằn cỗi đầy bụi đường, trong những mảnh vườn con con phía sau nhà, đã nói lên cảnh đời của những người dân địa phương.

Thật may, ngay gần đấy, tôi nhìn thấy cột cây số đầu sơn đỏ, thân trắng, một phía đề “Kỳ Anh 18cs”, một phía đề “Quảng Bình 32cs”. Vậy là Quốc lộ 1 rồi! Như thế, rõ ràng đây là tỉnh Hà Tĩnh. Nơi đây đến ranh giới Hà Tĩnh-Nghệ An phải hàng 30, 40 cây số nữa. Thế có chết con người ta không chứ! Không biết các anh, các bác vì đêm tối mịt mùng nên lầm chỗ, hay vì sợ quá nên vất đại, bỏ của chạy lấy người, bỏ cái nợ để chạy thoát thân? Chẳng biết các anh các bác nghĩ thế nào. Chính tôi cũng như các anh, các bác, lại còn phải sắp lên bờ một mình nữa, biết bao hiểm nguy đón chờ. Như vậy, phải chăng tôi đi vào chỗ chết như thế này, là việc riêng tư của tôi hay sao?

Thấy một quán nước bên đường, ở đầu làng với một cô bé chừng 11, 12 tuổi, mắt toét bán hàng và mấy bác nhà quê đặt quang gánh trước chõng hàng, tôi đường hoàng ghé vào. Tôi mua một tấm mía và hai quả chuối ăn. Trong bụng mấy ngày không ăn, nên tôi muốn ăn cả chục quả, nghĩa là hết chỗ chuối đang bầy đó, nhưng sợ rằng mọi người để ý, nhất là chiếc biển gỗ con đã sứt nẻ, hàng chữ đỏ quạch treo ngay trên vách, phía chéo trước mặt tôi: “Phòng gian, phòng gián, bảo mật.” Vừa nhai mía, tôi vừa nhìn tấm biển. Bàn chân tôi rung rung, như đang chia sẻ với niềm rạo rực, hân hoan của dạ dầy. Lần đầu tiên tôi mua hàng trên đất Cộng Sản.

Thỉnh thoảng một chiếc xe ô tô chạy qua, đi vào hoặc đi ra thường chạy tuột luôn. Tôi nhớ lại, qua cuộc phỏng vấn anh lái xe ở trại tiếp đón đồng bào vượt tuyến bên Gia Định, tôi đã biết xe không đón khách dọc đường. Vậy nên, giữa đường, nếu anh giơ tay vời, xin đi không đúng là hành động của người dân miền Bắc trong thời gian ấy. Ngoài một vài chiếc đò cũ rích, còn hầu hết là xe GMC hoặc Molotova hay Commanca của bộ đội.

Ăn xong, tôi tiếp tục đi, lúc này đã hai giờ trưa, trời càng nóng dữ. Dọc theo đường không có một bóng cây, chỉ lưa thưa vài bụi cây con hai bên vệ đường, cũng cằn cỗi mốc meo, đầy bụi bặm. Từ mặt đường, hơi nóng hừng hực bốc lên. Tôi đành cuốc bộ, đầu không nón mũ, đi về phía Kỳ Anh. Qua cách lựa lời thăm hỏi, em bé bán hàng đã cho tôi biết, phải về Kỳ Anh nghỉ trọ ở đó, sáng hôm sau mới có xe đi Vinh. Tôi cũng được biết xã này là xã Kỳ Phương. Từ đây về Kỳ Anh còn 18 cây số nữa. Cái nắng thật kinh khủng, tôi tưởng đến khô người đi. Tôi phải lấy chiếc khăn mặt đội lên đầu, rồi cố rảo bước đi dưới cái nắng đốt da đốt thịt. Bây giờ tôi mới hiểu tại sao gió cũng nóng. Học địa dư và thời tiết ngày xưa, vùng Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị. Từ tháng 5 đến tháng 8 có những ngọn gió Lào thổi qua dẫy Trường Sơn nóng vô cùng, gió nóng đến độ có thể làm héo lá cây.

Tôi đi được chừng 2 cây số, xa xa có một cây to duy nhất ở bên đường. Chiếc bóng râm đen đen choáng hẳn một gioi đất, đang đong đưa ngúc ngắc trên mặt đường nóng bỏng, như muốn mời gọi kẻ lữ hành dừng chân trên đường dài đầy nắng lửa.

Trong bóng râm, đã có một chị phụ nữ mang đôi quang gánh với hai chiếc thúng không, đang ngồi nghỉ. Trông thoáng chị khoảng hai mươi lăm, ba mươi tuổi. Chiếc khăn vuông đen buộc chặt mớ tóc dài trên đầu, làm cho bộ mặt rám nắng của chị như sạm lại. Tôi kéo chiếc khăn lau mồ hôi mặt, rồi cũng ghé vào bóng mát. Tụt một chiếc dép ra lót đít rồi cũng ngồi nghỉ, cách xa chị chừng 2 mét. Tôi ngồi yên lặng, tay cầm chiếc khăn phe phẩy, mắt đăm đăm dõi nhìn giậu mồng tơi trước ngôi nhà con con phía bên kia đường. Giậu mồng tơi không còn lá, chỉ có vài cái ngọn rụt, cằn lưa thưa, còn toàn là dây đỏ quạch, héo tong teo như sắp chết khát. Tuy không quay lại, nhưng tôi biết chị phụ nữ đang nhìn tôi, rồi chị nói bâng quơ:

– Trời nóng quá!

Lúc này tôi mới quay lại nhìn chị. Bàn tay sạm nắng đưa lên nhẹ vuốt mấy sợi tóc mai, môi chị ngập ngừng hơi mỉm cười như chào làm quen một người lạ. Thấy vậy, tôi cũng cười, rồi cũng nói không có chủ từ:

– Nóng đến khô người đi!

Chỉ có hai người, trời nóng, đường vắng, có lẽ thấy tôi có vẻ cởi mở, nên chị nhìn tôi rụt rè nói tiếp:

– Cuộc đời cực nhọc vất vả quá!

Tôi hơi ngạc nhiên, đăm đăm nhìn chị. Chị cúi xuống một lúc, nghiêng người với chiếc khăn con mầu đất, vắt ở đầu quang gánh lau mồ hôi, rồi lại ngửng lên nhìn tôi, dè dặt thăm dò:

– Chẳng biết đến bao giờ dân mình mới đỡ khổ? Bao nhiêu thóc lúa trồng lên cứ phải nhập kho nhà nước hết; còn dân ăn khổ quá!

Câu chuyện và điều kiện đã dồn tôi vào phải đóng vai một cán bộ để giải thích:

– Bây giờ dân mình cực, vì đang giai đoạn thắt lưng buộc cụng để xây dựng xã hội chủ nghĩa. Vì vậy, mọi người hãy tạm chịu khổ.

Tuy chị nghe tôi nói như thế, mặt chị vẫn còn đầy vẻ băn khoăn. Im lặng một lúc, rồi chị hỏi tiếp:

– Thế lúa gạo đem đi đâu?

Đã trót thì trét luôn, tôi ra vẻ hơi ngạc nhiên, trả lời:

– Ô hay, mình làm gì đã chế được máy móc, vì thế, mình phải đem gạo đi đổi lấy máy móc chứ. Hơn nữa, vì nghĩa vụ quốc tế, ta còn phải có trách nhiệm giúp đỡ nhân dân những nước bạn nữa!

Giữa lúc đó, từ phía Quảng Bình, một anh đang cọc cạch đạp chiếc xe đạp đi tới. Sau xe, đèo một số lủng củng những đồ phụ tùng xe đạp đã cũ rỉ. Dáng bộ anh. Từ nét mặt tới cử chỉ, không thể là một tên Cộng Sản. Tuy thế tôi vẫn ngồi yên, mắt lơ đãng nhìn xa xa phía chân trời. Anh đỗ xe, lục đục mãi mới dựng được, vì chiếc chân xe đã quá già. Anh lật chiếc mũ lưỡi trai trên đầu, đen nhẻm đầy dầu mỡ, chắc cũng cùng tuổi đời với chiếc xe. Anh vừa đi vào bóng râm, giữa chị phụ nữ và tôi, vừa quạt lia lịa tìm một chỗ ngồi, mồm kêu “nóng quá!”. Giọng anh trọ trẹ, tôi khó xác định. Chị phụ nữ lên tiếng:

– Anh ở Quãng Bình ra hỉ?

Anh gật đầu và nói:

– Tôi về Vinh.

Thấy thế, tôi hỏi ngay:

– Anh sẽ đạp xe về Vinh?

Anh cũng chẳng nhìn tôi, mắt anh vẫn để vào chiếc xe đạp màu sơn đã loang lở, chỉ còn một chiếc thắng, đầy bụi đất. Anh vừa lắc đầu vừa nói:

– Tôi đến Kỳ Anh nghỉ, sáng mai mới đi xe đò về Vinh.

Tôi hơi mừng, vì đã có bạn đồng hành, tôi vội vàng đon đả:

– Tôi về Hà Nội chữa bệnh đây, tôi cũng sẽ đi qua Vinh.

Một lúc sau, chị phụ nữ đứng dậy, quay lại mỉm cười gật đầu chào anh đi xe đạp và tôi, rồi rảo bước trên đường. Tôi trông theo mãi chiếc quanh gánh, nhấp nhô một quãng thật xa, rồi rẽ vào một con đường nhỏ phía bên kia quốc lộ, Sau đó, anh đi xe đạp cũng đứng lên, quay lại nói với tôi:

– Tôi đi trước nhé! Có khi về Kỳ Anh sẽ gặp.

Quen như xe đạp ở miền Nam, tôi định nhờ anh đèo, hoặc tôi sẽ đèo anh cùng đi. Nhưng khi nhìn lại chiếc xe đạp anh dẫn ra đường, tôi có cảm tưởng chính nó cũng đã phải lặc lè mang một mình anh, nên tôi kìm lại, chỉ tươi cười:

– Ừ! Có thể chúng mình gặp lại nhau ở Kỳ Anh thì vui!

Anh gò lưng đạp chiếc xe lọc cọc trên con đường nóng bỏng, gặp ghềnh như nỗi niềm của người dân sống dưới chế độ xã hội chủ nghĩa ưu việt của loài người!

Còn lại một mình, đường không một bóng người, tôi chưa muốn đi ngay vì chiếc dép râu cọ vào làm chân đã lột da, đau và xót. Đi giầy đã quen, bây giờ xỏ dép râu, lại phải đi bộ xa nên tôi cứ dùng dằng mãi rồi mới đứng dậy đi. Vừa đi, tôi vừa nhìn cảnh vật nhà cửa hai bên đường. Đất Hà Tĩnh thật nghèo nàn khổ cực. Cây lúa ở ruộng chỉ cao chừng 30 phân, mỗi cây chừng 5, 6 bông nho nhỏ, vì ruộng không những thiếu nước mà còn toàn là cát. Tôi nghĩ rằng, người dân ở đây làm được một bát gạo thi phải đổ một bát mồ hôi. Thế mà, chỉ được hưởng một phần mười của bát gạo đó thôi, do cách quản chế bóc lột tinh quái của Cộng Sản. Tôi cứ đi khoảng 2, 3 cây số, thấy một chiếc bụi bên đường lại chui vào trốn nắng. Suốt hai bên đường, hàng chục cây số không có một cây to nào, toàn những bụi cây khô cằn thấp lè tè. Cái đất kinh khủng, cây và cỏ cũng khó mọc.

Một lần, tôi đang ngả người nằm nghỉ cạnh một bụi cây ở mé đường, mặt đường nắng chói chang, hơi nóng hừng hực từ mặt đường nhựa bốc lên làm tôi lóa cả mắt. Óc tôi đang miên man tính những chặng đường phải đi tới, bỗng nhiên một tiếng “soạt” như ai ném một hòn đá vào một bụi cây ở gần đấy. Tôi ngồi bật dậy, lắng nghe, lướt nhanh mắt toàn bộ chung quanh, vẫn im vắng. Không thể có người nào ở giữa đường trống nóng như thiêu này. Dù vậy, tôi phải biết nguyên nhân của tiếng động vừa rồi. Tôi khẽ trườn sang phía bụi cây có tiếng động. Sau khi quan sát, tôi thò tay bới đám lá rậm. Bỗng vụt! Một con chim màu nâu, to bằng con chim ngói bay ra. Tôi chả biết chim gì, nhưng thấy nó bay không bình thường, tôi lướt nhanh đuổi theo, và vồ được. Nó thở hổn hển, mỏ vãi máu. Tôi sờ khắp người nó, không có một chỗ nào bị thương. Sau, tôi suy đoán, có thể vì trời nóng quá sức, nó không thể bay tới những nơi có nước. Vì vậy, tôi nhường chiếc khăn che đầu, bọc che nắng cho nó và mang theo.

Đi gần hai cây số nữa, tới một chiếc cầu, nhìn xuống dưới cầu, mãi dưới đáy có một dòng nước nhỏ như con suối con. Cả chim và tôi đều cần nước. Tôi mon men tìm cách xuống tới giòng suối. Tôi vừa len lỏi vừa nhìn lên chiếc cầu cao tít trên mặt đường. Có thể mùa mưa, mùa nước, đây là một dòng sông. Tôi xuống rửa mặt, rồi cho cả người và chim uống nước. Đúng là nó bị khát nước quá, nó uống tới đâu, tình dần tới đó. Thế mà chẳng hiểu vì sao nó lại không bay đi. Tôi phải mang nó theo mãi gần tới Kỳ Anh. Mặt trời đã ngã kuất sau dẫy Trường Sơn. Những chòm xóm hai bên đường đã lác đác bóng người ra ngoài. Đến một con đường đầu làng, thấy một em bé chừng 9-10 tuổi, hai chân toàn bùn đất. Tay đang cầm một chiếc thừng dẫn một con trâu gầy bên vệ đường, tôi gọi và giơ con chim ra hiệu, cho em. Em nhìn con chim một lúc rồi lắc đầu không muốn lấy. Tôi hơi lấy làm lạ về thái độ em bé nhà quê, nghèo này. Ngay khi tôi còn bé, có được một con chim như vậy thật là thích thú. Vậy tại sao em lại không lấy? Tôi đành mang con chim đi một đoạn đường nữa, gặp một bác nông dân gánh hai chiếc thúng, tuy có hai cái nia con đậy, nhưng dáng đi của bác nhẹ tênh. Bác đang đi ngược chiều với tôi phía bên kia đường. Khi ngang qua, từ bên này đường, tôi giơ con chim ra gọi bác, hỏi bác có lấy con chim này không. Bác nhìn tôi một lúc, như xem tôi nói đùa hay nói thực rồi mới gật đầu.

Về con chim, lúc đó chả có một ý nghĩ gì. Chỉ vì tính yêu thiên nhiên và thích chơi đùa nghịch ngợm, nên dù đang trên đường vào sâu trong lòng địch, tôi đã đuổi bắt. Nhưng sau này, tôi kể chuyện cho các anh, các bác trong tù, họ đều nói:

– Đó là cái điềm của cậu đấy, may mà cậu cho con chim ấy đi, nên còn sống. Nếu cậu ăn thịt con chim ấy thì cậu không còn dịp nào kể chuyện lại cho chúng tôi nghe nữa đâu, vì cậu đã hai năm mươi rồi. Người ta kỵ nhất: Chim sa, cá nhẩy.

Nghe để mà nghe, chứ tôi không thể tin được những chuyện vô cớ như thế. Từ óc thực tế, tôi luôn luôn nhìn sự việc trên cơ sở lý luận khoa học. Nhưng con người cũng thật mâu thuẫn. Vì cứ tù mãi, chịu đựng những ngày tháng lê thê cùng cực gần hết cả cuộc đời. Thỉnh thoảng tôi vẫn nhớ đến con chim ấy.

Đi một đoạn đường nữa, xa xa đã thây một khu chừng vài chục mái nhà tranh, trông thật nghèo nàn lụp xụp. Một chiếc biển gỗ to, đóng ngang trên hai cái cột, dựng ở cạnh đường. Trên tấm biển ghi HUYỆN KỲ ANH bằng chữ mầu trắng trên nền đỏ, nước sơn đã long lở bạc mầu. Lác đác đây đó một số người đi lại. Người ta gọi đây là phố huyện.

Lúc này đã hơn 6 giờ chiều, ánh nắng không còn, người ta ra ngoài đường nhiều hơn. Tôi tiến dần vào phố huyện, vừa đang quan sát thăm dò nghe ngóng, để tùy theo tình hình tìm chỗ trọ. Thì may quá, tôi thoáng thấy anh đi xe đạp đã gặp ở gốc cây, gần xã Kỳ Phương đang từ trong đó đi ra phía tôi. Thật nhẹ cả lòng! Tôi tiến đến chận đầu anh, cười niềm nở:

– Đi đâu mà ra đây?

Đôi mắt anh nhìn tôi ngỡ ngàng, xa lạ. Rồi như chợt nhớ ra, anh vồ cả hai tay vào vai tôi, vồn vã hỏi:

– Bây giờ mới tới đây à?

Tôi trả lời:

– Ừ! Trời nắng quá, tôi đợi mát, đi dần.

Qua thái độ trên của anh, tôi thấy anh toát ra một con người hiền lành thật thà mà còn vô tâm nữa. Tôi nhắc lại câu hỏi khi nãy:

– Anh đi đâu ra đây, xe đạp đâu rồi và trọ ở đâu?

Mắt anh long lanh, miệng anh rối rít, tay chỉ về phía một dãy chòi con con chéo đấy:

– Xe tôi gửi ở nhà trọ. Tôi vào trong kia đi tiêu một chút, chờ tôi một tý thôi, rồi tôi ra mua thuốc lá cho mà hút. Chúng mình về cùng trọ một chỗ nói chuyện cho vui.

Tôi còn chân ướt chân ráo, ngơ ngác chưa biết trọ ở đâu, cách thức trọ ra sao, giờ gặp anh thì nhất rồi còn gì! Chừng năm phút sau, anh ra. Anh kéo tay tôi dẫn vào một cửa hàng tạp hóa nhỏ treo một tấm biển: Bách Hóa Tổng Hợp. Anh mua một hào được 6 điếu thuốc Trường Sơn. Nếu mua cả gói thì 3 hào. Anh vỗ vai, đưa tôi một điếu. Thái độ của anh tỏ vẻ như đây là một ân tình đặc biệt anh dành cho tôi. Đã mấy ngày không ăn cơm, lại vừa cuốc bộ một đoạn đường dài, lúc này mới thấy đói và mệt, nên tôi hỏi anh:

– Anh đã ăn cơm chiều chưa?

Anh lắc đầu, tay chỉ vào phía trong:

– Chưa, tý nữa vào kia, chúng mình cùng đi ăn.

Tôi kéo anh trở lại hiệu bách hóa:

– Tiện, tôi cũng mua một hào thuốc để hút.

Nhà trọ là hai căn nhà tranh nhỏ, mỗi nhà có hai dẫy giường dài bằng những cây nứa bổ đôi ghép lại. Những chiếc chiếu cói đã cũ mèm, rách nhiều chỗ. Vì thế, nằm giường nhưng như nằm trên đống củi, vừa đau người lại vừa ọp ẹp. Đưa giấy thông hành nộp cho bà chủ trọ. Hai hào thì không có mùng, bốn hào thì có mùng. Trí nói:

– Chúng mình hai người một mùng thôi, đỡ tốn.

Tôi đồng ý. Lúc này, tôi đã biết tên anh là Trí. Anh cũng gọi tôi là Hùng theo giấy tờ. Khi sang tới quán cơm quốc doanh, cũng là chỗ bán hàng cơm duy nhất ở phố huyện, tôi có ý định mời Trí ăn cơm. Tôi còn đang do dự, Trí đã quay lại hỏi:

– Hùng định ăn 2 hào hay 4 hào? Hãy xếp hàng sau tôi.

Tôi chưa biết rõ thế nào, nên trả lời:

– Để cho vui, tôi sẽ ăn theo anh, anh ăn gì tôi ăn nấy!

Thấy Trí lấy 4 hào ra cầm tay, tôi cũng lấy 4 hào. Đã mấy ngày nay chưa có hạt cơm nào trong bụng, tôi đinh ninh rằng sẽ phải chén hai đĩa mới thỏa. Đây cũng là lần đầu tiêu nếm cơm xã hội chủ nghĩa, đỉnh cao trí tuệ loài người. Tay tôi vừa cầm đĩa cơm theo Trí ra một chiếc bàn trống, vừa nhìn đĩa cơm. Hai phần là cơm, một phần là sắn khô thái mỏng. Những miếng sắn, có lẽ lâu ngày, hoặc khi phơi không được nắng nên mầu đen đen. Cả cơm và sắn nấu lẫn lộn thành một thứ cơm xam xám. Một miếng cá khô bằng hai ngón tay và nửa lá rau riếp. Trên mỗi đĩa cơm đã cắm sẵn một cái thìa nhôm. Tôi theo Trí đến một mé vách có treo một cái ống bương to đựng đũa để lấy một đôi đũa tre.

Bàn nào cũng trống trơn, chẳng có nước mắm hay ớt. Tôi lựa xúc chỗ cơm không cho vào miệng. Nó vừa chát vừa đắng ngắt. Nhìn Trí, nhìn người khác, họ vẫn ăn ngon lành, ấy là nhiều người họ ăn loại hai hào, đĩa cơm chỉ rưới tí nước mắm thôi đấy. Mình đã lịch sự, cao cấp hơn, có cá, thế mà, tuy bụng đói, tôi phải cố gắng tọng vào, nhai như mọi người, cho có vẻ hòa đồng. Miệng nhai nhóp nhép, tâm tư tôi chạnh tưởng về một cảnh đời ở một phương trời bên ấy. Chỉ mới hai ngày trước đây thôi, những người họ đang ăn uống phè phỡn, thừa thãi thức ngon vật lạ, họ có thấy được đầy đủ giá trị của cuộc sống? Hai không gian, hai cảnh đời, tuy cùng chung một mảnh dư đồ nước non!

Tôi đã cố gắng ăn, nhưng cũng chỉ được nửa đĩa. Tôi sợ họ thấy lạ, nên tôi ghé sang Trí ôm bụng, mặt nhăn nhó:

– Không hiểu sao, tôi đang ăn, đau bụng quá!

Tôi vẫn xoa bụng, trong khi Trí băn khoăn bảo tôi hãy ăn cố đi. Tôi vừa đẩy đĩa cơm sang Trí, vừa lắc đầu:

– Tôi đau lắm! Quen rồi, đã đau mà còn ăn nữa, lại càng đau thêm. Trí ăn hộ đi!

Ngần ngừ một lúc, rồi Trí ăn ngon lành. Tôi cứ giả vờ ngồi ôm bụng nhăn nhó. Khi về tới nhà trọ, trời đã tối. Nóng vô cùng. Trí dẫn tôi ra mua hai cái quạt giấy, mỗi cái một hào. Mỗi người đều trả riêng. Thực ra tôi không thiếu tiền, nhưng tôi phải giữ ý với Trí.

Bắt đầu thân, khi vào trong mùng. Trí than cuộc sống ở đây khổ cực quá. Trí rút ví lấy cho tôi xem một cái ảnh vợ anh đang bế hai đứa con nhỏ. Nằm bên nhau, Trí và tôi tâm sự. Tôi được biết, Trí cùng vợ con và bố mẹ ở Thái Lan về nước năm 1956. Bây giờ, nhà nước đưa về Bến Thủy (Vinh). Bố mẹ Trí làm nghề đánh cá, còn Trí sửa chữa xe đạp. Trí khoe, ngày còn ở Thái Lan, cuộc đời thật thảnh thơi, chẳng bao giờ phải lo nghĩ đến chuyện ăn uống. Thường có nhiều bạn bè chơi bời, chuyện trò thân mật. Chủ Nhật ngày nghỉ thường rủ

nhau đi chụp ảnh, rất vui. Bây giờ nghèo nàn vất vả quá. Có cái gì cũng cứ phải bán dần để ăn, cuối cùng còn ít nào phải mua vội một chiếc nhà tranh để ở. Trí nói rất quý tôi, cứ căn dặn khi đi Hà Nội chữa bệnh trở về, thế nào cũng vào chơi. Trí sẽ giới thiệu bố mẹ và vợ, rồi nhất định phải giết một con gà cho ăn (7 năm đã tiêm nhiễm phong cách xã hội chủ nghĩa, giết gà là một chuyện ghê gớm và đặc biệt).

Sáng hôm sau, chúng tôi ra lấy giấy tờ. Trí cũng định đi xe đò với tôi, nhưng chờ mãi 8 giờ chưa có xe. Mấy người có xe đạp họ rủ nhau đi trước. Đoạn đường 52 cây số từ Kỳ Anh tới thị xã Hà Tĩnh. Trí đi theo họ nên từ giã tôi, căn dặn, tả nhà cửa v.v… là thế nào đi về cũng ghé vào. Tôi đồng ý. Tôi ở lại cùng bao nhiêu người khác chờ xe để đi thị xã Hà Tĩnh. Mãi tới 10 giờ mới có một chiếc xe kiểu “Dodge 4” xọc xạch, cổ lỗ sĩ có thể từ thời 1954, thùng xe đã phải chấp vá lung tung, không mui. Một đồng rưỡi một vé ra thị xã Hà Tĩnh. Hành khách chen chúc, không có ghế, toàn đứng nêm vào nhau. Đường xóc vô kể. Trên xe, người cứ ngã nghiêng xiêu vẹo. Phụ nữ ngồi, đàn ông đứng, thật hỗn độn. Tôi đứng cạnh một anh Hải Quân chừng 23, 24 tuổi. Nhiều lúc xô mạnh như những người say rượu vì đường quá xấu, nên đôi khi phải ôm chầm vào nhau.

Khi tới Hà Tĩnh, tôi thấy thị xã gì mà như phố huyện ngày xưa, toàn nhà tranh, thỉnh thoảng mới có một cái nhà xây cũng cóc gặm và đen nhẻm do những năm tháng nghèo nàn, nên không hề sửa sang. Tôi và anh Hải Quân đi với nhau. Anh rất có cảm tình với tôi. Phần tôi, bất cứ lúc nào, ở đâu, cũng đóng vai một học sinh ở Vĩnh Linh. Tôi theo anh thì tuyệt quá! Đi với một Hải Quân (tên anh là Hảo, anh mặc đồng phục Hải Quân,) vừa không phải bỡ ngỡ từ cảnh vật xa lạ tới mọi cách sinh hoạt đi đường. Lại còn được một “vỏ bọc” vững vàng, ít bị để ý. Anh cho tôi địa chỉ viết thư, đơn vị anh đóng ở Vinh, anh bảo:

– Chỗ đơn vị đóng thường bí mật, chỉ giao thiệp thư từ với người nhà, tuyệt đối không được cho một ai biết. Đây là địa chỉ người quen ở Vinh, thỉnh thoảng tôi ra nhận thư. Tôi muốn làm bạn với Hùng. Khi Hùng chữa bệnh về, thế nào cũng viết thư cho tôi nhé. Suốt quãng đường từ thị xã Hà Tĩnh ra thị xã Vinh, tôi với anh là một cặp. Đi với Hảo tôi rất thoải mái. Có lúc Hảo thân mật:

– Đơn vị đóng ở Bến Thủy từ hai năm nay được lệnh tăng cường “phòng gián bảo mật” vì miền Nam nó đang tung gián điệp ra ngoài Bắc.

Tôi hỏi:

– Thế ta đã bắt được vụ nào chưa?

– Thế Hùng không nghe ta bắn rơi chiếc C-47 ở Cồn Thoi hay sao?

Tôi gật đầu:

– Tôi muốn hỏi là bắt được ở trong nội địa cơ?

Y lắc đầu:

– Cái đó, mình làm sao mà biết được.

Đến Bến Thủy, khi còn ở phía bên này sông, tôi thoáng thấy Trí trong căn nhà tranh nhỏ Trí đã tả. Trí đứng ở cửa cố nhìn lên xe tìm tôi, nhưng tôi nép vào chỗ khuất. Đến phà Bến Thủy, Hảo bắt tay từ giã tôi. Tôi theo xe về thị xã Vinh. Về tới Vinh, trời đã cập quạng, khoảng 7 giờ rưỡi gì đó. Tôi theo những người đi trọ ở một nhà trọ tập thể để mai lấy vé đi Hà Nội.

Nhìn thoáng thành phố Vinh, ngoài một số xí nghiệp, nhà máy ở vùng ven, trong thành phố thật quê mùa, một nửa là nhà tranh. Khách bộ hành trên đường phố, nếu không đi dép râu là đi… đất. Trong khi xếp hàng nộp giấy thông hành lấy vé trọ, trời thì tối, tôi đứng sau một anh bộ đội mang ba lô và mang lon Trung sĩ. Tại một chiếc bàn nhỏ, trên đặt một ngọn đèn chai, một cậu chừng mười lăm, mười sáu đang xem giấy tờ của từng người rồi bán vé. Người nào nó xem giấy, nó cũng hạch hỏi nào là:

– Đến Vinh để làm gì?

– Năm nay đã đến Vinh mấy lần?

– Gốc quê ở đâu?

– Còn giấy tờ gì nữa? v.v…

Mọi người xếp hàng sốt ruột. Khi gần tới viên Trung sĩ, thấy nó cứ hạch hỏi người trước anh mãi, anh ta bực quát:

– Cái thằng này, mày làm cái gì mà mày hạch hỏi người ta nhiều vậy? Mày làm như ở đây có gián điệp không bằng!

Tôi cười thầm, “gián điệp đang đứng ngay sau mày đây!”

Cũng nhờ anh đó quát tháo, những người sau đỡ bị vặn hỏi. Nhà trọ bến xe Vinh cũng là nhà tranh, nhưng hai dẫy dài hơn. Cũng một giá tiền, hai hào không mùng và bốn hào có mùng. Cũng sàn nứa ọp ẹp lùng bùng như ở Kỳ Anh. Cái mùng cá nhân đen xì, rách lung tung và sực mùi hôi khăn khẳn của nhiều người và nhiều ngày không giặt. Đêm đó rệp cắn ngứa ngáy suốt đêm, tôi thật khó ngủ. Khoảng một giờ đêm, thấy ngưòi ta hét lên kêu mất trộm inh ỏi ở dẫy bên, tôi cũng phải sờ lên cái túi gối ở đầu, rồi buồn cười nghĩ thầm:

“Là một điệp viên thừa sống, thiếu chết, vào được đất địch rồi, ngủ, có cái túi dết vật dụng lại để bị mất trộm.”

Sáng hôm sau, mới 5 giờ sáng đã có tiếng loa gọi khách dậy ra lấy giấy tờ. Đã quen thuộc, nên tôi ít phải ngỡ ngàng khi lấy vé xe lên Hà Nội. Xe đò đi Hà Nội có ghế ngồi, mặc dù cũng cóc gặm rách như tổ đỉa. Đoạn đường từ Vinh lên Hà Nội, có lúc hành khách phải xuống xe đi bộ qua cầu, vì cầu cũ kỹ không chịu nổi sức quá nặng khi chở cả người, như cầu Lèn Thanh Hóa, cầu Quất Ninh Bình, v.v… Đường đi thật ghê, thậm chí có lúc xe xóc đầu hành khách va cả lên mui xe. Tôi nghĩ những người thợ vặn những con tán (vít) của xe thật tài.

17. Gặp Z-5…

Sáu giờ chiều ngày 31 tháng 5 năm 1962, xe tới Kim Liên, Hà Nội. Mặt trời mùa Hè đã lặn khi xe còn cách Hà Nội hơn 10 cây số, thế mà những dáng hình quen thuộc của đất thanh lịch ngàn năm hãy còn sáng rõ, khi chiếc xe đò chở tôi vào bến Kim Liên. Bao nhiêu hình ảnh, bao nhiêu kỷ niệm của thời niên thiếu năm xưa như ùa về bủa kín hồn tôi. Đó là phút giây giao cảm buổi đầu còn trên xe khi nhìn thấy Hà Thành. Chân tôi rời khỏi xe, theo dòng người chảy ra phố phường, những ngoại cảnh chung quanh đập vào mắt tôi. Con người, xe cộ, biểu ngữ, tôi cảm thấy thật xa lạ đẩy đưa dần tới sự tò mò và cuối cùng là sự cảnh giác của nghiệp vụ. Phải rồi, đây là đất Cộng Sản, đất kẻ thù. Mươi phút, tâm tư chìm lắng vào hố sâu của hoài cảm đến nỗi tách rời thực tế, tôi phải nghĩ đến an ninh của tôi.

Tôi đang hướng về ga Hàng Cỏ. Làm một vài động tác nghề nghiệp để quan sát chung quanh, rồi tôi rẽ ngang về phía hồ “Ha Le” trong lúc trời tối dần. Tôi cố ý lắt léo về nơi vắng vẻ để xác định an ninh. Đến đây, tôi xin nói về một điểm thiên bẩm mà trời đã cho cơ thể tôi. Thông thường, thị trường của con ngươi là 160 độ. Như vậy, 10 độ ở phía trái và 10 độ ở phía phải “chết,” nghĩa là khi con ngươi đang nhìn thẳng chính giữa, bất cứ vật gì di chuyển trong phạm vi 80 độ phía bên trái và 80 độ phía bên phải, người đó đều thấy. Trừ người nào có bộ mắt lồi, thì có thể thị trường của mắt rộng hơn.

Vậy mà, đôi mắt của tôi, chẳng hiểu thế nào, không phải lồi, đôi khi người ta còn nói là sâu nữa. Qua thử mắt thực tập, thị trường của tôi là 170 độ, có nghĩa là mỗi bên tôi chỉ có 5 độ “chết.” Chính vì thế, trên đường phố, tôi thường trông thấy người quen trước. Ngay khi thực tập theo dõi và chống theo dõi ở Sài Gòn, Brown, Dale và Phan đã khen ngợi nhiều lần. Dù phố thường đông đúc, hay địa hình phức tạp, (trừ khi tôi chủ quan, mất cảnh giác,) tôi cảnh giác thì bao nhiêu người hầu như tôi phát hiện hết.

Sau khi xác định không có hiện tượng gì khả nghi cả, tôi đã bắt đầu chủ quan và nghĩ rằng, từ chỗ đổ bộ ở Kỳ Phương, Hà Tĩnh, biết bao hiểm nguy gay cấn, chỉ một chút xíu nữa mình bị bắt, thế mà cuối cùng đều đối ứng linh hoạt thoát được hết.

Trời đã tối, theo lời Phan dặn thì tôi không nên mò gần về khu phố tôi đã ở trước kia, vì trong khi đi đường, bất chợt có thể gặp một người quen xưa, một người họ hàng, v.v… Họ sẽ ngạc nhiên rằng tại sao thằng Bình đã di cư từ 1954 mà bây giờ lại gặp ở đây. Từ đấy, có thể tôi sẽ bị phát hiện. Nhưng lúc này, do chủ quan, coi thường đối phương, tôi nghĩ là các ông ấy theo nguyên tắc cứng ngắc, nên quá lo xa, chứ khi ở Hà Nội tôi mới 16 tuổi, bây giờ đã 23-24. Lớn lên mặt mũi thay đổi nhiều, dù người quen có gặp chăng nữa, ai mà nhận được. Vả lại, Hà Nội bây giờ toàn là dân quê ở đâu mới về. Còn một yếu tố nữa, đó là vì lòng tôi cũng xúc động khi nhìn lại cảnh cũ. Nó như có hồn, cuốn hút ve vuốt lòng tôi. Từ hồ Ha Le chân cứ thả bước, mắt nhìn từng nhà, từng hẻm phố, từng gốc cây. Cảnh cũ còn đây, người xưa không thấy. Hồn lâng lâng, tôi bước mãi vào nơi cảnh quen, người lạ cho tới khi đến phố Tràng Thi rồi Tràng Tiền.

Ôi! Hồ Gươm! Hình ảnh hồ Gươm nằm trong ký ức suốt những tháng năm nổi trôi ở miền Nam, bây giờ đã hiện ra trước mắt. Vẫn chiếc Tháp Rùa âm thầm nghiêng bóng đen sẫm với vài vệt vàng sáng lung linh dưới mặt hồ của những ánh đèn đường chung quanh. Tôi rẽ sang Gô Đa, về Chế Linh, hướng về đền Ngọc Sơn, đến Bà Kiệu. Phố phường đông đúc hơn. Khi tôi qua rạp Phillamoniqufe, nhìn xa xa đầu hàng Dầu, thấy tấm biển đề:“Nhà Trọ Số 5 Hàng Dầu”

Chân đã mỏi, người đã mệt và cũng đã 7 giờ 30 tối rồi. Tôi quyết định vào xin trọ nghỉ đêm để lấy sức. Ngày hôm sau làm gì hãy hay. Nhìn bên ngoài, căn nhà một tầng, ngói và tường đen sạm, nứt nẻ vì gánh nặng thời gian.

Tôi đi vào, ngọn đèn điện nhỏ, bụi và mồ hóng phủ gần kín, hắt ánh sáng yếu ớt làm cho căn phòng sáng mờ mờ. Tại chiếc bàn kê trong góc, một lão già đang hý hoáy ghi chép. Tôi đoán là chủ nhà. Khi tôi đến gần, ông ta ngẩng lên, cặp kính lão trễ xuống. Tôi dùng từ không lịch sự như Cộng Sản:

– Cháu muốn trọ một đêm.

Ông ta cũng nhát gừng:

– Một đồng, đưa giấy thông hành đây!

Tôi rút giấy đưa liền. Ông ghi, rồi đưa cho tôi một miếng bìa con, vuông 5 x 5 phân, mầu vàng, mang số 4. Ông giữ giấy thông hành của tôi để nộp cho công an khu phố (theo nguyên tắc của các nhà trọ.)

Tôi cấm tấm bìa đó vào trong nhà. Dưới ánh điện vàng khè không đủ sáng vì mồ hóng, tôi thấy hai dãy giường cá nhân, gồm 8 cái. Mới có 3 người, hai anh bộ đội và một bác có vẻ nông dân. Tôi vào nữa là 4. Tìm được số giường, tôi vất chiếc túi dết, ngả người một tí cho đỡ mỏi. Mấy ngày nay không tắm rửa, tôi phải đánh răng và tắm một cái cho tỉnh người. Sau khi vào đi giải, tôi đã thấy chỗ tắm. Tôi lại xách túi dết ra phố. Tôi tính mua cái bàn chải và hộp thuốc đánh răng, và cái gì để nhét vào dạ dầy trước đã chứ. Tôi đi ra phía bờ hồ và rẽ về phía hàng Đào, hàng họ bầy bán ở vỉa hè. Tôi mua một cái bánh mì ỉu 5 hào trong cái thúng con của một cô bé ngồi bán, một cái áo may ô, một mũ cát. Lúc về, tôi cũng mua một góc thuốc lá Trường Sơn. Thế là toàn thứ thực của xã hội chủ nghĩa.

Về tới nhà trọ, có người đã ngủ. Tôi tranh thủ vào tắm, đánh răng và nhai chiếc bánh mì có lẽ đã từ hai, ba ngày trước. Ăn xong, tôi vào súc miệng, mở vòi nước làm mấy hơi. Tôi ra giường ngả lưng, đốt điếu thuốc Trường Sơn. Thế là cuộc đời cũng vi vu!

Nằm trong màn, lúc đó đã 10 giờ, chung quanh mọi ngưòi đã ngủ cả. Tôi suy nghĩ, tính toán. Thời gian ở Hà Nội rất ngắn, so với bao việc phải làm. Vậy, ngay từ sáng mai, tôi cứ tìm đường đến nhà thương Việt Đức xem sao, nhất là đóng đúng vai trò đi chữa bệnh. Còn một điều nữa, trước đây ở Hà Nội, còn quá nhỏ, tôi lại ở Hàng Bạc, nên chỉ đi nhà thờ lớn Hà Nội. Nhà thờ “X,” Phúc Xá thượng, hạ ở đâu, thực sự tôi chưa biết. Tôi chỉ nhớ mang máng bãi Phúc Xá, dưới gầm cầu Long Biên (hồi xưa có một lần theo mấy người bạn ra đó đá banh.) Tôi cũng phải ra đó thăm dò xem thế nào.

Sáng hôm sau, ngày mồng 1 tháng 6, tôi ra bờ hồ chỗ bến xe điện mua tờ báo Thủ Đô ngồi đọc và nhìn đủ hạng người qua lại. Hầu hết mọi thành phần, mọi lứa tuổi, từ các em học sinh cho đến các bác xích lô đạp, trên mũ hoặc ở cánh tay đều có đeo hay quấn một băng giấy mẫu, trên có hàng chữ: Đả đảo Ngô Đình Diệm bán nước. Chỉ một số ít, cá biệt mới không đeo mà thôi. Người đi bộ, người đi xe, v.v… ai tôi cũng thấy đeo. Điều này, nói lên sự kiện miền Bắc đang tăng cường chiến dịch tuyên truyền chửi bới miền Nam, mà mũi dùi chính là ông Ngô Đình Diệm.

Trời mùa Hè trong xanh, mặt trời chiều sáng không gian cũng không làm mờ nhạt được ấn tượng đầu tiên tôi nhìn Hà Nội. Tất cả là một mầu xám xịt, từ những dòng người đông đúc xuôi ngược trên những phố phường với áo mũ, không mầu xanh thì đen, hoặc nâu, và dép nếu không Bình Trị Thiên (râu) màu đen thì ba ta màu xám hay xanh. Đến nhà cửa xỉn lại vì rêu hoặc dơ bẩn, mà tôi nghĩ rằng từ ngày tôi rời Hà Nội đến nay đã hơn 8 năm, nay tôi trở về, chưa một lần quét vôi lại hay sang sửa.

Về âm thanh, thực là một thành phố chết, im lìm vắng lặng. Trên đường phố đầy người, nhưng toàn là xe đạp. Giữa trung tâm thủ đô, nơi sầm uất nhất, mà thỉnh thoảng mới thấy một chiếc ô tô. Tôi đưa mắt nhìn một vòng chung quanh hồ Hoàn Kiếm chu vi 2.300 mét. Cả một vòng như vậy, cứ trung bình 10 phút mới nhìn thấy một chiếc ô tô chạy, mà nếu không là molotova, thì cũng lại là commanca của bộ đội hay công an. Xe tư nhân hầu như không có. Thành phố yên vắng vì không có tiếng động cơ của xe cộ, cũng như của nhà máy. Khác biệt hẳn với Sài Gòn.

Sau đó, tôi quẹo lên phố Hàng Đào. Đang mải nhìn một tên công an túm tay một đứa nhỏ chừng 12 tuổi, kéo đi trên đường phố Hàng Bông. Một số ngưòi cũng nhìn theo và họ nói là ăn cắp. Tôi thấy một đoàn xe từ phía chợ Đồng Xuân đi xuống gồm 5, 6 chiếc Simca, Citroen, Peugeot. Chiếc đi đầu cầm cờ Việt cộng và Lào.

Đoàn xe đi chầm chậm, vì phố xá hẹp, nên tôi nhìn rõ Kongle và Võ Nguyên Giáp ngồi trong xe. Chà! Bộ Trưởng Quốc Phòng Việt cộng hôm nay đón Bộ Trưởng Quốc Phòng Lào! Các xe sau chở một lũ lóc nhóc Tướng và Tá, mặt tên nào cũng vênh vênh. Lúc đó tôi nghĩ, anh chàng Kongle bốc đồng đang bị lũ quái, cáo già ve vuốt, thổi! Mặt y dương dương, hớn hở. Sớm muộn, chúng sẽ cho anh chàng ăn mắm ngoé mà thôi!

Ngay từ đêm trước khi còn nằm ở Hàng Dầu, tôi đã đặt thành nguyên tắc. Ít ra, cứ mỗi ngày một lần, tôi phải kiểm tra xác định về an ninh của mình. Vì vậy, lúc này nhớ đến, tôi vờ hỏi mua mấy ống khóa, để có điều kiện quay ngang, quay dọc. Cầm ống khóa lên soi, mục đích nhìn hết mọi bộ mặt chung quanh tôi, trong phạm vi 30 đến 50 mét. Rồi sau đó, tôi quặt vào một ngõ hẽm sang phố Hàng Quạt. Đường Hàng Quạt thật vắng người, nhìn thấy một hàng bán nước chè ở vỉa hè. Chính vì tôi muốn nhìn lại phía sau toàn phố, nên tôi cố ý đi qua hàng nước vài bước, rồi như là muốn uống nước. Tôi quay trở lại, ngồi xuống chiếc ghế dài con trước hàng, lật một chiếc chén trên chõng để bà hàng rót nước. Nhờ những động tác này, tôi đã nhìn được hết mọi bộ mặt ở phố Hàng Quạt. Không có bộ mặt nào tôi đã nhìn thấy trước ở bên phố Hàng Đào. Yên tâm, trả tiền 5 xu nước xong, tôi đi về phía nhà thương Việt Đức.

Khi gần tới nhà thương, từ xa tôi quan sát, thấy mỗi người vào đều rút giấy đưa cho người gác cổng. Tới nơi, tôi làm theo, đưa tấm giấy thông hành và tời giấy giới thiệu. Tôi nói:

– Em là học sinh, mới ở Vĩnh Linh ra, xin vào chữa bệnh.

Tất nhiên, mặt tôi sịu xuống và chảy dài ra vì bệnh tật buồn phiền. Y xem giấy, nhìn tôi thông cảm nên chỉ nói nhẹ:

– Đi vào chừng 50 mét, rẽ trái sẽ thấy khu nội khoa.

Tôi cảm ơn, cầm giấy đi vào. Tôi vẫn cảnh giác, khi bắt đầu rẽ trái, mắt tôi lướt nhanh ra cổng, xem có gì khác thường không? Yên tâm, tôi tiến bước, khi nhìn thấy tấm biển ghi: “Khoa Nội‟ trước mấy dẫy nhà to, tôi tiên vào chỗ phòng đợi, đã có khoảng 40, 50 người chờ. Hỏi thăm mấy người đợi, tôi đưa giấy giới thiệu cho cô y tá trực. Cô đọc giấy xong nhìn tôi hỏi:

– Thẻ học sinh anh đâu?

Tôi lấy ví rút thẻ trao cho cô. Cô nhìn thẻ rồi chăm chú nhìn tôi. Tôi thấy cái nhìn khác thường, dù vậy tôi vẫn tỏ ra bình thản nhìn cô. Một lúc sau cô mới chậm rãi trả lời:

– Bệnh tim thì sang khu B bên kia.

Cô chỉ tay. Thế mà làm người ta hết hồn! Không phải thì nói ngay lúc nãy, còn bày đặt hỏi thẻ học sinh!

Tôi cầm giấy ra phía dẫy ghế sau ngồi, tính toán cân nhắc. Thứ nhất, chủ trương của tôi hôm nay chưa phải để đưa tài liệu, mục đích chỉ đến xem những đường lối và cách thức sinh hoạt khám bệnh ra sao thôi. Tôi có bệnh thực đâu mà khám! Hơn nữa, tôi chỉ biết Z-5 là bác

sĩ nội khoa ở Phủ Doãn, tức Việt Đức ngày nay, chứ chưa rõ chuyên trách về môn gì: ruột, gan, tim, phổi …?

Tôi đang ngồi ngẩn ngơ suy nghĩ, tính toán, chợt tai tôi nghe thoáng:

– Bác sĩ Thọ có ở trong phòng không?

Thót người, tôi liếc nhanh về phòng trực. Thì ra một nam y sĩ hỏi cô y tá. Tôi chỉ thấy cô gái gật đầu và ngưòi y sĩ mở cửa bên ra hàng hiên. Phản xạ cấp thời, cân nhắc tình thế, tôi lợi dụng một đám đông, chỗ góc gần hàng hiên, tôi lẫn vào và đi theo ông y sĩ ngay.

Cả một dẫy dài, bao nhiêu cửa phòng. Đến một cửa phòng, ông y sĩ mở cửa, tôi đi thoáng qua liếc vào, phòng số 8. Tôi như bị điện giật. Dù nhìn rất nhanh qua cánh cửa vừa đóng lại, tôi đã thoáng thấy bộ mặt của một người mặc áo “blouse” trắng, đeo kính trắng, ngồi ở một bàn giấy to, trong một phòng rộng. Tuy đầu đã bạc, nhưng đúng hình dáng với tấm ảnh 4 x 6 mà Cục đã đưa cho tôi xem, giữ một tuần ở Sài Gòn.

Thời cơ đến, tôi phải quyết định lẹ. Tôi vẫn cứ đeo túi dết đi về phía cuối hành lang. Thỉnh thoảng, một người mặc “blouse” trắng đi lại, họ chả để ý đến tôi. Tôi tìm một buồng vệ sinh, nhưng nhìn khắp, chả thấy đâu. Tôi đành cứ đi, tôi lựa cho tay vào trong quần rờ và nắn sờ tìm tài liệu “X”, phải hai, ba lần mới thấy, tôi rút ra. Lúc tôi quay lại, từ buồng số 8 ông y sĩ lúc nãy đẩy cửa bước ra.

Thời cơ ngàn năm một thủa, tôi phải liều. Tôi đẩy cửa bước vào. Người đeo kính trắng đó ngửng lên nhìn tôi, mắt ngạc nhiên. Tôi thấy trong phòng còn ba bàn giấy nữa, hai bàn có người, một bàn không. Hai người kia cũng ngửng lên nhìn tôi. Tôi nói cố ý cho họ cùng nghe:

– Thưa bác sĩ! Mẹ cháu vẫn cứ sốt, vì vậy …

Đúng lúc ấy, hai người kia lại cúi xuống sổ sách. Tôi hạ giọng:

– “Nhờ bác sĩ chữa bệnh tim nhịp đập một trăm hai mươi.”

Trong lúc hồi hộp, tôi chả nhớ là bao nhiêu chữ. Ông nhìn tôi, đôi mắt mở to, bàn tay ông đang cầm bút rung lên. Mặt ông lộ vẻ hết sức xúc động. Tôi lo quá. Ông này làm sao thế! Ông không đọc lại mật khẩu. Nhanh trí, tôi hiểu ngay là ông bị đột ngột quá. Có thể từ bao năm nay ông mong chờ, ông đã sống với cuộc sống bình thản, giờ đây bất chợt quá chăng? Nếu tình trạng đó, để lâu không lợi. Tôi vội cảm ơn bác sĩ rồi đi ra. Khi ra đến cửa, tôi cố ý quay lại đóng cửa, thế nào ông cũng nhìn theo. Đúng như vậy. Lúc đó hai người kia không nhìn thấy tôi, tôi giơ tay vẫy nhẹ, và mắt cũng làm hiệu là ra theo tôi.

Tôi đóng cửa và ra ngoài. Tôi đi theo hành lang vào phía trong, vì nếu đi ra ngoài phía phòng đợi, có thể tôi không vào được nữa.

Tôi ra ngoài như vậy, vì có hai vấn đề. Thứ nhất, nếu không phải đấy là Z-5, hoặc là Z-5 nhưng bây giờ vì lý do nào đó, ông sợ, ông không muốn lôi thôi nữa, ông sẽ không ra. Thứ hai, nếu ông theo ra, tùy cơ, tôi sẽ đọc lại mật khẩu. Trường hợp ông không trả lời đúng theo quy ước, tôi sẽ lựa theo tình thế biến chế đi, rồi tôi phải chuồn lẹ.

Khi tôi đi tới cuối hành lang, cửa phòng số 8 mở ra và ông đi ra. Tôi quay lại, ông đi về phía tôi. Thái độ và nét mặt ông lúc này đã bình tĩnh, tuy mắt vẫn đăm đăm nhìn tôi. Tôi coi như không nhìn thấy và đi trở lại phía ông. Ngang qua ông, tôi mới tươi nét mặt nhìn và để một tay lên cánh tay ông, nhẹ giọng:

– “Nhờ bác sĩ chữa bệnh tim nhịp đập một trăm hai mươi.”

Ông mỉm cười:

– “Tôi chỉ chữa tim nhịp đập một trăm ba mươi.”

Tôi nhẹ người, liếc nhanh hai đầu hành lang, tôi cho tay vào túi quân lấy tài liệu, nhét vội vào tay ông. Ông định cất tiếng hỏi điều gì nữa, nhưng tôi bỏ đi ngay ra phía phòng đợi, không cần nghe gì thêm. Khi gần tới phòng đợi, tôi nhăn nhó mặt, để tay vào phía trái tim trước ngực, và đi qua phòng trực rồi ra cổng. Tên gác cổng mỉm cười với tôi. Tôi cũng cười đáp lại và đi tuốt ra phía bờ hồ.

Lòng tôi lúc đó thật hân hoan phơi phới. Nghĩ lại, tôi thấy thực là may mắn. Thành công bất ngờ!

Nếu sau khi cô y tá xem giấy tờ, tôi không ngồi đợi, làm sao tôi nghe được ông y sĩ hỏi về ông Thọ? Phải chăng như thế một xác xuất may mắn nào đó đã nâng đỡ những nỗ lực của ta trong cuộc đời? Một cơn gió mát thổi lướt qua hai bên má tôi mềm mại dịu dàng như bàn tay của một bà tiên: “Ta chúc mừng chú mày!”

Bờ hồ! Những gợn sóng lăn tăn rất đều khoảng cách của làn nước trong xanh, đang đuổi nhau vào bờ gây lên những tiếng động nho nhỏ triền miên nhịp nhàng, giữa một màu đỏ rực chan hòa của hoa phượng vĩ. Chung quanh hồ hầu như toàn hoa phượng. Những chùm hoa đỏ ối, nằm đè lên những tàng lá xanh xanh, soi bóng rạp sát mặt hồ. Hoa lá nhún nhẩy lắc lư đùa giỡn với gió Hè thổi qua từ phía sông Hồng.

Đã 11 giờ, tôi trở về phía Cầu Gỗ, tính tìm một hàng cơm nào đó để ăn một bữa cơm đầu tiên ở Hà Nội.

Khi tới gần nhà thủy tạ, tôi thấy một “kiosque” bán bia, nước ngọt, với ba, bốn bàn kề ngoài trời sát bờ nước, trống trơn vắng vẻ không có khách. Nhìn những chai bia “Hà Nội”, tôi thấy lòng mình nổi hứng bất tử. Tôi sà vào một bàn. Một cô gái trong “kiosque” mỉm cười, ra phía bàn tôi:

– Anh dùng gì?

Tôi đáp cộc lốc:

– Một bia “Hà Nội!”

Cô ta trở vào, vài phút sau mang một chai bia đã mở nút và một cái cốc có hai cục đá con. Tôi cầm chai bia, vừa rót vào ly vừa nói thầm với chính mình:

– Hôm nay, gọi là đặc biệt một chút để thưởng công!

Chà, bia “Hà Nội” gì mà lạt thế! Tôi nhấp một ngụm nữa. Vị bia chỉ thấy hơi một chút “gas”, nhạt thếch. Tôi có cảm tưởng như một chai “33” ở Sài Gòn đổ nước lã vào thành hai chai mà uống, chắc cũng còn thơm ngon hơn thế này. Vậy mà đến 6 hào cả đá (không đá 5 hào). Thôi, gọi là cũng có một chút hơi men trong người để tâm hồn bốc khói.

Uống xong, tôi thả bước về Cầu Gỗ. Khi đến đầu phố Cầu Gỗ và Tạ Hiền, tôi thấy một đám đàn bà con gái ở góc đường. Mấy người đó tươi nét mặt nhìn tôi, hỏi tíu tít:

– Anh có gì bán?

– Này, này đưa tôi xem nào!

Một chị cứ giằng lấy cái túi dết của tôi, định kéo riêng ra một chỗ để coi. Lúc đó tôi cũng hơi lạ. Sài Gòn đâu có cảnh ấy. Hẳn rằng, cảnh nghèo túng đói ăn, thường nhiều người phải moi móc đồ nhà đi bán, nên mới có kiều con buôn vặt, đứng đón đầu phố. Tôi nói “Chẳng có gì” rồi đi luôn ra phía chợ Hàng Bè.

Chợ Hàng Bè bây giờ, trông chẳng khác một cái chợ quê ngày xưa: Dăm ba cái sạp gỗ với toàn rau muống, rau lang, rau cần,…Chợ mà chẳng có một hàng thịt, hàng cá tươi nào, chỉ có cá khô. Tôi đi qua chợ, vào phố Hàng Bè, nhìn cheo chéo thấy một quán cơm và 3, 4 chiếc xích lô đỗ trước cửa. Theo ý nghĩ ngây thơ khi còn ở Sài Gòn, của tôi về Cộng Sản: Hà Nội ngày xưa với bao nhiêu kẻ giầu người nghèo. Người giầu thì giầu quá, sung sướng quá. Ngược lại, người nghèo thì nghèo quá, suốt đời cực nhọc lầm than mà không đủ ăn. Chắc khi Cộng Sản về, giới giầu có bị đánh đổ, bị ghét bỏ, tẩy chay, còn những người nghèo khổ như con ăn, con ở, xích lô, thợ thuyền cả đời đem bát mồ hôi đổi lấy miếng cơm mà Cộng Sản gọi là giai cấp cần lao, dân nghèo thành thị hay bần cố nông gì đấy, có lẽ sẽ có rất nhiều quyền lợi, cuộc sống phải thay đổi. Cuộc đời của những người này, như cảnh chị Dậu trong Tắt Đèn của nhà văn Ngô Tất Tố; dưới chế độ Cộng Sản, sẽ xa rồi…Những ngày tăm tối, để đón nhận bình minh của đảng mang về cho giai cấp mình.

Mang trong đầu ý nghĩ như vậy, nên thấy một hàng cơm có nhiều bác xích lô, tôi vào ăn, để xem đời sống của các bác ra sao. Nhìn bên ngoài cửa kính của một quầy nhỏ, tôi thấy dăm, sáu đĩa con con bầy 3, 4 miếng đậu rán một đĩa, đĩa có mấy miếng dứa xào, v.v… Tôi bước vào. Hai dẫy bàn kê dọc theo nhà, trên bàn trống trơn. Bốn dẫy ghế dài kê theo bàn; góc này một anh xích lô tay đang cầm đôi đũa ngồi không; chỗ kia một bác vận quần đùi ngồi chồm hổm trên ghế, để lòi cái cục… cũng có đôi đũa trước mặt. Phía dẫy bàn bên kia, ba người cũng là xích lô ngồi ngả nghiêng túm hụm lại, trước mặt cũng có ba đôi đũa để trên bàn, đang bàn tán hỏi nhau:

– Thế nào, từ sáng đến giờ bao nhiêu rồi?

– Tao mới được 7 hào, chưa đủ tiền thuế, đói thì ăn đã, chiều tính, còn mày?

– Tao được mỗi cú xuống Phà Đen 1 đồng 2. Nắng quá, uống mẹ nó hai hào nước! Ăn hai củ khoai hồi 5 giờ sáng, bay hết mẹ rồi. Phải kiếm cái đút bụng đã, tính sau.

Anh thứ ba tiếp:

– Hôm nay vớ bở, tao được 2 cú đồng 8. Tao phải bỏ riêng 1 đồng nộp thuế. Còn 3 hào, chén đã. Từ giờ đến tối, tao phải cố làm sao được 2 đồng rưỡi.

– Vợ mới mà, hết ý!

Tôi cũng đến ống đũa lấy một đôi, về một góc ngồi. Giữa lúc ấy, một bà đội khăn vấn, từ nhà dưới đi lên ôm một cái thúng, trong có một nồi cơm to, khói bay nghi ngút, chung quanh nồi có chèn bao tải, có lẽ để giữ cho cơm nóng lâu. Cả 5 người đứng dậy, đến chồng đĩa, mỗi người lấy một cái, cùng đưa đến chỗ bàn, bà hàng đang dùng đũa cả đánh cơm ra. Một đứa bé từ trong nhà đưa theo ra một chai nước mắm và một ống đừng thìa nhôm để chỗ cạnh bà hàng. Mỗi đĩa cơm, lưa thưa vài miếng sắn khô (trông ngon hơn ở Hà Tĩnh nhiều) chừng độ 2 bát cơm. Bà hàng cầm chai nước mắm xóc xóc, vẩy đều vào đĩa cơm, lấy một cái thìa cắm vào giữa, đưa cho một người, người đó trả hai hào. Hết 3 người rồi, còn 2 ngưòi nữa. Tuy tay họ vẫn còn cầm đĩa, nhưng chưa lấy cơm, như chờ cái gì. Đang vẩn vơ suy nghĩ, nhìn ra phía cửa có thêm hai bác xích lô nữa đi vào, thì có tiếng cãi nhau, và có tiếng bà hàng cơm quát to:

– Những cái anh này! Của đâu mà lắm thế! Đưa tiền đây, còn để cho người ta bàn hàng chứ!

Tôi nhìn lại, thấy hai anh xích lô cầm hai đĩa cháy đầy, mắt nhớn nhác, liếc ngang, liếc dọc, thỉnh thoảng bỏ một miếng cháy vào mồm nhai rau ráu. Thì ra, các anh giành nhau mua cháy, nên chờ từ nãy, mua cháy được nhiều hơn.

Hai anh đi về phía gần bàn tôi, vừa đi vừa bốc ăn như đói lắm, mắt hau háu nhìn mọi chỗ. Từ nãy, tôi vẫn liếc nhìn chiếc tủ kính có mấy đĩa món ăn. Tôi muốn ăn, nhưng chưa thấy ai kêu, vì họ ăn toàn cơm với nước mắm, nên tôi hơi e dè. Tôi lấy đĩa, đưa cho bà hàng. Sau khi bà hàng đơm cơm xong, tôi hỏi:

– Thức ăn kia bán thế nào?

Bà hàng nhìn tôi một lúc, như xét nghiệm xem loại người nào mà dám hỏi thức ăn:

– Năm hào một đĩa.

– Cho tôi một đĩa.

Thế là đĩa cơm của tôi bớt được một phần nước mắm. Bà cúi ra mở tủ, tôi chỉ đĩa lòng gà xào dứa.

Tôi cầm về bàn. Hai anh ăn cơm cháy mở to mắt nhìn mãi vào đĩa thức ăn của tôi. Chẳng biết vì khi nãy tôi đã uống bia hay vì cơm sắn khô đắng, tôi ăn vẫn thấy khó nuốt. Phần vì đói, phần để cho mọi người chung quanh không thấy khác thường, tôi cố tỏ vẻ ăn liên hồi. Miệng nhai nhưng đầu tôi vẫn băn khoăn, mắt nhìn mọi người ăn một cách ngon lành. Phải rồi! Mình vửa ở một nơi ăn những thứ ngon xong, chứ lâu rồi thì cũng như họ. Ăn được hai phần ba đĩa cơm, tôi buồn nôn vì đĩa lòng gà đã nguội, hơi tanh tanh, lại thấy có mấy cái lông gà con con trong một miếng ruột gà. Tôi lại phải giả vờ ôm bụng. Hai anh ăn cháy, từ nãy vẫn cứ nhìn tôi, rồi nhìn đĩa cơm và đĩa thức ăn. Tôi vừa bỏ thìa và đũa xuống, mắt hai anh đã sáng lên, nhìn tôi cười. Tôi cũng mỉm cười rồi xoa bụng, kêu trống không:

– Không biết tại sao đang ăn lại đau bụng?

Hai anh xô lại chỗ tôi rất lẹ, một anh một đĩa cơm thừa, anh kia đĩa ruột gà ăn dở.

18. Linh Mục “A”, Nhà Thờ “X”

Tôi bước ra khỏi hàng cơm, tâm tư nặng chĩu những suy tư về những kiếp người trong xã hội “ưu việt”. Tôi liên tưởng tới một hình ảnh cũng một bác xích lô gần xóm tôi ở Sài Gòn. Một buổi chiều, tôi đang ngồi học, nhìn qua cửa sổ, vẳng nghe tiếng cót két của chiếc xích lô không khách. Bác đang thủng thẳng đạp về, bên cạnh xe đeo lủng lẳng miếng thịt heo và con cá lóc. Người vợ và đứa con trong nhà chạy ra hớn hở, chưa kịp hỏi han, đã bị bác xích lô giục: “Làm mấy món nhậu ngay! Con Tư, sang bà Bẩy lấy cho ba chai đế!”

Cùng một cảnh đời, nhưng hai không gian, hai hình ảnh. Tôi quẹo về Hàng Dầu, rồi theo phố Mã Mây lên Hàng Chiếu. Tôi phải tránh khu phố Hàng Bạc, mặc dù trong lòng tôi cứ da diết muốn tìm về phố cũ, nhưng tôi vẫn còn e dè. Đến Hàng Chiếu, tôi đi ngược lên Hàng Đậu, rồi lên cầu Long Biên. Chủ trương của tôi là nghe ngóng, thăm dò về Phúc Xá Thượng và Hạ xem linh mục A thế nào. Trước khi lên cầu Long Biên để sang Gia Lâm. Tôi lại làm một số động tác nghiệp vụ để xác định an toàn. Sau khi xác định không có chiếc “đuôi” nào, tôi lên cầu.

Chiếc cầu lịch sử nổi danh của Việt Nam ngày nay đã ọp ẹp vì gánh quá nặng thời gian, đã nhìn ngắm quá nhiều biến thiên của đất nước. Trước đây, xe cộ chạy hai chiều. Nhưng bây giờ, cứ hết chiều này qua rồi mới tới lượt chiều kia. Vì thế, xe ứ đọng hai bên đầu cầu hàng dẫy dài. Nhìn những chiếc xe đủ kiểu nhưng cũng nặng nề, ì ạch như tuổi đời chiếc cầu xế chiều. Bên dưới, giòng sông Hồng vẫn cuồn cuộn đỏ máu phù sa như kiêu hãnh nói lên với thế nhân, trong lòng mình còn mang nhiều máu giặc Thanh hồi nào. Sang tới Gia Lâm, tôi thấy Gia Lâm ngày xưa náo nhiệt là thế. Sao giờ vắng vẻ đìu hiu thế này, tôi có cảm tưởng như một phố huyện chiều Đông của một tỉnh miền sơn cước.

Đến nhà thờ Gia Lâm ở trung tâm thị trấn, nhìn vào trong sân, tôi thấy đầy sân, một bên là ngô, một bên là lúa, có hai người đội nón đang cầm cào đảo lúa. Còn nhà thờ mốc meo, đóng cả 3 cửa im ỉm. Mỗi cửa lại có một miếng ván đóng chéo từ dưới lên trên, có nghĩa là cửa không mở nữa.

Tôi bâng khuâng, bàng hoàng cho tình trạng giáo dân miền Bắc. Tôi vào hẳn trong sân, bốc một nắm ngô xem hạt. Một người ngẩng lên nhìn tôi là một bác già, chừng 57 tuổi. Tôi gật đầu chào bác:

– Ngô này năm nay, hay năm ngoái hở bác?

– Hai năm rồi đấy cậu ạ! Phơi cái này, rồi đổi cái mới vào.

Ông già hiền lành cởi mở, tôi thấy dễ mến. Ông nói:

– Tôi đảo hết chỗ này, mời cậu vào uống nước.

Chừng 5 phút sau, ông ghếch chiếc cào vào hè, mở nón, lấy khăn vừa lau mồ hôi, vừa đi về phía một căn nhà cửa đang mở:

– Mời cậu vào chơi!

Tôi theo vào. Trong nhà treo nhiều hình ảnh thờ to: Đức Mẹ và các thánh. Thấy nhà cửa như vậy, tôi nhìn bác và hỏi:

– Thưa bác, vậy bác theo công giáo?

Ông già niềm nở:

– Tôi là trùm họ ở đây!

Tôi săn đón:

– Cháu cũng là công giáo đây!

Ông tỏ vẻ càng hân hoan, tôi gạ:

– Nhà thờ đây có cha không ạ?

Ông lắc đầu:

– Từ lâu không có cha, bây giờ nhà thờ làm kho của hợp tác xã, và tôi trở thành người coi kho.

Tôi cười:

– Vậy sướng quá rồi còn gì! Giàu nhà kho, no nhà bếp!

Ông cũng cười. Thấy ông là trùm họ, hiền lành vẻ chất phác, nên tôi vồn vã nhiều chuyện, trong đó tôi lựa hỏi về Cha A. Ông cho biết, hiện cha còn ở nhà thờ “X”, chỉ một tuần vào thứ Bẩy buổi sáng, cha về Phúc Xá Thượng và Hạ để làm lễ sớm mà thôi. Thấy đã thỏa được những điều mình cần biết, tôi xin phép ông già đi ngay, ở lâu không có lợi. Lúc đó đã 3 giờ chiều.

Trên đường đi về, khi xuống hết dốc Bến Nứa, tôi thấy một em gái chừng 12 tuổi, mặc áo sơ mi trắng, có vẻ sạch sẽ, tôi hỏi:

– Em ơi, có biết nhà thờ “X” ở đâu không em?

Em chỉ tay và nói:

– Anh đi rẽ ra Quan Thánh là nhìn thấy.

Hôm đó là thứ Tư, tôi nghĩ nhà thờ hôm nay vắng vẻ, không tiện vào, nhưng cứ đi qua nhìn xem sao. Tôi rảo bước hướng về phố Quan Thánh. Khi đi ngang qua nhà thờ, bên ngoài có trồng hoa, tôi nhìn vào thấy cả 3 cửa phía cuối nhà thờ đều đóng. Bên ngoài có 7, 8 cậu có vẻ là học sinh, mang theo sách vở, mỗi cậu một chỗ đang xem sách. Thấy thế, tôi rẽ vào. Trên lối đi qua chỗ vườn hoa, thấy một ông già, mặc quần áo nâu đang hý hoáy làm cỏ dưới những cây bích đào, cây hồng.v.v…Tôi vào chỗ các cậu, ngồi sà xuống, cầm một quyển sách toán xem và hỏi một cậu:

– Các cậu học chăm quá nhỉ?

Một cậu cười:

– Sắp thi mới học!

Thì ra đây là các cậu học sinh lớp 10 (vỏ bọc của tôi) đang tíu tít học thi (lúc này còn chương trình, hệ 10 năm.) Tôi mở cuốn sách Hình và Đại, thấy chương trình toán, năm cuối lớp đệ Tam và đầu đệ Nhị. Như thế, riêng về toán chương trình thấp hơn gần một năm so với trong Nam. Mục đích là xem nhà thờ, nên tôi chào các cậu đi ra. Đến chỗ bác làm vườn, tôi lên tiếng:

– Bác làm cỏ đấy ư?

Bác ngẩng lên cười, gật đầu. Tôi ngồi xuống nâng một bông hồng lên xem:

– Bông này đẹp quá bác ơi!

Ông nói:

– Mùa Xuân, có mưa Xuân mới đẹp.

Tôi hỏi luôn:

– Cha A có nhà không bác?

Ông lắc đầu:

– Cha đi từ sáng, có lẽ sắp về.

Tôi liếc nhìn vào ngõ nhà chung sâu hun hút, nói lảng sang chuyện khác. Chỉ 5 phút sau, tôi nghe tiếng mô tô rồ máy đi vào cổng nhà thờ. Một linh mục mặc áo chùng thâm, tóc cắt “tăng gô”, da mặt hồng hào khỏe mạnh, chạy xe chầm chậm vào khu nhà chung. Tôi hỏi bác làm vườn:

– Cha A đấy ư?

Ông già lại gật đầu. Cha A đi chiếc xe mô tô “bê can” 2 máy. Dáng dấp người rất khỏe mạnh. Trên đường phố Hà Nội rất ít thấy mô tô, ngoại trừ mô tô của công an hay bộ đội. Như vậy, người cũng phải có một cái thế nào đó, mới xoay được xăng để chạy. Tôi hỏi bác làm vườn một hai câu nữa, về hoa cỏ rồi ra về, tính một ngày khác sẽ đến. Trên đường về, tôi rẽ ra phía chợ Đồng Xuân, lúc đó đã 6 giờ chiều. Ở Hàng Giấy, Hàng Đường người đi lại tấp nập, đông đúc. Nhìn thấy nhà sách Nhân Dân bên kia đối diện với chợ Đồng Xuân, tôi ghé sang.

Ngay từ khi còn đi học, tôi đã rất ngưỡng mộ các nhà văn, nhà thơ. Tôi quan niệm rằng: Các ông là những người tiền phong, đi trước tư tưởng quần chúng, suy nghĩ, tìm tòi, phát triển nhiều tư tưởng mới để giáo dục, chỉ đường, hướng dẫn tư tưởng quần chúng đến chỗ thiện, mỹ của con người. Tiêu biểu của thế hệ sát tôi là các nhà văn Nhóm Tự Lực Văn Đoàn, Lê Văn Trương, Nguyễn Công Hoan, Nguyễn Tuân, v.v…; các nhà thơ Xuân Diệu, Nguyễn Bính, Chế Lan Viên, Huy Cận, Lưu Trọng Lư, Tú Mỡ, Thế Lữ, Tchya, v.v… Văn thơ của các ông tôi đã đọc và rất thích, rất ngưỡng mộ. Một số người ở lại miền Bắc theo Cộng Sản. Vậy, văn thơ của các ông ấy bây giờ ra sao. Từ tâm trạng ấy, tôi vào các hiệu sách, một trong những hiệu sách lớn của Hà Nội, tôi chỉ nhìn thấy một vài tác phẩm mới như “Đời Cô Lựu”, “Bão Biển” của những nhà văn nhà thơ mà tôi đã được đọc thơ văn của họ thời tiền chiến, còn hầu hết trong núi sách: nếu không viết về hợp tác xã, đoàn viên thanh niên, công nông trường, nhà máy… Thì cũng lại là triết của Karl Marx, Lenine, Mao Trạch Đông, Lưu Thiếu Kỳ… Mở một cuốn sách nào ra, cũng chỉ đọc được một vài trang, rồi tôi không muốn xem nữa. Tôi thấy thật nghèo nàn về tư tưởng, không có hồn, nhạt phếch.

Vì là văn nghệ chỉ đạo cho nên bất cứ một câu chuyện gì, nội dung gì cũng gò bó theo một khuôn thước nhất định. Kể cả phim ảnh, nhạc, kịch cũng vậy. Cứ xem hay đọc vài mươi tờ, đã đoán được đoạn cuối, sự việc sẽ giải quyết ra sao rồi, chán ngấy!

Tôi mua cuốn “Bão Biển” và “Đời Cô Lựu”. Một cuốn “Trường Kỳ Kháng Chiến Nhất Định Thắng Lợi” của Võ Nguyên Giáp. Tôi mua những loại sách báo này có nhiều mục đích: Trang bị cho vỏ bọc của tôi, cũng xem qua trong nói những gì. Với chỉ mật, tôi sẽ ghi những dữ kiện cần thiết. Mua sách xong, tôi rẽ về Hàng Quạt ăn cơm. Đêm đó tôi ngủ ở nhà trọ Hàng Quạt.

Sáng hôm sau, mồng 3 tháng 6, như vậy là tôi đã đến Hà Nội đã được 2 ngày rưỡi. Tôi đã hoàn thành một phần tư nhiệm vụ. Như thường lệ, tôi ra bến xe điện bờ hồ, mua một khúc bánh mì, tờ báo “Thủ Đô”, đến một ghế xi măng ngồi ăn và nhìn ra hồ.

Theo tin hỏi được từ ông già làm vườn nhà thờ X, 5 giờ chiều nay, Cha A có giải tội hàng tuần. Vậy từ giờ cho đến 4 giờ 30 chiều làm gì? Tôi chợt nghĩ đến Nhà Hát Lớn Hà Nội và phố Tràng Tiền, xưa gọi là phố Tây, nơi sang trọng có nhiều người ngoại quốc, nên các cửa hàng ở đó cũng theo lề lối Âu Tây. Nghĩ như vậy, tôi đứng lên, kín đáo quan sát tất cả các bộ mặt chung quanh trong phạm vi 100 mét.

Tôi đi về phía phòng thông tin cũ, rẽ vào một ngõ hẹp rồi quẹo xuống vườn hoa “Con Cóc”. Đến đây, tôi tìm một ghế đá ngồi để xác định an ninh bằng một phương pháp chuyên môn. Không có một hiện tượng nào tôi phải chú ý cả. Yên tâm, tôi ngoặt ra bờ hồ, qua nhà bưu điện, đến nhà hàng “Gô Đa”, vào Tràng Tiền. Tôi đang đi, miên mang suy nghĩ, bỗng tôi chú ý đến hai cô gái môi son. Mặt đánh phấn, chí chóe cười đùa, đang đèo nhau trên một chiếc xe đạp. Hai cô lại mặc “duýp” mới chứ! Đó là một hiện tượng không bình thường ở Hà Nội thời ấy. Tôi đưa mắt nhìn toàn cảnh phố phường lúc đó. Đường phố có vẻ nhộn nhịp hơn. Sáu, bảy chiếc xe du lịch cũ kỹ chạy trên đường. Một chốc, tôi lại thấy những chiếc xe đó quành lại, cứ vòng đi vòng về. Đây đó, tôi thấy nhiều cô gái mặc áo dài đi trên phố, cũng như xe đạp dưới đường. Những chiếc áo dài xanh, đỏ vẫn còn hằn nếp gấp, chứng tỏ đã lâu ngày, có khi hằng năm, hôm nay Chủ Nhật mới sử dụng. Những cô gái này cứ quành đi quành về trên đường phố Tràng Tiền.

Tôi tự hỏi, họ làm gì thế? Mắt tôi chợt nhìn, xa xa mãi tít tận thềm nhà Hát Lớn, một đám người lố nhố đang điều hành một máy quay phim.

À, một cái bịp của Cộng Sản đây! Những đoạn phim này nếu đưa vào Sài Gòn, vùng “giải phóng”, sang Thái Lan, Tân Đảo, hay nơi nào khác… thì đây: Hà Nội, thủ đô của xã hội chủ nghĩa, dân chúng, xe cộ vui tươi, sầm uất nhé! Họ đâu biết rằng cảnh phố phường vui tươi ấy chỉ có một lúc này. Nhưng, nếu ai có nói với họ không phải như vậy, Cộng Sản đóng phim bịp đấy, thì họ cũng không tin. Thấy chỗ nhà hát lớn như thế, tôi không tiện đến đó nữa. Tôi lang thang xuống phố Huế rồi rẽ sang Tràng Thi quẹo về bờ hồ, ngược lên phố Huyện ra Hàng Trống, Hàng Gai. Hà Nội không có một hiệu ảnh tư nào cả. Những hiệu ảnh lớn ngày xưa, trước 1954, bây giờ còn sót hiệu nào, cũng chỉ thấy đề tấm biển nhỏ: “Ở đây nhận rửa phim và tô màu” (Vậy, nếu ai không biết, vào hiệu bảo “chụp cho tôi cái ảnh”, đúng người đó mới ở trên trời rơi xuống.)

Những hiệu ảnh khác bây giờ, hoặc đóng cửa, hoặc chuyển thành một nơi sản xuất hàng thủ công. Toàn bộ mấy khu trung tâm của Hà Nội, tôi chỉ thấy hai chỗ chụp ảnh quốc doanh của nhà nước. Một hiệu ở Tràng Tiền và một ở góc chéo Bờ hồ gần quán mụ Béo ngày xưa. Giữa thủ đô của một nước, nhìn những hiệu may lớn ngày xưa, một vài cửa hiệu vẫn còn tấm biển quảng cáo tuy đã long lở sơn. Nào đâu những tấm biển của ngày xưa “Cai cúp tốt nghiệp ở Paris,” nào “Chuyên viên may mặc, có nhiều năm kinh nghiệm ở Marseilles,” v.v… Bây giờ, thường thường ở cửa kính trước hiệu, đeo hay dán một cái biển nhỏ dài chừng 50 phân, rộng 15 phân. Bằng gỗ hay bằng một tấm bia: “Ở ĐÂY, NHẬN VÁ VÀ LỘN CỔ ÁO.” Nghĩa là, không còn cái cảnh có vải sẵn để may cắt quần áo. Tôi đi nhiều, khắp đây đó trên đường phố Hà Nội, hiệu lớn cũng như hiệu nhỏ, thường thấy cái biển đề như vậy đập vào mắt tôi. Nếu có máy ảnh, tôi sẽ chụp khung cảnh hiệu và tấm bảng này. Chỉ điều này thôi, đã nói lên nhiều sự việc về kinh tế cũng như cuộc sống, của người dân thành phố Hà Nội, dưới chế độ Cộng Sản.

Thỉnh thoảng nhìn thấy những ngưòi mồ hôi nhễ nhại, kéo những chiếc xe ba bánh trên đường phố, tôi cứ bần thần suy nghĩ. Trước đây, khi còn ở Sài Gòn, tôi thường ngây thơ lý luận: Xã hội loài người luôn luôn tiến lên, 10 năm sau sẽ khác hẳn 10 năm trước. Điều này là tất yếu ở mọi nơi, mọi nước. Vậy, thời con người thay con vật kéo xe, kéo cầy đã phải qua rồi, trừ những hoàn cảnh, những lúc đặc biệt nào đó. Còn nói chung, sinh hoạt bình thường ngoài đường phố, thì trên thế giới này hiện nay. Dù ở một nước ban khai lạc hậu nào đó, cũng không còn cái cảnh người làm thay con vật. Cảnh người kéo xe ba gác ở Hà Nội bây giờ, là một trong những thực tế đã mở mắt cho tôi, để tư duy, kiến thức của tôi được mở rộng dần. 4 giờ 30 chiều. Tôi phải xúc tiến việc đến với linh mục A. Theo kế hoạch thời gian, tôi phải nằm lỳ ở đấy ít ra 10 ngày để tuyển mộ và huấn luyện cho kịp với ngày 16 hay 18 trao tài liệu “M” theo như quy ước.

Tôi tản bộ lên phía nhà thờ X. Khi gần tới nơi, tôi nhìn thấy một cửa phụ phía dưới nhà thờ mở một cánh, và loáng thoáng một vài ông bà già đi vào. Tôi cũng đi vào nhà thờ. Khoảng 15, 16 người, quỳ rải rác ở các hàng ghế trong nhà thờ rộng thênh thang. Hầu hết là các ông bà đã có tuổi. Tôi tiến đến quỳ cạnh một ông già đầu tóc bạc phơ, gần dẫy ghế phía cuối. Một lúc, tôi ghé gần ông già, hỏi:

– Thưa cụ, hôm nay cha có giải tội không?

Ông già phều phào nói nhỏ:

– Có, tí nữa cha ra.

Chừng 10 phút sau, cha từ phía sau ra trước bàn thờ, quỳ xuống cúi đầu đọc kinh. Một lúc, người đi xuống. Trong khi đó, ở dưới này một số bà và một ông đứng dậy, ra phía tòa giải tội đứng xếp hàng. Tôi cũng theo đến tòa giải tội đứng vào hàng. Khi đến lượt, tôi tiến lại tòa giải tội, quỳ xuống. Sau khi làm vài thủ tục bắt đầu của buổi xưng tội, để tranh thủ thời gian, tôi nói luôn:

– Thưa cha, con vừa ở Sài Gòn ra, con có mang theo một lá tâm thư của cha Hoàng Quỳnh gửi cho cha. Vậy, con có thể đưa cha bằng cách nào cho thuận tiện?

Im lặng một lúc, cha nói:

– Tí nữa khi giải tội xong, tôi quỳ ở phía dưới nhà thờ. Anh cứ đưa tự nhiên.

Tôi băn khoăn:

– Thưa cha, như vậy có điều không tiện chăng?

Cha nói:

– Không sao cả! Ở đây, giáo hữu vẫn thỉnh thoảng đưa thư xin lễ cho tôi.

Qua cách đối ứng, và cách nói chuyện của cha, tôi thấy cha là một người rất bình tĩnh, điềm đạm. Vì cha ở trong phòng giải tội, tôi không thể nhìn được nét mặt của người như thế nào, khi bất chợt cha gặp một người ở Sài Gòn ra. Tôi nói tiếp:

– Thưa cha, con sẽ gặp cha để thưa chuyện với cha nhiều. Nhưng, con muốn trước đó, cha hãy đọc lá thư của cha Hoàng Quỳnh đã. Vậy, thường ngày cha có làm lễ sớm không?

– Sáng mai, tôi làm lễ sớm từ 5 giờ, xong lễ, anh lên gặp.

– Con sợ, tí nữa ra ngoài đưa thư không nói được gì. Vậy thưa cha, gặp cha ở đây thuận tiện, hay ở Phúc Xá Thượng hay Hạ, tiện?

– Cứ ở đây, tiện hơn.

Tôi vờ cuối đầu đọc kinh ăn năn tội như mọi người, rồi ra. Tôi quỳ ở hàng ghế cuối, chờ.

Sau hai người nữa, hết người xưng tội. Cha ra, quỳ ở trên tôi khoảng 6, 7 hàng ghế. Chờ cha làm dấu xong vừa đứng dậy tôi cầm thư tiến đến. Gần chung quanh không có ai, tôi nói khẽ:

– Sáng mai, con sẽ đến cha!

Rồi, tôi xuống cuối nhà thờ và ra ngoài. Tôi ra lối cổng nhà thờ, sát ngay hè phố. Gọi là cổng, nhưng không có cánh cửa, đó là một lối xe ra vào rộng, giữa hai bờ tường xây dọc theo hè phố. Mắt tôi thoáng thấy phía bên phải, một vật gì loáng thụt vào một bờ tường, cách tôi khoảng 10 mét. Phản xạ tự nhiên của nghề nghiệp, lẽ ra tôi quặt theo phía trái theo hè phố để về Hàng Than, nhưng để xác định cái bóng lúc nãy, tôi bước thẳng xuống đường, để sang hè phía bên kia.

Lợi dụng một chiếc xe từ phía trái đi lại, quay lại, tôi vờ chú ý nhìn chiếc xe, khi xe đi ngang qua mặt, tôi nhìn theo. Rất nhanh, tôi đã thấy một tên đội mũ cá két xám, đeo kính râm, chừng 30 tuổi. Y đang vờ nhìn về phía phải y, để tôi không thấy mặt.

Căng thẳng bắt đầu! Tôi hoàn toàn vờ như không hề biết, cứ thong thả tiến về phía Hàng Than. Tuy vẫn thủng thẳng bước, nhưng lòng tôi đầy phán đoán, cân nhắc. Để xác định rõ, tôi đi về phía chợ Đồng Xuân. Hôm nay, khu mặt tiền chợ có vẻ đông hơn hôm trước, có lẽ vì trời còn sớm. Tôi lại vào hiệu sách, vờ lựa chọn, tìm một cuốn. Khi tôi cố ý với một quyển sách trên kệ cao, tôi đã thoáng thấy tên đó đứng bên kia cửa chợ. Lợi dụng việc chọn sách và mua một cuốn về nông nghiệp, cũng như khi ra quầy trả tiền, tôi đã quan sát hết mọi bộ mặt, quần áo, dáng dấp những người chung quanh mà tôi có thể nhìn thấy. Xong, tôi theo Hàng Giấy xuống Hàng Đường rẽ vào Hàng Bồ, qua Mã Mây, vào quán cơm Hàng Bè lần trước. Cơm nước lúc này, làm sao ăn ngon cho được nữa! Bao nhiêu thính giác, thị giác và trí óc của tôi đang quay cuồng với tên mang kính râm. Nhìn chéo sang góc chợ, tôi thấy tên kính râm đang lảng vảng tiến vào hàng cơm, tôi lại thấy một tên đi xe đạp, mặc áo công nhân xanh, chừng 25 tuổi, tôi đã thấy y ở Đồng Xuân. Hai tên.

Tôi cố gắng nhồi cơm vào, chứ tôi còn biết mùi vị gì. Ăn xong, tôi về nhà trọ Hàng Quạt để đi ngủ. Giường tôi nằm giữa hai chiếc giường, mà hai người nằm đó tôi đã biết mặt từ hôm trước. Nói chung, khu tầng dưới tôi nằm, có 9 giường. Hôm trước, chỉ có 3 giường trống là số 1, 2, và 5. Tôi nằm giường 4.

Khi tôi vào đi tắm, lúc đó là 8 giờ tối, tôi chuẩn bị lại hết những gì cần thiết. Trong mình tôi chỉ còn 3 tài liệu: 2 của linh mục B và C, 1 tài liệu “M”. Tắm xong ra, tôi thấy giường số 5 có một anh cũng đeo ba lô bộ đội mới vào thuê. Tôi về giường, mỉm cười gật đầu chào, anh cũng gật đầu mỉm cười với tôi. Anh ta chừng 26, 27 tuổi, người trắng trẻo. Trong khi tôi loay hoay sắp xếp giường và túi dết. Anh cũng lục đục tìm thế nằm. Một lúc tôi lên tiếng:

– Không hiểu sao, nhà thương ở đây xin nằm điều trị khó thế anh nhỉ?

Anh nói:

– Tùy theo bệnh. Tôi cũng ở Bắc Ninh về chữa bệnh đây.

Tôi hỏi ngay:

– Anh bị bệnh gì?

Anh thủng thẳng:

– Đau dạ dầy.

Trong óc tôi đặt ngay một nghi vấn. Được, tao sẽ có nhiều cách để biết về mày. Chữa bệnh hay theo dõi tao, rồi tao sẽ biết! Đêm hôm đó, phải thú thực, tôi không tài nào ngủ nổi, mệt lắm thì chỉ nhắm mắt. Đầu óc căng thẳng. Bao nhiêu câu hỏi, bao nhiêu suy nghĩ, tính toán. Địch, nghĩa là phản gián Hà Nội đã phát hiện ra tôi? Hay đây chỉ là công an ngầm hình sự theo dõi lưu manh, buôn lậu? Vì khâu nào bị lộ? Chúng bắt đầu phát hiện ra mình từ lúc nào? Vì sao?

Tôi nhớ lại, lúc sáng khoảng 8 giờ rưỡi, 9 giờ, ở bờ hồ bến xe điện, tôi đã xác định là không có “đuôi”. Vậy, có thể địch phát hiện ra tôi từ nhà thờ X. Nếu từ nhà thờ X, có hai lý do khả nghi: Thứ nhất, có thể từ ông già làm vườn. Ông là người đã bị công an tình báo Hà Nội mua hoặc đặt vào để theo dõi, giám sát mọi hinh vi của Cha A. Thứ hai, Cha A ở giữa lòng Hà Nội, lại là một linh mục có khả năng, cương cường, nhiều lần chúng mua chuộc không được. Như vậy, chính chúng thường xuyên đặt người nhòm ngó cha rồi.

Vì chính quyền miền Nam đang tăng cường tung gián điệp, biệt kích ra miền Bắc, cụ thể như anh Hảo Hải Quân đã tâm sự với tôi. Hơn nữa, từ Hà Tĩnh tới Hà Nội, đâu đâu tôi cũng thấy khẩu hiệu: “Phòng gian, phòng gián, bảo mật.” Dân chúng đã được giáo dục học tập, thấy một hiện tượng lạ, một người lạ phải đến báo cáo cho công an. Như vậy, tất nhiên, Cục phản gián Cộng Sản đã bí mật rải người canh gác cả 5, 6 nhà thờ ở Hà Nội có linh mục ở. Chúng thừa đoán được là, nếu gián điệp mò về hoạt động, nhà thờ chính là những nơi gián điệp cần bắt mối, liên lạc. Có thể, tại tất cả địa phương, nhà thờ, xứ đạo có linh mục, chúng đều có lệnh cho từng địa phương tùy nghi để bố trí theo dõi, giám sát những hành vi của các linh mục, và những người lạ đến giao thiệp, gặp gỡ. Riêng Hà Nội là trung tâm đầu não của đảng, cũng như của chính quyền, vấn đề này càng được đặt ra đúng tầm quan trọng của nó.

Tôi mới đến nhà thờ X lần thứ II. Lần đầu, có thể tôi đã đến trong một lúc sao nhãng nào đó của nhân viên phản gián. Hoặc, nhờ có một số học sinh đang học thi, tôi đồng dạng, nên qua mắt được chúng, chúng vô tình không để ý. Lần này, đến nhà thờ, chỉ có một số ông bà già, còn thanh niên trẻ tuổi không ở công trường, xí nghiệp, nhà máy, thì cũng đội nọ, đoàn kia, họp hành làm gì có thì giờ mà đi nhà thờ. Ngay ngày Chủ Nhật cũng chỉ họa hằn.

Bao nhiêu vấn đề làm tôi căng óc suốt đêm. Nhiều vấn đề chưa giải đáp được sáng tỏ, phải đợi những ngày tới. Tôi thấy trước mắt, muốn chống đối, đấu tranh với kẻ thù lúc này, phải cần có đầu óc minh mẫn, sáng suốt. Như vậy, cần phải khỏe, không ngủ được, không thể khỏe. Do đấy, tôi gạt hết, quyết tâm ngủ ít ra một tiếng, để ngày hôm sau ứng phó với kẻ thù.

19. “Đuôi!!!”…

Bẩy giờ sáng hôm sau, tôi mới dậy. Tên đau dạ dầy cũng dậy lúc đó. Tôi nhăn nhó:

– Đêm qua, tôi tưởng gần chết! Tim tôi nhiều lúc nghẹt lại tưởng mê man, xỉu đi. Khi ở nhà, đôi khi tôi cũng bị như vậy. Hôm nay, tôi phải vào nhà thương xem sao. Tuổi trẻ mà nhiều khi không muốn sống nữa!

Y nói:

– Hãy cố gắng đi, có khi vào Việt Đức sẽ chữa khỏi. Khoa học ngày nay, chữa được nhiều bệnh lắm.

Tôi hỏi:

– Anh đi nhà thương nào?

Y trả lời:

– Hôm nay tôi chưa đi, còn bận đến nhà người anh họ.

Lúc vào rửa mặt, tôi xem trong túi dết: Không còn đồ gì đáng ngại. Trước khi buộc túi, tôi cố ý để đuôi bàn chải ló hơn đuôi hộp thuốc đánh răng đúng nửa phân và quấn vào cái quần lót; giữa cuốn “Đời Cô Lựu” và cuốn của Võ Nguyên Giáp, tôi kẹp một miếng giấy bé bằng đốt ngón tay út giữa hai cái bìa, rồi xếp lại. Khi buộc túi dết, tôi thắt nút quai chèo, dây dài thò dài hơn đúng 3 lần giây ngắn. Xong, tôi đem ra bàn trực gửi, rồi đi.

Như thường lệ, tôi cũng ra bến xe điện mua một cái bánh mì nhỏ như mọi khi, sau khi quan sát hết một chu vi có thể được do mắt tôi. Tôi hơi nghi bộ mặt và thái độ của mấy người, hai anh chàng hôm trước không thấy. Ăn xong, tôi đi về phía nhà thương Việt Đức. Tôi quyết định không trở lại linh mục A nữa, trừ trường hợp tôi cắt được đuôi, hoặc có thời cơ thuận tiện.

Tôi quẹo xuống Trường Thi, đi qua một đường hẻm và một phố nhỏ, đến một cái ghế đá ở Trường Thi, tôi ngồi nghỉ. Thỉnh thoảng tôi lại để tay lên ngực nhăn nhó. Rất lẹ, tôi đã thấy hai chú, mà tôi đã nghi ngay trên bờ hồ. Á chà! Lại có một cô gái chừng 18 tuổi. Mặt non choẹt, có hai mớ tóc đuôi sam, đang ngồi ở một hàng nước vỉa hè cách xa chỗ tôi đến 250 mét. Dáng dấp ấy, tôi đã thấy đứng ở bến xe điện. Được, xem chúng mày bao nhiêu đứa! Cô gái cứ cúi xuống, hai tay lúc lắc đan len. Như thế, hiện nay là 3 đứa.

Tôi vào một cửa hàng quốc doanh, mua một chiếc khăn mặt 5 hào, rồi đi trở về nhà thương Việt Đức. Khi gần tới nhà thương, tôi coi như lần đầu tiên đến đây. Tôi phải hỏi thăm một người đi đường, họ chỉ cho. Tôi lớ ngớ như bộ điệu của một anh chàng ở tỉnh, chưa hề tới lần nào, từ cách đưa giấy tờ, cho tới khi vào trong. Dù không cần quan sát, tôi cũng hiểu mọi cử chỉ hành động của tôi; ít nhất có 6 con mắt không bỏ sót. Tôi cố ý tránh, không bén mảng tới mấy dẫy nhà của Z-5.

Tôi hỏi thăm những người y tá để đến thẳng khu phòng khám, chữa về tim. Điều phiền toái là tôi lại không có bệnh. Vì thế, tôi chỉ đến phòng đợi, hỏi han vớ vẩn về tim, có nằm điều trị được không v.v… Khi họ hỏi tôi có giấy giới thiệu không? Tôi lại lắc đầu. Loanh quanh một lúc, thế mà cô ả đan len cũng mò vô, và một anh chàng nữa.

