BÃO NGẦM 2

35.

– Thủy âm định vị báo cáo.

Đó là lời nói của hạm trưởng ngay khi ông ta bước vào phòng chỉ huy. Giọng của chuẩn úy Đan, trưởng ban thủy âm định vị vang lên liền theo câu nói của hạm trưởng.

– Mục tiêu… 67 cây số … MOAS đã sẵn sàng thưa hạm trưởng…

Khẽ gật đầu tỏ vẻ hài lòng, vị hạm trưởng cất giọng.

– Cám ơn chuẩn úy Đan. Đại úy Thâm báo cáo…

Dường như biết trước nên vị trưởng phòng vũ khí trả lời thật nhanh.

– Trình hạm trưởng… Phòng thủy lôi 1 sẵn sàng… Phòng thủy lôi 2 sẵn sàng khai hỏa…

Mắt nhìn lên màn hình ở trước mặt mình với hàng chục các phóng ảnh về căn cứ Đá Chữ Thập, vị hạm trưởng cao giọng nói của mình.

– Đại úy Hạ báo cáo…

Là sĩ quan C4IRS, một chức vụ quan trọng và phức tạp, lại thêm là lính mới của tàu cho nên Hạ được hạm trưởng chiếu cố nhiều nhất trong số các sĩ quan. Chiếu cố đây có nghĩa là anh bị hạm trưởng hạch hỏi, tra xét và huấn luyện để được chứng nhận là sĩ quan có đầy đủ khả năng chỉ huy trong một thời gian dài ngắn tùy theo sự thành tựu của anh. Ba ban hải hành, liên lạc và tình báo với 15 thủy thủ, 2 hạ sĩ quan và 2 sĩ quan đều được đặt dưới quyền chỉ huy của Hạ. Anh là sĩ quan đứng hàng thứ năm để chỉ huy tàu trong trường hợp hạm trưởng, hạm phó, thiếu tá Định và đại úy Thâm bị thương vong cùng lượt.

– Trình hạm trưởng… Phòng C4 sẵn sàng…

Dường như chưa thỏa mãn về câu trả lời hoặc có thâm ý gì khác do đó hạm trưởng đặt câu hỏi tiếp.

– Mình đi vào Đá Chữ Thập theo ngã nào?

Toàn với Thâm nhìn nhau cười. Họ biết hạm trưởng đã biết câu trả lời vì tất cả sĩ quan liên hệ phải trình lên phần hành của mình để ông ta duyệt xét và chấp thuận thì mới được phép thi hành. Bây giờ ông ta hỏi cốt ý trắc nghiệm lại sự hiểu biết như thuộc lòng của Hạ.

– Trình hạm trưởng. Có 3 hải lộ bí mật (secret sea lanes) được Hải Quân Hoàng Gia Anh Quốc khám phá và sử dụng trong khoảng thập niên 1920-1930. Tất cả ba hải lộ này đều chạy từ bắc xuống nam. Hải lộ 1 chạy theo hướng bắc nam ở kinh tuyến 115. Hải lộ 3 chạy theo hướng đông bắc từ kinh tuyến 114 xuống tây nam ở kinh tuyến 113 xuyên qua vùng North Danger Reef tới vùng Dangerous Ground của West Union Bank trong đó có Đá Chữ Thập. Hải lộ 5 đông bắc cũng từ kinh tuyến 114 xuống tây nam kinh tuyến 113. Ba hải lộ 1, 3, 5 sẽ gặp một hải lộ bí mật khác mà tôi tạm đặt tên là hải lộ 4 chạy từ tây sang đông do Hải Quân Hoa Kỳ tìm ra vào khoảng năm 1930-1940. Thưa hạm trưởng, tôi chọn hải lộ 3 để dẫn tàu vào Đá Chữ Thập…

Hạ ngưng lại. Giọng cật vấn của hạm trưởng vang bằng câu hỏi.

– Mình ra ngã nào?

Mọi người nghe giọng của vị sĩ quan C4 trở nên chậm và trầm trọng.

– Có hai đường để cho tàu của mình rút chạy sau khi hoàn thành nhiệm vụ. Đường thứ nhất là nhắm hướng tây 270 để thẳng ra vùng biển rộng. Vùng này có chỗ cạn và chỗ sâu tuy nhiên chỗ cạn nhất cũng trên ngàn mét. Đường thứ nhì là đường khẩn cấp chỉ dùng khi nào bị tàu địch săn đuổi gắt gao. Chiếc 66 sẽ dùng hải lộ 3 ngược lên bắc để gặp hải lộ 4 đi về hướng tây ra khỏi vùng biển Trường Sa…

Khẽ gật đầu vị hạm trưởng cười nói lớn như để khen Hạ mà cũng cho thủy thủ đoàn nghe.

– Cám ơn đại úy Hạ đã chịu khó vẽ ra hai đường rút chaỵ mà tôi nghĩ thích ứng nhất.

– Dạ không có chi thưa hạm trưởng.

Mỉm cười khi nghe lời nói lịch sự của Hạ, vị hạm trưởng cao giọng.

– Nhiệm sở tác chiến… Hạm phó thông báo cho toàn thể thuỷ thủ của tàu phải ở tại nhiệm sở tác chiến. Cấm làm ồn và đi lại trừ khi thật cần thiết và phải có sự chấp thuận của cấp chỉ huy trực tiếp. Nhiệm sở tác chiến sẽ chấm dứt khi nào có lệnh của tôi…

– Tuân lệnh hạm trưởng.

Lệnh được truyền xuống các ban phòng liên hệ. Nhà bếp đóng cửa. Không đóng cũng không được vì phòng cơ khí đã cắt điện rồi.

– Thuỷ âm định vị báo cáo…

– 66… đông bắc 80… vận tốc 10… độ sâu 490…

– Còn bao xa nữa ta mới đụng hải lộ 3?

– 13 cây số thưa hạm trưởng.

– Báo cáo độ sâu của biển.

Tới phiên thượng sĩ Kiệm trả lời.

– 1557 mét thưa hạm trưởng.

Khẽ gật đầu vị hạm trưởng im lặng nhìn lên màn hình đang hiện ra hải trình của đại uý Hạ đã phác hoạ để chiếc 66 theo đó mà hải hành. Theo như hải trình này thì chiếc 66 sẽ chạy hướng đông bắc 80 độ để gặp hải lộ 3 và từ đó xuôi theo hải lộ này về Đá Chữ Thập.

– 66… vận tốc 10… sâu 550…

Theo lịnh của hạm trưởng chiếc tàu ngầm nặng hơn bốn ngàn tấn giữ nguyên tốc độ và lặn xuống độ sâu đã được chỉ định. Ở độ sâu này nhiệt độ rất thấp chỉ chừng 3 độ C. Không khí trong tàu lạnh ngắt vì máy điều hoà ngưng hoạt động từ lâu. Chỉ khi nào máy đo thán khí của tàu xuống quá mức an toàn thì phòng cơ khí sẽ mở lên để lọc thán khí xong tắt liền. Đã quá quen thuộc nên ai ai cũng mặc áo ấm dày cộm. Mỗi người đều thủ sẵn cà phê, nước uống, bánh ngọt hoặc bánh mì thịt để khỏi đi lại trừ khi tiêu tiểu.

– Báo cáo hạm trưởng… Điểm gặp với hải lộ 3 còn cách 5 cây số…

Đại uý Hạ lên tiếng trong lúc đang đứng tại bàn trực dành riêng cho sĩ quan đương phiên. Đứng bên cạnh là hạm phó Toàn. 3 cây số… rồi lát sau 1 cây số… rồi zero… Chiếc tàu ngầm chậm chạp đổi hướng ra tây nam. Trưởng ban thuỷ âm định vị là chuẩn uý Đan lên tiếng.

– Mục tiêu 9549167+112889167… 69 cây số…

Ai cũng biết toạ độ mà Đan vừa đọc lên chính là vị trí của căn cứ Đá Chữ Thập đang do Trung Cộng chiếm đóng. Ẩn lên tiếng với giọng gấp gáp.

– Hạm trưởng… có tàu lạ…

– Nổi hay ngầm?

– Nổi thưa hạm trưởng…

Vị hạm trưởng hơi nhỏm dậy.

– Ông ID nó cho tôi…

Chương vừa dứt lời, Ẩn bấm bấm mấy cái nút trên bàn gõ của máy điện toán giây lát rồi lên tiếng.

– 165 Trạm Giang… thưa hạm trưởng…

Thượng sĩ Ẩn không cần báo cáo dài dòng vì không ai không biết về những chiếc tàu khu trục nằm trong hạm đội Nam Hải lãnh nhiệm vụ bảo vệ 7 căn cứ của Trung Cộng ở Trường Sa.

– Trạm Giang 165… tây nam 190… vận tốc 40… khoảng cách 55…

Giọng của hạm trưởng trầm trầm cất lên trong bầu không khí nặng chình chịch và đông cứng vì lạnh.

– 66… vận tốc 10… 650 mét sâu…

Không muốn lộ vị trí và mục tiêu của công tác vị hạm trưởng bèn triễn khai tính chất tàng hình ưu việt của chiếc 66 bằng cách lặn sâu hơn. Ông ta biết với địa thế phức tạp của vùng biển Trường Sa thì tàu nổi của địch không dám thả ” tow array sonar ” có gắn dây cáp sâu dưới nước vì sợ vướng vào các rặng san hô, đá ngầm, bãi cạn chìm dưới nước. Nếu không có loại máy thủy âm định vị đặc biệt này thì chiến hạm nổi của địch kể như mù mắt và điếc tai nên rất khó khăn dò tìm ra có tàu ngầm đang ở dưới nước sâu. Vả lại đây là vùng biển đang bị tranh chấp về chủ quyền do đó cũng thành ra vùng biển tự do có rất nhiều loại tàu đi lại từ chiến hạm cho tới các thương thuyền chuyên chở hàng hóa. Tàu bè của bất cứ nước nào trên thế giới đều có quyền tự do đi lại kể cả trong hải phận 12 hải lý mà các quốc gia chiếm đóng tuyên bố là mình có chủ quyền. Hải hành với vận tốc 10 cây số/giờ, như vậy phải mất 7 giờ nữa chiếc 66 mới tới mục tiêu. Tất cả mọi người đều ngồi tại vị trí và chăm chú vào công việc của mình. Rời ghế hạm trưởng, Chương nhẹ bước tới đứng tại bàn hành quân nơi có phóng ảnh về vùng ” Dangerous Ground & Secret Sea Lanes ” hay là vùng biển nguy hiểm và những hải lộ ngầm bí mật của vùng Trường Sa. Đây là khu vực có tàu ngầm đi lại nhiều nhất. Tàu ngầm nguyên tử (nuclear submarines) của Trung Cộng, Hoa Kỳ, Nga Sô, Ấn Độ được trang bị hỏa tiễn liên lục địa với ba bốn đầu nổ nguyên tử (nuclear warheads) ngủ yên chỗ nào kín đáo nhất để khi có lệnh sẽ phóng hỏa tiễn tấn công kẻ địch. Ngay cả chuyện, dù không tấn công nhưng sự hiện diện của nó chính là mối đe dọa thường xuyên cho các nước quanh vùng. Dùng tàu ngầm nguyên tử có hỏa tiễn mang đầu đạn nguyên tử như là mối đe dọa và hăm he là một thế chiến lược của các cường quốc sở hữu vũ khí nguyên tử để đạt được tham vọng của mình đối với các quốc gia nhỏ bé. Có thể ở lì dưới biển sâu ngàn thước từ 6 tháng tới 1 năm tùy thuộc vào thực phẩm được tồn trữ thì tàu ngầm nguyên tử hầu như vô hình đối với mọi loại chiến hạm nổi hoặc tàu ngầm khác. Đó cũng là lý do chính giải thích tại sao hải quân Hoa Kỳ chỉ có tàu ngầm nguyên tử. Vị hạm trưởng nhìn đăm đăm vào phóng đồ với những đường dọc nẽo ngang, nam lên bắc, bắc xuống nam, đông sang tây và ngược lại. Hải lộ 4 đông tây bắt từ Palawan Passage chạy len lỏi giữa các rặng san hô, đá ngầm, bãi cát chìm nổi xuyên suốt qua quần đảo Trường Sa. Nó sẽ gặp hải lộ 1 trước rồi sau đó mới gặp hải lộ 3, 5 nam bắc thuộc hai cụm đảo Union Bank có đảo Đá Lớn, Nhỏ của Việt Nam nằm ở hướng tây bắc và West of Union Bank ở hướng tây cách căn cứ Đá Chữ Thập do Trung Cộng chiếm đóng chừng vài chục cây số. Bốn hải lộ chính này còn có các ngã rẽ tạo thành một hệ thống thủy đạo sâu thẳm của lòng đại dương mà không ai biết chính xác. May ra chỉ có các tàu ngầm đang hoạt động ở vùng Trường Sa với đầy đủ dụng cụ hải dương mới đo đạc chính xác được. Ở đâu đó trong các hải lộ ngầm này sẽ có những chiếc tàu ngầm nguyên tử của hải quân Trung Cộng thuộc loại Han 091, Xia 092, 093, 094 đang chờ phục kích chiếc 66. Ở đâu trong hóc hẻm của rặng san hô tối tăm, những chiếc Kilo II sẵn sàng phóng thủy lôi tấn công tàu địch xâm nhập vào vùng hoạt động của nó. Đâu  đó  trong vùng biển mù  không ánh sáng mặt trời những trái mìn treo lơ lửng chỉ cần tàu chạm vào sẽ nổ tung ra với toàn thể sức công phá. Trúng thủy lôi hay đụng phải mìn là chiếc 66 có thể ngủ yên trên đáy biển sâu ngàn thước không một ai biết. Đi vào Đá Chữ Thập là đi vào hang hùm ổ cọp. Tuy nhiên không vào hang hùm thì làm sao bắt được cọp, cho nên chiếc tàu ngầm tối tân của hải quân Sài Gòn không có chọn lựa nào khác để hoàn thành nhiệm

dan-ground

vụ của mình. Sống sót thì chính nó và thủy thủ đoàn sẽ hưởng vinh quang còn không thì hy sinh vì tổ quốc. Đó là cái nghiệp hay có thể là số phần nghiệt ngã của những người khoác áo chiến binh.

– Có bánh mì thịt và cà phê nóng. Mời hạm trưởng dùng tạm…

Đại úy Thâm, đang làm sĩ quan đương phiên đưa cho Chương cái dĩa giấy có đựng khúc bánh mì thịt và ly cà phê nóng cũng bằng giấy.

– Cám ơn Thâm…

Đưa bánh mì lên ăn, Chương vẫy hạm phó Toàn đang đứng nơi chiếc bàn nhỏ. Đợi cho Toàn bước tới bàn hành quân của mình, Chương mới nói chậm và nhỏ.

– Mình có 36 trái 89. Tôi nghĩ mình nên chừa lại vài trái để lỡ có gì…

Vừa nhai Thâm vừa hỏi.

– Hạm trưởng định chừa lại mấy trái?

– Tôi nghĩ bốn trái được rồi. Mình chỉ bắn khi nào bị bắt buộc. Thâm chừa lại hai trái ở mũi và hai trái đằng sau lái. Sau khi mình bắn thì tàu ngầm của địch cũng sẽ săn đuổi mình. Có thể mình sẽ đụng ” Nuclear Sub-Made In China ”…

Toàn với Thâm mỉm cười khi nghe hạm trưởng nói câu cuối. Cắn thêm miếng bánh mì thịt hạm phó Toàn cười góp chuyện.

