Văn Cao

Mối tình trắc trở của nhạc sĩ Văn Cao

Thu Hà

“Tôi xin phép được giấu tên người phụ nữ đó vì bà vẫn còn sống. Người đã trở thành nguồn cảm hứng trong ca khúc “Bến xuân” của ông”, nhà thơ Văn Thao nói về kỷ niệm của người cha – nhạc sĩ Văn Cao nhân 81 năm ngày sinh của ông hôm qua

Tác giả của những ca khúc lãng mạn Thiên thai, Suối mơ, Trương Chi… là một người tài hoa. Ông không chỉ là nhạc sĩ mà còn vẽ, làm thơ và có thời kỳ viết truyện ngắn. Truyện Siêu Nước Nóng của ông đăng trên văn đàn hồi đó được nhiều người thích. Nhưng rồi đọc Nam Cao, ông thấy mình viết văn sẽ chẳng bao giờ vượt qua Chí Phèonày, nên đã lặng lẽ rời bỏ nghiệp văn. Rồi ông làm thơ, những bài thơ cũng đầy chất lãng mạn. Văn Cao là thế, luôn biết mình đứng ở đâu và ông lặng lẽ rút lui khi biết cái đó không thuộc về mình. Trong tình yêu, ông cũng vậy, Văn Cao chấp nhận là người thứ ba để chia sẻ với niềm hạnh phúc của bạn bè mình. Và trong những câu chuyện kể cho các con sau này, ông có nhắc đến mối tình với một người phụ nữ họ Hoàng. Người ấy từng có lúc cho ông những xúc cảm chơi vơi, đáng nhớ và mối tình đó gắn liền với kỷ niệm đẹp về hai người bạn của ông. Một người anh rất mực thân thiết là nhạc sĩ Hoàng Quý và người bạn thân là ca sĩ Kim Tiêu.

Văn Cao đến nhà ca sĩ Kim Tiêu chơi, ông gặp cô thiếu nữ họ Hoàng đài các ở đó, khi cô cũng đến để học nhạc. Hai ánh mắt gặp nhau, những rung động thầm kín lan tỏa, cả hai người như bị sét đánh. Hai tâm hồn đều “Tình trong như đã, mặt ngoài còn e“, và khi cô thiếu nữ biết chàng là tác giả của những ca khúc lãng mạn nổi tiếng thời ấy thì niềm cảm kích ngưỡng mộ càng tăng lên. Cả hai không ai nói ra nhưng đều dành cho nhau sự mến thương. Nhưng điều éo le nhất là cô gái cũng chính là “người trong mộng” của Hoàng Quý và Kim Tiêu. Nhạc sĩ Văn Cao là người gần gũi nhất lắng nghe hết những tâm sự của họ. Một bóng hồng đó đã làm cả ba mất ngủ. Lần duy nhất, người phụ nữ đến thăm nhạc sĩ khi ông còn ở Bến Ngự, Hải Phòng mà mãi sau này ông vẫn nhớ như in. Hôm đó, trời nóng, Văn Cao cởi trần, nằm bò ra sáng tác. Ấy cũng là lần duy nhất, cô gái ghé thăm ông tại gia. Trong chái nhà chật chội, cô ngồi quạt cho ông, và chàng nhạc sĩ Văn Cao đã thổ lộ với cô: “Ước gì anh có em để hằng ngày em quạt cho anh sáng tác, em vá quần thủng cho anh, làm mẫu cho anh vẽ“. Câu tỏ tình duy nhất Văn Cao dành cho cô nhưng ông cũng hiểu cô gái ấy sẽ không thuộc về mình. Sau lần đó, Văn Cao có đề nghị cô gái làm người mẫu để ông vẽ chân dung và Bến Xuân cũng ra đời từ đó. “Em đến bên tôi, bến nước tiêu điều/in bóng dáng yêu...” là những tâm sự rất thật của nhạc sĩ về người con gái đã làm xao động tâm hồn ông.

Mối tình với cô gái họ Hoàng không đi đến đâu vì ông luôn nghĩ đến tình cảm sâu nặng của Hoàng Quý và Kim Tiêu dành cho cô. Đã không giúp được bạn thì không nên là kẻ chen ngang nên ông cũng không tiến tới một cái gì sâu sắc hơn. Thời gian sau, ca sĩ Kim Tiêu cùng gia đình đến ăn hỏi thiếu nữ họ Hoàng nhưng nhà gái thách cưới quá cao nên ông không thực hiện được ước nguyện. Kim Tiêu ấp ủ nỗi buồn chán vì phận nghèo nên đã cạo trọc đầu đi lang thang vào Huế. Sau này, ca sĩ Kim Tiêu đã mang nỗi niềm ấy để dạy ca sĩ Phạm Duy hát Buồn Tàn Thu.

Chuyện với Kim Tiêu không thành, thời gian sau cô tiểu thư đài các đã lên xe hoa cùng nhạc sĩ Hoàng Quý. Văn Cao chia sẻ niềm vui cùng hai người nhưng trong lòng ngọn lửa tình chưa tắt. Cũng chỉ được ít lâu, Hoàng Quý bị bệnh phổi và mất. Mối tình tay ba tan vỡ từ đó. Người con gái họ Hoàng chỉ là một trong số những bóng hồng đã đi qua cuộc đời nhạc sĩ. Nhưng nhờ có tình yêu trắc trở đó, mà Bến Xuân đã ra đời làm nao lòng nhiều thế hệ người yêu nhạc. Và sau này ông cũng tìm cho mình một bến đậu bình yên bên người phụ nữ mến thương, người bạn đời Nghiêm Thúy Băng. Một tiểu thư đài các trong gia đình đại tư sản nhưng đã đến và cùng ông đi đến cuối cuộc đời.

Thu Hà

Nghiêm Thúy Băng: mối tình lớn của nhạc sỹ Văn Cao

“Giữa những ngày dằng dặc. Chỉ còn khuôn mặt em. Sáng trong và bình lặng…” – đó là những vần thơ đầy ắp tình cảm mà nhạc sỹ Văn Cao đã viết riêng cho nhan sắc của cuộc đời mình.

Cô tiểu thư nhà in và chàng nhạc sỹ tài hoa

Là con gái thứ của một gia đình đại tư sản ở Hà Nội, Nghiêm Thúy Băng luôn khiến người khác ngước nhìn bởi vẻ kiêu sa, đài các của một cô tiểu thư con nhà gia thế. Những người cùng thời với bà kể lại rằng: nàng thường xuất hiện trước đám đông trong tà áo dài trắng kiêu sa trên chiếc xe đồi mồi sang trọng vào loại bậc nhất thời bấy giờ. Bên cạnh nàng luôn có người đi kèm để tránh những lời ong tiếng ve.

Đầu những năm 1940, gia đình bà Nghiêm Thúy Băng là một trong những gia đình giàu có nhất thời bấy giờ. Cha bà – ông Nghiêm Xuân Huyến, là chủ nhà in Rạng Đông, đồng thời là chủ bút hai tờ báo chống Tây cực mạnh là Con ong và Bắc Kỳ thể thao. Suốt thời thanh xuân, bà được sống trong cảnh phong lưu, sung túc.

Đầu những năm 1940, gia đình bà Nghiêm Thúy Băng là một trong những gia đình giàu có nhất thời bấy giờ.

1334747496-nghiemthuyhang-tam-eva4

Khi cô tiểu thư nhà in Rạng Đông đến tuổi cập kê, ông bà chủ nhà in đã cho con gái rượu đứng ở tiệm sách nhỏ làm công việc giao hàng cho khách đến in, bán những cuốn sách của Khái Hưng, Nhất Linh, Thạch Lam. Khi đó nhạc sĩ Văn Cao phụ trách in báo Độc lập. Ông thường viết chữ ngược trên 1 phiến đá, làm dưới hầm bí mật ở làng Bát Tràng, là cơ quan của báo Độc lập với 2 người phụ trách chính là ông Nguyễn Thành Lê và ông Dương Đức Hiền. Sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Nhà nước thành lập Đảng Dân chủ, kết nạp những người yêu nước làm kinh doanh thuộc thành phần tư sản như một mặt trận thứ 2 của Việt Minh mà tờ báo Độc lập là cơ quan ngôn luận chính thức khi đó.

Vì yêu thích bài “Buồn tàn thu” mà trong lòng Nghiêm Thúy Băng đã lưu giữ hình ảnh của chàng nhạc sỹ tài hoa dù chưa một lần gặp mặt. Khi báo Độc lập ra in công khai, chính nhà in Rạng Đông đã xung phong in trước, lấy tiền sau để ủng hộ cách mạng, dù khi đó, gia cảnh của bà Thúy Băng đã sa sút nhiều vì cha bà do ủng hộ cách mạng nên bị Nhật bắt rồi bắn chết trước khi cách mạng tháng Tám thành công chỉ có 3 ngày.

Những ấn tượng về Văn Cao khiến trái tim Thúy Băng xao xuyến. Biết được mối thâm tình này, bạn của anh trai Thúy Băng là ông Nguyễn Thành Lê đã đứng ra mai mối. Nhạc sĩ Văn Cao hơn Thúy Băng đến 7 tuổi, ngày đó, gia đình Thúy Băng còn sợ Văn Cao có vợ ở quê nên cho người về tìm hiểu. Nhưng khoảng cách về tuổi tác không hề làm họ xa nhau. Nàng tiểu thư của chủ xưởng in Rạng Đông đã kết duyên cùng nhạc sĩ tài danh, Văn Cao sau đó một năm.

1334747496nghiemthuyhangtameva1_2fbe1

Bà Thúy Băng đã từng viết: “Cuộc đời tôi từ khi đến với anh Văn Cao chưa có một ngày nào được sung sướng về vật chất, nhưng tôi không ân hận khi trao cả cuộc đời cho anh. Có lẽ đó là một sứ mệnh ngẫu nhiên nếu không muốn nói là định mệnh. Tôi đã hy sinh sự nghiệp của mình dành cho người chồng yêu quý có một sự nghiệp trong sáng tác, đóng góp cho cuộc kháng chiến trường kỳ chống Pháp và chống Mỹ, ngay cả những lúc sóng gió nhất trong cuộc đời, tôi vẫn ở bên cạnh anh và tôi cũng cảm nhận được tôi có ý nghĩa với anh như thế nào. Nhiều bạn bè nhận xét những người phụ nữ trong tranh của anh luôn có nét phảng phất hình ảnh của tôi… Con người anh trầm lặng, sự sống như lặn vào trong, rất khiêm tốn, không khoe khoang. Nhờ ảnh hưởng của tính cách ấy mà qua bao thăng trầm sóng gió, trải qua những gì đau đớn nhất của cuộc đời, tôi vẫn tự hào mình có nghị lực vượt qua…”.

Mối tình duy nhất và cũng là mối tình lớn…

Từ bỏ cuộc sống nhung lụa, giàu sang, cô tiểu thư Thúy Băng sơ tán theo chồng lên Việt Bắc, gia nhập vào đời sống kháng chiến cơ cực. Đó là 8 năm gian khổ, Thúy Băng, trút bỏ những bộ quần áo đẹp, mặc vào những bộ quần áo cánh nâu nhuộm lá chàm ở Việt Bắc cho đỡ tốn xà phòng của người dân lao động. Sau này, bà về công tác ở Câu lạc bộ Điện ảnh Đồi cọ, sống dân dã như những người phụ nữ Tày, trồng rau, nuôi gà mang trứng đi bán, gánh nước, giặt quần áo…

Bà bảo, chẳng bao giờ bà để ông Văn Cao mó tay vào việc nhà, để cho ông toàn tâm toàn ý với nghệ thuật. Có những lần nhạc sĩ Văn Cao bị viêm phổi nặng, Thúy Băng vừa lo nuôi con, vừa làm công việc của một y tá chăm sóc, tiêm thuốc cho chồng. Hầu như mỗi lần Văn Cao bị đau ốm, bà đều tự tay chăm sóc ông. Bà chấp nhận những khó khăn, vất vả bởi bà có một tình yêu lớn hơn, tình yêu với người đàn ông của đời bà.

1334747496-nghiemthuyhang-tam-eva3

Tuy là một trong những giai nhân có tiếng của Hà thành xưa nhưng chưa bao giờ Nghiêm Thúy Băng xem đó là điều làm nên giá trị của cuộc đời bà. (ảnh nguồn internet)

Suốt cả cuộc đời làm vợ của mình, bà chưa bao giờ phàn nàn về số phận và biết chấp nhận sự thực, ngay cả khi người bạn đời của bà đã từ giã cõi đời hơn 15 năm nay. Chỉ có điều, từ bấy đến nay, bà luôn sống với kỷ niệm, kỷ niệm tuổi trẻ, kỷ niệm tuổi già. Bà tâm sự: “Khi ông ấy mất tôi đã 65 tuổi, đã trải qua quá nhiều, từ kháng Pháp qua kháng Mỹ, từ chiến khu về thành phố, con cái mỗi người mỗi nghề. Nhà tôi sống không tròn như hòn cuội, sống có góc có cạnh. Nhưng ông vẫn sinh hoạt Đảng đến tận những ngày cuối đời. Ông hay bảo, cuộc sống phải phá những đường mòn đi, để làm những con đường mới…”

Tuy là một trong những giai nhân có tiếng của Hà thành xưa nhưng chưa bao giờ Nghiêm Thúy Băng xem đó là điều làm nên giá trị của cuộc đời bà. Với Thúy Băng, cuộc đời bà dù có lúc thăng, lúc trầm nhưng nhìn chung, bà vẫn tự hào nói rằng, mình đã sống một cuộc đời hạnh phúc, nếu phải đánh đổi cuộc đời đó bằng những phù hoa, danh vọng, chắc chắn, bà sẽ từ chối, bởi bà đã có một cuộc sống thực sự ý nghĩa bên người đàn ông tài hoa của mình.

CHÍNH KHÍ CA

 

Tất cả bài thơ dưới đây đều được diễn ngâm bởi Tôn Nữ Lê Ba

 

Chính Khí Việt- Lý Đông A


Bình Ngô Đại Cáo- Nguyễn Trãi


Trưng Nữ Vương- Thơ Ngân Giang nữ sĩ


Hồ Trường- Nguyễn Bá Trác


Tụng Kinh Kha- Vũ Hoàng Chương


Bài Hành Phương Nam- Nguyễn Bính


Tống Biệt Hành- Thâm Tâm


Bên Kia Sông Đuống- Hoàng Cầm


 

Chiếc lá Hoàng Cầm – Phần 2

HOÀNG CẦM- Trên đỉnh yêu thương và khổ lụy

Vương Trùng Dương

Kịch tác gia với dòng thơ trữ tình thời tiền chiến dấn thân vào phong trào Nhân Văn – Giai Phẩm bước sang đầu thế kỷ XXI vào tuổi bát thập. Hoàng Cầm là một trong ba khuôn mặt kiện tướng của Nhân Văn – Giai Phẩm hiện còn sống tại quê nhà. Suốt cả cuộc đời sống với thi ca, Hoàng Cầm luôn luôn tôn thờ tình yêu, ca ngợi hình ảnh nữ lưu cho dù cuộc tình nghiệt ngã. Đam mê trong tình yêu từ tiền bán thế kỷ XX cho đến thời điểm cuối đời ở hậu bán thế kỷ XX, Hoàng Cầm tự thú:

“Tám mươi khát cả lưỡi dao

Sắc như nước loáng…

Uống vào như chơi

Chín mươi… dẫu đến mười mươi

Khát thương em quá…

Khóc thôi một mình.”

Tình Sử Lá Diêu Bông

Văn nhân mang tâm hồn lãng mạn từ tuổi ấu thơ vì mới 8 tuổi đã vương vấn hình bóng người tình trong tâm tưởng, con tim cậu bé sớm ngất ngây rung động trước chân dung người con gái tuổi trăng tròn. Mối tình đó được trang trải cho đời qua hình ảnh “Lá Diêu Bông”. Sau ba thập niên mối tình đơn phương của Hoàng Cầm được bày tỏ qua bài thơ Lá Diêu Bông hình thành vào mùa đông 1959:

“Váy Đình Bảng buông chùng cửa võng

Chị thẩn thơ đi tìm

Đồng chiều,

Cuống rạ.

Chị bảo:

Đứa nào tìm được Lá Diêu Bông

Từ nay ta gọi là chồng.

Hai ngày em đi tìm thấy lá

Chi chau mày:

Đâu phải Lá Diêu Bông.

Mùa đông sau em tìm thấy lá

Chị lắc đầu,

Trông nắng vãn bên sông.

Ngày cưới chị

Em tìm thấy lá

Chị cười xe chỉ cắm trôn kim.

Chị ba con

Em tìm thấy lá

Xòe tay phủ mặt chị không nhìn.

Từ thuở ấy

Em cầm chiếc lá

Đi đầu non cuối bể.

Gió quê vi vút gọi.

Diêu Bông hời… ới Diêu Bông!”.

Lá Diêu Bông là chiếc lá tưởng tượng, chiếc lá định mệnh để bày tỏ ẩn tình bi thương, chất ngất cho thiên tình sử, vượt thời gian và không gian, dòng thơ được đưa vào cung bậc, trở thành phổ thông qua nhiều ca khúc.

Làng Đình Bảng, Bắc Ninh – quê hương nổi tiếng của quan họ Kinh Bắc – tuy là miền quê nhưng cũng là “nơi đàn bà con gái đa tình, sóng sánh mắt lá răm” trông mòn con mắt. Trong bài Lá Diêu Bông, mở đầu, Hoàng Cầm đã viết “Váy Đình Bảng buông chùng cửa võng” để phác họa hình ảnh địa phương với bóng dáng trang phục diễm kiều của người gái quê. Năm Hoàng Cầm lên 8 tuổi, từ tỉnh lỵ trọ học, trở về thăm nhà, gặp người con gái 16 tuổi – Vinh – yêu kiều trong chiếc váy bước vào quán hàng xén của thân mẫu, cậu bé 8 tuổi quá lãng mạn đã bị “tiếng sét ái tình” (coup-de-foudre) (amour subit & violent) ngay tức khắc.

Tiếng sét ấy đã đi sâu vào trái tim, gần 70 năm sau, Hoàng Cầm tâm sự: “Trước mắt tôi, chị hiện ra sáng rực rỡ như một thiên thần. Ngay lập tức, hồn tôi bị chị chiếm đoạt đến đau điếng. Kể từ giây phút định mệnh ấy, tôi mê man chị chẳng còn biết trời đất, ất giáp, quên hết học hành, sách vở, suốt ngày chỉ ngong ngóng sang bên kia đường số I, xê xế nhà tôi khoảng 20 mét, nơi thiên thần của tôi ngồi bán quán nghèo, phố nhỏ đìu hiu, tỉnh nhỏ… Tôi phải lòng chị, cứ thế giăng mắc tơ tình quanh chị suốt 4 năm trời, đến năm tôi 12 tuổi thì chị đi lấy chồng” (Nguyễn Thị Minh Thái – Thi sĩ Hoàng Cầm… – Kiến Thức Ngày Nay).

Người con gái đó vẫn biết từ lúc gặp nhau đã đi vào mối tình si của cậu bé học trò. Thế nhưng “Chị vẫn dứt áo ra đi. Đi lấy chồng. Tôi mất tăm chị, đầu non cuối bể tôi đi tìm, không thấy. Biền biệt tăm cá bóng chim…”. Theo Hoàng Cầm, Lá Diêu Bông “là chiếc lá huyền thoại, chiếc lá ngây thơ về một tình yêu đầy mộng mị thời thơ ấu”. Chiếc lá ấy mang theo hình ảnh có thật với Hoàng Cầm: “Tôi còn nhớ mồn một buổi chiều mùa đông… Chị đi về phía cánh đồng chiều còn trơ cuốn rạ. Những dãy núi xanh xanh mờ xa in hình như dao khắc trên nền trời cuối hoàng hôn. Bí mật, tôi lặng lẽ lần theo chị. Tôi thấy chị thẩn thờ tìm đồng chiều. Cuống rạ. Rồi chị lẩm bẩm một mình, dầu chị biết chắc tôi lẵng nhẵng sau lưng: Đứa nào tìm được Lá Diêu Bông, từ nay ta gọi là chồng…”(NTMT – KTNN)

Bài thơ gợi hình ảnh chị & em vì vậy tha nhân cứ nhầm tưởng hình ảnh hai chị em gái, người chị đi lấy chồng, người em còn lại với nỗi thẩn thờ; thật ra, ngôn ngữ trong thơ xưng hô em và chị thể hiện cách gọi giữa tác giả với “người tình” nơi cố quận. Tác giả giữ mãi ẩn tình đó qua thời gian khá dài gần bốn thập niên mới tâm sự nỗi niềm.

Tình Yêu Qua Ca Khúc

Nhạc sĩ cảm tác, rung động với hồn thơ để sáng tác. Và, “thiên tình sử” Lá Diêu Bông được nhạc sĩ phổ theo thơ, dựa vào câu chuyện để viết thành ca khúc. Phạm Duy viết thành ca khúc Lá Diêu Bông ở hải ngoại vào giữa thập niên 1980 trong tuyển tập “Thấm Thoát Mười Năm”, xuất bản 1985. Phạm Duy dùng nguyên văn bài thơ để viết nhạc, chỉ bỏ vài câu đầu từ “Váy…” đến “Chị bảo:”. “Đứa nào tìm được lá diêu bông… Diêu bông hời, hời hỡi diêu bông” và thêm hai câu cuối vào bài hát: “Em đi trăm núi nghìn sông! Nào tìm thấy lá diêu bông bao giờ…”. Nhạc phẩm Lá Diêu Bông nầy mang âm hưởng, sắc thái mới lạ, khó hát nên ít được phổ biến.

Đầu thập niên 1990, ở trong nước, Trần Tiến phổ biến bài nầy mang âm điệu dân ca, bình dân, được nhiều ca sĩ trình bay; vì vậy, đã có nhiều sự nhầm lẫn về tác giả khi nghe bài hát Lá Diêu Bông. Trần Tiến không hiểu được hồn của bài thơ, ngộ nhận nhân vật, nhưng làm nổi tiếng tên tuổi Lá Diêu Bông:

“Lời ru buồn nghe mênh mông, mênh mông, sau lũy tre làng kiến lòng tôi xôn xao.

Ngày lấy chồng em đi qua con đê, con đê mòn lối cỏ về, có chú bướm vàng bay theo em.

Bướm vàng đã đậu cây mù u rồi, lấy chồng sớm làm gì để lời ru thêm buồn.

Ru em, thời thiếu nữ xa xôi; còn đâu bao đêm trăng thanh, tát gàu sòng vui bên anh.

Ru em, thời con gái kiêu sa, em đố ai tìm dược lá diêu bông, em xin lấy làm chồng.

Ru em, thời thiếu nữ xa xôi, mình tôi lang thang muôn nơi, đi tìm lá cho em tôi.

Ru em, thời con gái hay quên, thương em tôi tìm được lá diêu bông, sao em nỡ vội lấy chồng… Diêu bông hỡi diêu bông, sao em nỡ vội lấy chồng”.

Năm 1997, “Nhạc Vàng Productions” giới thiệu CD sẽ được phát hành “CD Tình Sử Hoa Diêu Bông” thơ Nguyễn Mạnh Hoàng Cương, nhạc Phạm Vinh. Có 3 bài: I (Lời Người Con Trai) Vũ Thành An đã phổ nhạc dòng thơ nầy của NMHC mang bóng dáng trong thơ của hoàng Cấm, II (Lời Người Con Gái), III (Giây Phút Lỡ Làng). Ở đây Diêu Bông “tưởng tượng” như “sắc hoa”, “ti-gôn”, “hoa sim”… cho tình sử nhạc khúc nhưng danh xưng tưởng tượng “thoát xác” qua ý thơ của Hoàng Cầm.

Trở lại hình ảnh Lá Diêu Bông với tơ lòng nhà thơ đắm say trong trường tình. Với hình ảnh người bạn đời Tuyết Khanh, Hoàng Yến; với cả mười người tình đi qua đời, qua trái tim; hình ảnh người con gái quê Đình Bảng vẫn là “đẹp nhất trần gian” ghê thật!.

Hoàng Cầm, nghệ sĩ sống thật với cõi lòng. Qua bao nhiêu đau thương, biến động dồn dập trong cuộc sống, Hoàng Cầm vẫn mang nặng tâm hồn nghệ sĩ, chấp nhận tất cả mọi hệ lụy để sống còn và sáng tác. Trôi nỗi giữa cuộc sống phong ba, bão táp, nhà thơ Sông Đuống có lẽ bị hai cú “shock” mạnh nhất là ngày chị Vinh đi lấy chồng lúc 12 tuổi và ngày Bùi Thị Hoàng Yến – đứa con thân yêu nhất – vĩnh viễn ra đi khi 63 tuổi đã làm Hoàng Cầm “hoàn toàn sụp đổ, hàng tháng sau vẫn chỉ là cái xác vật vờ, lờ lững mà thôi”!.

Đọc Lá Diêu Bông, nghe Lá Diêu Bông… một mối tình đơn phương đầy lãng mạn, một huyền thoại về hình ảnh chiếc lá biểu tượng cho tình yêu chất ngất, rướm máu… Chỉ có Hoàng Cầm đam mê, nóng bỏng, lãng mạn của kiếp đời nghệ sĩ.

Nếu so sánh Hán Quang Võ đa tình, đa cảm… mẫn mê với thở Lệ Quyên “thơm như hoa lan”, giữa Ôn Như Hầu (tác giả Cung Oán Ngâm Khúc…) và Dục Đức (Tự Đức) (tác giả Ngự Chế Việt Sử tổng vịnh tập, Luận ngữ Diễn Ca…) cách nhau một thế kỷ còn mập mờ tranh nhau hình ảnh Thị Bằng – “Đập cổ kính ra tìm bóng cũ. Xếp tàn y lại để dành hơi” – thì Lá Diêu Bông có lẽ tha thiết, nặng tình, bi thương hơn bội phần. Nếu so sánh với tuổi yêu đương, có lẽ Hoàng Cầm đứng đầu danh sách nghệ sĩ.

Với “thiên tình sử” Lá Diêu Bông, với Hoàng Cầm, người nghệ sĩ bị chôn vùi tâm hồn lãng mạn qua thời gian lâu dài trong vùng đất ngục tù, cay đắng… nhưng vẫn giữ được trái tim rực lửa như thuở học trò với người gái quê Kinh Bắc.

Tên tuổi Hoàng Cầm được nhắc nhở qua cung bậc với Lá Diêu Bông, ở hải ngoại, Phạm Duy đã phổ nhiều ca khúc qua dòng thơ của Hoàng Cầm, nổi tiếng như ca khúc Tình Cầm (thơ Nếu Anh Còn Trẻ, 1941):

“Nếu anh còn trẻ như năm ấy

Quyết đón em về sống với anh

Những khoảng chiều buồn phơ phất lại

Anh đàn, em hát níu xuân xanh…”

Xin mời nghe Tình Cầm- Thơ: Hoàng Cầm- Nhạc: Phạm Duy-Hòa âm: Duy Cường- Trình bày: Thái Thanh

[audio http://chusalan.files.wordpress.com/2013/01/tinhcam.mp3]

Chân Dung Nhà Thơ

Hoàng Cầm, tên thật: Bùi Tằng Việt. Sinh năm 1921, làng Đình Bảng, thôn Phúc Tằng, Việt Yên, Bắc Ninh. Theo Hoàng Văn Chí trong tác phẩm Nhân Văn Giai Phẩm – Sài Gòn VN, 1957 – Hoàng Cầm sinh năm 1922 ở làng Lạc Thổ, huyện Thuận Thành, tỉnh Hải Dương. Theo Đinh Cường trong bài viết “Hoàng Cầm, Nhà thơ Cho Ta Yêu Sông Đuống” sau ngày gặp mặt Hoàng Cầm tại Sài Gòn: “Sinh nắm 1921 tại làng Lạc Thổ, Chợ Hồ, huyện Lang Tài, phủ Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh. Thân phụ anh hoạt động trong phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục nên từ bé anh đã được hun đúc tinh thnầ dân tộc và ái quốc”. Yêu thơ văn từ thuở học trò, lớn lên, Hoàng Cầm không thích nghề giáo nên dấn thân vào con đường kịch nghệ & thi ca.

Vào thập niên 1940, Hoàng Cầm nổi danh với tác phẩm kịch nghệ như Lên Đường, Kiều Loan, Hận Nam Quan… Năm 1945, kịch thơ Kiều Loan ra đời, diễn viên Tuyết Khanh đóng vai Kiều Loan. Vở kịch Kiều Loan trình diễn lần cuối vào tháng 11-1946 rồi đình bản vì tình hình chiến sự.

” Anh đang sống chung với Tuyết Khanh, nữ kịch sĩ của đoàn kịch Đông Phương do anh Hoàng Tích Linh thành lập trước đây. Tuyết Khanh là người thủ vai chính trong vở Người Điên của Hoàng Cầm. Vở kịch cón mang thêm cái tên Kiều Loan… Đi theo Hoàng Cầm ra vùng kháng chiến, Tuyết Khanh, mà lúc đó Hoàng Cầm cũng đổi luôn tên là Kiều Loan, đang có thai và bắt buộc phải ở lại vùng trung du để Hoàng Cầm và chúng tôi lên đường lưu diễn” (Hồi Ký Phạm Duy – Thời Cách Mạng Kháng Chiến). Và, mối tình thơ mộng đó đã cho ra tác phẩm bằng xương bằng thịt: Kiều Loan. Thế rồi: “Suốt thời gian từ 1948 cho tới năm 1954, từ trong vùng địch chiếm, Kiều Loan mẹ viết thư cho Hoàng Cầm nhiều lần và chẳng bao giờ được trả lời. Sau hiệp định Genève chia đôi đất nước, Kiều Loan mẹ đành phải bế con lên sán di cư vào Nam, trong khi Hoàng Cầm hãy còn ở một nơi nào đó trong vùng quê miền Bắc.

… Đứa bé nằm trong bụng mẹ trong thời kháng chiến năm xưa, hôm nay, trong một ngày lành tháng tốt của năm 1968, đã lấy chồng. Qua tới Mỹ năm 1975, tôi biết tin Kiều Loan mẹ cũng đi tị nạn và đang sống tại vùng Hoa Thịnh Đốn. Vào nam 1982 tôi lại nghe tin Kiều Loan con cũng vượt biên qua tới Mỹ và về sống với Kiều Loan mẹ tại Los Angeles. Ngày đầu năm 1983, trong buổi đi chơi tình cờ, tôi được một người bạn đau lại gặp hai mẹ con Kiều Loan tại căn nhà nhỏ ở downtown Los Angeles” (Phạm Duy – Hồi Ký TCMKC).

Khi định cư tại Hoa Kỳ, Kiều Loan nối nghiệp song thân, cùng với phu quân là Trần Nhật Hiền, nguyên Giám đốc trường Quốc Gia Âm Nhạc Huế, lập ra ban kịch, ra mắt vở kịch Kiều Loan vào năm 1982 tại San José, được lưu diễn nhiều nơi, góp mặt trong việc hồi sinh nền kịch nghệ hải ngoại.

Khi Hoàng Cầm về Hà Nội thì Tuyết Khanh và Kiều Loan đã di cư vào Nam. Hoàng Cầm lập lại cuộc đời với Lê Hoàng Yến ở 43 Lý Quốc Sư Hà Nội. Đứa con gái ra đời được lấy tên mẹ Bùi Thị Hoàng Yến, sau nầy trở thành diễn viên kịch nghệ. Tháng 5-1982, Hoàng Yến qua đời, Hoàng Cầm rơi vào tình trạng khủng hoảng tinh thần trầm trọng, như dòng thư gởi ra hải ngoại cho Kiều Loan: “Đến khi chị Yến chết thì bố hoàn toàn sụp đổ, hàng tháng sau vẫn chỉ là cái xác vật vò, lò lững mà thôi…”.

Tưởng nhớ người vợ, Hoàng Cầm bày tỏ niềm rung ảm qua Nén Linh Hương:

 

“Đã hẳn em bay cõi im-vô-cực

Sao còn mưa mau quất đau lá cành…

Từ hôm em đi ghi âm cười khóc

Ghi nét mày chau ghi sắc môi hồng…”

Bài thơ Xa, khóc L.H.Y viết vào tháng 8 năm 1985, vô cùng cảm động:

 

“Em đâu? Ai xé hồn muôn mảnh

-Tiếng mối tường bên xé tiếng mưa…

Đêm đêm hương khói, ngày không nói

Trang giấy vùng âm đắp ẩm êm

Ai khấn gọi gì qua mộ chí

Chơi sao nuốt nghẹn khối u mềm…”

Tham gia trong thời kỳ kháng chiến, dòng thơ tuyệt vời của Hoàng Cầm qua “Bên Kia Sông Đuống” và “Đêm Liên Hoan” vang vọng, được lan truyền khắp nơi.

Hoàng Cầm bị bắt lần thứ hai và trải qua 3 năm ở nhà giam Hỏa Lò.

Đó là hai người tình, bạn đời chính thức của Hoàng Cầm.

Năm 1989, tập kịch Men Đá Vàng được xuất bản ở Sài Gòn, sau gần nửa thế kỷ im bóng.

Về thi ca, Hoàng Cầm sáng tác được 2 tập: Bên Kia Sông Đuống & Về Kinh Bắc. Cho đến năm 75 tuổi, chọn lọc trong khoảng 300 bài thơ liên quan đến hình ảnh 13 người đẹp đi vào trái tim với “Thơ Hoàng Cầm – 99 Tình Khúc”. Theo nhà thơ: “Tôi biết ơn tất cả những người con gái đã đi qua đời tôi, đã gieo gió bão trên cánh đồng thi ca của riêng tôi”.Năm 1998, thi phẩm Thơ Hoàng Cầm gồm hai phần: Vọng Về Kinh Bắc và Thơ Tình (Tình Ngây, Tình Si Mê, Tình xưa) được xuất hiện.

Trước kia, Hoàng Cầm gắn liền với hình ảnh Kiều Loan. Ngày nay, bài thơ Lá Diêu Bông, rất ngắn nhưng đã làm sống lại tên tuổi Hoàng Cầm, ngay cả hải ngoại.

Có bài thơ đã vượt không gian và trường tồn với thời gian vào quảng đại quần chúng; chẳng hạn, Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu.

Ngày xưa, thi hào Lý Bạch xem bài thơ Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu cùng thời Thịnh Đường ở Trung Hoa, ngưỡng mộ phóng bút: “Nhãn tiền hữu cảnh đạo bất đắc?. Thôi Hiệu đề thi tại thượng đầu!”. Hoàng Hạc Lâu làm sống mãi tên tuổi Thôi Hiệu trải qua nghìn năm sau. Hoàng Hạc Lâu được rất nhiều thi sĩ Việt Nam dịch, cảm tác từ thời tiền chiến cho đến nay, trong tâm trạng con người lưu vong khắp bốn phương trời.

Mẹ, chị và em trong  “Về Kinh Bắc”- Hoàng Hưng

Trở về SG sau những ngày lễ tang Hoàng Cầm, tôi ngồi soạn lại những kỷ niệm còn lưu giữ về ông, thì gặp lại bài viết này của mình nhân sinh nhật thứ 80 của thi sĩ (2002). Bài đã in trên tạp chí Phụ Nữ TPHCM số Xuân năm ấy, nay xin đưa lên mạng, có bổ sung hai chú thích.

Không hẹn mà nên, thời điểm Hoàng Cầm chào đời lại là lúc các làng quan họ nao nức đợi sáng hôm sau mở hội: đó là lúc gần nửa đêm 12 tháng Giêng. Chẳng biết có phải vì thế mà cái chất “âm tính”, “nữ tính” nó ám vào thơ ông. Nhưng quả thật những bài hay nhất, những gì hấp dẫn nhất trong thơ Hoàng Cầm, tập trung ở tập Về Kinh Bắc, đều ám ảnh bóng hình người con gái Kinh Bắc xưa…

hoang-cam_kinh-bac
Hoàng Cầm và các liền chị liền em Kinh Bắc thời nay

Câu thơ mở đầu Về Kinh Bắc là một lời khấn nguyện: “Cúi lạy mẹ con trở về Kinh Bắc”. Để rồi trong suốt 48 bài qua 8 nhịp tuần du, tiếng Mẹ cứ trở đi trở lại như một âm chủ trong toàn bộ tổ khúc thơ đầy màu sắc ấn tượng chủ nghĩa, như một sức mạnh ngầm nối kết những liên tưởng, ẩn dụ, cảm nhận tản mác, tạo nên một thế giới vừa thực vừa ảo. Để rồi gấp tập thơ lại, ta cứ nao lòng vì câu hát ru cuối cùng: “Lớn lên / Em đừng tìm mẹ phía cơn mưa”. Một nỗi buồn bí ẩn, không giải thích được, một kinh nghiệm trả giá một đời?

Sự thực là Về Kinh Bắc đã được khởi hứng và nuôi dưỡng trong suốt mấy tháng mùa rét Đông Xuân 1959 – 1960 từ nỗi niềm của đứa con tơi tả chỉ còn một con đường: tìm về quê mẹ nương náu trong lòng mẹ. Cũng tức là tự bứt khỏi thực tại để chìm đắm vào quá khứ một đi không trở lại. Hoàng Cầm nhớ về mẹ mình, “một cô gái Kinh Bắc có nhan sắc, óng ả, kiều diễm, có đôi mắt ‘lúng liếng’ thật tình tứ, dáng đi đài các uyển chuyển thanh tao”. Mẹ ông là cô gái làng quan họ Bựu – Xim, cùng làng với bà Trần Thị Tần vợ yêu quan Đại tư đồ Nguyễn Nghiễm, mẹ của thi hào Nguyễn Du. Về Kinh Bắc hẳn đã mang sẵn trong máu mình nỗi u uẩn của người con gái hát quan họ tuyệt vời nhưng chính tài hoa ấy lại khiến người chồng nghiêm khắc hững hờ lạnh nhạt trong hơn mười năm, để đứa con đầu lòng phải ra đời trong cảnh đơn chiếc một đêm lạnh giá…

Đứa con ấy chưa kịp lớn bao nhiêu đã lại chuốc lấy cho riêng mình một nỗi u uẩn. U uẩn từ mối tình “Chị – Em” kỳ lạ hiếm hoi trong lịch sử văn học. Mối “tình” này đã được báo chí lạm thác đến mức nhàm chán, và tác giả cũng đã kể nhiều đến mức có lúc có thể lẫn lộn việc thực với tưởng tượng. Tôi muốn quên đi huyền thoại ngoài thơ để chỉ nói về huyền thọai trong thơ. Về những ấn tượng không thể nào phai của chùm “Cây – Lá – Quả – Cỏ” mà hình bóng “Chị” trùm lên.

Chị “trầu cay má đỏ” là trung tâm toả không khí ngây ngây men erotic của đêm chơi tam cúc “nghé cây bài tìm hơi tóc ấm”, “ổ rơm thơm đọng tuổi đương thì” (riêng tôi thích cái dị bản “thơm dậy tuổi đương thì” hơn là “thơm đọng”, vì tuổi đương thì là tuổi dậy chứ chưa đọng).

Chị với chiếc “váy Đình Bảng” có lần “xoạc cành ngang” trên cây ổi có thể làm các chàng quân tử “dùng dằng đi chẳng dứt” còn hơn là cô thiếu nữ ngủ ngày “yếm đào trễ xuống dưới nương long” của nữ sĩ họ Hồ. Chiếc “váy Đình Bảng buông chùng cửa võng” làm câu mở đầu bài thơ Lá Diêu Bông, theo lối “hứng” của ca dao, đã trở thành một huyền thoại văn chương. Mấy ông bạn già của Hoàng Cầm từng bình luận: ai bảo ông ngạo thần ngạo thánh, dám ví cái váy của cô gái quê với cái cửa võng thiêng liêng chốn đình chùa, nên bị Thánh phạt đến nửa đời là phải! Vâng, cái váy con gái Đình Bảng một thời là “mốt” thời trang Kinh Bắc, mẹ cậu Việt (tên thật Hoàng Cầm là Bùi Tằng Việt) từng mặc, chị Vinh thần tượng của cậu từng mặc. Theo như tác giả miêu tả, nó buông chùng xuống mu bàn chân giống kiểu buông của cửa võng (cửa võng thật ra là thứ rèm trướng cách điệu, bằng gỗ, buông nửa chừng như cánh võng trước mặt ban thờ trong hậu cung đình chùa); mặc cho đúng mốt Đình Bảng là biết chếp nếp trên thắt lưng để phía dưới có nhiều pli, càng nhiều pli càng đẹp, khi đó dáng cô gái đi chẳng khác đi trên sóng rập rờn.

Chị với chiếc Lá Diêu Bông có thể trở thành một mục từ trong từ điển văn học! Chiếc Lá Diêu Bông nổi tiếng đến mức nhạc sĩ Trần Tiến chỉ đưa cái tên ấy vào một câu trong bài hát “Sao em nỡ vội lấy chồng” đã mang tiếng là “phổ nhạc bài thơ Hoàng Cầm”. Lá Diêu Bông là cái lá gì? Trong hơn 30 năm kể từ khi bài thơ ra đời, không ít người đã hỏi. Bây giờ thì chắc ai cũng biết đó là cái lá không hề có, do chị bịa ra để dối em, đúng ra là do nhà thơ bịa ra (và đó cũng là nguyên nhân dẫn đến bao nhiêu suy dĩên, bao nhiêu rắc rối cho ông!). Chính tác giả nói ông cũng không biết tại sao mình nghĩ ra cái tên ấy. Theo tôi, cái tên đã hình thành một cách vô thức từ những liên tưởng do hai âm “diêu” và “bông” gợi lên. “Diêu” gợi nghĩa “phiêu diêu”, “bông” gợi nghĩa “bông lông” hoặc “nhẹ như bông”. Lá Diêu Bông là một cái lá bay phiêu diêu, vô định. Có lẽ hiểu như thế nên nhạc sĩ Văn Cao từng có lần vẽ hai cái lá bay làm “bìa” cho một tập Về Kinh Bắc do Hoàng Cầm chép tay. Xin dừng một chút ở chuyện này. Vào cái năm 1982 ấy, số người tìm đến quán rượu Hoàng Cầm ở 43 Lý Quốc Sư Hà Nội xin ông chép tay bản thảo Về Kinh Bắc đã không còn giới hạn trong phạm vi các “fan” ở Hà Nội. Từ TPHCM ra thăm lại quê hương, tôi cũng xin Hoàng Cầm một tập để đem về cho bạn bè văn thơ trong ấy thưởng thức, kể cả bản thân tôi, đến lúc ấy mới chỉ có trong tay ba bài “Cây tam cúc”, “Lá Diêu Bông”, “Quả vườn ổi”. Hoàng Cầm chép xong, tôi bắt chước ông Lâm “toét” (tức Lâm cà phê) xin hoạ sĩ Bùi Xuân Phái vẽ cho hai bức “phụ bản”, ông đã vẽ hai cô gái quan họ. Mở ngoặc nói thêm: ông Lâm là người mến tài các hoạ sĩ nên đã trở thành nhà sưu tập tranh có hạng ở Hà Nội, từ đó ông lại “chơi” cả một số bản thảo của các nhà văn nhà thơ nổi tiếng nhưng chưa được phép công bố, có lẽ Về Kinh Bắc của Hoàng Cầm là món đầu tiên thuộc loại đó. Vào năm 1982 thì bản thảo Về Kinh Bắc mà Hoàng Cầm chép tay và Bùi Xuân Phái vẽ phụ bản, sở hữu của ông Lâm từ nhiều năm trước, bỗng biến mất! Khi đề nghị tác giả VKB chép, tôi có chủ ý làm lại một bản để thay cho bản đã mất của ông Lâm. Còn “oách” hơn bản kia, vì nó sẽ có một cái “bìa” do Văn Cao vẽ. Hồi ấy, nhạc sĩ được coi là người minh họa tác phẩm và vẽ bìa sách văn học tài hoa nhất. Do quý mến đứa em làm thơ cùng chí hướng, ông đã thực hiện rất nhanh cái “bìa” Về Kinh Bắc trên tờ giấy thếp (chắc là bằng khổ A4 bây giờ). Tiếc thay, tập chép quí giá ấy (có thể nói là vô giá) – với thủ bút Hoàng Cầm, tranh phụ bản Bùi Xuân Phái, tranh bìa Văn Cao – đã không thể nào tìm lại được nữa!1

Về Kinh Bắc còn có rất nhiều hình bóng gái Kinh Bắc mà tác giả gọi chung là “Em”. Em cam phận hồng nhan đày đọa: “gánh gạo về dinh phú hộ/ nứt vai thành sẹo lá lan đao”, “ chở nứa sang bờ duyên phận…da mỡ đông tuốt sẹo ngang thân”, em tắm đêm “tung toé dội gầu trăng nước giếng… còn bủn rủn sẹo ngang sẹo dọc” và bỗng kinh hoàng “ấp vú mình trần con dế trũi”. (Tắm đêm, bài thơ lạ lùng như bức tranh theo chủ nghĩa xuất biểu – expressionnism). Em dân ca quan họ trong bức tứ bình minh họa thành ngữ dân gian về ‘tướng’ dành cho phái nữ: “Lại xót mắt em mi trường khép bóng”, “Chân em dài đi không biết mỏi”, “Má hồng em lại nổi”, “Lưng thon thon cắm sào em đợi” (Theo đuổi)2. Có cả em âm thầm “nén nghẹn búp thanh xuân” nơi cửa Phật “chuông chùa cởi yếm, chuông sớm đội khăn, câu kinh tê tê mười ngón tay măng… ong bay vai áo tiểu thon mình” (rất có thể em đây là nhân vật của “Hồn bướm mơ tiên” Khái Hưng). Cả em “hình nhân má điệp tóc mực tàu… da trắng bóc/ phủ bụi tàn nhang… mai nhảy vào đám lửa giỗ đầu”. Và em bảng lảng trong thiên nhiên, khí hậu Kinh Bắc: “Gió vào trăm cửa, gió ra hồng da trinh nữ”, “châu chấu ma vờn cổ yếm xây”. Trong lịch sử Kinh Bắc: “Thấy phẩm Huệ xênh xang năm sắc áo/ biết lòng chim sáo chim di”. Em của các lễ hội dân gian một thuở: hội thi sợi bún, thi ăn mía thổi cơm, thi đánh đu, hát đúm, thi dệt vải, thêu gấm, hội chen Nga Hoàng…Cái hội chen này của vùng Kinh Bắc xưa thật là hấp dẫn, độc đáo. Mỗi năm một đêm đúng vào đêm nguyệt tận “tối như đêm 30”, trai gái đàn ông đàn bà đợi cụ Tiên chỉ nổi trống, đèn đuốc tắt hết, là nhào vào “chen”, những đôi yêu nhau mà không lấy được nhau tận dụng thời gian vàng ngọc này để thoả cái tình phải nén trong lòng. Nhưng dù mê đắm thế nào cũng phải “tỉnh táo” căn sao cho đúng ba hồi trống, kẻo đèn đuốc bừng lên mà chưa kịp buông nhau ra là làng bắt vạ. Nhà thơ đã nhập vào tâm tư của cô gái lỡ gặp người thương quá ba hồi trống, cả hai bị bắt trói cột đình. Đã liều thì liều một thể, cô thầm ước (hay thầm hát, một điệu quan họ): “Thì trói cả đôi/Xin trói cả đời/Cột lim ư gãy rồi/Giường nhung ư sóng đôi”.

Hoàng Hưng

ẤN TƯỢNG HOÀNG CẦM - NGUYỄN TRỌNG TẠO

 hoangcamphotondtoan

Hoàng Cầm, ảnh Nguyễn Đình Toán

Không hiểu sao trong tâm thức thơ ca của tôi luôn ám ảnh bởi Hàn Mặc Tử và Hoàng Cầm, dù thơ của hai thi sỹ này rất khác nhau về hồn thơ và giọng điệu. Hàn Mặc Tử thăng hoa cõi trần vào cõi mơ: Thơ có tích và chiêm bao có tuổi, Hoàng Cầm lại phất cánh diều thơ từ trầm tích của văn hóa Kinh Bắc Giải yếm lòng trai mải phất cờ; Hàn Mặc Tử mất năm 28 tuổi (1940) cũng là lúc Hoàng Cầm 18 tuổi xuất hiện trong làng thơ và tới những năm tuổi bảy mươi vẫn còn sung bút. Tôi nhớ hồi nhỏ đã từng chép tay hàng chục bài thơ của Hàn Mặc Tử, và sau chiến tranh trở về Hà Nội (1976), tôi lại mải miết chép vào sổ tay tập thơ VỀ KINH BẮC từ bản thảo của Hoàng Cầm, bởi thơ ông rất lôi hút những nhà thơ trẻ chúng tôi lúc bấy giờ. Quả là thơ Hoàng Cầm có một ma lực kỳ lạ ở sự cách tân, ở hồn cốt văn hóa làng quê Việt. Có lẽ vì thế mà Trần Dần gọi Hoàng Cầm là “nhà tân cổ điển”.

Thực ra, thế hệ chúng tôi lớn lên sau vụ Nhân văn – Giai phẩm ít được đọc Hoàng Cầm dù trước cách mạng 1945 ông đã đóng góp không nhỏ cho kịch thơ với hai vở Hận Nam Quan và Kiều Loan cùng với những bài thơ kháng chiến, tiêu biểu là Bên kia sông Đuống nổi tiếng và trường ca Tiếng hát Quan họ. Thơ của ông đẹp một vẻ đẹp thướt tha mà lại dạt dào, hào sảng:

Sông Đuống trôi đi
Một dòng lấp lánh
Nằm nghiêng nghiêng trong kháng chiến trường kỳ

Những hình ảnh thân thương gần gũi của quê làng vào thơ ông bỗng trở nên sang trọng lạ lùng.

Những cô hàng xén răng đen
Cười như mùa thu toả nắng

Nói như nhà thơ Nguyễn Thụy Kha thì thơ Hoàng Cầm “trầm đầy một nỗi phương Đông”. Đúng như vậy, cái “nỗi phương Đông” luôn “trầm đầy” chính là nhờ ông đã nhập hoà hồn thơ mình vào chiều sâu văn hóa Việt để rồi hiện ra trên trang giấy với dáng vẻ năng động của thơ mới trong sự luân chuyển về hiện đại.

30 năm vắng bóng trên thi đàn (1958-1988) lại chính là thời gian mà Hoàng Cầm đã tạo nên sự đột khởi trong nghiệp thơ của ông bằng tập VỀ KINH BẮC và nhiều tập thơ lẻ như MEN ĐÁ VÀNG, MƯA THUẬN THÀNH, 99 BÀI TÌNH, v..v… Nhiều bài thơ trong những tập thơ này, mà đặc biệt là tập VỀ KINH BẮC đã trở thành “ngôn truyền” trong công chúng với những Lá Diêu BôngQuả Vườn ỔiCây Tam CúcCỏ Bồng Thi… Theo Hoàng Cầm thì VỀ KINH BẮC chính là tập thơ cột sống của đời ông. Đây là một tập thơ mà tinh túy của văn hoá Quan họ – Kinh Bắc đã được chưng cất, kết đọng lại. Ông chia tập thơ thành các “nhịp” với những đêm Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ như nén lại để rồi làm thăng hoa thơ Việt trong một không gian, thời gian thực ảo biến hoá khôn lường. Đọc thơ ông, ta gặp một con người Việt nguyên khôi qua hơi thở của lục bát, ngũ ngôn và nhịp tự do tài tình lướt qua khuôn phép. Chính vì thế mà thơ ông không cũ đi trong cổ điển, và cũng không quá xa lạ trong hiện đại. Nhiều câu thơ của ông đầy tài hoa, quyến rũ, khiến người đã “phải lòng” rồi thì không thể nào dứt ra được nữa:

- Vắt áo nghe thầm tiêng vải kêu
- Một con mèo mướp ruỗi chân chiều
- Ta con bê vàng lạc dáng chiều xanh
đi mãi tìm sim chẳng chín
- Ta con chào mào khát nước
về vườn xưa hạt nhãn đã đâm mầm
- Ta con chim cu về gù rặng tre
mang nắng ấu thơ về sân đất trắng
- Chị gánh gạo về nhà phú hộ
nứt vai thành sẹo lá lan đao
……….

Mảng thơ tình của Hoàng Cầm lại là một đóng góp đáng kể về cảm giác tình yêu trong thơ ta. Đấy là một cảm giác si mê hưng phấn trong ái tình, mà có người nhầm tưởng là kích động nhục cảm. Ví dụ những câu thơ rất gợi này:

Chân em dài đi không biết mỏi
Má hồng em lại nổi
đồng mùa nước lụt mênh mông
Lưng thon thon cắm sào em đợi
Đào giếng sâu rồi
đừng lấp vội đầu xanh

Những chân dài, má hồng, lưng thon khiến ta nhớ tới “trường túc”, “hồng nhan”, “chiết yêu” trong quan niệm tính dục của người Tàu, nhưng khi những chi tiết ấy vào thơ Hoàng Cầm nó đã được Việt hóa một cách thần tình, khiến cho câu thơ trở nên lung linh tơ lụa bọc che những ẩn dụ xa xăm.

Thực ra, nhục cảm trong thơ tình Hoàng Cầm luôn đa nghĩa, mà cuối cùng hướng về cái đẹp e ấp luôn có nguy cơ biến mất. Trong đời thực, Hoàng Cầm là một người đa cảm và cũng đa tình lắm. Da trắng, môi son vẫn còn phảng phất trên gương mặt chữ điền dưới mái đầu bạc trắng như cước. Cho dù khi đã gần tuổi 80, ông vẫn thường khát khao một mối tình chân thành, đắm đuối. Có lẽ nhờ thế mà trái tim trong thơ ông vẫn rộn ràng những điệu nhạc xa xăm:

Ai bảy mươi tươi ròn
Nằm mơ đưa võng mẹ
Ru say dòng mẫu hệ
Vòng tay quê bế bồng

hoặc:

Em ơi! Em ơi!
Tóc xanh bạc óng
Như hai con sóng
Dễ gì chẻ đôi…

Ngoài tình yêu và thơ ca, Hoàng Cầm cũng là người còn nhiều đam mê khác. Mươi năm lại đây, nhiều bài phê bình, tiểu luận và hồi ký của ông thường làm giật mình người đọc về một trí tuệ và khả năng sung mãn trong sáng tạo. Có thể nói ông là một người thẩm thấu văn chương rất tài tình, tinh tế và nhạy cảm. Không chỉ chia sẻ với các nhà văn nhà thơ cùng thời, mà ông rất gần gũi với cả những thế hệ sau. Ông viết phê bình, giới thiệu thơ của nhiều nhà thơ chống Mỹ với lòng ưu ái và nể trọng. Những bài viết gom nhặt cái hay cái đẹp như vậy bao giờ cũng chân tình và hứng thú. Khi không còn sức để đọc nhiều nữa, ông vẫn dành thời gian đọc những người trẻ, chỉ bảo và cổ súy họ. Có lẽ nhờ thế mà sáng tác của Hoàng Cầm không bị già cỗi, không bị tụt hậu như một số người cao tuổỉ khác. Gần đây ông cho in tập VĂN XUÔI HOÀNG CẦM khoảng 500 trang đã cung cấp cho bạn đọc nhiều điều lý thú bất ngờ. Văn xuôi của ông bộc lộ một bề dày văn hóa cùng những trải nghiệm về đời, về nghề vô cùng sâu sắc và bay bổng. Có cảm giác dòng sông tâm hồn ông lúc nào cũng đầy ắp những con sóng dạt dào trẻ trung và ngọt mát.

Từ đầu những năm 90 của thế kỷ trước, Hoàng Cầm vẫn khao khát được chung tay với Hội Nhà văn ra một tờ báo THƠ để thúc đẩy thơ ca ngày càng đạt tới những thành công mới và đáp ứng nhu cầu của công chúng yêu thơ. Đọc những lời tâm sự của ông trên báo, càng thấy khát vọng ấy của ông nhức nhối đến chừng nào: “Thơ là một mặt vô cùng trọng yếu của đời sống tinh thần dân tộc ta, thì lại không có một tờ báo dẫu chỉ là hai trang thôi! Lấy đâu ra sức mạnh đẩy thơ lên tới mức hiện đại hóa văn chương và nghệ thuật cho kịp với các trào lưu thế giới?”…

Những khao khát của Hoàng Cầm là khao khát nghiêm cẩn. Cũng chính những khát vọng ấy đã giúp ông vượt qua bao trắc trở thị phi bi kịch không đáng có trên con đường văn học. Và giờ đây, khát vọng vẫn nâng đỡ cho ông chống chọi với bệnh tật hiểm nghèo, với gánh nặng tuổi tác, giành lại những phút giây sáng tạo cuối cùng. Hôm qua, tới thăm ông tại nhà riêng, tôi thấy ông nằm trong căn phòng kính tận tầng 4 căn nhà 43 Lý Quốc Sư. Hai năm nay ông đã nằm như vậy sau một cú ngã cầu thang gãy xương đùi. Ông “nằm nghiêng nghiêng” trường kỳ như vậy không biết sẽ đến bao giờ. Năm nay ông đã 86 tuổi. Tôi nói rằng, ông xứng đáng giải thưởng Hồ Chí Minh. Ông cười nói: Giải thưởng Nhà Nước cũng là vinh dự lắm rồi. Được Nhà Nước tặng giải thưởng này, cũng có nghĩa là mình đã được “phục hồi” thật sự, phục hồi công khai. Mà lại có tiền để chữa bệnh, để sống thêm những ngày cuối cùng. Ông khoe với tôi mấy bài thơ mới mà ông vẫn còn tiếp tục sửa chữa. Nhìn ông tóc bạc, da trắng, môi son và cặp mắt ánh lên những tia sáng đắm đuối, tôi như thấy cả thời tuổi trẻ của ông vẫn còn song hành cùng ông trên con đường văn chương đầy mê đắm.

Hà Nội, 8.2004 – 2.2007

NGUYỄN TRỌNG TẠO

HOÀNG CẦM RA ĐI, MỘT-THẾ-GIỚI-THƠ CÒN LẠI

thanh thảo

Vào giờ Thìn, ngày Thìn, tháng Thìn (6/5/2010) Hoàng Cầm thi sĩ – người tuổi Nhâm Tuất (1922) đã trút hơi thở cuối cùng, thọ 89 tuổi. Ông ra đi, để lại phía sau mình một thế giới thơ riêng biệt : thế giới thơ Hoàng Cầm. Vâng, một nhà thơ lớn có thể làm nên một thế giới thơ cho riêng mình, một thế giới của những điều bé nhỏ, yêu thương, xa xót, hy vọng và thất vọng.

hoangcam_namkhgkhong_songduong Nhà thơ Hoàng Cầm bên bờ sông Đuống (ảnh chụp năm 2000)

Hoàng Cầm là điển hình của một nhà thơ thu hút được tinh hoa của một vùng đất đai văn hoá, của lịch sử và bên lề lịch sử. Thuận Thành, Kinh Bắc, Bắc Ninh, quan họ, yếm thắm, lụa đào, “ váy Đình Bảng buông chùng cửa võng ”, đồng chiều, cuống rạ, lá diêu bông, con chào mào, cây ổi, “ con chim cu về gù rặng tre ”… và những gì nữa với sông Đuống “ nằm nghiêng nghiêng trong kháng chiến trường kỳ ”, với những được mất của kiếp người trước đôi mắt mở to ngơ ngác của “ Ta con bê lạc dáng chiều xanh / đi mãi tìm sim chẳng chín ”. Ngay trong những bài thơ hừng hực khí thế chiến đấu nhưBên kia sông Đuống người ta vẫn tìm thấy những “ Tranh Đông Hồ gà lợn nét tươi trong ”, vẫn nghe rạo rực với “ Đám cưới chuột đang tưng bừng rộn rã ”, vẫn mê mải với “ Những nàng môi cắn chỉ quết trầu ”… Cả một vùng làng quê Kinh Bắc hiện lên thắm thiết trong thơ Hoàng Cầm. Không có người yêu nước nào không bắt đầu bằng tình yêu quê hương mình. Hoàng Cầm đã yêu tới những con chuồn chuồn châu chấu nhỏ bé ở ven đê làng mình mà yêu nghiêng con sông Đuống, mà yêu lên đất nước từ những năm khói lửa chiến tranh tới những năm tháng day dứt khổ nghèo chia ly bất hạnh. Thơ Hoàng Cầm là một giọng thơ rất khẽ nhẹ, phải tinh ý lắm mới nghe ra những gì nhà thơ phải nén chặt lại cho mình :

“ Cúi lạy mẹ con trở về Kinh Bắc
Chiều xưa giẻ quạt voi lồng
Thân cau cụt vẫy đuôi mèo trắng mốc
Chuồn chuồn khiêng nắng sang sông
 ”

(Đêm thổ)

và :

“ Ta ru em
lớn lên em đừng tìm mẹ phía cơn mưa
 ”

(Về với ta)

Tôi nhớ, hồi nhỏ, khi mới tập kết ra Bắc, có một buổi chiều tôi thằng bé 8 tuổi đã chạy về phía cơn mưa để tìm mẹ mình. Một cảm giác bơ vơ trong câu thơ không dễ gì hiểu ngay được, nhưng khi đọc lên nó dựng trước mình một thế giới hiện hữu và một thế giới khuất lấp. Đó có thể coi là một thế giới ẩn bên trong một thế giới của thơ Hoàng Cầm. Những câu thơ vừa muốn thổ lộ vừa muốn che giấu, và có lẽ càng thổ lộ thì lại càng hun hút những nỗi niềm mà ta chỉ cảm được một cách không rõ ràng.

Có một điều khiến tôi lạ lùng, là thơ Hoàng Cầm và thơ Quang Dũng luôn nhắc nhở về một quê hương trong mù sương nào đó, luôn u ẩn một nỗi hoài nhớ nào đó không thể gọi tên. Phải chăng, tự xa xưa, xứ Đoài của Quang Dũng và Kinh Bắc của Hoàng Cầm từng là nơi những người lính và những nghệ sĩ Chàm lưu lạc đã chọn làm quê hương thứ hai ? Trong thơ Quang Dũng rắn rỏi một nỗi niềm chiến sĩ, còn trong thơ Hoàng Cầm tha thướt những nét hoa văn những dải lụa đào nghệ sĩ. Họ như từ quá khứ đến với ta, họ vừa thân thuộc vừa xa lạ, vừa đắm đuối yêu thương vừa không tương hợp với thế giới này. Tất cả những mâu thuẫn ấy đã hiện rõ trong thơ Hoàng Cầm. Và chính nó đã làm nên sự khác biệt của thơ ông :

“ Ta con chim cu về gù rặng tre
đưa nắng ấu thơ về sân đất trắng
đưa mây lành những phương trời lạ
về tụ nóc cây rơm
 ”

(Về với ta)

Những câu thơ hơn cả cô đơn, nó là nỗi bơ vơ của một kiếp người :

“ Ngày Chị bảo Em quên
Tranh tố nữ long hồ gián nhất
mất chân đi
má đội tổ tò vò

Cuốn chiếu xa rồi
thơ thẩn vách chiêm bao
 ”

(Nước sông Thương)

Có người nói thơ Hoàng Cầm như những lẩm nhẩm bùa chú, lại như một nghi lễ thờ cúng, nó kính cẩn mà hoang sơ. Với một thế giới thơ như thế, người ta chỉ nên chấp nhận chứ không cần giải mã. Và theo tôi, cách đọc thơ Hoàng Cầm là bất chợt đọc một đoạn thơ nào đó trong một bài thơ nào đó của ông. Rồi ngớt. Rồi lại đọc ở một lúc khác. Đó là cách đọc những cơn mưa rào, là sự đồng cảm tự nhiên và thốt nhiên với chính thế giới mà mình đang sống cùng với thế giới mà mình chưa biết nhưng có thể sống. Thơ Hoàng Cầm kết nối được những thế giới khác nhau như thế để cho ta cảm giác vừa mơ hồ vừa rõ rệt về một giấc mơ.

“ Bắn nát chiều mai ráng đỏ
Châu chấu ma vờn cổ yếm xây

Không gặp người quen
Hờ
Ngõ cũ
 ”

(Đêm thổ)

Những ai đã một lần lỡ hẹn, những ai đã cầm được giấc mơ trong tay rồi bỗng giấc mơ tan biến sẽ dễ dàng đọc những câu thơ này. Những câu thơ thuần Việt, Việt từ trong máu huyết của từ ngữ, của âm điệu, của bóng hình.