Khi ra cổng bệnh viện, ngay khi vừa tới mép cổng, tôi đã thấy anh chàng mặc áo nâu cùng xuống Tràng Tiền với tôi, đứng mãi bên trong giậu găng của một ngôi nhà xa tôi đến 300 mét, thò mỗi cái mặt ra. Ngay chéo bên kia phố, một anh xích lô đầu đội mũ công nhân, mà tôi đã để ý từ dưới Trường Thi, đang lúi húi nắn cái lốp (vỏ) xe. Tôi biết rồi, đừng vờ nữa!

Như thế là những 4 người. Điều này đã nói lên tình hình rất căng. Không thể còn lỏng lẻo mơ hồ nữa.

Tôi về bờ hồ, sang phía đền Ngọc Sơn. Chỗ có nhiều cây to, có các quán nước ngoài trời, vào một bàn, mua một chai nước ngọt, ngồi nhìn ra hồ. Tôi ngồi nơi vắng lặng như vậy, cho tinh thần được thoải mái để cân nhắc, tính toán. Lúc này, tôi không cần để ý tới người theo dõi cho mệt. Cái cần thiết, tôi đã biết rồi. Mức độ căng thẳng tôi cũng đã nhìn thấy. Vậy, chỉ còn đào sâu tính toán cho kỹ. Rồi theo đó giải quyết.

Vẫn làn gió hồ hiu hiu thổi nhẹ, vẫn những bông phượng vĩ đỏ ối quanh hồ, nhưng hôm nay tôi không cần biết, trước mắt mà coi như không thấy. Tôi chưa kết luận, nhưng những hiện tượng vừa qua trong hai ngày cho thấy, phải tới 90% là phản gián Hà Nội đã phát hiện ra tôi. Nếu chúng là phản gián, chúng đã xác minh được tôi rồi. Tôi không phải là người sống ở miền Bắc, tuy có giấy thông hành đầy đủ tên tuổi, quê quán do công an huyện ký. Chúng chỉ cần nhắc điện thoại là biết rõ rồi. Tôi làm gì có tên trong sổ cái.

Nếu chúng là phản gián, tôi phải tin chắc nguyên tắc này, chúng sẽ chưa bắt tôi. Chúng cần bí mật theo dõi, để xem tôi đi những đâu, làm gì, giao thiệp với những ai…? Trừ phi tôi định chuồn. Vậy tôi yên tâm, chưa sợ chúng bắt. Tôi cần tỉnh táo, bình tĩnh để đối ứng. Từ nguyên tắc trên, đôi khi chúng lại tạo điều kiện cho tôi đi lại, hoặc ra vào một cách dễ dàng hơn, ở một cơ quan nào đó mà tôi muốn. Có như vậy, chúng mới biết được tôi định làm gì và giao thiệp với ai? Mặt khác, chúng sẽ bố trí nhân viên phản gián sao cho:

– Không bỏ sót một việc gì mà không biết, dù nhỏ nhặt của con mồi. Nếu có quay phim thì càng tốt.

– Tuyệt đối khéo léo, không để cho con mồi biết là đã bị phát hiện.

– Cố tránh đừng để con mồi thấy mặt nhiều lần, nó sẽ nghi ngờ.

– Bám riết, không được để mất con mồi. Phải tinh ý, đoán trước được ý đồ của con mồi định làm.

Những điều trên, có lúc tưởng như mâu thuẫn với nhau, vì thế, để giải quyết, chỉ còn một cách duy nhất là tăng cường đầy người theo dõi, vòng trong, vòng ngoài, v.v… Mục đích của chúng là phải biết rõ về tôi, và tìm hết mọi mắc lưới của tôi. Biết khả năng của địch ưu, cũng như nhược, để tùy cơ ứng biến theo điều kiện của tôi. Về phía tôi, tôi nhận thấy, điều đầu tiên và quan trọng nhất là: Bằng mọi giá, mọi cách dứt khoát không để cho chúng biết là tôi đã biết chúng. Dù sau này, sự việc diễn tiến như thế nào, điều đó chỉ có lợi cho tôi mà thôi. Tôi sẽ phải tạo điều kiện cho đối phương mất cảnh giác rồi bất ngờ cắt “đuôi”. Nếu có thời cơ tôi sẽ trở lại linh mục A. Nắm vững là chúng chưa bắt mình, vậy thôi phải triệt để lợi dụng yếu tố này. Kéo dài thời gian, tung hỏa mù, để trao tài liệu “M”. Tương kế tựu kế, tôi sẽ dẫn đối phương về một chiều hướng khác. Tôi phân tích, cân nhắc, đặt ra những phương hướng trên. Trước mắt, tôi cứ như thế, rồi tùy theo diễn tiến của thực tế, sẽ bổ sung hoặc thay đổi.

Một điều tôi buốt ruột đau lòng lúc này, là hộp thuốc hóa trang đã để lại miền Nam. Tôi đã học và thực tập hóa trang nửa tháng trời. Lỗi này không do tôi, mà do các ông dậy tôi. Các ông đã chuyển hết đồ của tôi đi trước. Tôi tin nơi các ông, nên tôi đã không kiểm soát lại. Âu đây cũng nói lên một khía cạnh, về tinh thần tắc trách của cán bộ miền Nam. Tôi sẽ trình bầy thêm sau này.

Tôi ý thức được sự nghiêm trọng trong lúc này. Đi hoạt động trong vùng đầu não của địch; đã bị lộ, chẳng khác gì con cá nằm trên thớt. Dù vậy, với bản tính coi thường nguy hiểm của mình, nên tương đối tôi vẫn bình tĩnh. Đây là lúc thử nghiệp vụ giữa miền Nam và miền Bắc. Ở miền Nam tôi chỉ là loại tép riu thôi, nhưng ra đây, tôi cũng dám đùa dỡn với các ngài! Khi đã có chủ định tôi cảm thấy an tâm, bình thản hơn. Ngay sau đó, tôi trở về bến xe điện. Đi Hà Đông chơi, vừa để nhìn rõ được mức độ theo dõi, tôi vừa xem cảnh xây dựng đổi mới của xã hội chủ nghĩa, sau hơn 8 năm thống trị.

Chủ trương đã như vậy trong lòng, nên cách đi đứng cũng như cách lên xe điện. Tôi tỏ ra là một người rất chậm chạp, đôi khi còn nhút nhát nữa, như: Ở bến xe điện, tôi ngồi ở ghế xi măng, vờ cứ cắm cúi xem báo, chờ cho xe điện bắt đầu chuyển bánh. Tôi mới giật mình đứng dậy chạy theo, chới với, lúng túng, rồi đành nhìn theo xe điện chạy, tiếc ngẩn ngơ, nhỡ tầu v.v… Mục đích là để cho những người theo dõi tôi, mang một ấn tượng, thằng này dáng bộ chậm chạp, nhát nữa. Họ đâu biết rằng, với tốc độ xe điện ở Hà Nội, hoặc xe buýt ở Sài Gòn, bất cứ lúc nào tôi cũng có thể nhẩy lên hay nhẩy xuống được.

Lúc đó đã một giờ chiều, ngày 4 tháng 6. Chẳng hiểu cô gái ấy ăn cơm ở đâu, bây giờ cũng thấy đứng ở cuối toa xe điện theo tôi vào Hà Đông. Hai người lên xe điện, còn các người kia tôi không thấy. Khi tầu điện ra khỏi thành phố, tôi muốn quan sát lại phía sau, xem có xe nào đuổi theo không. Biết rằng có bốn con mắt đang để ý tôi ở trên tầu. Mắt tôi cứ vờ như đang chú ý đến một người đang gánh rạ dưới đường. Xe điện chạy qua, và tôi phải ngoái lại nhìn theo người gánh rạ. Tôi đã nhìn thấy hai anh chàng ngồi trên một cái Mô bi, đang cúi gò người chạy theo tầu, thật vất vả. Một chiếc Commanca nữa ở phía sau. Tôi chỉ thoáng nhìn thấy kiểu xe và hình dáng người trên xe. Chốc nữa vào Hả Đông là tôi sẽ biết ngay.

Chà, khu Cao Xà Lá (Cao Su, Xà Phòng, Thuốc Lá)! Đọc ở trên báo, nghe ở trên đài, tôi tưởng khu này do Trung Quốc giúp xây dựng lớn lắm kia. Thế mà cũng gọi là khu Liên Hợp Trung Quy Mô! Biết họ nói bốc, tôi đã trừ hao đi rồi, thế mà vẫn còn thấy ngạc nhiên. Nhìn toàn khu, chỉ như một cái hãng tư trung bình của miền Nam.

Tôi đã nhìn thấy số của chiếc xe Commanca: HN5037. Trên xe có 3 bộ mặt. Tuy tôi chưa chắc, nhưng hiện tượng thì nghi. Nó đã chạy vượt trước xe điện. Vào tới Hả Đông, hành khách xuống, tôi cũng xuống theo. Tôi đi lang thang mấy phố. Nói mãi cái nghèo của Cộng Sản thành nhàm. Tôi chỉ thấy Hà Đông như nhà quê, cái thành phố mà ngày xưa, đầu 1954, tôi và người em họ Phan Gia Ân thường đèo nhau vespa đi vào chùa Trầm, vào trại vải chơi đùa trong thời hoa mộng. Tôi có cảm tưởng lúc đó Hà Đông là một cô gái 18, đôi mươi của hương sắc. Còn bây giờ là một bà lão 60-70 tuổi móm mém. Cuộc đời thăng trầm đã làm cho cô thất cơ lỡ vận, bần hàn, cực nhọc. Quanh quẩn, đến một đầu phố, tôi đã thấy từ xa trong một góc đường, chú HN5037 đang đậu im phăng phắc. Chốc nữa tao về Hà Nội, mày mà mò theo là tao nhớ mày!

Tôi trở ra bến xe, về Hà Nội. Xe điện đi được nửa đường, lúc ngừng ở một bến phu, chú HN5037 chạy vượt qua. Tôi nhận được mặt thêm 3 người nữa, đồng thời lúc này tôi cũng khẳng định chúng 100% là phản gián Hà Nội. Tuy vậy, mức độ chúng đánh giá về tôi, tôi chưa xác định được. Với sự hiểu biết của tôi, điệp viên có nhiều loại, nhiều trình độ: Hồ Chí Minh, Fidel Castro, Lý Thừa Văn, v.v… Chẳng đã có thời gian hoạt động tình báo đấy ư? Ở bờ bên kia Bến Hải, khoán 300 đồng sang khu phi quân sự Bắc, mua hay lấy một tờ báo Nhân Dân. Như vậy, cũng là hành động của một điệp viên (điều này, chính ông Hương đã kể). Từ ý nghĩ trên, tôi chẳng cần giữ vỏ bọc là học sinh ở Vĩnh Linh nữa. Học sinh gì mà chúng phải vận dụng đến 7 người một ngày, cả xe Commanca đi theo như thế?

Biết người, biết mình một tí. Chúng đã biết tỏng tôi rồi; chúng chỉ không biết tôi ra đây để làm gì thôi. Vì thế, chúng sẽ còn phải mất nhiều tâm sức với tôi. Xe điện về tới bờ hồ thì đã chiều, tôi đi ăn cơm rồi về nhà trọ. Đưa thẻ lấy túi dết. Chưa cần mở ra, tôi đã biết có người mở túi dết của tôi ra rồi. Không sao cả, ngay khi tôi ở hàng cơm ra, tôi đã thấy trên một cửa sổ nhà đối diện, một người chụp ảnh tôi. Cũng không sao cả! Dù tôi muốn hay không, bây giờ cái thế đã như vậy rồi, sợ cũng chả được nữa. Không sợ mấy, tôi còn được cái khoái ngắm cảnh khi cưỡi trên lưng cọp.

Đêm ấy, tôi vẫn ngủ quán trọ Hàng Quạt. Tên đau dạ dầy cũng vẫn ở đó. Tôi đã biết nó khi đi ăn cơm. Lúc ở bờ hồ rẽ về, từ xa tôi đã thấy nó đứng nói chuyện với một trong số người theo dõi tôi từ hôm qua đến bây giờ. Nó chủ quan, nghĩ rằng tôi không thể biết tên kia. Ngoài đường phố người đông như hội, gặp người quen là chuyện thường. Nhưng vì tôi đã biết tên kia, nên biết về nó. Do vậy, tôi đi tắm, xong về giường nằm. Nó không hỏi, tôi cũng chả cần nói, dù có mỉm cười gật đầu chào nhau. Đêm qua tôi mất ngủ. Đêm nay, tâm hồn đã xác định rõ, vì thế, tôi cần ngủ cho lại sức đã. Thời gian chờ còn hơn 10 ngày nữa mới tới 16-18: Ngày quy định trao tài liệu “M”. Trong thời gian này, tôi phải tung hỏa mù bằng cách:

– Sẽ dẫn chúng đi lung tung để lợi dụng nhìn được nhiều cảnh vật của Hà Nội, biết thêm nhiều điều hữu ích khi trở về Sài Gòn. Trong khi đó, nếu có thời cơ, tôi cắt “đuôi” ngay.

– Ngoài ra, tôi còn phải tỏ ra là một người có tính tiểu tư sản lãng mạn, lưu luyến cảnh cũ (mặc dù có nhận nhiệm vụ về miền Bắc theo dõi sư đoàn 308, nhưng trong lòng không thích hoạt động. Cụ thể, là không hề chú ý tới những nơi đóng quân, cũng như những bộ đội, xe cộ quân sự gặp trên đường đi qua). Lâu ngày, nhớ Hà Nội, về thăm, chứ không thích hoạt động, thế thôi.

– Trong quá trình đi linh tinh như vậy, tôi phải để ý tìm một địa thế thuận lợi để cắt “đuôi”.

Tuy trong lòng tính như thế, nhưng nằm xuống, tôi cũng không làm sao ngủ nổi. Cứ vẫn vơ nghĩ suy, hết sự việc này, lại sự việc khác tiếp nối kéo đến. Ngay khi còn ở Sài Gòn, trước những ngày đi, tôi vẫn tâm niệm là: Ra đi, đẹp nhất là hoàn thành nhiệm vụ trở về. Thứ nhì là …chết! Khi không may mà chết, chả có gì để nói nữa, vì chết rồi còn biết gì nữa đâu. Hòa cả làng! Trường hợp thứ ba là trường hợp xấu nhất, tức là bị bắt. Phải chịu đắng cay, khổ đau rồi cũng chết. Tuy thế, qua bao nhiêu sách báo, truyện tôi đã từng đọc. Trong nhà tù, có biết bao nhiêu những nhân vật quái kiệt, tài ba, những con người xông xáo, muốn làm những việc khác thường, nhưng không gặp thế, gặp thời. Vậy là dịp tôi được gần gũi những bộ óc uyên bác, sẽ học hỏi được nhiều; từ đấy, tư duy và kiến thức của tôi được mở rộng. Giòng suy nghĩ cứ chảy dài vào đêm thâu đổ dần vào giấc ngủ muộn.

Sáng hôm sau, Hà Nội mưa dầm dề. Những trận mưa mùa Hè như đổ nước xuống. Tôi ngồi dậy, nghe tiếng mưa rơi và gió thổi bên ngoài, tôi liên tưởng đến một ý thơ của một thi nhân người Pháp, Verlain thì phải, đúng với tâm trạng của tôi lúc này: Mưa gió ngoài phố phường, như mưa gió trong lòng tôi. (Il pleut sur la ville, comme il pleut dans mon coeur). Mắt tôi chợt thoáng bắt gặp một bộ mặt quen thuộc, ngồi nghiêng nghiêng trên giường số 9. Gớm thật, những hai tên cùng ngủ với tôi. Tôi đi đánh răng, vừa rửa mặt vừa nghĩ ngợi: Mưa gió thế này đi đâu? Tôi chợt nghĩ, chúng nó bám mình riết quá!

Trên nguyên tắc, chúng nó sẽ chưa bắt tôi. Nhưng điều gì có thể chắc chắn là chúng chưa bắt? Nhỡ ra vì một lý do bất thường nào đó, chúng lại vồ thì sao? Vậy, tôi phải phòng hờ cả những trường hợp ngoại lệ. Hai lá thư của các linh mục B và C, tôi xét thấy không thể thực hiện được. Hơn nữa, hai linh mục này cũng chỉ là thứ yếu trong công tác của tôi. Tôi quyết định hủy. Sợ vào chỗ rửa mặt lâu, chúng nó đặt vấn đề, rồi theo vào. Tôi vờ ra cất bàn chải và khăn mặt cho chúng thấy, rồi tìm giấy để chúng biết là tôi đi cầu. Vào nhà xí, sau khi quan sát mọi ngóc ngách, không chỗ nào để bên ngoài có thể nhìn được tôi, trừ lỗ khóa ở cửa. Tôi tụt quần dài treo vào quả nắm là xong, yên tâm. Tôi xé hai lá thư bọc ny lông ra, đọc lại một lần nữa, rồi đánh diêm đốt, cho xuống thùng phân.

Như vậy, trong người tôi chỉ còn tài liệu “M”. Tôi phải để trong một tư thế, nếu thấy có hiện tượng bị bắt giữ, tôi sẽ vo viên búng đi nơi khác bằng một động tác mau lẹ bất ngờ. Còn chì mật, chắc chắn muôn đời chúng cũng không tìm ra, dù để ngay trước mặt, chúng cũng không thể biết là cái gì.

Ngoài trời, mưa đã ngớt hạt, trời sáng dần, tôi đeo túi dết ra phòng trực lấy giấy tờ. Vừa ra tới cửa, tôi liếc nhanh lên một khung cửa sổ của căn nhà lầu phía bên kia phố, thấy hai bộ mặt lạ của một người đàn ông và của một người đàn bà chừng 30 tuổi.

Tôi đi ngược lên phố Lãn Ông, rồi rẽ về Hàng Buồm, vào ngõ Hàng Giầy. Mấy hôm nay tinh thần tôi căng thẳng, nên ăn uống chả ra làm sao cả. Hôm nay, tôi muốn ăn bát cháo. Nơi đây nổi tiếng cháo ngon của Hà Thành thanh lịch của mấy hiệu: Sinh Ký, Tư Ký. Tôi vẫn cố tránh, chưa dám về phố Hàng Bạc. Vì thế nhiều lần tôi cứ phải đi vòng qua. Bây giờ, tôi cũng không phải quá giữ gìn về cách tiêu tiền, dù rằng tôi cũng không tiêu gì quá lố. Khi chúng chưa phát hiện ra tôi, tôi vẫn đóng vai một học sinh ở thôn quê, nên phải tỏ ra dè xẻn chắt chiu. Cũng vẫn là hiệu cháo Sinh Ký nổi tiếng ngày xưa của Hà Nội, mà bây giờ bát cháo thịt bò nhạt nhẽo như nấu cơm nguội. Cháo bò nhưng có lẽ thịt trâu, với 5, 6 mẩu thịt con đen xì. Nhất là cái “dầu cháo quẩy” thật buồn cười, bé tí, khô, cứng ngắc, ăn có vị ngô, trông như hai ngón tay út dính vào nhau.

Tôi quan sát hết một lượt, không thấy bộ mặt nào quen. Mãi chéo phía xa, gần ngã tư Tạ Hiền – Lương Ngọc Quyến là hai bộ mặt, một đàn ông và một đàn bà, tôi đã thấy trên cửa sổ trước nhà trọ Hàng Quạt. Họ tỏ vẻ như đang bàn nhau chuyện gì. Cách xa tôi đến 200 mét, nhưng đôi mắt hai người vẫn thỉnh thoảng hướng về tôi. Bên kia đường, ngay trước hiệu cháo, một ông chừng bốn chục tuổi, mặc áo sơ mi cụt tay mầu xám bộ đội, đang vờ hý hoáy chữa cái tay thắng xe đạp, vẫn đưa mắt về tôi.

Trong hiệu cháo có mươi người khách. Những người khi tôi bước vào đã có ở đấy rồi, tôi loại. Vào sau tôi, 3 người. Người ngồi mãi góc là một thanh niên, có vẻ học sinh, chừng 20 tuổi, cũng đội cái mũ cối. Tôi không bao giờ nhìn thẳng anh ta, mà chỉ nhìn bằng thị trường mắt của mình, tôi thấy anh ta chú ý tôi không bình thường. Ngay ngoài hè, một phụ nữ khoảng 20, tay xách cái làn cói đang mặc cả mua mấy bắp ngô luộc. Đôi mắt sâu hoắm, nhiều lần cũng liếc tôi như có chủ ý.

Với cái khứu giác của nghiệp vụ, tôi đã thấy 3 người, hai người thì chắc chắn, còn người thứ ba, nghi ngờ. Ra khỏi hiệu cháo, tôi trở lên Hàng Bồ, theo Mã Mây xuống Hàng Dầu, rồi đến trước đền Bà Kiệu. Hôm nay, tôi lên cầu Thê Húc vào thăm đền Ngọc Sơn.

Cảnh chùa vắng vẻ, lác đác dăm bẩy người, với một lũ trẻ con 6, 7 đứa nó đùa đuổi nhau. Nhìn Chấn Ba Đình mốc meo, sứt mẻ đứng chơ vơ như nỗi niềm tăm tối của những kiếp người, đang lê thê sống ở miền Bắc, tôi cũng chạnh lòng đăm chiêu. Thoáng nghe 6, 7 em nhỏ, vì sao đó chửi nhau thật là thô tục, tôi không ngờ. Tại sao, một em nhỏ 10, 12 tuổi lại có những câu tục tĩu như vậy? Đứa nào cũng thế! Một chị phụ nữ chừng 26, 27 tuổi, dáng dấp như một giáo viên hoặc một thư ký của một hợp tác xã ở nông thôn, nghe các em chửi nhau như vậy, nên đứng dậy nói như giáo dục:

– Này các em, sao các em là con trai, mà chửi nhau bẩn thỉu thế? Thiếu nhi Thủ Đô là cháu ngoan Bác Hồ mà! Chị mới ở nông thôn ra, chị đọc báo vẫn thấy thiếu nhi Thủ Đô, luôn xứng đáng là ngọn cờ, của cả nước cơ mà!

Tôi thấy chị rất nhiệt tình và có ý thức. Nhưng các em, trái lại, lúc đầu chúng đứng nhìn và nghe chị nói; nửa chừng, một đứa rồi hai, ba đứa văng “Con cặc…, im mẹ nó mồm đi!”. Một đứa khác: “Con đĩ mắt toét, biết củ l… gì”. Thậm chí, hai em khác móc đất ở mép nước ném chị ta, và nói: “ngoan con cặc… đây này!”

Chính tôi cũng ngạc nhiên và xông đến mắng:

– Các em không được hỗn!

Với thái độ và ánh mắt của tôi, chúng phải chạy nhưng còn chưởi lại. Chị nhìn tôi, tôi nhìn chị, thông cảm. Tôi đi ra khỏi đền, lại quẹo xuống Tràng Tiền. Lúc đó đã 11 giờ, tôi vào vườn hoa Chí Linh mở tờ báo Quân Đội Nhân Dân ra đọc. Một lúc, tôi mới ngửng lên, vươn vai, vặn vẹo lưng cho đỡ mỏi người. Đó cũng là lúc tôi đã nhìn thấy hết: Chị xách làn cói, ngồi cách tôi 3 ghế, quay lưng lại phía tôi. Lão hơn 40 tuổi đang đứng xấp vào một chòm cây, thập thò cái mặt xa tôi hơn 200 mét. Đôi vợ chồng (cứ gọi như thế) ngồi ở một ghế đá đường Đinh Tiên Hoàng, quay lưng lại phía tôi, đang nhìn ra phía hồ, xa tôi phải đến hơn 300 mét. Anh chàng có vẻ học sinh đội mũ cát, đang chăm chú đọc sách, ngồi dưới chân bức tượng phun nước, cách tôi hơn 100 mét.

Đến đây, tôi khẳng định có 5 người. Như thế, cứ mỗi ngày chúng lại đổi người. “Sao chúng nó lắm người thế!”, tôi tự nhủ. Bốn ngày nay, trong gần 20 người tôi đã thấy mặt. Chỉ có tên đội mũ cát két đeo kính râm của buổi đầu tiên là dễ nghi ngờ nhất, còn hầu hết, trông không có dáng gì là công an ngầm hay tình báo. Chính tụi sau, có thể nghiệp vụ thấp, nhưng đầy nguy hiểm, chúng nó chẳng khác gì quần chúng bình thường đi ngoài phố.

Để thử khả năng nghiệp vụ của phản gián miền Bắc, tôi đứng dậy đi loanh quanh trong vườn hoa, mắt lơ đãng nhìn cây lá. Cứ thả bước nhàn du, khi gần tới tên có vẻ học sinh, đang ngồi trên một ghế xi măng, bất chợt tôi ngồi ngay xuống bên cạnh. Y không thể nghĩ, tôi lại đến bên y ngồi, vì vậy, y lúng túng vội xoay người và nghiêng lưng về phía tôi. Tôi ngồi xuống đấy, nhưng mắt vẫn đăm đăm nhìn vòi nước phun từ nơi bức tượng. Tôi hiểu nguyên tắc của người đi theo dõi. Là cố tránh, đừng để cho con mồi thấy mặt mình. Bởi vì, khi đến chỗ khác, lúc khác, mà con mồi lại gặp bộ mặt ấy, thì từ chỗ không biết cũng phải cảnh giác mà nghi ngờ. Nhưng trong trường hợp vừa qua, nếu là người già nghiệp vụ, hãy cứ ngồi yên, một lúc sau làm như mỏi người mới từ từ xoay thế. Thậm chí, đã trót còn phải gợi chuyện, nghĩa là đôi khi còn phải làm trái với nguyên tắc của nghiệp vụ, con mồi mới khỏi nghi ngờ. Giả sử, con mồi suy nghĩ rằng, nếu nó theo dõi mình, đời nào nó lại nói chuyện với mình.

Ngồi mươi phút, tôi đứng lên, đi xuống rạp Eden cũ, bây giờ đổi tên là rạp “Công Nhân”. Hôm nay có phim “Rắn Crơ Ba”, phim Liên Xô. Lần đầu tiên tôi vào xem phim của Cộng Sản Liên Xô. Xem trình độ nghệ thuật Thứ Bảy của Cộng Sản Nga ra sao.

Vì hôm đó là chiều Thứ Bẩy nên cũng đông. Giá vé 4 hào. Lẫn ngay trong đám đông, cô ả xách làn cói vất vả xếp hàng, chen lấn. Tôi thoáng thấy “hai vợ chồng”, chúng chẳng lấy vé. Chúng chỉ đưa ra một cái gì đó, có thể là một cái thẻ, mà vì đông khuất tôi kkông nhìn thấy, rồi người xé vé để chúng vào. Vào rạp, tối như bưng, tôi biết chúng nó phải vất vả để nhìn tôi. Còn tôi, biết rồi nên mặc chúng, tôi chú ý nội dung phim. Tôi hiểu, ít nhất còn 3 đứa nữa gác bên ngoài. Có lẽ, ở Hà Nội thời gian đó, duy nhất ở rạp xi nê, mà phải là hôm phim hay. Đông người, may ra mới có thể cắt đuôi, với điều kiện phải có thuốc hóa trang, và một bộ quần áo chưa bao giờ mặc trước đấy.

Nếu lúc này tôi có lọ thuốc đó! Trong bóng tối lờ mờ của rạp xi nê, tôi sẽ vờ đi tiểu tiện vài lần, như bị đái “rắt” rồi lần bôi xoa thuốc ngay từ ngoài, 10 phút sau da mặt đã kéo nhăn. Cởi sẵn khuy quần, khuy áo. Nghĩa là phải chuẩn bị sẵn sàng trước. Lúc rạp sắp mãn, vào nhà “xí” thay áo mũ thật nhanh. Nếu cần vất luôn túi dết, gắn bộ râu giả lên, để trở thành một người khác, chen trong đám đông đi ra. Đã biết hết mặt 5 tên theo dõi mình rồi, lúc đó chỉ lủi nhanh về hướng không có chúng mà chuồn. Chỉ cần như vậy là gây nên một chuyện thần kỳ, nghĩa là, đột nhiên con mồi biết mất.

Lúc này, phần vì tôi không có loại thuốc đó, phần khác, tôi chưa tích cực cắt đuôi, vì muốn dềnh dàng chờ ngày 16, 18. Đấy cũng là một tính toán sai lầm của tôi, mà sau này, thời gian và sự việc mới giải đáp cho tôi. Ở Sài Gòn, tôi đã từng xem màn ảnh ở rạp Rex hoặc Đại Nam. Bây giờ, thấy màn ảnh bé tí, nhỏ con một bề khoảng 2 mét, bề kia 1 mét hai, không có phụ đề chữ Việt, mà còn có giọng nói của một cô gái ở loa phóng thanh, mà ở miền Bắc khi ấy người ta gọi là “thuyết minh”.

Nội dung phim. Một ổ gián điệp Đức đang hoạt động trong lòng địch là đất Ba Lan. Lúc này, Nga đang chiếm đóng Ba Lan. Tình báo Nga và Ba Lan, do nhân dân giúp đỡ nữa, đã dùng mưu mô, lừa lọc, cuối cùng bắt trọn ổ gián điệp Đức.

Tôi thấy nhạt nhẽo, chán phè, nhất là cảnh gián điệp Đức lơ là, ngây thơ mắc vào những cái bẫy cũng ngây thơ của Nga. Toàn bộ cuốn phim, không có một tình tiết lắt léo, tinh vi nào đáng kể, so với những phim tình báo trước đây tôi xem ở Sài Gòn. Thế mà quần chúng cũng trầm trộ ca tụng. Quần chúng Hà Nội bây giờ, đa số ở các tỉnh mới về từ 1954.

Tan rạp, tôi kéo “đuôi” lang thang về mãi Ngã Tư Sở. Thấy một nhà trọ có vẻ sang hơn, tôi vào thuê một buồng. Tôi vẫn đưa giấy thông hành. Tôi nghĩ, dù chủ nhà trọ có phát hiện giấy giả, tôi vẫn không sao, tôi vẫn được thuê như thường. Bởi vì, sẽ có lệnh bí mật bắt chủ nhà trọ đồng ý, không được hỏi han làm khó dễ gì tôi cả. Tiền buồng 1 đồng rưỡi. Tôi ngủ đỡ khổ, và bắt chúng nó, những chiếc đuôi, tốn nhiều công, của hơn. Lúc nãy khi đi đường, tôi đã mua một đôi dép Thái Lan và chiếc mũ xanh công nhân. Phần vì chân tôi đi dép râu vẫn chưa quen, rất đau, cái quai cao su thôi ra đen xì cả chân. Hơn nữa, dép Thái Lan và mũ công nhân là hai mật hiệu khi tôi trao tài liệu “M”. Bây giờ, tôi phải mang trước cho bình thường.

Sau khi tắm rửa, đêm đó tôi nằm một mình một buồng, cảm thấy thật dễ chịu. Đem sách ra đọc một lúc, rồi tôi nằm suy nghĩ, tính toán: Mai, Chủ Nhật cứ đến Nhà Thờ Lớn đi lễ xem thế nào? Cứ ghé về Hàng Bạc, xem phố cũ thay đổi ra sao? Ghé luôn Lương Ngọc Quyến, xem bà dì họ thế nào (nhưng sẽ không vào nhà). Tôi hiểu, tất cả những người có nhiệm vụ theo dõi tôi, sau giờ quy định bàn giao con mồi cho người khác, mỗi người phải làm một bản báo cáo, tường thuật tỉ mỉ mọi chi tiết đường đi nước bước của con mồi theo thứ tự thời gian và không gian. Nghiệp vụ càng già dặn, càng phát hiện được những điều sâu sắc, thậm chí cả những động tác vờ vịt, động tác giả của con mồi, nếu cử chỉ ấy có lồng trong một ẩn ý gì. Ngoài ra, mỗi cuối bản báo cáo tường thuật, phải có một câu nhận định: Theo ý anh, con mồi đã có hiện tượng gì nghi ngờ có người theo dõi không?

Những tên nghiên cứu và ra lệnh ở nhà, đối chiếu nhiều bản báo cáo, tường thuật để nắm được cái chung, từ đấy chúng sẽ có những biện pháp thích nghi theo những diễn tiến của sự việc.

20. Kiếp Người, Kiếp Vật!…

Sáng hôm sau, tôi vẫn đội mũ cát nhưng đi dép Thái Lan. Còn đôi dép râu tôi đút gầm giường. Đôi dép này mang từ Sài Gòn ra. Khi không thấy tôi đi, tôi biết chắc tụi phản gián tỉm được đôi dép đó. Không có cóc khô gì trong ấy cả.

Bắt đầu ra khỏi cửa khách sạn, tôi ghi nhớ bất cứ một bộ mặt, hoặc không thấy mặt thì dáng dấp, dù trong một ngách ở xa xôi, hoặc đứng trong cửa sổ, trừ khi cửa đó khép để khe hở để theo dõi. Nhưng, khi tôi đã nghi một khe hở của một chiếc cửa nào, đi chừng 100 mét, tôi sẽ mượn cớ nào đó quay lại, nhìn thấy khe hở ấy khác đi là tôi đặt vấn đề rồi. Cho nên, hầu như tôi không bỏ sót một cái đuôi nào mà tôi không biết. Nếu tôi chưa biết chắc rõ bao nhiêu cái đuôi, tôi chỉ dẫn vào những ngõ vắng, hoặc ngõ hẹp, là phải lộ hết.

Khi tới Ngõ Huyện, tôi vào làm bát phở. Ăn xong, tôi “cố ý” vô tình để quên chiếc mũ cát. Tôi biết, chiếc mũ này, người khác nào đó sẽ tưởng tôi quên, cầm lấy. Nhưng, không những không được, mà có khi còn liên lụy. Chiếc mũ ấy phải về tay một, trong những cái đuôi của tôi, để rồi về tới cơ quan phản gián của Hà Nội.

Tôi đến cuối nhà thờ, mới vờ bất chợt vỗ tay lên đầu, và ngơ ngác vội vàng quay lại hiệu phở. Cái mũ đã mất, tôi tỏ vẻ ngẩn ngơ tiếc của, rồi tiếp tục đi trở lại phía nhà thờ. Điều đó sẽ góp một phần nhỏ, trong kế hoạch của tôi đối với chúng sau này. Tôi là người đãng trí.

Hôm nay Chủ Nhật mà Nhà Thờ Hà Nội thật vắng vẻ, lưa thưa một vài người đi lễ. Cuối nhà thờ chỉ mở một cánh cửa bên. Trong nhà thờ có tất cả khoảng bảy, tám mươi người, đa số là các ông bà già, còn thanh niên phụ nữ, trẻ con khoảng mười sáu, mười bảy em. Giữa cảnh vắng vẻ và trong ánh sáng lờ mờ vì nhiều cửa đóng, óc tôi trầm ngâm liên tưởng đến những hình ảnh buổi thiếu thời, những ngày Chủ Nhật, tôi cũng đi lễ nơi đây. Ồn ào náo nhiệt, chuông trống tưng bừng, rộn ràng, một thời phồn thịnh huy hoàng của giáo dân miền Bắc.Tôi đăm chiêu nhìn mấy chục người, đang gục đầu lâm râm than thở. Tôi chợt nhớ đến mấy câu trong bài “Thăng Long Thành Hoài Cổ” của bà Huyện Thanh Quan:

“Lối xưa xe ngựa, hồn Thu Thảo.

Nền cũ lâu đài, bóng tịch dương. ………..

Đá vẫn trơ gan, cùng tuế nguyệt.

Nước còn cau mặt với tang thương.

Nghìn năm gương cũ, soi kim cổ.

Cảnh đấy, người đây, luống đoạn trường.”

Nhìn cảnh này, ruột tôi cũng đứt từng khúc như bà Huyện năm xưa. Cùng một cảnh, hai thời đại, một tâm hồn. Tan lễ, tôi đứng tựa lưng vào hàng rào sắt, nơi tượng Đức Mẹ đứng giữa sân phía cuối nhà thờ.

Nhìn những ông bà già lầm lũi ra về, mắt tôi thoáng thấy bà dì họ. Bà có tên là bà Đốc Cắn. Chồng bà chết từ khi tôi chưa biết cuộc đời. Bà không có con, chỉ có con nuôi. Vì tiếc mấy ngôi nhà của anh chị em bà ở Hàng Bạc và phố Lương Ngọc Quyến, bà đã ở lại Bắc. Không ngờ, tất cả mấy ngôi nhà này đều thuộc về Cục Quản Lý Nhà Cửa của nhà nước.

Bà dì tôi vẫn mập như xưa, nhưng tóc đã ngả mầu và da đã nhăn. Nét đăm chiêu mang nhiều tư lự. Khi bà đi ngang qua, bà có nhìn thấy tôi, nhưng con mắt của bà nhìn tôi như trăm ngàn người khác qua đường. Phải, làm sao bà có thể nhận ra thằng cháu của bà được. Bởi vì, có đập bể đầu ra, bà cũng không thể ngờ tôi lại ra Hà Nội. Phần tôi, ý thức được vấn đề là tôi đến gặp bà, thì sau này bà phải vào gặp công an. Tôi chỉ nhìn bà bằng con mắt lê thê và đè nỗi niềm xúc động đầy vơi của mình xuống. Tôi theo đường Lý Quốc Sư ra Hàng Bông, về Hàng Gai. Tới đấy, tôi thấy một chị du kích áo nâu, quần đen thắt ống. Vai đeo khẩu CKC, đang nắm tay một em nhỏ chừng 12, 13 tuổi, kéo về phía đồn cảnh sát bờ hồ. Những người đi đường hỏi, chị nói: “Thằng này và mấy thằng nữa đứng nấp trong ngõ, chờ những em gái chạc tuổi đi qua, xông ra bóp … vú.” Tôi nghe mà không hiểu được, tại sao một xã hội suy đồi đến độ kỳ lạ như vậy?

Đến đầu Hàng Đào, bỗng dưng tôi thấy mấy bà ôm thúng bán mấy nải chuối, bà thì mấy trái dứa… ôm quang thúng chạy tóe khói ra. Một anh cảnh sát chừng 22, 23 tuổi đang đuổi theo bà. Anh cảnh sát đã nắm được quang gánh. Bà đó chừng 40, 45 tuổi vừa thở hổn hển, hai tay cứ vặn vẹo vào nhau:

– Thưa anh, anh tha cho em, nhà em chỉ có vài nải chuối và mấy quả dứa chín này đem bán, về mua gạo cho các cháu nhỏ. Lần sau em không dám đem đi bán nữa.

Tai tôi nghe mà lòng quặn thắt lại. Óc tôi càng mở rộng để hiểu cuộc đời và những kiếp người. Tôi bỏ đi dọc theo Hàng Đào, đến Hàng Ngang. Hàng Bạc đây rồi! Nhớ đến hai câu thơ:

“Cho hay, cảnh cũ ưa người nhỉ?

Ai thấy, mà ai chẳng ngẩn ngơ”

Tôi thấy lòng thổn thức bâng khuâng, vơi đầy khi nhìn phố cũ. Lạ thật! Cũng đường phố ấy, cũng những căn nhà ấy ngày xưa, mà bây giờ tôi lại nhìn thấy bé nhỏ, lũn tũn như những chuồng chim bồ câu. Phố xá thì bé con, ngắn một tị.

Chân tôi cứ thả bước, lòng tôi cứ chìm nổi đầy vơi. Tôi đi sát nhà Tân Hưng, chiếc biển hiệu đã gỡ. Còn hai chữ “Tân Hưng” kẻ vào tường trước đây, hãy còn mờ mờ. Tôi liếc nhìn vào trong nhà, thấy được ngăn ra từng gian, bằng những tấm cót, có những bà nhà quê xa lạ. Ô kia rồi! Mãi trong sân, tôi thoáng thấy chị Thuận. Trông chị mà tôi rất ngạc nhiên: Chị là hoa khôi Hàng Bạc 1952 cơ mà (đầu 1954 chính chị và em trai chị là Hòa đã kể lại), khi ấy tôi chỉ là một cậu bé 15, 16 tuổi. Tôi cũng đã biết, chị được bao nhiêu những tay công tử hào hoa của Hà Thành đắm say, ngưỡng mộ.

Con gái Hàng Bạc xưa nay nổi tiếng đài các trâm anh, vừa giầu, lại vừa đẹp, cành vàng là ngọc. 1953, cô Mi nhà Ngọc Chương lại là hoa khôi Hàng Bạc. Dù còn nhỏ, tôi vẫn thấy các cô đẹp như tiên. Thế mà bây giờ tôi nhìn chị Thuận như một bà gái xề, nửa tỉnh, nửa quê đang đút cơm cho con ăn. Giữa lúc ấy, tôi thấy anh Kỳ, chồng chị Thuận. Trông anh già và gầy nhỏng, đi đôi guốc lộc cộc, tay dẫn hai đứa con gái nhỏ ở ngoài phố về. Anh Kỳ đấy ư? Một người mà trước kia không bao giờ mặc pyjama hay đi dép ra đứng ở cửa hiệu. Nhà anh thường có 4, 5 người ở, đài các thanh lịch lắm. Giờ đây, sau 8 năm, những người giầu có ngày xưa là đây.

Những hình ảnh này cho tôi thấy: Dưới chính quyền “xã hội chủ nghĩa”, người giầu trở thành người nghèo. Người nghèo trở thành người cùng cực hơn. Kia, nhà Trường Nguyên; đây Chấn Hưng, Bảo Hưng Long; Lại đây nữa: Bảo Thịnh, Đức Hưng, Bảo Thành, v.v…Toàn thấy những người nhà quê. Nhà nào cũng quây cót. Sau này tôi hiểu, tùy theo nhà anh bao nhiêu người, chỉ cho anh ở một phần theo số người. Phần còn lại, thuộc chính phủ, sẽ cho người khác ở.

Nhìn rạp hát Kim Chung, mà ngày xưa tôi hay chui vào xem chạc. Cũng là rạp hát ngày xưa đó, sao bây giờ trông nhỏ bé thế! Phải rồi, mình đã sống ở Sài Gòn, đã đi xa nhìn những thành phố lớn. Sau lâu ngày, trở lại nhìn Hà Nội, thành phố cổ xưa, nên mới có cái cảm giác như vậy.

Ngắm nhìn những chữ đồng, chữ xây “granite” của các cửa hiệu, bây giờ vỡ chữ nọ thiếu chữ kia, với mầu rêu loang lổ của các ngôi nhà như dư âm của một thời vang bóng. Đi theo đường Tạ Hiền, qua rạp Quảng Lạc, vào ngõ Sầm Công, đến đền Bạch Mã, quẹo lên chợ Bắc Qua, rồi Hàng Chiếu. Tôi kéo lê thê 5 cái “đuôi” đi khắp tứ tung, cho chúng nó phán đoán. Có trời biết được ý định của tôi!

Ra tới chợ Bắc Qua, thấy một đám đông túm hụm, có cảnh sát, tôi ghé đến. Một chị chừng 25, 26, mắt đỏ hoe đang nức nở, giọt ngắn, giọt dài đứng bên cạnh cái thúng gạo, phải nói là thúng cát lẫn gạo. Thì ra, một anh chàng nông dân chân đất, cắp một thúng gạo nặng, đậy cái bao tải rách vẻ sợ sệt, lén lút, đến gạ bán cho một chị đi đong gạo. Anh lấm lét nói là công an đang theo dõi bắt anh bán gạo, anh phải vội bán rẻ để chuồn về quê ngay. Chị này tưởng món hời, phải cần nhanh tay chụp lẹ. Thúng gạo nặng đến 15 ký mà anh chỉ lấy 10

ký với 2 đồng cho cái thúng. Anh nói, anh không dám mang thúng về, sợ hợp tác xã nghi ngờ. Công an đầy đường, đâu có dám xem gạo kỹ, dịp may gặp món hời phải vồ sớm, còn đắn đo gì. Sau khi anh kia và chị “khẩn trương” chia tay, chị hớn hở đội gạo về. Đến Hàng Chiếu, mấy ngón tay giữ thúng trên đầu, thọc sâu xuống những hạt gạo no lành của một ngày may mắn, nhưng cảm giác thấy khác thường. Chị bỏ thúng xuống và bới lên. Chỉ có một lớp gạo ở trên, cón toàn cát bên dưới!

Sự việc này cho tôi thấy, ở một xã hội quá nghèo nàn, người ta chỉ có thể lừa lọc nhau đến như vậy là cùng. Nhìn trị giá của một sự lường gạt, đã đánh giá được mức độ cuộc sống người dân của xã hội ấy. Tôi vào một quán cơm ở Hàng Chiếu, quán này có vẻ đông người, gần 20 người ăn uống. Tôi tìm một chỗ ngồi. Tôi ngạc nhiên, thấy hai thanh niên mặt mũi sáng sủa nhìn tôi cười. Tôi cúi gầm ăn, đầu suy nghĩ, tôi chưa hề quen biết mấy người này, vậy vì sao? Câu hỏi của tôi đã được giải đáp ngay sau đó. Khi tôi vừa đứng dậy, còn một chút cơm thừa, một chút thức ăn thừa, hai người xô đến, mỗi người giành một thứ.

Tiện đó, tôi kéo “đuôi” vào thăm chợ Đồng Xuân nổi tiếng của Hà Nội thủ đô, như Bến Thành Sài Gòn. Ngoài cửa, có một chỗ bán hoa của hợp tác xã, còn hầu hết mỗi người mỗi cái thúng hay cái mẹt bán hoa quả hoặc những thứ lặt vặt. Chốc chốc lại ôm chạy quanh vì công an đuổi. Chợ bấy giờ là phụ, là không hợp pháp. Nhà nước đã có những cửa hàng lương thực của từng khu phố. Mọi thứ từ muối, mắm, đậu, hành, v.v… nghĩa là tất cả về thực phẩm đều có phiếu, tùy theo gia đình cán bộ hay nhân dân. Trong nhân dân lại tùy theo có đặc ân hay không, và tùy theo số người… Có những phiếu nhất định mỗi tháng, mỗi gia đình được mua bao nhiêu. Ngay từ thời gian này, đã có tình trạng, có phiếu mà không có hàng, càng về sau, càng trầm trọng hơn. Tôi nhìn đồng hồ, 2 giờ. Tôi chợt nghĩ đến nhà trọ Ngã Tư Sở, ở đó có ban công và sân thượng phơi quần áo, rất tốt. Quần áo tôi, hai bộ đã quá bẩn, hôm nay về tắm rửa giặt quần áo. Ngày mai, đi sở thú. Tôi vào chợ mua hai cục xà bông và trở về nhà trọ. Khi về tới nơi, tên quản lý nói, buồng cũ đã có người thuê, chỉ còn phòng số 10. Tôi nói, phòng nào cũng được, nhưng óc tôi nghĩ ngay, như vậy đã có sự sắp xếp. Được, ta sẽ lên phòng xem sao.

Sau khi vào phòng đóng cửa, bất chợt 5 phút sau, tôi mở ngay cửa. Dọc suốt hành lang, hai bóng người rụt nhanh vào phòng số 4, chéo phía đối diện. Hai thanh niên, một tôi đã quen mặt. Trót mở cửa phòng, tôi phải vờ đi ra phía sân thượng, sờ sờ mấy cái dây phơi, ra vẻ định sẽ phơi quần áo ở đấy.

Vào phòng lần này, tôi lật chiếu, xem gầm giường, một vài góc khả nghi, chiếc bàn, chiếc ghế… Tôi quan sát toàn bộ. Nếu ở những nước tiên tiến, có thể có những máy ghi âm, máy ảnh tự động. Nhưng ở miền Bắc thời ấy, trình độ lạc hậu, làm quái gì đó, cùng lắm chỉ ở chỗ kín đáo chụp trộm ảnh và tìm điều kiện có khe nứt nẻ nào đó, ngồi nhòm vào buồng là cao. Dù nghĩ vậy, nhưng tôi cũng cứ xem kỹ, kỹ để biết về địch thôi, chứ tôi cũng chả có gì. Trong người tôi chỉ còn tài liệu “M”, đừng hòng bao giờ tôi lấy ra xem, lâu lâu, tôi chỉ lấy cớ gãi, để sờ, sợ rơi mất. Tôi vẫn băn khoăn, đã có sự chỉ định xếp đặt phòng cho tôi, vậy phải có vấn đề gì. Nhìn toàn bộ phòng, không thể có điều kiện gì từ ngoài nhìn vào phòng. Tôi chú ý từng lỗ đinh, từ lỗ khóa. Tôi xem lại lần nữa. À, đây rồi! Có thế chứ! Chúng nó cũng quỷ quái đấy: Bốn góc bàn tôi sờ rồi, không có gì. Thì ra giữa gầm bàn (bàn không có ngăn kéo), chúng dùng keo gắn một chiếc máy ghi âm nhỏ kích thước 12 x 8 x 1,5 phân. Có thế, tôi mới an tâm. Kệ nó đấy, tính sau. Tắm giặt đã.

Khi vào đi tắm, tôi vừa giặt vừa thẫn thờ suy nghĩ. Như thế này, chúng nó đã đánh giá mình cao quá. Mình có máy móc chó gì đâu, có ai đến giao thiệp với mình đâu. Kể ra, nếu tôi thích chuyện trai gái, mang một cô em về làm trò cho cái máy ghi âm, chúng cũng được một băng mùi mẫn miễn phí. Trong quá trình đi đường, nhiều cô loại gái kiếm tiền cứ cười cười với tôi, như ở vườn hoa Chí Linh, Tràng Tiền, góc Cầu Gỗ, Cột Đồng Hồ…

Tắm rửa, giặt quần áo xong thì đã 5, 6 giờ. Giặt cả hai bộ, tôi còn mỗi cái quần đùi để mặc, ra đứng ở ban công nhìn chéo ra phố. Tôi thoáng thấy một bộ mặt đứng sâu trong cửa sổ một căn gác chéo nhà bên cạnh. Tôi vờ làm vài động tác thể thao để nhìn kỹ. Bộ mặt quen? À, tên kính râm, đội mũ cát két lần đầu tiên tôi phát hiện ở nhà thờ X. Hôm nay không đội mũ, không đeo kính nên hắn làm tôi ngờ ngợ. Tôi rất ngạc nhiên và lạ lùng. Tôi có cảm tưởng khó hiểu là tại sao, bất cứ nhà nào chúng cũng vào được? Ở xã hội tự do đâu có thể như vậy. Đồng thời, tôi cũng cảm thấy một không khí rình rập, bao quát lúc nào cũng ở chung quanh tôi. Từ cảm giác này, mắt tôi lơ đãng nhìn mấy con sẻ đang ríu rít ở một mái nhà trước mặt, tôi cũng thấy hình như chúng cũng có chất Cộng Sản. Thậm chí, mấy cái cây vô tri đứng im lìm cạnh ngôi nhà, tôi cũng thấy chúng có chất gì của Cộng Sản. Cái chất của soi mói, lọc lừa, lường gạt, không lương thiện. Cùng một bầu không khí của Tổ Quốc quê hương, nhưng quang cảnh, người và vật ở xã hội này không hợp với tôi. Tôi không có cảm giác gần gũi thân thương, quen thuộc như ở miền Nam.

Thấp thoáng người ở cửa sổ lại chụp ảnh tôi. Tôi đã thấy 5 lần, còn sau lưng hoặc tôi không biết, không kể. Hôm vào nhà thương Việt Đức kỳ sau, tôi cũng bị chụp 2 lần. Chụp làm gì nhiều thế! Có thể, chúng để làm chứng cớ, tài liệu sau này chăng? Thôi vào đi ngủ! Vào buồng tôi nghĩ ngay tới cái máy ghi âm. Nếu không vì những chủ trương sau của tôi, tôi đã đến chửi cho nó một mẻ, hoặc cũng cho nó mấy phát… rắm. Nhưng tôi đành nằm im coi như không biết. Chính vì tôi tỏ ra luôn luôn chủ quan lơ là, nên nhiều khi, thấy những cái “đuôi” của tôi rất lộ liễu đến độ ngờ nghệch. Hay có thể vì tôi đã biết mặt rồi, nên tôi có cảm giác thế chăng? Đường phố đầy người đi lại, nếu tôi không biết chúng rồi, cũng khó mà biết ai với ai. Chẳng lẽ thấy “gà hóa cuốc”, gặp ai cũng tưởng như họ theo dõi mình hay sao? Tôi cứ vẫn vơ suy nghĩ rồi ngủ lúc nào không hay.

Hôm sau, tôi đón xe điện ra bờ hồ. Khi đi qua Hàng Da, nhìn chữ “Pharmacie Thẩm Hoàng Tín” to tướng nhưng đã mờ nhẻm vì thời gian, tôi chợt nhớ tới sư bà Đàm Hương. Hiệu thuốc tây bây giờ đóng cửa im lìm. Mấy cái cửa sổ trên gác, đóng những thanh gỗ cọc cạch che kín mít. Chỉ nhìn thế, tôi cũng đã thấy sự tàn lụi của cái pharmacie rồi, nghĩa là cửa hiệu không còn được mở nữa.

Tới bờ hồ, tôi lại mua tờ báo Thủ Đô. Đây là tờ báo có tính cách địa phương, nội thành nên có vài tin lặt vặt hàng ngày, trong khi những tờ Nhân Dân, hay Quân Đội Nhân Dân không bao giờ nói tới. Thực vậy, tôi đi trên đường phố thấy bao nhiêu chuyện cắp trộm, lừa đảo vẫn xảy ra thường thường, nhưng không bao giờ thấy có trên báo. Ngay trên đài truyền thanh (nói qua đường dây) cũng họa hoằn mới nghe thấy một vài sự việc để ngăn chận tội ác và những chuyện xấu của xã hội.

Đây cũng là một cái đặc biệt của miền Bắc. Khắp Hà Nội, từ nội đến ngoại thành, ở những đầu phố, hoặc chỗ thường xuyên tụ tập đông người như bến xe, trước nhà bách hóa, v.v… thường có treo loại ống loa hai tầng để phổ biến tin tức cũng như thông báo (gọi là truyền thanh). Rồi tới giờ quy định mới mở điện bắt vào đài phát thanh. Còn radio thì thật là hiếm, nếu không có là không có. Radio và máy ảnh phải đăng ký hàng tháng. Mua phim chụp ảnh phải làm đơn xin phép, nói rõ lý do, hoặc phải có giấy của cơ quan giới thiệu. Cho nên, hầu như không một người dân nào có máy ảnh (đồ quốc cấm) nếu đi ra những vùng chung quanh Hà Nội, các bạn sẽ thấy đây đó, nhìn bất cứ hướng nào, cũng thấy hầu như mỗi nhà đều có những cần câu bằng tre chọc thẳng cao lên trời, trông như những lông của con nhím khổng lồ, xù ra khi gặp kẻ thù. Đó là dây ăng ten của ga len ghép đơn giản mấy cực để nghe đài gần. Chỉ nghe được đài Hà Nội và nghe nhỏ tí. Thứ này trẻ con trong Sài Gòn vẫn chơi (loại này thì không phải đăng ký).

Ở bờ hồ, dù chẳng cần thiết lắm nữa, nhưng do thói quen nghề nghiệp, tôi vẫn quan sát toàn bộ những khuôn mặt chung quanh tôi. Tôi lại thấy chéo mãi phía hiệu kem trước nhà Thủy Tạ, cô gái chừng 18 tuổi có hai cái đuôi sam. Trông đôi má mủm mỉm đỏ hây, thế mà đòi là phản gián theo dõi tôi. Được! Hôm nay, tôi dẫn cô lên sở thú. Qua cô ta, tôi đã thấy cách bố trí người theo dõi của Cục phản gián Hà Nội. Người nào cũng theo tôi một ngày, ít nhất một tuần sau tôi mới gặp lại. Cộng sản làm như vậy để con mồi khỏi nghi ngờ, mất cảnh giác. Cho tới hôm nay, hơn 40 bộ mặt quen thuộc rồi. Tôi nghĩ thầm: Hà Nội sao lắm nhân viên phản gián thế! Rồi đây, những ngày tới còn bao nhiêu nữa?

Tôi lên xe điện đi sở thú. Tôi lững thững đi bộ như một kẻ nhàn du đi vãn cảnh. Hôm nay, tôi định sẽ ghé thăm núi Nùng, nơi tương truyền là mồ chôn giặc Thanh cướp nước, cũng như gò Đống Đa, Thái Hà Ấp vậy. Lưa thưa, rải rác một số người, vài hàng quà bánh. Cả sở thú chỉ vỏn vẹn 5, 6 chuồng thú, quá ít so với ngày xưa. Không biết thú đưa đi đâu hết? Tôi đến chỗ một chú cọp đang nằm ngủ, chỗ này đông nhất, hơn 10 người kể cả trẻ con đang đứng ngắm ông ba mươi nằm nhắm mắt. Nhìn con hổ nằm ngủ trong chuồng, với cảnh đám người đứng xem. Tôi đang bâng khuâng nhớ đến bài thơ bất hủ “Cọp Nhớ Rừng” củ Thế Lữ, bất chợt một tiếng rầm rung cây lá, con cọp bật dậy, chồm lên hồng hộc. Mọi người chung quanh giật mình. Nhiều đứa trẻ sợ quá hét lên, bám lấy người lớn. Cả cô đuôi sam cũng xanh mặt, cuống cà kê dúm người lại.

Chẳng hiểu vì sao? Tôi nhìn lại phía xa cách đấy hơn 300 mét, trên cũng con đường để đi ngang qua trước chuồng cọp này, một anh mặc quần áo bộ đội đang lôi cương một con ngựa. Con ngựa chồm hai vó trước, không những dứt khoát không nghe theo anh bộ đội để đi nữa, mà còn kéo anh ta đi ngược trở lại. Tôi chợt hiểu con cọp đang nằm nhắm mắt, mũi đánh hơi thấy mùi ngựa, đồng thời con ngựa cũng đánh hơi thấy chúa sơn lâm, nên sợ quá không dám đi nữa, dù còn cách đến hơn 300 mét.

Tôi nhìn cô bé đuôi sam, mặt cô ta đỏ lên rồi quay đi. Tôi nghĩ bụng thế mà đòi đi ngành tình báo. Lúc tôi nhìn về phía con ngựa, tôi thấy ở một gốc cây gần đó, một đôi “nhân tình” ngồi bên nhau có vẻ ngây ngất tâm sự, nhưng con mắt của họ tôi nghi quá. Trong căn nhà nhỏ của một quán nước có cửa sổ hướng về tôi, nơi chiếc bàn mãi trong góc quán, tên đeo kính râm, đội cát két đang ngồi hút thuốc lá, mắt lơ đãng nhìn đi đâu, trước mặt là ly nước; và một anh mặc quần áo xám bộ đội, đang gác chân lên chiếc xe đạp, nhìn ra hồ sen, cách chỗ tôi gần 100 mét. Tôi đã thấy anh ta ở bờ hồ.

Tôi trèo lên núi Nùng hướng mắt về trường Bưởi, bâng khuâng nghĩ đến Sài Gòn, đến những bạn bè thân quen, những họ hàng ruột thịt và những người trong Cục. Họ có biết tôi đang nằm trên thớt của kẻ thù, đang ngày đêm căng thẳng với kẻ thù, từng phút từng giờ hay không? Hay họ đã quên rồi? Hai nẻo đường đi, một mình tôi đi trên đường hướng về nơi đen tối mịt mù. Tâm tư nặng chĩu nỗi niềm, tôi tìm một ghệ cỏ ngồi dựa lưng, đôi mắt lim dim, lắng nghe tiếng gió rì rào.

Loanh quoanh mãi 3 giờ chiều, tôi mới quay bước trở về. Tôi cũng chẳng đón xe điện, cứ lững thững đi dọc theo đường Quan Thánh. Tai vẫn nghe tiếng guốc lộc cộc đều đều của cô gái đuôi sam, sau tôi khoảng ba, bốn mươi thước. Tự nhiên, tôi muốn đùa giỡn, đồng thời cũng muốn thử nghiệp vụ của cô gái này. Phố lưa thưa một số người đi. Tôi thả bước chầm chậm, tiếng guốc vẫn lách cách theo sau. Đến một quãng phố có một bờ tường xây dọc theo hè phố, và còn chừng 30 thước nữa là một phố cắt ngang. Bất chợt, tôi đi sát bờ tường rồi rảo bước, tôi thoáng nghe tiếng guốc cũng nhanh hơn. Đến đúng chỗ góc phố, tôi quẹo và nép khuất vào một trụ tường, một tay đưa lên ngực, một tay ôm mắt như chóng mặt xây xẩm, lưng tựa vào tường.

Cô ả hơi bất chợt nên vội vàng đi nhanh hơn. Khi tới góc phố, đinh ninh là tôi rẽ theo phố ấy, nhưng bây giờ thấy tôi biến đâu mất. Cô ta hốt hoảng bước thẳng xuống đường. Như thế đã đủ, trong một phút đã hiểu tài nhau rồi. Tôi hơi nhích ra một tí cho có vẻ tự nhiên, để cô trông thấy. Mặt tôi vẫn nhăn nhó, tay vẫn xoa xoa ngực bên trái. Khi trông thấy tôi, mắt cô ả sáng lên long lanh như mừng rỡ. Tôi uể oải chầm chậm lê chân theo phố đó. Đến một hàng nước chè bên hè, tôi ngồi đại xuống, lật ly nước chè cho bà hàng rót, rồi đầu cứ cúi gầm như sắp ốm bệnh. Tôi uể oải chầm chậm lê chân theo phố đó. Đến một hàng nước chè bên hè, tôi ngồi đại xuống, lật ly nước chè cho bà hàng rót, rồi đầu cứ cúi gầm như sắp ốm bệnh. Chừng một lúc, tôi nhấc chân cho sẳn ra ngoài ghế, rồi bất chợt quay ngoắt ra đường, dựa lưng vào bàn nước.

Ở trong cửa, ngay nhà đối điện, cô gái đuôi sam đang ngồi ghế nhìn thẳng sang phía tôi. Cô vội vàng cầm tờ báo trước mặt giơ lên, làm ra vẻ đang đọc để che mặt. Thật đáng buồn cho cô, tờ báo lại ngược, không biết cô đọc làm sao? Cô bị lúng túng chỉ vì tôi cố tạo cho cô tưởng rằng tôi đang ốm bịnh. Dáng điệu chậm chạp đang gục đầu, nhưng bất ngờ quay lại. Đây là việc làm của một người thiếu chín chắn, sau này tôi ân hận mãi ở trong tù. Tôi vẫn còn lạ lùng là tại sao, nhà nào họ cũng vào được? Chẳng lẽ nhà dân ai cũng biết họ là công an mật? Hay họ có dấu hiệu gì đặc biệt, để nhà dân nào cũng phải cho họ vào?

Tôi rẽ về lối chợ Đồng Xuân, đã 4 giờ 30 chiều, thấy một đám đông ồn ào, tôi ghé lại. Tôi không thấy cảnh sát, chỉ thấy người ta đang chỉ trỏ 6 hộp sửa bò “Nestlé” (hiệu con chim, của Pháp) còn mới. Hộp nào cũng mở hé ra, toàn nước bùn đất. Một ông đỏ mặt tía tai, hai tay chống mạng sườn, chõ mồm chửi vào đám đông: “Ông mà bắt được mày, thì ông vặn cổ ra!”. Tôi chẳng hiểu đầu đuôi xuôi ngược. Hỏi người đứng đấy, họ cũng lắc đầu. Sau tôi nghe loáng thoáng đâu: Nó ngâm nước, bóc nhãn hộp sữa ra, đục hai lỗ nhỏ rồi rút hết sữa, cho bùn nước vào, lấy sáp bịt lỗ rồi dán giấy lại như mới.

Tôi đã thấy những chuyện như vậy, ở Hà Nội bây giờ không có gì là lạ lắm nữa, nên bỏ đi. Khi tôi xuống tới bờ hồ, mặt trời đã nằm dài trên những chòm cây phía Tây. Ánh nắng xiên khoai chọc tút mãi vào những hốc sâu hoắm, của cây đa già đền Bà Kiệu. Chiều hôm nay gió lộng, cả ngày trời Hà Nội nóng như nung, nên buổi chiều, bờ hồ thật đông đúc, đầy cả người. Trước lúc về nhà trên đường từ xí nghiệp, nhà máy tan ra. Công nhân thường ghé đây 5, 10 phút để đón ngọn gió hồ chiều. Cho vơi đi phần nào những giờ lao động mệt nhọc.

Tôi ghé vào hiệu “Bách Hóa Tổng Hợp” ở bờ hồ. Đây là căn nhà to, ba tầng của một người đã di cư vào Nam, được sửa lại làm nhà bách hóa lớn nhất Hà Nội. Ai đã từng ở tỉnh xa ra Hà Nội mua hàng, cũng đều ghé vào đấy.

Tôi rất lạ! Rất nhiều loại hàng tốt, cần thiết bày trong tủ kính có đề giá bán hẳn hoi, nhưng lại để mảnh giấy con ghi: “không bán”. Vừa đi vừa suy nghĩ mãi. Lúc tôi leo cầu thang lên tầng hai, tầng ba, thỉnh thoảng tôi cũng thấy người ngoại quốc đi vào. Chả biết là người Liên Xô hay là người các nước “xã hội chủ nghĩa” Đông Âu? Phải chăng, Cộng Sản chỉ cốt bày hàng để tuyên truyền, hay vì hàng cần thiết, nên họ đã chia nhau mua hết? Các hàng vớ vẩn thông thường thì nhiều.

Mặc dù tiếng loa luôn nhắc nhở khách hàng coi chừng kẻ gian móc túi, vậy mà chỉ trong vòng nửa giờ, tôi đã thấy một người kêu ầm lên mất ví, và lại một lần ở tầng hai, thấy ồn ào, bảo đuổi bắt tên ăn cắp. Tôi cũng phải sờ tay để ý vào cái ví của tôi, kẻo lỡ có ít tiền nó mượn mất, thì thật khó khăn. Một ý nghĩ làm tôi mỉm cười: Gián điệp lại bị cắp móc ví! 6 giờ 30, tôi thấy hơi mệt vì đã đi cả ngày, tôi ghé về Cầu Gỗ ăn cơm, rồi ra xe điện về Ngã Tư Sở.

Vào buồng, lúc sắp ngủ, vì tối, tôi rờ tay dưới gầm bàn vẫn thấy còn chiếc máy, không hiểu có thay băng chưa? Đợi sáng mai, tôi xem mới biết.

21. Tài Liệu “M”, Đối Tượng Là Ai?

Buổi sáng hôm sau, là ngày 14 tháng 6, chỉ còn một ngày nữa là đến hẹn. Hôm nay, tôi lại phải ra bờ hồ. Trước khi đi tôi cúi xuống xem chiếc máy. Họ chủ quan, cho là tôi không biết, nên lúc dán băng keo, lại dán dịch đến 3 phân so với chỗ hôm qua.

Tôi ra đường, sáng hôm nay trời Hà Nội thật đẹp, không mưa không nắng. Không khí dìu dịu làm tỉnh lòng người. Giữa mùa Hè oi ả, có một ngày thế này ai cũng thấy dễ chịu.

Tôi lại thả bộ về bờ hồ. Khi tới ven hồ, tâm hồn tôi cũng ngây ngất với thiên nhiên. Gió hiu hiu của buổi ban mai mùa Hè như mơn trớn da thịt mọi người. Tôi hiểu là hiện giờ cơ quan phản gián của Hà Nội, đang đặt ra nhiều câu hỏi về tôi. Họ chỉ thấy tôi lang thang đây đó suốt ngày, chẳng giao thiệp với ai, chẳng vào cơ quan nào, cứ như là đi tham quan Hà Nội vậy. Để cho chủ trương của tôi sau này thêm hữu hiệu, mắt tôi mơ màng nhìn cảnh vật, trong khi chân bước đều đều từ nhà Thủy Tạ dọc Lê Thái Tổ xuống Trường Thi.

Khi tới một cây phượng vỉ bên hồ, tôi thấy hai hòn đá to ngày xưa, lúc còn nhỏ, tôi vẫn thường ngồi đấy câu tôm, bây giờ vẫn còn đấy. Tôi đứng trước hai hòn đá nhìn chăm chăm một lúc, như thiết tha, như quyến luyến cảnh cũ, rồi cúi xuống lấy tay nhè nhẹ vuốt sờ. Sau đó, tôi lùi ra xa mấy bước, lại đứng nhìn, như gửi gấm, hàn huyên gặp lại cố nhân. Tôi đưa mắt từ gốc cây lên đến những bông hoa đỏ ối. Ôi! Những cánh phượng của tuổi học trò. Tôi nhớ mãi câu thơ chẳng biết của ai:

Đây mùa phượng vĩ xa xôi.

Đây tình niên thiếu, tình tôi nhớ… người.

Tôi cúi xuống nhặt một cánh phượng rơi theo gió, đưa lên mũi ngửi, rồi mở cuốn sách trìu mến, nhẹ ép vào. Tôi biết lúc đó, ít nhất có 10 con mắt ở xa hoặc gần đang chăm chú quan sát từng cử chỉ hành động của tôi, để về tường thuật báo cáo. Những tên ở bàn giấy và thường ra lệnh sẽ phải điên đầu. Chả lẽ, một tên gián điệp, một sống hai chết xâm nhập Hà Nội để nhặt cánh phượng vĩ rơi ép vào sách? Nhưng đó là thực tế đấy!

Tôi cứ lững thững đi dọc ven hồ, xuống Trường Thi rồi quẹo lên phía bưu điện. Hai cô gái ở chiếc ghế đá cười với tôi, rồi một cô vời vời. Chà, tôi hiểu ngay hai cô là gái kiếm tiền, nhưng các cô không biết tôi đang là con “vi trùng bệnh dịch hạch” hay sao? Các cô mà mó tới tôi bây giờ, là đời các cô sẽ vào …ấp. Để tránh cho các cô, tôi nghiêm mặt coi như không biết, đi thẳng. Các cô còn nguýt theo, tưởng tôi mô phạm, làm cao. Đến cầu Thê Húc, tôi lên cầu, vào chùa. Lang thang ra mãi phía các gốc si già, tôi trèo ra những gố si là là mặt trước.

Tôi nhớ lại ngày 14-7-1953 lúc trước, Pháp và quân đội quốc gia (lúc đó thuộc Liên Hiệp Pháp) tổ chức ngày Quốc Khánh Pháp ở Hà Nội. Trên bờ, có trưng bầy một số vũ khí và 10 chiếc xe “Molotova” còn mới tinh, ở chỗ quán Mụ Béo và nhà Thủy Tạ. Họ nói đó là chiến lợi phẩm thu được của Việt Minh. Dưới nước, ngày hôm đó Pháp chở đến 10 chiếc ca nô loại đổ bộ, chạy xé nước rầm rầm. Trong khi trên trời máy bay biểu diễn cho lính nhảy dù xuống hồ. Chúng tôi còn nhóc, ngây ngất say sưa, lang thang đi xem. Điều đặc biệt: Hàng trăm con rùa lớn nhỏ ở trong hồ, xưa nay sống cuộc đời yên tĩnh. Hôm ấy, tiếng máy ca nô chạy gầm rú ầm ầm, chắc làm các “cụ” nhức đầu, nên cứ chúi vào chỗ mấy gốc si già mọc chằng chịt dưới nước, phía sau đền. Thỉnh thoảng ngộp quá, rùa phải thò đầu lên để thở. Con to, con nhỏ, có con đầu to tướng, hai mép vàng khè. Chúng tôi cứ ngồi sẵn trên những cành si sát mặt nước, chờ “cụ” nào thò đầu lên lại sờ một cái. Có lần một “cụ” đầu mốc meo thò lên đụng ngay vào tay tôi, làm tôi giật mình, suýt ngã xuống hồ. Suốt ngày hôm ấy, chúng tôi gọi nhau tíu tít từ phố Hàng Bạc ra, để sờ đầu… rùa.

Tôi trở ra, vòng lại cầu Thê Húc. Đứng trên cầu, nhìn làn nước xanh rì, từng ngọn sóng nhấp nhô, như cau mày giận hờn, phản đối lũ cầm quyền tàn bạo, khát máu người dân.

Ngày xưa, đã hơn một lần tôi thắc mắc, tại sao nước hồ Hoàn Kiếm lại xanh như vậy? Và tôi được trả lời: Một số các nhà địa chất, sau khi thăm dò nghiên cứu những mẩu đất đá nhiều nơi tại Hà Nội, đã kết luận rằng: Chếch ngang phía dưới lòng hồ là một mỏ đồng. Nếu bây giờ khai mỏ, cả khu trung tâm, nghĩa là một nửa thành phố Hà Nội, sẽ không còn. Vì thế, nước hồ Gươm muôn đời vẫn xanh, xanh hơn cả nước biển khơi.

Ra tới đầu cầu, tôi nhìn khoảnh đất nằm dài hình chữ “T” giữa cầu và đền Bà Kiệu, xưa kia những ông đồ già, ngồi lom khom viết câu đối và mấy người bày những bàn cờ thế, để thách thức khách thập phương. Cảnh cũ còn đây, nhưng người xưa đâu thấy! Chỉ có “đôi vợ chồng” quen mặt, tôi đã gặp ở ngỏ Hàng Giầy khi đi ăn cháo, đang ngồi như tâm sự yêu đương trên một chiếc ghế xi măng, cạnh gốc phượng già.

Mặc chúng mày! Tôi rẽ xuống vườn hoa Con Cóc, để chuẩn bị một địa thế thuận tiện cho ngày hẹn ước, trao tài liệu “M”. Sau một hồi loanh quanh, tôi đã tìm được một chỗ ưng ý. Tôi trở ra đường Đinh Tiên Hoàng, đón tầu điện đi thẳng xuống Bạch Mai. Khi tầu điện đi qua rạp Majestic cũ, bây giờ đổi tên là rạp Tháng Tám, đang trình chiếu cuốn phim “Cô Gái Lọ Lem” của Rumaine. Ở

Sài Gòn tôi đã xem rồi, nhưng do Pháp diễn đọc; giờ thử coi của Rumaine xem sao? Tôi nghĩ như vậy, nhưng vẫn ngồi trên xe điện đi thẳng xuống chợ Hôm. Đường phố đây thực bụi bặm rác rưởi. Ngó sang rạp xi nê Hà Nội, trông lại càng tiêu điều hơn. Một vài tấm bích chương quảng cáo treo trên tường cũ mèm, rách tả tơi, lưa thưa dăm đứa trẻ chơi đùa ở trước cửa rạp.

Tôi rẽ vào khu chợ trời. Ôi, thật là hỗn độn, hổ lốn, lộn tùng phèo đủ mọi loại người chen chúc. Đây đó, thấp thoáng trong cái xô bồ của một bãi rộng, là những anh chàng cảnh sát đồng phục mầu vàng, và những anh những chị mặc thường phục đeo băng đỏ, xông xáo chạy lăng xăng. Thế mà chuyện cắp trộm, lừa lọc vẫn thường xuyên xảy ra. Chỗ này, một anh cảnh sát đang lập biên bản giữ một chiếc xe đạp, của anh phó chủ nhiệm một hợp tác xã, mua phải xe ăn cắp. Chỗ kia, mấy anh du kích đang giong đi đám đông, một tên ăn cắp chừng 20 tuổi bị trói tay. Trong lúc chen lấn, lợi dụng sự đẩy xô của đám đông, tôi ôm chầm vào vai của một cái “đuôi”, làm cho anh chàng lúng túng, lủi lẹ. Khi y phải tường thuật báo cáo, chỉ huy của chúng sẽ càng phải đau đầu với tôi.

Rời khu chợ trời, tôi trở ra phố Huế, về rạp Tháng Tám, tôi lấy vé vào xem. Trình độ nghệ thuật Thứ Bẩy của Rumaine còn khá hơn của Liên Xô, nhưng phần cuối của nội dung cuốn phim có phần đổi khác. Làm sao cô bé Lọ Lem này, ở trong chuyện cổ tích xa xưa, lại có một số lời nói và hành động cứ như là, thích chủ nghĩa Cộng Sản ấy. Xin chịu thầy!

Tôi về Hàng Buồm ăn cơm tối. Thấy một nhà trọ ngay cùng phố, tôi thuê một phòng giá 1 đồng 20, không về Ngã Tư Sở nữa. Ngày hôm sau, 15 tháng 6, tôi hơi mệt, định nằm luôn nghỉ một ngày, nhưng nghĩ đến ngày mai là ngày ước hẹn, hôm nay nằm nhà, mai đi sẽ gây cho các “đuôi” đặt vấn đề hơn. Ngày nào cũng đi lang thang mới là chuyện bình thường, Nghĩ thế, tôi ra đón xe điện đi Cầu Giấy, tôi lang thang đi bộ vào chùa Láng. Cảnh chùa thật vắng lặng đìu hiu. Nơi đây những hội hè tấp nập năm xưa, chỗ hẹn hò lôi cuốn bao nhiêu trai gái Hà Thành, bây giờ hương khói vắng tanh thế này? Thế mà từ góc một bức tường rêu, thập thò ở gốc cây muỗm già sát bờ ao, lấp ló trong bụi dâm bụt phía sau chùa, vẫn những bộ mặt chó chết của lũ cộng thù. Chẳng qua vì cái thế, ta phải tạm chịu các ngươi, chứ trong lòng ta vẫn coi thường các ngươi!

Đến đây, tôi nhớ đến mấy câu thơ của cụ Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm. Cháu xin phép cụ đổi vài từ trong bài “Khôn Dại” để phù hợp với tâm tạng của cháu lúc này:

Ở đời, biết ai là dại, biết ai là khôn?

Khôn ấy hết thời, khôn ấy dại.

Dại mà gặp thế, dại mà…khôn.

Đố ai biết được, ai khôn dại.

Mới lọ là người biết dại…khôn!

Gần trưa, tôi thả bước về đền Voi Phục, tìm lại dư âm của buổi ấu thời. Ngay từ cổng dẫn vào chùa, hai chú voi đá, một chú đã sứt vòi vẫn nằm đấy, vẫn rêu phong cùng tuế nguyệt. Nhìn vào phía trong, mái chùa long lở đen xì, cạnh những tàng cổ thụ khòng khèo vì dãi dầu với năm tháng. Xa xa về phía trái của đền, những mầu đất đỏ au đây đó, lẫn vào mầu xanh bạt ngàn của cây lá. Đó là công viên Thủ Lệ, bởi nhà cầm quyền Cộng Sản đang vận động, thúc đẩy hàng chục ngàn thanh niên nam nữ nội, ngoại Thành đến công trường lao động hằng ngày, để tạo lập công viên. Trong chùa, cũng loáng thoáng dăm ba người, có thể là những người thích thiên nhiên, hoặc danh lam thắng cảnh của đất nước, hay có khi chỉ là người vào trú những cơn nóng Hè.

Bình thường khi đến thăm một ngôi đền cổ, sau khi chiêm ngưỡng những đặc cảnh của đền, tôi thường vào thăm hỏi các vị tu hành, hoặc người trông coi ngôi đền đó. Nhưng ở đây, tôi không được phép, vì ý thức trách nhiệm, biết sẽ gây khốn đốn, khó khăn cho các vị sau này. Cho nên, tôi đành ra một cháng dây đa già, đang nghiêng mình nằm sóng xoài nơi bóng mát hữu tình, như mời gọi người lữ hành mệt mỏi cơ thể, cũng như tinh thần vì những chuân chuyên, chìm nổi của cuộc đời.

Tôi ngồi đăm chiêu suy nghĩ đến ngày mai. Nhiệm vụ tôi xâm nhập Thủ Đô hoạt động, nơi đầu não của chế độ Cộng Sản Việt Nam, đã thực hiện ngót ngét nửa phần. Còn tài liệu “M” nữa. Ngày mai, tôi cầu xin anh linh của dân tộc, khí thiêng của sông núi cho tôi hoàn thành nhiệm vụ, rồi thân xác của tôi có theo về với gió bụi, tôi cũng cam lòng. Gọi là để đóng góp phần nhỏ bé của một thanh niên vô tên tuổi, khi quê hương, đồng bào rên xiết lầm than, trong bàn tay đầy máu của lũ giặc cộng. Để khỏi thẹn mặt, cúi đầu trước mặt Cha Anh và các chiến hữu, đã nằm xuống cho tự do của mọi người. Đất nước, dân tộc đau thương, mỗi người dân Việt mỗi trách nhiệm!

Chiều tàn, tôi lại trở về nhà trọ Hàng Buồm, tắm rửa, ngủ nghê cho khỏe để chờ ngày mai. Sáng hôm sau, ngày 16 tháng 6. Tôi vẫn ăn mặc quần áo như ngày hôm trước tôi đi chơi chùa Láng: nghĩa là quần xanh, áo sơ mi trắng, đầu đội mũ xanh công nhân, chân đi đôi dép Thái Lan quai đỏ, vai đeo túi dết. (đó là những vật hiệu quy định khi trao tài liệu “M”).

Hôm nay, tôi phải dùng hết khả năng nghề nghiệp, quan sát, xác định rõ bao nhiêu cái “đuôi” của tôi. Vì thế, ngay khi tôi ra khỏi cửa nhà trọ, giữa phố Hàng Buồm đông đúc khách bộ hành ngược xuôi, tôi đã điểm tất cả những bộ mặt, cũng như dáng người chung quanh tôi. Từ gần tới xa, tối đa mắt của tôi, có thể nhìn thấy. Chỉ có hai người tôi đã biết mặt, còn vài người nữa, tôi khả nghi. Tôi dẫn chúng về ngõ Hàng Giầy, ra Tạ Hiền, xuống Hàng Bạc, sang Hàng Bồ, rẽ Hàng Quạt đến Hàng Gai ra nhà Thủy Tạ bờ hồ. Tôi đi loanh quanh một đoạn đường ngoắt ngoéo như vậy.

Tôi mua một ổ bánh mì, một tờ báo Quân Đội Nhân Dân, rồi tôi lững thững đến một chiếc ghế đá sát bờ hồ, khu trước rạp xi nê Phillamonique trông ra. Ngồi tại chiếc ghế xi măng này, tôi có thể nhìn thấy toàn bộ cầu Thê Húc, cách đó hơn 300 mét.

Lúc đó là 8 giờ kém 15 phút. Ngồi nhai ổ bánh mì, lợi dụng những động tác vươn vai, hoặc ngúc ngắc đầu cho khỏi mỏi, tôi đã thấy đủ hai người cũ và hai người nữa tôi đã thấy mặt ở Hàng Buồm lúc vừa ra khỏi nhà trọ. Một người rất khôn khéo đứng nấp sau tấm biển quảng cáo phim, ở trong khung cổng rạp xi nê. Làm sao sót được mắt tôi lúc ấy. Tôi hơi băn khoăn, mọi hôm ít nhất 5 người, sao hôm nay chỉ có 4? Hay còn một tên nữa rất quái quỷ, nấp ở chỗ nào đó trong cái phố xá đông đúc này mà tôi không biết? 10 phút sau, tôi lại tốn công tìm động tác giả, để quan sát một lần nữa. Vô ích, vẫn chỉ 4 mống. Phải chăng cơ quan phản gián Hà Nội thấy hàng tuần lễ nay, ngày nào tôi cũng đi lang thang đây đó, chẳng thấy tỏ ý định làm một cái gì, hay giao thiệp với ai, nên chúng đã giảm người theo? Sở dĩ chúng phải cho nhiều người theo dõi, vì nếu tôi gặp, nói chuyên với ai, số người ấy phải chia ra để theo dõi người đó. Nếu tôi gặp hai, hay ba người trong một ngày, chúng phải tăng cường. Dù sao, đây cũng chỉ là sự phán đoán của tôi, chưa phải là kết luận, cho nên tôi vẫn phải cảnh giác tối đa.

8 giờ đúng, bắt đầu tôi căng mắt rõi về phía cầu Thê Húc. Lòng tôi cũng thấy hồi hộp, xốn xang đợi chờ. Đối tượng là ai? Già hay trẻ, đàn ông hay đàn bà? Chắc chắn không phải là một ông cha, hay ông sư đầu trọc lốc. Nếu thế, cũng phải mặc quần áo bình thường và đội mũ che giấu đầu trọc.

8 giờ 15 rồi, vẫn chẳng thấy gì? Quái thật, phút đợi chờ làm cho tim tôi đập nhanh hơn lúc bình thường. 8 giờ 30 phút. Tôi đã bắt đầu sốt ruột. Theo quy định thời gian trao tài liệu “M” là từ 8 tới 10 giờ. Tôi muốn ngồi từ xa, khi nào thấy đối tượng tôi mới đến. Như vậy có nhiều điều lợi. Tôi chủ động được vấn đề, và quan sát sự an ninh của đối tượng, để từ đấy tùy nghi ứng biến. Tôi lại nghĩ: Hay biết đâu, chính đối tượng cũng có ý nghĩ như tôi thì sao? Nghĩ thế, tôi đứng dậy đi dọc theo bờ hồ, tới ngang cầu, rồi cứ theo bờ hồ đi xuống mãi, hơn 300 mét. Không hề có một ai mặc quần áo như quy định. Người đúng cái này, lại sai cái kia hay ngược lại.

Đã trót xuống phía đó, tôi lại kiếm một cái ghế xi măng ngồi. Chiếc ghế này hơi bất tiện, vì bị một cây che mất cầu. Dù vậy, thỉnh thoảng tôi hơi nghiêng người về phía trước, vẫn thấy toàn bộ cầu. Trong lòng tôi cũng thấy thấp thỏm như chờ người yêu. Tôi có đọc đâu đó một đoạn thơ, không nhớ rõ là của Lưu Trọng Lư hay Hồ Dzếnh:

Em cứ hẹn, nhưng em đừng đến nhé,

Anh sẽ trách, cố nhiên nhưng rất nhẹ! ……

Ngó trên tay thuốc lá cháy lụi dần,

Anh sẽ nói: Gớm làm sao nhớ thế!

Với tôi bây giờ là: Gớm làm sao lâu thế! Và, tôi cũng đang nhìn điếu thuốc nghi ngút khói, mặt hướng về cầu Thê Húc.

9 giờ đúng. Một nỗi buồn ở đâu len lén vào lòng tôi. Hay đối tượng có trở ngại gì? Trục trặc gì? Nếu vì lý do nào đó, tôi không trao được tài liệu này, lòng tôi sẽ khắc khoải suốt cuộc đời. Bao nhiêu gian nan, nguy hiểm, sống và chết, bao nhiêu đợi chờ mong ngóng của tôi! Bây giờ, người ơi, sao cứ biền biệt. Tuyệt vọng rồi lại hy vọng, hay có thể đối tượng lại đang ngồi phía tôi ngồi lúc sáng! Dù thế nào, tôi cũng không đi lại phía ấy nữa. Vì làm như vậy, những cái “đuôi” có thể nghi tôi đang sốt ruột chờ đợi cái gì. Nếu thế, đành để ngày 18 vậy.

Tôi đang đầy vơi với nỗi niềm nặng chĩu, thì kia rồi! Tim tôi khẽ bóp nhẹ. Đối tượng lại là một cô gái mới chết chứ! Đúng rồi: Áo nâu, quần ka ki xám, tay cầm vở hoặc sách, và dép…? Tôi chưa nhìn rõ vì xa gần 300 mét. Tôi vẫn ngồi yên. Đối tượng đi qua cầu đến gần sát cổng đền Ngọc Sơn, ngừng lại, đứng tựa vào lan can cầu và đang cúi nhìn cái gì đó ở dưới nước.

Tôi chợt nghĩ, nếu đối tượng cũng có “đuôi” thì sao? Trường hợp này, Cục tình báo miền Nam, và cả Mỹ, chưa nêu ra cho tôi. Tôi đặt giả thuyết: Đối tượng hiện giờ có “đuôi” nghĩa là cũng đang bị phản gián Hà Nội theo dõi. Nếu chúng tôi gặp nhau, địch sẽ cởi được một mắt xích. Nếu không gặp nhau, gần nhau mà không khéo để địch phát hiện có liên quan, thì kết quả cũng như trường hợp trên.

Cách giải quyết duy nhất: phải hết sức tinh tế, không để một cử chỉ nào, dù là một ánh mắt, cho những cái đuôi phán đoán được hai người có liên hệ với nhau. Tôi coi như không chú ý đến cầu, chân bước, quay gáy lại phía cầu. Mắt lơ đãng, nhìn giòng xe đạp xuôi ngược trên đường phố. Khi ngang qua cầu, làm như không chủ định trước, chợt thích ghé vào chơi như mọi khi. Thấy mấy em nhỏ dưới bờ hồ, chỗ chân cầu đang câu tôm, tôi rẽ xuống đứng xem, cầm một con tôm, hỏi chuyện các em. Tôi liếc nhanh đối tượng. Đối tượng chưa nhìn thấy tôi, vì còn cách một cái cầu dài 50 mét. Đối tượng đứng phía cổng đền, tôi đứng phía bờ.

Bây giờ, tôi nhìn rõ. Dép râu và 3 quyển vở rõ ràng. Rõ ràng hơn nữa, cô chừng 22 tuổi, có bộ mặt trái soan, da trắng bóc nổi rõ màu đen huyền của đôi mắt. Vô lý! Một cô gái tuổi như thế này, lại “giao thiệp” với Sài Gòn. Nhưng, có thể cô chỉ là một mắt lưới, mà đường dây bí mật đã phái cô đến chỗ hẹn, theo quy ước để nhận tài liệu của Sài Gòn. Tôi đang suy nghĩ, chợt một anh chàng có dáng dấp thành thị, tiến đến đối tượng. Tôi mở to mắt ngạc nhiên theo dõi. Qua thái độ của cô gái và thái độ anh chàng đó, tôi hiểu là anh chàng đi chơi, thấy một cô gái đẹp, sà đến tán. Đúng vậy, cách bỏ đi vào chùa và bộ mặt rất nghiêm, bực tức của cô gái, đã trả lời sự phán đoán của tôi.

Tôi quan sát 4 cái đuôi của tôi, trông rõ vị trí đứng ngồi của chúng. Yên tâm, tôi tiến lên cầu. Trên cầu còn hai, ba đứa trẻ và một vài cậu nhơ nhỡ có vẻ học sinh vì cặp sách, một gái, hai trai. Tới giữa cầu, tôi đứng lại nhìn xuống hồ. Chợt nhớ ra: Tôi xắn tay áo lên vài lượt như thể nóng quá. Tay tôi vẫn cầm tờ báo “Quân Đội Nhân Dân” gấp đôi. Tôi hơi băn khoăn, vì đối tượng đeo một túi dết mầu xám, điều này không hề có trong quy định trước.

Rồi tôi nghĩ, cũng như tôi, có túi dết mà không quy định. Vì còn có mật hiệu phải trả lời nữa chứ. Nguyên tắc quy ước là gặp trên cầu. Nhưng vừa rồi vì lý do anh chàng tán gái, nên cô đó đã phải đi vào chùa, phải linh động. Tôi cũng đi vào chùa, vừa đúng lúc đối tượng từ phía Trấn Ba Đình, định đi vòng lại ra phía cầu.

Đối tượng thoáng thấy tôi. Mắt đối tượng mở to, tươi hẳn lên, vừa như ngạc nhiên. Tôi làm sao biết đối tượng đang nghĩ gì, chỉ thấy đối tượng hơi đỏ mặt và hơi lúng túng. Tôi coi như không biết, vờ đứng chăm chú xem cái biển gỗ sơn xanh viết chữ trắng: “Đây là di tích lịch sử đã được liệt hạng…”

Biết đối tượng đang nhìn, hai tay tôi gấp tư tờ báo, rồi gấp 8, theo quy ước. Một phút, hai phút, bằng ánh mắt nhìn ngang, tôi thấy đối tượng đứng xa tôi gần 15 mét, làm như vô tình, chuyển ba quyển vở từ tay này sang tay kia. Tôi rất phấn khởi, thái độ ấy, chứng tỏ đối tượng rất điềm tĩnh. Vậy khi nãy đối tượng hơi không được tự nhiên là vì lý do khác. Bây giờ đã trấn tĩnh nên tỏ ra có nghiệp vụ cao. Sự hoan nghênh và phấn chấn dậy lên trong lòng tôi. Một chiến hữu, một đồng chí có khả năng, như vậy mới có thể là đối thủ của kẻ thù.

Tôi lững thững đi ra. Mắt tôi liếc nhanh. Nếu “đuôi” đứng ngoài 10 mét, dù chú ý cũng khó phát hiện cái liếc ấy. Hai “đuôi” vẫn chỗ cũ, hai “đuôi” khác đã tiến dịch vào phía cầu. Và, bây giờ thêm một “đuôi” nữa, mà từ sớm tôi không thấy. Anh chàng có bộ mặt vẻ học sinh trong hiệu cháo Sinh Ký, đang đứng một phần ba cầu phía ngoài. Tôi tự hỏi “Thế từ sáng, tên này nấp đâu? Hay vừa mới tới?” Họ tưởng tôi sẽ vào chùa chơi lâu, như mọi khi nên đang định tiến vào, thấy tôi trở ra, họ vờ vịn lan can cúi xuống hồ nhìn nước. Thực ra, ngay lúc ấy, trong khoảng hai phút thôi, sau khi thấy đối tượng “chuyển vở qua tay”, tôi giơ ngay tài liệu cho đối tượng trông thấy, rồi vất ngay xuống đất, làm như đánh rơi, để đối tượng đi sau lấy rồi cũng xong. Nhưng, tôi hơi ngập ngừng áy náy, chẳng biết đối tượng có phản xạ kịp không, nếu không, sợ rằng lại có thể đẻ ra những tình huống khó khăn khác, nên lại thôi.

Tôi cứ chậm chạp tiến về vườn hoa Con Cóc, cách đấy khoảng 700 mét, sà vào một bệ đá, chỗ vòi phun của một con cóc, nơi tôi đã có chủ ý từ hôm qua. Chỗ này có một số đá lổn nhổn, lẫn cỏ với lá khô. Tài liệu của tôi mầu nâu, đồng mầu với lá khô. Hơn nữa, ở đấy có một bụi cây rậm, có rễ mọc nổi, thuận tiện chỗ để. Thò tay vào sờ thì thấy, còn nhìn bên ngoài sẽ không thấy, mà bụi cây lại che được một góc chết.

Tôi ngồi thong thả mở báo ra đọc, liếc nhanh các đuôi, rồi lựa thế che dưới tờ báo rộng, tôi để tài liệu. Xong, tôi tiếp tục đọc báo. 10 phút sau tôi ngửng lên, vặn người. Tôi đã thấy đối tượng ngồi cách xa tôi 150 mét trên một ghế đá, cùng với một bà đang cầm cái chổi dài, có lẽ là người dọn vườn hoa. Đối tượng thỉnh thoảng lại nhìn tôi. Tôi vẫn vờ xem báo, hết lật trang này lại giở trang kia. Vừa lúc đối tượng nhìn, tôi gãi khuỷu tay phía để tài liệu, một ngón tay cong cong chỉ thẳng vào chỗ tôi đã bỏ tài liệu “M”. Tôi đưa ánh mắt như chăm chú nhìn một cành cây gần tôi, hơi chéo nơi đối tượng ngồi. Quả thực đối tượng là người điềm tĩnh, không báo cho tôi biết ngay mà mãi ba, bốn phút sau, mặt nhìn hơi khác và giơ tay lên gãi đầu. Lúc này, các “đuôi” có mắt cũng như mù, làm sao đoán được hai hành động rời rạc ấy lại ăn khớp với nhau, trừ phi đã biết trước.

Lúc này, lòng tôi thật khó diễn tả. Vừa nhẹ nhàng lâng lâng, trang trải món nợ quê hương, vừa bâng khuâng lưu luyến một cái gì, như gần gũi mà lại thật xa xôi; vừa tái tê với cuộc đời đã nằm trên thớt của kẻ thù, mịt mù sống chết lúc nào không hay.

Tôi đứng lên, chân không muốn bước mà vẫn phải đi, ngập ngừng giã biệt. Chẳng biết đối tượng có hiểu những nỗi niềm đầy vơi, trong lòng tôi lúc này không? Tôi đang ngày đêm nằm trong nước sôi lửa bỏng. Chợt một ý nghĩ, nếu tôi không có “đuôi” lúc này thì sao? Đời tôi đã chả từng cay ghét chữ “nếu” rồi sao?