– Made In China ồn lắm… mình có thể biết được từ xa nên tránh né được. Gần đây tôi nghe phong phanh họ sẽ hạ thủy chiếc tàu ngầm nguyên tử Type 096 hoặc Type 097 SSGNShang Class được trang bị đủ thứ đồ chơi để biến nó thành chiếc tàu ngầm chuyên săn và diệt tàu ngầm. Chắc mình chưa có tài liệu chính thức của phòng tình báo về những chiếc này hả Thâm?

Đang nhai, nghe hạm phó hỏi Thâm cười nuốt vội vàng bánh mì rồi uống ngụm nước lạnh xong mới trả lời.

– Chưa thưa hạm phó. Tôi chỉ nghe bạn bè nói mấy chiếc tàu ngầm 096 hoặc 097 mới của Trung Cộng sẽ êm hơn, chạy nhanh hơn và trang bị vũ khí nhiều hơn. Nó có dàn phóng thẳng đứng với loại hỏa tiễn JY-18. Đây là loại hỏa tiễn được bắn từ tàu ngầm để phá hủy tàu nổi. Có người nói Trung Cộng chế JY-18 cốt ý dùng để chống lại các tàu nổi nhất là hàng không mẫu hạm của Hoa Kỳ. Tóm lại loại 096, 097 được cải tiến để đạt ba yếu tố căn bản chạy nhanh, chạy êm và lặn sâu. So sánh với tàu ngầm nguyên tử của Trung Cộng thì chiếc 66 của mình chỉ thua có một điểm duy nhất là chạy chậm. Trong trò chơi cút bắt thì chạy chậm chưa chắc đã thua…

– Trạm Giang 165… tây nam 190… vận tốc 40… khoảng cách 35…

Giọng báo cáo của thượng sĩ Ẩn vang lên gấp gáp vì tàu địch càng lúc càng tới gần hơn. Hai tàu chạy ngược chiều, cách nhau 35 cây số thì không đầy tiếng đồng hồ sẽ gặp nhau. Giọng của Đan vang lên chậm rãi.

– Hạm trưởng… Có thêm tàu lạ… Kilo 636… đông nam 160… vận tốc 20… khoảng cách 40… độ sâu 250…

Nhìn hạm trưởng và Thâm giây lát Toàn nói nhỏ.

– Tôi chắc nó không tìm ra mình đâu thưa hạm trưởng…

Chương cười gật đầu.

– Tôi cũng nghĩ như vậy. Nó đang ở 250 còn mình ở 650. 400 mét sâu là cả sự cách biệt lớn lao. Mình có thể thấy nó chứ nó không thấy mình đâu…

Hướng về Đan và Ẩn, vị hạm trưởng ra lệnh cho hai người theo dõi chặt chẽ hai chiếc tàu ngầm và nổi của địch. Nếu thấy có gì lạ thì phải báo cáo ngay. Quay qua hai sĩ quan thâm niên nhất của tàu và cũng ở dưới quyền chỉ huy của mình, vị hạm trưởng chỉ vào phóng ảnh xong từ từ thốt.

bao-ngam

– Vệt trắng này là phi đạo. Để xây được một phi đạo dài hơn ba cây số, Trung Cộng đã phải hút đất cát từ dưới đáy biển lên bồi đấp thành dãy đất dài sau đó mới đổ xi măng lên làm thành đường bay chắc chắn có đủ sức chịu đựng những chiếc phi cơ khổng lồ. Căn cứ vào các tài liệu của NCEI (National Centers For Environmental Informations) thì vùng biển bao quanh rặng san hô của Đá Chữ Thập có nhiều độ sâu khác biệt nhau. Ở gần đảo có độ sâu trung bình 200 mét. Ra xa hơn chừng năm bảy cây số có độ sâu khoảng 1.000 mét. Xa hơn nữa thì càng sâu hơn. Tôi nghĩ độ sâu ngàn thước đủ cho mình rồi. Toàn với Thâm có ý kiến gì không?

Thâm im lặng như chờ cho hạm phó Toàn lên tiếng trước. Uống ngụm nước lạnh xong Toàn hắng giọng.

– Nhìn bao quát vào phóng ảnh NCEI tôi thấy chỗ nào cũng sâu hơn ngàn thước trừ những nơi có đảo, đá chìm nổi hay các rặng san hô ngầm. Điều đó rất tiện cho ta núp trốn sau khi bắn xong và bị tàu địch săn tìm…

Thâm phụ họa với lời của Toàn.

– Tôi cũng nghĩ như hạm phó; tuy nhiên tôi sợ mình chạy lạng quạng đụng đá ngầm. Hạm trưởng với hạm phó chắc còn nhớ trước đây chiếc tàu vớt mìn USS Guardian đụng vào một dãy san hô ngầm ở biển Sulu của nước Phi…

Chương với Toàn đồng gật đầu. Lát sau Toàn mới lên tiếng.

– Thưa hạm trưởng tôi đề nghị trước khi bắn mình nên bỏ thì giờ thám hiểm kỹ càng thêm về khu vực của đáy biển quanh Đá Chữ Thập một chu vi chừng vài chục cây số có thể xa tới Đá Châu Viên và Đá Gạc Ma về hướng đông bắc và tới đảo Trường Sa do ta trấn đóng ở hướng tây nam. Châu Viên và Gạc Ma là hai rặng san hô mà Trung Cộng đang ra sức kiến tạo thành căn cứ quan trọng không kém gì Đá Chữ Thập.

Ngẫm nghĩ giây lát Chương mới nói với Toàn.

– Tôi giao cho ông chuyện thám hiểm đáy biển quanh Đá Chữ Thập. Bây giờ mình trở lại việc chính là mục tiêu tác xạ. Theo hai ông mình phải bắn vào vị trí nào?

Hạm phó Toàn với Thâm chăm chú nhìn vào phóng ảnh của toàn thể căn cứ Đá Chữ Thập, một rặng san hô nằm theo hướng đông bắc xuống tây nam, có chỗ dài nhất gần 25 cây số và có nơi rộng nhất 6 cây số với diện tích khoảng 110 cây số vuông. Phần cuối ở phía tây nam cao hơn và có chỗ nổi lên khỏi mặt nước khi thuỷ triều lên; tuy nhiên phần còn lại thì chìm ở dưới nước hoặc bị ngập khi thuỷ triều lên. Đó là lý do khiến cho Đá Chữ Thập đạt được hải phận 12 hải lý. Trung Cộng đã nạo vét đáy biển xung quanh Đá Chữ Thập để lấy đất cát lên bồi đắp làm thành vùng đất hoàn toàn nổi trên mặt nước có diện tích gần 3 cây số vuông rồi sau đó xây một phi trường với đường bay dài 3 cây số. Để phòng thủ hòn đảo nhân tạo này, hải quân Trung Cộng đã bố trí các loại vũ khí phòng không như hoả tiễn, súng cao sạ và hệ thống báo động sớm (Early Warning System).

– Tôi nghĩ mình nên bắn vào chỗ này thưa hạm trưởng…

Lên tiếng trước nhất, Thâm chỉ ngay vào cái vệt trắng biểu hiệu của phi đạo dài 3 cây số. Phía bên kia có một vùng màu xanh với hình dáng của mấy chiếc tàu đang neo đậu. Đó là cái vịnh mà Trung Cộng đã hút đất cát lên làm thành một hải cảng mà mực nước sâu có thể lên tới năm ba chục thước nước cho tàu ra vào.

– Theo tôi đây là chỗ mỏng nhất của Đá Chữ Thập. Nếu vịnh này có tàu ra vào thì nó phải sâu ít nhất hai mươi lăm năm mét trở lên. Cũng vì họ nạo vét đáy biển hút lấy đất cát bồi đắp để xây phi đạo nên làm cho cái gốc hoặc phần nền ở dưới sâu của rặng san hô thành ra mỏng đi. Nếu mình tập trung thuỷ lôi bắn vào khu vực này thì phi đạo dài ba ngàn mét có thể nứt hoặc xụp đổ từ một phần ba cho tới phân nửa…

Chương mỉm cười gật gù như thích thú về ý kiến của Thâm. Vốn là sĩ quan vũ khí do đó Thâm có cái nhìn bén nhạy về mục tiêu tác xạ hơn nhiều người khác. Toàn cũng cười góp lời.

– Tôi cũng đồng ý với lý luận của ông Thâm. Chỗ đó mỏng mà mình bắn dưới sâu chừng trăm thước thì đường bay xây trên cát của tụi Trung Cộng sẽ xụp liền. Hổng xụp liền thì nó cũng bị nứt rồi bị sóng vỗ riết nó cũng phải xụp…

Gật đầu Chương thong thả thốt.

– Tôi cũng nhận thấy ông Thâm chọn mục tiêu tác xạ đúng nhất. Nhưng tôi còn có thêm câu hỏi dành riêng cho ông Thâm. Mình phải bắn bao nhiêu trái thuỷ lôi thì mới có thể làm xụp phi đạo?

Nghe hạm trưởng hỏi Thâm có vẻ hơi đắn đo suy nghĩ giây lát mới trả lời.

– Hạm trưởng đã nói mình sẽ dành lại 4 trái thuỷ lôi để phòng vệ; vậy thì mình có 32 trái để phá hủy phi đạo. Đầu nổ của thủy lôi là 267 kí lô. Nếu mình tập trung vào một mục tiêu thôi thì với hơn 8 tấn chất nổ tôi nghĩ có nhiều hi vọng làm xụp hoặc làm nứt cái đảo ra làm đôi…

Toàn lên tiếng ngắt lời của Thâm.

– Ông bắn một lần mấy trái?

Chiếc 66 có hai giàn phóng ở trước mũi. Mỗi giàn phóng có hai ống phóng. Do đó nó có thể bắn cùng một lúc bốn trái thủy lôi. Thâm do dự một giây mới trả lời.

– Tàu có hai giàn phóng ở trước mũi; mỗi giàn phóng có hai ống phóng. Tôi tính bắn 2 trái một lượt, mỗi lượt cách nhau 15 giây. Phải mất 3 phút mới bắn hết 24 trái. Bắn tuần tự mỗi lần hai trái thủy lôi vào một vị trí giống như là mình khoan sâu vào lòng đất để rồi hai trái cuối cùng sẽ làm vỡ tung vị trí. Bắn như vậy mới đạt kết quả tối đa thư hạm trưởng và hạm phó…

Nghe Thâm trình bày, Chương gật gật đầu như đồng ý. Cười nhẹ Toàn lên tiếng.

– Tôi cũng nghĩ mình nên tập trung vào một mục tiêu thôi… Bắn tập trung thì sức công phá mạnh hơn.

Quan sát phóng ảnh của căn cứ Đá Chữ Thập lần nữa xong Chương lên tiếng. Mặc dù anh nói một cách từ tốn song Toàn với Thâm đều hiểu đó là lệnh của cấp chỉ huy.

– Tôi đồng ý với hạm phó chọn một mục tiêu quan trọng nhất là phi đạo. Bởi vì sau khi mình bắn mục tiêu thứ nhất thì tàu địch có thể biết sự có mặt của mình. Hai ông cũng biết trực thăng săn tàu ngầm phản ứng lẹ lắm. Chừng năm mười phút nó đã quầng quầng trên đầu của mình rồi…

Quay nhìn Thâm, vị hạm trưởng ra lệnh.

– Mình đã đồng ý về mục tiêu rồi. Ông hãy cài đặt tọa độ của mục tiêu vào hệ thống vũ khí của ông đi…

Được lệnh, Thâm trở lại bàn làm việc riêng của mình. Còn lại hai vị hạm trưởng và hạm phó đứng đối diện với nhau và cùng nhìn vào phóng ảnh của Đá Chữ Thập. Cả hai đều im lìm suy nghĩ nhiều câu hỏi, nhiều vấn đề, nhiều chuyện hóc búa và chưa có câu trả lời thỏa đáng. Hoàn thành nhiệm vụ và sống sót để trở về với gia đình là hai điều tương phản nếu không muốn nói hầu như đối nghịch với nhau. Ở trong lính lâu, có cấp bực và chức vụ cao, hạm trưởng và hạm phó đều biết rõ sự khó khăn cũng như nguy hiểm mà họ đang trực diện. Tàu càng lúc càng gần tới mục tiêu cho biết họ không có nhiều thời giờ để suy nghĩ và tính toán. Phải hành động nhanh và hành động đúng. Mọi sơ hở hoặc sai lầm đều dẫn tới một thất bại mà thất bại sẽ đưa tới cái chết.

– Mục tiêu… Đá Chữ Thập 20 cây số…

Toàn thấy hạm trưởng ngước lên nhìn mình giây lát rồi lên tiếng.

– Phòng hải hành… báo cáo độ sâu của biển…

– Một ngàn chín trăm năm mươi sáu mét thưa hạm trưởng.

Trung sĩ nhất Tánh báo cáo. Liền theo đó Chương lên tiếng.

– 66… 699 mét sâu…

Thủy thủ đoàn đang có mặt trong phòng chỉ huy nhìn nhau khi nghe giọng nói rắn rỏi của cấp chỉ huy vang lên. Nhất là ba con số 699. Đó là độ sâu mà chiếc tàu của họ hiếm khi lặn trừ khi nào phải tránh né sự săn tìm của tàu địch. Là căn cứ lớn và quan trọng nhất của hải quân Trung Cộng ở Trường Sa, dĩ nhiên Đá Chữ Thập phải được phòng thủ để chống lại sự tấn công của phi cơ, hỏa tiễn từ trên không của chiến hạm. Chỉ cần ăn chục trái hỏa tiễn loại Tomahawk là căn cứ này sẽ bị tê liệt trong thời gian dài. Nguy hiểm nhất phải nói tới sự tấn công gần và bất ngờ của tàu ngầm. Nằm dưới biển sâu ngàn thước và ở gần hai ba chục cây số, tàu ngầm có thể hủy diệt căn cứ Đá Chữ Thập dễ dàng mà hệ thống phòng thủ vô phương chống đỡ.

– Đá Chữ Thập… 16 cây số…

Chiếc tàu ngầm chậm chạp di chuyển cũng như sự hô hấp thủy thủ đoàn bị chậm lại không phải vì thiếu dưỡng khí mà tim của họ muốn ngưng đập vì hồi hộp, lo âu và sợ hãi. Ngay cả không có nhiệm sở tác chiến mọi người cũng ngồi chết dí tại vị trí của mình. Mặc hai ba lớp áo dày cộm mà có người bị lạnh run vì không khí gần đông đặc thành đá. Hơi thở nóng ra gặp khí lạnh mù mù hơi sương. Đứng tại bàn hành quân, hai tay thọc vào trong túi quần, mắt nhìn đăm đăm vào hải đồ sáng rực trên màn hình, vị hạm trưởng ra lệnh một cách chững chạc và rõ ràng để chỉ dẫn con tàu đi vào vùng biển có đủ thứ hiểm nguy do chính thiên nhiên và con người tạo ra. Đá ngầm, xác tàu chìm, san hô ẩn mặt, tàu nổi dò tìm, tàu ngầm săn đuổi. Chỉ cần sơ sẩy, lơ đểnh, lệnh lạc sai trật là sinh mạng của mấy chục người bị đe dọa. Giữa lằn ranh sống chết đó, vị hạm trưởng cần phải bình tỉnh để làm gương cho lính. Sợ thì ông ta chắc cũng sợ, nhưng biết chế ngự nỗi sợ hãi của mình không lộ ra ngoài để cho lính thấy được để bị lây nhiễm.

– Đá Chữ Thập… 8 cây số…

Chương liếc hạm phó Toàn xong hắng giọng. Ai cũng nghe được giọng nói nặng như đeo chì của cấp chỉ huy.