Xin vĩnh biệt Hoàng Cầm thi sĩ. Ông ra đi, nhưng Thơ ông còn ở lại. Còn nguyên một thế giới thơ Hoàng Cầm. Một thế giới trong một thế giới.

Chiều 6/5/2010

Thanh Thảo

 

‘’Nàng thơ’’ đẹp nhất trong đời thi sĩ Hoàng Cầm

Như chính nhà thơ Hoàng Cầm đã tự nhận trong tập “99 tình khúc”, cuộc đời của ông có 13 “nàng thơ”, 13 người phụ nữ đã khiến cho cả tâm hồn người đàn ông và tâm hồn thi sĩ trong ông rung động. Trong 13 “nàng thơ” đó, bà Hoàng Yến – người vợ cuối cùng của ông là “nàng thơ” đẹp nhất, khiến ông mãi khôn nguôn nỗi đau mất mát khi bà ra đi.

Chuyện tình của thi sĩ Hoàng Cầm

Nhà thơ xứ Kinh Bắc Hoàng Cầm tên thật là Bùi Tằng Việt. Ông sinh năm 1922. Không chỉ là một nhà thơ nổi tiếng với “Bên kia sông Đuống”, “Lá diêu bông”, Hoàng Cầm còn nổi tiếng bởi sự hào hoa, lãng tử.

Hoàng Cầm viết rất nhiều thơ tình. Trong mỗi bài thơ tình của ông, bao giờ cũng có bóng dáng của một người phụ nữ đã từng đi qua đời ông – những người phụ nữ được ông âu yếm gọi là “những hồn người đã gợi ra nhịp điệu, âm thanh và đường nét sắc màu” trong những tình khúc của ông.

Ông có 3 bà vợ và nhiều “nàng thơ” khác. Nhưng như lời thi sĩ từng nói lúc còn sống: bà Hoàng Yến là người mà ông yêu thương nhất, biết ơn nhất, là “nàng thơ” đẹp nhất trong thơ ông, là người mà ông đã đẩy cái gánh nặng cuộc đời với “ngày hai bữa cơm nghèo, mấy tấm quần áo đã sờn rách, một lũ con nhỏ dại lau nhau đi học, chơi đùa, đau ốm….”.

Bà Hoàng Yến là người vợ thứ ba của ông, cũng là người vợ cuối cùng của ông. Năm 18 tuổi, Hoàng Cầm cưới người vợ đầu là bà Hoàng Thị Hoàn, quê Bắc Giang, do gia đình cưới hỏi. Sinh cho ông được một trai, một gái thì bà qua đời.

 hoangcam_namkhgkhong_songduong

Nhà thơ Hoàng Cầm

Năm 1946, Hoàng Cầm viết kịch thơ “Kiều Loan” và đem lòng yêu Tuyết Khanh – nữ diễn viên đã hóa thân trọn vẹn vào vai Kiều Loan trong vở kịch thơ cùng tên. Nhưng cuộc hôn nhân đó cũng không kéo dài được lâu. Sau khi có với nhau một con gái, do hoàn cảnh gia đình, ông bà phải xa nhau.

Bà Tuyết Khanh lấy chồng mới, sau năm 1954 theo chồng vào miền Nam sống rồi qua Mỹ định cư năm 1975 rồi mất tại đây.

Sau khi kháng chiến chống Pháp thắng lợi, Hoàng Cầm trở về Hà Nội, là một ông bố của 3 đứa con, 2 đời vợ, nhưng lại chẳng có người phụ nữ nào bên cạnh. Ông gặp bà Hoàng Yến trong hoàn cảnh đó.

Thân sinh bà Hoàng Yến là một thầy thuốc sống ở Hải Dương. Thuở con gái mười tám đôi mươi, bà kết tóc se tơ cùng với ông Đào Thiện Phỏng, một người làm nghề thầy giáo khá giả ở Hà Nội. Cuộc hôn nhân đầu tiên, bà sống hạnh phúc bên người chồng nho nhã, có lòng nhân hậu.

Hai ông bà thường cùng nhau đi làm từ thiện. Nhưng sau này, ông giáo Phỏng bị một cơn nhồi máu cơ tim qua đời, để lại bà một mình vò võ nuôi 5 con. Năm bà Hoàng Yến 31 tuổi, thì thi sĩ “Lá Diêu bông” xuất hiện.

Khi ấy, ông là Trưởng đoàn Văn công Tổng cục Chính trị, “oai” ra trò, bà tuy đã qua một đời chồng, đã có 5 con, nhưng nhan sắc vẫn mặn mòi, duyên dáng, được mệnh danh là hoa khôi của bệnh viện (hồi đó bà là y tá của Bệnh viện Yersin – nay là Bệnh viện Việt – Đức).

Sau đám cưới, ông xách ba lô và đem theo mấy đứa con côi về ngôi nhà 43 Lý Quốc Sư – ngôi nhà mà người chồng cũ để lại cho bà sinh sống.

 images754354_Nang_tho_dep_nhat_thi_si_Ben_kia_Song_Duong_phunutoday.vn_2

Bà Hoàng Yến- người vợ thứ 3 của thi sĩ Hoàng Cầm

Cuộc hôn nhân của thi sĩ Hoàng Cầm với bà Hoàng Yến là một cuộc hôn nhân không được lòng dư luận. Khi ông bà về sống với nhau, Hoàng Cầm cũng đàng hoàng là anh trưởng đoàn văn công của Tổng cục Chính trị “kiếm đâu cũng được vợ”.

Nhiều người cho là thi sĩ bị bà Hoàng Yến “lừa”. Nhưng cuộc hôn nhân của vợ chồng thi sĩ Hoàng Cầm và bà Hoàng Yến đã trải qua 30 vững bền. Đến lúc bà Hoàng Yến qua đời năm 1985, thi sĩ Hoàng Cầm đã phải trải qua nỗi mất mát lớn trong đời.

Một đời vất vả gieo neo

Bà Hoàng Yến là người vợ có nhiều dấu ấn nhất trong sự nghiệp thơ ca của Hoàng Cầm. Bà vừa là “nàng thơ” của ông, vừa là người nâng bước ông những năm ông sống trong khốn khổ vì bị vùi dập.

Đời làm vợ của bà có thể gói gọn trong 2 câu thơ mà thi sĩ Hoàng Cầm viết tặng vợ: “Tôi có người vợ nghèo/ đời vất vả gieo neo…”.

Khi còn sống, thi sĩ Hoàng Cầm từng kể: “Lúc đó bà ấy vò võ nuôi một gánh con, cũng muốn lấy tôi để được nhờ, vì tôi dù gì cũng là anh Trưởng đoàn Văn công. Ai ngờ đâu chỉ sau vài năm, tôi mất tất cả, một tay bà phải lo cho cả chồng, con đến tận khi qua đời”.

Ông bà lấy nhau được 2 năm thì ông vướng vào vụ “Nhân văn giai phẩm”. Ông bị cắt 2/3 lương, bị lao động cải tạo bắt buộc trong 3 năm. Suốt 30 năm trời, thơ ông bị cấm in, không thể kiếm sống bằng ngòi bút của mình.

Trong những năm tháng khổ cực đó, Hoàng Cầm ban ngày đi đẩy xe bò với Trần Dần, ban đêm đi chiếu phim cùng Phùng Quán, lọ mọ làm đủ thứ nghề hàng đêm để sống qua ngày.

Gánh nặng gia đình, với “con anh, con tôi, con chúng ta” đông không kể hết ấy hầu như dồn lên vai bà Hoàng Yến. Nhưng chưa bao giờ bà kêu ca với ông một lời nào. Những lúc thấy nhà thơ phẫn chí, chán nản với cuộc đời, bà lại động viên ông.

Bà động viên ông làm thơ, gánh hết mọi lo toan cuộc sống, nuôi cả ông và hơn 10 đứa con cả chung lẫn riêng của cả hai mà không một lời ca thán. Từ một người phụ nữ ăn trắng mặc trơn, sau khi về lấy ông, bà gánh vác trên vai gánh nặng của cả gia đình.

Ngôi nhà 43 Lý Quốc Sư bà được người chồng trước để lại khá chật chội, nhưng bà vẫn vui vẻ chia sẻ với những người con riêng của ông.

Có một điều đặc biệt là bà Hoàng Yến không bao giờ phân biệt con chung, con riêng. Người con gái đầu của nhà thơ Hoàng Cầm cũng tên là Hoàng Yến – trùng tên với bà, rất tâm đầu ý hợp với bà.

Hai mẹ con thường rủ rỉ rù rì ngày này qua tháng khác. Đến khi cô Hoàng Yến mất, bà Hoàng Yến đau buồn suốt cả năm trời sau đó, không lâu sau cũng mất theo.

Bà Hoàng Yến sống bên cạnh Hoàng Cầm 32 năm, chỉ có 2 năm tạm gọi là ổn định, 30 năm còn lại, bà khổ. Vậy mà người phụ nữ ấy không bao giờ hé miệng kêu ca, không bao giờ có một lời cãi vã với chồng.

Thời “Nhân văn giai phẩm”, mỗi tháng để được cấp 12kg gạo, bà phải đi trình diện, rồi lấy giấy chứng nhận nọ, chứng nhận kia, mới được xếp hàng đợi mua gạo. Cả gia đình mười mấy người chỉ trông vào 12kg gạo mỗi tháng đó – mỗi bữa ăn đều phải nhìn nhau mà ăn.

Ai đã trải qua thời bao cấp cũng đều kêu khổ. Nhưng bà Hoàng Yến thì còn khổ hơn cả cái khổ của những người khác sống cùng thời.

Nhờ sự chịu thương, chịu khó, nhờ đức hy sinh của bà, mà những năm tháng “Nhân văn giai phẩm” đó, Hoàng Cầm mới còn đủ tinh thần để làm thơ. Tập thơ “Về Kinh Bắc” – tập thơ quan trọng nhất trong sự nghiệp của Hoàng Cầm – nếu không có sự tần tảo, hi sinh của bà Hoàng Yến, vợ ông, chắc chẳng bao giờ ra đời được.

Bà thay ông lo chuyện cơm áo, để ông nhẹ gánh nợ đời, đắm chìm trong thơ ca; bà là nàng thơ của ông, là người phụ nữ gợi cho ông nhiều thi hứng nhất. Bà giữ từng bản thảo thơ ông viết, hy vọng một ngày, sự nghiệp của ông sẽ được nhìn nhận lại.

Nhưng bà không được hưởng những vinh quang của cuộc đời ông. Năm 1988, sự nghiệp của ông mới được khôi phục sau những năm tháng nghiệt ngã. Nhưng bà Hoàng Yến thì không đợi được đến ngày chứng kiến giây phút đó. Bà đã mất trước đó 3 năm.

Trong buổi xuất hiện đầu tiên của ông trên thi đàn, được tổ chức tại Cung Văn hóa Hữu nghị Việt – Xô, đánh dấu sự trở lại của ông sau 30 năm, khi những tiếng vỗ tay vang lên khắp hội trường, nước mắt của ông cứ thế trào ra.

Sau này ông kể lại, ông khóc không phải vì thấy vinh quang đang trở lại với mình, mà khóc vì thương người vợ cả đời khổ cực bên cạnh ông, chẳng có lấy một tích tắc sung sướng.

Những tràng vỗ tay của những người dưới hội trường, họ ca ngợi thơ ông, nhưng họ không bao giờ biết được phía sau những vần thơ ấy là những giọt nước mắt lặng lẽ của cả cuộc đời một người phụ nữ.

Ông cứ ao ước, giá giây phút đó có bà Hoàng Yến bên cạnh, ông sẽ thong dong, hạnh phúc trọn vẹn hơn bao giờ hết.

Hoàng Cầm nổi tiếng là thi sĩ hào hoa. Cuộc đời ông luôn có bóng dáng một người phụ nữ nào đó. Nhưng sau khi bà Hoàng Yến mất, khoảng trống mà bà để lại là khoảng trống quá lớn, mà những người phụ nữ sau này có khiến ông rung động, cũng không thể lấp đầy được khoảng trống đó.

Bà mất giữa những ngày khó khăn, gia đình vẫn phải chạy ăn từng bữa, con cái nhóc nheo. Ông như người mất đi chỗ dựa cuối cùng, bỗng nhiên thấy mình thành một đứa trẻ bơ vơ giữa cuộc đời. 2 năm sau đó, Hoàng Cầm sống trong đau khổ.

Ông sợ bóng tối, sợ tiếng ồn, sợ chỗ đông người, sợ cả những tiếng bước chân đi lại. Kể từ ngày bà mất, ông cũng không còn nghĩ đến việc tìm kiếm một người phụ nữ khác thay thế vị trí của bà.

Nhà thơ Hoàng Cầm mất sau bà Hoàng Yến hơn 20 năm, nhưng đến khi ông mất, bà vẫn là người vợ cuối cùng, là nàng thơ đẹp nhất trong đời thi sĩ đất Kinh Bắc hào hoa Hoàng Cầm.

Chiếc lá HOÀNG CẦM – Phần 1

Tiếp tục mục Giai Nhân Hoa Thơ Nhạc, hôm nay tôi mời mọi người đi vào thế giới không phải là hoa mà là chiếc lá và hình ảnh của giai nhân trong thơ của thi sĩ Hoàng Cầm. Chiếc lá diêu bông và hình ảnh của cô gái trong thơ đã trở thành huyền thoại qua nét bút của nhà thơ Bên Kia Sông Đuống.

Đầu tiên là Những Bóng Hồng Trong Thơ Nhạc của Hà Đình Nguyên khi nhắc tới:

Hoàng Cầm và chiếc lá huyền thoại

Trên văn đàn Việt, những bài thơ “xuất thần” của Hoàng Cầm mang một giọng điệu hết sức lạ lùng, tứ thơ cũng thật lạ.Chính ông đã cho ra đời một thứ lá mà không ai có thể tìm thấy trên thế gian này: lá diêu bông!

Hoàng Cầm tên thật là Bùi Tằng Việt, sinh ngày 22.2.1922 tại xã Phúc Tằng, H.Việt Yên, tỉnh Bắc Giang. Cha ông vốn là một ông đồ kiêm thầy lang, quê gốc ở Song Hồ, H.Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh. Vì người cha rời quê lên Bắc Giang dạy học và “chú nhóc” ra đời ở đấy nên ông thầy đồ đã ghép cả tên xã, tên huyện đặt thành tên cho con trai (Bùi Tằng Việt). Sau này, cậu bé ấy lại lấy tên một vị thuốc bắc rất đắng trong hộc tủ của bố làm bút danh cho mình: Hoàng Cầm.

5 tuổi, Bùi Tằng Việt đã phải xa gia đình lên tỉnh lỵ Bắc Giang để trọ học ở nhà ông bác, và 8 tuổi đã biết… yêu. Là thế này: một buổi chiều thứ bảy “định mệnh” của năm 1930, cậu bé Việt từ Phủ Lạng Thương về thăm nhà, bất giác gặp một cô gái đến trao đổi gì đó với mẹ mình (bán hàng xén). Trái tim của cậu bé 8 tuổi như không còn đập nổi trước dung nhan của cô gái 16 tuổi. Một “coup de foudre” (sét ái tình) làm cậu choáng váng. Rồi thứ bảy tuần sau, cậu về trao cho cô gái một bài thơ “tỏ tình”, đó là bài thơ lục bát dài hơn trang giấy học trò, có vẽ hoa bướm, ngọn núi, dòng sông… viết bằng mực tím nắn nót và câu đề tặng “Em gửi chị Vinh của em”.

Gần 70 năm sau, ký ức của lão thi sĩ Hoàng Cầm vẫn còn hiển hiện phút giây đầu tiên gặp gỡ chị Vinh, ông viết: “Trước mắt tôi, chị hiện ra rực rỡ như một thiên thần. Ngay lập tức, hồn tôi như bị chiếm đoạt đến đau điếng. Kể từ giây phút định mệnh ấy, tôi mê man chị chẳng còn biết trời đất, ất giáp, quên cả học hành sách vở, suốt ngày chỉ ngong ngóng sang bên kia đường, xê xế nhà tôi khoảng 20 mét, nơi thiên thần của tôi ngồi bán quán nghèo, phố nhỏ đìu hiu, tỉnh nhỏ… Tôi phải lòng chị, cứ thế giăng mắc tơ tình quanh chị suốt 4 năm trời, đến năm tôi 12 tuổi thì chị đi lấy chồng…” (Tám nhịp tuần du, NXB Văn học, 12.1999).

Thế “chị Vinh” có gì đặc biệt mà khiến một con người từ thuở còn là “thần đồng thơ” đến lúc đã trở thành “đại lão thi sĩ” vẫn cứ say như điếu đổ? Hoàng Cầm viết thế này: “…Chị Vinh võ vẽ chữ nho, đọc thông quốc ngữ, quê gốc Tiên Du (Bắc Ninh – PV) nên hát quan họ cũng làm người ta mê ngang với nhan sắc của chị… Chị thường nhờ những đêm trăng sáng, tổ chức đám thanh niên tụ tập ở cái bãi sau nhà ga, hát ví, hát trống quân, hát ống, hát giao duyên, hát vấn đáp… đặc biệt về môn hát quan họ thì chị là bà chúa của dân ca! Giọng ngọt, say như mật ong, đôi mắt đen buồn thăm thẳm với hàng mi cong và dài, đôi môi đã hồng lại còn cắn chỉ quết trầu, răng đen rưng rức hạt na.

Chị Vinh ơi, viết đến đây em vẫn bồi hồi nhớ từng sợi tóc chị dán trên vầng trán, từng con mắt chị lúng liếng tình tứ, từng giọng hát, từng nụ cười. Em còn ngửi thấy hơi tóc ấm của chị thoảng mùi hương nhu mới gội buổi chiều. Cả suối tóc ấy làm thành thế giới say mê của riêng em từ độ ấy đến ngày nay, dẫu tóc em đã trắng hết, em vẫn có thể vẽ đúng chân dung chị tuyệt vời. Ảnh chị in màu trong hồn em, không một nhà khoa học nào có thể làm ra cho em được những tấm ảnh như em đang có, vẫn còn đầy đủ và tươi tắn, nguyên vẹn từ hơn sáu chục năm rồi đấy, chị ơi!…”.

6+9Một buổi chiều của dịp lễ Giáng sinh năm 1934, nắng hanh vàng rộm, gió lạnh se se, thấy chị Vinh “diện” váy kiểu Đình Bảng, áo lụa cánh mỡ gà, bên ngoài áo ghi lê tím, bên trong yếm nhạt cánh sen, lưng thắt dải lụa đào, bước thoăn thoắt ra cánh đồng còn trơ gốc rạ dưới chân dãy núi Neo, cậu bé 12 tuổi lập tức “vọt” theo… Chị đi trên bờ ruộng, cứ vạch từng búi cỏ đầu bờ hoặc ở những bụi cây trên mấy gò nhỏ rồi cắm cúi tìm… Cứ thế, chị đi trước và tìm, cậu bé lẽo đẽo theo sau. Bỗng chị quay lại mắng: “Ơ hay! Sao mày cứ theo tao lẵng nhẵng thế nhỉ?”.

Cậu bé tự ái muốn bật khóc, nhưng cố nuốt nghẹn bước theo chị. Hình như chị có thoáng thấy nên… mỉm cười. Khi chị bước qua bờ ruộng khác thì cậu bé không kìm được, bật hỏi: “Chị Vinh ơi, chị tìm gì thế?”. Bỗng chị quay lại, nhìn thẳng vào mắt cậu bé, giọng bỡn cợt: “Chị tìm, tìm cái lá… ấy đấy. Đứa nào tìm được cái lá… ấy thì ta gọi là chồng!”. Dù chỉ mới 12 tuổi, cậu bé cũng nhận ra chị Vinh đã thay đổi cách xưng hô, từ “tao, mày”, rồi “chị”, đến “ta”. Cái lá mà chị Vinh nói có lẽ là một thứ lá có thật, nhưng rất khó kiếm. Cuối năm đó, khi chị Vinh đi lấy chồng thì cậu bé quên mất tên chiếc lá mà chị Vinh “đùa trên sự đau khổ” của mình…

Đúng 25 năm sau, một đêm mùa rét cuối năm 1959, trong một thoáng xuất thần – như có một giọng nữ đọc cho Hoàng Cầm chép một mạch bài thơ Lá diêu bông. Và, 60 năm sau – thi sĩ Hoàng Cầm ghi lại những câu văn thật cảm động: “Ngay lúc ấy, tuy mới 12 tuổi, tôi cũng đã nghĩ ngay ra rằng chiếc lá ấy rất hiếm, rất khó tìm. Chẳng thế mà chị đi hết bờ này bãi nọ, gần cả một buổi chiều mà có thấy được đâu! Cái lá oái oăm thế, chị mới trêu đùa thằng bé mà chị biết là nó đang say mê mình, nó “phải lòng” mình từ 5 năm nay rồi còn gì! “Đứa nào tìm được… ta gọi là chồng!”. Chị Vinh ơi, bây giờ chị ở cõi nào, nếu còn sống, chị đã gần tám mươi đấy chứ, sao hôm nay em đã ngoài bảy mươi, lúc em viết những trang nhớ lại này, em hoàn toàn vẫn là đứa em 12 tuổi đang theo chị và chị vẫn đang tuổi hai mươi ngoài cánh đồng làng Như Thiết ấy, chị vẫn trẻ đẹp diệu kỳ, chị ơi!…”.

Lá Diêu Bông- Hoàng Cầm

Váy Đình Bảng buông chùng cửa võng
Chị thẩn thơ đi tìm
Đồng chiều
Cuống rạ
Chị bảo
Đứa nào tìm được lá diêu bông
Từ nay ta gọi là chồng

Hai ngày sau em tìm thấy lá
Chị chau mày
Đâu phải lá diêu bông

Mùa đông sau em tìm thấy lá
Chị lắc đầu
trông nắng vãn bên sông

Ngày cưới chị
Em tìm thấy lá
Chị cười xe chỉ ấm trôn kim

Chị ba con
Em tìm thấy lá
Xòe tay phủ mặt chị không nhìn

Từ thuở ấy
Em cầm chiếc lá
đi đầu non cuối bể
Gió quê vi vút gọi
Diêu bông hời…
…ới diêu bông…

Sau đây là bản nhạc do Phạm Duy phổ từ bài thơ Lá Diêu Bông của Hoàng Cầm với tiếng hát Ý Lan.


Thủa còn đi học, bài thơ Bên Kia Sông Đuống là bài thơ ruột của tôi, dù chưa hề thấy con sông Đuống của nhà thơ HC. Mấy câu thơ ” Em ơi buồn làm chi… Anh đưa em về sông Đuống… Đứng bên này sông sâu nhớ tiếc... Sao xót xa như rụng bàn tay…” nghe thật buồn.

Em ơi buồn làm chi
Anh đưa em về sông Đuống
Ngày xưa cát trắng phẳng lì
Sông Đuống trôi đi
Một dòng lấp loáng
Nằm nghiêng nghiêng trong kháng chiến trường kỳ
Xanh xanh bãi mía bờ dâu
Ngô khoai biêng biếc
Đứng bên này sông sao nhớ tiếc
Sao xót xa như rụng bàn tay

Bên kia sông Đuống
Quê hương ta lúa nếp thơm nồng
Tranh Đông Hồ gà lợn nét tươi trong
Màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp
Quê hương ta từ ngày khủng khiếp
Giặc kéo lên ngùn ngụt lửa hung tàn
Ruộng ta khô
Nhà ta cháy
Chó ngộ một đàn
Lưỡi dài lê sắc máu
Kiệt cùng ngõ thẳm bờ hoang
Mẹ con đàn lợn âm dương
Chia lìa đôi ngả
Đám cưới chuột tưng bừng rộn rã
Bây giờ tan tác về đâu?

Ai về bên kia sông Đuống
Cho ta gửi tấm the đen
Mấy trăm năm thấp thoáng mộng bình yên
Những hội hè đình đám
Trên núi Thiên Thai
Trong chùa Bút Tháp
Giữa huyện Lang Tài
Gửi về may áo cho ai
Chuông chùa văng vẳng nay người ở đâu
Những nàng môi cắn chỉ quết trầu
Những cụ già phơ phơ tóc trắng
Những em sột soạt quần nâu
Bây giờ đi đâu? Về đâu?

Ai về bên kia sông Đuống
Có nhớ từng khuôn mặt búp sen
Những cô hàng xén răng đen
Cười như mùa thu tỏa nắng
Chợ Hồ, chợ Sủi người đua chen
Bãi Tràm Chỉ người giăng tơ nghẽn lối
Những nàng dệt sợi
Đi bán lụa mầu
Những người thợ nhuộm
Đồng Tỉnh, Huê Cầu
Bây giờ đi đâu? Về đâu?

Bên kia sông Đuống
Mẹ già nua còm cõi gánh hàng rong
Dăm miếng cau khô
Mấy lọ phẩm hồng
Vài thếp giấy dầm hoen sương sớm
Chợt lũ quỷ mắt xanh trừng trợn
Khua giầy đinh đạp gãy quán gầy teo
Xì xồ cướp bóc
Tan phiên chợ nghèo
Lá đa lác đác trước lều
Vài ba vết máu loang chiều mùa đông

Chưa bán được một đồng
Mẹ già lại quẩy gánh hàng rong
Bước cao thấp trên bờ tre hun hút
Có con cò trắng bay vùn vụt
Lướt ngang dòng sông Đuống về đâu?
Mẹ ta lòng đói dạ sầu
Đường trơn mưa lạnh mái đầu bạc phơ

Bên kia sông Đuống
Ta có đàn con thơ
Ngày tranh nhau một bát cháo ngô
Đêm líu díu chui gầm giường tránh đạn
Lấy mẹt quây tròn
Tưởng làm tổ ấm
Trong giấc thơ ngây tiếng súng dồn tựa sấm
Ú ớ cơn mê
Thon thót giật mình
Bóng giặc dày vò những nét môi xinh
Đã có đất này chép tội
Chúng ta không biết nguôi hờn

Đêm buông xuống bên dòng sông Đuống
– Con là ai? – Con ở đâu về?
Hé một cánh liếp
– Con vào đây bốn phía tường che
Lửa đèn leo lét soi tình mẹ
Khuôn mặt bừng lên như dựng trăng
Ngậm ngùi tóc trắng đang thầm kể
Những chuyện muôn đời không nói năng

Đêm đi sâu quá lòng sông Đuống
Bộ đội bên sông đã trở về
Con bắt đầu xuất kích
Trại giặc bắt đầu run trong sương
Dao loé giữa chợ
Gậy lùa cuối thôn
Lúa chín vàng hoe giặc mất hồn
Ăn không ngon
Ngủ không yên
Đứng không vững
Chúng mày phát điên
Quay cuồng như xéo trên đống lửa
Mà cánh đồng ta còn chan chứa
Bao nhiêu nắng đẹp mùa xuân
Gió đưa tiếng hát về gần
Thợ cấy đánh giặc dân quân cày bừa
Tiếng bà ru cháu buổi trưa
Chang chang nắng hạ võng đưa rầu rầu
“À ơi… cha con chết trận từ lâu
Con càng khôn lớn càng sâu mối thù”
Tiếng em cắt cỏ hôm xưa
Hiu hiu gió rét mịt mù mưa bay
“Thân ta hoen ố vì mày
Hờn ta cùng với đất này dài lâu…”
Em ơi! Đừng hát nữa! Lòng anh đau
Mẹ ơi! Đừng khóc nữa! Dạ con sầu
Cánh đồng im phăng phắc
Để con đi giết giặc
Lấy máu nó rửa thù này
Lấy súng nó cầm chắc tay
Mỗi đêm một lần mở hội
Trong lòng con chim múa hoa cười

Vì nắng sắp lên rồi
Chân trời đã tỏ
Sông Đuống cuồn cuộn trôi
Để nó cuốn phăng ra bể
Bao nhiêu đồn giặc tơi bời
Bao nhiêu nước mắt
Bao nhiêu mồ hôi
Bao nhiêu bóng tối
Bao nhiêu nỗi đời
Bao giờ về bên kia sông Đuống
Anh lại tìm em
Em mặc yếm thắm
Em thắt lụa hồng
Em đi trảy hội non sông
Cười mê ánh sáng muôn lòng xuân xanh.

(Việt Bắc, tháng 4-1948)

CHUYỆN TÌNH HOÀNG CẦM

NTTNEW: Tang lễ Thi sĩ Hoàng Cầm sẽ được tổ chức tại Nhà Tang Lễ Bộ Quốc Phòng, số 5 Lê Thánh Tông, Hà Nội, từ 13 giờ – 15 giờ ngày 11/5/2010 và di quan đến Khu A nghĩa trang Văn Điển.

Tối chủ nhật vừa rồi, tôi đang đi từ Sóc Sơn về thì nghe điện thoại của Nguyễn Đình Toán báo cụ Cầm vừa vào cấp cứu ở bệnh viện Hữu Nghị, khó qua. Tôi linh cảm điều bất ổn, liền gọi ngay cho nhà thơ Hữu Thỉnh, Chủ tịch hội Nhà Văn và hẹn sáng mai vào viện thăm ông. Ông nằm trên giường bệnh chụp ống thở oxy nhưng mắt vẫn mở ra nhìn chúng tôi và cố nấc lên mà không nói được. Hữu Thỉnh xúc động nói: “Cố lên anh nhé. Anh là nhà thơ xuất sắc, là người thầy, người anh đáng kính của bọn em”. Tôi sờ tay ông thấy lạnh toát, mồ hôi nổi hạt, và nghĩ: cây thi sĩ đang hết dần nhựa sống. Ngay lúc đó, chúng tôi bàn với gia đình việc chuẩn bị hậu sự cho ông. Hữu Thỉnh lẩm bẩm: Phải là một đám tang tầm cỡ!

Sáng 6 tháng 5, tôi đang trên đường đến hội Nhà Văn thì nhận được điện của Nguyễn Đình Toán báo tin thi sĩ Hoàng Cầm đã qua đời trước đó 5 phút, tức là 9 giờ 25 phút. Tôi dừng xe bên đường thấy lòng trào lên một nỗi buồn khó tả…

Tôi nhớ những chuyện tình của ông…

HAI CHUYỆN TÌNH HOÀNG CẦM

1. HOÀNG CẦM VÀ PHỤ NỮ

Hoàng Cầm tên thật là Bùi Tằng Việt, sinh năm 1922. Năm 18 tuổi ông lấy vợ là bà Hoàng Thị Hoàn quê ở Bắc Giang do gia đình cưới hỏi. Sinh được người con trai thì vợ ông mất trong kháng chiến chống Pháp. Hồi năm 1946 ông viết kịch thơ “Kiều Loan” và có một “tình yêu tự chọn” với nữ diễn viên Tuyết Khanh, sinh được một ái nữ đặt tên là Kiều Loan (1948). Do hoàn cảnh gia đình vợ ông phải theo chăm sóc mẹ đẻ, rồi vào Nam. Sau chiến dịch Điện Biên Phủ, Hoàng Cầm trở về kết duyên cùng người đẹp Lê Hoàng Yến, sinh được hai người con trai. Năm 1985 bà Lê Hoàng Yến qua đời, Hoàng Cầm sống trong sự cô đơn đằng đẵng. Dù đông con cháu  nhưng cảm giác cô đơn của một thi sĩ si tình không bao giờ được giải toả. Từ đó, theo cách nói của ông, Hoàng Cầm trở thành vị hôn phu vĩnh cửu.

Có nhiều mối tình đã để lại dấu ấn rất sâu đậm trong thơ ông. Bài thơ “Lá diêu bông” là một ví dụ đặc sắc về tình yêu huyễn tưởng tự tâm linh của ông hồi còn trẻ với cô gái tên Vinh hơn ông 8 tuổi. Sau này là nhiều bài thơ tình, khi thì viết tặng NA, khi thì viết tặng Đ.Đ.H, PD, hoặc PQ… Đọc tập thơ “99 bài tình” của Hoàng Cầm, ta thấy ông hiện lên với một tình yêu mê đắm, vừa chân thật vừa hư ảo, vừa yếu mềm vừa quyết liệt. Cũng xuất hiện trong tập thơ này nhiều giai điệu đẹp lung linh và dịu dàng như sương sớm. Tình yêu trong thơ ông vừa ngọt ngào vừa cay đắng. Chính vì thế ông trở thành “thi sĩ của tình yêu”  được đông đảo bạn đọc mến mộ.

Có thể nói tình yêu của Hoàng Cầm với giới đẹp nói chung và người đẹp nói riêng là có thật. Cũng không ít người đẹp đã yêu, mê ông qua thơ của ông. Có người còn yêu thương cả cảnh ngộ cô đơn của ông. Theo ông cho biết thì có người còn viết thư “tỏ tình” với ông, nhưng khi gặp lại thấy “duyên không hợp”. Còn hầu hết những người ông cầu hôn thi không vượt qua được sự ngăn cản của gia đình hoặc dư luận, và rốt cuộc đều trở thành những người bạn, người em đáng quí của thi sĩ.

Khi đã vào tuổi bát thập, ông vẫn cảm thấy thèm một bàn tay của người bạn đời chăm sóc, từ lúc ốm đau đến khi trò chuyện. Ông nói: “Giá như khuy áo đứt có người đơm, màn thủng có người vá thì ấm cúng biết bao. Người xưa nói “Con nuôi cha không bằng bà nuôi ông” thật là thấm thía”. Chính vì vậy, mà  thơ của ông vẫn trẻ mãi nỗi đam mê và khao khát tình yêu. Hai câu thơ trong bài thơ: “Phía sau thư cầu hôn” dưới đây, phần nào bày tỏ sự khao khát của ông:

Đánh liều trao thư cầu hôn em

Bật sáng đáy tâm hồn trẻ nít…

 
Tuyết Khanh và Lê Hoàng Yến

2. HỎI CHUYỆN CHỦ QUÁN “LÁ DIÊU BÔNG”

Nghe nói ở làng Hạnh Hoa có một cô chủ quán rượu xinh đẹp lấy tên bài thơ “Lá Diêu Bông”cuả Hoàng Cầm đặt tên quán của mình, tôi bèn mang máy ghi âm bỏ túi đến… uống rượu. Quán nhỏ, lớp tranh đơn sơ, nhưng lich sự. Các tửu khách trông có vẻ trang nhã, không giống như quán rượu ở quê. Cô chủ quán đẹp như tiên, đi lại nhẹ nhàng như mây gió. Nghe nói ngày xưa chị trọt yêu một chàng trai kém mình 8 tuổi, gia đình cấm đoán, nên quyết định không lấy chồng. Từ hồi “đổi mới” chị mở quán rượu sinh sống, và luôn mơ được gặp tác giả “Lá Diêu Bông”.

          Thấy tôi là khách lạ, chị ưu tiên tiếp rượu, và cuộc trò chuyện đã diễn ra  như vầy:

- Chắc chị mê thơ lắm mới đặt tên quán bằng tên một bài thơ?

- Tôi mê tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng,. Nhưng khi đọc được bài thơ “Lá Diêu Bông” của  Hoàng Cầm là tôi quên Vũ Trọng Phụng luôn. Từ đó tôi cũng hình dung Hoàng Cầm là cái cậu con trai cứ lẽo đẽo theo tôi đi tìm lá thuốc cho  mẹ từ hồi mới lớn. Nhưng người phụ nữ trong bài thơ Hoàng Cầm thi đi lấy chồng, có con , còn tôi thì không.

- Chắc chị thuộc nhiều bài thơ Hoàng Cầm?

- Từ khi đọc bài thơ “Lá Diêu Bông”, là tôi đi tìm đọc Hoàng Cầm. Nghe nói trong “đổi mới” thơ ông bị “lưu ban” một thời gian dài. May mà từ khi tôi thích thơ Hoàng Cầm, thơ ông lại được in ra liên tiếp.Tôi có đủ các tập “Về Kinh Bắc”“Men đá vàng”“99 bài tình”“Mưa Thuận Thành”“Bên kia sông Đuống” và cả cuốn kịch thơ “Kiều Loan” ông viết từ hồi bốn lăm (1945). Tôi đọc đến đâu là thuộc đến đấy, vì thơ ông rất Việt Nam, rất thích hợp với tư duy của tôi. Như là ông viết riêng cho tôi.

- Chắc chị từng học đại học văn?

- Mấy đứa  cháu tôi nó mới học đại học văn. Nhưng chúng nó chẳng hiểu gì về thơ. Chúng nó thạo kinh tế hơn. Bây giờ đứa nào cũng nhà lầu xe hơi trên phố.

- Thế chị học gì?

- Tôi học thơ Hoàng Cầm. “Sông Đuống trôi đi- Một dòng lấp lánh – Nằm nghiêng nghiêng trong kháng chiến  trường kỳ”. Đọc câu thơ này, nhiều đêm tôi nằm nghiêng và thấy mình cũng như đang trôi đi.

- Chị lãng mạn thật.

- Con người, ai mà chả lãng mạn. Nhưng lãng mạn bằng thơ thì nó đẹp gấp trăm nghìn ngoài đời. Thơ  làm cho người ta sống đẹp hơn.

- Nhưng phải là thơ Hoàng Cầm?

- Tất nhiên là với tôi. Nhưng có một ông khách trên phố về đây uống rượu, ông ta cũng mê thơ Hoàng Cầm lắm. Ông ấy bảo chỉ có thơ Hoàng Cầm và thơ Hàn Mặc Tử là nhất. Suýt nữa tôi với ông ấy đã thành đôi…

- Sao lại không thành?

- Vì tôi chỉ thích thơ Hoàng Cầm.

- Rắc rối nhỉ?

- Này anh, nghe nói ông Hoàng Cầm lại sắp lấy vợ phải không?

- Năm nào tôi cũng nghe nói như vậy. Nhưng rốt cuộc thì mười mấy năm nay chả có đám cuới nào cả.

- Thế cũng tốt.

- Sao lại tốt?

- Mỗi lần thi sĩ yêu lại có thêm bài thơ hay cho đời.

- Chị không ghen với các giai nhân thật sao?

- Việc gì mà tôi phải ghen với họ.

- Ở Sài Gòn cũng có  một cái quán “Lá Diêu Bông” như quán chị…

- Tôi biết. Những cái quán ấy ra đời sau quán tôi. đọc báo tôi biết mà. Hai “anh- chị” còn làm thơ tặng nhau nữa. Thi sĩ Hoàng Cầm phủ dụ chị ta bằng những câu thơ thật sang trọng: “Kinh Bắc lên men đằm hương vương phi- Hỡi mưa Phương Nam bao giờ mưa đi?”. Thế mà chị ta không chịu đi thì thật là “trời không có mắt”.

- Nếu ông Hoàng Cầm mà làm thơ tặng chị, hay nói như chị là “phủ dụ” chị thì chị tính sao?

- Với tôi thật không có hạnh phúc nào bằng. Tôi phóng to bài thơ lên dán trên vách quán để khách  rượu cùng thưởng thức.

- Nhỡ có người lại chê thì sao?

- Chê là quyền của người ta. Tôi cũng đọc một bài người ta phê bình thơ Hoàng Cầm là “thơ tình dục khiêu dâm”. Và tôi thấy chính cái tay phê bình ấy mới thực sự có một cái đầu “dâm”. Cứ theo cái đầu của anh ta thì Hồ Xuân Hương hay Nguyễn Du khi viết về tình dục sẽ bị anh ta xử trảm.

- Có lẽ chị nói đúng.

- Tôi nói đúng là cái chắc. Ví dụ những câu thơ đẹp như thế này: “Ấm êm em trong trắng thịt da đêm- Ngọn gió nào cũng ấp một hơi thèm” mà anh ta lại phán là “thơ khiêu dâm” thì tôi không hiểu là anh ta đọc thơ theo cách nào.

- Thơ cần có tri âm. Cũng như Bá Nha gẩy đàn phải có Tử Kỳ nghe. Chị là Tử Kỳ của riêng Của Hoàng Cầm rồi đấy!

Có thêm khách đến. Tôi chia tay chị chủ quán “Lá Diêu Bông”. Biết tôi quen Hoàng Cầm, chị mừng lắm, gửi tặng ông chai rượu Hạnh Hoa, và nhờ tôi mời thi sĩ ghé thăm quán. Hoàng Cầm cũng mừng lắm. Tôi và ông chuẩn bị “hành quân” thì ông bị đau phải vào bệnh viện. Vậy mà cái cậu con trai lẽo đẽo theo chị đi tìm lá Diêu Bông đã gần chin mươi xuân.

NGUYỄN TRỌNG TẠO

Nhà thơ Hoàng Cầm: Đơn côi trong không gian vài mét vuông- Như Bình

Cú ngã định mệnh đã “neo” ông hoàng của thơ tình lại với cái giường bé xíu và đầy những sách tít tận tầng 5 ngôi nhà trong ngõ 43 Lý Quốc Sư cũng đã gần 10 năm nay. Thi sỹ Hoàng Cầm tuổi cận kề 90, bất động và nhỏ thó, câm lặng giữa không gian đặc quánh tưởng chừng không dịch chuyển. Chỉ khuôn mặt vẫn vướng vất nét đẹp thời trai trẻ là thảng hoặc ánh lên những tia nhìn tinh anh ranh mãnh của sự sống.

Đôi chân Hoàng Cầm lâu nay không thể nâng nổi cái thân mình luôn gầy tong và yếu ớt của ông. Nhiều năm ròng mang trọng bệnh, ông chỉ nhích từng bước nhỏ một khi có người giúp đỡ trong khoảng vài ba mét vuông của tầng thượng ngôi nhà mà gia đình con cháu ông đang ở. Hoàng Cầm không còn khái niệm thời gian nữa. Ông chẳng biết trông vào đâu để phân biệt ngày và đêm, hôm qua và hôm nay, ngày kia và ngày mai tiếp nối.

Từ buổi đôi chân tê dại không tuân theo sự điều hành của trí não, cơ hội để ông được ra khỏi nhà, được ngửa mặt ngắm nhìn bầu trời và mở căng lồng ngực cho gió mơn trớn vuốt ve là rất ít ỏi, chỉ như một cộng với một mà thôi. Lần gần đây, ông được cõng xuống đến bậc cuối cùng của 5 tầng cầu thang và ngồi xe lăn ra đường là đêm công diễn vở kịch thơ “Kiều Loan” tại Nhà hát Tuổi trẻ tháng 8/2005.

Lần gần hơn nữa ở Lễ trao Giải thưởng Hồ Chí Minh và Giải thưởng Nhà nước đầu năm 2007 mà ông là một trong những thi sỹ già được xướng tên. Từ bấy đến nay, ông lại chỉ quẩn quanh nằm ngồi trong không gian vắng teo chưa hết một tay con gái.

Hoàng Cầm khó nhọc tính đếm kể tên những người con của chính mình, mãi cũng chưa ra hết, để cuối cùng, đạo diễn Đoàn Điện Biên mà ông tự nhận là con nuôi phải đính chính giùm. Đông con, nhưng Hoàng Cầm cũng đã hơn một lần phải chịu đựng nỗi đau khôn cùng của một người cha khi dứt ruột tiễn biệt những đứa con mệnh bạc của mình, nữ nghệ sỹ Hoàng Yến qua đời đã lâu và nhà báo Hoàng Kỳ mới lìa thế cách nay ít năm. Cả hai người con đã khuất đều là của ông với người vợ đầu tiên từ thuở “Tấm Cám”, bà Hoàng Thị Hoàn cũng vốn dân xứ Kinh Bắc đa đoan.

Hỏi ông có hay đọc thơ của các nhà thơ trẻ không, ông bảo có chứ, đấy người ta vẫn tặng sách thường xuyên. Rồi lại hỏi là ông thích ai trong số những người trẻ mà ông tiếp xúc qua tác phẩm, ông buột mồm nói ngay không đắn đo suy nghĩ: Phạm Tiến Duật. Một nốt trầm trĩu cả ánh sáng hiu hắt le lói qua các kẽ hở của những tấm tôn và cửa… Ông như đã từ lâu chưa giao tiếp với xung quanh, hoặc đơn giản hơn, ông không còn có thể nhớ được nữa.

Nói với ông Phạm Tiến Duật là tên tuổi nổi danh từ thời chống Mỹ, và thi nhân cũng đã thành người của cõi xưa vô định từ hơn một năm nay rồi, ánh mắt Hoàng Cầm vẫn thế, khuôn mặt ông vẫn thế, không biểu lộ gì. Ông như chả thèm để ý đến xung quanh, chỉ đắm đuối theo những suy tư của riêng ông và chỉ mình ông biết. Đạo diễn Đoàn Điện Biên tí cái lại đỡ lời: Đôi khi cụ rơi vào trạng thái lẫn, nói đấy rồi lại quên đấy mà thôi. Ông dường như còn không điều khiển được cả đến suy nghĩ của mình nữa.

Đến thăm Hoàng Cầm là một nhẫn nại mà chả phải ai cũng tỉ mẩn theo được. Nhiều lần nhiều người đã bất lực bấm chuông ngôi nhà ban ngày cửa luôn im ỉm khóa. Đạo diễn Anh Tú khi bắt gặp kịch thơ “Kiều Loan”, sung sướng quá tìm đến nhà tác giả xin cho phép được dàn dựng, cũng phải dùng điện thoại nói chuyện cả tiếng đồng hồ từ dưới đất lên sân thượng tầng 5 với ông mà không cách gì gặp mặt được.

Đơn giản chỉ là giờ hành chính cháu con ông đi làm hết, ông thì vĩnh viễn chẳng còn tự nâng mình dậy để cất bước mở cửa cho khách được. Ông giờ nằm đếm buồn đếm vui bằng những lần có bạn thơ, bạn văn, cả những người yêu thơ ngưỡng mộ thơ đến chơi và tán gẫu. Căn phòng nhỏ tầng 5 lâu lâu lại có người mở cửa, phả vào đó chút hơi ấm mặn mòi náo nhiệt của cuộc sống đời thường. Nhà thơ Hoàng Cầm mỗi giờ khắc lại đơn côi thêm một chút giữa trần thế đông đúc. Bạn bè ông đã tìm về cõi vĩnh hằng gần hết. Những người cùng thời cùng thế hệ với ông, nay quanh quẩn đâu còn được mấy ai. Để qua đi chầm chậm từng tích tắc dằng dặc của ngày tháng, ông đọc tất cả những tờ báo rơi vào tay mình. Khi buồn, ông với cái điếu cày đầu giường xòe lửa hít hà hương vị của khói thuốc lào gay gắt bảng lảng.

Nằm một chỗ từ rất lâu, nhưng Hoàng Cầm vẫn còn vẻ linh hoạt, không bị ám cái nặng nề nồng nặc của người già tật bệnh chịu lệ thuộc hoàn toàn vào con cái. Không bi quan, không sầu thảm, Hoàng Cầm vẫn ráng giữ sinh hoạt nền nếp khuôn phép để duy trì sức khỏe. Dường như nỗi buồn và sự cô đơn của ông đã hóa thạch, chìm vào tận đáy sâu tháng ngày.

Nhà thơ Hoàng Cầm sinh năm 1922, tuổi Tuất, giờ đã ngót nghét 90, đang đếm thời gian để mơ một lần thêm nữa được “Cúi lạy mẹ con trở về Kinh Bắc/ Chiều xưa giẻ quạt voi lồng/ Thân cau cụt vẫy đuôi mèo trắng mốc/ Chuồn chuồn khiêng nắng sang sông…”

Đã tắt lặng Cây đàn thơ Hoàng Cầm

Tác giả: KIM DUNG- PHAN CHÍ THẮNG

Cây đàn thơ Hoàng Cầm đã tắt lặng, nhưng dư âm của nó vẫn ngân nga, vọng mãi trên thi đàn, trong lòng người và nhân thế…

Thế là giữa cuộc đời dâu bể này, đã tắt lặng cây đàn thơ điệu nghệ- Hoàng Cầm. Dù thông tin ông ốm nặng khó bề qua khỏi, lặng lẽ truyền đi trong giới văn chương và những người yêu thơ ông từ khá lâu. Nhưng tin ông ra đi, vẫn khiến văn đàn và không ít người ngưỡng mộ ông hụt hẫng, thương tiếc, xót xa. Dẫu biết tử sinh là lẽ thường tình…

Bởi cái tên Hoàng Cầm- mà người viết bài này, tự đặt – Cây đàn thơ- không chỉ được tạc trong “từ điển văn chương” của nước Việt, mà từ lâu, đã “tạc” trong tâm thức của những người yêu cái đẹp của thi ca, mà nhờ đó, trên hành trình của kiếp người, giữa bao nhiêu nhọc nhằn, biết “vịn câu thơ mà đứng dậy” (Phùng Quán).

Một cuộc đời thấm đẫm chữ Tình

Ông tên thật là Bùi Tằng Việt, sinh ngày 22 tháng 2 năm 1922, tại xã Phúc Tằng, (Việt Yên, Bắc Giang); nhưng quê gốc của ông ở xã Song Hồ, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh, quê hương của những làn điệu quan họ óng ả, tình tứ, trong một gia đình nhà nho lâu đời. Cụ thân sinh ông thi không đỗ, về dạy chữ Hán và làm thuốc bắc ở Bắc Giang. Tên ông được đặt ghép từ địa danh quê hương: Phúc Tằng và Việt Yên.

Thuở nhỏ, ông học tiểu học, trung học ở Bắc Giang và Bắc Ninh. Năm 1938, ra Hà Nội học Trường Thăng Long. Năm 1940, ông đỗ tú tài toàn phần và bước vào nghề văn, dịch sách cho Tân dân xã của Vũ Đình Long. Văn chương, trong đó, kịch nghệ và thi ca, với ông dường như là một duyên nghiệp, một duyên trời định. Và mảnh đất Kinh Bắc tài hoa làng nghề, tài hoa các làng quan họ như có sứ mệnh tạo nên một thi nhân- một cây đàn thơ lóng lánh muôn điệu: “Cúi lạy mẹ con trở về Kinh Bắc/ Chiều xưa giẻ quạt voi lồng/ Thân cau cụt vẫy đuôi mèo trắng mốc/ Chuồn chuồn khiêng nắng sang sông… hay Sông Đuống trôi đi/ Một dòng lấp lánh/ Nằm nghiêng nghiêng trong kháng chiến trường kỳ…

 

hc
Nhà thơ Hoàng Cầm (bên phải) và nhà văn Kim Lân – ảnh chụp năm 2003, Ảnh Nhasachtritue

Ông lấy bút danh Hoàng Cầm, tên một vị thuốc đắng trong các vị thuốc bắc. Ông chọn tên vị thuốc đắng cho mình, như một ám ảnh, một linh cảm của tâm hồn thi sĩ bẩm sinh quá nhạy cảm? Hay chính định mệnh khắc nghiệt đã chọn sự cay đắng “tặng”cho số phận ông?

Không biết nữa!

Chỉ biết, chẳng có người yêu nước nào, dù bé nhỏ đến đâu, vào thời tao loạn của dân tộc, có thể đứng ngoài lề. Đời ông, có đủ đầy cung bậc thăng trầm của một người nghệ sĩ chân chính. Năm 1944, vào đúng lúc Thế chiến II diễn ra khốc liệt, ông đưa gia đình về lại quê gốc tại Thuận Thành, bắt đầu tham gia hoạt động Thanh niên Cứu quốc của Việt Minh. Cách mạng Tháng Tám bùng nổ, ông về Hà Nội, thành lập đoàn kịch Đông Phương. Khi chiến tranh Đông Dương bùng nổ, ông theo đoàn kịch rút ra khỏi Hà Nội, biểu diễn lưu động ở vùng Bắc Ninh, Bắc Giang, Sơn Tây, Thái Bình…

Tháng 8 năm 1947, ông tham gia Vệ quốc quân ở chiến khu 12. Cuối năm đó, ông thành lập đội Tuyên truyền văn nghệ, đội văn công quân đội đầu tiên. Năm 1952, ông làm Trưởng đoàn văn công Tổng cục Chính trị, hoạt động biểu diễn cho quân dân vùng tự do và phục vụ các chiến dịch.

Tháng 10 năm 1954, giải phóng Thủ đô, đoàn trở về Hà Nội. Do mở rộng thêm nhiều bộ môn, năm 1955, Hoàng Cầm được giao nhiệm vụ trưởng đoàn kịch nói. Nhưng trước đó, từ năm 1945, ông đã nổi tiếng vì đóng góp không nhỏ cho sân khâu kịch nghệ Việt Nam, với hai vở kịch thơ: Hận Nam Quan và Kiều Loan.

 hoangcamphotondtoan
Lão nhà thơ Hoàng Cầm, Ảnh TN

Hòa bình được lập lại, cuối năm 1955, ông trở về công tác ở Hội Văn nghệ Việt Nam, làm công tác xuất bản. rồi tham gia thành lập Hội Nhà văn và được bầu vào Ban chấp hành. Rồi, giữa lúc cuộc đời tưởng như yên ả nhất, ông bị cuốn vào bão tố của vụ án “Nhân Văn Giai Phẩm”, buộc phải rút khỏi Hội Nhà văn- năm 1958 và về hưu non năm 1970, lúc mới 48 tuổi, cái tuổi sung sức nhất của sáng tạo.

Nhưng ẩn dật trong thi ca, lấy thi ca làm mái chắn che chở cho sự bình yên của tâm hồn, và con tim không ngừng náo động bồn chồn vì yêu- đời ông sống được bởi chữ Yêu- ông vẫn tiếp tục thai nghén, sáng tác trong âm thầm, lặng lẽ, trong bóng tối của số phận bất ngờ… Bởi những người vợ của ông-  như Tuyết Khanh, như Hoàng Yến dẫu mặn nồng hương lửa, cũng đã lặng lẽ bỏ ông ra đi, về nơi cuối trời.

Hành trình cuộc đời ông là hành trình của những tập thơ nổi tiếng: “Tiếng hát quan họ”, “Men đá vàng”, “Mưa Thuận Thành” và đặc biệt là “Về Kinh Bắc”…Một cuộc đời hoạt động sôi nổi, khi thăng khi giáng, lúc ấm áp lúc cô đơn, nhưng luôn thấm đẫm chữ Tình: Yêu nước- yêu người- yêu đời, dù không ít cay đắng và bi kịch số phận cá nhân.

Đôi khi, người viết bài này tự hỏi, trong những đêm dài giá lạnh của cõi nhân gian, ông nghĩ gì, và tìm cho mình cuộc sống như thế nào nhỉ? Bỗng nhớ tới cái quán rượu số 43 con phố nhỏ Lý Quốc Sư. Rượu và Thơ- hai người bạn “tâm giao” không thể thiếu để đến lượt ông “vịn” vào, trong hành trình còn lại dằng dặc, cô độc, dù có thể lúc này lúc khác, bạn bè vẫn thăm hỏi…

Cho đến năm 75 tuổi, cái chữ Tình thấm đẫm cuộc đời ông như được kết tinh nhất, ngọt ngào nhất, đằm thắm nhất, ở tập “Thơ Hoàng Cầm- 99 tình khúc”.

Còn sự bình yên với nhân thế, phải gần 40 năm sau mới đem đến cho con tim người nghệ sĩ tài hoa. Đầu năm 2007, ông được tặng Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật do Chủ tịch nước ký quyết định tặng riêng.

Lá Diêu bông- hành trình kiếm tìm hạnh phúc

Trong tài sản thơ phú giầu có của ông, Hoàng Cầm có rất nhiều tác phẩm, ngay cả khi chưa công bố, đã được “ngôn truyền” trong công chúng. Và khi cất tiếng hoan ca, nó đủ sức lay động tới con tim mọi giai tầng. Lá Diêu bông là một bài thơ có số phận “hạnh phúc” như thế, cho dù nó nói về nỗi bất hạnh- hay hạnh phúc “ảo” của kiếp người.

Bài thơ dạng kể chuyện, ngắn gọn đến mức tiêu biểu cho sự hàm súc, hàm súc từ hình ảnh đến ngôn từ, khó có thể lược bớt đi một từ nào trong bài thơ.

Câu chuyện có hai nhân vật: Em - tác giả và Chị - đối tượng mối tình thơ ấu của ông. Người ta thường cho rằng bài thơ nói về mối tình đầu đơn phương mộng ảo của người nghệ sỹ tài ba. Nhiều người đã kiếm tìm để biết thêm về cuộc sống tình duyên của hai nguyên mẫu – tác giả và chị Vinh, khai thác sâu các tầng bậc chất lãng mạn trong con người và thơ Hoàng Cầm.

Nhưng thực ra, ngoài phần nổi của bài thơ đã là khá đẹp và hấp dẫn, còn có phần chìm, phần hồn- đó cũng chính là thông điệp của của bài thơ nữa. Cũng giống như người đi tìm trầm hương, cái lõi trầm bên trong mới thực sự quý giá.

Ta hãy quay lại bài thơ và cùng thưởng thức nó.
“Váy Đình Bảng buông chùng cửa võng
Chị thẩn thơ đi tìm
Đồng chiều – cuống rạ”

Chỉ với ba câu, tác giả giới thiệu ngay với chúng ta nhân vật chính: Cô thiếu nữ dậy thì mặc váy (con gái Đình Bảng từ tuổi nào đó mới mặc váy), đang vu vơ đi tìm một cái gì đó phi vật thể giữa cuống rạ đồng chiều (có phiên bản chép là thẫn thờ, đúng ra phải là thẩn thơ, chữ thẫn thờ không hợp với tuổi thơ).

Đồng thời tác giả cũng đã tự giới thiệu về mình: Một chú nhi đồng. Một người trai mười tám chắc đã tả “em” nào là hai mắt lá răm, nào đôi môi hồng, nào làn thu thuỷ nét xuân sơn v.v. Còn chú bé nhi đồng chắc chắn chưa hề biết về những cái đó, chú chỉ nhìn thấy có mỗi cái váy (chắc vì ngang tầm mắt của chú!).

Tuổi Trẻ ngày nay ít người biết cửa võng là gì. Cửa võng- một thứ cửa làm bằng gỗ hoặc vải thêu, nhà giàu thì sơn son thếp vàng, hình chữ ∏, ba bên chạm trổ nhiều hoạ tiết, hoặc ghép thêm những chi tiết phụ nhằm tăng thêm sự cầu kỳ của cửa.

Váy buông chùng cửa võng nghĩa là hai thân váy thu sang hai bên rồi buông chùng xuống. Có thể Chị chưa hết tuổi lớn nên váy mặc còn tém sang hai bên như cửa võng.

“Chị bảo đứa nào tìm được lá diêu bông
Từ nay ta gọi là chồng”

Chắc hẳn có mấy chú bé nhằng nhẵng bám theo nên chị nói cho qua chuyện. Xin lưu ý chữ “bảo“, không phải Chị nói mà là bảobảo là khi người trên nói với người dưới. Hơn nữa, Chị chỉ gọi là chồng, như một trò chơi đóng giả vợ chồng con cái của trẻ con chứ không như Trần Tiến “Em đố ai tìm được lá diêu bông, xin lấy làm chồng”

“Hai ngày em tìm thấy lá
Chị chau mày đâu phải lá diêu bông”

“Chau mày” không phải vì thằng bé dốt quá, làm gì có lá Diêu bông (lá Diêu bông là do nhà thơ sáng tạo ra, có thể hiểu là lá của một loài hoa phiêu diêu, không có thực, giống như hạnh phúc ở trên đời này vậy, cũng là một cái gì đó hư ảo). Hãy phân tích tiếp xem vì cái gì.

“Mùa đông sau em tìm thấy lá
Chị lắc đầu trông nắng vãn bên sông”

“Lắc đầu’ là một động tác mạnh hơn “chau mày”, cộng thêm động tác nhìn về phía xa xa, như trông đợi một cái gì đó.

“Ngày cưới chị, em tìm thấy lá
Chị cười xe chỉ ấm trôn kim”

Chữ “cười” ở đây cho ta lời giải thích vì sao chị “chau mày” và “lắc đầu” ở hai thời điểm trước đó. Nghiã là chị đã đi tìm, đã mong mỏi hạnh phúc lứa đôi. Khi làm đám cưới, chị cảm thấy hạnh phúc, mãn nguyện (có bản chép xe chỉ cắm trôn kim hay ấn trôn kim, nghe thô lỗ quá, ấm trôn kim mới đúng, nó nói lên người con gái đã sẵn sàng cho vai trò làm vợ, may vá thêu thùa, giữ gìn mái ấm gia đình).

“Chị ba con em tìm thấy lá
Xoè tay phủ mặt chị không nhìn

Khi đã có ba con, lúc nghe nhắc lại lá Diêu bông, Chị có thái độ hoàn toàn thất vọng, không còn muốn nhìn thấy một sự thật phũ phàng: Làm gì có hạnh phúc lứa đôi trong cuộc đời Chị, cái hạnh phúc mà Chị mong mỏi khi nhẩn nhơ đi tìm trong đồng chiều cuống rạ trước đây?

Từ thuở ấy 
Em cầm chiếc lá
 
Đi đầu non cuối bể

Gió quê vi vút gọi. 
Diêu Bông hời…
 
ới Diêu Bông!

Khổ cuối của bài thơ như một lời kết cho câu chuyện, như láy lại sự kiên trì ngây thơ suốt cả cuộc đời “Em” trong mối tình vô vọng với “Chị”, như một lời than cho số phận bất hạnh của người đàn bà nói riêng và kiếp người nói chung.

Bài thơ thoạt tưởng chỉ là kể về câu chuyện tình liêu trai bất thành, mà thực ra nó là khúc ca xót xa, khóc cho người mình yêu chứ không phải là than thân trách phận. Nó triết lý về hành trình tìm kiếm hạnh phúc đời người. Và nó nói hộ nỗi lòng khát khao. Ai đọc, cũng thấy mình trong đó…

Hạnh phúc chỉ là ảo. Nhưng người ta vẫn không ngừng kiếm tìm…

Vì khát vọng vẫn mạnh hơn ảo vọng. Đó là cái lẽ, bài thơ Lá Diêu bông luôn được mọi lớp người yêu thích, nhập tâm suốt hơn nửa thế kỷ qua.

Và vì thế, cho dù tiếng tơ đồng của  cây đàn thơ Hoàng Cầm đã tắt lặng, nhưng dư âm của nó vẫn ngân nga, vọng mãi trên thi đàn, trong lòng người và nhân thế…

Hoàng Cầm với “Lá diêu bông”- Lê Tiến Dũng

hoangcam_namkhgkhong_songduong

Thật khó mà cắt nghĩa cho thật rạch ròi từng câu, từng chữ của bài thơ. Nhưng đọc bài thơ dường như ta thấy hiện lên trước mắt mình cánh đồng quê một… chiều đông bảng lảng sương như trong huyền thoại. Trên cái nền chiều huyền ảo và xa xăm ấy như có bóng ai đang tìm kiếm một cái gì. Và dường như ta nghe âm vang một tiếng gọi, một âm vang mơ hồ đâu đó trong “gió quê vi vút”, một âm vang mơ hồ đâu đó trong tiềm thức mỗi người.

Diêu bông hỡi !…

… ới diêu bông !…

Cái lá diêu bông vô hình, vô ảnh và không có thật kia lại là cái mong ước có thật, sự tìm kiếm có thật của con người giữa cuộc đời.

Bài thơ mở đầu bằng nét chùng của tà “váy Đình Bảng” tạo nên nét đẹp duyên dáng của người con gái xứ Kinh Bắc.
Váy Đình Bảng buông chùng cửa võng
Chị  thẩn thơ đi tìm

Đồng chiều

cuống rạ

Người con gái xứ Kinh Bắc ấy đang tìm gì giữa cánh đồng mênh mông và lộng gió ? Chị đi tìm chiếc lá diêu bông hay tình yêu, hạnh phúc của đời mình ? Trời thì chiều rồi, cánh đồng mới gặt xong, còn trơ gốc rạ, dường như càng rộng ra. Trước một không gian mênh mông, một thời gian nhạt nhòa dần như thế sự kiếm tìm mới khó khăn làm sao !

Chị bảo :


Đứa nào tìm được lá diêu bông

Từ nay ta gọi là chồng.

Nào mấy ai có thể tìm được cái lá không có thực ấy trong đời. Tình yêu, hạnh phúc mãi mãi như chiếc lá diêu bông vô hình kia, ẩn mình đâu đó giữa cánh đồng đời mênh mông để con người suốt đời đi tìm, suốt đời chiêm nghiệm vì sự kiếm tìm này. Những đoạn thơ nối nhau như những trang đời, như lời thủ thỉ và ẩn đọng trong đó là cảm hứng, suy tư về sự kiếm tìm của con người trong đời.