Tôi đi mãi, ghé ra bờ hồ, để tôi có thể nhìn chéo 40 độ về phía đối tượng cách rất xa tôi chừng hơn nửa cây số. Tôi chỉ còn thấy bóng dáng (không thể nhìn rõ mặt) đối tượng vẫn ngồi yên chỗ cũ. Tôi vừa thẫn thờ đi từ đó tới đây, cũng phải mất hơn 10 phút, vậy đối tượng đến lấy tài liệu chưa? Theo phán đoán của tôi thì chưa. Chỉ qua hai lần tiếp xúc bằng ánh mắt và cử chỉ, tôi đã thấy đối tượng tỏ ra là người trầm tỉnh. Hơn nữa, không bao giờ đối tượng đến lấy rồi lại ngây thơ trở về chỗ cũ ngồi. Vậy thì chưa đâu! Tôi yên tâm, đưa mắt lơ đãng đuổi theo những tảng mây trắng nõn, như những búi bông khổng lồ, đang chầm chậm bò trên nền trời xanh thẫm, về miền Nam xa xôi. Mãi 15 phút sau, bóng dáng của đối tượng mới từ từ tiến đến chỗ tôi ngồi khi nãy, làm như bâng khuâng nhìn vòi nước phun tung tóe từ miệng con cóc bằng xi măng, rồi ra vẻ như mệt, đối tượng ngồi xuống.

Tôi vẫn quay mặt ở một góc 40 độ với đối tượng, mục đích khi đôi tượng đứng lên đi, tôi quan sát theo dõi xem đối tượng có “đuôi” hay không? Sao mà ngồi lâu thế! Tôi vừa trách, lại vừa không muốn đối tượng đi, thật là mâu thuẫn. Đối tượng đi là vĩnh biệt rồi.

Chẳng hiểu trong lòng đối tượng nghĩ gì mà ngồi mãi không đi, lâu lâu lại nhìn phía tôi. Phải chăng tâm trạng của đối tượng cũng như tôi?

Do những điều kiện khắt khe tôi đang nằm trong lưới của kẻ thù, nên khi nhìn đối tượng, một ý nghĩ lởn vởn trong óc tôi, ước gì tôi có thể lên tiếng cùng đối tượng một vài lời nhỉ? Gần 20 ngày qua, tôi đã buộc kín lòng mình, đến trở thành cô độc, lẻ loi trên mảnh đất thân yêu này Chỉ còn có người, một chiến hữu, một đồng chí, tuy ngồi ngay trước mặt, cùng thở hít chung nhau một bầu không khí, cùng bâng khuâng đầy vơi ngắm chung một cảnh hồ, mà người ơi, xa vời vợi! Rồi đây, tuy chúng ta cùng chung một lý tưởng nhưng hai đường đời. Xin cầu chúc cho người gặp nhiều thuận tiện, may mắn, đạt những thành quả vẻ vang trên đường đi của dân tộc. Thôi, tôi xin cúi đầu biết ơn đối tượng. Thế lả đủ cho kẻ bất hạnh này ghi nhớ mãi mãi, trong những ngày gian khổ tới đây.

Mãi gần 12 giờ trưa, mặt trời chói chang đã đốt khô cảnh vật, tôi mới thấy đối tượng đứng lên, không quên nhìn về phía hồ một lần nữa và chẳng hiểu sao, đối tượng quay lưng lại vừa đi vừa gãi đầu, nghĩa là khoảng cách giữa đối tượng và tôi dần dần xa vời vợi.

Đối tượng không có “đuôi”, tôi cũng mừng. Chỉ có số phận hẩm hiu của tôi là có “đuôi”, mà những 5, 6 cái.

Trời Hạ lúc này trong xanh, chỉ còn một vài vẩn mây, không gian, cảnh vật bừng sáng lung linh. Tôi nhìn thẳng ra Tháp Rùa đứng chơ vơ như hòn non bộ, chiếc bóng nghiêng nghiêng lung linh dưới nước như nhún nhẩy reo vui mừng rỡ. Hai con rùa chẳng biết bò lên chân tháp tự bao giờ đang nằm ấp lên nhau phơi nắng, như hai cái nồi ba mươi đen xì. Những chùm phượng vĩ đỏ ối tràn lan chung quanh hồ, đang sói bóng trên mặt nước, nổi bật lên giữa cái xanh ngắt của bầu trời và màu xanh của lá cây tạo thành một bức tranh sơn mầu rực rỡ. Một trận gió Nồm Nam thổi dọc từ phía “Gô Đa” về. Những chiếc lá me đong đưa đẩy như trăm ngàn bàn tay nhỏ tí đang vỗ, gây lên những tiếng xào xạc lẫn vào tiếng ve kêu vang vang như hồi kèn thắng trận. Thoang thoảng đâu đây mùi nồng nồng ngan ngát của nước hồ tù, mùi dìu dịu ngây ngây của những chùm phượng, mùi ngòn ngọt man mát của mấy bông hồng trong vườn hoa phía bên kia đường, tất cả quyện vào nhau thành một thứ hương ngây ngất hồn người.

Tôi đứng dậy, lòng nhẹ lâng lâng, tinh thần sảng khoái. Hôm nay hơi đặc biệt, tôi tự thưởng công 3 đồng, đi thẳng lên ngõ Hàng Giầy chén một bữa nem cua rán.

22. Lẩn Tránh…

Lúc ngồi chờ bà hàng đang cắt những chiếc nem cua vàng ngậy thơm phức, tôi dật dờ nghĩ đến linh mục A. Chắc từ bữa ấy, người đang chờ, mà tôi mãi biệt tăm. Nếu người hiểu rằng, tôi mà không bén nhậy thì đã đưa người vào chỗ chết rồi. Tôi suy nghĩ, cân nhắc các tình huống xem có thể có điều kiện nào trở lại với người. Với tình trạng bao vây bám sát của địch dày như thế này, không thể được! Không nhìn rõ vấn đề, mơ hồ lao vào, thật là sai lầm, đôi khi lại trở thành người gây tội ác nữa.

Đêm ấy, tôi trở lại nhà trọ Hàng Buồm. Đêm nằm suy nghĩ miên man đến cảnh giao tài liệu lúc sáng. Riêng về điểm này, Sài Gòn đã dự trù được trước các tình huống, thật đáng ca ngợi. Nếu không như vậy, không có cách nào tôi trao được tài liệu “M”, khi tôi bị 5, 6 cái “đuôi” bám sát.

Thật cũng may, ngay khi tới Hà Nội, tôi đã trao được tài liệu X cho Z-5, lúc địch chưa phát hiện. Chứ bây giờ, làm sao có thể thực hiện được. Giòng suy nghĩ của tôi cứ chảy hoài: Làm sao bây giờ cắt được “đuôi” đây?

Tôi nhớ lại những lần thực tập ở Sài Gòn, Biên Hòa, Mỹ Tho, bao nhiêu cái “đuôi” tôi đều phát hiện hết, và cuối cùng tôi cũng đều cho họ vào xiếc, rồi đột nhiên tôi biến mất. Nhiều lần Brown, Dale, và Phan đã bắt tay ca ngợi tôi. Lúc đó, sở dĩ tôi thi thố được khả năng là do: phương tiện lưu thông của đường phố; nhiều nơi tụ họp ăn chơi đông đúc; còn người dân thì chuyện ai nấy lo, họ không cần quan tâm đến việc của người khác. Nhưng ở Hà Nội lúc này, tình huống hoàn toàn ngược lại với 3 yếu tố trên.

Muốn cắt “đuôi” bất ngờ thì phải: Lợi dụng xe cộ ngược xuôi đông đúc, nhảy xe này, xuống xe kia, sang xe khác, trong khi đó, đường phố Hà Nội lại toàn là xe đạp, nhảy đâu? Chạy đâu? Những nơi đông đúc tụ hội ăn chơi, có nhiều ngõ trước đường sau, cửa ngang, cửa dọc, xe cộ qua lại nhiều, có chỗ che nấp. Vừa đấy đã biến lên xe chạy chỗ khác rồi; trong khi ở Hà Nội thời ấy làm gì có cảnh đó.

Về người dân, đa số dân người Bắc nói chung, và Hà Nội nói riêng, hãy còn mơ hồ về “chiếc bánh vẽ thơm ngon” mà Cộng Sản hứa hẹn, nên còn cuồng tín, quá khích, nghĩa là còn đang bị Cộng Sản bịp, chưa sáng. Ngoài ra, mọi lứa tuổi, mọi loại người đều phải ở trong đoàn thể. Không hội này thì cũng đoàn thể khác. Nếu ai đó, không ở trong đoàn thể nào, là người ngoài vòng pháp luật như ăn trộm, ăn cắp lưu manh… hay như tôi. Nhi đồng, thiếu niên, thanh niên, phụ nữ, phụ lão, v.v… đều phải đi họp đoàn thể. Thêm nữa, do chiến dịch “Phòng gian, phòng gián, bảo mật” đang được chính quyền thúc đẩy mạnh tối đa. Bất cứ một đoàn thể nào, ngoài công việc riêng của đoàn thể đó ra, đều được giáo dục, chỉ thị như là một ý thức tự giác. Mỗi khi thấy một người lạ ở khu vực mình, phải có trách nhiệm trình báo kịp thời. Thấy một người hỏi thăm đường, hỏi thăm nhà, một hiện tượng không bình thường… Phải đến báo ngay cho nhân viên chính quyền, ở gần nhất trong khu phố. Cho nên, phần vì để khỏi trách nhiệm sau này, phần khác, vì hãy còn mơ hồ tưởng Cộng Sản là chính nghĩa, sẽ đem lại hạnh phúc cho mọi người. Tưởng rồi đây cuộc đời của họ sẽ được hưởng cái “thiên đường hạ giới” do Cộng Sản hứa hẹn (lúc ấy, họ đã đâu nhìn thấy “nó” chỉ là… cái bánh vẽ). Đa số người dân, nếu công an hỏi, là họ chỉ ngay, đôi khi chính họ còn tự động theo dỏi mình nữa. Cụ thể như lão già ở xã Kỳ Phương, Kỳ Anh. (Tình trạng trên là từ 1965 trở về trước, chứ từ 1965 trở về sau, diễn tiến khác đi nhiều. Xin trình bày ở một đoạn khác). Vì thế, hoàn cảnh của tôi lúc đó, dù phát hiện được hết địch, cũng không chạy được đâu thoát.

Phải nghiêm khắc, thành khẩn mà nói, yếu tố cơ bản vẫn chính là tôi chưa hiểu đủ sự tàn bạo, độc hiểm của Cộng Sản. Cộng với tính cơ hữu của người lính chiến của thế giới tự do là ngại khó, ngại khổ (chịu khó khăn, gian khổ một thời gian nào đó thì được, chứ trường kỳ ai cũng ngại).

Điểm trên là điểm sai lầm trầm trọng đầu tiên tôi mắc phải. Lúc đó, tôi suy nghĩ, có thể vì ở Hà Nội công an ngầm như rươi, chúng có bổn phận theo dõi mọi người lạ vào thành phố. Vậy, ta thử làm một chuyến đi xa xem sao, vừa đo lường sự phản ứng của phản gián Hà Nội. Đồng thời, nếu có thời cơ, cắt “đuôi” trốn lánh. Tính như vậy rồi, tôi đi vào giấc ngủ và ngày mai sẽ đi Vinh.

Sáng hôm sau, tôi dậy sớm lúc 5 giờ, ra đón xe điện, xuống bến Kim Liên. Cho tới khi đến bến xe đò, tôi chỉ phát hiện được 4 cái “đuôi”, hai cái trên xe điện, một đi “mô bi lét” và một đạp xích lô. Nhưng, chừng 15 phút sau, ở bến xe lại có thêm hai cái đuôi nữa, hai người này tôi đã biết mặt.

Tôi nhìn phía quầy bán vé đi Vinh, khách đang xếp hàng dài trên 30 người. Tôi đếm thầm, đến lượt mình lấy vé khéo phải 10, 11 giờ. Mỗi người lấy vé rất lâu, phải ghi tên tuổi, nộp giấy thông hành, rồi còn bị cật vấn nữa, tùy theo trường hợp.

Tôi cũng đành đứng vào xếp hàng. Lưng chừng tôi mới hiểu, đây là xếp hàng đăng ký lấy vé cho ngày mai. Muốn đi Vinh, phải đến xếp hàng đăng ký trước một ngày. Tôi thấy thật nản! Giữa lúc đanh lửng lơ suy tính, một anh mặc áo bộ đội, cụt một chân chống hai cái nạng, rao bán lại một vé. Thời gian này, đa số dân chúng miền Bắc mặc quần áo bộ đội, Bởi vì, nếu họ không là cán bộ, thì họ cũng là công nhân ở công ty, xí nghiệp, nhà máy v.v… hoặc là bộ đội phục viên. Chỉ khác bộ đội là không đeo quân hiệu, quân hàm.

Anh ta đến gần chỗ tôi nói to:

– Tôi còn thừa một vé đi Vinh, của người em bị sốt nặng không đi được hôm nay. Ai đi tôi để lại?

Tôi vẫn đứng yên. Có thể số người đang xếp hàng, đã dự trù công việc cho ngày mai mới đi, nên không thấy ai đến hỏi. Riêng tôi, tôi đặt vấn đề ngay, chắc chắn phản gián Hà Nội đã tạo điều kiện cho tôi đi kịp những ngày giờ tôi muốn, để chúng dễ dàng theo dõi tìm manh mối. Thí dụ: chúng nghĩ hôm nay tôi cần gặp ai ở một điểm “X” nào đó, nhưng vì nhỡ xe, tàu, tôi sai hẹn không đến được, hư công việc của tôi, mà chúng cũng không biết tôi làm gì. Tôi hiểu thế, nhưng không sao, tao đã biết mày rồi mà! Tôi tiến đến chỗ anh cụt chân. Cùng lúc ấy, một người cũng tách khỏi hàng đi đến mua chiếc vé ấy. Anh cụt chân chỉ tôi, nói:

– Anh này đã đến trước, vậy tôi để cho anh này.

Tôi biết, dù có đến sau, tôi cũng vẫn mua được chiếc vé đó. Lúc ấy, một chiếc xe đò chạy đến, anh “lơ” và tài xế mở cửa nói:

– Đồng bào đi Vinh lên xe!

Hơn 30 hành khách gồng gánh, mo, bị… lục tục kéo nhau chen chúc lên xe. Anh cụt cũng đi và vẫy tôi cùng lên xe. Thì tôi cứ đi lên! Ngay trong số hành khách này, không kể anh cụt chân, tôi còn nhận ra hai người nữa đã quen mặt từ trước, một ngồi sau tôi, và một phía trước. Hành khách lên hết, xe bắt đầu chạy ra đường phố, cũng là Quốc Lộ 1.

Ra đường, xe bị cảnh sát ngoắc tay bắt ngừng. Cảnh sát xem giấy tờ ở chỗ tài xế, rồi điểm người xem có đúng với số vé đã bán, v.v… Tên cảnh sát cũng hạch hỏi tài xế lôi thôi. Tôi hiểu rằng, chẳng qua tôi đi hơi đột xuất, phản gián Hà Nội chưa chuẩn bị kịp phương tiện, nên cố ý bắt xe ngừng chờ mà thôi. Hành khách, biết gì đâu. Một bà ngồi cạnh tôi, sốt ruột nói:

– Hỏi cái gì mà hỏi lâu thế, không để xe đi cho rồi…

Nhưng bà chỉ dám nói nhỏ, cảnh sát không nghe thấy. Chừng 20 phút sau, cảnh sát mới cho xe chạy. Xe chạy tới vườn hoa “Thống Nhất” thì ngừng lại. Một anh “lơ” xách một chiếc thùng chạy qua đường vào vườn hoa, chắc là lấy nước để đổ vào xe.

Đúng thế, chừng 5 phút sau, anh xách thùng nước đến đầu xe, anh tài xế đã mở “cốp” để đổ nước. Anh “lơ” lại chạy trở lại vườn hoa. Tôi thoáng nhìn trong vườn hoa, chỗ bụi găng, qua một khe hở lá cành, là bộ mặt anh đi “Mô bi lét”. Anh rút ra một cuốn sổ nhỏ và hý hoáy ghi, thỉnh thoảng nhìn ra đít xe, chỗ bảng số. Anh cụt ngồi cạnh tôi giả vờ lơ đãng nhìn đâu, nhưng tôi hiểu là anh cũng chẳng bỏ sót một cử chỉ nào của tôi. Lại còn anh chàng ngồi băng sau nữa. Tôi muốn nhìn lại phía sau. Để cho có vẻ tự nhiên, tôi vờ chú ý đến một chiếc xe hàng từ trước mặt đang chạy lại, và tôi nhìn theo.

Phía sau, xa chừng 200 mét, một chiếc Commanca cùng với số xe đã theo tôi vào Hà Đông, HN5037, đang đậu sát mé hè, sau hai chiếc xích lô.

Chẳng hiểu sao, xe đã đổ nước rồi, mà vẫn chưa chạy. Chẳng lẽ tài xế cũng là phản gián? Chúng có máy điện đàm hay sao mà lạ thế? Hình như tụi phản gián chưa chuẩn bị kịp. Tôi thắc mắc nên để ý. À, tôi liếc mãi phía trong vườn hoa, tên đi “Mô bi lét” và tên “lơ” xe đang nói gì với nhau. Như vậy, rất có thể tên “lơ” là một loại công an mật (cả hình sự, kinh tế và chính trị) đi xe đò đường trường.

Đổ nước quái gì đến 20 phút. Nhiều hành khách la ó nhưng anh tài vẫn không trả lời. Tụi phản gián còn chờ gì nữa chứ? Sau cùng, tên “lơ” cũng ra và xe chuyển bánh.

Khi xe gần đến Phủ Lý, chiếc xe mang số HN5037 vượt lên trước. Khi xe đó đi ngang qua, tôi thoáng thấy bên trong có 4 tên. Toàn những khuôn mặt lầm lỳ và lạ, có tên đến 40 tuổi. Tôi giả vờ nhìn cánh đồng lúa đang gặt bên đường. Khi xe đò chạy qua, tôi còn cố ngoái lại xem, nhưng thực ra là để nhìn lại phía sau xe. Xa xa chừng hơn 300 mét là một chiếc xe đen kiểu Citroen mà tôi đã nghi. Xe hàng ngừng lại ở thị xã Phủ Lý để đón thêm mấy bà khách nữa, tôi để ý nhìn thấy “chú” HN5037 đậu mãi tít trong phố quay đầu ra. Chiếc xe đen vượt qua. Trong xe cũng 4 người kể cả tài xế, có cả tên đeo kính râm, đội mũ cát két. Hôm nay, y đội mũ và mang kính giống như buổi ban đầu tôi gặp y ở nhà thờ X.

Chà, lực lượng hùng hậu quá nhỉ! Tổng cộng 11 tên: 3 trên xe đò, 8 ở hai xe con. Còn nữa không? Chắc hôm nay chúng nghĩ tôi tới điểm hẹn để được đón về Nam, nên chúng phải huy động nhiều thế để mong vồ cả mẻ.

Khi xe tới Quất (Ninh Bình), hành khách phải xuống xe đi bộ qua cầu. Một dẫy gần 20 chiếc xe chực chờ để qua cầu. Tôi nghi ngờ một chiếc xe Commanca nữa, vì thoáng thấy một tên trong xe Citroen nói chuyện với người của chiếc xe đó.

Qua núi Cánh Diều, Ninh Bình rồi vào Thanh Hóa, xe đò ngừng. Trên xe, tôi cứ vờ limdim ngủ gà, ngủ gật. Có lúc tôi nghe một hai câu trao đổi của những người ngồi bên cạnh, thì ra tên cụt cũng đi Vinh.

Đến thị xã Thanh Hóa, xe đò ngừng. Khách lên, khách xuống gần nửa tiếng đồng hồ mới xong. Khi xe ra khỏi thị xã Thanh Hóa, chiếc xe đen vượt qua. Tôi tính thầm, xe đò chạy khoảng 10 cây số nữa thì tới lượt chiếc xe HN5037. Sau đó, tôi lại thấy chiếc Commanca thứ 3 ở Quất với số HN (tôi quên số rồi) chạy sau xe tôi một lúc rồi cũng vượt lên trước. Trên xe này có 3 người kể cả tài xế, có một người, tôi thật khó quên được. Khoảng 50 tuổi, tóc đã điểm sương, đeo kính trắng, phong thái chỉ huy.

Có thể vì xe hàng chạy chậm, hoặc thấy tôi từ trước không hề tỏ một ý gì, là nghi ngờ bị theo dõi. Hơn nữa, chúng tin vào còn 3 người của chúng trên xe đò, cho nên cả 3 xe nhỏ đã vượt lên trước.

Một kế hoạch chợt lóe lên trong óc tôi. Xe đang chạy trên con đường dài, hai bên toàn ruộng lúa, thỉnh thoảng có một con đường dẫn vào làng xóm xa xa hai bên đường. Bây giờ, nếu bất chợt tôi kêu tài xế ngừng xe cho tôi xuống đây. Không thể vì lý do gì cả 3 tên trên xe cùng xuống (như thế lộ liễu quá). Chúng phải theo xe đi cả chục cây số nữa mới gặp mấy chiếc xe con kia để báo cáo. Hoặc chúng cũng xuống, nhưng phải đi một đoạn nữa mới bảo tài xế ngừng, để tôi khỏi nghi. Còn tụi xe nhỏ phải chờ xe đò chạy tới báo cáo mới biết là tôi đã xuống rồi, lúc đó chúng mới quay xe lại.

Như vậy, tôi có ít nhất 20 phút hoặc hơn để thoát thân. Tôi chỉ việc, nếu tôi định ra phía trái là bờ biển, thì khi xuống xe vờ đi rẽ về phía phải; vì chắc chắn 3 tên trên xe sẽ nhìn theo. Đợi khi xe đò chạy đủ xa, để không thể nhìn lại thấy. Lúc đó, với khả năng nhanh nhẹn tối đa, tôi phải bò qua đường, sang phía trái, rồi vắt giò lên cổ mà lủi. Ngược lại, nếu tôi định vào phía núi để chuồn sang Lào, tôi cũng phải làm như vậy để đánh lạc hướng tụi phản gián. Làm cho chúng hiểu lầm, là tôi ra điểm hẹn đón ở phía biển bằng thuyền.

Tính trong đầu óc như vậy, nhưng tôi đã không thực hiện. Như tôi đã trình bầy ở trên, vì chưa hiểu đủ sự tàn ác, thâm hiểm của Cộng Sản. Tôi cứ nghĩ rằng, dù chúng có bắt được tôi, nhưng tôi đã làm gì đâu, toàn lang thang đi chơi. Hơn nữa, nếu tôi nói là chán chường cuộc sống, vì bị cái thế phải đi, lại nhớ Hà Nội, nên khi ra tới nơi, chỉ đi chơi chứ không hoạt động gì cả… chắc chúng cũng phải tin thôi. Vả lại, người của chúng đã hàng ngày thường xuyên theo dõi, thấy thực tế là như vậy, thì cùng lắm chúng giam giữ 2, 3 năm rồi cũng tha!…

Thêm nữa, tính hãy còn ngại khó, ngại khổ. Trốn như kế hoạch trên, có thể thoát, có thể bị bắt ở biên giới Lào-Việt, hoặc ở Lào… Điều chắc chắn là rất gian khổ, chui rúc bờ bụi, đói khát… Chính vì những ý nghĩ sai lầm đó, nên đã tính trong đầu rồi, tôi lại không thực hiện. Đó là điều đã làm cho tôi ân hận giầy vò, cấu xé lòng tôi cho tới bây giờ. Nếu lúc đó, hiểu đủ về Cộng Sản, dù vào tới rừng rú đói khát mà chết, tôi vẫn cương quyết xuống xe lúc ấy, để thực hiện kế hoạch.

Đây là một lời nói rất trung thực. Tôi sẽ minh chứng bằng thực tế sau này.

Xe vào tới thị xã Vinh, trời đã 5 giờ chiều. Tôi xuống xe, vào hiệu cơm quốc doanh đánh một bữa. Thị xã Vinh rất ít xe, vì thế, 3 chiếc xe theo tôi càng phải lộ mặt ra nhiều lần cho tôi thấy. Như vậy, lực lượng của phản gián Hà Nội vào đây tất cả 14 mạng, với 3 chiếc xe: 2 Commanca và một chiếc Citroen 15 mã lực đã cũ.

Đang rẽ vào con đường đến nhà trọ, tôi thoáng thấy anh Trí và một chị bế đứa nhỏ, tôi đoán là vợ con anh. Tôi vờ làm mặt xa lạ và định rẽ sang một phố khác. Nhưng, không kịp nữa rồi, anh đã trông thấy tôi. Anh chạy theo đập vào vai tôi:

– Hùng đấy à! Đi Hà Nội đã về đấy ư. Đi đâu bây giờ đấy?

Anh cứ rối rít vồn vã, trong khi lòng tôi bấn lên, không biết xử trí làm sao. Tôi rất lúng túng, tôi hiểu là vì chuyện này, anh Trí sẽ gặp nguy hiểm về sau. Nhưng trong hoàn cảnh đó, tôi đành để rồi tùy cơ thích nghi cho anh sau này. Nghĩ vậy, tôi cười và nói to (để cho tụi phản gián cũng nghe thấy), trong khi chị bế con cũng đã đến gần. Trí giới thiệu: “Đây là vợ tôi”, rồi Trí tiếp:

– Hôm đó, khi về đến nhà, tôi cũng đã nói chuyện với bố mẹ và vợ tôi về Hùng. Bây giờ về nhà tôi ngủ nhé! Tôi sẽ giới thiệu Hùng với bố mẹ tôi. Ông bà cũng muốn gặp Hùng!

Tôi cưới lớn:

– Thế hai anh chị định đi đâu đây?

Trí giơ cái túi có hai quả bí ngô và cái lốp xe đạp đang đeo ở vai, nói:

– Đi mua mấy thứ này đây! Tiện thể vợ tôi cũng đi chơi.

Trí hỏi tôi ăn uống gì chưa, tôi chỉ vào quán cơm trả lời:

– Mình vừa đánh căng bụng ra đây!

Trên đường về nhà Trí, tôi ghé mua mấy gió lạc và túi kẹo cho con Trí.

Sau khi sang qua phà Bến Thủy, đến một ngôi nhà nhỏ ở bên đường Quốc lộ. Lần trước trong chuyến xe từ Hà Tĩnh ra, tôi đã thấy Trí ngồi trong ấy. Trí mở chiếc khóa nhỏ, kéo tấm liếp vuông che cửa, mời tôi vào. Trong nhà đã mờ tối, Trí tìm đèn đốt lên. Ngọn đèn đầy bụi đất, thật tù mù. Tôi thấy cảnh nhà Trí thật nghèo nàn, túng quẫn: Một chiếc phản gỗ thứt thẹo, hai, ba sợi xích xe đạp cũ rích. Một cái khung xe gẫy, vài cái bàn đạp vất lỏng chỏng. Một cái tủ nhỏ tí, đen đũi, cóc gặm; chắc là đựng dụng cụ sửa xe đạp của anh.

Anh lấy chổi quét cái phản rác rưởi, rồi vào buồng lấy ra một manh chiếu đã rách ở giữa, trải lên:

– Đêm nay, anh em mình sẽ nằm đây, hút thuốc lá, nói chuyện.

Thấy nhà thấp lè tè và tối mù, tôi kéo tay Trí:

– Còn sáng, mình ra ngoài nói chuyện đi, tí nữa hãy vào.

Chị Trí khi nãy đã chào tôi để vào nhà bố mẹ, Trí dặn với theo:

– Mình về, chốc nữa anh không vào nữa đâu!

Trí quay lại hỏi tôi:

– Trong đó là nhà bố mẹ và vợ mình ở. Đêm nào, tôi cũng phải ngủ ngoài này. Cách đây hơn một tháng, mình bị nó cậy cửa, vào lấy hết các đồ chữa xe đạp.

Tôi băn khoăn hỏi:

– Mất nhiều không?

– Gần một trăm đồng.

Tôi nhìn Trí ái ngại, nhà đã nghèo, lại còn bị mất trộm. Tôi đưa giấy thông hành cho Trí trình công an để tôi ngủ lại đêm. Trí gạt tay tôi ra, bảo:

– Chả cần, ông phó chủ tịch xã ở cạnh nhà mình trong ấy, mình rất quen, không sao đâu!

Tôi không muốn gây phiền cho Trí sau này, nên gằn giọng:

– Trí cứ nghe tôi, đi trình giấy cho tôi.

Trí đồng ý và cầm giấy đi vào xóm. Tôi trở vào trong nhà. Trời đã tối, đường không có đèn điện, nên cảnh vật bên ngoài tối mò. Tôi hiểu là sẽ có nhiều người nhòm ngó, canh gác tôi đêm nay. Nhưng tôi cũng chẳng cần để ý làm gì, tôi có định làm gì đâu. Điều làm tôi suy nghĩ băn khoăn nhiều là Trí. Bây giờ đã trót thế này, chỉ còn một cách là sau này nếu tôi bị bắt, tôi phải khai báo tỉ mỉ thực tế gặp Trí thế nào, từ Kỳ Anh ra. Mặt khác, ngày mai, tôi cứ phải vào thăm bố mẹ Trí thì phản gián Hà Nội mới không nghi Trí. Một lúc sau, Trí trở về:

– Ngày mai, Hùng sẽ vào nhà bố mẹ, mình sẽ giới thiệu, bây giờ tối rồi.

Nhà rất nhiều muỗi. Trí đem cái màn mầu đen sì, rách mướp ra mắc. Hai người chui vào màn nằm hút thuốc nói chuyện. Chừng một lúc, buồn ngủ quá, tôi ngủ luôn.

Đêm đó, có lúc giật mình tỉnh giấc, tôi nghe tiếng xe cộ quần đi, quần lại nhiều lần, đèn pha loang loáng. Trí cũng lấy làm lạ:

– Không hiểu sao đêm nay, xe cộ đi lại nhiều thế!

Tôi lên tiếng:

– Mọi khi có như vậy không?

Trí trả lời, giọng ngái ngủ:

– Ban đêm, ở đây thường không có xe chạy nhiều thế.

Tôi suy đoán: Có thể phản gián Hà Nội cho rằng đêm nay, thuyền hoặc tầu sẽ đến đón tôi (ở đây cũng gần cửa biển), cho nên, để phòng hờ những bất ngờ, họ phải báo cáo cho cả Hải Quân và du kích địa phương ở khu Bến Thủy. Mặc họ, tôi không có ý định gì ở đây cả. Ngày mai, tôi sẽ trở về Hà Nội.

Sáng hôm sau, Trí dẫn tôi vào nhà bố mẹ. Chúng tôi len lỏi qua những đường mòn trong xóm vào tới nhà. Một căn nhà 3 gian trống tuếch toác, chỉ có một gian được che bằng những tấm liếp để làm căn buồng, mái tranh lòa xòa, chỗ dài, chỗ ngắn xác xơ.

Tôi thấy bố mẹ Trí đã già khoảng 50 tuổi rồi. Ông cụ đang ngồi vá lưới ở sân. Bà cụ trông rất hiền hậu, vẻ quê mùa, đang quét sân. Qua một số câu chuyện, tôi được biết, hai ông bà khi còn ở Thái Lan sống rất dư giả, tuy cũng làm nghề đánh cá, nhưng có chiếc thuyền to chạy máy. Nghe Cộng Sản tuyên truyền nước nhà độc lập, nhân dân hạnh phúc ấm no… ông bà bùi tai, hồi hương. Ông bà đã được xem những cuốn phim chiếu cảnh sinh hoạt của người dân ở quê nhà, chỗ nào cũng thấy nụ cười và tiếng hát. Hơn nữa trước đây, khi các đồng chí lãnh đạo đảng và nhà nước, lúc bấy giờ còn hoạt động bí mật ở Thái Lan, chính ông bà cũng đã đóng góp nhiều tiền giúp đỡ. Người dân Việt xa quê hương lâu ngày, ai chả nặng lòng với nơi chôn nhau, cắt rốn. Vả lại, rất nhiều người đã bán nhà, đồ đạc về nước rồi viết thư sang đều nói tốt đẹp, cho nên cứ người này theo người kia về với Tổ Quốc thân yêu!

Ông bà bán nhà và các thứ, cộng với số tiền đã dành dụm được hơn chục lạng vàng. Khi về tới Hải Phòng, cờ quạt trống chiêng, tưng bừng đón rước. Hơn 400 kiều bào trên chuyến tầu đó được mời đến một khu nhà đón tiếp căng đầy biểu ngữ “Hoan hô những người con yêu, đã trở về với đất mẹ”. Sau đó, gọi là để học tập đường lối chính sách của nhà nước xã hội chủ nghĩa, ngõ hầu hội nhập ngay với cuộc sống mới, khỏi bỡ ngỡ buổi ban đầu.

Trong việc học tập, có cả việc phải khai báo đăng ký số vàng và tiền mang theo. Đang hồ hởi yêu nước, yêu quê hương về với cách mạng, ai ai cũng nhiệt tình đăng ký với sự hân hoan chân thành. Đăng ký, đều có giấy tờ biên nhận từng loại rõ ràng. Của cải đó nhà nước sẽ giữ cho. Khi về tới địa phương muốn làm ăn khuếch trương công việc gì, đồng bào sẽ lấy dần ra. Đó cũng chỉ là một hình thức bảo đảm an toàn, khi đồng bào mới về chưa ổn định. Cộng sản nói như vậy!

Về tới Vinh, Nghệ An, lúc đầu ông bà thăm họ hàng làng nước, đó đây, cho chác người nọ người kia: Hả hê , hồ hởi, phấn khởi, nên cứ phải lấy dần tiền. Giá vàng tính theo giá chính thức của nhà nước thì chả được bao nhiêu. Khi còn chừng một nửa, nhà nước đòi phải có lý do chính đáng mới cho lấy ra. Ông bà chỉ lấy được một lạng nữa, mua cái nhà tranh, sắm chiếc thuyền con đánh cá… Là vừa cạn.

Hiện nay, ông bà và hai vợ chồng Trí rất vất vả, chật vật kiếm sống hàng ngày. Bữa cơm, bữa cháo, cơm thường phải ăn độn. Ông bà cứ lắc đầu thiểu não than van cho cái ngu dại của mình. Cả hai ông bà cứ vật nài mời tôi ăn bữa cơm sáng hôm ấy. Tôi tỏ ý phải về Vĩnh Linh, vì đi chữa bệnh đã lâu ngày, ở nhà bố mẹ mong. Thực lòng vì thấy ông bà và Trí quá nghèo khổ, tôi không muốn ăn uống làm gì sợ tốn phí cho ông bà. Nhưng sau, tôi không thể từ chối được. Trí đã phải chạy xóm này, xóm kia mà bữa cơm cũng chỉ có một quả trứng vịt tráng, 3, 4 con cá diếc bé síu và bát rau muống luộc chấm mắm cáy.

Tôi rất xúc động biết ơn ông bà, nghèo mà đầy tình nghĩa. Trí muốn đưa tôi ra bến xe, tôi giúi vào tay Trí 20 đồng, nói:

– Tôi về Hà Nội, bà cô cho 50 đồng, tôi chẳng tiêu gì, vậy biếu Trí chút ít mua qua cho cháu.

Trí nhất định không nhận, tôi phải nằn nì hết sức:

– Vậy tôi gửi Trí giữ cho tôi, kẻo về tôi tiêu hết. Tháng sau tôi sẽ lại ra…

Mãi Trí mới nhận giữ hộ tôi. Trên đường về Hà Nội, đầu óc tôi thật căng thẳng rối mù. Tôi cứ lo Trí bị liên quan. Tôi có định đến nhà Trí đâu! Làm sao đây! Do sự áy náy bứt rứt về Trí, cộng với cảnh nằm trên nước sôi lửa bỏng. Không chạy đâu được nữa, đầu óc tôi càng thêm rã rời u uẩn. Về tới Hà Nội, trời đã gần tối. Tôi lại về nhà trọ Hàng Buôm. Rất buồn, lo và mệt, vì thế, sau khi ăn uống qua loa, tôi về đi nằm luôn. Đi nằm mà đâu có ngủ được. Bao nhiêu suy nghĩ vơi đầy. Biết thân mình sắp lao xuống vực thẳm của cuộc đời, mà không còn biết cách nào kìm hãm lại được, đành đứng nhìn. Phó mặc, để nó lăn dần vào chỗ chết, bằng con mắt tuyệt vọng não nề.

23. Phó Mặc…

Ưu sầu tràn ắp, tôi đi dần vào giấc ngủ chập chờn năm canh.

Sáng hôm sau, khi tôi bừng mắt dậy, mặt trời đã mọc. Những tia nắng bình minh rực rỡ xuyên qua cửa sổ nhà trọ như truyền sinh lực vào cho tôi.

Phải rồi, người trai, tấm thân nam nhi đâu được nằm đây mà sầu héo lo âu, phiền muộn. Sự âu sầu này, có giải quyết được những khó khăn sinh tử trước mắt không? Chắc chắn là không! Tôi bật dậy, tắm rửa, đi ăn sáng, rồi đi ra bờ hồ, bên đường Lý Thái Tổ, phía bên kia nhà Thủy Tạ.

Tôi đi xuôi mãi xuống đến những ki-ốt giải khát. Tôi mua một chai bia Trúc Bạch, loại này khá hơn bia Hà Nội, tuy vẫn nhạt phèo so với bia 33 của Sài Gòn.

Tìm một bàn sát mé hồ, một ly bia, một bao thuốc lá, tôi ngồi đăm chiêu nhìn ra hồ, chẳng cần để ý đến những cái “đuôi”. Thỉnh thoảng một cơn gió nhẹ từ giữa hồ thổi tới, đưa theo cái dìu dịu của ban mai mùa Hè, làm tinh thần tôi sảng khoái. Tôi ngồi cân nhắc, suy lý, tính toán.

Sớm hay muộn Hà Nội sẽ bắt, vậy khai báo như thế nào? Tôi nhìn lại toàn bộ sự việc, cái gì có thể che giấu, cái gì không thể che giấu. Điều gì phản gián Hà Nội đã biết và sẽ phải biết về tôi. Dù sau này, chúng có người nằm trong Cục tình báo Sài Gòn. Cứ loại điều này, bổ sung điều kia, dần dần tôi hình thành một nội dung như sau:

Tôi dẹp ngay “vỏ bọc 2 và 3”. Hai vỏ bọc này thật ấu trĩ, Cộng Sản không thể tin được. Nếu khai ra bằng đường biển và ngày thuyền sẽ ra đón tại điểm đổ bộ, Cộng Sản sẽ bắt tôi đến điểm hẹn, đánh tín hiệu để hải thuyền vào đón. Sẽ làm cho bao nhiêu chiến hữu khác bị rơi vào bàn tay đầy máu của kẻ thù, sẽ bao nhiêu gia đình nữa khổ đau mất cha, mất chồng, mất anh em. Thà chết, dứt khoát không thể làm thế được! Vậy, nếu bị bắt, tôi sẽ khai là đi đường bộ, do đó chỉ cần moi óc tìm ra những hình ảnh liên quan. Cũng may, tôi đã ra bờ sông Bến Hải, lại có nghiên cứu kỹ Quốc Lộ 1 từ Vĩnh Linh tới Hà Nội. Vậy, dựa vào đó khai. Để phòng hờ những di chứng sau này, tôi về nhà trọ, tôi phải tháo cả chiếc túi con dấu tài liệu tôi đã khâu bên trong quần đùi.

Dùng “vỏ bọc 4” là duy nhất. Theo dõi sư đoàn 308 phòng thủ thủ đô Hà Nội, do tướng Vương Thừa Vũ là Sư Trưởng. Do thi cử nhiều lần không đậu, lại chán chường xã hội miền Nam, vì thế, khi có người giới thiệu, tôi cứ đi. Dù trong lòng rất sợ, vì muốn có chút tiền để giúp đỡ cha mẹ già yếu, nên liều. Nghĩa là ở cái thế bắt buộc phải đi. Do đấy, khi tới Hà Nội, tôi chẳng làm gì cho chính quyền miền Nam. Nhớ cảnh cũ thời thơ ấu, nên chỉ đi loanh quanh khắp Hà Nội chơi. Tôi sẽ kể hết sự thực: ra tới Kỳ Anh gặp Phùng Văn Trí, v.v…về tới Hà Nội làm những gì, đi những đâu…đều khai hết, chỉ bỏ những chi tiết liên quan đến tài liệu “M”, “X”, và thư cha Hoàng Quỳnh. Dứt khoát là không hề biết có người theo dõi mình.

Lúc đó, tôi ngây thơ tính toán là mình cứ khai rằng chả làm cái gì và giữ đúng lời khai như vậy, tù bất quá 3, 4 năm. Khi được thả ra, nếu có điều kiện sẽ trốn về Nam.

Với đầu óc hãy còn ấu trĩ về Cộng Sản của một thanh niên 24 tuổi như vậy, nên tôi yên tâm hơn, và lại bắt đầu đi chơi, muốn bao giờ bắt thì bắt.

Ngay chiều hôm ấy, tôi đi xe điện lên Hồ Tây, hồ Trúc Bạch, thăm con đường Cổ Ngư.

Tôi xuống xe điện chỗ đầu Quan Thánh, vào chùa Quan Thánh xem. Những viên gạch cổ lát ở sân chùa, nhiều viên đã bể vỡ, cỏ rêu ở kẽ mọc tùm lum. Toàn bộ cái sân to, chỉ còn là mầu xanh rì của rêu cỏ với từng đống lá khô mục nát. Nơi đây, hẳn khi xưa đã in bao nhiêu vết chân của nhà sư Tuệ Chiếu, bây giờ đã về nơi cát bụi.

Tôi rời chùa, rẽ ra con đường Cổ Ngư (giờ gọi là đường Thanh Niên). Ngày xưa, nơi đây là chỗ hẹn hò của trai gái Hà Thành thanh lịch, cũng như khách nhàn du. Đông nhất là vào những buổi cuối tuần, với những hàng bánh tôm, thịt bò khô nổi tiếng Hồ Tây. Giờ đây, Cổ Ngư vắng tanh, trên đường, hai bên hồ gió lộng, thỉnh thoảng đôi ba chiếc xe đạp, hoặc một chiếc xe bò chậm chạp, lê theo bước chân của một bác dân nghèo đang gò lưng phía trước.

Tôi lững thững thả bước đi mãi, tai nghe tiếng bì bõm của sóng nước hồ Trúc Bạch bên phải và Hồ Tây bên trái vỗ vào bờ. Cũng vẫn hàng phượng vĩ đỏ ối lắc lư với tiếng ve sầu rả rích. Kia là chùa Trấn Võ. Tôi lại nhớ đến bà Huyện Thanh Quan, rồi Cao Bá Quát:

Trấn Quốc hành cung cỏ dãi dầu.

Chạnh lòng cố quốc nghĩ mà đau…

Lên quá tí nữa là “Petite Đồ Sơn” với bao nhiêu kỷ niệm thơ ngây của buổi thiếu thời. Xa nữa là Nghi Tàm, Quảng Bá, với những cây ổi quen thuộc ngày nào. Bây giờ ra sao, nơi quê hương của Thị Lộ mỹ miều? Cảnh Hồ Tây thật quyến rũ hồn du khách. Chẳng hiểu những cái “đuôi” của tôi có cảm nhận thấy vẻ đẹp của thiên nhiên, trên mảnh giang sơn cẩm tú của Tổ Quốc Việt Nam này không? Mặt Hồ Tây bao la trắng xóa một vùng, lúc này chỉ gợi lên trong tôi một nỗi lạc lõng chơ vơ:

“Mênh mông, không một chuyến đò ngang,

Lang thang, núi bạc mây chiều …”

Chiều đã xuống dần, mặt trời cũng đi ngủ. Một vài con cò trắng cất cánh bay về phương trời xa.

Tôi quay lại, trở về, lòng mang mang nặng trĩu.

Cứ như vậy, những ngày sau, tôi đi hết về phía này, lại về phía kia của Hà Nội. Cũng nhiều cảnh, nhiều tình huống tệ nạn xã hội xảy ra trên đường làng, đường phố. Tôi nghĩ rằng không cần kể dài dòng nữa. Tuy vậy, có một sự việc nhỏ đến lúc này vẫn còn hằn trong óc tôi.

Chiều ấy, tôi đi xe điện xuống vùng Văn Điển. Tôi đang thả mắt nhìn đồng quê hai bên đường, tầu điện đỗ lại một bến phụ, vài người khách lên xuống. Một bác nhà quê, quần áo nâu hai, ba miếng vá, đi chân đất, gánh một gánh củi cành. Bác vội vàng hấp tấp ôm hai bó củi lên tàu, vừa đẩy gọn vào góc, vừa hổn hển thở. Tàu chạy, anh bán vé từ phía đầu toa đi xuống, ngoắc tay ra hiệu cho bác đưa tiền lấy vé. Vì gần cuối đoạn đường rồi, nên chỉ phải trả 5 xu. Bác nhà quê ngước đôi mắt toét nhèm sợ sệt nhìn anh bán vé, chừng hơn 20 tuổi, hai tay bác vuốt hai túi áo:

– Xin anh cho em qua một đoạn đường, trời tối rồi, nặng quá, em cả người không còn một đồng xu nào!

Tên bán vé, quắc mắt sừng sộ:

– Xuống ngay!

Khi tàu đỗ ở một bến kế, tên bán vé dùng chân hất đẩy bó củi xuống đường. Bác nhà quê, riềm mắt đỏ choét, cố gò người kéo bó củi lại, miệng cứ nài nỉ:

“Lạy anh, anh thông cảm cho em!”.

Mọi người trên tàu cũng nhìn với con mắt ái ngại, nhưng họ vẫn đứng yên. Tôi thấy 5 xu quá bé nhỏ, chả lẽ tôi bảo, để tôi mua cho. Tôi vẫn im lặng, vì tôi đã có chủ định. Đến một bến tiếp, tàu đỗ, hai bên đường vắng vẻ, vẫn toàn ruộng lúa, thấy bác xuống, tôi cũng định xuống theo. Nhưng, rất nhanh, tôi đã kịp giữ lại, vì còn hai cái “đuôi” ở trên tàu, bởi vậy, tôi vất nhẹ một tờ giấy 5 đồng, tôi đã gấp nhỏ lại từ trước vào túi áo bác. Bác thoáng nhìn thấy, thì tàu đã chạy rồi. Tay cho vào túi, bác nhìn theo tàu với đôi mắt mở to, ngạc nhiên và xúc động, trong bóng mờ của buổi chiều tàn.

24. Lọt Vào Tay Địch …

Ngày hôm sau, rồi hai ngày hôm sau nữa, bữa đó là ngày Chủ Nhật…..Như thường lệ, tôi ra bến xe điện ở bờ hồ mua một ổ bánh mì và một tờ báo. Ăn xong, tôi thả bước về Hàng Trống, định sẽ ghé vào Nhà Thờ Lớn để xem lễ ngày Chủ Nhật. Khi gần đến hiệu phở ở góc đường Lý Quốc Sư, tôi đang đứng nhìn hai người xích lô cãi nhau vì tranh khách, mắt tôi thoáng thấy từ xa, hai tên cảnh sát đồng phục chỉnh tề đang đi lại, dáng mặt quen quen. Tim tôi chợt thót nhẹ. Phải rồi! Hai cái “đuôi” đã từng theo tôi, hôm tôi lên chùa Láng. Hôm nay, chúng ăn mặc đồng phục cảnh sát là có vấn đề rồi. Tôi vẫn vờ nhìn chăm chú hai bác xích lô.

Đúng như tôi dự đoán, khi hai tên đến gần, một tên tiến đến trước mặt tôi:

– Anh vui lòng cho tôi xem giấy tờ!

Tôi vờ ngạc nhiên:

– Thưa các anh, hỏi giấy gì ạ?

Vẫn với giọng nhã nhặn:

– Anh có giấy gì thì đưa giấy đó!

Không nói một lời, tôi rút ví túi quần sau, lấy giấy thông hành đưa ra. Y cầm xem qua rồi nói:

– Thế này không phải, xin mời anh về đồn.

Quả là lịch sự! Tôi đã thấy nhiều lần cảnh sát hỏi giấy người khác ở trên đường phố, nạt nộ:

”Anh cho xem giấy tờ!”, hoặc “còn giấy gì nữa?”.

Còn ở đây, có thể y không phải một cảnh sát chuyên nghiệp, phần khác, tôi là người của chế độ khác mà, nhất lại là tiếp xúc buổi đầu. Hai tên chỉ đường tôi đi trước, chúng kèm sát phía sau. Một số đồng bào đang đi trên đường phố, đứng lại ngơ ngác nhìn theo.

Riêng mấy cái đuôi gần đó cũng nhìn theo, nét mặt chúng lộ vẻ nửa như vui mừng hết trách nhiệm, từ nay khỏi phải theo anh chàng lẩm cẩm này nữa, nửa như tò mò nhìn một con mồi đã vào cạm.

Hai tên cảnh sát giải tôi về phía Ngõ Huyện, thoáng chỗ góc là chiếc xe Citroen đen, tôi đã thấy trên đường đi Vinh, đang đậu. Khi tới bên cạnh xe, nhìn vào trong, tôi thấy ngay băng trên, ngồi cạnh tài xế là một lão mặc chiếc áo “vét” xám đeo kính râm, chừng 40 tuổi. Một tên cảnh sát mở cửa sau chui vào, tên ngoài ra hiệu tay bảo tôi lên. Như vậy là tôi ngồi giữa hai cảnh sát. Xe chạy.

Tôi hiểu rằng, phản gián Hà Nội đã phải mất quá nhiều công lao, mà chả thấy tôi làm cái quái gì cả. Cứ lêu bêu hết ngày này qua ngày khác, cho nên quyết định vồ. Tôi cũng chẳng có gì ngạc nhiên lắm. Từ lâu, tôi vẫn biết sẽ có một ngày như thế này. Dù vậy, theo đúng như những dự trù khi bị bắt, tôi vẫn phải vờ ngạc nhiên. Trên đường xe chạy, tôi ngơ ngác hỏi:

– Các ông đưa tôi đi đâu đây? Tôi có giấy tờ đầy đủ mà?

Tên mặc áo “vét” ngồi trên, quay xuống giọng cộc lốc:

– Cứ đi, sẽ biết!

Bây giờ thì không lịch sự nữa!

Xe đi vòng vèo qua nhiều phố, rẽ vào một phố nhỏ vắng, với cái biển tên đường phố: “Phố Hỏa Lò”. Chéo sang bên là bức tường đá cao sừng sững 7, 8 mét, bên trên cắm mảnh chai và giâng giây điện trần chằng chịt.

Từ ngày còn bé hồi xưa ở Hà Nội, và ngay cả lần này, từ khi ra đây, tôi chưa từng đi đến phố Hỏa Lò. Vì vậy, tôi chưa thấy Hỏa Lò Hà Nội bao giờ.

Xe đỗ lại trước một chiếc cổng to đồ sộ đóng kín mít, với hai cánh cửa to tuớng như cánh cửa thành ngày xưa. Từ một trong hai cái cổng nhỏ ở hai bên, một tên bộ đội bồng súng chạy ra. Sau khi xem miếng giấy do tên áo “vét” đưa, y đứng nghiêm chào theo lối quân sự, rồi chạy vội vào phía trong. Cửa lớn từ từ mở ra và chiếc Citroen chạy tuột vào. Hai tên cảnh sát giong tôi qua một cái sân rộng có trồng hoa, bên trên là một giàn nho lá xanh rờn.

Chúng dẫn tôi vào một cái buồng trống trơn, chỉ có một cái bàn với một cái ghế, trong đó đã có 4 tên trông rất hung thần. Hai phút sau, tên mặc áo “vét” đi vào, đặt cặp xuống bàn rồi lấy ra một tờ giấy, y ra hiệu tôi ngồi xuống ghế. Y đọc: “Lệnh giam giữ, Bộ Công An ra lệnh giam và xét hỏi tên Lê Viết Hùng, tuổi…quê quán…theo giấy thông hành giả…”. Một trong 4 tên hung thần giọng cộc lốc:

– Bỏ hết đồ và cởi quần áo ra!

Tôi vờ phản đối:

– Các ông bắt tôi về tội gì?

Tên mặc áo “vét” cau mặt quát:

– Đừng vờ vịt, hãy chấp hành lệnh!

Bốn tên hung thần như được lệnh, chúng xông đến, thằng thì lục túi dết, thằng thì cởi quần áo tôi, Tên mặc áo “vét” chỉ mặt tôi:

– Biết điều thì sống, không biết điều thì càng chết sớm!

Vì đã có chủ định, nên tôi chả nói gì nữa. Thằng áo “vét” ngồi bàn ghi biên bản. Trong một căn phòng nhỏ mà chúng bật đến 4 ngọn đèn sáng chói. Chúng đánh giá tôi quá cao, như là một điệp viên có hạng không bằng. Chúng dùng kính “lúp” soi hết vải quần áo của tôi từng chiếc khuy áo, khuy quần, đường chỉ…Một tên quát:

– Có máy ảnh không?

Tôi lơ ngơ:

– Máy ảnh gì?

Chúng nó tưởng tôi có máy ảnh nhỏ xíu dấu trong khuy áo, khuy quần, chúng khám hết, tên áo “vét” ghi từng thứ một. Còn cái quần đùi, chúng cũng bắt tôi lột. Tôi thấy ngượng, không muốn cho chúng cởi. Một thằng chỉ vào mặt tôi, quát:

– Cởi ra ngay, muốn ăn đòn hả?

Chúng nó xúm lại tôi, soi lỗ tai, bới tóc, lỗ mũi, lộn mi mắt, bắt há miệng, xem từng cái răng. Thật may, tôi đã phòng hờ “chì mật”. Từ khi ở Vinh ra lần thứ nhì, tôi đã mua một bó tăm tre. Tôi bỏ “chì mật” vào giữa, chỉ buộc bằng một sợi chỉ con, rất hớ hênh, nhưng vô tình rất khó thấy, mà có thấy thì chỉ thấy đó là một sợi ny lông. Chúng chỉ có thể nghĩ là người buộc tăm để vương vào, và chúng sẽ bỏ qua. Bó tăm chỉ chừng 20 cái, bé bằng hai ngón tay, nên chúng chẳng tháo ra làm gì.

Mặt tên nào cũng có vẻ tức tối. Chúng khám xét kỹ lưỡng, cả đôi dép Thái Lan, đồng hồ, bút máy, v.v…Nghĩa là người tôi không còn một cái gì là chúng bỏ qua, mà cũng không thấy gì cả. Cuối cùng, chúng bắt tôi đứng thẳng chân, cúi chống hai tay xuống nền nhà, một thằng vạch lỗ đít tôi, một thằng khác đưa một que sắt thọc vào. Đến đây, tôi phải trình bày một chi tiết hơi…thô tục một chút. Từ khi tôi bị chúng phát hiện, tôi ăn không ngon, ngủ không yên, tinh thần ngày đêm căng thẳng, như một con cá nằm trên thớt chờ ngày làm thịt. Vỉ thế, phân của tôi thường táo bón từng cục như phân dê, ba bốn bữa tôi mới đi ngoài một lần.

Do đó, khi thọc que vào thấy lục cục, mặt thằng thọc que tươi hẳn lên, làm cho mắt những tên kia cũng sáng lên long lanh. Chắc chúng nghĩ, đã khám hết mọi chỗ không có gì, mày giấu đây, làm sao qua mắt được chúng ông. Khi chúng kéo que sắt ra, những cục phân rơi lủng củng xuống nền nhà. Tôi rất tiếc, vì đang phải chống tay cúi đầu, nên không nhìn thấy nét mặt của chúng lúc này ra sao? Tôi chỉ thấy tên cầm que sắt vất mạnh vào góc nhà đầy vẻ bực tức, rồi hình như giận lây sang cả tôi, y phát mạnh một cái vào mông tôi rát ràn rạt, quát:

– Đứng dậy!

Hơn hai tiếng đồng hồ khám xét lục lọi, chả có cóc khô gì. Chúng vất lại cho tôi một cái lược sừng nhỏ, chiếc quần lót và chiếc khăn mặt. Tôi chỉ cái đồng hồ của tôi để trên bàn:

– Trả lại tôi cái đồng hồ!

Tên áo “vét” đập tay xuống bàn, đứng vọt dậy:

– Đồng hồ nào của anh! Đó là tang vật hoạt động của một tên gián điệp!

Tôi vờ giật mình:

– Sao? Tôi là gián điệp?

Y quát:

– Câm miệng lại!

Chúng vất cho tôi một bộ quần áo sọc xanh trắng:

– Mặc vào!

“Phải làm sao để lấy lại được gói tăm?” Tôi thầm nghĩ: Để đánh lạc hướng của chúng, tôi vờ xuống nước năn nỉ:

– Tôi có răng sâu, đau lắm, các ông cho bàn chải và hộp thuốc đánh răng!

Chúng ném cho tôi cái bàn chải, còn hộp thuốc đánh răng, chúng bóp hết rồi xé ra khám, dù bàn chải và thuốc tôi mua ở bờ hồ. Nhưng, đó chỉ là phụ, tôi vờ cho ngón tay vào hàm răng phía trong:

– Tôi có răng sâu, ăn uống xong, phải đánh răng hoặc xỉa răng. Các ông không cho tôi thuốc đánh răng, đành phải xỉa bằng tăm vậy. Các ông cho tôi xin gói tăm?

Một thằng cầm gói tăm lên, rồi ném cho tôi. Thế là ổn rồi!

Khoảng 11 giờ trưa, một tên mặc quần áo cảnh sát có đeo hàm trung sĩ, nhưng không đội mũ, khoảng 35 tuổi, y vào buồng ra hiệu cho tôi đi theo y. Tôi đi trước, y đi sau ngoắc ngón tay chỉ đường cho tôi.

Qua bốn, năm lần cửa sắt. Khi đi qua một cái sân nhỏ, dưới gốc cây bàng, tôi thấy một anh cởi trần trùng trục, đang cúi gầm mặt xuống như mang nặng một nỗi niềm suy tư. Khi tên cảnh sát giong tôi đi qua, anh ngửng lên nhìn, anh bị chột mắt bên trái. Tôi chợt nhớ ra những ngày lang thang trên đường phố Hà Nội, trong một hiệu sách, tôi có mở xem cuốn C-47, trong đó có hình anh, chột một mắt trái, Trung Úy Phi Công Phan Thanh Vân.

Anh nhìn tôi, tôi nhìn anh. Tôi biết anh, nhưng anh không biết tôi. Anh sẽ tưởng tôi cũng như trăm ngàn người tù khác ở miền Bắc mới bị bắt vào.

Tên cảnh sát dẫn tôi mãi vào một hành lang nhỏ tối, sâu hun hút. Qua một cửa sắt nữa, tôi nhìn thấy một dẫy buồng, mỗi cửa buồng mang một số. Tên cảnh sát giao tôi cho cũng một tên mặc đồ vàng, cũng đeo lon trung sĩ. Tên này nét mặt rất ác ôn, cái mũi đỏ như quả cà chua con ở giữa mặt. Chúng nói nhỏ gì với nhau tôi không nghe rõ. Tên mũi cà chua mặt lầm lì, vẫy tay bảo tôi theo. Y rút chùm chìa khóa to tướng kêu xeng xẻng ở dây lưng, lấy một chìa “mở buồng số 6”.

Từ nhỏ đến giờ, tôi chưa hề trông thấy nhà tù lần nào cả, vì thế, từ khi bước vào cổng Hỏa Lò, tôi nhìn cái gì cũng lạ, từ những cánh cửa sắt to, những chiếc khóa lớn, vắng lặng, tịch mịch, âm u…

Khi tên mũi cà chua mở cửa buồng, tôi nhìn vào thấy tối lờ mờ. Căn buồng rất hẹp, mỗi bề chỉ chừng 2 mét. Hai bên sát tường, mỗi bên có một sàn xi măng, không có chiếu, mỗi sân rộng từ 65 đến 70 phân, cao hơn mặt nền chừng 60 phân, dưới gầm trống trơn, đen xì. Giữa là một lối đi khoảng 60, 70 phân. Trên mỗi sàn có một cái cùm sắt to tổ bố, gắn liền xuống sàn.

Tôi đang mở to mắt lạ lùng nhìn, chưa bước vào, đột nhiên, tên mũi cà chua đập mạnh vào gáy tôi, rồi y hẩy tôi vào:

– Đi vào! Lững lờ cái gì?

Là một thanh niên sống dưới chế độ Cộng Hòa, Dân Chủ, tôi đã được hấp thụ nhiều khuynh hướng tư tưởng tự do, mà giai đoạn ấy ở miền Nam, chủ nghĩa Nhân Vị của tổng thống Ngô Đình Diệm đang được đề cao, phát triển. Mang một ý niệm, có tội thì xử tù hay bắn, chứ nhân phẩm, tự do cá nhân không được xâm phạm. Vì vậy, mắt tôi nóng lên. Tôi lùi lại như để lấy thế, mắt nẩy lửa nhìn y như muốn ăn tươi nuốt sống, tôi chỉ vào mặt tên mũi cà chua:

– Tôi biết hiến pháp nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa là không đánh người. Do đó, nếu ông đánh tôi, là tôi đánh lại!

Nhìn thái độ quyết tử của tôi lúc đó, y cũng chờn, vì thế, y xuống nước:

– Thì tôi bảo anh vào chứ làm sao!

Rồi y ra phía ngoài, rút cái chốt cùm. Trở vào, y nhấc nửa phần trên cái cùm cho há ra:

– Anh bỏ chân vào!

Tôi ngồi ghệ mông vào chiếc sàn xi măng, từ từ tôi nhấc một chân đặt vào một lỗ cùm… Y lừ lừ nói tiếp:

– Bỏ cả chân kia nữa!

Tôi phải xoay người lại, rồi cũng từ từ chậm chạp bỏ một chân nữa. Y lấy tay xập mạnh cái cùm xuống đánh “sầm” một cái. Sắt trên và sắt dưới dập mạng vào nhau, bật ra tiếng chát chúa. Y quay ra ngoài, đút chốt cùm, đóng sầm cửa lại.

Chừng 10 phút sau bỗng cửa lại mở. Lần này y vào cầm trong tay một chiếc gậy gỗ, dài độ 50 phân, to bằng cán xẻng. Y trợn to cặp mắt trắng dã, quả cà chua trước mặt y càng đỏ loét. Phía sau y, bên ngoài cửa, thấp thoáng còn thấy một tên nữa. Y vào là quật tôi ngay, miệng luôn luôn chửi:

– Đ. M. mày! Ngang bướng này!

– Mày biệt kích, gián điệp này!

– Đ. M. chúng mày, ra phá hoại miền Bắc này!…

Nó quật tôi túi bụi, tôi phải giơ tay đỡ. Người tôi sôi lên sùng sục, tôi gầm lên:

– Đ. M. chúng mày hèn hạ! Cùm tao vào rồi mới đánh!

– Chúng mày là lũ dã man!…

Máu ở tay và chân tôi đã chảy. Tôi không còn biết đau nữa. Nó quật tôi hàng chục cái lia lịa, rồi ra. Trước khi ra, nó chỉ cái gậy vào mặt tôi:

– Cho con chết, con ạ!

Rồi đóng cửa, cài then. Tay tôi sưng tím, nhiều chỗ nổi lên một cục, vai và lưng đau ê ẩm. Máu tay nhiều chỗ chảy đỏ cả bộ quần áo sọc trắng. Chân tôi, lúc vặn vẹo đỡ gậy nó vụt, bị cạnh của chiếc cùm sắc cứa làm máu chảy nhiều chỗ.

Lúc này, tôi uất hận quá, không thiết sống nữa. Như thế này rồi cũng chết thôi. Phải chịu bao nhiêu đau đớn nữa rồi cũng chết. Vậy thì chết trước, khỏi khổ.

Qua sách báo của Cộng Sản, qua các cuộc phỏng vấn những người vượt tuyến ở Gia Định trước đây, tôi biết là: Lãnh tụ của Cộng Sản thì chúng coi như thần thánh, ai xúc phạm, chúng sẽ giết ngay. Nghĩ như vậy, nhất là nhìn máu chảy tứ tung, chỗ nào cũng máu, uất hận ngập trời, tôi gầm lên:

– Đ. M. thằng Hồ Chí Minh!

– Đả đảo thằng Hồ Chí Minh! Chúng mày làm cả dân tộc lầm than, đau thuơng, cùng khổ!

Tôi cứ thế gào lên, mục đích mong chúng mang súng vào cho mấy phát. Tôi chẳng thiết sống nữa! Một đứa mở chiếc cửa sổ nhỏ tí ở giữa cửa lớn:

– Im ngay cái mồm, không thì chết đấy con!

Tôi chẳng trông rõ ai cả, tôi hét lên:

– Đả đảo thằng Hồ Chí Minh!

Một lúc sau, cửa lớn mở, ba thằng bước vào, có cả thằng mũi cà chua đã đánh tôi khi nãy. Chúng mang vào một cái khung sắt, loại sắt tròn, đường kính độ 1 phân rưỡi. Chẳng nói năng gì, một thằng bẻ quặt hai tay tôi ra sau, khóa lại bằng chiếc khóa số 8. Hai thằng lắp cái khung sắt vào đầu và cằm tôi, rồi chúng vặn ốc “vít” ở dưới cằm.

Hai hàm răng của tôi bị cái “cùm mồm” xiết chặt lại, một miếng sắt mỏng 3×6 phân, 2 bên có lò xo ép chặt mồm tôi lại. Nói và chửi bây giờ không thành tiếng nữa, chỉ là những âm thanh ú ớ, xìn xịt. Trước khi ra, chúng còn đe:

– Con sẽ chết, con ơi!

Sau khi cửa đóng, chỗ máu ở chân tôi vẩn chảy. Bây giờ tôi không nằm được, cũng không xoay trở gì được nữa. Hai tay bị khóa đàng sau, hai chân trong cùm sát xuống sàn, mấy chỗ sưng ở tay bắt đầu thấy ngứa. Bây giờ, tôi cảm thấy ngứa khắp cả người. Thái dương giật giật liên hồi, người tôi nóng ran, mắt hoa lên quay cuồng.

Chừng 4 tiếng đồng hồ sau, tự nhiên người tôi cứ đảo lộn, quay cuồng như chong chóng. Chỉ còn một thế duy nhất là gục dựa đầu vào tường, mắt nhắm nghiền. Một luồng hơi nóng như lửa chạy từ bụng lên ngực, rồi lên đầu, rồi tôi không biết gì nữa.

Khi tôi tỉnh lại, trời đã sáng. Như vậy, tôi đã ngất xỉu qua đêm. Tôi thấy tay chân tê dại và nặng như chì, cả người tôi đau đớn, nhức mỏi rã rời. Tôi chỉ còn hai cái vai ngút ngắc, rung lên vì ngứa. Mãi lâu lắm, thấy chiếc cửa sổ nhỏ mở ra, rồi một giọng hỏi:

– Mày còn già mồm nữa không?

Tôi mở mắt nhìn, nhưng vẫn ngồi dựa tường bất động. Bây giờ còn chưởi làm sao được nữa! Thấy tôi vẫn ngồi yên, cửa sổ đóng lại. Người tôi lúc đó thật là kinh khủng. Cả chân tay tôi cứ giật giật như bị kinh phong. Chết không chết được. Nếu ai giết tôi lúc này là họ gia ân cho tôi. Bây giờ ngồi viết lại, nghĩ đến tình cảnh lúc ấy, cón thấy kinh hoàng và nỗi hận thù vẫn còn dâng cao như núi.

Rồi, tôi xỉu đi lần nữa. Lúc xỉu đi là lúc hạnh phúc. Nhưng tỉnh lại, thì lại kinh khủng quá! Tôi không ngờ chúng nó lại có cái trò ác độc thế này. Tôi chửi chúng để cầu mong chúng cho vài phát đạn. Nếu chúng bắn tôi chết, hòa cả làng. Tôi chết rồi, biết quái gì nữa.

Không biết lúc này là mấy giờ rồi? Ôi, loài người thật dã man! Bây giờ, có muốn cắn lưỡi cũng không làm sao cắn được.

Mãi một lúc lâu lắm, cửa nhỏ lại xịch mở. Vẫn cái giọng lúc sáng:

– Mày còn chửi nữa không?

Tôi thấy rằng thôi, hãy chịu chúng nó lúc này, sau sẽ tính, chúng nó không giết mà cứ cùm kiểu này, chịu sao nổi. Vì vậy, tôi nhìn ra cửa sổ ngút ngắc cái đầu. Chúng nó lại đóng cửa sổ lại. Tôi tưởng mình chịu thua, chịu xuống xề, chúng nó sẽ tha cùm tay, cùm mồm ngay. Nhưng bặt đi, mãi tới gần chiều mới thấy cửa lớn mở và hai tên đi vào. Tôi không thấy tên mũi cà chua. Chúng nó đến bên cạnh tôi, một thằng đập tay vào vai tôi giọng giễu cợt:

– Thế nào, mày còn cương nữa hay biết hãi rồi?

Tôi vẫn ngúc ngắc cái đầu. Chúng vừa tháo cùm mồm, cùm tay tôi, vừa nói:

– Mày đã vào đây mà không biết điều thì chỉ có một con đường là chết khổ. Bao nhiêu thằng ba đầu, sáu tai, mọc bao nhiêu cái sừng chúng tao cũng vặn hết. Từ nay phải biết điều, nghe không?

Tôi chẳng nói năng gì cả, hai tay như xuội ra, không nhấc lên được nữa. Tôi mệt rã rượi như người không xương. Người tôi lại thấy ngây ngất sốt, tôi nằm phịch xuống sàn. Chúng nó ra ngoài, tôi thoáng thấy chúng đưa vào một cái gì, có lẽ là cơm, để lên phía đầu tôi:

– Cơm đấy, ăn đi! Chốc nữa tao lại lấy bát.

Đêm hôm đó, một cơn sốt lên dữ dội. Tôi mê man rên rỉ suốt đêm. Cả người tôi đau như giần. Cứ thiếp đi một lúc, rồi lại tỉnh. Miệng lảm nhảm chỉ kêu “mẹ ơi!”.

Tôi cầu xin Chúa, xin Trời cho tôi chết đi. Tôi vừa sốt, vừa đau. Hai chân tôi trong cùm tê dại, đau buốt. Bát cơm gạo hẩm và đôi đũa vào từ lúc chúng tháo cùm mồm tôi ra vẫn để lỏng chỏng trên sàn, phía trên đầu tôi. Tôi không muốn ăn uống gì cả, dù đã hai ngày, trừ lúc sáng sớm hôm qua, tôi ăn một ổ bánh mì nhỏ ở bờ hồ khi chưa bị bắt. Miệng tôi đắng và khô, không nhổ ra nước bọt.

Sáng hôm sau là thứ Ba. Tôi nằm nghe loáng thoáng có nhiều tiếng phụ nữ cười nói và tiếng nước chảy, như đang có người tắm giặt ở đàng sau tường phía đầu tôi. Nghe những lời qua tiếng lại, tôi biết họ cũng là tù, và ngay sau buồng tôi là bể nước họ giặt giũ, tắm rửa.

Cửa sổ nhỏ bỗng mở, tôi nhìn ra chẳng rõ ai. Rồi nghe lẻng xẻng tiếng chìa khóa mở cửa buồng. Một ông chừng 60 tuổi, đầu đã bạc, mặc thường phục, đeo kính trắng bước vào buồng, theo sau có mấy người nữa. Ông hỏi, giọng miền Nam:

– Anh không ăn cơm à?

Tôi lắc đầu:

– Tôi sốt.

Y quay lại nói gì với mấy tên phía sau. Tôi thấy chốt cùm kéo ra, một tên nhìn tôi:

– Anh bỏ chân ra!

Tôi ngồi dậy, mỏi mệt nhấc cái nửa cùm phía trên, rồi chậm chạp nhấc hai chân ra. Máu chảy ra mặt dưới cùm và ống quần tôi đã đen lại. Ông già đeo kính trắng có vẻ khuyên răn:

– Anh đã vào đây, đừng bướng bĩnh. Phải ngoan ngoãn biết điều, lợi cho anh. Nếu không, chỉ thiệt thân.

Một lúc sau, một người ném vào chỗ tôi một bộ quần áo nữa, cũng sọc, nhưng đã cũ:

– Cho anh thêm bộ này. Thay bộ quần áo đó ra, giặt đi.

Chúng nhìn thấy quần và áo tôi đầy máu đen. Ông già và mấy người đi ra. Tôi chẳng biết ông già làm gì, có vẻ tử tế. Một lúc sau, cửa lại mở, một tên áo vàng chừng độ 40 tuổi, đeo lon hạ sĩ, vào hỏi tôi:

– Tên anh là gì?

Tôi nhìn lão:

– Lê Viết Hùng.

– Tôi hỏi tên thật của anh ở Sài Gòn cơ?

Tôi đáp:

– Đặng Chí Bình.

Lão nghiêm giọng:

– Tôi là cán bộ coi xà lim này. Vậy từ nay anh phải nghiêm chỉnh chấp hành mọi nội quy ở đây. Không được la ó, ca hát. Không được quan hệ, nói chuyện với buồng bên cạnh. Không được mang bất cứ loại kim khí nào vào trong buồng. Mỗi buổi sáng mang bô phân, nước giải của mình vào nhà tắm, đổ vào lổ xí, tráng nước trong 5 phút. Nếu bị cùm kỷ luật, một tuần chỉ mở cùm cho đổ bô một lần vào sáng thứ sáu. Một tuần, tắm giặt hai lần vào thứ Hai và thứ Sáu, mỗi lần không quá 15 phút. Nếu anh vi phạm, tùy theo mức độ, sẽ bị kỷ luật cùm một chân, hoặc cùm hai chân, hoặc đưa đi “cát xô”.

Tôi ngồi mệt quá như xỉu đi. Tôi dựa lưng vào tường; mặc cho y nói. Một lúc, y vừa nói vừa đi ra:

– Tôi sẽ gọi y tá vào cho thuốc.

Rồi y đóng cửa lại. Tôi nghe tiếng y mở cửa buồng bên cạnh, một người ra, chắc để đổ phân, 5 phút sau vào, tiếng đóng cửa. Lại mở buồng khác, thấy tiếng chạy lịch kịch, rồi nghe máy nước chảy rào rào, rồi tiếng chân chạy trở về buồng. Sáu, bẩy lần như vậy. Lại thấy mở cửa buồng tôi. Tiếng tên cán bộ xà lim:

– Ra đổ phân!

Tôi tụt xuống sàn, cúi nhìn vào gầm sàn, thấy cái bô tôn có nắp gỗ đậy. Từ tối qua đến giờ, tôi có ỉa đái gì đâu, nên cứ đứng ngơ ngác. Y thò cổ vào:

– Sao không ra đổ thùng?

Tôi trả lời:

– Tôi chưa…!

Y đóng cửa xầm một cái, cài then sắt bên ngoài. Một lúc sau, cửa lại mở. Một bà y tá, mặc áo “bờ lu” trắng ôm cái khay thuốc đi vào. Bà ta chừng 28, 30 tuổi, sau này, tôi được biết tên là Dậu.

Bà ta xem các vết thuơng ở chân, tay, vai lưng tôi cho tôi nửa hộp dầu cao “Sao Vàng”, bảo xoa chỗ sưng. Chấm thuốc đỏ vào mấy chỗ chảy máu. Tôi đang sốt, nên tôi nói:

– Đêm qua tôi bị sốt và bây giờ cũng bị.

Bà cho tôi hai viên thuốc trắng, bảo uống. Khi bà y tá ra, tên cán bộ xà lim lại vào:

– Anh mang bát cơm kia ra. Cầm cả cái gáo ra lấy cơm, lấy nước.

Khi tôi cầm bát cơm ra, chân tôi đau quá đi khập khiễng. Y bảo tôi để bát cơm cũ xuống đất, lấy gáo lại thùng múc một gáo nước, rồi cầm bát cơm mới đi vào. Tôi nhìn trên bệ tường có 8, 9 bát cơm, tôi cầm một bát và đi vào. Y đóng cửa lại và nói:

– Ăn nhanh, 15 phút sẽ trả bát.

Tôi đói, từ hôm qua tôi không hề ăn uống gì, nhưng và miếng cơm vào mồm nhai, tôi không nuốt nổi. Mồm đắng hay cơm đắng? Nhưng nếu không ăn, chỉ có chết, nghĩ lại cố gắng nhai và nuốt. Tôi vừa nhai vừa nhìn bát cơm. Cơm thuộc loại gạo hẩm, nhưng không có độn, còn tốt hơn ở hàng cơm ngoài phố.

Cơm được đựng trong một chiếc bát to, đường kính miệng bát chừng 17 phân, cao chừng 7 phân, bằng chất gì như nhôm, màu xam xám, rất cứng (có thể là nhôm pha antimoan), hình đít bằng. Lượng cơm bằng chừng hai bát cơm nhỏ gia đình thường dùng. Một bát nhỏ như vậy nữa, cùng loại hợp kim và hình thể như chiếc bát to, đường kính khoảng 10 phân, cao 5 phân, thường thường đựng rau muống già nấu muối, đen xì. Bát canh nhỏ để chồng lên bát cơm.

Vì thế khi mở cửa ra, tù tay cầm một gáo dừa, đến thùng nước, múc một gáo nước mầu đen đen (sau này tôi hiểu là gạo rang cho cháy đen; một nắm nấu cho cả mấy trăm người uống), rồi đến cầm một bát một bát cơm đi vào. Cán bộ ở đây gọi là quản giáo, sau khi đóng cửa cài then phía ngoài, lại tiếp tục mở buồng khác. Chừng 10 hay 15 phút sau, quản giáo lại đi mở từng buồng, để tù đưa bát ra chỗ cũ. Múc thêm gáo nước nữa. Cơm nước nấu ở khu nhà bếp, cũng do tù được tuyển chọn đảm trách, hầu hết là tù hình sự, hoặc là cán bộ can tội tham ô hủ hóa. Tôi cố ăn cũng chỉ được khoảng nửa bát cơm, và húp tí nước rau nấu.

Khi quản giáo mở cửa, tôi đưa bát ra, y chỉ:

– Để chỗ cũ!

Tôi không biết nên để cả đũa ở đấy. Y bảo tôi phải đưa lại chỗ “suốt cùm” để. Tôi liếc nhìn buồng bên cạnh, trước mỗi cửa buồng tôi thấy một đôi đũa treo lủng lẳng ở chỗ tay suốt cùm. Tôi không có dây, nên gác đại đũa lên trên cái suốt.

Khi vào buồng, dù người còn đau êm ẩm, chân vẫn còn đi tập tễnh, nhưng tôi vẫn thấy thoải mái hơn nhiều. Bây giờ tôi mới để ý kỹ cái cùm:

Cùm là hai miếng sắt, mỗi miếng dầy 2 phân rưỡi, bản rộng 8 phân. Nửa dưới, nằm gắn liền với một bờ xi măng sát xuống sàn. Nửa trên, nối với dưới bằng một khâu bản lề, làm bằng chính hai miếng sắt ấy. Phía ngoài cùng, trông như cái hình mỏ vịt, được đục một lỗ dài để xập vào một cái khuy, làm bằng loại sắt vuông khoảng 1 phân rưỡi. Một thanh suốt chốt cùm bằng miếng sắt rộng 5 phân, dầy 1 phân. Từ phía ngoài tường thọc vào cái khuy sắt hình vuông kia là cứng ngắc, bất khả nhúc nhắc, trừ phi bên ngoài cò người rút chốt cùm. Đuôi chốt cùm lại có có chốt, rồi lại một cái khóa nữa.

Buồng xà lim thường có hai sàn xi măng, cửa ở giữa. Trần xà lim cao 4 mét. Mãi tít gần sát trần, có một cái cửa sổ nhỏ, kích thước khoảng 60×25 phân. Có 5 chấn song sắt, đường kính 2 phân rưỡi, có lưới sắt che. Vì thế, ngay ban ngày, trong buồng chỉ lờ mờ, nếu không mở cửa lớn.

Cửa xà lim bằng gỗ lim, dầy 4 phân có nẹp đai sắt dầy. Giữa cánh cửa, chỗ ngang tầm mắt người đứng, có một cửa sổ nhỏ rộng 20 phân, cao 15 phân, có 6 song sắt con loại 1 phân rưỡi. Như thế, chỉ đút lọt một ngón tay. Bên ngoài có một miếng sắt mỏng mở ra, đóng vào che kín, có chốt. Tường dầy 50 phân.

Đây là công trình của thực dân Pháp xây. Bây giờ Cộng Sản dùng để cùm kẹp, giam giữ những người chống lại chúng.

23. Phó Mặc…

Ưu sầu tràn ắp, tôi đi dần vào giấc ngủ chập chờn năm canh.

Sáng hôm sau, khi tôi bừng mắt dậy, mặt trời đã mọc. Những tia nắng bình minh rực rỡ xuyên qua cửa sổ nhà trọ như truyền sinh lực vào cho tôi.

Phải rồi, người trai, tấm thân nam nhi đâu được nằm đây mà sầu héo lo âu, phiền muộn. Sự âu sầu này, có giải quyết được những khó khăn sinh tử trước mắt không? Chắc chắn là không! Tôi bật dậy, tắm rửa, đi ăn sáng, rồi đi ra bờ hồ, bên đường Lý Thái Tổ, phía bên kia nhà Thủy Tạ.

Tôi đi xuôi mãi xuống đến những ki-ốt giải khát. Tôi mua một chai bia Trúc Bạch, loại này khá hơn bia Hà Nội, tuy vẫn nhạt phèo so với bia 33 của Sài Gòn.

Tìm một bàn sát mé hồ, một ly bia, một bao thuốc lá, tôi ngồi đăm chiêu nhìn ra hồ, chẳng cần để ý đến những cái “đuôi”. Thỉnh thoảng một cơn gió nhẹ từ giữa hồ thổi tới, đưa theo cái dìu dịu của ban mai mùa Hè, làm tinh thần tôi sảng khoái. Tôi ngồi cân nhắc, suy lý, tính toán.

Sớm hay muộn Hà Nội sẽ bắt, vậy khai báo như thế nào? Tôi nhìn lại toàn bộ sự việc, cái gì có thể che giấu, cái gì không thể che giấu. Điều gì phản gián Hà Nội đã biết và sẽ phải biết về tôi. Dù sau này, chúng có người nằm trong Cục tình báo Sài Gòn. Cứ loại điều này, bổ sung điều kia, dần dần tôi hình thành một nội dung như sau:

Tôi dẹp ngay “vỏ bọc 2 và 3”. Hai vỏ bọc này thật ấu trĩ, Cộng Sản không thể tin được. Nếu khai ra bằng đường biển và ngày thuyền sẽ ra đón tại điểm đổ bộ, Cộng Sản sẽ bắt tôi đến điểm hẹn, đánh tín hiệu để hải thuyền vào đón. Sẽ làm cho bao nhiêu chiến hữu khác bị rơi vào bàn tay đầy máu của kẻ thù, sẽ bao nhiêu gia đình nữa khổ đau mất cha, mất chồng, mất anh em. Thà chết, dứt khoát không thể làm thế được! Vậy, nếu bị bắt, tôi sẽ khai là đi đường bộ, do đó chỉ cần moi óc tìm ra những hình ảnh liên quan. Cũng may, tôi đã ra bờ sông Bến Hải, lại có nghiên cứu kỹ Quốc Lộ 1 từ Vĩnh Linh tới Hà Nội. Vậy, dựa vào đó khai. Để phòng hờ những di chứng sau này, tôi về nhà trọ, tôi phải tháo cả chiếc túi con dấu tài liệu tôi đã khâu bên trong quần đùi.

Dùng “vỏ bọc 4” là duy nhất. Theo dõi sư đoàn 308 phòng thủ thủ đô Hà Nội, do tướng Vương Thừa Vũ là Sư Trưởng. Do thi cử nhiều lần không đậu, lại chán chường xã hội miền Nam, vì thế, khi có người giới thiệu, tôi cứ đi. Dù trong lòng rất sợ, vì muốn có chút tiền để giúp đỡ cha mẹ già yếu, nên liều. Nghĩa là ở cái thế bắt buộc phải đi. Do đấy, khi tới Hà Nội, tôi chẳng làm gì cho chính quyền miền Nam. Nhớ cảnh cũ thời thơ ấu, nên chỉ đi loanh quanh khắp Hà Nội chơi. Tôi sẽ kể hết sự thực: ra tới Kỳ Anh gặp Phùng Văn Trí, v.v…về tới Hà Nội làm những gì, đi những đâu…đều khai hết, chỉ bỏ những chi tiết liên quan đến tài liệu “M”, “X”, và thư cha Hoàng Quỳnh. Dứt khoát là không hề biết có người theo dõi mình.

Lúc đó, tôi ngây thơ tính toán là mình cứ khai rằng chả làm cái gì và giữ đúng lời khai như vậy, tù bất quá 3, 4 năm. Khi được thả ra, nếu có điều kiện sẽ trốn về Nam.

Với đầu óc hãy còn ấu trĩ về Cộng Sản của một thanh niên 24 tuổi như vậy, nên tôi yên tâm hơn, và lại bắt đầu đi chơi, muốn bao giờ bắt thì bắt.

Ngay chiều hôm ấy, tôi đi xe điện lên Hồ Tây, hồ Trúc Bạch, thăm con đường Cổ Ngư.

Tôi xuống xe điện chỗ đầu Quan Thánh, vào chùa Quan Thánh xem. Những viên gạch cổ lát ở sân chùa, nhiều viên đã bể vỡ, cỏ rêu ở kẽ mọc tùm lum. Toàn bộ cái sân to, chỉ còn là mầu xanh rì của rêu cỏ với từng đống lá khô mục nát. Nơi đây, hẳn khi xưa đã in bao nhiêu vết chân của nhà sư Tuệ Chiếu, bây giờ đã về nơi cát bụi.

Tôi rời chùa, rẽ ra con đường Cổ Ngư (giờ gọi là đường Thanh Niên). Ngày xưa, nơi đây là chỗ hẹn hò của trai gái Hà Thành thanh lịch, cũng như khách nhàn du. Đông nhất là vào những buổi cuối tuần, với những hàng bánh tôm, thịt bò khô nổi tiếng Hồ Tây. Giờ đây, Cổ Ngư vắng tanh, trên đường, hai bên hồ gió lộng, thỉnh thoảng đôi ba chiếc xe đạp, hoặc một chiếc xe bò chậm chạp, lê theo bước chân của một bác dân nghèo đang gò lưng phía trước.

Tôi lững thững thả bước đi mãi, tai nghe tiếng bì bõm của sóng nước hồ Trúc Bạch bên phải và Hồ Tây bên trái vỗ vào bờ. Cũng vẫn hàng phượng vĩ đỏ ối lắc lư với tiếng ve sầu rả rích. Kia là chùa Trấn Võ. Tôi lại nhớ đến bà Huyện Thanh Quan, rồi Cao Bá Quát:

Trấn Quốc hành cung cỏ dãi dầu.

Chạnh lòng cố quốc nghĩ mà đau…

Lên quá tí nữa là “Petite Đồ Sơn” với bao nhiêu kỷ niệm thơ ngây của buổi thiếu thời. Xa nữa là Nghi Tàm, Quảng Bá, với những cây ổi quen thuộc ngày nào. Bây giờ ra sao, nơi quê hương của Thị Lộ mỹ miều? Cảnh Hồ Tây thật quyến rũ hồn du khách. Chẳng hiểu những cái “đuôi” của tôi có cảm nhận thấy vẻ đẹp của thiên nhiên, trên mảnh giang sơn cẩm tú của Tổ Quốc Việt Nam này không? Mặt Hồ Tây bao la trắng xóa một vùng, lúc này chỉ gợi lên trong tôi một nỗi lạc lõng chơ vơ:

“Mênh mông, không một chuyến đò ngang,

Lang thang, núi bạc mây chiều …”

Chiều đã xuống dần, mặt trời cũng đi ngủ. Một vài con cò trắng cất cánh bay về phương trời xa.

Tôi quay lại, trở về, lòng mang mang nặng trĩu.

Cứ như vậy, những ngày sau, tôi đi hết về phía này, lại về phía kia của Hà Nội. Cũng nhiều cảnh, nhiều tình huống tệ nạn xã hội xảy ra trên đường làng, đường phố. Tôi nghĩ rằng không cần kể dài dòng nữa. Tuy vậy, có một sự việc nhỏ đến lúc này vẫn còn hằn trong óc tôi.

Chiều ấy, tôi đi xe điện xuống vùng Văn Điển. Tôi đang thả mắt nhìn đồng quê hai bên đường, tầu điện đỗ lại một bến phụ, vài người khách lên xuống. Một bác nhà quê, quần áo nâu hai, ba miếng vá, đi chân đất, gánh một gánh củi cành. Bác vội vàng hấp tấp ôm hai bó củi lên tàu, vừa đẩy gọn vào góc, vừa hổn hển thở. Tàu chạy, anh bán vé từ phía đầu toa đi xuống, ngoắc tay ra hiệu cho bác đưa tiền lấy vé. Vì gần cuối đoạn đường rồi, nên chỉ phải trả 5 xu. Bác nhà quê ngước đôi mắt toét nhèm sợ sệt nhìn anh bán vé, chừng hơn 20 tuổi, hai tay bác vuốt hai túi áo:

– Xin anh cho em qua một đoạn đường, trời tối rồi, nặng quá, em cả người không còn một đồng xu nào!

Tên bán vé, quắc mắt sừng sộ:

– Xuống ngay!

Khi tàu đỗ ở một bến kế, tên bán vé dùng chân hất đẩy bó củi xuống đường. Bác nhà quê, riềm mắt đỏ choét, cố gò người kéo bó củi lại, miệng cứ nài nỉ:

“Lạy anh, anh thông cảm cho em!”.

Mọi người trên tàu cũng nhìn với con mắt ái ngại, nhưng họ vẫn đứng yên. Tôi thấy 5 xu quá bé nhỏ, chả lẽ tôi bảo, để tôi mua cho. Tôi vẫn im lặng, vì tôi đã có chủ định. Đến một bến tiếp, tàu đỗ, hai bên đường vắng vẻ, vẫn toàn ruộng lúa, thấy bác xuống, tôi cũng định xuống theo. Nhưng, rất nhanh, tôi đã kịp giữ lại, vì còn hai cái “đuôi” ở trên tàu, bởi vậy, tôi vất nhẹ một tờ giấy 5 đồng, tôi đã gấp nhỏ lại từ trước vào túi áo bác. Bác thoáng nhìn thấy, thì tàu đã chạy rồi. Tay cho vào túi, bác nhìn theo tàu với đôi mắt mở to, ngạc nhiên và xúc động, trong bóng mờ của buổi chiều tàn.

24. Lọt Vào Tay Địch …

Ngày hôm sau, rồi hai ngày hôm sau nữa, bữa đó là ngày Chủ Nhật…..Như thường lệ, tôi ra bến xe điện ở bờ hồ mua một ổ bánh mì và một tờ báo. Ăn xong, tôi thả bước về Hàng Trống, định sẽ ghé vào Nhà Thờ Lớn để xem lễ ngày Chủ Nhật. Khi gần đến hiệu phở ở góc đường Lý Quốc Sư, tôi đang đứng nhìn hai người xích lô cãi nhau vì tranh khách, mắt tôi thoáng thấy từ xa, hai tên cảnh sát đồng phục chỉnh tề đang đi lại, dáng mặt quen quen. Tim tôi chợt thót nhẹ. Phải rồi! Hai cái “đuôi” đã từng theo tôi, hôm tôi lên chùa Láng. Hôm nay, chúng ăn mặc đồng phục cảnh sát là có vấn đề rồi. Tôi vẫn vờ nhìn chăm chú hai bác xích lô.

Đúng như tôi dự đoán, khi hai tên đến gần, một tên tiến đến trước mặt tôi:

– Anh vui lòng cho tôi xem giấy tờ!

Tôi vờ ngạc nhiên:

– Thưa các anh, hỏi giấy gì ạ?

Vẫn với giọng nhã nhặn:

– Anh có giấy gì thì đưa giấy đó!

Không nói một lời, tôi rút ví túi quần sau, lấy giấy thông hành đưa ra. Y cầm xem qua rồi nói:

– Thế này không phải, xin mời anh về đồn.

Quả là lịch sự! Tôi đã thấy nhiều lần cảnh sát hỏi giấy người khác ở trên đường phố, nạt nộ:

”Anh cho xem giấy tờ!”, hoặc “còn giấy gì nữa?”.

Còn ở đây, có thể y không phải một cảnh sát chuyên nghiệp, phần khác, tôi là người của chế độ khác mà, nhất lại là tiếp xúc buổi đầu. Hai tên chỉ đường tôi đi trước, chúng kèm sát phía sau. Một số đồng bào đang đi trên đường phố, đứng lại ngơ ngác nhìn theo.

Riêng mấy cái đuôi gần đó cũng nhìn theo, nét mặt chúng lộ vẻ nửa như vui mừng hết trách nhiệm, từ nay khỏi phải theo anh chàng lẩm cẩm này nữa, nửa như tò mò nhìn một con mồi đã vào cạm.

Hai tên cảnh sát giải tôi về phía Ngõ Huyện, thoáng chỗ góc là chiếc xe Citroen đen, tôi đã thấy trên đường đi Vinh, đang đậu. Khi tới bên cạnh xe, nhìn vào trong, tôi thấy ngay băng trên, ngồi cạnh tài xế là một lão mặc chiếc áo “vét” xám đeo kính râm, chừng 40 tuổi. Một tên cảnh sát mở cửa sau chui vào, tên ngoài ra hiệu tay bảo tôi lên. Như vậy là tôi ngồi giữa hai cảnh sát. Xe chạy.

Tôi hiểu rằng, phản gián Hà Nội đã phải mất quá nhiều công lao, mà chả thấy tôi làm cái quái gì cả. Cứ lêu bêu hết ngày này qua ngày khác, cho nên quyết định vồ. Tôi cũng chẳng có gì ngạc nhiên lắm. Từ lâu, tôi vẫn biết sẽ có một ngày như thế này. Dù vậy, theo đúng như những dự trù khi bị bắt, tôi vẫn phải vờ ngạc nhiên. Trên đường xe chạy, tôi ngơ ngác hỏi:

– Các ông đưa tôi đi đâu đây? Tôi có giấy tờ đầy đủ mà?

Tên mặc áo “vét” ngồi trên, quay xuống giọng cộc lốc:

– Cứ đi, sẽ biết!

Bây giờ thì không lịch sự nữa!

Xe đi vòng vèo qua nhiều phố, rẽ vào một phố nhỏ vắng, với cái biển tên đường phố: “Phố Hỏa Lò”. Chéo sang bên là bức tường đá cao sừng sững 7, 8 mét, bên trên cắm mảnh chai và giâng giây điện trần chằng chịt.

Từ ngày còn bé hồi xưa ở Hà Nội, và ngay cả lần này, từ khi ra đây, tôi chưa từng đi đến phố Hỏa Lò. Vì vậy, tôi chưa thấy Hỏa Lò Hà Nội bao giờ.

Xe đỗ lại trước một chiếc cổng to đồ sộ đóng kín mít, với hai cánh cửa to tuớng như cánh cửa thành ngày xưa. Từ một trong hai cái cổng nhỏ ở hai bên, một tên bộ đội bồng súng chạy ra. Sau khi xem miếng giấy do tên áo “vét” đưa, y đứng nghiêm chào theo lối quân sự, rồi chạy vội vào phía trong. Cửa lớn từ từ mở ra và chiếc Citroen chạy tuột vào. Hai tên cảnh sát giong tôi qua một cái sân rộng có trồng hoa, bên trên là một giàn nho lá xanh rờn.

Chúng dẫn tôi vào một cái buồng trống trơn, chỉ có một cái bàn với một cái ghế, trong đó đã có 4 tên trông rất hung thần. Hai phút sau, tên mặc áo “vét” đi vào, đặt cặp xuống bàn rồi lấy ra một tờ giấy, y ra hiệu tôi ngồi xuống ghế. Y đọc: “Lệnh giam giữ, Bộ Công An ra lệnh giam và xét hỏi tên Lê Viết Hùng, tuổi…quê quán…theo giấy thông hành giả…”. Một trong 4 tên hung thần giọng cộc lốc:

– Bỏ hết đồ và cởi quần áo ra!

Tôi vờ phản đối:

– Các ông bắt tôi về tội gì?

Tên mặc áo “vét” cau mặt quát:

– Đừng vờ vịt, hãy chấp hành lệnh!

Bốn tên hung thần như được lệnh, chúng xông đến, thằng thì lục túi dết, thằng thì cởi quần áo tôi, Tên mặc áo “vét” chỉ mặt tôi:

– Biết điều thì sống, không biết điều thì càng chết sớm!

Vì đã có chủ định, nên tôi chả nói gì nữa. Thằng áo “vét” ngồi bàn ghi biên bản. Trong một căn phòng nhỏ mà chúng bật đến 4 ngọn đèn sáng chói. Chúng đánh giá tôi quá cao, như là một điệp viên có hạng không bằng. Chúng dùng kính “lúp” soi hết vải quần áo của tôi từng chiếc khuy áo, khuy quần, đường chỉ…Một tên quát:

– Có máy ảnh không?