– Thủy âm định vị chủ động sẵn sàng?

Giọng của hạm phó Toàn cũng trầm trọng không kém gì cấp chỉ huy.

– Thủy âm định vị chủ động sẵn sàng hoạt động thưa hạm trưởng…

– Go…

Vị hạm trưởng ra lệnh gọn. Trưởng ban và phó trưởng ban thủy âm định vị là chuẩn úy Đan và thượng sĩ nhất Ẩn chia nhau điều khiển MOAS. Ẩn thì dò tìm các chướng ngại vật trong nước, còn Đan thì độ dày mỏng của phần chìm dưới nước của phi đạo.  Biết rõ sự nguy hiểm khi dùng MOAS cũng như rút ngắn thời giờ, Toàn chỉ ra lệnh cho Đan với Ẩn dò một bên đảo nơi có phi đạo thôi. Chỉ cần hủy diệt đường lên xuống của máy bay là coi như họ hoàn thành nhiệm vụ đã được giao phó. Ở độ sâu 699 mét, chiếc tàu ngầm phải mất hơn tiếng rưởi đồng hồ để làm xong chuyện đo đạc. Tất cả mọi dữ kiện như độ sâu của biển, san hô, đá ngầm chìm dưới nước, tàu chìm và nhất là độ dày mỏng của mục tiêu đều được ghi nhận rồi sau đó cài đặt vào hệ thống vũ khí. Từ đó hệ thống điện toán của tàu dưới sự điều khiển của Thâm và các chuyên viên vũ khí sẽ vẽ ra đường đi của thủy lôi. Đường đi này sẽ được cài đặt vào RAM (Random Access Memory) của thủy lôi để khi bắn chỉ cần bấm nút khai hỏa là thủy lôi sẽ tự động đi theo đường đã định sẵn để tìm tới mục tiêu. Ngoài ra để phòng trường hợp các chuyên viên vũ khí bị sai lầm trong việc tính toán, thủy lôi còn được cài đặt thêm hệ thống video control bởi các chuyên viên của hệ thống vũ khí của tàu. Bằng cách vô tuyến điều khiển này một chuyên viên vũ khí có thể chỉ huy thủy lôi khi nhận ra nó đi sai đường hoặc điều khiển nó đánh đúng vào mục tiêu mà mình muốn. Ba tiếng rưởi hay hai trăm mười phút đồng hồ nín thở khiến thủy thủ đoàn trên tàu mệt nhoài và đổ mồ hôi hột vì căng thẳng. Nhờ vậy mà họ quên mất sự sợ hãi và lo âu đang đè nặng trí não để chú tâm vào công việc của mình.

36.

Sau khi được hai sĩ quan trưởng phòng thủy lôi 1 và 2 báo cáo tọa độ của mục tiêu đã được cài đặt vào từng trái thủy lôi, đại úy Thâm lên tiếng liền.

– Trình hạm trưởng… Mục tiêu… tây nam 98… khoảng cách 6 cây số… độ sâu 134 mét…

– Phòng thủy lôi 1 bắn…

Thủy thủ trong phòng chỉ huy đã nghe cái lệnh này nhiều lần lắm rồi; tuy nhiên lần này họ cảm thấy thắt tim lại vì hiểu rõ tính mạng của họ đã đặt trên đầu trái thủy lôi. Căn cứ Đá Chữ Thập bị bắn phá đồng nghĩa với việc hàng chục máy bay trực thăng săn tàu ngầm sẽ quầng quầng ở trên không, hàng chục chiến hạm nổi đủ loại như khu trục, tuần dương, hộ tống, khinh tốc hạm túa ra và nguy hiểm nhất là tàu ngầm điện bình, tàu ngầm nguyên tử sẽ mở cuộc săn tìm để hủy diệt chiếc tàu của họ. Hai trái thủy lôi rời ống phóng cùng lúc làm cho chiếc tàu nặng bốn ngàn tấn rung nhẹ. Phòng thủy lôi 1 ở đằng mũi có hai giàn phóng, mỗi giàn phòng lại có 2 ống phóng, mỗi lần bắn 2 trái cách nhau 15 giây nên chỉ cần 3 phút thì 24 trái thủy lôi đã rời giàn phóng. Khoảng cách 6 cây số, vận tốc tối đa 130 cây số/giờ do đó hơn 2 phút hai trái thủy lôi đầu tiên đã chạm mục tiêu. Tiếng ầm… ầm… vọng vang cùng với tiếng báo cáo của trung úy Biết mỗi khi 2 trái thủy lôi được phóng ra. Với cách thức bắn một lần 2 trái thủy lôi vào một mục tiêu giống như cái khoan khổng lồ khoan sâu vào trong ruột của cái đảo san hô rồi vỡ toang ra tạo thành cơn chấn động của âm thanh và nước khiến cho chiếc tàu ngầm nặng bốn ngàn tấn ở xa 6 cây số phải chao đảo, trồi lên hụp xuống vì sóng âm thanh và sóng nước mạnh gần giống như động đất ở dưới đáy biển. Tiếng ì ầm vọng vang làm điếc tai người nghe. Ngồi im trên ghế, hạm trưởng có thể quan sát sự tàn phá của mục tiêu xuyên qua hệ thống máy chụp hình được gắn ở đầu đạn của thủy lôi. Lồng trong ngần ấy thứ âm thanh đó mọi người nghe lệnh của hạm trưởng vang sắc gọn.

– 66… tây bắc 278…

Chiếc tàu ngầm nặng hơn bốn ngàn tần chầm chậm quay mũi về hướng tây bắc. Cùng lúc đó đại úy Thâm ấn nút đỏ. Lệnh từ phòng chỉ huy truyền xuống phòng thủy lôi 2 ở sau lái. Giọng của thiếu úy Hải, trưởng phòng thủy lôi 2 báo cáo.

– Thủy lôi 1 rời ống phóng… Thủy lôi 2 rời ống phóng…

15 giây một lần phóng hai trái vì vậy chỉ cần một phút tám trái thủy lôi đã rời giàn phóng tiến tới mục tiêu. Ngay lúc hai trái thủy lôi cuối cùng vừa ở sau lái vừa rời khỏi giàn phóng, giọng của hạm trưởng vang lên liền.

– 66… tây bắc 278… vận tốc 10…

Không chậm trễ một giây, không cần kiểm điểm lại mục tiêu bị phá hủy nặng nhẹ ra sao, cũng không cần biết có bị tàu địch săn đuổi dò tìm như thế nào, chiếc 66 như con quái thú khổng lồ lặng lẽ trườn mình trong lòng đại dương sâu thẳm để chuồn. Nó phải chuồn nhanh, chuồn sâu và chuồn êm thì mới có hi vọng thoát khỏi sự săn đuổi của trực thăng, tàu nổi và tàu ngầm đang túa ra theo đội hình đường kính trăm cây số.

– Captain… destroyer… south west 219… speed 40… distance 30…

Chỉ cần nghe chuẩn úy Đan báo cáo với cái giọng gấp gáp mọi người đều biết có chuyện nguy hiểm sắp xảy ra. Đó là thói quen của ông ta. Mỗi khi có chuyện gì rất quan trọng và khẩn cấp ông ta đều dùng Anh ngữ, tiếng nói quen thuộc mà ông ta đã nói từ hồi nhỏ cho tới bây giờ. Vị hạm trưởng chưa kịp lên tiếng hỏi ông ta đã báo cáo tiếp, báo cáo nhanh và chính xác.

– Khu trục hạm 197 Quảng Châu II thưa hạm trưởng…

Ngay lúc đó thượng sĩ nhất Ẩn cũng la nhỏ.

– Hạm trưởng… Mình có thêm chiếc hộ tống hạm Hải Nam 599… tây bắc 307… vận tốc 35… khoảng cách 38…

Hạm trưởng với hạm phó nhìn nhau. Dường như cả hai sĩ quan cao cấp nhất của chiếc 66 đều kinh ngạc về phản ứng mau lẹ của kẻ địch. Họ đoán sau khi căn cứ bị tấn công thì mất từ 10 cho tới 15 phút các tàu đậu tại căn cứ mới săn tìm họ được. Có thể đây là hai chiếc tàu có nhiệm vụ tuần phòng bên ngoài khu vực mà vì chú tâm vào chuyện phóng thủy lôi nên họ lơ là sự có mặt của tàu địch đang tuần tiễu ở trong vùng. Hai chiến hạm này, một từ hướng tây nam tiến lên còn một từ tây bắc xấn vào như muốn chận đường rút chạy của chiếc 66. Hơi mỉm cười Chương nói đùa với hạm phó Toàn một câu mà nghe xong không những Toàn mà thủy thủ đoàn ở trong phòng chỉ huy đều bụm miệng cười.

– Coi bộ mình phải chuồn thật lẹ hả Toàn. Không chuồn lẹ thì sẽ bị đàn em của Mao xếnh xáng nựng xưng mặt mày. Đại úy Hạ… Mình còn cách hải lộ 4 bao xa?

Đang là sĩ quan đương phiên, nghe hạm trưởng cao giọng hỏi Hạ ứng tiếng trả lời liền.

– Thưa hạm trưởng… 30 cây số.

Não bộ của vị hạm trưởng suy nghĩ thật nhanh. Nếu ngược lên hướng bắc để gặp hải lộ 4 tức chạy ngược chiều với chiếc hộ tống hạm 599 Hải Nam và có thể sẽ đụng nó trước khi tới con đường ngầm này. Còn giữ phương hướng cũ thì cũng có thể gặp chiếc khu trục hạm 197 Quảng Châu II. Đây là chiếc khu trục mới nhất của hạm đội Nam Hải được trang bị hệ thống thủy âm định vị cực kỳ bén nhạy chuyên dò tìm và chống tàu ngầm. Riêng chiếc 599 Hải Nam thì cũ hơn và cũng không được trang bị đồ chơi mới nên có thể nó không tìm ra sự hiện diện của chiếc 66. Đụng chiếc tàu cũ này thì dễ đối phó hơn. Ngược đường lên hướng bắc để gặp hải lộ 4 đoạn lợi dụng con đường ngầm bí mật này rút về hướng tây là an toàn nhất.

Hướng về chỗ quản nội trưởng Hành, vị hạm trưởng cao giọng.

– 66… tây bắc 350… vận tốc 30… sâu 699…

Từ tây bắc 288 độ chuyển hướng thành tây bắc 350 độ, tăng vận tốc từ 10 lên 30 cây số/giờ; chiếc tàu ngầm của hải quân Sài Gòn chạy nước rút tới hải lộ bí mật để trốn tránh sự săn đuổi của tàu địch. Con đường bí mật sâu thẳm và khúc khuỷu này có nhiều đá ngầm, rặng san hô chìm nổi sẽ là nơi trú ẩn an toàn. Tàu ngầm loại điện bình thông thường của Trung Cộng hoặc của Nga Sô chỉ lặn sâu tới 300 mét thôi. Còn tàu nổi nếu có kéo thêm tow-array-sonar hoặc trực thăng có thả dipping sonar cũng khó mà dò được ở độ quá sâu.

– 197… vận tốc 40… khoảng cách 20…

– 599… vận tốc 35… khoảng cách 19…

Lời báo cáo của nhân viên ban thủy âm định vị làm cho không khí trong phòng chỉ huy vốn đã lạnh bây giờ thành ra đặc quánh như đông đá. Hai chiếc 197 và 599 đều chạy nhanh hơn chiếc 66. Nếu nó không tới kịp hải lộ bí mật để tìm chỗ núp thì sẽ bị khốn khó với hai chiếc tàu nổi này. Có một điều nguy hiểm ai cũng biết mà không ai muốn nói ra. Tăng tốc độ nhanh gấp ba lần thì chiếc tàu của họ cũng gây ra tiếng ồn có cường độ cao hơn để tàu nổi dò được sự có mặt cũng như vị trí của họ. Họ chỉ hi vọng nhờ nằm sâu dưới ”shadow zone”  thì địch khó mà biết được đích xác vị trí của họ. Trò chơi cút bắt này mới bắt đầu và chỉ chấm dứt khi nào một trong hai kẻ tham dự bỏ cuộc. Đối với chiếc 66 bỏ cuộc đồng nghĩa với sự chết, sự ngủ yên trong lòng biển âm u và sẽ được coi như ” mất tích trong khi thi hành nhiệm vụ ”. Giọng của Đan vang lên trầm trọng.

– Hải lộ 4… 10 cây số… 197 khoảng cách 13… 599… khoảng cách 10…

Toàn thể thủy thủ cảm thấy hơi thở như nghẹn lại vì sự căng thẳng quá mức gây ra bởi khoảng cách càng lúc càng ngắn dần rồi cuối cùng chiếc 599 sẽ ở trên đầu họ với hàng chục, trăm trái depth charges rơi xuống. Lệnh của hạm trưởng vang lên khiến cho thủy thủ đoàn lạnh run.

– Phòng vũ khí… sẵn sàng khai hỏa…

Giọng của đại úy Thâm vang lên chắc nịch.

– Torpedo rooms 1& 2… ready to fire… Captain…

Chuẩn úy Đan hắng giọng khàn khàn.

– Hải lộ 4… 4 cây số rưởi… 197 khoảng cách 6… 599… khoảng cách bốn rưởi…

Giọng của hạm trưởng vang lên chậm.

– 66… vận tốc 35…

Lệnh truyền tới trung úy Bình, trưởng phòng điều khiển (maneuvering room) trực thuộc phòng cơ khí. Tuy có chút ngạc nhiên và lo âu song Bình cũng hiểu được quyết định của hạm trưởng là quyết định sống chết cần phải thi hành tức khắc.

– Hết ga đi Kiếm…

Bình hét vào tai hạ sĩ nhất Kiếm. Cần điều khiển tốc độ được đẩy hết về trước. Như một lực sĩ điền kinh đang gần tới mức chót, chiếc tàu nặng hơn bốn ngàn tấn lướt ào ào trong nước. Bình nhìn đăm đăm vào đồng hồ kiểm soát hệ thống điện bình. Anh biết chạy với tốc độ tối đa thì bình điện sẽ hết mau lắm. Khi bình điện xuống tới mức thấp nhất thì phòng cơ khí phải dùng tới hệ thống AIP để xạc bình tức phải tiêu hao dưỡng khí nhiều hơn. Thủy thủ đoàn có thể nhịn ăn một ngày song không thể nín thở quá hai ba phút đồng hồ. Do đó dưỡng khí là thứ mà trung úy Bình cũng như thiếu tá Định, sếp của anh chú tâm nhiều hơn mọi thứ khác như như nhiên liệu và nước uống.

– Hải lộ 4… 500 mét… 197 khoảng cách 2… 599… khoảng cách 600…

Liền theo lời báo cáo của chuẩn úy Đan là lệnh của hạm trưởng vang vang.

– 66… 725 mét sâu…

Đang ở độ sâu 699 mét, đang chạy với vận tốc 35 cây số/giờ chiếc tàu ngầm nặng bốn ngàn tấn cắm đầu xuống độ sâu 725 mét. Phải mất mấy phút đồng hồ nó mới đạt độ sâu đã được chỉ định. Tiếng cà rùm… cà rùm… cà rùm… hòa lẫn với tiếng thrùm… thrùm… thrùm… vọng vang tuy mơ hồ, thoạt xa thoạt gần nhưng nhờ vào hệ thống thủy âm định vị thụ động tối tân của tàu nên ai ai cũng nghe rõ. Huống chi tiếng động của khu trục hạm, hộ tống hạm đang quầng quầng trên đầu họ chỉ cách 725 mét thì họ cũng có thể nghe được bằng hai lỗ tai. Ống nghe trên tai, mắt nhìn vào màn hình thượng sĩ Ẩn lắng nghe thứ tiếng động đặc biệt trong hàng chục thứ tiếng ồn phức tạp và hỗn độn. Đó là thứ tiếng ồn của trái depth chages được phóng ra từ tàu nổi. Khi chạm mặt nước nó sẽ tạo ra tiếng ồn đặc biệt mà chỉ có các nhân viên nhiều kinh nghiệm như Ẩn mới nghe và phân loại được.