Hai ngày Em tìm thấy lá

Chị nhau mày :

- Đâu phải lá diêu bông

Chao ơi, làm sao có thể tìm được chiếc lá mơ ước của một đời lại dễ dàng đến thế, chỉ “hai ngày” thôi ư ? Chị “chau mày” không tin đây là lá diêu bông, chiếc lá của một đời lặn lội, kiếm tìm cũng như không thể tin có thứ hạnh phúc nào lại đến quá dễ dàng. Thì đây :

Mùa đông sau

Em tìm thấy lá

Chị lắc đầu

trông nắng vãn bên sông

Dẫu thời gian đã nhiều ngày, nhiều tháng hơn (mùa đông sau) nhưng chị vẫn không tin có thể tìm được chiếc lá ấy giữa đời. Câu thơ thấm một nỗi buồn. Đấy là nỗi buồn lặng lẽ khi nghiệm ra rằng chiếc lá kia vẫn cứ là một ẩn số của đời người. Ánh nhìn gửi theo “nắng vãn bên sông” gợi lên nỗi buồn man mác, xa vắng. Vậy chẳng lẽ con người lại vô vọng trong sự kiếm tìm này ? Phải có một ngày, một lúc nào đó, người ta chợt nhận ra mình đã tìm được chiếc lá diêu bông của đời mình chứ ! Phải, đã có một ngày như thế :
Ngày cưới Chị

Em tìm thấy lá

Chị cười xe chỉ ấm trôn kim

“Ngày cưới” là ngày sung mãn, tròn đầy của hạnh phúc. Trong cái ngày ấy chị tưởng như đã chạm được vào chiếc lá diêu bông. Nụ cười chị e ấp, ấm áp và phảng phất cái tha thiết của dân ca quan họ : “Chị cười xe chỉ ấm trôn kim”. Nhưng rồi :

Chị ba con

Em tìm thấy lá

Xòe tay phủ mặt chị không nhìn

“Chị ba con” như là một sự trải nghiệm hết mọi lẽ buồn vui của cuộc đời. Với bấy nhiêu sự nếm trải, chị hiểu nào đâu có dễ dàng gì tìm được lá diêu bông hạnh phúc trên cánh đồng đời mình đã đi qua. Cho nên chị đã trốn chạy, trốn chạy ước mơ, khát vọng cháy bỏng của một thời, trốn chạy chính mình với bàn tay “phủ mặt” không nhìn. Nhưng cái bàn tay bé nhỏ kia dù cố “xòe” ra, dù cố “phủ mặt” cũng không thể che được cái nhìn hướng ra phía cuộc đời mênh mông. Chị bất lực với chính mình, bất lực với cả sự trốn chạy. Cái chiếc lá diêu bông dù không có thật ấy vẫn cứ hiển hiện, hiển hiện như một tiếng gọi, cố quên mà không quên được. Phải chăng đấy là cái bi kịch ngàn đời của con người mà Hoàng Cầm muốn nói đến :

Từ thủa ấy

Em cầm chiếc lá

đi đầu non cuối bể

Gió quê vi vút gọi

diêu bông hời !…

… ới diêu bông !

Đoạn thơ gợi lên cảm xúc bâng khuâng trước cái âm hưởng văng vẳng của một tiếng gọi đâu đây giữa cánh đồng quê một chiều đông. Tiếng gọi ấy như khát vọng ngàn đời của con người lẫn trong sương chiều, trong “gió quê” hay cất  lên từ trong lòng mỗi người ? Nào ai đã tìm được lá diêu bông của đời mình giữa cánh đồng đời bao la ? Nào ai đang lặn lội nơi “đầu non cuối bể” ? Diêu bông hời !… Ới diêu bông !

CÙNG HOÀNG CẦM ĐI TÌM LÁ DIÊU BÔNG- Ngô Minh

Từ thuở ấy
Em cầm chiếc lá
đi đầu non cuối bể
Gió quê vi vút gọi
Diêu bông hời…
… ới Diêu bông…!
Nhà thơ đi tìm. Người yêu thơ đi tìm. Những lứa đôi đi tìm. Nhưng nào ai tìm thấy ! Còn cái “Lá Diêu Bông“ viết hoa ấy vẫn ẩn hiện đâu đó nơi phố xá làng quê, nơi rừng sâu núi thẳm. Hoàng Cầm đa tình, kiêu sang mà cay đắng. Có phải bởi Hoàng Cầm cũng là tên của một vị thuốc bắc có vị đắng tận cùng ?. Hoàng Cầm là ông hoàng về thơ tình Việt Nam từ 50 năm nay. Bài thơ Lá Diêu Bông là một trong những bài thơ trữ tình hay nhất của ông, không thua kém gì, về mặt thơ, có khi vượt bài thơ Bên kia Sông Đuống. Lá Diêu Bông là một dấu ấn buồn thảm nên thơ nhất của đời ông.

Câu chuyện tình bắt đầu nửa đêm mùa đông năm 1959, ba năm sau vụ Nhân Văn- Giai phẩm, Hoàng Cầm trăn trở không ngủ được, trong ánh sáng lời mờ của ngọn đèn ngủ 6w . Nhà thơ chợt nghe bên tai vẳng lên một giọng nữ rất nhỏ nhẹ thầm thĩ trong đêm, mà rất rành rọt đọc chậm rãi từng câu thơ. Giọng nữ có tiết điệu, nghe như từ xa xưa vẳng tới :
Váy Đình Bảng buông chùng cửa võng
Chị thẫn thơ đi tìm…
Nhà thơ xoay người lấy giấy bút để sẵn đầu giường ra chép từng câu một. Bài thơ Lá Diêu Bông ra đời như thế. Nghĩa là thần linh đọc cho ông chép chứ không phải ông làm ra bài thơ!. Một bài thơ tình lạ : Tình EM và CHỊ . Lạ lùng và huyền hoặc hơn là mối tình chỉ xoay quanh một chiếc lá gọi là Lá Diêu Bông :
Chị bảo
Đứa nào tìm được Lá Diêu Bông
Từ nay ta gọi là chồng.
Cái Lá như một lời thách đối, thách cưới, cái lá như là sự trớ trêu, thử thách sự chịu đựng của con tim nhạy cảm và tâm hồn đa cảm.

Vậy cái Lá Diêu Bông ấy là cái lá gì vậy? Không ai biết. Ngay cả tác giả, người đã nhiều lần “Em tìm thấy lá” vẫn không biết nó là lá gì, ở đâu . Hoàng Cầm bảo :” Thần linh đọc Diêu Bông, tôi chép Diêu Bông, thế thôi !”

Có lần đi làm báo ngang qua Đèo Con ( Hà Tĩnh) phía ngoài Đèo Ngang, tôi bắt gặp cái biển quảng cáo các món ăn. Bên dưới có ghi một câu rất gợi :” Ở đây có Lá Diêu bông”. Tôi ghé quán, hỏi Lá Diêu bông là lá gì ? Cô chủ quán trẻ măng mắt liếc dao cau, cười đưa đẩy :” Anh muốn là lá gì thì nó là cái lá đó”. Nghĩa là nhà thơ Hoàng Cầm đã sáng tạo ra một thứ lá ảo. Thứ lá mà ai cũng thuộc tên, cũng mường tượng được hình dáng nó, nhưng nó lại không có thực bao giờ! Cũng có thể gọi bài thơ Lá Diêu Bông là câu chuyện cổ trong Nghìn lẻ một đêm , các chàng trai phải đi tìm được một cái gì đó, giết được một con vật độc ác nào đó nhà vua mới gả công chúa cho. Nhưng tìm mãi, có khi tìm được mà vua bảo “không phải”, thế là đành “ngậm một mối hờn” đi tìm tiếp. Tôi cho rằng, bài thơ Lá Diêu Bông là một “hiện thực huyền ảo” trong thơ Việt Nam hiện đại. Nhạc sĩ Trần Tiến dùng lá Diêu bông làm hồn cho ca khúc “Sao em vội lấy chồng” viết theo đơn đặt hàng cơ quan tuyên truyến sinh đẻ có kế hoạch. Nghĩa là cái Lá Diêu Bông ấy không chỉ là tình yêu mà nó còn có dính dáng đến vợ chồng, sinh đẻ. Nhiều doanh nhân đặt tên cho quán mình là Quán Diêu Bông…Ấy cũng là một cách tìm Lá.

Trong suốt cuộc đời mình cho đến hôm nay Hoàng Cầm có tất cả 13 Nàng Thơ xương thịt. Ông bảo “Đó là những hồn người đã gọi ra nhịp điệu, âm thanh, đường nét sắc màu” những bài thơ tình của ông. Theo nhà thơ Nguyễn Thuỵ Kha, thì ông đã cho mọi người biết tên của 9 nàng, còn 4 nàng là tên viết tắt. Trong 9 nàng có tên, có chị Vinh “diêu bông” và chị Nghĩa “tam cúc”đã làm nên thời ký “Thơ Chị Em” của Hoàng Cầm. Nhà thơ Hoàng Cầm kể trên sóng phát thanh :” Năm 12 tuổi, tôi say mê một người con gái láng giềng hơn tôi những 8 tuổi….”. Một chiều thứ bảy, cậu bé Bùi Tằng Việt thấy một cô gái hàng xóm đang mua thứ gì đó ở quán của mẹ. Khi cô ấy ngẫng đầu lên, nhìn ra đường thì cậu bé lên tám choáng người, bị ngay “tiếng sét ái tình” Người con gái đẹp đến mê hồn. Thế là cậu bé làm một trang thơ lục bát tặng người tình trong mộng . “Em gửi chị Vinh của em”. Chị Vinh cũng váy lụa Đình Bảng, áo cánh lụa mỡ gà, khăn vuông mỏ quạ , đi Hội Lim chị là bà chúa quan họ, giọng ngọt như mật. Từ đó CHỊ đi đâu EM theo đó. Lẽo đẽo bụi hồng. Cho đến một ngày tròn 12 tuổi, cậu bé theo sau chân chị ra đồng.
– Chị Vinh ơi chị tìm cái gì thế”.
Chị Vinh quay phắt lại, giọng bỡn cợt :
– Ừ , Chị đi tìm tìm cái lá… ấy đấy, đứa nào tìm được cái lá… ấy ta gọi là chồng !
Hai ngày em tìm thấy Lá
Chị chau mày
Đâu phải lá Diêu bông
Mùa đông sau em tìm thấy Lá
Chị lắc đầu
Trông nắng vãn bên sông
Ngày cưới Chị
Em tìm thấy Lá
Chị cười xe chỉ ấm trôn kim
Chị ba con
Em tìm thấy Lá
Xoè tay phủ mặt Chị không nhìn

Từ khi “Chị thẫn thơ đi tìm / Đồng chiều / Cuống rạ” cho đến “ Mùa đông sau…, Ngày cưới chị…rồi khi “Chị ba con” là một quãng thời gian rất dài, rất dài. Vậy mà EM vẫn kiên nhẫn miệt mài đi tìm Lá để chứng minh cho tình yêu thương đối với CHỊ của mình. Và Em đã bốn dạo “Tìm thấy Lá”, nhưng đều bị CHỊ từ chối không “gọi là chồng”. Bi kịch của tình yêu, bi kịch cuộc đời là vậy . Yêu nồng nàn , nhưng không tới được hạnh phúc. Cho nên
Từ thuở ấy
Em cầm chiếc lá
đi đầu non cuối bể
Gió quê vi vút gọi
Diêu bông hời…
Ới Diêu Bông… !
Đoạn kết bài thơ như một tiếng kêu thảng thốt, nấc ngẹn, đẩy nỗi buồn đau đến vô cùng . Bài thơ là một giấc mộng, là câu chuyện cổ tích về mối tình đầu của Hoàng Cầm. Với ngôn ngữ vùng Kinh Bắc dân giã mà chắt lọc, bài thơ như pho tượng đài tình yêu bằng kim cương lấp lánh. Ôi, thơ là ngôn ngữ kỳ diệu của trí tưởng tưởng. Nhà thơ sáng tạo ra hình tượng thơ, còn người đọc thơ, cảm thơ thì mỗi người cảm nhận một cách khách nhau. Đó là “ý tại ngôn ngoại” của thơ, do chiều sâu của bài thơ quy đinh. Đó cũng là cội nguồn gây ra bao rắc rối cho tác giả Lá Diêu Bông…

Tôi quen biết nhà thơ Hoàng Cầm nhờ anh Phùng Quán. Năm 1985, ra Hà Nội, tôi ngụ tại Chòi Ngắm Sóng của Phùng Quán. Ngày nào anh cũng đèo tôi bằng cái xe đạp cuốc Liên Xô cao lêu nghêu đi thăm các nhà thăm Trần Dần. Hoàng Cầm, Phùng Cung…Sau đó, tôi gặp anh nhiều lần ở nhà anh Phùng Quán, hay trong các kỳ Đại hội Nhà văn Việt Nam. Năm 1993, Hoàng Cầm cho xuất bản tập thơ Lá Diêu bông, một phần trong tập “Về Kinh Bắc “ viết trong 2 năm 1959, 1960. Sau nhiều trắc trở, mãi đến tháng 7- 1994, tập thơ “Về Kinh Bắc” mới được ấn hành. Ông tặng tôi một tập với lời đề tặng rất “bạn bè” “Tặng bạn Ngô Minh”, mặc dù về tuổi ông là bậc cha chú, về thơ ông là bậc thấy.

Đọc Lá Diêu Bông, ngoài câu chuyện tình đơn phương như huyền thoại ấy, tôi còn miên man nghĩ đến một “thông điệp” khác rất “bỏng cháy” phát ra trong từng câu chữ thơ. Tại sao EM tìm thấy LÁ mà CHỊ vẫn “chau mày”, “ lắc đầu”,” xoè tay phủ mặt không nhìn” ? CHỊ là ai ? Tạo sao CHỊ lại nhất quyết cự tuyệt tình yêu của EM đến vậy, mà không một lời giải thích , không một chút thương tâm ? Sao Chị lại Vô Tình, Vô Tâm đến vậy ? Đó có phải là một phần số phận đắng cay, ẩn ức của Hoàng Cầm được thể hiện dưới dạng thức thơ tình ? Sinh thời, anh Phùng Quán thường kể với tôi, sau vụ Nhân Văn – Giai phẩm, Hoàng Cầm là người “sám hối” mạnh mẽ nhất để mong sớm được làm thơ, viết văn trở lại. Ông làm nhiều thơ gửi lên cấp trên để mong được “cứu xét”. Rồi ông chờ đợi. Nhưng không một hồi âm. Nhớ lại thời kỳ này, nhà thơ Hoàng Cầm kể với phóng viên báo An Ninh Thủ đô ngày 28/2/2007 :” Lúc đó chúng tôi chỉ biết lấy sáng tác để khắc phục, làm đêm làm ngày, tập trung sáng tác để quên đi cái khổ. Chỉ có cách khắc phục bằng lý tưởng cách mạng của mình thôi chứ biết làm sao…”. Ông đã làm hết sức mình để thể hiện lòng trung trinh như nhất của mình, nhưng vẫn bị nghi ngờ, chối bỏ! Thế là ông mượn thơ để giải toả nỗi thất vọng của mình. Có lẽ không phải riêng tôi mà chắc ai rành thơ cũng nghĩ như thế. Vì bài thơ “ mỗi lời là một vận vào khó nghe” với số phận ông Hoàng.

Nhà thơ Hoàng Cầm không chỉ bị nạn trong vụ “Nhân Văn- Giai phẩm”. Bài thơ “ Lá Diêu bông” ra đời cũng đã làm cho Hoàng Cầm phải bị vô tù tội điêu đứng. Nhà thơ Hoàng Cầm kể với vợ chồng anh Phùng Quán và tôi trên “Chòi ngắm Sóng” bên Hồ Tây một câu chuyện buồn. Mùa thu năm 1982, bỗng nhiên xe Công an đến nhà riêng 43-Lý Quốc Sư Hà Nội đọc lệnh bắt ông Bùi Tằng Việt ( tên thật của nhà thơ Hoàng Cầm) vô tù về tội chứa chấp người buôn bán sử dụng ma tuý. Hoàng Cầm thì xưa nay đã thành nếp, ngày nào cũng hút vài “vê” nàng Tiên Nâu mới tỉnh trí để sáng tác. Bây giờ đã 88 tuổi rồi, ông vẫn chơi “cơm đen”. Đã hút thì phải có người cung cấp thuốc, tất nhiên…

Thực ra, thì trước đó Công an đã bắt nhà thơ Hoàng Hưng vì nhà thơ này định chuyển bản thảo tập thơ “Về Kinh Bắc” của Hoàng Cầm, do Hoàng Cầm đưa ra hải ngoại để in ấn. Do vậy, Hoàng Cầm bị bắt. Trong tập thơ đó có bài thơ “ Lá diêu bông” . Ở trong nhà giam, “cán bộ” đưa cho nhà thơ bản thảo tập thơ Về Kinh Bắc, bảo Hoàng Cầm mỗi ngày phải viết kiểm điểm về từng bài, từng chữ trong đó. Khi nào kiểm điểm “thành khẩn” mới được tha. Về Kinh Bắc là tập thơ trữ tình hay nhất, tâm huyết nhất của Hoàng Cầm. Ông đọc đi đọc lại chẳng thấy có gì “sai đường lối” cả. Nhưng “cán bộ” trai giam vẫn không chịu, vẫn bắt viết kiểm điểm. Một hôm ông nghĩ “Có lẽ do bài Lá Diêu Bông chăng?”. Vì đây là bài thơ duy nhất có độ “nhoè” cao, dễ gây ra những ý nghĩa mơ hồ . Thế là Hoàng Cầm viết kiểm điểm ngay bài thơ “Lá Diêu Bông”. Quả nhiên, khi nộp kiểm điểm, ông thiếu tá công an vui vẻ cảm ơn nhà thơ. Đúng là bài thơ đã tạo ta hai hình ảnh đối nghịch :CHỊ bà EM. Đọc trong văn cảnh, người ta nghĩ ngay đến CHỊ đây là người có quyền muốn làm gì thì làm, tức là Nhà nước. Còn EM là nhà thơ, là văn nghệ sĩ, yêu CHỊ mà CHỊ không yêu cũng phải cam chịu. Muốn theo chị mà chị không cho, chị lắc đầu. Thế là vì “Lá Diêu Bông”, Hoàng Cầm đã phải ngồi tù 18 tháng.Tôi thấy công an đọc thơ như thế cũng “khen cho con mắt tinh đời”. Nhưng, thực tình “Lá Diêu Bông” không phải là bài thơ CHỐNG ĐỐI, không có ý gì chống đối ẩn trong đó cả, mà chỉ là bài thơ BUỒN, TRÁCH . Vì “buồn, vì “trách” mà phải ngồi tù năm rưỡi ròng quả là quá oan nghiệt ! Giá mà những người làm công việc “thực thi pháp luật ” hiểu văn chương tử tế hơn, hiểu cho hết, cho đúng ý tưởng bài thơ, thì chắc chắn nhà thơ Hoàng Cầm không phải bị phiền luỵ đến thế !

Sau đợt bị nhốt tù ấy về, nhà thơ Hoàng Cầm bị suy sụp vì khủng hoảng tinh thần. Có lần Phùng Quán đến nhà thăm, bà Hoàng Yến ( vợ Hoàng Cầm) nói với anh Quán :” Anh chú hỏng rồi ! Ai đời ăn bánh giò xong, bỏ lá bánh vào tủ khoá lại…” Từ đó, Hoàng Cầm không sáng tác nữa . Hàng ngày ông bán quán nước trà trước nhà. Bọn trẻ gọi “ Ông Cầm, cho đĩa lạc”. Thế là ông lọm khọm bốc lạc ra đĩa, bưng đến bàn cho bọn khách choai choai. Phùng Quán xót ruột hỏi :” Cái quán nước này cho anh ngày bao nhiêu mà anh phải khổ sở thế ?” .Hoàng Cầm ngậm ngùi :” Em cứ coi như thi sĩ Hoàng Cầm đã chết rồi. Bây giờ chỉ còn mỗi ông chủ quán nước Hoàng Cầm thôi !” Vì thế, Phùng Quán, đã viết bài thơ “Viết tặng nhà thơ Hoàng Cầm trong giây phút anh ngã lòng suy sụp” :
Tôi tin núi tàn
Tôi tin sông lấp
Nhưng tôi không thể nào tin
Một nhà thơ như anh
Lại ngã lòng suy sụp!…
…Tôi có một niềm tin
Chắc như định đóng cột
Mai kia anh nhắm mắt
Đi sau linh cửu anh
Ngoàì bạn hữu gia đinh
Có cả con Sông Đuống!…

Sau này. Nhà thơ Hoàng Cầm đã có lần tâm sự với chị Bội Trâm ( vợ nhà thơ Phùng Quán) :” Thơ chú Quán đã vực tôi dậy …”. Cũng có một nhà văn ở Thành phố Hồ Chí Minh đã viết bài :” Một bài thơ đã cứu một nhà thơ…” kể về chuyện ấy.

Có người định nghĩa Lá Diêu bông là Lá yêu , những ai đang yêu mới tìm thấy lá! Tôi cho rằng Lá Diêu Bông là một trong những bài thơ tình hay nhất Việt Nam. Nhưng tôi vẫn đi tìm lá Diêu Bông theo cảm nhận của riêng mình, đi tìm cái lá Diêu Bông của số phận thi sĩ .
Diêu Bông hời
Ới Diêu Bông…

Cây Tam cúc- Đặng Tiến

Hoàng Cầm là một nhà thơ Việt Nam xuất sắc bị buộc phải im hơi lặng tiếng hơn ba mươi năm, nên tài hoa chưa được quần chúng tiếp nhận đầy đủ, và giới phê bình, nghiên cứu chưa có khoảng cách để đánh giá đúng mức.

Vài năm nay, đã thấy xuất hiện nhiều tác phẩm Hoàng Cầm. Gần đây, mừng Hoàng Cầm lên tuổi bảy mươi – với trên lưng già nửa thế kỷ sáng tác và gian truân – nhà xuất bản Văn Hoá cho in một tập thơ chọn lọc 1942-1992 dưới tựa đề Bên kia Sông Đuốngmột tuyển tập đặc sắc.

Hoàng Cầm sinh năm 1922, tên thật là Bùi Tằng Việt do nơi sinh là thôn Phúc Tằng, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang (nay là Hà Bắc). Anh ra đời và lớn lên trong tiếng hát Quan họ, tại vùng Kinh Bắc xưa, cái nôi văn hoá của đồng bằng Bắc Bộ. Thơ Hoàng Cầm bắt nguồn từ nền văn hoá kia và tiếng hát ấy. Thi hứng của anh xoáy dọc xoay ngang vào những Kinh Bắc, Thuận Thành, Bát Tràng, Sông Đuống. Từ lưng vốn cũ càng, Hoàng Cầm từng bước làm mới thơ mình, anh là trường hợp hiếm hoi nếu không phải là duy nhất giữa những nhà thơ cùng lứa tuổi, đã tạo ra được phong cách thi ca mới, trên một nền từ vựng cũ, trên phong tục cổ truyền. Thơ Hoàng Cầm là cuộc hôn phối hạnh phúc giữa tính dân tộc và tính hiện đại.

Cây Tam Cúc là một bài thơ hay, tiêu biểu cho những thành tựu nghệ thuật của Hoàng Cầm. Từ một trò chơi dân gian khá phổ biến, tác giả đã sáng tạo nên một bức tranh trữ tình đặc sắc và phong phú, bắt đầu với tình nam nữ, rồi đến tình chị em, tình người, tình dân tộc. Rộng ra nữa là tình yêu tuổi trẻ, quê hương, tình yêu cuộc sống trong mọi mặt, trong cảnh nhàn nhã lẫn lúc chênh vênh. Từ một ổ rơm giản dị, hình ảnh quê nghèo, Hoàng Cầm đã vẽ lên giấc mơ hạnh phúc, giấc mộng lứa đôi với ít nhiều nhục cảm. Bài thơ tình tứ và nhẹ nhàng, có khả năng làm suy nghĩ, nhờ kỹ thuật già dặn và tân kỳ của Hoàng Cầm về mọi mặt từ vựng, ngữ điệu cũng như hình ảnh.

Một điều cần nói thêm: nếu đặt được bài thơ vào không khí và văn hoá quan họ thì nó sẽ thêm hương sắc. Những câu hát quan họ, thường là những bài tỏ tình trai gái, có khi trơ trẽn; nhưng đặt vào nền văn hoá quan họ, thì khác: những bài hát ấy mời gọi, ca tụng cuộc sống và con người. Cây Tam Cúc của Hoàng Cầm cũng vậy: nó chuyên chở tình người, tình quê nhiều hơn luyến ái lứa đôi.

Cũng như những làn điệu dân gian xưa kia, thơ Hoàng Cầm ngày nay là những ngọn lửa sưởi ấm cuộc sống, một tia nắng mới trên chân trời cũ. Những đoá râm bụt nở muộn màng trên bờ giậu làm thắm lại niềm lãng quên bên triền ký ức.

Thơ Hoàng Cầm trau chuốt, có khi do dụng công và kinh nghiệm, có khi chỉ là thành tựu của vô thức – mà nhà thơ gọi là thần lực hay tâm lực. Vô thức ở đây là phần tích luỹ trầm kha của rung cảm và tiềm năng sáng tạo; thi nhân từ năm này sang năm khác sống triền miên bài thơ mình cho đến lúc nó bật ra thành lời, thành tiếng; do đó, Hoàng Cầm có lần tâm sự rằng nhiều câu thơ, có khi toàn bài thơ của mình là tiếng nói đến trong những giấc mơ, từ một thế giới khác, như là một giọng nói mầu nhiệm, linh thiêng.

Thơ Hoàng Cầm giàu âm điệu. Anh nói: “Nhạc điệu là cái xe chở cái hồn của bài thơ”. Có những câu thơ dìu dặt, luyến láy do sắp xếp; nhưng giai điệu toàn bài thơ có thể xuất thần, vượt khỏi dụng công. Ví dụ bài Cây Tam Cúc trên 111 chữ đã có đến 27 âm đ là một phần tư. Ngoài số lượng, còn chất lượng: âm đ đứng vào những vị trí xung yếu, hay diễn tả những tình ý thiết thân:

Em đừng lớn nữa, Chị đừng đi
…Em đi đêm, tướng điều sĩ đỏ
Đổi xe hồng đưa chị đến quê Em
… Quan Đốc đồng áo đen nẹp đỏ
Thả tịnh vàng cưới Chị…

Âm đ còn là những chuyển động trong bài thơ: đi, đứng, đưa và đến; hay là màu sắc hạnh phúc: tướng điều sĩ đỏ; trầu cay má đỏ đối lập với màu đen của định mệnh: Quan Đốc đồng áo đen nẹp đỏ; tướng sĩ đỏ đenHai chữ đỏ đen cô đọng nội dung bài thơ, một trò chơi may rủi, giống như tựa đề Đỏ và Đen của tiểu thuyết Stendhal.

Âm đ chủ đạo âm điệu bài thơ Cây Tam Cúc của Hoàng Cầm nhắc ta âm trong bài thơ La Fileuse của Valéry. Cũng cần thêm rằng âm đ = [d] trong tiếng Việt, cũng như âm [l] trong tiếng Pháp, có một giá trị thẩm mỹ đặc biệt. Âm đ luyến láy ở những vị trí ưu đãi, còn nhắc đến câu thơ Hoàng Cầm rất cảm động:

Em ngồi đâu, Chị đứng đâu
Bỗng dưng hai đứa hai đầu hư không

Ngoài giá trị và vị trí của một phụ âm đ, còn giai điệu toàn bài thơ, gồm những câu dài ngắn, so le, với nhịp điệu thường xuyên thay đổi. Bắt đầu bằng nhịp cổ điển, sau đó tiết điệu biến đổi, khi dìu dặt, khi rắn rỏi, lúc khoan thai, nói chung là nhẹ thoảng. Có thể nói Cây Tam Cúc là một bài thơ ngắn dồi dào nhịp điệu vào hàng đầu trong thơ Việt. Hoàng Cầm phân phối, luyến láy những nguyên âm, phụ âm rất tài tình. Đoạn đầu, bốn âm k (=c) câu đầu vọng lại ở hai chữ (cây cay), biệt đãi ở câu giữa, “kết” ở chữ “ kết” rồi chữ “quê” (đọc k) câu bốn. Quê em là hình ảnh của hạnh phúc vọng tưởng

Năm sau giặc giã
Quan Đốc đồng áo đen nẹp đỏ
Thả tịnh vàng cưới chị
võng mây trôi

Quan Đốc đồng… nhịp thơ gay gắt, như định mệnh bức bách đánh dấu bằng âm đ cứng rắn – như trong những chữ đánh đấm, đạp đổ, đấu đá, đau đớn đối lập với câu sau, ung dung, nhẹ thoáng, làm nổi bật những động từ phóng túng, tự do, thoải mái: thả, cưới, võng, trôi đưa đến hư không. Chữthả dùng rất độc và đắt, nhắc đến những cuộc bố ráp của một quân đội viễn chinh vô kỷ luật. Võng đi với cưới, nhưng kết quả chỉ là mây trôi, như một hạnh phúc tan biến, vô tông tuyệt tích:

Em đứng nhìn theo, Em gọi đôi

Còn lại một mình Em, giữa cảnh mây trôi tan tác. Gọi đôi là gọi Chị, gọi hạnh phúc, gọi vô cùng và vô vọng.

Câu thơ ngắn và đơn giản nhất

Năm sau giặc giã

nhắc lại hoàn cảnh lịch sử, nhắc thoáng qua thôi, nhưng chúng ta đều nhớ đến hằng triệu giấc mơ tình đã cháy rụi, đã tàn lụi trong cơn hoả mộng dài nửa thế kỷ. Thơ Hoàng Cầm trọn vẹn với dân tộc chỗ đó. Giặc giã, tự nó mang theo bạo lực áp bức. Quan Đốc đồng là chức quan địa phương thời Lê, ở đây là hình ảnh của định mệnh, của cường quyền; chữ đốc đồng được chọn, vì âm vang và vì thể chất kim khí cứng rắn, đối lập với tuổi thơ đứa được, đứa thua; với hạnh phúc thanh bình có đi, có đưa là có đến. Thân phận người chị long đong: động từ cưới không rõ chủ từ, qua câu thơ, không rõ Quan đốc đồng cưới chị hay ông ấy chỉ thả tịnh vàng cưới chị. Ai cưới, không biết, về đâu cũng không hay; chúng ta cảm giác một cuộc cưỡng hôn, hay một cuộc hôn nhân chắp nối trong giặc giã. Đau xót nhất là Em đã bảo: Chí đừng đi.

Ta đã thấy Hoàng Cầm dùng động từ rất tài tình. Các nhà thơ mới đều có chủ tâm sáng tạo bằng động từ. Như Huy Cận:

Sóng rủ nhau đi bát ngát cười
(…) Sóng đã cài then, đêm sập cửa
(…) Đêm thở, sao lùa nước Hạ Long

Hoàng Cầm cũng sành dùng hoán dụ:

Thân cau cụt vẫy đuôi mèo trắng mốc
Chuồn chuồn khiêng nắng sang sông
(…) cò chở nắng tề phi…
(…) Hàng tre nhả yếm
Đá nghển trông con
gục đầu sườn núi Dạm
Lụa vàng xé lộc rắc tro tiền

nhưng đặc sắc là những động từ rất chính xác trong trò chơi tam cúc, nhưng lại ẩn dụ tình ý khác: chị gọi đôi cây… Nghé con bài… Em đi đêm… chui sấp ngửa… đổi x e hồng… Em gọi đôi… Dĩ nhiên, người biết chơi tam cúc sẽ thích thú với những động từ gọi, kết, chui, đi đêm (đổi bài) đổi. Thậm chí ta có thể lắp ghép hai câu thơ, để tóm tắt toàn bài:

Chị gọi đôi cây – Em gọi đôi.

Chị chỉ đánh bài tam cúc thôi, còn Em thì mơ tình yêu, đôi lứa. Em sẵn sàng hy sinh những tài sản quý giá nhất, những con bài tốt nhất, tướng điều sĩ đỏ, để hưởng được một thoáng hạnh phúc phù du: Đổi xe hồng đưa Chị đến quê Em.

Giấc mơ tình ái đã đến với Hoàng Cầm từ tuổi lên tám, bên cạnh cô hàng xóm tên Vinh tuổi gấp đôi. Tuổi thơ đã sớm phảng phất mùi tính dục với hơi tóc ấm… đọng tuổi đương thì, và hình ảnh rạo rực, tinh quái:

Tướng sĩ đỏ đen chui sấp ngửa

Có lẽ trai gái chơi bài xong, mệt quá, lăn kềnh ra ngủ: hình ảnh mộc mạc hồn nhiên của quê nghèo. Chúng ta nhớ bài thơ Cờ người được gán cho Hồ Xuân Hương, có câu: quân thiếp trắng, quân chàng đen, và Hồ Xuân Hương thường có lối chơi chữ như thế. Văn học dân gian đã cho ta những ví dụ chơi chữ tinh tế:

Quay tơ thì giữ mối tơ
Dầu năm bảy mối hãy chờ mối anh
… Biết nhau từ thuở buôn thừng
Trăm đứt ngàn nối xin đừng quên nhau

Cấu trúc Cây Tam Cúc hài hoà toả ra một thế giới riêng, trong đó kĩ thuật chơi chữ như biến dạng với những đường khâu, chúng ta chỉ còn thấy một tấm áo đẹp, hay một hoạ phẩm tuyệt vời.

Bình thường, tình ái đưa đến hôn nhân. Trong thơ Hoàng Cầm thì ngược lại, hôn nhân là mối động cơ của tình ái, là giấc mơ tình ái. Hình ảnh xe hồngđẹp và tinh tế. Nghĩa đen của nó là quân bài, nhưng mang hình tượng của xe cưới, xe hoa – ngày xưa đã có phong tục dùng kiệu kết hoa để rước dâu.Trầu cay má đỏ… kết xe hồng… Vẫn người chị ấy, trong giấc mơ hôn phối,

Chị vỡ pha lê. Bùn vấy tay
Hồn trong Em chuốc Chị chìm say
Là Em cưới Chị xanh thiêm thiếp
Sinh một đàn con
Mây trắng bay

[Chị Em xanh]

Viển vông, sao mà giấc mơ tha thiết đến thế. Cũng người chị ấy, trên một cánh đồng chiều đông, đã hứa hẹn hão huyền:

Đứa nào tìm được lá Diêu Bông
Từ nay ta gọi là chồng…
(…) Ngày  cưới Chị
Em tìm thấy lá
Chị cười xe chỉ ấm trôn kim

[Lá Diêu bông]

Lễ cưới, trong thơ Hoàng Cầm, là một hình tượng nghệ thuật có giá trị thẩm mỹ trên hết. Hôn lễ không phải là luật lệ, nghi thức xã hội mà thôi, nó là một thành tựu của tình người hài hoà trong xã hội: hôn lễ là sự đồng thuận giữa hai cuộc sống, trong rất nhiều cuộc sống làm thành đại gia đình, xã hội, dân tộc; là dòng sông hoà hợp để tiếp nối dòng sống của loài người. Hôn lễ là niềm vui của nhân loại qua đám cưới chuột “tưng bừng rộn rã” trong bài Bên kia Sông ĐuốngThơ là hôn lễ của từ ngữ, giữa lòng ngôn ngữ. Từ đó, khi tả một mâm cưới nghèo, chỉ có khoai luộc, Hoàng Cầm đã cấu tứ được một hình tượng đặc sắc:

Cỗ cưới chênh vênh khoai luộc
Mật vàng mọng rách vỏ nâu non

[Đợi mùa]

Tả củ khoai như vậy là thần tình, và hiện đại: thơ văn Việt Nam dường như chưa có củ khoai nào đa tình đến thế; trong ca dao, củ khoai còn phảichấm mật, ở đây mật vàng mọng sẵn trong khoai, như thân thể cô dâu căng đầy nhựa sống, chín mọng khát khao, chứa chan mật ngọt trần gian. Mà vẫn không quên những khốn khó của nhân gian, không quên thân phận chênh vênh, nâu non rách rưới. Đâu đây, còn phảng phất mùi da thịt cô gái hai mươi

Ổ rơm thơm đọng tuổi đương thì

Nơi kia, hơi ấm cô gái lại thơm mùi gạo mới

Đường quê mình dăng hương tám đỏ
Khép ổ rơm mùa giăng tóc tám xoan
Em quây sân vuông cót tròn nếp quít
Em nung gạch già thuyền ngả bến than

(…) Hàm răng nuột nà xít xa dóng mía
vú xuân đường phèn căng bưởi Nga My
Môi hè thạch non hé dưa hấu tía
Cốm sen cuối cành gói lá đài bi.

(…) Anh đi xa Em mới biết nói thầm
Đường đê chợ Trầm sang mùa Tu hú…

[Vợ Liệt sĩ]

Hạnh phúc lứa đôi đậm đặc màu sắc dân tộc, mà hơi thơ lại mới mẻ, thắm tươi. Nhục cảm nồng nàn, rạo rực, mà dịu dàng, kín đáo. Cô gái quê trong Nguyễn Bính lúc nhớ người yêu thì cơ thể

Sao cứ đầy lên, cứ rối lên

Cô gái quê trong Hoàng Cầm, cơ thể đầy mà không rối. Cô gái tân thời trong thơ Xuân Diệu rảnh rỗi hơn:

Em gọi thầm anh, suốt cả ngày

Cô gái quê trong thơ Hoàng Cầm mới biết nói thầm khi xa vắng người yêu. Ý không thật, lời không thật, nhưng tình thì thật: vắng anh, cả đời sống nội tâm của em đều thay đổi, mọi đối thoại với người ngoài đều trống rỗng. Nói, là nói thầm, nói với anh hay nói một mình. Câu sau: Đường đê Chợ Trầm…là một câu tả cảnh, ngoại cảnh và tâm cảnh cô gái

Anh đi xa Em mới biết nói thầm             a
Đường đê Chợ Trầm, sang mùa tu hú    b

Hai câu thơ kết hợp a b mạch lạc, tinh tế, hay cái hay thường tình của văn chương, của lời nói khéo. Nay ta thử tách rời a ra khỏi b, sẽ có hai câu thơ độc lập, lẻ đôi, và mỗi câu đều có giá trị riêng, nhất là câu

Đường đê Chợ Trầm, sang mùa tu hú

Ý nghĩa không có gì, nhưng âm vang kỳ diệu. Hoàng Cầm có nói “Cái tứ của thơ phải đọc được ngoài lời. Có nhiều bài thơ mang một tứ rất lạ, khó giảng, khó bình, chỉ cảm thấy được thôi”.

Cũng là tiếng tu hú, cất lên đầu mùa hạ, gọi nắng hồng, trái chín và những phiên chợ rộn rã trong thơ Nguyễn Bính:

Tu hú vừa kêu, vải đã vàng

mà âm vang khác. Có thể trong sáng hơn, nhưng không tạo cảm giác mờ ảo, huyền nhiệm như câu thơ Hoàng Cầm. Ánh sáng ấy, là biên giới giữa thơ và văn xuôi.

Nhắc lại tình cảm ở tuổi thơ – tuổi mười hai ở quê vào năm 1934 là còn nhỏ lắm – Hoàng Cầm cùng làm chung với một người bạn, bài Gọi đôi trên đồi chùa Phật Tích, xuân 1974:

Dưới sông kia chẳng quay đi
Mười hai tuổi cũ biết gì chị ơi
Một con bướm lửa đậu môi
Hai nhành hoa lửa chia đôi tay cầm
Ba tầng mây lửa trầm ngâm
Bốn con chim lửa đậu nhầm cỏ hoang.

(… ) Em ngồi đâu chị đứng đâu
Bỗng dưng hai đứa hai đầu hư không.

Ngọn lửa đam mê bừng cháy tuổi thơ của Hoàng Cầm sẽ tiếp nối bập bùng mãi mãi trong thơ anh, cho đến bây giờ “ thì cũng bấy nhiêu ngày đêm nghe lửa reo mòn tuổi tác”. Mượn hình ảnh trong truyện thơ Men Đá Vàngta có thể so sánh nhà thơ Hoàng Cầm với người thợ nung men sứ Bát Tràng trong huyền thoại, gan hồng thạch, dạ kim cương, anh Phù Du ngày đêm canh sức lửa.

Lửa của bướm hoa, lửa của đá vàng, thơ Hoàng Cầm, năm mươi năm qua, đã trầm ngâm vàng mười thử lửa.

Tam cúc là trò chơi dân gian trong những ngày tết. Nói là dân gian, nhưng cũng phong lưu

Rút trộm rơm nhà đi trải ổ

hàm ý là cậu bé đi chơi lén đâu đó bên hàng xóm. Chỉ trộm rơm không thôi, thì không lấy gì trầm trọng. Nhưng niềm vui của cậu bé là vụng trộm. Mê say cô hàng xóm hơn mình tám tuổi trong tình chị chị em em, thì có cái gì đó bất chính, mang mùi vị trái cấm. Cậu bé càng biết vậy, càng thiết tha, càng lý thú, cái thú đi đêm thầm lén. Người chị biết vậy mà vẫn để cậu em mơ mộng, vẩn vơ mà vô hại. Biết đâu cô chị chẳng thích thú và đồng loã?

Nghé con bài tìm hơi tóc ấm
Em đừng lớn nữa Chị đừng đi

Trong bài thơ, chỉ có một câu phủ định, nhưng vô vọng. Làm sao “ đừng lớn nữa” làm sao giữ mãi được cõi “thiên đường xanh những mối tình bé dại”(le vert paradis des amours enfantines) như lời thơ Baudelaire? Nhân vật Créon, cuối vở kịch Antigone của Anouilh cũng dặn chú tiểu đồng là “đừng lớn nữa” ( Il faudrait ne jamais devenir grand). Vấn đề của Hoàng Cầm là không thoát ra khỏi được tuổi thơ. Hoàng Cầm ở tuổi sáu mươi, bảy mươi, làm thơ là để sống lại tuổi mười hai “trong tấm lòng may thay vẫn là tấm lòng 12 tuổi”.

Tuy nhiên, thơ Hoàng Cầm có hồi cố mà không hoài cổ. Anh không tỉ tê, tí ta tí tách. Sử dụng chất liệu cũ để kiến trúc một phong cách thơ mới, Hoàng Cầm thành công. Thơ Hoàng Cầm vừa lạ vừa thân. Sinh trưởng từ tiếng hát quan họ, thơ Hoàng Cầm không phải là một làn điệu dân ca nối dài mà là ngôn ngữ hiện đại của một tâm hồn tân tiến. Đây là điều khó thực hiện, và số người đạt tới không nhiều. Không phải vì tình cờ mà tuyển tập Bên kia Sông Đuống mở ra bằng bài Cỏ Bồng Thi:

Chị đưa Em đến bến này
Cheo leo mỏm đá
Trước vực
Sau khe

… Cỏ Bồng Thi phải cheo leo mỏm đá.

Đến bến là phải đến nơi bằng phẳng, êm ả, ngừng nghỉ. Nhất là nơi Chị đưa Em đến. Sao vẫn cheo leo? Bài này viết năm 1959, nhưng ta không nên giải thích đơn giản bằng vụ án Nhân văn – Giai phẩm mà anh là nạn nhân dài hạn. Vì cùng một năm ấy, anh còn làm nhiều bài khác rất thanh thoát, nhưLá Diêu bôngCây Tam Cúc và loạt bài Đêm Ngũ Hànhkhông có ẩn ức gì về thân phận. Chính anh nói vào thời điểm ấy anh “ không một phút nào nghĩ tới thời cuộc chính trị và xã hội trước m ắt”.

Cheo leo mỏm đá, theo tôi, là gian nan của người làm thơ, muốn sáng tạo và làm mới thơ mình. Người làm thơ khác người làm kinh tế, nhưng vẫn phải sử dụng một số vốn nhất định, về cảm xúc, tri thức và từ ngữ. Anh phải nhảy múa trên một mỏm đá, trước vực, sau khe; anh làm thơ gì đây, để nói cái gì đây và nói với ai đây? Khắc khoải của Hoàng Cầm cũng là của nhiều nhà thơ, nhà văn khác, những người bị cấm in ấn tác phẩm như anh hay Văn Cao, Trần Dần, đến cả những người có nhiều tự do hơn như Nguyễn Đình Thi, Huy Cận. Người nghệ sĩ vẫn thường muốn tiên tiến về mặt nghệ thuật, nhưng bản thân làm sao tiên tiến được trong một xã hội lạc hậu và trì trệ về tri thức, kinh tế và chính trị? Mỏm đá của Hoàng Cầm cũngcheo leo với nhiều tác giả khác.

Bình thường, nói chuyện thơ, thì chớ nên so sánh người này với người kia, vừa không nghiêm túc vừa kém trang nhã. Viết khéo đến đâu, thiện chí đến đâu vẫn có người giận. Nhưng đành so sánh cho sáng tỏ. Tôi đã nói: Hoàng Cầm kết hợp được tính dân tộc và tính hiện đại trong thơ. Văn Cao và Nguyễn Đình Thi là hai tác giả luôn luôn đấu tranh cho dân tộc và cho hiện đại, nhưng tính dân tộc và tính hiện đại trong thơ hai anh biệt lập với nhau. Xuân Diệu 1940 hiện đại mà ít dân tộc; Xuân Diệu 1950 dân tộc mà ít hiện đại. Huy Cận dân tộc trong tình cảm và hiện đại trong trí tuệ. Dĩ nhiên nói như vậy là sơ lược, thậm chí sơ đẳng. Nhưng tôi mạn phép giản lược, cho bài viết dễ hiểu, vì độc giả thường so sánh và thường hỏi: còn kẻ nọ người kia thì sao?

Bài này bắt nguồn từ một lý do tâm cảm: viết để đáp lại tấm thịnh tình và lòng tin cậy mà Hoàng Cầm đã dành cho bạn đọc ở xa. Mấy năm gần đây nhiều nhà xuất bản trong nước đã liên tiếp in ấn nhiều tác phẩm Hoàng Cầm Men Đá Vàng (1989), Mưa Thuận Thành (1991), Kiều Loan (1992), Lá Diêu Bông (1993), Bên kia Sông Đuống (1993) lấp một khoảng im lặng kéo dài hơn ba mươi năm. Mỗi lần có sách in, anh đều có gửi – rất khó khăn – cho chúng tôi với lời dặn dò: đọc kỹ và cảm thông.

Cây Tam Cúc là một thành tựu nghệ thuật tiêu biểu. Trong một bài thơ ngắn và đơn giản, tác giả đã sử dụng ngôn ngữ mới, tài hoa và tinh tế, từ cách chọn chữ đặt câu, đến cách xe kết âm thanh, nhịp điệu, màu sắc, hình ảnh, tạo cho người đọc nhiều cảm giác, cảm xúc, tư duy và mơ mộng. CâyTam Cúc là một thế giới hài hoà trong toàn bộ hữu cơ của thơ Hoàng Cầm, chủ yếu nói lên tình yêu, tình người, tình quê hương xứ sở, trong vẻ đẹp truyền thống lẫn với những gieo neo của thân phận. Đặc điểm thơ Hoàng Cầm là truyền thống ấy lung linh trong ngôn ngữ thơ mới, trẻ trung và hiện đại. Ngôn ngữ Hoàng Cầm đòi hỏi tôi phải có một bài khác, đầy đủ và rộng rãi hơn.

Anh đưa em về sông Đuống- Đặng Tiến

Đến với một nhà thơ, hành trình không phải lúc nào cũng đơn giản, cho dù rằng nhà thơ ấy, với mình đã là thân thuộc. Như trường hợp tôi tìm đến Hoàng Cầm. Tôi thuộc thơ Hoàng Cầm từ bài Bên kia sông Đuống làm thời Kháng chiến chống Pháp. Câu thơ Hoàng Cầm được trích dẫn nhiều nhất có lẽ là:

Quê hương ta lúa nếp thơm nồng
Tranh Đông Hồ gà lợn nét tươi trong
Màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp

Lời thơ đẹp, trong sáng, hùng hồn ngợi ca màu sắc quê hương, trong một giai đoạn kháng chiến gian nan, l948. Chúng ta yêu câu thơ vì giá trị văn chương, nhưng cũng vì nó lồng trong tình dân tộc nồng nàn đang bị bức bách và thử thách; về sau, đọc lại, vẫn yêu, vì câu thơ đã hoà màu vào kỷ niệm để làm máu thịt của cuộc sống. Nhưng nếu tách lìa ra khỏi bối cảnh lịch sử và tâm cảm, thì không biết câu thơ còn giữ trọn vẹn hương sắc hay không? Tuy nhiên Hoàng Cầm, suốt thời kháng chiến, là thời hoa niên, chỉ làm vài ba bài thơ như thế. Thơ anh sau này khác đi, tân kỳ hơn, tình tứ hơn và phi thời đại hơn:

Chị đi một chuyến chơi xanh cỏ
Quay bánh linh xa miết triệu vòng
Nhặt sợi-vô-cùng thêu áo gối
Mau về mừng cưới …
(nhớ Em không?)

(Chị Em xanh 1970 - BKSĐ, tr. 57)

Đoạn thơ chỉ có một chữ khó: linh xa, là bánh xe linh hiển của thời gian, giữa không gian vô cùng, trong đó hạnh phúc con người mong manh tơ mỏng. Ngôn ngữ và tư tưởng Hoàng Cầm mới mẻ, nhưng vẫn tiếp với truyền thống của thơ mới, và nhắc chúng ta nhớ Vũ Trụ ca của Huy Cận:

Lá biếc đưa thoi xuyên vĩnh viễn
Gió là sợi thắm của thời gian

( Áo xuân, 1942)

Ngồi xe nhật nguyệt cùng thiên nhiên
Làm bạn đi đường về vô định

(Xuân hành1943)

Đến những câu này của Hoàng Cầm thì thật là sáng tạo:

Ta con bê vàng lạc dáng chiều xanh
đi mãi tìm sim chẳng chín

(Về với ta, 1960, BKSĐ, tr. 135)

Câu thơ long lanh những thanh sắc gọi về tuổi thơ hoàng kim và bích ngọc, lấp lánh vàng xanh qua một loạt nguyên âm mở (a, ang…) ngây ngất, chao đảo dưới trời chiều, rồi thu vào màu sim tím gian truân rón rén sau những nguyên âm khép (i, im…). Buổi chiều xanh không biết tự thời nào:

Một chiều xanh, một chiều xanh huyền hoặc

(Hàn Mạc Tử)

Hay bầu trời Rimbaud:

Par les soirs bleus d’été j’irai par les sentiers

(Chiều hạ xanh những lối mòn chân nhỏ…)

Những dấu chân chim sẽ đưa ta về với ca dao:

Đói lòng ăn nửa trái sim
Uống lưng bát nước đi tìm người thương

Thơ Hoàng Cầm ghé đến lòng đời, tình đã nhỡ một mùa sim.

Người đọc có thể ngạc nhiên vì hình ảnh con bê vàng – tuổi thơ của tác giả – hình tượng bất ngờ, thậm chí không thuận lý, nhưng cú pháp, từ pháp hợp lý. Hoàng Cầm táo bạo trong cấu trúc hình ảnh mà không vi phạm quy luật ngôn ngữ, nhờ đó mà thơ anh, dù cầu kỳ, vẫn gần người đọc, và tính hiện đại vẫn tiếp nối truyền thống – chưa kể là nhạc điệu phong phú, dìu dặt, dắt dìu độc giả đi sâu vào rung cảm và tưởng tượng.

Cũng có người cho rằng thơ anh bí hiểm. Hình ảnh bê vàng và sim tím nhắc tôi một đoạn khai tâm về thơ của Bùi Giáng: “Đi vào cõi thơ… thế nghĩa là gì? Anh lùa bò vào đồi sim trái chín? Một mặt anh lưu tâm trái chín rừng sim? Một mặt anh cũng lưu tâm chiếu cố cho những con bò, đừng để chúng lạc lối vào sâu trong rú rậm rồi mất lối trở ra (…). Ta ngồi dưới gốc cây sim lắng tai nghe bò đương gặm cỏ, thong dong đưa tay với một cành, hái một trái chín ăn chơi… Bỗng dưng? Bỗng dưng nảy ra một sự tình kỳ bí: bàn tay ta vừa chạm tới một trái sim riêng lẻ, thì suốt dãy rừng, toàn thể ngàn sim lục bỗng chấn động vang lừng. Đó là bí quyết lạ lùng. Một bí quyết bất khả truyền (Đi vào cõi thơ). Cuộc kỳ ngộ bằng hình ảnh giữa hai nhà thơ chỉ là tình cờ, nhưng cũng phản ánh những rung cảm chung trong một thế hệ thi ca. Người này, vô tình, giải thích người kia.

Tuy nhiên, những câu thơ lạc dáng chiều xanh “kỳ bí” như thế không nhiều trong thơ Hoàng Cầm và nói chung, chúng ta đều có thể phân tích, giảng giải được. Ngược lại, khó giải thích những câu đơn giản mà chúng ta đã gặp, đã phân tích:

Đường đê chợ Trầm sang mùa tu hú

(Vợ liệt sĩ)

Kỹ thuật không có gì. Những từ ngữ quyện vào nhau và tự tạo lên sức gợi cảm. Sự đơn giản đi gần tới văn xuôi – mà vẫn không phải là văn xuôi. Một số nhà nghiên cứu về thơ như Roger Caillois, đã nêu lên đặc tính này của thơ hiện đại.

Giản dị hơn nữa là câu thơ nhiều người thuộc:

Anh đưa em về sông Đuống

(Bên kia sông Đuống1948, BKSĐ, tr. 29)

Có gì mà câu thơ bình dị ấy cứ vương vấn mãi trong lòng ta? Bình dị, nhưng dịu dàng, đằm thắm,thiết tha: anh đưa em về. Cõi về đó là quê hương, là an bình, là kỷ niệm, là hạnh phúc. Thơ, và tình yêu, là một cõi về. Về một dòng sông. Sông Đuống: âm vang nghe cách trở, truân chuyên, mà thiết tha khẩn khoản.

Thơ Hoàng Cầm, sáng tác qua năm mươi năm, lấp lánh muôn màu ngàn vẻ, nhưng đều đồng quy về một chữ VỀ. Về sông Đuống, về Kinh Bắc, về cõi Em, về với anh, về với ta. Có tập thơ mang tên Mưa Thuận T hành, một cơn mưa về nguồn, như hình ảnh của Tản Đà, nước non nặng một lời thề, hay thơ Hoàng Cầm:

Giọt mưa phương Nam có về Kinh Bắc
Mưa đi về Anh mưa đi về nguồn

(Giọt mưa phương Nam, 1991, BKSĐtr121)

Tuyển tập Bên kia sông Đuống gồm có 56 bài, trong đó 35 bài mang chữ VỀ. Bản thân bài BKSĐ được cấu trúc trên điệp khúc: Bây giờ đi đâuVề đâu? Thơ Hoàng Cầm là một lối về, một cõi về, một cõi mơ về, một tiếng gọi về:

Dóng dả gọi về đồng sương
đôi ba người lận đận. 

(Về với ta, 1960, BKSĐtr. 135)

Có thể đây là một phản ánh trọn vẹn của thơ Hoàng Cầm, nổi tiếng từ vở kịch thơ Kiều Loan khởi thảo từ 1942. Kiều Loan, cô gái điên, là kẻ lạc mất đường về. Điên là đánh mất cõi về. Nhân vật chính, trước khi chết, đã cầu khẩn tình yêu:

Tôi chỉ xin nàng đôi giọt lệ
Cài lên lá cỏ… phía quê hương

(Kiều Loan1942)

Quê hương, là Thuận Thành, là Kinh Bắc, nhưng còn là cõi mênh mông. Từ 1942, Hoàng Cầm hai mươi tuổi, đã có những câu linh cảm, báo trước toàn bộ thi phẩm của mình:

Níu tay cười xuống hoàng hôn cũ
Vớt mắ t em về bến hoá sinh

(Lại gặp, 1942, BKSĐ, tr. 24)

Tập thơ cuối cùng Hoàng Cầm thông báo sẽ in, sẽ mang cái tên tiêu biểu: Về Cõi Thật NgườiThơ Hoàng Cầm đậm đà tình dân tộc, nhưng không phải là thơ địa phương. Từ bến quê hương, Hoàng Cầm tìm về cõi người chính xác – Cõi Thật Người – do đó, thơ anh, từ những màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp, vươn lên tình người, rất rộng, rất cao.

Cuộc sống hiện đại là một dòng sông ngày mỗi xa nguồn. Khái niệm và ý thức quê hương ngày một nhạt phai trong tâm tưởng con người hiện đại, con người đô thị.

Lìa nguồn là quy luật của tiến hoá. Nhưng con người cảm nhận ly cách đó mỗi nơi, mỗi lúc, mỗi người, một cách khác nhau. Thế hệ Hoàng Cầm – bản thân Hoàng Cầm (sinh năm 1922) – chứng kiến sự tan rã, tàn phá của một nền văn hoá trên một đất nước mất chủ quyền, rồi triền miên đắm chìm trong lửa khói. Hai cuộc chiến tranh dân tộc chồng lên trận tranh chấp lớn lao giữa hai nền văn minh, mới và cũ, Đông và Tây. Dân tộc có chiến thắng, vẫn để mất đi ít nhiều bản sắc văn hoá, như con chim thắng trận đã phải mất lông mất cánh. Anh chiến sĩ trong Hoàng Cầm chóng quên hào quang chiến thắng để lặng nghe những tàn phai, tan tác, rồi tự hỏi về cuộc đời, về con người, về bản thân

Anh đứng đây là đâu
Em cười như lá mỏng

(Anh đứng đây là đâu , 1988, BKSĐ, tr. 62)

Đơn giản và hàm súc. Câu hỏi hiện đại và hiện sinh, là niềm hoang mang lớn lao của nhân loại; con người đã tìm ra chỗ đứng, nhưng mất toạ độ trước những biến chuyển vật đổi sao dời, nhanh chóng và toàn bộ, có phần tự nhiên, có phần áp đặt.

Trong hỗn mang của thời đại và hoang mang của tâm linh, nụ cười, tia hạnh phúc, bỗng mong manh Em cười như lá mỏng. Có cái gì đó vô cùng quý giá, nhưng hết sức đơn giản, rất mực phôi pha, làm cho con người hoang mang trở thành hoảng hốt. Hoàng Cầm, những lúc sống thật với lòng mình, từ chiều sâu thăm thẳm của tâm thức, thỉnh thoảng bật ra những câu thơ, những hình ảnh bình dị mà hàm súc như vậy. Một câu hỏi lớn của loài người vừa vụt chao nghiêng tia nắng trên tờ lá mỏng: thơ Hoàng Cầm là ngọn gió lạc mùa, bất chợt thổi tạt qua trần gian, một ngày thu muộn màng và hiu hắt.

Bên kia sông Đuống, quê hương Hoàng Cầm long lanh quá khứ, với những buồn vui ngày ngày tháng tháng, trong khung cảnh đồng quê thân thuộc, tầm thường: tre luỹ, bèo ao, đê quai, bến Sấm. Có tiếng ếch cõng mưa rào, tiếng chào mào khát nắng. Và tiếng tu hú gọi mùa. Làm thơ, bao giờ cũng tô son điểm phấn ít nhiều lên cuộc sống, như cô gái bất hạnh:

Mua son đắt rẻ tuỳ phiên chợ

Đời sống trong thơ Hoàng Cầm vui ít, buồn nhiều, và thường xuyên vất vả. Việc đồng áng xen lẫn với quai gánh bán buôn. Đặc biệt về thủ công nghiệp, nghề gốm Bát Tràng chiếm trọn tập thơ Men Đá Vàng (1973) trong khi Tiếng Hát Quan Họ (1956) làm nền cho một tập thơ khác (1956). Lao động chuẩn bị những hội hè đình đám, niềm vui chẳng qua không lấp được bao nhiêu lận đận gieo neo. Chỉ thấy cảnh trai tài gái sắc giao duyên qua lời ca tiếng hát, mà không nghe được những uất nghẹn, tan tác, thì chưa cảm nhận đầy đủ tâm cảnh của Hoàng Cầm.

Ám ảnh lớn của Hoàng Cầm là niềm cô đơn trơ trọi, thể hiện rất sớm qua hình tượng cô gái điên hay mẹ con đàn lợn âm dương – chia lìa đôi ngả(1948) sẽ trở lại với con bê vàng lạc dáng chiều xanh – Đêm nay mẹ chẳng về chuồng (1960). Nhà thơ, ở bất cứ tuổi nào, vẫn mang tâm tình đứa trẻ con hoang mang đợi mẹ. Thơ Hoàng Cầm là một lối khấn thầm:

Khấn thầm như mẹ lỡ đò ngang
Miệng hé hạt na nhoà bến vắng…
Bao giờ mẹ về
Buộc yếm đào phai vỗ hát ru

(Đợi mùaBKSĐtr. 48)

Giữa những tang thương, dường như cảnh chia lìa làm nhà thơ đau đớn nhất. Anh vẫn tin ở cuộc đời, và niềm tin thiết tha sâu sắc nhất, có lẽ là tình cảm dành cho tuổi trẻ mai sau:

Ta ru em
Lớn lên em đừng tìm mẹ phía cơn mưa

(Về với ta1960, BKSĐtr. 136)

Hình ảnh người chị trở đi trở lại, là bóng dáng người mẹ nối dài. Trong bài Đợi mùa, hai hình ảnh lồng vào nhau trên đường về chợ:

Tưởng như mẹ về
Vai áo toạc ba vá chằng tơ dứa
Tưởng như Chị về
Tơ tóc đêm xưa giờ rễ tre
Bao giờ Chị về…
Bao giờ mẹ về…
Không
Đã hết năm tu hú gọi rừng già

Hình ảnh người chị trẻ trung và gần gũi hơn, nên gợi cảm gợi tình hơn, hàm chứa nhiều rung cảm đa nghĩa, tạo ra được những câu thơ đẹp hồn nhiên, nghịch ngợm:

Cách nhau ba bước vào vườn ổi
Chị xoạc cành ngang
Em gốc cây

(Quả vườn ổiBKSĐtr. 39)

Làm thơ, vói Hoàng Cầm, trong chừng mực nào đó, là giữ chân tuổi thơ dưới một gốc cây. Chờ mong và mơ mộng.

Người mẹ đẩy con ra đời, người chị đưa em vào đời:

Em mười hai tuổi tìm th eo Chị
Qua cầu bà Sấm bến cô Mưa
Đi…
ngày tháng lụi
tìm không thấy
Dải yếm lòng trai mải phất cờ

(Quả vườn ổiBKSĐtr. 39)

Hình ảnh người chị từ phái tính đưa đến dục tính, tế nhị, kín đáo, thi vị: Hai đứa lung linh lơi yếm áo. Có lúc người em còn ước mơ cưới Chị xanh thiêm thiếp (Chị Em xanh1970). Ta nên hiểu đây là giấc mơ hạnh phúc bao la trước vũ trụ mà người đàn bà là biểu tượng. Hoàng Cầm đi sâu vào lòng đời theo bước chân người chị. Bao nhiêu âm hao của sống, tiếng tu hú trên quai đê, tiếng bạc má trên cành chanh, tiếng chào mào trên cành nhãn đã đến với anh theo giọng lảnh lót của người chị. Những bài thơ hay nhất, bạo nhất về chị, Hoàng Cầm đã làm ba mươi năm sau – lúc đã ngoài bốn mươi năm mươi tuổi – đã quá tuổi thơ ngây để ngủ lại giấc mơ dang dở ( Đêm Mộc1959). Ngoài thơ ra, con người làm sao có thể ngủ lại giấc mơ? Nên hiểu thơ Hoàng Cầm trên chiều hướng đó; và trong giới hạn thu hẹp lại, những bài thơ về chị Trúc của Nguyễn Bính cũng nên hiểu như vậy, thay vì đặt những câu hỏi vớ vẩn và dung tục.