Tôi lơ ngơ:

– Máy ảnh gì?

Chúng nó tưởng tôi có máy ảnh nhỏ xíu dấu trong khuy áo, khuy quần, chúng khám hết, tên áo “vét” ghi từng thứ một. Còn cái quần đùi, chúng cũng bắt tôi lột. Tôi thấy ngượng, không muốn cho chúng cởi. Một thằng chỉ vào mặt tôi, quát:

– Cởi ra ngay, muốn ăn đòn hả?

Chúng nó xúm lại tôi, soi lỗ tai, bới tóc, lỗ mũi, lộn mi mắt, bắt há miệng, xem từng cái răng. Thật may, tôi đã phòng hờ “chì mật”. Từ khi ở Vinh ra lần thứ nhì, tôi đã mua một bó tăm tre. Tôi bỏ “chì mật” vào giữa, chỉ buộc bằng một sợi chỉ con, rất hớ hênh, nhưng vô tình rất khó thấy, mà có thấy thì chỉ thấy đó là một sợi ny lông. Chúng chỉ có thể nghĩ là người buộc tăm để vương vào, và chúng sẽ bỏ qua. Bó tăm chỉ chừng 20 cái, bé bằng hai ngón tay, nên chúng chẳng tháo ra làm gì.

Mặt tên nào cũng có vẻ tức tối. Chúng khám xét kỹ lưỡng, cả đôi dép Thái Lan, đồng hồ, bút máy, v.v…Nghĩa là người tôi không còn một cái gì là chúng bỏ qua, mà cũng không thấy gì cả. Cuối cùng, chúng bắt tôi đứng thẳng chân, cúi chống hai tay xuống nền nhà, một thằng vạch lỗ đít tôi, một thằng khác đưa một que sắt thọc vào. Đến đây, tôi phải trình bày một chi tiết hơi…thô tục một chút. Từ khi tôi bị chúng phát hiện, tôi ăn không ngon, ngủ không yên, tinh thần ngày đêm căng thẳng, như một con cá nằm trên thớt chờ ngày làm thịt. Vỉ thế, phân của tôi thường táo bón từng cục như phân dê, ba bốn bữa tôi mới đi ngoài một lần.

Do đó, khi thọc que vào thấy lục cục, mặt thằng thọc que tươi hẳn lên, làm cho mắt những tên kia cũng sáng lên long lanh. Chắc chúng nghĩ, đã khám hết mọi chỗ không có gì, mày giấu đây, làm sao qua mắt được chúng ông. Khi chúng kéo que sắt ra, những cục phân rơi lủng củng xuống nền nhà. Tôi rất tiếc, vì đang phải chống tay cúi đầu, nên không nhìn thấy nét mặt của chúng lúc này ra sao? Tôi chỉ thấy tên cầm que sắt vất mạnh vào góc nhà đầy vẻ bực tức, rồi hình như giận lây sang cả tôi, y phát mạnh một cái vào mông tôi rát ràn rạt, quát:

– Đứng dậy!

Hơn hai tiếng đồng hồ khám xét lục lọi, chả có cóc khô gì. Chúng vất lại cho tôi một cái lược sừng nhỏ, chiếc quần lót và chiếc khăn mặt. Tôi chỉ cái đồng hồ của tôi để trên bàn:

– Trả lại tôi cái đồng hồ!

Tên áo “vét” đập tay xuống bàn, đứng vọt dậy:

– Đồng hồ nào của anh! Đó là tang vật hoạt động của một tên gián điệp!

Tôi vờ giật mình:

– Sao? Tôi là gián điệp?

Y quát:

– Câm miệng lại!

Chúng vất cho tôi một bộ quần áo sọc xanh trắng:

– Mặc vào!

“Phải làm sao để lấy lại được gói tăm?” Tôi thầm nghĩ: Để đánh lạc hướng của chúng, tôi vờ xuống nước năn nỉ:

– Tôi có răng sâu, đau lắm, các ông cho bàn chải và hộp thuốc đánh răng!

Chúng ném cho tôi cái bàn chải, còn hộp thuốc đánh răng, chúng bóp hết rồi xé ra khám, dù bàn chải và thuốc tôi mua ở bờ hồ. Nhưng, đó chỉ là phụ, tôi vờ cho ngón tay vào hàm răng phía trong:

– Tôi có răng sâu, ăn uống xong, phải đánh răng hoặc xỉa răng. Các ông không cho tôi thuốc đánh răng, đành phải xỉa bằng tăm vậy. Các ông cho tôi xin gói tăm?

Một thằng cầm gói tăm lên, rồi ném cho tôi. Thế là ổn rồi!

Khoảng 11 giờ trưa, một tên mặc quần áo cảnh sát có đeo hàm trung sĩ, nhưng không đội mũ, khoảng 35 tuổi, y vào buồng ra hiệu cho tôi đi theo y. Tôi đi trước, y đi sau ngoắc ngón tay chỉ đường cho tôi.

Qua bốn, năm lần cửa sắt. Khi đi qua một cái sân nhỏ, dưới gốc cây bàng, tôi thấy một anh cởi trần trùng trục, đang cúi gầm mặt xuống như mang nặng một nỗi niềm suy tư. Khi tên cảnh sát giong tôi đi qua, anh ngửng lên nhìn, anh bị chột mắt bên trái. Tôi chợt nhớ ra những ngày lang thang trên đường phố Hà Nội, trong một hiệu sách, tôi có mở xem cuốn C-47, trong đó có hình anh, chột một mắt trái, Trung Úy Phi Công Phan Thanh Vân.

Anh nhìn tôi, tôi nhìn anh. Tôi biết anh, nhưng anh không biết tôi. Anh sẽ tưởng tôi cũng như trăm ngàn người tù khác ở miền Bắc mới bị bắt vào.

Tên cảnh sát dẫn tôi mãi vào một hành lang nhỏ tối, sâu hun hút. Qua một cửa sắt nữa, tôi nhìn thấy một dẫy buồng, mỗi cửa buồng mang một số. Tên cảnh sát giao tôi cho cũng một tên mặc đồ vàng, cũng đeo lon trung sĩ. Tên này nét mặt rất ác ôn, cái mũi đỏ như quả cà chua con ở giữa mặt. Chúng nói nhỏ gì với nhau tôi không nghe rõ. Tên mũi cà chua mặt lầm lì, vẫy tay bảo tôi theo. Y rút chùm chìa khóa to tướng kêu xeng xẻng ở dây lưng, lấy một chìa “mở buồng số 6”.

Từ nhỏ đến giờ, tôi chưa hề trông thấy nhà tù lần nào cả, vì thế, từ khi bước vào cổng Hỏa Lò, tôi nhìn cái gì cũng lạ, từ những cánh cửa sắt to, những chiếc khóa lớn, vắng lặng, tịch mịch, âm u…

Khi tên mũi cà chua mở cửa buồng, tôi nhìn vào thấy tối lờ mờ. Căn buồng rất hẹp, mỗi bề chỉ chừng 2 mét. Hai bên sát tường, mỗi bên có một sàn xi măng, không có chiếu, mỗi sân rộng từ 65 đến 70 phân, cao hơn mặt nền chừng 60 phân, dưới gầm trống trơn, đen xì. Giữa là một lối đi khoảng 60, 70 phân. Trên mỗi sàn có một cái cùm sắt to tổ bố, gắn liền xuống sàn.

Tôi đang mở to mắt lạ lùng nhìn, chưa bước vào, đột nhiên, tên mũi cà chua đập mạnh vào gáy tôi, rồi y hẩy tôi vào:

– Đi vào! Lững lờ cái gì?

Là một thanh niên sống dưới chế độ Cộng Hòa, Dân Chủ, tôi đã được hấp thụ nhiều khuynh hướng tư tưởng tự do, mà giai đoạn ấy ở miền Nam, chủ nghĩa Nhân Vị của tổng thống Ngô Đình Diệm đang được đề cao, phát triển. Mang một ý niệm, có tội thì xử tù hay bắn, chứ nhân phẩm, tự do cá nhân không được xâm phạm. Vì vậy, mắt tôi nóng lên. Tôi lùi lại như để lấy thế, mắt nẩy lửa nhìn y như muốn ăn tươi nuốt sống, tôi chỉ vào mặt tên mũi cà chua:

– Tôi biết hiến pháp nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa là không đánh người. Do đó, nếu ông đánh tôi, là tôi đánh lại!

Nhìn thái độ quyết tử của tôi lúc đó, y cũng chờn, vì thế, y xuống nước:

– Thì tôi bảo anh vào chứ làm sao!

Rồi y ra phía ngoài, rút cái chốt cùm. Trở vào, y nhấc nửa phần trên cái cùm cho há ra:

– Anh bỏ chân vào!

Tôi ngồi ghệ mông vào chiếc sàn xi măng, từ từ tôi nhấc một chân đặt vào một lỗ cùm… Y lừ lừ nói tiếp:

– Bỏ cả chân kia nữa!

Tôi phải xoay người lại, rồi cũng từ từ chậm chạp bỏ một chân nữa. Y lấy tay xập mạnh cái cùm xuống đánh “sầm” một cái. Sắt trên và sắt dưới dập mạng vào nhau, bật ra tiếng chát chúa. Y quay ra ngoài, đút chốt cùm, đóng sầm cửa lại.

Chừng 10 phút sau bỗng cửa lại mở. Lần này y vào cầm trong tay một chiếc gậy gỗ, dài độ 50 phân, to bằng cán xẻng. Y trợn to cặp mắt trắng dã, quả cà chua trước mặt y càng đỏ loét. Phía sau y, bên ngoài cửa, thấp thoáng còn thấy một tên nữa. Y vào là quật tôi ngay, miệng luôn luôn chửi:

– Đ. M. mày! Ngang bướng này!

– Mày biệt kích, gián điệp này!

– Đ. M. chúng mày, ra phá hoại miền Bắc này!…

Nó quật tôi túi bụi, tôi phải giơ tay đỡ. Người tôi sôi lên sùng sục, tôi gầm lên:

– Đ. M. chúng mày hèn hạ! Cùm tao vào rồi mới đánh!

– Chúng mày là lũ dã man!…

Máu ở tay và chân tôi đã chảy. Tôi không còn biết đau nữa. Nó quật tôi hàng chục cái lia lịa, rồi ra. Trước khi ra, nó chỉ cái gậy vào mặt tôi:

– Cho con chết, con ạ!

Rồi đóng cửa, cài then. Tay tôi sưng tím, nhiều chỗ nổi lên một cục, vai và lưng đau ê ẩm. Máu tay nhiều chỗ chảy đỏ cả bộ quần áo sọc trắng. Chân tôi, lúc vặn vẹo đỡ gậy nó vụt, bị cạnh của chiếc cùm sắc cứa làm máu chảy nhiều chỗ.

Lúc này, tôi uất hận quá, không thiết sống nữa. Như thế này rồi cũng chết thôi. Phải chịu bao nhiêu đau đớn nữa rồi cũng chết. Vậy thì chết trước, khỏi khổ.

Qua sách báo của Cộng Sản, qua các cuộc phỏng vấn những người vượt tuyến ở Gia Định trước đây, tôi biết là: Lãnh tụ của Cộng Sản thì chúng coi như thần thánh, ai xúc phạm, chúng sẽ giết ngay. Nghĩ như vậy, nhất là nhìn máu chảy tứ tung, chỗ nào cũng máu, uất hận ngập trời, tôi gầm lên:

– Đ. M. thằng Hồ Chí Minh!

– Đả đảo thằng Hồ Chí Minh! Chúng mày làm cả dân tộc lầm than, đau thuơng, cùng khổ!

Tôi cứ thế gào lên, mục đích mong chúng mang súng vào cho mấy phát. Tôi chẳng thiết sống nữa! Một đứa mở chiếc cửa sổ nhỏ tí ở giữa cửa lớn:

– Im ngay cái mồm, không thì chết đấy con!

Tôi chẳng trông rõ ai cả, tôi hét lên:

– Đả đảo thằng Hồ Chí Minh!

Một lúc sau, cửa lớn mở, ba thằng bước vào, có cả thằng mũi cà chua đã đánh tôi khi nãy. Chúng mang vào một cái khung sắt, loại sắt tròn, đường kính độ 1 phân rưỡi. Chẳng nói năng gì, một thằng bẻ quặt hai tay tôi ra sau, khóa lại bằng chiếc khóa số 8. Hai thằng lắp cái khung sắt vào đầu và cằm tôi, rồi chúng vặn ốc “vít” ở dưới cằm.

Hai hàm răng của tôi bị cái “cùm mồm” xiết chặt lại, một miếng sắt mỏng 3×6 phân, 2 bên có lò xo ép chặt mồm tôi lại. Nói và chửi bây giờ không thành tiếng nữa, chỉ là những âm thanh ú ớ, xìn xịt. Trước khi ra, chúng còn đe:

– Con sẽ chết, con ơi!

Sau khi cửa đóng, chỗ máu ở chân tôi vẩn chảy. Bây giờ tôi không nằm được, cũng không xoay trở gì được nữa. Hai tay bị khóa đàng sau, hai chân trong cùm sát xuống sàn, mấy chỗ sưng ở tay bắt đầu thấy ngứa. Bây giờ, tôi cảm thấy ngứa khắp cả người. Thái dương giật giật liên hồi, người tôi nóng ran, mắt hoa lên quay cuồng.

Chừng 4 tiếng đồng hồ sau, tự nhiên người tôi cứ đảo lộn, quay cuồng như chong chóng. Chỉ còn một thế duy nhất là gục dựa đầu vào tường, mắt nhắm nghiền. Một luồng hơi nóng như lửa chạy từ bụng lên ngực, rồi lên đầu, rồi tôi không biết gì nữa.

Khi tôi tỉnh lại, trời đã sáng. Như vậy, tôi đã ngất xỉu qua đêm. Tôi thấy tay chân tê dại và nặng như chì, cả người tôi đau đớn, nhức mỏi rã rời. Tôi chỉ còn hai cái vai ngút ngắc, rung lên vì ngứa. Mãi lâu lắm, thấy chiếc cửa sổ nhỏ mở ra, rồi một giọng hỏi:

– Mày còn già mồm nữa không?

Tôi mở mắt nhìn, nhưng vẫn ngồi dựa tường bất động. Bây giờ còn chưởi làm sao được nữa! Thấy tôi vẫn ngồi yên, cửa sổ đóng lại. Người tôi lúc đó thật là kinh khủng. Cả chân tay tôi cứ giật giật như bị kinh phong. Chết không chết được. Nếu ai giết tôi lúc này là họ gia ân cho tôi. Bây giờ ngồi viết lại, nghĩ đến tình cảnh lúc ấy, cón thấy kinh hoàng và nỗi hận thù vẫn còn dâng cao như núi.

Rồi, tôi xỉu đi lần nữa. Lúc xỉu đi là lúc hạnh phúc. Nhưng tỉnh lại, thì lại kinh khủng quá! Tôi không ngờ chúng nó lại có cái trò ác độc thế này. Tôi chửi chúng để cầu mong chúng cho vài phát đạn. Nếu chúng bắn tôi chết, hòa cả làng. Tôi chết rồi, biết quái gì nữa.

Không biết lúc này là mấy giờ rồi? Ôi, loài người thật dã man! Bây giờ, có muốn cắn lưỡi cũng không làm sao cắn được.

Mãi một lúc lâu lắm, cửa nhỏ lại xịch mở. Vẫn cái giọng lúc sáng:

– Mày còn chửi nữa không?

Tôi thấy rằng thôi, hãy chịu chúng nó lúc này, sau sẽ tính, chúng nó không giết mà cứ cùm kiểu này, chịu sao nổi. Vì vậy, tôi nhìn ra cửa sổ ngút ngắc cái đầu. Chúng nó lại đóng cửa sổ lại. Tôi tưởng mình chịu thua, chịu xuống xề, chúng nó sẽ tha cùm tay, cùm mồm ngay. Nhưng bặt đi, mãi tới gần chiều mới thấy cửa lớn mở và hai tên đi vào. Tôi không thấy tên mũi cà chua. Chúng nó đến bên cạnh tôi, một thằng đập tay vào vai tôi giọng giễu cợt:

– Thế nào, mày còn cương nữa hay biết hãi rồi?

Tôi vẫn ngúc ngắc cái đầu. Chúng vừa tháo cùm mồm, cùm tay tôi, vừa nói:

– Mày đã vào đây mà không biết điều thì chỉ có một con đường là chết khổ. Bao nhiêu thằng ba đầu, sáu tai, mọc bao nhiêu cái sừng chúng tao cũng vặn hết. Từ nay phải biết điều, nghe không?

Tôi chẳng nói năng gì cả, hai tay như xuội ra, không nhấc lên được nữa. Tôi mệt rã rượi như người không xương. Người tôi lại thấy ngây ngất sốt, tôi nằm phịch xuống sàn. Chúng nó ra ngoài, tôi thoáng thấy chúng đưa vào một cái gì, có lẽ là cơm, để lên phía đầu tôi:

– Cơm đấy, ăn đi! Chốc nữa tao lại lấy bát.

Đêm hôm đó, một cơn sốt lên dữ dội. Tôi mê man rên rỉ suốt đêm. Cả người tôi đau như giần. Cứ thiếp đi một lúc, rồi lại tỉnh. Miệng lảm nhảm chỉ kêu “mẹ ơi!”.

Tôi cầu xin Chúa, xin Trời cho tôi chết đi. Tôi vừa sốt, vừa đau. Hai chân tôi trong cùm tê dại, đau buốt. Bát cơm gạo hẩm và đôi đũa vào từ lúc chúng tháo cùm mồm tôi ra vẫn để lỏng chỏng trên sàn, phía trên đầu tôi. Tôi không muốn ăn uống gì cả, dù đã hai ngày, trừ lúc sáng sớm hôm qua, tôi ăn một ổ bánh mì nhỏ ở bờ hồ khi chưa bị bắt. Miệng tôi đắng và khô, không nhổ ra nước bọt.

Sáng hôm sau là thứ Ba. Tôi nằm nghe loáng thoáng có nhiều tiếng phụ nữ cười nói và tiếng nước chảy, như đang có người tắm giặt ở đàng sau tường phía đầu tôi. Nghe những lời qua tiếng lại, tôi biết họ cũng là tù, và ngay sau buồng tôi là bể nước họ giặt giũ, tắm rửa.

Cửa sổ nhỏ bỗng mở, tôi nhìn ra chẳng rõ ai. Rồi nghe lẻng xẻng tiếng chìa khóa mở cửa buồng. Một ông chừng 60 tuổi, đầu đã bạc, mặc thường phục, đeo kính trắng bước vào buồng, theo sau có mấy người nữa. Ông hỏi, giọng miền Nam:

– Anh không ăn cơm à?

Tôi lắc đầu:

– Tôi sốt.

Y quay lại nói gì với mấy tên phía sau. Tôi thấy chốt cùm kéo ra, một tên nhìn tôi:

– Anh bỏ chân ra!

Tôi ngồi dậy, mỏi mệt nhấc cái nửa cùm phía trên, rồi chậm chạp nhấc hai chân ra. Máu chảy ra mặt dưới cùm và ống quần tôi đã đen lại. Ông già đeo kính trắng có vẻ khuyên răn:

– Anh đã vào đây, đừng bướng bĩnh. Phải ngoan ngoãn biết điều, lợi cho anh. Nếu không, chỉ thiệt thân.

Một lúc sau, một người ném vào chỗ tôi một bộ quần áo nữa, cũng sọc, nhưng đã cũ:

– Cho anh thêm bộ này. Thay bộ quần áo đó ra, giặt đi.

Chúng nhìn thấy quần và áo tôi đầy máu đen. Ông già và mấy người đi ra. Tôi chẳng biết ông già làm gì, có vẻ tử tế. Một lúc sau, cửa lại mở, một tên áo vàng chừng độ 40 tuổi, đeo lon hạ sĩ, vào hỏi tôi:

– Tên anh là gì?

Tôi nhìn lão:

– Lê Viết Hùng.

– Tôi hỏi tên thật của anh ở Sài Gòn cơ?

Tôi đáp:

– Đặng Chí Bình.

Lão nghiêm giọng:

– Tôi là cán bộ coi xà lim này. Vậy từ nay anh phải nghiêm chỉnh chấp hành mọi nội quy ở đây. Không được la ó, ca hát. Không được quan hệ, nói chuyện với buồng bên cạnh. Không được mang bất cứ loại kim khí nào vào trong buồng. Mỗi buổi sáng mang bô phân, nước giải của mình vào nhà tắm, đổ vào lổ xí, tráng nước trong 5 phút. Nếu bị cùm kỷ luật, một tuần chỉ mở cùm cho đổ bô một lần vào sáng thứ sáu. Một tuần, tắm giặt hai lần vào thứ Hai và thứ Sáu, mỗi lần không quá 15 phút. Nếu anh vi phạm, tùy theo mức độ, sẽ bị kỷ luật cùm một chân, hoặc cùm hai chân, hoặc đưa đi “cát xô”.

Tôi ngồi mệt quá như xỉu đi. Tôi dựa lưng vào tường; mặc cho y nói. Một lúc, y vừa nói vừa đi ra:

– Tôi sẽ gọi y tá vào cho thuốc.

Rồi y đóng cửa lại. Tôi nghe tiếng y mở cửa buồng bên cạnh, một người ra, chắc để đổ phân, 5 phút sau vào, tiếng đóng cửa. Lại mở buồng khác, thấy tiếng chạy lịch kịch, rồi nghe máy nước chảy rào rào, rồi tiếng chân chạy trở về buồng. Sáu, bẩy lần như vậy. Lại thấy mở cửa buồng tôi. Tiếng tên cán bộ xà lim:

– Ra đổ phân!

Tôi tụt xuống sàn, cúi nhìn vào gầm sàn, thấy cái bô tôn có nắp gỗ đậy. Từ tối qua đến giờ, tôi có ỉa đái gì đâu, nên cứ đứng ngơ ngác. Y thò cổ vào:

– Sao không ra đổ thùng?

Tôi trả lời:

– Tôi chưa…!

Y đóng cửa xầm một cái, cài then sắt bên ngoài. Một lúc sau, cửa lại mở. Một bà y tá, mặc áo “bờ lu” trắng ôm cái khay thuốc đi vào. Bà ta chừng 28, 30 tuổi, sau này, tôi được biết tên là Dậu.

Bà ta xem các vết thuơng ở chân, tay, vai lưng tôi cho tôi nửa hộp dầu cao “Sao Vàng”, bảo xoa chỗ sưng. Chấm thuốc đỏ vào mấy chỗ chảy máu. Tôi đang sốt, nên tôi nói:

– Đêm qua tôi bị sốt và bây giờ cũng bị.

Bà cho tôi hai viên thuốc trắng, bảo uống. Khi bà y tá ra, tên cán bộ xà lim lại vào:

– Anh mang bát cơm kia ra. Cầm cả cái gáo ra lấy cơm, lấy nước.

Khi tôi cầm bát cơm ra, chân tôi đau quá đi khập khiễng. Y bảo tôi để bát cơm cũ xuống đất, lấy gáo lại thùng múc một gáo nước, rồi cầm bát cơm mới đi vào. Tôi nhìn trên bệ tường có 8, 9 bát cơm, tôi cầm một bát và đi vào. Y đóng cửa lại và nói:

– Ăn nhanh, 15 phút sẽ trả bát.

Tôi đói, từ hôm qua tôi không hề ăn uống gì, nhưng và miếng cơm vào mồm nhai, tôi không nuốt nổi. Mồm đắng hay cơm đắng? Nhưng nếu không ăn, chỉ có chết, nghĩ lại cố gắng nhai và nuốt. Tôi vừa nhai vừa nhìn bát cơm. Cơm thuộc loại gạo hẩm, nhưng không có độn, còn tốt hơn ở hàng cơm ngoài phố.

Cơm được đựng trong một chiếc bát to, đường kính miệng bát chừng 17 phân, cao chừng 7 phân, bằng chất gì như nhôm, màu xam xám, rất cứng (có thể là nhôm pha antimoan), hình đít bằng. Lượng cơm bằng chừng hai bát cơm nhỏ gia đình thường dùng. Một bát nhỏ như vậy nữa, cùng loại hợp kim và hình thể như chiếc bát to, đường kính khoảng 10 phân, cao 5 phân, thường thường đựng rau muống già nấu muối, đen xì. Bát canh nhỏ để chồng lên bát cơm.

Vì thế khi mở cửa ra, tù tay cầm một gáo dừa, đến thùng nước, múc một gáo nước mầu đen đen (sau này tôi hiểu là gạo rang cho cháy đen; một nắm nấu cho cả mấy trăm người uống), rồi đến cầm một bát một bát cơm đi vào. Cán bộ ở đây gọi là quản giáo, sau khi đóng cửa cài then phía ngoài, lại tiếp tục mở buồng khác. Chừng 10 hay 15 phút sau, quản giáo lại đi mở từng buồng, để tù đưa bát ra chỗ cũ. Múc thêm gáo nước nữa. Cơm nước nấu ở khu nhà bếp, cũng do tù được tuyển chọn đảm trách, hầu hết là tù hình sự, hoặc là cán bộ can tội tham ô hủ hóa. Tôi cố ăn cũng chỉ được khoảng nửa bát cơm, và húp tí nước rau nấu.

Khi quản giáo mở cửa, tôi đưa bát ra, y chỉ:

– Để chỗ cũ!

Tôi không biết nên để cả đũa ở đấy. Y bảo tôi phải đưa lại chỗ “suốt cùm” để. Tôi liếc nhìn buồng bên cạnh, trước mỗi cửa buồng tôi thấy một đôi đũa treo lủng lẳng ở chỗ tay suốt cùm. Tôi không có dây, nên gác đại đũa lên trên cái suốt.

Khi vào buồng, dù người còn đau êm ẩm, chân vẫn còn đi tập tễnh, nhưng tôi vẫn thấy thoải mái hơn nhiều. Bây giờ tôi mới để ý kỹ cái cùm:

Cùm là hai miếng sắt, mỗi miếng dầy 2 phân rưỡi, bản rộng 8 phân. Nửa dưới, nằm gắn liền với một bờ xi măng sát xuống sàn. Nửa trên, nối với dưới bằng một khâu bản lề, làm bằng chính hai miếng sắt ấy. Phía ngoài cùng, trông như cái hình mỏ vịt, được đục một lỗ dài để xập vào một cái khuy, làm bằng loại sắt vuông khoảng 1 phân rưỡi. Một thanh suốt chốt cùm bằng miếng sắt rộng 5 phân, dầy 1 phân. Từ phía ngoài tường thọc vào cái khuy sắt hình vuông kia là cứng ngắc, bất khả nhúc nhắc, trừ phi bên ngoài cò người rút chốt cùm. Đuôi chốt cùm lại có có chốt, rồi lại một cái khóa nữa.

Buồng xà lim thường có hai sàn xi măng, cửa ở giữa. Trần xà lim cao 4 mét. Mãi tít gần sát trần, có một cái cửa sổ nhỏ, kích thước khoảng 60×25 phân. Có 5 chấn song sắt, đường kính 2 phân rưỡi, có lưới sắt che. Vì thế, ngay ban ngày, trong buồng chỉ lờ mờ, nếu không mở cửa lớn.

Cửa xà lim bằng gỗ lim, dầy 4 phân có nẹp đai sắt dầy. Giữa cánh cửa, chỗ ngang tầm mắt người đứng, có một cửa sổ nhỏ rộng 20 phân, cao 15 phân, có 6 song sắt con loại 1 phân rưỡi. Như thế, chỉ đút lọt một ngón tay. Bên ngoài có một miếng sắt mỏng mở ra, đóng vào che kín, có chốt. Tường dầy 50 phân.

Đây là công trình của thực dân Pháp xây. Bây giờ Cộng Sản dùng để cùm kẹp, giam giữ những người chống lại chúng.

25. Chấp Pháp Tại Hoả Lò…

Khoảng 8 giờ sáng hôm sau, tiếng chìa khóa lẻng xẻng đi vào, cửa sổ con bật mở, lộ mặt tên cán bộ xà lim, y nói vọng vào:

– Mặc quần áo đi cung!

Đêm qua tôi không sốt, nhưng người còn đau ê ẩm, phần khác trời nóng và buồng rất nhiều muỗi, nên suốt đêm người tôi lúc nào cũng đầy mồ hôi và không ngủ yên. Tôi đang mặc quần áo thì cửa mở.

Lúc tôi ra, một tên cán bộ áo vàng đang chờ ở cổng xà lim. Thấy tôi y lấy ngón tay ra hiệu cho tôi đi trước. Y đi phía sau, cất tiếng hỏi:

– Anh tên Đặng Chí Bình tức Lê Viết Hùng?

Tôi gật đầu:

– Dạ

Lão cán bộ này có đôi mắt lồi và cái môi vẫu hẳn ra. Y đeo lon trung sĩ.

Hôm tôi bị bắt là ngày Chủ Nhật, vì thế trên đường vào xà lim, tôi không nhìn thấy tù, họ ở trong buồng cả. Hôm nay, trên đường đi qua một cái sân nhỏ, tôi thấy ở góc sân 6, 7 người tù nữ đang lúi húi rửa soong, nồi trong một bể nước. Phía nhà bên cạnh 8, 9 người tù nữa với mấy cái máy may, may quần áo sòng sọc. Thấy cán bộ giong tôi đi qua, họ đều ngửng lên nhìn theo.

Đi qua mấy ngách nữa thì ra tới chỗ sân có giàn nho hôm trước. Dẫn đến trước một cửa phòng, y mở cửa bảo tôi vào.

Trong buồng, tôi thấy hai người đã ngồi chờ sẵn ở một cái bàn, trên đặt một cặp hồ sơ dầy. Một người tuổi chừng 30 mặc áo 4 túi bộ đội, người kia chừng 35 tuổi, mặc sơ mi trắng ngắn tay.

Thấy tay và chân tôi băng bó, chân đi tập tễnh, tên mặc áo sơ mi trắng có vẻ ngạc nhiên:

– Chân và tay anh làm sao thế?

Tôi thấy y có vẻ vờ, tôi nghĩ y phải biết, dù vậy tôi vẫn nói:

– Hôm kia, mấy ông bà cán bộ đánh tôi ở xà lim.

Cả hai đều như ngạc nhiên:

– Anh làm sao mà bị đánh? Có đau không?

Tôi thấy rõ thủ đoạn vờ vịt, nên trả lời thủng thẳng:

– Hôm nay đỡ rồi!

Tên mặc áo bộ đội chỉ một chiếc ghế đẩu trước bàn, bảo tôi ngồi, xong hắn tự giới thiệu:

– Tôi là Thành và ông cán bộ đây là Đức. Chúng tôi là Chấp Pháp Bộ Công An. Chúng tôi có trách nhiệm giúp đỡ và thẩm vấn anh, về những việc anh đã làm. Chúng tôi biết anh còn quá trẻ nên nhất thời ngây thơ, bị lũ tay sai Mỹ Diệm dụ dỗ, thúc đẩy đi ra Bắc làm hại cách mạng. Nhưng, với màng lưới nhân dân của cách mạng. Không một kẻ nào, không một mưu mô nào của Mỹ Diệm mà không bị đập tan.

Anh hiểu rằng, về tình báo, trong hàng ngũ của ngụy quyền tay sai của Mỹ Diệm, đầy rẫy những người của cách mạng. Cho nên, việc của anh chúng tôi biết rất rõ. Chúng tôi có đầy đủ hồ sơ tài liệu về anh.

Y hất hàm về chiếc cặp hồ sơ, rồi nói tiếp:

– Nhưng, với đường lối khoan hồng và giáo dục của đảng và nhân dân, chúng tôi muốn chính anh có trách nhiệm tố cáo, vạch ra hết những tội ác mà bọn tay sai Mỹ Diệm đã đẩy đưa anh ra ngoài này, để đắm mình vào tội phản nhân dân, phản Tổ Quốc.

Đảng và nhà nước sẽ đánh giá sự ăn năn thành khẩn của anh. Chỉ có anh mới cứu được anh, không một thế lực nào, một kẻ nào có thể cứu được anh. Tuy vậy gặp anh buổi đầu hôm nay, thấy anh là một thanh niên có học, hiểu biết, cởi mở. Chúng tôi tin rằng sự quan tâm giúp đỡ của chúng tôi, sẽ rất tốt cho anh sau này.

Riêng về việc anh bị hành hung trong xà lim, chúng tôi chưa biết rõ sự thể như thế nào. Nhưng, dù sao đó cũng là một việc làm sai trái đối với chính sách giáo dục của đảng và nhà nước. Chúng tôi sẽ phản ánh lên cấp trên, để có biện pháp xử lý. Bây giờ trước hết, anh hãy trả lời về những câu hỏi lý lịch…

Từ nãy, tôi vẫn cúi đầu nghe chúng nói. Tôi có chủ định từ trước, nên khi chúng hỏi về lý lịch, thân thế, tôi cứ khai thực. Sau khi chúng ghi xong phần lý lịch, tên Đức nghiêm trang:

– Bây giờ, chúng tôi cho phép anh được tự nói lần lượt: Ai tuyển mộ anh? Ai huấn luyện? Huấn luyện những gì, ở đâu, nhiệm vụ gì? Ra Bắc làm sao? v.v…Anh cứ nói!

Tôi cứ cúi gầm ngheo chúng thuyết. Tôi tỏ vẻ thành khẩn ngoan ngoãn lắng nghe. Sau khi chúng giục hai, ba lần, tôi mới ngửng đầu lên nói:

– Thưa các ông, tôi tin rằng cách mạng đã hiểu hết những việc làm của tôi ở trong Nam, cũng như khi tôi ra Bắc. Tôi vì hoàn cảnh và cuộc sống, nhà nghèo, học hành thi cử mãi không đậu, cho nên phải vào lính tráng. Rồi có người giới thiệu, tôi cứ đi đại để kiếm ít tiền giúp đỡ bố mẹ già.

Tôi đã là nhi đồng ở quê tôi, tôi đã đỗ bằng Tiểu Học với hạng ưu dưới chế độ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Từ nhỏ, tôi vẫn ngưỡng mộ hình ảnh các anh bộ đội, cho nên sau này, khi lớn lên, dù vì hoàn cảnh tôi phải nhận trách nhiệm của họ. Tôi vẫn nhủ thầm trong lòng rằng, nếu tôi không làm gì được có lợi cho xã hội chủ nghĩa, thì dứt khoát cũng không bao giờ làm hại cả.

Cũng vì vậy, khi tôi ra miền Bắc, tôi chẳng hề làm cái gì. Tôi nhớ Hà Nội, tôi chỉ đi thăm các thắng cảnh, cái di tích lịch sử mà buổi thiếu thời tôi đã thường đi chơi. Nhiều lúc, tôi thật chán nản, định gặp anh cảnh sát nào đó, sẽ nói cho anh rõ là tôi ở trong Nam ra. Nhưng, những năm tháng tôi sống ở miền Nam, họ nói Cộng Sản rất ác độc, hay giết người, tôi lại cứ đắn đo, e dè, sợ sệt. Đầu óc tôi cứ rối bung lên, chả biết phải làm sao.

Bây giờ, gặp các ông xin thành thật nói hết những gì tôi biết mà nhà nước yêu cầu.

Mặt chúng nó rất tươi khi nghe tôi nói, chúng gật gù:

– Được, Như thế là tốt cho anh, bây giờ bắt đầu làm việc.

Tôi có vẻ ngơ ngác:

– Khai từ đâu? Từ lúc đi học, hay từ lúc ra miền Bắc?

Chúng lừ mắt nhìn tôi:

– Từ lúc cơ quan tình báo Sài Gòn tuyển mộ anh, huấn luyện gì, ở đâu và ai huấn luyện? Khai sơ lược và nhanh.

Tôi chậm chạp, vừa suy nghĩ vừa nói:

– Tôi ở đại đội thám báo của Sư Đoàn 7 bộ binh. Quen Trung úy Xương bên Nha An Ninh Quân Đội. Ông này đã giới thiệu cho một người tên Hòa, mặc thường phục, đến tuyển mộ tôi, đầu năm 1962. Huấn luyện suốt 3 tháng liền về hoạt động bí mật, về một số tính năng của các loại vũ khí, mìn của miền Bắc thường dùng, về địa đồ, chấm tọa độ v.v… Rồi sau đó chuẩn bị công tác ra Bắc, với nhiệm vụ theo dõi Sư Đoàn 308 phòng thủ, Thủ Đô Hà Nội do tướng Vương Thừa Vũ chỉ huy. Ngày 20 tháng 5, tên Hòa đưa tôi ra trường bay Tân Sơn Nhất để ra Huế. Rồi từ Huế đưa ra khu phi quân sự. Lợi dụng một đêm mưa to, tôi lội qua sông Bến Hải, sáng hôm sau thuê xe đò đi từ thị trấn Vĩnh Linh.

Tôi cứ khai, chúng cứ ghi, chúng thường giục tôi nói lướt, nói nhanh, trong khi tôi định khai chi tiết. Vì thề, tôi cũng nói lướt đi. Thấy tôi ngừng, tên Thành nhắc:

– Tiếp tục!

Tôi nói tiếp:

– Tôi ra tới Rỏn, rồi không có xe, tôi phải đi bộ từ Rỏn ra tới Kỳ Anh, Hà Tĩnh. Trên đường đi tôi gặp một anh tên là Trí (tôi phải nói rõ chỗ này, vì chúng nó đã biết tôi trở vào Vinh đến ngủ nhà Trí), từ Hà Tĩnh đi Vinh, rồi đi Hà Nội. Ngày 31 ra tới Hà Nội, ngủ nhà trọ số 5 Hàng Dầu, rồi Hàng Quạt v.v…

Tôi nhất nhất thuật lại. Tôi chỉ nói rõ có vào nhà thương Việt Đức có một lần (mà chúng đã biết), còn lại, đi chỗ nào, nơi nào, tôi kể hết cho tới khi bị bắt.

Dù chúng giục tôi nói nhanh những điểm chính thôi, thế mà lúc chúng bảo tôi về nghỉ cũng đã 12 giờ rưỡi trưa rồi.

Tên Đức ra ngoài, lát sau, một mụ cảnh sát đeo quân hàm Trung sĩ đến, ra hiệu tay bảo theo mụ. Đi qua khu nữ, tôi thấy mấy người tù nữ chạy ra đon đả với mụ:

– Báo cáo bà Hoa, cái túi của bà chúng cháu đã khâu xong rồi ạ.

Mụ gật đầu:

– Được rồi!

Mụ Hoa nói tiếng miền Nam, chắc là loại cán bộ tập kết. Mụ dẫn tôi vào cổng xà lim, tay mụ xách chùm chìa khóa, đến buồng tôi mụ mở cửa. Lúc đó đã gần 1 giờ, nên cán bộ trực xà lim đã về. Khi mụ đóng cửa, tôi nhìn thấy bát cơm ai đã để sẵn trên sàn.

Hôm nay, tôi ăn được 2/3 bát cơm và hết bát canh rau lá cải già. Trong gáo còn tí nước hôm qua, đành uống đỡ. Xong, mệt quá, tôi nằm ngả lưng một tí.

Từ lúc về, ăn cơm cho tới bây giờ, tôi cứ băn khoăn. Tại sao chúng bắt tôi khai nhanh như thế để làm gì? Chúng không cần chi tiết ư? Tôi suy đoán lung tung, rối cả óc. Nhưng, có một điều là tôi phải nhớ hết những gì đã khai.

Vừa nằm được phút, đã lại thấy mở cửa. Tên mắt ốc nhồi bảo tôi đi cung. Khi tới phòng hỏi cung lúc sáng, tôi đã thấy tên Thành và tên Đức ngồi đấy, cũng với cái cặp hồ sơ dầy cộm trên bàn.

Tên Thành chỉ chiếc ghế đẩu trước bàn bảo tôi ngồi. Tên Đức giở hồ sơ:

– Bây giờ, anh khai lại chi tiết từ nhỏ theo chúng tôi hỏi.

Hết tên này hỏi lại đến tên kia, nhất là chỗ nào chúng chưa rõ, chỗ nào chúng cho là không hợp lý. Lần này thì chúng hỏi quá chi tiết, cả những việc tôi nghĩ không cần thiết như chơi đùa, bạn với ai, tính bố, tính mẹ, tính thầy giáo v.v…; từ lúc tôi còn 6,7 tuổi trở đi… Ngược lại, lần này, nhiều chỗ tôi lướt đi thì chúng lại hỏi kỹ.

Tới 5 giờ chiều, tên Đức đọc lại cho tôi nghe và bắt tôi ký. Chúng cho tôi về, 6 giờ lại gọi lên, tiếp tục cho tới 9 giờ tối. Ngày nào cũng 3 buổi, tôi mệt rã rời. Chỗ chân tôi vết thuơng lại làm mủ rất đau nhức, chả có thuốc gì ngoài thuốc đỏ.

Cứ liên tục đi cung ngày ba buổi, cả thứ Bảy, Chủ Nhật, 16 ngày liền, tôi mới chỉ khai được tới chỗ tôi bị bắt. Lúc đó đã sang giữa tháng 7/1962, tôi bị bắt vào ngày 24 tháng 6, như thế tôi đã ở trong xà lim hơn 20 ngày rồi. Người tôi đã gầy hẳn đi, dù rằng bây giờ, tôi đã ăn hết cơm, và còn vẫn đói. Điều chính là vì xà lim thật nóng và nhiều muỗi. Suốt đêm, tôi phải cởi trần trùng trục, mồ hôi nhễ nhại. Cái sàn nhớp nháp trắng cả ra vì mồ hôi của tôi. Mồ hôi tôi đêm nào cũng chảy ướt hết cạp quần, thế mà vẫn phải lấy áo đắp vì muỗi. Suốt đêm, giấc ngủ không yên, chỉ có cái áo vừa khua muỗi vừa đắp; lại còn đầu óc căng thẳng vì cung kẹo hàng ngày.

Một hôm, tôi đi cung về, tên Nhiễm Hạ sĩ coi xà lim mở cửa buồng rồi nói:

– Anh có gì trong này mang hết đi!

Tôi có quái gỉ ngoài một bộ quần áo sọc cũ, chiếc khăn mặt và cái lược sừng con. Tôi ôm đồ ra. Dẫn tôi đến buồng số 5, y mở cửa, vào phòng tôi thấy trong đó đã có một ngưòi, chừng 45 tuổi, trần trùng trục, mặc mỗi cái quần đùi đen. Khi lão Nhiễm đóng cửa, tôi quay lại nhìn người đàn ông, ông ta cũng chột một mắt như Phan Thanh Vân. Ông hỏi tôi thân mật:

– Anh bị bắt vào lâu chưa?

Tôi cũng tình cảm:

– Hơn 20 ngày rồi, còn Bác?

Ông chậm rãi:

– Gần 2 tháng.

Tôi tiếp tục:

– Bác bị bắt vì tội gì?

– Vượt tuyến vào Nam. Còn anh?

– Vượt tuyến ra Bắc…

Cả hai cùng cười, tôi hỏi nhạt:

– Thế mà gặp nhau ở một điểm!

Nhìn cái túi vải to ở đầu sàn ông ta, tôi nhẹ nhàng hỏi:

– Bác ở đâu?

Ông ta có vẻ thận trọng:

– Chợ Mơ!…

Giữa lúc đó cửa buồng mở. Giờ lấy cơm. Cái gáo dừa của tôi lần này bé quá, chỉ bằng 2/3 cái trước. Tôi không có đũa, phải xin lão Nhiễm cho tôi lấy đôi đũa ở đầu cùm buống số 6 cũ của tôi.

Tôi được biết tên ông chột mắt là Hoàn, Lê Văn Hoàn. Sau khi cửa buồng đóng, mỗi người một sàn, đều để bát cơm lên cái cùm ngồi ăn.

Tôi thấy ông ta giở túi lấy ra một gói bánh mì khô đã cắt thành từng miếng nhỏ. Ông ta lấy hai miếng để ăn thêm với cơm. Chỉ có 2 người một xà lim, cho nên đương nhiên phải nói chuyện. Phần tôi, do phản xạ nghiệp vụ nên luôn luôn cảnh giác. Nếu là khổ nhục kế hay các thủ đoạn moi tin thì đừng hòng!

Tôi tự đặt cho mình một nguyên tắc là dù tù giả hay tù thật, tôi cũng không bao giờ nói những gì tôi không khai với chấp pháp. Tôi cũng phải xác minh xem ông Hoàn này là tù thực hay tù giả.

Qua những câu chuyện trao đổi, tôi được biết. Ông Hoàn là cán bộ lưu dụng, y sĩ thú y, quen biết nhiều người trong chế độ cũ đã đi di cư vào Nam. Ông có bằng trung học trước đây, nên Pháp văn cũng khá. Ông có vợ con và nhà ở vùng chợ Mơ, ngoại thành Hà Nội. Vì cách đối xử phân biệt kỳ thị cán bộ trong ngành nên ông buồn, công tác tiêu cực, nên cuối cùng bị cho về vườn. Ông cố gắng chịu đựng cảnh túng nghèo, nhưng cuộc sống càng ngày càng bế tắc. Ông nghĩ tới những bạn bè đã đi vào Nam, rồi từ đó đưa đến ý tưởng vượt tuyến. Tư tưởng ra đi cứ nhen nhúm âm ỉ cho tới một ngày, ông gặp lại một người bạn học cũ, cũng đang sống lất lây ở Hải Phòng lên chơi. Hai người đã tâm sự luận bàn suốt cả đêm, rồi sau đó đã hoạch định một cuộc vượt tuyến vào Nam. Đến ngày đi, vì tình cảm bịn rịn vợ con, ông đã ăn một bữa cơm từ biệt và dặn dò vợ con. Đứa con trai út 10 tuổi của ông đã vô tình nói với bạn nó. Từ đấy, công an biết và theo dõi. Hai ông đi đến Thanh Hóa thì bị bắt.

Nghe ông kể lại chuyện của ông, tôi chả đặt vấn đề là tin hay không tin gì cả. Cứ như là nghe cho biết vậy thôi. Phần tôi, tôi cứ thực hiện nguyên tắc đã tự đặt cho mình. Nghĩa là, tôi cũng kể sơ cho ông nghe (những điều tôi đã khai với chấp pháp) là tôi ra Bắc có nhiệm vụ về quân sự. Vì có thiện cảm với xã hội chủ nghĩa, nên tôi chẳng muốn làm gì, chỉ thích đi chơi, đi lang thang khắp Hà Nội…

Rồi tương kế, tựu kế, giả như ông ta là người của Cộng Sản làm khổ nhục kế để moi tin, thì qua ông, tôi đã “vờ” thổ lộ được những tâm sự “rất thành khẩn”. Nào là: Xã hội chủ nghĩa thật công bằng, ai cũng như ai, không có kẻ giàu người nghèo như trong Nam. Bác Hồ sống thật giản dị, uy tín của bác thật lớn. Trong tự điển Anh và Pháp cũng thấy nói đến tên bác. Các nhà văn, nhà thơ ít vào miền Nam, hầu hết đều ở miền Bắc, theo kháng chiến. Như vậy, chế độ miền Bắc là chính nghĩa, v.v…

Để biết rõ ông Hoàn này là thực hay giả, nên trong những ngày chung đụng chuyện trò, một lần tôi giả vờ “vô tình” tiết lộ một điều mà tôi chưa hề khai với chấp pháp: Đó là chuyện hồi 1954, tôi được đón vào Bình Xuyên theo Trung úy Nghĩa.

Còn đối với chấp pháp, qua cách hỏi cung của họ, tôi nắm được một cách chắc chắn là họ không biết gì về tôi cả. Vì thế, họ lần mò từ những sự kiện nhỏ nhặt, những mâu thuẫn, câu nói, những sơ hở… của tôi, để từ đấy hòng phanh phui để biết cái thực về tôi.

Điều quan trọng đối với tôi là phải nhớ những điều gì mình đã khai ra, và những điều gì mình chưa hề khai, sao cho hợp lý. Nhiều khi phải vờ quên một sự việc này để che lấp một sự việc kia; hoặc làm ra vẻ ngây thơ non dại để dùng một sự kiện kia làm sáng tỏ sự việc này v.v… Nói chung, đây chính là một cuộc đấu tranh bằng mưu mô, thủ đoạn, giữa một bên là một mình tôi và bên kia là cả một tập thể phòng 44, phòng chấp pháp chính trị của Hà Nội. Cho nên, đầu óc tôi luôn luôn căng thẳng. Những lần đi cung, tôi cũng mắc phải nhiều sai lầm. Có những sai lầm trầm trọng.

Trong cuộc đấu trí này, tôi bị yếu thế về nhiều mặt như: Tôi hoàn toàn bị động, họ chủ động mọi mặt. Tôi chỉ như một con chim ở trong lồng, họ có đủ mọi ưu thế của một người cho ăn, hay để cho chết đói hoặc khát. Họ có đủ kiểu cách để biết chỗ yếu của con chim ở trong lồng kia để từ đó, chỉ huy con chim theo ý người. Vả lại, tuổi đời tôi vẫn còn trẻ, vẫn còn bồng bột ngây thơ, chưa hiểu biết mọi mặt của cuộc đời; Tuổi “nghiệp vụ” cũng chưa được bao nhiêu, vẫn còn ấu trĩ và chưa hiểu đủ về Cộng Sản.

Tôi cố suy nghĩ, tìm ra những cái ưu của mình và tăng cường phát huy tối đa để phần nào xóa bớt những cái nhược trên. Tôi phải tỉnh táo sáng suốt, nhìn rõ mọi sự việc để đối ứng; kiên trì chịu đựng đau thương gian khổ; nâng cao ý chí căm thù giặc cộng. Lấy ý thức Thiên Chúa Giáo và lý tưởng tự do làm cứu cánh.

Sau những ngày tôi phải khai báo chi tiết toàn bộ, một hôm, gần cuối tháng 7 (1962), chúng gọi tôi lên. Lần này, chỉ có tên Đức và một tên cảnh sát lạ mặt đội mũ cối cùng ngồi trong phòng với hắn. Tên Đức chỉ tôi ngồi, rồi nói:

– Bây giờ, chúng tôi yêu cầu anh, mỗi ngày hai buổi lên đây. Anh sẽ ngồi viết bản tự khai chi tiết về toàn bộ cuộc đời anh: Ở nhà quê đi học thế nào? Ra Hà Nội, làm gì, với ai và ở đâu? Vì sao vào Nam, làm gì? v.v…Tất cả mọi vấn đề cho tới lúc đi lính, vào tình báo, rồi ra Hà Nội. Ra Hà Nội làm những cái gì? Đi những đâu? Tiếp xúc với những ai? Cho tới khi bị bắt…

Hắn cao giọng:

– Anh sống hay chết, buồn hay vui của đời anh bây giờ là bản viết này đây. Vậy, phải cố gắng để hưởng lượng khoan hồng, của đảng và nhà nước. Đảng và nhà nước đang mở cửa chờ anh. Anh có toàn quyền viết khác hẳn những lời, những việc đã khai báo trước đây, hoặc những chỗ khi khai báo đã lú lẫn quên đi. Hàng ngày sẽ có một đồng chí cảnh sát ngồi đây với anh. Có yêu cầu gì về giấy bút, hoặc xin đi vệ sinh, phải báo cáo với đồng chí cảnh sát, đồng chí đó sẽ giải quyết. Thái độ viết phải khẩn trương, nhưng không hạn chế thời gian.

Tôi luôn miệng vâng dạ, tỏ ra rất ngoan ngoãn dễ bảo. Từ đó, cứ ngày hai buổi: Sáng từ 8 giờ, mụ Hoa hoặc tên mắt ốc nhồi (sau tôi biết tên hắn là Bằng), đôi khi một mụ khác tên là Thơ, Trung sĩ coi khu nữ vào dẫn tôi đi, cũng như dẫn về. 12 giờ trưa về, 1 giờ lại đi và chiều 5 giờ về. Ngày 8 tiếng, Chủ Nhật nghỉ.

Thời gian viết này, tuy tôi có vẻ thoải mái hơn trước, nhưng đầu óc cũng không kém suy nghĩ, tính toán. Tôi phải vừa cân nhắc viết gì cho hợp với những điều đã nói, để choáng những sự việc và những thời gian tôi cần giấu, vừa phải ghi nhớ những điều mình đã viết ra và những điều mình đã nói trước đó. Hàng đêm, tôi cứ phải nhẩm lại những điều mình đã viết lúc ban ngày.

Chân tôi gần một tháng mới khỏi. Cũng chính tôi đã lợi dụng tên Hoàn ở cùng phòng, giúp về việc chữa chạy cái chân đau này. Qua một số những thử thách, tôi chắc đến 80% y là loại khổ nhục kế vào nằm với tôi để móc tin, vì thế, khi chân tôi mưng mủ làm đau nhức, đêm đêm, tôi cứ than van tâm sự với lão:

Bác ạ, nhiều lúc cháu đang suy nghĩ để viết ra hết những điều họ huấn luyện cháu, hoặc những thủ đoạn mưu mô họ giảng dậy cho cháu, nhưng cái chân lại đau nhức không thể chịu được, làm ảnh hưởng đến cái đầu, khiến cháu quên tiệt.

Mấy ngày sau đó, y bảo tôi đứng ở cửa sổ nhỏ cứ báo cáo ầm lên là cần y tá. Tôi làm theo và được lão cán bộ Nhiễm, đưa bà Dậu y tá vào tiêm cho một phát và cho thuốc rắc vào vết thuơng. Dăm ngày sau, chân tôi khỏi.

Lão Hoàn, cứ mươi ngày hoặc một tuần lễ lại có chuối ăn. Y ra vẻ tâm sự:

– Con bé cháu là giáo viên, quen một anh công an ở đây, nên được đặc biệt tiếp tế một tháng hai lần.

Tuy chưa kết luận hoàn toàn, nhưng tôi đoán là sớm muộn lão Hoàn cũng đi chỗ khác. Bởi vì, những điều hắn biết chẳng thể hơn được, những điều chấp pháp biết về tôi; nhiều chỗ còn không biết bằng. Một hôm, đầu tháng 8, một việc làm không hợp lý của lão càng lộ rõ hơn. Lúc đó, khoảng 6 giờ chiều, tôi đi cung về chừng hơn một tiếng, lão ra đứng chỗ cửa sổ nhỏ, chõ mồm ra ngoài gọi:

– Số 6! Số 6! Có khỏe không? (tức buồng số 6 bên cạnh).

Lão mới gọi được 2 tiếng, cửa nhỏ xoạch mở. Lão Hoàn lùi lại, lão Nhiễm chỉ tay vào buồng:

– Ai vừa gọi? Hai anh, anh nào?

Tất nhiên, phải có người nhận. Lão Hoàn có vẻ rụt rè:

– Thưa ông… tôi…

Cửa lớn mở, cùm rút ra và Nhiễm quát:

– Bỏ chân vào! Anh dám liên lạc với buồng bên cạnh à!?

Hoàn cố nằn nì:

– Xin cán bộ tha cho!

Lão Nhiễm nghiêm mặt:

– Bỏ ngay chân vào!

Hoàn từ từ bỏ một chân vào cùm. Khi xập cái cùm xuống, lão Hoàn cố ý đẩy cái chân lên quá sâu, để cái cùm lên tới ngang bắp chân, nên lỗ cùm không vừa. Mồm lão kêu tía lia:

– Thưa cán bộ, không vừa, đè xuống gẫy chân tôi mất!

Thời Pháp làm cùm này là cùm đúc, họ đã tính hết các cỡ chân, thế mà lão Nhiễm loay mãi không cùm được (?), lão quát:

– Ôm quần áo theo tôi!

Lão Hoàn luýnh quýnh vơ cái túi, khăn mặt, v.v… Lại vờ ôm theo cả cái gáo, khi Nhiễm hất tay lão, bảo bỏ lại, y mới nghe theo.

Cửa đóng, tôi chỉ còn một mình. Tốt quá, được cái gáo to một chút, đỡ khổ!

Thật là buồn cười và nhạt nhẽo. Gần một tháng ở chung buồng với tôi, lão Hoàn tỏ ra là một người trầm tĩnh, với tuổi đời đã 46. Tại sao, bữa nay lại có cái hành động trẻ con nhố nhăng như vậy? Đến tôi còn chưa làm thế huống chi lão. Gọi buồng bên cạnh bâng quơ để giải quyết cái gì, trong khi nội quy nghiêm ngặt rõ ràng. Từ đấy, tôi chẳng bao giờ thấy Hoàn nữa.

Có thể trước đó, bọn Cộng Sản tính rằng, tên Hoàn và tôi gặp nhau là hợp. Một người trí thức, hiểu biết, không thích Cộng Sản trốn vào Nam; một người hoạt động cho miền Nam, lại ở miền Nam ra, gặp nhau, hợp quá rồi còn gì nữa!

Lão tìm hiểu về miền Nam là hợp lý. Tôi trả lời rất nhiều chuyện, nhưng chuyện nào cũng tỏ ra chê bai, nghĩa là tìm những mặt xấu để phê phán về chế độ miền Nam. Chúng định, qua lão Hoàn này, sẽ khai thác được cả về mặt tư tưởng lẫn sự việc của tôi. Đừng hòng! Nếu lão cứ theo những lời tâm sự của tôi để báo cáo, thì tôi là người yêu xã hội chủ nghĩa quá xa rồi còn gì!

26. Vẫn Trò Cân Não Trong Sự Sống Chết Tù Đày…

Dạo này, trời chuyển sang Thu, không khí trở lên dễ chịu. Tôi đỡ khổ với cái nóng, cái hôi hám của cơ thể, nhưng muỗi thì vẫn hành tôi. Dù đêm nào tôi cũng phải chập chờn đập, đuổi muỗi, nhưng tay, chân và những chỗ hở quần áo không che được trên người tôi, luôn luôn có vết muỗi đốt mới. Vết cũ mờ dần, còn mặt vì không có gương, tôi chả làm sao nhìn ra được.

Tôi viết khoảng 26, 27 ngày thì xong. Được gần 90 trang giấy. Hai ngày sau khi viết xong, tôi lại bị gọi lên cung.

Hôm nay có Đức và một người lạ, sau này tôi được biết tên y là Nhuận, da đen đen chừng hơn 30 tuổi. Ngay sau khi vừa bước chân vào phòng, thái độ của họ nhìn tôi như kẻ thù. Tôi chỉ biết ngồi xuống chiếc ghế đẩu trước bàn chúng như mọi khi, cúi đầu, chờ đợi. Tên Đức đập mạnh tập giấy tôi viết xuống bàn.

– Anh viết thế này à!? Anh coi công an là trò đùa với anh đấy à?

Tên Nhuận đập bàn đánh cái rầm một tiếng, quát:

– Anh muốn sống hay muốn chết? Với cái trò trẻ con này, anh muốn qua mặt công an ư? Chúng tôi tỏ lượng khoan hồng cho phép anh ngồi viết, anh viết láo thế này à?

Chúng nó đập bàn xô ghế, quát tháo, nạt nộ, xỉ vả ầm ầm. Tôi cứ lặng lẽ ngồi yên cúi đầu, mặc cho chúng nổi trận lôi đình. Mãi tới khi chúng quát:

– Anh câm à? Trả lời đi!

Tôi ngửng đầu lên nhìn chúng với ánh mắt sợ sệt buồn khổ:

– Thưa các ông, tôi chỉ biết thành thật viết hết những điều chính về cuộc đời tôi, và tất cả những cái gì Mỹ Diệm đã huấn luyện tôi, cũng như những việc tôi đã làm khi ra ngoài Bắc…

Tên Đức đập tập giấy tôi viết xuống bàn, trước mặt tôi:

– Anh tuởng anh ở trong Nam, chúng tôi không biết được anh à? Anh ra ngoài Bắc làm gì, đi những đâu, chúng tôi biết từ lúc anh chuẩn bị ra đây cơ. Nhiệm vụ anh ra ngoài Bắc, anh khai hoàn toàn láo toét hết.

Tôi tỏ thái độ thành khẩn:

– Thưa các ông, tôi hiểu cách mạng lắm. Ngay ở trong Nam, các ông không thiếu gì người nằm trong chính quyền. Tôi tin rằng, ngay trong cơ quan tình báo của miền Nam cũng có người của các ông, vì thế tôi đã rất thành thực khai báo sự thật. Hơn nữa, tôi cũng chẳng thích chế độ Mỹ Diệm, nên khi ra tới Hà Nội, tôi đã chẳng làm gì cho chúng cả, tôi chỉ đi chơi thôi…

Tên Nhuận chỉ vào mặt tôi:

– Anh câm cái miệng anh lại, đừng bịp chúng tôi. Ngay từ khi anh di cư vào miền Nam, cách mạng đã biết anh rồi! Anh làm cái gì, ở đâu, giao thiệp với những ai. Anh tưởng, anh che giấu được à? Tôi hỏi anh có biết tên Nghĩa không?

Tôi vờ mở to mắt ngạc nhiên:

– Có phải Nghĩa ở trại sinh di cư Phú Thọ, học đệ tứ Chu Văn An phải không ạ?

Nó đập bàn gắt:

– Đừng vờ vịt. Thằng Nghĩa Trung Úy Bình Xuyên, anh có biết không?

Tôi vờ tái mặt, giật mình sợ sệt:

– Dạ có!…

Trong lòng tôi thầm nghĩ, thì ra là thằng già Lê Văn Hoàn chó chết đây mà. Tao đã biết trước, và bây giờ thì kết luận về mày được rồi đây! Tên Đức hý hửng ra mặt:

– Đấy, anh giấu chúng tôi sao được! Còn bao nhiêu việc khác nữa. Tôi cho phép anh khai báo lại. Không thì anh sẽ biết, anh sẽ chết một cách khốn nạn, đau đớn!

Tôi tỏ ra rất hoang mang, sợ sệt, nét mặt ủ rũ như cố nhớ lại một điều gì, rồi như chợt nhớ ra, tươi lên:

– Thưa các ông, tôi không ngờ các ông lại biết rõ thế. Thực sự trước đây, tôi thấy không cần nói đến tên Nghĩa ở Bình Xuyên. Bởi vì trước đây tôi vào Bình Xuyên chỉ có mươi ngày, mà lại là do tính trẻ con tò mò của mình, không liên quan gì đến chính quyền Ngô Đình Diệm, nên tôi đã không nói. Vừa qua, tôi đã rất thành khẩn khai báo, tôi cứ lo âu không biết cách mạng có hiểu rõ cho sự thành khẩn của tôi không. Nhưng, thế này, tôi rất mừng, cách mạng đã hiểu hết tôi không lo gì nữa.

Chúng nó nhìn đăm đăm, nét mặt cau cau lại, miệng nhếch mép cười:

– Anh đừng già họng nữa, nghe tôi hỏi đây…

Chúng giở tập tôi viết và tập hồ sơ của chúng. Thằng thì hỏi:

– Thời gian ở trại định cư Hà Nội Hố Nai, anh quan hệ với linh mục Loan, trưởng trại thế nào???

Thằng thì hỏi:

– Tên Hòa là người Bắc hay Nam? Anh hãy tả lại người nó tôi xem? Nó hay mặc quần áo gì?…

Trả lời câu này, tôi cứ hình dung ra bóng dáng của ông cậu tôi hiện đang sống ở Pháp để tả.

Lúc thì tên này hỏi:

– Anh ở đoàn võ Đinh Bộ Lĩnh thường đi với ai?

Lúc thì tên kia cật vấn:

– Năm anh học Đệ Nhị, trường Hưng Đạo, Cống Quỳnh, những giáo viên nào dậy anh?

Chúng nó hỏi lung tung. Đầu óc tôi quá mệt mỏi. 12 giờ trở về xà lim, người tôi đờ đẫn. 1 giờ chiều lại tiếp tục, 5 giờ về, 6 giờ lại đi đến 9 giờ tối. Cứ như vậy kéo dài hơn một tháng trời. Có hôm 3 thằng hỏi, quát nạt, đe dọa; thậm chí có một vài ngày đến 4 thằng thay phiên hỏi, truy. Ban ngày, tụi công an hành hạ. Ban đêm, muỗi đua nhau hút máu.

Chỉ có một thời gian ngắn, chân tay tôi đã khẳng khiu, xanh tái. Hơn nữa, tôi càng ngày càng thấy đói nhiều, dần dần mỗi ngày mỗi thiếu. Cơ thể tôi còn chút nào dự trữ, chắc đã bóc ra hết. Tôi nhớ lại, từ lúc mới vào, tuần đầu ăn không hết suất cơm. Hai tuần sau, chén ngon lành. Bây giờ, tôi ước gì được 2 suất ăn cho no một bữa, nhưng không có.

Ngày nào cũng vậy, dù đầu óc căng thẳng vì cung kẹo, nhưng khi về buồng, thấy bát cơm là vồ vập ăn ngay, vừa mới ăn đã hết rồi. Bát cơm không còn một mẩu hạt cơm dính, canh húp đến khô cả bát, thế mà mồm vẫn còn thòm thèm, mắt còn nhớn nhác tiếc rẻ nhìn hai cái bát đã sạch trơn.

Mỗi lần ngồi xuống đứng lên, tôi đã mắt hoa đầu váng. Thế mà những con muỗi ác ôn, đêm đêm vẫn cứ rủ nhau hút máu của tôi mãi. Hình như chúng toa rập với lũ cộng dã man, để hành hạ tấm thân chỉ còn xương với da của tôi tới chết. Móng tay, móng chân của tôi dài ra, tôi cũng chưa biết làm sao cắt được. Trong những lần đi cung, trên đường đi, một hôm tôi bất chợt thoáng thấy một cái đinh dài chừng 4 phân. Hai ba lần tôi định nhặt, nhưng chưa có thời cơ nào thuận tiện. Rồi một bữa, mụ Hoa dẫn tôi về ngang qua đấy, may quá có một cô tù chạy ra báo cáo gì với mụ. Tôi ngồi xuống, lẹ tay vớt một cái. Thế là được rồi. Những buổi sau đó, tôi ngồi mài mãi đinh xuống sàn xi măng. Mài vài buổi, giờ tôi đã có một con dao nhỏ xíu, nhưng đủ để giải quyết những cái móng tay móng chân, đôi khi còn… ngoáy tai nữa.

Bất ngờ một hôm, cửa sổ nhỏ xịch mở, tôi đang ngồi cắt móng tay, không giấu kịp. Thế là tên Nhiễm quát, bắt đưa cho y. Sau đó, y mới mở cửa lớn. Tên này thật tinh quái, y sợ rằng trong lúc loay hoay mở cửa lớn, tôi có thể ném cái đinh vào một góc buồng rồi chối biến đi, nên y đã bắt tôi đưa cái đinh rồi mới mở cửa. Y vào lục lọi khám xét hết cả người tôi. Mọi xó xỉnh, kể cả kẽ cùm, không có gì nữa, y ra và đóng cửa lại. Chừng 30 phút sau, tôi nghe tiếng dép trở lại, rồi động ở đầu cùm, và chốt cùm rút ra kêu cái xoạch. Tôi hết hồn. Cửa lớn mở, y vào cầm theo tờ giấy, đọc:

– Lệnh của ban giám thị kỷ luật: Tên Đặng Chí Bình phạt 7 ngày cùm hai chân. Kể từ ngày… đến ngày… vì đã đưa kim khí vào buồng xà lim.

Tên Nhiễm nhìn tôi, ra lệnh:

– Anh hãy chấp hành lệnh kỷ luật.

Tôi thật buồn khổ, biết có xin cũng chả được, đành phải nhắc hai cẳng cho vào cùm. Trong lòng rất hận tên Nhiễm chó chết này. Thế là lại hai chân trong cùm. Đêm hôm đó thật là cay đắng cuộc đời. Hai đầu gối mỏi dừ, muốn co người lại, phải lựa thế từ từ tụt người xuống chỗ cùm một lúc, rồi lại từ từ lựa để lết người lên. Bởi vì cạnh cái cùm rất sắc. Cũng may, kỳ này tôi gầy đét nên hai chân trong lỗ cùm cũng lỏng. Thế nhưng ban đêm, lúc mệt quá thiếp đi, trong khi mê ngủ, quen như mọi bữa mỏi chân thì co mạnh lên, lại bị trầy da chảy máu. Ngồi nhìn máu chân chảy ra trong đêm khuya vắng lặng dưới ánh đèn điện một mình, lại chẳng có gì để rịt, tôi chỉ biết lấy ngón tay quệt; lại chảy, lại quệt…Ôi, thân phận lao tù! Sao giữa loài người với nhau mà tàn ác với nhau như thế này!

Có tiếng rên văng vẳng đâu đây, ở một buồng nào đó? Thỉnh thoảng một tiếng rúc dài chặc… chặc… chặc… của một con mối, ngoáy vào trong đêm trường nghe như lời than vãn xót thương, cho những kiếp người cùng khổ! Tôi cứ ngồi như thế mãi trong đêm thâu, một tay đuổi muỗi, và một tay thỉnh thoảng lại quệt giòng máu vẫn rỉ ra. Máu tôi bây giờ, quá loãng không đông lại được. Bụng róc rách cồn cào, chẳng hiểu trong bụng tôi có giun nào không? Nếu có, chú mày phen này cũng phải nằm liệt! Một sự an ủi tương đồng chợt nhú lên trong óc tôi. Tôi đói, một sinh vật nữa (biết đâu lại vài con thì sao) cũng đang không nằm yên được, cũng dẫy dụa… thèm ăn như tôi. Chẳng đâu xa, ở ngay trong tôi. Tôi đang miên man trong rừng sầu, chợt cửa nhỏ mở, tối mò không trông rõ là bộ mặt ai:

– Sao không ngủ, ngồi làm gì?

Cũng tiếng hỏi như mọi khi, nhưng hôm nay như ẩn tàng một niềm xót xa giữa người với người. Tôi dịu giọng chỉ vào chân:

– Chân tôi bị cạnh cùm làm chảy máu, nó không cầm!

Một lúc, tôi nghe tiếng:

– Rịt chỗ thuốc này vào.

Một ngón tay thò vào, trên đầu ngón có ít thuốc lào. Tôi xố xoay người tìm thế với tay ra. Một bàn tay run rẩy chơi vơi, vì cạnh cùm nghiến vào chân, đang cố dướn tới. Một ngón tay ráng sức thò vào, chỉ cách nhau có 2 phân. Hai bên cùng cố, tôi gắng liều, dù chân có bị cứa ở chỗ khác nữa. Rồi cuối cùng cũng được. Tôi xoay thế để ngồi lại, rịt chỗ thuốc lào đó vào chỗ đang rỉ máu. Cửa nhỏ đóng lại. Tiếng dép trong đêm dài xa dần.

Một người nào đó có trách nhiệm đi tuần đêm? Như vậy, dưới đáy con tim của người này vẫn còn một chút chất người! Một niềm tin tưởng dậy lên trong tôi:

Cộng sản không thể nhuộm đỏ hết được tâm hồn mọi người.

Sáng hôm sau vẫn đi cung. Phải nói là lúc này tôi sợ đi cung quá rồi. Tôi chỉ muốn được nằm yên, nhưng bây giờ, đi cung thì tuy bị chưởi bới, nhiếc móc, nhưng cái cái chân lại được nghỉ. Cho nên, giữa hai cái cùng khổ cả, tôi phải thích cái khổ ít hơn vậy.

Vào buồng hỏi cung, cũng tên Nhuận da chì và tên Đức. Tôi không thể ngờ chúng lại truy kỹ như vậy. Nhiều lúc tôi cũng không biết trả lời sao, dù việc đó là sự thật. Thí dụ, một lần nó hỏi:

– Anh nói anh vào nhà thờ “X”, vậy anh gặp những ai?

– Tôi chỉ thấy mấy ông bà già…

– Vào để làm gì?

– Tôi là người Công giáo. Vì hoàn cảnh bắt buộc phải ra Bắc. Tôi sống chơ vơ, heo hút lang thang một mình, chả biết ngày mai ra sao nên tôi tìm vào bất cứ một nhà thờ nào có linh mục để xưng tội. Lỡ có sao, thì mình chết vô tội…

Tên Đức đập tay vào bàn nghe cái “thình”, rồi y đứng giỗ dậy sừng sộ:

– Anh nói láo thế à! Anh định bịp chúng tôi à! Anh đã lợi dụng xưng tội để nói gì với linh mục đó, chúng tôi đã biết hết, biết hết! Anh hãy khai ra đi để chúng tôi thấy được tư tưởng của anh với linh mục đó! Chúng tôi đã ghi âm cả…

Tôi thót tim, lo lắng, chúng nó đã biết hết rồi chăng? Nhưng, tôi chợt nhớ và suy lý, nếu chúng biết sao chúng không hỏi một tí gì về việc tôi trao thư tay cho linh mục? Để thăm dò, tôi vờ ngờ ngác trả lời:

– Tôi chẳng hề biết linh mục đó là ai. Tôi cũng chả để ý nhìn người, thế thì tôi nói chuyện cái gì?

Chúng cứ khẳng quyết là tôi đã nói gì với linh mục đó. Rồi không sao được, chúng bắt tôi tường thuật tỉ mỉ chi tiết đã xưng tội những gì… Phần vì, tôi sợ là chúng sẽ lấy lời khai của tôi rồi vào bịp Cha A, khó cho cha trả lời; phần khác, tôi đã nắm được chuyện ghi âm của chúng là chuyện không thực, cho nên tôi mạnh bạo:

– Chuyện xưng tội chỉ là lấy lệ của người Công giáo. Vì thế, tôi không quan tâm nhiều, nên tôi chả nhớ những tội vặt của tôi.

Đến đây, tôi biết là vừa rồi chúng chỉ trộ tôi. Tôi ý thức sẽ lợi về sau, nên tôi cũng không hề nhắc hay đòi nghe cuốn băng ghi âm. Cuối cùng, mãi không được, tên Đức xẵng giọng:

– Lúc trở ra anh gặp ai?

– Tôi chỉ thấy xe cộ và người đi lại…

– Người đi lại đó, ăn mặc thế nào?

– Tôi chẳng để ý nên không biết.

Nó lại đập bàn:

– Mắt anh nhắm hay mở mà nói không biết!?

– Tôi không biết thực, ông cứ bảo tôi biết thì làm sao tôi nói?…

Hoặc nó hỏi:

– Cơ quan tình báo của and ở đâu?

– Tôi không biết, hàng ngày tên Hòa đến dạy tôi, chứ tôi không biết.

– Anh nói láo! Anh nói thế mà tai anh nghe được à! Đi làm mà không biết cơ quan ở đâu, không biết cơ quan gì!?

– Thưa các ông, thực sự tôi không hề biết. Tôi nhiều khi muốn biết, nhưng trong bài học, ông đã biết đấy, tôi không được hỏi hoặc tìm hiểu những gì không có liên quan.

– Nhà thằng Hòa ở đâu? Nó thường đi với ai? Thường đi xe gì? Ngoài lúc dậy, thường thấy nó đi đâu?

Suốt cuộc đời tôi, chỗ nào chúng cũng truy. Huấn luyện môn gì, từng môn, thời gian đi học, ở nhà quê, Hà Nội, đi lính ở sư đoàn 7… Cứ miên man, chúng dẫn tôi vào mê hồn trận. Hơn nữa bây giờ, đêm lại bị cùm kẹp, chân tôi tê dại, nhiều lúc chúng đang hỏi cung tôi xỉu, chúng phải cho tôi về.

Tôi đã bị cùm chân nửa tháng, mà không thấy chúng tha. Một hôm, tôi hỏi quản giáo xà lim:

– Báo cáo ông, hôm trước ông đọc biên bản kỷ luật 7 ngày. Bây giờ đã 15 ngày đề nghị ông xét!

Nó cười:

– Anh cứ suy nghĩ đi!

Tôi chẳng hiểu:

– Thưa ông, tôi suy nghĩ gì ạ?

– Suy nghĩ gì thì anh biết, đừng hỏi tôi!

Rồi nó đóng xầm cửa khóa lại. Tôi hiểu rằng đây là tại chấp pháp cho lệnh cùm tôi. Chứ đã có lần tôi thoáng nghe, ở buồng bên cạnh có tù bị cùm, một chân, nghe tiếng đọc biên bản một tuần, thì đúng một tuần là tha, người tù đó cũng vi phạm nội quy. Tôi cũng vậy, mà chỉ là cái đinh con, cắt móng tay, nặng lắm là một tuần cùm một chân. Bây giờ lại bị cùm những hai chân, mà 15 ngày rồi. Tôi giận lắm, nhất định phải làm sao cho rõ vụ này. Tính như vậy, nên hôm sau lên cung tôi hỏi:

– Thưa, có phải các ông cho lệnh cùm tôi, vì tôi khai báo không tốt, phải không ạ?

Chúng nó nói:

– Anh hỏi để làm gì?

– Để tôi xác định rõ vấn đề!

– Chúng tôi không biết anh bị cùm. Đây là do bên trại giam. Anh nói để xác định rõ vấn đề gì?

Tôi nhìn thẳng chúng nó:

– Tôi theo và tôi thích xã hội chủ nghĩa nên tôi mới thành khẩn khai báo. Vậy, tôi khai báo đây là do tự nguyện lòng tôi. Nếu như vì tôi sợ cùm kẹp mới khai báo sự thật, sự khai báo đó cũng chẳng tốt gì. Hơn nữa, đối với tôi, như vậy thà chết còn hơn là sự đau khổ làm một thằng hèn.

Chúng nó quắc mắt:

– Chúng tôi nói là chúng tôi không cùm anh. Để chúng tôi hỏi lại bên trại giam xem thế nào.

Cứ thế ngày tháng trôi qua. Cơ thể tôi cũng dần dần tàn lụi. Tôi nghe trong thân thể mình có nhiều triệu chứng lạ. Hai chân tôi gần như mỗi khi đứng lên không vững nữa. Hai mu bàn chân hình như sưng to lên. Những lúc ỉa đái thật là vất vả đau đớn. Cũng may, hai ba ngày tôi mới đi ngoài một lần, do ăn ít, do không có sức vận động nên thành kiết, táo. Mỗi lần đi ngoài, tôi phải cúi xuống gầm sàn kéo bô ra, mở nắp, đặt sao cho đúng chỗ, rồi tôi lựa nằm nghiêng, đưa mông ra ngoài sàn. Cứ nằm thế mà rặn. Đang đi mà mót giải thì ôi thôi, đành để cho nó chảy qua đùi rồi xuống sàn. Ướt cả quần cũng kệ nó. Chân tê dại, đau nhức, người tôi không còn sức để xê dịch, mỏi dừ, rã rượi. Nằm như vậy, vừa đau, vừa mỏi, vì rất khó khăn, mắt nhiều khi hoa lên, quay cuồng. Lắm lần, đi hai ba tiếng đồng hồ nên tôi thường phải đi vào lúc đêm.

Lúc này, cái sống và cái chết gần kề, tôi chẳng còn biết ngượng ngùng bẩn thỉu là gì nữa. Đang nằm ỉa, có ai mở cửa nhỏ cũng mặc. Đi ra được một hòn phân, có khi cũng chẳng rơi đúng bô, nó văng ra ngoài nền xi măng, cũng để đến mai khi gọi cung, hoặc khi cho đổ, lấy tay nhặt vào. Có cái gì khác nữa đâu, khi đi ngoài xong, cố lựa tay đổ gáo nước, rửa từ từ. Một tay dưới vai lại bị thân mình đè chặt, nên chỉ có mấy ngón tay với lên ngó ngoáy cử động. Nhiều khi nước đổ một chỗ, mà tay lại móc một chỗ khác. Hết cả nước rồi, tay vẫn còn đầy phân, đành cố với tay xuống sàn gầm sàn mà quệt. Đỡ bẩn chút nào hay chút nấy, để còn lựa xoay người lại cho đỡ mỏi tê.

Một đêm, tôi đang mơ màng, bỗng nghe tiếng khè khè ư ử ở buồng bên cạnh, không rõ số 6 hay số 7. Đêm khuya vắng lặng, tôi lắng nghe. Tiếng ư ử tiếp tục, nhiều khi như tắc nghẹn. Tôi đã xác định được tiếng đó từ phòng số 7. Phòng đó cũng bị cùm, mà cùm một chân. Cùm sau tôi chừng 10 ngày, chả biết vì sao.

Tôi suy đoán qua tiếng khò khè: Đó là một người sắp chết vì thắt cổ tự tử. Nhưng, thắt cổ phải có dây, và phải có chỗ treo. Riêng tôi trong nghề biết một cách, chì cần chỗ đuôi cùm trên sàn, nghĩa là chỉ cần cao hơn mặt đất 60 phân, là có thể tự tử được rồi, nhưng với điều kiện không bị cùm chân.

Tôi tò mò nghe ngóng. Nỗi niềm của thân mình cũng đang không muốn sống nữa và một người có thể đang đi dần đến chỗ tắt thở làm tôi cứ thức mãi.

Đêm thâu vắng lặng, thậm chí nghe rõ tiếng muỗi vo ve, tiếng khò khè càng ngày càng yếu dần. Các chú mối lâu lâu lại rống lên một hồi dài (hình như không thích ngủ ban đêm). Mải miên man theo giòng lệ tưởng, tiếng khè khè im bặt tự bao giờ không biết. Mãi sau, tôi nghe tiếng xẹp xẹp rất nhẹ đi vào xà lim, rồi tiếng mở một vài cửa nhỏ. Khi mở tới cửa sổ của tôi, tôi vờ nhắm mắt ngủ. Rồi tới buồng số 7. Nghe tiếng chân chạy ra mạnh hơn. Khoảng 15 phút sau, ba bốn người đi vào.

Tiếng chìa khóa, rồi cửa lớn số 7 mở, tiếng mở cùm. Tôi cố lắng nghe:

– Còn sống không?

– Lâu rồi, máu khô rồi!

Rồi nghe thấy như khiêng một người đi qua buồng tôi. Bất chợt, cửa sổ tôi lại mở, tôi nhắm mắt lẹ nằm im, nghe tiếng cửa nhỏ đóng. Một lúc sau, nghe thấy tiếng nước máy chảy mạnh vào bô. Tiếng nước dội và tiếng chổi quét dưới nền bên buồng số 7.

Sáng hôm sau, lúc đi cung, tôi liếc mắt vẫn còn một ít nước màu đỏ sậm, sót ở vỉa hè trước buồng số 7. Như vậy là một người đã may mắn thoát được cảnh khốn cùng này. Xin chúc mừng và ca ngợi sự dũng cảm của bạn. Có thể rồi đây tôi sẽ xin theo vết chân người.

27. Cố Gắng Để Sống…

Hôm nay ở phòng cung, chúng nó truy hỏi:

– Năm 1953, khi ở Hà Nội về quê, anh phao lên để người ta đồn anh bị điên, tại sao? Có phải tụi đế quốc đã phao tin cho anh như vậy không? Năm 1954, vào Sài Gòn, lại phao tin anh bị chẹt xe chết, như vậy phải chăng do Mỹ Diệm?

Tôi thật là bỡ ngỡ. Nghĩ lại, kỳ hè 1953, tôi về quê chơi, khi đó tôi mới 15 tuổi. Tôi rất yêu cảnh thiên nhiên đồng quê, thích nghe tiếng sáo diều ngân vang, tiếng chày giã gạo, tiếng gà gáy, tiếng chó cắn, tiếng cọt kẹt của tre làng, trong những chiều Hè gió lộng. Tôi thích thở hít mùi hoa bưởi, hoa cau, hoa soan, mùi nồng nồng của phân trâu với rạ ẩm, xen lẫn với mùi thơm ngây ngất của lúa chín vàng, từ ngoài đồng về. Vì thế, cứ mỗi chiều tàn, tôi thường hay lang thang ra cánh đồng rộng một mình. Tụi trẻ con ở nông thôn và cả người lớn làm sao hiểu được tâm tư ấy của tôi. Cụ thể, mỗi khi tôi ở ngoài đồng trở về, chúng vây đến hò hét , có đưa nói là tôi điên. Tôi bực mình đuổi chúng, chúng chạy và nhiều đứa la hò:

“Điên chúng mày ơi!”

Rồi, họ đồn ầm cả huyện là con ông bà ấy, ra tỉnh vì học nhiều, hoặc thất tình nên điên rồ.

Còn vụ chẹt xe: Khi tôi vào Nam, bà Bảo Thịnh là bà cô của tôi có tiệm bán vàng ở mặt phố, trước cửa chợ Bến Thành. Như đã trình bày ở trên, tôi không ưa những người giầu có nên tôi không đến bà. Rồi một lần tình cờ, bà đọc một tờ báo nào đó, có một người trùng tên, họ với tôi bị chẹt xe, đưa vào đến bệnh viện thì chết. Bà viết thư về Bắc, báo cho bố mẹ tôi, khi đó chưa hết hạn 300 ngày của Hải Phòng. Làm bố mẹ tôi đã điên rồ khóc thương bao ngày. Tôi cũng trả lời y như vậy với chấp pháp.

Chúng không tin và vẫn cứ khẳng quyết là do đế quốc đã chuẩn bị dư luận cho tôi từ khi ấy. Tôi cũng chịu cho cái óc đa nghi của chúng thật là phong phú! Tuy vậy, nhờ đó mà tôi hiểu được một điều là chúng đã về tận quê tôi, để nghiên cứu điều tra kỹ càng về tôi và gia đình bố mẹ tôi. Còn những việc trong Nam, chúng chưa cho tôi thấy là chúng có thể tìm hiểu điều tra được. Dù thế, tôi vẫn thấy chờn sợ, cho sự truy hỏi đào sâu đến tận cùng chi tiết, của từng sự việc của chúng.

Truy đi hỏi lại một sự việc có khi đến 7, 8 lần. Hỏi bây giờ rồi bất chợt 8, 9 tháng hay một năm sau lại hỏi lại.

Tôi đã bị cùm hai chân hơn một tháng. Điều lạ lùng là không ai nhận cùm tôi cả, mà chân tôi vẫn cứ ở trong cùm. Hỏi chấp pháp thì họ bảo do bên trại giam. Hỏi trại giam, thì trại giam lại bảo bên chấp pháp. Một hôm trên đường đi cung về, thấy lão Trì, Trung úy Phó Giám Thị, tôi xông bừa đến:

– Báo cáo ban (tôi gọi theo những người tù), tôi bị cùm hai chân đã lâu mà không biết tội gì, xin ban xét!

Y nhìn tôi một lúc rồi hỏi tên, sau khi tôi nói lên, y bảo: Trại không cùm anh. Do ở trên cùm! Nói rồi lão đi luôn. Tôi chẳng hiểu trên là trên nào.

Trời đã vào cuối Thu, mấy hôm nay thỉnh thoảng đã có những đợt gió mùa Đông Bắc mò về sớm. Trời lạnh thì muỗi ít, nhưng cái cùm và cái sàn xi măng đã bắt đầu hành chân và lưng tôi. Cả đêm, hình như tôi chỉ thiếp đi từng lúc. Một buổi sáng hôm đó khi tên Nhiễm vào mở cửa sổ con, bảo tôi mặc quần áo đi cung. Khi y mở cùm, tôi không nhắc nổi chân ra. Tôi phải đưa tay xuống nhấc từng chân ra khỏi cái cùm. Khi đứng lên, chân tôi rã rượi như mất cảm giác, nên tôi phải ngồi ngay xuống. Mụ Hoa gọi cung đứng đấy, giục tôi đi nhưng tôi không đứng dậy nổi. Tôi đau đớn nhăn nhó, cố gắng chống tay xuống đất để đứng lên, nhưng vẫn không thể đứng được. Tên Nhiễm cau mày, tiến lại lôi tôi ra, tôi ngã nằm xoài, đầu đập vào cánh cửa, choáng váng. Y đỡ tôi ngồi lên sàn rồi đóng cửa lại.

Mụ Hoa đi ra, chừng nửa giờ sau, tên Nhiễm lại mở cửa đi vào, nói:

– Lệnh của Ban giám thị cho anh nghỉ một ngày hôm nay. Ngày mai sẽ cùm một chân!

Tôi cảm ơn rối rít. Tôi nhìn lão, hôm nay trông lão “không có vẻ” ác lắm! Mấy tuần đầu tôi ghét lảo cay đắng. Bây giờ, tôi đã hiểu là không phải lão cố ý cùm tôi. Chính do lệnh từ trên xuống, cố tìm cách để có lý do cùm, rồi cùm mãi. Khi mình đã là tù, họ muốn tìm cớ để trị, họ có muôn ngàn cớ.

Cửa đóng lại, tôi nhìn cái chân mình mà lòng thấy sầu khổ. Sống mà cái chân bị hỏng, đời sống thật là khổ nhục. Tôi vẫn nhớ ngày xưa, ở Đại Hội “khỏe” của trường Nguyễn Bá Tòng, tôi đã từng nổi tiếng về điền kinh: Bơi lội, leo dây, nhẩy… Vậy mà giờ đây chân tôi thế này ư? “Hãy nổ lực! Tự mình, chính mình phải cứu lấy mình!”, tôi tự nhủ thầm như vậy. Rồi thực hiện ngay ý định. Đầu tiên, tôi ngồi ngay trên sàn buông thõng hai chân xuống. Mới đầu, tôi phải dùng tay nắm hai chân lắc lắc, sau dần dần chính chân tôi tự lắc. Rồi từ từ hàng giờ sau, tôi đứng được xuống sàn nhà. Tôi chậm chậm đi lại trong cái khung 2 thước vuông ấy. Cứ đi, mệt nghỉ, một lúc lại đi. Bỗng cửa nhỏ mở, lão Nhiễm nhìn tôi tập đi, y mở luôn cửa to, nói:

– Ra lấy cơm!

Tôi với cái gáo, đi ra, không thể đi nhanh, nhưng đi được. Tôi múc gáo nước, cầm bát cơm đi vào. Nhìn mặt y, thấy như thoáng ánh lên một sự cảm thông vì tôi đã nỗ lực để sống. Chắc y đã nghĩ rằng, với cảnh lúc sáng, tôi chưa thể ra lấy cơm được; chứng cớ là y đã phải mở cửa coi trước để nhìn tôi xem thế nào.

Những thực tế tôi đã trải qua trong cuộc sống, đã hình thành trong tôi một quan điểm:

“Hãy tin vào chính mình! Hãy nổ lực hết mình với những cái bản thân mình có! Không ỷ lại! Không trông chờ! Dù cho không đạt được kết quả theo ý muốn, ít ra về mặt tinh thần, cũng không phải đến nỗi thẹn thùng nhìn xuống”.

Qua thực tiễn nhiều thời đại của con người. Ở đâu cũng thế! Phương Tây có câu:

“Aide toi, et le ciel t’aidera”

Mỹ, Anh cũng có câu:

“Heaven helps those who help themselves!”

và Việt Nam chúng ta cũng có câu chuyện về một người nằm há miệng chờ sung rụng.

Hãy trèo lên cây. Nếu vì lý do nào đó, không trèo được, phải tìm cách chọc cho quả sung mình muốn, rơi xuống

Nghĩa là, phải ăn những trái sung trên cây theo ý mình; nếu yếu đuối quá, ít ra cũng phải bò dậy mò mẫm nhặt, những quả sung rơi, như thế vẫn còn một chút chủ động, chọn được quả ngon hơn.

Ăn cơm xong, lúc đi ra trả bát, tôi vẫn còn thấy chân mình bì bì, căn cắn, đi lại còn ngượng ngập. Tôi lại vào ngồi sàn kiên trì tập nữa. Tôi phải tranh thủ ngày hôm nay, kẻo ngày mai lại bị cùm rồi. Lúc này, tôi mới thấy buồng khai và thối. Thảo nào, tên Nhiễm lúc buổi sáng, vừa vào buồng đã nhăn mặt lùi ra ngay.

Buổi chiều, sau khi ăn cơm xong, trả bát, tên Nhiễm rút chốt cùm ra, tôi hiểu đã hết giờ tự do. Tuy trong lòng thắc mắc là y đã nói cho tôi nghỉ một ngày, tôi vẫn tưởng đêm nay còn được tự do nữa chứ. Tuy thế, tôi không muốn hỏi. Nhưng tôi muốn xin đề nghị một chuyện khác. Khi y nhìn tôi, ý bảo tôi cho chân vào, tôi tỏ thái độ lễ phép:

– Thưa ông, buồng của tôi thối quá, xin ông cho tôi tranh thủ 2 phút. Xin ông cho tôi một bô nước, dội cái buồng một cái thôi cho đỡ hôi hám!

Y nhìn tôi với con mắt lừ lừ một lúc, rồi quát: “Mau lên!”

Tôi cố chạy lẹ, dù chân còn tập tễnh, tới chỗ bể nước, mở vội vòi, tráng qua nước giải, rồi lấy đầy bô nước vào đổ trên sàn. Hai tay vội vàng xoa xoa, vét nước xuống nền, lấy chổi thanh hao khua mấy cái, để cho nước chảy ra cái lỗ con ở chỗ chân tường phía đầu nằm. Xong xuôi, tôi ngoan ngoãn vội vàng tự mình nhắc cùm và cho một chân vào trước con mắt gườm gườm của y, trong khi y đang đứng lắc lắc chùm chìa khóa ở tay. Y đóng chốt cùm, rồi đóng cửa, khóa lại. Thế là hết một ngày.

Cùm một chân thật dễ chịu so với hai chân. Không phải chỉ bớt một nửa khó khăn, đau khổ, mà bớt được hai phần ba. Thực thế, với kiểu cùm này, nếu bị cùm hai chân, tôi nghĩ rằng không ai chịu nổi hai tháng. Con người tôi luôn luôn nỗ lực, từ bé nếu không tập võ, tôi cũng tập thể thao, thể dục; vì vậy, trong thời gian bị cùm hai chân, hàng ngày tôi vẫn cố nhúc nhích, cử động với những động tác có thể được, để hai chân và cơ thể lưu thông mạch máu. Thế mà, mới gần 40 ngày, hai chân tôi đã không đứng được nữa. Bây giờ, cùm một chân, tôi có thể xoay người, từ từ ngồi lên cái cùm để gập chân lại, hoặc có thể bước một chân xuống nền buồng để tập thể dục, vận động cơ thể.

Sau khi quản giáo đóng cửa, tôi lấy chiếc quần cũ hơn hì hục lau sàn, vừa khô được cái sàn, vừa đỡ hôi hám. Tôi có thể cúi xuống gầm sàn kéo cái bô ra, đàng hoàng mở nắp thùng đứng tồ, thoải mái. Mọi khi cùm hai chân, dù tôi cố gắng đến mấy cũng đành phải tè ra nhà, vì không dịch được ra mép sàn, đành từ giữa sàn nghiêng nghiêng nằm tè ra. May mắn thì vào bô được một ít, còn thường ra ngoài. Mà ra ngoài thì chính mũi mình ngửi, và khi được mở cùm thì cũng chính mình phải quét dọn. Bây giờ đêm ngủ, khi quá mỏi, tôi vẫn từ từ lựa thế giở mình được, nên thật dễ chịu.

Sáng hôm sau, chưa tới giờ Nhiễm đến, thế mà cửa sổ đã chợt mở. Mặt mụ Hoa, mụ chỉ một ngón tay:

– Mặc quần áo đi cung!

Rồi có tiếng chìa khóa, tiếng rút chốt cùm và cửa lớn mở. Ra tới phòng cung hôm nay, ngoài Nhuận và Đức, tôi thấy lại có thêm một người lạ nữa. Tên này người Huế, chừng 40 tuổi. Tôi lặng lẽ đi vào. Vẫn chiếc ghế đẩu để chơ vơ trước bàn của chúng.

Ngay khi mới tới cửa phòng, mắt tôi đã thoáng thấy một hộp điện lớn đen xì, với nhiều dây điện lổn nhổn, để trên cái bàn nhỏ ở góc phòng. Tôi hiểu ngay là hôm nay tôi sẽ phải đi tầu ngầm, hoặc máy bay mà lúc còn nhỏ, tôi thường nghe người ta nói đó là cách thực dân Pháp thường dùng để tra tấn, những người chống lại chúng. Tôi vờ như chưa nhìn thấy, vẫn ngồi cúi đầu như mọi khi.