– Depth charges…

Thượng sĩ Ẩn lên tiếng cảnh cáo dù mọi người đều biết và chờ đợi chuyện mà sớm hay muộn gì cũng phải xảy ra.

– Nổ…

Ẩn giựt cái ống nghe ra khỏi tai mình khi nghe tiếng ”click” vang lên. Âm thanh đó tới trước rồi 1/10 giây đồng hồ sau tiếng ầmmm… ùmmm… bìnhhh… ầmmm… ùmmm… bìnhhh… ầmmm… ùmmm… bìnhhh… vọng vang khắp nơi, phải trái, tả hữu, trước sau, trên dưới đều có. Mọi người có cảm giác như họ đang ở trong cái lồng kín mít bằng sắt bị hàng ngàn cái búa tạ khổng lồ nặng cả tấn gõ khắp nơi gây thành chuỗi âm thanh khủng khiếp. Tiếng động chưa dứt thì liền theo đó cơn chấn động vô hình khác nện vào lớp vỏ bọc đẩy con tàu nặng bốn ngàn tấn dạt trong nước. Ly tách, chén dĩa, nĩa muỗng bằng giấy bay rào rào. Ôm cứng cái cột tiềm vọng kính, Toàn thấy hạm trưởng té lăn cù dù hai tay của ông ta bám cứng vào mép bàn hành quân. Thủy thủ cũng có vài người té lăn ra sàn dù họ bấu chặt vào ghế của mình. Đèn chớp tắt mấy lượt rồi tắt luôn. Đèn khẩn cấp cháy lên soi mờ mờ phòng chỉ huy ngổn ngang đủ mọi thứ rơi vỡ trên sàn tàu.

– Hạm trưởng có sao không?

Toàn hỏi lớn. Lồm cồm ngồi dậy Chương chậm chạp trả lời.

– Cám ơn Toàn… tôi không sao.

Here she comes again…

Lần cảnh cáo này do Đan lên tiếng. Ùmmm… Ầmmm… Rầmmm… Rầmmm… Ùmmm… Ầmmm… Rầmmm… Rầmmm… Ùmmm… Ầmmm… Rầmmm… Rầmmm… Hàng chục, trăm tiếng nổ lớn hơn, gần hơn, mạnh hơn, dữ dội hơn, khủng khiếp hơn, tàn phá nhiều hơn đợt tiếng nổ trước. Hai cánh tay quấn chặt cứng vào cây cột của tiềm vọng kính mà Toàn cảm thấy thân thể của mình như bị một sức lực vô hình nâng lên cao gần đụng vào nóc tàu. Đụng vào cái trần bằng thép đó đầu anh sẽ nứt hoặc bể ra làm đôi. Ngay khi nghe tiếng la cảnh cáo của Đan, Chương nhào tới vị trí gần mình nhất là chiếc tiềm vọng kính dành riêng cho hạm trưởng và các sĩ quan chuyên dùng cho việc quan sát. Bằng tất cả sức mạnh có thể có được anh ôm cứng cây cột rồi cơn ” shock wave ” cuộn tới ép anh dính chặt vào cây cột xong lại như muốn kéo anh rời khỏi. Miệng anh hả lớn để thổi không khí ra ngoài vì lồng ngực bị ép mạnh khiến cho hai lá phổi dẹp lại. Sóng âm từng đợt, từng đợt, hết đợt này tới đợt khác thi nhau đập vào màng nhỉ làm đau buốt lỗ tai rồi tiếng o o cứ kéo dài liên miên không dứt. Quay sang anh thấy máu đỏ tươi từ trong mũi của Toàn xịt ra. Hai bàn tay bịt kín hai cái lỗ tai, miệng há hốc ra và mắt trợn trừng, hạm phó Toàn thở khò khè như bị hen suyển. Đèn khẩn cấp tắt ngấm. Cảm thấy ran rát nơi mặt, đưa tay lên mặt sờ soạng đụng cái gì ươn ướt Chương biết đó là máu. Một điều mà vị hạm trưởng nhiều kinh nghiệm trận mạc mừng rỡ là kẻ địch không biết đích xác vị trí của mình. Nếu đã xác định được vị trí thì các tàu nổi sẽ phóng thủy lôi để bắn chìm chứ không thả depth charges và thả nhiều như vậy. Thả loại chất nổ chìm sâu dưới nước này chứng tỏ họ nghi ngờ sự hiện diện của tàu ngầm lạ thôi. Cố gắng lấy lại chút bình tỉnh, Chương lên tiếng. Ai cũng nghe được cái giọng không bình thường của hạm trưởng.

– Phòng cơ khí báo cáo…

Khá lâu mới có giọng nói của thiếu tá Định vang lên rời rạc.

– Trình hạm trưởng… Phòng AIP bị cháy… bể ống nước biển… nước tràn vào phòng máy… Điện bị cúp… nhân viên đang chữa cháy…

Toàn chợt lên tiếng. Giọng nói của hạm phó Toàn khàn đặc và có chút gì run rẩy.

– Để tôi xuống phòng máy kiểm soát xong sẽ báo cáo cho hạm trưởng biết…

– Cám ơn Toàn… Mình cần điện bình…

– Tôi hiểu thưa hạm trưởng…

Nhìn theo bóng hạm phó giây lát, Chương cắm đầu vào màn hình của bàn hành quân vẫn còn hoạt động nhờ vào hệ thống điện riêng. Anh hi vọng tìm kiếm được một chỗ trú ẩn tạm thời để sửa chữa hư hỏng và tránh bị tấn công bằng depth charges hoặc có thể thủy lôi vì biết sẽ có thêm nhiều tàu nữa tham dự vào cuộc săn tìm. Tuy nhiên chưa kịp làm gì hết thì chuẩn úy Đan cung với thượng sĩ nhất Ẩn đồng loạt la lớn với giọng thảng thốt.

– Hạm trưởng… Có thêm tàu nữa…

– Bao nhiêu chiếc?

– Ba thưa hạm trưởng…

– ID nó cho tôi…

Hai trưởng ban và phó trưởng ban đeo ống nghe giây lát rồi Đan báo cáo.

– Khinh tốc hạm … đông bắc 77… vận tốc 35… khoảng cách 18… Khu trục 166 Chu Hải… đông nam 108… vận tốc 35… khoảng cách 24… hộ tống 560  Đông Quan… tây nam 225… vận tốc 30… khoảng cách 32…

Trí não của vị hạm trưởng từng đụng không biết bao nhiêu lần với đủ loại tàu của địch tính nhanh như máy. Chiếc tàu địch ở gần anh nhất chính là khinh tốc hạm. Với khoảng cách 18 cây số và vận tốc 35 cây số/giờ nó phải mất gần 30 phút để bắt kịp chiếc tàu của anh. 30 phút quá đủ cho anh tìm chỗ ngủ.

– Chuẩn úy Đan…

Nghe hạm trưởng gọi đích danh mình, vị trưởng ban thủy âm định vị ứng tiếng liền.

– Tôi nghe hạm trưởng…

– Ông với ông Ẩn mở MOAS lên tìm chỗ ngủ. Chỗ nào sâu không quá 700 mét…

– Tuân lệnh hạm trưởng…

Đan với Ẩn đốc thúc nhân viên trực thuộc tức tốc mở MOAS để tìm chỗ ngủ cho tàu. Chiếc 66 cần phải nằm im trên đáy biển và tắt hết máy móc thì mới mong thoát khỏi sự săn đuổi của năm bảy chiến hạm nổi và tàu ngầm của địch. Trực thăng săn tàu ngầm chưa nhập cuộc mà tình trạng đã nguy ngập như vậy rồi. Nếu có loại máy bay chuyên săn tàu ngầm này mang theo hệ thống dipping sonar thì tình tình còn nguy hiểm gấp trăm lần.

– Đại úy Thâm chờ lệnh của tôi để phóng thủy lôi.

– Tuân lệnh hạm trưởng…

Lệnh của Thâm truyền xuống hai phòng thủy lôi 1 và 2 sẵn sàng khai hỏa.

– Đại úy Hạ… Tôi cần ông vẽ đường đi cho tàu… Đường rút chạy của chiếc 66 sẽ là tây 270…

– Tuân lệnh hạm trưởng…

Truyền lệnh xong Chương im lặng chờ đợi hai điều. Đầu tiên là ban thủy âm định vị sử dụng hệ thống MOAS tìm ra một chỗ ngủ tạm thời. Nằm sâu trên đáy biển với lớp nước sơn tán âm và tất cả máy móc đều ngưng hoạt động, chiếc 66 rất có nhiều hi vọng trốn thoát khỏi sự săn tìm của tàu địch cho tới khi cuộc tìm kiếm chấm dứt. Điều thứ nhì là phòng cơ khí sửa chữa xong máy móc để sẵn sàng rút lui khỏi vùng đất chết.

– Hạm trưởng… Tôi tìm ra chỗ này… Mời hạm trưởng duyệt xét…

Bước tới chỗ ghế ngồi của chuẩn úy Đan, vị hạm trưởng chăm chú nhìn rồi hỏi gọn.

– Sâu bao nhiêu?

– Dạ 675 mét thưa hạm trưởng. Chỗ này là chỗ cạn nhất vì nó nằm gần một rặng san hô thấp nhỏ ngầm dưới đáy biển. Rặng san hô chỉ cao chừng ba trăm mét. Nó cách mình gần hai cây số…

Không suy nghĩ, đúng ra vị hạm trưởng không có thì giờ để suy nghĩ. Giữa lằn ranh của sự sống chết anh phải có phản ứng nhanh và thích hợp.

– 66… mục tiêu tây 270… khoảng cách 2km…

Dưới lệnh khẩn cấp của hạm trưởng chiếc tàu ngầm nặng hơn bốn ngàn tấn quẹo trái thật gắt để nhập vào hải lộ 4 xong chạy tới chỗ rặng san hô chìm tìm chỗ ngủ. Phải mất năm phút nó mới tới vị trí. Không cần đợi lệnh của hạm trưởng, quản nội trưởng Hành chỉ huy nhân viên phòng hải hành cho tàu nằm ngủ yên trên mặt đất cát của đáy biển sâu. Thủy thủ đoàn ngồi chết cứng tại vị trí tác chiến. Không ai được đi lại ngoại trừ những người có phận sự. Không khí nặng nề và khó thở vì thiếu dưỡng khí. Trung sĩ nhất Tánh thỉnh thoảng lại liếc chiếc đồng hồ đo độ thán khí trong tàu. Khi nào nó chỉ dưới mức an toàn thì máy điều hòa mới chạy để lọc thán khí và bơm thêm dưỡng khí vào.

– Depth charges…

Thượng sĩ nhất Ẩn la nhỏ. Thủy thủ trong phòng chỉ huy và luôn cả tàu tạm thời bỏ ngang công việc của mình để chuẩn bị đón thứ mìn nổ chậm trong nước. Người ôm cột, kẻ bấu chặt ghế ngồi hay bất cứ cái gì để giữ mình ở tại vị trí. Tất cả bặm môi cắn răng chờ. Oànhhh… Oànhhh… Oànhhh… Rầmmm… Rầmmm… Rầmmm… Ìnhhh… Ìnhhh… Oànhhh… Oànhhh… Oànhhh… Ầmmm… Ầmmm… Chương nghe tiếng nổ gần tới độ như ở trên đầu của mình làm bưng tai nhức óc. Rồi tiếng nổ ầm dưới chân như đẩy thân hình của mình vọt lên cao mặc dù anh đã ôm chặt cứng cây cột sắt của tiềm vọng kính. Tiếp theo tiếng nổ ở bên trái đẩy dạt anh về bên phải, cùng lúc tiếng nổ bên mặt cuộn tới thổi thân hình bay ngược lại rồi xoay vòng vòng vì sức lực vô hình như cơn bão xoáy cuốn bay tất cả những gì ở trên đường đi của nó. Không biết có bao nhiêu tàu chiến của địch tham dự vào cuộc săn đuổi nhưng bằng vào hàng loạt tiếng nổ rền khắp nơi và kéo dài, vị hạm trưởng nhiều kinh nghiệm trận mạc biết mình chưa bao giờ bị địch thả mìn nổ chậm nhiều như vậy. Nặng hơn bốn ngàn tấn, nằm yên trên mặt đất cát của đáy biển, chiếc tàu ngầm còn phải rung chuyển vì cơn chấn động của âm thanh và nước hợp lại. Sau 30 phút nổ dồn dập, âm thanh chết người thưa dần, anh mới hoàn hồn nhìn quanh phòng chỉ huy. Thủy thủ ngồi chết lặng tại vị trí của họ. Kẻ ôm đầu, người gục mặt, người há miệng, kẻ mắt trợn trừng; tất cả phản ứng đủ cách đủ kiểu nào thích hợp nhất để chống lại sức tàn phá khủng khiếp của hàng trăm trái mìn nổ chậm trong nước. Không có cái ly, tách, dĩa, tô, chén, dao, nĩa bằng giấy hoặc nhựa nào còn ở trên mặt bàn. Tất cả đều nằm ngổn ngang trên sàn tàu. Sách, vở, tập, dĩa nhạc, tài liệu vương vải khắp nơi. Ngay cả nhiều máy móc, dụng cụ được bắt dính cứng vào vách tàu cũng bị long óc, móp méo không còn hình dạng cũ nữa.

– Hạm trưởng…

Chương thì thầm vào hệ thống liên lạc nội bộ khi nghe giọng của hạm phó Toàn vang lên.

– Tôi nghe…

– Phòng AIP bị trúng depth chages. Tôi với ông Định đang chỉ huy anh em chữa cháy xong rồi mới kiểm soát sự hư hại…

– Báo cáo thương vong?

Hỏi xong nghe Toàn im lặng không trả lời Chương linh cảm có điều gì xấu xảy ra.

– Dạ… Hai chết, ba bị thương nặng…

– Ai chết?

– Dạ trung sĩ nhất Tính và hạ sĩ An. Ba bị thương nặng là trung úy Bình, trung sĩ Yên và hạ sĩ Bình… Số còn lại bị thương nhẹ nhưng vẫn làm việc được…

Chương thở dài. Anh liếc nhanh thủy thủ đoàn đang ngồi tại phòng chỉ huy khi nghe tiếng xầm xì của họ. Đây là lần đầu tiên chiếc tàu của họ bị thương vong nặng như vậy. Suy nghĩ giây lát Chương bảo Thâm thay mình chỉ huy rồi bương bả đi về phòng máy. Anh được Toàn và Định thay phiên báo cáo sự hư hại trong lúc thủy thủ đang cố gắng dập tắt lửa. Quản nội trưởng Hành xuất hiện với hơn chục thủy thủ. Dưới sự chỉ huy của ông ta đám cháy của phòng AIP được dập tắt liền. Mỗi người một tay lo dọn dẹp đồ đạc, dụng cụ nằm ngổn ngang trên sàn tàu. Vì tránh gây ra tiếng ồn nên ai cũng phải làm gượng nhẹ thành ra việc làm bị chậm lại. Phải mất cả giờ mới xong. Thi thể của Tính và An được chuyển tới phòng hội của sĩ quan. Ba người bị thương nặng được trung sĩ y tá Đạo băng bó tạm thời và chích thuốc ngừa nhiễm trùng. Sau khi kiểm điểm, thiếu tá Định báo cáo một giàn AIP bị hư hỏng không thể sửa được vì tàu không có dụng cụ thay thế. Ống nước biển bị bể khiến cho phòng máy bị ngập cả tấc nhưng vì tiết kiệm điện bình nên Định không cho chạy máy bơm nước. Nhìn vào đồng hồ đeo tay của mình chỉ 18:00 giờ, Chương nói với Định.