Dục tính là một yếu tố quan trọng trong thơ Hoàng Cầm vì nó là thành tố cơ bản, sâu xa của cuộc sống và đồng thời cũng là hương sắc của trần gian. Bản năng thiết yếu lồng vào nhu cầu thẩm mỹ. Những hình ảnh thiêng liêng nhất của quê hương cũng lâng lâng mùi da thịt:

Chùa Phật Tích ruỗi trong màn lụa bạch
Tượng Quan âm má ửng bồ quân
Chuông chiều cởi yếm…

(Đêm Thuỷ1959 – BKSĐ, tr. 15)

Dục tính trong thơ Hoàng Cầm, từ bản năng thiên nhiên, đã trở thành một yếu tố văn hoá trong xã hội cổ truyền, giống trong tranh tượng dân gian. Nó không phải là tự nhiên chủ nghĩa, không phải là Người gái thiên nhiên như trong thơ Đinh Hùng:

Ngoài thiên nhiên nở bừng thân mỹ nữ
(…) Làm đôi người cô độc thuở sơ khai

(Mê Hồn Ca)

Thỉnh thoảng cũng có hình ảnh tự nhiên, nhưng không nhiều:

Ngoài hồ cô giặt lụa
Vỗ vào lưng đêm giăng
Nước lạnh chấm hai đầu vú

(Cô gái giặt lụa)

Thân thể người đàn bà căng đầy nhựa sống nhưng giới hạn trong những điều kiện xã hội và văn hoá nhất định:

Chũm cau căng nứt mạch tằm
Yếm may ba ngày mẹ vá lại
Khuya nghe buồng động bóng đêm rằm

(Đêm Mộc - 1959 - BKSĐtr. 19)

Ngành dân tộc học ngày nay đã trưng nhiều tư liệu về những lễ lạc, hội hè trong hình thái xã hội cổ sơ, giải phóng con người ra khỏi những cấm kỵ, ràng buộc. Hoàng Cầm gợi lại cảm giác trước cuộc Thi đánh đu:

Luồn tay ôm say
giấc bay lay đỉnh núi
Tuột hàng khuy lơi yếm tóc buông mành
Đùi chảy búp dài thon nhún vội
Bàng hoàng tia chớp liệng nghiêng xanh.

Dục tính được nhà thơ làm nổi bật và thi vị hoá, vừa cô đọng vừa tan loãng trong một không gian ngất ngây, lảo đảo nhờ những âm thanh, hình ảnh và chuyển động trong thơ. Hoàng Cầm đẩy tưởng tượng – tôi tạm gọi dự cảm huyễn dục – đến huyền sử một Hội yếm bay với nhiều cô gái, vốn là tiên nữ bị đày xuống trần gian, cùng cởi bỏ xiêm y:

Ngũ sắc chen nhau cầu lễ hội
Nuột nà cởi bỏ áo khoa khôi
Em không buộc thắt lưng thon nữa
Thả búp tròn căng nuột ấy…ơi!
Nguồn sống tuôn thơm nhựa ứ đầy
Một chiều khổ cực bốn chiều say
Đã phanh yếm mỏng thì quăng hết
Những nếp xiêm hờ giả bộ ngây

(tập Lá Diêu Bôngtr. 76)

Trong dự cảm huyễn dục, Hoàng Cầm cao hứng:

Lệnh tám cõi tốc xiêm y chới với
Sững mình em vùn vụt hút lên xanh

(tập Lá Diêu Bôngtr. 83)

Dục tính trong thơ Hoàng Cầm táo bạo lắm, thì cũng đến vậy thôi. Không có cái rạo rực dồn nén như trong Gái Quê của Hàn Mạc Tử; nhục cảm ở đây, có lúc chỉ là phương tiện cho Hoàng Cầm làm một câu thơ hay và lạ. Dù ý có suồng sã, lời vẫn trau chuốt, có khi trang trọng, chứ không có ý bông đùa như Bùi Giáng. Về mặt này, tôi đã trích dẫn nhiều thơ anh mà ít bình luận – vì thơ anh tự nói lên được phong cách và nội dung. Lời bàn – về dục tính – e rằng dung tục một cách không cần thiết.

Hoàng Cầm là người làm thơ có ý thức rất rõ và rất cao về thiên chức của mình. Thơ phải nâng cao tình người và làm đẹp cuộc sống. Ngoài ra anh không phục vụ một ý đồ nào khác cho bản thân hay cho thời thế. Nếu một lúc nào đó có bài nọ bài kia phù hợp với một giai đoạn lịch sử, thì bất quá chỉ là những bước không hò hẹn, đã bước trùng nhau một ngả đường như lời thơ Huy Cận.

Hoàng Cầm làm thơ liên tục nhưng rời rạc trong hơn năm mươi năm. Những bài thơ xiêu lạc như những chiếc lá lìa cành:

Rồi lại chiều mai lại sớm kia
Lá không in dấu phận xa lìa
Cứ lang thang phố nhờ cơn gió
Nhè nhẹ sang hè rẽ lối khuya

(tập Lá Diêu Bông - tr. 77)

Với anh tôi muốn làm cơn gió
Lùa những lưu ly lại Cội Về
Lá bao nhiêu lá mai về đất
Đường Mê thân gió vẫn tê tê.

Mùa thu toả nắng- Đặng Tiến

Nguồn thơ Hoàng Cầm róc rách qua phong cảnh quê hương, khi vướng vào kỷ niệm, một nhan sắc, bỗng ngời lên thứ ánh sáng diệu kỳ, bao la, ngây ngất:

Ai về bên kia sông Đuống
Có nhớ từng khuôn mặt búp sen
Những cô hàng xén răng đen
Cười như mùa thu toả nắng

Bên kia sông Đuốngtr. 31

Dịu dàng, đằm thắm và trong sáng, nụ cười ánh lên đôi mắt; dù rằng câu thơ không nói gì về đôi mắt, ánh nắng và mùa thu vẫn toả ra từ cái nhìn hồn nhiên, đôn hậu, ngời niềm hạnh phúc ấm và sáng, lên đời sống nông thôn ảm đạm, xa xăm. Câu thơ sáu chữ đã xuất hiện từ lâu, từ trước thời Nguyễn Trãi, nhưng không thông dụng về sau; nhịp thơ tự do và khoan thai, nhẹ nhàng, cởi mở. Bốn âm bằng liên tiếp, trầm lặng và cởi mở, cười như mùa thu, chợt loé lên tia sáng sắc cạnh của hai âm trắc toả nắng. Tia nắng bất ngờ nhắc chúng ta nhớ lại ánh nắng cuối thu đầu truyện Đôi bạn của Nhất Linh: “Ở ngoài, như ý mong ước của Trúc, trời bỗng nắng to”.

Về cô hàng xén, Thạch Lam đã có một câu thật quyền: “Các cô hàng nước, cùng với các cô hàng xén, kĩu kịt đi chợ Đông chợ Đoài, là cái tinh hoa thuần tuý của người Việt Nam từ xửa từ xưa đến giờ”1.

Tinh hoa người Việt… Lời ca ngợi tuỳ hứng có phần quá đáng, vì hình tượng cô hàng xén chỉ xuất hiện trong văn học Việt Nam trong một giai đoạn ngắn, phản ánh thời kỳ quá độ trong xã hội nông nghiệp đang bắt đầu hướng về thành phố, vừa chuyển hàng đi, vừa nhận hàng đến, qua cô hàng xén.

Hình tượng cô hàng xén trong thơ Hoàng Cầm bắt nguồn từ nhiều tình cảm sâu xa. Thân mẫu Hoàng Cầm là một cô gái quan họ và một cô hàng xén. Những cô gái Kinh Bắc kết bạn quan họ giữa những mùa đồng áng và hội hè, thường rủ nhau đi buôn bán, và các cô thường hát:

Đi buôn khắp cả phố phường
Tôi buôn chẳng được lạc đường về chợ Đồng Xuân
 2

Thân mẫu Hoàng Cầm buôn bán vì sinh kế, đôi vai trĩu nặng đôi bồ, chăm chút nuôi con ăn học, và hình ảnh bà cụ (1891-1961) vẫn thường xuất hiện trong thơ:

Bên kia sông Đuống
Mẹ già nua còm cõi gánh hàng rong
Dăm miếng cau khô
Mấy lọ phẩm hồng
Vài thiếp giấy đầm hoen sương sớm.

Bên kia sông Đuốngtr. 31

Bóng đáng bà mẹ quê thấp thoáng trên những đường làng quạnh vắng, bước cao thấp bên bờ tre hun hút, hoặc trên những chuyến đò ngang miệng hé hạt na nhoà bến vắng, làm nhớ đến một bà Tú Xương chưa xa xôi lắm, và câu thơ Lưu Trọng Lư:

Nét cười đen nhánh sau tay áo
Trong ánh trưa hè trước giậu thưa.

Ta có câu ca dao yêu người yêu cả đường đi. Đơn giản và chân xác. Bóng dáng cô hàng trên đường đê chợ Trầm sang mùa tu hú đã chồng lên hình ảnh cô gái quan họ:

Đêm hội Lim về
đê quai rảo bước
Đuổi tà lụa nhạt
ánh trăng đầm ấm đường sương
(…) Em về đồng chiêm đất rạng chân chim
Em đi mưa ngâu nước ngập đồi chè
(…) Chân Em dài đi không biết mỏi
Má hồng em lại nổi
đồng mùa nước lụt mông mênh

Bên kia sông Đuốngtr. 64

Đường tình không tuổi theo trời đất chuyển màu, từ đồng chiếm đất rạn qua đồi chè nước ngập. Bước chân mẹ còn đê mê cát mịn lại phải bấm sâu vào đường trơn mưa 1ạnh. Xuôi ngược dọc ngang, những nẻo đường trong thơ Hoàng Cầm hẹn hò nhau ở một ngã ba: đường đến nhau và đường tìm về.

Hai con đường ấy, đều Về với ta.

Người phụ nữ nông thôn

Nàng Thơ của Hoàng Cầm là những phụ nữ lao động, lam lũ cật lực. Gánh hàng xén còn là lao động nhẹ, có được gánh hàng thì chưa phải là nghèo. Đất quan họ không phải là nghèo, nhưng vẫn có những người cùng khổ.

Chúng ta rình nhìn trộm cô gái Tắm đêm, một đêm trăng, tung tóc gội gầu trăng nước giếng. Ta sẽ đau lòng thấy thân thể cô gái đầy vết sẹo:

Em gánh gạo về nhà phú hộ
Nứt vai thành sẹo lá lan đao
Em chở nứa sang bờ duyên phận
Tay đóng bè chân xuôi thác ghềnh
Tuổi đã rách vá gì cho kịp
Da mỡ đông tuốt sẹo ngang thân
(…) Phấn mùa trăng thoa mờ sẹo tuổi.

Bên kia sông Đuống tr. 83

Trên đời không gì đẹp và quý bằng thân thể người đàn bà. Và những vết sẹo do lao động hay roi vọt cứa ngang rạch dọc kia là những nhục nhằn chung cho nhân loại. Người phụ nữ lam lũ và tất tả vẫn giữ nét duyên dáng:

Tàu cọ em che đàn gà mới nở
Em vực bê vàng lửng dáng chiều xanh
Đắp con đê quai sóng soài đất đỏ
Trận mua vừa rồi không rụng hoa chanh

(…) Một tay em che ngọn đèn bạt gió
Một tay quấy nồi cám lợn kê vàng
Như đêm đêm tay kia ôm bé ngủ
Tay này thắp hương… đế thức quanh tường

Vợ liệt sĩ, Mưa Thuận Thànhtr. 2

Nói đến người phụ nữ Việt Nam, không thể chỉ dừng lại ở làn môi khoé mắt, mà phải nhắc đến mồ hôi nước mắt, những vất vả và thiệt thòi. Điều ấy, nhà thơ chỉ thì thầm, nhưng vẫn rõ giọng. Người phụ nữ hiện lên dịu dàng trên nền trời quê hương, giữa tiếng ếch nhái, ễnh ương, chẫu chuộc, tiếng chim bạc má, cú vọ, tu hú bồ các, chìa vôi, cạnh con mèo mướp trong xó bếp, cánh chuồn chuồn, châu chấu, bươm bướm, đàn kiến lửa ngoài sân, cái giun đất lòng th òng mỏ con gà trụi, giữa những cành ổi, cành nhãn, cành chanh, ngọn bí lông tơ hoa xoan lả tả và bao nhiêu hình ảnh thân thương khác. Người phụ nữ trong thơ Hoàng Cầm không quyến rũ vì nhan sắc nhưng đáng yêu đáng nhớ qua bóng dáng, linh hoạt, năng nổ, tận tuỵ và cam phận:

Tiếng hát theo em đi vớt bèo
Em vớt được mấy chùm sao sáng
Vớt đôi mắt nhìn theo

(…) Tiếng hát theo em đêm về xay lúa
Cối xay tròn biết thuở nào xong
Tai cối đuổi nhau mãi mãi
Biết bao giờ nên vợ nên chồng ?

Bên kia sông Đuốngtr. 102

Thơ về lao động, hiện thực và tình tứ như vậy, xưa nay không nhiều lắm đâu. Thỉnh thoảng lắm ta mới gặp ở Nguyễn Bính:

Ví chăng nhớ có như tơ nhỉ
Em thử quay xem được mấy vòng
Ví chăng nhớ có như vừng nhỉ
Em thử lào xem được mấy thưng

Thường thường, những cô gái lầu hoa, người em sầu mộng… dễ đẹp dễ thơ hơn người phụ nữ ngày ngày vật lộn với thực tại. Và làm thơ, đọc thơ là để quên thực tại, chủ yếu là lao động, do đó, thơ hay về người phụ nữ lao động hiếm và quý. Và khó làm.

Trong xã hội phong kiến, nghèo khó dễ tạo ra đau thương. Thảm kịch người đày tớ:

Người ở gái trót mê anh đánh cá
Cụ Tiên đuổi ra khỏi làng
Nửa đêm ùm một tiếng
Nước lạnh khép mặt người

Bên kia sông Đuốngtr110

Hay cô gái bị bức bách lấy lẽ nhà giàu, mảnh gương rạch ngang cổ, chết rồi còn bị xã hội lên án:

Sai lấy mo cau
Úp xuống mặt người chết
Cho manh chiếu bó xác
Chôn ngay đầu làng
Trên mồ cắm một thanh tre
Đề bốn chữ “vô luân vô đạo”

Bên kia sông Đuốngtr. 111

Xã hội phong kiến, khe khắt và bất công, nghiền nát những mối tình và những giấc mơ:

Chúng ta yêu nhau có tội tình gì
Phải đến giữa đình trói tay ngả vạ

Bên kia sông Đuống tr. 73

Có những cặp tình nhân đói nghèo chẳng được sánh đôi, những chàng trai nghèo đói phải xa quê, những phụ nữ nón quai thao úp bụng, khăn gói lìa quê…

Quê Kinh Bắc của Hoàng Cầm nổi tiếng là nhiều hội hè, đình đám, nhiều dịp vui giải trí cho nhân dân… Nhưng trong thực tế, những cuộc vui chung, hào nhoáng và ồn ào không bù đắp được nhiều nỗi buồn riêng và những khó khăn của cuộc sống. Người nông dân cơ cực mua vui mang thân phận cây pháo:

Chuỗi pháo đùng thèm bay
bùng giấy đỏ liều thân

Bên kia sông Đuốngtr. 102

Hoàng Cầm làm thơ ca ngợi quê hương và cuộc sống. Nói chung, thơ anh lạc quan vì tin vào cái đẹp, cái tốt, tin vào hạnh phúc, nhưng vẫn mang nhiều nét buồn đau. Từ đó, thơ anh nhiều giai điệu và giàu nhân tính, chịu sự đọc lại và lọc đãi. Ngôn ngữ khúc mắc, có lúc cầu kỳ lại càng làm nổi bật chất trí tuệ – một chất trí tuệ nhuần nhuyễn tình cảm, thường quay về quá khứ.

Thơ Hoàng Cầm là lẵng hương thầm của những cành hoa xa vắng.

Đặng Tiến

Noël 1993

Men đá vàng- Đặng Tiến

Một lời quan họ bay lên dốc

Năm 1956, Hoàng Cầm sáng tác và in tập thơ Tiếng hát quan họThời gian này, anh phụ trách bài vở cho Giai phẩm Mùa Xuânđã tìm ra và tự ý cho đăng bài thơ Nhất định thắng của Trần Dần, ngòi thuốc nổ vụ án Nhân văn - Giai phẩm về sau. Trần Dần bị bắt, Hoàng Cầm viết hồi ký Con người Trần Dần để bênh bạn, đăng trên báo Nhân văn số 1 giữa tháng 9.1956. Bài báo khá dài, phản ánh không khí văn nghệ, chính trị thời đó, đã được Georges Boudarel dịch trọn vẹn ra tiếng Pháp1. Sau đó, Hoàng Cầm còn có bài thơ Em bé lên sáu tuổi (1956) và vở kịch thơ Tiếng hát (1957) nổi tiếng vì tính cách phản kháng.

Nhắc lại chuyện cũ để tìm hiểu động cơ của tác giả khi làm tập thơ Tiếng hát quan họlấy một chủ đề cũ để làm một tập thơ mới, trong không khí đấu tranh chính trị thời đó. Về hai tập Giai phẩmHoàng Cầm đã “tự hào”: “ Tuy chưa phải là những sáng tác xuất sắc, nhưng ít ra nó cũng nêu được một vấn đề gì. Có vấn đề xã hội trong thơ Văn Cao, có vấn đề chống công thức trong thơ Lê Đạt (…) Bài thơ Nhất định thắng của Trần Dần ít ra nó cũng khác với lối làm thơ một chiều…” 2Thế còn Hoàng Cầm, người đã có tập thơ in chung với Văn Cao, Lê Đạt, Trần Dần? Tiếng hát quan họ, ngoài giá trị tâm cảm, nhất định phải có giá trị phản kháng.

Về tâm cảm, Hoàng Cầm sinh ra trong một gia đình quan họ, lớn lên trên quê hương quan họ, tập thơ ca ngợi một khía cạnh đặc sắc trong một vùng văn hoá. Nhưng tiếng hát còn là hình tượng: nó biểu dương cho nền văn nghệ tự do, bình đẳng, độc lập trước chế độ xã hội phong kiến. Thời điểm đầu 1955, Hoàng Cầm đòi quyền độc lập đó, trong một “đề nghị chính sách văn nghệ”2 và tố giác thứ văn chương cung đình

Vịnh người đi cày bằng đá
Không nói năng gì sau đuôi trâu

Bên kia sông Đuốngtr. 107

Đây là một khuynh hướng quan trọng trong thơ Hoàng Cầm, chúng tôi chưa đào sâu, không phải là vì không thấy hay né tránh, nhưng vì khuôn khổ và tính cách của bài viết. Tôi sẽ trở lại vào một dịp khác.

Tiếng hát quan họ nêu lên vai trò, tính cách của văn nghệ trong cuộc sống. Trước hết, nó nhận làm một thành phần nhỏ của cuộc đời:

Chép hết bài ca chưa hiểu hết lòng người
Dựng được bài ca chưa xây dựng cuộc đời

Bên kia sông Đuốngtr. 117

Nhưng nghệ thuật làm cho cuộc sống cao lên, rộng ra và đẹp hơn:

Tiếng hát quan họ
Và trai gái quê tôi trẻ đẹp vô cùng
Nhảy khỏi vòng nia
Nhảy sang vòng nong
Từ hòn đá ném ao vòng tròn rộng mãi
(…) Vòng nhỏ
Vòng to
Đến vòng nào nữa
Chân mây mở rộng từng mùa

Bên kia sông Đuống tr118

Cuộc đời là những vòng tục luỵ, có hình thể quy định như những vòng nong, vòng nia hay vô định và bất tận như khi ta ném hòn đá xuống ao. Nghệ thuật giúp con người nới rộng những vòng nghiệp chướng. Vòng nongvòng nia là hình ảnh của nông thôn mà nhà thơ đã tích luỹ; động tác nhảy khỏi, nhảy sang nhắc lại cảnh múa sạp của dân tộc Tây Bắc mà Hoàng Cầm đã dày công nghiên cứu và cải biên thành nghệ thuật trình diễn chuyên nghiệp, thời anh chỉ huy Đoàn văn công Tổng cục chính trị. “ Tôi đã nâng số lượng sạp từ 2 lên 8 cây, từ 2 diễn viên gõ sạp lên 8 và từng đoạn luân phiên với diễn viên múa, vào nhảy để 8 anh chị em khác ra ngồi gõ. Sau chiến thắng Na Sản Tây Bắc 1953, tôi lại bổ sung (…) Toàn bộ tiết mục đã trở thành một khúc vũ hội tưng bừng (…) Múa quạt ở vùng xuôi hoà với múa xoè ở Tây Bắc, lượn của Đông Bắc quyện cả với múa nón của Trung Du (…) không nét nào trùng lặp với nét nào, các đường cong, nghiêng, thẳng của hình thể, phải đi đúng khuôn nhịp, không một đường uốn lượn nào được phép trật nửa bước ra ngoài”3.

Nghệ thuật ở đây tạo điều kiện cho con người nhảy khỏi vòng nia, nhảy sang vòng nong của cuộc sống. Quan họ cũng vậy thôi, là một nét đẹp xưa, quyến rũ và mong manh:

Mẹ kể chuyện ngày xưa xa lắm
Tháng tám ao hồ mát lặng
Làng quê còn níu lại hương sen
Hai mươi gái trai
Thả một con thuyền
Song song mười đôi
Mắt nhìn trong mắt
Nón nghiêng tăm tắp
Ngày mai ai chắc được gần ai

Bấy nhiêu con mắt
Cùng hát một câu
Nghe giọng biết người chung thuỷ

Bên kia sông Đuốngtr. 98

Quan họ, trước tiên, là tình bạn. Có gì đẹp bằng tình bạn thuỷ chung? Đôi bạn quan họ không được kết hợp với nhau. Năm mười năm sau khi đi lấy chồng xa, cô gái vẫn nhớ giọng, người gầy như nhánh mai:

Rồi chị Tư tay bồng tay bế
Mỗi năm một lần về quê hương
Đến thăm anh Năm so giọng cũ
Hát hết tuần trăng không hết thương

Bên kia sông Đuốngtr. 103

Đẹp bao nhiêu những con người chung tình với một giọng hát, ngọn gió qua cầu:

Mẹ xưa dối bà, con nay dối mẹ
Tình không dối được nhịp cầu

Bên kia sông Đuốngtr. 100

Làm thơ, rất khó mà nói dối được lâu. Cuộc đời ở đâu, thời nào cũng vậy, đan kết những tranh chấp, bon chen. Tiếng hát quan họ giải thoát: so lời sánh giọng, người hát không nề hà hai chữ được thua:

Hát thi ba mươi sáu giọng bổng trầm
Tìm những anh chàng hát thua
(…) Chúng ta sẽ ướm làm chồng

Ngày hội năm sau
Anh sẽ bắc giàn hoa lý
mời em về ngồi nghỉ
Khi nào em hát thua anh

Bên kia sông Đuốngtr. 99

Nghệ thuật, trong một giây lát nào đó, giải phóng con người nhọc nhằn và nhục nhằn, ra khỏi xã hội phong kiến đen ngòm:

Trai gái trong xã
Rút ống chân khỏi mực đen ngòm
Chạy ra bến sông khoả ánh trăng mát rợi
Tiếng hát cất lên nhuộm mùi hoa bưởi

Bên kia sông Đuống tr. 109

Câu thơ Hoàng Cầm không hiện thực, không đúng với thực tế quan họ và xã hội. Không ai thoát thân chạy ra bờ sông mà hát. Hát quan họ phải có nơi, có lúc, vào đám, vào hội theo nghi thức, theo lề lối, áo khăn, lời thưa tiếng gửi; làm gì có chuyện hát ào ào chân khoả ánh trăng. Nhưng câu thơ đúng với biểu tượng văn nghệ: nhiệm vụ văn nghệ là giải phóng con người ra khỏi áp bức của những chế độ hay những hoàn cảnh, thực tại éo le. Trong chừng mực nào đó, quan họ giải phóng giai cấp: cô gái quan họ dù có lúc trở thành Ỷ Lan phu nhân hay Bà chúa Chè thì bản thân quan họ vẫn khẳng định “Tiếng hát không biết đi võng đào” và công phá những thành luỹ của phong kiến

Tiếng hát chiều nay đá lắng tai nghe
Muốn cựa mình đổ xuống
Nghiến vụn toà lầu ngất ngưỡng
Xây nên trăm bực gập ghềnh
Để em có đường lên núi tìm anh

Bên kia sông Đuốngtr. 114

Vẫn là cái nhìn lý tưởng hoá. Tách rời ra khỏi xã hội, trong khuôn khổ những hội hè, tiếng hát quan họ giải phóng con người về nhiều mặt – kể cả giai cấp. Những liền anh liền chị là những nông dân hay thị dân nghèo kết nghĩa bằng nghệ thuật, không phân biệt địa vị. Giới khoa bảng, quan lại và tư sản không tham dự vào những sinh hoạt dân dã bình đẳng và phi giai cấp ấy. Người hát kết bạn, luyện giọng, tổ chức, sáng tác, trình diễn, thưởng thức và phê phán, làm thành một xã hội khép, với những lề lối, quy luật, tư duy, rung cảm riêng: quan họ là một ốc đảo giữa xã hội nông nghiệp phong kiến, và tồn tại lâu dài, phần nào, nhờ thoả hiệp. Hoàng Cầm cũng thừa nhận điều đó khi anh tố cáo gay gắt xã hội phong kiến qua cụ tiên chỉ gian xảo và tàn ác.

Văn nghệ quan họ có giá trị nhất định và giới hạn nhất định. Nếu xem thơ Hoàng Cầm là niềm u hoài, vọng lại một nền văn hoá đã vang bóng, thì chúng ta có được nhiều bài thơ hay, giữ lại và truyền đi những tình hay ý đẹp về quê hương, đất nước. Nếu xem Tiếng hát quan họ như một hoài bão, thậm chí một thông điệp văn nghệ, thì chúng ta cần cập nhật hoá nó, bằng nhiều tác phẩm khác. Thời điểm gian nan 1956 tại Hà Nội, Hoàng Cầm làm được những bài thơ như vậy là đầy sĩ khí. Tôi không tiện nói nhiều về khuynh hướng phản kháng trong Tiếng hát quan họ vì không hạp với nội dung bài này. Từ ấy đến gần đây, dù bị cô lập và cấm đoán in ấn, anh vẫn âm thầm sáng tác và tạo được tác phẩm giá trị, làm giàu làm có cho dòng thơ Việt giữa hai bờ truyền thống và hiện đại. Bằng tác phẩm và bằng cả cuộc đời, tác giả Bên kia sông Đuống đã đóng góp vào cuộc đấu tranh giải phóng văn nghệ, mãi cho đến lúc “ngọn lửa reo mòn tuổi tác”.

Men đá vàng: những mảnh đời rạn vỡ

Men đá vàng là tập thơ có sắc thái và địa vị riêng biệt trong tác phẩm Hoàng Cầm. Truyện thơ về người thợ gốm Bát Tràng làm năm 1973 in 1988, gồm phần dẫn nhập bằng văn xuôi thi vị, 13 trang và bốn chương thơ tự do, diễn tả tâm tình bốn nhân vật, ba người thợ gốm: cô gái Phong Kiều, người chồng, người cha và một người bạn đục đá. Truyện kể: người chồng mê chơi đi hoang, người vợ chờ mong hoá đá; chồng về hối hận khóc than, nước mắt thấm vào thân đá, bột đá hoà lệ thành men đá vàng, người cha nghệ sĩ tạo hình nung lửa tạo nên men gốm, trên đó cô gái Phong Kiều hồi sinh dưới hình tượng nghệ thuật: “ Từ chiếc bình men rạn nổi hình con phượng muôn màu ngậm mặt trăng nghiêng, cô gái Phong Kiều vươn vai đứng dậy (…) Trong bản tình ca hoà tấu tuyệt diệu của âm thanh, màu sắc, đường nét núi sông cây cỏ, Phong Kiều múa rẻo bàn tay làm hoa mưa hoa nắng. Cụ Hồng Châu đắm nhìn công trình sáng tạo tuyệt vời của con người Việt Nam và của chính mình” (tr. 20-21).

Dụng tâm tác giả khá rõ: một mặt ca ngợi nghệ thuật làm gốm lâu đời của quê anh, qua đó, anh nêu lên quá trình gian khổ của lao động nghệ thuật. Mặt khác, anh muốn dựa vào hư cấu đậm màu huyền thoại để thí nghiệm một ngôn ngữ thi ca mới, bằng cú pháp, nhịp điệu và hình ảnh khác lạ. Khi dồn hết tâm can vào việc kiến tạo ngôn ngữ, Hoàng Cầm cũng đã giãi bày nhiều tình cảm riêng tư: Men đá vàng có lẽ là tác phẩm Hoàng Cầm mang nhiều ẩn ức và u uẩn nhất.

Trong việc suy nghĩ, biên khảo về thơ trước đây, trong một thời gian dài, đã xa, tôi có chịu ảnh hưởng nhà bác học Gaston Bachelard, về những mạch thơ tuôn ra từ thể chất, từ không gian, từ tứ tượng trong vũ trụ quan phương Tây: đất, nước, lửa và không khí. Khi đọc thơ Hoàng Cầm về nghề gốm, tự nhiên, tôi nhớ lại Bachelard: gốm là hợp thể giữa đất và nước, thành hình trong ngọn lửa bừng trong không khí. Bachelard lại có những trang tuyệt vời về ngọn lửa tình và lửa dục4 thêm vào những suy nghĩ sâu sắc, độc đáo về thao tác quấy bột, gột hồ, nhào bột dậy men5. Gốm, từ vô thể biến thể thành hình thể, từ chất liệu vô tri hoá thân trong ngọn lửa, trở thành đường nét, màu sắc mang tâm tình, suy tư, mơ ước của con người. Đẹp quá. Tôi mang ngọn lửa trần gian soi vào thi phẩm Men đá vàng.

Tôi cũng có ít hành trang khác. Trong Về Kinh Bắc, Hoàng Cầm đã có những chùm thơ về ngũ hành: kim, mộc, thuỷhoả, thổ. Lại có chùm thơ về thực vật: Cỏ, Cây, Lá, Quả, về không gian: Gió, Nước, Khói, Sương, chứng tỏ có lúc nào đó, nhà thơ đã suy nghĩ về chất liệu, tư duy từ chất liệu. Trong cội nguồn thi hứng của anh, phải chăng đã có những giấc mơ thành hình từ thể chất, như Bachelard đã nói?

Và khi chọn nghề gốm để biểu trưng cho nghệ thuật, phải chăng lúc đầu – hay trong tiềm năng – Hoàng Cầm muốn tìm về những chất liệu sơ khai và “ ánh lửa sơ sinh” để nhào nặn nên một tác phẩm mới? Nghề gốm Bát Tràng là cơ hội lý tưởng, là truyền thống của quê hương mà anh thuộc lòng ngõ ngách. Nghề gốm đòi hỏi cần lao, kỹ thuật, nghệ thuật và may mắn, vì những thành quả bất ngờ gợi nên cõi huyền bí của thiên nhiên, chiều sâu tạo vật. Hòn đất vươn lên theo ngọn lửa, hoá thân thành chim muông, hoa lá, những rồng chìm phượng nổi, “màu son của đất pha ánh biếc của nước non (…) màu vàng của ngô lúa pha ánh hồng của những rạng đông huyền thoại” (tr. 18). Có cả tình yêu và tình dục bập bùng trong ánh lửa. Cô gái Phong Kiều, hình ảnh hoang tưởng của Nàng Thơ, âu yếm với ba người đàn ông cùng một lúc, cầm tay người chồng đã “ngày đêm canh sức lửa”, kề vai người bạn thợ đá, “ôm cả hai vai anh, run rẩy đặt môi hôn lên vầng trán”, và “đằ m thắm nở nụ cười quyến rũ” (tr .21) với chàng tuổi trẻ ái mộ nàng trên con đường đi tìm tình yêu và nghệ thuật.

Muốn đạt tới kết quả đó, bàn tay thao tác đã tư duy. Trí tuệ có khi chỉ nối dài tư duy của bàn tay. Nhào nặn thể chất, rung cảm bằng thể chất, bàn tay tiếp xúc, khám phá, mơ mộng và sáng tạo ngoài sự tham dự của trí tuệ. Đây là bài học của người thợ gốm “mười ngón tay chai tạc vó ngựa vàng cố lý”.

Một tiểu phẩm thủ công, khi vươn đến nghệ thuật, cũng đòi hỏi tâm huyết:

Xuống đất quánh ngà ngà pha lệ đỏ
Buồng gan hồng thạch
Dạ kim cương
(…) Nghe
lửa réo lò hồng
em níu vai anh mê ly
từng li ti mi li đất chín

Men đá vàng, tr. 32-34

Đến lúc người cha nghệ sĩ tạo hình truyền lệnh:

Men màu đâu ? Lên ngôi!
Men nâu lên
nình nịch vóc lực điền
vuông ngô lúa
tròn ao cá chép
vuông mùa xanh
tròn tiếp mùa vàng
(…) Men rạn lên ngôi
tia máu đan mành che bão táp
Nẻo người đi chằng chịt mấy muôn năm
ngang dọc nước sông Hồng

Men đá vàng tr. 46-48

Từ chuyện gốm Bát Tràng, Hoàng Cầm đã sa đà vào phong cảnh đất nước quê hương, qua địa lý, lịch sử, cho Văn Lang, Hồng Bàng, lớp lớp cánh cung căng mùa dân tộc hát, tiếng trống đồng Ngọc Lũ vang đến Sao Đẩu Sao Ngưu… Nhưng anh mỗi lúc một xa chủ đề trung tâm, là… cái lò nung gốm.

Truyện người thợ gốm lẽ ra sẽ giản dị là chuyện hai bàn tay tạo tác, đào luyện, nhào nặn, nung đúc một chất liệu dẻo dai, gắn bó, bền chắc keo sơn, thành những đồ sành đồ sứ men ngọc men nâu nổi tiếng từ thời Trần thời Lý. Nhưng người đọc không thấy được sự hình thành của nghệ thuật qua những tác phẩm vững chãi, rắn rỏi với thời gian, mà chỉ thấy sau nhiều đợt hô phong hoán vũ, những chia ly, tan tác, chủ yếu là tâm sự Hoàng Cầm, người cha xa con, người chồng ân hận, người bạn hồi tâm. Những tình cảm đó đáng kính đáng trọng, lời thơ tế nhị hơn những bài tâm sự sau này trong tập Lá diêu bông (1993), nhưng vẫn làm loãng men đá vàng trong chủ đề. Hoàng Cầm yếu đuối, lạc đường vào tâm sự và lỗi hẹn với Đá Vàng; anh làm lỡ cuộc tình bỏng rát giữa lửa hồng và đất mịn.

Điều còn lại trong Men đá vàng sẽ là niềm nhớ mong da diết của người cha:

Thương con đứng thương
để vàng m en gọi ngồi th ương
Con hỡi Phong Kiều về đó
Men màu mơ giọt đỏ đọng lòng tay
rớm máu mẹ cha sinh
Thương con chín thương
đá vàng men gợi mười thương
Con hỡi Phong Kiều về đó

Men đá vàng , tr. 50

Hay bản tình ca tha thiết của người yêu:

Đá hãy lên men
Nổi khúc tiêu bồng cánh nhạn
Em nhớ thương ai
Ta làm mưa đưa trầm ngải
Trải ngàn xanh về hàn đắp hồn đau
Sớm đã da non hồng phấn dậy thì
Em xót thương ai
Ta làm ánh chớp (…)
dìu sợi tóc mai về thềm mai lất phất
Em mong chờ ai
Ta làm rơm ổ
Chiều thu ru lá đỏ ấm vai gầy

Men đá vàng , tr. 60

Men đá vàng mong được hiểu theo nghĩa thứ hai: lớp men nhớ nhung tráng lên kỷ niệm đau thương những cuộc đời tan tác, hơi men đắng cay bốc lên từ cảnh đá nát vàng phai, bình tan gương vỡ. Men đá vàng khô se manh áo tân hôn cuối giường em gửi lại (tr. 39). Tác phẩm là những mảnh tan vỡ của ngôn từ, rạn nứt từ cuộc đời ngang trái.

Đặng Tiến

Noël 1993

Từng người tình bỏ ta đi…

Để tiếp tục chuyên mục Giai Nhân trong Thơ Nhạc, hôm nay tôi xin đề cập tới những người đẹp đã đi qua cuộc đời của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn.

Bỏ ra ngoài sự bất đồng chính kiến cũng như quan điểm chính trị, bài đăng này chỉ thuần túy nói về một góc cạnh nhỏ trong đời sống tình cảm của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn. Theo sát tiêu đề Giai Nhân Trong Thơ Nhạc, tôi chỉ trích dẫn những bài viết, đoạn văn, liên quan tới những người có liên hệ tình cảm sâu xa và thắm thiết với nhạc sĩ họ Trịnh. Chính họ, những giai nhân và người tình đã là yếu tố quan trọng để từ đó ông viết thành những bản tình ca được nhiều người ưa thích.

chu sa lan

Trịnh Công Sơn: Mật ngọt trên môi, mật đắng trong đời

Thứ sáu 23/03/2012 07:00

(GDVN) – “Huế là một tình yêu bất tận, tôi yêu anh Sơn như yêu Huế, bây giờ Huế đối với tôi là một quê hương thứ hai, là một phần trong cuộc đời của tôi”, Diễm nói.

Trong ca khúc “Lặng lẽ nơi này” của Trịnh Công Sơn có câu: “Tình yêu mật ngọt, mật ngọt trên môi/ Tình yêu mật đắng, mật đắng trong đời”. Trịnh cũng từng viết: “Có người yêu thì hạnh phúc, có người yêu thì đau khổ. Nhưng dù đau khổ hay hạnh phúc thì con người vẫn muốn yêu… Tôi đã có dịp đứng trên hai mặt của tình yêu và dù sao chăng nữa, tôi vẫn muốn giữ lại trong lòng một ý nghĩa bền vững: Cuộc sống không thể thiếu tình yêu”. Với Trịnh Công Sơn, tình yêu là vậy, dù đắng, dù ngọt vẫn là mật.

Sinh thời Trịnh Công Sơn không có bạn đời, nhưng là một nghệ sĩ nhạy cảm, dễ xúc động, ông có nhiều mối tình. Đó là những người con gái mang vẻ đẹp cả hình thức lẫn tâm hồn, là những người tạo cho Trịnh Công Sơn những xúc cảm đặc biệt, là nguồn cảm hứng để ông viết nên rất nhiều ca khúc. Bên cạnh đó còn là những “chuyện tình” được chính một số người thêu dệt nên mà đến bây giờ mọi người đều biết không phải là thực. Nhưng cuối cùng rồi thì khi cát bụi trở về với cát bụi, chỉ còn lại đó những tình khúc mãi mãi với những NGƯỜI YÊU.

Nhân sắp đến dịp tưởng niệm 11 năm ngày mất Trịnh Công Sơn, trong loạt bài này, Giáo dục Việt Nam điểm lại những “mật ngọt”, “mật đắng” trong đời Trịnh và đặc biệt là chia sẻ của những bóng hồng đã đi qua đời, âm nhạc của ông…

Kì 1: “Diễm” chưa bao giờ “Xưa”

Có lẽ trong số những bóng hồng đi qua cuộc đời Trịnh Công Sơn thì Diễm là người được biết tới nhiều nhất. Chẳng thế mà sau này, bất cứ người con gái nào được nhạc sĩ họ Trịnh cảm mến đều được gọi với một danh từ chung là “Diễm của Trịnh”. Hơn thế, giai thoại tình yêu của Trịnh Công Sơn với Diễm còn trở thành một câu phổ biến dùng trong giao tiếp hàng ngày, khi cần nói tới chuyện (đặc biệt là chuyện tình cảm) đã qua, người ta thường dùng câu “Diễm rồi” hoặc “Xưa như Diễm”, hoặc “Diễm của những ngày xưa”…

Trước đây, vẫn tồn tại một câu hỏi lớn trong cộng đồng người yêu nhạc Trịnh, rằng Diễm Xưa là một nhân vật có thật hay chỉ là một mộng tưởng vô thực nào đó đã giúp Trịnh viết nên nhiều ca khúc. Những bạn bè thân tình với Trịnh Công Sơn đều biết Diễm Xưa là có thật.

Chân dung Diễm Xưa

Diễm tên là Ngô Vũ Bích Diễm, là con gái của một thầy giáo dạy Pháp văn tại trường Đồng Khánh và trường Quốc học Huế.

Mối tình của Trịnh Công Sơn với Diễm bắt đầu từ những buổi Trịnh Công Sơn đứng ngắm các nữ sinh trường Đồng Khánh tan trường. Đó là khoảng những năm 1962, khi ấy gia đình Trịnh Công Sơn mới chuyển đến ở một căn hộ ở tầng 1 dãy nhà mới xây ở đầu cầu Phủ Cam (nhà số 11/3 Nguyễn Trường Tộ). Hằng ngày, chàng trai Trịnh Công Sơn (khi ấy ở độ tuổi đôi mươi) đứng trên lầu ngắm các cô nữ sinh đi qua cầu Phủ Cam, đi dọc theo đường Nguyễn Trường Tộ đến trường học. Một cô gái có dáng người dong dỏng cao, nét mặt thanh tú, bước đi thong thả nhẹ nhàng đã khiến Trịnh Công Sơn thầm thương trộm nhớ. Đó chính là Ngô Vũ Bích Diễm. Ngày ngày người con gái mang tên Diễm trong chiếc áo lụa trắng vẫn đi về ngang qua nhà Trịnh tới 4 lần. Hình ảnh người con gái kín cổng cao tường, thùy mị đó đã khiến Trịnh Công Sơn không ngày nào không nhìn xuống đường chờ đợi một vạt áo, một bước hài.

 BichDiem_copy
Ngô Vũ Bích Diễm thời đi học.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân – một người bạn Huế cùng thời đã kể lại: “Anh (Trịnh Công Sơn) yêu Diễm mê mệt. Những ngày không thấy Diễm đi qua anh đau khổ vô cùng, và trông thấy con đường trước nhà dài hun hút cho mắt thêm sâu”.

Không chỉ lồng ghép những cảm xúc của mình trong nhiều nhạc phẩm mà Trịnh Công Sơn sáng tác, ông còn dùng những lời đẹp như thơ để viết về Diễm. “Thuở ấy có một người con gái rất mong manh, đi qua những hàng cây long não lá li ti xanh mướt để đến trường. Nhiều ngày, nhiều tháng của thuở ấy, người con gái ấy vẫn đi qua dưới những vòm cây long não”. Trịnh Công Sơn đã ngắm nhìn Diễm như thế trong khoảng thời gian dài, qua bao ngày tháng “Có rất nhiều mùa nắng và mùa mưa cũng theo qua. Những mùa nắng, ve râm ran mở ra khúc hát mùa hè trong lá. Mùa mưa Huế, người con gái ấy đi qua nhạt nhòa trong mưa giữa hai hàng cây long não mờ mịt…”

“Từ ban công nhà tôi nhìn xuống, cái bóng dáng ấy đi đi về về mỗi ngày bốn bận”. Trịnh Công Sơn đã quan sát, nhìn ngắm Diễm thật kĩ để rồi cứ ngỡ đó là một cảnh hư vô của một giấc mơ: “Trong không gian tĩnh mịch và mơ màng đó, thêm chìm đắm vào một khí hậu loáng thoáng liêu trai, người con gái ấy vẫn đi qua đều đặn mỗi ngày dưới hai hàng cây long não để đến trường. Đi đến trường mà đôi lúc dường như đi đến một nơi vô định. Định hướng mà không định hướng bởi vì những bước chân ngày nào ấy dường như đang phiêu bồng trên một đám mây hoang lạc của giấc mơ”.

 Chan dung Diem do Trịnh Công Sơn vẽ
Chân dung Bích Diễm do Trịnh Công Sơn vẽ năm 1963

Tình yêu tuổi mười tám đôi mươi

Ấy vậy mà chuyện tình Trịnh – Diễm gặp rất nhiều cách trở. Thời đó, các cô gái đẹp ở Huế thường được cha mẹ gả cho những người đã thành đạt, có sự nghiệp vững chắc. Rất hiếm có chuyện những anh chàng học hành chưa tới mà “cưa” được người yêu đẹp, con nhà gia giáo. Thân sinh ra Bích Diễm lại là một ông giáo gốc Bắc nghiêm khắc. Ông giáo Ngô Đốc Khánh không thể chấp nhận chuyện một anh chàng chưa có bằng Đại học, tóc dài chuyện trò với các cô con gái của ông.

Khi ấy, họa sĩ Đinh Cường có thuê nhà gần nhà Diễm làm xưởng vẽ. Trịnh Công Sơn thường tới xưởng vẽ của bạn chơi, chờ lúc ông giáo bận giờ dạy, mà Diễm đang ở nhà thì liều mình qua chơi. Trong những lần thăm ấy, có lần Diễm tiếp, có khi không. Diễm biết Trịnh Công Sơn yêu mình và trái tim cô nhiều khi cũng rung động. Nhưng lúc ấy Diễm không thể vượt qua được sự nghiêm khắc của gia đình để nói cho người viết ca khúc “Diễm xưa” biết điều đó.

Một lần, Trịnh Công Sơn ốm nặng, Bích Diễm biết tin mà không làm sao đi thăm được. Nhân lúc có một người bạn gái tới chơi, Diễm đã rủ người bạn gái ra vườn, để người bạn gái ngồi đó, giả vờ như hai người đang nói chuyện với nhau, còn Diễm trốn mợ chạy tới thăm Trịnh Công Sơn. Trên đường đi, nàng ngắt vội một cành hoa trồng sát hàng rào nhà láng giềng. Chạy tới chung cư nhà Trịnh Công Sơn ở, Diễm chỉ đứng bên ngoài cửa sổ song sắt, hỏi “anh Sơn, anh Sơn đã đỡ chưa?”, rồi đặt cành hoa bên song cửa và chào ra về.

Nhành dạ lan thầm lặng

Có lần, Trịnh Công Sơn đã nói về mối tình với Bích Diễm: “Ngày xưa dường như cả thế hệ tôi là vậy, yêu một mái tóc một dáng hình, một ngày chỉ cần nhìn thấy mặt nhau, thấy em qua khung cửa sổ là cả ngày thấy vui”.

Còn Bích Diễm đã giữ im lặng mấy chục năm, chỉ tới năm 2010, trong một lần họp mặt các nữ sinh trường Đồng Khánh, Bích Diễm mới từ Mỹ trở về, và lần đầu tiên chia sẻ về chuyện tình với Trịnh Công Sơn.“Tôi sinh ra ở Hà Nội, nhưng lớn lên ở Huế và vào học ở Sài Gòn, với tôi Huế là một tình yêu bất tận, tôi yêu anh Sơn như yêu Huế, bây giờ Huế đối với tôi là một quê hương thứ hai, là một phần trong cuộc đời của tôi”.

Bích Diễm cũng kể giữa bà và Trịnh Công Sơn có những kỷ niệm rất khó nói:“Cái bóng của anh Sơn quá lớn nên Diễm chọn cách im lặng để nghe người ta nói, còn tình cảm của Diễm đối với anh ấy là mãi mãi”.

Ngô Vũ Bích Diễm cũng kể những kỉ niệm với Trịnh Công Sơn một cách chừng mực: “Lần  đầu tôi gặp anh Sơn ngay tại nhà tôi. Anh đi theo anh Đinh Cường đến thăm Nguyễn Việt Hằng, một người bạn than của tôi lúc đó đang ở lại nhà tôi để học hè. Sau đó thấy anh Sơn một mình quay trở lại. anh viết nhạc và có tặng tôi mấy bài. Hồi đó còn trẻ lắm nên cũng biết lơ mơ vậy thôi… Sau này tôi mới biết thong qua hai người em của anh Sơn về câu chuyện nhánh dạ lan hương mà tôi tặng anh đã gây một chấn động mạnh nơi anh. Đó là một kỉ niệm thật đẹp, thật liêu trai…!”

 Diem xua but tich Trinh_copy
Bút tích ca khúc “Diễm xưa” của do Trịnh Công Sơn viết


Có thể nói, trong mối tình với Diễm, Trịnh dường như chưa kịp nói lời yêu, mà chỉ thổ lộ tình cảm qua những ca khúc tặng Diễm, và Diễm cũng vì cách trở mà không giám đáp lại tình cảm của Trịnh. Có lẽ mối tình ấy đẹp như một nụ hoa mãi e ấp. Nhưng từ mối tình ấy, Trịnh Công Sơn đã có nhiều nhạc phẩm bất hủ. Nổi tiếng và được nhiều người biết hơn cả là “Diễm xưa”.

“Diễm xưa” được dịch ra tiếng Nhật với cái tên Utsukushii mukashi, từng được bình chọn là một trong 10 tình ca hay nhất mọi thời đại của Nhật Bản, được đưa vào chương trình giáo dục trong môn Văn hóa và Âm nhạc của trường ĐH Kansai của Nhật. Và dù “Diễm xưa” có viết về mối tình với Bích Diễm, là viết về Huế, hay là về những cảm xúc nào theo suy tưởng của từng người, thì Diễm vẫn chưa bao giờ xưa cũ, Diễm luôn đẹp, luôn mới trên môi mỗi người cất lên tiếng hát.

Diễm xưa” của Trịnh Công Sơn lần đầu tiên xuất hiện

(Dân trí) – Được cho là người tình đầu tiên của cố nhạc sĩ tài hoa Trịnh Công Sơn, nhân vật “bí ẩn” đã đi vào huyền thoại trong sáng tác “Diễm xưa” của chàng thi sĩ họ Trịnh, lần đầu tiên xuất hiện trước công chúng.

diem81432010
Giáo sư Thái Kim Lan (bên phai) giới thiệu bà Ngô Thị Bích Diễm với mọi người

Xuất phát cho ý tưởng độc đáo này là giáo sư Thái Kim Lan, hiện đang công tác tại CHLB Đức. Qua lời mời của cô Lan, Ngô Thi Bích Diêm (Diêm) đã đồng ý về Huế gặp gỡ một buổi duy nhất với công chúng. Tuy nhiên khách được mời hạn chế qua điện thoại, chỉ những người thân quen, một thời gắn bó với Trịnh.

Cuộc gặp gỡ quá đặc biệt không được thông báo trước  đã diên ra tai trung tâm văn hóa Liêu Quán, TP Huế, tối 12/3 vừa qua.

“Sau khi Trịnh Công Sơn mất, Diễm đã trở thành một huyền thoại. Từ đó đến giờ, rât ít ai biết hình bóng cô Diêm trong tuyêt phâm Diễm xưa là ai. Hôm nay, sự im lặng đó được phá vỡ”, Thái Kim Lan tâm sự.

diem41432010

“Diễm” ngày xưa đã trở về..

…và đã thu hút sự quan tâm của khách mời, bạn bè tại buổi giao lưu

Bà Diễm tâm sự những điều chưa nói đã quá lâu. Kể từ khi Trịnh Công Sơn mất, bà hoàn toàn im lặng với quá khứ

Nhà văn hóa Huế, giáo sư Bửu Ý, đã kể lại một câu chuyện tình về Sơn và Diễm. “Ngày xưa, cây cầu Phủ Cam tuy ngắn nhưng đầy duyên nợ. Trịnh Công Sơn ở căn gác tầng 2, số nhà 11/03 đường Nguyễn Trường Tộ. Hàng ngày, chàng cứ đứng lấp ló sau cây cột, lén nhìn một người đẹp. Nàng đi bộ từ bên kia sông, qua cầu Phủ Cam, dạo gót hồng dưới hàng long não, ngang qua chỗ Sơn ở là chàng cứ sướng ran cả người. Một tình yêu “hương hoa” kéo dài cho đến cuối đời chàng. Sau này, mỗi một mối tình tiếp theo của Sơn đều có hình ảnh cô gái đó. Tên cô là Diễm, người đã tạo cảm xúc cho Sơn sáng tác vô số bản tình ca bất hủ”, lời kể của giáo sư Bửu Ý.

diem31432010

Tao ngô Huế sau bao nhiêu năm “ân giấu”, bà vẫn mặc một áo dài Huế xưa, chân đi hài. Nét măt hiền, nhân ái và hay cười nhẹ. Đô tuôi 60 vẫn không làm mất đi nhan sắc thuở nào của “Diễm”. Sự có mặt của Diễm đã làm thỏa lòng toàn bộ mọi người có mặt trong khán phòng.

diem21432010
Trên nền, đầy lá và hoa…

Một chất giọng Bắc xưa nhè nhẹ cất lên, Bích Diễm đã thổ lộ cùng khán giả “Huế đối với tôi thật bình yên. Trong Huế có môt tình yêu. Từ lâu tôi đã giữ im lặng. Quá nhiều kỷ niệm từ thời thơ ấu tại Huế. Dù đi xa đã lâu nhưng tôi vẫn yêu nơi đây như ngày ban đầu. Trong con người quý nhất là tình cảm. Anh Sơn đã lồng hết những cung bậc đó vào nhạc. Xin cảm ơn anh Sơn, cảm ơn Huế vì sự đón tiếp nồng hậu”. Những câu nói bị ngắt ý giữa chừng vì xúc động của bà đã làm không ít người đồng điệu rơi nước mắt.

Trên nền guitar và piano sâu lắng, nhiều người bạn đã hát tặng “Diễm xưa” những ca khúc tên tuổi của cố nhạc sĩ tài hoa Trịnh Công Sơn, mà trong đó không thể thiếu ca khúc Diễm xưa.

Bài, ảnh: Đại Dương

Nhạc Trịnh Công Sơn trên xứ Phù Tang

Ở ngoài Việt Nam, Nhật Bản là nơi mà Trịnh Công Sơn được người bản xứ biết đến nhiều nhất. Bài Diễm Xưa được dịch ra tiếng Nhật dưới nhan đề Utsukushii Mukashi và được Khánh Ly trình bày ở hội chợ Osaka năm 1970. Bài Utsukushii Mukashi cũng được phổ biến rộng rãi vào quần chúng Nhật qua tiếng hát của Yoshimi Tendo, một ca sĩ nổi danh ở Nhật.
Từ đó đến nay Utsukushii Mukashi và một vài bài khác của Trịnh Công Sơn như Ca Dao Mẹ đã được phát trên các đài phát thanh ở Nhật khá đều đặn.

Năm 1980 ca khúc Diễm Xưa và bản dịch Utsukushii Mukashi được đài truyền hình lớn nhất ở Nhật NHK chọn làm nhạc phẩm chính cho một bộ phim nội dung trình bày những khác biệt văn hóa giữa một người Nhật có vợ Việt Nam.

Tháng 7 2004 Diễm Xưa trở thành nhạc phẩm Á Châu đầu tiên được viện đại học Kansai Gakuin đưa vào chương trình giáo dục của viện đại học trong bộ môn Văn Hoá và Âm Nhạc.

Dưới đây là bài Diễm Xưa bằng tiếng Nhật cùng với cách phát âm.

diemxua_nhat


 

DAO ÁNH: một bóng dáng lớn trong tình yêu của TCS

Chuyện tình Trịnh Công Sơn và em gái ruột của Diễm Xưa 

Thứ bảy 24/03/2012 10:00

(GDVN) – Năm 2011, kỷ niệm 10 năm ngày mất Trịnh Công Sơn, cuốn sách “Thư tình gửi một người” được xuất bản gây “chấn động” trong cộng đồng yêu nhạc Trịnh. Lúc này, người ta mới biết tới Dao Ánh – người mà Trịnh Công Sơn đã gửi gắm tình yêu qua hàng trăm bức thư cùng nhiều kỉ vật được cô gìn giữ như những vật báu…

Trong ca khúc “Lặng lẽ nơi này” của Trịnh Công Sơn có câu: “Tình yêu mật ngọt, mật ngọt trên môi/ Tình yêu mật đắng, mật đắng trong đời”. Trịnh cũng từng viết: “Có người yêu thì hạnh phúc, có người yêu thì đau khổ. Nhưng dù đau khổ hay hạnh phúc thì con người vẫn muốn yêu… Tôi đã có dịp đứng trên hai mặt của tình yêu và dù sao chăng nữa, tôi vẫn muốn giữ lại trong lòng một ý nghĩa bền vững: Cuộc sống không thể thiếu tình yêu”. Với Trịnh Công Sơn, tình yêu là vậy, dù đắng, dù ngọt vẫn là mật.

Sinh thời Trịnh Công Sơn không có bạn đời, nhưng là một nghệ sĩ nhạy cảm, dễ xúc động, ông có nhiều mối tình. Đó là những người con gái mang vẻ đẹp cả hình thức lẫn tâm hồn, là những người tạo cho Trịnh Công Sơn những xúc cảm đặc biệt, là nguồn cảm hứng để ông viết nên rất nhiều ca khúc. Bên cạnh đó còn là những “chuyện tình” được chính một số người thêu dệt nên mà đến bây giờ mọi người đều biết không phải là thực. Nhưng cuối cùng rồi thì khi cát bụi trở về với cát bụi, chỉ còn lại đó những tình khúc mãi mãi với những NGƯỜI YÊU.

Nhân sắp đến dịp kỷ niệm 11 năm ngày mất Trịnh Công Sơn, trong loạt bài này, Giáo dục Việt Nam điểm lại những “mật ngọt”, “mật đắng” trong đời Trịnh và đặc biệt là chia sẻ của những bóng hồng đã đi qua đời, âm nhạc của ông…

Kỳ 2: Mối tình tưởng như siêu thực với Dao Ánh, em gái ruột của Diễm Xưa

Ngô Vũ Dao Ánh sinh ngày 24/5/1948, là con gái trong một gia đình gia giáo và là em gái ruột của Ngô Vũ Bích Diễm. Khi mối tình Trịnh – Diễm không thành do trắc trở, khi biết chị mình không vượt qua được những ngăn cách và chia tay Trịnh Công Sơn, Dao Ánh đã viết thư nhờ Vĩnh Ngân – em ruột của Trịnh Công Sơn đem về cho ông (Trịnh Công Sơn có 7 người em: Trịnh Xuân Tịnh, Trịnh  Quang Hà, Trịnh Vĩnh Thúy, Trịnh Vĩnh Tâm, Trịnh Vĩnh Ngân, Trịnh Hoàng Diệu và Trịnh Vĩnh Trinh). Bức thư là những lời động viên và tình cảm thân thương của Dao Ánh dành cho chàng trai thất tình. Trịnh Công Sơn viết thư trả lời, và từ đó hai người thường thư qua, tin lại cho nhau. Khi ấy là năm 1963, Trịnh Công Sơn 24 tuổi, còn Dao Ánh mới 15 tuổi.

Duyên chị tình em

Dao Ánh dù sống ở Huế nhưng vẫn nói giọng Bắc, là một cô gái cao, gầy, duyên dáng, sang trọng và tính tình rất đỗi dịu dàng. Dao Ánh không thích ồn ào, không thích đám đông và kín đáo, sống nội tâm. Gia đình Dao Ánh nghiêm khắc, thường kiểm soát sinh hoạt của các cô con gái rất gắt gao. Vì thế, việc gửi thư của Trịnh – Dao Ánh phải nhờ tới những cô em gái của Trịnh, đồng thời là bạn cùng lớp, cùng trường với Dao Ánh.

Trịnh Vĩnh Trinh – một trong những cô em làm “bồ câu đưa thư” đã kể lại: “Ba chị em (Vĩnh Ngân, Vĩnh Thúy, Vĩnh Trinh) thay phiên nhau xin anh Sơn được mang thư qua nhà chị Ánh… Mỗi khi tới nơi, Trinh thường lấp ló ngoài cổng hoặc núp sau gốc cây một lát. Chị Ánh thì đã quen với khoảng thời gian có người đưa thư cuối ngày, khi trời sập tối, nên chị cứ canh giờ ấy là đảo mắt nhìn xem có ai ngoài cửa hay không. Khi biết Trinh hoặc chị Ngân đã tới, thì chị Ánh lẻn ra bằng cửa bên hông để nhận thư và giấu vào người…”. Thư qua thư lại, tình cảm dần nảy sinh giữa Trịnh Công Sơn và Dao Ánh.

 Dao Anh tuoi 16
Dao Ánh năm 16 tuổi, phía sau là Trịnh Công Sơn

Hơn 300 bức thư tình gửi một người

Năm 1964, Trịnh Công Sơn 25 tuổi, sau khi tốt nghiệp trường Sư phạm Quy Nhơn, Trịnh đã tới thị trấn B’lao, Lâm Đồng để dạy học. Những nhớ nhung, tâm sự, tình yêu được trao gửi qua những cánh thư đi về giữa B’lao và Huế. Trong suốt 3 năm 1964-1967, vị nhạc sĩ tài hoa ấy đã viết tới hơn 300 bức thư tình lãng mạn gửi Dao Ánh.

Trịnh âu yếm gọi Dao Ánh với nhiều tên khác nhau, khi thì là tên một loài hoa: dao – ánh – hướng – dương, khi ông gọi tên “Dao Ánh Sương mù”. Ông bày tỏ sự nhớ nhung tới người yêu trong lá thư viết ngày 26.10.1964: “Ánh ơi, bỗng nhiên anh thấy nhớ Ánh mênh mông… Sao con đường không ngắn hơn để anh có thể quay về đó thường xuyên nhìn thấy Ánh. Nhìn Ánh cười, Ánh buồn, Ánh nói, Ánh đi… Giờ này Huế có mưa không. Mùa đông đã về chưa cho bàn tay Ánh lạnh như một đêm mưa nào anh đã giữ bàn tay Ánh và bảo lạnh vô cùng. Ánh ơi anh còn gọi đến bao giờ như thế. Cầu mong Ánh bình an và thản nhiên như núi rừng, mặt trời và toumesol – hoa hướng dương”.

Trịnh Công Sơn viết thư cho Dao Ánh hàng ngày, có ngày viết tới mấy lần, buổi trưa, chiều, và tối. Đi tới 1 vùng khác, ông cũng viết thư cho Dao Ánh. Viết xong một tình khúc, Trịnh lại báo tin cho Ánh: “Anh vừa viết xong một bản nhạc cho Ánh: Ru mãi ngàn năm, Ru em từng ngón xuân nồng” (thư B’lao 26.2.1965).

Từ Huế, Dao Ánh cũng hàng ngày hồi âm bằng những bức thư thấm đầy sáp nến được viết lúc đêm khuya. Dao Ánh ép cả lá long não gửi vào cho Trịnh. Những bức thư từ B’lao là niềm mong đợi nhớ nhung, niềm vui, hạnh phúc của Dao Ánh suốt tuổi 16, qua tuổi 17, sang tuổi 18 của cô. Khi Dao Ánh vào Sài Gòn học, Trịnh Công Sơn mỗi lần về thăm Huế đều ghé Sài Gòn thăm Dao Ánh. Cũng như bao tình yêu khác, mối tình Trịnh- Ánh cũng có những giận hờn, trách móc. Một lần về Huế, hẹn gặp Dao Ánh nhưng vì lỡ hẹn, Trịnh đã viết thư gửi Dao Ánh và trách “Gửi người yêu bạc bẽo nhất cuộc đời anh”, nhưng càng về sau, bức thư càng dâng tràn nỗi nhớ, để rồi hờn giận đã nguôi từ khi nào.

 Thu gui Dao Anh
Một bức thư Trịnh Công Sơn viết gửi Dao Ánh

Tình yêu vô thực

Hai người với hai tính cách lãng mạn ấy đã yêu nhau bằng một tình yêu vô cùng trong sáng, lý tưởng. Dao Ánh vốn giỏi tiếng Pháp, từng viết cho Trịnh những câu trong các nhạc phẩm của Pháp do Richard Anthony hát: “Em sẽ đợi giông tố và gió mưa về để khóc. Em mãi yêu anh nhưng anh chẳng màng gì tới nỗi buồn của em. Và em sẽ khóc dưới mưa đây”. Trịnh Công Sơn cùng gửi đáp Dao Ánh bằng một câu trích dẫn trong cuốn “Khung cửa hẹp” của Andre Gide: “Ngày ngày ngọn gió đời vẫn thổi nhưng chưa bao giờ thổi tắt được tình yêu”.