Hôm nay, chúng tiếp tục nạt nộ, truy hỏi. Chúng đập bàn, đập ghế ầm ầm, nào là “Anh là một tên phản động từ trong máu, đã ăn nhiều bơ thừa sữa cặn của Mỹ Diệm”, nào là: “…lấy vải thưa che mắt thánh, dám lòe bịp cả bộ công an” v.v… Tôi chỉ biết lẳng lặng cúi đầu trước những lời sỉ vả, quát tháo của chúng. Trong thâm tâm, tôi vẫn lắng nghe, xét và nhận định từng lời, từng thái độ của chúng. Tôi thấy chúng chưa nắm được gì về tôi cả. Chúng đang tìm mọi cách để thọc cho ra những đầu mối, mà tôi không chịu khai. Lòng kiên trì che giấu của tôi như một cái đập ngăn giòng nước. Chúng đang loay hoay nghiên cứu, tìm tòi những lỗ rò. Nếu chúng thọc trúng, nhiều khi đập sẽ bục từng mảng, đôi khi cả đập.

Có những lúc tôi khai thật như: Luơng tháng của tôi 5000 ngàn mỗi tháng và đã viết giấy ủy quyền cho bố nếu tôi bị mất tích; hoặc thời hạn công tác của tôi ở ngoài Bắc là 25 ngày… Chúng vẫn không tin, truy đi hỏi lại nhiều lần, nào là vô lý, nói láo, đừng hòng lấy vải thưa che mắt thánh… Chính những điều này, cái thực mà chúng cũng không tin, đã cho tôi nắm chắc chúng chẳng biết điều gì rõ về tôi, ở trong Nam.

Trước đây, do những điều kiện tự do rởm, và tinh thần cán bộ thiếu ý thức ở Sài Gòn, nên tụi Cộng Sản nằm vùng có thể cài người vào, hầu hết mọi lãnh vực trong những cơ quan từ trung ương tới cơ sở địa phương. Vì thế, tôi cũng phòng hờ nghe ngóng và rất lo. Nhưng qua những sự việc trên, tôi cảm thấy yên tâm. Chúng nó chẳng nắm được gì quan trọng cả. Tuy vậy, cũng có thể vì vấn đề trở ngại thông tin Bắc Nam, chúng chưa đủ thời gian để thẩm tra về tôi chăng? Cho nên, tôi vẫn luôn đề cao cảnh giác, không dám quá chủ quan coi thường đối thủ.

Đến giờ, tôi hiểu thêm được một điều nữa là chúng làm việc có nghiên cứu tập thể. Mỗi một nghi vấn dù nhỏ, trong những sự việc của tôi, chúng đều về đào sâu, nghiên cứu mọi tình huống có thể. Điểm nào chưa sáng tỏ thỏa đáng, chúng đều ghi nhận, rồi gọi tôi lên truy hỏi lại những điều ấy cho tới cùng. Tôi thừa nhận bộ óc tập thể có ưu thế hơn hẳn một cá nhân. Dù vậy, trong trường hợp này, tôi cũng có cái ưu thế của tôi. Tôi chỉ cần có một bộ óc tỉnh táo, và một sự hiểu biết tuơng đối, kết hợp với lòng kiên trì, chấp nhận gian khổ, tôi mong là có thể đối ứng được.

Quát tháo, giận khùng chán chê, thấy tôi vẫn ngồi cúi đầu im lặng, bấy giờ tên người Huế chỉ vào mặt tôi, gọi đích danh:

– Bình! Anh muốn sống hay muốn chết?

Tôi ngửng đầu lên, tỏ vẻ lo sợ lẫn thành khẩn:

– Thưa các ông, giờ đây tôi không biết phải làm như thế nào để các ông tin. Tôi đã khai báo mọi điều tôi biết. Tha thiết mong cách mạng xét cho, tôi được nhờ.

Hơn một tiếng đồng hồ từ khi tôi bước chân vào phòng, chúng cố ý chờ xem thái độ của tôi như thế nào, khi nhìn thấy dụng cụ tra tấn. Nhưng tôi cũng cố ý coi như chưa nhìn thấy. Có lẽ quá lâu, nên chúng sốt ruột, tên Nhuận chỉ về phía cái bàn nhỏ trong góc phòng:

– Anh có biết cái gì kia không?

Tôi vờ như lần đầu tiên nhìn thấy, tôi hiểu rằng dù có sợ hãi xin chúng, chúng cũng không tha. Vả lại, vì chưa có kinh nghiệm và hiểu biết về chúng, tôi vẫn nghĩ một cách đơn giản là mình đã đi làm nghề nghiệp này, chỉ còn gồng mình chấp nhận. Trời đâu có thương nữa mà kêu, mà trách oán! Từ ý nghĩ đó, tôi đã trả lời rất thản nhiên:

– Thưa các ông, tôi hiểu về loại dụng cụ đó. Trước đây tôi đã ngu dốt đi làm nghề nghiệp này. Nay bị bắt, sớm muộn tôi vẫn bị nhiều hành hạ tra tấn. Vậy đây là toàn quyền của các ông. Các ông không tin tôi, tôi không biết làm gì hơn được nữa. Nhưng, có một điều là tôi đã nghĩ không đúng về các ông!

Tên người Huế quắc mắt:

– Anh nghĩ điều gì không đúng về chúng tôi?

Tôi có vẻ đăm chiêu:

– Tôi là một thanh niên sống dưới chế độ miền Nam mà các ông gọi là ngụy quân, ngụy quyền, tay sai của đế quốc Mỹ. Ở miền Nam, tôi thường biết có một số hình thức tra tấn để khai thác phạm nhân. Và tôi đã nghĩ rằng các ông thì khác…

Tên Đức ra vẻ sừng sộ, đứng bật dậy:

– Anh bảo khác, khác thế nào?

– Trước đây, tôi cứ nghĩ các ông là cách mạng. Một chế độ nhân dân, một nền dân chủ thực sự, thường lấy chính nghĩa chứ không dùng bạo lực để lôi kéo lòng người. Tôi vẫn đinh ninh trong lòng như vậy, nên ngay từ khi ra Bắc, tôi đã chẳng muốn hoạt động gì như lời chúng chỉ dậy tôi. Rồi sau khi bị bắt, tôi đã vội vàng thành khẩn khai báo hết với cách mạng. Thêm nữa, quan điểm sống của tôi là: Một là tôi sẽ được mọi người yêu tôi. Hai là tôi sẽ bị cay ghét, căm thù; chứ nhất định tôi sẽ không để ai khinh rẻ. Đặt giả thuyết, bây giờ vì tôi sợ tra tấn, nên mới phải khai báo với các ông, tôi sẽ đau khổ suốt đời vì tôi là một thằng hèn. Thà để thân mình bị tàn tật vì tra tấn, nhưng tinh thần được thảnh thơi hiên ngang nhìn mọi người, không bị tủi thẹn cấu xé. Hơn nữa, khai vì tra tấn, tôi cũng chả tốt gì với các ông…

Tên Nhuận và tên người Huế đều quát:

– Anh đừng già họng nữa!

– Câm ngay cái mồm lại, chúng tôi không phải trẻ con!

Tôi lại im lặng cúi đầu. Một lúc, tên người Huế đứng dậy:

– Bây giờ, chúng tôi cho anh về. Chiều nay lên, chúng tôi sẽ giải quyết.

Tôi chẳng hiểu chiều nay chúng sẽ giải quyết gì. Tôi đứng dậy, lúc đó cũng đã 12 giờ rồi.

Khi lão Bằng giong tôi về tới xà lim, tôi không thấy tên Nhiễm trực ở đấy. Tên Bằng mở cửa, tôi vào rồi y khóa lại. Vì y không trực xà lim nên y quên (hoặc giả y không biết) không bảo tôi bỏ chân vào cùm. Cảm thấy hơi mừng trong dạ, tôi ngồi ăn cơm. Mới chén được nửa bát, cửa sổ đã xoạch mở. Mặt tên Nhiễm. Y rút chốt, đứng ngoài cửa sổ bảo tôi bỏ chân vào cùm. Buồn thật! Thằng chó chết không cho nghỉ một tí để ăn cơm. Mười phút sau, tôi lại thấy rút chốt cùm. Đã quen lệ, tôi vội vàng nhấc cùm lên và rút chân ra. Cửa mở, tôi cầm bát và gáo ra lấy nước. Tôi để dành gáo nước cho việc đi ngoài và súc miệng, rửa mặt. Thường, tôi đã phải cố gắng uống no nước ngay tại chỗ. Điều này làm mãi, nên thành thói quen. Suốt hàng mấy chục năm trời, cho tới bây giờ, tôi cũng chỉ uống nước sau khi hai bữa cơm, còn hầu hết như không thấy khi nào khát nước. Tôi không cần phải uống nước những lúc không ăn.

Lại đóng cùm, lại khóa cửa. Tôi nằm vẩn vơ nhẩm tính sự việc đi cung ban sáng. Chiều nay, chẳng biết có sự gì xẩy đến với tôi. Chưa được mươi phút, cửa nhỏ lại mở. Tên Nhiễm gọi đi cung. Lúc này đã bị bắt gần 4 tháng, râu tóc tôi mọc lung tung beng. Nhiều lúc ngồi không buồn tay cứ rờ rẫm từng sợi râu rồi giật. Cũng thấy đau. Thực ra, ngồi không chả làm gì, hay chả có cái gì để làm, cái tay cứ tự nhiên đưa lên cằm rồi giật, trong khi óc tôi thì cứ trôi theo đường riêng của nó. Bây giờ, gần kề cái chết, đâu cần biết mặt mũi mình ra sao?

Tới phòng cung, tôi vẫn thấy 3 tên lúc sáng. Chiếc hộp điện đen xì vẫn nằm im trên cái bàn nhỏ ở góc phòng. Sau khi tôi ngồi ghế, chúng truy tôi rất nhiều về đoạn đường khi qua sông Bến Hải. Chúng bắt tôi thường thuật tỉ mỉ: Lội sang làm sao, nấp thế nào, đi đường nào, cảnh vật ra sao v.v… Vì tôi đã có hai lần ra tận bờ sông Bến Hải và nghiên cứu kỹ khu phi quân sự Bắc (Vĩnh Linh) và toàn khu vực huyệnVĩnh Linh, từ những con đường mòn, đến những bờ suối… Nhất là lại dùng loại ống nhòm nhìn xa 10 cây số, nên chỗ này, tôi nói không khó khăn lắm. (nghĩa là chưa nhìn thấy trước cảnh đó, khó có thể che giấu chúng được).

Đến đây, tôi đã cảm thấy thâm ý của chúng khi chúng bắt tôi tả chi tiết tỉ mỉ, từ Vĩnh Linh ra tới Hà Tĩnh. Như vậy, phải ngửi thấy ngay là có vấn đề rồi! Đây là một cái dốt, cái sai của tôi! Vì thực tế, tôi chỉ đi từ Kỳ Anh ra Hà Nội. Còn từ Vĩnh Linh ra Kỳ Anh thì tôi có đi đâu, cho nên khi khai báo nhiều lần trước đây, tôi thường khai lướt đi. Hơn nữa, tôi tập trung nhiều vào những khóa học tập ở Sài Gòn, nhiệm vụ ra Bắc và khi ở Hà Nội. Còn con đường từ Vĩnh Linh tới Hà Tĩnh, tôi đã coi nhẹ, vì thế, chúng đã phát hiện ra chỗ đê rò của tôi.

Tên người Huế, sau khi nghe tôi kể lại đi từ Vĩnh Linh ra Hà Nội thế nào, liền hỏi tôi:

– Từ Vĩnh Linh ra Hà Tĩnh anh ngồi trên xe hàng, vậy có khi nào anh xuống xe không?

Tôi phỏng đoán, chắc xe phải ghé thị xã Quảng Bình, nên tôi trả lời:

“Có, khi đến Quảng Bình, tôi mót giải nên xuống tìm chỗ đi giải”.

Y hỏi tiếp:

– Từ Vĩnh Linh ra Quảng Bình, có khi nào anh xuống xe không?

Tôi vờ như cố nhớ lại một chuyện không đáng nhớ, nhưng thực tế thì lúc đó trong lòng tôi đang bấn lên. Nó hỏi vậy, tất nhiên phải có vấn đề. Trước đây, tôi đã nghiên cứu bản đồ lớn, đường từ Vĩnh Linh ra Hà Tĩnh với Brown và Dale. Vì là bản đồ quân sự thời trước 1954, nên sau này có một số chi tiết thay đổi, mà tôi không biết. Hơn nữa, với tinh thần tắc trách, tuy Dale và Brown có chỉ từng điểm, từng con sông, cái cầu, v.v… nhưng thực tế, tôi đã chỉ ừ ào cho qua, chứ tôi không hề thực sự chú tâm, vì tôi cho là không quan trọng! Do đó, bây giờ tôi lúng túng. Sau một lúc ngẫm nghĩ, tôi mới quyết định nói:

– Thưa ông lúc đó, vì mới sang bờ Bắc, tôi rất lo sợ hoang mang, nên bây giờ tôi cũng không còn nhớ là có xuống hay không!

Y đập bàn:

– Anh nói láo. Ngồi trên xe, xuống hay không mà không nhớ! Anh muốn ngoan cố gan lì với chúng tôi hả?

Tôi nghĩ mình đành phải liều, vì vậy tôi trả lời:

– Tôi nhớ…hình như không…

Tên người Huế đứng giật dậy, quát ầm lên:

– Như vậy là anh nói láo hoàn toàn! Chúng tôi muốn thấy sự thành thật của anh, nhưng bây giờ, chúng tôi mới thấy là anh gan lì ngoan cố. Tôi nói cho anh biết, dù anh có ngủ gật, người ta cũng gọi anh dậy, để bắt anh xuống xe!

Thôi chết rồi! Như vậy là sông Gianh không có cầu, mà là qua phà, tất cả hành khách phải xuống xe. Tôi nghĩ thật nhanh. Nếu vì ngoan cố mà không biết phục thiện ở khâu nhỏ này, tôi sẽ chết ở những chỗ quan trọng khác. Vậy hãy thành khẩn:

– Thưa các ông, tôi đã suy nghĩ luẩn quẩn. Đã nhiều lần tôi muốn nói hết với các ông về việc này, nhưng tôi cứ loanh quanh lo sợ là các ông sẽ bắt tôi về điểm hẹn, để gọi người đến đón. Rồi các ông sẽ tìm mọi cách, để bắt hết những người đó. Như vậy, Sài Gòn họ sẽ biết ngay là tôi phản. Điều tất yếu là gia đình bố mẹ, các em tôi sẽ bị chúng trả thù. Bản thân tôi đã không làm gì được cho bố mẹ và các em nhờ cả, bây giờ nếu để liên lụy khổ đau cho gia đình, thì thà thân tôi bị đau khổ tan nát còn hơn. Chính vì điểm lo sợ ấy, nên tôi đã lúng túng không dám khai thật đường đi ra Bắc.

– Như vậy, anh ra Bắc bằng cách nào?

Ngay từ mấy hôm trước đó, căn cứ vào chiều hướng chúng truy hỏi, tôi đã linh cảm khâu từ Vinh Linh ra Kỳ Anh khó ổn, nên đã nhẩm tính: Nếu cùng quá, tôi đành phải nhận ra Bắc bằng đường biển. Tôi không hiểu, bật ra điều này, là kéo thêm một mảng. Xuất phát từ đâu? Thuyền nào đưa đi? Những thủy thủ thế nào, bao nhiêu người? Ngày giờ hẹn đón nhau? v.v… Bao nhiêu là chi tiết phải lắp vào, sao cho hợp lý về cả không gian, thời gian, sự việc và con người.

Tôi cũng đã tính, với tình huống những người thủy thủ đưa tôi đi như vậy, có thể họ còn đưa những người khác sau này. Biết đâu, một ngày nào đó, nếu họ không may bị bắt, họ sẽ nói đến thời gian đó đưa một người như vậy, như vậy dù một hai năm sau, tôi đang ở một trại giam nào, Cộng Sản cũng có đủ bằng chứng cớ để thấy là tôi nói láo. Lúc đó, chỉ có chết với chúng. Trước mắt, từ nay trở đi, tôi luôn luôn mang trong mình một mối lo âu bất ngờ bị chúng phát hiệu. Sau này, nếu chúng tìm ra được một điểm sai nào, tất cả các khâu khác sẽ vô phương cứu chữa. Thân tôi chắc chắn sẽ bị chúng hành đến tan nát.

Tôi sẽ phải khai báo sự việc đi hải thuyền ở Đà Nẵng, theo phương châm: “Càng đon giản, sẽ càng đỡ rắc rối cho sau này”. Tôi sẽ chỉ nói đến những việc phải nói, loại bỏ tất cả những điều gì có thể loại bỏ được. Trước sau, chỉ có một nhân vật Hòa, mọi vấn đề đều do ông ta lo liệu. Chỉ đi một lần. Không nói chuyến đi trước gặp bão phải quay về. Không nói thuyền rời bến ở Biệt Khu Hải Quân, mà từ một nơi vắng vẻ gần mé sông Bến Hải một lần, mới hợp lý việc gì sao lại biết rõ được chi tiết, cảnh vật hai bên bờ sông Bến Hải trong khu phi quân sự Bắc Nam. Như vậy, vẫn giữ kín được nơi xuất phát có lợi cho Sài Gòn sau này.

Để bảo vệ cho tên chủ tịch Phong, ở Kỳ Anh, tôi sẽ không nói gì đến y, chỉ tường thuật lúc đêm đổ bộ lên bờ, chôn giấu các vật dụng, sáng hôm sau tìm đường mò ra quốc lộ 1 rồi gặp Phùng Văn Trí, từ đấy về Hà Nội. Điều này, chúng phải tin, bằng chứng là các vật dụng tôi chôn tại chỗ. Những vật dụng này, cũng có lợi cho tôi ở một khía cạnh: Tôi có hai “vỏ bọc”: “buôn lậu thuốc Tây” và “Sư bà Đàm Hướng”. Nếu sau này phải khai ra, thì một trong hai “vỏ bọc” này, có bằng chứng là các loại thuốc Tây tôi đã chôn giấu đó, chúng phải tin lời tôi.

Tóm lại, dù có tính toán khai báo thế nào, đây cung là sự ngu dốt sai lầm của tôi. Từ điểm này, tôi có thể bị dẫn đến nhiều khó khăn về sau vì “Một sự bất tín, vạn sự không tin”. Nhưng tôi đành phải chấp nhận và chỉ có biết cố gắng với khả năng hiểu biết và tính toán giới hạn của mình. Đã có chủ đích rồi, tôi ngẩng đầu lên, trả lời:

– Tôi ra miền Bắc bằng hải thuyền.

Mặt chúng tuơi hẳn lên, mắt mở to, đồng thời chúng khích lệ mềm mỏng hỏi các chi tiết, khi chúng bắt tôi khai nhanh để chúng ghi. Đến bây giờ, tôi đã hiểu đó là một phương pháp của chúng. Bắt đối phương khai nhanh (nếu có mâu thuẫn thật rõ), sau đó lại bắt khai chi tiết, rồi bắt viết; cuối cùng mới truy hỏi, không những ở những điểm chúng nghi ngờ, mà ngay cả điểm thật cũng bị cật vấn ráo riết mọi mặt.

Như tôi đã trình bày ở trên, sự việc này bục ra một mảng. Tôi phải cố lắp ghép, ngăn chận sao cho hợp lý, những gì dính dáng về hải thuyền cho tới điểm đổ bộ. Còn từ khi ra Quốc Lộ 1 ở xã Kỳ Phương, cho tới khi bị bắt, dứt khoát phải không có gì thay đổi, trước sau dù bão tố cũng chỉ như một.

Thời gian này, tôi lại bị gọi cung liên tục ngày 3 buổi, hơn một tuần lễ. Sau đó, đến giai đoạn căng thẳng tột cùng. Chúng truy lại hết mọi vấn đề trong Nam ngoài Bắc, thậm chí, nhiều lần chúng sừng sộ định bạt tai tôi nữa.

Bây giờ, phần vì cùm kẹp, đói khát; phần khác tinh thần căng thẳng ngày đêm, người tôi rã rượi, run rẩy; ngay đi từ xà lim ra phòng cung, nhiều lần tôi muốn ngã, phải ngồi xuống. Có lẽ cũng thấy thân xác tôi có thể lúc nào đó sẽ chết vì kiệt sức, nên dạo này thỉnh thoảng chúng cho tôi một cái bánh bao, hoặc một cái bánh mì. Bánh bao cũng chỉ có nhân hành, còn bánh mì cũng lẫn bột ngô, nhưng ăn, thật tuyệt vời. Tôi nghĩ rằng bánh bao nhân lạp xưởng trứng, bánh mì “Pa gô đa” của Sài Gòn còn thua xa. Những lần ăn được như vậy, đêm ấy, tôi cảm thấy như cơ thể được truyền vào một sức mạnh; thậm chí, ngày hôm sau đi đại tiện cũng thấy trơn tru sảng khoái. Cứ ba, bốn ngày chúng mới cho một lần, và cũng chỉ được 5 lần là chấm dứt.

28. Những Vấn Đề … Mới

Cung kẹo bây giờ hàng ngày liên miên. Nhiều lúc chúng truy tôi rát quá, người tôi như không còn hồn. Tôi ì ra. Có lúc tôi chả biết đường nào tôi trả lời. Lâu lâu, tôi chỉ biết nói:

– Tôi thành khẩn khai báo mọi sự việc từ lúc bé tới bây giờ mà các ông vẫn không tin tôi. Nhiều đêm về nằm, giá ước gì có cách nào đó, để các ông nhìn rõ được trong lòng tôi, cuộc đời tôi không đến nỗi khổ đau như thế này.

Chúng đập bàn quát ầm lên:

– Anh đừng già mồm, không cần phải có cách gì, chúng tôi cũng đã thấy rõ anh là một tên phản động vô cùng ngoan cố, bao che đến cùng những âm mưu phản dân, phản nước của bè lũ Mỹ Diệm. Ngày đêm, anh tính toán mưu mô, hòng che mắt Bộ Công An của nhân dân. Tôi nói cho anh biết, anh sẽ chết dần, chết mòn trong đau thương khổ cực. Chỉ có một con đường duy nhất là anh tự cứu lấy anh. Đừng mơ hồ trông chờ bất cứ một thế lực, hay một kẻ thần thế nào có thể cứu được anh.

Tôi tỏ ra rất thành khẩn:

– Thưa các ông, được sự chỉ dạy của các ông, lòng tôi càng thêm phấn khởi. Tôi thấy rằng, khi nhận nhiệm vụ ra ngoài Bắc, tôi đã có những hành động và những ý nghĩ đúng, là tôi đã chẳng làm gì cho địch, và khi bị bắt, tôi đã khai báo ngay hết mọi sự thật. Tôi tha thiết đề nghị với các ông, tôi nghe nói rằng trên thế giới hiện nay, người ta đã chế ra máy để biết rõ sự thật, hoặc có loại thuốc người ta uống vào sẽ nói ra hết sự thật, vậy nếu chính phủ ta có các thứ đó, xin hãy cho tôi được thực nghiệm. Tôi xin đội ơn cách mạng suốt đời.

Tên Nhuận cười rộ lên:

– Chúng tôi không cần những thứ đó cũng vẫn hiểu rõ được anh. Anh còn vì một điểm nào đó, nên đã không nói thật hết với chúng tôi. Nhưng, tôi tin rằng sớm muộn, rồi đây anh sẽ tự giác nói thực hết, mọi âm mưu thủ đoạn của địch với chúng tôi.

Tôi biết tỏng là làm gì chúng có loại máy nghe sự thật, hoặc loại thuốc uống vào rối loạn thần kinh, không chủ động được nữa để chúng hỏi gì nói thực cái ấy, v.v… Và dù có các loại máy đó, tôi vẫn tin là không giải quyết được vấn đề. Nhân tiện, tôi đánh một đòn sâu hơn nữa:

– Thưa các ông, tôi dám cam đoan trước các ông là, nếu sau đây, bất cứ thời gian nào. Các ông chỉ cho tôi bằng cụ thể, một sự việc gì chính yếu, tôi đã khai không đúng, tôi xin chịu mọi hình phạt của nhà nước cách mạng.Tôi vẫn phòng hờ gài vào hai chữ “chính yếu”. Sự việc chính yếu cao nhất thì tôi cho là chúng nó có người nằm trong Cục tình báo của Sài Gòn, hoặc Z-5 hay linh mục A bị bắt. Hay, chúng bắt được tài liệu “M”. Tôi tin là Z-5 hay linh mục A nếu họ bị bắt, cũng không khai. Và dù họ có khai, thiếu chứng cớ, tôi vẫn không nhận. Còn người của chúng dù có nằm trong Cục, trên nguyên tắc, nếu không cùng một công tác, không biết ai với ai. Nói chung, với sự hiểu biết của mình, tôi nói, tôi không sợ di họa sau này. Hơn nữa, đây là lúc liều rồi, chỉ có chết và sống thôi mà.

Tên Nhuận cau mặt lại, nhìn tôi:

– Anh đừng nói nhiều nữa. Hãy nghe tôi hỏi đây. Anh tả kỹ lại chỗ anh chôn những vật dụng mang theo từ miền Nam ra!

Tôi lần lượt trình bày lại chỗ chôn giấu tài liệu. Tên Đặng chêm vào:

– Anh hãy nhớ kỹ, ngoài những thứ anh kể, anh có quên thứ nào mà anh đã cùng chôn không?

Tên Đức đưa một tờ giấy, bắt tôi phải vẽ sơ đồ địa điểm chôn giấu, ghi lại các thứ đã vùi lấp.

Từ lúc đó tới giờ, đã gần 5 tháng rồi, tôi phải cố moi óc vẽ sơ đồ các điểm, khoảng cách với Quốc Lộ 1, bụi cây, cây lớn và đường mòn… Chúng hỏi rất chi tiết. Tôi tưởng chúng sẽ cho người vào đào chỗ tôi chôn. Tên Đặng hỏi tiếp:

– Nếu anh chỉ cho một người, người đó có thể đào đúng chỗ chôn giấu được không?

Tôi nhanh nhẩu:

– Được! Tôi nghĩ rằng, tôi vẽ rõ ràng thế này, có đầy đủ các điểm chuẩn, thì ai vào đào cũng lấy được.

Bỗng dưng tôi thấy hoa mày, chóng mặt, tôi phải vịn vào bàn. Một nguồn lạnh run từ trong xương sống truyền ra, làm tay chân tôi nổi gai ốc. Chúng hỏi:

– Làm sao?

Tôi nói không ra hơi:

– Có lẽ tôi bị sốt…

Chúng cho tôi về. Lúc đó cũng đã gần hết giờ.

Khi về tới xà lim, tên Nhiễm qua bảo tôi cho chân vào cùm. Tôi cố cho chân vào, rồi người tôi run quá, từng đợt lạnh chuyển từ xương sống ra khắp người. Mọi khi, muốn gì thì muốn, đi cung về là tôi sà vào ngay bát cơm đã, nhưng hôm nay, tay chân run lẩy bẩy, gai ốc nổi đầy mình. Bát cơm vẫn để đấy. Lạnh quá, lại không có cái gì đắp ngoài bộ quần áo sọc đã cũ vẫn để gối đầu, tôi giở ra, chỉ đủ để quấn cổ và quấn bụng. Bây giờ cả người tôi run lên. Từ bé tới lớn, tôi chưa thấy cơ thể mình lạ lùng thế này. Tôi chẳng biết làm sao, chỉ biết gọi “Mẹ ơi!” Tiếng gọi thầm thì như tiếng rên nài nỉ thiêng liêng, tình Mẹ cứu con!

Tôi đang ngồi run lẩy bẩy thì cửa nhỏ xoạch mở. Mặt tên Nhiễm. Y rút chốt cùm và mở cửa lớn. Như thường lệ mọi khi, y phải thấy tôi nhấc chân ra khỏi cùm, đem bát ra trả và múc nước. Y đứng một tí, không thấy tôi ra, y nhòm vào, quắc mắt:

– Sao không đưa bát ra!?

Tôi nói với giọng giật giật vì run:

– Thưa ông… tôi sốt…

Y đi vào, đứng nhìn một lúc. Tôi nói:

– Thưa ông… tôi rét quá, ông… cho tôi cái chăn…

Y quát lên:

– Chăn, chiếu nào cho anh!? Ba ngày nữa, đến ngày 16 tháng 11 là đầu Đông mới cho mượn chăn, bây giờ đâu có!

Trời đất hỡi! Tôi lạnh quá! Cái mông, ngồi xuống sàn xi măng đã lạnh buốt. Hai vai dựa vào tường cũng lạnh buốt. Còn cái chân ở trong cùm nữa! Lạnh trong ra, lạnh ngoài vào. Bụng không có cơm, cũng không có thuốc. Chiếc chân chỉ còn da bọc xương, hai đầu gối của tôi chỉ là hai cục xương.

Tên Nhiễm đứng nhìn một lúc, rồi đi ra, đóng cửa lại. Y còn ghé trở lại đút chốt cùm khi nãy đã rút ra. Chân tôi vẫn để nguyên trong cùm.

Chừng 10 phút sau, cửa mở, mụ Dậu y tá vào, mang theo một cái khay. Mụ để cái khay ở sàn trống bên cạnh, rồi quay sang:

– Anh làm sao?

Tôi vẫn run rẩy cả người, hai tay khoanh chặt ép vào ngực, trả lời ngắt quãng:

– Tôi… bị… sốt…

Mụ đưa cho tôi một cái ống thủy, bảo cặp vào nách,. Trong khi tôi cặp ống thủy, mụ ngoái nhìn toàn buồng của tôi, rồi lại nhìn tôi. Ngoài bát cơm chơ vơ nguội lạnh ở đầu sàn, trong buồng trống trơn, chẳng có một cái gì.

Những người tù ở miền Bắc, thường có chăn màn, quần áo, có khi còn được tiếp tế nữa. Nên trong xà lim, thường vẫn có một số đồ tối thiểu. Phần tôi, chăn mùng không, thậm chí quần áo cũng bị tịch thu, chỉ có một bộ quần áo sọc tù duy nhất. Tên Nhiễm vẫn đứng ở ngoài, một tay vịn cánh cửa nhìn vào. Hình như hắn cũng không tin cả người y tá. Mụ Dậu ra hiệu tôi đưa ống thủy cho mụ. Mụ soi ra ánh sáng. Tôi chả biết bao nhiêu độ.

Mụ lục đục lấy ống tiêm, chích cho tôi một mũi. Tôi chả hiểu thuốc gì. Lúc mụ sắp sửa ra, tôi cố nói:

– Tôi rét lắm, đề nghị… cho tôi mượn cái chăn…

Mụ quay lại nhìn tôi, rồi hất hàm về phía tên Nhiễm:

– Hãy đề nghị với ông cán bộ đây.

Cánh cửa đóng xầm, tiếng xọc xạch của then cửa như đập vào nỗi tuyệt vọng của tôi. Tôi mệt mỏi quá, nằm xuống, lại phải cố gắng bò dậy ngay, vì cái sàn xi măng lạnh buốt. Chẳng hiểu ngày xưa trong chuyện võ hiệp của Tầu, tập luyện nằm giường đá, thế nào tôi không biết, chứ tôi thấy cơ thể của một con người không có cách nào chịu đựng được. Nó buốt lên tới gáy, tới đầu. Tôi cũng đã bắt buộc… phải tập nằm từ mùa Hè qua mùa Thu cho đến bây giờ, vậy mà chả quen được.

Tôi cứ phải ngồi như vậy suốt đêm. Lúc mỏi quá, mệt quá, ngả xuống, lại phải bò dậy ngay, mấy lần. Tôi chỉ dựa vào tường thiếp đi từng chập. Cơn sốt đã giảm, mồm đắng nhổ không ra nước miếng.

Tôi cứ ngồi co ro, đầu ngục xuống. Hồn lãng đãng dật dờ tỉnh mê. Dòng suy nghĩ chập chờn về… lòng nhân ái, tình nhân loại, nghĩa đồng bào… Giữa đêm trường vắng lặng, thỉnh thoảng một tiếng mối kêu lanh lảnh: Chặc, chặc, chặc… kéo dài, vang vào đêm thâu như ngạc nhiên, băn khoăn, tại sao loài người lại hành hạ tàn nhẫn với nhau như vậy!?… Tôi thiếp dần đi, cho mãi tới khi tai nghe loáng thoáng những tiếng cãi cọ nhau, giành nước của những người tù nữ nơi tắm giặt phía sau xà lim, tôi mới giật mình mở mắt.

Vẫn cái dáng ngồi hai tay ôm trước ngực, dựa tường. Cả người đau như giần, mệt nhọc; nhưng, khi tôi nhìn thấy bát cơm, từ hôm qua vẫn còn nguyên như cũ, đang mời gọi. Vì sợ chốc nữa quản giáo đến mở cửa các buồng cho đổ bô, sẽ bắt đem bát cơm ra, nên tôi kéo bát cơm đến, ăn vội.

Đúng như vậy, tôi đã nghe tiếng lẻng xẻng chìa khóa mở buồng số 1, tiếng ào ào mở vòi nước, tiếng chổi cùn khua khoắng bô, vì bô bằng tôn. Không hiểu sao, bô nào cũng vậy, nước giải đóng thành cao vào chung quanh. Nếu chỉ đổ và tráng nước không, vẫn còn mùi khai thối, vì thế, thường ai cũng phải vội vàng dùng những cuống chổi thanh hao cùn, bó chừng một nắm tay, dài độ 20 phân, thường dựa ở góc bể nước con, khua và tráng cho sạch bô. Vì chính mình, khi đi ngoài phải ngồi vào đó. Nhiều miệng bô, do lâu ngày nước giải ăn mòn, lởm chởm sắc như răng cưa. Ngồi để mông vào một lúc đau không chịu được, phải xoay chỗ khác. Cho nên, khi còn lão Hoàn giam chung với tôi, khi hắn đi xong đứng lên, mông có rất nhiều khoanh tròn răng cưa hằn sâu vào thịt.

Đến lượt buồng tôi. Tôi trả bát, đổ bô xong, vừa tra chân vào cùm, lại thấy mở cửa. Mụ Hoa vào gọi tôi đi cung.

Hôm nay, ra phòng cung, tôi chỉ thấy Thành và Đức. Lâu lắm mới thấy tên Thành. Tôi nhớ y nhiều vì trong số 6, 7 tên chấp pháp hỏi cung tôi, chỉ có tên Thành này từ ánh mắt, cho đến lời nói, thái độ hỏi cung, tỏ vẻ rất có thiện cảm với tôi. Y tỏ ra một con người rất tình cảm. Có lúc, tôi thấy y cầm cuốn tiểu thuyết “Đoạn Tuyệt” của Nhóm Tự Lực Văn Đoàn. Tôi hiểu, y được quyền xem, nghiên cứu vì y là chấp pháp chính trị. Hơn nữa, y đang theo hàm thụ năm thứ tư về Kinh Tế. Dù sao, tôi vẫn thấy y còn chất tiểu tư sản. Tên Thành chỉ chiếc ghế, tình cảm:

– Anh ngồi đi. Sao, dạo này anh có được khỏe không? Tôi bận chút công việc, lâu lắm mới gặp lại anh.

Tôi cũng mềm mỏng:

– Cảm ơn ông, lúc này tôi không được khỏe lắm.

Y vờ ngạc nhiên săn đón:

– Anh bị yếu đau sao? Anh có ăn được không? Có ăn hết suất cơm không? Sao trông anh gầy thế?

Theo cái hiểu của chúng, nếu cứ ăn hết suất cơm là không sao cả. Chúng không thể biết được, do cái đói cào cấu, thèm ăn triền miên hàng ngày, hàng tháng, nên dù sắp chết, tù vẫn thèm ăn. Vì vậy, tôi trả lời thủng thẳng:

– Hôm qua tôi bị sốt, nhưng vẫn ăn hết suất cơm.

Tên Đức hôm nay cũng có vẻ tươi tỉnh:

– Hôm nay chúng tôi gọi anh lên, không phải để hỏi cung anh. Gọi anh lên để nói chuyện… Này, anh Bình, tôi hỏi thực anh nhé! Khi còn ở Sài Gòn, anh có hay đi nhảy, đi chơi gái không?

Nhìn y, tôi hơi ngạc nhiên. Y vừa cười vừa hỏi, lại còn nhay nháy con mắt nữa chứ. Tôi nghiêm trang trả lời:

– Thưa ông, tôi không biết nhảy. Còn chuyện chơi gái, phần tôi chỉ chú ý đến học hành, phần khác, tôi không thích. Theo quan điểm của tôi, chuyện đó là một thứ cao đẹp của con người. Bỏ đồng tiền ra mua bán làm trò giải trí, thà đi xem xi nê, đọc sách, hoặc ngồi ngắm cảnh thiên nhiên còn thú hơn. Điều đó, vừa vô nghĩa lại vừa tỏ ra sự hèn kém, của người con trai.

Cả hai tên đều nhìn tôi cười rộ. Tên Thành tình cảm:

– Khi anh ra đi, bố mẹ và các em anh có khỏe không? Bố mẹ anh có biết không?

Nhắc đến gia đình, tự nhiên một mối xúc động len lén vào lòng tôi. Vì thế, khi tôi trả lời, niềm xúc động cũng tràn ra theo:

– Bố mẹ tôi khỏe. Bố mẹ tôi không biết gì về chuyến đi của tôi.

Thành tiếp tục gợi chuyện:

– Anh có nhớ bố mẹ và các em anh không? Anh thử nghĩ xem, bố mẹ anh đã phải tần tảo vất vả cả cuộc đời, để nuôi anh đi học, anh đã làm cái gì để đền đáp công lao trời bể ấy?

Niềm xúc động càng tràn vào đầy ắp trong lòng. Tôi miên man nhớ tới một hình ảnh không quên: Buổi chiều ấy, khi tôi còn ở trại học sinh di cư Phú Thọ, Chợ Lớn, thằng em trai đến bảo tôi:

– Tối nay, 7 giờ về chỗ sân nhà Tân Định, tan chầu ra, mẹ sẽ gặp anh để làm gì ấy!

Đã hai tuần liền, tôi không về nhà, vì ông bố mắng chửi là mải chơi không chịu học hành, nên thi phần 1 trượt. Tối hôm đó, trời mưa giăng ẩm ướt, tôi núp dưới một mái hiên trong sân nhà thờ chờ mẹ. Những hạt mưa nhỏ lấp lánh như những sợi chỉ bạc trong ánh đèn điện, hắt ra từ những cửa sổ nhà thờ, càng làm cho buổi tối thêm lê thê da diết. Người mẹ, hai tay thủ trong vạt áo dài vì lạnh, chiếc khăn trùm kín đầu, lò dò từ cửa hông nhà thờ ra sân, dưới mưa rơi, gặp con chỉ để nói:

– Hãy nghe lời mẹ. Chủ Nhật này về, bố mày hết giận rồi!

Và mẹ giúi vào tay tôi 100 đồng. Giờ đây, tôi trong cảnh tù đầy, hình ảnh ấy của người mẹ kính yêu, đã làm nước mắt tôi trào ra lúc nào không biết. Tôi thổn thức, nức nở như một cậu bé con.

Chính những tên chấp pháp cũng không ngờ được tôi khóc, và chúng phải im lặng tôn trọng cái phút thiêng liêng ấy.

Phải, con người tôi, tha hồ cùm kẹp hành hạ đừng hòng nước mắt tôi chảy ra, trừ mẹ tôi, tình cảm gia đình tôi.

Cũng từ đấy, chúng phát hiện được nhược điểm tình cảm của tôi. Và, với Cộng Sản, kinh nghiệm thực tiễn cho tôi thấy, anh càng yếu, càng sợ cái gì, chúng càng lấy cái đó để hành anh. Sau này, đầy dẫy những minh chứng.

Chúng để cho tôi hết cơn xúc động, rồi mới đẩy đưa:

– Đấy, anh xem, vì sao hiện nay anh lại bị như thế này. Nguyên nhân chính yếu là do bè lũ Mỹ Diệm, đã lợi dụng bầu nhiệt huyết của thanh niên và lòng bồng bột của anh, để đẩy anh vào chỗ chết. Trong khi hiện nay ở nhà, chúng vẫn phè phỡn xe hơi nhà lầu, tiệc tùng cười vui thoải mái hả hê, không cần biết hoặc không còn nhớ bây giờ anh sống hay chết. Anh phải biết căm thù chúng nó. Hãy tố giác mọi âm mưu thủ đoạn lợi dụng anh của chúng với cách mạng. Đây là con đường duy nhất, để tự anh cứu sống anh. Chính anh là người quyết định sẽ được hưởng lượng bao dung khoan hồng, của đảng và nhà nước hay không!

Tôi vẫn cúi đầu ngồi nghe chúng nói. Tôi thấy chúng lợi dụng sự yếu mềm của tôi với gia đình, để đẩy đưa sang vấn đề chính trị. Tôi suy nghĩ, tương kế tựu kế là sách lược hay nhất và hiệu quả cũng thường cao nhất. Vì thế, tôi tỏ nét mặt vui tươi và tin tưởng:

– Thưa các ông, các ông nói rất đúng. Càng suy nghĩ, tôi càng căm thù chúng. Nếu trước đây tôi không di cư vào Nam, thì bây giờ biết đâu tôi chẳng là một anh bộ đội, hiên ngang trong hàng ngũ cách mạng, cầm súng chống lại Mỹ Diệm.

Cả hai cùng cười rộ lên, tôi nghe đầy những mưu mô thủ đoạn ở trong. Hai tên cùng đứng dậy, tên Thành nhìn tôi:

– Bây giờ cho anh về nghỉ. Sáng mai, chúng tôi sẽ đưa anh vào Hà Tĩnh đào chỗ anh chôn những đồ vật dụng.

Về xà lim, đêm hôm ấy, tôi cố moi óc nhớ lại tất cả những gì tôi chôn theo hôm đổ bộ, nghĩ xem có điểm gì quan trọng tôi chưa khai thông. Vì đến nước này, trước hay sau tôi cũng phải vào chỗ chôn giấu. Trước đây, chúng bắt tôi vẽ sơ đồ, hỏi tỉ mỉ từng chi tiết đường đi, nước bước, tôi tưởng chúng đã cho người vào địa điểm tôi chỉ mà không tìm ra, nên bất đắc dĩ chúng bắt tôi đi. Hồi chiều, tên Nhiễm mở cửa bảo tôi ra cắt tóc. Khi ra tới chỗ bể nước nơi vẫn đổ phân, một anh đi chân đất, mặc quần nâu, tuy có vẻ mập nhưng nước da vẫn tai tái, tay cầm cái “tông đơ”, chỉ hè gạch, bảo tôi ngồi. Tên Nhiễm đứng ngay đấy.

Chỉ 3 phút, anh húi hết tóc, rồi râu của tôi, anh ta nói với tên Nhiễm:

– Báo cáo ông, tôi về.

Tên Nhiễm chỉ gật đầu. Hôm nay, đặc biệt, tên Nhiễm gọi thợ cắt tóc cho tôi, và lại đặc biệt cho vào gội đầu. Cũng chỉ vài phút cúi đầu vào vòi nước, vặn xòe xòe, vò một lúc xong!

Tôi hiểu, chẳng qua vì ngày mai tôi phải vào Hà Tĩnh, nên hôm nay mới được cắt tóc, chứ gần 4 tháng có cắt đâu. Chẳng biết tóc tôi y cắt thế nào, sờ thấy ngắn ngủn. Kệ nó, cần gì!

29. Trở Lại Địa Điểm Đổ Bộ…

Sáng hôm sau, trời hãy còn tối đất, chưa đến giờ làm việc, đã thấy cửa buồng tôi mở.

Khi ra tới phòng cung, nhìn ra sân, dưới giàn nho, tôi thấy ở lối đi giữa, một chiếc xe Commanca đang đậu quay đầu hướng ra phía cổng Hỏa Lò. Tôi nhớ hôm nay là ngày 15 tháng 10. Như vậy, tôi đã bị bắt gần 4 tháng.

Trong phòng cung có 3 tên Thành, Đức và Nhuận. Tên Đức chỉ tôi ngồi ghế, rồi nghiêm giọng:

– Hôm nay, chúng tôi được lệnh dẫn anh vào chỗ anh đã đổ bộ, để lấy một số vật liệu tang chứng anh đã khai báo. Trên đường đi, hay về, anh phải tuyệt đối chấp hành lệnh của chúng tôi. Nếu anh tỏ ra một vài ý không tuân theo, anh sẽ hoàn toàn chịu trách nhiệm. Chúng tôi sẽ cương quyết xử lý. Nếu anh tỏ ra thành khẩn chấp hành, điều đó sẽ rất tốt cho anh sau này.

Tên Thành mở một gói giấy báo trên bàn: Một nắm xôi với một quả chuối. Hắn đưa cho tôi:

– Anh hãy ăn chỗ xôi này, rồi chuẩn bị đi.

Chừng 5 phút sau, ăn xong, tôi xin uống nước. Y nhìn quanh không thấy nước, đành sang phòng bên. Y lấy cái tích còn ít nước trà, chắc từ hôm qua, nước hơi thiu, nhưng tôi rót uống hết. Sau đó, tên Nhuận ra ngoài, một lát sau y vào cùng hai tên cảnh sát đồng phục và mang vũ khí. Y quay lại phía tôi tuyên bố:

– Theo nội quy đi đường, để đảm bảo an ninh, anh để các đồng chí đây làm thủ tục.

Hai tên cảnh sát bắt tôi đứng lên, đưa hai tay ra phía sau. Chúng khóa một cái còng số 8 ở cổ tay, rồi hai miếng khóa ngàm nối với nhau bằng một xích sắt lớn, mỗi miếng bóp khóa ở trên cánh tay tôi phía dưới vai. Trong khi đó, cả 3 tên Nhuận, Thành và Đức đều đeo súng ngắn.

Chẳng biết chúng sợ gì tôi, có thể chúng nghĩ tôi biết chút võ vẽ ngày xưa nên chúng đề phòng chăng. Phải khóa hai lần, và 5 tên có vũ trang áp tải.

Khi chúng dẫn tôi ra gần tới xe, tên lái xe mặc quần áo xám bộ đội quay lại, nói với chúng:

– Hãy khóa tay ra đàng trước cho người ta. Nếu không, khi đi đường xe xóc, ngã gẫy tay.

Đúng vậy, khóa phía sau, nếu ngã tôi chẳng làm sao đỡ được, sẽ như quả bí lăn long lóc. Tuy thế, không ai trả lời, và cứ như vậy lên xe. Chúng phải đỡ tôi lên xe, vì tôi không có tay để vịn. Tên Đức ngồi băng trên với tài xế, còn 4 tên ở phía dưới kém tôi vào giữa.

Xe bắt đầu chạy ra cổng Hỏa Lò, rồi qua thành phố, trở ra Quốc Lộ 1.

Mới hơn 4 tháng nằm trong Hỏa Lò mà tôi đã cảm thấy như lâu lắm, với bao nhiêu đau thuơng nặng nề âm u trong cùm kẹp, cũng như bao nhiêu bão tố vùi dập về cung kẹo. Từ tâm tư, nếp suy nghĩ đến cả con người của tôi cũng đã thay đổi hẳn. Thực vậy, cũng vẫn cảnh sinh hoạt ngược xuôi của phố phường. Cũng vẫn khung trời Hà Nội mây bay, gió thổi; nhưng, tôi nhìn nơi nào, cảnh nào, đâu đâu cũng chỉ một màu héo úa đau thương.. Những xe cộ, tôi thấy tất cả như xa lạ, thuộc về một thế giới khác, cái thế giới không có phần của tôi nữa. Tôi không còn một chút gì dính dáng đến cái vui, cái êm đềm của hạnh phúc, “nếu có”, của thế giới ấy. Một mình tôi tách rời ra, lầm lũi mò mẫm trên con đường chập chùng dẫn xuống địa ngục tối, lầm than.

Trên đường đi thật là gian khổ. Đường nhiều ổ gà, xe xóc, tôi như quả bí ngả nghiêng, lăn lộn. Tôi có gì để đỡ đâu, hai tay bị khóa chặt sau lưng, ngay ngồi yên cũng còn khó dựa lưng. Thân thể đau nhừ, tâm tư nặng trĩu ưu sầu. Suốt đường đi, tôi như người câm, âm thầm mím môi, đè nén đau thuơng uất hận vào tim.

Những lần xe phải qua phà. Chúng có lệnh đặc biệt nên chỉ tài xế và tên Đức phải xuống đi bộ. Tất cả mọi xe khác, dù bộ đội hay công an, ai ai cũng phải xuống xe. Riêng tôi và 4 tên áp tải vẫn ngồi trên xe. Vì thế, có nhiều con mắt tò mò rõi vào trong xe chúng tôi. Khi thấy một người bị hai lần khóa ngồi giữa 4 công an, con mắt họ thường mở to nhìn tôi. Tôi để ý, mỗi lần xe qua phà, hoặc cầu, một tên cảnh sát có một cái xích nữa mắc vào cái khóa xích phía trên của tôi. Hình như chúng sợ bất ngờ tôi lao xuống sông, để trốn hay tự tử.

Khi xe vào thị xã Thanh Hóa, những tên công an và cả tên lái xe cùng xuống hết cả. Lúc đó khoảng 12 giờ, chắc chúng đi ăn. Chỉ còn hai tên cảnh sát ngồi lại trên xe. Chừng nửa giờ sau, tụi công an trở về, tên Thành mang về cho tôi hai gói xôi, có lẽ mỗi gói hai hào. Điều phiền cho chúng là tôi không ăn được, vì tay khóa sau. Chúng hội ý với nhau một lúc, rồi tên Thành quay lại nói:

– Bây giờ chúng tôi mở khóa, và sẽ khóa ra phía trước cho anh ăn. Nhưng cần phải tuyệt đối chấp hành nghiêm chỉnh. Anh tỏ ý lộn xộn thì đừng trách chúng tôi.

Hắn mở một cái túi xách, chỉ vào trong và nói:

– Đáng lẽ chúng tôi phải xích cả chân anh nữa, nhưng để cho anh thoải mái. Vậy, anh phải biết điều!

Chúng khóa tay tôi ra phía trước. Tôi ăn xong, tên Thành hỏi:

– Anh có hút thuốc không?

Trời đất hỡi! Từ sáng, nhìn chúng hút, tôi thèm điên người. Đời tôi bây giờ đau thuơng tràn lối, còn quái gì nữa đâu, cho nên ước mong đuợc hút một điếu thuốc cho say sưa, thế là mãn nguyện rồi. Vì vậy, khi tên Thành hỏi, mắt tôi sáng lên và tỏ ý biết ơn. Tôi thèm nhưng nhất định không mở miệng xin chúng.

Chà, thật là ngây ngất đê mê. Mấy tháng trời, hôm nay tôi mới cảm thấy cái thú tuyệt vời. Dù hai tay còn đang bị khóa. Phải ai đó ở trong hoàn cảnh như tôi mới cảm nhận hết được cái thú ngất ngây đê mê đó.

Chờ tôi hút xong, chúng lại khóa tay tôi ra phía sau như cũ, rồi hai tên cảnh sát mới đi ăn.

Xe vào tới Hà Tĩnh thì đã chiều. Chúng đưa tôi vào trại giam của thị xã. Lúc đó đã 6, 7 giờ tối, tù đã vào hết trong buồng, nên sân trại giam không có một bóng tù.

Hai tên cảnh sát giong tôi xuống dưới bếp, mở khóa, rồi chúng nói với mấy tên cán bộ ở đấy. Hai tên nữ cán bộ ăn mặc kiểu nông dân (có thể hết giờ làm việc họ đã thay đồ) dẫn tôi vào bếp. Cơm nước của tù đã hết, hai tên nữ cán bộ bàn nhau một lúc, rồi chúng đi vào một phòng con, lấy nồi cơm nguội của chúng, và nồi thịt heo kho Tàu, chỉ còn nước và hai, ba miếng thịt nhỏ. Chúng đưa ra, đặt xuống đất, bảo tôi ăn đi.

Ôi chao, sao mà cuộc đời hẩm hiu của tôi lại có những phút sung suớng như thế này. Ăn miếng cơm nguội, chan với nước thịt kho Tàu, tôi nghĩ rằng trong đời tôi từ trước chưa có bữa cơm nào ngon như thế. Trong nồi còn đến 4,5 bát cơm thế mà tôi chén sạch trơn. Cảm ơn cuộc đời! Cảm ơn con người!

Sau đó, một tên cán bộ nam, có lẽ là trực trại, dẫn tôi vào một buồng, có thể cũng là xà lim, nhưng là một xà lim vùng quê nên bẩn thỉu và tối om. Ngọn đèn điện vàng khè đầy mạng nhện và bụi đất chỉ làm cho căn xà lim mờ mờ, chỗ sáng, chỗ tối. Ở giữa buồng, một chiếc sàn gỗ đầy như chiếc giường con, sứt sẹo nằm chơ vơ. Bên trên có cái cùm suốt với hai khoen bằng sắt tròn, loại đường kính 2 phân rưỡi.

Tên cán bộ rút suốt cùm, bảo tôi lắp hai khoen vào hai chân, y chốt lại rồi khóa. Không nói thêm một lời, y ra ngoài đóng cửa, khóa lại.

Chà, cùm kiểu này thật dễ chịu, cùm hai chân mà tôi thấy thoải mái hơn, cùm một chân ở Hỏa Lò. Tôi có thể đứng dậy, dịch chân sang chỗ nọ, chỗ kia, tha hồ đứng trên sàn vặn vẹo người tập thể dục, hít thở không khí. Cả ngày ngồi xe gò bó nên mệt, tôi ngả lưng cho cơ thể thoải mái, đồng thời thưởng thức cái dư vị của một bữa ăn ngon, mà giờ đây, nước miếng còn thấy ngọt. Hai chân tôi dạng ra chụm vào dễ dàng. Đêm khuya vắng lặng, thỉnh thoảng vang lên những tiếng xọc xạch cọ sát của hai khoen cùm khi tôi cử động đôi chân.

Bụng căng no tròn, chân tay thoải mái, có lẽ đêm nay tôi sẽ được một giấc ngủ ngon lành. Nhưng đột nhiên, lưng tôi ngứa ran, cái gì thế? Càng gãi, càng ngứa. Ngứa quá tôi phải bò dậy. Lưng tôi rộp sần hết lên. Duới ánh sáng mờ mờ, tôi chả nhìn thấy cái gì hết, nhưng trong lúc xoa gãi, tôi thấy mùi rệp hăng hăng. Tôi vội bò giật dậy, đứng lên, cởi áo soi dưới ánh đèn. Trời, một cái áo của tôi mà gần 20 con rệp, nhiều con bụng no tròn căng đỏ những máu. Cả mông, cả đùi cũng ngứa. Tôi tụt cả quần ra, vì vướng cùm, nên phải cho tay vào ống quần mà khua, giũ đuổi con rệp. Chả lẽ cứ đứng thế này suốt đêm? Mỏi chân và mệt, tôi lại đành mặc áo ngồi xuống, rồi ngả lưng nằm xuống. Lại ngứa quá, tôi nhổm dậy, căng mắt nhìn xuống sàn. Trong bóng mờ, lổn nhổn những chấm đen di chuyển. Kinh quá, sao nhiều rệp thế! Hình như chúng đói lâu ngày, hôm nay mới có món ăn, nên chúng rủ rê con cháu lũ lượt dũng cảm, xông vào con thịt. Tôi đành ngồi xổm, mỏi rồi lại đứng lên. Người mệt rã rượi, tôi chẳng còn tâm hồn đâu để thuởng thức lại bữa ăn lúc chiều. Bàn chân cũng ngứa. Chỉ còn hai bàn chân phải đứng trên sàn, thế mà chúng cũng rúc vào từng kẽ ngón chân để hút máu. Nếu không có hai cái khoen cùm, tôi đã lao xuống đất nằm, tôi mệt quá rồi.

Lũ rệp chó chết này, hình như cũng là đồng chí của lũ Cộng Sản khát máu. Cũng hút máu con người, nhưng chỉ hút và hành hạ những người cùng khổ. Đột nhiên, một tiếng nói của một người con gái vang lên, trong cái âm u vắng lặng của nhà tù; giọng thánh thót Hà Tĩnh từ một buồng bên:

– Anh Thời à!

Tiếng một người đàn ông, cũng Hà Tĩnh, từ một buồng phía khác:

– Nguyệt đấy hỉ! Có người mới vào à! Nhiều tuổi không?

Tiếng cô Nguyệt:

– Chừng 23, 23, có lẽ là cán bộ bị bắt!

Chà! Như vậy khi nãy, cô ả đã nhìn tôi qua một khe hở nào đó, mà tôi không biết. Im lặng một lúc, rồi giọng người đàn ông:

– Anh bạn!…Mới bị bắt hỉ? Bắt vì tội chi rứa?

Tiếng hỏi rơi vào vắng lặng của đêm thâu. Tôi đang bơ phờ mệt mỏi vì phải ngồi xổm và đứng mấy giờ rồi. Lòng lại nặng trĩu những suy tư tính toán, về ngày mai khi vào tới địa điểm chôn đồ, nên tôi im lặng, để họ tưởng tôi đã ngủ rồi.

Đứng và ngồi, vẫn còn phải đuổi muỗi nữa chứ. Hà Tĩnh cũng thực nhiều muỗi, có khi còn hơn ở Hỏa Lò. Quá nửa đêm vừa rã rời vừa nhím mắt lại, không còn cưỡng lại được nữa. Thôi, cũng đành xin hiến dâng những giọt máu loãng, của tôi cho các đồng chí của lũ cộng vậy. Tôi nằm vật ra và thiếp dần.

Sáng hôm sau, trại giam chưa tới giờ làm việc, chúng đã mở cửa, mở cùm gọi tôi ra. Tôi để ý, cũng là công an, nhưng những tên công an ở Hà Nội chỉ gặp tôi ở trên văn phòng. Còn giam ra sao, cùm ra sao, đều do những cán bộ của trại giam Hà Tĩnh đảm trách. Hà Nội chỉ giao người và hôm sau lấy lại người.

Khi ra tới một phòng làm việc, tôi đã thấy Thành, Đức, Nhuận và hai tên cảnh sát ở đấy. Họ đang nói chuyện với một tên đeo lon Trung Úy ở trong phòng. Khi tôi vào, tên Thành quay lại tôi:

– Anh để cho các đồng chí đây làm việc, rồi đi.

Làm việc quái gì đâu. Chúng nó lại lủng củng xích với khóa. Vẫn khóa tay tôi ra phía sau như hôm qua. Chúng giong tôi ra chiếc xe hôm trước đã đậu phía trong cổng trại giam. Chúng đỡ tôi lên, cũng cái thế ngồi như ngày hôm qua.

Càng đường trong này, càng xóc dữ dội. Người tôi lăn lộn, hai tên cảnh sát, mỗi tên một bên, phải giữ đỡ hai cánh tay của tôi. Trên người tôi, tay tôi, những nốt rệp cắn đêm còn lốm đốm đỏ. Một điều gây cấn cho tôi, những nốt đó bây giờ thật ngứa. Tôi muốn gãi cào thật mạnh cho đã, nhưng tay tôi bị xích thế này, làm sao mà gãi được. Như con trâu, tôi cứ xoay sở, vặn vẹo người cọ lung tung vào thành xe. Càng cọ, lại càng ngứa thêm. Chẳng lẽ lại nhờ những tên công an gãi cho? Chúng nó chẳng thèm làm, và tôi cũng chẳng thèm nhờ. Hơn nữa, chúng biết tôi ngứa chỗ nào mà gãi. Ôi, cuộc đời độc địa: ôi, loài người thương yêu.

Xe đi vào tới Kỳ Anh, rồi Kỳ Phương. Đến đây, chúng đưa tôi vào một căn nhà trong xóm. Cũng nhà tranh vách đất, nhưng có vẻ khang trang hơn những nhà chung quanh. Có thể là nhà của một công an xã. Chúng đỡ tôi xuống xe, dẫn đến một gốc cây soan ở mé sân, bảo tôi ngồi xuống. Hai tên cảnh sát đứng kèm hai bên. Ba tên Nhuận, Đức và Thành, có lẽ đi trao đổi vấn đề.

Chừng một lúc, có một số trẻ con, rồi một số dân trong xóm tò mò chạy đến thập thò nhìn tôi. Đột nhiên, mấy em nhỏ chừng 12, 14 tuổi nhặt những hòn đất, đá ném vào người tôi, rồi tiếp theo là mấy mụ đàn bà nhà quê, trong đó có một bà già, rống lên xỉa xói, chửi, nào là:

– Mày là biệt kích, ăn gan uống máu, làm tay sai cho Mỹ Diệm.

– Mày là tên Việt gian bán nước, phản nhân dân, phản cách mạng.

………

Một bà khác cầm chiếc đòn gánh cứ xông vào định đánh tôi, mồm réo lên:

– Mày giết chồng tao, ngày nay cuộc đời tao góa bụa, con tao mồ côi. Tao đập vỡ đầu mày ra, cho mày chết!

Tôi đã nhìn thấy nhiều cảnh nhân dân miền Nam, sống ở thành phố cũng như ở nông thôn. Tôi cũng đã nhìn thấy nhiều cảnh nhân dân miền Bắc, sống ở nông thôn cũng như ở thành thị. Tôi so sánh, tôi tự thấy con đường mình đi là chính nghĩa, con đường mang ấm no, tự do, nhân bản cho mọi người. Vì thế, trước cảnh này, dù đôi tay bị khóa, tôi vẫn ngẩng cao đầu nhìn họ. Mắt tôi bình thản nhìn những thái độ thù nghịch, hằn học của họ, mà lòng tôi vẫn tự hào. Cũng khá khen cho tụi lãnh đạo miền Bắc, dùng chính sách ngu dân, bần cùng hóa con người, rồi từ đấy bịp bợm, khích lệ, ca ngợi, phỉnh phờ; khêu gợi lòng căm thù của những kiếp người cùng khổ, hướng về đối tượng kẻ thù của chúng. Nhìn thái độ, ánh mắt và lời nói của họ, tôi tự mỉm cười trong lòng.

Tôi, đã hy sinh cả tuổi trẻ, cả mạng sống, vào nơi hang hùm nọc rắn, để góp phần nhỏ bé của mình, hòng cứu họ thoát cảnh đời trâu ngựa lầm than, lê thê trong kìm kẹp của Cộng Sản, họ lại chửi bới, sỉ vả, hất hủi. Ngược lại, họ lại hoan hô, ca ngợi, kính yêu những người sẽ giết dần đời họ bằng những lời dụ dỗ phỉnh gạt tinh vi. Tôi nghĩ đến thời đại ngày nay, của con người mà rùng mình ngao ngán. Trắng, đen lẫn lộn!

Tôi tha thiết kêu gọi những nhà nước giầu có, các nhân vật tài ba lỗi lạc, hãy đem cái giầu của mình, cái tài của mình, làm cách nào đó, làm cho mọi người dân phân biệt được trắng, đen thực sự. Tôi nói “thực sự”. Vấn đề này, nghe nói đến, ai cũng thấy cũ xưa như trái đất. Tôi nói nó không cũ xưa ở hai chữ “thực sự”. Cộng sản đã, đang và sẽ còn gây cho nhân dân một số nước, một số chính phủ khốn đốn, chỉ vì người dân chưa phân biệt rõ trắng đen, giữa người làm hại và ngưòi làm lợi cho họ.

Có người sẽ nói: Điều này đã nói nhiều lần rồi, nhưng dân không tin.

Điều quan trọng ở đây là vì sao dân không tin? Vì sao dân không tin gồm nhiều mặt, nhiều vấn đề, đòi hỏi mất nhiều tiền của, nhiều tâm trí ngày đêm đào sâu xét kỹ, nhiều tâm, sức để lăn xả vào những việc làm quên mình. Sẽ không có hiệu quả, nếu thiếu một trong ba yếu tố trên. (Ở đây không phải là một tác phẩm lý luận, tư tưởng, vậy tôi chỉ trình bày một số khái niệm có tính cách phiến diện).

Chừng nửa giờ sau, tên Thành, Nhuận và Đức ra bảo tôi đi.

Ruộng đồng lúc này hãy còn khô, nên chúng cứ đi tắt, qua cánh đồng chiêm, thẳng hướng tiến bước. Khi gần tới nơi, xa xa tôi đã nhìn thấy chiếc cây to, tôi đã ngồi nghỉ lúc mới đổ bộ lên bờ; phía bên phải là làng xóm nơi có nhà của tên chủ tịch Phong. Tôi cố ý dẫn theo hướng khác, không đi vào làng, tôi bảo chúng đó là con đường tôi đã đi ra Quốc Lộ 1. Thử để xem trước đây đã có tên nào vào tìm chỗ tôi chôn đồ chưa, nên tôi cứ vờ lang thang ngơ ngác ở xa gốc cây. Lúc đầu, chúng cũng theo tôi, sau thấy tôi cứ lơ ngơ nhìn đây đó, như chưa tìm lại được những địa hình quen thuộc, tên Nhuận và Thành giơ tay làm hiệu:

– Theo như anh vẽ, thì đến phía này cơ mà!

Qua thái độ chỉ dẫn của chúng, trúng phóc, chỉ không thể xác định vị trí chôn chỗ nào gần gốc cây. Đây đó, đã có một vài lỗ nhỏ, đất cát còn lổn nhổn, chứng tỏ đã có người đào bới hàng nửa tháng, mươi ngày trước. Như thế, chúng đã cho người vào tìm, nhưng bới đào lung tung, vẫn không tìm ra. Điều đó,cũng đã nói lên một phần là trước đây, tôi đã chôn giấu tốt.

Đã hơn 5 tháng rồi, mưa gió đã làm cho mặt đất, chung quanh gốc cây, chỗ nào cũng tưởng như chưa hề có dấu chân người bước đến.

Cả 5 tên cùng đang chờ thái độ của tôi. Thực ra, ngay khi tới gốc cây, tôi đã nhận ra chỗ nào rồi, nhưng tôi chưa vội vàng. Thứ nhất, để chúng đỡ đánh giá cái óc còn tốt của tôi. Thứ hai, tôi đang liếc về chỗ bụi rậm, nơi có tổ kiến vàng và nhiều sâu róm, nơi đã che dấu tôi buổi đầu. Nhưng rồi, tôi đã chả làm nên trò trống gì, để bây giờ lọt vào tay kẻ thù. Tôi cũng thấy lòng thèn thẹn với cả bụi dây, mà giờ đây đã qua mùa Thu, mưa nhiều nên xanh um hơn trước. Liếc sâu vào trong bụi, nhìn ra con đường mòn và thửa ruộng đoàn người xuống gặt ngày ấy, lòng tôi xót xa đầy vơi cho kiếp đời gió mưa của mình. Nhìn ra xa xa, biển khơi một màu xanh ngắt. Nhớ đêm nào các anh đã bế tôi vào bờ. Bây giờ các anh, các bác đang làm gì, có bao giờ các anh, các bác ngồi nhớ lại cái đêm định mệnh đã làm tàn lụi, một đời người thanh niên không? Tự nhiên tôi thở dài nhè nhẹ, như trút dần những nỗi niềm đang buộc chặt trong lòng.

Trong lúc tôi đưa mắt nhìn đây đó như cố moi óc để xác định chỗ chôn dấu, tôi thoáng thấy từ xa, nơi một bụi cây cách tôi hơn 200 mét, mọc ở một chỗ hõm đồi cát, mấy cái đầu lố nhố thập thò. Tôi lại nhìn thấy một họng súng đen xì khuất chéo bụi cây. Lòng thầm ca ngợi sự cảnh giác đúng cỡ của Cộng Sản. Chúng đã chủ động ngày giờ đi, và tôi đang ở trong tay chúng, không có một tấc sắt mà còn bị khóa hai lần. Tất cả chỉ vì cái đa nghi phòng hờ của chúng. Tôi đã tả kỹ, vẽ rõ ràng sơ đồ, chỉ cho chúng vào lấy, chúng không tìm ra. Bây giờ phải dẫn tôi đi, có lẻ chúng đã nghĩ, biết đâu, đây lại chả là một kế hoạch có chủ trương của tôi; hoặc biết đâu, những mạng lưới hoạt động của tôi theo dõi, bám sát, đến nay, thấy tôi được dẫn về địa điểm hẹn, đã báo cho Sài Gòn để bất ngờ vài chiếc “máy bay lên thẳng” vũ trang xuất hiện bắn phá, rồi nhào xuống cướp tôi đi. Vì thế, chúng đã huy động du kích xã bố trí, chung quanh khu vực tôi chôn đồ. Phải công nhận Cộng Sản làm việc gì đều tính toán tỉ mỉ, phòng hờ những tình huống có thể xẩy ra. Nhưng, một điều chắc chắn là chúng không thể biết được, tôi đã thấy du kích bố trí, vì từ ánh mắt đến thái độ của tôi đều không có gì khác thường cả.

Sau một lúc nhìn khắp nơi cảnh vật, mắt cau cau như thể phải vận dụng óc để nhớ lại, tôi chỉ:

– Đào chỗ này!

Chúng có một cái xẻng nhỏ của bộ đội, chúng chỉ đào sâu chừng 20 phân đã thấy cả một cái ba lô mầu vàng, to tướng của Nhật và chiếc xẻng con của tôi đã chôn theo. Vải ba lô bây giờ đã trở thành mầu xám đen và đã mục vài chỗ. Rất nhiều rễ cây con mọc chằng chịt chui vào chiếc ba lô. Máy móc, tiền, thuốc Tây, bi đông, v.v… Và cả khẩu súng ngắn phòng thân, đem đi phòng hờ bị kẹt ở điểm đổ bộ chưa ra được đường. Vì được tôi bọc trong một miếng ny lông nên hãy còn nguyên.

Sau mươi phút, chúng lấy hết lên. Tất cả đều đúng như tôi đã kê khai trước đây. Một vài thứ đã mủn rách, chúng cũng cho tất cả vào một chiếc bao tải. Tên Thành vác lên vai. Khi lấy các thứ này, chúng vui vẻ ra mặt. Thái độ của chúng đối với tôi cũng bớt phần gay gắt. Tôi nhìn 200 đồng bạc, bây giờ mới thấy thèm, vì vậy, khi về tới xe, tôi lựa lời:

– Thưa các ông, số tiền ấy…tôi có được dùng không?

Chúng đều quắc mắt, tên Đức cao giọng, dõng dạc:

– Đó là tiền của Mỹ Diệm trang bị cho anh để đi hoạt động gián điệp, đâu phải tiền của anh. Hơn nữa, tiền đó còn để làm tài liệu, chứng cớ.

Tôi cũng hơi tiếc biết thế hôm đó mang tuốt cả đi, tiêu cho đã. Tôi đã phải dè sẻn tiêu pha. Bị bắt, trong túi còn 20 đồng, vẫn bị tịch thu khi chúng khám xét.

Tôi nhớ, trên đường trở ra Quốc Lộ 1, bây giờ đã đào được rồi, không có chuyện gì xẩy ra, chúng cũng hơi chủ quan. Cả 3 tên Thành, Nhuận và Đức đi đường nào tôi không biết, chỉ còn hai tên cảnh sát giong tôi. Ngay khi đào được đồ, tôi kêu tay tôi mỏi và ngứa quá không gãi được. Chúng thấy đã có kết quả, nên cũng dễ dãi đồng ý khóa tay tôi ra phía trước và chỉ một khóa số 8 thôi.

Khi di với hai tên cảnh sát ra tới giữa cánh đồng. Tôi nhìn suốt một giải chung quanh, cánh đồng rộng bao la, lại thỉnh thoảng có một ruộng đang có lúa. Vì ở giữa cánh đồng, không có nhà cửa cây cối, hai tên cảnh sát cũng chủ quan. Có lúc cả hai tên cùng đi trước tôi đến 7, 8 thước. Chắc chúng nhìn thấy tấm thân tôi xanh xao gầy gò, bước đi còn không nổi, tay lại còn bị khóa nên chúng cũng chả cần đề phòng gì. Tuy hai tay bị khóa, khi thấy một vũng nước nhỏ có con cua, hay con cá, tôi vẫn đứng lại nhìn, hoặc sà xuống lấy tay hất con cua lên chỗ khô.

Giữa cánh đồng, không khí trong lành, tôi đi lại được thoải mái nên người khỏe hẳn lên. Tôi chợt có ý nghĩ, nếu tay không bị khóa, đây là cơ hội đẹp biết bao. Không có cách gì để mở được chiếc khóa này! Tay tôi hơi nhỏ, bây giờ lại gầy nữa, nếu có xà bông, nhất định ra.

Tôi nói một cách có suy nghĩ tính toán là nếu tay tôi không bị khóa, hai tên cảnh sát ở giữa cánh đồng, dù có hai khẩu súng ngắn dắt trong bao đeo ở cạnh sườn, tôi sẽ vẫn giải quyết được trong 5 đến 10 phút. Với tình huống này, tôi có khả năng gây cho chúng chủ quan rất dễ. Mà đã chủ quan coi khinh tôi, chỉ vài thế đánh chớp nhoáng là chúng gục, nhất là lúc này lại là lúc tôi phải quyết tử, khác hẳn với lúc tôi chưa bị bắt. Âu cũng là nghiệp chướng của đời tôi!

Xe về tới Hà Tĩnh đã 5 giờ chiều. Tôi lại được xuống bếp, lại gặp hai nữ cán bộ hôm qua. Vẫn có nồi cơm nguội của các bà. Hôm nay, lại có hai con cá rô nhỏ kho và một bát con rau muống luộc. Rau muống luộc mà chấm với nước cá kho, thật là hồn bay tận mây xanh. Tôi cắm cúi ăn, lòng thầm biết ơn hai người. Suốt bữa ăn, cả hai đều ngồi đấy, một đọc sách, một khâu. Chả ai nói với ai một lời. Im lặng, chỉ thỉnh thoảng nghe tiếng loong coong của đôi đũa chạm vào bát khi tôi và cơm. Ăn xong, tôi đứng dậy nhìn hai bà với ánh mắt dạt dào tình người. Một người ra ngoài một lúc, một tên công an vào, ra hiệu tôi đi theo y.

Trên đường dẫn đến xà lim, bấy giờ tôi mới chợt nhớ đến rệp. Tôi thấy rùng mình. Cứ nghĩ đến đàn rệp lổm ngổm ở chiếc sàn gỗ. Vẫn là căn buồng xà lim hôm qua. Khi y chuẩn bị đóng suốt cùm, tôi nói như than vãn:

– Thưa ông, chiếc sàn này nhiều rệp quá!

Y nhìn tôi lừ lừ, chẳng nói một lời, bỏ ra, đóng của, khóa lại.

Đã có kinh nghiệm, cùm xong, tôi ngồi xổm ngay dậy. Tôi ngồi sầu, suy nghĩ miên man. Vô kế khả thi. Chẳng có cách gì để chống lại lũ rệp. Không lẽ, tôi cứ phải ngồi như vậy suốt đêm? Một ý niệm tràn vào óc tôi. Trong cuộc đời, nhiều khi vì cái thế, phải thua, phải hàng cả con …rệp. Cũng một con người ấy, nhiều khi hiển hách, hét ra lửa, bao kẻ phải cúi đầu lo sợ; nhưng, cũng có lúc vì cái thế. Óc tôi cứ chảy dài theo dòng suy ngẫm, bỗng giọng một người con gái nghe như thì thầm gần đâu đây:

– Sao anh không nằm nghỉ?

Tôi ngỡ ngàng, vểnh tai về phía tiếng nói, chẳng hiểu nói với tôi hay nói với ai! Im lặng, mấy phút trôi qua. Lúc này, rõ ràng là người con gái ấy nói với tôi, nghe khe khẽ như tiếng thì thào từ một khe nứt ỏ một tấm vách tường:

– Sao anh không trả lời?

Như vậy, hẳn cô nàng khi nãy có nghe loáng thoáng tôi nói chuyện với lão cán bộ rồi. Cũng với giọng khe khẽ tôi thì thầm:

– Xin lỗi, có phải cô Nguyệt?

Giọng hơi ngạc nhiên:

– Sao anh biết tên tui?

Tôi hơi cười:

– Tôi còn biết anh Thời nữa!

Rồi để đánh tan sự ngần ngại, ngạc nhiên, tôi tiếp:

– Có gì đâu, hôm qua tôi nghe anh chị gọi nhau.

Và để chủ động, tôi tiếp tục:

– Chị bị bắt lâu chưa, về tội gì?

– Hơn tháng rồi. Tôi là đoàn trưởng Đoàn Thanh Niên Lao Công của xứ đạo. Họ bắt tôi phải từ bỏ việc làm của tôi, để gia nhập Đoàn Thanh Niên Cộng Sản. Tôi không đồng ý, nên họ ghép tội tôi là phần tử phản cách mạng, họ bắt.

Tôi thấy chị tỏ ra cởi mở, không giữ gìn, dễ tin người. Nhưng, cũng có thể chị đã có cái nhìn tinh tế về tôi, nên mới vậy chăng? Tôi tiếp tục:

– Còn anh Thời?

Chị nói nhỏ:

– Tôi không biết rõ lắm!

Tôi hơi cao giọng:

– Tôi có lời chào và thăm hỏi anh Thời!

Tiếng nói từ một buồng phía xa:

– Chào anh bạn, anh mới bị bắt vào hỉ?

Thấy xa xôi quá, phải nói to không tiện. Nói to trong đêm khuya là một điều bất lợi. Lại tiếng chị Nguyệt nho nhỏ:

– Anh bị bắt vì tội gì? Trông anh ốm lắm!

Tôi cũng hạ giọng:

– Xin cảm ơn sự quan tâm…Chị nhìn tôi có rõ lắm không? Thế mà tôi chả biết chị như thế nào?

Một tiếng cười khẽ:

– Người ta hỏi lại cứ tảng lờ!

Cô này có vẻ đáo để và khôn ngoan. Để khỏi phiền toái những hậu họa vô ích, tôi thủng thẳng:

– Tôi là giáo viên cấp II ở Hà Nội, tội vượt tuyến.

Một lúc im lặng, rồi với một giọng thắc mắc:

– Vượt tuyến gì mà lại cùm hai chân?

Ghê nhỉ! Phụ nữ cũng không vừa. Nghĩ vậy, tôi thản nhiên:

– Có gì đâu, trong lúc bị vây bắt, tôi đã đánh cán bộ.

Lại một tiếng cười khẽ:

– Dữ nhỉ! Anh hay đánh người lắm hỉ?

Để khỏa lấp chuyện đó, tôi hỏi:

– Ở đây có mấy buồng xà lim? Nói chuyện thế này, có khi nào bị cán bộ rình bắt cùm không?

– Ở đây có 8 buồng. Nói chuyện nhỏ thế này từ 10 giờ đêm trở đi, không sợ. Thỉnh thoảng nghe tiếng chân cán bộ đi kiểm tra, mình im luôn.

Tôi nghĩ bụng, nói chuyện thế này, những lúc hứng câu chuyện, làm sao nghe được tiếng chân. Hơn nữa, gặp phải một tên cán bộ quái, nghe tiếng chân sao nổi. Tuy vậy, tôi cũng không nói ra, tôi nói như than thở:

– Sao ở đây nhiều rệp thế, tôi không thể nằm được!

Lại tiếng cười xìn xịt. Sao hay cười thế! Hết cười, cô mới như an ủi:

– Ngày mai, anh báo cáo cán bộ trực xà lim, xin ít dầu lửa đổ vào các khe gỗ.

Tôi nghĩ thầm, ngày mai tôi có còn ở đây nữa đâu. Tuy vậy, tôi im lặng.

Cũng quá nửa đêm rồi, tôi đứng lên ngồi xuống nhiều lần đã mỏi quá. Thôi, cũng đành như đêm qua, đành mời mọc hiến dâng cho những con rệp, con muỗi một bữa no nê nữa.

Máu của tao, khổ cực đói khát quá, nên vừa hôi tanh, vừa loãng lắm. Lũ chúng mày chỉ có thể hút máu những người nghèo khổ cùng cực, chứ những loại máu thơm ngon bổ béo của những người giầu, chúng mày đừng hòng. Người ta có mùng mền sạch sẽ, và có nhiều loại thuốc để trị chúng mày! Giống như đồng chí của chúng mày vậy, chúng chỉ có thể hút máu mủ, những đám dân nghèo nàn lạc hậu, nhứ những nước giầu có văn minh, người ta có hở cơ ra, chúng mày cũng chỉ “khạp” được một miếng mà thôi.

Mới mờ sáng hôm sau, tên công an trực trại đã vào mở cửa, mở cùm bảo tôi ra. Có lẽ lúc này cô Nguyệt còn ngủ, hoặc có thức, tôi cũng không làm sao lên tiếng chào một người “chiến hữu hai đêm”. Lợi dụng lúc tên công an quay lưng đi ra, tôi gõ nhè nhẹ tay vào tường hai cái, gọi là để giã từ người bạn mới có lòng.

Cái buổi từ Hỏa Lò ra đi, đã ruột gan đòi đoạn từng cơn. Bây giờ trở về, dù được chúng thông cảm khóa tay ra phía trước, nhưng trong lòng tôi như không còn một chút nhựa sống. Xe long lóc, người tôi ngả nghiêng; vật vờ, rũ rượi, như những chiếc lá úa trước những trận Thu phong cuối mùa.

Xe càng chạy trở về, tôi thấy lòng càng quặn thắt, xa dần miền Nam thương yêu. Lần lượt, những hình ảnh bạn bè, họ hàng ruột thịt chan chứa, đầm ấm hiền hòa hiện ra trong óc tôi. Qua khe hở của chiếc mui xe, tôi rõi mắt nhìn một mảnh trời hình tam giác lệch, về hướng Nam. Một mảnh trời xanh xanh mơ hồ, vời vợi, rõ ràng nét mặt của mẹ tôi, với đôi mắt sầu ngấn lệ, nhìn tôi đăm đăm. Một âm vang rền rĩ trong óc:

Mẹ ơi! Cách trở ngàn trùng.

Hướng về nơi mẹ, ngập ngừng…lệ rơi!

Tôi nhắm mắt lại để ngăn giòng lệ khỏi trào ra, uất nghẹn dồn về trái tim đen thẫm.

Xe chạy qua Vinh, trên đường đi Thanh Hóa. Hai bên đường ngập lúa chín vàng. Những sóng lúa dập dờn theo chiều gió, những làn hương đồng nội ngất ngây phả ắp không gian, cũng không làm giảm được nỗi buồn héo hắt trong lòng tôi.

Xe từ từ ngừng lại ở mé đường. Tôi liếc nhìn ra khi hai tên Thành và Nhuận xuống xe. Nhìn theo con đường đất chạy dài mãi vào nơi làng xóm xa xôi. Mãi trong phía xa, khoảng 200 mét cách đường nhựa nơi xe đậu, tôi thấy có 3, 4 thanh niên và mấy em nho nhỏ, hầu hết là quần đùi, chân đất đang chạy ra phía chiếc xe. Khi các em chạy đến, qua một vài câu trao hỏi, tôi mới hiểu đây là quê hương của tên Thành. Chắc Thành đã viết thư từ trước. Lâu ngày đi làm việc ở Hà Nội xa, may có dịp công tác qua quê nhà, nên y hẹn các em, các cháu ra hỏi han tin nhà, và cũng là để vẻ vang với xóm làng.

Mấy thanh niên và các em nhỏ tò mò nhìn vào trong xe. Chẳng biết chúng sẽ suy nghĩ gì với những cái đầu óc bị bao vây trong lũy tre làng! Lũ thanh niên và Thành hỏi han nhau tíu tít, nào là:

– Anh Thành ơi! Anh A đã vào chiến trường B rồi (theo miền Bắc lúc ấy: Chiến trường “A” là miền Bắc, “B” là miền Nam và “C” là Lào).

– Chị B lên huyện làm y tá.

– Anh C đã làm tiểu đội trưởng du kích, v.v…

Đột nhiên, một thanh niên giọng háo hức:

– Anh Thành ạ, anh Luơng làng mình đã mua được một chiếc xe đạp rồi đấy. “Bình bầu” mãi! 280 đồng giá cung cấp. Hai cái tay “phanh” sáng loáng. Hôm nọ, nói mãi anh ấy mới cho em đi thử một vòng ở sân hợp tác xã, êm như ru, sướng lắm!

Tôi nghĩ thầm. Một chiếc xe đạp! Bao nhiêu lâu anh em mới gặp nhau có mươi, mười lăm phút, mà khoe “một chiếc xe đạp”, lại là của người khác cho mượn. Tôi cảm thấy, ở miền Nam, chuyện mua một chiếc ô tô cũng không đến nỗi chiếm vào cái thời giờ ngắn ngủi, mà bao nhiêu chuyện gia đình cần nói.

Sự việc này, cho phép tôi hiểu hơn một chút về cảnh sống của người dân miền Bắc. Đám thanh niên, trẻ con còn rờ, còn mó chiếc xe ô tô như một thứ kỳ vĩ lạ lùng. Với đầu óc ngây thơ hạn hẹp của họ, đúng là Liên Xô, Trung Quốc vĩ đại thực, vô địch thực! Nghĩ cho cùng, nếu tôi phải sống như họ, thì tôi cũng chẳng khác gì họ. Vậy, lỗi này đâu có phải tại họ!

Mười lăm phút sau, xe lại chạy, những đứa trẻ con còn cố chạy theo để rờ, mó chiếc xe như thể tiếc rẻ chưa rờ đã!

30. Nguời Mong Không Gặp Người Gặp Không Mong

Về tới Hà Nội đã 5, 6 giờ chiều. Trời đã lành lạnh buổi đầu Đông. Khi xe vào cổng Hỏa Lò, trời đã chập choạng. Vào phòng, sau khi mở khóa, tên Thành mở cặp lấy ra hai gói thuốc lá “Trường Sơn” và một bao diêm:

– Đây là tiêu chuẩn tiền ăn đi đường 2 ngày của anh, còn thừa 5 hào, tôi bỏ thêm hai hào để mua cho anh.

Tôi sáng mắt cám ơn. Tên Thành thật tâm lý. 7 hào bạc, bất cứ nó mua cho tôi thứ gì cũng không quý bằng thuốc lá. Tôi thấy trong lòng hân hoan hẳn lên. Một số ngày sắp tới như được hứa hẹn có một người bạn hiền, thật chung thủy, gắn bó, chia sẻ, an ủi thông cảm với tôi trong những lúc đắng cay cùng khổ của một kiếp …tù.

Tên Bằng dẫn tôi về xà lim, vẫn trở về buồng cũ, buồng số 5 xà lim III. Giờ này, tên Nhiễm trực đã nghỉ, vì thế tên Bằng mở cửa buồng. Trong buồng, ngoài bộ quần áo sọc cũ của tôi, bây giờ đã có chăn chiếu. Thật là mừng! Đã cuối tháng 11, trời lạnh nhiều, các cán bộ ở Hỏa Lò đã thay đổi quần áo mùa Đông. Sau khi cùm xong, tên Bằng ra khóa cửa lại.

Trong lòng còn đang mải mê niềm hân hoan với thuốc lá, với chăn chiếu, tôi quên bẵng không báo cáo với tên Bằng là chiều nay, tôi chưa ăn cơm. Thật là lú lẫn đáng trách. Từ 11 giờ sáng, ăn hai nắm xôi, mỗi nắm 2 hào ở Vinh, tới bây giờ chả có gì trong bụng cả. Tôi lục đục trải chiếu, cái cùm hôm nay thật lạnh buốt. Đói, lạnh thế này không thể ngủ được. Hơn nữa, mất suất cơm lúc này là cả một vấn đề. Tôi phải dũng cảm! Khi đó, chắc khoảng 7 giờ. Tôi lựa thế đứng một chân xuống nền, cố với miệng ra gần cửa nhỏ, tôi hô to:

– Buồng số 5 báo cáo cán bộ!

Một lần, im lặng. Hai lần, rồi lần thứ ba, vẫn im lặng. Tôi thấy ngần ngừ, nhưng cái bụng bắt buộc tôi phải dũng cảm tiến lên. Tôi cố hô thật to một lần nữa. Vừa hô được nửa câu thì cửa sổ nhỏ xịch mở, làm tôi giật mình. Chắc rằng, tôi hô từ nãy, y đã từ đâu mò đến, khe khẽ nghe ngóng, tôi đâu có biết, y quát:

– Báo cáo cái gì?

Tiếng la của một người lạ, tôi không nghe giọng quen. Tôi dõng dạc:

– Báo cáo ông, chiều nay tôi chưa được ăn cơm.

Y gằn giọng:

– Sao không được ăn cơm?

– Tôi đi từ Hà Tĩnh mới về, từ sáng tới giờ chưa ăn.

Cửa sổ nhỏ đóng lại. Chừng 15 phút sau, cửa sổ lại mở. Lần này là tên Bằng. Y còn hỏi:

– Anh chưa ăn cơm à?

Tù bây giờ vào hết trong buồng rồi. Y đi mươi phút, có lẽ xuống bếp. Một lúc sau, y mở cửa, đưa vào cho tôi một bát đầy cơm, với một bát con có ít muối trắng. Y nói có vẻ dìu dịu:

– Canh không còn, anh ăn với muối vậy.

Tên này mắt lồi, trông dữ tướng, vậy mà tử tế tệ. Tôi mừng hết chỗ nói. Bát cơm gấp rưỡi mọi khi. Chẳng cần đũa, dùng 10 chiếc đũa trời cho mà tuyệt vời. Vừa ăn, vừa ngẫm nghĩ, nếu mình không dũng cảm lên tiếng, cứ do dự ngại ngần, làm gì có cơm ăn. Vậy trong cuộc đời, nhiều khi phải liều mới đạt kết quả. Hôm nay, tôi thấy lòng vui hẳn lên. Nhiều cái may, thuốc lá này, chăn chiếu này, bây giờ lại bát cơm đầy. Thế mới biết, hạnh phúc của con người chẳng có tiêu chuẩn quái nào cả. Vì thế, Cộng Sản đã triệt để lợi dụng khía cạnh này, để du hoặc lòng người.

Khoảng 15 phút sau, tên Bằng trở lại mở cùm, tôi đem bát ra trả và múc gáo nước. Theo quy định ở xà lim, không được để bát trong buồng. Cùm xong, tôi loay hoay tính toán.Cái chân trong cùm lạnh quá, mình sẽ chiếu cố đặc biệt cho nó. Tôi lồng hai ống một chiếc quần cũ lại, lựa luồn lách vào lỗ cùm, vừa lót, vừa cuốn cho cái chân ngăn cách với sắt. Trải chiếu ra, nằm vẫn buốt lưng, tôi phải gấp lại làm tư, chỉ lót từ mông đến vai. Tôi mặc hai áo, lấy chăn cuộn để hai chăn giáp chéo sang nhau ở dưới lưng (như vậy cũng như nằm lên hai lượt chăn). Nằm xuống, thấy tương đối dễ chịu, tuy sờ hai vai và từ đùi trở xuống vẫn lạnh, nhưng với mức độ lạnh thế này vẫn chịu được. Chỉ còn cái đầu, không có cái gì để gối lên một tí. Khó khăn đẻ ra sáng kiến! Lục lọi, tìm tòi trong óc, cuối cùng tôi nhớ tới mấy bó cuống chổi thanh hao, vẫn thường cọ rửa thùng phân, dựng ở mé tường chỗ vòi nước. Để ngày mai, tôi tính cả một kế hoạch, cho làm sao để có “một chiếc gối đầu”.

Mỗi sáng, tôi được 5 phút làm vệ sinh với những động tác sau: chạy lẹ đem bô đổ vào một cái lỗ chỗ đi ỉa; chạy về mở nước đổ tráng lần một, lần hai cho chổi vào cọ sơ, đổ; tranh thủ rửa hai cái tay, vuốt lên mặt mấy cái, rồi ôm bô vào. Ngày mai, tôi sẽ bỏ rửa tay, rửa mặt, để rửa hai đoạn cuống bó chổi thanh hao, vì các buồng họ làm vội, nhiều khi còn vướng những cục phân nhỏ vào những chạc cành phía trong. Tháo một cái lạt, tất cả đút vào bô, đậy nắp, vào buồng là ổn.

Đêm ấy, tôi nằm ngủ tương đối dễ chịu, những chú muỗi đành đứng ngoài khóc. Mùa Đông, càng lạnh càng ít muỗi. Thật là kỳ cục. Giá đổi lại mùa Hè ít muỗi, mùa Đông nhiều muỗi, tôi hạnh phúc biết bao!

Sáng hôm sau, kế hoạch đã tính kỹ, tôi cứ thế thực hiện. Khi vào buồng, tôi gỡ ra, tỉ mẩn bó lại thành một bó tròn đường kính độ 5 phân, dài chừng 20 phân. Tuy là chổi cọ thùng phân, nhưng tôi rửa kỹ nên chỉ hôi mà không thối. Còn ướt quá, tôi cố với người dựng vào phía trong của gầm sàn, tối nay sẽ ráo.

Một lúc, mụ Hoa vào gọi đi cung. Hôm nay lên, tôi gặp tên Nhuận và một tên lạ mặt. Sau một vài câu hỏi xã giao thường lệ, tên Nhuận mở cặp:

– Hôm nay, để thấy được sự thành khẩn của anh với cách mạng, chúng tôi sẽ hỏi anh một số vấn đề.

Y có chừng 20 cái ảnh đen trắng, loại hình 4×6 mà ai mới bị bắt cũng phải chụp để làm hồ sơ. Y đưa từng cái một, hỏi tôi có biết ai không. Trong khi đưa ảnh cho tôi xem, cả hai đứa đều theo dõi nét mặt và ánh mắt của tôi.

Kể cả 20 tấm ảnh gầy ốm, chứng tỏ là ảnh người tù. Tôi không biết một ai. Những dù cho có biết, tôi cũng tảng lờ ngơ ngác không biết. Qua một số thái độ, cách hỏi, cách đưa ảnh, tôi đã ngửi thấy vấn đề. Tôi hiểu trong số 20 tấm hình này, sẽ có từ một đến vài cái là ảnh của những người từ miền Nam ra, nằm trong một màng lưới tình báo nào đó của Sài Gòn đã bị bắt ở miền Bắc. Số còn lại, hầu hết là ảnh của tù hình sự, hoặc của tù nhân không liên quan đến tình báo. Những người trong tình báo của Sài Gòn bị bắt, hoặc còn ở một trại giam tỉnh nào đó, hay ở ngay trong Hỏa Lò, nhưng giam riêng biệt nên không biết nhau. Có rất nhiều điều chúng không biết, chúng cần thẩm tra. Vậy, đây cũng chỉ là một trong những phương pháp chúng thăm dò.

Tùy theo sự hiểu biết, cũng như quan điểm của những người đã bị bắt, biết đâu, do vô tình, hoặc do thành khẩn, thấy ảnh người quen, nói quen. Chúng sẽ tìm hiểu, điều tra quen ở đâu? Trường hợp nào? Bao nhiêu lần? Đã thấy làm những gì? Hay đi với ai? Thường đến chỗ nào? Thường đi xe gì? Mặc quần áo gì? v.v… Từ đấy, chúng có thể phanh phui ra những điểm mà đối tượng kia còn dấu, hoặc xác nhận chiều hướng chúng có thể tin. Chúng sẽ lấy người này thọc người kia, lấy người kia lại thọc người này. Vì những sự kiện tù nhân khai xảy ra ở trong miền Nam, chúng không thể nắm được trong việc thẩm tra, nên chúng chỉ còn dùng những cách như vậy. Với tôi, những trò đó, đừng hòng. Nhiều khi tôi lại tương kế tựu kế, làm cho chúng rối mù thêm, đưa chúng vào cái mối tơ vò cho chúng tha hồ gỡ. Thời gian ở Hỏa Lò, cũng như sau này đi trại trung ương, tôi thấy chúng thường đột xuất diễn cái trò ấy. Tôi biết, chúng đã đưa ảnh của tôi đi những nơi nào đó mà quá trình khai báo có trùng hợp một không gian, một thời gian, v.v… để chúng nghi người đó có thể biết tôi.

Kỳ này, có khi 2, 3 ngày mới gọi cung. Lúc chúng truy tôi điểm này, lúc điểm khác, lúc sự việc này chưa rõ, lúc việc kia là vô lý, nói láo, v.v…

Trời bước sang tháng 12 càng lạnh dữ, lúc đó cũng là tháng 11 Âm lịch. Một chăn, một chiếu nhưng nằm trên đá và sắt, về mùa Đông bụng càng đói ghê gớm. Không có “ca lô ri” để chống lạnh, suốt đêm hầu như tôi không ngủ được, cứ ngồi co ro. Bốn lượt chiếu, hai lượt chăn mà cái lạnh của sàn xi măng vẫn thấu lên lưng không nằm được. Lúc này tôi, ngày đêm, lúc nào cũng chỉ nghĩ tới ăn thôi. Nghĩ đến bất cứ cái gì cũng thèm chảy nước dãi ra. Mà quái làm sao, bất cứ nghĩ gì, rồi dần dần cuối cùng lại ra chuyện ăn. Nhiều lần tôi đã giận khùng ngay chính với tôi, tại sao lại chỉ nghĩ đến ăn cho nó thèm. Tôi cương quyết dứt khoát bắt óc tôi không được nghĩ đến ăn nữa. Tôi nghĩ đến một anh bạn thân là Nguyễn Văn Nhượng, anh học khóa 10 Thủ Đức. Cuối tuần, tôi lên trường đón anh xuống Sài Gòn, đi chơi khắp thành phố, để rồi xuống chợ Ông Tạ ăn bún chả, thế là cứ nuốt nước miếng ừng ực. Thậm chí, tôi nghĩ đến những ngày còn nhỏ ở Hà Nội, tôi và một người bạn đạp xe vào Hà Đông, rồi chùa Trầm chơi, ghé vào một quán quê bên đường ăn hai gói xôi đậu đen, nước miếng lại chảy ra đầy mồm. Đôi khi từ một cuộc duyệt binh, một đám đánh nhau, một buổi tập võ…nhưng thế nào rồi cũng đến chỗ ăn.