– Tàu sẽ ngủ cho tới 06:00 giờ… Ông sửa cái gì ông thấy cần phải sửa nhưng tránh làm ồn…

Định hiểu ý cấp chỉ huy. Hàng chục chiếc tàu nổi đang quầng quầng trên đầu của họ. Gây tiếng ồn thì chẳng khác gì tự tố cáo vị trí của mình. An ủi thủy thủ và kiểm điểm hư hỏng xong Chương với Toàn trở lại phòng chỉ huy. Chưa kịp ngồi xuống ghế anh nghe Đan la nhỏ bằng giọng không được bình thường.

– Tàu ngầm hạm trưởng ơi…

Hai tiếng ” tàu ngầm ” đủ sức khiến cho hạm trưởng và hạm phó bước nhanh tới đứng sau lưng Đan. Trên màn hình của máy thủy âm định vị thụ đông hiện lên một chấm sáng từ hướng tây đang di chuyển chậm vào trung tâm tức vị trí của chiếc tàu của họ. Hạm trưởng Chương nhìn hạm phó Toàn. Đan báo cáo nhỏ và chậm.

– 354 Yuan Class – Type 041A… đông nam 261… vận tốc 25… khoảng cách 33…

Không đợi hạm trưởng lên tiếng hỏi ông ta bấm nút. Những dòng chữ hiện ra:

– Tàu ngầm Loại 039A và Loại 041/041A – Lớp Nguyên

Những chi tiết căn bản:

Trọng tải khi lặn: 2400 tấn

– Trọng tải khi nổi trên mặt nước: 2000 tấn

– Chiều dài: 73-75 m

– Chiều ngang: 8m

– Chiều sâu dưới nước: 5m

– Máy tàu: dầu cặn và AIP ( 4 máy dầu cặn+2AIP)

– Công xuất: 6,092 mã lực

– 1 cánh quạt

– Vận tốc khi lặn: 23 knots

– Vận tốc khi nổi: 16 knots

– Độ lặn sâu: 300m

– Thời gian hoạt động: 8.000 hải lý với vận tốc 16 knots

– Vũ khí: 6 ống phóng thủy lôi đường kính 533mm

hoặc J-83 hỏa tiễn chống tàu nổi hoặc 36 trái mìn

– Thủy thủ đoàn: 58 người.

Có tiếng xì xầm nho nhỏ của ai đó.

– Cái này hổng sợ. Nó lặn có 300 mà… 092, 093, 094, 095 tôi mới ớn…

Chương nhìn về phía vừa phát ra tiếng nói. Tuy không lên tiếng song anh cũng ngầm đồng ý với lời phát biểu trên. Ba loại tàu mang số 092, 093 094, 095 là loại tàu ngầm nguyên tử của Trung Cộng. Dù không thể so bì với các loại tàu ngầm nguyên tử của Hoa Kỳ và Nga Sô, song nó vẫn được liệt vào loại tàu ngầm nguy hiểm vì lặn sâu, chạy nhanh và ở lâu dưới nước. Trong hoàn cảnh máy móc bị hư hỏng chiếc 66 không muốn đụng đầu với loại tàu ngầm nguyên tử. Loại 041A là loại tàu điện bình chỉ lặn sâu 300 mét thôi. Còn chiếc 66 đang ở sâu dưới đáy biển sâu 675 mét. 375 mét là khoảng cách biệt rất lớn để cho chiếc 354 dò tìm ra tàu lạ đang nằm ngủ yên.

– Toàn ra lệnh cho phòng cơ khí ngưng sửa chữa cho tới khi có lệnh mới…

Ra lệnh xong Chương trở lại ghế ngồi của mình. Trừ những người đang trong phiên trực, đa số thủy thủ đều ngủ ngồi tại nhiệm sở tác chiến của mình.

37.

– Hạm trưởng…

Chương thức giấc vì nghe tiếng người gọi bên tai. Anh thấy đại úy Hạ, sĩ quan đương phiên đang mỉm cười.

– Có chuyện gì vậy Hạ?

– Dạ gần hết giờ ăn tối rồi… Nhà bếp sắp đóng cửa nên tôi phải đánh thức hạm trưởng dậy…

Đưa tay lên Chương thấy đồng hồ chỉ bảy giờ rưởi. Khẽ gật đầu vị hạm trưởng đùa một câu.

– Cám ơn Hạ đã đánh thức tôi… Trễ chút nữa tôi đói meo rồi…

Vì nhiệm sở tác chiến vẫn còn và cũng để giữ sự im lặng do đó thủy thủ đoàn, tùy thuộc vào ban phòng được chia ra từng toán nhỏ lần lượt tới nhà bếp lãnh thức ăn xong trở lại vị trí của mình. Xuống nhà bếp lãnh một khúc bánh mì thịt nguội, một miếng bánh bông lan và ly cà phê âm ấm xong anh trở lại phòng chỉ huy. Ngồi ở ghế của mình, Toàn cũng đang thưởng thức bữa ăn tối đạm bạc.

– Tàu cặp bến An Thới, hạm phó làm gì trước tiên hả hạm phó?

Đan vừa nhai vừa hỏi Toàn. Nuốt hết thức ăn đang nhai trong miệng, uống ngụm nhỏ cà phê đựng trong cái ly giấy, hạm phó Toàn cười nhẹ.

– Tắm…

– Sao kỳ vậy hạm phó. Tui tưởng ông về gặp bả trước…

Toàn lắc lắc đầu cười như nhớ lại chuyện gì vui lắm.

– Tôi phải tắm trước thì bả mới cho tôi ôm. Ông nghĩ ông hổng có tắm năm bảy ngày thì bả có cho ông ôm bả không…

Thủy thủ bụm miệng cười vì sợ gây tiếng ồn. Đó là điều thực sự xảy ra với các thủy thủ của tàu ngầm. Vì nước ngọt rất giới hạn nên tàu có qui luật riêng áp dụng cho tất cả thủy thủ kể luôn cả hạm trưởng. Khi tắm thì chỉ có nước lạnh, lạnh ngắt gần như muốn đông thành đá bởi vậy mà chẳng có ai muốn tắm lâu. Tàu có ba phòng tắm. Hai dành cho thủy thủ và một dành cho khách và sĩ quan. Vách phòng tắm nào cũng có câu ” Nên nhớ – Nước để uống chứ không phải để tắm ”. Tắm cũng phải theo từng động tác hầu tiết kiệm nước. Đầu tiên mở nước ra làm ướt đầu và toàn thân thể xong khóa nước lại, chà xà bông, kỳ cọ cho sạch sẽ, mở nước lên cho trôi hết xà bông, dùng khăn lau khô là xong. Thủy thủ nào bị bắt gặp để nước chảy trong lúc chà xà bông thì sẽ bị phạt nặng. Thời gian tắm không quá 5 phút mà nhiều người ra khỏi phòng tắm mặt mày xanh mét và run lập cập vì lạnh. Đó là ở trong tình trạng bình thường chứ đụng trận thì khỏi tắm luôn. Một người năm ba ngày không tắm thì có lẽ không sao nhưng toàn thể thủy thủ đoàn 45 người mà không tắm thì nặng mùi lắm. Đó là chưa kể thêm những mùi khác như mùi ẩm mốc, mùi dầu cặn, mùi phế thải của thức ăn và của người nữa. Tất cả mùi đó trộn với nhau, đọng trong không khí thấm từ từ vào quần áo, tóc tai da thịt khiến cho thủy thủ tàu ngầm có cái mùi thum thủm đặc biệt chẳng giống ai. Bởi vậy khi tàu cập bến thì việc đầu tiên của thủy thủ tàu ngầm là phải tắm trước khi rời tàu vì chẳng có ai chịu được cái mùi thum thủm đặc biệt này. Trong mỗi phiên trực thì một thủy thủ, thường là thủy thủ mới xuống tàu hoặc có cấp bậc thấp nhất sẽ được giao cho việc đi vòng quanh tàu thu thập rác ở các ban phòng đem về một phòng riêng. Tại đây rác sẽ được ép lại thành cục bỏ vào bao rác cột chặt lại để khi tới bất kỳ căn cứ nào sẽ được chuyển tải lên bờ. Trong tàu còn có một nơi, thường là cái thùng nhỏ đựng các thứ gì thất lạc. Thủy thủ nào lượm nhặt được cái gì không phải của mình thì đem bỏ vào cái thùng này để cho chủ nhân tới nhận diện. Mỗi thủy thủ có cái giường nhỏ xíu mà bề ngang gấp đôi thân mình và một chỗ trống đủ để chứa các thứ lặt vặt. Không có chỗ treo móc quần áo do đó có người nghĩ ra một cách rất tiện lợi là xếp quần áo của mình ngay ngắn lót dưới nệm và nằm ngủ bên trên khiến cho quần áo ngay thẳng có nếp gấp như được ủi. Bàn ủi là thứ bị cấm xài ở tàu ngầm vì tiêu thụ rất nhiều điện. Tất cả những gì thuộc về cá nhân của thủy thủ mà có dính dáng tới điện thì phải xài bằng pin cục được mua riêng. Điện thoại cầm tay cũng bị cấm hoàn toàn và chỉ được xài khi nào có lệnh của hạm trưởng. Xăng cũng là thứ không được mang xuống vì dễ cháy và phát nổ.

– Trình hạm trưởng… có báo cáo của phòng cơ khí…

Đại úy Hạ trao ống liên lạc nội bộ cho cấp chỉ huy. Lời báo cáo của Định cho vị hạm trưởng biết hệ thống điện bình đã được sửa xong và ở trong tình trạng tốt trăm phần trăm. Ống nước bị nứt cũng đã được tạm thời sửa chữa. Phòng máy bị ngập nước cũng đã được bơm ra. Nói tóm lại là chiếc 66 sẵn sàng hải hành khi có lệnh. Nghe xong báo cáo của Định, Chương ngồi im suy tính. Có năm bảy tàu địch đủ loại từ khu trục, tuần dương, hộ tống, khinh tốc hạm và luôn cả tàu ngầm đang săn lùng chiếc 66 trong phạm vi đường kính 100 cây số hoặc có thể xa hơn nữa. Đó là chưa kể loại trực thăng săn tàu ngầm. Đây mới chính là điều mà vị thuyền trưởng nhiều kinh nghiệm lo lắng nhất. Loại trực thăng săn tàu ngầm có trang bị hỏa tiễn chống tàu ngầm và hệ thống thủy âm định vị chủ động và thụ động (active& passive dipping sonar) như FLASH Dipping Sonar của hãng Thales có thể dò tìm tàu ngầm ở độ sâu 750m. Khi nào dò tìm được tàu ngầm địch nó tự phóng hỏa tiễn tấn công. Vì trực thăng bay ở trên không nên rất khó cho tàu ngầm biết đích xác vị trí và thời gian để chống đỡ hoặc phản tấn công. Sở dĩ tàu nổi, tàu ngầm và trực thăng của địch chưa tìm ra vị trí của chiếc 66 chỉ vì nó núp dưới rặng san hô đồng thời nằm ngủ im không phát ra tiếng ồn có cường độ cao để cả hai máy thủy âm định vị chủ động và thụ động ghi nhận được. Nếu chiếc 66 mà rời chỗ núp là tàu địch có thể sẽ tìm ra. Tuy nhiên nó cũng không thể nằm ở đây hoài để tránh sự dò tìm của tàu địch. Một khi tàu ngầm nguyên tử của địch mà nhập cuộc tìm kiếm và săn đuổi thì chiếc 66 khó lòng trốn thoát được. Lặn sâu, chạy nhanh và ở lì dưới nước năm bảy tháng, những lợi điểm đó chiếc 66 không thể so bì được, do đó nó phải rời chỗ nấp trước khi tàu ngầm nguyên tử xuất hiện. Anh chỉ cần vài giờ đồng hồ để thoát khỏi vòng vây của tàu địch. Mặc dù Đá Chữ Thập có hải phận 12 hải lý nhưng tàu chiến của hải quân Trung Cộng có thể đánh chìm tất cả tàu bè nào lại gần căn cứ mà không có ai làm gì được họ. Luật của kẻ mạnh mà.

– 66… tây 270… vận tốc 10… sâu 600…

Đang ngủ gà ngủ gật, toàn thể thủy thủ đều choàng dậy khi nghe lệnh khởi hành của hạm trưởng. Sĩ quan hải hành là quản nội trưởng Hành cùng với sĩ quan lặn là thượng sĩ Kiệm phối hợp với nhau một cách cẩn thận và nhịp nhàng để đưa tàu rời khỏi mặt đất của đáy biển lên độ sâu 600 mét rồi từ từ chạy với vận tốc 10 cây số/giờ. Ban thủy âm định vị của chuẩn úy Đan làm việc không ngưng nghỉ dò tìm xem tàu ngầm địch trong phạm vi bán kính 50 cây số. Thủy thủ ngồi chết dí tại vị trí của mình. Có nói chuyện với nhau họ cũng thì thầm thật nhỏ vì sợ gây ra tiếng ồn. Máy điều hòa không khí chạy cũng làm nhiều người lo âu dù biết nó được dùng chỉ vì lý do cần thiết  lọc thán khí và bơm thêm dưỡng khí vào trong tàu.

– Hạm phó…

Đang ngồi tại chỗ của mình, nghe Đan gọi nhỏ, Toàn vộ đứng dậy bước tới chỗ giàn máy thủy âm định vị. Chỉ vào một đốm sáng từ ngoài vòng tròn bên ngoài đang di chuyển khá nhanh vào trung tâm, Đan thì thầm.

– Tôi coi nó từ nãy giờ. Chắc nuclear-sub…

Vầng trán của vị hạm phó cau lại khi thấy cái đốm sáng di động thật nhanh so với nhiều đốm sáng khác cũng ở trong vòng tròn thứ năm.

– Mình có 5 contacts nhưng đều ở xa ngoài tầm 40 cây số đường bán kính. Chỉ có cái này là gần nhất.

– Nó cách mình bao xa?

– 38…

– Vận tốc của nó bao nhiêu?

– Tôi chưa xác định được nhưng cũng phải trên 40 cây số…

Toàn gật đầu lẩm bẩm.

– Như vậy 1 giờ nữa nó sẽ đụng mình… Để tôi trình với hạm trưởng…

Nói xong Toàn định bước đi thì nghe tiếng nói cất lên chậm và rõ ràng.

– Ông Đan đoán đúng đó… Chỉ có tàu ngầm nguyên tử mới chạy nhanh như vậy…

Toàn với Đan đều biết giọng nói đó của ai rồi. Thấy hạm trưởng, hạm phó đang châu đầu vào giàn thủy âm định vị, Thâm biết có chuyện lạ bèn bước tới xem.

– Ông chuẩn bị thủy lôi để đón chào Nuclear Sub-Made In China… Nó sẽ gặp mình chừng 1 giờ nữa…

Nghe giọng nói bình tịnh và có hơi đùa giỡn của hạm trưởng, Thâm cười cười lên tiếng.