Mối tình lãng mạn tưởng như vô thực của họ cuối cùng kết thúc vào năm 1967. Trịnh Công Sơn viết một bức thư chính thức nói lời chia tay Dao Ánh. Trong thư chia tay, Trịnh viết “Bây giờ đã quá khuya… anh cũng phải quyết định một lần cho Ánh lẫn cho anh…. Anh cam đành là kẻ bội bạc để mở ra cho Ánh sự ngạt thở bấy lâu trong đó người này hay kẻ kia đã cố gắng đóng cho trọn vai trò của mình. Cho đến phút này anh vẫn cảm thấy chỉ riêng mình anh đã sống thật hồn nhiên trong tình yêu đã qua. Chúng mình chấm dứt tình yêu đó ở đây. Hãy xem mọi lầm lỗi đều ở anh cả… Cũng đành vậy thôi. Anh đã nhìn tình yêu ở độ cao nhất của thủy triều. Anh xin cảm ơn bốn năm ròng rã nâng niu tình yêu đó. Cũng xin cảm ơn những buổi đợi chờ thật dịu dàng không bao giờ còn có được…”

Trịnh Vĩnh Trinh, em út của Trịnh Công Sơn kể lại, trong cuộc tình phải chia tay với Dao Ánh, anh Sơn luôn nhận lỗi về mình, bởi lúc đó anh không thể mang lại một cuộc hôn nhân trọn vẹn cho người mình yêu, vì thế anh chưa nghĩ tới việc lập gia đình.

 La ep co chư TCS gui Dao Anh
Lá dã quỳ được Trịnh ép khô gửi tặng Dao Ánh, được Dao Ánh giữ gìn cẩn thận

Nặng tình, đa đoan

Dao Ánh sau đó sang Mỹ học và lập gia đình. Cô vẫn giữ liên lạc với gia đình Trịnh Công Sơn, vốn là những người bạn gái học chung trường với cô thuở nào. Tết năm 1993, Dao Ánh về Việt Nam thăm người tình cũ. Trịnh đã viết ca khúc “Xin trả nợ người” tặng Dao Ánh, dưới bản nhạc còn để lại câu thơ nhói lòng: “Nỗi buồn xin lỗi bàn tay/ Tấm thân hiu quạnh ngồi say một mình…”. Dao Ánh đã ly dị chồng sau cuộc tái ngộ đó.

 TCS va Dao Anh
Trịnh Công Sơn và Dao Ánh trong một lần tái ngộ

Những ngày ốm nặng không thể viết, Trịnh Công Sơn vẫn đọc cho người bạn gõ máy tính gửi email tới Dao Ánh, vẫn những lời lẽ dịu dàng, ân cần. Những ngày cuối đời của Trịnh, Dao Ánh về Việt Nam, ngày nào cũng tới ngồi bên giường của Trịnh từ sáng tới tối, chỉ biết nhìn nhau.

Dao Ánh đã nhiều lần từ chối xuất hiện trong các chương trình tưởng nhớ Trịnh, nhưng rồi cuối cùng bà quyết định công bố hơn 300 bức thư của Trịnh Công Sơn cùng những kỉ vật tình yêu. Bà cho biết, đó không phải là việc làm để công bố đời tư của một người, mà bà muốn mọi người biết tới những trang văn đẹp và những cảm xúc trong sáng của một con người tài hoa. Cuốn sách “Thư tình gửi một người” còn cho in lại cả những chiếc lá, cành hoa mà Trịnh Công Sơn ép gửi tặng Dao Ánh, được Dao Anh gìn giữ cẩn thận, luôn mang theo bên mình.

Mối tình Trịnh Công Sơn – Dao Ánh quá lãng mạn, tới độ tưởng như là vô thực trên đời. Không gắn bó với nhau nhưng họ vẫn tiếp tục giữ tình cảm đẹp về nhau. Để rồi khi gặp gỡ, liên lạc lại, những yêu thương họ dành cho nhau dường như vẫn còn đâu đó, lại tràn về, cùng nỗi buồn, tình yêu của những người đa đoan.

Trịnh Công Sơn: Thư tình gửi một người

n bốn mươi năm đã qua, bao tao loạn, thăng trầm, chiến tranh liên miên, rồi lấy chồng, sang Mỹ… vậy mà Dao Ánh vẫn cất giữ nguyên vẹn những bức thư tình, những chiếc phong bì, kể cả từng chiếc lá dã quỳ anh ép trong thư, cả những giọt nến anh đốt lên để viết tên chị… Nhưng có một điều ít ai biết, là lúc đó Ngô Vũ Dao Ánh, em gái của Ngô Vũ Bích Diễm (nhân vật của Diễm xưa), chỉ mới… mười lăm tuổi.

Kim Yến

trinh-cong-son-dao-anh

Dao Ánh lần trở lại năm 1998

Ngày 1.4.2011, đúng mười năm sau ngày nhạc sĩ Trịnh Công Sơn rời cõi tạm để rong chơi chốn vĩnh hằng, bà Dao Ánh – người tình đầu tiên – một trong những người tình đã mãi mãi bất tử bằng những ca khúc của ông cho công bố hơn 300 bức thư tình của Trịnh Công Sơn gửi cho bà. Trịnh Công Sơn đã nói tiếng yêu em bằng ngôn ngữ thật đẹp, là bản chúc thư ca ngợi tình yêu, là thân phận, là những dằn vặt triền miên về kiếp người. Người ta nói nghệ thuật là đời sống riêng biệt, hiếm hoi. Trong trường hợp này, dường như tình yêu đã làm nên những cảm xúc để từ đó ra đời những tình khúc huyền thoại để lại cho cuộc đời. Xin cảm ơn bà Dao Ánh và gia đình cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã cho phép Giai phẩm xuân Tân Mão Sài Gòn Tiếp Thị lần đầu tiên công bố những di bút rất riêng tư này.

Sau gần nửa thế kỷ, hơn ba trăm bức thư tình mới được chủ nhân của nó tiết lộ, hé mở phần sâu thẳm trong trái tim một nhạc sĩ tài hoa, gắn với một thời đoạn khai sinh những ca khúc bất hủ về tình yêu và thân phận…

25 tuổi, tốt nghiệp trường Sư phạm Quy Nhơn, Trịnh Công Sơn đã chọn B’lao, một thị trấn chênh vênh giữa những tầng mây để sống như một kẻ ẩn dật, ôm theo mối tình si với người con gái xứ Huế mang tên Dao Ánh.

Bức thư đầu tiên anh gửi ngày 17.9.1964, với những lời mở đầu như một tiếng reo vui “Dao Ánh, Dao Ánh, Dao Ánh…”. Nét chữ của anh hồi ấy nắn nót như những nốt nhạc: “Anh cảm ơn Ánh nghìn lần đã yêu thích thiên-đàng-sương-mù của anh. Anh sẽ cố gắng yêu thích lấy nó đến bao giờ không thể. Ở đây có cái tự do của con người mỗi ngày chỉ thấy mình và trời đất…”

B’lao bỗng hiển hiện thật rõ nét với hình ảnh một người đàn ông mơ mộng trầm tư ngày ngày chỉ có một niềm vui duy nhất là ra bưu cục đón nhận những bức thư. Anh viết về những ngày dài hoang vu, những buổi sáng thức dậy trong im lặng, những buổi tối trăng non… Anh gọi tên Dao Ánh không biết bao nhiêu lần trong thinh không… Anh dệt lên trong tâm tưởng một hình ảnh thật trinh nguyên, một Dao Ánh với “mái tóc thật dài, với tâm hồn lá non và tiếng cười hồn nhiên như một buổi sáng mùa xuân…” Bắt gặp đâu đó trong những cuộc hẹn hò bất thành của anh là những giận hờn, trách cứ như biết bao người đàn ông khác trong tình yêu. Nhưng trách cứ của anh sao mà dịu dàng, sao mà ngọt ngào, yêu thương.

Những kỷ niệm đẹp nhất giữa hai người đã trở thành cái cớ cho những suy tư về thân phận, về chiến tranh, về tình yêu của Trịnh Công Sơn tuôn trào. Hay có lẽ cái khoảng cách vời vợi giữa một tình yêu quá mộng mị đã giúp anh soi rọi một cách trầm tĩnh nhất vào cái hố thẳm của riêng mình, để gọi tên những cảm xúc cho Phúc âm buồn, Tuổi đá buồn, Lời buồn thánh, Như cánh vạc bay, Chiều một mình qua phố… Dao Ánh còn giữ lại nguyên vẹn bản viết tay đầu tiên của Mưa hồng, Tuổi đá buồn với lời đề tặng “bản của Ánh đó”.

Trịnh Công Sơn dạy tại B’lao chỉ ba năm, từ 1964 đến 1967, ba năm đều đặn với hơn ba trăm bức thư tình. Quả thật anh là người viết thư tình lãng mạn nhất của thời đại. Bức thư đầu tiên anh nói lời cảm ơn, và bức thư chia tay cuối cùng, anh cũng nói lời cảm ơn. Mỗi lá thư của anh như một đoản văn đầy chất thi ca, chứa đựng tâm trạng lo âu, dằn vặt triền miên về kiếp người, lòng tin vào những điều tốt đẹp đang dần mất đi trong cõi nhân gian. Đây thực sự là mảng văn chương ấn tượng trong cuộc đời nghệ thuật của Trịnh Công Sơn, bên cạnh gia tài đồ sộ về âm nhạc của anh.

Năm 1993, Dao Ánh đã trở lại Việt Nam, và gặp lại Trịnh Công Sơn. Xin trả nợ người đã được anh viết liền một mạch vào đêm mùng ba tết năm ấy. Dưới bản nhạc anh viết tặng Dao Ánh là một tiếng thở dài đau nhói: “Nỗi buồn xin lỗi bàn tay/Tấm thân hiu quạnh ngồi say một mình…” Dao Ánh đã ly dị chồng ngay sau cuộc hội ngộ buồn bã này.

Những lời cuối cùng anh viết cho Dao Ánh là những ngày anh nằm trên giường bệnh. Anh không thể cầm bút được, nên phải đọc cho người bạn Sâm Thương viết giùm mình, và gửi qua email. Vẫn là những lời an ủi thật dịu dàng: “Ánh cố gắng tìm được những niềm vui nhỏ nhắn trong cuộc sống bình thường là quý giá lắm rồi. Chúc Ánh một cái tết thú vị dù chỉ một mình hay với người khác…”

Hơn bốn mươi năm đã qua, bao tao loạn, thăng trầm, chiến tranh liên miên, rồi lấy chồng, sang Mỹ… vậy mà Dao Ánh vẫn cất giữ nguyên vẹn những bức thư tình, những chiếc phong bì, kể cả từng chiếc lá dã quỳ anh ép trong thư, cả những giọt nến anh đốt lên để viết tên chị… Nhưng có một điều ít ai biết, là lúc đó Ngô Vũ Dao Ánh, em gái của Ngô Vũ Bích Diễm (nhân vật của Diễm xưa), chỉ mới… mười lăm tuổi.

Không ít người thắc mắc tại sao đến giờ này, Dao Ánh mới chịu công bố những bức thư tình. Chính chị đã phải trải qua những ngày dài đắn đo, nên mười năm sau ngày mất của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, chúng ta mới được chiêm ngưỡng nó. Trong thư gửi Trịnh Vĩnh Trinh, em gái Trịnh Công Sơn, Dao Ánh viết: “Hãy nghĩ về anh Sơn không phải chỉ để dành riêng cho một con người, một gia đình, một thành phần cụ thể nào cả… Dù cho mình có yêu thương anh Sơn thế nào đi nữa thì anh đã là một vĩ nhân rồi, và theo hướng nhìn đó anh đã là của tất cả mọi người. Dao Ánh đã tập nghĩ cho mình như thế, để có thể giao phó tập thơ này cho gia đình xuất bản, như một món quà để lại cho thế hệ đời sau và văn chương Việt Nam…”

Nhà thơ Nguyễn Duy, người được gia đình Trịnh Công Sơn tin cậy giao phó việc biên tập và xuất bản tác phẩm Thư tình gửi một người, thổ lộ: “Đọc hết ba trăm hai mươi bức thư tình, tôi gần như choáng váng. Cảm ơn những người tình như Dao Ánh đã biết gìn giữ tình yêu của anh Sơn trong bốn mươi sáu năm qua, tức là gần nửa thế kỷ. Dao Ánh vừa là một tình yêu rất cụ thể, đồng thời là một tình yêu biểu tượng. Một tình yêu cụ thể đã chấm dứt, nhưng biểu tượng tình yêu thì bất tử với thời gian…”

dao anh

Dao Ánh – Một thời để nhớ – Kỳ 1: “Người yêu lạ lùng nhất” của Trịnh

05/04/2011 1:18

Sau khi loạt bài Công bố hàng trăm bức thư tình của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đăng trên Thanh Niên, nhiều bạn đọc rất muốn biết thêm về Ngô Vũ Dao Ánh. Ca sĩ Trịnh Vĩnh Trinh, em gái út của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, kể rằng nhà của Dao Ánh nằm gần nhà của Trịnh Công Sơn – chỉ cách một cây cầu nhỏ Phú Cam – nên hằng ngày Dao Ánh đi học thường ngang qua đó…

Trịnh Công Sơn nhắc đến trong một hồi ức: “Thuở ấy có một người con gái rất mong manh, đi qua những hàng long não lá li ti xanh mướt để đến trường Đại học Văn khoa ở Huế. Nhiều ngày, nhiều tháng của thuở ấy, người con gái ấy vẫn đi… Có rất nhiều mùa nắng và mùa mưa theo qua. Những mùa nắng ve râm ran mở ra khúc hát mùa hè trong lá. Mùa xuân mưa Huế, người con gái ấy đi qua nhòa nhạt trong mưa… Từ ban công nhà tôi nhìn xuống, cái bóng dáng ấy đi đi về về mỗi ngày bốn bận (…) Đi để được ngắm nhìn, để cảm thấy âm thầm trong lòng mình là một nhan sắc”.

Trịnh Công Sơn nhớ về “những con người lớn lên trong thành phố nhỏ nhắn đó đã dệt gấm thêu hoa những giấc mơ, giấc mộng của mình”. Đó là cố đô Huế với “mỗi sáng tinh mơ, mỗi chiều, mỗi tối, tiếng chuông Linh Mụ vang xa trong không gian, chuyến đi trên dòng sông để đến với từng căn nhà khép hờ hay đang đóng kín cửa. Thời gian trôi đi ở nơi đây lặng lẽ quá. Lặng lẽ đến độ người không còn cảm giác về thời gian. Một thứ thời gian không bóng hình, không màu sắc. Chỉ có cái chết của những người già, vào mùa đông giá rét, mới làm sực tỉnh và bỗng chốc nhận ra tiếng nói thì thầm của lăng miếu, bia mộ ở những vùng đồi núi chung quanh. Trong không gian tĩnh mịch và mơ màng đó, thêm chìm đắm vào một khí hậu loáng thoáng liêu trai, người con gái ấy vẫn đi qua đều đặn mỗi ngày dưới hai hàng cây long não để đến trường. Đi đến trường mà đôi lúc dường như đến một nơi vô định. Định hướng mà không định hướng bởi vì những bước chân ngày nào ấy dường như đang phiêu bồng trên một đám mây hoan lạc của giấc mơ. Người con gái ấy đã đi qua một cây cầu bắc qua một dòng sông, qua những hàng long não, qua những mùa mưa nắng khắc nghiệt, để cuối cùng đến một nơi hò hẹn.

Hò hẹn nhưng không hứa hẹn một điều gì. Bởi vì trong không gian liêu trai ấy hứa hẹn chỉ là một điều hoang đường. Giấc mơ liêu trai nào cũng sẽ không có thực và sẽ biến mất đi. Người con gái đi qua những hàng cây long não bây giờ đã ở một nơi xa, đã có một đời sống khác. Tất cả chỉ còn là kỷ niệm. Kỷ niệm nào cũng đáng nhớ nhưng cứ phải quên. Người con gái ấy là Diễm của những ngày xưa”.

Câu cuối của hồi ức đúng là viết về Diễm. Nhưng từ câu cuối ấy ngược lên đến câu đầu tiên đều có thể ứng với trường hợp của Dao Ánh – em gái ruột của Diễm – những năm tiếp sau đó. Nghĩa là “người con gái ấy” trước kia là Diễm – nay đã là Dao – Ánh – hóa – thân. Dao Ánh sinh ngày 24.5.1948, người gốc Bắc, lớn lên tại Huế, trong một gia đình gia giáo. Cũng như Trịnh Công Sơn, Dao Ánh giỏi tiếng Pháp, cha là giáo sư dạy tiếng Pháp, đọc tiểu thuyết của André Gide, André Maurois, thơ Jacques Prévert, Apollinaire từ nguyên bản, năm 17 tuổi chép gửi Trịnh Công Sơn mấy câu trong một nhạc phẩm lời Pháp do Richard Anthony hát: “J’attendrai l’orage et la pluie pour pleurer. Je t’aime encore mais tu dois ignorer le chagrin de ma vie. Et j’irai pleurer sous la pluie” (Em sẽ đợi giông tố và gió mưa về để khóc. Em mãi yêu anh nhưng anh chẳng màng gì tới nỗi buồn của em. Và em sẽ khóc dưới mưa đây). Trịnh Công Sơn đã trích một câu trong đoạn cuối cuốn Porte étroite (Khung cửa hẹp) của André Gide gửi đáp Dao Ánh: Et que la vie peut souffler dessus chaque jour sans l’éteindre (ngày ngày ngọn gió đời vẫn thổi nhưng chưa bao giờ thổi tắt được tình yêu).

Ngôi nhà của Dao Ánh được Trịnh Công Sơn nhắc đến với những lùm nhãn mùa hạ che mắt đường về, với hàng cây mùa đông đứng lặng bên sông vắng, trông gợi cảm vô cùng. Từ nhà Trịnh Công Sơn nằm ở số 3/11 Nguyễn Trường Tộ, bên này cầu Phú Cam nhìn sang bên kia cầu chỗ có nhà Dao Ánh buổi chiều không thể không nhớ những bụi dạ lan trồng ở đó. Dạ lan thơm lắm, nhất là vào ban đêm, tỏa từ nhà Dao Ánh đến cả trong… giấc mộng của Trịnh Công Sơn ở Blao, Đà Lạt, Dran, Sài Gòn, Đà Nẵng về sau nữa. Trịnh Công Sơn nói Dao Ánh là “người yêu lạ lùng nhất” của mình. Năm Dao Ánh 19 tuổi, Trịnh Công Sơn nói với Ánh: “Yêu nhau đã có một compromis (ước hẹn) và không có một ước hẹn nào đáng giá hơn như thế”. Dao Ánh cũng biết điều ấy. Cũng lãng mạn, song rất kín đáo. Những đêm khuya Huế lạnh, Dao Ánh thắp đèn sáp trắng một mình ngồi viết thư và nhớ Trịnh Công Sơn, hái và ép những chiếc lá dạ lan còn ướt sương vào giữa trang thư gửi đến. Có hôm nhìn màu hoa sắp tàn, nhìn màu nắng chiều phai, Dao Ánh đã viết nhắn Trịnh Công Sơn: “Ôi màu mắt rồi có ngày cũng đổi màu như thế”.

Lãng mạn vậy, nên Trịnh Công Sơn nghĩ “biết đâu Ánh không sinh ra và lớn lên từ một loài hoa nào đó”. Năm 1966, Dao Ánh vào Sài Gòn học ở cư xá Thanh Quan số 232 bis/C Hiền Vương, bỏ lại con đường có vòm long não, cây cầu nhỏ, với con sông lững lờ và một khoảng trời cô quạnh.

Có lần Trịnh Công Sơn nói với Dao Ánh “con người sinh ra để gọi tên nhau”. Và ông đã gọi tên “Diễm” trước đó, rồi “gọi mãi tên Ánh” trong những ngày nắng thủy tinh

Chị Ngô Vũ Bích Diễm và Ngô Vũ Dao Ánh người gốc Hà Nội, lớn lên ở Huế, đi vào tình khúc như Trịnh Công Sơn (TCS) kể: “Có một mùa hạ năm ấy tôi bị một cơn sốt nặng, nhiệt độ trong người và bên ngoài bằng nhau. Tôi nằm sốt mê man trên giường không còn biết gì. Và bỗng có một lúc nào đó tôi cảm thấy có một hương thơm phủ ngập cả căn phòng và tôi chìm đắm vào một giấc mơ như một cơn mê sảng. Tôi thấy mình lạc vào một rừng hoa trắng thơm ngào ngạt, bay bổng trong không gian đó. Đến lúc tỉnh dậy người ướt đẫm mồ hôi và tôi nhìn thấy bên cạnh giường có một người con gái nào đó đã đến cắm một bó hoa dạ lý hương trắng rất lớn. Chính cái mùi thơm của dạ lý hương đã đưa tôi vào giấc mơ kia. Giấc mơ trong một mùa hạ nóng bức. Trong vùng tôi ở, quanh đó chỉ có một nhà duy nhất trồng dạ lý hương nên tôi biết ngay người mang hoa đến là ai. Sau một tuần lễ, tôi hết bệnh. Nghe tin bố người bạn đang hấp hối tôi vội vàng đến thăm. Ông chẳng có bệnh gì ngoài bệnh nhớ thương và buồn rầu. Câu chuyện rất đơn giản. Hai ông bà đã lớn tuổi thường nằm chung trên một sập gụ xưa. Cứ mỗi sáng bà cụ thức dậy sớm và xuống bếp nấu nước sôi để pha trà cho ông cụ uống. Một buổi sáng nọ, cũng theo lệ thường, bà cụ xuống bếp bị gió ngã xuống bất tỉnh và chết. Mấy người con ở gần đó tình cờ phát hiện ra và đưa bà cụ về nhà một người để tẩm liệm. Sau đó chôn cất và giấu ông cụ. Khi ông cụ thức dậy hỏi con, mẹ các con đi đâu rồi, thì họ trả lời là mẹ sang nhà chúng con để chăm sóc mấy cháu vì chúng bị bệnh. Vài ngày sau vẫn chưa thấy bà về ông mới trầm ngâm hỏi các con có phải mẹ các con đã chết rồi không. Lúc ấy mọi người mới khóc òa lên. Từ đó ông nằm trên sập gụ một mình, cơm không ăn, trà không uống cho đến lúc kiệt sức và đi theo bà cụ luôn. Câu chuyện này ám ảnh tôi một thời gian. Và sau đó tôi kết hợp giấc mơ hoa trắng mùa hạ với mối tình già keo sơn này như “Áo xưa dù nhầu cũng xin bạc đầu gọi mãi tên nhau” để viết nên bài Hạ trắng”.

Như ca sĩ Trịnh Vĩnh Trinh kể, người mang bó hoa dạ lý hương đến bên giường bệnh TCS trưa ấy là Diễm. Như vậy bài Hạ trắng là bài TCS viết về cuộc chia tay mà chúng tôi gọi là bài Xin trả nợ người lần thứ nhất (cho Diễm). Còn bài Xin trả nợ người lần thứ hai (cho Dao Ánh) sẽ nói sau. Hồi ức trích dẫn trên do TCS đưa in trên tạp chí Thế giới Âm nhạc gần như liền mạch trong hai số tháng 3 và tháng 5.1997. Đến tháng 8 năm ấy, một người mà TCS quý trọng qua đời tại Sài Gòn: GS Đỗ Long Vân.

Không ít lần TCS đã kể với Dao Ánh về Đỗ Long Vân những ngày gặp gỡ Dran, Blao, Đà Lạt và Sài Gòn. Đỗ Long Vân dạy ở Đại học Huế, là tác giả của bản văn “lạ và đẹp như mơ” – theo cách nói của Nguyễn Quốc Trụ. Đó là: Vô Kỵ giữa chúng ta. Trong bản văn đó, cạnh những phân tích nền tảng về tiểu thuyết Kim Dung qua cơ cấu luận, Đỗ Long Vân đã dành những dòng viết về chữ “tình” mà TCS rất tâm đắc như sau: “nhân vật nào trong Kim Dung lại không đa sầu, đa cảm, đa tình? Người ta chỉ cần nhớ đến sự thủy chung của Hoàng Dược Sư với người vợ sớm qua đời, và tiếng sáo của ông trên nước biếc, khi một mình một chiếc thuyền, ông đi khắp bốn bể tìm con. Cái tình là tiếng nói của cái phần sâu xa nhất trong mỗi con người (…). Không thể tưởng tượng được chẳng hạn một cuộc yêu đương giữa người của Tà môn và của Chính giáo (…). Dĩ nhiên phải kể đến tất cả những sắc thái của tình yêu: tri kỷ như giữa Hoàng Dung và Quách A Tỷ.

Có những mối tình trưởng thành trong sự chia sẻ những nguy hiểm và gian khổ chung và những mối tình, như của Hân Ly với Vô Kỵ kết tinh từ một kỷ niệm nhỏ thuở thiếu thời. Lại có những mối tình sét đánh, như Đoàn Dự vừa trông thấy Vương Ngọc Yến là tưởng như những nhan sắc khác đều bị xóa nhòa. Những người yêu thì có kẻ đào hoa như Đoàn Chính Thuần, ngây thơ như Hân Ly, đau khổ như Chu Chỉ Nhược, dịu dàng như A Chu, nhưng người nào cũng yêu đắm đuối như đã gặp trong người mình yêu một cái gì không thể gặp được lần thứ hai ở trên đời. Cho nên A Chu có chết đi nhưng ảnh tượng nàng vẫn còn thao thức mãi trong lòng Kiều Phong. Hai tâm hồn gặp nhau, tương đắc, giao hội và không có gì có thể chia rẽ họ. Trương Thúy Sơn, Kỷ Hiểu Phù, A Chu nhận cái chết để khỏi phải lên án người yêu của họ (…). Tình yêu không kể tới đạo lý. Nó không thể giải thích được. Ai biết đâu sự sa đọa của Dương Khang là cái đã cám dỗ Mục Niệm Từ, cái ngây thơ của Quách Tĩnh là cái cám dỗ Hoàng Dung, sự lơ đãng của Mộ Dung Phục là cái cám dỗ Vương Ngọc Yến? Tham vọng có thể dẫn đến tuyệt vọng. Nhưng tình yêu là cái đam mê duy nhất trong Kim Dung không bao giờ biết đến sự ăn năn. Cái tên Bất Hối mà Kỷ Hiểu Phù đã đặt cho đứa con hoang của mình có lẽ đã đánh dấu trang sử diễm lệ nhất của võ lâm và có lẽ Mộ Dung Phục sẽ bị trừng phạt đến hóa điên, không phải vì tham vọng của chàng quá lớn mà tại vì chàng là nhân vật rất hiếm của Kim Dung đã không biết thế nào là tình yêu. Sự giá trị hóa cái Tình trong Kim Dung, tuy nhiên, chỉ là tỉ dụ điển hình nhất của sự giá trị hóa đời sống tâm hồn”. TCS kể Dao Ánh nghe những ngày gặp Đỗ Long Vân (và họa sĩ Đinh Cường) ở một căn nhà trên Đà Lạt: “Anh Đỗ Long Vân từ dạo sau này ở Huế rồi lên đây vẫn còn miên man rơi vào những ưu tư không dứt. Anh ngồi hàng giờ đọc sách, rồi trầm ngâm rồi nói lẩm nhẩm một mình, rồi cười bâng quơ như một người đã vắng mặt trên hiện tại này”, song người vắng mặt đó vẫn có mặt, có tên giữa những ngày TCS và Dao Ánh đi về trong cõi mưa hồng..


Kỳ tới- Khánh Ly: khuôn mặt không thể thiếu của TCS

Thưa quý độc giả

Định viết tiếp về bài ” Khánh Ly: Khuôn mặt không thể thiếu của TCS ”, tôi tình cờ đọc được nguốn tin Khánh Ly sẽ về VIỆT NAM hát. Điều này khiến cho tôi mất cả hứng thú để viết. Xin cáo lỗi cùng quý vị. Tôi sẽ trở lại mục Giai Nhân trong Thơ Nhạc với một bài viết mang tên ” Nghe nhạc với nỗi buốn ”. 

Từ Ngày xưa Hoàng Thị… tới… Đưa em tìm động hoa vàng…

Võ Phiến – Phạm Thiên Thư

at 6/03/2012 12:29:00 PM
Nguyễn Du có Đoạn trường tân thanh, ông có Đoạn trường vô thanh;  Nguyễn Du có thơ Chiêu hồn, ông cũng có Chiêu hồn ca. Mặt khác, Phật có kinh Kim Cương, kinh Hiền Ngu, ông cũng phỏng soạn Kinh NgọcKinh HiềnKinh Thơ v.v… Rồi sau tháng 5-1975 nghe nói có một độ ông toan vung bút làm sáng tỏ cách mạng giải phóng. Đời ông từng bị thu hút ngược xuôi nhiều hướng. Nhưng Phạm Thiên Thư làm văn nô không thành văn nô, làm sư cũng không hẳn ra sư. Con vạc bờ kinh nó ghẹo ông:

“Hỏi con vạc đậu bờ kinh

Cớ sao lận đận cái hình không hư

Vạc rằng: Thưa bác Thiên Thư

Mặc chi cái áo thiền sư ỡm ờ.”

(Động hoa vàng)

Phạm Thiên Thư chỉ đóng trọn vai tuồng xuất sắc khi ông trở về với chính mình, tức một tu sĩ đa tình. Và trong vai tuồng ấy ông thật tuyệt vời, đáng yêu hết sức.

Thử tưởng tượng: Nếu Phạm Thiên Thư sớm tối miệt mài kinh kệ, một bước không ra khỏi cổng chùa, không biết tới chuyện hẹn hò, không hề lẽo đẽo đưa em này đi rước em nọ về v.v… thì nền thi ca của chúng ta thiệt thòi biết bao. Lại thử tưởng tượng Phạm Thiên Thư quanh năm suốt tháng chỉ những em này em nọ dập dìu, nhớ thương ra rít, mà không màng tới kinh Hiền kinh Ngọc, không biết chuông biết mõ gì ráo, thì trong kho thi ca tình ái của ta cũng mất hẳn đi một sắc thái đặc biệt chứ.

Cho nên ông cứ ỡm ờ thế lại hay. Có tu mà cũng có tình. Cái tình của một người tu nó khác cái tình của người không tu, nó có nét đẹp riêng. Thật thế, khi yêu đương có lần ông kêu than vì một dáng hình mất hút:

“dáng em nho nhỏ

trong cõi xa vời”

(‘Ngày xưa Hoàng thị…’)

“Dáng em nho nhỏ” là hình ảnh quen thuộc của phần đông các cô gái trong thơ ca, là chỗ gặp gỡ chung của mọi thi nhân đa cảm. Nhưng “trong cõi xa vời” là khung cảnh riêng của Phạm Thiên Thư, là cái không khí yêu đương riêng biệt của ông. Tu sĩ đa tình, ông làm cho thế giới yêu đương phong phú hẳn lên.

Xưa nay có ai mê gái mà kêu “tình ơi tình ơi”? Họa chăng chỉ có Phạm đại đức. Ông thù thì thủ thỉ, ông kêu khe khẽ những lời ân tình tha thiết không chịu được. Tình yêu của ông thật tội nghiệp. Không phải nó tội nghiệp nó đáng thương vì ông bị hất hủi, bị bạc tình, bội phản, vì ông gặp cảnh tuyệt vọng v.v… Không phải thế. Tội nghiệp là vì bên cạnh các mối tình vời vợi của ông lúc nào cũng thấp thoáng cái ám ảnh của kiếp sống mong manh, của cuộc thế vô thường, của cảnh đời hư ảo. “Dáng em nho nhỏ” cứ như lúc nào cũng chập chờn “trong cõi xa vời”, đáng thương là thế.

Nhớ thuở nào lá vàng rơi trên áo người yêu phơi trước gió thu, bây giờ người yêu không còn nữa:

“nay áo đã cuốn về thiên cổ

lá vàng bay lạnh nỗi niềm không.”

(‘Áo thu’)

Nhớ thuở nào người yêu đan áo tặng mình, áo chưa đan xong thì bỗng:

“rồi bỏ đó em vào thiên cổ

anh một đời ngóng áo thiên thanh.”

(‘Đan áo’)

Trong trường hợp tình nhân mất tình nhân, kẻ khác vật vã đau đớn, thì Phạm Thiên Thư lặng đi trước Không Hư. Ở đây không chỉ mất đi một người tình, một mối tình; ở đây là tan biến hết thảy, sự tan biến nó làm cho ta không buồn vật vã nữa mà thấy hụt hẫng, ngẩn ngơ.

Vả lại không phải chờ đến một cái chết mới đối diện Hư Vô, ngay cả khi đôi trẻ hãy còn đủ trên đời ông vẫn ý thức rõ ràng cái nhỏ bé chơi vơi của tình yêu:

“Cõi người có bao nhiêu

Mà tình sầu vô lượng

Còn chi trong giả tướng

Hay một vết chim bay.”

Đáng thương biết mấy cái cảnh:

“Anh một mình gọi nhỏ

Chim ơi biết đâu tìm.”

(‘Vết chim bay’)

Không phải chỉ thương vì tìm chim biền biệt vốn khó; chính thương nhất là vì tình sầu vô lượng chẳng qua chỉ như một vết chim bay mà thôi. Ngay khi nói chuyện yêu đương đã nghe “lạnh nỗi niềm không”! Cái biệt sắc của tu sĩ đa tình nó hay là thế.

Vừa rồi trót buột ra mấy chữ “ân tình”, “tha thiết”, có thể gây sự hiểu lầm. Nói thế không phải có ý bảo ông Phạm có tài tán tỉnh giỏi giang hay ho. Ông không sở trường về khoa ấy. Tóm tắt, có lẽ ông không sở trường về khoa ái tình nào cả: nói năng, tí toáy, mánh lới quyến rũ mê hoặc v.v… đều không. Trông ông lành lắm, cổ điển lắm. Ông không có phát kiến nào trong lãnh vực yêu đương. Xuất hiện trước ông một thập niên kỷ, Nguyên Sa tỏ ra “mới mẻ” hơn nhiều: từ lời ăn tiếng nói khóe mắt đầu mày cho tới hoạt động tay chân bên cạnh người yêu đều linh hoạt tân kỳ.

Còn người tình lớp trẻ, lớp đàn em, là Phạm Thiên Thư lại hiền khô. Trong mối tình nổi tiếng nhất người ấy chỉ lẽo đẽo “gót giày thầm lặng” đi theo sau người yêu vậy thôi, trong bụng cũng muốn “tìm lời mở nói” nhưng mà cứ ngập ngừng cứ ngại ngần hoài. Mãi mới dám “trao vội chùm hoa”, thế rồi là… hết!

“trao vội chùm hoa

ép vào cuối vở.”

(‘Ngày xưa Hoàng thị…’)

là tuyệt đích cuối cùng. Rồi trong những mối tình đậm đà táo bạo sau này cũng chỉ đến chỗ “dan díu bàn tay” mà thôi.

Đã có ai bắt gặp cái hôn nào trong tình yêu của Phạm Thiên Thư chưa nhỉ. Ái tình ở đây cơ hồ không nhằm mưu cầu hạnh phúc. Yêu nhau như thể không vì hoan lạc mà chỉ để cùng thấm thía cái tính cách bọt bèo của kiếp người. Ái tình không đưa tới hạnh phúc, cũng không đưa tới những quằn quại, ghen tuông, khổ đau, sầu não v.v… Nó chỉ đưa tới sự ngẩn ngơ. Ngẩn ngơ trước mênh mông, vắng lặng. Trước Phạm Thiên Thư lâu rồi, vào thời kỳ văn học lãng mạn, nghĩa là thời kỳ của tình cảm dạt dào cao khiết, khi yêu đương Xuân Diệu liền bám sát: “sát đôi đầu, kề đôi ngực, trộn nhau đôi mái tóc ngắn dài”, rồi “quấn riết đôi vai”, rồi “gắn chặt đôi môi” v.v… Vậy mà ông cứ kêu “Thế vẫn còn xa lắm”. Trong tiếng thơ tưởng nghe được cả hơi thở hổn hển. Nhà thơ cắn vào món ăn trần gian (nourriture terrestre), cắn mạnh dữ đa!

Sau này về già, Xuân Diệu trầm tư chín chắn, vẫn giữ một lập trường về thân xác:

“Không nền, sao dựng lầu thơ?

Không thân thể, chỉ bâng quơ cái hồn.”

(‘Thân em’)

Về già, Vũ Hoàng Chương gặp lại giai nhân trong giấc mơ cũng nằn nì:

“Em nhé!…, chiều anh, gần chút nữa

Cho anh tìm thấy chính em xưa.”

Khi em đã gần và anh đã tìm thấy, anh liền lính quýnh:

“Ớ, Chính em mà! Tất cả em

Đã về… Ôi trận gió nào đem!”

(‘Giấc mơ tái tạo’)

Tất cả em, tức là đủ cả nền thơ lẫn lầu thơ đấy, tức là không bâng quơ đâu. Các lão thi nhân không chịu cái bâng quơ nhé, ngay cả trong giấc mơ.

Nhưng trước nữa, trước xa, cách chúng ta hơn nghìn năm, ngót mười hai thế kỷ, tại quê hương đức Khổng, thì một vị tiến sĩ phong nhã như ông Bạch Cư Dị coi kỹ cũng khiếp lắm, không sao? Lúc thất thế sa cơ ông tư mã Giang Châu mặc áo xanh đêm khuya nghe đàn vẫn cốt cách ra gì, còn khi đắc ý ông làm thượng thư tại triều thì áo mũ cân đai, đường đường chính chính, uy nghi biết mấy. Vua trên trông xuống, muôn dân trông vào. Thế mà nói đến gái họ Dương, ông không ngại nói luôn tới cái lúc người ta đang tắm rửa kỳ cọ:

“Xuân hàn tứ dục Hoa Thanh trì

Ôn tuyền thủy hoạt tẩy ngưng chi”

Ông nói đến cả chuyện da thịt người ta trắng thế này thế nọ. Đứa xấu nết đọc tới dám bấn lên lắm.

Những bậc đàn anh, những bậc tiền bối và cổ tiền bối ấy, giá họ có dịp xem qua thơ tình của chàng thanh niên thời nguyên tử, thời hiện sinh, cái thời từng bị vu là sa đọa! Thơ tình của chàng là thứ thơ tình không có nụ hôn. Người tình của chàng là thứ người tình không da thịt. Đố thiên hạ tìm ra trong thơ chàng một nụ hôn, tìm ra những cặp môi mọng như quả nho, gò má ửng hồng như trái đào, những sóng mắt đắm đuối, ngực tròn phập phồng v.v…, đố như thế là đố khó quá. Thường thường chỉ có nón bài thơ, có hoa cài đầu, có áo hồng áo xanh v.v… Kẻ hăm hở xông tới cũng có thể bắt gặp môi, tóc và một bàn tay chẳng hạn. Bàn tay (cái phần rất ít thân xác trong thân xác), bàn tay vậy thôi, cũng như tóc như tai vậy thôi. Không mọng đỏ, không no tròn, không phập phồng, không đắm đuối, không long lanh v.v… Ồ, những chữ nghĩa ấy hàm ý thưởng thức, cái ý quá sỗ sàng đối với chàng. Thành thử em Ngọ, em Tí, gái gác chuông, gái giàn hoa, gái lều thơ, gái chong đèn v.v…, tất cả chỉ là một cái tên hay một bóng dáng. Tuyệt nhiên không thịt da. A! Gái nguyên tử này với trai hiện sinh nọ, xứng chưa!

Thân xác ư? Chẳng qua những tấm thân mảnh dẻ, mong manh, như liễu, như tơ, như sương. Những thân xác như thế không chịu được sự cận kề. Gái như thế họ chập chờn xa xa , họ ở chỗ “xa vời”, họ thường mất hút hoặc trong quá khứ, trong thời gian mịt mù, hoặc trong không gian diệu vợi, hoặc trong hư vô, trong “niềm không” buốt lạnh…

Mới vừa rồi lại trót nói Phạm Thiên Thư không xuất sắc về kỹ thuật ái tình nào, nói ái tình ở đây không có hôn hít, người tình ở đây không có xác thân háo hức v.v…, nói vậy lại e có sự hiểu lầm khác nữa. Như vậy hoặc có thiếu nữ nào đó ngờ rằng Phạm lang có phần lạnh nhạt hờ hững chăng? Không đâu. Trái lại. Con chim con thú không lời nói, chúng vẫn có linh tính để phân biệt kẻ dữ người lành, để biết rõ ai là kẻ thương yêu nó. Người tình họ Phạm không tỏ ra bạo dạn nồng nàn, nhưng nghe giọng thủ thỉ của ông chúng ta tin ngay là ông yêu đương chân thành. Chân thành chắc chắn không kém lòng ông mến đạo. Những mối tình chay tịnh của ông chẳng những là tình chân thành lại còn là tình tha thiết. Mà tình càng tha thiết thì cái chới với của nó trong kiếp phù du chỉ càng thấm thía.

Ðáp lời tạp chí Bách Khoa trong một cuộc phỏng vấn, Phạm Thiên Thư bảo ông cần có ba thứ trợ hứng cần thiết: thiên nhiên, sự yên lặng, và những quán cà-phê (Bách Khoa, số ra ngày 18-5-1974). Một cách thức trợ hứng vất vả: thiên nhiên phải đi với các quán cà-phê, sự yên lặng cũng phải đi đôi với các quán cà-phê, không khó khăn quá sao?

Nhưng khi đã có đủ ba trợ hứng cần thiết rồi thì ta thấy nhà thơ tha hồ phóng bút làm thơ liên hồi về ba (lại ba) đề tài: tôn giáo, tình yêu, thiên nhiên. Đó là những đề tài chính yếu của thơ Phạm Thiên Thư. Đáng tiếc, tôi không có sự hiểu biết để nói về tôn giáo. Đáng tiếc hết sức, vì nó rất là quan trọng. Tôn giáo tỏa ảnh hưởng lên tình yêu, lên thiên nhiên, trong thơ Phạm Thiên Thư. Tôn giáo tạo cho thi sĩ một phong cách yêu đương riêng, và một phong cách riêng trước thiên nhiên.

Nếu khi tôn giáo cặp với ái tình nó có làm cho người đời ngỡ ngàng đôi chút, thì khi tôn giáo đi với thiên nhiên, cái thế hòa hợp thật là thoải mái. Mà chắc chắn trong trường hợp này chính Phạm Thiên Thư cũng thấy thoải mái nữa. Cho nên ông nói đến cái sức trợ hứng của thiên nhiên mà không đề cập đến sức trợ hứng của ái tình, mặc dầu sức ấy đâu phải không đáng kể.

Thiên nhiên trong thơ họ Phạm thật đẹp. Khi sảng khoái nhà thơ lên nương, và:

“Cắp theo cái nậm khô bầu

Ta ra múc nước bên cầu suối xanh

Vào bầu mây cũng xô nhanh

Ngẩn ngơ cảm thấy không đành bước đi.”

(‘Nhớ trang trại hồng’)

Khi ngậm ngùi, ông trông ra một cảnh chợ xưa:

“Đêm đêm bầy đóm xanh từng chiếc

Tụ giữa nền hoang nhóm lửa sầu.”

(‘Đom đóm’)

Trang trại hồng đẹp mà động hoa vàng cũng đẹp, mây chảy vào bầu đẹp mà đom đóm tụ về nền chợ cũ cũng lại đẹp nữa. Có con mắt nhìn ra cảnh đẹp đã quí, mắt Phạm Thiên Thư trông cảnh chẳng những thấy đẹp lại còn thấy ra đạo. Thế rồi trong cảnh chẳng những “trông” thấy đạo, ông lại “nghe” thấy đạo. Ngày thì:

“Trang kinh mây nổi trước hiên nhà.”

(‘Kinh mây’)

Tối đến lại:

“Đêm nghe lau lách thầm thì

Họp nhau từng khúc kinh gì nửa khuya.”

(‘Nhớ trang trại hồng’)

Nhưng cứ đi nhặt nhạnh chỗ này chỗ kia những câu nói về kinh kệ, về tiếng chuông tiếng mõ v.v… để cho rằng thiên nhiên trong thơ ông nhuốm mùi đạo thì dễ dãi quá. Những câu những chữ như thế chỉ là cái để phô ra; ông Phạm không cần phô ra: đạo nó đã thấm vào tâm hồn ông, nhập vào từng cảnh vật thiên nhiên quanh ông. Tôi đã gặp ở ông những bài ngũ ngôn tứ tuyệt cực hay, kể chuyện tang thương dâu bể chuyện nghìn đời đau thương, trong những khung cảnh hoang phế điêu tàn, mà lời lẽ vắn tắt, ý tình kín đáo, không hề quá độ bi thảm. Tôi cũng gặp ở ông những buổi mai sáng lạn diễn bằng lời nhẹ nhàng khoan thai. Ở đây niềm vui không cuống quít, nỗi buồn không não nề.

Giữa một thời ác liệt đầy âm thanh và cuồng nộ, ông giữ được quân bình an lạc trong tâm hồn: Do đạo đấy chăng? Như thế hà tất dõi theo tiếng chuông tiếng mõ trong thơ ông làm chi.

Thành thử Phạm Thiên Thư có tu lại có tình, nhưng không phải tí ti l’amour tí ti la foi. Không phải thế. Ở đây tình yêu thì tha thiết, niềm tin thì chí thành. Không tí ti.

Phạm Thiên Thư xuất hiện muộn ngưng bút sớm, mà sự nghiệp thi ca của ông vẫn đồ sộ. Năm 1975, mới ba mươi lăm tuổi ông đã có ngót chục vạn câu thơ. Phong phú là một đặc điểm của thế hệ văn nghệ sĩ bấy giờ. Riêng ông Phạm, ông từng dùng đến những tiếng: vơi óc, ốm người, mửa máu v.v… để nói về sự cố gắng của mình (Tạp chí Bách Khoa, số vừa dẫn); tuy nhiên người ta thấy có những trường hợp không có lý do để cố gắng ông vẫn làm thơ rất nhiều rất nhanh. Cuốn Kinh Hiền mười hai nghìn câu ông viết trong một năm rưỡi: việc đạo phải nỗ toàn lực nên thế. Còn cuốn Quyên từ độ bỏ thôn đoài gồm 111 bài thơ ông cũng chỉ làm xong trong vòng hăm ba ngày. Mỗi ngày năm bài thơ, đều đều. Lý do gì vậy?

Không ai đi trách một người… làm quá nhiều thơ. Duy không biết có phải cái lượng đã hại cái phẩm chăng. Vì trong cái lượng đồ sộ nọ số dở khá nhiều. Trong lắm bài có những câu thật hay lạc vào giữa các câu dở làm ta tiếc ngẩn tiếc ngơ.

Võ Phiến 11 – 1986

Ngày xưa Hoàng Thị- Thơ Phạm Thiên Thư- nhạc Phạm Duy- Thái Thanh hát


Những bóng hồng trong thơ nhạc: Ngày xưa Hoàng Thị…

05/06/2011 23:02

Đầu thập niên 70 của thế kỷ trước, ca khúc Ngày xưa Hoàng Thị (thơ Phạm Thiên Thư, Phạm Duy phổ nhạc) đã từng gây xôn xao trong đời sống âm nhạc miền Nam. Cả thơ lẫn nhạc đều rất tuyệt vời…

Từ tiếng hát cao vút của Thái Thanh, những ca từ của Ngày xưa Hoàng Thị chấp chới đi vào hồn người: “Em tan trường về,  đường mưa nho nhỏ. Chim non lề đường, nằm im giấu mỏ. Anh theo Ngọ về, gót giày lặng lẽ đường quê…”. Phải nói rằng, dạo đó thơ Phạm Thiên Thư là hiện tượng, bởi sau thành công của Ngày xưa Hoàng Thị, nhạc sĩ Phạm Duy phổ thêm liên tiếp những ca khúc từ thơ Phạm Thiên Thư: Đưa em tìm động hoa vàng, Em lễ chùa này, Gọi em là đóa hoa sầu… Người ta đua nhau tìm đọc thơ Phạm Thiên Thư – một tu sĩ Phật giáo – bởi hơi hướm thơ vừa nhuốm mùi thiền vừa vương tình trần. Thơ lục bát của Phạm Thiên Thư quá hay mà thơ 4 chữ (như bài Ngày xưa Hoàng Thị) lại cũng tuyệt… Chẳng thế mà tập thơ Đoạn trường vô thanh (hậu Kiều) của ông được trao Giải nhất văn chương – thể loại trường ca (Sài Gòn – năm 1973)… Rồi người ta đoán già, đoán non cô Hoàng Thị Ngọ là ai mà có sức hấp dẫn đến thế, khiến cho người thơ đã nương cửa Phật vẫn phải vướng mùi tục lụy?

cap-doia

Bìa bản nhạc Ngày xưa Hoàng Thị và Chân dung Phạm Thiên Thư – Ảnh: H.Đ.N

“Anh tìm theo Ngọ…”

Phải đến 40 năm sau tôi mới có dịp diện kiến nhà thơ Phạm Thiên Thư, khác với những gì tôi mường tượng: tác giả Ngày xưa Hoàng Thị không mang dáng dấp thư sinh, nho nhã mà đẹp như một… “lão ngoan đồng”. Ông hiện là chủ quán cà phê Hoa Vàng ở cư xá Bắc Hải (Q.10, TP.HCM), tên quán chắc là để nhắc nhớ đến ca khúc Đưa em tìm động hoa vàng nổi tiếng một thời? Câu đầu tiên ông “chào” tôi là một câu lục bát: “Dễ gì được một vần thơ/Mà nghe nghiệp chướng, lại ngờ tiền oan”. Rồi ông kể về Ngọ: “Rất đơn giản, tôi tuổi Thìn (1940), còn cô ấy tuổi Ngọ (1942) cho nên được bố mẹ đặt luôn tên là Ngọ. Cách nhau 2 tuổi nhưng học cùng lớp đệ tam (lớp 10 bây giờ) ở trường Trung học Văn Lang (khu Tân Định). Ngọ có dáng người thanh mảnh với mái tóc dài thả ngang vai. Mỗi khi xếp hàng vào lớp, cô ấy đứng đầu hàng bên nữ, tôi đứng cuối hàng bên nam, tha hồ ngắm… Vào lớp, cô ấy ngồi bàn đầu, tôi bàn cuối. Ngọ học rất giỏi, còn tôi chỉ giỏi… đánh lộn (gia đình tôi vốn có truyền thống võ thuật). Có lần thầy giáo gọi tôi lên trả bài, tôi không thuộc nhưng thay vì lên tận bàn thầy giáo trên bục giảng, tôi chỉ đi đến ngang chỗ Ngọ ngồi thì dừng lại. Ngọ biết ý, mở cuốn tập ra cho tôi… liếc, đọc vanh vách!

Nhà tôi ở đường Trần Khát Chân, nhà Ngọ ở Trần Quang Khải, cũng cùng khu Tân Định nên đi về chung đường. Mỗi lần tan trường, cô ấy ôm cặp đi trước, tôi lẽo đẽo theo sau. Tóc Ngọ bay bay trên đôi vai gầy nhỏ nhắn. Có những hôm trời mưa lất phất, cô ấy đưa cặp lên che ngang đầu. Tôi thấy thương quá, muốn làm một cử chỉ gì đó như là để chở che nhưng… thở mạnh còn không dám, nói chi là…

Đậu tú tài xong tôi vào Đại học Vạn Hạnh”… “Tại sao ông lại trở thành tu sĩ Phật giáo?”. “À, như đã nói, gia đình tôi vốn có truyền thống con nhà võ, từng lập “Học hội Hồ Quý Ly” quy tụ cả trăm người, khiến chính quyền miền Nam lúc ấy nghi ngờ, phải giải tán. Năm 1964 tôi “trôi dạt” vào “ăn cơm chay” ở các chùa: Vạn Thọ (Q.1), Kỳ Quang, Bà Đầm (Q.Phú Nhuận), rồi Đại học Vạn Hạnh… Cho dù đã nương thân vào cửa chùa nhưng mỗi lần đi ngang qua con đường cũ, hình ảnh cô học trò ôm cặp, tóc dài bay bay trong gió vẫn thấp thoáng đâu đây… Và rồi những tứ thơ tràn về: “Em tan trường về/Đường mưa nho nhỏ/Chim non giấu mỏ/Dưới cội hoa vàng/Bước em thênh thang/Áo tà nguyệt bạch/Ôm nghiêng cặp sách/Vai nhỏ tóc dài… Em tan trường về/Cuối đường mây đỏ/Anh tìm theo Ngọ/Dáng lau lách buồn… Em tan trường về/Đường mưa nho nhỏ/Trao vội chùm hoa/Ép vào cuối vở/Thương ơi vạn thuở… Ôi mối tình đầu/Như đi trên cát/Bước nhẹ mà sâu… Mười năm rồi Ngọ/Tình cờ qua đây/Cây xưa vẫn gầy/Phơi nghiêng dáng đỏ/Áo em ngày nọ/Phai nhạt mấy màu/Chân theo tìm nhau/Còn là vang vọng… Dáng ai nho nhỏ/Trong cõi xa vời/Tình ơi… Tình ơi!”…

“Tại sao nhạc sĩ Phạm Duy biết thơ ông để phổ nhạc?”. “Là thế này, năm 1968, tôi có ra tập thơ đượm mùi thiền Phật giáo, in rất ít, chỉ để tặng bạn bè. Cụ Nguyễn Đức Quỳnh (nhà văn) đọc thấy thích mới giới thiệu với nhạc sĩ Phạm Duy, và nhạc sĩ đã phổ 10 bài đạo ca của tôi. Đó là cái duyên để đến năm 1971, nhạc sĩ Phạm Duy lại phổ nhạc bài Ngày xưa Hoàng Thị. Lạ một điều là bà xã tôi bây giờ lại rất giống Ngọ, có thể nói là một chín, một mười”.

Người viết tuy ngồi trong (động) Hoa Vàng nhưng tiếc ngẩn ngơ vì không được may mắn diện kiến nữ chủ nhân để ít ra cũng có thể hình dung được một nhan sắc thuở nào…

Hà Đình Nguyên

Phạm Thiên Thư – Người tu sĩ lãng mạn

( Bài viết đã đăng trên Tạp Chí Non Nước do Liên Hiệp các Hội Văn Học Nghệ Thuật Thành phố Đà Nẵng phát hành ngày 17/8/2012)

Sài Gòn có một quán café “Hoa vàng”, trước kia còn gọi là “Động hoa vàng”. Quán nằm ở Ngã Tư Bảy Hiền, trang nhã, tĩnh mịch và rất nên thơ. Khách thường là những người đứng tuổi. Ai vào, nếu dể ý một tí sẽ thấy một “lão nông” ngồi lặng lẽ ở góc nhà. Đó chính là thi sĩ Phạm Thiên Thư, tác giả của những bài thơ nổi tiếng được Phạm Duy phổ thành những tình khúc bất hủ.

Ngày xưa Hoàng Thị…

Ngay xua hoang thi 2 Ngay xua hoang thi 3

Mỗi khi căn phòng vang lên giai điệu mượt mà “Em tan trường về, đường mưa nho nhỏ, anh theo Ngọ về…”, ông lại nhắm mắt, ngồi bất động như một vị thiền sư, thả hồn về những dĩ vãng xa xưa…Ngày ấy, trên con đường trải nắng vàng, cậu học trò lặng lẽ theo sau cô gái tên Ngọ đi học về, nàng mặc áo dài trắng, tay ôm cặp, mái tóc xoã ngang vai… Chàng si tình, để lại những vần thơ xót xa và lung linh mãi đến sau này…

“…Em tan trường về

Cuối đường mây đỏ

Anh tìm theo Ngọ

Dấu lau lách buồn…
…Em tan trường về
Đường mưa nho nhỏ
Trao vội chùm hoa
Ép vào cuối vở…”

Có thể nói rằng, vào những năm của thập kỷ 70, bài thơ “Ngày xưa Hoàng Thị..” là một tuyệt tác. Sau khi Phạm Duy phổ nhạc, tác phẩm đã trở thành một hiện tượng tại miền Nam. Thanh Thúy là ca sĩ đầu tiên thể hiện thành công bài hát này. Lúc bấy giờ, trên các báo phát hành ở Sài Gòn, người ta thường nghi vấn và đặt dấu hỏi, nhân vật chính trong “Ngày xưa Hoàng Thị” là ai? Một vài người tự nhận là mình, số khác lại bình thơ rồi cho rằng nhân vật chính trong thơ là cô A hoặc cô B nào đó… Đến khi các phóng viên gặp Phạm Thiên Thư hỏi chuyện, ông nói rằng, người đẹp trong ca khúc là cô Hoàng Thị Ngọ, nhưng không hiểu tại sao nhiều người thời bấy giờ vẫn không tin ?
Quê ông ở Kiến Xương, Thái Bình nhưng lại sinh ra ở Lạc Viên, Hải Phòng. Năm 1954, khi mới 14 tuổi, ông theo cha mẹ di cư vào miền Nam, cư ngụ tại khu Tân Định, Sài Gòn. Đó là một căn nhà nhỏ nằm đằng sau chợ Tân Định cách trường Trung học Văn Lang, nơi ông học, gần một cây số. Học xong Tú tài, Phạm Thiên Thư theo học trường Phật học Vạn Hạnh, chọn cửa Phật làm chốn dừng chân và gửi hồn vào cõi Thiền.
Nhà thơ Phạm Thiên Thư, người đã thi hóa Kinh Phật, ông xuất hiện trong làng thơ như một người tu sĩ, rao giảng Phật Pháp bằng thi ca như Kinh Ngọc, Kinh Hiền, Kinh Thơ, Chiêu Hồn Ca, Đoạn Trường Vô Thanh,..Thơ Phạm Thiên Thư nửa đời, nửa đạo, tâm linh khác thường, làm cho độc giả lãng đãng và ngẩn ngơ:

“…Em làm trang tôn kinh
Anh làm nhà sư buồn
Đêm đêm buồn tụng đọc
Lòng chợt nhớ vương vương
Đợi nhau từ mấy thuở
Tìm nhau cõi vô thường
Anh hóa thân làm mực
Cho vừa giấy yêu đương…”
(Pháp Thân)

Thế giới thi ca Phạm Thiên Thư giúp chúng ta khám phá thêm những cửa ngõ mới lạ, phong phú về tôn giáo, tình yêu và thiên nhiên. Bài thơ “Ngày xưa Hoàng Thị…” ra đời trong lúc ông mới chập chững bước vào làng thơ nên nhiều người nghĩ đó là bài thơ đầu tay. Thật ra, bài thơ đầu tiên chính là bài “Vết chim bay”, lúc ông mới 24 tuổi, còn nương náu ở cửa chùa.
Ngày ấy, có một nữ sinh thường vào sân chùa tìm nơi tĩnh lặng để học bài. Cô đẹp và thánh thiện như ánh sáng của Quan Thế Âm Bồ Tát, Phạm Thiên Thư đem lòng thương mến. Hai người quen nhau độ mươi ngày, một buổi chiều như bao buổi chiều khác, ông ngồi ở hiên chùa đợi mãi nhưng chẳng thấy bóng dáng cô. Nàng ra đi chẳng một lời từ biệt để lại sự đơn côi và nuối tiếc cho chàng trai mới lớn. Mười năm sau, khi trở lại chùa xưa, tình cờ nhìn thấy nét phấn trắng ghi tên hai đứa vẫn còn trên gác chuông, lòng bâng khuâng chuyện cũ, Phạm Thiên Thư đã viết nên bài thơ này:

“Ngày xưa anh đón em.
Nơi gác chuông chùa nọ.
Con chim nào qua đó.
Còn để dấu chân in…
Anh một mình gọi nhỏ.
Chim ơi biết đâu tìm…”

Tình yêu trong thơ Phạm Thiên Thư thánh thiện, nhẹ nhàng và kín đáo. Chút bẽn lẽn, khẽ chạm mà không dám “tay trong tay” vì sợ tình sẽ tan biến thành khói sương. Đạo Phật ảnh hưởng và tạo nên một không gian ái tình riêng trong thơ Phạm Thiên Thư. Nó làm cho người đời ngỡ ngàng, đắm say trong thế giới thi ca huyền diệu của thi sĩ.

Theo ông, Hoàng Thị Ngọ trong bài thơ “Ngày xưa Hoàng Thị” chỉ là kỷ niệm, một mối tình thoảng nhẹ vu vơ thời trai trẻ. Trong những năm Tú tài , ông đã để ý một cô bạn học cùng lớp tên là Hoàng Thị Ngọ, cô gái đó quê gốc Hải Dương và ở gần nhà ông. Sau này, Phạm Thiên Thư tìm lại cố nhân nhưng người hàng xóm cho biết, bà Ngọ đã bán nhà và dọn đi nơi khác từ lâu.
Ngày ấy, mỗi khi xếp hàng vào lớp, cô gái đứng ở đầu hàng bên nữ, nổi bật, mái tóc dài xoã trên bờ vai mảnh dẻ. Ông chỉ im lặng ngắm nhìn. Khi tan trường, cô gái một mình trên đường về nhà, ông lại là kẻ lẽo đẽo theo sau: “Cô ấy ôm cặp đi trước, tôi đi theo nhưng không dám lên tiếng. Trong bóng chiều tà, ánh nắng hắt qua hàng cây, cô ấy lặng lẽ bước, gây cho tôi những cảm xúc bâng khuâng khó tả. Cứ thế, tôi chỉ biết lặng lẽ đi theo sau cô ấy hàng ngày, giấu kín những cảm xúc của mình không cho bất cứ ai biết”. Và một lần đắm chìm trong cảm xúc ấy, ông đã cầm bút viết lên bài thơ “Ngày xưa Hoàng Thị”.
Những năm sau này, mỗi khi đi ngang lại con đường của một thuở yêu đương, hình ảnh cô gái với mái tóc xoã ngang vai lại hiện về trong ông:
“Em tan trường về.
Đường mưa nho nhỏ.
Chim non giấu mỏ.
Dưới cội hoa vàng..”
Giờ đây, Hoàng Thị Ngọ đã định cư ở Mỹ. Hơn 50 năm, nơi phương trời xa xôi, cô nữ sinh ngày ấy có còn nhớ…
“…Tìm xưa quẩn quanh
Ai mang bụi đỏ
Dáng em nho nhỏ
Trong cõi xa vời
Tình ơi! Tình ơi!”
Một lần, có người hỏi ông “Thế khi nào mọi người mới biết tới những bài thơ của bác?” Phạm Thiên Thư trả lời: “Ấy là khi chúng tôi nhờ nhạc sỹ Phạm Duy phổ nhạc 10 bài Đạo ca do tôi viết lời, Phạm Duy gặp và tình cờ đọc được tập thơ của tôi. Tôi cũng không nghĩ Phạm Duy lại thích bài thơ Ngày xưa Hoàng thị đến thế, ông đề nghị phổ nhạc bài thơ đó. Dĩ nhiên được một nhạc sỹ nổi tiếng như Phạm Duy để ý đến bài thơ của mình thì có gì hạnh phúc bằng. Và tôi cũng bất ngờ nghe lại bài thơ của mình khi đã phổ nhạc. Nhạc sỹ đã tôn bài thơ lên rất nhiều qua những giai điệu nhạc bay bổng”.
Cha Phạm Thiên Thư tuy làm nghề bốc thuốc Bắc nhưng thỉnh thoảng vẫn làm thơ. Ông còn nhớ, cha ông đã từng đạt giải Nhì về thơ do một tờ báo ở Hà Nội tổ chức. Phạm Thiên Thư làm thơ để trải lòng mình chứ không làm thơ chuyên nghiệp. Vì vậy mãi đến năm 1968, ông mới tự xuất bản tập thơ đầu tiên, chủ yếu để tự đọc, tặng một số bạn bè thân. Thật ra, trong cuộc đời sáng tác, Phạm Thiên Thư chẳng muốn ai biết về mình.