Ôi! Thằng Marx đã phát hiện ra cái huyệt của thời đại, cái huyệt của con người, nên nó đã nghiên cứu viết tập “Tư Bản Luận”. Học trò của tên Marx chỉ cần nghiên cứu thực nghiệm, lại nghiên cứu bổ sung, cuối cùng sao cho thật tinh vi hết cỡ, làm thế nào đó để khi nó thọc vào huyệt là con người dúm lại, dù người đó là ai, chỉ trừ không phải là… người.

Những ai chưa từng bị đói, dứt khoát không thể cảm nhận hết được cái đói đã đành, nhưng kể cả những người đã đói hàng tháng, hàng năm mà còn có một cứu cánh tinh thần như ta sắp hết án, trở về sẽ no; vợ sắp ra tiếp tế cho ta, sẽ có bữa no; tội của ta không có gì, sắp được tha, sẽ no. Ngoài biển khơi, cố gắng chịu đựng vào bờ, sẽ no, v.v… Những người đó vẫn chưa cảm nhận hết cái ghê gớm của đói nên hãy còn có tính cương cường, danh dự, tư cách… Chỉ có những ai đã đói triền miên, năm này qua năm khác, ngửng nhìn khắp 4 phương trời, không còn một hy vọng gì có một ngày sẽ no, lúc đó mới thấy được cái ghê gớm của cái đói ở mức độ nào. Sau này, những thiên tới sẽ có nhiều sự việc, nhân chứng sinh động về vấn đề trên.

Mùa Đông, thường suốt ngày âm u, không có mặt trời. Trong buồng ngồi nhìn chiếc cùm còn không rõ, ở bên ngoài chắc trời âm u xám xịt, như lòng tôi lúc này. Từng đợt, từng đợt gió mùa Đông Bắc theo nhau tràn về, gây lên cái lạnh tái tê. Gió ào ào luồn qua khung cửa sổ bé tít mãi trên trần, gió lách qua những khe hở của những viên ngói trên mái tạo nên những âm thanh vi vu, rên rỉ, nghe càng thê lương ảm đạm trong chốn ngục tù. Những đầu ngón chân, ngón tay của tôi không hiểu sao sưng lên ngứa buốt không chịu nổi. Tôi không hiểu, tôi mắc bịnh gì? Quái lạ! Từ nhỏ tôi không thấy bệnh này, nó sưng đỏ mọng lên, nhức buốt suốt đêm ngày. Nhất là về đêm, nó nhức tôi không thể ngủ được. Tôi cứ ngồi gục đầu xoa nắn ngón chân, ngón tay, lòng hoang mang lo sợ không biết là bệnh gì. Đêm thâu vắng lặng, chỉ nghe có tiếng gió gầm gừ lồng lộn ngoài trời. Lâu lâu, chiếc cửa sổ con lại xịch mở. Tôi ngửng lên, cửa đóng lại. Tôi hiểu đây là cán bộ tuần tra ban đêm, cứ một hoặc hai tiếng lại mở cửa sổ kiểm soát. Sao mà trời già cũng cay độc, toa rập với lũ người khát máu, hành hạ trăm chiều những kiếp người cùng khổ lầm than! Nỗi niềm chảy dài mãi vào đêm thâu tịch mịch. Lúc này, chắc hẳn cũng 2, 3 giờ đêm. Đột nhiên, cửa nhỏ lại xịch mở. Tôi ngửng lên, qua ánh sáng mờ mờ của ngọn đèn điện trên trần, tôi chỉ thấy một cái mũi và hai đốm mắt long lanh. Lần này, cửa không đóng lại ngay. Một giọng nói phụ nữ chưa bao giờ nghe: “Sao anh không nằm xuống ngủ?”

Giữa cảnh âm u, vắng lặng, giọng hỏi han như chứa đựng tình người cảm thông. Tôi trả lời trong một chút xúc động:

– Không hiểu sao ngón chân và tay tôi sưng đỏ lên và buốt lắm, tôi không ngủ được.

Tôi giơ cả mười ngón tay ra chỗ sáng gần cửa sổ. Giọng nói nho nhỏ như tiếng thì thào:

– Anh bị cước đấy!

Tôi chợt nhớ ra ngày xưa khi còn bé, nghe người ta nói trâu bị cước chân, khi đã long móng thì chết. Thế mà các móng chân của tôi, tôi cảm thấy nếu mình kéo mạnh, cũng sẽ bong ra, bởi quanh rìa móng chân mọng đỏ lên như có nước, chỉ vì cơ thể thiếu chất dinh dưỡng, không có sức đề kháng, vì thiếu quần áo và chăn ấm, vì phải nằm trên cái lạnh của sắt và đá, vì thiếu một ngọn lửa… Nghĩa là, nếu tôi chỉ cần có một trong những thứ trên, chân tay của tôi sẽ không bị như vậy.

Cửa sổ vẫn mở. Vẫn hai đốm mắt long lanh và chiếc mũi lúc rõ, lúc mờ. Im vắng nặng nề. Hai thái cực, hai trận tuyến nhưng có cái chung cùng là … con người.

Giọng nói êm êm lại cất lên:

– Mai anh báo cáo y tá, xin một tí nước muối rồi ngâm chân tay anh vào.

Ôi, người này không phải thường xuyên ở Hỏa Lò rồi. Nếu như vì lý do nào đó, anh chết thì thôi, chứ làm gì có chuyện cho nước muối để ngâm chân! Hơn nữa, muối lại là điều tối kỵ trong xà lim. Hoặc, có thể người đó cũng hiểu như vậy, nhưng trước cảnh này phải nói thế cho qua chuyện. Dù sao, giọng nói ấy, hai đốm mắt ấy như ẩn tàng một tình người chân chính, cũng vuốt ve phần nào cõi lòng lẻ loi, cô đơn heo hút đang tràn ngập lòng tôi.

Cửa đã đóng rồi. Người đã đi rồi. Chỉ còn tiếng gió gào trên mái. Tôi chợt nhớ đến một bài ca: “Mùa Đông gió, lạnh lùng, gió lạnh lùng. Chim thôi bay, ngoài mưa gió… hãi hùng. Gió hú chi cho thêm đau lòng người chiến sĩ… Trong đêm trường…”

Gió vẫn lồng lộn thét gào, xà lim vẫn âm u, vắng lặng. Tôi thiếp dần vào đêm kinh hoàng.

Bẵng đi 5, 6 ngày không gọi cung. Hôm nay tên Bằng mắt lồi lại gọi. Khi mở cùm, cả bàn chân tôi cũng mọng đỏ lên, vô cùng nhức buốt. Tôi cho chân xuống, xỏ vào đôi dép Thái Lan cũng thấy đau. Tôi đứng dậy, cố gắng khập khiễng đi như người què. Tên Bằng hỏi giọng thờ ơ:

– Chân anh sao thế?

Tôi trả lời nhát gừng:

– Chẳng hiểu sao ngón chân, ngón tay của tôi sưng buốt.

Mỗi bước chân tôi đi như dẫm vào đống mảnh sành. Tôi cố gắng khật khưỡng. Có thể vì máu nóng dồn xuống chân, mặt khác, các mạch máu và những tế bào chân, trước nằm im, bây giờ chuyển động, vì vậy tôi thấy đỡ đau buốt dần.

Hôm nay, tên Bằng lại chỉ đường sang phía dẫy nhà bên kia sân của giàn nho. Dẫy này, tôi chưa hề bao giờ tới. Tên Bằng dẫn tôi đến một căn buồng lớn ở đầu dẫy. Vào buồng, tôi thấy 6, 7 người ngồi. À, đây là phòng giám thị trại, vì tôi thấy Thượng úy Trì, Phó giám thị, người miền Trung, ngồi ở một ghế cạnh “buya rô” lớn, trên có rất nhiều hồ sơ và một là cờ đỏ sao vàng nhỏ.

Ngồi ghế chính giữa là một tên chừng 45 tuổi, mặc một cái áo “vét tông” gần cạnh đấy, là tên Đức và một số người lạ nữa mặc đồ dân sự.

Trong phòng treo một ảnh Hồ Chí Minh lớn ở chính giữa tường, cùng với nhiều khẩu hiệu: đảng, tổ quốc, cách mạng, v.v… đỏ loẹt cả văn phòng. Trước buya rô, vẫn chiếc ghế đẩu chơ vơ của tội nhân. Tên Đức chỉ tay bảo tôi ngồi. Xong, hắn nói tiếp, vẻ trang trọng, đưa mắt về phía người mặc áo “vét”…

– Đây là Đồng Chí Hồng, Trưởng phòng “44”, Phòng chấp pháp Chính trị. Đồng chí có nhã ý gặp anh. Vậy, anh có điều gì cần, cứ đề bạt.

Tên Hồng cười xã giao:

– Anh có khỏe không? Anh có cần gì, tôi cho phép anh phát biểu.

Tôi nghĩ bụng: Tôi cần gì ư? Một điều mà tôi cần, nếu anh mà thực hiện, anh không còn chỗ ngồi này đâu! Tôi liếc nhìn tấm ảnh Hồ Chí Minh lớn treo trên tường, phía sau lưng y. Tôi chăm chú nhìn vào đôi mắt chó sói của tấm ảnh. Con ngươi vàng ửng như đang đong đưa đổi màu nhìn tôi. Tự nhiên hai mắt tôi nóng rát lên như có lửa, làm cho hai con ngươi của tấm hình như thu nhỏ lại, cụp xuống. Một ý nghĩ ngắn gọn: “Tôi cần cái đầu của người trong tấm hình kia!”. Cuối cùng, tôi nói:

– Xin cảm ơn ông, tôi không cần gì cả. Chỉ đề nghị ông giải quyết sớm sự việc của tôi.

Y cười nửa miệng:

– Anh không chịu khai báo sự thật. Anh không khai báo tốt thì giải quyết sớm thế nào?

Tôi hiểu, điều chính là nó muốn xuống nhìn trực tiếp con người của tôi mà thôi. Còn, chỉ là những câu nói phất phơ.

Giữa lúc ấy, tôi thoáng thấy một bóng người đi vào cửa, phía ngang chéo sau lưng tôi. Tôi quay lại nhìn ra, một người mặc quần áo nâu cũ và một tên công an áo vàng đi phía sau. Tên công an lùi ra. Tên Đức đứng dậy chỉ cho người áo nâu đến một chiếc ghế dài cạnh tường ngồi, quay mặt về phía tôi và buya rô. Người áo nâu dáng to khỏe, nhưng nước da xám tái, đi chân đất, gấu quần nâu lua tua rách mướp.

Khi tôi vừa thoáng quay ra cửa nhìn, tim tôi hơi bóp lại. Người áo nâu cũng nhìn thoáng tôi. Phản xạ cấp thời, tôi chỉ thấy bộ mặt quen quen. Khi người áo nâu vào ngồi ghế nhìn tôi, và nhìn các người ngồi ở bàn giấy, tôi đã nhận ra.

Chắc rằng lúc đó mắt tôi phải đờ đẫn vì ngạc nhiên. Tôi không thể tưởng tượng nổi con người tiều tụy, khúm núm, rụt rè, lấm lét ngồi gần tôi kia là

…Trung Úy Nghĩa. Con người mà hình ảnh đó đã in sâu trong óc tôi, đẹp trai, khỏe mạnh ngang tàng, hiển hách một thời của Bình Xuyên 1954-1955 bây giờ là đây.

Không khí im lặng, không ai nói một lời. Tôi biết chúng đang bám sát thái độ của Nghĩa và tôi. Chừng 3 phút sau, tên Đức ra hiệu, tên công an bên ngoài vào dẫn Nghĩa ra. Sau đó, chúng nhìn tôi như hỏi bằng ánh mắt. Tôi cúi đầu xuống, im lặng và suy nghĩ với bao nhiêu hỗn loạn trong đầu.

Nghĩa là một người trước đây 8 năm tôi thù hận. Suốt 8 năm trường, sau khi Bình Xuyên tan hàng rã đám, tôi đã nhờ bạn bè và chính tôi cố ý đi tìm Nghĩa để trả mối hận thù mà Nghĩa vẫn biệt vô âm tín. Ai ngờ đâu, chỉ vì một sự thử thách vô tình của tôi với tên Lê Văn Hoàn, bây giờ tôi mới được gặp Nghĩa trong cảnh ngộ này. Phải nói, tôi không ngờ được, mà cả ngay Nghĩa cũng không thể biết trước được, có một ngày chúng tôi lại gặp nhau, trong cái giây phút chết lòng. Lòng tôi dâng lên một chút ân hận giầy vò. Dù muốn hay không, giờ đây Nghĩa cũng là một chiến hữu của tôi. Người chiến hữu cùng trong một cảnh ngộ sa cơ, rơi vào tủi cực của cả một kiếp người. Càng hình dung đến hình ảnh tiều tụy của Nghĩa lúc nãy, lòng tôi càng xáo trộn vừa tình thuơng yêu chiến hữu, vừa lòng ân hận lay lắt, đã xóa tan hoang mối hận thù lâu dài, vẫn nằm trong một ngách nhỏ của con tim.

Thấy tôi cứ cúi đầu, tên Đức lên tiếng:

– Thế nào, anh có nhận ra ai không?

Tôi chậm chạp:

– Dạ… Nghĩa Bình Xuyên…

Tên Đức vừa cười nhạt, vừa hỏi tiếp:

– Anh thấy thế nào?

Tôi có vẻ hí hửng:

– Tôi không ngờ!…

Y bóng gió đe dọa:

– Anh sẽ còn gặp nhiều chuyện không ngờ nữa!

Rồi y đứng dậy:

– Thôi, bây giờ cho anh về!

Một người ngồi ghế phía sát cửa đi ra một lúc, mụ Hoa rảo bước vào. Tôi theo mụ về xà lim.

Trên đường về, đầu tôi đầy những suy nghĩ, tính toán nên quên cả đôi bàn chân sưng buốt. Cứ tập tễnh bước đi mà lòng nặng trĩu tơ vò.

Tôi nghĩ, Nghĩa ở trong một toán biệt kích, hoặc đi cá nhân như tôi. Nghĩa đã ra Bắc từ lâu, và cũng bị bắt từ lâu, hiện đang ở trong một trại giam Trung Ương nào đó để lao động cải tạo. Có thể trước đây, Nghĩa không khai báo đến thời gian ở Bình Xuyên. Bây giờ, mãi 1962, tôi mới ra, do một sự vô tình tôi đã nói đến Nghĩa ở đó. Như vậy, chúng cho rằng Nghĩa còn che giấu nhiều vấn đề. Vì thế, Nghĩa bị lấy về Hỏa Lò để điều tra lại và cho tôi trông thấy, nhưng không cho hai bên nói chuyện với nhau. Vậy là chúng đã gián tiếp đe dọa cả Nghĩa và tôi: “Các anh còn những điều gì nữa mà chưa khai, thì các anh tự liệu”. Bất cứ một ai, khi đã ở trong tay chúng rồi, điều chúng đã biết mà anh không khai, chỉ còn một cách là anh tự tử ngay đi mới thoát. Tôi nghĩ, Nghĩa đang lo sốt vó, và có thể đang oán hận tôi nữa, nếu Nghĩa không hiểu quán triệt sự việc. Ngược lại, tôi chả có cái cóc khô gì phải lo cả. Nghĩa có biết gì về tôi đâu. Còn giai đoạn ở Bình Xuyên, tôi đã khai thật. Câu chuyện đó không tiền, khoáng hậu đối với cuộc đời hoạt động của tôi mà.

31. Nghĩa “Bình Xuyên”…

Để làm sáng tỏ phần nào cuộc đời của Nghĩa. Tôi xin tường thuật lại sự việc cũng dính dáng đến một đoạn đời của tôi và một góc bối cảnh ngang ngửa của quê hương…

Sự việc xẩy ra vào khoảng tháng 8 năm 1954 tại Bệnh Viện Bình Dân, khi ấy là đường Général Lizé (đường Phan Thanh Giản Sài Gòn sau này). Giai đoạn đó, bệnh viện vừa mới xây xong nên chính quyền, tạm thời dùng làm trại tiếp đón đồng bào di cư từ Bắc vào Nam theo hội nghị Genève.

Như tôi đã nói đến phần đầu. Tôi, một thanh niên 16 tuổi mới vào thành đô. Ngay ngày đầu, sống giữa cái ồn ào, hỗn tạp, xô bồ của giòng người đủ mọi thành phần tại bệnh viện này, chẳng biết cuộc đời mình sẽ trôi dạt về đâu.

Lúc đó, tuy mới 16 tuổi, nhưng nhờ thích thể dục thể thao, nên người tôi trông cũng nẩy nở cứng rắn. Tôi cũng đã đấm đá nhiều, vì bị ảnh hưởng của phong trào “càn” của học sinh Hà Nội thời 53-54. Khi vào Sài Gòn, tôi mang theo một lạng vàng, đúc thành một cục. Tôi luôn luôn để trong một cái túi nhỏ, khâu kín ở bên trong quần lót. Giữa lúc đó, tôi gặp một “băng” 3 cậu cũng là học sinh “càn” ở Ngõ Huyện Hà Nội: Tuyển, Luân, An, độ 16, 17 tuổi, trốn nhà vào Sài Gòn, và cũng chẳng quen biết ai như tôi. Trông cậu nào cũng ngổ ngáo, dữ tướng, tay to, ngực nở. Thôi thì cùng hội, cùng thuyền, 4 đứa thường nằm chung với nhau một chỗ. 3 cậu kia thuộc loại không cần ngày mai, có đồng nào tiêu hết đồng ấy, lần lượt đồng hồ, rồi quần áo cũng bán dần.

Giai đoạn này, theo nguyên tắc từ Tổng Ủy Di Cư. Mỗi đồng bào, mỗi ngày được cấp phát 4 đồng rưỡi, nhưng tên trưởng trại Nhuận, cũng giống như nhiều người khác, mang sẵn trong mình dòng máu tham nhũng, thối nát của một bối cảnh lịch sử đất nước lúc bấy giờ, nên y đớp hết. Gia đình đồng bào nào không có thân nhân ở ngoài, không có tiền riêng mang theo, đều lâm vào cảnh thiếu đói. Cũng vì thế, khi Tuyển, Luân và An gặp tôi, các cậu đang ngang ngửa từng ngày, nằm queo từ sáng đến chiều, không có gì trong bụng. Tôi thông cảm, nên lúc thì tôi nói có 200 đồng, lúc thì bảo mới gặp người quen xin được 100 đồng… để các cậu có cái ăn. Khốn một điều là các cậu thuộc loại tiêu tiền không cần tính. Hai trăm đồng nếu mua cơm bữa ăn, 4 người dè xẻn cũng được cả tuần lễ, hoặc mươi ngày. Đây lại vào hiệu gọi phở xào, uống bia, nên chỉ một ngày là nhẵn. Tôi thấy cứ như thế này thì làm sao mà kham cho nổi, nên cũng đành nhiều khi phải nhịn đói cùng nhau, dù tôi có tiền. Họ biết thế, nên tôi đi đâu họ cũng không bỏ rời. Nhiều lúc, chính tôi cũng đói quá không chịu được, tôi lại phải vờ gặp được người quen cho tiền.

Giữa cảnh sống dở chết dở đó. Mà đồng bào lại cứ kéo vào ùn ùn. Nằm la liệt đầy cả lối đi, lẫn trong nhà xí, bẩn thỉu, hôi thối, nhưng không còn chỗ. Vì là bệnh viện mới xây, chưa có giường, phản nên tất cả đều nằm xuống nền nhà. Có chiếu, có vải trải ra thì tốt, nếu không, phủi sạch nền mà ngả lưng, chật như nêm cối.

Buổi sáng ra, 4 tên, trông ngoài thì có vẻ „cậu”, nhưng trong bụng cậu nào cũng có cuộc biểu tình kịch liệt. Chưa biết lấy cái gì cho vào, để dẹp các cuộc biểu tình này. Giữa phòng người đầy ắp chen ra, chen vào. Bất chợt tôi nhìn thấy một anh Trung Úy, quần áo là thẳng tắp, đội mũ sĩ quan, huy hiệu vàng chóe hình nước Việt Nam. Trông anh đầy phong độ, hồng hào đẹp trai, cao khỏe. Mắt tôi chạm mắt anh sĩ quan đó, cùng sáng lên ngỡ ngàng. Tôi ngỡ ngàng vì đây là Nghĩa. Tôi nhớ không lầm, chỉ mới cách đó 6 tháng trước, Nghĩa còn đứng gác soát vé cho rạp hát Kim Chung ở Hàng Bạc Hà Nội. Thường vẫn nể “pha vơ” cho tôi vào xem “cọp”; thế mà giờ đây lại đeo lon Trung Úy, loại Trung Úy rất hách.

Nghĩa lúc đó khoảng 28, 29 tuổi. Trước thế và cảnh này, thôi mình tạm thời làm đàn em vậy! Tôi và Nghĩa cùng chạy lại bắt tay nhau rối rít. Tôi mừng khác, và Nghĩa mừng khác, nhưng cuối cùng hai cái mừng đều gặp nhau ở một điểm: “Giải quyết cái mình muốn”. Nghĩa vồn vã:

– Bình vào bao giờ đấy? Bố mẹ có vào không?

Tôi hân hoan:

– Em vào một mình, ông bà “bô” sẽ vào sau.

Nghĩa chỉ về phía Tuyển, Luân, An:

– Bạn của Bình đấy à! Cũng như Bình chứ?

Tôi gật và nhìn lên lon, lên mũ của Nghĩa. Hiểu ý, Nghĩa hạ giọng:

– Nói thực với Bình, tôi có ông chú làm Đại Tá trong Bình Xuyên, vì thế, tôi vào, được đề bạt đặc biệt. Tôi đã biết Bình, ngang tàng như Bình ở đấy rất hợp. Bình Xuyên là một đảng lớn. Sài Gòn, Chợ Lớn hầu như do toàn quyền kiểm soát của Bình Xuyên. Cảnh sát, công an đều do Bình Xuyên nắm giữ. Quân Đội Quốc Gia, không có một cá nhân nào, từ Tướng trở xuống dám ho he nói động đến Bình Xuyên. Nói động đến là “củ” liền. Riêng với Bình, tôi sẽ về nói với chú tôi trả cho Bình Thiếu Úy. Chúng ta là người Bắc, phải có “băng” với nhau. Khi Bình đã vào Bình Xuyên mang lon Thiếu Úy rồi, sẽ được phát cho một cái đầu hổ, dấu hiệu của đảng.

Nghĩa vạch luôn trong ve áo cho tôi nhìn. Một cái đầu hổ bé tí, đường kính độ 2 phân, bằng đồng, sơn màu xanh xám, đúc rất sắc sảo; cái mồm há ngoác đỏ lòm, giơ mấy cái răng nanh trắng hếu. Nghĩa nói tiếp:

– Bất cứ Bình căm tức, thù ghét thằng nào bên quân đội Quốc Gia, từ Đại Úy trở xuống, Bình cứ “nốc ao” nó tự do. Nếu thua Bình chỉ lật ve áo giơ dấu hiệu của đảng, sẽ có nhiều người chung quanh (người của đảng) xông vào đánh thằng đó chết tươi ngay. Còn nếu Bình cảm thấy không đủ sức đánh nó, hãy vờ rủ nó về gần cầu chữ “Y”, Bình rút súng ra cho nó một phát, rồi chạy sang bên kia cầu, sẽ bảo đảm an toàn.

Nghe Nghĩa nói, và với cái nhìn thực tế của tôi lúc đó ở Sài Gòn, tôi thừa nhận lời Nghĩa nói có giá trị. Ngay trong bảng đá khắc tên những ân nhân tặng tiền xây bệnh viện Bình Dân, cũng thấy tên Lê Văn Viễn đứng đầu. Đâu đâu, người Sài Gòn, Chợ Lớn cũng nể sợ Bình Xuyên. Tướng, Tá của quân đội Quốc Gia cũng nể, bởi vì Bình Xuyên có đoàn ám sát cảm tử khát máu.

Lúc đó, tôi chỉ là một thanh niên mới lớn, nhìn cuộc đời còn đầy ấu trĩ; hơn nữa, vì cái tính ngang tàng thích đấm đá, phải nói Bình Xuyên là đất dụng võ. Do đấy, tôi đồng ý ngay. Nghĩa rất hớn hở:

– Thế còn mấy người bạn của Bình thì sao?

Muốn có thời gian bàn thảo, trước khi quyết định, tôi nói:

– Để em hỏi, chắc các bạn cũng thích như em.

Nghĩa nói có việc bận một chút và bảo tôi nửa giờ nữa, ra gặp Nghĩa ở trước bệnh viện.

Tuyển, Luân, và An khi biết sự việc đã mừng quýnh, trước hết giải quyết cái dạ dầy đã. Thế là cả 4 tên đều đồng ý lát nữa ra gặp Nghĩa.

Khi gặp Nghĩa, 3 cậu cũng cứ rối rít anh anh, em em coi như đây là một cơ hội ngàn năm đổi hướng cuộc đời. Theo hẹn ước, 8 giờ sáng hôm sau, Nghĩa sẽ đem xe tới đón. Ngày và đêm hôm đó, chúng tôi bàn tán ồn ào. Lòng tôi cũng hân hoan phấn chấn, cho nên, tôi vờ vào nhà cầu. Khi ra, tôi đưa ra một tờ 200 đồng, mặt dầu dầu tình cảm:

– Tao chỉ còn duy nhất 200 đồng này, tao định cất kỹ phòng hờ. Vậy, chúng ta phải ăn dè, tối nay 50 đồng, sáng mai 50 đồng, còn 100 đồng thì đưa cho thằng Luân, ở lại trên này, giữ 2 cái va-li: một của tao, và một của 3 chúng mày.

Quay lại phía thằng Luân, tôi căn dặn:

– Chúng ta chưa biết rõ Bình Xuyên thế nào, vậy cứ xuống người không đã. Nếu có gì không thích, chuồn ra dễ dàng hơn; còn nếu thấy “hẩu”, ba bốn ngày sau, chúng tao sẽ ra đón mày vào.

Tôi bàn như vậy, chúng nó thấy hợp lý nên đồng ý ngay, Vả lại, từ ít lâu nay chúng nó vẫn thường nghe theo ý kiến của tôi.

Sáng hôm sau, mãi 8 giờ Nghĩa mới lái xe “díp” đến, theo sau là một xe Dodge 4, do một Trung sĩ lái. Khi chỉ thấy có 3 chúng tôi, Nghĩa nhìn tôi hỏi ngay:

– Còn anh kia nữa đâu?

Đã dự trù trước nên tôi tình cảm:

– Anh Nghĩa à, lẽ ra 4 chúng em cùng đi một lượt, nhưng vì còn 3 người bạn nữa ở Hà Nội sắp tới, chúng em để Luân ở lại chờ, đón rồi cùng vào luôn.

Nhìn thấy tôi vẻ hoan hỉ, Nghĩa cũng tin tưởng, nên y gật đầu:

– Được!

Từ hôm qua tới nay, tôi đã hiểu Nghĩa lên các trại đón tiếp đồng bào di cư, để dụ dỗ người vào Bình Xuyên. Tùy theo tầng lớp và loại người, Nghĩa hứa hẹn nào phát ruộng, cho đi học, vào hãng xưởng làm việc, làm văn phòng, vào Bình Xuyên có nhiều quyền lợi v.v… Mục đích càng đón được nhiều người, càng tốt. Nhất là những gia đình, có vợ chồng con cái. Dân có đông, thế mới mạnh, lực mới lớn.

Cùng lên xe Dodge 4 với chúng tôi, có hai gia đình của mấy anh Địa Phương Quân, bồng bế cả vợ con. Nghĩa đặt tay lên vai tôi:

– Bình và các anh em về trước, tôi bận chút việc, sẽ về sau.

Xe Dodge chuyển bánh, chúng tôi chưa hề biết gì về chung quanh Sài Gòn. Nhất là vùng Bình Xuyên, và ngay cả hai tiếng “Bình Xuyên” cũng đầu tiên trong cuộc đời nghe thấy. Chúng tôi thấy xe chạy vòng vèo mãi. Khi xe qua một chiếc cầu, mà sau này tôi biết là cầu chữ “Y”. Tôi thấy ngay giữa cầu, một chòi gác rất xinh xắn, một Quân Cảnh cũng giầy, ghệt, găng tay, mũ sắt trắng, nhấc cây chặn đường xe qua. Xe đi qua một khu phà lớn gồm nhiều phố xá với cái cổng to mang 3 chữ lớn: “TỔNG HÀNH DINH”. Nhìn thoáng bên trong, cũng cột cờ, lính tráng đi lại. Hai khẩu đại bác 105 ly còn mới toanh, với hàng dẫy xe GMC. Tôi có cảm nghĩ, như thế này có khác gì quân đội Quốc Gia! Xe đi qua khu Tổng

Hành Dinh, rồi đi mãi qua một số phố xá, đến khu ruộng đồng. Tới chỗ có mấy căn nhà to, có hàng rào giây thép gai, có lính gác, xe đi tuột vào trong.

Chúng tôi xuống xe. Mấy gia đình, hòm xiểng chăn màn, bồng bế nhau vào ngồi một chỗ, còn chúng tôi đi lang thang trong sân chờ Nghĩa về. Điều đầu tiên làm cho tôi suy nghĩ mãi, là ở giữa sân có hai cột cờ cao, sơn trắng với hai lá cờ đang tung bay phất phới: Một lá cờ ba sọc Quốc Gia, còn lá cờ kia là cờ đỏ sao vàng. Chỉ khác với cờ Việt cộng là có một nền vuông mầu xanh bọc chung quanh ngôi sao. Tại sao cờ Bình Xuyên lại như vậy?

Tôi băn khoăn và muốn tìm hiểu. Tôi lân la làm quen với một anh lính nhỏ. Được biết anh là liên lạc của Trung úy Tư, Trưởng đồn, người miền Nam, và Trung úy Nghĩa là phó. Anh có tên là “Ba Nhỏ”. Qua một số chuyện trò, Ba Nhỏ rất thích chúng tôi. Anh tỏ vẻ hiểu biết, chỉ ra phía cột cờ:

– Mới cách đây mươi bữa, ở chỗ đó xử tử hai tên do thám của Hòa Hảo!

Tôi mở to mắt ngạc nhiên. Anh nói tiếp như chứng minh:

– Ở đây, bắn chết người là thường!

Tuy còn nhỏ tuổi, nhưng những điều Ba Nhỏ nói chuyện đã làm cho tôi suy nghĩ không ít. Gần trưa cũng không thấy Nghĩa về. Một người lính ra gọi chúng tôi vào một ngôi nhà lớn. Trong nhà rộng thênh thang, những tranh ảnh treo chung quanh tường, chứng tỏ là một nơi huấn luyện quân đội. Mãi trong cùng, nơi một số bàn làm việc, có một Trung úy, một Chuẩn úy và một Trung sĩ. Tên Trung úy hỏi tên chúng tôi. Sau khi biết chúng tôi là người của Nghĩa, chờ Nghĩa về giải quyết, y chỉ ghi tên chúng tôi để làm sổ ăn. Cuối cùng, một tên Trung sĩ ra hiệu:

– Bây giờ các anh ra ngoài chờ. Trung úy Nghĩa có thể chiều mới về. 12 giờ trưa các anh ra Câu Lạc Bộ Sĩ Quan ăn cơm.

Chúng tôi ra sân, mắt nhìn nhau đều sáng lên, nhất là Tuyển và An. Hai cậu được giải quyết ngay cái khâu dạ dầy, mà lại ở Câu Lạc Bộ Sĩ Quan cơ. Đúng trưa, theo Ba Nhỏ chỉ, chúng tôi đến Câu Lạc Bộ ở gần mé sông. Câu Lạc Bộ gì mà làm tôi ngạc nhiên. Một cái nhà lá dài, trống trơn, không vách, dọc theo ở giữa nhà là những tấm gỗ ghép lại thành một cái bàn dài. Một thúng cơm nhỏ để chỏn vỏn trên bàn, bên cạnh là một bát canh to đầy nước, trong có ba con cá mòi nhỏ, nấu muối. Tôi thử một tí nước tanh đến buồn nôn. Cơm vàng lợt, nguội tanh, có mấy vừng cơm nhão như cháo đặc. Tôi không thể ăn nổi. An và Tuyển vì đói nên cố gắng ăn. Phần tôi, vì trong người vẫn còn tiền, hơn nữa, lúc lang thanh trong trại, tôi đã nhìn thấy nơi gia đình binh sĩ có một hàng cơm nhỏ, nấu ngon lành. Nên, tôi bảo An, Tuyển hãy thông cảm, tôi ra ăn mấy đồng cơm hàng. Buổi chiều cũng không gì hơn, Tuyển và An vẫn phải cố gắng nuốt, vì cơm còn khê nữa.

Chúng tôi cứ lang thanh trong khu vực trại. Để xem thế nào, một lần, chúng tôi coi như không để ý, thả bước về phía cổng trại để ra đường. Một anh Trung sĩ chạy ra, lịch sự:

– Các anh thông cảm, hãy đi vào trong. Khi làm giấy tờ xong tha hồ muốn đi đâu cũng được.

Như vậy là chúng tôi coi như bị giam lỏng rồi. Mãi gần tối, Nghĩa mới về, chúng tôi tíu tít chạy lại đón ngay khi xe díp vào sân, còn chưa tắt máy. Nghĩa cũng tỏ ra rất hưng phấn, tươi tỉnh. Nghĩa cũng hiểu rằng, tuy chúng tôi nhỏ tuổi, nhưng là người đang đi học, có ít nhiều hiểu biết, và cũng ngang tàng bạt mạng. Vậy, nếu thu phục được chúng tôi, cũng có nhiều điều lợi. Nghĩa nói là bận lắm, dù vậy tối nay Nghĩa sẽ xuống ngủ với chúng tôi, để gọi là anh em hàn huyên tình nghĩa.

Chúng tôi được dẫn vào một căn nhà lớn khác. Trong trại, có hai căn nhà to. Theo Ba Nhỏ, đây là hai cái kho của tụi Nhật ngày trước. Căn nhà chúng tôi ở có 4 dẫy sàn rộng thênh thang. Ở mỗi góc, lèo tèo dăm gia đình, hoặc là Địa phương quân hay nông dân miền Bắc. Vì biết có Trung úy Nghĩa xuống ngủ, nên mấy tên lính chuẩn bị quét dọn phía đàng góc này, rồi trải chiếu v.v…

Trời đã tối, mãi 8 giờ Nghĩa mới xuống. Tên Ba Nhỏ vì thấy vui cũng xuống nằm. Nghĩa huênh hoang chuyện trò có vẻ rất tự mãn về mình, chúng tôi cũng đẩy đưa câu chuyện cho qua. Tôi hiểu, hiện nay đồng bào di cư đang vào nhiều, Nghĩa có trách nhiệm mời đón, càng được nhiều, uy tín càng lớn.Trong lúc Nghĩa nói chuyện, thỉnh thoảng trên mái ngói cao tít, tiếng một con cắc kè rống vang lên trong căn nhà rộng, làm cho câu chuyện cũng ngập ngừng. Một ngọn đèn 60 watts treo lủng lẳng ở giữa, toàn căn nhà vẫn tối om, chỉ có một đốm sáng lửng lơ là ngọn đèn. Vì thế, nghe tiếng cắc kè kêu, chúng tôi đều cảm thấy hoang vắng gợi sầu. Tỏ vẻ bực bội, Nghĩa sai tên Ba Nhỏ lên phòng cầm cho y cái đèn “pin”. Một lúc sau Ba Nhỏ cầm đèn pin về. Chờ lúc cắc kè kêu, Nghĩa chiếu lên mái, nó nằm chếch ở một cái xà gỗ. Nghĩa đưa đèn cho tôi rọi, rồi rút khẩu súng ngắn ở bên hông, lên đạn. Mọi người đều đứng hết cả dậy hồi hộp theo dõi. Một tiếng nổ chát chúa vang ngân lên trong đêm khuya, làm giật mình mọi người. Đạn chả trúng cắc kè, nhưng làm tung ra mấy viên ngói, rơi xuống sàn gỗ rào rào.

Từ đấy, chú cắc kè cũng im bặt; nhưng Nghĩa thì tỏ ra nghênh ngang, truớc sự thán phục của Tuyển, An và Ba Nhỏ. Đối với tôi, nhìn việc này, tôi thấy đây là một việc làm hỗn độn, chỉ có trong một cái đảng lộn xà ngầu.

Sáng hôm sau, 8 giờ, một tiểu đội bồng súng, một Thiếu úy người Bắc hô chào cờ. Có cả Nghĩa và chúng tôi. Hai người lính đều trang nghiêm kéo hai lá cờ lên. Tên Thiếu úy vừa hô nghỉ xong, chưa kịp hô giải tán, Nghĩa đã tiến đến người Thiếu úy:

– Yêu cầu Thiếu úy đưa trả cái “permission” cho tôi!

Người Thiếu úy trẻ, nhưng thấp hơn Nghĩa, quay lại:

– Tôi đã nói với anh là “permission” do Đại tá cấp cho tôi. Chỉ Đại tá mới có quyền thu lại.

Nghĩa chỉ tay vào mặt người Thiếu úy, sừng sộ:

– Anh có đưa “permission” cho tôi không?

Người Thiếu úy, mặt tím bầm lại, hai hàm bạnh ra gằn giọng:

– Nghĩa à, mày đừng lên chân, vì trên vai mày có hai vạch…

Mắt long lên sòng sọc. Nghĩa cởi phăng ngay áo ra, phô bộ ngực và cánh tay nở nang, quay lại quẳng chiếc áo về phía tôi, lẹ tay tôi bắt lấy. Nghĩa đi đến gần người Thiếu úy, chỉ tay:

– Khánh! Một, mày có đưa không? Hai, mày có đưa không?

Khánh liếc nhìn chung quanh, 12 người lính và chúng tôi, rồi nhìn Nghĩa, nghiến răng lắc đầu:

– Không thể…

Y mới nói được hai tiếng “không thể” thì “bốp”, một cái “crochet” ghim ngay vào quai hàm. Tôi chỉ thấy Khánh đưa một tay lên bịt miệng, rồi đổ nằm dài xuống sân cát.

Nghĩa rút khẩu súng ngắn đeo bên hông ra, lên đạn, chĩa vào Khánh đang nằm im lìm giữa sân. Y đi chung quanh, môi bậm lại. Trước những con mắt mở to của 12 người lính và 3 chúng tôi, chừng 3 phút sau, Khánh từ từ bò dậy, mở tay ra, máu đầy tay, chảy dài đỏ thắm chiếc áo lính. Y quay lại Nghĩa, nói trong tiếng gầm gừ:

– Nghĩa à, đời còn dài!…

Rồi cứ để máu chảy như vậy, chậm chạp y đi ra khỏi cổng.

Nghĩa đến tôi lấy áo, rồi quay lại phía 12 người lính hô: “Giải tán!”. Nghĩa đi về phía văn phòng trước cái mồm còn há hốc của An.

Sau đó, qua Ba Nhỏ tôi được biết: Khi hội nghị Genève ký kết, Khánh đang học dở lớp sĩ quan Trừ Bị Thủ Đức. Khánh cùng một số sinh viên sĩ quan khác đã trốn ra khỏi trường khi đất nước chia đôi. Rồi thì, tình hình biến đổi, Khánh muốn trở lại trường sợ sẽ bị ghép vào tội đào ngũ. Giữa lúc lông bông trên các ngả đời, thì Khánh gặp Nghĩa, quen cũ từ Hà Nội. Trước đây Khánh vẫn khinh Nghĩa là thằng vô học, nhưng bây giờ, cờ đến tay Nghĩa, Khánh đành theo lời hứa hẹn của Nghĩa về Bình Xuyên làm Thiếu úy. Được Đại tá cấp cho một giấy phép đi về giữa Sài Gòn và Bình Xuyên. Khánh từ đó, đi về thả cửa không cần có ý kiến của Nghĩa nữa. Nghĩa tức, muốn thu lại giấy phép nhiều lần, nhưng Khánh nhất định không đưa.

Cái điều chính yếu là Khánh, ngưòi có học, cứ nhìn Nghĩa bằng con mắt coi thường người kém học. Nghĩa thì đã mặc cảm từ trước, nên thường hậm hực nhau. Với tôi, đó cũng là một sự việc nữa đã nói rõ về Bình Xuyên. Giai đoạn này, trong khu vực BX, thì tất cả mọi người từ lính tới quan, tới dân chúng, mỗi khi nói tới Lê Văn Viễn, đều kêu là “Ngài”: “Ngài đã đi Pháp rồi!”, “Ngài đã ký lệnh rồi!”, v.v…

Được biết. Ở đây thanh toán nhau là chuyện cơm bữa. Mạng người ở BX chẳng có giá trị gì. Chính ngay buổi chiều ấy, Nghĩa đã nói thẳng với tôi, khi thấy tôi lửng lơ không chịu đưa giấy tờ để làm thủ tục:

– Các anh có tài, chúng tôi rất hoan nghênh và rất cần sự góp sức góp tài của các anh. Ngược lại, các anh lừng khừng ương ngạnh, bắn bỏ ngay, chúng tôi ở đây không thiếu đạn.

Khi ấy, phần còn ít tuổi, phần khác tôi đã hiểu gì rõ ràng về đất nước đâu, cho nên tôi có ý niệm: Một thanh niên, nếu có lý tưởng với quê hương, dân tộc, vào bưng biền theo Việt Minh; nếu chỉ vì tiền tài và danh vọng, hãy vào lính Quốc Gia. Còn dứt khoát, không thể ở với Bình Xuyên, tôn thờ cá nhân của Lê Văn Viễn, của một đạo quân hổ lốn, coi mạng người rẻ như bèo. Tôi quyết tâm, dù Tuyển và An vừa dỗ dành vừa đe dọa tôi:

– Thôi, anh em mình đã vào đây, chúng tao cũng vì theo mày. Bây giờ chúng tao đã đưa giấy tờ rồi, mày hãy ở lại cho có anh có em.

– Đó, mày thấy anh Nghĩa đấy, mày mà để anh ấy ghét thì thật là nguy hiểm. Chúng tao cũng chẳng vui gì…..

Chúng nó đã đưa hết giấy tờ cho Nghĩa rồi. Phần tôi, tôi nói giấy tờ để trong va-li, vài ngày nữa, tôi sang Sài Gòn đón Luân sẽ đưa sau.

Ba, bốn ngày sau, một buổi chiều, bỗng một chiếc GMC đi vào sân trại, chở theo đầy xe người lố nhố người lớn trẻ con. Chúng tôi chạy ra nhìn lên, thấy thằng chó chết Luân với cả hai chiếc va-li.

Tên Nghĩa đi xe díp theo sau, chỉ tay bảo Luân đưa va-li của tôi xuống, rồi y ra hiệu cho tôi mở ra lấy giấy tờ. Quá bất ngờ, lúng túng, tôi đành phải mở va-li. Tơi cứ vờ lục lọi tìm kiếm trước con mắt lừ đừ của Nghĩa. Một lúc, tôi quay lại hỏi to Luân:

– Trên đó, mày có mở va-li của tao không? Sao không thấy giấy tờ của tao?

Thấy thái độ của tôi như vậy, Nghĩa nghiêm giọng:

– Tôi rất quý Bình, nhưng với điều kiện là Bình phải nghe lời tôi. Tôi cho Bình đến sáng mai 8 giờ, nếu không có giấy tờ cho tôi, lúc đó đừng trách gì tôi cả!

Tôi xách va-li vào trong nhà về chỗ nghỉ, lòng ngập đầy giận uất thằng Luân. Hỏi nó, nó bảo:

– Nghĩa nói là chúng mày bảo đưa va-li vào. Tao biết gì!

Chính tôi đã dặn nó, khi nào tôi lên đón nó mới đi. Nhưng thôi, trách nó làm gì. Tối hôm đó, tôi thật lo lắng. Cả 3 đứa đều khuyên tôi, đã trót thế này thì cứ đưa giấy tờ, rồi tính sau. Tôi nghĩ, không đơn giản như vậy. Đưa giấy tờ, nghĩa là tôi đã đồng ý gia nhập đảng Bình Xuyên. Hôm trước, Nghĩa đã nói thẳng là đã vào đây rồi, chỉ có cách duy nhất là phục tùng gia nhập, sẽ có mọi quyền lợi. Muốn ra bây giờ, không được nữa, vì đã biết nhiều chuyện của họ. Nó cũng đã nói thẳng, đã bao nhiêu thằng vào đây rồi trốn, đều không thoát. Rồi nó trừng mắt, khoa tay trước chúng tôi:

– Nếu muốn trốn, hãy nhớ kỹ, đừng ở Việt Nam, dù ở đâu Bình Xuyên cũng tìm ra. Có trốn ra ngoại quốc, thì đừng đến nước Pháp, ở Pháp BX cũng tìm ra thanh toán.

Mấy ngày trước, tôi đã lân la nói chuyện với 4 người lính gác bốn góc trại. Có người nói bên kia con sông này là Chợ Lớn; nửa tháng trước đây có bắn chết một người, đang đêm bơi qua sông để trốn sang Chợ Lớn. Dù bao nhiêu đe dọa, tôi vẫn nâng cao quyết tâm. Trong mấy ngày lang thang trong trại, tôi đã mò mẫm và tìm hiểu được về đảng BX này như sau:

Xuất thân là một đảng cướp, chuyên môn bắt cóc tống tiền những ngưòi có máu mặt, và cũng biết ve vãn chính quyền cai trị. Nhờ thời thế và khả năng khôn ngoan, dưới thời Pháp thuộc, Viễn đã có hàng trung đoàn quân sĩ tay chân trong địa thế sâu hiểm Rừng Sát. Pháp không thể tiêu diệt được, đành chiêu hồi và chịu điều kiện là Viễn vẫn cứ ở cứ khu BX và Rừng Sát. Nhật đảo chính Pháp, cũng chưa hoặc không đủ thời gian để tiêu diệt BX, nên vẫn chấp nhận để BX ở cứ khu cũ.

Nhưng tới Việt Minh, con hổ mang bành Hồ Chí Minh núp sau chiêu bài: Độc Lập, Hạnh Phúc, Tự Đo, Cách Mạng, Nhân Dân, Tổ Quốc, v.v…những danh từ mới lạ đó có sức hấp dẫn cuốn hút mọi người, nên đã lôi cuốn được Viễn. Viễn lúc đó trong tay có gần 2 trung đoàn với vũ khí đầy đủ, đã đi theo tiếng gọi cứu nước của cái gọi là “chính quyền cách mạng” để chống Pháp. Với Cộng Sản thì trước sau tất cả mọi đảng phái, tổ chức cũng như cá nhân phi Cộng Sản, dần dần chúng đều tiêu diệt; nhưng, với âm mưu thủ đoạn tinh vi, lúc nào trước tiên Cộng Sản cũng ve vãn mồi chài liên kết, hoặc cô lập kẻ thù “phụ” để diệt kẻ thù “chính”, sau đó, dần dần lần lượt mới hỏi đến các chú ngu xuẩn là kẻ thù…”phụ”.

Trong giai đoạn liên kết, Cộng Sản ca tụng hết lời, hứa hẹn cam kết mọi vấn đề.

Nếu Viễn tỉnh táo, tự hỏi mình có thể trở thành một tên Cộng Sản được hay không? Dù cho Viễn lúc đó có quyết tâm bằng mọi giá để nhập hàng ngũ Cộng Sản, theo nguyên tắc của Cộng Sản, chúng cũng không bao giờ tin. Chúng không bao giờ tin dùng một ai, nếu người đó không do chính chúng đào tạo khi cón tay trắng, chưa có một việc làm nào ngược lại với chúng, chưa được hưởng những thú ăn chơi nhàn hạ của xã hội tư bản, v.v… Nói cho cùng, trách Viễn cũng là trách oan, vì cho tới ngày nay, sau gần 40 năm, vẫn còn đầy rẫy những đảng phái, tổ chức, cá nhân, những học giả uyên thâm, những nhà tu lỗi lạc,…Thậm chí, ngay những quân nhân Tướng, Tá đã từng vào sinh ra tử, hàng chục năm cầm súng chống cộng, mà vẫn còn mơ hồ với Cộng Sản nữa là Viễn thời đó.

Cộng sản khi ấy thổi Bình Xuyên lên tận mây xanh. Chú bé con bị người lớn xui ăn cứt gà đã đem hết khả năng, xông pha nơi hòn đạn mũi tên đánh Pháp để lập công. Khoảng 1946-47, Cộng Sản có bài hát thổi Bình Xuyên: “Bình Xuyên, … Bình Xuyên oai hùng muôn năm!…”

Nhưng, có thể lúc đó kinh nghiệm lãnh đạo của Cộng Sản chưa được tinh vi lắm, nên đã để tình huống gây ra một vấn đề. Vào thời đó, trong Nam và Trung có hai đơn vị nổi tiếng với những chiến công đánh Pháp là đơn vị của tướng Nguyễn Bình và của tướng Viễn. Lúc đó, Cộng Sản chỉ có Đại tướng Võ Nguyên Giáp mà chưa có Trung tướng. Để khích lệ và dụ dỗ, tuy không tuyên bố, nhưng Cộng Sản vẫn ngầm để cho Bình và Viễn hiểu mình sẽ là Trung tướng với điều kiện, phải có những chiến công diệt Pháp ai hơn ai. Với đầu óc và bản chất là một tên tướng cướp, lại luôn có một ám sát đoàn rành nghề. Có thể theo suy lý của Viễn, Viễn cho rằng, sở dĩ Bình lập được nhiều chiến công chống Pháp là vì dưới tay có nhiều người tài. Vậy, không gì bằng, một mặt vẫn công đồn, hoặc phục kích để đánh Pháp, mặt khác hoàn toàn bí mật, cứ tìm những ngưòi tài ba dưới quyền của Bình để thủ tiêu. Giai đoạn này, bên phía Bình, hết ông tiểu đoàn Trưởng này mất tích, lại đến ông Tham Mưu phó kia biến mất; tình báo lắm mới phát hiện xác đã rữa thối trong rừng. Những chiến sĩ thủ túc của những người bị mất tích dần dần đã hiểu chính Bình Xuyên là thủ phạm. Họ căm phẫn tột độ. Đã có một số chứng cớ cụ thể, Bình cũng vô cùng căm phẫn, đã bí mật báo cáo với trung ương.

Chúng ta đã biết, Bình là con ruột của Cộng Sản, trong khi Viễn chỉ là loại kẻ thù “phụ”, nhưng giai đoạn đó, Hồ già và trung ương cũng đang điên đầu với Pháp và nhiều vấn đề nội bộ cũng như ngoại giao khác; nếu giải quyết vấn đề này, vừa mất đi một lực lượng chống Pháp, lại còn mất thêm một lực lượng đi đánh Bình Xuyên, cho nên Hồ già rất lúng túng, cứ khất lần hòng tìm ra phương kế tốt hơn. Trong khi đó, tình trạng những cán bộ tài năng dưới quyền Bình bị mất tích cứ tiếp diễn. Những chiến sĩ dưới quyền Bình bị mất tích cứ tiếp diễn. Những chiến sĩ dưới quyền Bình không thể chịu đựng được sự chờ đợi mãi trung ương giải quyết nữa. Họ đòi phải trả thù, nếu không, họ không chịu đi chiến đấu. Trước lòng sục sôi hận thù của các chiến sĩ, Bình dù là người nghiêm túc chấp hành trung ương, trong lòng cũng bầm gan tím ruột. Nên, một đêm âm u tịch mịch, trời không trăng sao, chính Viễn và hầu hết quân lính duới quyền Viễn cũng không thể ngờ, đơn vị của Bình đã bất ngờ công kích một trận với ngọn lửa sục sôi, đã diệt sạch đơn vị của Viễn. Viễn chỉ còn hơn 100 tàn quân, vượt bao nhiêu cửa thần sầu chạy thoát thân. Không còn đường thứ hai, Viễn chỉ còn con đường duy nhất là trở về đầu Pháp. Pháp đã hiểu, và cũng cần, vì thế lại cho Viễn về cứ điểm Rừng Sát và Bình Xuyên. Sau đó, Bình trở thành Trung tướng.

Chuyến này, kẻ tử thù của Viễn là Bình. Nhưng, trước hết Viễn phải gây dựng lại cơ đồ, sau mới tính giải quyết mối thù bất cộng đái thiên. Nhưng may thay, Nguyễn Bình đã bị giết bí mật trên đường trở về Hà Nội theo lệnh của Hồ Chí Minh. Cũng từ đó, ngọn lửa hận thù của Viễn mới nhỏ dần, và Viễn quay ra “cũng” làm chính trị, nhưng là chính trị kinh tế xôi thịt, mà chúng ta đã thấy…

Một vài ngưòi lính có lần nói với tôi:

– Trong Rừng Sát hiện nay (1954), đôi khi chúng tôi đi hành quân, gặp Cộng Sản là thường. Nhưng, hai bên mặc kệ nhau, không xâm phạm đến nhau.

Như đã trình bầy về lá cờ ở trên, cái hình vuông mầu xanh là để chỉ sự việc rời trong rừng ra. Cũng qua lá cờ, ta thấy tên Viễn từ trong đáy lòng y hãy còn mơ tưởng già Hồ là chính nghĩa.

Xin trở lại vấn đề của tôi và Nghĩa. Đêm hôm đó, lòng tôi đầy lo lắng, nên giấc ngủ cũng không yên. 8 giờ sáng ngày hôm sau, sẽ là giờ hẹn cuối cùng của Nghĩa ra cho tôi. Cả đêm suy nghĩ mà vô kế khả thi, đành để sáng mai, ra sao thì ra, trong khi các bạn chỉ muốn tôi ở lại.

Mãi 7 giờ sáng hôm sau, tôi mới dậy, lấy khăn mặt và thuốc đánh răng ra mé sông rửa mặt như mọi sáng. Vì rửa mặt nên tôi cởi đồng hồ tay bỏ lại va-li. Tôi đang rửa mặt, lúc đó khoảng 7 giờ 30, một chiếc GMC từ ngoài cổng vào đỗ ở sân. Một người ra hô gọi tất cả mọi người mới vào đi lên Tổng Hành Dinh để trình diện và khám sức khỏe. Tôi không còn kịp cất khăn mặt và bàn chải, bèn đút luôn vào túi quần, rồi trèo lên xe vì Tuyển, Luân và An đang ở trên xe gọi, vời rối rít.

Xe đến Tổng Hành Dinh. Mọi người ngồi chờ đông chật một cái phòng rộng, lần lượt đợi khám. Tôi lửng lơ ra chỗ chuồng hổ, xem con hổ đang ăn. Cùng đứng xem với tôi có một anh tên là Hiệu, nghe anh nói chuyện. Anh cũng ở trường sĩ quan Thủ Đức trốn ra, nghe theo Nghĩa vào BX, nhưng bây giờ, anh không muốn nữa. Thấy thời cơ có thể, tôi nháy anh Hiệu theo tôi, lững lờ lân la ra phía cổng. Ở cổng có một người lính gác, nhưng đứng trong chòi, phía sau không nhìn thấy y. Tôi nhìn trước sau, chưa biết tính kế gì đi ra, sợ nó hỏi giấy. Còn đứng lớ ngớ ngoài này, bất ngờ mà Nghĩa ở trong phòng ra nhìn thấy, Nghĩa sẽ biết ngay là chúng tôi định chuồn. Lúc ấy, chưa biết chuyện gì sẽ xẩy ra. Giữa lúc tiến thoái lưỡng nan, tôi chợt thấy ngoài cổng, phía bên kia đường có một hàng bán mía và mấy lọ kẹo, tôi rút túi lấy ra 5 đồng đưa cho Hiệu (Hiệu chả có đồng bạc nào), nói to cốt để người lính gác nghe thấy:

– Này, từ sáng chưa ăn, đói quá, cậu chạy ra hàng mua hai tấm mía đi!

Hiệu cầm tiền chạy ra (có ý với tên lính gác là còn một người nữa trong này, nếu nó nghi ngờ, hỏi giấy), chọn một tấm. Khi Hiệu cầm tấm thứ hai, tôi nói to, vọng sang bên kia đường:

– Lấy tấm kia cơ mà!…

Tôi cứ bảo “tấm kia, tấm kia!”, hai bên nói ra, nói vào, tên lính gác ở giữa. Cuối cùng, tôi vừa chạy ra vừa nói:

– Cóc khô, lấy tấm này!…

Khi tôi ra đến hàng mía, hai thằng mắt la mày lém, liếc ngang, liếc dọc, vừa lúc đó may sao một chiếc xích lô máy chạy tới đổ một người khách ở chéo một góc. Liếc nhìn về phía chòi gác, người lính thờ ơ, đang nhìn đi đâu, chúng tôi chạy ngay đến chỗ bác xích lô máy:

– Chạy sang Chợ Lớn!

Bác quay lại:

– Mười đồng!

Tôi nói trả bác 15 đồng, với điều kiện bác chạy thật nhanh và chạy về phía dưới, nghĩa là trở lại phía trại của tôi, bởi vì phía cầu chữ “Y” xe nào ra cũng bị hỏi giấy tờ, đó là Tổng Hành Dinh.

Xe chạy bụi mù, lại không có mui, tôi cứ phải vờ lấy khăn mặt lau mắt để che mặt, sợ bất ngờ gặp tên lính quen, nhất là lúc xe qua trại cũ, anh lính gác thế nào cũng biết mặt. Tôi cứ kêu bụi quá, cúi gầm xuống, lấy khăn mặt ngoáy lỗ tai để che phía bên. Xe chạy qua, thoát nạn! Qua sông là ổn rồi, mới thấy tiếc cái va-li, cái đồng hồ, nhất là bao nhiêu tấm ảnh kỷ niệm, cả phim từ hồi bé ở Hà Nội. Nhưng chọn giữa cuộc đời ở lại u tối và các thứ đó, đành phải xa lìa chúng.

Xe sang tới Chợ Lớn, Hiệu cảm ơn và chia tay với tôi. Tôi vào ngay tiệm phở chén một bát. Bây giờ tay không, chả biết đi đâu, chẳng một ai quen biết. Lang thangmãi gần tối, Sài Gòn rộng bao la, nhưng tôi chả có chỗ nào dung thân. Tôi lại nghĩ đến bệnh viện Bình Dân, nơi đó đông đúc đầy người, tối cứ vể đấy ngủ, ban ngày sẽ chuốn nơi khác.

Tối hôm đó tôi về bệnh viện Bình Dân thực, vì chẳng còn chỗ nào để đi. Tôi vào mãi phía trong, lại gặp một số thanh niên và đồng bào đang bàn tán, ngày mai họ vào Bình Xuyên. Từ chuyện mình vừa trải qua, tôi nghĩ đến các thanh niên khác, không thể để họ chôn vùi vào một nơi đen xấu như vậy, cho nên tôi nói thẳng cho họ biết là tôi vừa ở Bình Xuyên trốn ra, mất hết cả va-li quần áo, v.v… Ai nghe cũng sợ hết hồn, anh nào cũng lắc đầu lè lưỡi, cảm ơn tôi.

Được hai ngày không có gì xảy ra, tôi bắt đầu chủ quan. Mọi khi dậy là đi sớm, tối 9 giờ mới mò về. Tôi cũng tin vào mắt mình, nếu thoáng thấy Nghĩa là tôi lủi vội. Sáng hôm nay, tôi dậy muộn, cũng nằm gần mấy anh bạn mới. Mải chuyện vui với mấy anh, đột nhiên, tôi nhìn thấy trước mắt mình (lúc đó, tôi đang ngồi dựa tường, nhìn xuống nền, giữa hành lang đầy người) một đôi giầy đen bóng loáng, đôi ống quần vàng ka ki Mỹ là thẳng tắp. Tôi từ từ nhìn lên, tim tôi bóp lại; Nghĩa! Nghĩa đang đứng chống hai tay cạnh sườn nhìn tôi bằng đôi mắt lạnh băng. Tôi liếc sang mấy anh bạn mới, họ đều lủi mất, chắc họ cũng biết ngay đấy là Nghĩa. Tôi đứng bật dậy, tỏ vẻ mừng rỡ, một tay cho vào túi quần sau như lấy ví:

– À, anh Nghĩa! May quá, em cứ sợ không có giấy tờ đưa cho anh, anh sẽ giận, em nhớ là đã gửi một người bạn, nên phải lên đây lấy. Em đã lấy được rồi. Bây giờ, anh cho em về dưới đấy với.

Nghĩa cứ lừ lừ nhìn tôi, không nói một lời. Một lúc, Nghĩa nhìn ra phía ngưòi cảnh sát đang gác như định gọi vào để bắt tôi (cảnh sát cũng của Bình Xuyên). Tôi vội nói:

– Không cần thiết anh Nghĩa à! Chính em thích Bình Xuyên lắm. Nhất là gần anh, bây giờ em đi theo anh về ngay mà.

Y nhìn tôi một lúc, rồi ra ý bảo tôi đi trước, y theo sát ngay sau. Đành vậy! Khi gần ra tới cửa bệnh viện, tôi thấy từ trong một căn buồng chéo phía trước mặt tôi đang đi tới, trên một chiếc ghế bố xanh, một cô gái chừng 20, 21 tuổi, có sắc đẹp căng đầy, đang ngồi chải, hong mái tóc đen huyền nhìn ra. Vô tình gặp mắt Nghĩa, cũng đang nhìn về phía cô, cô nàng cười. Nghĩa cũng toét miệng ra. Thôi thì trai anh hùng, gặp gái thuyền quyên! Bốn mắt nhìn nhau, hai lòng mở cửa. Thế là Nghĩa bảo tôi đứng đó chờ y một tí. Tôi cũng nháy mắt ra vẻ tán đồng. Nghĩa rẽ vào, tôi đứng cạnh đấy. Cô ả thấy Nghĩa vào, lại e thẹn cúi đầu, Nghĩa lại càng ngất ngây. Tôi thấy vẻ mặt Nghĩa đờ đẫn. Dịp may một thuở ngàn năm, thôi thì 36 chước, chước nào tối ưu? Tôi lủi lẹ!

Như vậy, giai nhân ấy, vô tình đã cứu tôi một hướng đời!

Từ đấy cho tới khi tôi phải lên tít trại định cư Hà Nội, Hố Nai Biên Hòa, chẳng bao giờ tôi dám bén mảng đến bệnh viện Bình Dân nữa. Mãi khi Bình Xuyên bị đập tan tành, tôi cũng không hiểu số phận Nghĩa ra sao, và các bạn tôi: Tuyển, Luân và An thế nào?

Cho tới 1960, tình cờ tôi gặp lại An, bây giờ là cán bộ thẩm cung ở Bình Dương. An có nói, Nghĩa lên Đại úy, và sau vụ Bình Xuyên, Nghĩa bị mất tích, không biết sống chết thế nào. Còn Tuyển, hiện nay đang làm ở tòa báo VNTP. Tôi định đến thăm Tuyển nhưng chưa có dịp nào.

………….

Riêng sau ngày tôi gặp Nghĩa ở Hỏa Lò, đến khi tôi phải đi các trại trung ương, tôi vẫn có ý thăm hỏi về Nghĩa. Mãi về sau, đến năm 1976, khi đó tôi ở trại trung ương số II Phong Quang, Yên Bái, tôi gặp hai thanh niên tội hình sự đã từng sống với Nghĩa gần 3 năm ở trại giam Vĩnh Quang. Theo họ nói, Đại Úy Nghĩa là một người lao động nổi tiếng khỏe nhất trại. Nghĩa thường gánh mỗi bên quang 40 viên gạch thô (gạch chưa nung), như vậy sức nặng thường từ 90 ký đến một tạ. (Chắc Nghĩa cũng bị cuốn hút vào sự thúc đẩy, khích lệ thi đua cải tạo là mê hồn trận của Cộng Sản). Vào năm 1972, Nghĩa bị ho lao, thỉnh thoảng cứ nôn ra máu, kiệt sức dần mà không có thuốc, không có gì bồi bổ, nên Nghĩa đã chết vào một đêm Đông mưa dầm gió Bấc, chấm dứt một kiếp đời xuôi ngược nổi trôi.

32. Phùng Văn Trí, đòn phép “phản gián”?…

Kể từ ngày tôi lên gặp Nghĩa về, trời ngày càng lạnh hơn. Với một chiếc chiếu con, một chăn đơn, hai bộ quần áo vải sọc cũ, không một đêm nào tôi ngủ được. Cái sàn xi măng lạnh buốt như nước đá. Ngón chân ngón tay càng sưng buốt, nhức suốt đêm ngày. Chỉ ban ngày, mệt quá tôi mới thiếp đi được một lúc. Ngay hàng ngày đi ra đổ thùng, rửa mặt, tôi cũng không ra được nữa. Chân tôi không bước đi được. Mỗi lần bước xuống như có hàng chục cái kim cắm ngược vào chân. Lúc này, tôi nghĩ là mình sắp chết. Một đêm nào đó hay bất cứ lúc nào đó, tôi sẽ nằm luôn, và không còn biết một chuyện gì về cuộc đời này nữa.

Tôi vẫn không sợ chết, trong cảnh đau đớn như thế này tôi cũng mong tử thần đến với tôi càng sớm càng hay, vì chết là hết mọi đớn đau, chết là giải thoát mọi cực hình của một kiếp tù cùng khổ. Suốt ngày đêm, lúc nào tôi cũng nghĩ đến những người đã chết. Từ những ngưòi thân thuộc như ông tôi, bà tôi, bác Hạnh anh ruột của bố tôi chết năm 1948; đến một thằng bạn thân lúc còn nhỏ chết vì lạc đạn của thực dân Pháp…Tôi nghĩ đến các ngôi mộ ở nghĩa trang, những nấm mồ hoang ở ven đường mà tôi đã nhìn thấy…

Nhưng, bây giờ mà tôi chết đi, chắc chẳng có những ngôi mồ như thế, sẽ chỉ là một cái bao tải hay một chiếc chiếu rách vùi nông ở một chỗ nào đó, rồi mưa gió và năm tháng sẽ xóa đi, không có ai và chẳng còn ai nghĩ đến tôi nữa, tôi sẽ biến tan vào cõi mờ mịt hư vô.

Có lẽ tên Nhiễm trực xà lim cũng nhìn thấy tôi có thể chết, nên y báo cáo lên trên thế nào đó, và ở trên, chúng thấy còn cần ở tôi một số sự việc, chưa thể để cho chết. Nên một hôm, tên Nhiễm mở cửa đưa vào cho tôi một cái chăn nữa và một cái trấn thủ cũng may vải sọc của tù.

Ngay từ hàng tháng trước, trên đường đi cung cũng như khi về, đôi khi tôi thấy một vài người tù nữ cũng như nam có mặc áo trấn thủ. Tôi nghĩ là áo tư, hoặc họ có tiêu chuẩn đặc biệt nào đó. Thế mới biết chúng ác thật! Chứng tỏ, chúng chủ trương lấy cả cái lạnh rét, của trời đất để hành con người. Cho tới lúc tôi gần chết, chúng chưa muốn tôi chết ngay, mới phát cho áo lạnh của tù. Ngoài ra, y tá còn xách lên cho tôi một xô nước nóng pha muối, bảo tôi ngồi trên sàn, cúi xuống ngâm tay chân vào. Tên Nhiễm vào tuyên bố, cho tôi nghỉ cùm hai ngày để y tá chữa chân. Tôi tưởng nó tha cùm tôi, nhưng thôi, hai ngày cũng được. Mỗi ngày hai lần, y tá xách xô nước muối cho tôi ngâm chân tay.

Vừa có áo ấm lại thêm chăn, chân tay được ngâm nước muối, đêm hôm ấy tôi ngủ một giấc ngon lành. Ngay ngày hôm sau, chân tay đỡ nhức hẳn. Tôi đã có thể ra đổ bô, mặc dầu đi chưa vững. Thật là lạ, mấy hôm đầu có thêm chăn, thêm áo trấn thủ, thấy dễ chịu, ấm hẳn lên. Thế mà, mấy ngày sau lại vẫn thấy lạnh dữ. Đêm nằm, một chiếc chăn gấp đôi, như vậy là 3 lượt chăn, vậy mà nằm trong chăn vẫn run. Sờ tay chân, đùi, vai vẫn lạnh giá, lưng vẫn buốt như áp vào cây nước đá.

Tuy chân tay được ngâm muối hai ngày đã đỡ, nhưng bây giờ, vẫn còn sưng, và vẫn ngứa vẫn nhức. Tại sao lạ vậy? Hay vì trời càng lạnh thêm? Nằm ở đây, thực âm u tịch mịch, nếu không gọi cung, chẳng biết ngày tháng thế nào, bên ngoài ra sao, mù tịt. Hôm nay, có lẽ đã gần cuối tháng 12, không biết là 24, hay 25. Tôi nhớ đến Noel năm ngoái, tôi với anh bạn thân Nguyễn Hữu Lợi, 2 đứa đóng bộ đèo nhau Vespa chạy tung trời Sài Gòn. Thế mà năm nay, hẳn các bạn bè ở phía bên trời ấy, đang nhởn nhơ bay lượn khắp phố phường, để khoe hương sắc của một thời hoa mộng. Riêng mình tôi tách ra, đi một con đường gian khổ, lầm than trong ngục tối âm u.

Sáng hôm sau, mụ Thơ vào gọi tôi đi cung sớm. Hàng tuần lễ không đi cung, không hiểu bữa nay có vấn đề gì? Khi còn nằm trong tay chúng, và vẫn trong giai đoạn điều tra khai thác, trong lòng tôi vẫn luôn luôn lo lắng. Biết đâu, một ngày nào đó, chúng có những đường dây của cô gái nhận tài liệu “M” hoạt động bị chúng vồ được. Rồi họ tả lại người đã trao tài liệu cho họ, thời gian họ gặp gỡ… Như vậy thì thật là không còn gì để nói nữa về đời tôi.

Ở phòng cung hôm nay là tên Thành và Nhuận. Sau khi chỉ ghế cho tôi ngồi, dăm ba câu hỏi xã giao về sức khỏe, tên Nhuận vừa giở cặp hồ sơ, vừa gườm gườm nhìn tôi:

– Hôm nay, anh khai lại cho rõ ràng giai đoạn chúng huấn luyện anh về các loại mực bí mật, loại thông thường và loại đặc!

Tôi lại phải ngồi trình bày chi tiết, cách sử dụng các loại thông thường như: Chanh, hành, phèn chua, muối, nước tiểu, v.v… phát hiện bằng sức nóng. Loại đặc biệt, gồm hai ba loại như thuốc viên, máu, v.v…

Gần 2 tiếng đồng hồ, thằng thì ghi chép, thằng thì hỏi. Bổng nhiên, chiếc cửa thông sang buồng bên cạnh mở ra. Tôi nhìn sang, tim tôi bóp lại như rỏ máu: Trí! Phùng Văn Trí!

Trời ơi! Sao Trí lại bị bắt ở đây? Trông anh xanh xao, nhìn tôi bằng đôi mắt đại tang, trắng dã. Lòng tôi bấn loạn, nhìn theo. Mãi cho tới khi một tên công an dẫn Trí ra lối cửa sau, Trí còn ngoái lại nhìn tôi. Bao nhiêu nỗi niềm thắc mắc, băn khoăn cuồn cuộn dâng đầy trong óc, trong tim tiếp tục rỏ máu của tôi. Chúng có hỏi gì đó tôi cũng không biết nữa. Lòng tôi như bị vặn xé, dứt rời. Trí vì tôi mà bị bắt ư! Hình ảnh bố mẹ Trí già lão, hiền lành! Hình ảnh vợ con Trí nhỏ dại, lam lũ quê mùa! Một cơn đau ập vào lòng tôi, giầy vò cấu xé trái tim đầy ắp khổ đau, ân hận.

Đời tôi thà tan tành, thân tôi thà bị cắt, chặr từng mảnh, tôi cũng không đau khổ quặn thắt bằng “Trí vì tôi mà bị bắt”. Cái đau này là cái đau trong tim, trong óc, chết đi, kiếp khác vẫn còn đau. Tôi quay lại Nhuận và Thành, gào lên:

– Tôi xin lấy danh dự thiêng liêng của cả đời tôi cam đoan rằng: Anh Trí không hề dính dáng gì với tôi cả! Anh và bố mẹ anh rất quê mùa hiền lành. Tôi chỉ gặp anh hoàn toàn trên đường đi, như tôi đã khai báo và viết nhiều lần trước đây!

Tên Nhuận cười khẩy:

– Anh điên à! Trí bị bắt vì tội khác chứ có phải vì anh đâu!

Tôi không tin được. Tôi hiểu, chúng thấy tôi đau đớn, điên rồ nên chúng nói vậy để trấn an tôi. Chúng tiếp tục truy hỏi tôi nữa. Tôi không còn sợ nữa, tôi nói thẳng:

– Xin các ông giết tôi đi. Tôi sống mà đau về luơng tâm, cũng héo đi mà chết. Bây giờ các ông đừng hỏi tôi nữa. Tôi không còn nhớ cái gì, biết cái gì nữa, vì hình ảnh Trí như vậy đã tràn ắp lòng tôi rồi.

Thấy tôi như vậy, chúng rất buồn cười, chúng cứ nhìn nhau cười mãi. Cuối cùng tên Nhuận nghiêm mặt, đập bàn:

– Anh bị bắt vì tội của anh! Còn Trí bị bắt vì tội khác! Tôi cấm anh không được nói đến Trí nữa!

Sự đời nhiều lúc buồn cười thật. Mục đích của chúng là cho tôi và Trí thấy mặt nhau, để hai bên bị áp lực nhau. Chúng cần mỗi người phải nói với chúng về nhau. Thế mà bây giờ chúng lại cấm tôi không được nói về Trí. Ngược lại, lẽ ra (ý gian) tôi càng cố tránh không nói tới Trí mới hợp lý. Nhưng ở đây, mặc chúng cấm, mặc chúng đập bàn la hét, tôi vẫn lải nhải nói về Trí, với nỗi sầu héo không thiết gì đến đời sống của mình nữa. Cuối cùng, chúng cho tôi về với lời đe dọa:

– Ngày mai anh lên đây tiếp tục khai báo!

Hôm ấy tôi về xà lim, ngồi ăn cơm mà nuốt không nổi. Hình ảnh Trí lúc sáng cứ lởn vởn trong đầu tôi. Đêm hôm đó, tôi cũng không ngủ được, cứ ngồi suy nghĩ về Trí. Làm thế nào để cứu Trí đây? Nói gì chúng cũng không tin. Đời mình bây giờ trước sau cũng chết, dù có phải vì cứu Trí mà chết sớm hơn, tôi cũng vẫn sẵn sàng. Vì vấn đề lương tâm, tôi không còn tính toán thiệt hại hay lợi cho đời tôi nữa. Nếu tôi bị thiệt hại, mà minh oan được cho Trí, tôi làm liền.

Tôi suy nghĩ, một vài ngày tới, tùy theo tình hình, tôi sẽ nói thẳng với chúng là tôi đã biết có người theo dõi rồi, nên tôi không dại gì đến chỗ Trí, nếu Trí thực sự là người có liên quan đến màng lưới hoạt động của tôi. Nhưng, nếu như thế, cả một vấn đề lớn sẽ đổ bể hết. Tất cả những khai báo, tất cả những công trình khôn khéo đánh lừa chúng trong suốt 6 tháng nay, chúng sẽ không tin nữa. Thật là một vấn đề sinh tử cam go. Tôi nát đầu! Tôi vẫn hiểu, người làm việc lớn đôi khi phải hy sinh những cái nhỏ một cách phũ phàng. Nhưng, lúc này tôi đâu đã có kinh nghiệm, hơn nữa, bản chất con người tôi, thà chịu thiệt thòi, bỏ lỡ thời cơ tiến thủ còn hơn tình cảm, danh dự bị xâm phạm.

(Kính thưa quý vị độc giả: Sự việc xẩy ra đã 40 năm rồi! Vì phải tái bản, tôi đang ngồi đánh máy lại tập hồi ký Thép Đen này. Đến đoạn anh Phùng Văn Trí đây, lòng tôi càng lúc càng dâng lên tran ắp nổi niềm đầy vơi, ngang dọc, ngược xuôi. Ngoại lệ của hồi ký! Là tác giả, xin phép quý vị, tôi được nói lên một tâm ý: “Một người có những hành xử như đoạn này, thất bại là đúng! Và, suốt đời người đó cũng chẳng làm cái gì nên”. Boston Dec. 2002).

Hôm sau, chúng lại gọi tôi ra. Lần này là Đức và Nhuận. Tôi vừa mới bước chân vào phòng, chúng đã ầm ầm nổi trận lôi đình:

– Anh là một thằng hoàn toàn nói láo. Nhiệm vụ anh ra miền Bắc 25 ngày là để anh theo dõi sư đoàn 308 như anh đã khai báo. Vậy, chúng nó dậy anh về các loại mực bí mật để làm gì? Chúng tôi biết, anh ra đây với nhiệm vụ khác! Anh không chịu khai báo sự thật, đợi chúng tôi phải đưa nhân chứng cụ thể ra, chắc chắn anh không sống được.

Tha hồ cho chúng dọa nạt, chửi bới, tôi cứ khăng khăng nói là tôi đã hoàn toàn khai báo sự thật hết cả rồi. Mặt khác, tôi vẫn nói về Trí. Tôi nói thẳng là trong lúc này, ngày cũng như đêm, lúc nào tôi cũng nghĩ đến anh Trí, nghĩ đến bố mẹ, vợ con anh. Lương tâm tôi bị dày vò, xin các ông hãy minh xét cho anh Trí, v.v…

Buổi chiều, chúng lại tiếp tục truy hỏi tôi về điểm mực bí mật ấy mãi. Tôi trả lời chúng:

– Tôi không biết vì sao tên Hòa lại dạy tôi như vậy. Tôi nghĩ đây là bài học cơ bản, vỡ lòng cho tất cả mọi người mới vào ngành, để hoạt động tình báo mà thôi. Rồi sau đó, tùy theo công tác gì, sẽ huấn luyện thêm riêng về công tác đó.

Nghĩ lại, tôi cũng dại thật. Biết thế, trước đấy tôi không nên khai gì về loại mực bí mật và viết thư mật cả. Chúng đã suy ra khá hợp lý rằng: Để gây mạng lưới hoạt động thì mới cần học những món ấy!

Nhưng trong thực tế, tháng đầu. Cẩn đã huấn luyện tôi về môn đó, cũng nói đó là bài học cơ bản của một người hoạt động tình báo, như đi học thì mới đầu phải học vần ABC vậy.

Gần về chiều, tên Nhuận mở cặp rút ra một tờ giấy viết tay, cùng một loại giấy tô vẫn khai cung, đưa cho tôi. Tôi nhìn thoáng cũng biết là nét chữ của anh Trí. Tôi đọc, chắc chúng đang theo dõi nét mặt của tôi. Đây là tờ giấy một đoạn, anh Trí đã khai. Trong đó, anh Trí bị bắt về tội vượt biên giới theo lối Lào để định trốn về Thái Lan.

Lương tâm tôi như được vuốt ve, xoa nắn sau những ngày quặn thắt, dày vò. Tuy vậy, một ý khác đã nổi lên trong óc tôi là dù sao, chúng vẫn nghi anh Trí có vấn đề với tôi, chứng cớ là chúng cố tình để anh Trí và tôi nhìn thấy nhau, để trộ anh Trí, anh không thể che dấu được nữa, vì đã bắt được tôi rồi! Cũng có thể chúng nghi tôi đã giao nhiệm vụ gì đó cho anh Trí, anh Trí trốn sang Thái Lan, rồi về miền Nam báo cho Sài Gòn chẳng hạn. Nghĩa là sự việc anh Trí trốn đi Thái Lan, có liên quan đến việc anh Trí và tôi quen nhau. Vì nghĩ như thế, khi trả lại tờ giấy cho Nhuận, tôi liền làm ra vẻ hân hoan:

– Cảm ơn ông, nếu tôi không được đọc tờ khai này của anh Trí, cho đến chết lương tâm tôi vẫn bị cắn rứt, dày vò.

Tên Nhuận cười rổn rang:

– Tôi đã nói, anh không tin.

Rồi hắn nghiêm mặt:

– Anh đã giao nhiệm vụ gì cho Trí, và Trí đã nói gì với anh. Trí đã khai báo hết rồi. Anh không tin, tôi sẽ đưa tờ khai của Trí cho anh xem.

Chà, biết ngay mà. Y còn định lấy chuyện này lòe chuyện kia. Dù có, tôi cũng không mắc, huống chi ở đây tôi thực không có gì. Tôi chỉ cười trả lời:

– Thưa ông, làm gì có chuyện ấy. Tôi đã thưa với các ông là anh Trí không hề biết gì về tôi, anh chỉ biết tôi là một học sinh lớp 10 ở Vĩnh Linh, ra Hà Nội chữa bệnh tim.

Chúng nó dứt khoát không tin. Dứt khoát chuyện Trí vượt biên với chuyện của tôi có liên quan.

Phần tôi, tôi không sợ. Chúng nghi hay chúng không tin, tôi tù, vẫn tù. Điều làm tôi băn khoăn là anh Trí. Chúng không tin anh, chúng còn giam hãm anh lâu dài, khổ anh và khổ vợ con anh. Như vậy lương tâm tôi vẫn không yên ổn được. Nghĩ như vậy, tôi đã mạnh bạo nói:

– Thưa các ông, tôi nói thật, ngày tôi trở vào Vinh; khi xe ra bến xe Kim Liên, có một anh cụt chân đưa vé đến cho tôi, tôi đã nghi anh ấy là công an theo dõi tôi (chỗ này, tôi không nói đến người ngồi trước và sau tôi). Rồi dưới đường, tôi cũng nghi một chiếc Commanca theo tôi, vì thế, không đời nào tôi lại vào nhà anh Trí, nếu anh là một cơ sở hoạt động của tôi. Hơn nữa, ông đã biết anh Trí, tôi không dám có ý coi thường anh, nhưng anh Trí như thế thì hoạt động tình báo làm sao được. Anh quá hiền lành, và trình độ lại chỉ biết đọc biết viết.

Chỉ vì cái ngu xuẩn tình cảm của tôi, cứ muốn thanh minh cho anh Trí, vì thế lý trí tôi không còn đủ sáng suốt, đã quên đi cái nguyên tắc mà chính tôi đã tự khẳng quyết “không bao giờ nói đến, biết bị theo dõi” trước đây. Bởi vậy, vừa nghe tôi nói là nghi ngờ bị theo dõi, mắt chúng sáng ngay lên, chúng vồ vập hỏi:

– Anh thấy thế nào? Tại sao anh nghi? Hãy tả kỹ những người anh nghi, những xe anh nghi, và nghi từ bao giờ? v.v…

Tôi trình bày như vừa khai, nghĩa là tôi chỉ nghi một mình anh cụt chân và một chiếc Commanca, và nghi từ bến xe Kim Liên đi vào Vinh. Hết gjờ, chúng cho tôi về.

Sáng hôm sau, chúng gọi đi cung sớm. Hôm nay, có 3 tên là Đức, Nhuận, và tên Đặng người Huế. Thật tôi không ngờ. Như sấm sét, bão bùng. Thái độ của chúng hôm nay khác hẳn, mặt tên nào cũng lạnh như tiền. Chúng truy lại tôi hết mọi sự việc. Những điều trước đây chúng không hề nhắc lại, bây giờ chúng lại sừng sộ hỏi ra, xắn tay, xắn chân, chúng làm tôi rối mù lên. Chúng dứt khoát gán ghép tôi đã biết bị theo dõi từ lâu, và đã gây hỏa mù cho công an, v.v…

Tôi không ngờ sự việc diễn tiến đến chỗ căng thẳng như vậy. Dù tôi có tính trước, nhưng ngoài sự dự đoán của tôi. Cung kẹo lại lia lịa ngày đêm. Tôi cảm thấy quá mệt mỏi, đầu óc như không chịu nổi nữa. Tôi như người mất hồn. Ngày nào, chúng cũng đối xử với tôi như một tên tử thù. Thậm chí, có lần chúng giận quá, tên Đặng đã đứng dậy đạp tôi ngã ngửa về đằng sau. Y quát:

– Mày sẽ chết, mày biết không!? Số phận mày là một tên gián điệp, mày đã biết, từ trước đến nay một tên điệp viên nào bị bắt, khai thác được hay không, sớm muộn đều bắn bỏ. riêng chế độ xã hội chủ nghĩa đã mở ra cho mày một sinh lộ, nhưng mày ngoan cố không muốn được khoan hồng, mày sẽ đi con đường của mày.

Nói rồi, y bỏ về.

Tôi ân hận vì việc làm thiếu suy tính, để tình cảm lấn át lý trí của tôi. Chỉ lẩn quẩn vì vấn đề tình cảm mà bây giờ tôi sống dở chết dở. Hai tên Đức và Nhuận còn ở lại, tiếp tục vặn lý, truy hỏi lại nhiều sự việc. Tai tôi ù đi, người tôi xây xẩm nhiều lần suýt ngã xuống nền gạch. Mặc, chúng vẫn bắt tôi phải trả lời từng điểm chúng hỏi. Tôi nói trong hơi đứt đoạn:

– Thưa…tôi hoa mày…chóng mặt…xin cho về…..

Chúng nó đứng lên đe dọa:

– Được, cho về! Ngày mai khôn hồn thì khai lại hết. Không, đi ngủ với giun sớm!

Tôi về. Đói, mà cơm không muốn nuốt. Phen này chắc không thể sống được. Thái độ chúng ghê gớm quá!

Gần một tuần lễ sau, sáng trưa, chiều, tối, chúng làm như nước sôi, lửa bỏng. Chỉ có tên Thành, ánh mắt của y từ lâu tôi nhìn vẫn thấy như có một chút tình người. Nhiều lần, y thường có thái độ dịu dàng tình cảm đối với tôi. Dạo này, y có vẻ buồn, ít nói. Thỉnh thoảng y cũng ngồi hỏi cung, tôi vẫn bất chợt bắt gặp ánh mắt thăm thẳm của y khi thấy tôi bị mê tơi rũ rượi, như chiếc giẻ rách vì bị 3 tên quần thảo liên tục từ sáng tới tối.

Một hôm, tên Đức hỏi tôi:

– Năm nay anh bao nhiêu tuổi?

Tôi dè dặt nhìn y:

– Thưa ông, 24.

Y nghiêm trang, lạnh lùng:

– Anh có người yêu chưa? Và có hứa hẹn với ai không?

Tôi không hiểu tại sao y lạo hỏi đến chuyện riêng tư của tôi làm gì, vì thế, tôi nhìn y như dò hỏi:

– Trong thời gian còn đi học, chỉ có yêu thầm, yêu vụng, chứ không hẹn hò với ai…

– Bố mẹ chỉ có mình anh là con trai?

– Thưa ông, tôi còn một người em trai, năm nay học Đệ Tam.

Y gật đầu, vẫn lạnh lùng:

– Anh cương quyết không khai báo gì thêm nữa phải không?

Trong khi tên Đức hỏi, tên Nhuận vẫn ghi. Tôi trả lời:

– Thưa các ông, tôi đã khai báo hết cả rồi. Điều nào chưa rõ, xin ông cứ hỏi. Tôi nguyện xin cố gắng, điều gì tôi iết, tôi sẽ nói hết.

Nó hỏi ngay:

– Vậy, nhiệm vụ anh ra ngoài Bắc này làm gì?

– Thưa ông, tôi đã khai báo rõ ràng nhiều lần rồi.

Y đập bàn, quát:

– Thôi! Cho về, tôi hết trách nhiệm với anh!

Trên đường về xà lim, tôi rất lo lắng sầu héo. Thái độ của các chấp pháp dạo này khác thường. Tôi chưa hiểu chuyện gì nữa sẽ đến với tôi.

Sáng hôm sau, khi tôi ra phòng cung, chỉ có mình Nhuận. Nhuận chỉ ghế tôi ngồi, rồi nói:

– Hôm nay, có lẽ buổi cuối tôi gặp anh, vì vậy, tôi muốn anh nói thật với tôi một số vấn đề. Trước đây, và từ ngày anh ra Bắc tới bây giờ, với cái nhìn của anh. Anh thấy xã hội chủ nghĩa còn điểm nào chưa tốt, và điểm nào anh không đồng ý?

Y ngừng lại một tí, rồi nói tiếp, như tâm tình:

– Tất nhiên, chúng tôi cũng còn nhiều điều chưa tốt. Nhưng tôi muốn nghe chính anh, một người ở xã hội khác, cái nhìn có giá trị khách quan hơn. Vậy, anh được toàn quyền nói sự thật, dù sự thật ấy như thế nào. Tôi bảo đảm với anh, anh không bị ảnh hưởng gì cả.

Tôi nghe y nói, tôi nhìn y, rồi dè dặt:

– Thưa ông, tôi ra miền Bắc, tuy là đi hoạt động, nhưng thực tế tôi không thích chế độ miền Nam, cho nên, tôi đã chẳng làm gì cho họ cả. Tôi chỉ chủ trương thăm lại cảnh cũ thời thơ ấu, nên không để ý nhiều về xã hội. Do đó, tôi có nói cũng khó chính xác…

Y có vẻ săn đón, khích lệ:

– Không sao, dù không chính xác. Anh cứ nói đi! Như vậy mới thể hiện anh thật lòng.

– Thưa ông, nói thực với ông, tôi mới lớn lên, hơn nữa tôi là người ít học, nên chẳng hiểu vấn đề chính trị ra sao. Làm thế nào biết đúng hay sai. Đi ngoài phố, tôi thấy dân chúng đâu đâu cũng nổ lực lao động. Họ làm việc có ý thức trách nhiệm, chứ không như miền Nam. Chỉ có điều là dân ta còn nghèo, còn có người phải kéo xe ba gác. Nhưng, tôi tin rằng vài năm nữa sẽ khá hơn…

Y hỏi tôi:

– Còn gì nữa?

– Tôi chỉ thấy như vậy thôi!

– Còn điểm gì anh không đồng ý với xã hội chủ nghĩa?

– Tôi thấy cái gì cũng tốt cả…Hay có thể vì sự hiểu biết của tôi kém, nên tôi thấy như vậy chăng!

Y cười nhạt, lặng lẽ ghi hết ý của tôi. Rồi tiếp:

– Vậy, cụ thể anh đồng ý với xã hội chủ nghĩa ở những điểm nào?

Tôi suy nghĩ, nói phải có sách, mách phải có chứng. Tôi phải tìm ra một điểm gì để nó có thể tin được. Tôi ngẩng đầu lên tỏ vẻ tin tưởng:

– Trước đây, tôi rất không ưa người giầu, người giầu thì giầu quá, người nghèo thì quá nghèo. Vì vậy, tôi rất vui khi về phố Hàng Bạc, tôi nhìn thấy anh Kỳ chồng cô Thuận đi đôi guốc lộc cộc ngoài phố. Ngày xưa họ giầu lắm, họ hách dịch lắm, không bao giờ đi đôi dép ra đứng trước của hiệu cả.

Y ra vẻ dìu dịu:

– Tôi hỏi thực anh, sao anh quyết tâm không khai sự thật? Hay anh cho rằng chúng tôi không có biện pháp nào bắt anh phải nói sự thật hay sao?

– Thưa ông, không bao giờ tôi dám nghĩ như vậy. Tôi tin tưởng tuyệt đối là với cách mạng, không cái gì cách mạng không biết cả. Còn sự thật, tôi đã khai ngay từ đầu. Tôi rất đau khổ, không hiểu vì sao cách mạng vẫn không tin tôi. Tôi cũng không biết cách nào để cách mạng tin tôi cả.

Nó đứng dậy cười gằn:

– Thôi, cho anh về! Anh cứ ôm cái quyết tâm, cái ngoan cố ấy của anh sang thế giới khác, rồi Mỹ Diệm chúng sẽ trả công cho anh!

33. Thủ Tiêu Trong Đêm…

Mụ Hoa đưa tôi về xà lim. Ngoài trời âm u xám xịt, chắc đang mưa, nhưng lòng tôi còn đen tối om. Nhớ lại, trên đường về, nhìn hình ảnh một con chim sẻ ủ rũ một mình, đang đứng nép tránh mưa rét trong mái hiên nhà bếp, tôi liên tưởng tới những vụ thủ tiêu của Cộng Sản trước đây: Hình ảnh hai chiếc thây, một của ông trùm và một của thanh niên Công Giáo một họ đạo. Bị trói giặt cánh khuỷu bập bềnh, rữa nát trôi trên sông Đáy ngày nào năm 1952 vẫn còn rõ nét trong trí ôi. Hình ảnh Đại Tá Hoàng Thụy Năm, Trưởng đoàn quân sự Việt Nam Cộng Hòa, giao thiệp với Hà Nội theo hội nghị Genève. Cũng bị trói giặt cánh khuỷu, lưỡi bị cắt, đầu và đầu gối bị những chiếc đanh 10 phân đóng ngập, bồng bềnh trôi trên sông Đồng Nai, gần cầu Bình Lợi năm xưa cũng chưa phai mờ… Đó là những hình ảnh tôi đã trông thấy. Còn biết bao nhiêu những vụ thủ tiêu dã man tán khốc của lũ Cộng Sản khát máu đồng bào mà tôi đã nghe.

Bây giờ, tôi trong tình thế này, không còn cách nào khác, cũng vui lòng theo các bậc Cha Anh. Trong giấc ngủ chập chờn đêm khuya vắng lặng, tôi thấy tụi nó hai người, mặc quần áo đen, bịt mặt, trói tay và chân tôi đem ra cạnh sông Hồng, chỗ gần Phà Đen. Chúng đâm tôi hơn 10 nhát dao, rồi đẩy tôi xuống sông. Tôi cố vủng vẫy vì ngạt thở, tìm cách hất đầu mình lên khỏi mặt nước. Tôi giật mình tỉnh dậy. Đó chỉ là một cơn ác mộng! Trời lạnh mà tôi cũng toát mồ hôi ra.

Hai ngày trôi qua trong đợi chờ lo lắng, thấp thỏm, vẫn không có gì xảy ra. Sáng ngày thứ 3, lão Bằng mắt lồi lại vào gọi tôi đi cung. Khi ra tới phòng cung, tôi thấy chỉ có một mình Thành, bộ mắt buồn xo, đỏ rừ, như mới uống rượu. Nét mặt của Thành hôm nay làm tôi liên tưởng đến Cao Đình Tiệu, cũng một tuổi, báo cho tôi biết sẽ bị An Ninh Quân Đội bắt và tra tấn khai thác ở 365 Phú Lâm.

Thành nói, giọng rười rượi buồn:

– Bình ngồi đi!

Tôi ngồi, Thành vẫn im lặng. Những phút im lặng, nặng nề trôi. Thành vẫn nhìn ra phía cửa sổ, rồi như đắn đo, ngập ngừng:

– Lẽ ra tôi không thể gặp Bình, nhưng tôi cố gắng để gặp Bình. Một lần nữa. Từ ngày tôi và một số đồng chí trong cơ quan có trách nhiệm hỏi cung Bình, không hiểu sao dần dà tôi thấy lòng mến Bình. Nhiều lúc, tôi coi Bình như em trai tôi, một người thanh niên bị bắt còn quá trẻ, chưa được biết gì về cuộc đời. Hôm nay, tự đáy lòng tôi, tôi nói với Bình thế này: Bình hãy nghe tôi, dù Bình muốn làm gì, Bình muốn như thế nào đó theo quan điểm của Bình, tôi không có ý kiến. Nhưng, tôi muốn nói với Bình là, tất cả, hãy cần giữ lấy cái đầu đã. Đó mới là người khôn! Chết rồi, vô nghĩa hết, cái gì cũng không làm được. Chết, thiệt thân thôi! Bất cứ muốn làm cái gì, Bình phải tồn tại đã. Bình còn quá trẻ, nên chỉ nhìn cuộc đời từ một góc cạnh nào đó, trong khi cuộc đời muôn mặt. Tôi thuơng Bình, Bình giúp tôi, tôi giúp Bình, tôi sẽ bảo đảm rất tốt cho Bình.