– Mình còn 4 trái 89 và 4 trái Harphoon. Hạm trưởng nghĩ đủ không?

Quay qua nhìn hạm phó Toàn rồi Chương mới trả lời câu hỏi của Thâm.

– Quá đủ. Mình chỉ cần 1 trái là đủ bắn chìm tàu địch rồi. Bắn trúng mới là chuyện đáng lo…

Vỗ vỗ lên vai Đan, vị hạm trưởng nói tiếp.

– Chừng nào ông xác định được tàu địch thì báo cho tôi biết…

Ngay lúc đó Ẩn kêu lớn.

– Tàu ngầm nữa hạm trưởng ơi…

Nhanh hơn tất cả mọi người, Chương bước tới sau lưng của Ẩn. Trên màn hình, ở vào hướng tây nam chừng 250 độ xuất hiện một đốm sáng có hình dáng mờ mờ như chiếc tàu ngầm. Tuy chiếc tàu ngầm này di chuyển chậm hơn chiếc mà Đan thấy ở hướng tây bắc nhưng lại gần hơn. Khi hình dáng chiếc tàu hiện rõ hơn, Ẩn lắng nghe hồi lâu mới nói nhỏ.

– 354 Yuan Class – Type 041A… tây nam 257… vận tốc 30… khoảng cách 25… độ sâu 265…

Còn đang chú ý tới chiếc 354, Chương với Toàn và Thâm nghe Đan la nhỏ.

– Chiếc Nuclear sub Made In China này là Type 096 SSGN hạm trưởng ơi… Đây là loại tàu ngầm mới nhất của hải quân Trung Cộng. Nó chạy nhanh, chạy êm và lặn sâu lắm…

Chương im lìm suy tính. Cách đây không lâu khi còn tham gia vào cuộc hành quân du kích chiến biển, anh đã một lần đụng với chiếc tàu ngầm nguyên tử của hải quân Trung Cộng. Đó là chiếc 405, loại 091, lớp Hán cũ xưa như trái đất. Còn đây lại là loại 096, thứ tàu ngầm mới nhất mà hải quân Trung Cộng có được với ba yếu tố chạy nhanh, chạy êm và lặn sâu (run fast, run silent, run deep). Ngoài ra nó còn được trang bị hệ thống thủy âm định vị cực kỳ nhạy cảm có thể không kém hệ thống thủy âm định vị của chiếc 66. Chỉ nội yếu tố chạy nhanh là nó đã ăn đứt chiếc tàu của anh rồi. Nó lặn sâu tới độ nào thì anh chưa biết. Muốn biết thì phải thử. Vả lại anh cũng biết khi bị chiếc tàu ngầm có tốc độ nhanh hơn mình săn đuổi thì không thể chạy trốn được mà chỉ còn mỗi cách trực diện đối đầu với nó. Huống chi anh đang bị vây bắt bởi hai chiếc tàu ngầm của địch cùng một lúc.

– 354… tây nam 225… vận tốc 20… khoảng cách 21… độ sâu 295…

– 096… tây bắc 315… vận tốc 35… khoảng cách 20… độ sâu 500…

Lời báo cáo của Đan vang lên cùng lúc với giọng của Ẩn lãnh phần theo dõi chiếc 354. Khi nghe lời báo cáo của Đan, bất cứ thủy thủ nào cũng biết là tàu họ đang đụng Nuclear sub-Made In China rồi do ở độ lặn sâu của nó. Chiếc tàu ngầm nào cũng đều có ba độ lăn sâu khác nhau. Đó là ” test depth ” hay là độ lặn sâu mà tàu lặn để hoạt động thông thường. Độ sâu thứ nhì là (safe excursion depth), độ lặn sâu nhất mà tàu có lặn được song vẫn ở mức an toàn. Độ sâu thứ ba là độ sâu nguy hiểm (crush or collapse depth), một độ lặn mà nếu lặn sâu tới mức này tàu có thể bị áp lực của nước ép vỡ ra và chìm luôn. Như chiếc 66, cái vỏ chịu áp lực nước của nó được chế tạo bằng loại thép HY-100 có sức chịu đựng (100,000 pounds per square inch, corresponding to a depth of 2,250 feet) hay 700 mét sâu. Độ lặn sâu bình thường của nó từ 400 tới 500 mét. Khi cần nó có thể lặn xuống độ sâu tối đa mà vẫn an toàn là 700 mét. Tuy nhiên có nhiều lúc lâm vào cảnh ngộ ngặt nghèo sống chết, vị hạm trưởng có thể cho tàu lặn ở một độ sâu nằm giữa độ sâu an toàn (safe excursion depth) và độ sâu nguy hiểm (crush or collapse depth) chừng vài chục cho tới trăm mét.

Báo cáo xong rồi mà hạm trưởng vẫn im lìm không có lệnh lạc gì hết, thủy thủ lo âu thầm. Không khí đặc sệt lại vì lạnh mà cũng vì sự căng thẳng và hồi hộp. Hai chiếc tàu ngầm của địch ở hai hướng bắc năm xấn vào và chỉ còn cách chừng 20 cây số. Chỉ cần nửa giờ nữa tàu của họ sẽ nằm trong tầm bắn của thủy lôi. Trong khi đó thì hạm trưởng đã trở lại ghế ngồi và trầm tư nghĩ ngợi. Dĩ nhiên họ biết cấp chỉ huy đang nặn óc suy tính cách thức đối phó với tàu địch. Nhưng thì giờ là vàng bạc nhất là trong cảnh ngộ cực kỳ nguy khốn này, mỗi giây đồng hồ có giá trị hơn 1 carat kim cương.

– 66… tây nam 225… vận tốc 15… sâu 295…

Trừ hạm phó Toàn chỉ cau mày rồi im lặng không nói gì còn thủy thủy đoàn đều ngẩn người ngơ ngác nhìn nhau vì cái lệnh kỳ cục của hạm trưởng. Đổi hường tây nam 225 và lặn cùng độ sâu thì chẳng khác gì đâm đầu thẳng vào chiếc 354. Dù ngạc nhiên và thắc mắc nhưng lệnh vẫn là lệnh. Quản nội trưởng Hành lập lại lệnh của cấp chỉ huy. Chiếc tàu ngầm nặng nề từ từ chuyển hướng và nổi lên độ sâu được chỉ định xong mới tăng tốc độ lên 15 cây số/giờ để đón đầu chiếc 354.

– Chuẩn úy Đan và thượng sĩ Ẩn…

– Chúng tôi nghe hạm trưởng.

– Hai ông canh chừng hai chiếc tàu ngầm cho tôi. Bất cứ thay đổi nào của nó cũng phải báo cho tôi biết…

– Tuân lệnh hạm trưởng.

Phòng chỉ huy đang im lặng chợt vang lên giọng báo cáo của Đan.

– 096… tây bắc 327… vận tốc 40… khoảng cách 16… độ sâu 400…

Mọi người chỉ nghe hạm trưởng buông gọn một tiếng ” Good ” rồi im luôn. Ngay lúc đó Ẩn với Đan cùng lên tiếng một lượt.

– 354… vận tốc 30… khoảng cách 15… độ sâu 295…

– 096… tây bắc 329… vận tốc 40… khoảng cách 13… độ sâu 350…

Điều mà mọi người nhận ra là hai chiếc tàu ngầm của địch đều tăng tốc độ như đã tìm ra vị trí của chiếc 66, mặc dù chưa phóng thủy lôi vì khoảng cách còn xa. Họ phải đợi tàu địch lọt vào tầm bắn gần nhất thì mới có nhiều hi vọng trúng mục tiêu bởi vì ở độ gần 1 hoặc 2 cây số thì mục tiêu không thể né tránh được. Hạm phó Toàn liếc về phía chỗ ngồi của hạm trưởng nhưng thấy cấp chỉ huy vẫn bất động. Khí lạnh trong phòng chỉ huy cứng lại thành đá làm cho mọi người có cảm giác toàn thân tê liệt vì căng thẳng và sợ hãi càng lúc càng tăng thêm độ.

– 354… vận tốc 30… khoảng cách 8… độ sâu 295…

– 096… tây bắc 329… vận tốc 40… khoảng cách 7… độ sâu 350…

Giọng của hạm trưởng vang trầm trọng và chắc nịch.

– Phòng thủy lôi 2… chuẩn bị khai hỏa… Mục tiêu 096…

Giọng của Thâm cất lên liền theo lệnh của hạm trưởng.

– Phòng thủy lôi 2 sẵn sàng bắn…

Báo cáo của Đan với Ẩn vang lên gần như từng phút một.

– 354… vận tốc 30… khoảng cách 6… độ sâu 295…

– 096… tây bắc 329… vận tốc 40… khoảng cách 5… độ sâu 350…

Thủy thủ đoàn hầu như nín thở và sợ cứng người vì báo cáo trên, nhất là khi vị hạm trưởng của họ vẫn bất động không có lệnh nào để đối phó với hai chiếc tàu ngầm địch đang càng lúc càng tới gần và có thể phóng thủy lôi ra bất cứ lúc nào.

– Quản nội trưởng Hành… chuẩn bị crash dive

Thượng sĩ Hành lớn giọng nói của mình.

– 66 sẵn sàng lặn…

– 354… vận tốc 30… khoảng cách 2… độ sâu 295…

– 096… tây bắc 329… vận tốc 40… khoảng cách 2… độ sâu 350…

Vừa dứt lời xong Đan lại bật kêu thảng thốt.

– Thủy lôi… nó phóng thủy lôi…

– Chiếc nào phóng thủy lôi?

Chương hỏi gọn. Đan trả lời bằng báo cáo.

– 096 phóng thủy lôi… vận tốc 55… khoảng cách một sáu không không…

Liền theo lời báo cáo đó Chương cất tiếng liền.

– 66… vận tốc 30…

Hạ sĩ nhất Chánh đang cầm tay lái vội đẩy mạnh hai cần ga tới trước. Chiếc tàu ngầm của hải quân Sài Gòn nhắm ngay chiếc 354 lướt tới như bay.

– Thủy lôi… vận tốc 65… khoảng cách 1255 mét…

– Thượng sĩ Kiệm… ready to dive… ready to dive…

– Thủy lôi… vận tốc 80… khoảng cách 934 mét… hạm trưởng…

Thủy thủ đoàn cứng người vì sợ hãi khi nghe được tiếng réo của thủy lôi khi gần tới mục tiêu mà hạm trưởng vẫn chưa ra lệnh.

– Crash dive… crash dive…

Dưới lệnh truyền của hạm trưởng chiếc 66 cắm đầu lặn khẩn cấp. Chỉ có Đan với Ẩn nhờ mang ống nghe của giàn thủy âm định vị nên mới đoán ra phần nào chiếc tàu của họ đã tránh được trái thủy lôi lướt trên đầu chỉ cách đài quan sát chừng hai ba mét. Tiếng réo của nó khi tới cận kề mục tiêu khiến họ rùng mình dựng tóc gáy. Trái thủy lôi lướt qua khỏi chiếc 66 xong nhắm tới mục tiêu thứ nhì là chiếc 354 ở cách nó mấy trăm mét. Phút sau mọi người nghe tiếng nổ ầm gây rung chuyển mạnh. Không tiên liệu được hành động có tính toán của chiếc 66 với lại quá bất ngờ nên chiếc 354 phải lãnh nguyên trái thủy lôi do chiếc 096 bắn ra. Chưa có lệnh của hạm trưởng nên chiếc 66 vẫn lặn sâu xuống tới mức 699 mét mới bình quân. Vừa lúc đó Đan bật la lớn.

– 096… vận tốc 40… khoảng cách 4… sâu 525…

Chương nhíu mày. Hồi nãy nhờ suy tư và tính toán cộng thêm chút mạo hiểm anh đã làm cho chiếc 354 lãnh đạn thay cho mình. Bây giờ chỉ còn lại hai chiếc tàu đơn độc nên khó mà dùng mánh khóe để gạt kẻ địch có nhiều lợi điểm hơn anh. Xuyên qua hành động phóng thủy lôi tấn công anh đoán vị hạm trưởng của chiếc Nuclear Sub-Made In China không có nhiều kinh nghiệm trận mạc như mình. Đó là lợi thế duy nhất của anh. Muốn sống anh phải tìm cách bắn chìm chiếc tàu ngầm này vì không thể chạy thoát khỏi kẻ địch chạy nhanh hơn mình.

– 66… tây nam 230… vận tốc 7… 750 mét sâu…

Thủy thủy đoàn hầu như ngất xỉu khi biết được hạm trưởng ra lịnh cho tàu lặn xuống sâu 750 mét, một độ sâu mà từ nào tới giờ tàu họ chưa bao giờ lặn. Tiếng răng rắc lớn dần dần lên. Lớp vỏ bằng thép HY-100 như bị móp méo dưới áp lực khủng khiếp của nước lên tới 100 ngàn cân anh trên 1 phân anh vuông. Không khí trong tàu như bị ép cứng lại khiến mọi người thở khò khè.

– 725…

Tiếng của trung sĩ nhất Tính, ngồi trước máy đo độ sâu vang lên nghèn nghẹn.

– 730…

– 735…

Có tiếng xì xì như nước bắt đầu xì ra từ các khớp nối. Rắc… rắc… rắc… tiếng động vang khắp nơi trong tàu.

– 740… 745… 750…

– 66 bình quân…

Giọng nói trầm lạnh của hạm trưởng vang lên hòa lẫn trong tiếng răng rắc khắp góc cạnh và xó xỉnh của tàu. Nước nhễu thành giọt dài trên vai của hạm trưởng nhưng ông ta vẫn thản nhiên. Nước xì ra trước mặt hạm phó Toàn. Theo phản ứng tự nhiên anh đưa ta ra tính bịn lại nhưng rồi cười lắc đầu rụt tay lại. Chuẩn úy Đan mặt xanh mét. Da mặt của thượng sĩ Ẩn xanh dờn. Quản nội trưởng Hành liếc hạm trưởng hoài để chờ nghe lệnh mới nổi lên ở độ sâu an toàn hơn. Lần đầu tiên ông ta mới thấy tàu rơi vào cảnh ngộ cực kỳ nguy khốn, phải lặn sâu tới (crush or collapse depth). Ở trong tình trạng quá sức chịu đựng này cái vỏ tàu (pressure hull ) có thể bị áp lực nước ép bể và tàu sẽ chìm luôn.

– Thủy âm định vị báo cáo…

Hiểu cái ý của hạm trưởng muốn mình báo cáo điều gì nên Đan cất giọng nhỏ như tiếng thì thầm.

– 096… vận tốc 35… khoảng cách 3… độ sâu 599…

Báo cáo này cho mọi người biết tàu địch chưa bỏ đi xa mà vẫn tiếp tục cuộc săn tìm. Nhân viên của ban thủy âm định vị của nó đang vận dụng hết khả năng với hi vọng xác định được vị trí của tàu địch. Có xác định được vị trí thì mới cài đặt tọa độ vào hệ thống vũ khí để sau đó phóng thủy lôi tấn công được. Điều này tùy thuộc vào sự hiểu biết và kinh nghiệm của thủy thủ phụ trách giàn thủy âm định vị thụ động. Phải cần có nhiều kinh nghiệm để phân loại được tiếng động nào do tàu ngầm phát ra bởi vì ở dưới đáy biển sâu 750 mét thì có hàng trăm loại tiếng ồn và tiếng ồn này còn bị nhiễu loạn bởi các tầng nước mù của biển nữa.

– Hạm trưởng…

Đan thì thầm nhưng Chương nghe được. Rời ghế anh nhẹ bước tới chỗ ngồi của Đan.