Thoáng hương qua

Năm 1964, nhà thơ Phạm Thiên Thư xuống tóc, đi tu ở một ngôi chùa với Pháp danh là Thích Tuệ Không. Trong 9 năm tu hành (1964 -1973), ông đã chứng kiến một cuộc tình giữa chú tiểu và một cô bé Phật tử. Chàng 16 tuổi và nàng cũng ngần tuổi đấy. Tình yêu vừa chớm như những bông hoa nở sớm sau sân chùa. Cứ mỗi lần, chú tiểu đánh chuông, cô bé đứng bên nhìn và tụng niệm. Trong những lời khấn nhỏ ấy, cô nguyện cầu cho 2 đứa được bên nhau mãi mãi…

Ðầu xuân em lễ chùa này
Có búp lan vàng khép nép
Vườn trong thoáng làn hương bay
Bãi sông lạc con bướm đẹp

Mùa xuân quen nhau, mùa hạ cùng em đi lễ… Rồi mùa thu, mùa đông, hai người vẫn yêu thương tha thiết, bốn mùa hẹn nhau trong ngôi chùa cổ, có lò hương với làn trầm nghi ngút:

Vào hạ em lễ chùa này
Trên đồi trái mơ ửng chín
Lò hương có làn trầm bay
Vờn trên bờ tóc bịn rịn

Chiến tranh loạn lạc, cuối mùa đông năm ấy, cô bé chết trong trong lúc chạy trốn những cuộc hành quân. Trong mưa bay và gió lạnh, chú tiểu gạt nước mắt đưa tiễn người yêu trong chiếc áo quan đơn sơ và mộc mạc như chính tình yêu của họ:

Sang đông em lễ chùa này
Ngoài sân có mưa bụi bay
Hắt hiu trong cành gió bấc
Vườn chùa rụng cánh lan gầy
Cuối đông đưa em tới đây
Trong lòng áo quan gỗ trắng
Tóc em tợ óng làn mây
Cội hoa tưởng ai trầm lặng

Gia đình đưa xác cô an táng sau chùa, nơi những bông hoa vẫn còn nở. Mỗi buổi chiều, chú tiểu đến bên mộ, thắp hương và ngồi mãi cho đến khi hoàng hôn buông xuống…

Em vừa nằm xuống đất này
Vườn trong có bông đào nở
Con bướm chập chờn hương bay
Quơ sợi râu vàng bỡ ngỡ
Nắm đất nào vừa lấp mộ
Có con chim hót đầu cành
Tiếng tan trên giòng suối xanh
Nước ơi sao buồn nức nở

Mỗi cuộc tình đều có những kết thúc khác nhau. Có người đến đỉnh cao của hạnh phúc, tràn ngập niềm hân hoan vô bờ bến. Có kẻ rơi xuống vực sâu của bất hạnh, ôm lấy đơn côi trong im lặng và nước mắt. Cho dù âm dương cách biệt ngàn trùng, tình yêu ấy vẫn tươi đẹp, sáng lung linh và huyền diệu. Cõi người vẫn tin rằng, họ vẫn yêu thương nhau, con tim vẫn thổn thức một lời hò hẹn từ kiếp trước.Và như thế, trong ánh sáng huyền diệu của Phật Pháp, họ không còn bên nhau nữa nhưng tình yêu vẫn lóng lánh như những giọt sương còn đọng lại trên những bông hoa nở sớm sau sân chùa.
Câu chuyện hoàn toàn có thật, Phạm Thiên Thư xúc động và sáng tác bài thơ nổi tiếng: “Thoáng hương qua”. Sau này, Phạm Duy phổ thành nhạc phẩm “Em lễ chùa này” và ca khúc đã đi vào lòng người cho mãi đến giờ. Sau này, Phạm Duy còn phổ nhạc thêm một số bài thơ tình khác của ông như: Đưa em tìm động hoa vàng, Gọi em là đoá tình sầu,…Tất cả những ca khúc này đều nổi tiếng và được mọi người biết đến.
Sau 1975, Phạm Thiên Thư lui về ở ẩn. Từ năm 1976 đến 1981, để mưu sinh, Phạm thi sĩ mở quán hớt tóc ở Lăng Cha Cả. Giai đoạn (1981 – 1983), ông bán tạp hoá, rượu thuốc, trà đá… ở đường Lý Chính Thắng. Sau 1983, Phạm Thiên Thư nghiên cứu, sáng lập và truyền bá môn dưỡng sinh PHATHATA (Pháp – Thân – Tâm). Sau đó, ông được bác sĩ, nghệ sĩ Trương Thìn, Viện trưởng Viện Y học dân tộc mời về cộng tác với Viện. Trong suốt thời gian này, Phạm Thiên Thư thỉnh thoảng cho đăng báo những bài thơ ngắn. Đôi lần, giới văn nghệ sĩ lại gặp ông đến dự họp ở Hội Nhà văn TP.HCM. Thời gian sau này, Phạm Thiên Thư thực sự trở lại và hoà nhập với văn đàn khi trường ca “Đoạn Trường Vô Thanh” của ông được tái bản một cách trang trọng.
Thế giới thi ca Phạm Thiên Thư giúp chúng ta khám phá thêm những cửa ngõ mới lạ, phong phú về tôn giáo, tình yêu và thiên nhiên.Mùa xuân năm Nhâm Thìn (2012), Phạm Thiên Thư đã giao lưu với khán giả Đà Nẵng trong chương trình thơ-nhạc mang tên “Động Hoa Vàng” tại Nhà hát Trưng Vương. Với sự dàn dựng công phu và góp mặt của nhiều ca sĩ trẻ, cuộc đời, thi ca và âm nhạc của người tu sĩ lãng mạn này lại tái hiện một lần nữa trong lòng người hâm mộ.

Sau đây có 2 bài nói về cô gái trong bài thơ Ngày xưa Hoàng Thị của thi sĩ Phạm Thiên Thư. Không biết đúng sai, thực hay giả như thế nào song tôi cũng cho đăng lên đây để rộng đường dư luận.

Trên Việt Weekly số 24, June 9, 2005, đăng tải một bức thư của thi sĩ Phạm Thiên Thư do nhạc sĩ Phạm Duy chuyển cho báo chí, phủ nhận chuyện bà Hoàng Dược Thảo tự nhận mình là nhân vật “Hoàng Thị Ngọ” của bài thơ “Ngày Xưa Hoàng Thị” của Phạm Thiên Thư, do Phạm Duy phổ nhạc thành tác phẩm bất hủ “Ngày xưa Hoàng Thịï”. Cách đây hai tuần, tại quận Cam, tình cờ, một nhân vật xuất hiện, cho biết ông là người có liên hệ tới nhân vật “Ngọ” thiệt ngoài đời. Câu chuyện sau đây đưa thiên tình sử nhạc khúc “Ngày Xưa Hoàng Thị” qua một khúc quanh mới. Người đàn ông trong cuộc là một nhân vật kín đáo, không muốn khoe khoang về phần mình, cũng không muốn làm chuyện “giựt gân”. Tuy nhiên, như ông nói, rất muốn được gặp lại ‘cố nhân’ HoàngThị Ngọ, theo ông, hiện đang có mặt tại Cali. Nhân vật kể chuyện, người đàn ông tử tế, có công ăn việc làm đâu ra đó, có vợ con rất hạnh phúc, chỉ muốn được gặp lại Ngọ, để có thể, giúp gì được cho tri kỷ đã không gặp nhau từ mấy chục năm qua. Không hơn không kém. Nhân vật xin được giấu tên, viết tắt là H.H.
°NGUYỄN QUANG MINH ghi
(Minh hoạ chân dung Ngọ của Etcetera, theo lời mô tả của ông H.H.)
NQM: Ông quen với Hoàng Thị Ngọ, nhân vật trong thơ/nhạc của Phạm Thiên Thư, Phạm Duy trong trường hợp nào?
HH: Đó vào khoảng năm 1963, 1964. Nhà của Ngọ ở đường Trần Quang Khải, gần trường Văn Hiến… Mỗi lần cô đi học phải đi ngang nhà tôi. Nhà tôi số 90, đường Trần Quang Khải. Trường Văn Hiến cách nhà tôi độ 100 thước. Tôi thấy cổ thiệt là hiền hậu, dễ thương nên mới viết thư làm quen. Năm đó tôi chưa tới 20 tuổi, học Đệ thất, Ngọ cũng chỉ độ bằng tuổi tôi thôi. Gốc Hải Dương, gia đình Công Giáo.
NQM: Ông đã viết thư hay làm thơ cho Ngọ?
HH: Viết thư. Gởi cho Ngọ, cổ đáp ứng, mời tới nhà chơi. Ba của Ngọ là một nhà thầu khoán, gia đình rất khá, có anh chị em đi du học, làm bác sĩ, kỹ sư thời đó.
NQM: Về nhan sắc, Hoàng Thị Ngọ có đẹp không?
HH: Thành thật mà nói, Ngọ không phải là một thiếu nữ có nhan sắc lộng lẫy. Ngọ có mái tóc dài ngang lưng. Thường khi đi học, chỉ mặc hai màu áo vàng và đen. Nhưng rất là dễ thương… Ngọ có một dáng dấp mặc áo dài thật là đẹp.
NQM: Lúc đó, đã có bài thơ, bài nhạc về Hoàng Thị Ngọ chưa?
HH: Chưa. Lúc đó là thời gian chúng tôi quen nhau. Đi chơi với nhau rất vui. Một thời gian sau, tôi vào lính. Một vài năm, tôi trở về thăm Ngọ, cổ kể lại cho tôi nghe về một người con trai, theo Ngọ, viết thơ theo đuổi Ngọ, nhưng cô ấy từ chối, không nhận mối tình đó. Người đó sau này cạo đầu vô GòVấp đi tu, đó chính là nhà thơ Phạm Thiên Thư như chúng ta ai ai cũng biết. Và bài thơ này làm ra lúc Phạm Thiên Thư đã đi tu. Sau này, bài thơ lại được nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc, trở nên một bài hát bất hủ. Nói tóm lại, Hoàng Thị Ngọ nói là không có gì với nhà thơ họ Phạm kia.
NQM: Như vậy, Hoàng Thị Ngọ là người yêu của ông?
HH: Nói là người yêu, tôi e là cũng không đúng hẳn. Nó lưng chừng thôi. Chúng tôi có đi xem phim với nhau, nhưng rồi tôi đi lính, trở lại… Tôi là lính, cũng lận đận vô cùng, do đó, chuyện liên hệ giữa tôi và Hoàng Thị Ngọ cũng không liên tục. Cho tới sau 75, mỗi người phải bươn chải riêng. Tới năm 1978, tôi mới liên lạc, gặp lại Ngọ tại nhà. Lúc đó, tôi đã có gia đình. Tôi nói: “Ngọ à, bây giờ tôi có tổ chức tàu đi vượt biên, đây là cơ hội cuối cùng tôi muốn giúp cho Ngọ, nếu Ngọ muốn đi vượt biên với tôi, tôi sẽ cho Ngọ cùng thêm 1 người nữa cùng đi.”
NQM: Lúc đó chị Ngọ đã có gia đình chưa?
HH: Chưa. Chỉ có tôi là có gia đình, vợ con. Ngọ nói để cổ suy nghĩ vài ngày. Sau đó tôi trở lại, Ngọ cho biết gia đình cô ấy có tới 4 người, nếu đi 2, bỏ lại 2 thì không được. Do đó, nếu đi thì đi hết, còn không thì thôi. Trong hoàn cảnh đó, phần tôi chỉ có thể lo cho 2 người, nên không thể làm gì hơn được. Tôi đi được… Ngọ ở lại.
NQM: Sau đó, qua tới Mỹ, ông không liên lạc với Ngọ nữa sao?
HH: Không. Chúng tôi mất liên lạc luôn từ đó. Mới đây, gần 1 tháng trước, tôi có về Việt Nam, tôi có ghé lại khu nhà Ngọ ở hồi trước, tôi còn nhớ rõ, đó là căn nhà số 19E, đường Lý Trần Quán (tên cũ), bây giờ đổi thành Thạch Thị Thanh gì đó(?), khu chợ Tân Định, Phú Nhuận, Sài Gòn. Khi vào khu nhà Ngọ, bà hàng xóm vẫn nhận ra tôi. Bà cụ cho tôi biết là Ngọ đã bán nhà, dọn đi nơi khác từ lâu lắm rồi. Nghe nói hiện ngay Ngọ đang ở Mỹ, ở California! Tôi nghe thì cũng buồn, nhưng lại vui vì biết cổ đang ở Cali. Tôi cũng quên hỏi bà Cụ là Ngọ đi đã bao lâu rồi. Tôi rất xúc động, sau bao nhiêu năm trở về, quên trước nhớ sau. Hàng xóm nhận ra hết mà.
NQM: Xin ông mô tả lại chân dung của Hoàng Thị Ngọ theo trí tưởng tượng của ông?
HH: Ngọ chỉ là một thiếu nữ tầm thước, cỡ 5’2”. ốm, da mặt không đẹp lắm, rơm rơm một chút. Tóc dài, chải thẳng ra phía sau mà không rẽ ngôi. Mặt hơi xương xương, dài dài. Ngọ có một cái mụn ruồi cũng hơi lớn lớn dưới cánh mũi bên phải. Một nhan sắc trung bình. Chỉ có dáng mặc áo dài rất đẹp. Mình mê vóc dáng và mái tóc đó. Tôi mê cái dáng của Ngọ, đúng là một cô gái Việt Nam. Đi đứng nghiêm trang, không ngó qua ngó lại. Mặt nhìn thẳng, nhìn lên chút xíu. Một mẫu người con gái có bị mưa cũng không dám chạy. Rất Việt Nam.
NQM: Ông có nghĩ rằng, nếu không có chiến tranh, cách trở, ông có nghĩ sẽ lấy cô Ngọ làm vợ không?
HH: Tôi nghĩ duyên số cũng khó nói lắm. Lúc đó tôi chỉ là anh học trò dưới tỉnh lên, trọ học lang thang. Gia đình Ngọ giàu có. Tôi vào lính, nay đây mai đó, không có hy vọng nào mà đạt được. Hai đứa có trao đổi thật nhiều, nhưng biết rằng có sự cách trở nên không đi tới đâu…
NQM: Giả dụ bây giờ, gặp nhau lại ở Cali, ông nghĩ sẽ đối xử với cô Ngọ ra sao?
HH: Bây giờ gặp lại, chỉ là kỷ niệm thôi. Nhưng tôi rất muốn gặp lại Ngọ. Hồi đó chúng tôi viết cho nhau những câu đùa vui, rất dễ thương, lúc tôi đi lính, là: “Nếu mà anh tử trận, hồn anh sẽ về báo tin cho em biết, em có sợ không?” Ngọ trả lời tôi rằng: “Em sẽ không sợ đâu. Dù anh là lính chết trận, là ma, nhưng với em, anh là con ma dễ thương!” Cổ là một trí thức, tiếng Pháp giỏi, có khả năng viết văn bằng tiếng Pháp. Hình như cổ học đại học Vạn Hạnh.
NQM: Ông có nghĩ rằng, sau khi bài thơ “Ngày Xưa Hoàng Thị” ra đời, được phổ nhạc, và nổi tiếng… những điều này có ảnh hưởng tới suy nghĩ, tình cảm của ông về người con gái tên Ngọ hay không?
HH: Tôi không nghĩ nhiều về chuyện đó. Lúc đó, Ngọ chỉ nói thoáng với tôi về chuyện thơ, nhạc mà thôi. Theo Ngọ kể, nhà thơ này si tình Ngọ dữ lắm, đi theo chọc, làm thơ, rồi thất tình dữ lắm v.v. Nhưng Ngọ không đáp lại mối tình si này. Còn tôi, cũng không biết Ngọ thích tôi ở điểm gì. Tôi nghĩ nếu không phải thời chiến, chuyện tình cảm của chúng tôi không chừng sẽ tiến xa thêm.
NQM: Nhiều năm qua, mỗi lần nghe bài hát “Ngày Xưa Hoàng Thị”, ông cảm thấy thế nào?
HH: Tôi vẫn xúc động khi nghe lại bài hát này. Không có gì thay đổi trong tôi khi nghĩ về Ngọ. Tôi nghĩ tới Ngọ bằng giá trị tinh thần, chứ không phải vì nhan sắc hay bất kỳ một chuyện gì khác. Sự thùy mị, dễ thương của Ngọ là bất tử. Thời chúng tôi, khoảng cách giữa nam và nữ rất nghiêm túc, nên hầu như giữa chúng tôi không có vấn đề gì khác ngoài kỷ niệm. Tôi viết cho Ngọ khoảng 10 lá thư, và Ngọ cũng trả lời cho tôi khoảng bằng đó lá thư. Thư viết cho nhau cũng không phải là người yêu viết cho người yêu, mà như hai người bạn thân. Tôi nghĩ, có lẽ tình bạn này mới là bất diệt.
NQM: Xin ông cho biết, câu chuyện “Ngày xưa Hoàng Thị” này, nếu bây giờ tới tai bà xã ông, ông có bị phiền gì không?
HH: Cả nhà tôi ai cũng biết. Bà xã tôi cũng đã nghe tôi kể cho bả nghe. Nhưng không sao hết, gia đình tôi rất hạnh phúc. Vợ chồng con cái rất thương yêu, tôn trọng nhau. Tôi biết là khi đọc bài báo này, chắc bả cũng có buồn chút chút, nhưng tôi nghĩ bả sẽ hiểu là tôi rất đàng hoàng, chuyện nào ra chuyện nấy. Nhân chuyện báo Việt Weekly nhắc tới bài thơ, bài nhạc, rồi có người ngộ nhận mình là Hoàng Thị Ngọ, rồi nhạc sĩ Phạm Duy phải đi tìm v.v., tôi thấy mình cần lên tiếng về phía mình. Tuy nhiên, về phía Ngọ, nếu Ngọ có mặt ở Cali, xin để cho mọi người được biết, và tôi là người rất muốn được gặp lại bạn xưa, xem nhau như tri kỷ mà thôi, chứ không dám mong gì hơn

Linh Phương : – Đôi li v nhân vt Hoàng Th Ng trong thơ Phm Thiên Thư

Tháng 03 năm 2004, tôi và nhà thơ Chinh Văn ghé nhà nhà thơ Phạm Thiên Thư ở cư xá Bắc Hải chơi. Lúc đó, anh lại bị chứng bệnh nhớ nhớ, quên quên. Viết tặng tôi tập thơ “ Đon Trường Vô Thanh “ chỉ với một dòng chữ “ Tng nhà thơ Linh Phương . Quý mến ! “, vậy mà tay anh cứ lóng ngóng viết rất khó khăn. Anh Chinh Văn phải đọc từng chữ cho anh , tôi cảm thấy buồn buồn cứ sợ anh không còn làm thơ được nữa . Cuối năm 2005, nhân dịp đến tư gia của nhạc sĩ Phạm Duy, chúng tôi gồm: Anh Nguyễn Hòa ( website Văn nghệ Sông Cửu Long, nay là Văn Hóa.Việt )-nhà thơ Chinh Văn-nhà thơ Vũ Trọng Quang –nhà văn Nguyễn Thị Thu Hiền và tôi , hẹn nhau ở quán Hoa Vàng của anh Phạm Thiên Thư. Thời gian này , hình như anh khá hơn trước, tuy vẫn còn lãng đãng.
Về chuyện một phụ nữ tên Hoàng Dược Thảo tự nhận là nhân vật Hoàng Thị Ngọ trong bài thơ “ Ngày Xưa Hoàng Thị “ của thi sĩ Phạm Thiên Thư, thì sau đó Tuần báo Việt xuất bản ở Mỹ số 24 ra ngày 09/07/2005 cũng đã đăng tải thư của anh, do nhạc sĩ Phạm Duy chuyển, phủ nhận nhân vật từ “trên trời rớt xuống” đó, tưởng đâu không còn gì để bận tâm. Thì mới đây, tại quận Cam có người đàn ông tự nhận mình có liên hệ với Hoàng Thị Ngọ “thứ thiệt” ( mà HĐP đăng trong số này ) , nêu lên nhiều chi tiết về nhân vật này . theo như ông H.H. nào đó nói Hoàng Th Ng hc trường Văn Hiến, còn Phm Thiên Thư tr li vi t Tin phong và Vietnamnet rng : “ Tôi vn nh ti căn nhà nhng ngày y, đó là mt căn nhà nh nm đng sau ch Tân Đnh. Cha tôi xin cho tôi hc ti trường trung hc Văn Lang cách nhà chng non mt cây s. Tôi đã hc hết tú tài đó “. Ông nhớ lại : Cũng trong nhng năm hc tú tài này, ông đã đ ý mt cô bn hc cùng lp tên là Hoàng Th Ng, cô gái đó quê gc Hi Dương, gn nhà ông. Nhưng ch là đ ý thôi ch không dám ng li.
Hàng ngày, khi x
ếp hàng vào lp, cô gái đng đu hàng bên n, ni bt, mái tóc dài xõa trên b vai mnh d. Ông ch im lăng ngm nhìn. Ri khi tan trường, cô gái mt mình trên đường v nhà, ông li là k lo đo theo sau. Như vậy Hoàng Thị Ngọ của Phạm Thiên Thư học ở trường Văn Lang chứ không phải ở trường Văn Hiến như ông H.H. kể. Tuy nhiên, thi sĩ Phạm Thiên Thư công nhận nguyên mẫu đó đúng của 40 năm về trước. Nhưng ông H.H.cho rằng thi sĩ Phạm Thiên Thư yêu đơn phương cô Hoàng Thị Ngọ, không được cô đáp lại phải vào chùa tu là không chính xác. Thi sĩ Phạm Thiên thư đã trả lời về vấn đề này trên báo NLĐ :
Hoàng Th Ng ch là mt nhân vt thơ, thoáng qua như mt ni nh đ nâng t thơ lên.
Tôi chưa tng mê mn mt ai đ đến mc đau kh. Cái hay nht ca đi tôi là đã đy được nhng kh đau khi nó ngp nghé đến xa xa sau nhng bước chân mình
Và cái thc tế là, hình nh Ng đi qua nhng câu thơ pha lê y, ch đ gi lên mt ni dâu b ca bi bm cuc đi, trong mt giai đon lch s đc bit .
Theo tôi, nếu thi sĩ Phạm Thiên Thư có yêu Hoàng Thị Ngọ, có đau khổ vì một Hoàng Thị Ngọ thì đã sao ? Điều đáng nói ở đây là ông H.H. lên tiếng vấn đề này để làm gì ? Chuyện tình cảm thời trai trẻ ai chẳng có , chứ không riêng gì thi sĩ Phạm Thiên Thư và nhân vật Hoàng Thị Ngọ. Và chuyện tình lãng mạn ấy đã đi vào dĩ vãng mấy mươi năm, có còn chăng là ở tâm thức mỗi người trong cuộc, hà tất gì phải khơi lại những chuyện riêng tư của người khác ? Phải chăng ông định “ké” chút hào quang của nhân vật trong thơ Phạm Thiên Thư, khi cho rằng mình là người có quan hệ mật thiết với Hoàng Thị Ngọ ?

Vết chim bay- Thơ Phạm Thiên Thư- nhạc Cung Tiến


Đưa em tìm đông hoa vàng- Thơ Phạm Thiên Thư- nhạc Phạm Duy- hát Ý Lan


Tôi tìm được 1 bài viết về Phạm Thiên Thư và ĐETHV. csl

Phạm Thiên Thư

Vĩnh Hão viết

Khi cho ra đời thi phẩm Ðoạn Trường Vô Thanh, có thể Phạm Thiên Thư cũng ngầm tự ví mình như là một Nguyễn Du thời đại. Có điều, Ðoạn Trường Tân Thanh (hay Truyện Kiều) của Nguyễn Du thì càng lúc càng sáng lung linh hơn, càng được tiếp nhận bởi nhiều quốc gia khác hơn; còn Ðoạn Trường Vô Thanh chỉ có mặt một lúc rồi dần dần đi vào lãng quên. Bản thân tôi cũng chẳng nhớ thi phẩm ấy như thế nào.

Dù sao, những vần lục bát của Phạm Thiên Thư từ khi có mặt, cuối thập niên 1960, đầu thập niên 1970, cho đến nay, vẫn rung dài âm hưởng trong tôi, cũng như trong nhiều người khác. Nhất là qua thi phẩm Ðưa Em Tìm Ðộng Hoa Vàng với 100 đoản thi, quả thực là vẫn chưa có giòng lục bát nào sau Nguyễn Du có thể óng ả tuyệt bích như thế.

Nhưng nhiều người đã không được đọc hết 100 đoản khúc trong thi phẩm Ðưa Em Tìm Ðộng Hoa Vàng, mà chỉ được biết đến 3 đoạn ráp nối từ bản nhạc rất nổi tiếng của Phạm Duy. Nhà nhạc sĩ tài ba, cũng họ Phạm, rất đồng điệu với “thiền sư ỡm ờ” Phạm Thiên Thư khi trích một vài đoản thi để phổ thành bản nhạc với cùng tựa đề thi phẩm: Ðưa Em Tìm Ðộng Hoa Vàng. Giòng nhạc và giòng thơ hòa nhập với nhau một cách tuyệt khéo, như thể chúng đã có sẵn cho nhau rồi vậy. Chỗ tài tình khác của Phạm Duy là rút được những đoạn, những câu hay nhất mà ghép thành lời cô đọng cho một nhạc khúc. Trong đó, vài chỗ phải thay đổi, nhưng không đánh mất ý chính.

Lời cho nhạc phẩm Ðưa Em Tìm Ðộng Hoa Vàng như thế này:

Rằng xưa có gã từ quan

Lên non tìm động hoa vàng nhớ nhau

Thôi thì em đừng ngại mưa mau

Ðưa nhau ra tới bên cầu nước xuôi

Sông này đây chảy một giòng thôi

Mây đầu sông thẫm tóc người cuối sông

Nhớ xưa em chửa theo chồng

Mùa xuân may áo

Áo hồng đào rơi

Mùa thu em mặc áo da trời

Sang đông lại khoác lên người áo hoa.

Rằng xưa có gã từ quan

Lên non tìm động hoa vàng ngủ say

Thôi thì em chẳng còn yêu tôi

Leo lên cành bưởi khóc người rưng rưng

Thôi thì thôi mộ người tà dương

Thôi thì thôi nhé đoạn trường thế thôi

Nhớ xưa em rũ tóc thề

Nhìn trăng sao nỡ để lời thề bay

Ðợi nhau tàn cuộc hoa này

Ðành như cánh bướm đồi tây hững hờ

Rằng xưa có gã từ quan

Lên non tìm động hoa vàng ngủ say

Thôi thì thôi để mặc mây trôi

Ôm trăng đánh giấc bên đồi dạ lan

Thôi thì thôi chỉ là phù vân

Thôi thì thôi nhé có ngần ấy thôi

Chim ơi chết dưới cội hoa

Tiếng kêu rơi rụng giữa giang hà

Mai ta chết dưới cội đào

Khóc ta xin nhỏ lệ vào thiên thu.

Tôi vẫn chưa có bản chính của thi phẩm Ðưa Em Tìm Ðộng Hoa Vàng để xem lại câu “đành như cánh bướm đồi tây hững hờ”. Lâu nay, tôi vẫn nghĩ là “đành như cánh bướm đôi tây hững hờ” nhưng nghe nhạc của Phạm Duy thì ai cũng hát “đồi tây”. Tự nghĩ, có lẽ ngay chỗ đó, đánh dấu huyền vào thì thích hợp với nhạc hơn nên đã dùng chữ “đồi” thay chữ “đôi”. Dầu vậy, tôi vẫn thích cái nghĩa “đôi tây”, nghĩa là đôi ngã riêng tây (tư), hững hờ, hơn là cánh bướm bay về đồi tây, hững hờ.

Một chỗ khác là “Chim ơi chết dưới cội hoa”. Tôi nghĩ cách gọi “Chim ơi” như thế trong câu, không hay và có lẽ còn sai ý nữa. Chẳng ai lại tự gọi mình “Tôi ơi, hãy chết đi dưới cội hoa!” Con chim chết dưới cội hoa là thi nhân đau khổ vì thất tình đã tự ví mình như con chim, chết đau chết điếng trong cuộc tình tan vỡ. Con chim nào mà chết dưới cội hoa? The thorn bird đấy. Loài chim ấy chỉ hót một lần trong đời, ngọt ngào hơn bất cứ âm thanh nào trên mặt đất. Một khi trưởng thành, rời tổ, nó tìm ngay một cành cây đầy gai nhọn, chọn ngọn gai nào bén và dài nhất, phóng mình vào ngọn gai ấy, đồng thời cất lên tiếng hót duy nhất trong đời nó. Tiếng hót lúc ấy, là bài ca siêu tuyệt nhất trong những bài ca; mang theo cả niềm hạnh phúc vô tận của tình yêu đồng thời cả chất liệu thống thiết khổ đau hàm ẩn của nó. Ðó là huyền thoại của loài chim gai (the thorn birds) có nói trong tác phẩm The Thorn Birds của Colleen McCullough.

Ở đây, tiếng kêu của loài chim chết dưới cội hoa này còn thảm hơn. Vì tiếng kêu của nó vừa cất lên thì đã rụng xuống trên sông rộng, chứ không cất lên cao để phụng hiến thần linh gì hết. Và như vậy, thi nhân, trong nỗi đau tình, đã “hờn giỗi”, vừa giả giọng lạnh lùng, nói:

Con chim chết dưới cội hoa

Tiếng kêu rụng giữa giang hà xanh xao

Chứ không kêu gào:

Chim ơi! Chết dưới cội hoa

Nói thì nói vậy, vẫn cám ơn Phạm Duy đã phổ biến thơ Phạm Thiên Thư đến rộng rãi quần chúng hơn. Ðôi khi bốc hứng, không nhớ được cả trăm đoản khúc của Phạm Thiên Thư, tôi và nhiều người khác đã ca nhạc phẩm của Phạm Duy. Thích thú lắm!

Và đây, trọn vẹn 100 đoản thi trong Ðưa Em Tìm Ðộng Hoa Vàng của Phạm Thiên Thư, mỗi đoản khúc là một tiếng hót, của loài dị điểu, sẵn sàng yêu và chết, và để tiếng hót của mình rơi rụng trên sông:

Ðưa Em Tìm Ðộng Vàng

1
Mười con nhạn trắng về tha
Như Lai thường trụ trên tà áo xuân
Vai nghiêng nghiêng suối tơ huyền
Đôi gò đào nở trên miền tuyết thơm

2
Xe lên bụi quán hoa đường
Qua sương trắng dậm phố phường úa thu
Tiếng chim ướt sũng hai mùa
Hạt rơi thêm lạnh hững hờ mây qua

3
Dế buồn dỗ giấc mù sa
Âm nao lãng đãng tơ ngà sương bay
Người về sao nở trên tay
Với hài đẫm nguyệt thêm dài gót mơ

4
Con khuyên nó hót trên bờ
Em thay áo tím thờ ơ giang đầu
Tưởng xưa có kẻ trên lầu
Ngày xuân gieo nhẹ trái cầu gấm hoa

5
Tóc dài cuối nội mây xa
Vàng con bướm nhụy lẫn tà huy bay
Dùng dằng tay lại cầm tay
Trao nhau khăn lụa nhớ ngày sầu đưa

6
Từ chim thủa núi xa xưa
Về đây rớt lại hạt mơ cuối rừng
Từ em khép nép hài xanh
Về qua dục nở hồn anh đóa sầu

7
Ừ thì mình ngại mưa mau
Cũng đưa anh đến bên cầu nước xuôi
Sông này chảy một dòng thôi
Mây đầu sông thẫm tóc người cuối sông

8
Ngày xưa em chửa theo chồng
Mùa xuân em mặc áo hồng đào rơi
Mùa thu áo biếc da trời
Sang đông em lại đổi dời áo hoa

9
Đường về hái nụ mù sa
Đưa theo dài một nương cà tím thôi
Thôi thì em chẳng yêu tôi
Leo lên cành bưởi nhớ người rưng rưng

10
Sao em bước nhỏ ngập ngừng
Bên cầu sương rụng mấy từng mai mơ
Đêm về thắp nến làm thơ
Tiếng chân còn vọng nửa tờ thơ tôi

11
Đôi uyên ương trắng bay rồi
Tiếng nghe tha thiết bên trời chớm đông
Nửa đêm đắp mảnh chăn hồng
Lại nghe hoa lạnh ngoài đồng thiết tha

12
Con chim chết dưới cội hoa
Tiếng kêu rụng giữa giang hà xanh xao
Mai anh chết dưới cội đào
Khóc anh xin nhỏ lệ vào thiên thu

13
Tường thành cũ phiến bia xưa
Hồn dâu biển gọi trong cờ lau bay
Chiều xanh vòng ngọc trao tay
Tặng nhau khăn lụa cuối ngày ráng pha

14
Đêm dài ươm ngát nhụy hoa
Chim kêu cửa mộ trăng tà gõ bia
Em ơi rũ tóc mây về
Nhìn trăng nỡ để lời thề gió bay

15
Đợi nhau tàn cuộc hoa này
Đành như cánh bướm đồi tây hững hờ
Tìm trang lệ ố hàng thơ
Chữ xưa quyên dục bây giờ chim di

16
Mây xưa cũng bỏ non về
Em xưa cũng giã câu thề đó đây
Nhớ đành biết mấy tầm tay
Lông chim biển bắc hoa gầy bãi đông

17
Đợi ai trăng rõi hoa buồn
Vắng em từ thủa theo buồm gió xuôi
Chiều chiều mở cổng mây trôi
Chênh vênh núi biếc mắt ngời sao hôm

18
Thế thôi phố bụi xe hồng
Hồ ngăn ngắt đục đôi dòng nhạn bay
Đưa nhau đấu rượu hoa này
Mai đi dã hạc thành ngoài cuồng ngâm

19
Xuống non nhớ suối hoa rừng
Vào non nhớ kẻ lưng chừng phố mây
Về thành nhớ cánh chim bay
Xa thành thương vóc em gầy rạc hoa

20
Hạc xưa về khép cánh tà
Tiếng rơi thành hạt mưa sa tần ngần
Em về hong tóc mùa xuân
Trăng trầm hương tỏa dưới chân một vành

21
Em nằm ngó cội thu xanh
Môi ươm đào lý một nhành đôi mươi
Về em vàng phố mây trời
Tay đơm nụ hạ hoa dời gót xuân

22
Thì thôi tóc ấy phù vân
Thì thôi lệ ấy còn ngần dáng sương
Thì thôi mù phố xe đường
Thôi thì thôi nhé đoạn trường thế thôi

23
Gầy em vóc cỏ mây dời
Tay em mai nở chân trời tuyết pha
Ngày dài ngựa soải cầm ca
Trán cao ngần nửa trăng tà ngậm sương

24
Xe lăn bánh nhỏ bụi hường
Lao xao vó rụng trên đường phố mây
Mưa giăng ráng đỏ hao gầy
Đôi con ngựa bạch ném dài tuyết sa

25
Chim nào hát giữa thôn hoa
Tay nào hong giữa chiều tà tóc bay
Lụa nào phơi nắng sông tây
Áo xuân hạ nọ xanh hoài thu đông

26
Con chim mùa nọ chưa chồng
Cũng bay rời rã trong dòng xuân thu
Từ em giặt áo đông tơ
Nay nghe lòng suối hững hờ còn ngâm

27
Thuyền ai buông lái đêm rằm
Sông thu ngân thoảng chuông trăng rì rào
Cửa sương nhẹ mở âm vào
Lay nghiêng bầu nậm rượu đào trầm ca

28
Lên non cuốc sỏi trồng hoa
Xuôi thuyền lá trúc la đà câu sương
Vớt con cá nhỏ lòng đòng
Mải vui lại thả xuống dòng suối tơ

29
Vào non soi nguyệt tầm rùa
Đọc trên mai nhỏ xanh tờ lạc thư
Thả rùa lại đứng ưu tư
Muốn qua hang động sống như nguyệt rùa

30
Em nghiêng nón hạ cầu mưa
Sông ngâm mây trắng nước chưa buồn về
Hoa sầu cỏ cũng sầu chia
Lơ thơ xanh tụ đầm đìa vàng pha

31
Đất nam có lão trồng hoa
Mùa hoàng cúc nở ướp trà uống đông
Lại đem bầu ngọc ra trồng
Bầu khô cất nậm rượu hồng uống xuân

32
Người vui ngựa chợ xe thành
Ta leo cầu trúc bên ghềnh thác rơi
Theo chân chim gặp mây trời
Lại qua khói động hỏi người tu non

33
Bông hoa trắng rụng bên đường
Cánh thơm thông điệp vô thường tuyết băng
Con ong nhỏ mới ra giàng
Cũng nghiêng đôi cánh nhụy vàng rụng rơi

34
Mùa xuân bỏ vào suối chơi
Nghe chim hát núi gọi trời xuống hoa
Múc bình nước mát về qua
Ghé thôn mai nọ hỏi trà mạn xưa

35
Chim từ bỏ động hoa thưa
Người từ tóc biếc đôi bờ hạ đông
Lên non kiếm hạt tơ hồng
Đập ra chợt thấy đôi dòng hạc bay

36
Người về đỉnh núi sương tây
Ta riêng nằm lại đợi ngày mướp hoa
Bến nam có phố giang hà
Nghiêng nghiêng nậm ngọc dốc tà huy say

37
Tình cờ anh gặp nàng đây
Chênh chênh gót nguyệt vóc gầy liễu dương
Qua sông có kẻ chợt buồn
Ngó hoa vàng rụng bên đường chớm thu

38
Mốt mai em nhớ bao giờ
Bãi dâu vãn mộ cho dù sắc không
Chân chim nào đậu bên cồn
Ngựa xuôi có kẻ lại buồn dấu chim

39
Đợi người cuộc mộng thâu đêm
Sông Ngân trở lệ dài thêm dòng nhòa
Anh nằm gối cỏ chờ hoa
Áo em bạch hạc la đà thái hư

40
Em từ rửa mặt chân như
Nghiêng soi hạt nước mời hư không về
Thâu hương hiện kính bồ đề
Phấn son chìm lắng hạt mê luân hồi

41
Ta về rũ áo mây trôi
Gối trăng đánh giấc bên đồi dạ lan
Rằng xưa có gã từ quan
Lên non tìm động hoa vàng ngủ say

42
Ngựa xưa qua ải sương này
Còn nghe nhạn lạc kêu hoài bãi sông
Nước xuôi gờn gợn mây hồng
Tiếng ca lạnh thấu hoàng hôn giục đò

43
Hoa đào tưởng bóng đào xưa
Thuyền sang bến nọ dòng mờ khói vơi
Hoa dương vàng nhạt sầu người
Ta về uống nước sông khuây khỏa lòng

44
Đưa nhau đổ chén rượu hồng
Mai sau em có theo chồng đất xa
Qua đò gõ nhịp chèo ca
Nước xuôi làm rượu quan hà chuốc say

45
Khăn trăng từ độ trao tay
Nửa tan cát suối nửa mài nghiên sương
Mốt mai lòng có nghe buồn
Mảnh trăng hiện hóa thiên đường cõi chơi

46
Nhện cheo leo mắc tơ trời
Dòng chim qua hỏi mộ người tà dương
Đánh rơi hạt mận bên đường
Xuân sau mọc giữa chân thường cội hoa

47
Nụ vàng hương rộ tháng ba
Nửa đêm dậy ngó trăng tà tiêu tương
Chẳng như cội liễu bờ dương
Tóc xanh mướt giữa vô thường sắc không

48
Mai nào thơm ngát thu đông
Lược em chải rụng đôi dòng tơ xanh
Đôi chim hồng yến trên cành
Ngẩn ngơ quên rỉa lông mình điểm trang

49
Mùa xuân mặc lá trên ngàn
Mùa thu mặc chú bướm vàng tương tư
Động nam hoa có thiền sư
Đổi kinh lấy rượu tâm hư uống tràn

50
Nến khuya lửa hắt hiu vàng
Trang kinh lác đác đôi hàng nhạn sa
Ý nào hóa hiện ngàn hoa
Chữ nào cẩn nguyệt trên tà áo ni

51
Dỗ non suối giọng thầm thì
Độ tam thế mộng xá gì vóc hoa
Ni cô hiện giữa ta bà
Búp tay hồng ngọc nâng tà áo trăng

52
Tiếng chim trong cõi vô cùng
Nở ra bát ngát trên rừng quế hương
Tiếng em hát giữa giáo đường
Chúa về trong những thánh chương bàng hoàng

53
Đố ai nhớ hết hoa vàng
Đố ai uống cạn sương tàng trăng thâu
Đố ai tát cạn mạch sầu
Thì ta để tóc lên cầu đón ai

54
Em về sương đẫm hai vai
Dấu chân là cánh lan dài nở đêm
Từ em hé nụ cười huyền
Mùa thu đi mất trên miền cỏ hoa

55
Guốc mòn lẫn tiếng sơn ca
Sư về chống gậy trúc qua cầu này
Ngó bờ suối lạnh hoa bay
Thương sao giòng nước trôi hoài thiên thanh

56
Có con cá mại cờ xanh
Bơi lên nguồn cội tắm nhành suối xuân
Nửa dòng cá gặp phù vân
Hỏi sao mây bỏ non thần xuống chơi

57
Dù mai lều cỏ chân trời
Khơi hương lò cũ khóc người trong thơ
Em còn ửng má đào tơ
Tóc xưa dù có bây giờ sương bay

58
Lên non ngắt đóa hoa này
Soi nghiêng đáy suối bóng ai nhạt nhòa
Nom hoài chẳng rõ là ta
Tắm xong khoác áo hát ca về làng

59
Tay đeo vòng ngọc xênh xang
Áo em bay giải tơ vàng thiết tha
Bước chân tìm chán ta bà
Ngừng đây nó hỏi: đâu là vô minh

60
Hỏi con vạc đậu bờ kinh
Cớ sao lận đận cái hình không hư
Vạc rằng: thưa bác thiên thư
Mặc chi cái áo thiền sư ỡm ờ

61
Nước đi từ thủa bao giờ
Dòng xuôi người đứng trên bờ ngó xuôi
Chừng đâu dưới bến hoa tươi
Buộc thuyền xưa đã có người ngó sông

62
Từ hôm em bỏ theo chồng
Áo trắng em cất áo hồng em mang
Chiều nay giở lại bàng hoàng
Mười năm áo cũ hoe vàng lệ xanh

63
Đôi chim nho nhỏ trên cành
Giục nhau đan tổ cỏ xanh bên đường
Nửa đời mây nước du phương
Thiền sư ngắt cỏ cúng dường phật thân

64
Gò chiều ùn bụi sương lên
Hỏi ra mới biết nơi yên cành vàng
Bên mồ chồn cáo đùn hang
Chim kêu như lảnh tiếng nàng ngân nga

65
Cuối xuân ta lại tìm qua
Tiểu thư chi mộ thềm hoa dại tàn
Sớm thu ta đánh đò sang
Bên đường cỏ mộ lại vàng cúc hoa

66
Trúc thưa cổng gió ơ hờ
Em ra tựa cửa nghĩ chưa lấy chồng
Sông ơi xanh nhé một dòng
Mùa xuân cắp rổ ra đồng vớt hoa

67
Đường dài xao xác chim ca
Người còn khoác nón theo tà dương nao
Ván cờ bày trắng bông đào
Sao lên núi thẫm trăng vào chén không

68
Đồi thu vắt suối mây hồng
Chim xanh lác đác ngược dòng hoa tiên
Bấc sầu lửa lụn chờ em
Lệ xưa ai đã đổ nên dầu này

69
Đón em như ngóng chim trời
Bãi xuân sớm đậu chiều dời khói thu
Em còn áo trắng ngày xưa
Trong anh muôn thủa bao giờ lệ hoen

70
Khơi trầm thơm tụng kinh hiền
Máu xuân mạch lạnh trong miền xương da
Vườn chùa có nụ hàm ca
Sương khuya: pháp bảo trăng tà: vô môn

71
Mai tươi cánh nở bên cồn
Mưa bay lấm tấm cành hương trắng ngời
Thu đông tàng ẩn kho trời
Hạt rơi rụng ngọc cánh rời rã hoa

72
Cổng làng mở cánh sao sa
Nhã lan loáng thoáng tiếng gà xóm mai
Lên chùa dâng dĩa hoa nhài
Chợt viền trăng lạnh trên hài tổ sư

73
Chuông ngân chiều lặng trầm tư
Tiếng lơi đẫm hạt thiên thư bềnh bồng
Điệu về tay giấu chùm bông
Gót chân đất phật trổ hồng hằng sa

74
Bóng trăng tịch mặc hiên nhà
Thành đàn nẩy hạt tỳ bà quyện hương
Gió thu từ độ tha phương
Về trên hốc gỗ bên đường lặng im

75
Áo em vạt tím ngàn sim
Nửa nao nức gọi nửa im lặng chờ
Yêu nhau từ độ bao giờ
Gặp đây giả bộ hững hờ khói bay

76
Tình cờ như núi gặp mây
Như sương đậu cánh hoa gầy tiêu dao
Tỉnh ra thì giấc chim bao
Chuyện mười năm cũ lại nao nao lòng

77
Cành sen lá chĩu sương trong
Áo ni xám vạt trời hong buồn về
Tay nào nghiêng nón thơ che
Tay nào lần chuỗi bồ đề xanh xao

78
Đôi mày là phượng cất cao
Đôi môi chín ửng khoé đào rừng mơ
Tiếng nàng vỡ bạc thành thơ
Tụng dòng kinh tuệ trên tờ khói mây

79
Tóc em rừng ngát hương say
Tay em dài nụ hoa lay dáng ngà
Mắt xanh bản nguyện di đà
Bước trầm hương nhẹ lẫn tà dương chim

80
Mắt nàng ru chiếc nôi êm
Ru hồn tôi ngủ ngàn đêm tuyệt vời
Em là hoa hiện dáng người
Tôi là cánh bướm cung trời về say

81
Một đêm nằm ngủ trong mây
Nhớ đâu tiền kiếp có cây hương trời
Cây bưởi trắng ngát hương đời
Nụ là tay phật chỉ người qua sông

82
Non xanh khoác áo sương hồng
Con chim điểm tuyết ngoài đồng vụt bay
Tiếng kêu lạnh buốt lòng tay
Ngón buông lại chợt tuôn đầy lòng hoa

83
Em bên cửa chuốt tay ngà
Cội lan đông mặc nở qua mấy nhành
Ngày em ướp áo hồ xanh
Con uyên tha thiết trên cành gọi thu

84
Ni về khép cửa chùa tu
Sớm mai mở cổng quét thu vườn hồng
Thu vương ngọn chổi đôi bông
Thoảng dâng hương lạ bướm vòng cánh duyên

85
Sư lên chót đỉnh rừng thiền
Trong tim chợt thắp một viền tà dương
Ngón tay nở nụ đào hương
Cầm nghiêng tịnh độ một phương diệu vời


86
Một dòng hoa nổi trên trời
Một dòng hoa nở trong người trầm tư
Cánh nào mở cõi không hư
Phiến băng tuyết khảm một tờ kim cang

87
Thư em ướp nụ lan vàng
Lời em gió núi chiên đàn thoảng xa
Áo em phất cõi di đà
Ngón chân em nở cánh hoa đại từ

88
Chênh vênh đầu trượng thiền sư
Cửa non khép ải sương mù bóng ai
Non xanh ướm hỏi trang đài
Trăm năm còn lại dấu hài động hoa

89
Ngày xưa bên dậu vàng hoa
Chiều chiều kê chõng nằm ra ngó trời
Năm sau em bỏ đi rồi
Ta về ngồi lắng mưa rơi giậu buồn

90
Trên nền gạch nẻ rêu phong
Xưa phơi nhã điệu giờ hong đóa quì
Trẻ đào bãi cỏ xanh rì
Được thanh kiếm quỉ bao kỳ thu han

91
Non đem nhạn nhốt trong thành
Cho sông chưa trở yếm xanh dưới cầu
Người còn dệt lụa tằm dâu
Đêm nghe mưa rụng thiên thâu ngoài giàn

92
Núi nghiêng suối vắt tơ đàn
Nhìn ngoài thạch động mưa vàng lưa thưa
Nghiêng bình trà nhớ hương xưa
Từ vàng hoa nọ bây giờ vàng hoa

93
Sáng nghe lan rụng mái nhà
Chừng như mưa nhẹ núi xa mùa này
Đường về mù mịt ngàn mây
Về nam đôi cánh chim bay xạc xào

94
Mây dù chẳng chất non cao
Đường về dù chẳng sông đào nông sâu
Đêm đêm lòng dục nẻo sầu
Thềm trăng ngỡ tưởng hoa cau rụng thầm

95
Nhớ cha giọt lệ khôn cầm
Dưới trăng lấp lánh như trâm vân quỳnh
Nghiêng ly mình cạn bóng mình
Tay ôm vò nguyệt một bình mây bay

96
Gối tay nệm cỏ nằm say
Gõ vào đá tụng một vài biển kinh
Mai sau trời đất thái bình
Về lưng núi phượng một mình cuồng ca

97
Gây giàn thiên lý vàng hoa
Lên non cắt cỏ lợp nhà tụ mây
Xuống đầm tát cá xâu cây
Bới khoai vùi lửa nằm dài nghe chim

98
Khách xa nhớ đến nhau tìm
Lên đồi trẩy một giỏ sim làm quà
Hứng nước suối thết bình trà
Hái bầu nấu bát canh hoa cười khàn

99
Vào hang núi nhập niết bàn
Tinh anh nở đóa hoa vàng cửa khe
Mai sau thí chủ nào nghe
Tìm lên xin hỏi một bè mây xanh

100
Hoa vàng ta để chờ anh
Hiện thân ta hát trên cành tâm mai
Trần gian chào cõi mộng này
Sông Ngân tìm một bến ngoài hóa duyên.

 

Ở trên là lục bát. Nay đọc thử giòng thơ thất ngôn của họ Phạm xem sao:

Chim Quyên Từ Ðộ Bỏ Thôn Đoài

Chim quyên từ độ bỏ thôn Đoài
Quyên chẳng buồn thảm thiết gọi ai
Về núi Nam gặp cành hoa trắng
Quặn đau lòng ngó phiến tâm mai.

Đồi Cù
Thả gót giầy lãng đãng bên hồ
Trên đồi Cù thông rụng lá khô
Cơn sương trắng lùa ta mải miết
Xuống ven bờ phi hữu phi vô.

Đan Áo
Em ngồi đan chiếc áo len xanh
Hẹn gió thu về gửi tặng anh
Rồi bỏ đó em vào thiên cổ
Anh một đời ngóng áo thiên thanh.

Phơi Áo
Xưa em phơi áo giữa thu phong
Lá vàng cài trên lụa rực hồng
Nay áo đã cuốn về thiên cổ
Lá vàng bay lạnh nỗi niềm không.

Trăng Úa

Ðã chớm vào thu sương chẳng bay

Sương rơi ngày đó lạnh ngày nay

Những đêm thức giấc nhìn trăng úa

Tưởng lửa rừng xa đốt giữa mây.

Hoang Phế

Ven núi vàng trơ mấy bức tường

Chiều chiều nắng lụn cú  kêu sương

Có con bướm trắng vương nền cỏ

Lẫn giữa ngàn lau dõi chút hương.

Và đây, ngũ ngôn. Bài thơ lãng mạn và buồn nhất của một người ỡm ờ chênh vênh giữa hai cõi đời-đạo:

Vết Chim Bay

Ngày xưa anh đón em

Nơi gác chuông chùa nọ

Con chim nào qua đó

Còn để dấu chân in

Anh một mình gọi nhỏ

Chim ơi biết đâu tìm

Mười năm anh qua đó

Còn vẫn dấu chân chim

Anh một mình gọi nhỏ

Em ơi biết đâu tìm

Ngày xưa anh đón em

Trên gác chuông chùa nọ

Bây giờ anh qua đó

Còn thấy chữ trong chuông

Anh khoác áo nâu sồng

Em chân trời biền biệt

Tên ai còn tha thiết

Trong tiếng chuông chiều đưa

Ngày xưa em qua đây

Cho tình anh chớm nở

Như chân chim muôn thuở

In mãi bực thềm rêu

Cõi người có bao nhiêu

Mà tình sầu vô lượng

Còn chi trong giả tướng

Hay một vết chim bay.

Còn bài này thì ai cũng biết, vì đã được Phạm Duy phổ nhạc. Tựa của bài thơ và bản nhạc rất hay: Ngày Xưa Hoàng Thị và ba dấu chấm (…). Nếu thêm chữ Ngọ vào để thay cho ba dấu chấm thì mất hay ngay. Nàng tuổi Ngọ, tên Ngọ. Con gái mang cái tên này thì chẳng được đẹp cho lắm. Cho nên không tiện đưa vào tựa đề. Tuy vậy, trong bài, thi nhân cũng “thành thật khai báo” tên thật của người yêu; rồi từ đó, tên cô đi vào thi và ca. Tên Ngọ trở nên nổi tiếng và được mọi người nhắc tên, gọi tên, khi hát bản nhạc dễ thương mà buồn thấm thía này. Trong nhạc, Phạm Duy đã thay đổi và lược đi khá nhiều. Sau đây là bài thơ nguyên thủy:

Ngày Xưa Hoàng Thị… 

Em tan trường về

Ðường mưa nho nhỏ

Chim non giấu mỏ

Dưới cội hoa vàng

Bước em thênh thang

Áo tà nguyệt bạch

Ôm nghiêng cặp sách

Vai nhỏ tóc dài

Anh đi theo hoài

Gót giầy thầm lặng

Ðường chiều úa nắng

Mưa nhẹ bâng khuâng

Em tan trường về

Cuối đường mây đỏ

Anh tìm theo Ngọ

Dáng lau lách buồn

Tay nụ hoa thuôn

Vương bờ tóc suối

Tìm lời mở nói

Lòng sao ngập ngừng

Lòng sao rưng rưng

Như trời mây ngợp

Hôm sau vào lớp

Nhìn em ngại ngần

Em tan trường về

Ðường mưa nho nhỏ

Trao vội chùm hoa

Ép vào cuối vở

Thương ơi vạn thuở

Biết nói chi nguôi

Em mỉm môi cười

Anh mang nỗi nhớ

Hè sang phượng nở

Rồi chẳng gặp nhau

Ôi mối tình đầu

Như đi trên cát

Bước nhẹ mà sâu

Mà cũng nhòa mau

Tưởng đã phai màu

Ðường chiều hoa cỏ

Mười năm rồi Ngọ

Tình cờ qua đây

Cây xưa  vẫn gầy

Phơi nghiêng ráng đỏ

Áo em ngày nọ

Phai nhạt mấy màu?

Chân theo tìm nhau

Còn là vang vọng

Ðời như biển động

Xóa dấu ngày qua

Tay ngắt chùm hoa

Mà thương mà nhớ

Phố ơi muôn thuở

Giữ vết chân tình

Tìm xưa quẩn quanh

Ai mang bụi đỏ

Dáng em nho nhỏ

Trong cõi xa vời

Tình ơi tình ơi!

Giai Nhân trong thơ nhạc kỳ 3

Đặng Thế Phong- Dương thế bao la sầu

Trong lịch sử âm nhạc Việt Nam, Đặng Thế Phong là một trường hợp đặc biệt. Ông là một trong rất ít nhạc sĩ tiên phong của thời kỳ tân nhạc còn phôi thai, chết rất trẻ nhưng kịp để lại cho đời 3 ca khúc bất hủ.

Người viết có may mắn được gặp gỡ hai người biết khá rõ về cuộc đời Đặng Thế Phong. Đó là nhạc sĩ Lê Hoàng Long, tác giả ca khúc Gợi giấc mơ xưa (hiện sống tại TP.HCM) và nhà văn Phạm Cao Củng (gặp cách đây khoảng 10 năm, khi ông từ Mỹ về thăm quê hương, qua sự giới thiệu của họa sĩ Mạc Chánh Hòa). Theo nhà văn Phạm Cao Củng thì Đặng Thế Phong là một chàng trai rất đẹp, đàn hay hát giỏi, thích hóa trang thành thiếu nữ trong những vở kịch ngắn. Anh diễn rất đạt nên ai cũng yêu thích, nhất là phái nữ.

Nhạc sĩ Lê Hoàng Long thì khẳng định người yêu của Đặng Thế Phong tên Tuyết. Tuyết không đẹp nhưng có duyên. Cô là con gái một chủ tiệm buôn bán “gối màn chăn drap” ở chợ Sắt (Nam Định). Vốn tính nhút nhát, Đặng Thế Phong nghĩ mãi cũng không biết làm cách nào để “tiếp cận” người đẹp. Cuối cùng, anh vờ làm khách hàng vô hỏi giá rồi… nhét vội vào tay nàng một lá thư. Chẳng biết nội dung bức thư đầu tiên này mùi mẫn như thế nào mà sau đó cô Tuyết đã cự tuyệt một anh thông phán trẻ làm việc ở Tòa Đốc lý Nam Định, khi anh này dạm hỏi.

Thuyền mơ buồn trôi xuôi dòng

Trước khi quen và yêu Tuyết, Đặng Thế Phong đã sáng tác ca khúc đầu tay Đêm thu trong một đêm cắm trại của Hướng đạo sinh (1940). Ca từ của bản nhạc rất trong trẻo, lạc quan… Còn bản Con thuyền không bến thì được sáng tác ở Phủ Lạng Thương (Bắc Giang) khi tình yêu giữa nhạc sĩ và cô Tuyết đang độ chín mùi.

Một hôm, ông cùng một nhóm bạn văn nghệ sĩ lên Bắc Giang chơi, nhân đó họ tổ chức một đêm đi thuyền trên sông Thương. Cùng lúc đó, chàng nhận được tin Tuyết ngã bệnh nơi quê nhà. Lòng dạ bồn chồn, xót xa, Đặng Thế Phong ôm đàn bước vào khoang thuyền, bỏ mặc các bạn đang đùa vui. Khi đêm sắp tàn thì bản nhạc hoàn tất với những lời ai oán não nùng gửi về… chân mây: “Đêm nay thu sang cùng heo may. Đêm nay sương lam mờ chân mây… như nhớ thương ai chùng tơ lòng…”, rồi “… Nhớ khi chiều sương cùng ai trắc ẩn tấm lòng. Biết bao buồn thương, thuyền mơ buồn trôi xuôi dòng…”.

Sớm hôm sau, Đặng Thế Phong tức tốc trở về Hà Nội, người đầu tiên được nghe chính tác giả hát ca khúc này là người yêu của ông. Cô Tuyết hết sức cảm động. Chưa hết, chỉ ít lâu sau, Con thuyền không bến ra mắt khán giả thủ đô tại Nhà hát Lớn Hà Nội qua tiếng hát của nữ ca sĩ Vũ Thị Hiển. Từ Nam Định, cô Tuyết đã bỏ hẳn một ngày chợ để lên Hà Nội, ngồi cạnh Đặng Thế Phong, ngay ở hàng ghế đầu để nghe bài hát “người ấy làm riêng cho mình”. Hạnh phúc còn nhân đôi bởi chỉ khoảng một tuần sau, tại rạp Olympia (phố Hàng Da, Hà Nội), cô Tuyết còn được chứng kiến người mình yêu tự đệm đàn, tự hát ca khúc này mà ánh mắt luôn trìu mến hướng về chỗ cô ngồi, trong tiếng hoan hô nhiệt liệt của khán giả.

Trời thu gieo buồn lây

Sau khi từ Bắc Giang về, Đặng Thế Phong đã nhuốm bệnh. Thời đó, bệnh lao là một bệnh nan y và luôn bị những người chung quanh xa lánh. Bệnh tình ngày càng trầm trọng, ở tỉnh không đủ điều kiện chữa trị, Đặng Thế Phong phải chuyển lên Hà Nội, sống chung với ông chú họ Nguyễn Trường Thọ trong một căn gác ở làng hoa Ngọc Hà (ngoại ô Hà Nội). Tuy vậy, tình trạng vẫn không khá hơn chút nào. Gia cảnh nghèo nàn, tiền bạc phải vay mượn để chữa trị, cuộc sống kham khổ làm cho tình cảnh của nhạc sĩ càng thêm nghiệt ngã… Cô Tuyết vì phải phụ giúp gia đình chuyện buôn bán ở thành Nam nên vài hôm mới lên Hà Nội chăm sóc người yêu rồi lại tất tả quay về.

Tháng 7 mưa ngâu. Cảnh buồn tê tái. Đặng Thế Phong nhớ Tuyết quay quắt… Nhạc hứng tuôn trào, chàng gượng ngồi dậy, ôm đàn và viết nên khúc nhạc buồn da diết: “Ngoài hiên giọt mưa thu thánh thót rơi. Trời lắng u buồn, mây hắt hiu ngừng trôi. Nghe gió thoảng mơ hồ trong hơi thu, ai khóc ai than hờ… Trời thu đến nơi đây gieo buồn lây. Lộng vắng bốn bề không liếp che gió về. Ai nức nở quên đời châu buông mau, dương thế bao la sầu…”. Bản nhạc được chàng đặt tên là Vạn cổ sầu. Bạn bè góp ý nhạc thì hay nhưng cái tựa bi thảm quá. Cuối cùng, tên bản nhạc được đổi thành Giọt mưa thu.

Cuối năm 1941, biết mình khó qua khỏi, Đặng Thế Phong nhờ ông Thọ đưa về Nam Định. Từ đấy cho đến lúc Đặng Thế Phong lìa đời, cô Tuyết lúc nào cũng túc trực bên giường bệnh để chăm sóc ông, khiến những người quen biết đều xót xa thương cảm cho một mối tình vô vọng lẫn nể phục tính cách cao thượng chung thủy của Tuyết.

Tang lễ của chàng nhạc sĩ 24 tuổi ấy được rất nhiều thanh niên nam nữ của thành Nam tham dự. Ngoài việc đưa tiễn một người con tài hoa nổi tiếng của quê hương, họ còn muốn chia sẻ và tỏ lòng trân trọng đến với cô thiếu nữ mặc áo đại tang đi sau linh cữu của chàng (việc này được phép của cả hai gia đình).

Đặng Thế Phong sinh năm 1918 tại TP.Nam Định. Cha là Đặng Hiển Thế – thông phán Sở Trước bạ Nam Định. Thân phụ Đặng Thế Phong mất sớm, hoàn cảnh gia đình quá túng thiếu, Đặng Thế Phong phải bỏ dở việc học (đang học năm thứ hai bậc thành chung – tương đương lớp 7 bây giờ) để lên Hà Nội tìm kế sinh nhai.

Với chất nghệ sĩ thiên phú và tư chất cực kỳ thông minh, Đặng Thế Phong đã “len” vào được Trường cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương (học dự thính). Ở Hà Nội, Đặng Thế Phong vừa học vẽ vừa thực hành để nuôi thân. Ông chuyên vẽ minh họa cho tờ báo Học sinh do nhà văn chuyên viết truyện trinh thám Phạm Cao Củng làm chủ nhiệm.

Hà Đình Nguyên

Đặng Thế Phong: Tài hoa bạc mệnh

Lê Hoàng Long

Trăm năm trong cõi người ta
Chữ Tài chữ Mệnh khéo là ghét nhau

(Nguyễn Du)

Suy từ cổ chí kim, từ Đông sang Tây, người tài hoa là người bạc mệnh, kẻ hồng nhan thường đa truân. Nhìn vào làng nhạc, nhạc sĩ Đặng Thế Phong là điển hình rõ nét nhất.

Đặng Thế Phong sinh năm 1918 tại thành phố Nam Định. Ông là con trai Đặng Hiển Thế, thông phán sở Trước bạ Nam Định. Thân phụ ông chẳng may mất sớm, gia đình túng thiểu, ông phải bỏ học khi đang theo học năm thứ hai bậc thành chung (deuxième année primaire supérieure, nay là lớp bảy cấp hai phổ thông). Vướng vào cái nghiệp văn nghệ từ thủa còn nhỏ nên ông đã lên Hà Nội theo học trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương (Ecole supérieure de Beanx Arts) với tư cách bàng thính viên (auditeur libre). Đặng Thế Phong đã thực sự lấy nghề nuôi nghiệp: thời gian theo học này, ông đã phải vẽ tranh cho báo Học Sinh (chủ báo là nhà văn Phạm Cao Củng) để có tiền ăn học. Trong một kỳ thi, ông đã vẽ một bức tranh cây cụt, không có một cành nào. Lúc nạp bài, giáo sư Tardieu, thầy dạy ông đã nói rằng có lẽ Đặng Thế Phong không thọ!

Ông đã phiêu du vào Sài Gòn rồi sang Nam Vang vào đầu năm 1941 và mở một lớp dạy nhạc tại kinh đô xứ Chùa Tháp cho đến mùa thu 1941 ông lại trở về Hà Nội.