Một niềm xúc động len lén vào lòng tôi. Dù ở một khía cạnh nào đó, những lời nói của Thành cũng có những nét thực tế. Tôi xúc động ra mặt:

– Thưa ông, tôi rất biết ơn ông. Phải nói rằng trong quá trình, tôi cũng cảm nhận thấy tình ông đối với tôi. Nhưng, bây giờ…Tôi giúp ông được gì?…..

Y xua tay, gạt ngang:

– Không! Không, Bình đừng nói gì với tôi bây giờ cả. Tôi muốn Bình về đêm nay, suy nghĩ kỹ, cân nhắc mọi mặt cho thấu đáo. Trong ngày mai, nếu Bình muốn gặp tôi, hãy báo cáo với quản giáo trực xà lim là “Muốn xin gặp ông Thành”. Tôi sẽ chờ Bình, nếu không thấy, có nghĩa là Bình không muốn giúp tôi, và lúc đó, tôi cũng đành mặc cho cuộc đời, vì khả năng và quyền hạn của tôi chỉ có một góc nhỏ.

Y đứng dậy, ra ý bảo tôi về. Trên đường về xà lim, lòng tôi đầy vơi bao nỗi niềm. Tôi hiểu đây là những vấn đề sống và chết. Chết thì danh dự, mà sống thì cúi đầu. Tôi miên man nghĩ đến bao tấm gương cương cường, bất khuất của các bậc cha ông trong lịch sử. Những nhân vật hèn hạ, hại bạn, hại thầy trong “Tam Quốc Chí”, trong sách báo, trong phim ảnh…Người con trai sống ở đời, phải có tam cương, ngũ thường, phải có nhân, nghĩa, lễ, trí, tín… Tôi nghĩ đến Công Giáo, đến Chúa, đến các linh mục. Cha Quỳnh và bao nhiêu người trong Cục đã đặt niềm tin nơi tôi.

Qua thái độ hỏi cung, từ lời nói, từ cử chỉ, từ hiện tượng, chúng mới chỉ nghi tôi, chứ chưa nắm được gì về tôi cả. Nếu chúng đã biết rõ về tôi, và trong hoàn cảnh này, tôi phải khai ra?

Tôi nghĩ tới hai trường hợp khác hẳn nhau mà lại rất liên quan đến nhau: Chúng biết rồi mà mình khai, đã còn có chỗ hèn, chỗ kém. Huống chi, chúng chưa biết gì, mình đã khai, vừa hèn hạ, lại còn là một tên phản thầy lừa bạn nữa, chưa nói gì về lý tưởng. Ôi, là một tên lừa thầy phản bạn, thì làm sao tôi sống? Hơn nữa, dù chưa có nhiều kinh nghiệm về Cộng Sản lắm, tôi cũng hiểu là nếu chúng đã định giết, có khai ra, lại bị chúng hành hạ khai thác một thời gian, rồi cũng sẽ bị giết. Bao nhiêu điều tai nghe mắt thấy, kết hợp với nguyên tắc tổ chức của Cộng Sản.Tôi biết, chúng không bao giờ tin dùng một người nào, nếu người đó không phải tự tay chúng đào tạo. Có chăng, vì lợi ích nhất thời nào đó, chúng chũng chỉ dùng có tính cách giai đoạn, rồi không tiêu diệt, cũng tìm cách phế thải sau này.

Còn với tên Thành! Nó là ai? Là một tên Cộng Sản. Nó có nhiệm vụ gì? Khai thác tôi.

Điều này rõ ràng như ban ngày. Với một tên Cộng Sản, bằng mọi cách, mọi giá, dù có phải kết nghĩa anh em, dù có phải viết giấy cam kết sẽ không bỏ tù anh, nó cũng chỉ quanh một mục đích hoàn thành nhiệm vụ khai thác; rồi sau đó, có hàng trăm ngàn lý do để xé lời cam kết, bỏ nghĩa anh em.

Bao nhiêu suy nghĩ, cân nhắc, đắn đo, cuối cùng chỉ làm cho tôi nâng cao quyết tâm “Cứ đi theo con đường mình đã đi!”. Vì vậy, ngày hôm sau, tôi đắp chăn nằm ngủ để bù vào một đêm thao thức.

Mấy ngày im vắng trôi qua, nhưng trong lòng tôi lại là cả một trận cuồng phong. Thấp thỏm, lo lắng, đợi chờ, không biết cái gì rồi sẽ đến với mình. Trời đã vào Xuân, nhưng trong ngục tối này, nàng Xuân cũng sợ, nên chẳng thấy dáng nàng đâu. Ba ngày, rồi năm ngày vẫn lặng lẽ trôi đi. Nỗi ưu tư trong lòng tôi cũng xẹp xuống dần.

Đêm nay, không hiểu sao mà tôi cứ bồn chồn trong lòng, không ngủ được. Như có linh lính về một điều chẳng lành sắp xẩy đến cho mình, tôi cứ xốn xang quằn quại mãi không yên, lịch kịch dậy đi giải mấy lần. Có lẽ phải khoảng quá nửa đêm, tôi mới cố đi vào được giấc ngủ…

Tôi đang mê mệt với giấc ngủ muộn, bỗng nghe thấy tiếng ầm ầm. Tôi vội vàng hất chăn che đầu xuống, nhìn ra. Cửa buồng đã mở, lố nhố ba, bốn người. Toàn người lạ mặt, lại còn thoáng thấy bóng người phía bên ngoài cửa nữa. Thái độ của họ rất lạnh lùng, ai cũng súng ngắn cạnh sườn. Một người cầm chăn tôi kéo mạnh ra, vất sang sàn bên cạnh, quát:

– Bò dậy!

Tôi hoang mang chưa kịp phản xạ để hiểu chuyện gì, thì một giọng miền Trung nặng, rắn đanh:

– Chúng tôi có lệnh đưa anh đi! Hãy chấp hành!

Chưa mở cùm, một tên đã khóa hai tay tôi ra phía sau. Một tên khác, khóa lại xích phía trên cánh tay tôi. Rồi chúng lấy một miếng vải đen dài bịt kín mắt tôi. Tiếng mở chốt cùm, tiếng nhấc cùm. Hai tên xốc hai bên cánh tay tôi, quát:

– Đứng dậy!

Tôi hoang mang tột cùng. Tôi đã đoán trước số phận mình cũng phải tới lúc, nhưng tôi không hình dung nổi cảnh này. Vì nghĩ là không sớm như vậy, nghĩa là chúng còn phải khảo tra tôi một thời gian nữa đã. Vì vậy, tôi vẫn bị bất ngờ. Hơn nữa, trước đây suy nghĩ thì chuyện còn là tưởng tượng, bây giờ là thực tế. Người tôi rủn ra, lòng tôi tái tê, hình như chúng xách người tôi đi, chứ chân tôi như vật vờ trên mặt đất. Mãi tới lúc này tôi mới thấy là dưới chân mình không có đôi dép. Như vậy, chúng không cho tôi đi dép nữa.

Chân tôi lệt xệt bước cao, bước thấp. Có lẽ ra cổng Hỏa Lò. Đang đi chúng dừng lại, có tiếng thì thào chúng nó nói chuyện gì đó với nhau. Rồi tiếng xe “Commanca” rồ máy. Chúng đẩy, phải nói là chúng xách tôi lên xe, vì lúc này chân tôi nhẹ tênh chỉ có da bọc xương. Xe chạy, có lẽ ra khỏi cổng, người tôi lạng qua phía trái, vậy xe quẹo về bên phải.

Trên đường im vắng, chỉ có tiếng động cơ của chiếc xe tôi đang ngồi. Không ai nói với tôi một lời. Vì quá đột ngột nên trí óc tôi cũng đơ ra, chỉ còn nghĩ mình sắp chết. Tôi không còn tinh thần để kịp hỏi chúng đưa tôi đi đâu. Hồn tôi lãng đãng như không còn trong người tôi.

Chừng 20 phút, có lẽ bây giờ xe đã đi ra ngoài thành phố, bởi vì xe đi thẳng và gió lạnh thêm. Xe đi chừng nửa tiếng nữa thì dừng lại. Hai tên xách mạnh hai cánh tay tôi. Một tiếng quát lạnh băng:

– Đi xuống!

Tôi đứng lên, rồi chúng phải nhấc tôi xuống. Chân tôi đạp xuống đất có cỏ ướt. Chúng kéo tôi đi, chân tôi vẫn lướt thướt trên cỏ và đất gập ghềnh. Tai tôi nghe tiếng ễnh ương và tiếng côn trùng rên rỉ. Như thế, chung quanh đây là ruộng đồng. Đi chừng 10 phút, chúng dừng lại. Một giọng en ẻn miền Bắc đột nhiên nổi lên:

– Báo cáo đồng chí, đã đào xong!

Tiếng miền Trung nói nhỏ hơn:

– Có mang vôi không hỉ?

Tiếng báo cáo “Có” nghe lẫn vào tiếng gió, có lẽ vì đã đi xa. Chúng kéo xềnh xệch tôi đi, buộc hai tay vào một chiếc cột. Tay tôi chạm, như là một cái cây vì còn cả vỏ. Mấy phút im lặng. Một giọng miền Trung chắc nịch:

– Tên Bình nghe đây: “Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Độc Lập Tự Do Hạnh Phúc. Bộ Công An. Tên Đặng Chí Bình, 24 tuổi, quê quán… Can tội gián điệp làm tay sai cho Mỹ Diệm, đã xâm nhập miền Bắc phá hoại cách mạng. Y vô cùng ngoan cố, vẫn kiên trì một lòng bao che những âm mưu hại dân, hại nước, không chịu khai báo sự thật. Nay quyết định xử tử. Theo truyền thống nhân đạo của cách mạng, Bộ cho phép tội phạm 5 phút để suy nghĩ, tự cứu mạng sống của mình, bằng cách khẩn cấp xin khai báo lại sự thật. Bộ Công An Nhân Dân. Ngày 27 tháng 01 năm 1963…”

Đêm thâu vắng lặng, chỉ có tiếng gió lào xào lẫn với tiếng nỉ non re re re… của côn trùng. Tiếng lên đạn của mấy khẩu CKC nghe rõ mồn một.

Giọng miền Trung lại nổi lên dõng dạc:

– Tên Bình! Bây giờ giữa sống và chết, cho mi 5 phút… Bắt đầu!

Tai tôi ù lên. Đầu tôi như đông đặc lại. Tim tôi như không đập nữa. Tôi nghe như có tiếng o-o kêu ran ran chung quanh. Một thoáng hình ảnh mẹ tôi, một thoáng ân hận về việc Trí. Hình ảnh mẹ tôi, hình ảnh Trí hẫng lên, loãng dần. Trời vào Xuân còn lạnh buốt, vậy mà ở sống lưng tôi như có giòng nước chảy. Hai bàn tay tôi cũng ướt đẫm mồ hôi. Một tiếng quát rổn lên, tim tôi như thắt lại:

– Bốn phút rồi; còn một phút nữa!

Tiếng gì đó kêu ran trong đầu, tôi chờ, tôi lắng nghe mấy tiếng nổ. Người tôi tê đi như không còn cảm giác. Chân tôi như muốn khuỵu xuống, nếu không có cái cột chắc tôi không thể đứng được.

Tôi thấy như hết hơi, không thở được nữa. Chết! Một tiếng “Chấp hành!” dội lên. Tôi tưởng là tiếng súng nổ. Tôi thấy cắn, buốt ở hai bên ngực. Bỗng dưng im lặng, một phút, rồi hai phút, tôi cố lắng nghe, dường như có tiếng thì thào…?! Có người đến cởi dây trói buộc tôi vào cây cọc ra, rồi một giọng người Bắc vang lên:

– Số anh còn sống ít ngày nữa, có lệnh hoãn…..

Chúng lại xốc nách tôi ra xe. Người tôi như không hồn, mềm nhũn ra, mặc chúng lôi kéo, đẩy đưa tôi đi. Trên đường về, trong lúc ngồi trên xe, một giọng nói quen quen, nhưng tôi không thể xác định được là ai:

“Vì một sự việc đặc biệt, anh còn được sống thêm ít ngày nữa…”

Hồn tôi vẫn bồng bềnh, tôi không nói một lời.

Lại về xà lim. Chúng cùm chân tôi xong, mới mở khóa trên, khóa dưới tay tôi. Cuối cùng chúng mới cởi khăn bịt mắt của tôi. Mắt tôi hoa lên với đầy những vòng tròn to nhỏ trước mắt. Tôi chỉ thấy lố nhố mấy người. Tới khi tôi nhìn rõ lại cảnh vật, chúng đã ra ngoài và đóng cửa lại rồi.

Trời vẫn chưa sáng. Tôi cố lựa chân đứng xuống đất, để với lấy hai cái chăn chúng đã ném ở sàn bên. Thấy lành lạnh ở dưới đùi, tôi sờ quần, thấy ướt. Như vậy, đã đái ra quần mà tôi không biết.

Mệt và căng thẳng, tôi nằm xuống đắp chăn. Hồn tôi vẫn lềnh bềnh như đang còn trong một cơn ác mộng. Như vừa từ cõi chết trở về. Tự nhiên, tôi thò tay vào trong áo sờ hai bên ngực. Một nỗi buồn phảng phất, vướng vít trong óc tôi. Sự việc vừa xẩy ra, tôi thấy mình vẫn chỉ là một tên hèn, sợ… chết.

34. Đổi Xà Lim, Bạn Tù Mới…

3 ngày trôi qua. Tôi vừa lại sức, lại hồn, một buổi chiều sau giờ làm việc, (5 giờ chiều thì hết giờ làm việc), cửa con bỗng mở, mặt tên cán bộ mắt lồi:

– Có gì mang hết đi, cả chăn chiếu!

Y rút cùm. Tôi vội vàng lấy chân ra, vơ gọn chăn chiếu. Tôi không quên đút cái gối bằng cuống chổi Thanh Hao vào trong chăn, cuộn lại và mang cả cái gáo nữa. Y mở cửa, tôi ôm đồ ra. Chợt nhớ tới đôi đũa, tôi quay lại xin y cho lấy đôi đũa thường treo ở đuôi chốt cùm phía ngoài.

Mọi hôm đi cung, thường ra cuối hành lang rồi rẽ tay phải. Hôm nay, lại rẽ phía trái, vào trong, tới một cái cửa, y mở. Chà, cả một cái sân to lớn, rộng thênh thang, với bao nhiêu dẫy nhà chung quanh. Có 5, 6 cây bàng to tướng, cành trơ trọi với những búp lá non mới nhú, trông khẳng khiu như những cánh tay gầy. Y dẫn tôi vòng theo mé sân, mở mấy lần khóa, rồi tới một khu toàn buồng. Một hàng chữ đỏ kẻ trên tường: Xà Lim II.

Hơn 7 tháng trời ở xà lim III, hôm nay tôi mới nhìn thấy xà lim II. Xà lim II ở ngay cạnh cổng phòng trực của trại chung, nên có cái loa, tiếng nói đang vang vang nghe rõ mồn một. Vào tới buồng, đã có một anh nằm đang đắp chiếc chăn bông, lồm cồm bò dậy. Trong khi tên cán bộ rút chốt cùm, tôi tự hiểu, nên nhấc cùm ra và cho một chân vào. Y đóng chốt cùm, khóa cửa. Tôi quay lại gật đầu chào anh bạn mới. Anh chàng này độ 26, 27 tuổi, trông có vẻ khỏe mạnh, tuy da vẫn xanh xao. Anh mỉm cười gật đầu chào lại tôi.

Tôi lục đục vừa trải chiếu vừa ngó chung quanh tường, lên cửa sổ. Không khí ở đây có vẻ khoáng đãng hơn xà lim III, cả ánh sáng nữa. Phía trên đầu nằm là một khung cửa sổ to, kích thuớc khoảng 1 mét x 60 phân, với những song sắt đường kính 2 phân, có lưới thép phía trong. Mép dưới cửa sổ chỉ cao hơn nền gạch khoảng 2 mét rưỡi. Do đấy, nếu đứng lên sàn, có thể nhìn ra ngoài được, phía giàn nho. Phía chân nằm, ngay trên cửa ra vào là một khung cửa sổ nữa nhưng bé hơn, khoảng 50 x 30 phân, cũng bọc lưới thép phía trong sát vào chấn song. Cùm và sàn cũng giống như xà lim III. Khác hẳn với cảnh vắng lặng tịch mịch của xà lim III, ở đây có một chiếc loa gắn ngay trên cửa lớn ra vào trại chung, chĩa ra sân phía trước có giàn nho, nơi tôi vẫn đi cung. Như vậy là ngay cạnh xà lim II, vì vậy nằm trong buồng, tôi nghe tiếng loa rất rõ.

Buổi chiều và tối đêm hôm đó, qua những câu chuyện thăm hỏi anh bạn mới cùng buồng, tôi được biết sơ lược về anh: Tên Phạm Huy Tân, nghề chuyên môn là y tá, phục vụ tại một xã ở Hà Nam, đã có vợ và một con. Anh tham gia hoạt động bí mật trong một đảng chính trị: “Tân Cách Mệnh Việt Nam Phong Trào” (gọi tắt là “Tân Phong”). Chủ tịch đảng tên là Chương (tôi quên họ), cũng là chủ tịch một xã thuộc Hà Nam.

Đảng Tân Phong đã hình thành hoạt động được gần 3 năm. Đảng kỳ nền vàng có một sao đỏ ở giữa, cũng có tôn chỉ, mục đích, cương lĩnh chính trị; số đảng viên vài chục; đã phát triển lên miền cao là Hòa Bình, Tuyên Quang. Về sau bị lộ, vì Cộng Sản đã cài được người của chúng vào trong Ban lãnh đạo. Vì thế, nhân một buổi họp đảng, (lợi dụng một đám cưới nhiều khách khứa các nơi ra vào, đảng họp bí mật ở giữa một gian nhà trong), bất ngờ, Cộng Sản tới vồ tất cả tại chỗ. Sự việc đã xẩy ra cách đây hơn 6 tháng.

Về phía tôi, tôi cũng nói thẳng là ở trong Nam ra. Tất cả những chuyện mà tôi nói chỉ nằm trong phạm vi tôi đã khai báo với chấp pháp. Đồng thời chỉ có khái niệm sơ lược.

Qua một số ngày, với một số thử thách của tôi, cùng với những hiện tượng, tôi biết chuyện đảng phái và anh ta bị bắt là có thực. Nhưng, anh ta thuộc loại khôn ngoan vặt. Trong tình thế này, để tự cứu mình, anh ta đã thở ra những hơi muốn “tiến bộ”. Như vậy, anh ta còn nguy hiểm hơn một tên cán bộ dùng khổ nhục kế. Vì mọi người cùng cảnh sẽ mất cảnh giác, dễ tâm sự thổ lộ những tư tưởng và quan điểm, cũng như những công việc mình đã, đang và sẽ làm. Tuy nhiên, dù sao y cũng còn non nớt, cho nên sau những buổi đi cung về, nhiều khi y lộ vui ra nét mặt. Đôi lúc không kìm được, y nói thành lời: Nào là chấp pháp rất tin tưởng và thương mến y, nào là nhiều lúc chấp pháp vỗ vai thân mật như anh em. Ngay ông cán bộ tên Tư người miền Nam trực xà lim cũng tỏ ra có thiện cảm với tên Tân, thường gọi y ra sai làm những việc vặt như làm vệ sinh, hoặc đôi khi sai quét đường đi ở giữa hai dẫy xà lim.

Ai đã từng ở xà lim một vài tháng trở lên mà được sai ra làm những công việc này, là một hình thức được chiếu cố, gia ân. Thứ nhất, sẽ được thoải mái, không bị gò bó ngồi một chỗ; hai nữa, điều đó nói lên lòng tin của cán bộ, không sợ anh có thể lợi dụng cơ hội để liên lạc, dưới nhiều hình thức, với các buồng khác, tuy rằng vẫn luôn luôn có cán bộ đứng coi anh làm.

Ngay thái độ tên Tân cũng có vẻ bợ đỡ, nịnh nọt cán bộ ra mặt. Thái độ ấy, và ý đồ ở trên, lòng tôi làm sao ưa y được. Dù vậy, tôi vẫn bình thường không tỏ một cừ chỉ nào quá đáng thể hiện là không ưa anh ta. Một lần, tôi hỏi thử:

– Liệu vụ án của Tân có đem ra xử không? Và xử thì Tân sẽ bị khoảng bao lâu?

Y có vẻ đắn đo, thận trọng, cuối cùng mới thổ lộ:

– Theo như một số hiện tượng, từ đấy tôi suy đoán, kết hợp với chấp pháp của tôi, có thể hơn một tháng nữa, vụ án của tôi sẽ được đưa ra xử. Ông Chương đầu vụ có thể bị từ 12 tới 15 năm. Còn tôi, nhiều hy vọng có khi không phải ra tòa. Nếu có ra, cũng chỉ từ 2 tới 3 năm.

Qua cách trả lời, cũng như sự suy lý của y, tôi nhận thấy: Tên này đang bị cái bùa tình cảm của chấp pháp, chắc rằng y đã phải tố nhiều người trong tổ chức của y. Y tin như vậy là một cách để tự cứu. Một loại người như vậy, nếu chấp pháp hỏi về tư tưởng, về tâm sự, v.v… của người cùng buồng, là tôi, tất nhiên y phải nói bằng hết. Rồi có khi y sẽ được giao nhiệm vụ gợi chuyện, tìm hiểu tư tưởng và công việc làm của tôi, với những lời hứa hẹn đẹp đẻ. Với tôi, dù có nhận định y không phải là loại người như trên đi nữa, cũng đừng hòng bao giờ tôi tâm sự chuyện riêng, huống chi tôi đã thấy y là một tên cơ hội rõ ràng. Tuy vậy, qua cái nhìn của tôi về y, chưa cho phép tôi nhận định chung về các đảng phái ở miền Bắc. Tuy tôi cũng thấy trong lòng không được vui, vì y là cán bộ chịu trách nhiệm về tuyên truyền, liên lạc mà trình độ như vậy, tư tưởng lại bấp bênh giao động như thế. Ngay bản thân cán bộ cốt cán, cũng không hề có lý tưởng thực sự! Ở đây, tôi lại nói “thực sự”, vì rất nhiều người chỉ có lý tưởng ở mồm, mà không phải ở tim, ở óc.

Tôi cũng rất tiếc không được gặp ông Chương nào đó, chủ tịch đảng Tân Phong, để tìm hiểu và học hỏi những khả năng và kiến thức của ông ta, để từ đó thấy được về đảng Tân Phong này. Tuy vậy, qua một cán bộ tuyên truyền, tôi cũng có một số khái niệm về đảng đó. Vì thế, tôi mới thấy trong lòng không có một niềm phấn chấn tin tưởng.

Theo Tân, vụ của y có hơn 10 người hiện đang ở trong Hỏa Lò, một số nhẹ ở trại chung. Ngay ở xà lim II này, buồng số hai có một người anh họ cùng vụ, chịu trách nhiệm về ngoại giao và tài chính, y là giáo viên Cấp hai.

Xà lim II gồm có 8 buồng, mỗi bên 4 buồng đối diện nhau, không bị cùm, đứng lên cái cùm có thể nhìn thấy từ trán của nhau trở lên. Nhưng, nội quy xà lim nghiêm cấm đứng lên sàn. Bất cứ lúc nào cửa con xoạch mở, nếu thấy anh đứng lên sàn, dù chỉ tựa lưng vào tường đứng chơi. Cùm sẽ được rút ra ngay và mời anh cứ tự nhiên bỏ chân vào, đừng nói gì thêm nữa, vô ích. Trong 8 buồng, chúng dành buồng số 8, bắt một vòi nước máy vào làm chỗ đỗ phân và tắm rửa.

Do điều kiện bị cùm, hơn nữa trong buồng không hề nhìn thấy gì bên ngoài, vì thế tất cả linh khí của thân thể, đều tập trung về thính giác, để phán đoán và xác định âm thanh. Càng ở xà lim lâu, thính giác càng bén nhậy, tinh vi. Tuy chưa bao giờ thấy một ai ở cùng xà lim, nhưng lúc đó tôi đã biết: Buồng 1 giam một người, buồng 2, hai người, không bị cùm. Buồng 3 không có người. Buồng 4 là buồng chúng tôi. Buồng 5, nhà tắm, buồng 6, một người. Buồng 7, sát nhà tắm, có hai người đều là nữ, bị cùm mỗi người một chân. Thỉnh thoảng ban đêm, tôi thường nghe tiếng phụ nữ khóc sụt sịt, nhiều khi thành tiếng nức nở thảm thiết ở phía đó.

Theo Tân kể chuyện thì do sự kích thích tò mò của đàn ông con trai, nên một lần đã liều, khi cán bộ vào gọi cung một cô, Tân đứng trên chiếc chăn bông gấp cuộn lại, y lén, nép nhìn. Cô đó khoảng 20 tuổi, trông như nhà tu, ở xà lim chừng độ gần tháng nay.

Tôi nghe chuyện cũng thấy lòng thương hại thông cảm. Tôi là đàn ông thanh niên, bị cùm đã thấy khổ sở khi ỉa đái, phụ nữ thì thật khó khăn. Nhất là đêm hôm, cán bộ đàn ông thường mở cửa con kiểm tra; có khi không mở, chỉ đứng rình qua cái khe của miếng sắt hơi bẻ cong, che cửa con. Ở ngoài nhìn vào thấy nửa buồng, còn ở trong nhìn ra chỉ thấy trần nhà. Chắc rằng, thôi thì thân gái, trong cảnh này cũng đành phó mặc!

Vì hai cô này, trong xà lim, tâm trạng hầu hết đều tò mò muốn biết người và sự việc. Hôm qua, buồng số 2 đối diện một anh đã bị bắt tại trận đang đứng trên cùm, kiễng chân thập thò nhìn khi tên Tư, cán bộ xà lim mở cửa số 7 cho ra rửa ráy. Cùm rút chốt luôn, và anh đó đã bị cùm.

Tên Tân rất khôn ngoan tinh quái. Y nắm được những quy luật giờ giấc, cùng những mánh khóe rình mò của cán bộ, nên y cũng đứng lên mà lão cán bộ không biết. Trong một ngày, ở xà lim II, giờ tương đối an toàn nhất là sau giờ tan tầm 5 giờ, nghĩa là từ 5 giờ 15 phút đến 6 giờ tối. Lúc đó, cán bộ vừa bàn giao thay ca, kiểm nhận người hết lượt xong, đi ăn cơm.

Tên Tân tỏ ra nhiều hiểu biết về các cán bộ ở Hỏa Lò, làm nhiều khi tôi phải ngạc nhiên suy nghĩ. Thì ra, lúc mới bị bắt, Tân cũng ở ngoài trại chung, mỗi ngày hàng trăm người, đủ mọi thứ tội. Được gần một tháng, không hiểu vì sự khai báo thế nào của những người trong cùng một tổ chức đảng, nên y bị đưa vào xà lim. Vì vậy, qua chuyện trò với y, tôi được biết giám thị trưởng của Hỏa Lò là tên Võ, người miền Nam tập kết. Tuy y chỉ là Thiếu Tá, nhưng đã già rồi, y rất có thanh thế, vì cùng lứa với y mà y quen biết, có nhiều người đã là cán bộ trung ương đảng. Qua đó, tôi đã đoán ra được, hôm đầu tiên tôi bị đánh và bị cùm mồm. Một ông già gần 60 tuổi đeo kính trắng vào tha cho tôi, chính là tên Võ giám thị. Còn hai phó giám thị, một là tên Trì, Trung úy người Quảng Bình, một là tên Lê, Trung úy quê ở Hưng Yên.

Hỏa Lò có hai y tá, một nam và một nữ. Nữ là mụ Dậu đã tiêm cho tôi mấy lần khi tôi bị sốt. Theo Tân biết, mụ là cán bộ lưu dụng, vì có chồng là một cán bộ cách mạng nằm vùng nội thành. Nam y tá tên là Huệ, thường coi ở bệnh xá.

Ba tên cán bộ văn thư, thường gọi đi cung là lão Bằng, mụ Hoa và một lão già tên Kim cũng đeo kính trắng người Bắc, Thượng sĩ. Lão Kim này là cán bộ gần như lưu dụng, vì thời Quốc Gia trước 1954, lão cũng là cai tù ở Hỏa Lò, nhưng là người của Cộng Sản cài vào. Còn mụ Hoa có một tiểu sử như sau: Mụ là gái Quảng Trị. Trước 1954, theo chỉ thị của đảng, mụ bán xôi chè cho binh lính ở những đồn bót tại Quảng Trị, rồi yêu đương và trở thành vợ chồng với một anh Trung sĩ Quốc Gia ở trong đồn đó. Cuối cùng, Cộng Sản dùng mụ này làm nội ứng, nên đã chiếm được đồn lính sau một đêm tấn công. Sau hội nghị Genève, mụ bỏ chồng, tập kết ra Bắc theo già Hồ, rồi làm công an ở Hỏa Lò.

Đầu năm 1961, một sự trớ trêu, chính người chồng mụ ngày xưa lại vào Biệt Kích và ra Bắc, rồi không may bị bắt đưa về Nghệ An. Lúc ấy, mụ còn là cán bộ ở đó, bất ngờ gặp lại người chồng năm xưa. Mụ đã mua cho một bánh chưng với một cái bánh mì, cùng với một giờ chưởi bới, giáo dục. Cuối cùng người chồng cũ uất hận và khổ đau, đã quẳng cả bánh chưng, bánh mì ra sân dù đói, và phải đi cùm vì hỗn láo với cán bộ.

Nghe tên Tân kể, tôi băn khoăn, làm sao mà y biết rõ thế? Y giải thích là, trong đám tù ở buồng y, có một cán bộ tập kết biết rỏ mụ ta, kể lại.

Sau khi nghe chuyện Tân kể, mỗi khi mụ Hoa vào gọi cung tôi, liếc nhìn cái dáng đi vặn vẹo và cái môi thâm xì của mụ. Một nỗi niềm vừa thương hại, lại vừa ghét trỗi dậy trong lòng tôi. Ghét, vì mụ đã làm cho bao nhiêu chiến hữu của tôi phải nằm xuống, trong đêm Cộng Sản cướp đồn. Thương hại, vì mụ quê mùa, ngu muội, nghe lời phỉnh phờ bịp bợm của tụi lãnh tụ Cộng Sản. Cố hy sinh tất cả, để tiến tới một thiên đàng Cộng Sản không bao giờ có thực. Cũng giống như những người lính của họ Tào, đã vượt núi, vượt rừng để tiến tới cái rừng mơ, mà thỏa chí, trong truyện Tam Quốc của Trung Hoa.

Vào một ngày thứ Bảy, tên Tân được gọi ra cổng kể nhận tiếp tế của vợ. Khi về, y xách theo một cái túi, gồm 2 cái bánh chưng, khoảng 2 lạng muối vừng đã giã, 3 lạng đường phèn (mía), 3 cái bánh mì và 10 quả chuối; đặc biệt nhất là 2 gói thuốc lá Trường Sơn.

Ngay từ một vài ngày trước, tôi đã thấy y lấm la lấm lét, nằn nì lão Tư để xin chỗ cơm còn thừa của một buồng bị bệnh không ăn hết, để rồi tên Tư quát “Nhanh lên!” y vội vàng chạy ra cái chõng, lấy bát cơm thừa đổ lên cái khăn mặt của y, chừng độ một nắm cơm, khoảng 1/3 suất. Y hí hửng sung sướng ngồi ăn, không một chút ngượng ngùng gì với tôi cả. Với một người như vậy, thái độ của tôi càng tỏ ra coi thường miếng ăn. Thực ra, trong lòng tôi, tôi không cần biết y có cái gì cả. Nhưng, trong một căn buồng chật hẹp sát nhau như thế, chạy đi đâu được! Cái gì cũng đập vào tai, vào mắt mình!

Thấy y ăn quả chuối, y ăn vỏ trước rồi ăn ruột sau. Y vuốt ve, nâng niu những thứ đồ tiếp tế như cái gì quý giá nhất của đời y. Tôi chỉ còn cách duy nhất là lựa thế nằm xuống, đắp chăn để khỏi nhìn thấy cái cảnh không muốn nhìn. Nhưng, tới khi y đánh diêm để hút một điếu thuốc, tâm hồn tôi bị xáo trộn dữ dội. Trong một căn buồng quá nhỏ, khói thuốc quạt vào mũi tôi như gãi vào từng tế bào, làm cho hồn tôi như ngây ngất đê mê, và như thách thức lý trí, làm đầu óc tôi đầy vơi những nghĩ suy. Vô kế khả thi. Nhưng, bảo tôi mở miệng ra xin y một điếu thuốc, thà chết! Điếu thuốc của y hút làm bận rộn đầu óc tôi, nghĩ hết cách này đến cách khác, nhưng chẳng cách nào có thể thực hiện được. Để rồi, ngập ngừng di vào giấc ngủ muộn của đêm thâu.

Bị cùm mà ở chung với một người không bị cùm, người bị cùm lại thêm một nỗi khó khăn nữa. Nếu bị cùm một mình, tới bữa cơm, cán bộ phải mở cùm cho ra lấy cơm. Một ngày được cho ra đổ bô một lần. Đó, chính là lúc nghỉ chân vào thay đổi chân. Ở đây, hai ngày cán bộ mới mở cho ra một lần để đổ bô phân mình đi đại tiện.

Còn cơm, nước, cũng như khi trả bát, tên Tân được ra vào hai lần, mà mình lại phải mang ơn người khác. Nhưng, ở trường hợp này, lại chẳng muốn họ làm cho mình. Còn một vấn đề nữa là những khi đi giải, lúc đầu tôi thật ngượng ngùng lúng túng, chỉ có một cái thế đứng duy nhất, nếu anh kia đang ngồi, là phải vén quần ngay trước mặt anh đó. Rồi lúc đi ỉa, không thể kéo cái bô từ gầm sàn ra, mở nắp, rồi lựa thế lê đít ra cạnh mé sàn mà ngồi đi được. Trong lúc anh kia đang ngồi ở sàn bên cạnh, chỉ cách có 60 phân. Vì vậy, phải cố xách cái bô lên sàn, rồi lựa thế, một chân quỳ, một chân hơi nghiêng nghiêng trong cùm, để mông ngồi lên miệng bô. Như vậy, đỡ hôi cho người cùng phòng, nhưng mình phải chịu cạnh cùm nghiến vào chân. Mỗi lần ngồi khó khăn như thế, thường phải từ 20 đến 30 phút. Nhiều khi ê cả chân, ê cả đít, mỏi cả người. Tuy vậy, lúc rửa chỉ còn một cách duy nhất, là lại phải xách bô xuống nền, dịch đít ra mé sàn, lựa thế hai tay đưa ra phía sau, một rửa, một cầm gáo đổ.

Chưa hết, người bị cùm, người không, ở chung một phòng còn bị một khía cạnh tâm lý nhỏ nữa. Người ta nói, trong cuộc đời: Suớng, khổ, vui, buồn, một phần do môi trường chung quanh, nên mầu đen mà cạnh mầu trắng thì hai mầu càng làm rõ cho nhau. Trong khi chân mình lạnh buốt trong cùm, giở người, hoặc ngồi lên, nằm xuống cũng khó khăn; họ, sau bữa cơm, đi bách bộ, dù chỉ 4, 5 bước, đi đi lại lại hai tay chắp sau đít thật tự do. Sáng dậy, họ tập thể dục, chạy tại chỗ dăm phút cho khỏi tê chân. Mình, chân tê lại cắn rần rần cũng đành nằm im mà thèm.

Sáng hôm sau, khi Tân và tôi mỗi người một sàn đang cắm cúi ăn cơm, tự nhiên Tân lên tiếng:

– Anh Bình này, tôi thấy các anh ở miền Nam vẫn coi thường miếng ăn lắm!

Tôi quay sang nhìn y để phán đoán qua nét mặt, y hỏi như vậy là ý muốn gì? Vì chưa xác định rõ, nên tôi cũng lửng lơ:

– Miếng ăn thì cần thật, nhưng nhiều lúc chẳng coi ra gì cả.

Y cười, hơi ngượng ngùng:

– Tôi biết là anh không cần thiết ăn lắm… Anh có dám hút thuốc không?

Tôi đã nắm được ý của nó. Tôi sáng mắt lên: Nếu bỏ một bửa ăn để đổi lấy thuốc hút! Tôi đồng ý ngay! Y hơi gượng gạo:

– Bây giờ thế này nhé! Thuốc lá thì tôi không cần, tôi chỉ thích ăn thôi. Vậy, để cho công bằng: Một bao thuốc lá Trường Sơn, giá bên ngoài là 3 hào. Trong đây, tiêu chuẩn ăn, bao gồm cả thuốc men do nhà nước đài thọ, cho một phạm nhân là 12 đồng một tháng. Như thế, vị chi mỗi ngày là 4 hào, kể cả canh. Do đó, cơm là 3 hào, còn một hào là canh và thuốc men. Vậy thì, một suất cơm cả canh, 1 hào 8 hay 9, còn một xu chi cho thuốc. Tôi cứ rộng rãi, cho một suất cơm là 2 hào. Vậy nếu anh đồng ý, mỗi bữa tôi chỉ lấy nửa suất cơm thôi, còn canh phần anh. Tôi sẽ đưa cho anh 6 điếu thuốc. Hay một bao là một suất rưỡi. Nhưng mỗi ngày tôi lấy nửa suất thôi, kẻo anh đói quá!

Tôi im lặng ngồi nghe và nhìn y tính toán. Rồi y lại tỏ ra một người có lòng nhân ái nữa. Y sợ tôi đói quá, nên mỗi ngày chỉ lấy nửa suất cơm thôi!

Lòng tôi trỗi dậy một niềm tê tái lẫn oán thù. Tê tái vì tình người như nước ao bèo. Oán thù, vì một chế độ kinh khủng đã tạo ra một cuộc sống, cùng khổ cho người dân. Những nếp suy nghĩ tính toán vặt vãnh, làm tan hoang cái truyền thống nhân ái, đạo đức, đùm bọc tốt đẹp của dân tộc.

Tuy trong lòng nghĩ như vậy, nhưng trong cái thế và cảnh này, tôi sẽ đồng ý đổi nửa suất cơm thôi, và sẽ là lần đổi duy nhất đối với nó. Vì thế, tôi lạnh lùng:

– Tôi chỉ cần ăn để không chết thôi! Vậy, chiều nay tôi hãy đổi thử nửa suất thôi, xem sao đã.

Y ra trả bát, xong xuôi y lấy bao thuốc đưa cho tôi 6 điếu. Trông y có vẻ hưng phấn, thỏa mãn, cũng lấy một điếu thuốc phì phèo. Tâm tư của tôi thực nặng chĩu. Tôi cũng châm một điếu thuốc, rồi nằm đắp chăn, mắt nhắm nghiền cho hồn say sưa, mà lòng thì quặn thắt.

Ngay chiều hôm ấy, khi y lấy cơm vào. Sau khi quản giáo đóng cửa, tôi bảo y cứ xẻ lấy một nửa suất theo ý muốn, rồi đưa lại cho tôi.

Vì hút thuốc mà trong lòng lại chẳng vui gì, nên mỗi ngày, tôi chỉ hút một điếu vào lúc sắp đi ngủ. Y tỏ vẻ không được vui khi thấy tôi hút ít như vậy. Những ngày sau đó, lúc hút cũng như lúc thở khói, y cố ý gợi cho tôi thèm, nhưng tôi vẫn lạnh lùng. Thậm chí, y phải hỏi:

– Anh không hút thuốc lá nữa à?

Tôi thủng thẳng khô khan:

– Không thích hút nữa!

Một hôm, y còn gạ tôi trắng trợn:

– Tôi biết anh chỉ thích hưởng hương hoa tinh thần thôi! Vậy, tôi còn một cái bánh chưng, giá ở ngoài là 5 hào. Tuy nhiên, tôi cũng chỉ lấy hai suất rưỡi, cũng mỗi ngày nửa suất thôi. Anh ăn một lần để thưởng thức cái ngon của bánh chưng?

Tôi lạnh lùng nhìn y, lòng căm phẫn:

– Cám ơn, tôi không thích!

Mặt y cứ trơ ra, không một chút ngượng ngùng. Điều làm tôi không hiểu được là tại sao, y ăn nhiều thế, mà vẫn còn đói dữ như vậy? Mới ngày hôm kia, buổi trưa y đã được quản giáo gọi ra, rồi mang vào một suất cơm thêm. Suất cơm của buồng số 6. Chẳng hiểu vì sao buồng đó, sau một lần đi cung về rồi bị cùm một chân, anh ta đã tuyệt thực, tới nay đã 4 ngày rồi. Vì tên Tân thỉnh thoảng quét dọn, nên tên Tư đã gọi ra cho một suất cơm.

Tôi nhìn cơ thể tên Tân, thấy y chỉ mập hơn tôi vì người tôi quá gầy thôi, chứ y làm sao khỏe, rắn chắc như lúc tôi chưa bị bắt. Vậy mà đồ tiếp tế với lại thỉnh thoảng được cán bộ cho ra vơ vét. Thế mà, nhiều lúc y như điên cuồng, đứng ngồi không yên vì đói.

Tôi chẳng hiểu buồng số 6 tội gì, phải tuyệt thực. Chỉ nghe thấy báo cáo xin nước uống, còn nhất định không ăn. Nhưng, cán bộ xà lim cương quyết, có ăn mới cho uống nước.

Một bữa sáng, sau khi các buồng đổ bô xong, tên Tư vào gọi tên Tân ra. Tôi nghe mở buồng số 6. Hôm nay cũng là ngày thứ 6 anh ta không ăn. Tôi nghe tiếng nước dội rửa và tiếng quét. Chừng 30 phút sau thì Tân về. Tôi hỏi, được biết: Buồng số 6, năm, sáu ngày nay đầy sàn cứt đái, bôi đầy lên tường. Vào buồng, cơm canh đổ lẫn với cứt, có mùi xông lên không chịu được. Anh ta cứ nằm ngửa, đắp chăn che mặt. Lợi dụng một lúc tên Tư quay ra, Tân hỏi anh ta tội gì, nhưng anh ta không trả lời. Tân nhấc cái chân xuống xem mặt, chừng 30 tuổi, trắng trẻo, anh ta vẫn nhắm nghiền mắt. Tân vội phải đậy chăn lại sợ tên Tư vào biết.

Theo Tân, tên Tư nói là, nếu anh ta tuyệt thực mà cho uống nước, chỉ từ 5 tới 7 ngày là chết thôi, bởi vì nước sẽ hòa loãng máu rồi theo nước đi giải ra. Còn nếu không cho uống nước, 20 ngày hay một tháng cũng không chết. Nhưng, có một điều quần áo, chăn của anh ta toàn cứt và cơm thiu nên dù quét dọn, buồng vẫn thối lắm.

Những ngày thứ bốn, thứ năm, tôi còn nghe tiếng đập cửa xin nước, nhưng từ ngày thứ 6 trở đi cứ thấy im lìm. Mãi tới đêm ngày thứ 9. Khoảng 10 giờ, nghe có tiếng mở cửa buống số 6, rối tiếng chân người khiêng đi sau khi, có tiếng rút chốt cùm. Tôi và Tân, trong buồng cố lắng nghe, nhưng không biết là anh ta chết hay sống, hay đưa đi đâu. Báo hại, sáng hôm sau tên Tân lại phải quét rửa buồng.

Tân về, nhăn nhó bảo là cái chăn cứt thối quá, mà tên Tư bắt giặt phơi ở phía buồng vãng lai. Tân lại kể, khi ra đấy, nhìn vào sân trại chung, y thấy bây giờ Hỏa Lò đầy tù, ngồi đầy cả sân. Cách đây hai tháng, khi Tân còn ở trại chung, trại chỉ có khoảng 4, 5 trăm người. Nhiều buồng chỉ 4, 5 chục người, có buồng để không. Y nói, y gặp người nhà tiếp tế, nói thầm cho biết, ngoài xã hội bây giờ dân chúng hoang mang lắm. Ở đâu, tỉnh nào cũng thế, các nhà tù chật ních. Đầu tháng Tư vừa rồi, có lệnh của Bộ Công An: Tất cả những ai từ lính trơn cho đến Thượng sĩ, mà hồi 1954 chỉ bị học tập và giáo dục tại địa phuơng mấy ngày rồi cho về (Chỉ có sĩ quan mới bị bắt đi học tập ở trại giam). Nay đều được mời vào “ấp” để lao động “xây dựng xã hội chủ nghĩa”.

Những người Hạ sĩ quan và lính tráng này, biết mình có tí đuôi với chế độ cũ, nên dù ở địa phương nào. Họ luôn luôn tỏ ra là những người tích cực, năng nổ trong mọi lĩnh vực với chế độ mới. Ở địa phương, hợp tác xã, nhà máy, công nông trường, v.v… đâu đâu cũng vậy. Chính vì thế, sau 9 năm nỗ lực công tác, nên ngày nay rất nhiều người đã được đảng hoặc chính quyền tín nhiệm, tin cậy. Có người đã trở thành đoàn viên, có người là tổ trưởng tổ lao động xã hội chủ nghĩa của, công trường hay nhà máy v.v…Thậm chí, có người do tinh thần hăng say, đã công tác, học tập ngày đêm quên mình, nên đã trở thành chủ nhiệm hợp tác xã, hay thư ký công đoàn… Họ tưởng rằng như vậy là cuộc đời từ nay yên lành, chỉ còn một lòng phơi phới yêu thương chế độ mới của mình. Nhưng, đùng một cái! Bây giờ tất cả được mời đi học tập, bất kể anh đang ở cương vị nào. Lý do: An ninh của Tổ Quốc xã hội chủ nghĩa đang bị đe dọa!

Ngoài nhân dân có cái từ mới là: “Trót xỏ nhầm giầy” (đã đi lính hoặc làm việc với chính quyền Quốc Gia). Dù xỏ nhầm giầy một ngày cũng phải đi. Tỉnh nào vào trại giam tỉnh đó. Sau khi lập hồ sơ và xét hỏi qua loa, rồi được chuyển đi các trại trung ương.

Bao nhiêu người ngã ngửa ra. Không những bản thân người đi tù và gia đình người ấy, mà ngay các cán bộ địa phương cũng không thể nào ngờ được. Bởi vì, đã 9 năm trường dài đằng đẵng, trôi qua rồi!

Như thế, cho phép ta nhận định (sau tháng 4/1975). Nếu, Cộng Sản chưa hỏi tội đến những người đã từng cộng tác với “Địch” dù chỉ một ngày, là vì chúng còn muốn lợi dụng, hoặc vì chưa ổn định những công việc khác lớn hơn. Vì tình thế, điều kiện chưa cho phép, sợ hoang mang lòng dân, trong khi chưa ổn định xã hội, chưa nắm được chặt những tầng, loại người chúng nghi ngờ. Chứ trước sau, sớm muộn gì chúng cũng sẽ hỏi tội. Lúc đó chúng có đầy rẫy lý do hợp lý: Nào là Hạm Đội 7 tập trung về biển Đông, Trung Quốc chuyển quân, Thái Lan động đậy, v.v… và v.v…

35. Người Nữ Tù Xà Lim II …

Cuối Xuân và trời đã bắt đầu sang Hè, không khí trở lên dìu dịu. Thỉnh thoảng vẫn còn những trận mưa Xuân lưa thưa phảng phất, như báo cho nhân thế chuẩn bị đón nhận những ngày nắng hạn.

Tối hôm đó, tôi đang ngồi đăm chiêu với bao nỗi đầy vơi của cuộc đời. Giữa cái vắng lặng đến lạnh lùng, sau khi cái loa cạnh xà lim đã tắt ngủm lúc 9 giờ tối. Đột nhiên, từ một cái loa phòng ngoài góc sân có giàn nho phía trước, tiếng một người miền Nam thong thả dõng dạc:

“Các anh em chiến sĩ trong Không Lực Việt Nam Cộng Hòa thân mến! Tôi là Phan Thanh Vân, Trung úy phi công thuộc phi đội “X” của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Tôi đã nghe theo lời phỉnh phờ dụ dỗ của Mỹ Diệm, lái chiếc C-47 xâm nhập bầu trời miền Bắc xã hội chủ nghĩa để thả gián điệp biệt kích, đã bị bộ đội phòng không của chính phủ cách mạng hạ…..tại Cồn Thoi, Ninh Bình. Tôi đã bị thuơng nặng, nhưng do chính sách khoan hồng của nhà nước cách mạng, đã tận tình cứu chữa cho tôi. Nay, tôi đã bình phục. Được sự giáo dục, đùm bọc của cách mạng, tôi đã thấy được tội lỗi phản dân hại nước của tôi, hiểu được đường lối nhân đạo thuơng yêu dân của đảng và chính phủ. Tôi kêu gọi tất cả các bạn thuộc binh chủng Không Quân của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, hãy vì độc lập của Tổ Quốc, vì hạnh phúc tự do của nhân dân. Các bạn hãy mạnh dạn đứng lên quay về với chính phủ cách mạng, về với nhân dân. Hãy lái máy bay về vùng Mặt Trận Giải Phóng, các bạn sẽ được đón tiếp nồng hậu như anh hùng. Các bạn sẽ góp sức mình cùng nhân dân tiêu diệt kẻ thù là Mỹ Diệm…”

Nguyên văn thì tôi không thể nhớ rõ, nhưng nội dung là như vậy. Tai tôi lắng nghe, mà lòng tôi rỉ máu dần dần, tên Tân đang nằm cũng bò dậy nghe. Mắt tôi hơi sượng sùng khi gặp ánh mắt y. Tôi hỏi một câu thăm dò, để giảm nét hổ lòng:

– Họ bắt Phan Thanh Vân phải đọc như vậy sao?

Tên Tân tỏ vẻ hiểu biết:

– Mỗi lần đọc một bản như vậy, được thù lao 5 đồng. Một phần do họ bắt đọc, phần khác, cũng do mình muốn tiến bộ.

Thấy y có vẻ hiểu biết thật, tôi hỏi tiếp để sáng tỏ:

– Bài viết do họ viết sẵn, hay do mình phải viết?

– Họ gợi ý cho mình viết, rồi họ sửa!

Tuy ngoài miệng hỏi chuyện Tân, nhưng trong đầu tôi liên miên với giòng suy tưởng. Nếu chúng thu thanh tiếng nói của Phan Thanh Vân, rồi đem về miền Nam, phát cho Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa nghe. Hoặc cho nhân dân nghe, thì có thể làm ruỗng lòng người có tinh thần, làm nghiêng ngả cho người không có chính kiến, khi những người này còn mơ hồ về Cộng Sản. Thật là tai hại!

Tên Tân còn nói tiếp là đã nghe Phan Thanh Vân đọc mấy lần rồi. Hiện nay Vân được ở trại thợ trong khu nhà bếp, tỏ ra rất tiến bộ, cán bộ chiếu cố rất nhiều mặt. Thảo nào, tôi nhớ tới hình ảnh Vân ngồi gốc cây bàng, hôm đầu tiên tôi bị bắt vào Hỏa Lò. Tôi im lặng, chẳng muốn hỏi nữa, về một câu chuyện mà trong lòng mình chẳng vui gì. Lòng tôi cứ bồng bềnh, lững lờ chảy về miền Nam xa xôi.

Hàng ngày, tiếng loa ở cổng trại chung cứ chọc vào tai tôi, tình hình Phật giáo sôi sục đấu tranh với chính quyến…Tôi chẳng lạ gì khi nghe đài truyền thanh của địa phương Hà Nội và phát thanh trên vô tuyến của Cộng Sản. Nhưng, với khả năng nghiệp vụ của tôi, cộng với kiến thức riêng, tôi cũng thâu nhận được một số tin tức qua từng khía cạnh của từng sự việc. Những người chịu suy nghĩ thấu đáo, ai cũng hiểu ở đây chính là do bàn tay máu của Cộng Sản. Cộng với cái tự do nhố nhăng không đúng chỗ, không đúng lúc của miền Nam. Với tác phong lề lối làm việc, mang sẵn tinh thần tắc trách nói chung của cán bộ cũng như chính quyền miền Nam. Cộng sản tha hồ, lợi dụng thao túng… Chúng gieo rắc lẫn thổi phồng, bóp méo, khích lệ mọi mâu thuẫn giữa chính quyền với nhân dân, với tôn giáo, với đảng phái. Rồi chờ, khi có điều kiện, có thời cơ, chúng chỉ cần cầm cái gậy chọc vào từng điểm.

Thí dụ “Vụ Phật Giáo”.. Chúng sẽ có hàng trăm cách, tùy theo từng nơi, từng lúc. Tôi cứ hình dung: Trong một đám rước đang diễn hành trang nghiêm trên đường phố ở Huế chẳng hạn, của một ngày lễ Phật giáo đặc biệt. Ngay trong đám Phật tử đang diễn hành này, thậm chí ngay trong các tiểu chức sắc ni tăng, chúng đã cài người của chúng vào, cùng làm việc với nhau mà cũng không biết, lợi dụng điều kiện lúc đông đúc, cũng như lúc thuận tiện, chúng dễ dàng bí mật thả truyền đơn chống và mạt sát chính quyền. Các cơ quan có trách nhiệm về an ninh như cảnh sát, mật vụ, v.v…lúc đó sẽ giải quyết thế nào? Khi chưa hiểu rõ đầy đủ những thủ đoạn tinh vi của Cộng Sản. Khi chưa có kinh nghiệm hữu hiệu để giải quyết những trường hợp phức tạp như thế, chỉ còn một phương pháp ngăn chặn, bằng cách tìm tòi, khám xét làm ngưng đọng đám rước. Đám rước đã rối loạn, Cộng Sản càng làm rối loạn hơn, hò la chính quyền Công Giáo phân biệt, đàn áp Phật tử, v.v… Mâu thuẫn chồng lên mẫu thuẫn, lòng căm hờn chồng lên lòng căm hờn. Lúc đó chỉ có trời mới giải quyết nổi.

Thân tôi đang chìm trong nỗi tăm tối ngục tù, giờ đây lại đắp thêm mối ưu tư cho quê nhà miền Nam thương yêu.

Hôm sau, chiếc loa ở cổng đã ngừng mồm mép, như vậy là đã 8 giờ, giờ bắt đầu làm việc của một ngày, thế mà vẫn không thấy tên trực xà lim đến cho tù ra đổ bô. Tên Tân ngồi chờ mãi, y đừng dậy đi đi lại lại, rồi không hiểu y nghĩ thế nào lại trở lên sàn, rồi lựa thế kiễng chân, nhìn ra phía cổng xà lim. Y tỏ vẻ phấn khởi, cúi xuống nhìn tôi:

– Cửa xà lim vẫn đóng!

Tên Tân quái lắm khi cửa xà lim đóng hay khép là an toàn. Y có thể nói chuyện với buồng khác, nhưng mắt vẫn để ý nhìn mép trên của cánh cửa xà lim, khi thấy hé ra là trong này tụt xuống rồi, vì thế ít khi bị bắt. Y cất tiếng gọi:

– Số 7! Số 7!

Im lặng một lát, y gọi nữa:

– Số 7!

Một giọng phụ nữ rất trong:

– Ai gọi đấy?

– Số 4 đây! Dạo này có khỏe không?

Vẫn giọng khi nãy:

– Cám ơn, khỏe!

– Bị bắt vì tội gì đấy?

Im lặng một phút, rồi giọng trong lại cất lên:

– Kéo chuông nhà thờ Nam Đồng báo cho giáo dân vì công an vào bắt Cha phó.

– Bao lâu rồi?

Bỗng Tân nhớn nhác tụt vội xuống, trong khi tôi không nghe thấy một tiếng đồng gì khác. Cửa con xịch mở, tên Tư mắt long sòng sọc:

– Anh nào trong buồng này vừa đứng lên nói chuyện?

Y hỏi để mà hỏi, chứ y thấy tôi ngồi cùm, làm sao mà đứng dậy được. Tên Tân nắm hai tay vào nhau, vặn vẹo:

– Thưa cán bộ…

Tân chưa nói hết câu, tên Tư đã cúi xuống rút xoạch chốt cùm ra, rồi quát:

– Bỏ chân vào!

Mặt tên Tân chảy dài. Y biết không còn cách nào khác, nên tự tay nhấc cùm và từ từ nhấc một chân bỏ vào. Tên Tư nhìn qua cử con theo dõi, y chốt cùm vào, không nói gì thêm. Như vậy, tên Tư cũng quái. Y chưa mở cửa, đứng ngoài im lặng nghe đã. Nếu khi y đến, dù đẩy khẽ cửa đi vào. Tân đã biết rồi. Tiếng nói của Tân, Tư còn lạ gì. Thế là tình cảm hay chẳng tình cảm gì, sai là vẫn cùm.

Tôi nghe tiếng mở cửa mấy buồng đổ bô, rồi tự nhiên thấy chốt cùm tôi rút ra. Tôi nhẹ tay nhấc cùm, nhấc chân. Cái chân ê đi, bước xuống đất cứ bì bì. Tôi tưởng đi cung, nhưng khi mở cửa, tên Tư không nói gì, tôi chợt hiểu, ôm vội bô vào nhà tắm để đổ, rửa. Tôi gõ nhẹ vào tuồng số 7 mấy cái như ý nói: “Các cô đã làm cho một người nữa bị cùm đấy nhé!”. Đến bữa cơm, tên Tư lại mở cùm cho tôi ra lấy cơm cho cả Tân. Tên Tân mặt rất buồn. Theo y, bị cùm là một chuyện, y còn sợ là vụ của y sắp xử, có thể bị ảnh hưởng xấu vì y đã không giữ tốt nội quy trại giam.

Trước đây, ngay khi mới tới xà lim II được mấy ngày, tôi đã biết buống số 7 có hai cô gái đều bị cùm. Tôi rất băn khoăn, dứt khoát đây không phải là tội hình sự rồi. Bởi vì, hình sự rất hiếm phải vào xà lim, cá biệt nào đó. Phải là những tội tương đối quan trọng, nhưng cũng chỉ đến một vài tuần hay một tháng là cùng. Hai cô phải là tội chính trị nặng ký mới phải vào xà lim, và còn bị cùm nữa. Mặc dù về lý trí, tôi tin là không phải, nhưng phần tình cảm trong lòng tôi, cũng lắng lo một cách phảng phất. Biết đâu, đây lại chả là chính “đối tượng” nhận tài liệu “M”? Cho mãi tới một hôm, tôi bắt Tân phải tả lại. Y nói dáng người đó như nhà tu, mới khoảng 20 tuổi, tôi mới yên tâm. Dù vậy, tôi vẫn để ý theo dõi với mọi khả năng có thể, kết hợp suy đoán dựa trên những điều kiện đã biết:

– Cùng một tội, hoặc cùng một tổ chức, không bao giờ chúng giam chung một buồng ở xà lim.

– Hai tội khác nhau, lại cùng bị cùm? Ngay phạm nhân nam ở xà lim, cũng ít khi cùng bị cùm, huống chi là nữ. Vậy nữ bị cùm là hạn hữu, ở đây lại cả hai!

Tại sao có sự trùng hợp kỳ lạ như vậy? Câu giải đáp chỉ có thể thỏa đáng là phải có một người thực, một người giả!

Với điều kiện của mình như thế này, muốn làm sáng tỏ vấn đề trên. Tôi chỉ còn cách duy nhất là phải lắng nghe những âm thanh, sự việc…..rồi từ đấy suy lý dần. Từ định tâm đó, tôi thấy cá biệt, lẻ tẻ vài lần thôi, còn hầu như cứ cô nằm phía trái, tức cô có dáng nhà tu đi cung. Sau đó, cô nằm bên sàn phải lại đi, rồi thông thường là về trước. Như vậy, nếu cô đi sau về trước này không nói, thì cô đi trước về sau không hề biết là cô sau có đi cung.

Lúc này, tôi đã có thể phân biệt được, tiếng động của chốt cùm nào rút, tiếng mở cửa buồng nào; mụ Hoa vào gọi cung hay Bằng, hay Kim già, hoặc lão Tư, họ chưa mở cửa tôi đã biết ngay là ai, qua cách bước sền sệt trên nền nhà, cách cầm chùm chìa khóa lắc, cách mở cửa buồng…..Còn những tật khịt mũi hay hắng giọng thì quá rõ. Óc tổng hợp ngay các âm thanh để ra lời giải đáp không khó khăn gì. Hơn nữa, trừ buồng tôi, cả xà lim chỉ có chiếc cùm buồng 1, và 2 cô gái bị cùm ở số 7. Như vậy, chỉ phân biệt 3 tiếng cùm thì hầu như không lầm. Vì thế, tôi đã nhận định được đến 80% là 2 cô ở buồng số 7: Một cô giả và một cô thật. Nếu chính mình không bị cùm, tôi có thừa khả năng để thử, cũng như mắt nhìn để kết luận. Ngay bây giờ, tôi muốn báo cho cô thật biết để cảnh giác. Không để ý thì khổ. Nhưng đành chịu vì cái chân trong cùm. Cách nào cũng có chỗ bất lợi cả. Vì người kia thường xuyên có mặt ở đấy. Chỉ còn cách chờ đợi một bữa nào bất ngờ cô bên phải đi cung, cô bên trái ở nhà, tôi sẽ lên tiếng nói bâng quơ. Thí dụ: “Chớ có tin người cùng buồng mình” chẳng hạn. Nếu cán bộ có đứng rình, mở cửa con hỏi, giả vờ nằm nhắm mắt ngủ, nằm mơ. Nó chẳng làm gì được mình.

Chiều hôm đó, tôi đang nằm vẩn vơ suy nghĩ, cửa con xoạch mở, tên Bằng chỉ tôi:

– Mặc quần áo đi cung!

Đã hơn một tuần nay không gọi. Hôm nay, không hiểu có gì khác chăng? Từ đêm đem tôi đi bắn tới giờ đã hơn ba tháng rồi, cứ một tuần hai, ba lần chúng gọi tôi đi cung. Vẫn những trò dụ dỗ phỉnh phờ, đe dọa, rồi lại tình cảm. Truy hết chỗ này, lại đến điểm khác. Có lúc, chúng bắt tôi viết hẳn lại một sự việc nào đó cho rõ ràng. Tôi vẫn trước sau như một. Có một vài chỗ do cái dốt của tôi đã bị bục, tôi đã phải lao đao vất vả. Bây giờ đã có thêm kinh nghiệm, đã nắm được những mánh khóe khai thác, những động tác thật, giả hầu như tôi đã thấy trước. Tuy vậy, tôi vẫn tỏ vẻ còn ngây thơ, hiểu biết kém. Đôi khi, tôi phải vờ sa vào những cái bẫy chúng đã giương ra, nhưng tôi vẫn chủ động lái nó thành vô hại, hoặc hại ít. Cũng có lúc tôi làm như hoang mang, dao động để chúng khó xét đoán, hoặc sẽ hiểu sai về con người thực của tôi.

Thí dụ: Một hôm 3 đứa hùng hổ đập bàn, xô ghế, nào là xin tha tội xử tử cho tôi, vì tôi còn quá trẻ, chưa suy nghĩ chín chắn; mong đường lối khoan hồng, nhân đạo của đảng sẽ thấm nhuần vào tim vào óc tôi, để tôi sẽ thành thật khai báo hết, v.v…..Nào ngờ, tôi vẫn là một tên ngoan cố ngu xuẩn, chuyến này, cho đi luôn…..Nào là cứu một người là để hy vọng nó sẽ trở nên tốt, chứ không phải cứu một người mà tật xấu vẫn cứ khư khư giữ trong mình, mười thằng như thế cũng bắn bỏ…..

Phải nói rằng, từ ngày chúng đưa tối đi bắn đến giờ, tôi chẳng sợ nữa; ngay dủ bây giờ chúng đem tôi đi bắn thật, tôi cũng vậy thôi. Dứt khoát, tôi không đến nỗi ngắc ngư con tàu đi vừa qua. Tuy thế, tôi vẫn vờ hoang mang lo sợ, xin chúng tha cho. Xin chúng là người trực tiếp với tôi, hiểu tôi đã thành khẩn khai báo mọi vấn đề ngay từ đầu.

Hôm nay, không biết chúng còn giở trò gì nữa đây? Vào tới phòng cung, tôi thấy mặt 3 tên: Nhuận, Đức và Đặng rất lạnh lùng. Trên bàn, trước mặt chúng, một chiếc cặp da đen dầy cộm. Thái độ của chúng hôm nay hơi khác thường. Chúng nhìn tôi rất lâu như muốn xét đoán một cái gì. Cuối cùng, tên Nhuận trang nghiêm:

– Từ ngày anh bị bắt vào đây đã bao lâu rồi?

Tôi nhìn y dè dặt:

– Thưa ông, hơn 10 tháng rồi.

– Anh có biết rằng, trong Nam chúng đã phái ra đây mấy tên để tìm anh không?

Tôi hơi ngỡ ngàng, xen lẫn chút lắng lo trong lòng. Dù thế, ngoài mặt, tôi vẫn xem như họ nói đùa:

– Chúng nó tìm tôi làm gì! Tôi quả quyết là không có ai ra tìm tôi cả. Ở trong Nam, tôi là loại vô danh tiểu tốt. Chẳng qua chúng trả mấy tháng lương, rồi tung ra ngoài Bắc để lấy tiếng vang là chính; còn bị bắt, sống hay chết, chúng đâu còn cần biết đến nữa.

Tên Đặng từ nãy vẫn cứ ngồi yên nhìn và nghe tôi nói, bây giờ đập bàn cái “thình!”, chỉ tay vào mặt tôi:

– Ngậm ngay cái mồm anh lại! Hôm nay tôi báo cho anh biết, và không cần giấu giếm gì cả. Người của chúng tôi từ trong Nam ra, đã báo cáo đầy đủ về anh. Chúng tôi đã thấy bộ mặt thật của anh. Anh là một tên ngoan cố đến cùng, muốn đem trứng chọi với đá, dám đội đá vá trời, dám đánh lừa cả Bộ Công An cách mạng!

Trong khi vừa sỉ vả tôi, y vừa mở cặp lấy ra một cái phong bì dầy cộm. Y chọn, rút ra một tấm ảnh cỡ 6×9, cố ý cho tôi thấy là còn rất nhiều ảnh nữa. Y vất tấm ảnh xuống bàn, trước mặt tôi, gằn giọng:

– Đây, hãy mở mắt ra nhìn. Khôn hồn khai báo lại ngay. Nếu không, lần này chúng tôi sẽ không nương tay với anh nữa, sẽ có biện pháp mạnh!

Tôi thoáng nhìn bức ảnh, dù chưa cầm, tôi đã thấy tim mình như thắt lại. Tấm ảnh Phan và tôi chụp ở góc đường Nguyễn Huệ, trông chéo sang rạp xi nê Rex. Phan cao lớn, mặc áo sơ mi ca rô bỏ ngoài quần, đeo kính đen đang quay chéo mặt về phía người chụp ảnh. Tôi, áo sơ mi trắng, bỏ trong quần, đeo kính trắng. Một tay đang cầm mấy cuốn sách, một tay đang chỉ về phía trước mặt. Mặt tôi nghiêng góc với mày ảnh khoảng 30 độ.

Tôi điếng hồn, suy nghĩ, phản xạ tổng hợp cấp thời. Chúng đã biết hết rồi chăng? Chúng còn nhiều ảnh nữa hay không? Tại sao chúng lại chụp ảnh ở ngoài đường? Có thể chỉ là một tấm duy nhất, bởi vì Phan đã bị lộ, chúng đã biết lâu rồi. Khi thấy tôi đi với Phan, lạ, chúng chụp một tấm, để sau này phòng hờ dùng trong tình huống áp lực về chứng cớ. Tại sao chúng phải cố ý cho tôi thấy, chúng còn nhiều ảnh nữa? Chính cái “cố ý” này cho thấy, đó chỉ là một động tác giả của chúng để gây áp lực tâm lý. Một điều tôi tin chắc, dù cho nằm ngay trong Cục Tình Báo Sài Gòn, nhưng nếu không cùng một công tác, chúng cũng không thể biết được sự việc. Và dù cho cùng một công tác đi nữa, cũng chỉ biết được từng khâu, từng phần, chứ không thể biết toàn bộ. Mấy phút tính toán, phản ứng nhậy lẹ, thành quyết định. Đầu tiên để thăm dò, tôi làm ra vẻ mạnh bạo, nét mặt tươi lên tin tưởng:

– Tôi càng tin tưởng cách mạng hơn. Đây là tên Hòa mà. Như thế này, sự việc của tôi càng được xác minh sớm hơn.

Tên Đức đứng bật dậy, xô lại sát tôi, chỉ tay vào mặt tôi, gầm lên:

– Anh đừng có già họng! Đấy là tên Hòa à?

Tôi mở to mắt ngạc nhiên, cầm tấm ảnh, chỉ khẳng quyết:

– Thưa ông, tôi bảo đảm với các ông, đây là tên Hòa mà! Hàng ngày, y đi với tôi, huấn luyện tôi, tôi còn lạ gì mặt y nữa!

Đây là một điểm tình cờ, mà lại may. Trước đây, khi tôi tả về ông Hòa, tôi thường lấy hình ảnh người cậu họ tôi, béo trắng, to lớn. Ông là chủ hãng xuất nhập cảng hàn vải Vĩnh An ở đường Hồng Thập Tự. Ông Phan cũng to lớn, chỉ có điểm khác là tôi tả cậu tôi da trắng, đỏ hồng, hay mặc áo sơ mi trắng, trong khi ông Phan da bánh mật, hay mặc áo sơ mi ca rô. Nhưng, trông ảnh làm sao phân biệt được da bánh mật hay da trắng! Còn áo sơ mi và trắng, có điều khoản nào bắt buộc ông Hòa cứ phải mặc áo sơ mi trắng mãi đâu. Còn tôi, tôi chỉ biết cái tên “Hòa”, tên “Phan” tôi không biết. Điều gì chứng minh bắt buộc tôi phải biết tên “Phan” khi mà trong tình báo, với mọi người đều dùng tên giả. Vì thế, tôi cứ khăng khăng hình người trong ảnh là tên Hòa. Điều tôi vẫn nơm nớp lo sợ là, nếu chúng đưa một tấm hình nào đó chụp tôi với Cẩn, hoặc với Hoàng Công An, lúc đó tôi chưa biết tính sao. Bởi vì từ trước, tôi chỉ khai tên Hòa duy nhất là người huấn luyện và đào tạo tôi mà thôi. An và Cẩn, người chỉ cao 1m62 là cùng.

Chúng tỏ vẻ tức tối lắm, nhưng xem ý chúng không làm gì hơn được. Qua thái độ tức bực của chúng, tôi càng yên tâm hơn. Nếu chúng có vài tấm ảnh nào khác, chắn chắn chúng sẽ lấy ra ném vào mặt tôi. Tôi cầm tấm ảnh đưa trả lại chúng, mặt tôi đầy vẻ hân hoan tin tưởng:

– Như thế này, tôi đoán cách mạng đã bắt được tên Hòa rồi, và cách mạng đã xác minh được sự việc của tôi. Tôi rất mong, một buổi nào đó, tôi sẽ gặp tên Hòa ở đây để thỏa phần nào lòng căm phẫn của tôi đối với y.

Tên Đặng cười nhạt! Tên Nhuận cầm tấm ảnh, giọng giễu cợt:

– Bình đeo kính trắng, đẹp trai, trông tư cách đấy chứ!

Tôi cười:

– Các ông còn lạ gì xã hội miền Nam! Một anh dốt đặc cán mai, nhưng ra ngoài, cứ ra vẻ ta đây là sinh viên, trí thức, tay luôn luôn ôm chồng sách ngoại ngữ dầy cộm. Hiển nhiên, tôi cũng lây cái nét giả tạo ấy. Mắt tôi có sao đâu, thế mà cũng đeo kính trắng gọng vàng, loại không độ. Bây giờ nghĩ lại, tôi còn thấy ngượng.

Hôm nay, chúng tưởng với tấm ảnh ấy, chúng sẽ làm tôi tan hoang, hoặc ít nữa cũng phải bục ra một số mảng. Nhưng cuối cùng, vẫn không giải quyết được gì, chúng bầm gan, tím ruột!

Tên Đặng cộc lốc:

– Đi về!

Tôi về xà lim, thật hú vía! Tuy thế, lòng tôi vẫn đầy lo lắng. Tôi hiểu sự việc chưa thể yên được.

Từ ngày tôi bị phát hiện, rồi bị theo dõi ở nhà thờ “X‟ tôi đã nhiều đêm ngày suy nghĩ vì sao tôi bị phản gián phát hiện. Tôi tập trung tư tưởng: nhìn, xét, rọi, soi lại từng điểm. Từng khía cạnh, từng sự việc, từ điểm đổ bộ ở Kỳ Phương cho đến khi tới Hà Nội, những ngày vào Việt Đức, lúc sang Gia Lâm…..Tôi không thấy một điểm nào nghi ngờ để bị địch phát hiện. Như vậy, tôi bị địch phát hiện, chỉ có thể:

1) Từ nơi linh mục A. Linh mục đang bị Cộng Sản bí mật theo dõi. Tôi mò đến, nên chúng tìm về nhà trọ để xác minh. Mà đã xác minh, chân tướng tôi lòi ra ngay.

2) Từ Paul Lạng ở Paris. Có thể y là nhân viên “hai mang”. Để lấy tiền, y đã cung ấp cho phản gián Hà Nội biết rằng sẽ có một người xâm nhập Hà Nội, nhưng không biết đích xác ngày tháng cũng như nhiệm vụ. Nếu đúng như vậy, phản gián Hà Nội phải tìm ra là tất nhiên. Nhưng điểm này yếu khả năng hơn điểm trên.

Tôi mất bao ngày đêm nặn óc suy nghĩ, nhưng vì thiếu cơ sở để nhìn, để xét, cho nên tôi vẫn chưa thể khẳng quyết là do điểm một, hay điểm hai. Bây giờ, lại có thêm tấm ảnh của Phan và tôi. Với tấm ảnh trong điều kiện như hôm nay, tôi chưa thể có ý kiến gì, phải đợi những ngày kế tiếp mới sáng tỏ.

Tên Tân bị cùm đến ngày thứ tư, thì mụ Hoa vào gọi đi cung. Qua gần 2 tháng trò chuyện với tên Tân, tôi được biết y chỉ có một chấp pháp duy nhất tên là Châu. Cũng thuộc phòng 44, phòng hỏi cung chính trị. Vậy mà tôi, sao nhiều chấp pháp thế! Trước sau đã 6 người rồi. Mỗi buổi hỏi cung lại thường có từ hai, tới ba người. Có lẽ tại tôi là một điệp viên, có nghiệp vụ, được đào tạo huấn luyện bởi những cơ quan tình báo của một quốc gia, cho nên, để khai thác chúng phải mất nhiều tâm sức hơn?

Tên Tân đi cung gần hai tiếng đồng hồ đã về ngay. Tân đã vào buồng mà tên Tư vẫn chưa đóng cửa. Vẫn đứng ở ngoài, trong khi tên Tân vội vàng quấn chăn màn và quần áo. Tân quay lại tôi nói nhanh:

– Tôi được ra trại chung, vụ án của tôi sắp xử.

Y ôm các thứ ra tới cửa, quay lại gật đầu chào tôi. Cửa đóng, rồi khóa. Tôi thấy nhẹ hẳn người. Từ nay một mình, dù buồn hơn, nhưng không làm phiền toái ai, tôi cảm thấy dễ chịu, tự do hơn.

Ngày hôm sau nữa, tôi lại nghe cán bộ vào bảo cô gái bị cùm, phía trái của buồng số 7 mang chăn màn, quần áo ra trại chung. Cô đó đi được hơn một tiếng, rồi cô bị cùm phía phải cũng đi, rất im lặng. Tôi cố gắng nghe để phán đoán, nhưng cũng không hề nghe thấy một âm thanh gì. Như thế, sự nghi ngờ của tôi cô “phía phải” là tù giả cùng chắc đúng hơn nữa… Mặc dù mỗi người một buồng, họ ra đi, lòng mình cũng thấy mang mang vắng lặng.

Buồng số hai cũng một người ra trại chung, cùng với hôm Tân đi, có lẽ là người anh họ cùng “vụ” với Tân. Như thế, hiện nay xà lim chỉ còn có 4 người: Một ở buồng số 1, bị cùm một chân, một ở buồng số 2, không bị cùm; một ở buồng số 4 là tôi và một ở buồng số 5, không bị cùm.

36. “Đòn Thù” Của Chấp Pháp và Những Cay Đắng Của Đời Tù

9 tháng 4, ngày mà tôi nhớ mãi, sau hôm tôi đi cung được 5 ngày. Sáng hôm đó, tên Tư mở cửa buồng cho rửa và đổ bô xong. Tôi đang ngồi mài móng tay xuống sàn xi măng chờ cơm sáng, bỗng cửa con xoạch mở. Theo cách mở cửa con và khóa cửa lớn, tôi đã biết ngay là người lạ. Tôi nhìn lên, cửa con đóng lại và cửa lớn mở to. Đứng ngay giữa cửa là tên Lê, trung úy Phó Giám Thị, phía sau có tên cán bộ Tư. Nhìn tôi, tên Lê nghiêm trang, nói giọng Bắc:

– Theo lệnh trên, anh bị cùm hai chân. Vậy hãy nghiêm chỉnh chấp hành!

Tôi choáng váng đến lặng người đi. Tôi bị cùm hai chân! Như thế này, chỉ có tê rồi chết thôi. Tôi đờ đẫn người hỏi, trong khi tên Tư bên ngoài đã rút chốt cùm ra chờ đợi:

– Thưa ông, tại vì sao tôi bị cùm hai chân ạ?

Tên Lê gằn giọng:

– Đó là lệnh trên, anh hãy cứ chấp hành!

Một màu u xám như sụp xuống chung quanh tôi. Tôi hiểu, gian khổ cùng khốn lại đoạ đầy tấm thân khốn nạn của tôi. Còn biết nói năng chi, tôi nhấc cùm và từ từ nhấc chiếc chân còn lại ở ngoài đặt vào cùm, tâm tư tôi như đi vào nhà mồ.

Đóng chốt cùm xong, tên Lê ra tới cửa còn quay lại:

– Hãy suy nghĩ kỹ đi, kẻo rồi không sống được!

Tiếng cánh cửa buồng đóng mạnh. Tiếng lạch cạch của then sắt cài cửa như cào vào trái tim đang rỉ máu của tôi. Lần này rõ ràng rồi! Tụi chấp pháp cùm tôi, vì cho tôi ngoan cố, không chịu khai báo sự thật.

Lần trước, chấp pháp còn lấp lửng “chúng tôi không cùm anh”, vì lúc đó chùng còn nấp sau cái mặt nạ “dân chủ”, lấy “chính nghĩa” phục vụ nhân dân, lấy “khoan hồng” giáo dục con người sai phạm là chính. Bây giờ, chúng hất cái mặt đó ra rồi, hiện nguyên hình là những con quỷ, đầy mồm nanh vuốt với hai bàn tay máu.

Cùm hai chân, khổ cực nhất là cảnh đái và ỉa. Đi đại tiện, tôi phải cố tập hai ngày đi một lần. Nhưng đi đái, dù uống ít nước, ban ngày phải 3, 4 tiếng đi một lần; còn ban đêm, từ 9 giờ tối đến 6 giờ sáng tôi mới dậy đi. Đó là với điều kiện ngủ, chứ vì đau đớn không ngủ được, một đêm cũng phải đi 2, 3 lần. Lúc đi đái, dù cố gắng bằng cách nào, tôi cũng vung vãi cả ra nhà và trên sàn ngủ. Bởi vì, tôi chỉ có một thế duy nhất: nằm nghiêng ở giữa sàn, rồi từ giữa sàn tiểu xuống dưới bô, có khi vào bô, có khi không.

Gặp khó khăn phải đẻ ra sáng kiến. Đó là phương châm đối với tất cả mọi sinh vật. Sau hai đêm, chân tôi tê và mỏi nhừ. Nhưng, bứt rứt và khó chịu nhất là hai cái đầu gối không thể gập hẳn lại được. Đa số thời gian tôi phải nằm nhiều. Còn ngồi, thì ở cái thế gù gù, đầu phải gục về phía trước, rất mỏi, không thể ngồi lâu được. Vì vậy, tôi nghĩ nếu lúc cùm vắt chéo hai chân, chân phải sẽ ở bên trái và ngược lại, chân trái sẽ ở bên phải. Như thế, muốn nằm, phải nằm xấp, và chỉ nghiêng về một phía. Nhưng, được cái lợi là quỳ lên rồi ngồi gập lên cái cùm, lúc đó, chân gập sát được, thoải mái hơn.

Nghĩ như vậy, buổi sáng hôm sau, ăn cơm rồi trả bát xong, tôi vắt chéo hai chân. Lão Tư nhìn tôi với vẻ ngạc nhiên. Lão định hỏi, nhưng nghĩ thế nào lại thôi, rồi lão đóng cửa cài then. Tôi lựa thế xoay úp người xuống sàn, chống tay quỳ lên, rồi ngồi lên cái cùm, hai chân gập lại phía dưới mông đít. Thế ngồi thật vững chãi, nhất là hai chân được gập được sát lại mông. Ngồi một lúc mỏi, tôi lại chống tay xuống sàn, từ từ nhoài người ra phía trước, nằm sấp. Như thế, hai chân duỗi ra được thẳng hơn. Tôi cảm thấy dễ chịu hơn hẳn thế cùm cũ. Tuy vậy, cũng có điều bất tiện của nó là không đi đại tiện được, vì không có thế nào để đưa mông ra được sát mép sàn. Còn đi tiểu tiện, chỉ có một thế duy nhất là quỳ lên, rồi từ giữa sàn cho chéo xuống dưới bô. Thế này có lợi là tôi nhìn thấy miệng bô, nên ít văng ra ngoài, nhưng nước giải rớt ra sàn ngủ nhiều hơn. Tóm lại, kiểu cùm này chỉ có thể dùng ban ngày, từ bữa cơm sáng lúc 9 giờ cho đến bữa cơm chiều lúc 4 giờ. Về đêm, nên đổi lại thế cùm bình thường. Tuy thuận tiện hơn nhau không bao nhiêu, nhưng điểm lợi là chân luôn cử động được, mạch máu lưu thông, giảm bị tê bại chân.

Tôi đang ngồi chễm chệ trên cùm, mắt mơ màng nhìn lên một khoảng trời con, rộng chừng 10 phân giữa mép dưới cửa sổ và riềm mái ngói chạy dài theo cửa sổ. Trong cái khung trời này có 6, 7 cái lá nho của giàn nho phía sân trước Hỏa Lò, nơi mỗi khi tôi đi cung đều có đi qua, cửa con bỗng xoạch mở. Tôi quay lại, chỉ kịp thoáng thấy bộ mặt của lão Tư. À ra thế! Khi nãy, thấy tôi vắt chéo hai chân cùm, y không biết tôi định làm gì, vì vậy y mới để ý theo dõi. Bây giờ, y bất chợt mở cửa kiểm tra. Thấy tôi ngồi như vậy, y đã hiểu, nhưng chẳng có gì nói được tôi, nên y lại đóng cửa con lại. Tuy chỉ là một khung trời nho nhỏ với mấy chiếc lá nho xanh rờn, nhưng nó cũng làm cho tâm hồn tôi được thêm một chút thi vị, còn hơn là chỉ nhìn thấy 4 bức tường và hai cái cùm, không một chút sinh khí. Nhiều lúc bâng khuâng, nhìn những chiếc lá nho xen kẽ những mảnh trời xanh xanh, hồn tôi buông trôi dật dờ, như ký thác, gửi gấm những nỗi niềm đầy vơi của mình mà quên đi được phần nào cái nhức mỏi của đôi bàn chân trong cùm.

Mấy hôm nay, người lại đưa vào đầy xà lim. Buồng nào cũng có người. Lúc gần trưa thấy tiếng mở cửa xà lim, tôi nghe giọng một người Tầu, nói tiếng Việt không rõ:

– Téo mẹ, tui làm sao mà pắt tui?

Và ngay sau đó, tiếng quát:

– Câm mồm!

Tiếng mở buồng số 6, tiếng rút chốt cùm. Tiếng lão Tư cao giọng:

– Bỏ chân vào!

– Tui làm sao lại cùm cái chân tui!

Tiếng xô động huỳnh huỵch, tiếng đóng chốt cùm, tiếng đóng cửa cài then. Rồi im lặng, tôi vểnh tai nghe ngóng. Vẫn im lặng, có lẽ các buồng khác cũng đang vểnh tai nghe những âm thanh để suy đoán như tôi. Im lặng một lúc, tôi lại dõi hồn vào những chiếc lá nho. Vài cơn gió nhẹ, những chiếc lá nho rung rinh, đong đưa như đùa cợt với gió. Bỗng một giọng khàn khàn cất lên nghe rõ mồn một:

– Chúng mày không cho làm ăn puôn pán gì cả!…Vợ con tau ăn cái sắn mà không có ăn…Mua cái tậu, mua cái muối, xếp hàng dài dài mà không mua tược!…..Chúng mày giết vợ con tau đi, giết tau đi!…..Téo mẹ cái Cộng Sản! Téo mẹ cái cách mạng!…..

Càng lúc giọng càng ầm vang, nhiều khi như gầm lên. Qua giọng nói, tôi đoán ông này cũng đã có tuổi, phải từ 35 đến 40. Có tiếng cửa con xoạch mở, rồi tiếng lão Tư sắc, đanh:

– Câm cái mồm lại, mày muốn chết hả?

Tiếng người Tầu gầm lên như điên rồ:

– Mày giết tau đi! Téo mẹ chúng mày! Tau không muốn cái sống nữa! Chúng mày làm cái dân không có cơm ăn! Téo mẹ cái tồng chí, téo mẹ cái Cộng Sản!

Tiếng lão Tầu gầm thật to, vang ra cả ngoài sân khu giàn nho. Mấy tên cán bộ chạy vào. Một giọng lạ như ra lệnh:

– Khóa mồm nó lại. Không chịu nữa, cho xuống “cát xô”!

Lão Tầu gần như điên khùng, không biết sợ là gì, lão vẫn chửi. Một lúc sau, có tiếng mở cửa buồng. Rồi những tiếng huỳnh huỵch vùng vẫy và giọng của lão Tầu cứ xìn xịt, phì phì như tiếng của con chó bị buộc mõm. Tiếng cửa đóng nghe “xầm”, rồi xà lim lại trở về vắng lặng. Thỉnh thoảng tiếng xìn xịt hổn hển của buồng 6 cứ như cào vào tim của mọi người trong xà lim. Tôi nhớ lại hình ảnh chiếc cùm mồm lúc tôi mới bị bắt vào. Khi đó, tôi còn bị đánh máu me đầy người, lại còn bị cùm hai chân. Nghĩ đến, tôi còn thấy tim mình như bóp thắt, gáy tôi còn rờn rợn. Ở đây, ông Tầu chỉ bị cùm một chân, nhưng chắc cũng không gãi được, vì nếu đã bị cùm mồm thì phải khóa tay ra sau, nếu không, tay sẽ mở được cái vít dưới cằm. Tôi thở dài, thông cảm của ông.

Tôi nhớ lại lúc bị cùm hai chân dạo ấy. Khi đó, phần vì mới vào cơ thể của tôi còn có chất dự trữ, còn sức lực để chịu đựng, hơn nữa, đang ở thời gian liên tục đi cung, nên coi như chỉ bị cùm về đêm. Ban ngày hai chân được nghỉ ngơi, thay đổi, máu chạy điều hòa, ít bị tê xuội. Vậy mà tôi cũng chỉ chịu đựng được gần 40 ngày rồi không đi được nữa. Bây giờ, chúng lại không gọi cung nữa. Tôi đã nổ lực phấn đấu bằng cách luôn luôn thay đổi thế cùm, vất vả đau đớn lựa thế duỗi ra co vào như tập thể dục, thế mà bàn chân khi sờ vào cứ bì bì, căn cắn. Tay sờ vào chân, cảm giác như sờ vào chân người khác.

Ngày 16 tháng 4, tên Tư mở buồng, thu hết chăn màn và áo trấn thủ. Khi y tới buồng tôi, tôi nằn nì, khẩn khoản:

– Thưa ông, tôi chẳng có một cái gì ngoài hai bộ quần áo cũ. Đề nghị ông thông cảm, cho tôi mượn lại một chiếc chăn, tôi xin đội ơn ông và nhà nước.

Y quắc mắt, gằn giọng:

– Nguyên tắc là nguyên tắc. Không nói nhiều!

Tôi đành cởi áo và gấp hai chiếc chăn đưa cho y với bao nhiêu luyến tiếc hận sầu. Y ném xuống đất, phía ngoài cửa. Y như kinh tởm khi cầm tới chiếc chăn, mũi y nhăn lại. Cửa đóng rồi, mà lòng tôi còn ngẩn ngơ tiếc nuối. Tôi hiểu rằng những ngày tới, trong tình trạng cùm kẹp này, tôi còn phải chịu đựng nhiều khổ sở khó khăn hơn nữa. Có tiếng người lục đục vào ôm những chiếc chăn phía ngoài cửa. Chắc là một anh tù hình sự nào đó đi thu chăn về để giặt và nhập kho. Như vậy là hàng năm, cứ 16 tháng 10 thì cho mượn chăn, và 16 tháng 4 thì thu lại.

Chiếc loa ở cổng trại chung đã như cái đồng hồ. Ngày nào cũng như ngày nào, sáng đúng 5 giờ tiếng loa bắt đầu với những bài tập thể dục ở trên đài. Giọng một cô gái thanh thanh kéo dài 1, 2…..theo từng động tác, nghe có lúc như tiếng hò kéo gỗ ở một công trường lao động đổ mồ hôi, có lúc lại dồn dập khẩn trương như tiếng đập lúa trong ngày mùa của một hợp tác xã nông nghiệp. Sau 15 phút tập thể dục, tới mục “thanh niên”, rồi đến công trường, nhà máy, bản tin. Từ 6 giờ tới 6 giờ 30 là mục “Quân Đội Nhân Dân”,v.v…Tiếng loa cứ the thé chọc vào tai mọi người cho tới 8 giờ thì câm bặt. Đến 12 giờ trưa lại nheo nhéo. 1 giờ lại tắt họng, để đến 5 giờ chiều lại bắt đầu hò hét cho tới 9 giờ tối mới chịu ngủm củ kiệu.

Trong một tuần, sáng thứ Hai và thứ Sáu là hai ngày “giao và đưa hàng”, đó là những từ, tôi nghe tụi cán bộ thường xuyên nói chuyện với nhau. Ngay từ 3, 4 giờ sáng, lúc chưa có tiếng loa phát thanh, ở chỗ sân giàn nho sát với cổng trại chung, tiếng rì rầm, ồn ào hỗn độn của tù, xen lẫn với những tiếng quát tháo của những tên cán bộ, bộ đội về cơm nước, cùm, khóa…để đưa tù đi trại trung ương. Tôi nằm nghe theo dõi những tiếng rì rầm bàn tán. Có ngày là tù chính trị, có ngày là tù hình sự. Như vậy, ở trại chung, hoặc ở xà lim, anh nào sẽ phải đi trại nào, ngay từ tối hôm trước đã được gọi ra tập trung ngủ ở một ngôi nhà gọi là “buồng vãng lai”. Sáng sớm 3 giờ đã được gọi dậy ra chỗ giàn nho phía bên ngoài tường của xà lim II, để nhận cơm nắm, rồi đọc tên, khóa tay chung, cứ hai người một. Tù thường không biết mình sẽ đi trại nào. Nhưng, tôi nằm trong này tôi đã biết trước họ. Ngoài cổng trại chung, sát phía bên kia cũng là địa điểm để xe đạp, những giờ tan tầm, cán bộ thường tập trung lại đó, đôi khi bàn tán, đùa cợt, hỏi han nhau. Vì thế từ chiều hôm trước, có khi tôi đã biết tù ngày mai đi trại nào rồi như: Vĩnh Quang, Phú Sơn, Vĩnh Tiến, Tân Lập, Phố Lu, Phong Quang, Trại 5, Quyết Tiến hay “Cổng Trời”, v.v…..Cũng từ địa điểm này, đôi khi nghe được nhiều chuyện giữa cán bộ bàn luận, hỏi nhau trước khi về, hiểu thêm được về chúng và về xã hội miền Bắc.

Ngay bữa cơm chiều hôm đó, tên cán bộ hỏi buồng số 6:

– Cái mồm còn la nữa hay không?

Im lặng một lúc, rồi tiếng mở cửa buồng:

– Từ nay, tôi chỉ nghe anh la một tiếng, tôi sẽ cùm cả hai chân, khóa mồm cho vài ngày. Lúc đó, chỉ có chết.

Lục đục một lúc. Có lẽ tên Tư mở khóa tay, mở khóa mồm, rồi tiếng mở chốt cùm. Tiếng chân lẹt đẹt ra lấy cơm và lấy nước. Tiếng đóng cửa.

Như thế là ông Tàu đã biết sợ rồi. Ai mà không sợ! Chết ngay không sợ, nhưng phải sợ kiểu cùm khóa như vậy. Tôi đã nếm gần hai ngày, bây giờ còn thấy ngán.

Ngay hôm sau, tôi lại nghe thấy tiếng mở cửa buồng 6, tiếng quát tháo bảo ôm quần áo ra trại chung. Tôi suy đoán, có thể anh Tàu này vì bất mãn chán chường, chửi bậy ở địa phương hay ngoài đường phố nên bị công an bắt. Bị giữ ở đồn, vẫn chửi, nên sau đó bị đưa vào Hỏa Lò ở trại chung; nhưng ở trại chung, vẫn cứ điên rồ chửi bới la hét, nên mới bị đưa vào xà lim. Vì thế, bây giờ thấy anh ta biết điều rồi, nên được đưa ra trại chung lại, chứ anh ta chả có tội gì đặc biệt cả.

Vào một buổi sáng sớm thứ Sáu, tôi đang mơ màng thiếp đi sau một đêm quằn quại vì đôi chân nhức mỏi, vì cơ thể cũng rã rời thiếu ngủ, thiếu ăn và cứ phải nằm trong những thế gò bó, những tiếng xụt xịt, tiếng the thé cãi cọ nhau của nhiều người con gái phía bên ngoài tường làm tôi thức dậy. Có lẽ lúc đó độ 3 giờ rưỡi, 4 giờ sáng…?

Tôi lắng nghe, được biết những người tù nữ này đi trại Mỏ Chén. Tôi cũng chẳng biết trại Mỏ Chén ở đâu cả. Qua những tiếng đếm cơm, phát cơm, rồi khóa tay, v.v… Tổng số người là 43. Có hai cô cãi cọ giành nhau là người thứ 43, lẻ, không phải khóa tay. Vẫn nghe có những tiếng khóc tỉ tê, sướt mướt, nức nở, rồi có tiếng một cô quát:

– Không cầm lấy cơm, con đĩ! Còn khóc mãi….!

Lại có một giọng khác cất lên lanh lảnh:

– Tổ sư bố con đĩ, ăn cho lắm “đầu cá khô” vào, bây giờ còn ngồi đấy mà khóc! Làm thối cả ruột người khác nữa!

Tôi rất ngạc nhiên, không hiểu họ mắng nhau như vậy là nghĩa gì! Nghĩ một lúc tôi chợt hiểu. Dù đang đau, tôi cũng phải mỉm cười cho cái kiểu ví von ngộ nghĩnh của họ. Sau lúc họ được lệnh ra xe ngoài cổng Hỏa Lò, tôi không ngủ lại được nữa. Đầu óc lại cứ bập bềnh nhấp nhô chảy dài trăm ngả cuộc đời…

Tôi nhớ lại những ngày dong duỗi trên khắp các nẻo đường Hà Thành. Ngay từ 1954, khi còn là một cậu bé 15, 16 tuổi, tôi đã nhìn thấy các cô nữ sinh Hà Nội, nhất là các nữ sinh Trưng Vương, đẹp, mềm mại duyên dáng tuyệt vời. Rồi, tôi vào Sài Gòn. Tôi lại được chiêm ngưỡng vẻ đẹp của các nữ sinh Gia Long, Trưng Vương với những đôi mắt huyền, làn da trắng bóc, gót chân đỏ hồng; với ngực nở, eo thon, mông to; với chiếc nón bài thơ nghiêng nghiêng; hai bàn tay đeo “găng” trắng muốt, cỡi trên chiếc solex đen (tương phản với màu của áo quần, của đôi “găng”, của chiếc nón và của da thịt), tất cả tạo thành một bức tranh không còn từ gì dể mà ca ngợi.