– Nó đang vòng vòng ở trên đầu của mình…

Đan nói và hạm trưởng nhẹ gật đầu hiểu ý. Ngay lúc đó Đan, thay vì nói thì bấm nút ở bàn tính. Dòng chữ hiện ra: ” 096… vận tốc 25… khoảng cách 4… độ sâu 625… ”. Đọc xong vị hạm trưởng im lìm suy nghĩ. Ba điều cho anh biết tàu địch vẫn chưa chịu bỏ cuộc săn tìm. Thứ nhất nó chạy vòng vòng. Thứ nhì nó giảm tốc độ. Thứ ba nó lặn sâu hơn. Dường như nó biết có một chiếc tàu ngầm lạ đang hải hành trong vùng này. Chỉ có điều nó chưa xác định được vị trí cho nên cứ phải chạy vòng vòng. Hoặc giả nó chờ đợi điều gì khác xảy ra. Một ý nghĩ bật ra trong trí não khiến cho vị hạm trưởng ra lệnh.

– 66… tây nam 240… vận tốc 30…

Thấy Hành còn ngần ngừ trước lệnh của mình, hạm trưởng nói nhanh.

– Chạy… chạy nhanh… trước khi trực thăng tới…

Nghe câu nói đó, Hành hét vào tại pilot Tính.

– Hết ga…

Tính đẩy cần ga hết về trước. Chiếc tàu bốn ngàn tấn trườn mình trong nước biển tối đen và lạnh ngắt để chạy trốn trước khi khắc tinh của nó tới. Hải quân Trung Cộng có loại trực thăng chuyên săn tàu ngầm mang tên Ó Biển Z-18F được chế tạo bởi hãng Changhe Aircraft Industry Group (CAIG). Mang được 4 trái thủy lôi hoặc 4 trái hỏa tiễn dùng chống tàu ngầm cũng như được trang bị dipping sonar với dây cáp dài 500 mét, nó có thể tìm ra vị trí của chiếc 66 để sau đó phóng hỏa tiễn tấn công. Muốn trốn thoát anh phải chạy nhanh và lặn sâu mặc dù không muốn tàu lặn sâu quá mức an toàn. Anh cũng biết một điều chạy nhanh sẽ gây tiếng ồn lớn hơn và chiếc 096 có thể nghe được để xác định vị trí của mình. Tuy nhiên anh không có chọn lựa nào hơn là phải chạy khỏi khu vực mà địch đang săn tìm. Chiếc 096 có phóng thủy lôi tấn công thì anh còn biết để phóng decoy đánh chặn, tìm cách né tránh hay phản công bằng thủy lôi, còn trực thăng săn tìm thì không cách gì bắn trả nó được với lại nó phóng hỏa tiễn từ trên không xuống thì tốc độ nhanh và khoảng cách gần do đó rất khó khăn mới chống trả được.

– Thủy âm định vị báo cáo…

Ẩn lên tiếng trước vì Đan im lìm như đang bận chuyện gì.

– 096… vận tốc 35… khoảng cách 4… độ sâu 625…

Hạm phó Toàn nghe cấp chỉ huy lẩm bẩm điều gì mà dù đứng kế bên anh cũng không nghe được rõ ràng. Giọng của hạm trưởng vang ngắn gọn song đầy đủ.

– Phòng thủy lôi 1 chuẩn bị phóng decoy…

Thâm trả lời cũng gọn không kém.

– Thủy lôi 1 sẵn sàng thưa hạm trưởng…

Khẽ gật đầu vị hạm trưởng ra lệnh tiếp.

– Phòng thủy lôi 2 chuẩn bị phóng thủy lôi. Mục tiêu 096…

– Torpedo room 2 ready to fire… Captain

Nhiều kinh nghiệm trận mạc, Thâm đoán trước được sự việc sẽ xảy ra nên tự mình cài đặt mục tiêu vào trong hệ thống vũ khí rồi. Tất cả im lìm chờ đợi một sự việc xảy ra. Ngay lúc đó Đan chợt bật la làng.

– Khu trục… khu trục… hạm trưởng ơi…

Chương cau mày. Cả ba thứ khắc tinh của tàu ngầm là trực thăng, khu trục và tàu ngầm đều cùng lúc bao vây chiếc tàu của anh.

– Khu trục hạm 197 Quảng Châu II… đông 90… vận tốc 32… khoảng cách 6…

Hạm trưởng và hạm phó nhìn nhau. Cả hai đều biết họ đang gặp khó khăn, rất khó khăn có thể dẫn tới sự chết. Ngay lúc hai sĩ quan cao cấp nhất chưa có quyết định gì hết thời tới phiên Ẩn bật la.

– Hộ tống hạm 560  Đông Quan… tây nam 195… vận tốc 25… khoảng cách 6…

Toàn lờ mờ hiểu được ý định của tàu địch. Ba chiếc tàu nổi và tàu ngầm ở ba hướng đông, nam và bắc xấn vào để dồn chiếc tàu của anh phải chạy theo hướng mà họ đã định. Đó là hướng tây. Cũng ở hướng này trực thăng săn ngầm sẽ có mặt với dipping sonar để xác định vị trí. Một khi nó xác định được vị trí của mục tiêu thì cũng là lúc nó phóng thủy lôi hoặc hỏa tiễn tấn công. Có thể sẽ có một chiếc tàu ngầm khác nằm chờ để phục kích chiếc tàu của anh. Với sự xếp đặt như vậy chiếc 66 khó thoát khỏi vòng vây mà không bị ăn đạn. Nằm sâu dưới 750 mét, bị trúng thủy lôi thì nó ít có may mắn sống sót. Nghĩ ra điều đó Toàn cảm thấy nhói đau. Quay qua anh thấy cấp chỉ huy và cũng là bạn thân thiết nhìn mình. Ánh mắt của Chương đầy buồn đau và lo âu. Dường như không phải chỉ có hạm trưởng và hạm phó đều biết tình hình nguy ngập của tàu mà hầu như thủy thủ đoàn cũng linh cảm được. Họ nghe giọng của hạm trưởng vang trầm lạnh.

– 66… tây nam 195… vận tốc 7… sâu 750…

Nghe lệnh truyền ra thủy thủ đoàn đều biết hạm trưởng đã chọn cách đối đầu với chiếc hộ tống hạm 560 Đông Quan. Đây là một chọn lựa khôn ngoan vì chiếc 560 là chiếc tàu cũ không có các đồ chơi tối tân so với các tàu kia vì vậy chiếc tàu của họ có nhiều cơ hội thoát khỏi vòng vây hơn.

– Chuẩn úy Đan…

Nghe hạm trưởng gọi mình bằng cấp bậc, vị trưởng ban thủy âm định vị biết có việc quan trọng. Nhìn hạm phó Toàn đang đứng đối diện với mình ở bàn hành quân xong Chương hướng về phía chỗ Đan ngồi.

– Ông tìm coi có chiếc tàu nào của mình ở quanh quẩn. Tàu nổi cũng được mà tàu ngầm cũng được. Nếu có chiếc tàu nào báo cho tôi biết…

– Tuân lệnh hạm trưởng…

Đan với Ẩn cắm đầu vào việc dò tìm chừng mươi phút rồi sau đó mới báo cáo không có chiếc tàu bạn nào ở gần. Căn cứ Đá Chữ Thập cách đảo Trường Sa do hải quân Việt Nam ở Sài Gòn kiểm soát độ 100 cây số. Bình thường thời cũng có chiến hạm thuộc hạm đội Phú Quốc hoạt động trong vùng nhưng không hiểu vì lý do nào mà họ không tìm ra. Sự vắng mặt bất thường này rất lạ. Dường như bị thua trong trận hải chiến Trường Sa, chính phủ Sài Gòn đã ngầm ra lệnh cho bộ tư lệnh hải quân giới hạn các hoạt động thông thường như tuần tiễu, thám sát mà chú tâm vào việc tu bổ và bành trướng các căn cứ có sẵn ở các đảo đã kiểm soát. Đan và Ẩn mở rộng sự dò tìm của họ xa 75 cây số đường bán kính ngược lên hướng đông bắc nơi có Đảo Đá Lớn và xuôi xuống hướng nam nơi có căn cứ trên Trường Sa Lớn. Đó là phạm vi xa nhất mà từ nào tới giờ họ mới làm và đó cũng là phạm vi xa nhất mà hệ thống thủy âm định vị thụ động của tàu có thể nghe được. Rốt cuộc cũng không tìm ra chiếc tàu bạn nào kể cả chiến hạm và tàu ngầm. Chỉ có một chiếc ở thật xa ngoài vòng nên họ không xác định được bạn hay thù.

– Mục tiêu… 560  Đông Quan… tây nam 195… vận tốc 25… khoảng cách 3…

Tự nãy giờ chú tâm vào chuyện dò tìm tàu bạn nên hạm trưởng và hạm phó lơ là chuyện đối phó với tàu địch. Tới chừng thượng sĩ Ẩn lên tiếng báo cáo họ với nhớ ra và chú ý vào cách vượt qua khỏi sự bao vây của tàu địch. Tiếng cà rùm… cà rùm… cà rùm… càng lúc càng gần và càng lớn dần lên. Cách mặt biển 750 mét mà mọi người có cảm tưởng như nước xao động trên đầu mình và âm thanh như xói vào tai họ.

– 560… khoảng cách 2…

Lời báo cáo của Ẩn vang gọn. Ai cũng biết với khoảng cách 2 cây số, hai tàu chạy ngược chiều với nhau thì năm bảy phút nữa chiếc tàu địch sẽ ở ngay trên đầu họ. Lúc đó depth charges sẽ rơi xuống sau hay cạn tùy thuộc vào sự cài đặt của nhân viên vũ khí của địch để nổ, có thể trên đầu, có thể dưới lườn, có thể bên hông trái phải. Dù cho ở hướng nào, vị trí nào, thứ chất nổ này có tác dụng gây sợ hãi và làm tê liệt não bộ của kẻ địch cũng như phá vỡ toàn bộ hệ thống điện bình của tàu ngầm.

– 560… 500 mét…

Thủy thủ sợ cứng người khi biết tàu địch chỉ còn cách nửa cây số cũng như tàu của họ đã lọt vào trong tầm bủa vây của loại mìn nổ chậm trong nước.

– Here she comes…

Miệng la tiếng cảnh cáo, Ẩn giựt cái ống nghe ra khỏi lỗ tai khi nghe tiếng click kích hỏa. Ầm… Không ai thực sự biết trái mìn ở độ sâu nào nhưng cơn sóng âm thanh của nó làm mọi người chới với. Rồi sau đó… bên trái oành… bên phải rầm… trước mũi ầm… sau lái ình… dưới lườn… rầm ầm… bên hông… ình ình… Depth charges nổ ì ầm khắp nơi. Chiếc tàu ngầm nặng hơn bốn ngàn tấn trồi hụp, ngã nghiêng, chao đảo, lắc lư cố gắng lướt qua cơn bão âm thanh cuồng nộ càng lúc càng tăng cường độ và thời gian. Bóc… bóc… bóc… Đó là tiếng nổ của bóng đèn. Xoảng… tiếng rơi vỡ của ly tách của ai đó. Mặc dù có lời khuyên thủy thủ nên dùng ly tách, dĩa muỗng nỉa bằng giấy hoặc plastic song cũng có người vẫn còn xài ly tắch bằng ceramic hay thủy tinh. Vài thủy thủ té ngồi trên sàn tàu. Đèn đuốc tắt ngấm. Bình thường nếu không bị nổ gần quá thì đèn chỉ tắt giây lát rồi cháy trở lại. Bây giờ đèn tắt luôn chứng tỏ phòng máy hoặc phòng chứa điện bình bị hư hại hay đường dây điện bị đứt.

– Đèn pin…

Đang ôm cứng cây cột của tiềm vọng kính, Chương nghe hạm phó Toàn lên tiếng.

– Có đây…

Thâm la lớn cùng với ánh đèn pin chớp tắt mấy lượt. Chương hét thật lớn vì biết tiếng nói của mình có thể bị chìm lấp trong tiếng nổ ầm ầm.

– Phòng cơ khí báo cáo…

Khá lâu sau mới có giọng của thiếu tá Định vang đứt quãng.

– Hạm trưởng… Phòng máy bị trúng depth charges. Chưa kiểm điểm được hư hại…

– Phòng điều khiển báo cáo…

Giọng của trung sĩ nhất Biền vang nhỏ.

– Vẫn hoạt động thưa hạm trưởng…

Chương nhìn quanh. Trong ánh sáng mờ mờ đỏ của đèn cấp cứu anh thấy phòng chỉ huy ngổn ngang đủ thứ trên sàn. Tuy nhiên máy móc của các hệ thống quan trọng như hải hành, thủy âm định vị, vũ khí vẫn còn hoạt động được nhờ vào bình điện riêng. Đan với Ẩn vẫn còn ngồi yên tại ghế. Xế bên kia đại úy Thâm vẫn có mặt tại bàn riêng của phòng vũ khí. Cứng như sắt tôi quản nội trưởng Hành vẫn chễm chệ trên ghế dành cho sĩ quan hải hành và thượng sĩ Kiệm vẫn an vị ở ghế sĩ quan lặn. Bao nhiêu nhân viên gạo cội đó làm cho hạm trưởng an lòng.

– Đại úy Thâm… Phòng vũ khí còn hoạt động?

– Trình hạm trưởng… Phòng vũ khí vẫn còn hoạt động. Tuy nhiên phòng thủy lôi 2 ở sau lái có một ống phóng bị tê liệt…

– Chuẩn úy Đan báo cáo…

Nghe hạm trưởng lên tiếng, vị sĩ quan phụ trách ban thủy âm định vị hắng giọng.

– 560  Đông Quan… đông bắc 75… khoảng cách 600m… 197 Quảng Châu II… đông 90… vận tốc 32… khoảng cách 2… 096… tây bắc 280… vận tốc 35… khoảng cách 7… độ sâu 625…

Chương nhíu mày khi biết chiếc tàu ngầm nguyên tử đã đổi hướng và rời xa mình. Dường như nó được lịnh để cho hai chiếc tàu nổi tấn công trước rồi cuối cùng mới vào cuộc để kết thúc cuộc săn đuổi. Hiểu ra ý định này anh thấy mình cần phải có hành động quyết liệt hơn là cứ trốn tránh mãi. Mấy giờ qua anh đã sử dụng tính chất tàng hình của chiếc 66 với hi vọng địch không xác định được vị trí của mình để rồi âm thầm chạy trốn mà vẫn bị hàng chục chiếc tàu địch chia nhau săn đuổi. Bây giờ tới lúc anh phải tỏ ra cho địch biết một nguyên tắc là ” kẻ săn đuổi cũng có thể thành ra bị săn đuổi ”. Đã tới lúc anh phải tỏ cho kẻ địch biết đừng có ỷ đông hiếp người cô thế, chớ có ỷ mạnh hiếp yếu. Anh phải đánh, đánh cho kẻ xâm lăng phương bắc biết ” sử tri Nam Quốc anh hùng chi hữu chủ ”. Ý đã quyết vị hạm trưởng cao giọng.

– Phòng thủy lôi 1 sẵn sàng tác xạ…

Đại úy Thâm lớn tiếng.

– Trình hạm trưởng… Thủy lôi sẵn sàng khai hỏa…

– 66… Mục tiêu…  560 Đông Quan… bắn…

Đại úy Thâm nhấn cái nút đỏ có chữ Fire. Lệnh được truyền xuống phòng thủy lôi 1 do trung úy Biết phụ trách.