Cũng giống như Mozart lúc sinh thời, Đặng Thế Phong là một nhạc sĩ rất nghèo, nên cuộc sống của ông chật vật. Ngoài tài làm nhạc, vẽ tranh, ông còn có giọng hát khá hay, tuy chưa được là Ténor nhưng cũng được khán giả hâm mộ. Lần đầu tiên ông lên sân khấu, hát bài Con Thuyền Không Bến tại rạp chiếu bóng Olympia (phố Hàng Da Hà Nội) vào năm 1940, được hoan nghênh nhiệt liệt. Đặng Thế Phong là một thiên tài, nhưng vẫn không có được cuộc sống sung túc giữa cố đô Thăng Long lúc bấy giờ vì nhạc và tranh dù có hay, có đẹp đến mấy chăng nữa cũng chẳng có mấy ai mua. Thời ấy, chính quyền bảo hộ Pháp có mở một phòng triến lãm tranh tại hội Khai Trí Tiến Đức, khu Bờ Hồ Hoàn Kiếm. Sau lễ khai mạc được ông Đốc Lý thành phố Hà Nội đến cắt băng, người ta thấy những người đến xem tranh phần rất lớn toàn là ông Tây, bà đầm, còn người Việt thì đúng là lơ thơ tơ liễu buông mành, nhìn kỹ thấy toàn là các quan ta, những công chức cao cấp, giới trí thức, thượng lưu chứ chẳng thấy một dân thường nào! Ngoài ra, thời bấy giờ chính quyền Pháp có tổ chức mở phòng triển lãm là bảo trợ cho các hoạ sĩ Pháp trưng bày tranh của mình còn hoạ sĩ Việt Nam thì số người lọt được vào, ta có thể đếm trên đầu ngón tay. Đến nhạc thì nếu có in, mỗi lần xuất bản cũng chỉ in nhiều nhất là 500 bản, dân chúng chưa yêu chuộng nhạc cải cách (tân nhạc) nên dù có thực tài thì cũng không thể có được một cuộc sống sung túc nếu nhờ vào sức lao động nghệ thuật!

Đặng Thế Phong phải chịu một cuộc sống khó khăn, chật vật trong “kiếp con tằm đến thác vẫn còn vương tơ” cho đến đầu năm 1942, ông từ giã cõi đời tại căn gác hẹp ở phố Hàng Đồng Nam Định vì bệnh lao màng (tuberculose péritonique), hưởng dương 24 tuổi, tuổi son trẻ, đầy thơ mộng, sắp bước vào thời xây dựng sự nghiệp (tam thập nhi lập).

Cuộc đời của Đặng Thế Phong thật quá ngắn ngủi nhưng đời sống tinh thần của ông rất phong phú và thi vị. Nhờ thế mà tuy sáng tác chỉ có ba bài:

  • Con Thuyền Không Bến:


  • Đêm Thu:


  • Giọt Mưa Thu:


Nhưng bài nào cũng trở thành vĩnh cửu, qua hơn nửa thế kỷ vẫn là những bài hay nhất của làng nhạc Việt Nam. Nhạc hứng chân thành đều phát xuất từ con tim, vì thế mà sáng tác của ông có hồn, đi vào lòng người và sống mãi! Qua Đặng Thế Phong, ta chứng minh được văn nghệ tính phẩm chứ không tính lượng (quý hồ tinh bất quý hồ đa). Con người làm văn nghệ viết được một câu để đời đã là khó, được một tác phẩm để đời là đáng mãn nguyện lắm rồi. Với âm nhạc, người chuyên sử dụng một nhạc cụ cho thật điêu luyện được tôn kính hơn là người biết sử dụng nhiều thứ đàn, chẳng thế nào có được một thứ thật tuyệt hảo. Về sáng tác cũng vậy, làm cho nhiều, cố nặn cho lắm, thể điệu nào cũng có bài thì dù viết cả ngàn bài chưa chắc đă có lấy một bài có giá trị nghệ thuật và vĩnh cửu! Chỉ sáng tác có ba bài thôi, Đặng Thế Phong đã sống mãi trong lòng mọi người, chắc chắn là hơn người có cả ba trăm bài mà chẳng có một bài nào để người ta nhớ!

Với nghệ thuật nói chung, âm nhạc nói riêng, muốn thành công là phải có tài năng thiên phú chứ không thể nhờ vào thời gian, kiên nhẫn, sách vở, trường lớp hay bằng cấp mà đạt được! Vì thế chúng tôi dám tôn vinh Đặng Thế Phong là một thiên tài của làng nhạc Việt, thật không ngoa.

Cuộc đời Đặng Thế Phong đã có được một mối tình thật chung thủy tuyệt đẹp: Khi còn ở Nam Định, Đặng Thế Phong đã đem lòng yêu một thiếu nữ buôn bán ở Chợ Sắt, chợ duy nhất và lớn nhất của thành phố. Cô này không đẹp nhưng lại rất có duyên. Sau nhiều ngày đi chơi chợ, Đặng Thế Phong đã lọt vào mắt mỹ nhân. Cặp tình nhân trai tài, gái đảm đã dìu nhau vào cuộc tình thật trong sáng và cao thượng! Điều đáng ca ngợi là chàng nhạc sĩ tài hoa ho. Đặng không bao giờ đụng chạm đến đồng tiền của người yêu, dù cho người đẹp, tên Tuyết, nhiều lần khôn khéo bày tỏ lòng mình muốn giúp chàng. Những buổi chiều trời quang, mây tạnh hay gió mát, trăng thanh, hai người đều dìu nhau trên những con đường ngoại ô để tâm tình. Thời bấy giờ, nhiều thanh niên rất ngưỡng mô. Đặng Thế Phong, khi biết mối tình của cặp Phong – Tuyết, đều mến trọng và tôn kính là một cuộc tình lý tưởng!

Đặc biệt nhất là mấy cô gái phố Hàng Đồng, gia đình rất khá giả tỏ lòng yêu mến Đặng Thế Phong, nhưng ông vẫn một lòng yêu cô Tuyết, dù cô không đẹp bằng mấy cô kia. Có một hôm, mấy cô kia đang đứng nói chuyện với nhau thấy Đặng Thế Phong đi qua, với lối đi có vẻ vội vã. Thấy bóng ông, mấy cô ngưng bặt, rồi chẳng cô ai bảo cô nào, tất cả ánh mắt đều hướng về ông như dán chặt vào người ông vậy. Khi Đặng Thế Phong vừa bước tới ngang chỗ các cô thì một giọng nói đầy hờn dỗi pha thêm mai mỉa, được nói lớn lên, cố ý cho Đặng Thế Phong nghe thấy:

- Mấy chị đứng dịch ra, người ta đi vội kẻo trễ hẹn.

Đặng Thế Phong nghe rõ nhưng coi như điếc, cứ rảo bước như không có gì xảy ra. Đến nơi hẹn, gặp cô Tuyết đã đứng chờ, Đặng Thế Phong kể cho cô nghe vụ vừa bị chọc ghẹo. Cô Tuyết không nói gì mà chỉ tủm tỉm cười với ánh mắt nhìn người yêu thật là trìu mến. Về nhà, Đặng Thế Phong không nói ra với anh chị em mà thầm thì kể cho ông chú họ, cùng lứa tuổi, là ông Nguyễn Trường Thọ biết thôi. Ngoài ra, ông còn kể cho ông Thọ nghe chuyện cô Tuyết có một chàng thông phán trẻ, đẹp trai, có tiền, có địa vị, làm ở Tòa Đốc Lý thành phố theo đuổi, còn nhờ cả hai người mai mối nhưng cô nhất quyết khước từ, bất chấp cả lời dị nghị của mọi người, nhất là gia đình cố ý gán ghép.

Năm 1940, Đặng Thế Phong phải tạm xa cô Tuyết để lên Bắc Giang ít ngày. Ai đã đến Bắc Giang là biết thị xã này có con sông Thương, một con sông có hai dòng nước, bên đục, bên trong. Kẻ viết bài này, lúc bé học ở Bắc Giang, vào những ngày hè nóng bức, cùng bạn bè ra sông bơi. Đứng từ trên cầu ra tháp nước khá cao, nhìn thấy rõ hai dòng nước đục trong rõ rệt! ở Bắc Giang, một buổi tối trăng sao vằng vặc, Đặng Thế Phong đã cùng bạn bè thuê thuyền cấm sào rồi cùng nhau chén chú, chén anh hàn huyên mọi chuyện. Đang lúc đang vui thì có người ra đưa cho Đặng Thế Phong một bao thư. Ông ngưng ngay chuyện trò và vào trong khoang, lấy bao diêm ra đốt lửa để coi thư và đây đúng là thư của cô Tuyết, từ thành Nam gửi lên cho ông. Đọc xong thư, ông có vẻ buồn và suy nghĩ. Bạn bè thắc mắc nên hỏi, được ông cho biết thư báo tin cô Tuyết nhuốm bệnh cả tuần rồi và nhớ ông lung lắm nên có lẽ ông phải về Nam Định gấp! Chính đêm này, lúc đêm sắp tàn, Đặng Thế Phong thao thức không sao chợp mắt được, đã ngồi dậy sáng tác được tác phẩm Con Thuyền Không Bến buồn não ruột:

Đêm nay thu sang cùng heo may
Đêm nay sương lam mờ chân mây
Thuyền ai lờ lững trôi xuôi giòng
Như nhớ thương ai trùng tơ lòng…
.. Lướt theo chiều gió
Một con thuyền theo trăng trong
Trôi trên sông Thương nước chảy đôi dòng
Biết đâu bờ bến?
Thuyền ơi thuyền trôi nơi nao
Trên con sông Thương nào ai biết nông sâu?…

Hai hôm sau Đặng Thế Phong từ giã bạn bè, rút ngắn thời gian để về Nam Định. Được tin Đặng Thế Phong đã về, cô Tuyết thấy bệnh thuyên giảm rất nhanh. Và tối hôm sau hai người hẹn gặp lại nhau. Lúc ấy miền Bắc đang vào Thu, gió heo may kéo về mang cái lạnh. Tối hôm ấy trăng lên muộn, trời tối gió nhẹ làm cho hai người thấy thích thú đi bên nhau để sưởi ấm lòng nhau sau bao ngày xa cách. Dìu nhau đến nơi cũ, Đặng Thế Phong ghé sát tai cô Tuyết, hát nhẹ nhàng, giọng rạt rào tình cảm như rót vào tai cô bài Con Thuyền Không Bến mà ông vừa sáng tác trong một đêm trắng trên sông Thương vì thương nhớ cô. Khi hát xong, Đặng Thế Phong phải lấy khăn tay ra nhẹ nhàng lau hai giòng lệ đang từ từ chảy xuống má cô với lòng xúc động không kém! Lúc ra về, Đặng Thế Phong nói: Làm được một bài nhạc nhờ em, nay về được hát cho em là người đầu tiên nghe, thế là anh sung sướng lắm rồi!

Cô Tuyết cũng đáp lại lòng tri kỷ: Là một người đàn bà tầm thường như em mà đã làm cho anh có được một bài hát thì với em đó là một vinh dự, một hạnh phúc thật cao sang, không phải ai ở trên đời cũng có được! Tình anh trao cho em thật trọn vẹn, thật bất diệt, chắc chắn không bao giờ hình ảnh anh bị phai mờ trong tim trong óc em được, bây giờ và mãi mãi. Đến lúc ấy chị Hằng mới ló mặt ra dịu dàng nhìn xuống trần thế và chứng giám hai người yêu nhau đang đứng sát bên nhau sau khi đã uống cạn lời nói của nhau. Sau hôm ấy, Đặng Thế Phong mới cho phổ biến rất hạn chế trong đám thanh niên tỉnh nhà bài Con Thuyền Không Bến, được mọi người yêu chuộng nên rất nhiều người biết đến.

Chính vì thế mà có một người ở Hà Nội mới mời Đặng Thế Phong lên Hà Nội để hát tại rạp chiếu bóng Olympia bài hát của mình. Trong buổi ấy, Đặng Thế Phong ra sân khấu hát Con Thuyền Không Bến đầy xúc động vì ngay ở hàng ghế đầu, cô Tuyết đã bỏ hẳn một ngày chợ để lên Hà Nội nghe người yêu hát bài làm vì mình và cho mình! Riêng với Đặng Thế Phong, ông xúc động là phải vì với số khán giả đông đảo không đáng ngại mà là trong lòng ông thầm nghĩ hát hôm nay rất cần và chỉ cần để một người nghe là đủ nên phải mang hết tài trí ra biểu diễn sao cho thành công! Hát xong, khán giả vỗ tay hoan nghênh nhiệt liệt.

Sau một thời gian ở Bắc Giang, ông nhuốm bệnh. Vì lúc đó bệnh lao là nan y nên ông giấu mọi người, ai biết đều sợ bị lây nhiễm không hiểu sao cô Tuyết biết được. Cô Tuyết rất tế nhị và khôn khéo hỏi Đặng Thế Phong:

- Sao dạo này em thấy anh gầy và xanh lắm, Anh có bệnh gì không mà em thấy sút lắm! Anh đi nhà thương khám và thuốc men, cho khoẻ để mình còn tính đến tương lai!

Ông ậm ừ cho qua. Từ đó cô Tuyết âm thầm tìm mọi cách để giúp người yêu trong lúc nhà nghèo bệnh trọng. Đặng Thế Phong cũng đến nhà thương để khám bệnh. Sau khi dò hỏi, biết bệnh của ông, cô Tuyết nhân quen với một số y sĩ (médecin indochinois) làm ở nhà thương, mua thuốc rồi nhờ ông ta nhận là thuốc của nhà thương, ông lấy cho Đặng Thế Phong.

Thuốc bệnh lao lúc ấy vừa hiếm lại vừa đắt, cô Tuyết không những không ngại tốn kém, mà còn thường xuyên gặp Phong để săn sóc một cách kín đáo, kể cả không sợ bị lây. Về phần Đặng Thế Phong thì ông không hề biết thuốc là của cô Tuyết mua cho mình.

Trong các cuộc tình cao đẹp của văn nghệ sĩ, có hai nữ lưu đáng để người đời ca tụng: cô Tuyết biết người yêu bị bệnh nan y, rất dễ lây, Mộng Cầm biết Hàn Mặc Tử bị bệnh phong cùi, vừa ghê sơ. vừa dễ lây thế mà hai ngườí đã có tình yêu chân thật, chung thủy, không những không sợ mà còn hết lòng chăm sóc, thuốc men cho đến ngày tử biệt! Thật hiếm hoi và cao quý vô cùng!

Mùa xuân năm 1941, cô Tuyết cùng Phong từ Nam Định lên Hà Nội để tiễn chân và tạm biệt Đặng Thế Phong vào Sài Gòn (rồi đi Nam Vang). Ở kinh đô xứ Chùa Tháp, ở Hòn Ngọc Viễn Đông một thời gian thấy cuộc sống cũng không được thoải mái như ý mong muốn, Đặng Thế Phong trở về Hà Nội. Về lần này, Đặng Thế Phong không về Nam Định mà thuê một căn gác hẹp tường cây, mái lá ở làng trồng hoa Ngọc Hà, vùng ngoại ô thành phố Hà Nội. Đặng Thế Phong ở chung với chú là ông Nguyễn Trường Thọ. Bệnh tình Đặng Thế Phong tái phát ngày một nặng vì người bị bệnh này phải mua thuốc men đầy đủ, phải nghỉ ngơi và ăn uống tẩm bổ tối đa mà những điều phải ắt có và đầy đủ này, với Đặng Thế Phong không thể có được. Chính vì thế mà không tuần nào là cô Tuyết không lên thăm và lo chữa bệnh cho Đặng Thế Phong.

Tháng Bảy mưa ngâu tầm tã, rả rích suốt ngày này sang ngày nọ, tháng này qua tháng khác, gió lạnh kéo về, nhà thì tường cây, mái lá, lạnh buốt lọt xương, cuộc sống kham khổ khiến bệnh tình Đặng Thế Phong ngày càng trầm trọng. Từng cơn ho làm rũ người, tiếp đến những cơn thổ huyết làm cho Đặng Thế Phong ngày một sút hẳn đi. Một mình trên giường bệnh, Đặng Thế Phong nhớ gia đình thì ít mà nhớ người yêu thì nhiều. Thân xác thì bệnh tật khó qua, tâm trí thì luôn luôn phải vật lộn với trăm ngàn ý nghĩ và hình ảnh cuộc tình tươi đẹp nên bệnh mỗi lúc một tăng. Còn đâu những cuộc hẹn hò thơ mộng, quên làm sao được những lời thủ thỉ ân tình và hy vọng gì ở những ước vọng được thành đôi chim nhạn tung trời mà bay, tất cả đã được Đặng Thế Phong ngày đêm day dứt, tiếc thương, muốn níu kéo lại thì cũng chẳng còn gì dể bám víu!

Đặng Thế Phong đã mang lấy nghiệp vào thân thì đời con tằm đến thác cũng còn vương tơ, tránh sao thoát khỏi cái lưới trời thưa mà khó lọt ấy? Chính vì lẽ ấy mà Đặng Thế Phong đã thực sự thể hiện được câu các cụ đã dạy cọp chết để da, người ta chết để tiếng, dù cuộc đời ông ngắn ngủi với 24 mùa lá rụng, một cuộc đời ngắn đến nổi đo chửa đầy gang!

Thế rồi, một hôm mưa rơi tầm tã, giọt mưa lộp bộp trên mái lá, thánh thót từng giọt xuống đường, Đặng Thế Phong buồn quá, con tim như thắt lại, máu trào lên để có được một nhạc hứng lai láng, tràn trề khiến ông gượng ngồi dậy viết một hơi điệu nhạc buồn da diết, não nề. Ông viết xong bèn đặt tên cho sáng tác mới ấy là Vạn Cổ Sầu. Chập tối ông Thọ về có thêm dăm người bạn đến thăm, Đặng Thế Phong ôm đàn hát cho mọi người nghe. Nét mặt của mọi người nín thở nghe, đều buồn như muốn khóc. Nghe xong, ai nấy đều khen bài hát thật hay, xoáy vào tim vào óc nhưng cái tên bài bi thảm quá, nên sửa lại thì hơn. Chính vì thế mà Đặng Thế Phong, đổi tên là Giọt Mưa Thu. Có lẽ đây là cái điềm báo trước, là lời di chúc tạ từ nên Đặng Thế Phong lấy mưa ngâu, mùa mưa là giòng nước mắt tuôn chảy lênh láng của Chức Nữ với Ngưu Lang để ví cuộc tình Phong – Tuyết cũng phải cùng chung số phận phũ phàng giống vậy chăng?

Đến một ngày cuối năm 1941, biết mình khó qua khỏi lưỡi hái của tử thần, Đặng Thế Phong mới ngỏ ý trở về Nam Định để được chết tại quê nhà và muốn ông Thọ dìu ông về. Về nhà, lần này cô Tuyết đích thân đến hàng ngày để chăm sóc, thuốc men cho Đặng Thế Phong, không ngại mệt mỏi và không sợ nguy hiểm đến bản thân mình. Những người quen biết đến thăm, thấy cảnh ấy đều mũi lòng và khâm phục lẫn mến thương cuộc tình cao quý, chung thủy của cặp Phong -Tuyết.

Không biết có phải là tại thần giao cách cảm hay không mà một hôm, nhạc sĩ Bùi Công Kỳ đột nhiên từ Hà Nội về Nam Định thăm Đặng Thế Phong lại vừa đúng lúc Đặng Thế Phong sắp lìa đời. Trên giường bệnh, phút lâm chung, không nói gì được với nhau, Bùi Công Kỳ ôm đàn hát cho Đặng Thế Phong nghe một lần chót bài Giọt Mưa Thu, Giọng hát Bùi Công Kỳ vừa dứt thì mọi người nhìn thấy Đặng Thế Phong mở cặp mắt nhìn như ngỏ lời chào vĩnh biệt rồi nhẹ nhàng trút hơi thở cuối cùng.

Một vì sao Bắc Đẩu của làng nhạc Việt Nam, vừa ló dạng trên bầu trời đã vụt tắt gây niềm xúc động mãnh liệt và niềm thương tiếc vô bờ trong lòng mọi người! Trong tang lễ, nam nữ thanh niên của thành Nam đã lũ lượt kéo nhau đi, chật cả phố phường để tiễn đưa Đặng nhạc sĩ đến nơi an nghỉ cuối cùng với rất nhiều cặp mắt rưng rưng lệ! Cô Tuyết xin phép và được cả hai gia đình, mặc đại tang, đúng như một người vợ trong tang lễ chồng, thật là cảm động.

Năm 1960, tại Phú Nhuận, tôi được tiếp một thiếu phụ chưa hề quen biết. Sau lời chào hỏi, bà tự giới thiệu tên là Tuyết, người Nam Định, di cư vào Nam hiện ở Ban Mê Thuộc. Nhân lần vô tình đọc trên báo Tự Do, thấy quảng cáo trước cuốn Nhạc sĩ danh tiếng hiện đại (tập II) của tôi sắp xuất bản, viết về năm nhạc sĩ trong đó có Đặng Thế Phong, nên bà về gặp tôi để xin tôi cho bà mượn hình của cố nhạc sĩ, chụp lại để về thờ. Trước kia, bà đã có nhưng lúc sắp di cư tấm ảnh đó bị thất lạc, kiếm mãi không sao thấy. Tôi vội lấy ảnh đưa ngay. Cậu cháu đi theo bà mang ngay ra tiệm hình ở đầu hẻm chụp gấp lấy ngay, xong trở vào gửi trả lại tôi. Trong lúc cậu cháu đi chụp hình, tôi có hỏi bà về chuyện tình tươi đẹp như bài thơ trong sáng như trăng mười sáu thì bà Tuyết xác nhận những điều tôi biết là đúng và còn bổ sung cho tôi thêm ít nhiều chi tiết. Bà cũng không quên nói lên điều thắc mắc là tại sao tôi biết rõ thế? Tôi nói thật ngay là được ông chú Nguyễn Trường Thọ cho tôi mượn ảnh, kể rành rẽ cuộc đời ái tình của Đặng Thế Phong cho tôi nghe. Bà cười và nói:

- Chú Thọ tuy là chú nhưng cùng tuổi với anh Phong, nên hai người vừa là chú cháu vừa có tình bạn bè nên trong gia đình chỉ có chú Thọ là được anh Phong tâm sự mà thôi. Thảo nào ông biết quá rõ, quá đúng và quá đủ! Sau lời cám ơn và trước khi ra về, bà Tuyết còn nói với tôi câu cuối cùng, đến nay đã 35 năm rồi, tôi vẫn còn nhớ:

- Cho đến ngày hôm nay, và mãi mãi về sau, tôi tôn thờ anh Phong và đời tôi luôn luôn thương nhớ anh ấy với tất cả cái gì trân trọng nhất.

Viết ra những giòng trên đây, tôi xin được phép coi là nén hương lòng, suy tôn một bậc đàn anh khả kính và khả ái. Tuy anh đã ra người thiên cổ hơn nửa thế kỷ rồi nhưng những Con Thuyền Không Bến, Đêm Thu, Giọt Mưa Thu vẫn là những vì sao tinh tú sáng rực trên bầu trời ca nhạc. Thể xác anh có thể trở về hư không nhưng tinh anh vẫn còn lại muôn đời với giang sơn gấm vóc này. Cuộc đời con người ta, sinh ký, tử quy đó là luật muôn đời của tạo hoá nhưng khi sống cho ra sống, lúc về được qua Khải Hoàn Môn, khi cất ba tiếng khóc chào đời, mọi người hân hoan cười mừng đón ta, khi nhoẻn miệng cười để lìa đời, mọi người thương tiếc khóc ta, thế mới thật là sống, mới đáng sống! Anh đã vĩnh viễn ra đi nhưng tất cả những thế hệ hậu sinh, dù chưa được biết anh, khi hát những bài hát bất hủ của anh để lại, đều tưởng nhớ đến anh, một thiên tài mà ta có thể nói anh là một Mozart của Việt Nam, với tất cả tấm lòng kính mến trang trọng nhất!

Tôi cả tin rằng, dưới suối vàng. anh cũng có thể mỉm cười mãn nguyện. Hiển linh, anh về chứng giám và nhận cho nén tâm nhang này.

Lê Hoàng Long

Vừa tìm thấy một nhạc phẩm của Đặng Thế Phong

Cho đến nay, giới nghiên cứu âm nhạc chỉ biết Đặng Thế Phong qua đời ở tuổi 22 và có 3 bài hát: Con thuyền không bến, Đêm thu và Giọt mưa thu. Nhưng ông còn có nhạc phẩm Gắng bước lên chùa.

 gblc DTP
Bản nhạc “Gắng bước lên chùa” (nhạc Đặng Thế Phong, lời Phạm Cao Củng) in trên báo Tin Mới ra ngày 27/2/1940

Trong đó, Con thuyền không bến lúc đầu có tên Vạn cổ sầu. Thông qua Lê Thương, Thế Lữ, Lưu Hữu Phước, Nguyễn Đình Thi, Nguyễn Cao Luyện, Nguyễn Đình Phúc, Nguyễn Văn Thương, v.v…, tôi được biết: Đặng Thế Phong còn là tác giả một số nhạc phẩm khác.

Đồng thời, ông còn có mối quan hệ về mặt sáng tác với nhà văn chuyên viết truyện trinh thám Phạm Cao Củng.

Bộ sưu tập các bài hát Việt Nam từ khoảng 1937 tới 1975 của tôi không có nhạc phẩm nào mà Đặng Thế Phong và Phạm Cao Củng là đồng tác giả.

Cho tới một hôm…

Cuối năm 1993, tôi lên Đà Lạt dự kỉ niệm Đà Lạt một trăm tuổi. Một buổi chiều, đang đắm mình trong cảnh vật trầm lắng của một ngôi chùa lớn, giữa tiết trời mưa rét, tôi nghe tiếng hát của một người khoảng trên năm mươi tuổi đứng gần cổng chùa. Người đó hát nhè nhẹ, cách hát tỏ rõ ông hiểu âm nhạc.

Tôi làm quen với ông. Tôi bảo ông có giọng hát khá hay. Ông cười và hát lại cả bài. Tôi ngạc nhiên vì bài hát nói về chuyện lên chùa qua những âm điệu gần gũi với đặc trưng nơi cửa Phật.

Tôi nói: Lần đầu tiên, tôi được biết bài này. Nó làm cho tôi nhớ tới ca khúc Kinh khổ(Lời và nhạc: Trầm Tử Thiêng) mặc dầu hai ca khúc có nhiều nét khác nhau.

Ông khen tôi biết thẩm âm. Rồi ông cho biết: Bài hát vừa rồi có tên Gắng bước lên chùa - Nhạc: Đặng Thế Phong. Lời: Phạm Cao Củng.

Tôi hỏi: Có phải Đặng Thế Phong tác giả Con thuyền không bến và Phạm Cao Củng tác giả nhiều truyện trinh thám hay không?

Ông nói: Đúng, đúng! Rồi ông hẹn tôi: Hôm sau, khoảng 15 giờ, cũng tại chùa này, đến gặp ông để tiếp tục câu chuyện liên quan đến bài hát nói trên.

Đúng hẹn, tôi đến. Trời vẫn rét nhưng khô ráo.

Người đàn ông mang theo một cây đàn ghita. Ông hát và tự đệm đàn bài hôm trước. Giọng trầm ấm và thiết tha. Sau đó, ông cho tôi xem một bức ảnh chụp ca khúcGắng bước lên chùa do chính tay Đặng Thế Phong viết nắn nót cả nhạc lẫn lời.

Dưới đầu đề Gắng bước lên chùa, Đặng Thế Phong ghi rõ: Nhạc: Đặng Thế Phong. Lời: Phạm Cao Củng. Cuối ca khúc, có dòng chữ: Tặng Hoàng Quý – Hà Nội, 1 Mai 1940 (tức mồng 1 tháng 5 – 1940).

Ông cho biết thêm: Bức ảnh này do cụ Phúc Lai, một chủ hiệu ảnh rất nổi tiếng ở Hà Nội và Hải Phòng lúc bấy giờ, chụp tại Hà Nội cho bố ông khoảng cuối năm 1940.

Ảnh chụp từ bản có dòng chữ đề tặng nói trên cho nhạc sĩ Hoàng Quý (tác giả Cô láng giềng, Cảm tử quân) – anh ruột của Hoàng Phú tức GS nhạc sĩ Tô Vũ.

Nhạc sĩ Hoàng Quý quen bố ông và đã cho bố ông mượn bài hát có lời đề tặng ấy để bố ông nhờ cụ Phúc Lai chụp làm kỉ niệm. Bố ông qua đời tại Đà Lạt năm 1991. Nhưng khoảng năm 1970, tại Sài Gòn, bố ông đã góp phần vào việc xuất bản tuyển tập nhạc Hoàng Quý.

Tôi hỏi tên ông và tên cụ nhưng ông trả lời: Vì lí do riêng, không thể cho biết. Tuy nhiên, ông nhiệt tình nói rõ: Ca khúc này, theo bố ông, đã in trên nhật báo Tin Mớikhoảng đầu năm 1940.

Hồi giải phóng Sài Gòn, cùng cả gia đình dời Sài Gòn lên Đà Lạt, bố ông bỏ lại hết, kể cả trọn bộ tạp chí Nam Phong và trọn bộ báo Phụ Nữ Tân Văn.

Mùa đông. Chưa đến xế chiều trời đã trở nên mờ xám. Gió lạnh. Tôi phải đi xe ôm về nhà trọ ở xa ngôi chùa chúng tôi đang trò chuyện khoảng 5 cây số. Vì thế, không thể đi phô-tô-cóp-pi bức ảnh chụp bài hát nói trên được. Thật đáng tiếc!

Từ đó đến nay, tôi không được gặp lại người bạn quý ấy nữa.

Gần hai tuần sau, trở về TPHCM, tôi gặp ngay người chủ một tiệm sách báo cũ mà từ mười mấy năm nay tôi là khách quen, hỏi anh có báo Tin Mới hay không. Anh bảo: Khó lắm! Để em tìm!

Tôi ghi số điện thoại bàn cho anh chủ tiệm.

Mãi đến… mười năm sau

Một chiều cuối thu 2003, anh chủ tiệm sách cũ điện thoại cho tôi, bảo đến tiệm anh ngay. Tôi vừa tới, anh lập tức đưa ra hai tập Tin Mới đóng gáy da từ tháng Giêng đến hết tháng Chạp 1940, trong đó khoảng bốn chục số bị mất.

Rất mừng: Có một số in bài hát Gắng bước lên chùa. Đó là số Jeudi 4 Avril 1940 (tức thứ Năm, mồng 4 tháng 4 năm 1940).

Tôi nghẹn ngào tưởng như Đặng Thế Phong đang đứng trước mặt, và, những trang truyện trinh thám Phạm Cao Củng hồi nhỏ tôi đọc ở Thủ đô Hà Nội bỗng hiện ra trước mắt, chập chờn!!!

Tôi đề nghị anh chủ tiệm đi cùng tôi đến một cửa hàng ở đường Hai Bà Trưng để photocopy và xin anh nhận một số tiền nào đó tương đối lớn của tôi.

Anh bảo: Mười năm lặn lội đi tìm một bản nhạc của một nhạc sĩ lỗi lạc. Mười mấy năm anh mua sách báo cũ của em và nhiều tiệm khác… Em chẳng những không lấy một đồng của anh mà còn biếu anh tiền photocopy bài hát đó.

22 giờ, trời se lạnh.

Tôi ôm một tập Tin Mới ngồi sau xe máy do anh chủ tiệm sách báo cũ điều khiển phóng đến một cửa hàng photocopy trên đường Hai Bà Trưng (Tân Định, quận 1).

Xong việc, anh đèo tôi về tiệm của anh để tôi lấy xe đạp.

Tôi nâng niu hồi lâu ca khúc Gắng bước lên chùa trước khi bắt tay cảm ơn anh bạn, ra về.

Gần 23 giờ. Đường vắng. Trong gió se lạnh phả vào mặt, tôi đạp xe từ từ trên đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa. Khi qua cửa chùa Vĩnh Nghiêm, tôi chợt nghĩ: Thế là… mình đãGắng bước lên chùa

Đã hơi khuya. Gió heo may có vẻ mạnh hơn.

Đêm nay thu sang cùng heo may… Bến mơ dù thiết tha, thuyền ơi đừng chờ mong…

Nhật Hoa Khanh

Đặng Thế Phong và mối sầu dương thế

Không có tài liệu nào còn tồn tại cho biết là Đặng Thế Phong (1918 – 1942) đã có nhiều sáng tác hơn là ba ca khúc (được xuất bản sau khi tác giả đã qua đời) hay không.

Nhưng cả ba bài hát chuyên chở cùng một tình tự, một không gian, một bối cảnh. Ấy là tình tự thương nhớ mơ hồ của tuổi trẻ mộng mơ: cả ba dường như đã đều được viết khi tác giả của chúng mới trên dưới hai mươi. Là cái thương nhớ có lẽ không đối tượng, ngoài một cái “ai” nào đó, như:

“Ai khóc ai than hờ” (Giọt Mưa Thu – GMT);

“Như nhớ thương ai chùng tơ lòng,

Ai oán thương ai tàn mơ màng,

Nhớ khi chiều sương cùng ai trắc ẩn tấm lòng”

(Con Thuyền Không Bến – CTKB).

Ấy là không gian Lãng mạn Chủ nghĩa của sầu thương, loại sầu thương của một cậu thanh niên quá đa cảm như nhân vật Werther trong cuốn tiểu thuyết bán-tự-truyện, theo dạng thư (roman épistolaire), của Goethe viết năm 1774, Những đau khổ của chàng Werther trẻ tuổi (“Die Leiden des jungen Werthers”).

Nào là:

“Biết bao buồn thương” (CTKB);

nào là:

“Mãi trong đêm nặng sầu thương hồn vương” (Đêm thu – ĐT).

Mà không chỉ là sầu thương bâng quơ, mà là sầu thương dương thế kia đấy, tương tự như cái Weltschmertz (mối đau thương, chán chường thế giới) của chàng Werther vậy:

“Ai nức nở thương đời, châu buông mau, dương thế bao la sầu” (GMT).

Có người, như ông Lê Hoàng Long (1) nào đó, còn kể lại rằng bài Giọt Mưa Thu mới đầu mang cái tên đẫm vị Đường thi, Vạn Cổ Sầu, chẳng biết thực hư thế nào.

Cái chủ nghĩa Lãng mạn Tây phương nơi Đặng Thế Phong, đối lập hẳn với Chủ nghĩa Cổ điển Đông phương trong thi ca Việt Nam, do đâu mà có? Theo tôi suy đoán, thì khi học trung học theo chương trình Phầp, dù chỉ hai năm đầu, chắc người nghệ sĩ đa sầu, đa cảm trẻ tuổi này hẳn đã phải biết tới Lamartine (1790 – 1869) và Victor Hugo (1802 – 1885), hai thủ lãnh trường phái Lãng mạn Pháp. Vì vậy mà không gian văn bản, lời ca, của ông nặng chĩu những “u buồn” (mélancolie – trong GMT), những “buồn thương” (CTKB). Người đã buồn, thiên nhiên hẳn cũng chẳng vui:

“Mưa buồn chi”,

“Hồn thu tới đây reo buồn lây” (GMT)

“… hoa đứng im như mắc buồn,

Cánh hoa vương buồn trong gió,

… đêm nặng sầu thương” (ĐT).

Cả ba bài hát lại có cùng một bối cảnh: ấy là cảnh mùa thu. Nhạc sĩ lấy cái sầu muộn, cái tàn tạ của thu làm bối cảnh, và tuyên bố ngay từ chính nhan đề ca khúc như Đêm Thu, tới câu mở đầu ca khúc, như Con Thuyền Không Bến, “Đêm nay thu sang cùng heo may,” và Giọt Mưa Thu, “Ngoài hiên giọt mưa thu thánh thót rơi.” Thu là mùa ưa chuộng của thi nhân, Đông cũng như Tây. Hồi còn sinh thời, chắc chắn Đặng Thế Phong đã được đọc các vần thơ cùng thời sau đây, và ít nhiều chúng có thể đã truyền cảm hứng cho ông soạn lời cho ca khúc chăng:

“Đêm thu buồn lắm chị Hằng ơi,

Trần thế em nay chán nửa rồi.” (Tản Đà, 1889 – 1939)

“Em không nghe mùa thu

Dưới trăng mờ thổn thức?” (Lưu Trọng Lư, Tiếng Thu, 1939)

“Tâm tình lạnh nhạt, đâu nghe

Tiếng mùa lá chết đã xê dịch chiều?” (Thâm Tâm, Các Anh, 1940)

“Sầu thu lên vút, song song

Với cây hiu quạnh, với lòng quạnh hiu.” (Huy Cận, Thu Rừng, 1940)

“Thu lạnh, càng thêm nguyệt tỏ ngời;

Đàn ghê như nước, lạnh, trời ơi!

Long lanh tiếng sỏi vang vang hận:

Trăng nhớ Tầm Dương, nhạc nhớ người …” (Xuân Diệu, Nguyệt Cầm, 1938)

“Rặng liễu đìu hiu đứng chịu tang,

Tóc buồn buông xuống lệ ngàn hàng;

Đây mùa thu tới – mùa thu tới

Với áo mơ phai dệt lá vàng.” (Xuân Diệu, Đây Mùa Thu Tới, 1938)

Và trong lớp Pháp văn trung học chắc ông cũng đã phải học thuộc lòng (“récitation”) các câu thơ đại loại dưới đây của thi ca Pháp:

“Les sanglots longs

Des violons

De l’automne

Blessent mon coeur

D’une langueur

Monotone. (2)” (Verlaine, 1844-1896, Chanson d’automne)

Về chất liệu và phong cách âm nhạc của Đặng Thế Phong, thì có thể nói ngay rằng ông đã dứt khoát giã từ thang âm năm nốt (“âm giai ngũ cung”) của Việt Nam, và là một trong số người viết ca khúc đầu tiên sử dụng thang âm bảy nốt Tây phương, với hai điệu thức trưởng và thứ (major / minor modes). Ông đã dùng những hợp âm quãng ba (tertian chords) như yếu tố kiến trúc hòa âm. (“Hòa âm” ở đây nên được hiểu là chỉ có tính cách hàm ý – implied-, chứ không viết ra, vì lẽ các bài hát đem phổ biến thời đó chỉ gồm một đơn điệu duy nhất, không có phần nhạc cụ đệm). Lấy những ca khúc phổ thông Pháp làm mẫu, Đặng Thế Phong cho chủ âm tính (tonality) đóng vai đạo diễn, với hợp âm dựa trên bậc thứ năm của thang âm đang dùng (gọi là át âm -dominant) đóng vai đổi phông, thay cảnh (“chuyển giọng”, “chuyển cung”, hay “đổi khóa” -modulation). Tất nhiên nốt nhạc, hoặc hợp âm, át âm đó còn được dùng để ngắt đoạn hay chấm dứt ca khúc nữa. Cung cách chấm câu, chuyển giọng của ông, vì thế, cũng rất là “cổ điển”: công thức cơ bản của nhạc chủ âm (tonal music), đơn và thuần túy vậy.

Trong âm nhạc chủ âm Tây phương, ít nhất kể từ thế kỷ 16 trở đi, do thói quen hay theo qui ước, các khóa ở điệu trưởng (major keys) thường thường khiến người nghe liên tưởng tới niềm vui hay ánh sáng, và các khóa ở điệu thứ (minor keys) khiến ta liên tưởng tới nỗi sầu hay bóng tối. Cho nên, chính để diễn tả những tình cảm gói ghém trong lời ca như đã nói ở trên mà làn điệu (melody) cả ba bài hát của Đặng Thế Phong đã đều được viết ở điệu thứ. Điệu thứ của bản Con Thuyền Không Bến dựa trên nốt Ré (D), của Giọt MưaThu trên nốt Mi (E), và riêng Đêm Thu thì đoạn đầu ở Sol (G) thứ, nhưng đoạn hai chuyển sang và chấm dứt ở Sol trưởng.

Làn điệu của cả ba bài hát đều bao trùm một không gian tương đối nhỏ, và diễn tiến theo một phong cách gần như rập khuôn nhau. Bài Con Thuyền Không Bến và Giọt Mưa Thu mở đầu bằng một ý tưởng giai điệu có quãng lớn không quá quãng năm, rồi đi qua những quãng nhỏ hơn (hai hay ba) để quay trở về đặng ngắt đoạn hoặc chấm dứt. Riêng làn điệu Đêm Thu phần lớn lại gồm các nốt cấu thành hợp âm Sol (thứ và trưởng): một lối viết khá thông dụng trong nhạc phổ thông Tây Âu. Giai điệu và “hòa âm” của các ca khúc thì hoàn toàn thuộc âm nguyên (diatonic), nghĩa là chỉ sử dụng các cao độ của thang âm nguyên (diatonic scale), chứ không dùng thang âm nửa cung (chromatic scale).

Nhạc thể (musical form) của cả ba bài rất chân phương và na ná giống nhau: A-B-C-B (CTKB và ĐT); riêng GMT thì có cấu trúc A-A’-A-A’-B, với đoạn kết B gồm 16 trường canh, khai thác chất liệu mới. Duy diễn tiến “hòa âm” từ đoạn này sang đoạn kia thì rất là đơn giản, không hề có bán kết (half cadence, I-V) mà chỉ là toàn kết (full cadence, V-I) mà thôi. Hơn nữa, nhạc không được chuyển sang một khóa thân cận để lại trở về khóa cũ (Sol trưởng qua Do trưởng và trở lại Sol). Sau hết, nhịp điệu (rhythm) của cả ba bài cũng rất chân phương và đều hòa như con lắc đồng hồ, rất dễ khiêu vũ theo!

Chỉ với ba bài hát (mà ta biết), Đặng Thế Phong đã để lại một khuôn mẫu sáng tác nhạc phổ thông khá mạch lạc, đáng quí, cho các lớp người soạn ca khúc tới sau ông. Ấy là không nói gì tới tính chất gợi cảm phong phú của những giai điệu rất độc đáo, không thể nhầm lẫn với một ai khác.

Có điều, chỉ dựa trên ba bài hát ngắn ngủi đó mà thôi, chắc không ai dám suy đoán là nếu sống thêm mấy chục năm nữa, thì nhạc của ông có thể sẽ phát triển tới đâu.

Cung Tiến

(Roseville, MN, USA

22-August-2003)

Giai nhân trong thơ nhạc kỳ 2

NGÀY VỀ trong giấc MƠ HOA

Số tác phẩm của nhạc sĩ Hoàng Giác chỉ đếm trên đầu ngón tay. Nhưng trong số đó đã có 2 tuyệt phẩm là Mơ hoa và Ngày về. Đó là niềm hạnh phúc và cũng là “tai ương” cho tác giả.

Định mệnh đã đưa đến cho nhạc sĩ Hoàng Giác một người vợ “trên cả tuyệt vời” để đồng cam cộng khổ, để là điểm tựa tinh thần cho chồng trong giai đoạn lao đao nhất của đời mình. Nói về sắc đẹp, bà Kim Châu (vợ nhạc sĩ) được tôn vào hàng “giai nhân đất Hà thành”. Biết bao chàng công tử phong lưu cầu cạnh được kề cận bên người đẹp, thế nhưng bà Kim Châu đã rũ bỏ tất cả để về “nâng khăn sửa túi” cho chàng nhạc sĩ tuy nghèo nhưng rất mực tài hoa, đúng như ước nguyện của mình.

Hoàng Giác sinh năm 1924, gốc làng Chèm (xã Thụy Phương, Từ Liêm, Hà Nội). Làng Chèm có nghề làm chả giò truyền thống trong câu thành ngữ “giò Chèm, nem Vẽ”. Cha của ông là một nghệ nhân chơi đàn bầu rất hay đồng thời cũng là một võ sĩ quyền anh, từng giữ chức Chủ tịch Liên đoàn Quyền anh Bắc kỳ. Hoàng Giác được theo học ở Trường Bưởi – một ngôi trường rất nổi tiếng thời đó. Bạn học cùng lớp với ông nhiều người sau này trở thành những nhạc sĩ nổi tiếng như Dzoãn Mẫn (tác giả Biệt ly), Ngọc Bích (tác giả Mộng chiều xuân), Đoàn Chuẩn (tác giả Thu quyến rũ)… Hoàng Giác được học nhạc trong nhà trường nhưng cũng giống bạn bè đồng lứa, còn mày mò tự học thêm. Những sáng tác đầu tay của thế hệ ấy đa phần ra đời trong giai đoạn này.

Người đẹp Hà thành

Nhưng bản nhạc đầu tay của Hoàng Giác không phải làm tặng cho… người đẹp Kim Châu. Ông kể: “Lúc bấy giờ, chúng tôi phần nhiều ở lứa tuổi 18, 19, cho nên rất mơ ước có những bài hát của người Việt làm với lời Việt. Lứa tuổi chúng tôi lúc đó hầu hết là học sinh, đều say sưa viết. Mơ hoa cũng là một trong những bài tôi viết thời đó. Đấy là năm 1945, tôi vừa tốt nghiệp Trường Bưởi, ở gần nhà tôi có một thiếu nữ trong Hà Đông ra, cô mới tuổi 16 thôi. Dáng người cô thon nhẹ, tóc dài. Chúng tôi gặp gỡ, trao đổi và có những tình cảm quyến luyến như những chàng trai, cô gái tuổi mới lớn khác. Nhìn cô, tôi liên tưởng ngay đến các cô ở làng hoa Ngọc Hà mà sáng sáng tôi hay gặp trên đường đi học. Thế là tôi mơ ước viết một bài để tặng cô ấy, tức nhiên trong lòng đã mang một giấc mơ. Và đấy là bản nhạc đầu tay trong cuộc đời sáng tác của tôi”.

Ba Kim Chau- vọ hoang giacBà Kim Châu thời trẻ - Ảnh: Tư liệu

Không chỉ biết sáng tác, cậu thanh niên Hoàng Giác còn sở hữu một giọng hát trầm ấm và điêu luyện, thế nên cô thiếu nữ – hoa khôi đường Quán Thánh sau vài lần theo bố mẹ đến dự những buổi trình diễn ca nhạc ở Nhà hát Lớn đã thấy hồn mình rung động, thầm ao ước chàng nghệ sĩ hào hoa kia là ý trung nhân của mình.

Cách mạng tháng Tám 1945 bùng nổ, Hoàng Giác hăng hái tham gia. Trong Tuần lễ vàng ở Hà Nội, Hoàng Giác đăng đàn diễn thuyết. Tài ăn nói của chàng đã thu về nhiều thắng lợi cho ngân sách của chính phủ non trẻ. Trong đám đông đứng nghe, có cả “giai nhân đường Quán Thánh”, cô lặng lẽ tháo tất cả vòng, xuyến bỏ vào thùng ủng hộ cách mạng. Và cũng như những buổi nghe hát ở Nhà hát Lớn, trong tâm tư cô cũng thổn thức ước nguyện.

Nhưng cái anh chàng “phổi bò” kia thì lại quá vô tình… chẳng biết gì sất! Đến khi toàn quốc kháng chiến, Hoàng Giác tham gia Đoàn Tuyên truyền xung phong và một tuyệt phẩm nữa được ra đời vào năm 1947, ca khúc Ngày về: “Tung cánh chim tìm về tổ ấm. Nơi sống bao ngày giờ đằm thắm. Nhớ phút chia ly, ngại ngùng bước chân đi. Luyến tiếc bao ngày xanh… Tha thiết mong tìm về bạn cũ. Nhưng cánh chim mịt mùng bạt gió. Vắng tiếng chim xanh ngày vui hót tung mây. Mờ khuất xa xôi nghìn phương…”.

Tác phẩm của Hoàng Giác không chỉ có Mơ hoa và Ngày về mà còn có cả Lỡ cung đàn, Quê hương, Hương lúa đồng quê, Bóng ngày qua… và ba ca khúc hợp soạn với nhạc sĩ Nguyễn Thiện Tơ Tiếng hát biên thùy, Qua bến năm xưa và Trên đường về; nhưng nhắc tới Hoàng Giác là người ta nhớ ngay đến hai ca khúc đầu tiên, đặc biệt là Ngày về – nhạc sĩ đã làm trên đường công tác được về thăm nhà.

Năm 1951, sáu năm sau những rung động đầu tiên trong tâm hồn thanh khiết của “giai nhân đường Quán Thánh” – định mệnh hình như cũng biết được tâm nguyện thầm kín của nàng nên đã run rủi cho song thân của Hoàng Giác cậy nhờ mai mối đi hỏi cô Kim Châu cho con trai họ. Cả Hà Nội xôn xao. Bao nhiêu chàng trai thất vọng. Cũng có người can ngăn bố mẹ nàng không nên gả con gái cho “thằng nghệ sĩ nghèo rớt mồng tơi”. Thế nhưng có ai biết được ước mơ của nàng, và nàng đã hân hoan chấp nhận lời cầu hôn. Thế là người đẹp Kim Châu trở thành “bà Hoàng Giác” năm 19 tuổi.

Cuộc sống êm đềm của đôi vợ chồng Hoàng Giác – Kim Châu chỉ kéo dài được khoảng hơn 15 năm thì tai họa ập xuống, khi chính quyền Sài Gòn thời ấy “cắc cớ” chọn bài Ngày về làm nhạc hiệu cho chương trình “Tiếng chim gọi đàn” (tên một bài hát của nhạc sĩ Hoàng Quý) – một chương trình “chiêu hồi”. Dạo ấy, chính quyền miền Nam đã sử dụng khá nhiều ca khúc của “phía bên kia” như bài Tiếng gọi thanh niên của Lưu Hữu Phước trở thành quốc ca, rồi Sơn nữ ca, Lời người ra đi của Trần Hoàn, Thiên thai, Bến xuân của Văn Cao… nhưng Ngày về lại rơi vào trường hợp “nhạy cảm” nhất cho nên không chỉ tác giả mà cả gia đình của ông cũng chịu nhiều hệ lụy. Tai họa này đã biến bà Kim Châu từ một người vợ yếu đuối đã tự gắng gượng và trở thành “lao động chính”, một mình bà phải chạy vạy, lo toan chuyện cơm áo để nuôi sống chồng con. Đằng đẵng suốt bao nhiêu năm trời bà cặm cụi may vá, đan len thuê kể cả phết hồ dán bao bì. Bà không từ chối bất cứ việc gì, cho dù là nhỏ nhặt hoặc lao nhọc, miễn sao đem lại cho bà chút tiền để khả dĩ mua được thức ăn nuôi sống gia đình.

Cực khổ như thế nhưng đó cũng là thời gian bà cảm thấy rất hạnh phúc, vì bà không chỉ được chia sẻ hoạn nạn với ông mà còn thấy… ông che mặt khóc khi chứng kiến vợ mình quá cơ cực. Và với bà, như thế cũng là một sự đền bù ấm áp.

Ngày Về- Nhạc Hoàng Giác- Hát Ngọc Bảo


Mơ Hoa- Nhạc Hoàng Giác- Hát T. Th


Thoáng gặp, thoáng yêu trong NẮNG CHIỀU

Có thể nói nhạc phẩm Nắng chiều của nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn là một trong những bài nhạc boléro “kinh điển”, được viết với cung trưởng trẻ trung, buồn mà không bi lụy – rất hiếm gặp trong thời kỳ đầu của dòng nhạc boléro và cả sau này…

Trong một lần ngồi uống bia ở 81 Trần Quốc Thảo (TP.HCM), anh bạn vong niên của tôi – nhà thơ Mịch La Phong khăng khăng bảo rằng ca khúc Nắng chiều là do Lê Trọng Nguyễn “cóp” lại từ một ca khúc nước ngoài. Rồi anh hát bài này bằng tiếng Anh, giọng… Quảng Nam nghe rất buồn cười: “Ai rí mem bờ tú du ờ gần. Xờm thài a crái in đơ mun lai. Goen í vơ ning sơ rúm bi sần. Ón rai lầu mí thói ờ lền thai…”. Tôi phản đối: “Theo nhiều tài liệu thì Nắng chiều không chỉ có bản tiếng Anh mà còn cả tiếng Hoa, tiếng Nhật, tiếng Thái Lan và cả tiếng Campuchia nữa…”. Qua bài này, người viết cố gắng làm sáng tỏ sự ngộ nhận không chỉ của bạn tôi mà có lẽ còn của nhiều người nữa.

p14-15a3-Le-trong-nguyen“” Nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn – Ảnh: tư liệu “”p14-15a2-ca-si-Midori-SatsuẢnh ca sĩ Midori Satsuki với thủ bút và chữ ký đề tặng Mr. Lê Trọng Nguyễn

Lê Trọng Nguyễn sinh năm 1926 tại Điện Bàn (Quảng Nam). Ông tên thật là Lê Trọng, còn chữ Nguyễn là họ của mẹ (sau này vợ ông cũng ghép tên ông vào trước tên mình: Lê Trọng Nguyễn Thị Nga). Cha mất sớm, bà mẹ trẻ chấp nhận ở góa để nuôi ông và người em gái cho đến lúc trưởng thành… Có lẽ cơ duyên để ông đến với âm nhạc là do có một thời kỳ (1942-1945) ông sống ở Hà Nội và làm bạn với nhạc sĩ Nguyễn Xuân Khoát. Sau này, ông học hàm thụ Trường École Universelle (Pháp) và trở thành hội viên Hội Nhạc sĩ Pháp SACEM (La Société des auteurs, compositeurs et éditeurs de musique). Ca khúc đầu tay Ngày mai trời lại sáng được viết năm 1946. Ông sáng tác không nhiều nhưng những tác phẩm của ông đều có giá trị nghệ thuật cao, giai điệu và ca từ trau chuốt, hình ảnh đẹp như tranh (Chiều bên giáo đường, Lá rơi bên thềm, Sóng Đà giang, Sao đêm…). Tuy nhiên, nói đến Lê Trọng Nguyễn là người ta nghĩ ngay đến ca khúc Nắng chiều.

Lai bóng hồng trong một bản nhạc

Chất “bột” để “gột nên hồ” đầu tiên cho Nắng chiều là trong thời kỳ Nhật đảo chính Pháp (1945), có một gia đình công chức Nam triều từ Quy Nhơn chạy ra tá túc ở Hội An, gần nhà của Lê Trọng Nguyễn. Gia đình này chỉ có duy nhất cô con gái đang tuổi xuân thì. Tình yêu giữa đôi bạn trẻ chớm nở, đẹp và mong manh như cánh hoa trong thời ly loạn. Chỉ ít lâu sau, gia đình nàng lại rời bỏ Hội An.

Một thời gian sau, Lê Trọng Nguyễn cũng bỏ Hội An ra Huế. Ở đây anh có người bạn thân Vũ Đức Duy, anh này là cháu họ bà Từ Cung (thân mẫu vua Bảo Đại). Anh bạn này thường rủ Lê Trọng Nguyễn đến thăm bà Từ Cung ở cung An Định (cung này không nằm trong thành nội mà ở sát bờ sông An Cựu) vừa ngắm cảnh. Chính từ những chuyến đi chơi này mà Lê Trọng Nguyễn gặp được “chất bột” thứ hai: nàng thiếu nữ họ Hoàng, hoa khôi của đất thần kinh. Một chiều ngồi bên hồ sen, bất chợt cô gái ấy đi qua. Bóng dáng thướt tha ấy “ngược sáng” trong ánh tà dương. Nhìn “cô này”, bất giác Nguyễn… nhớ “cô kia” quá đỗi! Thế là bật lên tứ nhạc: “Qua bến nước xưa lá hoa về chiều. Lạnh lùng mềm đưa trong nắng lưa thưa. Khi đến cuối thôn chân bước không hồn. Nhớ sao là nhớ, bóng người ngày xưa…”. Chỉ trong vòng nửa tiếng đồng hồ, Lê Trọng Nguyễn đã viết xong Nắng chiều (1952). Ở Huế, Lê Trọng Nguyễn còn chơi thân với nhóm bạn văn nghệ (Minh Trang, Dương Thiệu Tước, Nguyễn Hiền, Kim Tước…) nên khi bản Nắng chiều được xuất bản, chính Minh Trang là người hát và thu âm đầu tiên. Bản thu âm được phát thường xuyên trên hai đài phát thanh Huế và Sài Gòn từ năm 1953 trở về sau khiến Nắng chiều lan tỏa khắp Trung – Nam.

 Nắng chiều và hai bóng hồng… ngoại

Năm 1957 ban nhạc Toho Geino (Nhật Bản) sang Việt Nam lưu diễn, và họ đã nhờ phía Việt Nam chọn 12 ca khúc đang nổi tiếng trong nước để tập và sẽ hát “giao lưu” với khán giả. Duyên trời đã đưa đẩy nữ ca sĩ Midori Satsuki chọn hát Nắng chiều và cô đã được khán giả ở Hội chợ Thị Nghè hoan hô nhiệt liệt. Thích quá, Midori Satsuki quyết định chuyển soạn cho Nắng chiều có cả lời Nhật lẫn lời Anh (với tựa Evening sunshine hoặc Afternoon sun), và cô đã thể hiện rất thành công trên đài phát thanh Sài Gòn và Tokyo trong suốt nhiều năm với bản nhạc “tủ” này. Vậy là Nắng chiều không chỉ nổi tiếng trong nước mà còn vang vọng khắp xứ Phù Tang… Từ cái “duyên” do Nắng chiều đem tới, tác giả ca khúc và người thể hiện đã gặp gỡ nhau, rồi tỏ ra rất “tâm đầu ý hợp”. Họ đã có một thời gian bên nhau thật đẹp khi ở Việt Nam và khi Midori Satsuki về nước họ vẫn giữ liên lạc qua thư từ (năm 2004, gia đình cố nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn và những người thực hiện CD Lê Trọng Nguyễn Collection ở California (Mỹ) đã liên lạc được với bà Midori Satsuki. Bà vẫn còn làm việc ở Đài truyền hình Tokyo và xác nhận là mình vẫn còn nhớ bản Nắng chiều).

Chưa hết, năm 1960 cô ca sĩ Đài Loan tên Kỷ Lộ Hà đến Đà Nẵng trình diễn và đã làm khán giả Việt Nam bất ngờ khi cô hát Nắng chiều bằng tiếng Hoa do Thận Chi đặt lời. Thận Chi (1928-1988) là một tên tuổi lớn của Đài Loan trong lĩnh vực biên kịch và soạn nhạc. Ông cũng thành công trong việc đặt lời Hoa cho nhiều ca khúc quốc tế, trong đó có Nắng chiều… Khi biết tác giả của Nắng chiều đang ở Hội An, Kỷ Lộ Hà đã đến gặp để xin phép về mặt tác quyền. Tuy Lê Trọng Nguyễn không chính thức thừa nhận nhưng nhiều người trong giới, cùng thời với Lê Trọng Nguyễn đã tiết lộ rằng ngay trong cuộc gặp ấy, “Đài ca nương” đã bị “Việt nhạc lang”… hớp hồn bởi nét hào hoa, lịch thiệp – thậm chí nàng còn viết thư cho chàng.

Nghĩ cũng… ngộ, Nắng chiều được hình thành từ cảm hứng do hai giai nhân “nội” mà tác giả thoáng gặp, thoáng yêu đem lại. Rồi Nắng chiều nổi tiếng lan ra hải ngoại lại cũng do hai bóng hồng “ngoại” đến với nhạc sĩ: gặp một thoáng, yêu một thoáng. Thoáng tụ, thoáng tan như vạt nắng chiều.

Hà Đình Nguyên

LÊ TRỌNG NGUYỄN: ánh nắng chiều vụt tắt

le t nguyen
Nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn

“Nắng Chiều” có thể được coi như một tác phẩm đặc biệt của tân nhạc Việt Nam. Đặc biệt ở chỗ nhạc phẩm này – viết từ trước năm 1950 và được hoàn tất vào năm 1953 – đã được chuyển sang lời Nhật vào cuối thập niên 50.  Qua đến thập niên 70 còn được chuyển sang Hoa Ngữ.

“Nắng Chiều” lời Nhật đã do nữ danh ca  Midori Satsuki trình bày lần đầu tiên tại Hội Chợ Thị Nghè, liên tiếp trong hai tuần lễ vào năm 1958. Chính nhạc sĩ Nguyễn Hiền là điều hợp viên chương trình văn nghệ của Hội Chợ Thị Nghè đã giới thiệu nhạc phẩm này với Midori Satsuki trong đoàn Ca Vũ Nhạc Nhật Bản Toho Geino do ông mời sang trình diễn, mặc dù lúc đó ông chưa quen biết với tác giả là nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn.

Trong khi đó “Nắng Chiều” vào thập niên 70 còn được nữ ca sĩ nổi tiếng của Đài Loan là Kie Lou Ha trình bày bằng Hoa Ngữ với tựa đề “Tình Ca Việt Nam”. Nhạc phẩm này đã được dân chúng Đài Loan và Hồng Kông đón nhận nồng nhiệt, cùng một lúc được báo chí tại hai nơi này xưng tụng là một trong những bài tình ca hay nhất.  Vào ngày 20 tháng 8 năm 2005 tới đây, “Nắng Chiều” sẽ lại được nữ ca sĩ trẻ Doanh Doanh trình bày bằng tiếng Trung Hoa trong chương trình video có thu hình của trung tâm Asia tại thành phố Houston.

Với những điểm đặc biệt đó, “Nắng Chiều” đã trở thành nổi tiếng hơn cả người  khai sinh ra nó là nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn, đã vĩnh viễn ra đi vào ngày 9 tháng 1 năm 2004. Chính hiền thê của nhạc sĩ họ Lê là chị Nguyễn Thị Nga cũng đã biết tới Nắng Chiều và Lá Rơi Bên thềm trước khi biết tác giả là người bạn đời hơn mình 20 tuổi sau đó…

Ngay trong thời gian đầu mới quen nhau, do bản tính khiêm nhường, Lê Trọng Nguyễn không bao giờ để lộ ra cho chị Nga biết ông là một người từng được nhạc sĩ Phạm Đình Chương, người bạn rất thân của ông, đánh giá không những là một nhạc sĩ có tài mà còn là một học gỉa âm nhạc mà ông thường bàn luận trong nhiều dịp sáng tác.

Mãi cho đến khi được người bạn thân tên Mai Hương, con của người bạn Lê Trọng Nguyễn tiết lộ, chị mới biết đó là một nhạc sĩ tài ba mà khi mới gặp ông lần đầu tiên vào năm 1961, nhạc sĩ Nguyễn Hiền đã nhận thấy ở nơi ông có nhiều nét rất đặc biệt về kiến thức tổng quát cũng như âm nhạc.

Thời kỳ thường gặp Lê Trọng Nguyễn,  chị Lê Thị Nga là nhân viên Hàng Không Việt Nam, làm việc tại quầy bán vé và Lê Trọng Nguyễn làm việc cho công ty Hoa Kỳ Sealand ngoài Đà Nẵng. Ông thường hay đi đi, về về Sài Gòn nên đã trở thành người hành khách quen thuộc với nhân viên quầy vé Lê Thị Nga, một cựu nữ sinh Trưng Vương ra trường vào năm 1963.

Hai người quen nhau năm 1968 và chính thức thành hôn vào năm 1970, mặc dù trước đó chi Nga có vẻ hơi ngại khi biết Lê Trọng Nguyễn  là một nhạc sĩ, vào thời đó thành phần này thường được coi như có cuộc sống phóng túng nếu không muốn nói là lăng nhăng…

Nhưng tính tình hiền hòa và dễ mến của nhạc sĩ họ Lê cùng với cung cách sống hoà nhã và nặng tinh thần trách nhiệm của ông đã khiến chị hết sức thương yêu người chồng cách biệt tuổi tác khá nhiều. Trước khi thành hôn, ông đã viết nhạc phẩm Tìm Nơi Em, sáng tác năm 69 là năm tình yêu đã nẩy nở sâu đậm giữa hai người sau khi quen năm 68. Hai người sống với nhau thật hạnh phúc và họ đã có với nhau 3 con gái: Lê Minh Đức, Lê Minh Ngọc và Lê Minh Thư và 1 con trai Lê Trọng Phúc.

Lê Trọng Nguyễn là tên thật của tác giả nhạc phẩm Nắng Chiều. Ông sinh ngày 1 tháng 5 năm 1926 tại Điện bàn, tỉnh Quảng Nam trong một gia đình gia giáo. Thân phụ ông qua đời sớm, thân mẫu ông một tay quán xuyến gia đình nuôi hai con đi học cho đến tuổi trưởng thành. Em gái ông qua đời từ khi mới 23 tuổi sau khi lập gia đình và có được 3 con, được Lê Trọng Nguyễn nhận làm dưỡng tử.

Do lòng yêu âm nhạc và chịu nặng ảnh hưởng văn hoá Pháp, nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn đã tự học nhạc và ghi danh theo học hàm thụ ở trường âm nhạc École Universelle tại Pháp và sau đó trở thành hội viên của tổ chức S.A.C.E.M. Năm 1957, một số tác phẩm của ông được phổ biến tại Pháp, được biết tới  nhiều trong số đó là nhạc phẩm “Sóng Đà Giang”

Lê Trọng Nguyễn khởi sự viết nhạc vào năm 1946 với những tác phẩm đầu tiên là Đừng Quên Nhau, Trăng Lại Sáng, Thuyền Lãng Tử,  Lời Việt Nữ, Ngày Mai Trời Lại Sáng, Nắng Chiều, vv…

Ngoài lãnh vực ca nhạc, ông từng giữ những vai trò quan trọng cho nhiều công ty thương mại lớn. Như năm 1965 ông làm giám đốc  công ty Centra của Pháp. Từ năm 1968 ông là giám đốc điều hành của công ty Sealand của Mỹ tại Đà Nẵng. Sau khi lập gia đình, ông từ  giã công ty Sealand ở Đà Nẵng để về sống với vợ ở Sài Gòn trong một cuộc sống đạm bạc.