Bây giờ tôi lại trở về Hà Nội, đất ngàn năm thanh lịch của đài các trâm anh, ngoài những mặt tôi phải tính toán đấu tranh với kẻ thù Việt Cộng, tôi cũng muốn tìm lại những bóng dáng mỹ miều của người con gái thủ đô lúc này ra sao. Thế mà, gần một tháng trời, suốt ngày tôi lang thang khắp 36 phố phường, nhiều khi cả đêm tối, tôi chẳng thấy một cô nào gọi là khả dĩ sánh với Hà Nội năm xưa, và Sài Gòn ngày nay. Họ biến đâu hết! Chỉ có một lần, vào một buổi sáng, trời thật trong không một vẩn mây, đang đi trên đường Hàng Chiếu, tôi thấy từ “ban công” của một căn nhà lầu sát phố, một cô gái chừng 18, đôi mươi, nước da trắng hồng, bộ mặt trái soan với đôi mắt bồ câu, đang làm những động tác thể dục. Tôi liếc nhìn lên, cũng là lúc cô nhìn xuống. Từ trên vai trở xuống mông, tôi thấy như gần bằng nhau. Có thể lúc đó cảm xúc so sánh của tôi còn sắc nét, bởi vì vừa mới ở Sài Gòn ra, nên mới thấy rõ như vậy. Chứ những năm tháng sau này, khi hình ảnh so sánh đã mờ nhạt do chất chồng thời gian, tôi lại thấy những cô gái miền Bắc vẫn còn nhiều cô đẹp, mặc dù tôi chỉ ở núi rừng, và chỉ nhìn thấy những “bà” cán bộ thôi.

Thế mới sợ cho tâm lý con người. Nhìn sự vật phải có điều kiện. Cộng sản đã tích cực lợi dụng khía cạnh này để thống trị con người. Chúng làm mất dần ý niệm so sánh suớng khổ, xấu đẹp, lẫn lộn yêu nước chân chính và phản dân tộc vô tình. Vì thế, nếu ta có nói, người dân cũng không tin.

37. Chết… Hụt

Đã vào hè, thời tiết càng ngày càng oi nồng và muỗi. Xà lim 2 thật nhiều muỗi, có lẽ vì cửa sổ to, lại thấp nên muỗi nhiều vô kể.

Phải nói rằng, tôi kiệt sức một phần vì cùm, nhưng còn một phần nữa vì muỗi. Tôi thường lấy ngày làm đêm, lấy đêm làm ngày. Suốt đêm, tay cứ phải cầm áo xua đuổi muỗi. Rồi những lúc mệt mỏi quá thiếp đi, tay chân lại đầy lên nốt muỗi. Ở xà lim 3 vậy mà ít muỗi hơn. Có lẽ vì cửa sổ nhỏ, lại ở mãi tít tận trên cao, cho nên các chú muỗi cũng khó vào. Những người ở buồng khác hầu như đều có màn. Những lúc tắm giặt đem quần áo ra chỗ nhà vãng lai phơi, thỉnh thoảng tôi thấy có màn phơi. Cụ thể, hai người ở chung với tôi trước đây là Hoàn và Tân, họ đều có màn cả. Hơn nữa, những buổi đêm tối, chỉ có buồng tôi có tiếng động, đập và đuổi muỗi; các buồng kia im vắng, có chăng chỉ là tiếng kêu rên ban đêm. Như thế, cả xà lim này, ban đêm, chỉ có mình tôi phải đón nhận tất cả các con muỗi. Ôi khổ cực thân tù: “Mùa Đông rét mướt, mùa Hè muỗi bu!”.

Có thể vì cơ thể tôi không còn chất để chống đỡ, lại do người tôi bẩn thỉu, cứt đái, hôi hám, cho nên những nốt muỗi cắn dần dần trở thành ghẻ, ngứa ngáy bắt gãi suốt ngày đêm. Từ nhỏ tới lớn chưa hề bị ghẻ lần nào, chưa biết ghẻ là gì, bây giờ ghẻ suốt cả người, nhất là ở háng, nách, kẽ tay, kẽ chân, trông như hủi. Ngứa ngáy quá tôi không chịu nổi nữa, tôi báo cáo với lão Tư để xin thuốc ghẻ.

Tôi phải báo cáo nhiều lần, một hôm mụ Dậu mới xem tôi. Đã lâu không gặp tôi, con mắt mụ nhìn tôi như đượm một chút ngạc nhiên, một chút xót xa cho một người chóng tàn lụi như vậy. Mụ cho tôi một chai thuốc, nhưng tôi chỉ được để ở ngoài chỗ đuôi suốt cùm, phía sàn bên. Hàng ngày khi được mở cùm ra lấy cơm, tôi phải báo cáo cán bộ, tranh thủ đứng đấy bôi, rồi để lại chỗ cũ. Chúng sợ tù tự tử. Uống thuốc ghẻ không chết, nhưng làm cho chúng mất công. Vì điều kiện chữa và bôi như thế, nên ghẻ không thể khỏi được.

Đã gần 30 ngày cùm hai chân rồi mà tôi vẫn không được gọi đi cung. Bây giờ, hai chân tôi cứ cắn nhức ở trong xương. Hàng ngày ra lấy cơm, tôi không thể đi nhanh được nữa. Tôi lặc lè những bước đi rất khó khăn, vừa đau nhức, vừa như không nhấc nổi hai chân. Dần dần hai mu bàn chân của tôi tự nhiên sưng múp lên. “Nam túc, nữ mục”. Tôi nhớ các cụ già nói thế. “Đàn ông chân phù, đàn bà mắt phù”, đó là triệu chứng của sự chết! Chuyến này, chắc tôi phải chết. Chúng chả cần phải bắn tôi. Nếu bắn, chết ngay đâu có khổ. Nhưng ở đây, chúng bắt tôi chết dần, chết trong quằn quại, ngắc ngoải, khổ đau; bắt tôi phải nhìn cái chết đến dần dần.

Tôi hiểu lòng dạ chúng như vậy. Là người Công Giáo không được tìm cách tự tử. Nhưng, dù muốn tự tử trong tư thế này, tôi cũng không có cách gì tự tử được cả. Anh có gan đập đầu vào tường không? Hay chỉ dang dở, để rồi không chết dược mà lại sống mang bệnh thần kinh? Vả lại, tâm lý con người, trừ trường hợp cá biệt, còn nói chung, dù biết là sắp chết, trong lòng vẫn níu kéo từng giây, từng phút để sống.

Phải nói, tư tưởng của tôi bây giờ cũng suy sụp lụi tàn rồi. Chân thì nhức buốt, người lại rã rượi ngứa ngáy như điên, tôi không còn đâu tinh thần để phấn đấu nằm xuống,ngồi lên cho mạch máu lưu thông nữa. Tuy thâm tâm tôi hiểu rằng, càng chán nản tiêu cực như vậy, càng đi nhanh đến chỗ chết. Ngay cả khi lấy cơm ăn, tôi cũng phải bò ra, vì không đi được nữa. Có lần, tên cán bộ thấy tôi chậm chạp quá lâu, mất nhiều thì giờ của hắn, hắn kéo tôi vào buồng, để rồi cả bát cơm canh đổ ra đất. Tôi phải bò theo để bốc, nhặt vào, chỉ còn một chút cơm với mấy cọng rau. Chỉ vì, y không dám sờ vào người tôi, sợ bẩn, sợ ghẻ; y cầm vai áo của tôi mà kéo nên mới đổ như vậy.

Có lẽ y đã nhìn thấy tôi như thế này, vừa mất thì giờ của y, đồng thới tôi sẽ chết, nên y đã bao cáo thế nào đó, chiều hôm ấy, tên Lê vào. Lê phải mở cửa buồng to ra, mà vẫn đứng ở mép cửa, chắc hẳn vì cái buồng hôi thối lắm rồi. Y nói vẻ dìu dịu:

– Tại sao anh ngoan cố không chịu thành khẩn khai báo?

Tôi nói giọng hổn hển vì mệt và pha lẫn một chút niềm xúc động.

– Tôi…khai hết rồi, nhưng…các ông ấy không tin.

Cửa đóng rồi, tôi nằm xuống. Tôi nằm, cảm thấy dập dờn như đi trên thuyền. Tai cứ nghe những tiếng lùng bùng, o o , tôi chưa bao giờ thấy cơ thể mình như vậy. Có lẽ, tôi sắp chết, chết đêm nay.

Đã 43 ngày rồi, cơ thể không còn sức chịu đựng nữa. Hai chân tôi cứng đơ ra. Tôi muốn lùi người xuống để cho cái chân co lại một chút, nhưng tôi chống tay mà không còn sức để lết. Tay tôi rủn ra, yếu đuối quá! Tôi bằng lòng chết, không thắc mắc gì nữa. Xin Chúa hãy cho con chết! Cho con chết đêm nay, con xin cảm tạ Chúa! Bây giờ muỗi cứ đốt, tao không tiếc chúng mày nữa. Đàng nào thì máu tao cũng thành tro bụi, đất cát, vậy chúng mày cừ dùng đi…Tôi cũng không còn cảm thấy ngứa ngáy nữa. Tôi lịm đi…

Tới khi có ai đó kéo tôi dậy. Tôi mở mắt ra, thấy một ông mặc áo “blouse” trắng, đang cầm tay tôi tiêm. Tôi nhìn. Tôi không còn nằm xà lim nữa, mà nằm trên một cái giường gỗ. Tôi cố cúi nhìn xuống hai chân. Hai chân tôi không còn trong cùm mà giạng ra ở cuối giường. Như thế, chúng đã tháo cùm tôi từ bao giờ. Đây là đâu? Tôi tự hỏi. Sao tôi không hề biết gì cả? Tôi đoán đây là tên Huệ, y tá, có lần tên Tân nói với tôi về y. Để y tiêm xong, tôi hỏi y với giọng còn run run xúc động:

– Thưa ông, đây là đâu ạ?

Mặt y tươi tỉnh nhìn tôi:

– Bệnh xá!

Rồi y hạ thấp giọng, tình cảm:

– Đêm qua, tôi tưởng anh đi luôn rồi. Anh có một sức sống kỳ diệu!

Vừa nói, y vừa đứng dậy, cầm khay thuốc sang phòng bên.

Tôi nằm, miên man nhớ lại lần lượt; chiếu tối hôm qua, tự nhiên tôi thấy người như nhẹ nhàng, không còn cảm giác đau đớn và ngứa ngáy nữa… Rồi, không biết làm sao, tôi như thấy mình về lại Sài Gòn. Tôi gặp mẹ tôi. Người còn cho tôi một cuốn sách chữ vàng rất dầy, và nói: “Đây là một cuốn sách quý lắm!”… Như vậy, chắc là tôi đã xỉu đi. Rồi một cán bộ nào đó, vô tình đi kiểm tra các buồng, thấy tôi như vậy, nên đã gọi người và xin lệnh đưa tôi xuống bệnh xá. Âu đây, cũng là cơ trời, số của tôi chưa chết được!

Nghĩ tới đây, tôi lại thấy người bắt đầu ngứa ngáy. Tôi thử nhấc hai chân, thấy hơi nằng nặng, nhưng được. Tôi lựa thế, cố gắng ngồi dậy. Tuy hơi khó khăn, nhưng tôi ngồi dậy được, và tôi bắt đầu gãi. Chỗ tôi nằm là một căn buồng nhỏ, chẳng có ai.

Bỗng cửa mở, tôi thoáng nhìn ra một căn phòng rộng ở bên cạnh, có nhiều giường cá nhân, trên đó, lố nhố một số người gầy như những bộ xương đang nằm. Mụ Dậu vào, mắt mụ sáng lên nhìn tôi:

– Hôm qua, tôi tưởng anh chết rồi!

Tôi nhìn mụ bằng con mắt cám ơn. Tôi thoáng có ý nghĩ, làm cách nào xin được thuốc ghẻ? Thấy mụ định đi ra, tôi đánh bạo lên tiếng:

– Thưa bà, ghẻ tôi ngứa lắm. Xin bà cho tôi thuốc…?

Mụ vừa gật đầu, vừa đi ra. Thái độ của mụ tỏ vẻ tích cực giúp tôi chữa ghẻ.

Mót giải, nhìn quanh, tôi thấy một cái bô ở góc buồng, tôi cố gắng tụt xuống và chậm chạp lê bước đến chỗ cái bô. Tôi cảm thấy khỏe hơn ngày hôm qua, hôm kia nhiều. Mấy bữa đó, tôi không còn đi được. Như thế, có thể nhờ được tiêm thuốc nên tôi hồi sức.

Tôi trở về giường. Hai chân tôi vẫn sưng múp, nặng chình chịch. Tôi mệt mỏi nằm xuống, đúng lúc đó tên Huệ mở cửa đi vào, theo sau là một anh tù hình sự, bưng một tô cháo, khói bay nghi ngút. Huệ đưa cho tôi một lọ thuốc ghẻ.

Thấy có vẻ dễ chịu, tôi hỏi:

– Thưa ông, tôi được ở đây bao lâu?

Vẻ mặt đắn đo, y dè dặt:

– Tôi không rõ, nhưng chắc vài ngày.

Tôi hỏi, vì tôi sợ trở về xà lim lại bị cùm. Tôi cố ăn hết bát cháo nấu muối. Mồ hôi vã ra và tôi thấy nhẹ hẳn người.

Không có điều kiện tắm, tôi gãi mạnh những nốt ghẻ cho bong vảy. Trong buồng không có ai, tôi cởi hết quần áo ra bôi, bôi đi bôi lại. Tôi tích cực bôi, mong mấy ngày cho khỏi, vì sợ rằng về xà lim, tôi lại bị cùm, không thể chữa được.

Chiều hôm đó, khoảng 4 giờ tôi lại được một tô cháo nóng nữa. Tôi vừa ăn xong, tên Lê- Phó Giám thị vào buồng với tên Bằng. Y nhìn tôi với vẻ mặt dễ chịu:

– Anh có thấy không, đáng lẽ anh đã chết đêm qua rồi, nhưng lòng nhân đạo của đảng đã cứu sống anh. Đảng và cách mạng đã đưa sự sống trở về cho anh. Anh phải ghi ơn đó suốt đời anh. Tôi đã cho lệnh y tế bồi dưỡng anh một tuần cơm cám. Để đáp lại công ơn cứu tử này, anh hãy dốc lòng thành thật khai báo. Đời anh còn dài, anh sẽ có ngày được hưởng lượng khoan hồng của đảng và nhà nước, trở về xã hội làm lại cuộc đời.

Tôi thấy y cứ nói đi nói lại, vẫn loanh quanh chỉ có thế, vì vậy, để cho qua chuyện, tôi chậm chạp từng lời:

– Trong nơi sâu kín của trái tim này, tôi xin biết ơn đảng và cách mạng, trực tiếp là các ông.

Tôi vừa nói, vừa để tay lên ngực. Với một giọng gia ơn, tên Lê tiếp tục:

– Tôi thông cảm điều kiện sức khỏe của anh, tôi đã đề nghị trên tạm thời tha cùm cho anh. Ngay chiều nay trở lại xà lim, anh hãy suy nghĩ cho sâu, quyết tâm từ bỏ những tội lỗi sai lầm trước đây bằng cách khai báo hết mọi âm mưu thủ đoạn làm hại nhân dân, làm hại cách mạng của bè lũ Mỹ Diệm với đảng và nhà nước. Chỉ có một con đường duy nhất đó, anh mới được hưởng lượng khoan hồng của đảng.

Nó nói, mặc nó nói, tôi cũng chẳng chú ý nghe. Điều tôi chú ý lắng nghe nhất là ba chữ:”Tạm tha cùm”. Chỉ nghe ba chữ này, tôi thấy người tự nhiên nhẹ hẳn đi, như có một nguồn sinh lực ở đâu tràn vào cơ thể. Tên Lê và tên Bằng đã đi rồi, tôi vẫn ngồi yên. Hồn tôi vẫn rung rinh nhảy múa, có cảm giác như một phiến đá nặng nề hằng ngày đè chĩu trên vai, nay được hất xuống rồi, dù rằng tạm bợ.

Khoảng 5 giờ chiều, trại chung đã vào hết, tên Bằng vào bảo tôi đi theo y về xà lim. Mùa Hè, lúc này mặt trời chưa đi ngủ, ánh nắng nghiêng nghiêng phản chiếu từ những bức tường nhà trại chung, làm cho cảnh vật sáng lên một mầu vàng ửng. Dăm con chim sẻ ríu rít trên cành bàng, như chia xẻ với nỗi hân hoan đang tràn ứ trong lòng tôi. Nhìn những chiếc lá bàng đang thời kỳ con gái mơn mởn, sau những ngày Đông giá khẳng khiu khô cằn, tôi liên tưởng tới đời mình, mới vừa từ cõi chết trở về, để rồi lại tiếp tục bì bõm lặn lội trong đường hầm đen tối; đâu đã được thảnh thơi đùa rỡn với gió chiều như những chiếc lá bàng kia.

Tên Bằng dẫn tôi về xà lim II, nhưng lại mở cửa đưa tôi vào buồng số 2. Như thế càng gần cổng trại chung, càng gần chiếc loa lắm mồm hàng ngày. Thấy tên Bằng hôm nay có vẻ dễ chịu tử tế, tôi khẩn khoản:

– Thưa ông, tôi có cái bó chổi dùng làm gối để ở buồng số 4, xin ông bớt chút công mở cửa cho tôi lấy…?

Y ngơ ngác, không hiểu, tôi phải nói thêm:

– Đó là những cái cuống chổi thanh hao đã cùn, tôi không có gối, nên đã buộc, bó với nhau làm gối. Vừa rồi xuống bệnh xá, tôi còn để lại buồng số 4.

Y chạy lại mở cửa con buồng 4. Tôi thấy y hỏi gì người bên trong. Như vậy, buồng 4 lại có người mới rồi. Một lúc, y trở lại bảo tôi:

– Vào nhà tắm xem sao?

Tôi vội chạy sang buồng 8 ngay đối diện. Tôi đã nhìn thấy cái “gối” của tối ướt nhẻm, vất ở một xó sàn, hãy còn dính đầy phân. Thôi đành! Tôi vội vàng mở vòi nước, đập đập cái “gối” xuống nền cho phân trôi đi, vẫy khô, rồi nhanh nhẹn chạy vào buồng. Như vậy là hôm nay y đã dễ dãi với tôi nhiều rồi.

Cửa đóng. Căn buồng này không được sạch, nhưng đã có cái chổi thanh hao, tôi cảm thấy khoáng đãng tự do thoải mái. Chân tôi, tuy chưa được nhanh nhẹn, nhưng từ nãy, do sự hoan hỉ ở trong lòng, tôi cứ thích lăng xăng làm việc. Tôi quét sạch hai sàn, dưới nền, hốt hết vào cái bô. Chai thuốc ghẻ vẫn nằm trong túi, tôi lại cởi hết quần áo tích cực diệt ghẻ.

Đêm hôm đó, để chống muỗi, với hai bộ quần áo, mặc một bộ, bộ còn lại, tôi lấy cái quần mặc dài xuống dưới cho hai ống quần phủ che kín hai bàn chân, thắt giải rút ở ngay đầu gối, còn chiếc áo thì trùm lên mặt, cho hai tay lên đầu luôn. Trời nóng, mồ hôi ra ướt đẫm, đắp như vậy khó thở, nhưng còn hơn là để muỗi cắn. Mới được tha cùm, tâm tư còn nhiều sôi nổi, lại thêm mấy ngày thoa thuốc ghẻ, bớt ngứa, đêm hôm ấy, tôi ngủ một giấc thật thoải mái tự do.

Hôm sau, lại là ngày tắm giặt, tôi cào hết mọi mụn ghẻ, về buồng bôi thuốc, ghẻ đỡ đi rất nhiều. Chỉ 3 ngày sau, người tôi lại sức hẳn. Hàng ngày, tôi loanh quanh trong buồng ung dung, nhàn hạ. Tôi tò mò cố đọc những giòng chữ nhỏ, những người tù trước đã ghi vào tường bằng một cọng thép hay một cái đinh”.

– Trần Minh Châu, tức Cập. Vụ án tình báo 1958.

Tôi chẳng hiểu “Trần Minh Châu” là ai, chẳng hiểu “vụ tình báo” này từ 1954 cài lại, hay mới ở miền Nam ra như tôi bây giờ. Rồi một vài hàng chữ nữa rất mờ, nói đến “…vụ án chiếc ấn vàng của Bảo Đại…”. Phần do trình độ, người viết chữ nguệch ngoạc, phần vì đã lâu ngày rồi, chữ mờ, tôi cố gắng nhưng không thể đọc hết được, dù viết rất nhiều. Tôi chỉ thấy ghi 1957… Một vài vụ vượt tuyến…

Tôi đang ngồi tỉ mẩn, mò mẫm tìm tòi, đọc những hàng chữ ghi trên tường, cửa con xoạch mở. Mụ Hoa chỉ tôi!

– Đi cung!

Từ ngày tôi bị cùm do chấp pháp, để đến nỗi phải bò và suýt chết, trong lòng tôi căm lắm. Vì thế, tôi đã chủ trương sẵn. Khi ra tới phòng cung, tôi thấy lại vẫn là tên Nhuận và Thành. Mặt tôi rất lạnh lùng. Không chào hỏi, tôi cứ ngồi vào chiếc ghế đã dành sẵn cho can phạm. Tên Nhuận nhìn tôi, giọng đạo đức giả:

– Dạo này anh có khỏe không? Sao anh gầy thế?

Tôi cũng nhạt nhẽo:

– Cảm ơn ông, tôi bình thường!

Tên Thành nói với giọng ra vẻ tình cảm:

– Chúng tôi bận việc, lâu lắm không gặp anh. Hôm nay, chúng tôi vào thăm anh. Tôi tin rằng với thời gian lâu như vậy, chắc anh đã biến chuyển tốt. Vậy, hôm nay anh có cần gì nói với chúng tôi không? Chúng tôi sẽ đáp ứng những ý kiến mới của anh!

Thấy chúng không hề nói gì đến việc cùm kẹp tôi cả, tôi cần nói ý cho chúng biết là từ nay đừng nói gì đến “chính nghĩa” nữa:

– Thưa các ông, từ ngày các ông ra lệnh cùm tôi hai chân, nếu không do một sự may mắn tình cờ, làm sao tôi sống để mà nghĩ với ngợi…

Cả hai tên đều mở to mắt, ra vẻ ngạc nhiên. Tên Thành vội vàng:

– Hả? Anh bị cùm hai chân à? Ai nói với anh là chúng tôi cùm anh?

Đúng là Cộng Sản! Tôi tin là chúng biết hết mọi diễn tiến suốt thời gian cùm tôi, cho tới khi bọn chúng phải đưa tôi xuống bệnh xá để cứu sống. Thế mà, bây giờ chúng lại ra vẻ ngạc nhiên như không hề biết gì cả. Thật là trắng trợn! Tôi càng suy nghĩ, tôi càng thấy chúng lòng lang, dạ sói mà lại cố che giấu dưới bộ mặt từ bi, nhân hậu. Tôi thấy nóng người lên, chẳng biết sợ nữa, nhìn thẳng vào mặt chúng, tôi trả lời:

– Tôi ân hận là đã thành thật khai báo hết với các ông!

Tên Nhuận đứng giỗ dậy, đập bàn, chỉ ty vào mặt tôi:

– Anh láo! Anh trả lời trước cán bộ nhà nước như vậy hả?

Tôi vẫn ngẩng đầu, cứng rắn:

– Tôi tin tưởng các ông là chính nghĩa, nên tôi đã ngày đêm moi óc, nhớ lại hết mọi sự việc để khai báo với các ông. Ra ngoài Bắc, tôi cũng đã không hoạt động gì cho bè lũ Mỹ Diệm; thế mà giờ đây các ông lại dùng những hình thức tra tấn khai thác của thực dân, Đế quốc đối với tôi. Để rồi tôi, một thanh niên khỏe mạnh, không chịu nổi với bao nhiêu ngày đêm hành hạ, đến nổi phải bò đi. Rồi cho tới khi, thấy rằng tôi sẽ không sống được nữa, các ông mới tạm tha.

Tôi giơ hai tay và vạch hai chân ra:

– Đây, các ông xem, hai bàn chân tôi vẫn còn sưng phù, đầy ghẻ lở. Tôi đề nghị các ông cho lệnh bắn tôi đi, tôi cảm tạ các ông!

Tên Nhuận cười nhạt, tên Thành vẫn ngồi yên. Một lúc, tên Nhuận nói lớn tiếng:

– Chúng tôi đã nói, chúng tôi không cho lệnh cùm anh! Để chúng tôi sẽ hỏi các đồng chí bên trại giam xem thế nào. Chúng tôi muốn cùm anh, chúng tôi sẽ nói thẳng, chứ cần gì phải giấu anh. Còn anh muốn chết? Sẽ được chết! Loại người như anh, cũng không để sống làm gì. Anh đã ăn nhiều bơ thừa sữa cặn của Mỹ và tay sai. Bơ thừa, sữa cặn đã thấm vào xương vào tủy anh rồi, nên anh mới dốc một lòng, một dạ hại dân, hại nước. Anh đã quyết tâm là một tên bán nước, để anh sống làm gì, hại cơm nhân dân!

Tôi không chịu dược nữa rồi. Tôi nói với sự phẫn uất căng đầy:

– Tôi nói với các ông là, tôi, một thanh niên, giòng máu Việt Nam đang cuồn cuồn chảy trong cơ thể này. Với luơng tâm và danh dự: Nếu nước Việt Nam yêu quý này có giặc ngoại xâm, tôi sẽ là một trong những người lính đứng hàng đầu, cầm súng chiến đấu với kẻ thù, để bảo vệ cho giải giang sơn gầm vóc này. Tôi sẽ sẵn sàng chết cho quê hương, không phải vì tiền, cũng không phải vì danh vọng. Tôi không ưa gì người Mỹ, và tôi cũng chống đối đến cùng tất cả những kẻ nào muốn thống trị đất nước tôi, xâm phạm vào chủ quyền độc lập của mảnh đất hình chữ “S” này!…

Tôi thấy cả hai đứa đều tím mặt lại. Trong cái thế này, tôi nghĩ phải xoa dịu chúng, vì vậy tôi nói thêm:

– Tôi là một người yêu nước với cả tâm hồn tôi, có chăng chỉ là tôi đã yêu…lầm!

Dù gì, hai tên cũng thấy tôi đang nói lên những lời từ trái tim đang sục sôi bầu nhiệt huyết. Chúng không thể phủ nhận được điều đó, vì thế tên Thành mỉm cười nói giọng dàn hòa:

– Anh yêu nước như thế là tốt! Vậy, tại sao anh không chịu nói hết với cách mạng, mọi âm mưu thủ đoạn Mỹ Diệm giao cho anh, ra ngoài miền Bắc này?

Tôi lợi dụng câu nói của y để đẩy đưa:

– Chính vì thế, không phải đợi đến bây giờ các ông hỏi. Tôi đã thấy có trách nhiệm ngay từ lúc đầu, tôi đã khai báo ngay âm mưu, ý đồ của địch giao cho tôi.

Các ông đã hiểu rõ lòng tôi, vậy từ nay, tôi đề nghị đừng dùng những từ bán nước, hại dân đối với tôi.

Hai đứa cười không trả lời. Một lúc sau, tên Nhuận hỏi với giọng nửa đùa, nửa thăm dò:

– Này tôi hỏi thực anh, anh còn điều gì không đồng ý với xã hội chủ nghĩa nữa, khiến anh không chịu khai hết sự thật? Tôi đã hỏi cung nhiều rồi, nhưng tôi chưa thấy ai khó khăn như anh cả. Người ta ai ai cũng vậy, khi đã thấy được ánh sáng chính nghĩa, đều thành khẩn khai báo mọi chi tiết. Chỉ riêng anh cứ khư khư ôm mãi.

Rồi y tươi nét mặt thổi và dụ dỗ:

– Anh biết không, chúng tôi suy nghĩ về anh rất nhiều, chúng tôi muốn giải quyết thất tốt cho anh. Người như anh về với cách mạng thật có lợi cho nhà nước. Đối với đảng, gỗ cong có việc cong, gỗ thẳng có việc thẳng. Biết đâu, anh hoạt động cho kẻ địch, vì phi nghĩa nên không thành công, còn hoạt động cho cách mạng, với tài của anh, anh lại chả gặt hái được nhiều kết quả có lợi cho nhân dân?!

Tôi cười và nói cho qua chuyện:

– Cảm ơn các ông, các ông nói đùa vậy. Tôi là một kẻ quê mùa lại còn trẻ, có biết gì đâu mà các ông nói là tài. Bây giờ thân tôi đã bị bắt, đã có tội với cách mạng, tôi chỉ biết ăn năn đền tội; ngoài ra, tôi không có một ý nghĩ gì khác.

Trước khi chúng cho tôi về, tên Nhuận còn cố ra vẻ thân mật:

– Bình về suy nghĩ kỹ nhé! Chúng tôi sẽ giải quyết rất tốt cho anh!

Tôi lặc lè theo tên Bằng về xà lim, vừa cười thầm trong bụng cho cái trò hề rẻ tiền của chúng. Về mặt gì khác, tôi có thể còn ngây thơ chưa hiểu chúng, chứ về mặt này, tôi không còn lạ gì tim đen của chúng cả. Chẳng qua chúng đã dùng đủ mọi cách rồi mà không có kết quả. Bây giờ, chúng lại đưa mồi ra nhử. Tôi luôn xác định rõ, không mơ hồ: Chấp pháp với bị can (người còn đang trong thời gian thẩm tra khai thác, chưa thành án), cũng có thể ví như người câu cá với con cá, hai ranh giới, hai quyền lợi đối nghịch nhau. Mơ hồ miếng mồi, đớp vào, không lên bờ vào giỏ đợi chờ làm thịt, thì cũng rách mõm, toạc môi.

Hôm nay, đã mồng 5 tháng 6 rồi. Đang độ giữa Hè, trời nóng như nung. Tôi được thả cùm đã hơn nửa tháng. Hai bàn chân tôi sau một tuần ăn cơm cám, đã rút lại. Những nốt ghẻ do tôi tích cực bôi thuốc đã thành sẹo. Còn một vài mụn nữa đã đóng vảy đen, hết ngứa, chắc cũng gần khỏi. Như thế, tôi đã ra miền Bắc được một năm lẻ tám ngày, và bị bắt vào Hỏa Lò 20 ngày nữa thì tròn năm. Bây giờ chỉ còn khổ vì nóng và muỗi. Hai cái thật mâu thuẫn nhau. Nóng cỡi trần, vén quần cao lên như quần đùi để ngủ thì đỡ nóng. Nhưng muỗi nhiều quá. Ăn đã triền miên không đủ no, đêm mà để nhiều muỗi hút máu, sớm muộn cũng bị bệnh. Vậy, lại phải mặc áo, che kín người, chân tay, mặt mũi. Thế mà, vì ngủ mệt, trở mình, chỗ nào hở ra, sáng dậy lại thấy đầy nốt muỗi. Quần áo đêm nào cũng ướt đẫm mồ hôi, thật hôi hám! Thôi đành, thân tù mà! Người ta vẫn nói: “Thằng tù, thằng hủi, thằng bổ củi, thằng đốt than” mà lại!

38. Cái Giá Phải Trả của “Người Hùng Điện Biên”…

Đang sáng, trời bỗng tối sầm lại. Mới 2 giờ chiều mà như 6 giờ tối. Tôi dịch về phía cuối sàn, ngồi lên chiếc cùm, rõi mắt ra ngoài chiếc cửa sổ.

Một mảnh trời đẹp, dài theo mép cửa sổ, xám xịt nặng chĩu nước. Một làn chớp xanh lè nháng lên, kèm theo một tiếng nổ làm rung rinh cõi lòng. Rồi như tiếng đại bác liên hồi nổ, ầm ầm, ì ì chạy suốt từ phía này sang phía kia, rền vang trên bầu trời. Trong ngục tù tăm tối vắng lặng, một mình ngồi nghe sấm chớp rền rĩ, tôi cảm thấy thật cô đơn, heo hút, cách biệt với thế giới loài người. Nằm giữa lòng Hà Nội một năm rồi, mà không hề biết biến chuyển gì của Hà Nội.

Gió bắt đầu thổi mạnh, mưa bắt đầu rơi…..Đầu tiên là những hạt lộp độp trên mái ngói, sau đó là ào ào như trời đổ nước xuống. Không khí dịu hẳn lại. Ngồi nghe mưa gió ngoài trời, tôi nghĩ đến cuộc đời hẩm hiu, bất hạnh của mình cũng quay cuồng trong gió mưa của đời. Mưa gió của đất trời thì chóng qua đi, còn mưa gió của đời, thì ôi thôi, dài lê thê, biết bao giờ mới dứt?!…..

Tôi cứ ngồi bồng bềnh với giòng suy tưởng ngược xuôi. Tôi nhớ đến cũng một buổi chiều mưa rơi trên thành đô ngày nào…..Hôm ấy, để tránh một trận mưa, tôi nhào vào trú dưới mái hiên của một ngôi nhà bên đường Tú Xương. Cho đến lúc trời đã nặng hạt, từ một góc đường, một cô gái cũng đang đạp vội chiếc xe đạp, đến gần chỗ tôi đang trú. Cô hấp tấp dắt xe lên hè, chợt nhìn thấy tôi, cô lúng túng, nửa muốn vào, nửa muốn đi ra, trong khi trời đang đổ mưa ầm ầm. Vì lúng túng, cô đánh rớt chiếc cặp xuống vũng nước đang chảy ào ào ở mé đường…..Cuối cùng, cô đành vào mái hiên tôi đang trú, mặt ửng hồng, e ấp chả dám nhìn tôi.

Cô chừng 18, 19 tuổi, có mái tóc dài óng ả buông xõa sau lưng, bám lất phất những hạt mưa lóng lánh. Đôi mắt huyền long lanh rụt rè, càng làm tăng nét dịu hiền của bộ mặt. Trời càng mưa to, phố càng vắng. Mái hiên vừa hẹp lại vừa nhỏ, nếu cùng đứng ở giữa thì không ướt. Nhưng, vì không dám đứng sát gần nhau, nên cô đứng một phía và tôi đứng một phía. Cả hai đều bị mưa hắt, ướt từ đầu gối trở xuống. Cách nhau có hơn một thước, mà không ai dám quay lại. Mưa cứ rơi và hai người cứ đứng. Với cô ấy, tôi không hiểu thế nào, chứ lòng tôi thì thấy vấn vương, ngập ngừng, nhưng tôi chẳng biết và chẳng dám nói cái gì. Ngay quay lại nhìn, tôi còn không dám, huống chi mở miệng nói năng. Tôi cứ đứng bần thần ngơ ngẩn, tiếc là mình tại sao không đủ can đảm, ra nhặt ngay chiếc cặp cho cô ấy khi nãy!?

Đường trơn, phố nhỏ, mưa cứ rơi dầm dề. Gần một tiếng đồng hồ sau, mưa mới tạnh. Lúc tôi dẫn chiếc xe solex xuống đường, cô cũng dắt xe đạp đi ra, hai người đi về hai phía. Trước khi bước chân lên xe, tôi mới dám ngoái lại nhìn, như luyến lưu, như mất mát. Khi đó, cũng là lúc cô nghiêng nón nhìn lại, để rồi hai người đi về hai ngả cuộc đời. Chẳng bao giờ gặp nhau nữa, và cũng chẳng biết nhau là ai…..Bây giờ, cũng một trận mưa rơi, nhưng tôi đang ngồi trong ngục tối một mình. Tôi buông một tiếng thở dài không chủ định, như vĩnh biệt những đoạn đời đã qua…..

Tôi cứ ngồi đăm chiêu để hồn lửng lơ về đây đó, mưa đã ngừng lúc nào tôi cũng không hay. Mãi tới khi nghe tiếng cửa buồng xịch mở, tôi mới giật mình nhìn ra: Một người cao lớn, có bộ râu quai nón, đang ôm túm một cái chăn bộ đội mầu cứt ngựa lách cửa đi vào, theo sau là lão Tư. Tên Tư nhìn hết buồng một lượt, rồi ra đóng cửa lại.

Tôi và người mới vào gật đầu chào nhau. Để ghệ bọc chăn lên sàn xi măng, tay vẫn còn cầm túm bốn góc cái chăn, anh nhìn suốt lượt trong buồng. Cuối cùng, anh mở to mắt chăm chú nhìn hai cái cùm sắt to lù lù phía cuối sàn. Câu đầu tiên, anh nói với tôi:

– Hai cái cùm, trông ghê quá nhỉ! Có lẽ Hỏa Lò đây do thực dân Pháp xây lên, vì thế, chế độ ta giữ lại để làm lưu niệm, cho mọi người thấy sự tàn ác của đế quốc!

Tôi chưa hiểu anh là dạng thế nào, nên tôi chỉ cười, không trả lời. Anh lúi húi mở gói chăn ra, nào màn, nào quần áo, đặc biệt có cả cái điếu con, diêm và thuốc lào. Mọi thứ đều lộn xộn, có lẽ vừa bị khám xong, trước khi chúng cho anh vào buồng. Anh vừa sắp xếp các thứ lại, vừa hỏi tôi:

– Anh bị bắt lâu chưa?

Tôi nói thẳng:

– Một năm rồi!

Anh dướn mắt to lên, ngạc nhiên:

– Anh nói đùa đấy chứ? Làm gì mà một năm?

Tôi lại cười, hỏi lại anh:

– Còn anh?

– Mới ngày hôm nay. Bắt ở Vinh hồi sáng, đưa về đây ngay.

Trông anh có vẻ dữ tướng, thế mà trao đổi qua vài câu nói, kết hợp với thái độ lại tỏ ra hiền, cởi mở. Vì thế, tôi vồn vã:

– Anh bị bắt vì tội gì?

– Vượt tuyến!

Rồi anh ngửng lên, hất hàm:

– Còn anh?

Tôi nói như đùa:

– Cũng vượt tuyến!

Anh mở to mắt, ngửng lên nhìn tôi nữa. Để anh khỏi ngỡ ngàng, tôi tiếp:

– Nhưng từ Nam ra Bắc!

Anh càng ngạc nhiên hơn nữa, anh ngừng xếp dọn, quay hẳn người ra hỏi:

– Anh thích chế độ xã hội chủ nghĩa miền Bắc?

– Không những tôi không thích, mà còn chống. Chứng cớ, tôi đang nằm trong nhà tù của họ.

Mặt anh cau hẳn lại, dáng băn khoăn:

– Như thế nghĩa là…?

– Nghĩa là, tôi là người của chính quyền Sài Gòn, đột nhập Hà Nội để hoạt động tình báo.

Anh có vẻ hân hoan ra mặt. Buổi tối hôm ấy, chúng tôi trao đổi tâm sự để biết sơ lược về nhau. Anh tên là Hoàng Hùng, 40 tuổi, quê ở Hải Phòng. Anh theo cách mạng từ ngày 19 tháng 8 năm 1945, Khi đó, anh 21 tuổi. Anh là bộ đội, năm 1958 chuyển ngành về Bộ Tài Chính. Năm 1959, anh lập gia đình và hiện có hai con, còn nhỏ.

Muốn được thêm sáng tỏ về anh, tôi hỏi tiếp:

– Như vậy, nguyên nhân và động cơ nào khiến anh vượt tuyến vào Nam?

Mặt hiện lên nét đăm chiêu, anh chậm rãi:

– Vấn đề nguyên nhân và động cơ phức tạp lắm. Thong thả tôi sẽ kể cho anh nghe, vì nó không phải bắt nguồn từ một điểm!

– Thế vì sao anh bị bắt?

Vẻ mặt anh buồn buồn:

– Chỉ vì một anh bạn muốn từ giã người yêu ở Vinh, nên câu chuyện bị lộ.

Tối hôm đó, tôi chỉ biết sơ về anh như vậy, và anh cũng tỏ vẻ háo hức muốn biết một vài nét về tôi cũng như về cả hội miền Nam, dưới sự lãnh đạo của Tổng Thống Ngô Đình Diệm.

Anh Hùng lấy chiếc điếu con con, gói thuốc lào và bao diêm, quay sang tôi hỏi:

– Bình có hút thuốc lào không?

Thấy anh là một người vui vẻ cởi mở, tôi cũng thấy vui vui. Hơn nữa, anh là một cán bộ đã theo Cộng Sản tứ 1945, hẳn qua anh tôi sẽ hiểu thêm về Cộng Sản trong quá trình. Nghĩ như thế, nên tôi cũng tươi nét mặt:

– Tôi chưa hút thuốc lào bao giờ…..

Chợt tôi nhớ đã có lần hút ở nhà lão chủ tịch Phong ở Kỳ Phương. Nhưng tôi không đề cập tới chuyện đó, nói tiếp:

– Nhưng, để đỡ sầu, tôi sẽ hút thử…..

Nói xong, tôi chồm sang bên sàn của anh. Nhìn anh vê điếu thuốc lào cho vào nỏ điếu, dáng ngồi nghiêng nghiêng, làm râu quai nón xồm xoàm vì mấy ngày không cạo. Nét mặt rắn rỏi, nói lên anh là một con người đã có nhiều xông xáo trong gian khổ, hiểm nguy. Anh bật diêm, đưa chiếc điếu lên miệng. Nhìn ngọn lửa que diêm bập bùng nhỏ to theo điệu nhắp của từng nhịp hút “rẹt, rẹt, rẹt…..” Rồi cuối cùng, một tiếng rít dài và nhọn lanh lảnh như tiếng con dế cái hứng lòng gọi bồ trong đêm khuya, làm cho điếu thuốc chui tọt vào nõ điếu. Gân cổ căng lên, anh bỏ điếu xuống sàn, nhắm mắt, ngửa mặt lên trần, miệng tròn như chữ “O”. Từ đấy, như một ống khói tầu thuỷ chạy than, khói theo nhau tuôn ra, dẫy dọn, ngập ngừng lửng lơ bay lên trần nhà, rồi tan loãng vào không gian… Ngực anh phập phồng, hổn hển, mắt anh lơ mơ, đờ đẫn.

Ngắm anh, tôi chưa hút mà cũng thấy lơ ngơ, dập dờn. Tôi vê một điếu và bắt chước anh. Nhưng, khi kéo một hơi dài, tôi bị sặc, ho chảy cả nước mắt ra. Người cũng rần rật đê mê, ngây ngất bập bềnh như bơi trên biển sóng.

Mải chuyện trò rao đổi, tối hôm ấy, mãi khi chiếc loa “nghẹt thở”, chúng tôi mới đi ngủ. Anh nhìn sang, thấy tôi không có mùng mền, quần áo gì cả, anh ái ngại bảo tôi:

– Hai anh em nằm quay đầu ngược xuôi, chui vào mùng tôi ngủ đi, kẻo muỗi cắn chết!

Hơn một năm rồi, tôi đã chịu được, nhưng vì lòng mến anh, tôi cũng chui vào mùng ngủ chung. Chiếc sàn chỉ rộng 65 phân nên quá chật chội, trời lại nóng. Để khỏi ảnh hưởng đến giấc ngủ của anh, tôi nằm một lúc rồi chui ra ngoài, về sàn mình. Tôi lại mần mò làm thủ tục che muỗi như mọi khi.

Anh thấy tôi chỉ có cái gối làm bằng mấy bó cuống chổi, liền ném cho tôi cái vỏ ba lô, giọng thương cảm:

– Bình hãy lấy tạm cái này gối đỡ!

Lòng tôi len lén dâng lên một niềm xúc cảm. Tình nghĩa đùm bọc của người cùng một nước như ấp ủ hồn tôi. Trước khi chìm vào giấc ngủ muộn, tôi miên man nghĩ ngợi. Anh và tôi, trước đây đứng trong hai chiến tuyến đối lập. Vậy mà giờ đây, do những bối cảnh của cuộc đời, do những thực tiễn của đất nước đẩy đưa, lại gặp nhau trong một hoàn cảnh này, để rồi thể hiện lên như một chân lý về cái thiện mỹ của con người cùng chung một quê hương, một dân tộc. Điều đó, cho phép tôi hiểu và tin tưởng rằng, dù Cộng Sản dùng bất cứ hình thức nào, cũng không thể đổi thay được bản chất chân chính của con người… Từ suy tư ấy, trong đầu tôi lạo lóe lên một nét nữa: Một con người như Hoàng Hùng, với tội vượt tuyến, tại sao Cộng Sản lại đưa vào nằm với tôi, một tình báo của miền Nam?

Tôi hiểu, chúng làm việc gì cũng đều có nghiên cứu, nhất là những việc như thế này, lại càng cần nghiên cứu kỹ lưỡng hơn.

Tôi băn khoăn lý luận, phân tích, để ít ra dự đoán gần đúng như ý định của chúng. Nếu đúng như tôi dự đoán, việc chúng đưa Hoàng Hùng vào nằm với tôi có phần tốt cho tôi. Chúng đánh giá phần nào, tôi là một người tiến bộ theo hướng nhìn của chúng?

Tôi nhớ lại, trong một lần đi cung đã lâu, chúng có hỏi vì sao tôi lại thích xã hội chủ nghĩa. Lúc đó, tôi đã ngẫm nghĩ xem nói gì để chúng có thể tin được. Chúng đâu có phải tay mơ, dễ qua mặt chúng, muốn nói gì thì nói được đâu! Phải có biện chứng “lô gích”, hợp tình, hợp lý mới hòng làm cho chúng tin. Cuối cùng tôi đã nói với nội dung như sau:

– Tôi thích xã hội chủ nghĩa, không phải mới đây, mà đã từ xa xưa lắm rồi. Ngay từ lúc tôi còn là một cậu bé 10, 12 tuổi. Tôi đã đậu bằng Tiểu học với hạng Ưu ở Huyện nhà, dưới chính thể Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Những buổi đi cắm trại, những ngày hoạt động thiếu nhi, tôi thường được đi chơi với rất nhiều anh bộ đội. Các anh ấy cũng mến tôi, thường dẫn tôi đi chơi đây đó, có khi mang cả về đơn vị của các anh ấy. Nhiều anh bộ đội “Cụ Hồ” luôn ngự trị trong một góc trái tim nhỏ bé của tôi. Lớn lên, do cuộc mưu sinh, do những biến chuyển cuả đất nước, tôi ra Hà Nội, rồi vào Sài Gòn. Một phần, hình ảnh anh bộ đội vẫn chưa mờ nhạt trong tôi; phần khác, tư duy và kiến thức dần trưởng thành theo tuổi đời. Từ trước, tôi vẫn ngưỡng mộ, cảm phục các nhà văn, nhà thơ, nhà báo. Tôi hiểu họ là những người có nhiều kiến thức, uyên bác cổ kim. Họ tìm tòi, phát kiến ra nhiều tư tưởng sâu sắc, có lợi cho nhân quyền xã hội, có lợi cho thời đại mới của loài người. Họ là những người đi tiên phong, chỉ đường và hướng dẫn tư tưởng quần chúng. Sau những biến thiên của đất nước, hầu hết các nhà văn, nhà thơ nhà báo đều ở lại với chế độ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, kể cả sau 1954. Còn ở miền Nam, chỉ có một số cá biệt. Như thế, phải chăng chế độ miền Bắc là đúng, là chính nghĩa? Từ những suy nghĩ đó, dù sau này, vì hoàn cảnh tôi phải làm việc cho chế độ miền Nam, tôi vẫn có một phương châm như kim chỉ nam: “Nếu tôi không làm gì có lợi cho chế độ xã hội chủ nghĩa, cũng dứt khoát không bao giờ làm hại”.

Đấy là lý do tôi nêu lên, khi chúng hỏi cung tôi. Rồi trong thực tế, với tên Hoàn, người chúng dùng làm “khổ nhục kế” với tôi. Tên Phạm Huy Tân, loại chó chết cơ hội chủ nghĩa, tôi cũng thường kể, hoặc nói những khía cạnh tiêu cực của chế độ Việt Nam Cộng Hòa do Tổng Thống Ngô Đình Diệm lãnh đạo.

Vậy bây giờ, đưa Hoàng Hùng, một anh bộ đội lão thành, thích chế độ miền Nam, cho vào cùng buồng với tôi,một người của chính quyền miền Nam. Cộng sản, tính lợi dụng tôi làm ruỗng nát lòng mơ tưởng, của Hùng bằng những tư tưởng, mà chúng cho là tôi đã có?

Tôi nghĩ, chỉ có như thế, mới giải đáp thỏa đáng trường hợp Hùng và tôi giam chung với nhau.

Sáng hôm sau, anh Hùng dậy, sau khi hút thuốc lào, còn sờ và ngắm nghía cái cùm. Anh quay sang tôi:

– Tụi thực dân dã man thực. Cùm người ta thế này, thì chỉ có chết thôi!

Nghe anh nói, tôi cũng hơi băn khoăn. Một người Cộng Sản, hầu như cả cuộc đời chiến đấu, nằm gai nếm mật, vào sinh ra tử trong hàng ngũ Cộng Sản, mà lại phát biểu như vậy ư? Không gì bằng thực tế sẽ trả lời anh! Anh còn ở xà lim này, chỉ ít ngày nữa anh sẽ nghe thấy tiếng cùm, tiếng khóa thôi. Nghĩ như vậy, tôi cũng chỉ nhìn anh, cười không nói gì.

Cửa con xoạch mở, mụ Hoa chỉ tay vào Hùng, bảo đi cung. Buổi trưa Hùng về, chiều lại tiếp tục đi cung, mãi 5 giờ mới về. Sau khi cửa đóng, Hùng quay lại tôi, giọng ngạc nhiên:

– Này, Bình này, sao nhiều tù thế nhỉ? Tôi đi qua sân trại chung, đầy tù?!

Ơ! Tôi mở to mắt ngạc nhiên nhìn anh:

– Tôi tuởng câu đó phải để tôi hỏi anh mới đúng chứ! Tôi là người của chế độ khác mới đến, anh phải giải thích cho tôi điểm đó mới phải. Vậy, trước đây anh nghĩ thế nào?

Nét mặt Hùng rất thành thật:

– Suốt cuộc đời, tôi ở bộ đội, đến khi chuyển ngành công tác ở Hà Nội. Thỉnh thoảng trên đường phố, tôi gặp dăm ba người mặc quần áo sọc, quét dọn ở đường, hoặc làm lao động nặng nhọc ở một khu vực nào đó, do một anh công an coi. Theo hiểu biết và quan điểm của tôi, dưới chế độ cách mạng, phải không có nhà tù nữa. Bời vì, khi cách mạng dựng ngọn cờ khởi nghĩa, đánh đuổi thực dân, tuyên bố phá nhà tù để xây trường học cơ mà. Nhưng bao giờ cũng vậy, trong một xã hội, tất yếu phải có người chưa tự giác cao, có lúc gây ra tội lỗi, sai phạm. Đó chỉ là nhất thời, vậy chỉ cần một số ngày giáo dục, một vài biện pháp bắt buộc lao động, cũng chỉ nhằm mục đích giáo dục con người. Nhưng, ngay những số này, cũng rất là hạn hữu.

Ngồi nghe anh lý luận, tôi càng khiếp sợ cho sự khéo léo, tinh vi của Cộng Sản. Một người như Hoàng Hùng mà cũng chỉ như một con ngựa kéo xe, hai bên mắt bị che kín. Chỉ được nhìn thẳng về phía trước, bảo đi là đi, bảo đứng là đứng. Tôi phải có trách nhiệm, lựa lời dần dần cho anh biết thực tế. Nhưng bây giờ tôi chỉ nói với anh một cách đơn giản:

– Thực tế sẽ hoàn toàn không giống như anh đã nghĩ đâu! Tôi tin rằng những ngày tới, anh sẽ hiểu biết nhiều hơn bằng những sự việc thực tế, và bằng mắt thấy tai nghe.

Anh về muộn, tôi đã lấy sẵn cơm nước vào cho anh. Ăn xong, tên Tư mở cửa. Từ sáng, anh chưa được rửa mặt, vì thế khi tên Tư sắp đóng cửa, Hùng tiến ra:

– Báo cáo đồng chí, cho tôi ra rửa sơ cái mặt?

Tên Tư quắc mắt nhìn Hùng:

– Từ nay, tôi cấm anh không được gọi tôi là đồng chí! Anh là một người tù, không ai là đồng chí với anh cả, nghe chưa!

Hùng mở to mắt ngạc nhiên, hai quai hàm bạnh ra, cuối cùng nuốt hận, Hùng chỉ nói:

– Xin lỗi, tôi quên!

Lúc vào ngồi, Hùng có nét đăm chiêu.

Qua một thời gian, tôi được biết rõ về Hùng như sau: Anh là con một gia đình giầu có ở Hải Phòng. Đang học Trung học thì tiếng súng ngày 19/9/1945 bùng nổ. Với bầu nhiệt huyết của người con trai Việt, chỉ biết yêu nước, yêu dân đơn thuần. Anh đã theo tiếng gọi của núi sông, thoát ly gia đình, cầm súng giết giặc để bảo vệ quê hương. Anh nhiệt tình hăng say học tập, chiến đấu nên ngay cuối tháng 12/1945 anh đã là Tiểu đội truởng trong Trung Đoàn Thủ Đô. Đơn vị anh đã giành giật với thực dân Pháp từng khu phố của Thủ Đô năm 1946. Cuối cùng, sau khi rút lui về chiến khu, anh đã nổ lực chiến đấu vào sinh ra tử bao nhiêu chiến trường. Hết ở đồng bằng, lại Đông Khê, Cao Bắc Lang. Biên chế đổi thay hết: Từ Sư ”312”, Sư Đoàn Đồng Bằng, tới Sư “320”, v.v… Cuối cùng là chiến dịch Điện Biên. Chính Đại Đội anh đã cắm lá cờ đỏ sao vàng lên nó hầm tướng De Castrie. (Ngay từ cuối 53 đầu 54, chính phủ, bộ quốc phòng Pháp đã gắn lon Thiếu Tướng cho De Castrie, bằng cách từ trên máy bay thả lon, xuống ngay chiến lũy Điện Biên).

Bao nhiêu bạn bè đồng lứa với anh lúc đầu, lần lượt nằm xuống hết cho quê hương. Còn sót người nào, ngày nay không là “D” Trưởng, cũng là “E” Phó. Bản thân anh, cao nhất cũng chỉ là “D” Phó, tức Tiểu đoàn phó. Mãi tới khi chuyển ngành năm 1958, anh cũng vẫn là “D” Phó. Chỉ vì, suốt quá trình, anh vẫn có cái đuôi là con tư sản. Do thái độ trong học tập, cũng như trong sinh hoạt tổ chức, anh càng bất mãn, nên đôi lúc cũng có thái độ bất cần.

Anh tâm sự:

– Bình thử tưởng tượng xem, những ngày họp đảng, họp tổ v.v… Ngay các chiến sĩ dưới quyền mình đi đâu cũng không thèm cho mình biết. Rồi cứ nhỏ to thầm thì chuyện này, chuyện kia. Mình có hỏi đến, chúng nó trả lời việc này đồng chí không nên biết. Mình là thằng chiến đấu chịu đựng biết bao gian khổ. Bao nhiêu lần tưởng tan xương nát thịt, may nhờ hồng phúc nhà mình, còn sống sót, thế mà bị đối xử phân biệt, Bình nghĩ có hận không?

Không phải một mình tôi, một số người nữa cũng bị như tôi. Cho nên, khi Sư đoàn tôi về tiếp quản Thủ Đô 10/10/1954, từ địa điểm xuất phát vùng Tây Bắc, trên đường về chúng tôi bắn phi đạn như mưa, gặp cây cối, núi rừng hai bên đường, đều bắn chơi. Tôi ngày càng chán chường, nên có những hành động tiêu cực, chểnh mảng trong học tập. Cũng như trong công tác. Mãi đầu 1958, tôi xin chuyển ngành mới được về công tác ở Bộ Tài Chính, làm phó phòng điều hành. Năm 1959, tôi lấy em gái một người bạn hiện nay là Tiểu đoàn trưởng. Ngay ở Bộ Tài Chính, hiện tượng đối xử phân biệt với tôi cũng vẫn thế. Bởi vậy, tôi đi làm là phải đi làm, nhưng làm sao hăng hái tích cực được nữa.

Trong số những bạn bè quen biết thời gian công tác ở Hà Nội, có một anh là sinh viên Văn Khoa năm thứ hai, thời trước 1954. Sau bị đuổi khỏi trường, ngày ngày lang thang cùng mấy người bạn làm sơn mài, mà vẫn đói rách không đủ ăn. Trong quá trình quan hệ, dọ dẫm, thử thách, khi hiểu về nhau, chúng tôi đã có lần nhen nhúm tư tưởng đi Nam. Chúng tôi tìm hiểu, nghe ngóng một thời gian, thấy rằng: Sài Gòn, cũng như Hà Nội trước 54, là một xã hội đầy dẫy thối nát, với toàn loại chính khách xôi thịt đớp hít, chỉ lo cho gia đình cũng như bản thân làm sao được “vinh thân phì gia”. Còn nói đến quê hương dân tộc, chỉ nói đến ở cái mồm. Nhưng, từ ngày cụ Ngô Đình Diệm về nước, Sài Gòn đã đổi khác. Cả cuộc đời cụ đã lo cho nước, cho dân. Cụ đem ấm no hạnh phúc lại cho người dân thực sự, vì vậy dân tin, dân yêu. Mọi người dân miền Bắc, khi Cộng Sản đến tuyên truyền đã không còn nghe theo lời chúng nữa. Vấn đề đã làm cho Bộ Chính Trị Trung Ương đảng điên đầu. Dân chúng thường thầm thì bàn tán, ít nhiều mang trong lòng niềm hy vọng hướng về Nam. Do đó, chúng tôi hoạch định một đường hướng, rồi quyết tâm ra đi, bỏ cả vợ con lại, khi nào về giải phóng hãy hay.

Từ đó, tôi lại tỏ ra tích cực trong công tác. Đồng chí Bộ Trưởng là bộ đội cũng chuyển ngành, có sự đồng cảm nên rất thương và tin tưởng tôi. Tôi thường được giữ một số giấy phép cấp cho cán bộ hàng tháng đi công tác, có đóng dấu và chữ ký sẵn của Bộ Trưởng. Tôi lấy 3 cái, điền tên của anh bạn và tôi vào công tác ở Vĩnh Linh, để giải quyết một số vấn đề về tài chính. Chúng tôi hẹn ngày, giờ ra đi. Khi tới Vinh, anh bạn còn vào gặp một người yêu ở đấy. Trong lúc từ giã yêu thương, thế nào đó, anh đã thổ lộ mọi chuyện với người yêu. Cô này lại là công an mật, nên khi chúng tôi lên xe vào Vĩnh Linh, công an đến xét hỏi giấy tờ và bắt về đây…..

Những ngày không đi cung, những buổi tối nằm không, tôi thường gợi chuyện anh. Anh cũng mến tôi, nên anh đã kể lại cho tôi nghe bao nhiêu trên đánh ly kỳ. Bao nhiêu câu chuyện ngộ nghĩnh của một số Tướng, Tá trong bối cảnh phức tạp của vùng núi rừng chiến khu Việt Bắc.

Anh Hùng, thường ngày vẫn đi cung liên tục, đôi khi cũng có ngày không gọi. Anh rất thích nghe chuyện miền Nam. Anh tỉ mẩn hỏi giá từng ký gạo, cân thịt bò, cho đến rau cỏ và những sinh hoạt thông thường của xã hội miền Nam. Tôi chỉ cần trung thực kể lại cho anh nghe những điều gì tôi biết. Nhiều cái anh không thể tưởng tượng được. Nhưng sự thật bao giờ cũng có hồn, có giá trị nội tại của sự việc. Vì thế, ngồi nghe tôi nói, anh càng tỏ chán chường ghê sợ đời sống lầm than, cơ cực như con vật của đồng bào miền bắc. Tôi thường kể cho anh nghe một vài nét diễn tiến chính, của xã hội từ ngày cụ Ngô Đình Diệm về nước. Tuy vậy, tôi chưa dám nói những điều gì sâu sắc của cá nhân mình, cũng như của chế độ miền Nam. Tôi định rằng, chưa vội, hãy dần dần tùy theo điều kiện. Mục đích, giúp anh nhận chân rõ được bản chất, của từng sự việc và phần nào thực trạng, của đất nước.

Những lúc anh đi cung, anh thường để diêm và thuốc lào mời tôi hút tự do. Bấy giờ, mỗi ngày tôi hút 3 điếu, và cũng chính do anh Hùng mà tôi đã biết, hút thuốc lào từ đó. Mấy bữa nay đi cung về, hình như có nhiều điều suy nghĩ căng thẳng, anh ít nói hẳn đi. Tối, anh thường mắc mùng đi ngủ sớm, kêu nhức đầu. Tôi hiểu anh đang gặp khó khăn, sự việc của anh có điều căng thẳng. Do ý thức tế nhị chưa muốn đi sâu vào sự việc của anh. Tôi tính mai kia dần dần sẽ lựa lời thăm hỏi, để nhân đó phần nào góp ý giúp anh chăng.

Anh vào đây đã được ngót một tháng rồi, vợ con anh vẫn chưa được gặp. Chiều nay, cũng như mọi khi, tôi đang ngồi buồn bâng khuâng suy nghĩ, chờ anh đi cung về, để biết diễn tiến cung kẹo của anh. Bát cơm của anh tôi đã lấy vào, vẫn lạnh lẽo chơ vơ trên cái cùm ở cuối sàn anh. Cửa mở, anh Hùng đi cung về, tôi thấy anh lách cửa vào, mặt đỏ dừ, hai môi mím chặt. Tôi chưa kịp hiểu và có thái độ gì, đã thấy tên Tư mặt hầm hầm rút chốt cùm. Y bảo Hùng chuyển bát cơm từ chỗ cái cùm lên phía đầu nằm, rồi y nhấc nửa trên cái cùm lên, trong khi Hùng mặt tím bầm, ngồi ghệ ở sàn. Tên Tư quát:

– Bỏ chân vào!

Hùng lừ lừ nhấc một chân cho vào. Tên Tư quát tiếp:

– Bỏ cả chân kia nữa!

Mặt Hùng lại biến sang đỏ. Tôi hiểu anh bị một áp lực nào đó, kìm hãm ghê lắm. Không nói năng gì, anh bỏ nốt chân kia.

Tôi chưa hiểu nguyên nhân nào khiến tên Tư có vẻ căm hận Hùng. Y nhấc cao chân, rồi đạp mạnh vào nửa cái cùm trên, cho dập mạnh xuống. Sắt trên sắt dưới dập mạnh vào nhau, đồng thời người của Hùng cũng giật lên một cái. Tôi nhìn chỗ cùm, thấy một giòng máu đang rỉ chảy từ trên cùm xuống sàn. Tôi hiểu rằng, khi Hùng cho chân vào, chân đã to, anh lại vô ý để bắp chân nằm bè ra mép lỗ. Vì vậy, khi hai nửa cùm dập lại, thì bắp chân anh bị dập đứt. Tên Tư, coi như không thấy, ra chốt cùm rồi đóng khóa cửa lại.

Hùng không nói một lời, mắt nhắm nghiền, nằm ngửa, mặt lại tím bầm.

Tôi suy nghĩ, tội vượt tuyến đâu đến nỗi cùm như vậy! Có thể, do sự phẫn uất của một người đã hiến dâng cả một đời cho chế độ, bây giờ lại bị đối xử không ra gì, nên anh Hùng đã thể hiện thái độ căm phẫn nào đó đối với chúng chăng? Tôi cũng không ngờ sự việc, đã trả lời cho câu hỏi của anh, khi mới vào xà lim này, về “cái cùm của thực dân Pháp”, lại quá đầy đủ như vậy. Giòng máu từ chân anh đã đọng lại, nhưng anh vẫn nằm yên. Tôi thấy không đành lòng, bước xuống để một tay lên vai anh:

– Anh Hùng! Hãy cố gắng gượng ngồi dậy, ăn tí cơm đã!

Anh chỉ lắc đầu, không nói một lời, thái độ tỏ vẻ đừng quấy rầy anh. Tôi hiểu, anh lớn tuổi hơn tôi nhiều, anh đang có những suy nghĩ quyết liệt của đời anh. Tôi phải tôn trọng những phút riêng tư thiêng liêng ấy, thong thả sẽ nói chuyện với anh sau. Tôi về chỗ mình, cũng buồn, nghĩ thương cho một đời của anh. Bao nhiêu công lao sinh tử, để rồi bây giờ là đây?

Cửa con xoạch mở! Mặt tên Tư. Y đóng cửa con lại, mở cửa lớn. Đứng ở giữa cửa, y quát to:

– Anh có ăn cơm không?

Hùng vẫn cứ nghiến răng, nhắm mắt nằm yên. Tên Tư, quay sang tôi gằn giọng:

– Mang bát cơm ra ngoài!

Tôi thấy rất ngại ngần, nhưng mình là tên tù, tôi đành chậm chạp cầm bát cơm đưa ra. Y đóng cửa đến “xầm” một cái.

Tiếng chiếc loa lại léo nhéo vang lên, hết giờ làm việc. Tôi về sàn ngồi, lòng cũng không yên. Ngồi mãi, rồi tôi cũng nằm xuống nhắm mắt, nghĩ ngợi miên man. Đến chừng 6 giờ chiều, giọng ồm ồm của anh Hùng bỗng vang lên:

– Bình! Hãy mắc giúp tôi cái màn!

Tôi ngồi dậy, quay sang anh. Anh nói mà mắt vẫn nhắm nghiền. Tôi lục cái màn của anh trên đầu sàn, tìm mấy cái lỗ ở trên tường loay hoay mắc màn cho anh. Tôi hơi lúng túng, hơn một năm ở xà lim, vì không có màn nên cũng chẳng để ý. Tường không có đinh, chỉ có những lỗ nhỏ. Những người trước đã khoét lỗ vào tường, lấy sợi dây nhỏ, thắt nút thành một cục rồi nhét vào lỗ và lấy cơm phết chặt, khô đi rất cứng, chắc. Còn đầu sợi dây, bẻ một đoạn chổi thanh hao chừng 2, 3 phân buộc lại, thành cái khuy để mắc màn. Mãi tôi mới mắc xong màn cho anh. Tôi cũng hất đuôi màn, che hết cả chân anh.

Mọi khi cũng giờ này, trước khi đi ngủ, tôi bắn một điếu thuốc lào cho say sưa rồi đi nằm. Nhưng bữa nay, anh đang trong tình trạng như thế, tôi cũng chẳng còn lòng dạ nào để say sưa. Ngồi mãi một mình cũng buồn, mới 8 giờ tối. Tôi cũng chuẩn bị những thủ tục che muỗi của tôi để đi ngủ.

Tôi nằm, nhưng không sao ngủ được. Tôi nghĩ đến chân anh Hùng to, tuy người anh khỏe, nhưng làm sao nằm ngửa mãi được. Tôi hiểu rằng, anh cũng không bị cùm lâu đâu, nhiều lắm cũng chỉ một tuần. Chân anh quá to, anh sẽ khó xoay sở để ỉa đái dễ dàng như tôi được. Hơn nữa, tôi biết anh cũng không thể chịu đựng được lâu. Tôi cứ nằm trằn trọc vơi đầy bao nổi niềm về cuộc đời, về đất nước. Thân anh Hùng đã vậy, thân mình cũng tái tê trăm ngả thương đau. Tiếng loa tắt ngấm đã lâu, có lẽ cũng hơn 11 giờ rồi.

Tôi bỗng nghe tiếng khìn khịt, như tiếng một con gà bị cắt tiết. Tôi vội nằm xoay người lại, liếc sang màn anh Hùng. Dưới ánh đèn 40 watts ở giữa trần, tôi cố căng mắt nhìn qua lần vải thưa của chiếc màn, đã ngả mầu vàng của anh. Tôi thấy mờ mờ một mầu đỏ xậm lan to dần chỗ ngực, trên lần vải áo “may ô” anh vẫn mặc. Tôi hiểu, anh qua phẫn uất và chán chường cảnh đời lầm than, khổ đau của anh, nên anh tự tử. Tôi cho rằng, có thể anh có một cái đinh, thọc mạnh vào mạch máu; hoặc, anh ghé răng cắn những mạch máu ở cổ tay. Chứ trong xà lim, lấy cái gì ra để tự tử được!

Tôi cũng suy nghĩ, dù sao trước đây, trong những năm tháng miệt mài hăng say lập công với Cộng Sản, ít ra anh Hùng cũng đã làm ngã gục nhiều người lính chiến, mang trong mình dòng máu Quốc Gia chống Cộng Sản. Vậy, cần để anh thấm thía những sai lầm anh đã làm, để anh thấm đậm hơn “chính nghĩa bịp bợm” của cái gọi là “cách mạng nhân dân” mà anh đã từng phục vụ. Từ ý nghĩ đó, tôi vẫn nằm yên như ngủ say.

Nhưng, những tiếng phì phì như tắc nghẹn của anh, đã làm tôi lại phải mở mắt liếc sang. Giòng máu đỏ đã loang ra đến ngoài màn, chảy xuống nền nhà thành một vũng. Tôi không thể nằm được nữa rồi. Ngồi bật dậy, tôi bước chân xuống đất, chồm sang bên sàn anh. Tôi nhấc màn lên. Máu đỏ lòm, ướt đẫm chiếc áo may ô và một khoảng chiếc chăn bộ đội. Mắt anh vẫn nhắm nghiền, mặt anh xám ngoét. Tôi xúc động, lay lay tay anh:

– Anh Hùng! Tại sao anh làm thế? Anh không được chết, người đáng chết là tôi đây này. Anh còn phải sống vì trách nhiệm với vợ anh, con anh, và cần sống để nhìn rõ được nhiều sự thật, mà trước đây mơ hồ.

Anh vẫn nằm im, không nói gì với tôi cả. Không làm sao được nữa, tôi vội đứng lên sàn, ngửa mặt ra ngoài phía cửa sổ, gào to:

– Báo cáo cán bộ, buồng 2 có người tự tử!

Im lặng. Bên ngoài chỉ có tiếng gió rì rào của đêm thâu. Tôi lại gào lên lần nữa. Vẫn im lặng. Lần này, tôi cho miệng ra sát cửa sổ. Mới mở miệng hô “Báo Cáo…” Chưa hết câu, cửa con đã xoạch mở. Giọng một người lạ:

– Cái gì?

Chắc gì đã nhìn thấy vũng máu còn đỏ xậm dưới nền nhà, dù vậy tôi vẫn nói và chỉ tay sang phía màn anh Hùng:

– Anh này tự tử…

Tiếng chìa khóa lẻng xẻng mở cửa. Một người lạ mặt mặc thường phục, tôi chưa thấy bao giờ, khẩu súng ngắn đeo trễ một bên hông. Y vào, nhấc cái màn, rồi y nhìn xuống hai cái chân ở trong cùm cũng có máu đã đen xậm. Y vội vàng ra, đóng cửa lại. Khoảng 5 phút . Hôm nay, tôi mới lại thấy mặt tên Thế, cái tên khốn nạn đã đánh tôi khi tôi mới vào xà lim năm ngoái. Y còn đang mặc quần đùi, cởi trần.

Chúng rút cùm, nhấc hai chân anh Hùng ra, và giật cái màn xuống. Ngoài cửa đã có cái băng ca bằng gỗ. Tên mặc thường phục, hất chân của anh Hùng ra. Bây giờ tôi mới nhìn rõ, tay trái của anh: cổ tay và khủy tay đều rách nát, đầy máu. Trên cổ anh, ngay chỗ yết hấu, mấy cái bong bóng máu to nhỏ bám ở vết cắt vẫn phập phồng. Tên Nhiễm đã tìm thấy, giơ lên một lưỡi “lam” mỏng. Tên Nhiễm cầm hai tay anh Hùng, tên Thế hai chân, khênh ra ngoài cửa. Tới cửa, quay lại tôi Nhiễm nói:

– Tất cả những vật dụng gì của anh ấy, anh bỏ ra!

Tôi thu gọn hết, cả cái điếu con, diêm và thuốc lào. Trong lúc quá vội vàng, nên thứ gì của anh Hùng tôi cũng vơ gọn lại. Sau này, tôi tiếc cái điếu và thuốc lào mãi.

Buồng tanh ngòm! Tôi đề nghị tên Nhiễm cho tôi lấy một bô nước dội. Sau khi thấy y gật đầu, tôi chạy ra làm 3 bộ nước dội lên sàn và dưới nền. Xong việc, chúng đóng cửa và khóa ngay, lúc đó đã 12 giờ đêm. Tôi lấy chổi quét nước trên sàn xuống, rồi quét nền cho nước chảy xuống một cái lỗ nhỏ dưới nền nhà, chỗ sát tường phía đầu nằm. Đêm đã khuya, vắng lặng, trong buồng vẫn sặc lên mùi tanh của máu! Từ đó, tới lúc có tiếng loa, tôi cứ thấp thỏm không làm sao ngủ được. Chẳng hiểu anh Hùng sống hay chết!

Tôi đoán rằng, trong lúc chúng khám, khi anh mới vào Hỏa Lò, anh vẫn giấu được một lưỡi “lam” chắc để cạo râu. Vì là tôi vượt tuyến, đâu chúng khám kỹ như khám tôi. Tôi cứ triền miên nghĩ ngợi, hết ngả nọ đường kia, chợt nhìn đến cái vỏ ba lô anh cho tôi mượn để gối đầu, vẫn còn đây. Hồi đêm vì quá khẩn cấp và căng thẳng, tôi quên khuấy đi. Ngày mai, tôi sẽ báo cáo cán bộ để trả lại anh. Với miền Bắc, đó cũng là một tài sản quý giá. Một ý nghĩ nữa lại lóe lên trong óc tôi. Để biết rõ anh ra sao, cứ để 2, 3 ngày nữa hãy báo cáo. Như vậy, trong thời gian đó, nếu cán bộ đến hỏi cái ba lô, có nghĩa anh Hùng không sao cả, nên đã nhờ cán bộ đến lấy lại. Ngược lại, nếu mấy ngày nữa, không thấy gì, tôi báo cáo trả mà cán bộ cầm đi, anh Hùng cũng vẫn còn sống. Tuy rằng không chắc chắn lắm, nhưng như vậy cũng ang áng đoán được sự việc.

Mấy hôm sau, tôi thật là thèm thuốc. Thèm thuốc, lại nhớ đến anh Hùng. Một buổi, sau khi tôi trả bát xong, lúc tên Tư sắp đóng cửa, tôi cầm cái ba lô, tiến ra trước mặt y:

– Báo cáo cán bộ! Anh Hùng, mấy hôm trước nằm ở đây, thấy tôi không có cái gì gối đầu, anh đã cho tôi mượn để gối. Đêm hôm anh ấy tự tử, vội quá tôi quên trả, xin gửi cán bộ để trả lại cho anh.

Y nhìn cái vỏ ba lô bằng vải bộ đội, cũng đã cũ, một phía túi đã rách, đoạn thủng thẳng:

– Thôi, cho anh!

Tôi lộ vẻ băn khoăn:

– Thưa ông, cái này của anh Hùng, chắc gì anh đồng ý cho tôi?

Y hất tay đuổi tôi vào, vừa đóng cửa vừa nói:

– Tôi nói cho là cho! Đừng nói nhiều!

Cửa đóng rồi, tôi vẫn đứng cầm cái ba lô ngẩn ngơ, bần thần. Như vậy, anh Hùng đã chết thật rồi ư? Vợ anh, con anh ở đâu, có biết gì không? Anh Hùng ơi! Còn bao nhiêu điều nữa tôi định nói với anh, và cũng còn bao nhiêu điều nữa tôi muốn hỏi anh. Thế mà, anh đã vội vàng bỏ hết, bỏ cả vợ dại con thơ, để ôm một mối uất hờn, oan nghiệt ra đi…..

Tự nhiên, tôi buông một tiếng thở dài nhè nhẹ, lê thê như lời than vãn não ruột, cho một kiếp người vô nghĩa.

Chuyện của anh Hùng làm cho tôi hàng tuần lễ, đêm nào cũng thấp thỏm ngủ không yên. Thỉnh thoảng, những lúc giật mình thức giấc, tôi lại liếc sang sàn bên. Hình ảnh anh Hùng nằm thẳng cẳng, hai mắt nhắm nghiền, hai chân trong cùm, máu me bê bết như mới vừa đây…..

39. Mùa Đông Thứ Hai…

Sáng hôm nay, tên Bằng vào gọi tôi đi cung sớm. Phòng cung chỉ có tên Nhuận. Ngay khi nhìn thấy tôi, y tỏ vẻ tươi cười niềm nở. Sau khi chỉ ghế cho tôi ngồi, y săn đón hỏi:

– Hôm nay tôi gặp anh, chắc anh sẽ cho tôi biết nhiều điều mới lạ! Tôi tin là hơn nửa tháng nay, anh đã suy nghĩ kỹ để nhìn thấy vấn đề rồi. Bây giờ, tôi để anh tự do nói, anh hãy mạnh bạo nói đi! Chính anh đưa tay ra mở cửa, cho anh vào tương lai đó!

Ngồi nghe y nói, tôi tỏ vẻ rất khổ tâm và đau xót. Khi y giục, tôi mới tỏ thật nỗi tuyệt vọng của mình:

– Thưa ông, lâu không được gặp các ông, tôi vẫn hy vọng rằng các ông và nhà nước đã xác minh được lòng thành khẩn cùa tôi với cách mạng. Thế nhưng, bây giờ ông lại bảo tôi mở cửa vào tương lai, thì tôi còn biết làm sao được nữa! Và như vậy, nhà nước vẫn chưa kết luận được sự việc của tôi. Đã hơn một năm rồi, tôi mòn mỏi đợi chờ.

Y không cười nữa, nghiêm giọng:

– Thôi được, chúng tôi vẫn sẵn sàng mở cửa chờ đón anh, cách mạng luôn luôn giang tay cứu vớt những con dân bị lầm đường lạc lối. Muộn còn hơn không! Bây giờ, anh hãy nói lại chi tiết, tả tỉ mỉ ngôi nhà tranh ở Cầu Cống, nơi tên Hòa đã huấn luyện anh.

Ngồi nghe y nói, trong dạ tôi cũng hơi lo. Qua tấm ảnh Phan và tôi chụp chung, chắc chắn chúng có người của chúng trong ấy. Bây giờ, tên Nhuận bắt tôi tả lại, như vậy có nghĩa là chúng có thể thẩm tra xác minh. Nhưng đã trót khai trước đây nhiều lần, tôi thường lấy nhà một người Tầu bên Chợ Lớn mà tôi quen biết. Tôi đã đến chơi mấy lần nên nhớ để tả, còn không gian là ngõ Cầu Cống, Khánh Hội; do đó, lúc này tôi chỉ việc moi óc nhớ lại toàn cảnh nhà người Tầu đó để ghi lại. Tuy vậy, trong lòng tôi cũng đầy băn khoăn lắng lo. Tôi nói, nó ngồi ghi, chỗ nào chưa sáng tỏ nó hỏi lại. Mãi gần hết giờ, nó mới cho về.

Ngay chiều đó, lại gọi nữa. Khi tôi ra tới nơi, y đưa cho tôi 5 tờ giấy, chỉ cái bàn con ở góc phòng:

– Anh hãy ngồi viết tỉ mĩ chi tiết: dụng cụ, đồ đạc…bên trong nhà, bên ngoài nhà. Đường đi từ Khánh Hội vào. Rồi một tờ, anh hãy vẽ một sơ đồ, có chú thích từ phía Sài Gòn sang qua cầu Khánh Hội, cho tới ngõ ngôi nhà đó.

Tôi cầm giấy về chỗ bàn con ngồi, óc căng ra. Phải chăng đây là khúc nút, để chúng sẽ cởi tung toàn bộ sự việc ra? Tôi đã suy nghĩ, đào sâu, xét kỹ, nhưng thấy không còn cách nào cả. Mà một khi tôi đã hiểu là không còn cách nào khác, chỉ còn một con đường duy nhất trước mặt, tôi sẽ đường hoàng dấn bước. Bản sơ đồ, thoáng trông có vẻ rõ ràng chi tiết, đường nét sáng tỏ, nhưng nếu đi vào thực tế, chỉ có mù trời. Tôi vẫn để những kẻ hở để phòng hờ sau này.

Chiều về tới xà lim, tôi thấy cửa buồng đang mở. Tên Tư đang cầm mấy miếng vải sọc ở cái quần rách của tôi. Thấy tôi về, y sừng sộ hỏi:

– Những mảnh vải này, anh xé ở đâu ra?

Thấy thái độ của lão như thế, tôi hơi ngạc nhiên trình bầy:

– Thưa ông, đấy là ở một bộ quần áo cũ, trại phát cho tôi một năm trước, khi tôi mới vào. Nó đã bở, rách cả hai đầu gối, đũng quần cũng đã bục ra. Tôi phải xé từ đầu gối làm khăn mặt, còn phía trên tôi làm quần đùi, thay đổi lúc mặc trong buồng.

Vừa nói, tôi vữa cởi giải rút quần, chỉ quần trong cho y xem.

Đến đây, phản xạ cấp thời cho tôi hiểu là chúng đang tìm cớ để cùm tôi. Gần hai tháng nay rồi, hàng ngày tên Tư coi tôi, y còn lạ gì hàng ngày, tôi vẫn mặc chiếc quần đùi rách đi đổ bô, cũng như ra vào lấy cơm, sao y không hỏi. Đến hôm nay, tôi đi cung, chắc y đã được lệnh đến buồng, tìm một lý do để cùm tôi. Các mặt khác thuộc về nội quy, tôi không sai phạm. Không còn cớ gì, chỉ còn cái quần rách. Quần, vải đã cũ, ở xà lim đã hơn một năm, mùa Hè thường phải mặc đêm, mồ hôi ướt đẫm, lại không được giặt thường xuyên, như vậy, làm gì không mục!

Thế là y ghép tôi vào tội phá hoại tài sản xã hội chủ nghĩa. Y ra rút cùm, bắt tôi bỏ chân vào. Ôi thân tù, chúng làm thế nào chả phải chịu! Tôi đành phải bỏ chân vào mà lòng tái tê, héo úa.

Y xách cả mấy miếng vải hôi hám, mốc meo của tôi đi. Như thế là mới thả cùm chừng gần một tháng, giờ lại cùm.

Lại gian khổ bắt đầu. Trời đã cuối tháng 8, vào Thu, cuộc sống của tôi ở trong tù lại bắt đầu…mất ”tự do”. Lại những ngày dài tăm tối với chiếc cùm oan nghiệt, heo hút, cô đơn. Cứ ngày này, qua ngày khác, tuần này qua tuần khác, và tháng này qua tháng khác, bao nhiêu đau thương tủi cực chất chồng, mò mẫm lặn lội trong vũng bùn đời…lao lý.

Chiều hôm đó, sau giờ tan tầm chừng một lúc, các cán bộ đã lấy hết xe ra về. Cảnh sinh hoạt của Hỏa Lò đã vào giờ vắng lặng, chỉ còn tiếng loa léo nhéo đều đều như mọi khi. Chợt tôi nghe tiếng huyên náo, ồn ào của một tốp người, từ phía cổng Hỏa Lò đi vào phía cổng trại chung. Tiếng tên Nhiễm cao giọng:

– Sao hôm nay về muộn thế?

Rõ ràng tiếng tên Tân trả lời, giọng thổn thức:

– Báo cáo cán bộ, bây giờ tòa mới xử xong!

Giọng tên Nhiễm gằn mạnh:

– Các anh oan lắm sao, còn khóc? Các anh mang theo những cái gì vào đấy?

Một vài tiếng xụt xịt, tiếng hỉ mũi, rồi một giọng nói như rên:

– Báo cáo cán bộ, có mấy gia đình vợ con lên, cho ít quà…

– Anh là Chương à? Anh, tòa xử bao nhiêu năm?

Một giọng khàn khàn nghẹn ngào:

– Báo cáo, chung thân!

– Thế anh kia bao nhiêu năm?

Giọng ồm ồm:

– Báo cáo, 20 năm!

– Còn anh này?

Tiếng tên Tân nói trong nức nở:

– Báo cáo, 15 năm!

Tiếng tên Lê từ trên gác phía ngoài cổng, nói vọng vào:

– Đồng chí Nhiễm cho họ vào đi, rồi lên đây tôi nhờ chút việc!

Những bước chân xào xạo lẫn với những tiếng xụt xịt của hàng chục người đi qua cổng, nhỏ dần rồi mất hút. Lòng tôi vẫn còn ngỡ ngàng suy nghĩ về tên Tân, đến lời nhận định về vụ án của y, khi tôi hỏi:

“Có thể tôi không phải ra tòa. Nếu có ra, cũng từ 2 đến 3 năm là cùng!”.

Ngây thơ như thế, nên các cậu khóc là phải rồi! Chủ quan, rồi bị quật một đòn mới choáng váng như búa bổ. Âu đây cũng là một sự việc, để tôi suy ngẫm sau này…..

Thấm thoát, trời lại chuyển sang Đông. Những ngón chân, ngón tay của tôi lại bắt đầu sưng nhức. Cứ mỗi độ Đông về, đời tôi càng cay đắng!

Sáng hôm nay, tiếng loa vừa ngừng bặt, giờ làm việc đã đến. Tiếng tên Lê phó giám thị ầm ầm quát tháo với vẻ rất bực bội, đang đi dần vào phía cổng trại chung, nơi có một số cán bộ mới tới, đang buộc khóa xe đạp. Giọng tên Lê dội lên đanh đanh:

– Hôm qua, đồng chí nào lấy xe đạp của tôi đi?

Một giọng rụt rè trả lời:

– Báo cáo đồng chí…hôm qua quả tình…..tôi không ra phố. Có lẽ đồng chí Thế?!…..

Lê càng bực tức:

– Các anh lấy xe không bao giờ hỏi tôi cả. Cứ mỗi lần tôi đi, lại thấy xe không mất “má” phanh, cũng xỉ lốp; không bẹp chắn bùn, cũng đứt dây phanh…..Tôi đi sửa xong, mấy bữa sau, lại tình trạng ấy. Khóa rồi, vẫn mở đi!

Có tiếng cười rúc rích nho nhỏ, tiếng tên Lê gào lên hồng hộc:

– Tôi nói cho các anh biết là, chưa phải giai đoạn Cộng Sản chủ nghĩa đâu nhé! Lần sau, anh nào lấy xe đừng trách tôi!

Qua mẫu đối thoại trên, tôi thấy lũ cán bộ này, từ tên Lê trở xuống, trong tâm tư vẫn mang một niềm tin về viễn ảnh rực rỡ, hào quang ngày mai của chủ nghĩa Cộng Sản. Từ đấy, tôi cũng thấy được tâm trạng chung của chung của quần chúng nhân dân và cán bộ miền Bắc trong giai đoạn đó (1963). (Tôi không nói những trướng hợp cá biệt), vẫn chưa nhìn rõ chiếc bánh mầu sắc huy hoàng rực rỡ, mùi vị thơm ngon tuyệt thế của chủ nghĩa Cộng Sản, chỉ là chiếc bánh vẽ. Họ chưa thấy được rằng, cái “thiên đường Cộng Sản” ấy, không bao giờ có thể hiện thực, trong xã hội loài người này cả. Thực tế biện chứng như toán học: A cộng B bằng C, thì dứt khoát, không bao giờ A lại lớn hơn C. Chỉ kém hơn, hoặc bằng, trong trường hợp B bằng không mà thôi.

Sáng hôm nay, ngày 16 tháng 10, tên Tư mở từng buồng cho ra đổ bô. Xong, y chỉ vào đống chăn ở một góc nền lối đi, cho mỗi người mượn một cái, và tùy người cho mượn áo trấn thủ. Đến lượt tôi, có lẽ lúc này ở xà lim ấy tôi là người ở lâu nhất. Hàng ngày tôi và y vẫn nhìn thấy nhau, vì thế, y có vẻ dễ dãi; chỉ vào đống chăn, y dịu giọng bảo tôi:

– Anh không có quần áo, tôi cho anh chọn một cái chăn dầy và một cái áo trấn thủ!

Tôi lựa một cái chăn dầy và một cái áo trấn thủ, còn tốt đến 80%. Nghĩ đến những ngày rét giữa Đông sắp tới, tôi đành xề, xuống nước với y:

– Thưa ông, tôi không có màn cũng như quần áo, lạnh quá, chân tay của tôi bắt đầu sưng buốt (tôi vừa chỉ ngón chân và gơi tay cho y xem). Đề nghị xin ông, chốc nữa nếu còn thừa, xin ông cho mượn một cái chăn nữa? Tôi xin cảm ơn ông!

Y không nói gì cả, hất hàm bảo tôi vào đi. Thôi đành vào buồng! Được cái chăn dầy, trong dạ cũng hý hửng rồi! Tôi đã bỏ chân vào cùm, vẫn chưa thấy y đóng chốt. Tội gì! Tôi lại khe khẽ lấy chân ra. Tuy ngồi, tuy đứng loanh quoanh, nhưng trong lòng vẫn thấp thỏm không yên. Mắt cứ luôn luôn liếc về chiếc cùm, thành ra được nghỉ cùm một lúc mà lòng vẫn không được thoải mái.

Những người ở xà lim có chăn riêng ở nhà mang theo, vẫn đều được mượn thêm một cái. Khi tên Tư mở các buồng cho mượn chăn hết lượt, y đến mở cửa buồng tôi. Tôi tiến ra phía cửa, y chỉ vào 3 cái chăn ở dưới nền:

– Anh xếp lại, để trên ghế kia! Tôi cho anh mượn một cái nữa!

Nỗi vui mừng hưng phấn như ngày còn bé nhận được quà, chạy ùa vào lòng tôi. Sau khi xếp chăn lên ghế, tôi vội vàng ôm chiếc chăn nữa vào buồng, như ôm niềm ấm êm hạnh phúc cho những ngày Đông rét sắp tới.

40. “…Thắng Lợi Bất Ngờ Của Việt Cộng” Miền Nam Đảo Chánh

Hôm nay là mồng 2 tháng 11 rồi. Những trận mưa phùn đầu Đông làm ẩm ướt cả không gian, cả ngày u ám không có mặt trời. Thỉnh thoảng một cơn lạnh tái tê len qua cửa sổ, luồn vào trong xà lim, như đem theo niềm cô đơn băng giá, để đầy đọa thêm người tù đói khổ.

Cũng như những buổi trưa khác, tôi đang nằm lặn ngụp trong nỗi đầy vơi trăm hướng, của cuộc đời tù tội, mặc cho tiếng léo nhéo của chiếc loa lắm mồm. Chợt nghe một giọng the thé:

“…..Theo nguồn tin mới nhận được, cái gọi là Hội Động Tướng Lãnh của Ngụy Quân Sài Gòn đã làm một cuộc đảo chính, lật đổ chế độ độc tài gia đình trị của Ngô Đình Diệm…..”.

Tim tôi như thắt lại, tôi bò nhổm dậy, mắt mở to, tai vểnh lên như muốn hút hết mọi âm thanh của chiếc loa.

Phía bên ngoài, một số cán bộ cũng đang huyên náo, bàn tán xôn xao. Một tiếng quát nhẹ của một người nào đó:

– Các đồng chí hãy yên lặng, để nghe đã!

Tiếng loa vẫn oang oang:

“…..Quân đảo chính đã làm chủ tình hình. Anh em Ngô Đình Diệm đang bị bao vây dưới hầm dinh Gia Long. Không khí Sài Gòn rất căng thẳng và nghẹt thở…..”

Tôi bàng hoàng và hoang mang cực độ. “Vận nước đã đến ngày điêu linh rồi chăng?”, tôi than thầm. Đây là sự thực hay tuyên truyền của Cộng Sản? Tuyên truyền nào cũng có nguyên tắc của nó. Có những sự việc: “Không” không thể nói thành “Có” được…..Về lý trí, tôi biết đây là một sự việc thực. Nhưng về mặt tình cảm, tôi cố níu kéo, cho là một chuyện tuyên truyền của Cộng Sản, nhằm gây hoang mang cho tinh thần mọi người, chứ không có thực.

Từ khi bị bắt, tôi chưa bao giờ đọc kinh cả. Thế mà hôm nay, trước mối hiểm nguy cho một cá nhân, nhưng cũng có thể là mối nguy cho cả dân tộc, tôi không biết làm sao, chỉ còn biết cầu xin Chúa, cầu xin đấng tối cao hãy che chở cho cụ Ngô, người mà cả cuộc đời tôi kính yêu, trọng nể.

Thường ngày, sáng cũng như chiều, tôi chờ đợi bữa cơm như tâm trạng ngày còn bé mong mẹ về chợ. Càng gần giờ cơm, tai càng vểnh lên nghe ngóng âm thanh những tiếng xền xệt, bình bịch của tiếng chân mấy người tù hình sự, khênh chiếc chõng có thùng nước nóng và một số bát cơm vào lối đi giữa của xà lim. Tiếng “kịch” của chiếc chõng để xuống nền; tiếng “xàn xạc” của đít thùng tôn đựng nước cọ xuống nền xi măng…Rồi lại chờ lắng nghe tiếng chân cán bộ với tâm trạng xốn xang: Sao cán bộ đi đâu mãi, không thấy trở về cho tù ăn cơm. Để rồi khi nghe tiếng lẻng xẻng của chùm chìa khóa. Tôi chắc rằng, mắt tôi phải sáng lên: Hạnh phúc đã đến rồi! Đôi khi tôi cũng bị mừng hụt, vì đó chỉ là tiếng chìa khóa của cán bộ Hoa, Bằng, hoặc Kim vào gọi một người nào đó đi cung…..

Hôm nay trái lại, cơm đã khênh lên lúc nào tôi cũng không hay. Mãi tới khi cán bộ mở cửa buồng, bảo ra lấy cơm, tôi mới giật mình choàng dậy, như vừa tỉnh một giấc mơ nhiều máu lửa. Lấy cơm vào rồi, tâm hồn tôi vẫn còn lửng lơ đâu đấy, không còn cái thú thèm khát, vồ vập ăn như mọi ngày. Đầu óc tôi đang xáo trộn bao nhiêu nỗi chất chồng, đường nọ, ngả kia với niềm thấp thỏm mong chóng đến 5 giờ chiều, để nghe bản tin xem tình hình Sài Gòn diễn tiến như thế nào.

Mong mãi, rồi cũng đến 5 giờ. Phải nói rằng, từ ngày về miền Bắc, chưa bao giờ tâm tạng tôi lại bồi hồi háo hức, tập trung tư tưởng để lắng nghe tiếng loa như vây giờ. Tiếng loa mà tôi vẫn ghét như một “con mụ chửi thuê lắm mồm!”…

Tình hình Sài Gòn vẫn căng thẳng. Vẫn thiết quân luật ngày đêm, nhưng có chiều hướng phe đảo chánh đã thành công đến 90%. Họ đang gửi tối hậu thư bắt ông Diệm phải ra hàng, nếu không họ sẽ cho dinh Gia Long tan thành bình địa…..Qua bài bình luận của Hà Nội, chúng cố ý tỏ ra khách quan, (ra cái điều đứa nào trong chúng mày, tao cũng phải diệt). Nhưng ai cũng ngửi thấy, chúng mong muốn phe đảo chính thành công. Người chúng sợ nhất, cho nên chúng thù nhất, là Ngô Đình Diệm. Bộ chính trị của chúng đang phải điên đầu, tính trăm mưu ngàn kế, để làm sao hạ được ông Ngô Đình Diệm xuống, bằng bất kể giá nào. Thế mà, bây giờ lại có những kẻ thay chúng để làm công việc đó, hẳn chúng đang bắt tay nhau với những đôi mắt long lanh chào mừng “Thắng lợi không ngờ!”.

Đêm hôm nay nằm hoài không ngủ được, tôi trằn trọc suốt năm canh mong chờ trời sáng để nghe “con mẹ lắm mồm”. Đôi chân vẫn giá buốt trong cùm, tấm thân gầy thấp thỏm suốt đêm thâu! Tiếng gió Bấc than gào như tiếng núi sông báo hiệu với con cháu giống Lạc Hồng, vận nước đã đến ngày tơi tả thê lương.

Mùng 3 tháng 11. Sau một đêm dài thao thức quằn quại, hôn mê giữa chán chường và hy vọng, tôi thấy bản tin sáng hôm nay, cũng chưa nói lên điều gì rõ ràng lắm. Có tin anh em Ngô Đình Diệm đã