– Thủy lôi 1 rời giàn phóng…

Ngay lúc Biết vừa dứt lời, giọng của hạm trưởng vang lên giống như tiếng ré của thủy lôi khi gần tới mục tiêu.

– Phòng thủy lôi 2 chuẩn bị khai hỏa…

– Torpedo 2 ready to fire Captain…

– Mục tiêu… 197 Quảng Châu II… bắn…

Bốn sĩ quan đầu não của chiếc 66 đều chăm chú vào nhìn vào màn hình lớn trên vách đối diện. Họ thấy rõ trái thủy lôi đầu tiên xé nước phóng tới mục tiêu cách không đầy nửa cây số. Hạ sĩ Tính ngồi im trên ghế sẵn sàng điều khiển vũ khí vượt qua hàng rào phòng thủ của địch cũng như đánh đúng vào vị trí đã định là phòng máy của chiếc hộ tống hạm. Tất cả nghe tiếng thủy lôi ré lớn khi còn cách mục tiêu 30 thước. Ánh lửa nháng lên kèm theo tiếng nổ ầm.

– Mục tiêu… 197… 1200m…

Ẩn báo cáo gọn trong lúc đại úy Thâm nhìn trừng trừng vào hình dáng của trái thủy lôi đang lướt trong nước với cánh quạt quay nhanh thành bọt nước nổi trắng xóa ở sau đuôi.

– Decoy…

Ẩn la nhỏ. Ngay lúc đó Chương ra lệnh gọn.

– Thủy lôi 2… bắn…

Trái thủy lôi thứ nhì rời giàn phóng trong lúc đó hạ sĩ Tính đang bận rộn chỉ huy trái thủy lôi của mình vượt khỏi sự đánh chặn của decoy.

– Trúng…

Tính la nhỏ khi trái thủy lôi 89 ré tiếng lớn lao tới mục tiêu ở chính giữa chiếc khu trục hạm. Ánh lửa nháng lên rồi sau đó tiếng nổ mới lọt vào tai mọi người. Liền theo đó ánh lửa lại nháng lên và tiếng nổ ầm tiếp theo cho mọi người biết hai trái thủy lôi đã đánh trúng mục tiêu.

– 66… tây nam 225… vận tốc 30… sâu 650…

Dưới lệnh của hạm trưởng, chiếc tàu ngầm nặng nề và chậm chạp từ độ sâu 750 nổi lên 650 xong chuyển hướng rồi tăng tốc độ chạy trốn. Không đợi hạm trưởng ra lệnh, Đan báo cáo liền.

Nuclear sub… Nó ở sau lái của mình hạm trưởng ơi…

– Bao xa…

– 3200 mét…

– Vận tốc của nó?

– 37 cây số/giờ…

Chương lẩm bẩm. Dù anh lẩm bẩm nhưng thủy thủ đoàn vẫn nghe được.

– Cứ tới gần đi… Tôi chờ…

Liền theo đó giọng của hạm trưởng cất lên rắn rỏi và trầm lạnh, báo hiệu một trận đánh cuối cùng với tất cả vũ khí còn lại. Thứ vũ khí này sẽ đẩy hai chiếc tàu vào chỗ chết.

– Phòng thủy lôi 2… Harphoon sẵn sàng…

Thâm liếc nhanh hạm phó đang đứng gần bên. Nét mặt của Toàn ưng ửng đỏ có lẽ vì bị kích thích cực độ. Anh biết hạm trưởng sẽ có hành động gì và hành động của ông ta có thể sẽ khiến cho cả hai chiếc tàu ngầm của mình và của địch bị chìm vì trúng hỏa tiễn và thủy lôi. Anh cũng biết hạm trưởng không còn có chọn lựa nào thích hợp hơn vì không thể trốn tránh được sự săn đuổi của chiếc tàu ngầm nguyên tử vốn chạy nhanh hơn mình gấp rưởi đồng thời vẫn duy trì được tốc độ trong cuộc đua. Chạy với tốc độ 30 cây số/giờ thời bình điện của chiếc 66 sẽ hao rất lẹ, bắt buộc nó phải khởi động hệ thống AIP để xạc bình. Trong lúc chờ bình điện xạc đầy nó không thể chạy nhanh được mà còn phải chạy chậm lại.

– 097… 2800 mét…

Tất cả đều ngừng thở vì lời báo cáo của Đan, nhất là hạm trưởng vẫn im lìm chưa có lệnh tấn công.

– 2000 mét…

Không khí trong tàu đặc quánh lại vì lạnh và sợ. Tất cả đều biết giờ quyết định sẽ tới trong phút giây ngắn ngủi với khoảng cách không đầy cây số. Biết không thể nào chạy thoát khỏi sự săn đuổi của tàu địch, chiếc tàu ngầm của họ chỉ còn một chọn lựa duy nhất: chết cùng với kẻ địch. Cũng giống như người lính bộ binh ở ngoài mặt trận, bị vây hãm không còn đường rút chạy thì họ chỉ còn cách duy nhất là bắn cho tới viên đạn cuối cùng để chết với địch quân.

– 1600 mét…

Phòng chỉ huy ngưng thở có thể vì thiếu không khí hoặc không khí đóng băng lại. Giọng đếm của chuẩn úy Đan cất lên chầm chậm.

– 1200… 1000… 800 mét…

– Fire…

Chiếc tàu ngầm rung nhẹ khi trái Harphoon rời giàn phóng.

– Fire…

15 giây cho hai trái Harphoon rời giàn phóng lướt tới mục tiêu cách nó không đầy 800 mét. Cùng lúc đó giọng nói của thượng sĩ Ẩn cất lên bình tịnh dường như đã đoán trước được sự việc sẽ phải xảy ra.

– Thủy lôi… tốc độ 55 cây số/giờ…

Xuyên qua máy dò thủy âm định vị thụ động, mọi người nghe được tiếng thủy lôi của tàu địch xé nước tiến về phía tàu của mình.

– 66… dive… dive…

Chương, bằng cố gắng sau cùng ra lịnh cho tàu lặn sâu xuống để tránh thủy lôi của địch chỉ còn cách vài trăm mét. Quản nội trưởng Hành và thượng sĩ Kiệm là hai thủy thủ có hơn 30 năm kinh nghiệm về điều khiển chiếc tàu ngầm ”crash dive”, một tình trạng bắt buộc tàu ngầm phải lặn xuống thật nhanh để tránh né khi bị bắn bằng thủy lôi. Muốn tàu lặn xuống thật nhanh, thủy thủ phải dùng máy bơm nước làm ngập ” negative tank ” đưa tàu tới tình trạng ” negative bouyancy ” giúp tàu sẽ chìm xuống thật nhanh. Sau khi tàu xuống tới độ sâu nào đó đã được chỉ định thì thủy thủ lại phải khởi động máy bơm nước ra khỏi negative tank để làm cho tàu trở lại vị trí bình quân (neutral bouyancy). Nếu vì lý do nào đó mà máy bơm không bơm nước ra hết negative tank thì tàu sẽ chìm luôn.

Ai cũng nghe được tiếng ré của thủy lôi ở trên đầu của họ khi nó lướt qua tàu. Ngay lúc đó hai tiếng nổ ầm ầm từ xa vọng lại báo cho họ biết hai trái Harphoon mà tàu phóng ra đã đánh trúng mục tiêu.

– Thủy lôi…

Đan la làng. Đang ở trong tình trạng crash dive chiếc 66 khó lòng tránh thoát khỏi trái thủy lôi thứ nhì do tàu địch lao tới với vận tốc 70 cây số/giờ mà khoảng cách không đầy 500 mét, huống chi đây là loại thủy lôi có khả năng tự tìm kiếm mục tiêu và có thể được cài đặt thêm hệ thống vô tuyến điều khiển nữa.

– Decoy…

Hạm trưởng hét vào tay Thâm. Phải mất 10 giây phòng thủy lôi ở đằng mũi mới phóng ra được trái thủy lôi giả để chặn thủy lôi của địch.

– Thủy lôi…

Ẩn la làng. Có lẽ biết mình không thể tránh thoát được hỏa tiễn của địch do đó chiếc tàu ngầm nguyên tử của hải quân Trung Cộng mới liên tiếp phóng tới 3 trái thủy lôi để trả đũa làm cho mình và địch lâm vào thế cả hai cùng chết.

– Dive… dive… lặn… lặn…

Chương hét lớn. Thượng sĩ Kiệm và thủy thủ dưới quyền chỉ huy của ông ta làm những gì họ có thể làm để đưa chiếc tàu nặng hơn bốn ngàn tấn lặn xuống sâu hơn với hi vọng có thể tránh được thủy lôi, không phải một mà tới ba trái đang săn tàu của họ. Tuy nhiên dù cho có lặn nhanh cách mấy, chiếc 66 cũng phải mất hai ba phút mới đạt được độ sâu chỉ định. Hai ba phút đó đủ cho thủy lôi có vận tốc 80 cây số/giờ đánh trúng mục tiêu. Oànhhh… Mười mấy thủy thủ ở trong phòng chỉ huy không có người nào còn đứng hoặc ngồi tại vị trí được. Đèn đuốc tắt ngấm. Tiếng quản nội trưởng Hành la oang oang bằng Anh ngữ.

– Captain… We’re going down…

– Tôi biết…

Giọng nói của Chương vang lên chậm và bình tịnh như đã biết việc gì phải xảy ra. Trong hoàn cảnh khẩn cấp muốn cho tàu lặn xuống nhanh thì bắt buộc phải bơm nước vào negative tank. Trúng thủy lôi, hệ thống điện bị hư hại khiến máy bơm nước không hoạt động được để bơm nước ra khỏi negative tank vì vậy mà tàu của họ cứ tiếp tục lặn sâu xuống cho tới khi đụng đáy biển hoặc nếu biển sâu quá thì vỏ tàu sẽ bị vỡ ra dưới áp lực khủng khiếp trước khi đụng đáy. Đằng nào họ cũng chết chỉ có điều nhanh hay chậm mà thôi.

– Phòng cơ khí báo cáo…

Chương hét vào hệ thống liên lạc nội bộ. Không có tiếng trả lời của thiếu tá Định hoặc của thủy thủ ở phòng máy khiến cho anh đoán thủy lôi đã đánh đúng vào ngay phòng cơ khí. Hạ sĩ nhất Cương ở phòng thủy lôi trước mũi chệnh choạng bước vào phòng chỉ huy với mặt đầy máu và cánh tay trái xịu lơ.

– Hạm trưởng…

Nói xong Cương ngã ra. Nếu Thâm không kịp đưa tay ra đỡ Cương sẽ ngã lăn ra sàn tàu rồi. Đèn pin cộng với đèn khẩn cấp soi mờ mờ cảnh vật ngổn ngang trong phòng chỉ huy.

– Trung sĩ Tánh… báo cáo độ sâu của biển…

Nghe lệnh của hạm trưởng, Tánh lần mò lúc lâu mới tìm ra đèn pin để đọc được những con số của máy đo độ sâu.

– 1523 mét thưa hạm trưởng…

Mọi người trong phòng chỉ huy đều nghe hạm trưởng thở dài. Mươi phút sau nghe có tiếng va chạm mạnh cho mọi người biết tàu của họ đã chìm xuống tới đáy biển. Tiếng rắc rắc vang lên khắp nơi. Nước theo các khớp nối xịt ra thành vòi. Đèn khẩn cấp cũng tắt luôn. Phòng tối mờ nhờ ánh đèn pin chớp tắt.

– Mình sẽ được tắm mát…

Không ai cười được khi nghe câu nói đùa của đại úy Thâm. Đưa tay vuốt mặt đầy máu và nước biển, hạm phó Toàn xuýt xoa vì xót và lạnh. Rầm… Cánh cửa dày ngăn phòng máy với nhà bếp bị nước ép vỡ tung ra và nước theo đó tràn vào phòng chỉ huy thật nhanh.

– Nhiệm sở đào thoát…

Tuy nghe hạm trưởng ban lệnh nhiệm sở đào thoát nhưng tất cả thủy thủ còn sống sót đều biết họ có rất ít hi vọng để đào thoát. Chiếc tàu của họ đang nằm ở đáy biển sâu hơn ngàn rưởi mét. Vách tàu sẽ bị nước ép bể trong vòng vài phút nữa. Họ cũng sẽ bị áp lực 150 ngàn cân anh trên một phân anh vuông của nước ép vỡ lồng ngực như người ta lấy tay đập vào cái bánh tráng nướng nóng dòn rụm. Sắt thép dày cộm còn bị vỡ nát huống chi xương thịt con người. Giả sử như họ có may mắn không chết vì áp lực nước thì cũng không đủ dưỡng khí để bơi từ dưới đáy biển lên tới mặt nước. Bởi lẽ đó mà quản nội trưởng Hành đưa ống dưỡng khí lên định mang vào mặt bèn vất nó xuống rồi cười cười lên tiếng.

– Tôi không cần tới cái quỉ này… chết sớm hay chết muộn thì cũng chết… hơi sức đâu mà lo…

Ngồi trên ghế hạm trưởng, Chương bật lên tiếng nói.

– Giờ này có cái gì nóng uống chắc ấm…

Đang đứng bên cạnh Thâm, Toàn cười hăng hắc.

– Hạm trưởng nói đúng đó… Tôi thèm tách cà phê sữa…

Thâm cười phụ họa.

– Tôi muốn uống rượu… Rượu đế pha nước dừa xiêm…

Thâm chắt chắt lưỡi rồi khà tiếng lớn. Mỗi người nói một câu. Rắc… âm thanh của vỏ tàu bị nứt cắt ngang câu chuyện của họ. Không khí trong phòng chỉ huy im vắng trừ thỉnh thoảng tiếng rắc rắc vang lên nhỏ và đều. Mắt nhắm lại, Chương mường tượng tới khung mặt của một người ở xa và rồi sẽ xa anh mãi mãi. Hơi thở anh nhẹ dần và đứt quãng trong căn phòng bắt đầu lạnh và ướt vì nước tràn vào. Anh nghe được tiếng ai đó thì thầm dường như là vĩnh biệt.

KẾT

Phú Quốc. Vũng Bầu. Biển mênh mông sáng màu trăng bạc gợn từng lớp sóng cuộn vào bờ. Trăng trên cao mông lung. Gió nhẹ. Tiếng sóng vỗ bờ cát âm vang trong trí não mơ hồ hình ảnh thoáng qua bất chợt rồi lặng chìm vào đâu đó trong quá khứ chừng như đã nhạt mờ theo năm tháng nhưng thực ra vẫn còn hiện hữu hoài hoài trong trí tưởng. Cô gái, tay xách đôi giày hiệu Nike cũ, lặng lẽ bước trên nền cát ẩm ướt dọc theo bãi biển. Tới chỗ có tảng đá lớn, cô đứng nhìn giây lát đoạn leo lên ngồi. Tảng đá rộng đủ chỗ cho hai người mà cô gái chỉ ngồi có phân nửa. Nửa kia cô đặt đôi Nike lên như muốn để dành chỗ cho một người nào đó. Hai chân co lên, ép sát vào ngực, hai tay vòng ra ôm lấy hai chân, cằm tựa lên hai đầu gối, cô im lặng nhìn ra xa. Sóng vỗ ì ầm vào bờ cát. Trăng thượng tuần dọi xuống biển màu trắng bạc. Qua màn nước mắt cô như thấy có người nào đứng trên chiếc tàu đưa tay vẫy cô. Rồi hình ảnh của người đó với chiếc tàu từ từ chìm vào trong lòng biển sâu. Người đó đã bỏ đi thật xa, xa tới độ không bao giờ quay trở lại.

 

chu sa lan

1-2017

Advertisements