Sau khi lập gia đình, ông từng viết nhạc và  làm giám đốc phim Đất Khổ do Hà Thúc Cần đạo diễn.  Phim được quay nhiều ở Huế, một phần ở Quảng Trị và Đà Nẵng. Với các tài tử Vân  Quỳnh, Lê Thương, Bích Hợp, Minh Trường Sơn , Kim Cương, vv…

Đến năm 1973, ông được đề cử  giữ chức vụ giám đốc Nhà Máy Dầu Hoả Cửu Long, thuộc tổng công ty Mekong của ông Nguyễn Ngọc Linh. Cũng trong năm này, nhạc phẩm Nắng Chiều được đưa vào cuốn phim cùng tên  do Quách Thoại Huấn sản xuất với tài tử là La Thoại Tân.

Khi biến cố tháng 4 năm 75 xẩy ra, ông không quan tâm mấy đến việc tìm đường  ra đi vì khi đó ông còn giữ  liên lạc với công ty Sealand của người Mỹ mà ông từng làm giám đốc nên ông tin họ có thể cho gia đình ông rời khỏi Việt Nam. Nhưng thật sự trong lòng ông cũng không nghĩ  là  qua hải ngoại có thể sống được. Hơn nữa, lúc đó 2 con ông còn nhỏ, nếu mang vợ  và 2 con cùng một mẹ già theo thì trách nhiệnm sẽ rất nặng, ông sợ khó lòng kham nổi nên đã quyết định ở lại.

Sau 75, ông  mở lớp dạy nhạc tại nhà trên đường Nguyễn Minh Chiếu, Phú Nhuận. Khoảng 5 năm sau, ông tự sản xuất đàn guitar và mandoline bán cho những bạn thân, mua với tính cách  ủng hộ một người bạn nghệ sĩ dễ mến.

Nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn cùng vợ và  2 người con đầu sang Mỹ năm 1983. Thời gian đầu tiên, sức khỏe của ông có phần giảm sút, tuy nhiên ông vẫn mở lớp nhạc dạy tại nhà trên đường số 8 ở thành phố Los Angeles. Một thời gian sau, vợ chồng ông tậu được một căn nhà  ở thành phố Rosemead, vùng San Gabriel Valley cũng thuộc quận Los Angeles.

Thời gian này vợ ông kiên trì theo học đại học và ra trường năm 1990 nhưng đã đi làm trước đó 1 năm. Trước đó 2 người cùng học 2 năm đầu ở Junior College, chồng học về nhạc với mục đích nhận thấy được sự khác biệt giữa nhạc Mỹ và Pháp, còn vợ về ngành kế toán, nhắm đến một việc làm vững chắc sau này để phụ giúp gia đình. Tuy nhiên sau khi học xong, Lê Trọng Nguyễn được nhạc sĩ Phạm Đình Chương – cùng với Mai Thảo là hai ngươì bạn thân của ông – khuyên nên kiếm một nghề khác để mưu sinh thay vì nhạc vì tuổi ông lúc đó đã xấp xỉ 60, nhưng ông không làm gì khác hơn là dạy nhạc.

Chị Lê thị Nga cho biết,  đến cuối năm 2002 vì có nhiều triệu chứng không tốt về sức khỏe, nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn được đưa vào bệnh viện với kết quả không hay vào đầu năm 2003 là ông bị ung thư phổi.

Sau khi được xác nhận là mang căn bệnh nan y trong người, Lê Trọng Nguyễn đồng ý để bệnh viện Garfield tiến hành giải phẫu với đôi chút hy vọng còn kéo dài được thời gian sống cạnh vợ con.  Sau cuộc giải phẫu, tình trạng sức khoẻ của ông được ghi nhận là khả quan trong 2, 3 tháng đầu. Nhưng qua đến tháng thứ tư lại cho thấy có nhiều triệu chứng bất thường, để sau đó được biết trong lá gan của ông có một bướu nhỏ. Tuy nhiên nguyên nhân chính đưa đến cái chết của ông vẫn là căn bệnh ung thư phổi.

Trước tình trạng càng ngày thêm trầm trọng về sức khỏe, nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn được chuyển vào trung tâm chuyên về ung thư  City Of Hope ở Duarte, gần thành phố Los Angeles. Nhưng mọi cố gắng của trung tâm này đã không mang lại một tia hy vọng nào cho vợ con cùng gia đình ông…

Rồi việc gì phải đến đã đến vào hai ngày sau khi nắm tay người vợ thân yêu lần cuối. Nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn đã trút hơi thở cuối cùng vào lúc 4 giờ 15 sáng ngày 9 tháng 1 năm 2004 bao quanh bởi vợ, các con, các cháu cùng toàn thể gia đình.  Đó cũng là lúc ánh nắng chiều vụt  tắt nơi tâm hồn những người thân yêu của ông.

Trước khi qua đời, vào năm 2000, nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn khởi sự viết quyển “Nghệ Thuật Viết Nhạc”. Vào dịp Tết đầu năm 2003, trong một buổi họp mặt cùng các con, ông ân cần mang quyển sách đó ra nói rằng ông viết để tặng cho vợ và các con. Nhưng trong thời gian thực hiện phần đánh máy cho tác phẩm của ông thì sức khỏe nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn đang ở trong tình trạng sa sút rất nhiều.

Gần đây người vợ cách biệt tuổi tác nhưng rất gần gũi tình cảm và từng gắn bó với ông suốt 34 năm đã tổng hợp được một số nhạc phẩm của ông được thu thanh rải rác trên các CD của nhiều trung tâm nhạc để đưa vào CD “Lê Trọng Nguyễn Collection” mới được ra mắt ở nam California vào ngày 17 tháng 4 năm 2005 tại phòng sinh hoạt nhật báo Viễn Đông.

Không ai phủ nhận được  giá trị nghệ thuật trong số ít sáng tác của Lê Trọng Nguyễn, trong số có nhạc phẩm Sao Đêm được ông rất ưng ý về mặt kỹ thuật cũng như nghệ thuật. Trong khi đó đối với quần chúng thì Nắng Chiều được coi như nhạc phẩm tiêu biểu của ông được phổ biến rất rộng rải tại Việt Nam từ những năm cuối thập niên 60.

Về phiên bản Nắng Chiều lời Trung Hoa, sau này qua Mỹ, một người con của ông đã tìm thấy khi tình cờ nghe được cassette phát  bài này ở phố Tầu Los Angeles. Sau này còn tìm thêm được 1 CD của cùng công ty sản xuất có ca khúc này cũng do Ke Lo Ha trình bầy. Còn phiên bản tiếng Nhật do Midori Tatsuku diễn tả, một cặp vợ chồng người Việt Nam từng sống nhiều năm ở Nhật và hiện cư định cư tại Hoa Kỳ đang giúp vợ ông truy tìm. Đây là kỷ niệm do người chồng tặng người vợ trước khi họ thành hôn bên Nhật.

Một chương trình nhạc đặc biệt gồm những sáng tác của cố nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn cũng sẽ được thực hiện vào mùa hè năm nay do một số thân hữu của ông tổ chức tại thành phố Falls Church, tiểu bang Virginia. Đó cũng là dịp ra mắt CD “Lê Trọng Nguyễn Collection” và tập nhạc của ông do vợ và các con ông thực hiện, coi như  những kỷ niệm quí giá nhất của người chồng và người cha thân yêu, đã qua đời như một ánh nắng chiều vụt tắt…

NẮNG CHIỀU- Nhạc Lê Trọng Nguyễn- Hát T. Th


Nắng Chiều được hát bằng Nhật ngữ.


Nắng Chiều hát bằng tiếng Hoa ngữ.


Xin nói rõ thêm là bản nhạc Nắng Chiều được hát bằng Nhật ngữ và Hoa ngữ bởi các ca sĩ hiên thời chứ không phải do các ca sĩ ngày xưa là Midori Satsuki của Nhật Bản và ca sĩ Kỹ Lộ Hà của Đài Loan. Người viết sẽ cố gắng sưu tầm nguyên bản của hai ca sĩ thời đó.

Giai nhân trong thơ nhạc- kỳ 1

Tiếp tục mục Giai Nhân Hoa Thơ Nhạc, hôm nay tôi xin nói đến một loài hoa đẹp nhất và đặc biệt nhất trong tất cả mọi loài hoa. Loài hoa này là loài hoa biết nói, biết khóc, biết cười, biết thương yêu và giận hờn… Loài hoa biết nói, đủ hương thừa sắc này từng khiến cho biết bao nhiêu người phải say, phải luỵ vì nó. Từ một ông vua quyền thế, danh tướng lẫy lừng cho tới các thi, văn, hoạ hay kẻ bần cùng khố rách áo ôm đều có lúc phải cười đau khóc hận vì loài hoa đặc biệt mang cái tên rất thường là đàn bà. Dù xấu hay đẹp gì thời đàn bà đều khiến cho đàn ông phải luỵ. Thật khó mà nói đàn bà xấu hay đẹp bởi vì có thể họ xấu với người này thời lại đẹp trong mắt của người kia. Xấu đẹp tuỳ theo cái nhìn và lòng thương tưởng của người ta thôi. Trong chuyên mục Giai Nhân Hoa Thơ Nhạc này, tôi xin đề cập đến những người đẹp đã làm rung chuyển trái tim đa tình, lãng mạn, nhiều mộng mơ của các thi và nhạc sĩ để tự đó họ tạo nên những bài thơ, ca khúc đi vào lòng người thưởng ngoạn và sẽ sống mãi với thời gian.

Bây giờ tôi mời quí độc giả đi gặp những người đẹp trong thơ nhạc. Các bài viết sau đây được trích từ tác phẩm Bóng Hồng Trong Thơ Nhạc của ký giả Hà Đình Nguyên đăng trên mạng Thanh Niên Online  cũng như nhiều bài viết được sưu tập trên các trang mạng toàn cầu.

“Thúy đã đi rồi”


Trong gia tài sáng tác khá đồ sộ của nhạc sĩ Y Vân, có một bản nhạc đặc biệt: Thúy đã đi rồi… Bản nhạc này rất thịnh hành vào thập niên 60 thế kỷ trước. Tuy nhiên, đằng sau bản nhạc là một bí mật ít người biết tới.

Nghệ sĩ vốn đa tình, cho nên chuyện trăng hoa, ong bướm âu cũng là nghiệp chướng. Nhưng trường hợp của nhạc sĩ Y Vân lại khác, bởi bà Minh Lâm – vợ ông, từng khẳng định với người viết là ông rất đứng đắn, nghiêm túc trong chuyện tình cảm và không giấu bà điều gì. Ngay cả bút danh Y Vân bà cũng biết, đó là cuộc tình thời trai trẻ của ông và thiếu nữ mang tên Tường Vân. Cuộc tình không thành nhưng để lại dấu ấn trong cái tên ký dưới mỗi bản nhạc do ông sáng tác: Y Vân (nghĩa là “Yêu Vân”). Cả chuyện cô gái chủ quán bi-da mà ông hay đến chơi, thường nhìn ông với ánh mắt “bất thường” để ông có cảm xúc viết thành ca khúc Khi em nhìn anh ông cũng kể hết với bà. Vậy, sao lại có bản Thúy đã đi rồi, gọi đích danh tên một người con gái với những ca từ mang tâm trạng của một kẻ đắm đuối trong bể tình: “Thúy đã đi rồi. Những ngày băng giá không tiếng cười. Thúy đã đi rồi. Biết làm sao cho nhớ thương nguôi. Đời em về đâu? Cho gió trăng sầu. Tìm em ở đâu? Đường mây tìm dấu… Thúy quá vô tình. Ví dù em có hay dỗi hờn. Cũng vẫn hơn là bến tình anh lê gót cô đơn…”.


Ca sĩ Thanh Thúy

Do nhạc sĩ Y Vân đã mất (năm 1992), nên tôi đem điều này hỏi người em ruột của ông là nhạc sĩ Y Vũ. Ông tiết lộ: “Tôi nói rõ sự thật nhé, anh Y Vân đã viết ca khúc này thay cho tâm sự của một người bạn rất thân, đó là tài tử điện ảnh kiêm kịch sĩ Nguyễn Long (còn gọi là Long Đất). Vào đầu thập niên 60 thế kỷ trước, Nguyễn Long yêu say đắm ca sĩ Thanh Thúy nhưng cô ca sĩ tài danh này không chút mảy may động lòng. Nguyễn Long âm thầm sống trong đau khổ, cay đắng một mình. Rồi một hôm, nhạc sĩ Y Vân bắt gặp anh chàng thất tình này trong quán cà phê với bộ dạng “ngó phát chán”, Y Vân hỏi han và Long Đất đã thổ lộ mối tình sâu kín.

Thanh Thúy cũng là “người yêu trong mộng” của rất nhiều người. Trịnh Công Sơn viết bản nhạc đầu tay Ướt mi dành tặng Thanh Thúy. Tôn Thất Lập viết Tiếng hát về khuya vì Thanh Thúy. Thi sĩ Hoàng Trúc Ly “tán”: “Từ em tiếng hát lên trời/Tay xao dòng tóc, tay vời âm thanh/Sợi buồn chẻ xuống lòng anh/Lắng nghe da thịt tan thành hư vô”. Họa sĩ Vũ Hối buông cọ để làm thơ: “Liêu trai tiếng hát khói sương/Nghẹn ngào nhung nhớ dòng Hương quê mình/Nghiên sầu từng nét lung linh/Giọng vàng xứ Huế ấm tình quê hương”… Nhà văn Mai Thảo gọi cô là “Tiếng hát lúc 0 giờ”, giáo sư triết học Nguyễn Văn Trung thì cho là “Tiếng hát liêu trai”, nhạc sĩ Tuấn Huy gọi là “Tiếng sầu ru khuya”…

Thương cảm mối tình đơn phương của người bạn thân, Y Vân đã viết Thúy đã đi rồi. Bài này trở thành một trong những ca khúc nổi tiếng của dòng nhạc blue thời bấy giờ. Bài hát được khá nhiều ca sĩ trình bày, trong đó có cả ca sĩ Thanh Thúy. Hát thì cứ hát, nhưng con tim của nàng chẳng chút lay động, cho dù hằng đêm anh chàng Nguyễn Long vẫn bám theo nàng “trên từng cây số”, qua những phòng trà mà cô đến biểu diễn. Người đẹp vẫn đó, vẫn đùa vui trước đôi mắt ngây dại của gã si tình mà chẳng hề quan tâm”.
Đến đây, người viết xin được mở ngoặc để nói về tài sắc của nữ ca sĩ Thanh Thúy. Chị sinh năm 1943 tại Huế. Đi hát từ năm 16 tuổi (1959) và sở hữu một giọng hát hết sức đặc biệt: khàn đặc như có pha rượu, nghẹn ngào, nức nở với dáng dấp mảnh mai, mái tóc dài buông lơi trên đôi vai gầy… Giọng hát ấy, dáng dấp ấy như có ma lực khiến ai “lỡ nghe” rồi là say như điếu đổ… Chẳng thế mà hầu hết văn nghệ sĩ cùng thời đã “nghiện” tiếng hát mà họ ví von với rất nhiều hình ảnh: lơ lửng với khói sương, nhấp nhô cùng sóng nước, đam mê theo cung bậc, thì thầm với kẻ tình si, du dương trong tĩnh lặng, vỗ về với yêu thương.

Năm 1962, Thanh Thúy được bầu chọn là Hoa hậu Nghệ sĩ, đồng thời là “Nữ ca sĩ ăn khách nhất” suốt 3 năm liền.

Tháng 11.1961, Nguyễn Long thực hiện cuốn phim Thúy đã đi rồi, theo ca khúc của nhạc sĩ Y Vân và nhạc phim do ca sĩ Hùng Cường hát. Nữ ca sĩ Minh Hiếu đóng vai Thanh Thúy. Ngoài bộ phim này, hình ảnh Thanh Thúy còn xuất hiện trên kịch sân khấu, kịch truyền hình. Các nghệ sĩ Kim Cương, Bích Thủy, Xuân Dung… đều đã đóng vai Thanh Thúy. Thanh Thúy thật sự là một con người tài sắc nổi trội khiến cánh đàn ông hồi đó có đủ “lý do chính đáng” để mê mệt cô như một thần tượng.

Trở lại với chàng tình si Nguyễn Long – dù đã nặng tình đeo đuổi, thậm chí đã làm phim về nàng nhưng không sao lọt vào mắt xanh của nàng. Mang tâm trạng u uất, Nguyễn Long đã trải lòng qua bài thơ tự sáng tác Thôi. Bài thơ này cũng được Y Vân phổ thành tình khúc mà cho đến nay vẫn còn ghi dấu ấn trong lòng nhiều thế hệ: “Thôi, em đừng khóc nữa làm gì! Kỷ niệm sầu ân tình cũ xa xưa. Thôi em đừng khóc, em đừng khóc, đừng khóc nữa giọt lệ sầu làm sao xóa hết tâm tư… Ôi cuộc đời đầy phong ba giữa lòng người. Lệ sầu chia ly buồn tê tái. Ly rượu này đầy thương đau tấm hình hài. Thu man mác buồn, mùa thu ơi!…”.

Thôi- Y Vân& Nguyễn Long- Trần Thái Hoà hát


Nguyễn Long khi ấy mới khoảng 30 tuổi, nghe nói phải hơn mười năm sau ông mới lập gia đình, còn ca sĩ Thanh Thúy đã lấy chồng trước đó (năm 1964).

Thanh Thúy tên thật là Nguyễn Thị Thanh Thúy, sinh năm 1943 tại Huế trong một gia đình có 5 người con. Do bà mẹ mắc bệnh nan y nên gia đình Thanh Thúy phải rời đất Thần kinh đưa mẹ vào Sài Gòn chữa trị. Gia đình họ thuê một căn nhà nhỏ trong con hẻm trên đường Cao Thắng. Để mưu sinh và để kiếm thêm tiền phụ vào việc thuốc thang cho mẹ, Thanh Thúy đã đến với nghiệp ca hát khi mới 16 tuổi. Thân gái dặm trường nơi đất khách quê người, điều khiến cho Thanh Thúy “dám” tự tin xuất hiện dưới ánh đèn sân khấu chính là giọng hát của mình vốn từng được nhiều lời khen ngợi.


Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn

Lần đầu tiên tiếng hát Thanh Thúy đến với công chúng Sài Gòn là ở phòng trà Việt Long của Đức Quỳnh vào cuối năm 1959. Với chất giọng trầm ấm, hơi khàn và lối phát âm, nhả chữ rất riêng, giọng ca của Thanh Thúy mang nỗi buồn man mác, nghẹn ngào nức nở. Dáng dấp mảnh mai và mái tóc dài buông lơi trên đôi vai gầy trong tà áo dài màu trắng hoặc lam nhạt… tạo cho nàng ca sĩ xứ Huế này một phong thái thật đặc biệt…

Những bản nhạc Thanh Thúy thường hát là Giọt mưa thu (Đặng Thế Phong), Tiếng xưa (Dương Thiệu Tước), Kiếp nghèo (Lam Phương), Tàu đêm năm cũ, Nửa đêm ngoài phố (Trúc Phương)…

Tháng 6.1960, thân mẫu của Thanh Thúy qua đời, điều đó càng làm cho giọng hát của chị thêm não nùng để những ai “lỡ nghe” đều có cảm xúc lâng lâng… Và, như đã nói ở bài trước, có cả một thế hệ văn nghệ sĩ ở Sài Gòn đâm ra…mê mệt với Thanh Thúy, trong đó có một chàng thư sinh mới tò te bước vào làng nhạc, nhưng sau này rất nổi tiếng: Trịnh Công Sơn!


Ca sĩ Thanh Thúy

Trong tác phẩm Về một quãng đời Trịnh Công Sơn (của Nguyễn Thanh Ty), nhạc sĩ tâm sự: “Năm đó tôi 17 tuổi, trọ học ở Sài Gòn, đêm nào tôi cũng lò dò đến các phòng trà để nghe Thanh Thúy hát. Dần dần hình bóng Thanh Thúy đã ăn sâu vào trong tôi lúc nào không biết. Nói yêu Thanh Thúy thì cũng chưa hẳn bởi tôi mặc cảm nghèo và vô danh, trong khi Thanh Thúy là một ca sĩ đang lên, kẻ đón người đưa tấp nập. Biết vậy, nhưng tôi không thể không đêm nào thiếu hình ảnh và tiếng hát của nàng. Có đêm tôi chỉ đủ tiền để mua một ly nước chanh. Đêm đêm tôi thao thức với những khát khao, mơ ước phải làm một cái gì đó để tỏ cho Thanh Thúy biết là tôi đang rất ngưỡng mộ nàng. Cái khát vọng đó đã giúp tôi viết nên bản nhạc Ướt mi đầu tiên trong đời…”.

Đó là lần ngồi ở nhà hàng Mỹ Cảnh, chàng trai trẻ Trịnh Công Sơn đã viết vào một mảnh giấy nhỏ, đề nghị ca sĩ Thanh Thúy hát bài Giọt mưa thu của Đặng Thế Phong. Điều chàng bất ngờ là Thanh Thúy đã hát bài này với một cảm xúc thật mãnh liệt, khi hát “…vài con chim non chiêm chiếp kêu trên cành, như nhủ trời xanh: Gió ngừng đi, mưa buồn chi, cho cõi lòng lâm ly… Ai nức nở thương đời châu buông mau, dương thế bao la sầu…” – nhớ đến người mẹ bị lao phổi nặng, đang mỏi mòn chờ con trong căn nhà nhỏ ở con hẻm sâu – nàng đã bật khóc. Những giọt nước mắt đọng trên vành mi của người ca sĩ tuổi mới tròn trăng đã gieo vào lòng Trịnh Công Sơn nỗi xúc cảm tràn ngập để chàng viết thành ca khúc Ướt mi.

“Khi hoàn thành, tôi nắn nót chép lại thật kỹ càng và luôn mang theo bên mình chờ có dịp tặng nàng. Với sự nhút nhát của tuổi trẻ, tôi không dám đưa tặng ngay mà phải chờ khá lâu mới có cơ hội. Một hôm tôi đánh bạo, tìm một chỗ sát sân khấu, dự định khi nàng vừa dứt tiếng hát là tôi sẽ đứng lên đưa luôn. Đã mấy lần định làm vẫn không kịp. Nàng vừa cúi đầu chào khán giả là đã có người chực sẵn rước đi ngay. Cái đêm định mệnh mà tôi quyết tâm an bài đã thành công. Khi cầm bản nhạc trong tay, nghe mấy lời lí nhí của tôi, nàng chỉ thoáng nhìn tôi một chút rồi quay vào hậu trường. Đêm đó, tôi nôn nao không ngủ được… Mãi đến hai tuần sau, khi tôi sắp tuyệt vọng vì mỏi mòn chờ đợi thì một đêm kia, khi bước lên bục diễn, dàn nhạc dạo khúc mở đầu thì nàng ra dấu cho dàn nhạc tạm im tiếng để nàng nói vài lời: “Thưa quý vị ! Đêm nay Thúy sẽ trình bày một tác phẩm rất mới của một nhạc sĩ rất lạ tặng cho Thúy. Đó là nhạc phẩm Ướt mi của tác giả Trịnh Công Sơn. Hy vọng đêm nay sẽ có sự hiện diện của tác giả để Thúy được nói vài lời cám ơn”. Nói xong, nàng quay sang ban nhạc, đưa bản nhạc của tôi cho họ dạo nhạc bắt đầu. Nàng cất tiếng hát: “Ngoài hiên mưa rơi rơi, lòng ai như chơi vơi. Người ơi nước mắt hoen mi rồi. Đừng khóc trong đêm mưa, đừng than trong câu ca… Buồn ơi trong đêm thâu, ôm ấp giùm ta nhé: người em thương mưa ngâu, hay khóc sầu nhân thế…Trời sao chưa thôi mưa, ôi mắt người em ấy. Từ đây thôi mờ, nước mắt buồn mi em thơ ngây…”. Tôi run lên trong lòng vì sung sướng và xúc động…Khi dứt tiếng hát, nàng dừng lại khá lâu, có ý chờ người tặng nhạc. Tôi thu hết can đảm, bước lên và nói: “Xin cám ơn Thanh Thúy đã hát bài nhạc của tôi”. Nàng “A” lên một tiếng ra vẻ bất ngờ rồi nói tiếp: “Thúy rất cám ơn anh đã tặng cho bản nhạc. Thúy muốn nói chuyện riêng với anh được không ?”. Tôi luống cuống gật đầu…Tôi cùng nàng đón taxi về nhà nàng. Nhà nàng ở sâu trong một ngõ hẻm…

Ướt Mi- Thanh Thuý


Cũng chính từ ngõ hẻm nhà nàng mà Trịnh Công Sơn làm tiếp bài Thương một người: “Thương ai về ngõ tối, sương rơi ướt đôi môi… Thương nụ cười và mái tóc buông lơi. Mùa thu úa trên môi, từng đêm qua ngõ tối, bàn chân âm thầm nói. Lặng nghe gió đêm nay, ngại buốt quá đôi vai. Bờ vai như giấy mới, sợ nghiêng hết tình tôi…”. Đó là hai bản nhạc trong “thuở vào đời” của Trịnh Công Sơn và những kỷ niệm thật đẹp với nữ ca sĩ Thanh Thúy.

Hà Đình Nguyên

Thương Một Người- Trịnh Công Sơn- Tiếng hát T.Th


Thanh Thúy, Liêu Trai Hòa Nhập

Vương Trùng Dương viết

Trong kiếp cầm ca, tiếng hát được nhiều cây bút tên tuổi xuất thủ với ngôn từ độc đáo, tuyệt vời được dàn trải với tha nhân thưởng ngoạn, bồng bềnh theo hình bóng qua bốn thập niên của hậu bán thế kỷ XX, tiếng hát đó đã gói trọn tình khúc, vượt thời gian và không gian, đi vào ký ức, đi vào chiều dài lịch sử trong làng ca nhạc Việt Nam: Thanh Thuý.

Tiếng Hát Qua Ngọn Bút

Thanh Thúy qua ca khúc trữ tình, lãng mạn của nhiều nhạc sĩ tài danh được mô tả bằng tiếng hát lơ lửng với khói sương, nhấp nhô cùng sóng nước, đam mê theo cung bậc, thì thầm với kẻ tình si, du dương trong tĩnh lặng, vỗ về với yêu thương.

Nguyên Sa viết: “Thanh Thuý là nữ ca sĩ được ngợi ca nhiều nhất trong văn, trong thơ. Thi sĩ Hoàng Trúc Ly, nhà văn Mai Thảo, nhà thơ Viên Linh, nhà văn Tuấn Huy, triết gia Nguyễn Văn Trung. Bởi vì Thanh Thuý chính là người yêu trong mộng của cả một thế hệ, trong đó có những nhà văn, nhà thơ bén nhạy bắt được cảm xúc riêng tư mà diễn đạt cái khách quan mênh mông trong cái chủ quan, riêng lẽ sống thực và chân thành… Trịnh Công Sơn những ngày đầu đời đã viết Ướt Mi cho Thanh Thuý”.

Nguyên sa lấy tựa đề “Từ Em Tiếng Hát Lên Trời” trong bốn câu thơ lục bát rất tuyệt của Hoàng Trúc Ly tỏ bày trong niềm giao cảm về Thanh Thuý:

“Từ em tiếng hát lên trời 
Tay xao dòng tóc, tay mời âm thanh.
Sợi buồn chẻ xuống lòng anh
Lắng nghe da thịt tan thành hư vô”.

Khi xuất hiện dưới ánh đèn màu, trên sân khấu, tiếng hát Thanh Thúy hoà nhập vào cung đàn, chan hoà với âm thanh đã bay bổng, vươn cao trên đỉnh non cao.
Đầu thập niên 60, ngọn bút của cây bút đầu đàn nhóm Sáng Tạo & Kịch Ảnh, Mai Thảo đã gọi “Tiếng Hát Lúc Không Giờ”. Và, Mai Thảo, văn hữu gán cho danh xưng ông hoàng của vũ trường, như bị mê hoặc bởi âm điệu, như bị cuốn hút trong mơ hồ, lãng đãng của cung bậc và bóng dáng, trong men rượu, trong ánh đèn mờ ảo, tay kiếm lão luyện trong văn giới đã phóng với đường gươm: “Tôi vẫn thấy một con chim nhạn bay trong giòng sông sương mù… chậm và khuya… công phu… kỳ lạ!”. Với tiếng hát đó, Mai Thảo còn gọi thêm “Tiếng Hát Khói Sương” qua bài viết của Lâm Tường Dủ, hình như thông dụng nhất. Sau nầy có ca khúc Tiếng Hát Khói Sương của Đắc Đăng, Thanh Thuý đã hình thành CD mang tựa đề với ca khúc đó. Nguyễn Văn Trung, giáo sư triết Đại học Văn Khoa Sài Gòn, cây bút không chuyên về ca nhạc cũng bị cuốn hút vào giọng ca và bóng dáng nên đã gọi “Tiếng Hát Liêu Trai”. Bài viết Ảo Ảnh Thanh Thuý của Nguyễn Văn Trung được in vào trong tác phẩm Nhận Định. Theo thời gian, luận án tiến sĩ triết học Karl Marx của ông đã phôi pha, nằm im trong ngăn tủ đâu đó, may còn nhắc nhở bốn tiếng “Tiếng Hát Liêu Trai” để nhắc lại tên ông.

Ở hải ngoại, vào cuối thập niên 90, tác phẩm Chân Dung Những Tiếng Hát của Hồ Trường An, bằng cái nhìn cá nhân của nhà văn, không viết dưới dạng “order” đầy dẫy hình dung từ sáo ngữ. Nhiều chân dung bị đẽo, gọt, nhận xét khắt khe qua ngọn bút; Hồ Trường An viết về Thanh Thuý “Tiếng Hát Khói Sương Chiêu Niệm”: “Cô là một nhà ảo thuật âm thanh. Cô giỡn vọt âm thanh, bẻ vặn tiết điệu, bỏ đứt nền nếp chân truyền trong lối hát. Chính ở cách phá thể, ở những quái chiêu táo bạo đó cô thành công rực rỡ”.

Vào tuổi trăng tròn, Thanh Thuý xuất hiện tại phòng trà Việt Long của Đức Quỳnh vào cuối năm 1959, Giọng ca trầm trầm, mang nỗi buồn man mác, nghẹn ngào, nức nở với dáng dấp mảnh mai, yểu điệu thục nữ, mái tóc dài buông lơi trên vai gầy trong tà áo dài màu trắng, lam nhạt… mang sắc thái đặc biệt cho người ca sĩ. Trong thời gian đó, Thanh Thuý xuất hiện trước công chúng trên Đại Nhạc Hội của ban thoại kịch Kim Cương. Tiếng hát Thanh Thuý vang vọng trên làn sóng phát thanh từ cuối thập niên 50 đã tạo dựng tiếng hát truyền cảm đặc biệt đi vào lòng thính giả khắp nơi để nhân diện chân dung người ca sĩ.

Tháng 2 năm 1960, Thanh Thuý xuất hiện trên Đại Nhạc Hội Sầm Giang, có Kim Tước, Thuý Nga… như cánh hải âu lướt mình trên sóng nước, tên tuổi người nữ ca sĩ trẻ đẹp, thướt tha lồng với tiếng hát trầm buồn, rung động được ngự trị trong bao trái tim giới thưởng ngoạn, được sự đánh giá của nhiều cây bút tên tuổi về tài năng mới trong làng ca nhạc, ngợi ca trên nhiều báo. Từ đó, Thanh Thuý đi vào con đường nghệ thuật với cánh cửa thênh thanh rộng mở như ánh sao lấp lánh trong
khung trời âm nhạc, như đoa hướng dương của hoạ sĩ Van Gogh vào cuối thế kỷ XIX giữa bảo tàng mỹ thuật.

Trong khoảng thời gian ngắn, Thanh Thuý bước lên đài danh vọng của thế giới đèn màu để đạt được ước mơ của mình và có được điều kiện trang trải cuộc sống gia đình trong hoàn cảnh khó khăn, thân mẫu đang lâm trọng bệnh. Nhưng niềm ước mong của người con hiếu thảo không được toại nguyện trước định mệnh cay nghiệt. Tháng 6 năm 1960, thân mẫu Thanh Thuý qua đời. Là người con thứ tư trong gia đình nhưng Thanh Thuý phải thay người quá cố để chăm sóc hai người em gái là Thanh Mỹ và Thanh Châu. Và hai người em vẫn nương theo thời gian gần gũi với Thanh Thuý, qua bao năm sống nơi hải ngoại, dù có cuộc sống riêng tư nhưng hình ảnh đó vẫn mãi bên nhau.

Mang tâm trạng đau buồn thương nhớ, tiếng hát Thanh Thuý càng u sầu, não nùng, bi cảm, trong âm điệu ngọt ngào, du dương chất chứa nỗi đắng cay… làm sao khỏi xúc động, tái tê? Từ phong cách trình diễn đến lời ca trầm mặc, thiết tha, nghẹn ngào, tạo nét độc đáo, riêng rẽ cho ngôi sao bồng bềnh giữa khói sương. Năm 1962 Thanh Thuý được bầu chọn Hoa Hậu Nghệ Sĩ. Đồng thời trong ba năm liền theo cuộc trưng cầu ý kiến của nhật báo Trắng Đen, Thanh Thuý được bình chọn là nữ ca sĩ ăn khách nhất. Cảm nhận được hình ảnh đó, nhà văn Tuấn Huy, tác giả Nỗi Buồn Tuổi Trẻ, Ngày Vui Qua Mau đã gọi tiếng hát Thanh Thuý “Tiếng Sầu Ru Khuya” trên tờ Điện Ảnh, tháng 3 năm 1963.
Thanh Thuý: Tiếng Hát Liêu Trai, Tiếng Hát Khói Sương, Tiếng Hát Lúc Không Giờ, Tiếng Sầu Ru Khuya, Tiếng Hát Lên Trời, Tiếng Hát Khói Sương Chiêu Niệm… qua nhiều cây bút với ngôn ngữ văn chương không ngần ngại hạ bút để viết về tiếng hát.

Cuộc Đời Và Nghệ Thuật

Hoạ sĩ Vũ Hối, qua nét bút độc đáo như tranh vẽ với bốn câu thơ:

“Liêu trai tiếng hát khói sương
Nghẹn ngào nhung nhớ giòng Hương quê mình
Nghiên sầu từng nét lung linh
Giọng vàng xứ Huế ấm tình quê hương”. 

Cũng như Lệ Thanh, Hà Thanh… Thanh Thuý sinh trưởng ở sông Hương núi Ngự, lớn lên ở Sài Gòn. Gia đình Thanh Thuý ở phía sau chùa Viên Tự, đường Phan Đình Phùng. Gia đình rất mộ đạo, từ nhỏ, Thanh Thuý thường theo bà ngoại và mẹ đến làm công quả ở chùạ Quy y phật với pháp danh Sumana, được sự dạy dỗ của Thượng toạ Hộ Giác và Tăng thống Tố Thắng. Vì vậy khi mới tuổi thanh xuân, bước chân vào nghề ca hát, thân mẫu Thanh Thuý rất lo sự cám dỗ ánh đèn sân khấu nên lúc nào cũng tựa cửa chờ con mỗi khi đi trình diễn. Và, Thanh Thuý vào nghề ca hát vì yêu thích lẫn kế sinh nhai để giúp đỡ gia đình.

Đầu thập niên 60 Thanh Thuý nổi danh, tên tuổi Thanh Thuý rất ăn khách vì vậy Nguyễn Long đưa hình ảnh đó vào điện ảnh. Nguyễn Long viết và thực hiện cuốn phim Thuý Đã Đi Rồi vào tháng 11 năm 1961. Ca khúc Thuý Đã Đi Rồi làm tựa đề trong phim, lời của Nguyễn Long, nhạc của Y Vân, Minh Hiếu đóng vai Thanh Thuý trong phim làm nổi bật hình ảnh yêu kiều chân dung nữ ca sĩ. Đi vào kịch nghệ, theo Nguyễn Long, các vở kịch được trình diễn trên sân khấu, truyền hình Việt Nam, nghệ sĩ Xuân Dung, Kim Cương, Bích Thuỷ đóng vai Thanh Thuý. Hình ảnh đó làm mê hoặc bao kẻ tình si, và chân dung Người Em sầu Mộng trong thơ Lưu Trọng Lư đã mang đến cho bao trái tim đa cảm, lãng mạn, Trong đó, có chàng nhạc sĩ vừa tròn tam thập, người Trà Vinh, dong dỏng cao, tóc phủ dài trông rất lãng tử, cũng là hoàng tử trữ tình của thể điệu Bole1ro, Rumba qua nhiều ca khúc được ái mộ. Từ tỉnh lên thủ đô, chàng sống phiêu bạt ở Sài Gòn, dang dở mối tình với cô học trò con nhà giàu có. Hình ảnh Thanh Thuý dẫm lên trái tim Trúc Phương, là nguồn cảm hứng cho chàng nhạc sĩ đam mê sáng tác. Và, ngược lại, Thanh Thuý nổi danh, được yêu thích nhiều qua nhiều ca khúc của Trúc Phương. . Từng nốt nhạc, cung bậc rướm máu trên đầu ngón tay nhấn trên phím đàn tây ban cầm để viết nên cung điệu như dòng thơ của Bích Khê:

“Dây đàn yêu thương rung trong mơ…
Tôi mang lên lầu lên cung thương.
Ôi tôi bao giờ thôi yêu nàng
Tình trong tôi nghe như tinh tang”. 

Sau ba thập niên, tháng ngày thoi thóp với căn bệnh ngặt nghèo, trong căn phòng thuê tồi tàn, nhỏ hẹp ở ngõ hẻm quận 11, Sài Gòn, Trúc Phương lìa bỏ cõi trần ngày 18 tháng 9 năm 1995, để lại cho đời 65 ca khúc và một số tác phẩm khác chưa được phổ biến. Trong những ca khúc đầu đời của trái tim đau khổ, duyên nợ bẽ bàng, tình yêu đơn phương tan theo mây khói nhưng hào quang lại về trên đỉnh mây trời giữa kẻ viết dòng nhạc, lời ca và người nâng niu tiếng hát. Đâu đây vẫn vang vọng với tuyệt phẩm Chuyện Chúng Mình, Hai Lối Mộng, Ai Cho Tôi Tình Yêu, Chiều Cuối tuần, Buồn Trong Kỷ Niệm, Bóng Nhỏ Đường Chiều, Tàu Đêm NămCũ, Hình Bóng Cũ… mang mang thiên cổ luỵ, xót thương, nghe để tiếc thương cho chuyện tình cay đắng… tiếng hát Thanh Thuý chơi vơi, bồng bềnh trên đỉnh cao, trái tim nhạc sĩ rướm máu, chôn vùi bên vực thẳm.

Sau khi mãn tang cho thân mẫu, Thanh Thuý lập gia đình vào năm 1964, người chồng cũng là tài tử chính trong phim Bão Tình. Chàng sĩ quan Ôn Văn Tài sau nầy mang cấp bậc đại tá trong binh chủng Không Quân. Gia đình được định cư tại Hoa Kỳ trong năm 1975. Vào cuối thập niên 90, đôi tình nhân thuở nào được trở thành ông bà nôị.

Với Trúc Phương, duyên nợ không trọn nhưng mối giao cảm trong âm nhạc vẫn cón cao đẹp, giữ mãi cho nhaụ Bên bờ Thái Bình Dương, Thanh Thuý vẫn tiếp tục gởi đến tha nhân nhiều ca khúc của Trúc Phương, tương trợ tác giả nơi quê nhà sống bất hạnh. Được tin Trúc Phương vĩnh biệt nhân gian, bên trởi Cali, bên người thân trong gia đỉnh, Thanh Thuý viết: “Anh Trúc Phương, một ngôi sao sáng của vòm trời âm nhạc Việt Nam vừa vụt tắt. Tin anh qua đời đến với tôi quá đột ngột. Tôi đã bàng hoàng xúc động với sự mất mát lơn lao nầy. Anh và tôi không hẹn nhưng đã gặp nhau trên con đường sống cho kiếp tằm. Anh trút tâm sự qua cung đàn, còn tôi qua tiếng hát. Trong khonag thập niên 60, tên
tuổi anh và tôi gắn liền nhau: Trúc Phương, tiếng hát Thanh Thuý…  Đường đời đã chia đôi chúng tôi ra hai ngã, hai hướng đi. Tôi đã giã từ sân khấu, giã từ lời ca tiếng nhạc, theo chồng đi đến những phương trời xa. Còn anh vào quân ngũ và tiếp tục hăng say sáng tác, hầu hết những nhạc phẩm đều nói về cuộc đời người lính phong sương, xa nhà, xa thành phố, xa người em nhỏ hậu phương…
Rồi lại thêm một lần cuộc đời lại chia đôi chúng tôi đôi ngã: Anh kẹt lại quê nhà, tôi sống đời lưu vong…” (TGNS, tháng 2-1996).

Trúc Phương yên nghỉ ở nghĩa trang Lái Thiêu, để lại người vợ bệnh hoạn và sáu con. Trong ca khúc Mắt Chân Dung Để Lại, dòng nhạc cuối đời của Trúc Phương vẫn còn tơ vương bóng hình Thanh Thuý: “Gửi người xưa bỏ ta để đôi mắt lại, giọt vắn giọt dài mãi đọng vũng bùn nhỏ, ta và em trót đã thiên thu nhầm lỡ, khóc mình khóc người, đỏ hoe suốt đời”.

Bên cạnh Trúc Phương, ngoài văn nhân đa tình, từ đất thần kinh, chàng thư sinh gầy gò, lang bạt vào Sài Gòn cuối thập niên 50, bắt gặp bóng dáng đồng hương Thanh Thuý, trái tim chàng say đắm. Và cũng là cơ hội tạo nguồn rung cảm, đem cung đàn dẫn nhập vào mối tình si Ca khúc đầu tay Ướt Mi của Trịnh Công Sơn đã gọi tiếng hát buồn não nề của Thanh Thuý như “khóc trong đêm mưa, than trong câu ca”. và, ca khúc Thương Một Người qua hình ảnh “Thương ai về ngõ tối, sương rơi kín đôi vai… Thương một người và mái tóc buông lơị..” Nhưng tình yêu đơn phương của chàng nhạc sĩ mới bước chân vào làng ca nhạc chỉ còn lại bóng mờ trước tiếng hát thành danh. Thanh Thuý hát bài Ướt Mi qua tiếng đàn dương cầm của Nguyễn Ánh 9 rất tuyệt. Thới gian sau, Trịnh công Sơn chạy theo tiếng hát khác ở Đà Lạt.

Với nhiều ca khúc nói lên nỗi niếm cay đắng, nghiệt ngã, u hoài, tâm trạng thương cảm, ai oán, bẽ bàng, ngang trái trong cuộc đời và cuộc tình được dàn trải qua tiếng hát Thanh Thuý như sự an bày, kết hợp, tạo dấu ấn sâu sắc trong tâm hồn người thưởng ngoạn. Từ nhạc phẩm tiền chiến như Giọt Mưa Thu, Con Thuyền Không Bến của Đặng Thế Phong, Đêm Đông của Nguyễn Văn Thương, Tan Tác của Tu Mi, Chuyển Bến của Đoàn Chuẩn, Biệt Ly của Dzoản Mẫn, Nhắn Gió Chiều của Nguyễn Thiện Tơ, Tiếng Đàn Tôi và Thuyền Viễn Xứ của Phạm Duy… đến Lạnh Lùng của Đinh Việt Lang sang Kiếp Cầm Ca của Huỳnh Anh, Tiếng Ve Sầu của Lam Phương đến Mộng Chiều của Khánh Băng, Nhạt Nắng của Xuân Lôi, Đường Nào Lên Thiên Thai của Hoàng Nguyên… và nhiều ca khúc của Trúc Phương phù hợp với tiếng hát Thanh Thuý đã gắn liền giọng ca và dòng nhạc trong giới thưởng ngoạn.

Bước sang lãnh vực kinh doanh, Thanh Thuý và nhạc sĩ Ngọc Chánh – con chim đầu đàn của Shotguns – mở phòng trà ca nhạc ở nhà hàng International. Được hai năm thì gặp phải biến cố tang thương của đất nước vào tháng 4, 1975.

Cuộc sống lưu vong xứ người không còn môi trường thuận lợi tưởng chừng tiếng hát khói sương bị nhạt nhoà theo sương khói nhưng rồi sinh hoạt văn học nghệ thuật của người Việt tha hương được hồi sinh. Thanh Thuý trở lại với với kiếp tầm nhả tơ. Tháng 6 năm 1976, Thanh Thuý cho phát hành cassette đầu tiên Sài Gòn Ơi! Vĩnh Biệt được đồng hương nhiệt tình đón nhận. Theo thời gian, Trung Tâm băng nhạc Thanh Thuý được hình thành, thực hiện được ba cuốn Video: Thúy, Chuyện Tình buồn và Ngày Về Quê Cũ. Bước vào thế kỷ XXI, hai mươi lăm năm qua, khoảng ba mươi CD của Thanh Thúy đã được thực hiện, trong đó có những CD về tôn giáo như Mẹ Hiền và Phật Ca I, II, III… Là Phật tử thuần thành, Thanh Thúy đã hướng tâm làm công quả trong chương trình phát thanh Tiếng Nói Hương Sen của Phật Giáo. Vào cuối thập niên 90 Thanh Thúy cùng người em gái thực hiện công tác từ thiện ở Á Châu để giúp vui và ủy lạo bà con đồng hương đang bị kẹt ở trại tị nạn.

Kết 

Khi người nghệ sĩ được thành danh thì cũng là đối tượng cho báo giới khai thác để đáp ứng thị hiếu của độc giả. Hồ Trường An viết: “Thanh Thúy là nghệ sĩ có tư cách, có phẩm hạnh. Cô không gây ngộ nhận nào cho nhóm ký giả ưa săn tin giật gân… Trong hàng ngũ các nữ ca sĩ nổi tiếng thuở xa xưa chỉ có Lệ Thanh, Thanh Thuý và Hoàng Oanh là nhu mì, khiêm tốn, ngoan hiền và biết tự trọng. Ở chót vót đỉnh danh vọng mà cô không hề nói một lời kiêu căng hay một lời làm thương tổn tha nhân, không hề bôi bẩn kẻ vắng mặt, không khoe khoang thành tích của mình khi tiếp xúc với báo chí”.

Nhìn lại cuộc đời nghệ sĩ, Thanh Thuý được ái mộ từ nghệ thuật đến nhân cách. Nghệ thuật xử thế của Thanh Thuý tự nhiên và lịch sự không có vẻ đóng kịch, không đẩy đưa vì vậy khi tiếp xúc với Thanh Thuý, thiện cảm, chân tình và thoải mái để trao đổi với nhaụ Trung tâm Thanh Thuý vẫn đều đặn hình thành nhiều băng nhạc qua hàng trăm ca khúc với giới tiêu thụ thân quen, dĩ nhiên, tiếng hát của Thanh Thuý ngày nay phù hợp cho giới thưởng ngoạn đã đứng tuổi trải qua một thời cảm mến khi còn ở quê nhà. Trước kia, trong một lần đọc bài viết của Thanh Mỹ, Thanh Châu về người chị biểu tượng như hình ảnh người mẹ hiền đã kề cận bên nhau qua bao thập niên trong nghệ thuật và cuộc sống, tôi cảm mến hình ảnh đó, gọi điện báo tin cho bài viết, Thanh Thuý hỏi thăm cần hỏi điều gì không, tôi trả lời đã thưởng thức nhiều bài hát và đọc qua những bài viết về Thanh Thuý rồi cũng đủ tạo dựng cho hình ảnh tiếng hát thành danh từ quê nhà và hải ngoạị Bước sang thiên kỷ mới, ghi lại đôi dòng đã viết về tiếng hát còn tiếp tục cuộc hành trình trong nghiệp dĩ.

Vương Trùng Dương

Cali, Mùa Thu 2000

Hoa Bưởi

Hương Thầm – Phan Thị Thanh Nhàn

Cửa sổ hai nhà cuối phố
Không hiểu vì sao không khép bao giờ
Ðôi bạn ngày xưa học cùng một lớp
Cây bưởi sau nhà ngan ngát hương đưa
Giấu một chùm hoa trong chiếc khăn tay
Cô gái ngập ngừng sang nhà hàng xóm
Bên ấy có người ngày mai ra trận
Họ ngồi im không biết nói năng chi
Mắt chợt tìm nhau rồi lại quay đi
Nào ai đã một lần dám nói ?
Hoa bưởi thơm cho lòng bối rối
Anh không dám xin
cô gái chẳng dám trao
Chỉ mùi hương đầm ấm thanh tao
Không giấu được cứ bay dịu nhẹ
Cô gái như chùm hoa lặng lẽ
Nhờ hương thơm nói hộ tình yêu
(Anh vô tình anh chẳng biết điều
Tôi đã đến với anh rồi đấỵ..)
Rồi theo từng hơi thở của anh
Hương thơm ấy thấm sâu vào lồng ngực
Anh lên đường hương sẽ theo đi khắp
Họ chia tay
vẫn chẳng nói điều gì
Mà hương thầm thơm mãi bước người đi…

Hương thầm-Thơ Phan Thị Thanh Nhàn- nhạc vũ hoàng-hát Bảo yến


Hoa Bưởi – Nguyên Sa

Em đi ngang đó, gần đường
Sao không ghé lại nói còn hay không
Nhớ ngày cây bưởi đâm bông
Mùi thơm hoa bưởi ngàn năm vẫn còn…
Tôi thích thơ Nguyên Sa. Ví dụ như hai câu:

Nhớ ngày cây bưởi đâm bông

Mùi thơm hoa bưởi ngàn năm vẫn còn…

Có mùi hương mà chỉ ngửi một lần ta sẽ nhớ hoài… Có người, chỉ gặp trong thoáng chốc, trong 1 sát na, song để lại trong ta nỗi ngậm ngùi thật lâu, thật dai dẳng… Có thứ tình cảm đến rồi đi nhưng còn lưu giữ trong góc cạnh tâm hồn thật sâu lắng và trầm lặng hoài hoài…

Trèo lên cây bưởi hái hoa,
Bước xuống vườn cà, hái nụ tầm xuân.
Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc,
Em lấy chồng anh tiếc lắm thay!..
(Ca dao)


Gặp một bài viết nói về bài ca dao nụ tầm xuân với giai thoại khá lý thú tôi đăng lên đây.

Một cô bạn học ngày xưa với nhà tôi gởi cho nhà tôi bài viết sau đây.  Thấy câu chuyện cũng hay, tôi chuyển tiếp đến các bạn:

Trèo Lên Cây Bưởi…
(Trích trong cuốn“Những điều nên biết” của Nguyễn Văn Thái)

1
“Trèo lên cây bưởi hái hoa,
Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân.
Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc,
Em có chồng anh tiếc lắm thay!

2
“Ba đồng một mớ trầu cay,
Sao anh chẳng hỏi những ngày còn không?
Bây giờ em đã có chồng,
Như chim vào lồng như cá cắn câu.
Cá cắn câu biết đâu mà gỡ,
Chim vào lồng biết thuở nào ra?

3
“Có lòng xin tạ ơn lòng,
Đừng đi lại nữa mà chồng em ghen!”

Chùm thơ này đã có trong dân gian từ lâu; nhiều người tưởng rằng nó là chỉ một bài ca dao thuần túy; mà đã là ca dao thì không biết ai là tác giả. Gọi nó là chùm thơ vì đây không phải là một bài mà là ba bài hợp lại, gieo theo thể liên vận, gắn với “Giai thoại Đào Duy Từ”.

Truyện kể rằng: “Năm Đinh Mão (1627), chúa Trịnh Đàng Ngoài muốn bắt họ Nguyễn ở Đàng Trong phải thần phục, bèn cử đoàn sứ giả mang sắc vua Lê vào phong cho Sãi Vương (chúa Nguyễn Phúc Nguyên) và đòi Sãi Vương phải cho con vào chầu, đồng thời phải nộp 30 con voi cùng 30 chiếc thuyền làm lễ vật cống nạp nhà Minh. Chúa Sãi không chịu, nhưng bề ngoài chưa biết xử trí ra sao, bèn hội họp triều thần hỏi mưu kế. Lộc Khê hầu Đào Duy Từ khuyên chúa Sãi bước đầu cứ nhận sắc phong, rồi sau sẽ tìm kế đối phó.

Ba năm sau, thấy thời cơ thuận lợi, bấy giờ Lộc Khê hầu mới bàn với Sãi Vương, sai thợ làm một chiếc mâm đồng có hai đáy, bỏ sắc vua Lê phong kèm với một tờ giấy có 4 câu chữ Hán vào giữa, rồi hàn kín lại. Trên mâm cho bày nhiều lễ vật hậu hĩnh, rồi cử Lại Văn Khuông làm sứ giả mang ra Thăng Long (Hà Nội này nay), tạ ơn vua Lê và chúa Trịnh.

Nhờ có chuẩn bị trước, khi ra kinh đô yết kiến chúa Trịnh, Lại Văn Khuông ứng đối rất trôi chảy. Chúa Trịnh hậu đãi, cho phép Khuông cùng phái đoàn sứ giả đi thăm kinh thành, để chờ Chúa dạy bảo. Trên đường đi, Khuông lén mở cẩm nang của Đào Duy Từ trao cho từ trước. Đọc xong, Khuông cùng cả phái đoàn lẻn trốn về Nam. Thấy phái đoàn sứ giả đột ngột trốn về, chúa Trịnh sinh nghi, bèn cho người đập vỡ mâm lễ, lại thấy tờ sắc phong khi trước, và 1 tờ giấy viết bốn câu thơ chữ Hán sau:

“Mâu nhi vô dịch
Mịch phi kiến tích
Ái lạc tâm trường
Lực lai tương địch.”
Cả triều đình không ai hiểu ý nghĩa bài thơ, cuối cùng Trịnh Tráng phải cho mời một nhà nho thông thái uyên bác tới giải nghĩa. Đọc xong, nhà nho giải thích rằng:


Mâu nhi vô dịch nghĩa là chữ Mâu không có dấu phẩy là chữ ;
Mịch phi kiến tích nghĩa là chữ Mịch bỏ bớt chữ Kiến còn lại là chữ Bất;
Ái lạc tâm trường nghĩa là chữ Ái để mất (lạc) chữ Tâm thì thành chữ Thụ; và
Lực lai tương địch nghĩa là chữ Lực đối địch (tương địch) với chữ Lai là chữ Sắc.

Vậy, gộp cả bốn chữ mới lại thành câu: “DƯ BẤT THỤ SẮC,” nghĩa là “Ta không nhận sắc phong.”

Nghe xong, Trịnh Tráng vội thét lính đuổi bắt Lại Văn Khuông, nhưng lúc đó Khuông cùng cả phái đoàn đã cao chạy xa bay rồi.

Trịnh Tráng muốn ra quân đánh chúa Nguyễn nhưng gặp lúc Cao Bằng và Hải Dương đều có giặc giã nổi lên, đành phải hoãn lại.

Trịnh Tráng cho người dò la biết được việc Sãi Vương không nhận sắc phong đều do một tay Lộc Khê Đào Duy Từ bày đặt ra cả. Chúa Trịnh tính kế làm sao để lôi kéo Lộc Khê bỏ chúa Nguyễn (Đàng Trong) về với triều đình vua Lê và chúa Trịnh (Đàng Ngoài).

Chúa Trịnh lập mưu, sai người mang nhiều vàng bạc bí mật vào biếu Đào Duy Từ, kèm một bức thư riêng với bốn câu thơ:

1

“Trèo lên cây bưởi hái hoa,
Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân.
Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc,
Em có chồng anh tiếc lắm thay!”.

Lời thơ nói đến chuyện anh (chúa Trịnh) và em (Đào Duy Từ) thuở nhỏ, trèo cây hái hoa bưởi, bước xuống vườn cà hái nụ hoa tầm xuân. Ý thơ trong như ngọc, là lời nhắn nghĩa tình, nhắc ông rằng tổ tiên, quê quán vốn ở Đàng Ngoài. Nếu trở về sẽ được triều đình trọng dụng còn nếu không thì ngầm ý đe dọa.

Người ta đồn rằng Đào Duy Từ đã xây mộ cho cha mẹ tại Bình Định để tránh bị Đàng Ngoài khống chế theo cách làm của Gia Cát Lượng đón mẹ của Khương Duy vào Hán Trung thuở xưa. Vì thế Đào Duy Từ không sợ hãi chúa Trịnh trả thù; và ông đã trả lại quà tặng và viết bài thơ phúc đáp chúa Trịnh như sau:

2

“Ba đồng một mớ trầu cay,
Sao anh chẳng hỏi những ngày còn không?
Bây giờ em đã có chồng,
Như chim vào lồng như cá cắn câu.
Cá cắn câu biết đâu mà gỡ,
Chim vào lồng biết thuở nào ra?”
Chúa Trịnh đọc thơ biết khó lòng lôi kéo được họ Đào, nhưng thấy bài thơ chưa có câu kết, ý còn bỏ ngỏ, nên vẫn nuôi hy vọng, bèn cho người đem lễ vật nhiều hơn, và mang theo lá thư của chúa Trịnh vào gặp Đào Duy Từ lần nữa.

Lần này, ông mới viết nốt hai câu kết gửi ra, để trả lời dứt khoát việc mời mọc của chúa Trịnh. Hai câu đó như sau:

3

“Có lòng xin tạ ơn lòng,
Đừng đi lại nữa mà chồng (*) em ghen!”
(*) Chồng, có ý nói là chúa Nguyễn.

Từ đấy Đào Duy Từ ở lại giúp chúa Nguyễn ổn định và phát triển vùng đất miền trong, mở mang bờ cõi đất nước ta cho đến lúc qua đời…”
(Nguồn: My Opera/Danh nhân story)

Vài điều nói thêm về Đào Duy Từ 

Đào Duy Từ (1572- 1634) sinh tại tỉnh Thanh Hóa. Ông rất thông minh nhưng ông không đươc dự thi vì cha ông làm nghề ca hát. Ông giận chúa Trịnh đối xử bất công cho nên ông bỏ vào Nam (dưới sự cai trị của chúa Nguyễn)

Đào Duy Từ vào Nam, sống bằng nghề chăn trâu thuê cho một nhà giàu ở Bình Định. Chủ nhà là người ham mê văn học, đã phát hiện ra Đào Duy Từ là người có tài, nên đã tiến cử Đào Duy Từ cho quan Khám lý Trần Đức Hòa. Vì mến tài của Đào Duy Từ, Trần Đức Hòa đã gả con gái cho, đồng thời tiến cử Đào Duy Từ cho Chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên. Sau cuộc gặp gỡ với Đào Duy Từ, Chúa Sãi đã phong cho ông làm Nha Úy Nội Tán.

Trong chín năm, từ 1625 đến 1634, Đào Duy Từ đã giúp chúa Nguyễn xây dựng và mở mang bờ cõi về phương nam vì ông có tài cả về chính trị, kinh tế, quân sự, và văn chương thơ phú nữa.

Trong cuộc chiến Trịnh – Nguyễn, ông đã xây một chiến lũy để ngăn ngừa quân Trịnh. Chiến lũy này chạy từ cửa sông Nhật Lệ đến núi Đâu Mâu, Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình. Người dân gọi chiến lũy này là Lũy Thầy (tức là lũy do Thầy Đào Duy Từ xây dựng).

Nguyễn Đăng Khôi- Hội quán Trần Lục

 

 

Bưởi ơi… Bưởi ngọt hơn đường…

 

Biên Hòa đất rộng người thưa,
Có nhiều quà quý rất vừa lòng ta”

Biên Hòa đúng như tiếng thiên hạ đồn, là dải đất bao la phủ một màu da xanh rờn của những vườn trái cây nổi tiếng được mọi người ưa chuộng. Cũng như các nơi khác ở miền Nam, Biên Hòa có thơm (dứa), dừa, dưa hấu, dưa gang, cam, quýt, mãng cầu (na), vũ sữa, sa-bô-chê, nhãn, chôm chôm, lê-ki-ma, sầu riêng, măng cụt, xoài, đào, mận, lý… nhưng đặc biệt nhất là bưởi.

Nói đến bưởi, người ta thường có thành kiến về một loại trái cây nhìn ngoài da láng bóng mà trong ruột chua lè:
“Ăn chi của đắng the the,
Nuốt vào khỏi cổ, răng nhe hàng giờ”
Nếu gặp một chị bán bưởi Biên Hòa mà anh chàng nào giở giọng trêu đùa châm chọc trên đây, sẽ bị trả đũa lại tức khắc:
“Biên Hòa bưởi chẳng đắng, the!
Ăn vào ngọt lịm như chè đậu xanh”
Chắc có bạn hỏi: bưởi gì mà ngon vậy? Thưa rằng, dòng họ hiếm có đó là bưởi Thanh. Cái tên chung thì như thế, còn đi sâu phân biệt ngôi thứ thì nó cũng có vế có vai.
Thứ nhất bưởi Thanh Long, thứ hai Thanh Trà, thứ ba Thanh Dây và thứ tư là bưởi ổi. Tuy mùi vị có khác nhau nhưng loại nào cũng liệt vào hạng quý. Nhân dân Biên Hòa thường ví sự ngon lành của bưởi bằng câu “tứ tuyệt”, tức là: nhiều nhất, ngon nhất, quý nhất, danh tiếng nhất. Bạn thử tưởng tượng khung cảnh gia đình trong ngày Tết, trên bàn thờ có chục bưởi, trái thì vỏ vàng óng ả, trái thì ngả màu rám nâu như trái hồng khô, đặt lên trên chuối sứ, chuối cau, quýt, cam… trông thật là vui mắt:
“Có bưởi vui cửa vui nhà,
Không bưởi như thiếu cành hoa mai vàng”
Bưởi Thanh Long nhiều nước, hột nhỏ, màu ngà ngà, ngọt thanh. Bưởi Thanh Trà, bưởi dây ruột trong trắng, ngọt đậm như đường phèn. Đặc biệt bưởi ổi phảng phất mùi thơm dìu dịu! Thông thường muốn thưởng thức đúng mức hương vị loài bưởi này người ta không ăn nó khi vừa hái trên cây xuống mà để cho bưởi thật khô, chừng nào vỏ teo lại, lúc đó bưởi càng ngon và trở thành món quà quý đặc biệt. Nhất là trong những bữa tiệc hay ngày giỗ, ngày Tết, bưởi ổi để khô đóng một vai trò rất quan trọng. Không có gì phong nhã lịch sự cho bằng khi ăn bữa cơm xong mời khách dùng bưởi tráng miệng để làm tan hơi men rượu đang nồng. Người ta thường hay nói “miếng trầu là đầu câu chuyện”, nhưng ở đây quả bưởi cũng đóng vai trò “đầu mối” quen thân. Sau khi mời nhau thấm giọng mùi vị ngọt ngào của múi bưởi, câu chuyện dần dần chuyển sang thân thiết đậm đà. Và từ đó dẫn đến trăm nghìn lời hứa kết nghĩa quen thân.
Bởi vậy một ngày nào đó, có dịp đến Biên Hòa các bạn đừng nên vội tìm những thứ trái cây lạ như sầu riêng, măng cụt, chôm chôm, mà bạn nên nhanh tay tìm mau vài quả bưởi ổi khô kẻo hết.
Trong nước, bưởi Biên Hòa là món quà quý như vậy, còn đối với khách nước ngoài, tên tuổi nó cũng lừng vang. Họ đến đây cũng trái ăn, trái xách, trái mang về và không ngớt lời khen.
Cũng cần giới thiệu cặn kẽ thêm với bạn một điều này: Nói chung, theo ven sông Đồng Nai, nơi nào bưởi cũng nhiều, cũng ngon nhưng phải tìm đến chính gốc quê “ngụ” của nó ở Tân Triều, quận Châu Thành mới thưởng thức đầy đủ màu sắc và hương vị của bưởi Biên Hòa. Chính ở đây mới đúng lời ca ngợi của nhân dân là vườn bưởi ngon “tứ tuyệt”: Nhiều nhất, ngon nhất, quý nhất và danh tiếng nhất!